Đam Mỹ Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
1,449,971
Phản ứng
0
VNĐ
361,707
mua-he-bat-tan-cua-ngai-loiseau.jpg

Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
Tác giả: Vallennox
Thể loại: Đam Mỹ, Phương Tây
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

Bạn đang đọc truyện Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau của tác giả Vallennox. Đây chỉ là một câu chuyện tình, vừa xưa mà cũng vừa mới, vì đã kéo dài từ những năm 1940 đến tận năm 2000...

Một câu chuyện về đề tài muôn thuở không bao giờ cũ,

Một câu chuyện bắt đầu từ hồi chiến tranh, nhưng cũng không liên quan gì tới nó cả...

"Nếu cậu thật sự muốn biết chuyện này khởi đầu như thế nào, nó bắt đầu từ một viên đá vụn ven đường."​
 
Có thể bạn cũng thích !
  • Ký Sự Ngày Mùa Hè Mát Lạnh
  • Mùa Hè Năm Ấy Thật Đẹp
  • Mùa Hạ Năm Xưa
  • Hoa Tường Vy Mùa Hạ
  • Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 1: Chương 1


    Phóng viên tờ "Báo chiều" đến từ sáng sớm, hẳn là anh đã bắt chuyến tàu lúc 5:20 ở ga Montparnasse đi về phía Tây.

    Khi đến nơi, bầu trời vẫn ảm đạm, nhìn những đám mây xám xịt đầy trời, anh đoán thời tiết hôm nay sẽ không sáng sủa là bao.

    Mưa phùn xen lẫn vào lớp sương mù dày đặc trông hệt như một tấm lụa mỏng treo lơ lửng giữa mặt biển màu xám tro và chân trời phía xa.

    Trên tấm lụa in bóng mờ mờ của những vách núi đá lởm chởm.

    Xuyên qua màn mưa có ánh đèn le lói phía xa xa.

    Người phóng viên cởi áo khoác rồi quấn quanh cái túi xách căng phồng.

    Anh cúi đầu, đi về phía ánh đèn kia.
    Anh nhấn hai lần chuông cửa rồi lùi về sau một bước để xem số nhà, nhưng viện dưỡng lão tư nhân này lại không có số nhà, chỉ có tấm bảng gỗ viết "Sản nghiệp tư nhân, không tự ý vào" đóng trên tường.

    Người phóng viên dán tai lên cửa, bên trong không một tiếng động, cho dù có thì cũng đã bị tiếng mưa bên ngoài nuốt chửng.

    Phóng viên lau nước trên mặt, bắt đầu gõ cửa.
    Từng lớp khóa được mở phát ra những tiếng lạch cạch.

    Qua khe cửa, hộ lý đánh giá người phóng viên một lượt từ trên xuống dưới, rồi dùng chất giọng Pháp nhẹ nhàng nặng khẩu âm vùng Bretagne hỏi anh tới làm gì.

    Phóng viên lấy giấy tờ và thư hẹn ra, hộ lý cẩn thận đọc bức thư như đó thư mật có liên quan đến tính mạng vậy.

    Cuối cùng mới chịu tránh sang một bên nhường chỗ cho phóng viên đi vào và nhận lấy chiếc áo khoác còn đang nhỏ nước trên tay anh.
    Phóng viên được dẫn vào một gian phòng khách nhỏ nhưng ấm áp, gỗ thông đang cháy tí tách trong chiếc lò sưởi đặt sát tường, tạo thành hình một chiếc tháp ngay ngắn.

    Anh đứng cạnh lò sưởi một lúc để ngọn lửa xua tan đi cái lạnh buốt rùng mình.

    Trước lò sưởi đặt một cái bàn nhỏ và hai chiếc ghế sô pha đơn.

    Người phóng viên kéo khóa túi xách, bởi vì lúc nãy được bọc trong áo khoác, đồ vật bên trong không bị dính chút mưa nào.

    Anh lấy trong đó ra một hộp sắt nhỏ, một chiếc bút thu âm, một đôi găng tay bằng vải, một quyển sổ tay đã quăn góc và ba chiếc bút bi màu xanh da trời đặt lên bàn uống trà.
    Cửa sổ hướng ra biển và bãi đá cuội không người, phản chiếu ánh lửa nhảy nhót trong lò sưởi.

    Người phóng viên lẳng lặng nhìn chăm chú vào từng đợt sóng vỗ vào bãi đá chờ đợi, anh hơi khẩn trương dùng vạt áo sơ mi để lau mắt kính.
    "Chào buổi sáng." Người phóng viên vội vàng đứng dậy, suýt chút đã trật chân té ngã.

    Anh đeo lại mắt kính, chìa tay ra: "Ngài Prudence, rất cảm ơn ngài đã đồng ý bớt chút thời gian.

    Tôi là Rivers, Daniel Rivers, là phóng viên trang văn học của tờ "Báo chiều", tôi đã hẹn trước với ngài qua điện thoại..."
    "Cậu là người đã viết bình luận cho quyển Mùa hè bất tận." Prudence bắt tay anh, ngồi xuống chiếc ghế bập bênh lót thảm, trông ông như một chú chim robot cứng nhắc, mỗi một khớp xương đều đã bị rỉ sét, không còn có thể hót líu lo, ngay cả việc thu cánh cũng phải cố hết sức.

    Lò sưởi sát tường đang cháy hừng hực nhưng ông lão vẫn mặc một chiếc áo len có họa tiết ô vuông bên ngoài áo sơ mi, bàn tay khoác lên chiếc ghế khô gầy, lấm tấm đồi mồi.

    Anh phóng viên đã nhìn thấy hình ông hồi còn trẻ, trong đầu anh đang cố gắng chồng hai hình ảnh của Prudence lên nhau.

    Mái tóc màu nâu đậm của Harry Prudence đã trở nên thưa thớt, nếp nhăn ở trên trán và khóe mắt như rãnh cày trên mặt đất.

    Chỉ có đôi mắt xanh thẫm kia là vẫn không thay đổi, ánh mắt cẩn trọng dò xét khiến người ta nghĩ tới loài chim vẫn luôn cảnh giác.
    "Ngài Loiseau là nhà văn xuất sắc nhất trong suốt năm mươi năm qua.

    Ông không được công nhận khi còn sống, đó là sai lầm của người cùng thời." Tựa như nhận ra mình vừa mới nói cái gì, anh phóng viên lập tức bổ sung thêm một câu: "Tôi không có ý xúc phạm ngài đâu, thưa ngài."
    Prudence nhíu mày, dường như tạm thời không nhớ nổi Loiseau là ai.

    Tầm mắt ông thoáng qua chiếc hộp sắt đặt trên bàn uống trà, chiếc hộp không lớn hơn cái hòm thuốc bao nhiêu, lớp sơn bên ngoài đã phai đi ít nhiều, rồi hướng ra mặt biển Đại Tây Dương xam xám.

    Hộ lý mang trà và một loại bánh ngọt nào đó phủ đầy dừa và đường bột vào.

    Cậu ta cứ lẳng lặng như một hồn ma, phóng viên không biết người này xuất hiện lúc nào, cũng không biết cậu đã đi lúc nào.
    "Cậu phóng viên." Prudence gõ nhẹ ngón trỏ trên tay vịn của chiếc ghế bập bênh: "Tôi cũng từng lội qua cái ao này rồi.

    Cậu đã nghe đến tờ Góc nhìn bao giờ chưa? Mười năm trước nó đã phá sản rồi.

    Là một chiếc thuyền cứu sinh nhỏ xông pha giữa hàng loạt tàu tin tức lớn."
    "Một chiếc thuyền cứu sinh chở đầy giải Pulitzer*."
    "Cuối cùng cũng vẫn chìm."
    "Do hoàn cảnh, số báo phát hành của tờ Báo chiều cũng giảm còn một phần ba so với mười năm trước.

    Hiển nhiên mọi người sẽ không chấp nhận những thứ chẳng thể xem hết trong vòng một phút nữa."
    "Chẳng hạn như văn học chính thống, xã luận và bình luận sách?"
    "Văn học chính thống, xã luận, bình luận sách, báo cáo chuyên đề dài hơn một trang, sách hướng dẫn thuốc và kỹ thuật lắp ráp đồ dùng trong nhà."
    Gương mặt ngài Prudence chiếu trên cửa kính nở nụ cười mỉm: "Cậu muốn phỏng vấn cái gì, cậu Rivers?"
    Phóng viên vươn người lên trước, anh đặt thẳng chiếc hộp sắt, đeo găng tay rồi mở nắp hộp, như thể bên trong là một đàn chim non hoặc một loại khí độc thần kinh.

    Trong hộp cất những bức thư đã ố vàng, đã từng được cột lại nhưng sợi dây cột đã bị hỏng từ lâu, chỉ còn lại một vết tích của sợi dây chạm vào là vỡ vụn.

    Người nhận là Harry Prudence, địa chỉ gửi đến khác nhau, Oxford, London, Caen, Paris, München, Beograd.

    Vài bức thư được dán tem đẹp đẽ, vài bức thì không, còn có những bức có dấu vết bị cháy dở.

    Người gửi là Alex Loiseau, nét chữ dài mảnh như những dây leo nằm ngay ngắn trên mặt giấy.

    "Hồi tháng mười, quỹ từ thiện sửa sang lại nơi ở của Loiseau, hai công nhân đã tìm thấy chiếc hộp này sau lò sưởi.

    Chắc luật sư đã trao đổi với ngài về chuyện này qua điện thoại rồi, những bức thư này đều thuộc về ngài, ngoài ra còn có..." Phóng viên cẩn thận mở phong thư, lấy ra một xấp giấy thật dày được cuộn lại: "Một bản thảo sách, chúng tôi tin rằng đây chính là tác phẩm hoàn thiện cuối cùng của Loiseau khi còn sống, trên trang bìa có viết Harry thân mến, mùa hè và mùa đông của tớ."
    Người phóng viên nói một hơi rồi quan sát Prudence, anh muốn biết xem hòn đá vừa ném xuống ấy sẽ khiến mặt nước xảy ra chuyện gì.

    Prudence vẫn đăm đăm nhìn ra ngoài bờ biển hoang vu, sương mù dày đặc bên ngoài như hòa vào trong đôi mắt xanh lam, chẳng những không bị mặt trời tản đi mà còn ngày càng lan rộng, nuốt chửng đường chân trời.
    "Cảm ơn cậu đã mang thư tới." Prudence cầm tách lên uống một ngụm trà đã nguội lạnh, cũng có lẽ để tránh đi sự run rẩy trong giọng nói: "Tôi đã nói với bên quỹ rằng họ có thể xuất bản quyển sách đó hoặc công khai bản thảo, tôi không định giữ làm của riêng."
    "Tôi không phải là người của quỹ hay người của nhà xuất bản, tôi chỉ muốn biết câu chuyện của hai người."
    "Alex đã viết câu chuyện ấy rồi, các tiệm sách lớn đều có bán, 29.99 bảng một quyển.

    Cậu ấy mới là người có thiên phú, không phải tôi."
    "Hẳn là ngài cũng có phiên bản của riêng ngài, thưa ngài? Một phiên bản liên quan đến chiến tranh, những đợt nóng lạnh.

    Còn có một phiên bản mà chính các ngài, Loiseau và Prudence, cả hai đều là người bình thường."
    "Tại sao vậy, cậu Rivers?"
    "Vì tôi muốn cho ngài một cơ hội."
    Có lẽ Prudence cảm thấy buồn cười, ông ngước mắt nhìn người phóng viên, khóe miệng và khóe mắt như trở nên sâu hơn: "Cho tôi một cơ hội?"
    "Để mọi người nghe lại câu chuyện mà họ đã từng từ chối lắng nghe."
    Ánh mắt của ông lão rơi xuống những bức thư cũ, như là bây giờ ông mới nhận ra sự tồn tại của chúng.

    Ông cầm lên một bức thư nằm trên cùng, ngón tay lướt theo vết cắt gọn gàng được mở bằng dụng cụ mở thư.

    Người phóng viên không lên tiếng, một người phóng viên giỏi nên biết lúc nào sẽ tấn công, lúc nào sẽ nằm trong bụi cỏ để nín thở chờ đợi.

    Ở góc phòng nào đó, điện thoại đột nhiên reo vang, phóng viên nhăn mặt, anh ta hơi tức giận, chẳng có thứ gì có quyền phá vỡ sự yên lặng ngay lúc này cả.

    May mà tiếng chuông chỉ reo hai lần rồi ngưng bặt.
    "Chuyện chiến tranh, tôi chẳng nhớ bao nhiêu.

    Nó bắt đầu lúc tôi được bảy tuổi, nhưng câu chuyện này chẳng dính dáng gì tới chiến tranh cả."
    "Vậy nó là câu chuyện gì?"
    "Là câu chuyện xưa nhất, cũng là câu chuyện mới nhất." Harry Prudence v**t v* phong thư: "Đây là một câu chuyện tình, cậu Rivers ạ.

    Nếu phải nói câu chuyện này khởi đầu như thế nào, nó bắt đầu từ một viên đá vụn ở ven đường."
    - --
    Con đường đá vụn này giống như không có điểm cuối.

    Đối với Harry Prudence, đây cũng chính là điểm khởi đầu cho sinh mạng của cậu, bởi những chuyện trước kia đều mơ hồ không rõ, tựa như bị một lớp kính không thể bị phá vỡ ngăn lại.

    Câu nhớ rõ một vùng hoang vu ảm đạm ở nông thôn hạt Cornwall với căn biệt thự bằng sa thạch mờ mờ ảo ảo trong sương mù cuối đông.

    Hai bên đường trồng đầy những bụi hoa hồng chưa nở, đâu đó có tiếng nước chảy, chắc là từ đài phun nước.

    Người hầu gái mặc váy đen nắm tay Harry thật chặt cứ như sợ cậu sẽ chạy trốn, theo mỗi bước chân, đá vụn kêu lạo xạo.

    Người hầu gái đẩy cậu bé vào tiền sảnh u tối, dặn cậu phải đứng yên ở đây, không được chạy lung tung rồi biến mất sau một trong vô số những cánh cửa ở đây.
    Harry đứng đợi, những bức chân dung treo trên tường dường như đều đang nhìn chăm chăm vào cậu.

    Cậu lặng lẽ lùi vào trong góc, né tránh những ánh mắt âm u kia.

    Chiếc khăn tay nhàu nhĩ của mẹ vẫn nằm im trong túi cậu.

    Lúc ở sân ga, cậu đã khóc òa lên, níu lấy váy bà, không muốn leo lên chuyến xe lửa chật chội ấy một mình.

    Mẹ đã lấy khăn tay để lau nước mắt và nước mũi tèm lem của cậu, dỗ cậu đừng khóc nữa, Harry, chỉ mấy ngày thôi, nhiều nhất là vài tuần, bác Connie sẽ chăm sóc cho con.

    Sau đó bà nói, đây là chiến tranh, con yêu à.

    Nước mắt cậu chảy xuống gò má, bà dùng mu bàn tay lau đi cho cậu.
    Còi tàu kêu vang, cánh tay cường tráng của nhân viên tàu ôm lấy Harry, đè cậu ngồi vào một chỗ trống.

    Khắp nơi trong buồng xe chỉ toàn là hốc mắt đỏ hồng của những đứa trẻ đi tị nạn, trên tàu tràn ngập cảm giác sợ hãi.

    Chiếc tàu lắc lư rồi rời khỏi sân ga, dường như biết bức màn đã hạ xuống, bọn trẻ ngừng khóc lóc, ánh mắt trống rỗng nhìn chằm chằm vào mũi giày của mình.
    Chuyến tàu dừng lại ở một trạm ga nhỏ vô danh rồi thả những đứa trẻ London ngây ngô xuống.

    Mọi người đều vô cùng mệt mỏi, ai cũng kéo hoặc ôm theo một ít hành lý nho nhỏ.

    Một viên cảnh sát mập mạp phụ trách việc điểm danh, lòng bàn tay ướt nhẹp của ông ta để lại một vệt mồ hôi lớn trên giấy viết.

    Từng đứa trẻ bị dẫn đi, hai giờ sau, trong phòng khách ở trạm ga chỉ còn lại Harry và viên cảnh sát mập.

    Đi tới trước mặt đứa bé, ông ta khom người kiểm tra tờ giấy được dán trên balo của cậu, trên đó viết tên và địa chỉ của bác Connie, viên cảnh sát nhíu mày, ông ta li3m ngón trỏ và ngón cái rồi lật tìm trong sổ ghi chép.
    "Xin lỗi cậu bé, trong thôn không có ai tên là Connie Parker cả, thật ra thì nhà Parker duy nhất ở đây đã dời đi từ năm năm trước."
    Harry không nói gì.
    "Cháu có quen ai khác không? Hoặc là có nhớ số điện thoại nào để chú gọi không?"
    Harry lắc đầu.
    Viên cảnh sát lau mồ hôi tay vào quần: "Chờ ở đây nhé."
    Ông ta đi ra ngoài, đến phòng làm việc của trạm ga rồi gọi điện thoại.

    Harry ngơ ngác nhìn theo một con bướm đêm đang đậu trên cửa sổ.

    Khi cửa mở ra lần nữa, nó đã bay.

    "Đi theo chú nào cháu bé." Viên cảnh sát mập vỗ vào vai cậu rồi thúc giục cậu đi ra ngoài: "Cháu may mắn đấy."
    Chiếc xe cảnh sát chở cậu đến ven một con đường lót đầy đá vụn.

    Sau khi giao cậu vào tay người hầu gái, chiếc xe phóng đi nhả ra từng làn khói đen.
    Cánh cửa đang đóng kín bỗng bật mở, tiếng vọng vang khắp hành lang.

    Một người phụ nữ trung niên mặc tạp dề vẫy tay với cậu, Harry do dự một chút, cuối cùng đi về phía bà.

    Đối phương có gương mặt tái nhợt như một giáo sư, bà tự xưng mình tên là Martha rồi hỏi tên của Harry, cậu đưa cho bà tờ giấy trên balo, Martha gấp tờ giấy lại rồi cho vào trong túi tạp dề: "Đi theo ta."
    Cậu đi theo bởi vì không còn lựa chọn nào khác, từ lúc bước lên chuyến tàu kia, một sợi dây vô hình đã quấn quanh cổ cậu, lôi cậu chạy tới chạy lui.

    Qua cánh cửa là một cầu thang dẫn xuống căn phòng bếp tràn ngập mùi dầu mỡ từ chân giò xông khói và mùi hương thơm của bánh mì mới nướng tản ra.

    Một khung cửa sổ treo gần trần nhà đang mở, ánh sáng nhợt nhạt rọi vào giúp cậu thấy được cả những hạt bụi li ti đang bay lơ lửng.

    Lò sưởi cháy tí tách, hơi nóng ập tới như những đợt sóng.

    "Ngồi đây đi." Bà Martha chỉ vào một chiếc ghế gỗ bên cạnh cái bàn dài, trên bàn dài có đặt một chiếc đài, bên cạnh đó là một giỏ mây đựng đầy khoai tây: "Nam tước Loiseau đã đồng ý cho cháu ở chỗ này một thời gian ngắn, ta đoán có lẽ là do George đang bận đánh giặc, thật ra thì George cũng không phải là một người bạn tốt để chơi đâu.

    Nam tước và Alex hiện đang ở Brighton, chắc phải mấy ngày nữa mới trở lại.

    Nam tước là một người rất tốt, cháu phải lễ phép và biết ơn ông ấy, hiểu chưa?"
    Harry không hiểu bà đang nói gì lắm nhưng vẫn gật đầu.
    "Cháu mấy tuổi rồi?"
    "Chín tuổi ạ."
    Martha lấy tờ giấy trong túi ra, cẩn thận đọc dưới ánh sáng của lò sưởi:
    "Connie là ai?"
    "Chị của bố cháu, bác ấy sống ở đây."
    "Đây là một thị trấn nhỏ, cháu yêu ạ, ta chỉ biết một Connie duy nhất, đó chính là bà của ta, bà ấy đã mất ba mươi năm trước rồi.

    Cháu có muốn ăn chút gì không, Harry?"
    Martha cắt cho cậu một miếng bánh mì nhỏ và hai miếng chân giò xông khói.

    Bà lo lắng nhìn cậu đến tận khi ăn xong hệt như một người sợ rằng chú chó nhỏ họ nhặt về sẽ không thể sống sót.

    Sau đó bà dẫn Harry đến một căn phòng nhỏ ở phía tây lầu hai.

    "Được đấy." Bà gật gù rồi kéo tấm vải trắng phủ trên giường xuống: "Căn phòng này là của cháu."
    Bà ôm tấm vải trắng đi ra ngoài.

    Harry đặt balo xuống thảm, cậu leo lên tay vịn của một chiếc ghế cạnh cửa sổ rồi đẩy cửa sổ ra.

    Bên ngoài có một cây hạt dẻ, cậu chỉ cần đưa tay là có thể chạm vào cành cây.

    Sương mù đã tan bớt, những cánh đồng nhấp nhô ánh lên màu vàng nâu trong nắng chiều ấm áp.

    Cậu bé nằm trên bệ cửa sổ, nhìn bầy dê đang kiếm ăn phía xa.
    Lúc trở lại, Martha nhìn thấy đứa bé đang co mình lại ngủ trên tay vịn của chiếc ghế, bóng cây hạt dẻ như một tấm thảm phủ lên người cậu.
    - --
    *Giải Pulitzer: là một giải thưởng của Mỹ, trao cho nhiều lĩnh vực, trong đó quan trọng hơn cả là về báo chí và văn học..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 2: Chương 2


    Mấy ngày kế tiếp, Harry ở trong trạng thái tự mình chơi đùa, không ai trông coi cậu cả.

    Martha mang cho cậu một ít bút màu và giấy vẽ, sau đó thì không xuất hiện nữa.

    Lò sưởi sát tường trong phòng bếp chưa bao giờ tắt mặc dù Harry chưa từng thấy người nào bỏ thêm gỗ hoặc than vào.

    Rất có thể là yêu tinh đã làm chuyện này.

    Thầy Meeks dạy lịch sử bảo rằng yêu tinh không có thật, Harry còn chưa chắc có nên tin lời thầy hay không.

    Trên bàn dài luôn có sẵn thức ăn, chẳng ai để ý xem cậu có ăn không hay ăn vào lúc nào.

    Thỉnh thoảng sẽ gặp được người làm vườn hoặc hầu gái, nhưng bọn họ xem như không thấy Harry, như thể ngày nào cũng có một đứa bé chín tuổi ăn chực chân giò xông khói ở đây.
    Harry đi lang thang trong dinh thự như một âm hồn, từng chút một khám phá những khu vực mới.

    Thư phòng ở phía đông, với Harry, hẳn nên gọi nó là thư viện.

    Mọi thứ trong phòng đều có mùi gỗ và mùi da cũ, đồng hồ để trên bàn tích tắc từng giây.

    Giữa các kệ sách làm bằng gỗ hồ đào là những ô cửa sổ thủy tinh cao mà hẹp, ánh mặt trời xuyên qua đây tạo thành những dải nắng có thể nhìn thấy rõ chuyển động của những hạt bụi.

    Thảm lót rất dày và cũ kỹ, cậu không thể nhìn rõ hoa văn trên đó.

    Tấm thảm giống như một vũng lầy mềm mại, chỉ cần đạp lên là sẽ chìm xuống ngay.

    Trên tấm thảm treo tường có hình một con heo rừng đang chạy trốn, nó đứng sững lại trong tư thế k** r*n, ngọn giáo đâm xuyên qua ngực nó, một con chó săn cắn vào chân sau của nó, một con khác c*n v** c*, những sợi lông bạc màu trên tấm thảm tái hiện cảnh máu tươi bắn tung tóe.

    Cậu bé thụt lùi về sau hai bước, lựng đụng vào một chiếc ghế dựa cao, người thợ săn cưỡi trên con ngựa đen trong tấm thảm giơ ngọn giáo về phía cậu và con heo rừng, bóng râm trên trần nhà đổ xuống che kín mặt anh ta.
    Bàn đọc sách rất rộng làm từ gỗ sồi, những quyển sách xếp thành hình tháp cao ngất trên mặt bàn.

    Harry lật xem một quyển ở trên cùng, bên trong toàn là những con chữ chằng chịt, chẳng có hình vẽ nào nên không thể hấp dẫn cậu.

    Những bức thư chưa mở bày la liệt, một cây bút máy lẫn trong đó, vì đã lâu không sử dụng, mực bút bị đọng lại.

    Bên cạnh lọ mực là một khung ảnh to tướng có viền bằng đồng thau, trong hình là một nhà năm người, người cha đứng phía sau bên trái, tay ông khoác lên vai của người con trai và người con gái, người mẹ thì ngồi, tay bà ôm một đứa bé sơ sinh, chiếc váy của bà rủ xuống mặt đất.

    Cha của Harry vẫn luôn muốn đi chụp một tấm ảnh như vậy nhưng lúc nào cũng bận rộn, trong ngân hàng luôn luôn có chuyện.

    Cha đã đầu quân vào từ nửa năm hoặc một năm trước gì đó, từ khi nghỉ học, Harry đã không còn nhớ chính xác thời gian.

    Tất cả các ngăn kéo đều bị khóa, Harry thử mở từng cái một nhưng đều không được.

    Đồng hồ để bàn bỗng kêu vang, kim giờ chỉ đúng chín giờ, một người hầu gái cầm chổi ngâm nga đi vào khiến đứa bé sợ hết hồn, cô đuổi cậu ra ngoài như đuổi một con mèo hoang.

    Từ đó cửa thư phòng khóa lại.
    Nhưng Harry vẫn còn chỗ tuyệt hơn để đi, đó là căn phòng hứng nắng.

    Những đóa phong lan nhiệt đới giương nanh múa vuốt ở đó tạo thành một khu rừng nguyên sinh, bóng râm phủ rải rác trên chiếc bàn trà hình tròn và hai chiếc ghế đan bằng mây.

    Một chiếc lồng vẹt tinh xảo được treo bên cửa sổ thủy tinh nhưng lại không có vẹt.

    Không có ai đuổi cậu ra ngoài cả, trên thực tế thì trừ cậu ra chắc chẳng có ai lui tới chỗ này.

    Harry mang bút màu và giấy vẽ xuống đây, cậu nằm nhoài trên bãi cỏ vẽ tranh khiến một ngày trôi qua lâu hơn.

    Sau khi màu xanh lá cây và màu vàng nhanh chóng mòn hết, cậu bắt đầu chuyển sang dùng màu đỏ và màu xám để vẽ hỏa hoạn và những đống tro tàn ở London.
    Sau đó, khi đã chán ghét những gian phòng và những dãy hành lang u ám, Harry bắt đầu khám phá cảnh vật bên ngoài.

    Một cây sồi to lớn lặng lẽ đứng cuối bãi cỏ, trông nó như một người khổng lồ màu nâu âm trầm, vì sắp đến mùa hè nên trên người nó vẩy thêm những giọt màu xanh lá.

    Đi tiếp về phía đông, xuyên qua giữa hai giá hoa hồng trống rỗng, cậu có thể thấy một đài phun nước bằng đá, đáng ra nước sẽ được phun ra từ miệng của một con cá có răng nanh thật dài nhưng giờ phút này ở đó lại khô khốc, chất đầy những đống lá khô.

    Ở đây không có đủ người làm vườn.

    "Tất cả bọn họ đều đã nhập ngũ, đi đánh giặc, cháu yêu ạ, họ đi đánh giặc rồi, thật giống George đáng thương của chúng ta", bà Martha đã nói với cậu như vậy.

    Vậy nên đài phun nước và những bụi cỏ đều không còn được chăm sóc kỹ càng.

    Trông đám cỏ dại có lẽ còn cao hơn bả vai của Harry, một khi đi vào sẽ chỉ có thể nhìn thấy bầu trời và những chú ong rừng thỉnh thoảng bay qua.

    Harry tìm được một ổ chim sơn ca, bên trong có một chú chim non còn chưa mở mắt, bên cạnh nó là hai quả trứng có lốm đốm màu nâu.
    Ban ngày trôi qua thật nhanh, ánh sáng có thể xua tan bóng tối, cho dù trời có mưa vẫn sẽ sáng sủa.

    Nhưng ban đêm lại là chuyện khác.

    Chiếc đài trong phòng bếp được mở đúng giờ vào mỗi tối, một giọng nam nghiêm túc kèm theo tiếng sột soạt của đài phát thanh thông báo về số người chết trong vụ đánh bom tối qua, miêu tả cảnh những con đường và phố xá bốc cháy, hạn chế khẩu phần ăn, thiếu hụt sợi bông, thiếu hụt thuốc lá, rượu cồn và cả bột mì.

    Âm thanh từ đài phát thanh khiến nỗi sợ len lỏi trong tâm trí Harry: Tiếng còi báo động phòng không chói tai, tiếng ồn ào xa xa của máy b** n*m b*m và tiếng nổ lách tách của lửa khi đốt cháy những thanh xà bằng gỗ.

    Có một lần, mẹ đánh thức cậu dậy vào lúc nửa đêm, lôi cậu chạy khỏi nhà.

    Còi báo động vang vọng khắp những con phố tối đen, mọi người không ai nhìn rõ mặt nhau, ai ai cũng hốt hoảng chạy vào hầm trú ẩn.

    Đứa bé trai vấp phải một viên gạch rồi bị té sấp xuống, mẹ cậu vội ôm lấy cậu, tiếp tục chạy về phía trước.

    Bọn họ rơi vào tốp người cuối cùng, tiếng động cơ máy bay phía sau đã có thể nghe rõ, viên cảnh sát đứng ở cửa hầm trú ẩn vẫy bọn họ, giục bọn họ chạy nhanh lên.

    Mẹ chạy xuống hết đoạn cầu thang này lại đến đoạn cầu thang khác.

    Tiếng cửa sắt nặng nề đóng lại, một ngọn đèn leo lét chiếu sáng, mọi người chen chúc chung một chỗ, lo sợ không dám ho he lấy một tiếng.

    Trên mặt đất liên tục rung lắc dữ dội, ngọn đèn vụt tắt, tro bụi rơi xuống như mưa.

    Đâu đó trong bóng tối, tiếng trẻ sơ sinh gào khóc vang lên, ngọn đèn lại được thắp sáng, nó nhẹ nhàng lắc lư, chiếc bóng phía sau cũng lay động theo.

    Bây giờ Harry mới nhận ra máu ở cằm đang nhỏ xuống vạt áo, mẹ nhỏ giọng nói một câu "Ôi, Harry" rồi lấy khăn tay đè trên vết thương của cậu.
    Khăn tay của mẹ để dưới gối có mùi hoa hồng nhẹ nhàng, đó là mùi từ loại xà bông mà mẹ thích nhất.

    Harry lấy khăn tay dưới gối ra rồi trải lên gối, cậu vùi mặt vào, nằm co lại chờ đến khi trời sáng.
    Cậu bị Martha đánh thức, bà kín đáo đưa cho cậu một chiếc áo sơ mi đã được ủi phẳng và một chiếc khăn lông mới tinh, gọi cậu đi rửa mặt chải đầu ngay.

    Áo sơ mi này chính là chiếc áo mà cậu đã mặc khi còn đi học, nó có màu xanh nhạt, mẹ đã dùng chỉ trắng để thêu chữ "H.E.P." ở bên túi áo.

    Chiếc áo này vốn được nhét dưới đáy của balo, Harry không biết Martha đã lấy bộ quần áo này ra từ lúc nào.

    Harry ghét bộ quần áo này, chất liệu và mùi hương của nó khiến Harry nhớ tới bút mực và chiếc bàn học bị mọt gặm đầy lỗ nhưng Martha không muốn nghe lý do của cậu, bà đẩy cậu vào một phòng tắm chật chội rồi đóng cửa lại.
    Mười phút sau cậu bị dẫn xuống lầu, ăn mặc giống như chuẩn bị đi gặp Thủ tướng.

    Khoảng hai mươi người đang tụ tập ở sảnh chính, nhiều hơn tất cả số người mà Harry đã nhìn thấy trong những ngày qua.

    Trước cửa bỗng truyền tới tiếng động cơ xe hơi, một người hầu gái hắt xì một cái, có người đang trò chuyện ở ngoài cửa, sau đó cười to.

    Cửa mở ra, một người đàn ông có râu đang cầm một cây gậy tiến vào, Harry nhận ra ông chính là người cha ở trong tấm ảnh trong thư phòng.

    Martha đè bả vai Harry, đẩy cậu tới trước mặt người đàn ông có râu.
    "Chính là đứa bé này hả?"
    "Đúng vậy, thưa ngài."
    Nam tước Loiseau quay sang nói với Harry: "Chào buổi sáng." Ông chìa tay ra, tôn trọng cậu như một người trưởng thành.

    Harry do dự nhưng vẫn bắt tay ông, thấp giọng trả lời: "Chào buổi sáng thưa ngài!"
    "Đã tìm được người thân của thằng bé chưa?" Nam tước hỏi Martha.
    "Vẫn chưa, thưa ngài."
    "Chúng ta sẽ tiếp tục tìm, Prudence à, cháu không cần phải lo lắng.

    Trước đó, ta e rằng cháu sẽ phải mắc kẹt với đám người Cornwall này một thời gian." Nam tước vỗ vào vai Harry một cái: "Thử gặp con của ta nhé, nó là đứa nhỏ nhất, lớn bằng cháu.

    Alex, lại đây nào."
    Bây giờ Harry mới để ý đến đứa cậu trai kia, hắn cao tầm Harry, có mái tóc màu vàng sậm và đôi mắt xanh giống cha của hắn, hắn mặc một chiếc áo sơ mi với chiếc áo vest làm bằng len màu nâu nhạt, quần cụt.

    Harry có thể nhìn thấy trên đầu gối bên trái của hắn có một vết trầy da.

    Dưới sự yêu cầu của cha, Alex đi tới, hắn gật đầu với Harry, nở một nụ cười mỉm cẩn trọng.
    Sự chú ý của Nam tước đã không còn đặt trên người bọn trẻ.

    Người làm vườn đang đi theo ông lên lầu, giải thích đứa con trai nhỏ của mình vừa tròn mười tám tuổi, thằng bé muốn gia nhập vào lực lượng không quân hoàng gia như George, không biết Nam tước có thể khuyên nhủ thằng bé lại không.

    Những người khác cũng lục tục rời đi như ong mật về tổ, người thì trở lại phòng bếp, người thì trở lại chuồng ngựa, người thì trở lại vườn hoa.

    Trong tiền sảnh chỉ còn lại hai đứa bé trai chín tuổi đang trố mắt nhìn nhau.
    "H.E.P.

    là gì vậy?" Alex nhìn áo sơ mi của Harry.
    "Đó là." Harry cúi đầu nhìn quần áo của mình, trông cứ như chưa từng nhìn thấy nó bao giờ: "Tên đầy đủ của tớ, Harry Edward Prudence."
    "Cậu có muốn đi gặp Mercury với tớ không?"
    "Mercury?"
    "Ngựa của tớ, bây giờ chỉ còn lại mình em ấy, những con khác bị lục quân trưng dụng rồi."
    Chẳng có lý do gì để từ chối hết.
    Hai cậu bé đi vào phòng bếp lấy vài trái táo, xuyên qua căn phòng mặt trời rồi đi ra ngoài.

    Chúng nheo mắt lại dưới ánh mặt trời chói chang.

    Mùa hè năm nay có vẻ đến hơi sớm, trên sân cỏ mọc đầy những bông hoa bé tí, nhìn cứ như những mảnh vỡ thủy tinh rực rỡ sắc màu.

    Đài phun nước đã được dọn dẹp, dòng nước trong veo được phun ra từ chiếc răng nanh bằng cẩm thạch trong miệng cá, nước chảy lấp lánh rơi xuống hồ.
    "Mau vào đây nào." Alex nhét trái táo vào trong túi quần, khom người chui xuống một bụi cây, Harry đi theo sau.

    Sau bụi cây cao ngất ấy là một lỗ hổng, đây rất có thể là một bụi cây đã chết khô, người làm vườn đã nhổ nó đi nhưng lại không trồng vào cây mới, thế là thực vật ở xung quanh từ từ che cái lỗ này lại.
    Bên kia bụi cây là một lớp cát bị bao lại bởi hàng rào, chỗ này bị bỏ hoang không sử dụng, cỏ dại mọc xung quanh len lỏi chen vào.

    Trong chuồng ngựa rất yên tĩnh, đầy mùi cỏ khô và mùn cưa.

    Phần lớn chuồng đều trống không nhưng trên đó vẫn treo bảng tên của những con ngựa, "Soot", "Nicky", "Phoebe", "Apollo" và rất nhiều những cái tên khác nữa.
    "Mercury." Alex mở gian chuồng cuối cùng ra, hắn mỉm cười với một chú ngựa con có màu trắng xám, để lộ đôi má lúm đồng tiền.

    Chú ngựa lắc đầu, cọ vào lòng bàn tay của hắn, sau đó ngửi túi quần hắn.

    Alex cẩn thận đút cho nó hai trái táo khô, hắn ngẩng đầu nhìn Harry, tỏ ý cậu hãy đến gần hơn một chút.
    Chú ngựa Ả Rập này còn cao hơn cả cậu, trên lớp lông màu trắng của nó lấm tấm những đốm màu xám bạc.

    Chú ngựa cúi chiếc cổ cong xinh đẹp quan sát Harry.

    Alex nắm tay cậu rồi nhẹ nhàng đặt lên lỗ mũi Mercury, hơi thở ấm áp thổi vào lòng bàn tay cậu, Mercury lắc tai, áp sát vào lòng bàn tay cậu hơn.
    "Em ấy rất đẹp." Harry nhỏ giọng nói, vu0t ve lớp lông bóng mượt của chú ngựa con.
    "George đã đồng ý sẽ dạy tớ chơi mã cầu*." Alex lấy chiếc túi vải khỏi móc sắt rồi lấy một chiếc lược dài ra, bắt đầu chải chuốt lông cho chú ngựa: "Anh ấy và cha đều rất thích trò này, Leila cũng vậy, chị gái tớ ấy, Apollo là ngựa của chị ấy, Phoebe là của George." Cậu bé tóc vàng dùng cán lược chỉ lớp cát ở bên ngoài: "Bọn họ từng luyện tập ở chỗ này, tớ chỉ có thể nhìn, bởi vì Mercury còn rất nhỏ."
    "Anh cậu đầu quân rồi hả?"
    "Vào không quân." Alex gật đầu: "Leila thì ở London."
    "Ở đó làm gì?"
    "Tớ không biết." Alex nhét chiếc lược lại vào chỗ cũ: "Cha chưa từng nói những chuyện này cho tớ biết."
    "Cha tớ cũng đầu quân."
    "Ở đâu?"
    "Tớ không biết." Cũng có khi đã chết rồi, nhưng cậu không nói tiếp vế sau của câu này.
    Mũi chú ngựa thở phì phò, lỗ tai lắc lư.

    Harry lùi về sau một bước.

    Gió nhẹ thổi qua mang theo mùi bùn đất và cỏ dại, một chú chim sơn ca bỗng hót vang, lỗ tai của Mercury lập tức dựng thẳng.

    Alex vỗ vào cái cổ phủ lông bờm của chú ngựa, nở nụ cười với Harry: "Chúng ta dẫn nó đi dạo nhé?"
    - --
    "Chúng tôi xuyên qua đồng ruộng, đến tận biển khơi." Prudence nhắm mắt lại, day day huyệt thái dương: "Cậu ấy đã viết như vậy, đúng không? Trong quyển sách kia ấy?"
    "Truyện ngắn, thưa ngài." Người phóng viên trả lời: "Truyện Anh túc trắng, nếu tôi nhớ không lầm, Chúng tôi xuyên qua đồng ruộng, đến tận biển khơi, sóng biển không ngừng phát ra âm thanh huyên náo, hai cậu bé vẫn cứ im lặng.

    Mặc dù bọn chúng không thể hiểu được vết thương của đất nước nhưng lại có thể cảm nhận được mọi nỗi đau đớn."
    "Thật ra thì chúng tôi không thể đến tận biển khơi, cậu Rivers ạ.

    Bờ biển ở Cornwall đầy những tháp canh được trang bị súng máy đầy đủ, dưới bãi cát lại có chôn mìn.

    Nơi xa nhất mà chúng tôi có thể đến chính là một ngọn đồi nhỏ bao xung quanh bởi dây thép, từ đó cậu có thể nhìn thấy máy b** ch**n đ** cất cánh, căn cứ không quân ở cách đó không xa.

    Cũng có lúc..." Prudence dừng lại một chút, ông nhíu mày trước màn mưa đã che kín biển khơi bên ngoài cửa sổ: "Cũng có lúc cậu sẽ thấy phi cơ của bọn họ bị bắn hạ."
    Người phóng viên đưa tay sờ bình trà, vẫn còn ấm.

    Anh rót cho Prudence một ly trà.
    "Sau đó..." Prudence nói tiếp, hoàn toàn không để ý đến động tác của người phóng viên: "Vào ngày mà chúng tôi phát hiện ra thi thể, máy bay của nước Đức tới."
    - --
    *Mã cầu: là một môn thể thao đồng đội.

    Trong môn này, người chơi ngồi trên lưng ngựa và có nhiệm vụ ghi bàn để giành chiến thắng trước đội đối phương..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 3: Chương 3


    Đó là một người lính nhảy dù trẻ tuổi, hẳn là anh đã nhảy xuống đây vào nửa đêm qua.

    Chiếc dù nhảy bị vướng vào một cây sồi thấp, anh đã chết trước khi kịp rơi xuống đất.

    Đạn từ súng máy bắn thủng xương sọ và ngực gần như xé toạc cả người anh.

    Một chiếc xương sườn bị gãy đâm qua lớp da thịt bị thiêu cháy.

    Nửa bên mặt trái của anh dính đầy máu nhưng vẫn nguyên vẹn, nửa còn lại thì không còn nữa.

    Hai đứa bé đứng cách thi thể tầm ba bốn thước, nhìn chằm chằm vào nó hồi lâu.

    Sau đó, chúng không hẹn mà cùng xoay người, chạy như bay xuống sườn núi, băng qua cánh đồng hoang để quay về dinh thự.

    Bọn chúng kể chuyện này lại cho Martha nghe.

    Hôm đó bị cúp điện, Martha phải đạp xe đạp đến đồn cảnh sát.

    Một giờ sau, viên cảnh sát mập lái xe hơi chở bà về rồi để hai cậu bé dẫn đường.
    Xe không thể lên tận sườn núi nhỏ, Martha không muốn đi, bà cũng cấm Harry và Alex đến gần thi thể mắc trên cây sồi kia, viên cảnh sát mập chỉ đành một mình leo lên đó, vừa đi ông vừa thở hồng hộc, mồ hôi chảy đầm đìa, ông ta không ngừng dùng ống tay áo lau mồ hôi trên trán.

    Sau đó bốn người lại chen chúc vào xe cảnh sát, đi đến một bưu điện cách đó hơn năm cây số để tìm một bốt điện thoại còn có thể hoạt động.

    Hai cậu bé vô cùng phấn khích bởi những cửa hàng ở đây vẫn còn mở cửa, chúng có thể mua kẹo và kem ly.

    Martha mua cho mỗi đứa một túi kẹo chanh nhưng khi bọn nhóc đòi đi xem phim thì bà gạt phắt đi.

    "Đây không phải là đi chơi." Bà xụ mặt, dẫn hai đứa về lại xe: "Mau lên, chúng ta cần phải về nhà."
    Hai viên cảnh sát đặt thi thể bọc trong tấm bạt về cạnh con đường đá vụn chờ xử lý.

    Cuối cùng mọi người đưa ra kết luận, đó là lính nhảy dù của Đức, hoặc cũng có thể là gián điệp, lính trinh sát hay phi công lái máy b** ch**n đ**.

    Đứa con mười bốn tuổi của người đầu bếp được giao trọng trách đưa tin, nó đạp chiếc xe đạp mượn được, chạy tới chạy lui truyền tin giữa dinh thự và đồn cảnh sát.

    Alex và Harry ngồi ở cầu thang ăn kẹo, nhìn mọi người đang tất bật trong sảnh qua những khe hở lan can.

    Gần chạng vạng tối thì có bốn người lính xuất hiện, họ đến từ căn cứ không quân hoàng gia cách đây hơn mười cây số, chuyển thi thể cuốn trong tấm vải bạt lên xe tải, sau khi nói mấy câu với Nam tước Loiseau, họ lên xe rời đi.
    Đêm xuống nhưng vẫn chưa khôi phục lại mạng lưới điện, tất cả mọi người đều tụ lại cùng ăn tối trong phòng bếp bởi vì ánh sáng không thể rọi xa.

    Điểm tệ chính là lò sưởi sẽ không thể tỏa nhiệt và mùi thuốc lá cay nồng cũng không còn.

    Những người lớn tranh luận xem bờ biển Cornwall có trở thành mục tiêu tấn công hay không, có người cho rằng ở đây quá xa, không đến nỗi bị tấn công, một số khác lại cho rằng nước Đức sẽ nhắm đến căn cứ hải quân ở gần đây.

    Cuối cùng, phương án đó đã thuyết phục được bên còn lại.
    Câu trả lời sáng tỏ ngay tối hôm đó, viên đạn đại bác đầu tiên đã rơi xuống vào khoảng hai giờ sáng.

    Harry chợt choàng tỉnh, cậu khoác chăn chạy đến bên cửa sổ, leo lên tay vịn ghế.

    Ánh lửa lóe lên ở phía đông bắc, chiếu sáng lớp khói mịt mù cuồn cuộn.

    Tiếng nổ truyền đến chậm hơn, một tiếng ầm vang trầm trầm, giống như ở dưới nước mà nghe thấy tiếng sấm vậy.

    Cửa sổ thủy tinh chấn động, lại một quả cầu lửa khác nổ tung ở phía xa, cậu nhìn thoáng thấy bóng của máy b** ch**n đ**, nó ở quá xa, không biết là máy bay của bên nào.

    Rồi tiếng đùng đoàng của pháo cao xạ cũng gia nhập vào dàn hợp xướng, một tiếng, hai tiếng, một chiếc máy b** ch**n đ** kéo theo làn khói, rơi vào ánh lửa mờ mờ.

    Harry không thể thấy kết cục của nó, lúc này cửa phòng đột nhiên bật mở, Martha đang mặc quần áo ngủ vọt vào, bà kéo cậu khỏi cửa sổ, đưa cậu xuống hầm rượu.
    Alex đã ở đó từ trước.

    Hai đứa bé như hai chú sóc nhỏ giữa mùa đông rúc vào góc giữa hai cái thùng làm bằng gỗ sồi, dùng chăn làm thành một cái ổ.

    Vách tường thỉnh thoảng lại rung lên, tiếng nổ ở phía xa sau khi xuyên qua tầng tầng lớp lớp đất đã nhỏ đi nhiều nhưng vẫn có thể nghe rõ.

    Bởi vì lạnh, hai đứa bé dựa vào nhau thật gần, nghe tiếng trò chuyện loáng thoáng của người lớn.

    Quả nhiên là căn cứ hải quân, đó là tiếng của người đầu bếp, quả nhiên là vậy.
    Cú nổ ngay sau đó thật gần, tưởng như ở ngay trên đầu bọn họ, bụi đất rơi xuống, phủ đầy trên cổ và gáy hai cậu bé.

    Alex hơi co người lại, hai mắt nhắm chặt.
    "Bọn họ sẽ rời đi nhanh thôi." Harry thì thầm: "Không đủ nhiên liệu đâu."
    "Sao cậu biết?"
    "Tớ và mẹ tớ rất ít khi phải đợi trong hầm trú ẩn quá ba giờ.

    Sau đó mẹ tớ không vào hầm trú ẩn nữa, những cuộc công kích trở nên dài hơn, mẹ tớ nói rằng đó là vì bây giờ máy bay của Đức đã có thể cất cánh từ Pháp.

    Có một lần lâu nhất là sáu giờ, tớ đoán thế vì tớ đã ngủ mất, trời sáng rồi cảnh sát mới cho bọn tớ ra."
    "Tại sao mẹ cậu không vào hầm trú ẩn nữa?"
    "Mẹ tớ không thể, mẹ phải lái xe cứu thương cho hội Chữ thập đỏ.

    Thật ra đây là công việc của bà Butler ở cạnh nhà tớ, nhưng bà ấy và hai y tá nữa đã bị thương do vụ đánh bom trên phố Condon.

    Đó cũng là lý do tại sao mẹ tớ lại gửi tớ đi." Hình ảnh rõ rệt ấy lại hiện lên: Trên chuyến tàu sơ tán, những đứa trẻ với hốc mắt đỏ hoe chen chúc một chỗ, mùi dầu máy và mùi nôn tràn ngập trong toa tàu.

    Harry kéo tấm chăn lên, che lấy bả vai.
    Alex tựa vào vai Harry, không nói gì nữa.

    Hai tiếng nổ liên tiếp nữa lại vang lên, hình như chúng cách xa hơn tiếng lúc nãy, nghe cứ như có con vật khổng lồ nào đó với gai nhọn đầy thân đang lăn lộn trong bùn đất.

    Harry nhìn thấy một con nhện xuất hiện giữa khe hở của những viên gạch, những chiếc chân nhỏ dài của nó do dự chạm lên viên gạch, sau đó, giống như nhận ra ánh mắt của Harry, nó nhanh chóng chạy trốn, chui vào trong khe hở của một khúc gỗ rồi biến mất.

    Alex khẽ chuyển mình, tóc hắn lướt qua lỗ tai của Harry, hơi nhột một chút.

    Không còn ai nói chuyện nữa, người đầu bếp ngồi dưới đất, ông tựa lưng vào thùng rượu, nhắm mắt lại.

    Martha thì tựa vào tường, hai tay ôm lấy thân thể, ánh mắt trống rỗng nhìn vào bàn chân trần của mình.

    Bên cạnh bà, người hầu gái trẻ tuổi với mái tóc bù xù lại đang lầm rầm cầu nguyện.
    Chúng ta hãy chờ yên ở đây, mẹ luôn dặn dò Harry như vậy, ở trong hầm trú ẩn chật chội, chúng ta cùng cầu nguyện.
    Vụ ném bom kết thúc vào trước bốn giờ sáng, trong hầm rượu không có bất kỳ thứ gì để phán đoán thời gian nhưng khi Nam tước Loiseau mở cửa để mọi người quay về phòng, Harry nghe thấy đồng hồ ở phòng khách điểm bốn tiếng.

    Cách đây vài giờ, tiếng nổ rất gần họ đã đánh sập một nhà thờ nhỏ cách đây khoảng 1km thành một đống đổ nát, may mà chỗ đó đã sớm bị bỏ hoang.
    Trời vẫn chưa sáng, Harry nằm trên giường, nhìn một bầu trời tối đen ngoài cửa sổ.

    Cậu rất hy vọng mình có thể mở đèn nhưng ngay cả khi không cúp điện, mở đèn vào lúc này chắc chắn là một chủ ý xấu, có lẽ máy bay của nước Đức vẫn còn đang lượn lờ ở xung quanh cũng nên.

    Harry đoán rằng trong tủ hẳn sẽ có nến và diêm quẹt nhưng cậu lại không muốn rời khỏi chiếc chăn ấm áp.
    Tiếng gõ cửa nhè nhẹ vang lên, Harry ngồi dậy.

    Cửa mở ra một khe hở, đầu tiên là ánh nến, theo sau là Alex, hắn nhón chân đi, chiếc bóng phía sau cũng đung đưa theo bước chân của hắn.

    Hắn đặt giá cắm nến xuống, leo lên trên giường.
    "Tớ không ngủ được."
    Harry xoay người: "Tớ cũng không."
    "Chỉ cần nhắm mắt lại là tớ sẽ nhìn thấy người lính nhảy dù kia."
    Yên lặng một hồi, hai đứa bé trai nằm đó, lắng nghe nhịp hô hấp của đối phương, cố gắng hết sức để không nhớ đến gương mặt khuyết mất một nửa của người lính nhảy dù.
    Alex đụng tay cậu: "Cậu kể chuyện được không?"
    "Chuyện gì cơ?"
    "Tớ không biết, kể bừa cũng được."
    "Tớ không biết."
    "Kể một chút về London đi."
    Nhưng London chẳng có gì đáng nói cả, London là cha mẹ và trường học, là những sáng sớm âm u và buổi tối với ngọn lửa cháy mạnh, là những đống gạch vụn với tiếng còi báo động phòng không, là những bao cát với cáng dự phòng chất la liệt đầy đường.

    Cậu phát hiện mình bắt đầu nói về bà Butler, nói về chiếc xe cứu thương bị đốt cháy đến chẳng còn gì, thi thể bên trong cũng không thể nhận dạng.

    Ông Butler cũng đi đầu quân, đơn vị đóng ở Southampton.

    Người con trai duy nhất của bọn họ là hải quân, chết ở Dunkirk.

    Bởi vì không có ai ở nhà, viên cảnh sát đến báo tin xấu chỉ có thể nhét giấy báo tử vào hòm thư của nhà Prudence.

    Mẹ đã nhét tờ giấy mỏng manh này vào trong ngăn kéo tủ, để chung với phong thư cuối cùng mà cha gửi về.
    Cây nến đã cháy gần hết, ngọn lửa nhỏ còn sót lại leo lét giữa đám sáp nến đã chảy hết.

    Alex nằm bên cạnh, nửa gương mặt chôn trong gối, mái tóc vàng rối bời, Harry vốn tưởng rằng hắn đã ngủ, thật ra thì không.

    Alex dùng một bên mắt để quan sát cậu, tựa như đang đánh giá xem Harry có đáng tin không.
    "Giấy báo tử đầu tiên được gửi vào thị trấn chính là gửi cho ông Bolton vào tuần thứ hai của chiến tranh...!Ông Bolton cũng chính là người đưa thư." Alex mở miệng: "Sáng sớm hôm đó, bà chủ tiệm thịt phát hiện ông ngồi khóc trên đường, ông cầm bức thư, xe đạp nằm ở một bên.

    Con trai ông Bolton - Richard - là một binh nhì, tớ nhớ rằng, anh ấy đã đi theo đơn vị..." Hắn nghĩ về cách phát âm của địa danh kia một lát: "Đến Caen.

    Bà chủ tiệm thịt dìu ông Bolton về nhà, cho ông một chai rượu Brandy.

    Sau đó ông Bolton không làm người đưa thư nữa.

    Elena Carlston đã thay ông ấy."
    "Bây giờ ông Bolton thế nào rồi?"
    "Ông ấy chết rồi." Trong bóng đêm, ánh mắt của Alex thoạt nhìn là một màu xanh u tối: "Cha nói rằng chúng tớ không nên bàn luận về chuyện này nhưng tớ đã nghe thấy bọn họ nói chuyện phiếm trong phòng bếp, công nhân ở bến tàu đã phát hiện ra xác của ông Bolton trôi đến, Martha cho rằng ông uống say rồi bất cẩn ngã xuống nhưng những người khác lại cho rằng ông ấy đã nhảy xuống."
    Ngọn nến tắt ngúm, khe hở từ rèm cửa sổ rọi tới ánh sáng yếu ớt, trời đã sáng.
    "Harry."
    "Sao vậy?"
    "Lỡ như George cũng không về được thì sao?"
    Harry bỗng nhớ đến cha mình, dáng vẻ ông mặc quân phục trông rất mất tự nhiên, giống như đã biến thành một người hoàn toàn khác.

    Khi ông khom người ôm lấy Harry, mùi hương trên người ông cũng không giống.

    Lẽ ra cha phải có mùi của nước cạo râu và của những tập văn kiện cũ, nhưng ngày đó ở sân ga, bộ quân phục phẳng phiu của ông lại có mùi thuốc tẩy vô cùng cứng nhắc.

    Không ai biết bọn họ rồi sẽ đi về đâu, có người nói rằng họ sẽ đến Portsmouth, sau đó sẽ ngồi thuyền để đến Caen; một người khác lại giải thích rằng đầu tiên họ phải đến Coventry để tập huấn, sau đó sẽ được phân chia đến những khu vực khác nhau.

    Nơi xa nhất mà Harry từng đến chỉ có Sussex, lúc đến nơi ấy thì bác Connie vẫn chưa kết hôn, cậu đã thử tưởng tượng ra "Caen", "Vannes" và "Le Havre", những địa danh xa lạ đó, nhưng tất cả chỉ là những đường nét mơ hồ hỗn độn màu xám xịt, hệt như bối cảnh của một cơn ác mộng, mà cha của cậu thì lại đang chìm trong đó, bặt vô âm tín.
    "Anh ấy sẽ trở về." Harry trả lời.
    Alex gật đầu, co người trong chăn, nhắm mắt lại..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 4: Chương 4


    Hai cậu bé quyết định đi xem hố bom vào ngày hôm sau, nơi đã từng có một nhà thờ nhỏ đứng sừng sững ở đó.

    Quả bom thực chất đã rơi xuống nghĩa địa, sóng xung kích truyền tới làm tòa nhà đã không được sửa sang nhiều năm đổ sụp, mái vòm ở gian giữa sụp xuống, những thanh xà gỗ, ghế dài, tranh vẽ và bàn thờ cũng bị ngọn lửa nuốt chửng.

    Chẳng ai biết tại sao nhà thờ này lại trở thành mục tiêu, có lẽ kẻ đánh bom đã quyết tâm thả từng ký đạn dược xuống vùng đất Anh lâu đời, cũng có lẽ máy bay cần phải giảm trọng gấp.

    Đội cứu hỏa trong thị trấn đã không còn hoạt động, trừ ông Bailey già quản lý vật liệu, những người khác đều đã đi đầu quân.

    Ngày thứ ba sau cuộc đánh bom, người dân trong thị trấn họp thành một đội cứu hỏa tình nguyện lỏng lẻo, như một đàn kiến tốt bụng tốt dạ nhưng lại khờ dại.

    Họ dọn dẹp những đống gạch vụn còn sót lại, dời cây thánh giá đến phòng chứa đồ lặt vặt của đồn cảnh sát, đặt chung với những cái cuốc chim, áo khoác đồng phục quá lớn hoặc quá nhỏ và những chiếc đèn pin bị hỏng.

    Vụ đánh bom đã xới tung những nấm mồ và một số quan tài bằng gỗ mục nát, bọn họ đành tạm thời để nguyên trạng như vậy bởi không ai biết phải xử lý như thế nào.
    Hố bom đã đọng nước, vũng nước tối tăm, bẩn thỉu.

    Hai chú bé ném mấy cục đá vào trong, rất nhanh đã thấy nhàm chán.

    Ở một bụi cây đã bị thiêu rụi, Alex phát hiện ra một lối vào, trước kia ở đó có lẽ có một cánh cửa gỗ nhỏ hình vòng cung nhưng cơn hỏa hoạn đã đốt cháy nó, bây giờ chỉ còn lại vách đá đen xì và vết đinh đóng trên đó, tựa như những vết thương chưa lành.
    Bậc thang được làm bằng đá, có lẽ là đá hoa cương, ở giữa bị mài mòn hơi lõm xuống.

    Mảnh thủy tinh dưới chân phát ra tiếng lạo xạo, hai đứa men theo tường đá sần sùi, dè dặt đi xuống như đang thăm dò trong cổ họng tối đen của một con sư tử.

    Alex hình như đụng phải cái gì đó phát ra tiếng loạt soạt, Harry gọi tên cậu, đưa tay quờ quạng nhưng cậu bé lại như đã biến mất trong bóng tối.

    Tay Harry chạm trúng góc nhọn của một chiếc tủ thấp, sau đó là vách tường được phủ bởi một tấm thảm trơn mềm.
    "Alex?" Cậu lại gọi thêm một tiếng nữa.

    Vẫn không có ai trả lời.

    Ánh sáng chợt lóe lên, ngọn lửa nhảy nhót từ que diêm đốt cháy tàn bấc.

    Alex thổi tắt que diêm, giơ cao ngọn nến, để ánh sáng có thể lan đầy trong không gian nhỏ hẹp dưới lòng đất.

    Đây hẳn là phòng đặt thánh khí của nhà thờ, chiếc tủ đặt những dụng cụ bằng bạc tuy trống trơn nhưng những món đồ lặt vặt khác thì vẫn còn, lễ phục treo trên móc, giá cắm nến, bình hoa, đèn dầu và một chồng bản nhạc bị mọt ăn thật dày.
    "Chẳng phải chuyện này rất tuyệt sao?" Alex hỏi, ánh nến chiếu sáng gò má của hắn.
    Harry nhìn một khe hở trên tường, nó kéo dài từ trên trần nhà đến tận sau chiếc tủ thấp: "Tớ nghĩ rằng chúng ta nên đi thôi."
    "Sẽ không có ai tới chỗ này đâu."
    "Có lẽ chúng ta cũng không nên vào đây."
    "Không, Harry, cậu không hiểu ý tớ rồi.

    Tớ nói rằng sẽ chẳng có ai tới chỗ này đâu."
    Harry chờ.

    Nhưng sáp nến nóng bỏng chợt rơi xuống tay Alex, đứa bé tóc vàng xuýt xoa một tiếng, cậu buông tay, ngọn nến lăn trên mặt đất, tắt ngúm, đưa hai đứa trẻ trở lại trong bóng tối không thể thấy rõ năm ngón tay.

    Sau một hồi lục lọi, đụng vào đối phương, đụng vào vách tường, đụng vào những góc cạnh cứng rắn của những thứ không biết tên.

    Alex quẹt diêm, Harry tìm lại ngọn nến đã lăn xuống đáy tủ rồi đốt lên, c4m vào giá cắm nến bằng đồng.
    "Vậy tức là, chỗ này là của chúng ta." Alex nói nốt nửa vế sau.
    Một căn hầm bí mật sẽ cần một cái tên bí mật, Harry đề nghị lấy tên "Thánh John" cho giống với nhà thờ nhưng Alex lại cho rằng tên như vậy không bí mật gì cả, ai cũng có thể đoán được, hắn muốn một cái tên không hề liên quan đến nơi này như "Đất trống trong rừng" hoặc "Quả cầu thủy tinh".

    Harry thì nghĩ rằng hai cái tên này nghe thật ngu xuẩn.

    Sau khi phân vân giữa "Huyệt thú" và "Trạm gác", hai đứa trẻ quyết định đặt tên căn phòng dưới đất này là "Nhà trên cây", không chỉ không khiến người khác chú ý mà còn chẳng dính dáng gì đến cây cỏ.

    Cả tháng bảy, hai đứa trẻ như hai chú chim khách lén lút dọn từng thứ lấp lánh sáng bóng đến "Nhà trên cây".

    Một chiếc kính lúp, đống sách vở ngày càng nhiều, một bộ cờ vua, giá vẽ, giấy, màu vẽ và cọ, một hộp bánh bích quy, một quyển sưu tập tem, một bộ bài, một bộ dụng cụ điêu khắc gỗ được bọc trong túi da, ngoài ra còn có một chiếc đèn bàn dù cho trong "Nhà trên cây" không có điện nhưng Alex vẫn cho rằng một cửa hàng dưới lòng đất nên có một ngọn đèn.

    Nguồn sáng chân chính là một ngọn đèn lồng xưa cũ mà hai đứa đã tìm thấy trong đống đá vụn, bên trong có thể đặt hai cây nến nhưng thỉnh thoảng sẽ cần lau dọn đống sáp nến bị tích tụ ở dưới.

    Dựa vào ngọn đèn này, hai đứa có thể diễn kịch, biến hóa phóng to những chiếc bóng trên tường trở thành kỵ sĩ hoặc phù thủy, thành rồng hoặc họa sĩ, thủy thủ, nhà sư, nhà vua và cả kỳ lân.
    Tháng bảy mưa nhiều, cỏ dại nhanh chóng vươn lên từ những khe hở trên sàn nhà, bọn trẻ phải chắn một tấm ván xuống trên bậc thềm ngăn không cho nước mưa chảy vào.

    Hố bom đã trở thành một cái ao nhỏ, lớp bùn đất xung quanh được cỏ dại bao phủ.

    Có một lần, bọn chúng đã nhìn thấy một con cóc to bằng bàn tay ở trong bụi cỏ, không đợi hai đứa đến gần, nó đã nhảy vào trong nước, đạp chân, bơi về phía bên kia của hố bom, trông nó như một người thủy thủ tuyệt vọng đang cố gắng thoát khỏi chiếc thuyền bị chìm.

    Hai đứa bé trai ném đá xung quanh nó như lựu đạn rơi xuống, cuối cùng một viên đá có góc cạnh sắc nhọn đã rơi xuống trúng đầu con cóc, nó co giật một lúc rồi ngửa cái bụng trắng xám, lơ lửng giữa làn nước trong xanh không còn nhúc nhích.
    Cả tuần đầu tiên của tháng tám trời trong xanh, rốt cuộc người làm vườn cũng cho phép đứa con nhỏ nhất của ông, Lyle, người chỉ vừa tròn mười tám tuổi vào một tháng trước rời đi.

    Elena Carlston - cô gái đã trở thành người đưa thư thay cho ông Bolton - đã đưa Lyle đến trạm xe lửa bằng chiếc xe tải nhỏ có sơn ký hiệu bưu điện hoàng gia.

    "Không quân cũng giống như hy vọng của thằng bé vậy." Người làm vườn nói trong phòng bếp, ông đổ rượu Brandy vào trong tách trà rồi nhìn chằm chằm vào tách trà có màu nâu sậm ấy, hồi lâu sau vẫn không nói gì.
    "Hoa hồng cũng sắp nở rồi." Cuối cùng ông nói thêm một câu, tựa như việc này còn quan trọng hơn tất cả những chuyện khác.
    Hai cậu bé lại chơi ở bên ngoài, chúng dắt Mercury ra khỏi chuồng ngựa.

    Bóng ma về người lính nhảy dù đã dần phai nhạt, hai đứa lại leo lên sườn núi đầy những cây gỗ sồi, tổ chức cuộc thi điền kinh của riêng hai đứa, người dự thi chỉ có hai bé trai và một con ngựa Ả Rập.

    Martha than phiền áo sơ mi của hai đứa dính quá nhiều bùn đất, cảnh cáo hai đứa rằng một ngày nào đó chúng sẽ té gãy cổ hoặc đạp phải một con rắn đang trốn trong bụi cỏ.

    Đến nay hai đứa vẫn chưa nhìn thấy rắn nhưng chúng đã nhìn thấy một con cáo tận hai lần, hai cậu bé gọi nó là "Charlie".

    Charlie có màu nâu, trên con mắt trái của nó có một nhúm lông trắng, trông nó lúc nào cũng có vẻ đói bụng.

    Alex định đút cho nó một miếng chân giò xông khói nhưng chú cáo đã nhanh nhẹn trốn vào một bụi cỏ rồi biến mất.

    Lần thứ hai nhìn thấy nó, Charlie đang ngậm một con cáo con trong miệng, quan sát hai đứa trẻ từ phía xa xa, lúc hai đứa đến gần thì không nhìn thấy gì ngoài những bụi cỏ um tùm và đám cỏ dại rậm rạp.

    Từ hôm đó, hai đứa quyết định đổi tên Charlie thành "Charis", tiếc là Charis không bao giờ xuất hiện nữa.
    Chiến tranh vẫn tiếp tục, chỉ là nó chỉ diễn ra ở phía xa, tan vào cảnh vật.

    Ở Cornwall, hai cậu bé chỉ có thể nghe thấy tiếng vang yếu ớt.

    Thỉnh thoảng sẽ có một hai chiếc máy bay Spitfire cất cánh từ bờ biển rồi vẽ một đường vòng cung kéo dài từ tây sang đông, mỗi khi nghe thấy tiếng động cơ, Alex sẽ chạy ra "Nhà trên cây", leo lên đống gạch chỉ còn một nửa rồi vẫy tay với máy bay, bởi vì "George có thể ở phía trên".
    Harry đút hai tay trong túi quần, cậu ngửa đầu nhìn, đến khi máy b** ch**n đ** biến mất sau những tầng mây mới thôi.
    - --
    "Sau đó đến tháng chín năm 1940." Prudence nói.
    Người phóng viên kiểm tra lượng pin của bút thu âm, anh đẩy mắt kính lên, lật sang một trang mới trong quyển sổ tay rồi viết "40/9".
    "Ngày bốn tháng chín, George trở về, ngày ấy giống như dịp lễ giáng sinh, Martha khóc vì quá vui mừng.

    Đó là lần đầu tiên tôi gặp George Loiseau, gương mặt anh ấy góc cạnh hơn Alex nhiều, anh ấy không có má lúm, gò má cao hơn, trông vô cùng nghiêm trang.

    Anh ấy không thể ở lâu, thời gian nghỉ phép quá ngắn, đến buổi trà chiều đã phải rời đi.

    Lúc mới đầu thì Alex rất dính anh ấy nhưng đến buổi chiều thì lại mất tích, cậu ấy trốn trong Nhà trên cây, không muốn nói lời từ biệt với anh cậu ấy.

    Đó chính là cách mà Alex xử lý vấn đề." Prudence cười một tiếng, nhẹ nhàng thả phong thư lại vào trong hộp sắt: "Mười một ngày sau chính là ngày mười lăm tháng chín, cậu Rivers ạ."
    "Nhiều cuộc không kích hơn?"
    "Cuộc không kích kịch liệt nhất vào ban ngày." Prudence gật đầu: "Tôi không thể nói rằng tôi đã trải qua chuyện này, đối với tôi, ngày hôm đó là một ngày thật sự buồn chán, không thể đi ra ngoài chơi, cậu chỉ có thể chờ đợi, không ai biết chuyện gì đã xảy ra, tất cả chỉ là nghe hơi nồi chõ.

    Những thị trấn lân cận đều đã bị giải tán, mọi người di tản về nông thôn, họ tụ tập trong nhà của những người xa lạ, vây quanh chiếc đài phát thanh, trông cứ như những con vịt chết khát đang chờ tin tức mới.

    Bầu không khí trong phòng bếp như một buổi tang lễ, người làm vườn không ngừng hút thuốc, Martha thì không ngừng cầu nguyện, tôi và Alex cũng không được phép đi ra ngoài, đó là lệnh của Nam tước, lần này ông ấy vô cùng nghiêm túc.

    Cả buổi chiều vẫn không có tin tức gì, trong đài phát thanh chỉ có tiếng ồn do tĩnh điện, cô Carlston từ bưu điện đã đến dinh thự bằng xe đạp, thông báo rằng London đã bị san bằng, Birmingham cũng vậy.

    Chúng ta cũng mất đi đường dây liên lạc với London nhưng đường dây đến Manchester vẫn còn hoạt động, tin tức này tới từ bên đó.

    Khoảng mười giờ tối, trời vẫn chưa tối, chúng tôi đã bị ép phải về phòng ngủ, ngày hôm đó kết thúc."
    "Ngày mười bảy tháng chín, Nam tước nhận được thông báo George mất tích."
    Người phóng viên ngẩng đầu lên: "Theo tôi được biết, George không..."
    Prudence ra hiệu anh đừng lên tiếng, ngón trỏ đè trên môi: "Đừng vội cậu Rivers ạ, chỉ có hai loại người vội vàng hỏi kết cục khi câu chuyện vẫn chưa kết thúc: Trẻ con chưa học xong đọc viết và người vốn không muốn lắng nghe câu chuyện.

    Không, George không chết, anh ấy hạ cánh khẩn cấp ở một nơi có tên là vịnh Henney, ngoài cánh tay bị gãy thì không còn vết thương nghiêm trọng nào cả, người dân ở đó đã đưa anh ấy về căn cứ không quân ở Southampton...!Chúng tôi biết tất cả những chuyện này vào hai tháng sau, đau khổ suốt hai tháng, sau đó kỳ tích bỗng từ trên trời rơi xuống.

    Tôi không biết liệu kỳ tích có phải là một cách nói chính xác hay không nhưng xem xét những chuyện đã xảy ra sau đó, có lẽ George chết trong cuộc không kích đó mới là kết cục tốt hơn.

    Chuyện này để nói sau đi, chúng ta không thể nhảy nhanh quá, đúng không? Phải tránh cho ghi chép của cậu bị rối loạn nữa chứ." Prudence thở dài: "Mà tôi khi ấy, vì tính bốc đồng trẻ con và sự tự tin thái quá mà đã đưa ra một quyết định hỏng bét trong khoảng thời gian tiếp theo.

    Tôi đã định sẽ lén trở lại London để tìm mẹ của tôi, cậu có thể nói đây là trực giác của một đứa trẻ.

    Trên người tôi không có cả một xu cho nên xe lửa không nằm trong phạm vi lựa chọn.

    Tôi đã mượn chiếc xe đạp của Martha, nói với bà ấy rằng tôi muốn đến bưu điện.

    Lấy một ít chân giò xông khói và bánh mì từ phòng bếp, tôi nhét tất cả vào trong balo.

    Sau đó tôi đi tìm Alex, nói với cậu ấy rằng tôi phải đi."
    "Cậu ấy nói: Tớ với cậu cùng đi.".
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 5: Chương 5


    Hai cậu bé đi tới trước chuồng ngựa, Alex buộc kỹ yên ngựa trên lưng Mercury, hắn cuốn tấm chăn lại rồi gác lên trên.

    Sau đó chúng tìm trong đống đồ cất giấu trong "Nhà trên cây" một số đồ dùng hữu dụng cho chuyến đi đường, Alex lấy một cái ống nhòm và hộp diêm, Harry vốn định lấy một con dao nhỏ, cậu suy nghĩ một chút rồi đổi thành đèn lồng và tập bản đồ, đèn được mắc trên tay cầm của xe đạp, tập bản đồ thì nhét vào balo.
    Nhìn từ đằng xa, đây đúng là một tổ hợp thú vị: Hai đứa bé trai, một chiếc xe đạp, một con ngựa con.

    Ánh mặt trời chiếu rọi, mồ hôi nhanh chóng thấm ướt áo sơ mi của Harry.

    Đường xi măng biến thành đường đá vụn, sau đó dần biến thành đường đất nhỏ hẹp, uốn lượn quanh co trong đồng cỏ hoang.

    Thị trấn chậm rãi lùi về sau, cuối cùng là biến mất, thay vào đó là một gò đất mềm mại phập phồng.

    Hai đứa đi ngang qua một con hào mới đào được một nửa, hai cái xẻng rỉ sắt bị ném vào bên trong, ngâm trong vũng nước đọng, một cái thùng gỗ nằm úp trên mặt đất, dường như bị chìm ngập trong đám cỏ dại, ở trên đặt một chiếc nón sắt lẻ loi, một con bướm đậu trên đó, lúc hai đứa trẻ đến gần thì bay đi, chậm rãi vượt qua con hào, nó chọn đến một bãi cỏ nhỏ dài rồi đậu xuống, đôi cánh thoáng lay động trong gió.

    Cách đó không xa có một đoạn đường sắt, nó nằm ngập trong bùn, không có thanh gỗ bắc ngang qua, không giống như là có xe lửa đi qua mà trông giống đường ray của những chiếc xe đi xuống mỏ than hơn.

    Có lẽ các anh lính dùng nó để tiện cho việc chở bùn đất dư thừa nhưng chẳng ai có thể nói rõ cả.
    "Bọn họ đi đâu thế nhỉ?" Alex hỏi.
    "Không biết." Harry cẩn thận đụng vào chiếc nón sắt, nó nhìn rất mới, mặt bên có vài vết xước: "Chắc là Bournemouth." Harry chưa từng đến Bournemouth, cậu chỉ mới nghe qua trong đài phát thanh, cảm thấy địa danh này hết sức xa xôi.
    Mặt trời chậm rãi lướt qua bầu trời không mây, đốt cháy cánh tay và gáy của hai đứa.

    Vào bữa trưa, hai đứa bé trai và chú ngựa con nghỉ ngơi ở một bóng mát của một cái cối xay bột bỏ hoang, cùng chia sẻ chân giò xông khói và bánh mì mà Harry đã mang theo.

    Alex lấy tập bản đồ từ balo của Harry ra, sau khi lần theo đủ mọi đường thẳng sặc sỡ sắc màu trên bản đồ, hai đứa vẫn không thể phân biệt được mình đang đi theo hướng nào nhưng cuối cùng hai đứa kết luận rằng, chỉ cần đi tiếp về phía đông, hai đứa sẽ đến nơi.

    Một dòng suối nhỏ như sợi chỉ chảy ngang qua máng đá phía sau cối xay, hai đứa cúi người uống nước, vùi mặt vào trong làn nước lạnh như băng rồi lắc đầu như một chú chó con, Alex tạt nước lên mặt Harry, cậu bé cũng phản kích lại, một trận chiến tung tóe nước diễn ra.

    Mercury cũng bị dính nước, lỗ mũi nó thở phì phò, lùi về sau mấy bước.

    Hai đứa làm ướt hết quần áo nên không thể không cởi ra, trải phẳng trên phiến đá để phơi khô.

    Chặng đường tiếp theo, hai đứa mặc chiếc áo sơ mi chỉ mới khô một nửa.

    Trừ ong mật và châu chấu thỉnh thoảng sẽ xuất hiện, hai đứa không nhìn thấy sinh vật sống nào khác.

    Harry có một loại cảm giác kỳ dị rằng miền hoang dã này đã thuộc về một thế giới khác, con đường đầy bùn ẩn trong lớp cỏ dại như chẳng dẫn đến đâu, nó chỉ mãi kéo dài về phía trước, hệt như một giấc mộng không có logic.

    Chú ngựa Ả Rập đi phía trước, tiếng vó ngựa hân hoan vang lên theo tiết tấu, nó vung vẫy đuôi, xua đuổi đám côn trùng.

    Cứ cách một đoạn đường, hai đứa sẽ đổi vị trí một lần, Harry leo lên yên ngựa, Alex thì ngồi lên xe đạp.
    Đến khi ánh nắng đã hoàn toàn biến mất, hai đứa mới dừng lại.

    Nhiệt độ bỗng hạ thấp, vùng hoang dã trong buổi chạng vạng như được tô thêm một màu xanh da trời u tối, gió mạnh thổi qua, cỏ dại lắc lư như từng đợt sóng ập tới.

    Hai đứa bé trai cột dây cương của Mercury vào một lùm cây nhỏ rồi chia nhau ra để kiếm cây và cỏ khô để nhóm lửa, thế nhưng đống lửa nho nhỏ của hai đứa nhanh chóng cháy tàn.

    Hai đứa chui vào một bụi cây rậm rạp để tránh gió lạnh, chúng đắp kín chăn, dựa vào đối phương để sưởi ấm.

    Đèn lồng đặt dưới đất, ngọn nến được thủy tinh bảo vệ nên vẫn cứ lặng lẽ cháy, dù không hề ấm áp nhưng ít ra cũng xua đi bóng tối đang ép tới từ bốn phương tám hướng.
    Harry đang ngủ thì bỗng tỉnh lại, cậu lạnh đến phát run, mơ hồ có cảm giác như mình vừa nằm mơ thấy một thứ vô cùng kinh khủng nhưng lại không thể nhớ rõ đó là thứ gì.

    Cơn rùng mình xuyên thấu qua tấm chăn như kim đâm vào lưng.

    Alex vẫn chưa tỉnh lại nhưng hắn đang nhíu chặt mày, có lẽ cũng đang mơ thấy ác mộng.

    Có một lần, Harry thề rằng mình đã nhìn thấy một đốm sáng lơ lửng lóe lên ở trên bụi cỏ.

    Harry rũ mắt, hô hấp của cậu hơi run rẩy nhưng vẫn nhắm mắt lại.
    Ánh nắng ban mai và sương mù dày đặc màu xám tro cùng hạ xuống, ngọn nến đã cháy hết không biết từ lúc nào.

    Hai đứa bé trai ăn những miếng chân giò xông khói cuối cùng và miếng bánh mì đã trở nên cứng ngắc rồi tháo dây cương đã buộc vào lùm cây ra, chúng mắc đèn lên tay cầm của xe đạp, tiếp tục lên đường.
    Đó là một ngày đầy mây, tầng mây hạ thấp nhưng trời vẫn không đổ mưa.

    Đường đi đã hoàn toàn chìm trong cỏ dại, hai đứa chỉ có thể đi bộ, Alex dắt ngựa, Harry đẩy xe đạp.

    Alex đeo ống nhòm trên cổ để lúc nào cũng có thể cầm lấy, quan sát khắp nơi.

    Nhờ vậy mà hắn đã phát hiện ra một trạm xe lửa, nói trạm xe lửa cũng không đúng lắm, phải nói là một cục xi măng gắn vào cạnh đường ray.

    Tên của trạm ga được sơn lên tường nhưng đã phai màu không rõ, hai đứa chỉ có thể miễn cưỡng đọc được một chữ "L".

    Trạm ga nứt nẻ khắp nơi, cỏ dại mọc lên cao vút.

    Một người chuyển ray già sống ở đây cùng với một con chó gầy, ông buộc sợi dây của nó vào chiếc ghế bập bênh nhưng có lẽ sợi dây cũng không cần thiết lắm bởi vì chú chó chỉ cuộn tròn lại rồi ngủ, không hề nhúc nhích.
    "A, London." Alex lặp lại địa danh này đến tận ba lần, rốt cuộc người chuyển ray cũng nghe rõ: "Mỗi tuần chỉ có một tốp xe đến London đi qua đây, tốp xe ấy vừa lái qua đây vào trưa hôm qua rồi." Ánh mắt của ông già quét qua Mercury, chiếc xe đạp đang để dựa vào tường, Alex và cuối cùng là Harry, ông bỗng nghĩ đến gì đó rồi nhíu mày, hỏi xem hai đứa đến từ đâu và tại sao hai đứa bé trai như vầy mà lại đi ngao du ở vùng hoang vu thế này.
    "Cháu muốn đến London." Harry trả lời: "Mẹ cháu đang ở đó."
    Câu trả lời này đã giải đáp toàn bộ nghi vấn của người chuyển ray.

    Ông lục tìm chìa khóa rồi mở cửa, để hai đứa bé trai vào trong phòng điều khiển.

    Căn phòng nhỏ này hệt như một đầu tàu xe lửa, cửa sổ thủy tinh to lớn soi thẳng ra ngoài đường ray.

    Một cái tay cầm khổng lồ nhô lên từ giữa sàn nhà giống như phần chi của một loại côn trùng sắt thép, bánh răng và xích sắt ở phía dưới cắn vào nhau thật chặt.

    Một chiếc giường đơn nằm ở góc phòng, trên đầu giường có dán một tờ thời khóa biểu, những chỗ trống trên đó được lấp đầy bằng những con chữ viết bằng bút bi xanh.
    "Buổi sáng đi về phía tây, buổi chiều đi về phía đông, vào thứ bảy thì hãy đi về cả hai phía, hai cháu sẽ không thể đi lạc được đâu." Người chuyển ray nói với hai đứa bé trai rồi đặt ấm trà lên lò: "Ta nhớ ta vẫn còn một hộp bánh quy sô cô la mà nhỉ."
    Hộp bánh quy ở sâu trong ngăn kéo, nằm phía dưới một quyển lịch sử sửa chữa đã ố vàng, chiếc hộp cũng đã bị rỉ sét.

    Bánh quy có mùi của gỗ thông và long não, nhai giống như đang ăn đường cát, theo lễ phép, hai đứa bé trai mỗi đứa ăn một cái.

    Tuy vậy mùi hương của ấm trà đen lại vô cùng tuyệt vời, giúp xua tan đi cơn rùng mình do hương vị kỳ lạ của miếng bánh quy.
    Lúc kim giờ của đồng hồ chỉ vào số 4, hạt mưa đập vào cửa sổ.

    Cơn mưa quét qua vùng hoang dã đi kèm với tiếng sấm, tầng mây cuộn tròn, dần bay về phía tây.

    Một chuyến tàu chở than đi tới từ màn mưa, nó kéo vang còi, người chuyển ray giơ chiếc mũ ca rô màu nâu với người lái tàu, người nọ gật đầu chào hỏi, chuyến tàu nhanh chóng đi qua.

    Mercury bị tiếng vang lớn dọa sợ, kéo căng dây cương.

    Thế nhưng chú chó gầy vẫn nằm ngủ ở dưới chiếc ghế bập bênh, thậm chí còn không thèm mở mắt.
    Hai đứa bé trai hỏi người chuyển ray xem nơi này có cách London xa lắm không.
    "Với tốc độ của hai cháu, ta đoán là bốn năm ngày."
    Alex muốn biết gần đây có chỗ nào để nghỉ qua đêm hay không.
    "Đi dọc theo đường ray về phía trước, các cháu hẳn là sẽ nhìn thấy một nông trại trước khi trời tối, nó nằm ở bên tay trái.

    Hãy tìm gặp góa phụ Megan, bảo rằng ông Karl già đã chỉ bọn cháu đến đây.

    Megan có nuôi một đám cừu, bốn con bò sữa - năm con chứ, nếu Hành Nhỏ vẫn còn sống, tiếc là Hành Nhỏ đã bị bệnh vào mùa đông trước - bà ấy rất tốt, thường xuyên tặng phô mai cho ta." Người chuyển ray lấy ra một phần phô mai được bọc trong giấy trong đống đồ lặt vặt, chứng minh lời mình nói: "Có lẽ các cháu có thể thuyết phục bà ấy dùng xe chở hàng của mình để cho các cháu quá giang một đoạn."
    Mưa đã tạnh, tầng mây tản bớt, ánh mặt trời yếu ớt rọi xuống.

    Hai đứa bé trai nói lời tạm biệt với ông Karl già, đi dọc theo đường sắt để đến nông trại.

    Những bụi cỏ ướt nhẹp, giọt nước nhỏ xuống khỏi lá cây, mùi bùn đất và cây cỏ khiến chú ngựa nhỏ cảm thấy phấn khởi.
    "Thi chạy thôi." Alex bỏ lại một câu, Mercury vui sướng chạy đi.
    "Không công bằng tí nào!" Harry hô to với bóng lưng hắn, nhảy lên xe đạp: "Chờ một chút!"
    Hai đứa chạy đuổi nhanh đến tận một vùng cỏ lớn, một đám cừu đang đi loanh quanh ở đó, chúng nhai cỏ thật kỹ, trông như vô cùng chán nản với thế giới này.

    Một chú chó Collie có lông màu trắng đen vểnh tai, cảnh giác nhìn chằm chằm vào hai đứa bé trai.

    Harry đẩy xe đạp vào trong một bụi cỏ, dựa vào hàng rào để thở hổn hển.

    Từ chỗ này, hai đứa có thể nhìn thấy nóc nông trại màu nâu sậm ở phía xa xa, Alex trượt khỏi yên ngựa, nằm lên bãi cỏ bên cạnh cậu.
    "Bốn ngày." Alex nói: "Chúng ta nên ngồi xe lửa."
    "Tớ ghét xe lửa."
    "Tại sao?"
    Harry nhún vai: "Dậy đi." Cậu đứng dậy, phủi cỏ dính trên quần áo rồi đỡ xe đạp lên: "Chúng ta sắp tới rồi."
    Chú chó Collie nhìn hai đứa bé trai dần đi xa mới chịu nằm xuống lại.

    Cỏ gần hàng rào không quá cao, chưa đến đầu gối của hai đứa, Harry nghe thấy một tiếng đứt gãy nhỏ nhẹ như cậu vừa đạp phải một cành cây khô, sau đó mặt đất dưới chân cậu bỗng sụp đổ, bầu trời như đang đảo ngược, cậu thậm chí còn chưa kịp kêu la tiếng nào.

    Alex cúi người muốn bắt lấy Harry nhưng bùn đất mềm mại lại sụp đổ thêm một lần nữa, hai đứa bé trai rơi vào trong hố sâu, té mạnh xuống lớp bùn.
    Đây có lẽ là một chiếc bẫy cáo đã bị bỏ quên, cái bẫy kẹp cách đầu Harry chưa tới hai inch, may là lò xo của nó đã bị ăn mòn, những chiếc răng thép đáng sợ kia vẫn chưa đóng lại.

    Alex bò dậy, cẩn thận sờ vào cùi chỏ đã bị trầy rồi dùng áo sơ mi để lau sạch vết máu.
    "Chúng ta có thể leo lên." Đứa bé tóc vàng ngẩng đầu đánh giá cái bẫy.
    "Tớ không thể."
    "Tất nhiên là có thể rồi, nhìn này, chỗ này có một ít rễ cỏ, nếu như..."
    "Alex, tớ không thể." Giọng nói của Harry trở nên sợ hãi và run rẩy vì cơn đau: "Chân của tớ."
    Ở đùi phải của cậu, chỗ bị gãy xương đang sưng lên một cục.

    Alex đi vòng qua chiếc bẫy kẹp rồi quỳ xuống cạnh Harry, dè dặt đỡ cậu dậy, để cậu tựa vào vách hố: "Tớ nghĩ chúng ta nên..." Alex do dự cắn môi, không thể nghĩ ra hai đứa nên làm gì: "Trời ạ."
    Một đám mây nhỏ trôi qua trên bầu trời chỉ còn là một hình tròn bé xíu.

    Alex đứng dậy, gào thét ra bên ngoài nhưng trả lời hai đứa chỉ có tiếng gió yếu ớt và tiếng côn trùng kêu vang.

    Mồ hôi lạnh thấm ướt cổ áo Harry, cậu nắm chặt bàn tay thành quả đấm, cố không phát ra âm thanh.

    Alex hô mệt nên ngồi xuống bên cạnh cậu, cúi thấp đầu.
    "Sẽ có người đến thôi."
    Harry không muốn nói chuyện, cơn đau đã lấn át tất cả.

    Cậu nhắm mắt lại, gật đầu.
    Hai tiếng trước khi trời tối, mây đen lại kéo tới, chặn mất những ánh nắng còn sót lại, hai đứa bị nhấn chìm trong cơn mưa rào và bóng tối ngày càng trở nên thâm sâu..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 6: Chương 6


    "Sáu mươi năm rồi, thỉnh thoảng sẽ thấy đau." Prudence chỉ vào đùi phải của mình: "Có đôi khi là vì thời tiết xấu, đôi khi thì không.

    Phần lớn là do tác dụng của tâm lý, không liên quan đến xương khớp đâu, chúng vẫn còn khỏe lắm.

    Hồi còn sống ở Oxford, cuối tuần nào tôi cũng đi đánh quần vợt, chưa từng xảy ra chuyện gì cả...!Cậu có thích chơi quần vợt không, cậu Rivers? Hay cậu thích chơi bóng chày hơn? Đó quả là một trò thú vị, tiếc là đến giờ tôi vẫn chưa rõ luật lệ của trò bóng chày.

    Bác sĩ Wilkins nói rằng tôi rất may mắn, nếu đến trễ thêm mấy tiếng nữa, hai đứa tôi đã có thể chết vì nhiệt độ cơ thể quá thấp.

    Ông ấy đúng là đã dùng từ may mắn, tôi đoán có lẽ do ông ấy quá ngại để dùng một từ nặng hơn."
    "Là Martha đã để ý đến việc chúng tôi mất tích, mới đầu bà ấy cũng không chắc chắn lắm nhưng khi nhìn thấy chuồng ngựa trống không thì đã hiểu ngay mọi chuyện.

    Nam tước và viên cảnh sát mập lập tức họp thành một đội tìm kiếm, họ tìm từ sân chơi mã cầu đến tận ngoài bãi biển.

    Ban đầu bọn họ chỉ lo rằng chúng tôi lén chui qua lưới sắt để đến chơi ở bãi cát có chôn mìn nhưng lưới sắt vẫn nguyên vẹn không hỏng hóc gì, nó còn cao hơn cả một người trưởng thành, cho dù hai đứa bé trai có thể bò qua thì chú ngựa con kia vẫn không thể đi lọt.

    Bọn họ còn đến cả Nhà trên cây, nơi nhà thờ đã bị sụp đổ nhưng vẫn không thấy ai ở đó.

    Lúc này thì trời đã hoàn toàn sụp tối, bọn họ quyết định quay về dinh thự.

    Đèn pin không đủ nên người làm vườn đã chuẩn bị một ít ngọn đuốc được làm theo kiểu xưa, đó là những que gỗ được quấn vải tẩm bằng dầu hỏa.

    Ba chiếc xe lần lượt lên đường: Chiếc Land Rover của Nam tước, xe cảnh sát và chiếc xe chở hàng màu xanh lá cây nho nhỏ mượn từ bưu điện."
    "Một người nông dân đã cung cấp đầu mối, người ấy nói rằng ông đã nhìn thấy hai đứa bé trai ở gần một cối xay bột vào buổi chiều, lúc đó ông ấy đang sửa chuồng bò, khoảng cách quá xa nên không thể nhìn thấy rõ ràng nhưng một chú ngựa con xinh đẹp đã lưu lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí ông.

    Mười mấy dặm quanh cái cối xay bột ấy toàn là vùng hoang vu vắng vẻ, nếu hai đứa nhỏ thật sự đã đi tiếp về phía đông như lời ông ấy đã nói, sợ rằng chúng phải đi đến tận ga Reckenston mới có thể tìm thấy chỗ nghỉ chân.

    Ai trong đám người cũng chưa từng nghe qua nơi này, người nông dân nói sơ qua hướng đi, ông còn nói với họ rằng ở ga Reckenston có một người chuyển ray sống ở đó, có lẽ ông Karl già đã nhìn thấy hai đứa bé trai mất tích."

    "Đoàn xe lái được đến cối xay bột trước nửa đêm, họ tìm được đường sắt rồi lái dọc theo nó, nếu không phải trên đường bỗng xảy ra chuyện bất ngờ, họ hẳn đã có thể đến được trạm xe lửa trước khi trời sáng; xe chở hàng của bưu điện bị bể bánh xe, cậu nghĩ đi, cậu Rivers, đường xá ở nông thôn lúc bấy giờ vô cùng tệ hại, dọc khắp đường đi toàn là những hòn đá nhỏ nhưng nhọn hoắt.

    Bọn họ thử sửa lại bánh xe giữa vùng hoang vu, cuối cùng từ bỏ, đám người quyết định để xe chở hàng ở lại đây, sau này sẽ xử lý.

    Tất cả mọi người chen vào hai chiếc xe còn lại, tiếp tục lên đường, lúc đến được trạm xe lửa thì đã đến giờ ăn sáng."
    "Khi đó thì hai ngài đã ở trong hố bẫy suốt một đêm." Người phóng viên nói.
    Prudence gật đầu: "Ngoài phát sốt, tôi chỉ có hai loại cảm giác, lạnh và đau.

    Tôi không biết ai trong chúng tôi thấy sợ hơn, chắc là Alex, bởi vì tôi đã không còn tỉnh táo mấy.

    Người chuyển ray nói với viên cảnh sát mập rằng hai đứa bé trai đã đến nông trại của góa phụ Megan, vì vậy mà bọn họ phải tốn hai mươi phút nữa để lái đến nông trại, Megan cầm theo một cái chĩa và dẫn theo hai con chó để ra ngoài đón tiếp đám người xa lạ ấy, bà nói rằng mình chưa từng gặp hai đứa bé trai và một chú ngựa con nào, vị khách không mời mà đến duy nhất vào ngày hôm qua chính là một con chồn, nó đã bị chú chó cắn chết."
    "Nếu hai đứa ngốc nghếch ấy đến từ trạm xe lửa. Megan nói tiếp: Vậy thì rất nguy hiểm, ở đồng cỏ ấy có không ít bẫy săn cáo đâu."
    "Dẫn chúng tôi đến đó đi. Nam tước nói với bà."
    "Tổng cộng có bốn cái bẫy săn cáo, cỏ dại mọc um tùm, dù có là Megan thì cũng phải mất một ít thời gian để đi tìm.

    May mắn là Mercury vẫn chưa rời đi, bọn họ đã nhìn thấy chú ngựa con trung thành này từ phía xa xa.

    Đám chó chạy tới trước, đến bây giờ tôi vẫn có thể nhớ rõ hai con chó chăn cừu ấy trông như thế nào, chúng giống như quái vật bước ra khỏi ác mộng của tôi, sủa điên cuồng bên ngoài hố bẫy, để lộ hàm răng sắc nhọn.

    Megan chạy tới ngay sau đó rồi mắng chó của bà, bà nhìn chúng tôi, lớn tiếng mắng một câu thô tuc rồi ném sợi dây xuống."
    Người phóng viên nhíu mày lại: "Các ngài leo lên bằng cách nào?"
    "Chúng tôi không leo lên.

    Nam tước đã nhảy xuống, ông buộc sợi dây quanh hông Alex rồi để viên cảnh sát mập kéo cậu ấy lên.

    Đến lượt tôi thì bọn họ phải tốn nhiều thời gian hơn.

    Kế hoạch ban đầu là dựng một cái thang dây để Nam tước ôm tôi lên nhưng quyết định sau cùng của bọn họ là không nên mạo hiểm.

    Người làm vườn mượn vài tấm ván từ kho thóc của Megan rồi đóng tạm thành một cái cáng, sau khi đặt tôi lên đó, họ cột chặt dây vào hai đầu cáng rồi kéo nó lên.

    Megan vừa trách móc đám trẻ con ngu ngốc và đám người xa lạ nhiều chuyện đã phá hư một ngày của bà, vừa hào phóng bảo rằng sẽ cho mượn chăn và xe chở hàng.

    Người làm vườn che mắt Mercury lại với một miếng vải rồi dỗ nó lên xe chở hàng.

    Chúng tôi trở về thị trấn trước khi trời tối, cuộc hành trình mạo hiểm cũng chấm dứt ở đây."
    Nhân viên y tá gõ cửa đi vào, cậu cầm theo vài hộp thuốc nhựa và một ly nước.

    Prudence kiểm tra từng nhãn dán trên hộp thuốc rồi để thuốc ra lòng bàn tay, ông nuốt xuống, nháy mắt với người phóng viên, tựa như đang nói đây chính là cách mà một ông già sống qua một ngày.

    Nhân viên y tá dọn dẹp hộp thuốc rỗng và ly nước, hỏi xem bọn họ có cần gì khác không.
    "Trà nóng là được, cảm ơn." Prudence trả lời.
    Nhân viên y tá đi ra ngoài, vẫn giống như một hồn ma, không hề có tiếng bước chân.

    Chiếc bút thu âm được đặt trên bàn uống trà bỗng kêu mấy tiếng "tích tích" chói tai, có lẽ là sắp hết pin, người phóng viên phải lật tung chiếc túi xách mới có thể tìm được pin dự phòng để thay.

    Prudence đứng dậy khỏi chiếc ghế bập bênh, ông đi tới cạnh lò sưởi sát tường, rút hai mảnh gỗ thông từ trong giỏ rồi ném vào trong lửa.

    Ngoài cửa sổ, bầu trời trông như một lớp băng đục giữa mùa đông lạnh giá.
    Lần thứ hai nhân viên y tá tiến vào, cậu không gõ cửa, chỉ đặt ấm trà đã được bọc trong lớp len cách nhiệt lên bàn.

    Người phóng viên nói cảm ơn thật nhỏ, nhân viên y tá gật đầu, nhẹ nhàng đóng cửa lại.
    "Bọn họ chưa từng hỏi tại sao." Prudence nói, ông đưa lưng về phía người phóng viên, nhìn lò sưởi.

    "Ai cơ?"
    "Tất cả mọi người.

    Nam tước Loiseau, viên cảnh sát mập, Martha, người làm vườn, đầu bếp và người hầu gái trẻ tuổi, họ chưa từng hỏi tại sao tôi và Alex lại lặng lẽ chạy đến một nơi xa như vậy, biểu hiện của bọn họ giống như chuyện này chưa từng xảy ra.

    Bác sĩ Wilkins để tôi nằm yên trên giường suốt ba tháng, đối với một đứa bé trai thì nó dài như một thế kỷ vậy.

    Alex ở luôn trong phòng của tôi...!Trông cậu ấy giống như đã chở toàn bộ Nhà trên cây đến, cậu ấy mang sách hoặc đồ kẹp tranh, một hộp đầy bi ve, ngoài ra còn có đủ loại thức ăn trộm được từ phòng bếp, thậm chí có một lần cậu ấy còn mang đến một chú chim sẻ, đó là chú chim mà cậu ấy đã cứu được từ miệng của một con mèo hoang.

    Chú chim đáng thương vùng vẫy suốt hai ngày trong hộp bánh quy được lót bằng vải sợi bông, cuối cùng vẫn không thể sống sót."
    Người phóng viên cúi người về trước: "Trên thực tế, ngoại trừ chương hai và chương ba vô cùng nổi tiếng, Mùa hè bất tận còn có một đoạn rất hay được mọi người thảo luận..."
    "Nụ hôn trong phòng hứng nắng."
    "Chuyện đó có thật không? Các ngài có biết ý nghĩa của nó không? Ngài Loiseau đã miêu tả chuyện đó thành một trò chơi, đó là sự ngây thơ của trẻ con muốn bắt chước theo người lớn, nhưng nếu thật sự chuyện đó chẳng quan trọng gì mấy đối với tác giả, tại sao ngài ấy lại phải dùng một đoạn dài như thế để miêu tả?"
    Prudence chậm rãi quay về với chiếc ghế bập bênh, ông phủi tấm chăn rồi trải lên trên đùi, nắm hai tay lại.
    "Tôi đã nói là cậu ấy mới là người có thiên phú giữa hai chúng tôi, thiên phú của cậu ấy vô cùng có sức thuyết phục, không giống với những luật sư biện hộ, mà là...!nghe có vẻ kỳ lạ nhưng tôi cảm thấy nó giống với một bức tranh phong cảnh.

    Alex sẽ sửa lại màu sắc của bức tranh, sẽ vẽ thêm một ngọn cây vào chỗ cậu không để ý đến, vẽ thêm bóng mờ, vẽ thêm một hòn đá, nhìn thì không bắt mắt mấy nhưng khi cậu quan sát lại bầu trời, cậu sẽ thấy màu sắc của Alex thích hợp hơn."
    "Vì vậy?"
    "Vì vậy, tôi rất tiếc phải nói với cậu rằng đó chỉ là tưởng tượng của Alex.

    Cậu ấy đã viết nên trò chơi đó, mặc dù nghe rất đáng yêu nhưng chuyện đó lại chưa từng xảy ra, lúc đó chúng tôi chỉ là những đứa trẻ, nói chính xác hơn là một đôi bạn chơi với nhau."
    "Vậy là tất cả chỉ là hư cấu thôi sao?"
    "Alex đã bắt tay viết đoạn này trước, chúng tôi đã từng có một trận - nói một cách khéo léo - tranh chấp trong không vui, mối quan hệ giữa chúng tôi khi đó lại đang..." Prudence liếc nhìn những phong thư cũ trong hộp sắt, tựa như có thể tìm thấy lòng tin từ nơi đó: "Ở một thung lũng.

    Cậu ấy muốn dùng cách này để tìm lại tôi của năm 1940, cậu ấy thích tôi của khi ấy hơn.

    Cậu ấy đã nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy tập bản thảo này."
    "Ngài cũng thích bản thân của quá khứ hơn sao?"
    "Đó quả là một câu hỏi triết học vô cùng sắc sảo." Prudence nở nụ cười mỉm, ông nhìn chằm chằm vào màn mưa ngoài cửa sổ hồi lâu rồi mới lắc đầu: "Xin lỗi, cậu Rivers, tôi cũng không biết."
    "Ngài có phiền khi tôi hỏi thêm một chuyện không?"
    "Không sao."

    "Sau đó ngài có tìm được mẹ của mình không?".

    Ngôn Tình Ngược
    "Không bao giờ." Prudence rũ mắt, vuốt nếp nhăn trên chăn: "Ngày 15 tháng 9, hai chiếc máy bay Stuka đã san bằng khu phố nơi nhà tôi ở.

    Không ai biết liệu bà ấy có xuống hầm trú ẩn hay không, chúng tôi cũng không tìm được thi thể của bà.

    Trong hồ sơ của chính phủ, bà ấy thuộc về trạng thái mất tích.

    Lần bà ấy đưa tôi lên xe lửa chính là lần gặp mặt cuối cùng của chúng tôi."
    "Tôi rất tiếc."
    "Cảm ơn cậu."
    Ngọn đèn trên bút thu âm yên lặng lóe lên.
    "Cậu Rivers."
    "Sao ạ?"
    "Đến bây giờ, cậu có phát hiện trong câu chuyện của Alex thiếu mất nhân vật nào không?"
    Người phóng viên mím môi, nhẹ nhàng gõ chiếc bút bi vào quyển sổ tay: "Người mẹ à?"
    "Đúng vậy.

    Trong thư phòng có hình của bà nhưng chưa có ai từng nhắc tới phu nhân của Nam tước Loiseau.

    Chuyện liên quan đến bà tôi chỉ mới nghe vào sau này - mười mấy năm sau, đó là lần đầu tiên tôi trở về Cornwall từ Oxford - mọi thứ chỉ còn là mảnh vụn, có khi còn mâu thuẫn nữa chứ, có người nói rằng bà ấy đang ở Brighton, người khác lại nói rằng thật ra bà ấy đang ở London chung với nhân tình trẻ tuổi, những nhân tình, số nhiều.

    Alex giải thích rằng phu nhân của Nam tước mắc bệnh phổi cho nên chỉ có thể ở những vùng phía bắc, cậu ấy không nói rõ là ở vùng phía bắc nào, có lẽ cậu ấy thật sự không biết, cũng có lẽ bệnh phổi chỉ là một cái cớ được George và Leila bịa ra để an ủi cậu ấy.

    Bất kể thế nào, tôi chỉ mới gặp bà ấy một lần, đó là vào hôn lễ của George, bà ấy đột ngột xuất hiện rồi lại lặng lẽ rời đi, không hề nói chuyện với bất cứ kẻ nào."
    "Giống như một bóng ma."
    "Giống như một bóng ma." Prudence rót cho mình một tách trà, hơi nóng bốc lên khỏi tách: "Chúng ta nói đến đâu rồi nhỉ? Gãy xương, chim sẻ nhỏ, tháng mười.

    Mùa hè đầu tiên của tôi và Alex kết thúc, mùa đông năm ấy đến sớm hơn so với tưởng tượng của tôi.".
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 7: Chương 7


    Trong phòng hứng nắng không có lò sưởi, vào lúc chạng vạng sẽ vô cùng lạnh lẽo, trời có mưa hay không cũng vậy nhưng nó vẫn là nơi mà Harry thích đến nhất.

    Chờ đến khi cậu đã có thể hoạt động trở lại nhờ cây nạng, mỗi ngày cậu đều khó khăn xuống lầu, băng qua những dãy hành lang để đến với phòng hứng nắng như một người khổng lồ có một chân trong những quyển sách vẽ.

    Cậu thích khung cửa sổ thủy tinh chiếm cả một mặt tường và những đóa phong lan được treo lơ lửng trên giá...!Mặc dù những thực vật nhiệt đới khó chiều này đã bị chuyển vào nhà kính không lâu sau đó.

    Chiếc lồng vẹt đã biến mất, sân cỏ ngoài cửa sổ hiện lên một màu nâu nhạt mệt mỏi.

    Một chú sóc bận rộn chạy nhanh trên mặt đất lót đầy lá rụng, tìm kiếm những quả sồi.
    Nhưng chuỗi ngày ăn không ngồi rồi nhanh chóng chấm dứt, Nam tước Loiseau nghĩ rằng đã đến lúc để hai đứa bé trai trở lại con đường học tập, tránh việc "trở thành hai nhóc người rừng".

    Vào chiều thứ ba và thứ tư mỗi tuần, hai đứa phải tham gia một lớp học tiếng Pháp, dùng sách cũ của George và Leila; bác sĩ Wilkins sẽ đến vào mỗi sáng thứ năm để kiểm tra tình trạng của Harry, nếu có thời gian, ông sẽ tạm thời trở thành thầy dạy địa lý nhưng do gần đây bà Denton ở thị trấn trên mới sinh một cặp sinh đôi nên bác sĩ không còn thời gian.

    Cô Carlston từ bưu điện sẽ lái xe tới vào mỗi chiều thứ sáu để dạy hai đứa môn toán, bình thường sẽ ở lại ăn tối; ngoài ra còn có sáng thứ bảy để học lịch sử.

    Bài tập không hề ít hơn so với trường học, mỗi đêm, hai đứa bé trai ủ dột ngồi cạnh lò sưởi trong thư phòng trên lầu để suy nghĩ về điểm số và ngữ pháp.

    Lò sưởi ấm áp, ánh đèn khiến người ta buồn ngủ, mỗi khi hai đứa nhịn không được mà nhắm mắt lại, Nam tước Loiseau sẽ dùng sức gõ bàn, đánh thức hai đứa dậy.
    Alex không thích sự sắp xếp này nhưng vẫn chấp nhận, lén lè lưỡi sau bóng lưng cha.

    Tiếng Pháp không là vấn đề gì đối với hắn nhưng tiến triển của Harry lại chậm hơn rất nhiều, cậu phải mất một lúc mới có thể nói được câu "Trong phòng có một con mèo" một cách trọn vẹn.

    Hai đứa nhanh chóng tìm ra một phương án hỗ trợ lẫn nhau, Alex thay Harry làm bài tập luyện nói, Harry phụ trách bài tập môn toán của hai người.

    Tiếc là chưa tới một tuần, Nam tước Loiseau đã phát hiện ra mánh khóe nho nhỏ này, ông dời bàn ghế ở cạnh lò sưởi sát tường sang hai đầu của thư phòng, tách hai đứa học sinh lanh chanh này ra xa.
    Chủ nhật và thứ hai là ngày nghỉ nhưng phạm vi hoạt động của Harry có hạn, phần lớn thời gian chỉ ngồi cạnh bên đài phun nước.

    Sau khi Lyle đầu quân, không còn người nào chịu dọn dẹp đài phun nước nữa, lá cây và phù sa lắng sâu dưới đáy hồ, nước vừa cạn vừa đục, nhìn qua cứ như một vũng bùn lầy.

    Vườn hoa vào cuối mùa thu hiện lên với một diện mạo khác, màu nâu và màu xám tro chậm rãi lan rộng, thấm ướt từng bụi cây, bụi hoa hồng và cả bãi cỏ.

    Sau một cơn mưa, chiếc lá khô cuối cùng còn bám trên cành cây cũng đã rụng, sóc và chim cũng từ đó biến mất.

    Martha đan cho Harry một chiếc khăn quàng, nó quá lớn, trông giống một chiếc chăn màu xanh đậm hơn.

    Cậu thường xuyên quấn chiếc khăn quàng này quanh cổ rồi ngồi bên bậc thang, cây nạng để một bên, cầm một quyển sách vốn dĩ không hề đọc lấy một chữ rồi ngồi ngẩn người về phía cành cây trơ trụi.

    Cách đây không lâu, Alex còn cùng cậu mai táng chú chim sẻ đã chịu đủ mọi hành hạ ở dưới cái cây này.

    Ngày 15 tháng 11, George vẫn không rõ tung tích.

    Rốt cuộc bọn họ cũng biết được một tin tức: tiểu đội của anh đã bị đuổi sát đến eo biển, sau đó thì mất liên lạc với căn cứ.

    Một người phi công đã trốn thoát sau khi nhảy dù xác nhận rằng máy b** ch**n đ** của George đã bị bắn trúng nhưng anh ta không thể khẳng định rằng George có nhảy dù hay hạ cánh khẩn cấp hay không.

    Lyle - đứa con trai út của người làm vườn - cũng không có tin tức giống vậy.

    Điện thoại và điện báo thường xuyên bị cắt đứt, tựa như thế giới ngoài kia đang dần sụp đổ, mà thị trấn nhỏ ở phía tây nam của bọn họ lại chính là hòn đảo hoang cuối cùng.

    Cho dù thỉnh thoảng cũng có tin tức truyền vào nhưng những tin ấy đều vô cùng ảm đạm.

    Ngày 17 tháng 11, Birmingham bị đánh bom; năm ngày sau là đến Southampton, mọi người đồn rằng thành phố với đầy bến tàu này chẳng còn gì ngoài những đống đổ nát.

    Ngày 28 tháng 11, đến lượt Liverpool chịu trận.

    Ngày 29 tháng 11, thứ sáu, cô Carlston đến đưa điện báo.
    Cô đạp xe đạp tới, thở hồng hộc, bởi vì trạm xăng mà dân làng vẫn hay dùng đã tạm ngừng hoạt động mà không biết khi nào sẽ mở lại.

    Cô chắc chắn đã xem qua nội dung của bức điện báo vì khi cô giao điện báo cho Martha, gương mặt cô mỉm cười, hai gò má đỏ bừng, không biết là do mệt vì đạp xe hay do hưng phấn.

    Điện báo được gửi tới từ George, vô cùng ngắn gọn, anh bảo rằng mọi chuyện vẫn ổn, anh sẽ trở về vào lễ giáng sinh.
    Anh ấy thật sự đã giữ lời hứa.

    George Loiseau trở về vào tối ngày 21 tháng 12 năm 1940, một mình anh ngồi xe lửa đến, trước đó vẫn chưa thông báo với bất cứ ai.

    Vào bữa sáng hôm sau hai đứa bé trai mới nhìn thấy anh, anh đã thay bộ đồng phục không quân, mặc một chiếc sơ mi rộng thùng thình cùng áo len Fair Isle, cánh tay bên phải có bọc vải trắng.

    Khi nhìn thấy Alex, anh vội đứng lên, mỉm cười, dùng một tay để ôm đứa em trai vào trong lồng ngực.
    "Chào buổi sáng, cậu Prudence." Lúc thả em trai xuống lại mặt đất, George nói, xoa xoa tóc Harry, Harry để ý thấy một vết sẹo rõ ràng ở trên con mắt trái của anh: "Anh nghe nói cha đã ép các em phải học tiếng Pháp."
    "Có ép đâu." Nam tước bỏ tờ báo xuống, ngồi từ đầu bên kia bàn ăn chen miệng vào.
    "Chào buổi sáng." Harry nhỏ giọng trả lời, không chắc George có nghe thấy hay không.
    "Leila không định trở lại ạ?"
    "Con bé đến Brighton rồi." Nam tước Loiseau trả lời ngắn gọn.
    Harry không nghe được đoạn đối thoại tiếp theo bởi vì khi Martha vừa nghe thấy "Brighton", bà đã vội đưa hai đứa trẻ ra ngoài, đeo mũ và găng tay vào cho hai đứa rồi giục hai đứa ra ngoài vườn hoa chơi.

    Hôm đó là một ngày trời trong nhưng gió rất to, rét lạnh thấu xương, hai đứa bé trai chơi ở ngoài chưa tới mười phút đã vội chui vào nhà kính, đi băng qua những dãy thực vật nhiệt đới được treo trên giá.

    Căn phòng thủy tinh sáng ngời này thật ấm áp nhưng cũng rất ẩm ướt, hơi nước khiến người ta chán ghét phủ lên người như một tấm bạt bằng vải bố.

    Hai đứa bé trai mở cửa bên cạnh rồi băng qua một dãy hành lang đầy giá rét để chạy đến phòng hứng nắng.

    Alex cầm lấy bút chì và quyển sổ tay - đó là quyển sổ tay mà dạo gần đây hắn thường hay viết viết vẽ vẽ vào trong nhưng lại không muốn Harry nhìn thấy nội dung trong đó - rồi lót vài tấm nệm xuống cạnh cửa sổ sát đất, hắn ngồi xuống, nhìn chằm chằm vào cây gỗ sồi một hồi rồi xoay đầu lại, nhìn Harry.
    "Tớ cảm thấy anh ấy không giống hồi đó."
    "George ấy hả?"
    "Đúng vậy."

    "Tại sao?"
    Alex cắn bút chì, dời tầm mắt ra lại ngoài cây gỗ sồi, lá trên cây vẫn chưa rụng mà chỉ đổi thành một màu vàng nâu như caramel, rất có thể những chiếc lá ấy sẽ chịu đựng hết những ngày mùa đông còn lại, đến đầu xuân mới trở nên héo tàn.

    "Tớ không biết nói thế nào." Alex thấp giọng trả lời, giống như đang nói với bút chì chứ không phải với Harry: "Giống như anh ấy không hề ở đây."
    Câu nói ấy khiến Harry cảm thấy nghi hoặc, còn có lo lắng.

    Trong mắt hai đứa, George chính là anh hùng trong những câu chuyện, anh ấy đã qua tuổi đôi mươi, một độ tuổi mà hai đứa không thể sánh bằng.

    Huống chi George còn biết lái máy b** ch**n đ**, anh ấy đã tham gia vào những cuộc không chiến thật sự, trong tưởng tượng của hai đứa bé trai, người như vậy không gì là không thể làm, hai đứa không nên nghi ngờ tính chân thực của anh.

    Cậu nói ra những luận điểm ấy nhưng Alex lại không muốn tiếp tục đề tài này, hắn kéo tấm nệm mềm vào trong khe hở nhỏ giữa vách tường và giá vẽ.
    Trong mấy ngày kế tiếp, Harry cũng phát hiện ra cảm giác "không giống hồi đó".

    George mà hai đứa đã nhìn thấy vào ngày đầu tiên vốn chỉ là một cái bóng mờ, hình ảnh ấy đã nhanh chóng tan biến đi mất.

    George bây giờ sau khi đã trở về từ vụ mất tích trở nên kiệm lời hơn rất nhiều, anh không muốn nói về không quân hoàng gia, càng không muốn nói xem anh đã trải qua những gì suốt hai tháng trước; cho dù có tham gia vào một cuộc nói chuyện, trông anh cũng vô cùng lơ đãng, tựa như mới vừa trở về từ một nơi xa.

    Mỗi ngày anh đều ra ngoài đi dạo, bất luận là trời có mưa hay không, mỗi lần đi là mất năm sáu tiếng, anh đã biến mất vào vùng hoang vu bên ngoài vườn hoa.
    Có một lần hai đứa bé trai kiên quyết muốn đi theo anh, nói đúng ra là Alex kiên quyết, Harry chỉ là người không tình nguyện bị kéo theo.

    George không từ chối cũng không nhiệt tình hỏi han, anh chỉ mặc áo khoác vào rồi đi thẳng ra ngoài.

    George đi rất nhanh giống như anh đang muốn nhanh chóng thoát khỏi thứ gì đó.

    Harry dần tụt lại ở phía sau, cậu không cần dùng đến cây nạng nữa nhưng vẫn không thể dồn hết sức nặng lên đùi phải.

    Alex chạy tới chạy lui giữa hai người, hắn vừa phải thấy rõ George đang đi về hướng nào, vừa phải vòng lại xem Harry có sao không.

    Ba người leo lên một ngọn đồi trồng đầy những cây sồi cao lớn, dưới chân đồi chính là hàng rào sắt và những biển báo cấm được ngăn trước biển.

    Lúc hai đứa bé trai vừa thở hổn hển vừa đuổi tới, George đã ngồi trên bãi cỏ lưa thưa, nhìn ra ngoài mặt biển trống rỗng.

    Nhìn từ bên cạnh, những góc cạnh từ phần cằm và xương mũi của anh như trở nên nhọn hơn, giống như được gọt đẽo thành hình.

    Đó là một ngày đầy mây mờ mịt, không có dấu hiệu mưa rơi nhưng cũng không có dấu hiệu trời sẽ trở nên sáng sủa.

    Harry và Alex tụm lại thật gần, tránh những đợt gió lạnh đang thổi tới.

    George nhìn hai đứa, anh không nói gì nhưng vẫn cởi áo khoác ra, bọc hai đứa ở bên trong.
    "Bọn họ sắp đến rồi." George nói.
    "Ai ạ?"
    "Chờ đi."
    Bọn họ chờ.

    Mười phút sau, tiếng động cơ ồn ào từ phía xa dần dần đến gần, vì không rõ ràng lắm nên phải cẩn thận lắng nghe mới có thể để ý được.

    Những chiếc máy bay vận chuyển khổng lồ lướt qua bầu trời, bên cạnh là hai chiếc máy b** ch**n đ** Hurricane đang bay theo để hộ tống.

    Ba người nhìn đoàn máy bay biến mất trong tầng mây cuộn thấp.
    "Đến Southampton đó." George nói với hai đứa: "Chúng ta luôn thiếu đủ mọi bộ phận."
    Alex hỏi anh ở Southampton là như thế nào.
    George nghiêng đầu, câu hỏi này giống như một hòn đá nhỏ ném thẳng vào mặt anh.

    Anh miêu tả bãi đỗ máy bay chật chội với kho chứa máy bay được dựng tạm, sau đó, giống như lớp phòng tuyến trong lòng đã bị xé rách, anh bắt đầu nói với hai đứa bé trai về những chuyện mà anh chưa từng kể cho ai nghe.

    Mitchell - đội trưởng của tiểu đội "Gryphon" - đã từng là một thành viên của phi đội 79 được cử đến nước Pháp, y dạy họ cách điều chỉnh súng máy, sửa động cơ làm mát bằng chất lỏng, dạy họ cách nhảy dò và các dấu hiệu để nhận biết mặt đất; y thường xuyên rầy la bọn họ trên bộ đài phát thanh, mắng bọn họ có não hay không, sau đó giải thích rằng "Những cái này đều là để giữ mạng của các cậu đó, mấy tên nhóc".

    Ngoài ra còn có Blois - người Pháp - đã rút lui khỏi Dunkirk cùng trung đội 242 vào tháng năm năm nay, anh ta ít khi nói tiếng Anh, thường hay đánh bại tất cả mọi người trong những buổi huấn luyện tập bắn, người duy nhất có thể phân cao thấp với anh ta chính là Terry Hawkes, mọi người thường hay gọi cậu ta là "Teddy" bởi vì trông cậu ta nhỏ nhắn như một chú gấu bông xù lông, cậu ta vốn là một tay súng máy trong đội máy b** n*m b*m, vừa bị chuyển đến trung đội máy b** ch**n đ** vào tháng bảy.

    Oliver "Cat" Dawson, sở dĩ có cái tên này là vì hắn thường xuyên lén lấy hộp chân giò xông khói để đút cho những chú mèo hoang trốn trong bánh xe.
    "Bọn họ chết rồi." George lắc đầu, giống như cảm thấy nghi ngờ: "Tất cả."
    Ba người nhìn ra ngoài mặt biển, vài con hải âu đang kiếm ăn, chúng lặn xuống biển từ trên không trung, mấy phút sau lại nổi lên, ngửa đầu nuốt cá nhỏ đang giãy giụa vào trong bụng.

    Gió thổi mang theo mùi tanh nồng của bùn đất và rong biển, George ngẩng đầu, nhìn về hướng của thị trấn.
    "Các em có nghe thấy tiếng chuông không?"
    Tất nhiên là không, nhưng Harry và Alex lại không có dũng khí để nói với anh rằng tháp đồng hồ đã bị nổ sập vào sáng sớm hai tháng trước..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 8: Chương 8


    Lễ giáng sinh năm 1940 là lễ giáng sinh ngột ngạt nhất trong trí nhớ Harry, lúc ấy hầu như không có bất kỳ lời chúc mừng nào.

    Điều lệ hạn chế lại khẩu phần ăn vào đầu năm vẫn còn tiếp diễn, bơ thực vật đã biến mất hẳn luôn, đường còn khó để mua được, nói chi đến sô cô la.

    May là những nông trại gần đây vẫn còn nuôi đủ bò và gia súc, bọn họ chưa bao giờ thiếu thịt, khoai tây và trứng gà, thỉnh thoảng còn có thể mua được một ít sữa bò và bột mì quý giá.

    Thế nhưng khi mùa đông đến, những mặt hàng khan hiếm ấy cũng đều bị cắt giảm.
    Đồ trang trí vào năm ngoái được sử dụng lại: Những sợi ruy băng nhạt màu cùng hoa giấy nhăn nhúm tô điểm cho lò sưởi và bàn ăn, chúng chính là nguồn gốc của toàn bộ không khí trong ngày lễ.

    Hai đứa bé trai lén chạy vào nhà kho vẫn thường hay bị khóa, khám phá những kho báu bị phủ đầy bụi.

    Harry tìm thấy chú vẹt bị mất tích ở trên một cái giá cạnh tường, bên cạnh còn có một vài hình chữ nhật được phủ bằng vải sợi.

    Cậu kéo tấm vải chống bụi ra, phía dưới là những bức tranh, chúng được vẽ bằng màu nước, hình vẽ là vườn hoa và đài phun nước, một bức khác vẽ nhà thờ nhỏ, ở góc còn có chồi non xanh biếc giúp người ta nhận ra đây là một ngày mùa xuân sáng ngời.

    Phía dưới góc phải có một chữ E được ký bằng màu trắng.

    Alex nhón chân, nhìn những bức tranh qua bả vai Harry.
    "Đây là tranh do mẹ tớ vẽ."
    "Bà ấy đâu rồi?"
    "Viện điều dưỡng."

    truyện đam mỹ
    "Bà ấy bị ốm à?"
    "Bị bệnh phổi, bà ấy bắt đầu sống trong viện điều dưỡng từ khi tớ còn rất nhỏ.

    George nói cho tớ biết đó, tớ không nhớ rõ bà ấy lắm...!Nhìn kìa, vòng đánh dấu khăn ăn ở đó." Alex lôi một cái hộp gỗ nhỏ rồi mở ra, hắn cầm lấy một chiếc vòng bằng bạc trong rất nhiều những chiếc khác được khắc thành hình bông tuyết và lá sồi, quơ trước mặt Harry.

    Hai đứa mang chiếc hộp với đầy những chiếc vòng được làm bằng kim loại đến phòng bếp, Martha lơ đãng nói cảm ơn.

    Bà đang chuẩn bị phần bột để nướng chiếc bánh táo, trên tay dính đầy lòng trắng trứng.
    Buổi sáng trước lễ giáng sinh, tất cả mọi người sẽ chen chúc nhau đến rạp chiếu phim tồi tàn trong thị trấn để xem bộ phim thời sự đầu tiên sau nửa năm.

    Harry ngồi giữa George và Alex, mê mẩn nhìn những hình ảnh trắng đen trên màn hình.

    Mở đầu là bài phát biểu của Thủ tướng tại Hạ nghị viện, bọn họ đã nghe bài phát biểu này trên đài phát thanh không dưới một lần nhưng khi xem cùng với hình ảnh biết nhúc nhích, mọi người cảm thấy phấn chấn hơn nhiều; sau đó là cảnh tượng trong chiến tranh, những chiếc tàu trục hạm bao vây bến tàu, tòa thị chính sụp đổ, các công binh hoàng gia chuyên chở vật liệu, còn có những chiếc máy b** ch**n đ** đang lao đi trên đường băng.
    Xem tới đây, George đứng dậy rời khỏi rạp chiếu phim.
    Alex cũng đứng lên, muốn đi ra ngoài với anh, người xem phía sau không nhịn được cằn nhằn.

    Nam tước Loiseau kéo đứa con trai út lại, kêu hắn ngồi xuống.

    "Để anh con đi đi." Nam tước nhỏ giọng nói: "George chỉ cần chút không khí trong lành thôi."
    Sau khi bộ phim kết thúc, bọn họ tìm được George ở bến tàu, anh đang ngồi một mình trên bờ đê chắn sóng, ngắm nhìn bến tàu.

    Trước kia, nơi này từng là chỗ cập bến cho những chiếc thuyền đánh cá nhỏ và những chiếc du thuyền treo đầy cờ màu sắc, ngoài ra còn có cả những chuyến tàu đến Portsmouth.

    Nhưng những chiếc thuyền bè của nhân dân đã dần bị thay thế bởi những chiếc t** ch**n hạm, một số đã được trùng tu làm mới, phần lớn vẫn còn vết lõm do bom đạn gây ra nên tàu cũng nghiêng ít nghiêng nhiều.

    Cạnh bờ biển có một chiếc xe đẩy nhỏ bị ném đó, đó là loại xe đẩy thường hay bán kẹo bông gòn và những món quà vặt khác, màu sơn rất tươi đẹp nhưng bên trong chất đầy rác rưởi, không biết ai đã tháo mất bánh xe.

    Lúc hai đứa bé trai chạy đến bên cạnh, George vẫn nở nụ cười thường thấy, anh khoác áo khoác trên tay, mặc cho Alex kéo tay anh quay về xe hơi.
    Trên đường về không ai nói chuyện.
    Bữa tối hôm giáng sinh chẳng khác gì một bữa tối bình thường, chẳng qua là có thêm một món tráng miệng khó khăn lắm mới làm được, đổi một bộ chén đĩa khác và có thêm khăn ăn trắng tinh được buộc lại bằng chiếc vòng đánh dấu khăn ăn có hình bông tuyết.

    Hai đứa bé trai bị cảnh cáo rằng không được để văng nước sốt lên trên khăn bởi vì "Nhờ ơn Chúa, họ không thể mua xà bông ở đâu cả".

    Đèn đuốc vẫn bị kiểm soát, rèm cửa sổ bị kéo chặt, bốn góc cẩn thận đóng kín để tránh ánh sáng lộ ra ngoài, dẫu sao thì cũng chẳng ai có thể đảm bảo rằng đêm giáng sinh sẽ không có không tập.

    Năm ngọn nến chính là toàn bộ nguồn sáng, chúng chỉ chiếu được đến một phần ba bàn ăn, hơn phân nửa phòng còn lại chìm ngập trong bóng tối.

    Dưới sự thúc giục của Alex, George ngồi vào chiếc dương cầm bên cạnh cửa sổ, đánh bài "Hark! The Herald Angels Sing", sau đó là bài "Silent Night", thậm chí còn đệm cho hai đứa bé trai một đoạn của bài "Run, Rabbit Run", cuối cùng anh đóng nắp đàn lại, tuyên bố những bài khác đã vượt ngoài năng lực của anh.
    Hai đứa bé trai bị đưa về phòng ngủ trước khi món eggnog được dọn lên bàn, bởi vì đồng hồ để bàn đã điểm mười một giờ, vượt xa giờ ngủ bình thường nên phản đối cũng vô dụng.

    Bếp lò kiểu cũ ở trong phòng đã được đốt lên nhưng sau khi Harry thay quần áo ngủ, cậu vẫn cảm thấy lạnh đến run người.

    Cậu bò vào trong chăn, mò lấy khăn tay của mẹ từ phía dưới gối.

    Mùi hoa hồng không thể ngửi thấy cũng giống như thần chú đã biến mất, chiếc khăn tay biến thành món đồ tầm thường, không thể phân biệt giữa những món đồ khác.

    Harry nắm chặt chiếc khăn trong tay, co lại thành một đống nho nhỏ ở dưới chăn, cố gắng làm cơ thể ấm lên nhanh nhất có thể.
    - --
    "Lần cuối cùng tôi đón lễ giáng sinh với người nhà là vào năm 1938.

    Cha của tôi đã mua một cây nhựa ruồi, nó rất nhỏ, tôi nhớ ông ấy đã kẹp cái cây dưới nách rồi mang về, trông cứ như một cây chổi được phủ đầy lá.

    Chúng tôi dời những chiếc ghế bành sang chỗ khác rồi đặt cái cây vào cạnh cửa sổ.

    Mẹ và tôi đã tốn cả một buổi chiều để treo đủ loại đồ trang trí lên đó...!Khi đó vẫn chưa có những dây bóng đèn nho nhỏ đâu, chúng tôi đã dùng ruy băng và giấy màu.

    Mẹ nướng bánh ngọt và bánh quy gừng với đủ loại lớn nhỏ, chủ yếu là để chia cho hàng xóm, khoe khoang tay nghề của bà.

    Nhiệm vụ chủ yếu của tôi là quậy phá phòng khách và phòng bếp, ăn trộm tất cả những thứ có thể ăn.

    Chúng tôi đã đưa một miếng bánh ngọt rất to cho nhà Butler ở cửa đối diện.

    Năm 38 con trai họ vẫn chưa đầu quân, nếu tôi nhớ không lầm, anh ấy làm ở một công ty buôn bán chuyên xuất khẩu trà, là một nhân viên văn phòng bình thường."
    "Còn kẹo nữa, kẹo là một cột mốc vô cùng quan trọng, cậu Rivers à, nó đã chia thế giới của tôi thành hai nửa trước và sau.

    Trước, chỉ cần cậu muốn ăn, cậu sẽ có, nỗi phiền não lớn nhất chính là làm thế nào để tiết kiệm vài đồng tiền lẻ, không xài bậy bạ.

    Tôi không thể tưởng tượng cảnh bảy năm sau những thứ tốt đẹp ấy sẽ không còn tồn tại nữa, nhưng nói đi cũng phải nói lại, chẳng ai có thể tưởng tượng ra viễn cảnh ấy, với cái đầu nhỏ cằn cỗi của chúng ta, dự đoán tương lai là một chuyện quá không công bằng." Prudence gõ ngón tay vào huyệt thái dương bên phải của mình.
    Người phóng viên lễ phép cười một tiếng.
    "George rời đi vào sáng hôm sau, khoảng sáu giờ.

    Nếu không phải do đồng hồ để bàn đã đánh thức tôi dậy, tôi cũng không biết đâu.

    Chiếc xe đậu trên con đường đá vụn ở trước cửa nhà, tôi chỉ có thể nhìn thấy nửa sau xe từ cửa sổ phòng tôi.

    George đã đổi lại bộ đồng phục, trông anh ấy già hơn tuổi thật của mình.

    Tôi nhìn anh ấy nói lời từ biệt với Martha rồi chui vào ngồi chỗ phó lái, xe lái dọc theo con đường đá vụn.

    Qua rất nhiều năm sau, tôi mới có dịp gặp lại George."
    "Trừ chuyện đó, hôm ấy là một buổi sáng bình thường.

    Trong phòng bếp không có ai, cũng không có bánh mì tươi bởi vì người đầu bếp đã về nhà.

    Tôi ăn một ít thịt đông lạnh còn dư lại hôm qua rồi đến phòng hứng nắng như mọi ngày, nhưng mà trong phòng quá lạnh, vì vậy tôi lên thư phòng ở trên lầu.

    Cầu thang ở phía tây thường rất âm u, vào sáng mùa đông còn đáng sợ hơn rất nhiều, tôi luôn có cảm giác sau lưng mình có tiếng bước chân nên phải chạy như điên, chừng nào đến trước lò sưởi trong thư phòng mới dừng lại."
    "Kế hoạch ban đầu của tôi là đọc sách, tôi đã đọc gần xong quyển Immensee, bây giờ nhìn lại mới thấy quyển tiểu thuyết ấy có chút chẳng lành: Tôi biết loại hoa súng này, nhưng đó đã là chuyện từ rất lâu trước kia rồi, nghe như một lời tiên tri đầy đau buồn được sắp đặt trước nhỉ...!Tôi có thể thấy cậu không tin vào những lời tiên đoán điên khùng, cậu Rivers, hồi còn trẻ tôi cũng không tin.

    Nói tóm lại, tôi không thể tìm được quyển sách của tôi nhưng đã tìm thấy quyển sổ tay của Alex, nó nằm phía dưới quyển sách tiếng Pháp."
    "Tôi biết tôi nên để quyển sổ tay ở yên chỗ cũ, giả bộ như chưa từng phát hiện ra nó nhưng tôi rất tò mò, hơn nữa cả nhà đều yên tĩnh, giống như không có ai ở bên trong nên nó đã cho tôi một ít dũng khí mà tôi không nên có.

    Tôi rút quyển sổ tay ra rồi lật mở."

    "Chữ của Alex luôn rất ngay ngắn, trông gọn gàng hơn của tôi nhiều, cậu ấy hay kéo dài chữ h và f nên nếu viết quá vội, chúng sẽ nhìn như những sợi kẽm nhỏ, đến bây giờ tôi vẫn không đọc hiểu những tờ ghi chép được cậu ấy viết ẩu rồi dán ở trên tủ đầu giường, mỗi khi tôi oán trách cậu ấy, cậu ấy sẽ nói Harry, lần sau tớ sẽ viết lên mặt cậu đó." Prudence khẽ gật đầu, mỉm cười về phía cửa sổ, vết chân chim ở quanh mắt càng trở nên rõ ràng hơn: "Tôi lạc đề rồi đúng không? Đúng vậy.

    Trong quyển sổ tay của Alex có viết một câu chuyện, tôi nghĩ đây là tác phẩm đầu tiên của cậu ấy, ít nhất là tác phẩm đầu tiên được viết một cách nghiêm túc.

    Cậu ấy tả về một căn nhà được xây giữa vùng hoang dã, xung quanh trồng đầy hoa hồng và cây sồi.

    Sống trong đó là một nhà Mayweed, mỗi ngày bọn họ chăm sóc hoa hồng, gieo trồng giống mới, tất cả mọi chuyện đều rất tốt, chỉ trừ một chuyện lạ."
    "Vào một ngày bão táp, cửa sổ ở phòng khách bỗng bật mở, nước mưa thấm ướt tấm thảm, trong lúc dọn dẹp, ông Mayweed phát hiện ra vài chiếc lông chim có màu xám tro: Có lẽ là của những chú chim trú khỏi cơn mưa, ông nghĩ, không để ý gì nhiều.

    Nhưng vài ngày sau, trong phòng bắt đầu vang lên những âm thanh kỳ lạ, nghe giống như là có con vật với móng vuốt sắc nhọn nào đó đang lao đi trên sàn gỗ.

    Mới đầu, âm thanh này chỉ xuất hiện vào những ngày mưa nhưng càng về sau, chúng xuất hiện bất chấp thời tiết, có một lần con gái của nhà Mayweed còn bắt gặp một cái bóng đen chợt lóe lên."
    "Người trong nhà tìm tòi khắp nhà một lần, không bỏ qua dù chỉ là một xó xỉnh nhỏ nhất nhưng vẫn không thu hoạch được gì.

    Tiếng móng vuốt cào trên mặt đất xuất hiện vào một tối nọ nhưng khi bọn họ cầm giá cắm nến chạy lên lầu để kiểm tra, họ lại chẳng nghe thấy gì nữa.

    Dần dà, không người nào dám bàn luận về con quái vật chưa bao giờ xuất hiện này nữa, càng không có người nào có thể bắt được nó, nó đã trở thành bóng ma trong lòng tất cả mọi người."
    "Buổi sáng nọ, con trai cả nhà Mayweed biến mất.

    Không hề báo trước, không có dấu vết."
    "Tôi xem quá chăm chú, căn bản không nghe thấy Alex vào phòng từ lúc nào, cậu ấy cướp lấy quyển sổ tay từ trong tay tôi, dùng sức đẩy tôi một chút, thiếu chút nữa tôi đã té xuống mặt đất.

    Cậu ấy nắm chặt quyển sổ tay, tôi còn chưa kịp nói lời nào, cậu ấy đã sải bước đến bên cạnh lò sưởi sát tường, ném quyển sổ vào trong đống lửa."
    "Cả nhà Mayweed và quái vật móng vuốt cũng biến mất mãi mãi."
    "Cậu ấy đi mất, từ đó không thèm nói chuyện với tôi nữa, cho dù có ngồi trên cùng một bàn ăn cũng làm bộ như không nhìn thấy tôi.

    Cậu ấy không đến phòng của tôi nữa, cũng không xuất hiện ở phòng hứng nắng nốt.

    Có lúc tôi trông thấy cậu ấy dắt Mercury đi dạo trong vườn hoa, cậu ấy không hề ngẩng đầu lên, tôi cũng không biết cậu ấy có để ý thấy tôi đang nhìn cậu ấy không nữa."
    Prudence hít một hơi thật sâu, nhìn mu bàn tay của mình.
    "Những ngày cuối cùng của tháng mười hai, trời đổ mưa kèm tuyết, năm 1940 đến đây là chấm dứt.".
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 9: Chương 9


    Tháng một.
    Sương mù từ biển khơi dồn dập ập đến như một trận tuyết lở, chúng vỗ vào mặt biển, cuộn tròn, nhấn chìm những cánh đồng nâu sậm phủ đầy sương tối.

    Nhìn ra ngoài từ cửa sổ, dường như trừ dinh thự này ra, tất cả mọi thứ đều đã biến mất, ngay cả tiếng chim hót cũng không thể nghe thấy.

    Phòng hứng nắng quá lạnh, không thể ở lâu được; phòng bếp trở thành chỗ trú lý tưởng nhất, trong phòng ấm áp, mờ tối, thức ăn gần trong gang tấc.

    Sau khi Alex không để ý đến cậu nữa, Harry dần khôi phục trạng thái mờ mịt, cậu đi lang thang giữa những căn phòng, ngồi một mình cạnh lò sưởi để đọc sách giết thời gian.

    Bây giờ cô Carlston từ bưu cục chỉ đến đây mỗi hai tuần một lần, phần lớn thời gian cô không đến để gửi thư và điện báo mà chỉ đến để nói chuyện phiếm.

    Từ những câu chuyện của cô, Harry nghe nói hơn một nửa những đứa trẻ London đi tị nạn đã được bố mẹ đón về trước giáng sinh.

    Tin tức này khiến lòng cậu tràn ngập mong chờ, thậm chí cậu còn lén đi hỏi cô Carlston có thể bí mật gửi một tin điện báo đến London không, gương mặt người nọ đầy vẻ khó xử, cô do dự một hồi, cuối cùng vẫn đồng ý.

    Mỗi ngày Harry đều lắng tai để ý chuông cửa, hy vọng mẹ cậu sẽ xuất hiện, đưa cậu về nhà; nhưng hết tuần này đến tuần khác, quả bóng hy vọng dần nhỏ lại, cuối cùng đã hoàn toàn xẹp lép.
    Hai đứa bé trai vẫn cùng nhau học tập trong thư phòng, Harry dán đủ loại giấy nhớ trên bàn Alex nhằm nói lời xin lỗi, cậu hỏi hắn những chuyện nhỏ nhặt lông gà vỏ tỏi, vẽ những hình vẽ linh tinh, hỏi ngữ cảnh của một từ tiếng Pháp, nói xin lỗi thêm một lần nữa, thậm chí còn dứt khoát hỏi Alex xem hắn muốn thế nào mới chịu để ý đến cậu nhưng chưa từng có câu trả lời nào.

    Thái độ từ tốn xem như không thấy gì của Alex dần chuyển thành loại khách sáo lạnh như băng.

    Harry chưa kịp thở phào nhẹ nhõm đã nhanh chóng phát hiện ra tình hình này cũng không khả quan hơn là bao, Alex chỉ nói với cậu đúng hai câu là "Chào buổi sáng" và "Làm ơn đưa bút chì cho tớ với", tựa như hắn đang giữ khoảng cách với một người lạ là Harry.

    Điều này khiến Harry vô cùng buồn rầu, sau đó, cảm xúc buồn rầu lại biến thành tức giận.

    Hai đứa bé trai mở màn cho một cuộc chiến mới, xem xem ai có thể lạnh lùng hơn, châm chọc hơn, trông hai đứa giống như hai chú cún con đang giành lộn, khè răng nanh nho nhỏ để người kia thấy sợ.

    Nam tước có vẻ không để ý đến bất hòa giữa hai đứa nhỏ, nếu có để ý, ông cũng không có ý định nhúng tay vào.
    "Rốt cuộc là hai đứa có chuyện gì?"
    Người hỏi chính là Martha, chuyện này diễn ra vào một sáng sớm có mưa tuyết.

    Bà đang mang mắt kính để đan một chiếc áo len chưa có chủ nhân; Harry vẫn rúc sát vào trong lò sưởi lớn sát tường, đọc sách như thường ngày.

    Cậu giả bộ như không nghe thấy câu hỏi của Martha nhưng Martha không định bỏ qua chuyện này dễ dàng như vậy, bà đặt que khâu áo len xuống, nhẹ nhàng lấy mất quyển sách trong tay đứa bé trai, lặp lại câu hỏi thêm một lần nữa.

    "Gì cơ ạ?" Harry hỏi ngược lại, tính tranh thủ thêm một chút thời gian để suy nghĩ.

    Cậu giơ tay muốn lấy lại quyển sách nhưng Martha lại đưa nó đến chỗ xa hơn.
    "Cháu có biết ta đang nói gì không, cháu yêu."
    "Giữa chúng cháu chẳng có chuyện gì cả."
    "Lúc trước hai cháu một giây cũng không muốn tách rời, bây giờ lại đối đầu nhau như sống với chết."
    Harry muốn kể cho bà nghe về câu chuyện trong quyển sổ tay, câu chuyện về nhà Mayweed, về con quái vật không thể trông thấy, về người con trai cả đột ngột biến mất; cậu muốn cảnh báo bà rằng con quái vật này đang sống trong đầu Alex, nó đang phát ra âm thanh xè xè như một con rắn đuôi chuông ở trong bóng tối.

    Nhưng lén xem bí mật của người ta đã đành, đằng này lại còn chia sẻ chuyện ấy ra ngoài thì đúng là một sự phản bội dữ dội.
    "Không có gì đâu ạ." Harry lặp lại lời giải thích này thêm một lần nữa, cậu vòng qua chiếc bàn, cầm lấy quyển sách rồi rời khỏi phòng bếp.
    Sau hôm đó, cậu không ngồi lì ở trong phòng bếp nữa mà giống như một chú quạ nhỏ, cậu nhanh nhẹn đi vào, trộm thức ăn xong là chạy về phòng ngủ ngay.

    Trong khoảng thời gian ấy, cậu bắt đầu vẽ vời lại, cậu dùng bút chì để vẽ, không chỉ vì bút sáp màu trông quá trẻ con mà còn vì giấy cũng rất khan hiếm như những thứ khác, cậu phải dùng một cách thật quý trọng, vẽ xong là phải bôi sạch để còn vẽ tiếp.

    Harry vẽ đường ray xe lửa chạy dọc theo bờ biển, vẽ cái cây giáng sinh nhỏ như một cái chổi, vẽ chiếc ghế bập bênh và chú chó nhỏ của người chuyển ray.

    Sau đó, như một chuyện không thể tránh khỏi, cậu bắt đầu miêu tả quái vật của nhà Mayweed.

    Harry dành rất nhiều thời gian cho bức vẽ này, cậu tưởng tượng đến mấy phiên bản, một trong số đó là một thực thể có cánh, bóng của nó chiếm hơn phân nửa tờ giấy, một bức khác lại là một con mãng xà có móng vuốt thật dài, một phiên bản khác nữa là con mãng xà có thêm hàm răng với đầy răng nhọn.

    Trong bức tranh của cậu, Harry vẽ xuyên qua nóc nhà của nhà Mayweed, ánh mặt trời và nước mưa cùng rơi trên cơ thể mơ hồ của con quái vật, nó thét lên rồi chạy trốn, tạo thành một luồng khói đen đến tận rìa giấy.
    Cậu muốn đem những bức tranh này cho Alex xem nhưng người ấy đã bị cảm, không còn đến thư phòng nữa, Martha cũng không cho Harry đến phòng ngủ của Alex ("Thằng bé sốt, tốt nhất là cháu đừng để bị lây bệnh, ta không có sức lực đâu mà chăm sóc cả hai đứa nhóc ốm yếu phiền toái.").

    Harry đi tới đi lui trên hành lang mấy lần, hết quyết định từ bỏ rồi lại tự thuyết phục chính mình, cuối cùng, cậu nhét bức tranh nhăn nhúm vào trong khe cửa.

    Một cơn hoảng sợ và khó chịu bỗng xâm chiếm cậu, Harry chạy thật nhanh về phòng của mình rồi đóng cửa lại, tựa như sợ rằng con quái vật trong bức tranh sẽ sống dậy.
    - --
    Prudence lục lọi trong hộp sắt nhỏ một hồi rồi lấy ra một xấp thư cũ, ông lấy ba bốn tờ giấy được gấp thành hình vuông ở dưới cùng, mở ra rồi vuốt thẳng.

    Trên tờ giấy vẽ có đầy vết nhăn, rìa giấy đã ố vàng nhưng những đường cong vụng về trên bức tranh vẫn có thể thấy rõ, nhìn là biết đây là nét vẽ của một đứa trẻ chín tuổi.

    Căn nhà méo xệch, nóc nhà được mở ra giống như một cái nắp nồi, dưới ánh mặt trời rộng lớn, những đường cong màu đen như những cơn lốc ào ra khỏi nhà.
    "Alex đã nói cho tôi biết rằng cậu ấy vẫn còn giữ những thứ vô dụng này, tôi chưa từng xem lại...!Bởi vì tôi lười, không phải do cậu ấy cố tình giấu đi đâu.

    Căn nhà trọ mà tôi và cậu ấy cùng ở trên đường Juniper nhỏ như một hộp diêm, vali và máy đánh chữ của tôi chiếm nhiều không gian nhất nhưng không thể nào dẹp gọn được, cậu có biết không, tôi thường xuyên phải ra ngoài vì tin tức, nhất là vào rạng sáng.

    Alex thích làm việc đến sáng cho nên lúc điện thoại reo, cậu ấy chỉ mới vừa chìm vào giấc ngủ, cậu ấy ghét công việc biên tập của tôi, cậu có thể đoán được nguyên nhân là gì.

    Khi chúng tôi hôn chào tạm biệt, cậu ấy luôn nói Gặp lại sau nhé, thủy thủ.

    Đây là câu đùa mà cậu ấy thích nhất: Gặp lại sau nhé, thủy thủ, bởi vì..."
    Prudence bỗng nhiên không nói nữa, ông đứng dậy rồi đi tới cạnh cửa sổ, nhìn cơn mưa bên ngoài, ông dùng đốt ngón tay để dụi mắt.

    Người phóng viên dời tầm mắt, làm bộ như không để ý đến.

    Anh cầm tách lên, thử uống một ngụm trà nhưng phải nhíu mày lại rồi bỏ một muỗng đường vào.
    "Có lẽ mưa không lớn đến như vậy." Prudence nói, giọng nói của ông nghe không khác gì bình thường nhưng lại có vẻ yếu hơn một chút.
    "Tôi cũng nghĩ vậy, thưa ngài Prudence."
    "Cậu đã từng tới Bretagne bao giờ chưa, cậu Rivers?"
    "Tôi chỉ mới đến Saint-Brieuc nhân dịp nghỉ phép thôi, hôm đó mưa suốt năm ngày liền, cả kỳ nghỉ của tôi phải dựa vào rượu whiskey, tivi và chơi bài Poker.

    Có một hôm chúng tôi thử ra ngoài bãi biển, gió thổi hư mất hai cây dù, chúng tôi ướt nhẹp.

    Sẵn tiện nhắc đến thì đó là vào tháng bảy."
    Prudence cười một tiếng, đẩy cửa sổ ra.

    Gió lạnh ẩm ướt thổi vào như một đoàn xe lửa mất kiểm soát, hạt mưa tí tách rơi xuống tấm thảm, ngọn lửa trong lò sưởi run rẩy.

    Người phóng viên rùng mình, một tay anh đè lại quyển sổ bị gió thổi bay, một tay chặn lại những bức tranh vẽ sắp bị thổi bay trên bàn uống trà.
    "Tôi nhét bức tranh vào trong khe cửa phòng ngủ như đã kể, mong chờ phản ứng của Alex.

    Nhưng sáng hôm sau, Martha đã đưa cho tôi một tờ giấy, đó là một nửa trang giấy, rìa giấy không bằng phẳng, có lẽ do được xé ra từ một quyển sổ tay.

    Bên trong là con quái vật của Alex, đó là phiên bản của cậu ấy, theo tôi nghĩ thì nó trông như một con gà tây dữ tợn.

    Đó là tờ giấy thứ hai trong tay cậu đấy, cậu Rivers, cậu có thể xem thử."
    "Sau khi đuổi được quái vật móng vuốt thì vẫn còn một vấn đề nữa: Làm thế nào để tìm lại người con trai cả của nhà Mayweed? Chúng tôi trao đổi nhiều bức tranh hơn, có lúc cũng dùng chữ viết, thảo luận ra phương án để cứu anh ấy.

    Martha vinh dự trở thành người đưa thư giữa hai chúng tôi, truyền đi những tờ giấy nhỏ giữa hai người thợ săn.

    Tôi không biết bà ấy có xem qua nội dung trong giấy không nữa, chắc là không, bà ấy không có hứng thú với trò chơi đưa thư giữa hai người bạn nhỏ này đâu."
    "Ý tưởng của Alex chính là con quái vật ấy có một sào huyệt, nó ở rất xa, thật ra thì cậu ấy vẫn chưa xác định được địa điểm của căn sào huyệt ấy, có lúc cậu ấy nói nó ở trên núi, có lúc lại nói nó ở bên kia eo biển, bất kể như thế nào, người con trai cả của nhà Mayweed đã bị đưa đến đó.

    Cần phải lưu ý rằng rất có thể không chỉ có một con quái vật, bọn chúng để dành những nạn nhân ở trong hang giống như để dành thịt khô.

    Sau khi bệnh cảm của cậu ấy trở nên tốt hơn, chúng tôi lật xem tất cả những tập bản đồ ở trong thư phòng để tìm chỗ trốn thích hợp cho con quái vật.

    Tuy vậy cuối cùng, chúng tôi vẫn chưa hoàn thành kế hoạch này."
    "Tại sao vậy ạ?"
    "Bị phân tâm, sau đó quên mất.

    Mặc dù nguy hiểm từ những buổi không tập đã giảm bớt vào đầu năm 41 nhưng cô Carlston lại mang tới một tin đồn mới.

    Nghe nói là người Đức đã dùng những chiếc tàu lặn có hình chữ U để đưa gián điệp lên hòn đảo thân yêu của chúng ta, hơn nữa còn có cả lính nhảy dù, bọn họ hay lặng lẽ nhảy xuống vào rạng sáng.

    Mọi người nói gián điệp của nước Đức có thể núp ở nhà thờ bỏ hoang hoặc trong cối xay bột, chuẩn bị đánh lén bến tàu và sân bay.

    Người làm vườn thề rằng tối hôm đó ông ấy đã nhìn thấy một kẻ khả nghi nhảy từ trên trời xuống rồi biến mất ở bãi biển gần đó.

    Vợ chồng chủ tiệm thịt cũng nói rằng dường như bọn họ đã tận mắt nhìn thấy mấy người lạ làm việc ở trong vùng bỏ hoang, họ có mang theo xẻng sắt.

    Hai chúng tôi bị nhốt trong nhà, viên cảnh sát mập tổ chức một cuộc lục soát lớn, họ kiểm tra xung quanh nhà thờ, kho thóc và túp lều của người chăn cừu nhưng trừ tổ cú và một ít hang động ra, họ không phát hiện được gì hết.

    Ngay cả như vậy, tất cả mọi người vẫn không thể lơ là, đội dập lửa tình nguyện lại có thêm một nhiệm vụ mới: Quan sát bãi biển nhằm ngăn có người lén vào bờ."
    "Alex không viết lại câu chuyện về nhà Mayweed, những tờ giấy viết đầy kế hoạch cứu viện của chúng tôi cũng đã bị bôi sạch, tôi có vẽ lại một vài thứ khác nhưng những thứ đã mất đi, tôi không bao giờ tìm lại.

    Có một khoảng thời gian sự chú ý của chúng tôi chuyển sang máy b** ch**n đ**, chúng tôi leo lên nóc nhà, chờ Spitfire và Hurricane lướt qua đỉnh đầu.

    Cậu có thể nói bất hòa giữa hai chúng tôi đã được giải quyết một cách hòa bình, để an toàn, tôi đã đợi một tuần trước khi đề nghị xem tôi có thể đọc những câu chuyện khác của cậu ấy không, nếu cậu ấy vẫn còn viết.

    Alex đồng ý, cho phép tôi trở thành độc giả đầu tiên của cậu ấy.

    Cậu có thấy lạnh không, cậu Rivers?"
    "Rất lạnh."
    Prudence đóng cửa sổ lại, ngăn cách tiếng mưa rơi và tiếng sóng biển ở bên ngoài..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 10: Chương 10


    "Sinh nhật của Alex là vào tháng tư, ngày mười hai tháng tư, cậu ấy nhận được thẻ căn cước sớm hơn tôi hai tháng.

    Tôi hâm mộ cậu ấy lắm, cậu Rivers ạ, tôi rất muốn nhận được mảnh giấy nho nhỏ ấy.

    Có thể cậu sẽ không tài nào hiểu nổi suy nghĩ ấy, dù sao thì chế độ đăng ký thân phận cũng chẳng có điểm nào khiến người ta tự hào, hơn nữa sau khi chiến tranh kết thúc, nó đã nhanh chóng bị bãi bỏ, tôi nhớ là vào năm 1950?"
    "Gần đó, thưa ngài Prudence, là năm 1952."
    "Hẳn rồi, năm 1952, cảm ơn cậu, cậu Rivers.

    Quy định lúc bấy giờ là cậu phải tròn mười tuổi mới có thể nhận được thẻ căn cước, trên đó sẽ viết tên, địa chỉ và con dấu của cậu, đó là để đề phòng gián điệp của nước Đức, nhưng mà trong thị trấn Cornwall nhỏ bé ấy, thẻ căn cước có vẻ là một thứ dư thừa bởi vì mọi người đều đã biết mặt nhau.

    Vậy mà Alex vẫn luôn luôn mang theo thẻ căn cước của cậu ấy, có cơ hội là sẽ khoe ra cho người ta xem, thể hiện mình đã là một đứa bé tròn mười tuổi, theo như trên giấy tờ thì cậu ấy còn lớn hơn tôi một tuổi trong khi tuổi thật của chúng tôi chỉ hơn kém nhau có hai tháng.

    Cậu ấy bắt đầu bàn luận về khả năng đi đầu quân vào tám năm sau, Martha không thích đề tài này, bà dạy cho chúng tôi biết chiến tranh khác với chuyện kể như thế nào, đó không phải là một cuộc phiêu lưu, chúng tôi tốt nhất nên cầu nguyện rằng cả đời này cũng không dính dáng gì tới nó."
    Như thể để chứng minh cho tính chân thật trong lời nói của Martha, chưa tới một tuần sau, bức thư của George đã vượt qua mọi sóng gió trong hệ thống bưu điện tồi tàn của nước nhà, khó khăn đến được Cornwall.

    Người nhận không phải là Nam tước Loiseau mà là "Ông Arthur Blakely", người làm vườn của bọn họ, cha của Lyle.

    Chỉ một tờ giấy, mặt trước mặt sau đều viết đầy.

    Vì để an toàn, bức thư đã được sĩ quan tình báo xem qua, một số địa danh và ngày tháng đã bị gạch đen, thỉnh thoảng cũng có một câu trọn vẹn bị xóa đi.

    "Cháu đã may mắn được hợp tác với Lyle trong một khoảng thời gian ngắn [ngày tháng đã bị gạch]." George viết: "Khi đó, cậu ấy đã trở thành một phi công xuất sắc của Hurricane, mặc dù cậu ấy chỉ được huấn luyện ngắn hạn, đồng thời còn phải chịu thêm rất nhiều áp lực mà cậu ấy đáng lẽ không cần phải gánh vác...!Nhưng cậu ấy vẫn rất mạnh mẽ, cậu ấy cùng với tiểu đội của mình đã bắn nổ một chiếc máy b** n*m b*m Stuka ở [địa danh đã bị gạch]; cũng từng giúp [cả đoạn đã bị gạch] đánh đuổi máy bay trinh sát của lính phát xít.

    Bác Blakely, sở dĩ cháu viết bức thư này là vì cháu cùng với tất cả các phi công ở căn cứ [địa danh đã bị gạch] muốn bác biết rằng Lyle đã đáp ứng đầy đủ kỳ vọng của mọi người, bác có đủ lý do để cảm thấy tự hào vì cậu ấy."
    Anh bắt đầu viết một đoạn khác.
    "Tương tự, là một người bạn và là đội trưởng của tiểu đội, cháu cũng có những nghĩa vụ vô cùng khó khăn, cháu rất tiếc phải báo với bác rằng Lyle Blakely đã mất tích sau cuộc chiến vào ngày [ngày tháng đã bị gạch], ít nhất là hai người phi công và thuyền trưởng của một tàu đánh cá địa phương đã tận mắt nhìn thấy máy bay chi3n đấu của cậu ấy bị bắn rơi nhưng đồng thời bọn họ cũng xác nhận rằng Lyle đã nhảy dù thành công, tàu đánh cá định đến cứu viện nhưng không quân của nước Đức bắn trả quá kịch liệt, họ không thể đến gần.

    Lúc ấy..."
    Vế sau của "Lúc ấy" đã dừng lại, phía sau hoàn toàn bị gạch đen, màu mực thậm chí còn lem đến tận trang sau.

    Tiếp theo là những đoạn văn ngắn ngủn rời rạc nói về hoạt động cứu hộ trễ nãi, "Đến nay vẫn không có kết quả", thỉnh thoảng có thêm vài câu an ủi nhạt nhòa, George nói: "Chúng cháu vẫn ôm hy vọng tìm kiếm, mong là bác cũng vậy", anh ký tên, bức thư đến đây mới hết.
    Harry và Alex cũng không biết người làm vườn đã phản ứng thế nào sau khi đọc xong bức thư bởi vì chuyện này xảy ra trong thư phòng đã được đóng kín cửa, lúc đó hai đứa bé trai đang thay phiên nhau ném máy bay giấy từ trên gác mái xuống vườn hoa, hai đứa nhìn từng chiếc máy bay lắc lư rơi xuống giàn hoa và những lùm cây, thỉnh thoảng sẽ có một hai chiếc được gió nâng lên, bay đến trên ngọn cây.

    Sau đó hai đứa bé trai sẽ chạy xuống lầu, nhặt những chiếc máy bay giấy của hai đứa về, ném đi thêm một lần nữa.

    Hôm đó là một ngày trời trong mát mẻ, hai đứa để ý thấy xe của bưu điện dừng trước cửa nhà một hồi, lát sau đã lái đi ngay.

    Trong mấy ngày kế tiếp, hai đứa thường xuyên nhìn thấy ông Blakely quanh quẩn ở gần bụi hoa hồng, có lẽ ông đang đợi chồi non vẫn chưa kịp nảy mầm.
    "Những người mất tích..." Prudence nhỏ giọng nói, người phóng viên đẩy bút thu âm về phía trước, tránh việc không thu được giọng nói của ông: "Mang đến cho chúng ta nhiều đau thương hơn những người đã chết.

    Cậu phải đi đến đâu mới có thể tặng cho Lyle một bó hoa đây? Vách đá Dover, căn cứ không quân Hornchurch hay cứ đi thẳng tàu ra biển? Chỉ cần chúng tôi muốn, bây giờ chúng tôi có thể nhìn thấy toàn bộ hồ sơ liên quan đến Lyle Blakely, báo cáo kiểm tra sức khỏe của anh ấy, hình ảnh những chiếc máy bay anh ấy đã lái, giấy điểm danh, báo cáo không chiến, nhưng có ích gì cơ chứ? Cũng giống như mẹ tôi, tôi đã tìm lại tất cả những tài liệu mà tôi có quyền tìm, hôm đó không phải là ngày trực của bà ấy cho nên không có giấy tờ ở Hội chữ thập đỏ, hẳn là bà ấy đã ở nhà.

    Lúc còi báo động không tập vang lên, liệu bà ấy có đang chạy trên đường nhưng lại không đến kịp hầm trú ẩn hoặc trạm xe lửa hay không? Hay bà đã quyết định trốn vào một tầng hầm không đủ sâu ở dưới đất, bị gạch vụn chôn vùi dưới đó, không thể nào thoát khỏi vụ hỏa hoạn sau cùng? Cậu sẽ không bao giờ có thể ngăn cản những suy nghĩ này hành hạ bản thân mình, không bao giờ có thể lấp đầy sự trống rỗng ấy."
    "Người con trai cả của ông Blakely đã trở về sau chiến tranh, bàn chân phải của anh ấy bị cắt cụt, đó là do sau khi trốn thoát khỏi trại giam, anh ấy đã bị thương và phải chịu giá rét trong rừng hoang.

    Sau đó, anh ấy rời khỏi Cornwall, đến làm việc ở nơi khác, tôi cũng không biết anh ấy đã đến đâu.

    Ông Blakely vẫn ở lại dinh thự, có lẽ để chăm sóc cho những bụi hoa hồng của Lyle, tôi nghĩ thế.

    Những bụi hồng ấy đã từng thắng giải làm vườn ở địa phương luôn đấy, hoa hồng Blakely, ngôi sao sáng trong vườn hoa nhà Loiseau."
    "Tôi và Alex đã hạnh phúc đi qua những giấc mơ ấy, sở dĩ tôi nói hạnh phúc, không phải là vì chúng tôi đã cách xa khỏi khói lửa chiến tranh - khi đó vẫn rất hay có những buổi không tập, tất cả những nhu yếu phẩm đều bị hạn chế, trong cửa hàng chẳng có thứ gì để mua cả - mà là bởi vì rất nhiều năm sau đó, chúng tôi mới hiểu được nỗi khổ của bọn họ.

    Nỗi khổ lớn nhất của chúng tôi lúc bấy giờ chính là Nhà trên cây đã sụp đổ, nó biến thành một cái hố sâu chất đầy đá vụn, không ai biết chuyện ấy xảy ra khi nào, chúng tôi đã không đến đó suốt một mùa đông rồi.

    May là thời tiết vẫn rất ấm áp, chúng tôi có thể chơi đùa cả ngày ở trong và ngoài nhà.

    Alex muốn dạy tôi chơi mã cầu nhưng chúng tôi chỉ có một con ngựa, thế là chúng tôi đã phát minh ra một trò bóng cửa* mới, Mercury chỉ cần làm trọng tài cho chúng tôi là được."
    *bóng cửa: (croquet) là một trò chơi thường hay dành cho tầng lớp quý tộc của châu Âu vào thời xưa, tương tự với trò Golf ngày nay.
    "Vào một buổi chiều giữa tháng năm, lúc chúng tôi vừa về đến nhà sau khi chơi trò mã cầu, trước cửa nhà có một người lạ." Prudence nhìn chằm chằm vào lò sưởi một hồi, lắc đầu: "Nói là người lạ cũng không công bằng lắm, tôi biết bác ấy, chẳng qua là tôi đã ném tất cả mọi chuyện về bác ấy ra sau ót.

    Bác ấy vốn đang nói chuyện với Martha nhưng khi nhìn thấy tôi, bác ấy lập tức chạy đến, giống như một con gấu bông màu hồng khổng lồ, bác ấy ôm lấy tôi, hỏi tôi có khỏe không, có nhớ bác ấy là ai không.

    Đương nhiên là tôi nhớ, Connie Parker, họ mẹ là Prudence, chị của cha tôi."
    Bà đến để đưa Harry đi.

    Bà đã tốn rất nhiều thời gian mới có thể tìm được tung tích của đứa cháu ngoại, đúng vậy, bà đã từng ở trong thị trấn này một khoảng thời gian nhưng chồng của bà, ông Parker, đã chuyển đến Sussex cùng bà sau khi kết hôn được một năm và không để lại một địa chỉ bưu điện nào, sợ rằng đây chính là nguồn gốc của mọi hiểu lầm, mẹ của Harry vẫn nghĩ rằng cả nhà Parker vẫn còn ở Cornwall.

    Bà rất vui khi nhìn thấy Harry được chăm sóc kỹ càng nhưng đứa bé này vẫn nên ở cùng với những người thân thích thật sự.

    Bà đã lái cả một quãng đường dài từ Sussex đến đây nên mọi thứ sẽ rất tuyệt nếu Harry có thể thu dọn hành lý và rời đi cùng bà càng sớm càng tốt.
    Martha yên lặng nghe hết lời giải thích dài dòng của bà ta, bà nói câu "Xin lỗi" rồi đi thẳng lên trên lầu để tìm gặp Nam tước Loiseau, chốc lát sau, bà đi xuống mời Connie lên nhưng "Không cần dẫn theo Harry, hai đứa nó có thể tự chăm sóc bản thân".
    "Bà ấy là ai vậy?" Alex hỏi.
    "Bác Connie, chị của cha tớ."
    "Cậu sẽ không đi, đúng không? Cậu sẽ ở đây mà."
    Harry không biết trả lời thế nào.
    Bác Connie và Nam tước nói chuyện đến thẳng giờ ăn tối, vì lễ phép, họ đương nhiên đã mời bà Parker mặc chiếc áo khoác màu hồng ấy ở lại ăn tối.

    Harry và Alex ngồi ở vị trí thường ngày, căng thẳng nhìn đối phương.

    Đến khi Nam tước Loiseau ngồi vào bàn ăn, ông mới tuyên bố rằng bà Parker sẽ ở lại tối nay, Harry thì phải thu dọn những thứ cần phải mang đi để sáng mai cùng rời đi với người giám hộ hợp pháp.

    Ông nói rất chậm, tựa như mỗi một chữ đều đã biến thành một chiếc cọc dài, móc vào cổ họng.

    "Chúng tôi vô cùng cảm kích cậu Prudence đã mang đến cho chúng tôi một năm hết sức đáng nhớ." Cuối cùng, ông nói, ôn hòa nhìn Harry, nhưng sự chú ý của Harry đã đặt trên người Alex, người nọ đẩy đĩa thức ăn ở trước mặt, thấp giọng nói câu "Xin lỗi" rồi rời khỏi phòng ăn.
    "Cậu ấy không nói lời tạm biệt với tôi cũng giống như việc cậu ấy đã từ chối nói lời tạm biệt với George.

    Martha đã đi tìm cậu ấy nhưng Alex không có ở trong phòng, tôi đoán cậu ấy đã trốn sau chiếc hộp làm bằng gỗ thông ở trên gác mái nhưng tôi không có thời gian để đi tìm cậu ấy.

    Bác Connie và tôi dùng một ngọn nến để thu dọn hành lý - chúng tôi không dám mở đèn bởi vì sợ ánh sáng sẽ hắt ra ngoài, khiến máy bay của nước Đức chú ý - tôi không muốn nói chuyện với bác ấy nhưng một mình bác Connie cũng có thể nói lại ba người, bác ấy lên án về kế hoạch đưa tôi đi tị nạn là rất không có trách nhiệm, rằng bác ấy phải tốn bao nhiêu công sức mới có thể tìm ra tôi đã bị đưa đến xó xỉnh nào, than phiền về đường mòn thôn quê không hợp để lái xe đến đâu.

    Tôi chỉ nghe bác ấy nói, cố gắng hết sức để không để lộ dáng vẻ buồn bã."
    "Chúng tôi rời đi vào sáng sớm hôm sau, Martha đứng trên bậc thang trước cửa, không ngừng dùng tạp dề để lau mắt.

    Tôi nhìn cửa sổ phòng Alex nhưng trong ấy đã kéo kín rèm cửa sổ lại.

    Tôi đi đến bên con đường đá vụn, xe của bác Connie đang đậu ở ngoài hàng rào.

    Ngay khi chúng tôi lái qua cánh rừng hoang..."
    Prudence do dự một hồi, ông nhẹ nhàng gõ lên tay vịn của chiếc ghế bập bênh, liếc mắt nhìn chiếc bút thu âm.
    "Những chuyện tiếp theo, tôi không chắc là mình đã tận mắt nhìn thấy hay chỉ là nằm mơ.

    Ngay khi chúng tôi lái qua cánh rừng hoang, tôi có cảm giác tôi đã nhìn thấy Charis, chính là con cáo cái có bộ lông màu nâu, cạnh con mắt trái có một nắm lông trắng đấy.

    Ba con cáo nhỏ chơi đùa trong bụi cỏ.

    Tôi nhớ ánh mắt của Charis, ướt át, có vẻ ngây thơ mà chỉ động vật mới có thể có, bên cạnh đó còn có vẻ không quan tâm, không muốn hiểu cũng như không muốn để ý đến thế giới con người.

    Cũng chính vào khoảnh khắc ấy, tôi bỗng nhiên nhận ra, tôi đã quên mang theo khăn tay của mẹ tôi."
    Phần thứ nhất: xong..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 11: Chương 11


    Part II - Parhelion.
    Tiếng chuông yếu ớt truyền tới từ sâu trong nhà.
    "Ăn trưa thôi." Prudence giải thích với người phóng viên: "Nghe rất giống với tiếng chuông của những ký túc xá ở trường học, không phải sao? Đến đây trước đi, tôi đã không nghe thấy âm thanh ấy rất nhiều năm rồi.

    Tôi nhất định phải mời cậu cùng ăn trưa đấy, cậu Rivers, nhà hàng ở gần đây nhất cũng cách khoảng hai mươi cây số, đi lại không tiện lắm.

    Mặc dù nhà bếp ở đây thỉnh thoảng sẽ làm món lasagna vô cùng dở tệ nhưng món bánh rán nấm rơm vẫn rất ngon."
    "Những bức thư này thì sao ạ?"
    "Cứ để ở đó đi."
    Người phóng viên mang theo bút thu âm.

    Hai người đi qua những dãy hành lang ziczac được sơn màu xám để đến nhà ăn.

    Prudence đi phía trước, Rivers đi cách ông hai bước ở phía sau để giữ lịch sự.

    Nhà ăn của viện dưỡng lão là một không gian rộng rãi được bao phủ bằng những tấm kính thủy tinh, những khi trời nắng, căn phòng trông vô cùng dễ chịu nhưng ngay lúc này đây khi trời đang đổ mưa, căn phòng lại tỏ ra vô cùng yếu ớt, giống như nó sẽ đổ sụp bất cứ lúc nào.

    Bọn họ tìm một chiếc bàn trống ở gần lò sưởi, chờ bữa ăn được dọn lên.
    Prudence ăn rất ít, nhìn cứ như đối với ông, ăn chỉ còn là một hành động, một cử chỉ mang tính tượng trưng.

    Bụng người phóng viên đói cồn cào - sáng nay anh lên đường quá sớm, hơn nữa còn phải lặn lội trong mưa lạnh hồi lâu - anh ăn hết hai phần bánh rán nấm rơm, món đó thật sự rất ngon, bột bánh ấm nóng xốp mềm, ngoài vỏ hơi giòn một chút, nấm rơm được xào chung với bơ, rắc thêm một ít muối và tiêu đen.
    Trong nhà ăn rất vắng vẻ, từ đầu đến cuối không có quá mười người, đại đa số đều là những người đã già như Prudence; một bà lão mặc áo khoác len cười híp mắt nhìn chằm chằm người phóng viên nửa tiếng, bà gọi anh là "Boris thân yêu", ngoắc gọi anh tới; người y tá chăm sóc bà giải thích rằng: "Bà Sanders vẫn luôn như vậy, không ai biết Boris là ai".

    Còn có một người đàn ông trung niên sắc mặt tái nhợt, mang theo bình oxy, ông ta vừa ăn bánh rán nấm rơm, vừa lật xem một quyển sách lịch sử về Ba Tư vô cùng lớn.
    Khi tách cà phê chỉ còn lại một nửa, mưa đã tạnh.

    Một tia sáng âm u rọi xuyên qua những kẽ hở giữa tầng mây, mặt nước biển xanh đậm với những đợt sóng cuồn cuộn biến thành một màu xanh lá cây ảm đạm gần gũi.

    Hai người quay về phòng tiếp khách để lấy áo khoác rồi rời đi từ cửa phía sau, họ đi qua mái hiên đọng đầy nước mưa, đặt chân lên bãi đá đã được sóng biển cọ rửa sạch sẽ.

    Gió thổi tới từ phía đối diện, ẩm ướt, lạnh lẽo, mang theo mùi muối và bụi bặm, xung quanh mọc đầy rêu xanh, thoang thoảng có mùi tanh nồng nặc.

    Bọn họ đi về phía tây nam, bởi vì Prudence nhớ bên kia có một ngọn hải đăng.
    "Tôi ở nhà của bác Connie đến khi chiến tranh kết thúc." Khăn quàng bị thổi bay, Prudence bắt lấy, cột chặt lại rồi nhét vào trong áo khoác: "Đó là một thế giới tràn ngập tiếng khóc của trẻ sơ sinh, món súp khoai tây và những mảnh vải vụn, bọn họ có tổng cộng bốn đứa con, đứa lớn nhất được mười một tuổi, đứa nhỏ nhất chỉ mới sáu tháng, tôi và anh họ Liam ngủ chung một phòng.

    Trừ việc phải suy nghĩ làm sao để có thể phân phối nguyên liệu và nấu đủ thức ăn cho năm đứa trẻ thì thú vui lớn nhất của bác Connie còn là dùng những mảnh vải vụn để may thành áo sơ mi và khăn quàng cho chúng tôi.

    Chồng của bác ấy, bác Parker, làm việc ở xưởng đóng tàu, bác ấy sửa chữa những chiếc tàu trục hạm - khi đó, công việc ấy vẫn còn mang tính bảo mật, chúng tôi cứ tưởng rằng bác ấy chỉ là một thợ mộc bình thường, vô tình bị bắt đến làm việc ở bến tàu mà thôi.

    Vào một ngày cuối mùa xuân ba năm sau, rất nhiều t** ch**n tập trung ở bến cảng, cứ cách vài giờ thì sẽ có tiếng vang rền của máy b4y chiến đấu Spitfire bay qua.

    Những sĩ quan mặc đồng phục hải quân gõ cửa từng nhà một, họ cảnh cáo chúng tôi phải để ý những người lạ, đặc biệt hơn cả là không được nói những gì liên quan đến hướng đi của tàu thuyền và máy bay.

    Tuy vậy, người lạ duy nhất mà chúng tôi gặp được chính là những binh lính Mỹ làm việc ở căn cứ hải quân, bọn họ rất ồn ào, thỉnh thoảng còn vô cớ cười to nhưng tôi vẫn rất thích bọn họ, bởi vì bọn họ thường cho những đứa bé như chúng tôi bánh quy socola và kẹo...!socola! Cậu Rivers, chúng tôi đã không được ăn những món ấy ít nhất là bốn năm rồi.

    Những ngày sau này, chúng tôi mới biết được là tất cả những tàu thuyền và máy bay đậu ở đó đều tham gia vào cuộc đổ bộ xuống Normandy."
    Trước mặt họ bỗng xuất hiện một vũng nước đọng, nó dài khoảng sáu bảy mét, sâu đến bắp chân, một con cua nhỏ bằng móng tay nhanh chóng chạy đi khi nhìn thấy bọn họ đến gần, nó chạy đến dưới một cục đá rồi biến mất không thấy đâu.

    Ông lão và người phóng viên chậm rãi vòng qua vũng nước, đá vụn kêu "răng rắc" dưới đế giày.

    Ngọn hải đăng vẫn chưa xuất hiện trong tầm mắt.
    "Mùa thu năm 1946, cha tôi trở về.

    Nói thẳng thì chúng tôi rất kinh ngạc, bởi vì tất cả mọi người đều đã ngầm thừa nhận rằng ông ấy đã hy sinh trên đất châu Âu.

    Tôi đã không gặp ông ấy suốt bảy năm, ngay cả một bức thư cũng không có.

    Tôi cảm thấy rất lúng túng, có lẽ ông ấy cũng vậy, chỉ là ông ấy che giấu giỏi hơn tôi.

    Người ông ấy nhớ chính là một đứa bé trai tám tuổi luôn ngưỡng mộ ông ấy như một người hùng, kết quả lúc trở về, người ông ấy gặp đã trở thành một cậu thiếu niên lạnh lùng.

    Tôi nghĩ đây chính là lý do ông ấy đưa tôi đến trường nội trú chứ không phải là những trường học ở gần nhà hơn."
    "Có vẻ cuộc sống đã trở lại như bình thường nếu so sánh với thời chiến.

    Căn nhà đã không còn nữa, chúng tôi đành phải ở tạm trong một căn phòng do chính phủ tài trợ khoảng nửa năm, cha tôi lại tìm được việc ở ngân hàng, bấy giờ chúng tôi mới rời khỏi cái hộp xi măng trống rỗng ấy, thuê một nơi ở nhỏ hơn.

    Tôi chỉ về nhà vào dịp lễ giáng sinh, phần lớn thời gian đều chỉ có một mình cha tôi ở đó."
    "Lễ phục sinh năm 1948, cha đến trường gặp tôi, đi cùng ông là một người phụ nữ tóc xoăn, quàng khăn quàng màu nâu.

    Cha nói tên bà ấy là Susie, bà ấy làm việc ở câu lạc bộ cựu chiến binh, giúp ông giải quyết rất nhiều chuyện.

    Susie và con gái của bà - người em kế Trisha của tôi - đã dọn vào căn nhà thuê của chúng tôi.

    Bọn họ định sẽ kết hôn vào mùa hè, đang xem xét việc mua một căn nhà lớn hơn.

    Tôi không có ý kiến gì với việc này, nói chính xác hơn là không có cảm giác gì, tôi và cha đã ở hai thế giới khác nhau từ lâu."
    "Trong những năm ấy, ngài cứ mất liên lạc với ngài Loiseau như thế sao?" Người phóng viên hỏi, nhảy lên một tảng đá trơn trượt.
    "Cậu ấy có viết cho tôi một hai bức thư, sau đó thì không gửi nữa.

    Tôi trở về London, bác Connie và họ hàng của tôi cũng chuyển nhà một lần, không để lại địa chỉ liên lạc."
    "Nhưng ngài biết địa chỉ của ngài ấy mà."

    "Đúng vậy." Prudence không yên lòng trả lời, ngắm nhìn đường chân trời: "Nói như vậy thì lúc đó tôi còn có chuyện khác phải lo lắng.

    Trường mới, hai thành viên mới trong gia đình.

    Nhìn kìa, cậu Rivers, hải đăng."
    Người phóng viên phải tốn ít nhất một phút mới có thể tìm được ngọn hải đăng đang đứng lẳng lặng trên những tảng đá ở phía xa xa, sóng biển vỗ vào đá ngầm, bọt nước trắng xóa văng tung tóe.

    Khác với những tòa nhà đáng yêu được xây dựng để thu hút khách du lịch ở ven bờ biển Normandy, ngọn hải đăng ấy trông vô cùng trống vắng lạnh lẽo, ngay cả màu sơn đỏ rực tươi đẹp cũng không thể che giấu điểm đó.

    Người phóng viên kéo chặt áo khoác, anh cúi đầu, đi theo Prudence về phía ngọn hải đăng.
    - --
    Năm 1952, Oxford.
    Cha đậu xe giữa hai ngã tư đường từ đường cao tốc, hỏi lại Harry rằng cậu có thật sự không cần giúp đỡ không.

    Harry không cần từ chối, cậu lấy hành lý xuống, nói lời tạm biệt, đứng giữa đường nhìn chiếc xe dần lái đi.
    Tờ giấy viết địa chỉ đang nằm trong túi áo khoác nhưng Harry đã đọc thuộc lòng những dòng chữ ấy.

    Vấn đề chính yếu là cậu phải biết hiện tại mình đang đứng ở đâu, thành phố này đã quá quen với việc khiến những học sinh mới bối rối, không có ai thèm liếc nhìn cậu lấy một lần.

    Sau ba lần hỏi đường và hai lần đi qua những con hẻm nhỏ, Harry cuối cùng cũng tìm được chỗ dừng chân trong vài năm tiếp theo của cậu.

    Đó là một tòa ký túc xá được làm bằng gỗ và đá, bằng một nguyên nhân nào đó mà cậu không thể hiểu được, cửa không được mở ra theo hướng hướng ra ngoài đường, vì vậy, mọi người không thể không đi vào một con hẻm chỉ đi được một người và một chiếc xe đạp, vòng qua vườn hoa mọc đầy cỏ dại thì mới có thể đi vào được hành lang chật hẹp...!Hôm ấy ở đó chất đầy hành lý, không ngừng có người ra vào, họ cản đường lẫn nhau, đụng vào cùi chỏ và bả vai của người kia rồi thấp giọng xin lỗi.

    Harry dè dặt vượt qua những chiếc hộp và gậy chơi mã cầu ở trên đất, đi tới trước mặt người gác cổng.
    Người gác cổng là một ông lão yên lặng ít nói, trên đầu ông chỉ còn lại một nhúm tóc bạc ở cạnh lỗ tai.

    Ông bảo Harry ký tên vào một tờ đơn rồi giao chìa khóa cho cậu, không nói cho cậu biết rằng cậu ở lầu mấy.

    Trên chìa khóa có viết "201", Harry xách theo hành lý tìm cầu thang.

    Bốn cậu học sinh trẻ tuổi đúng lúc chạy xuống, họ tranh luận gì đó, chạy thùng thùng trên cầu thang hệt như không để ý đến sự tồn tại của Harry, thiếu chút nữa đã đá văng hành lý của cậu.

    Harry nép sát vào tường, để bọn họ đi qua rồi mới tiếp tục đi lên.
    Phòng 201 ở ngay cạnh cầu thang nên có thể nghe rõ tiếng ồn dưới lầu.

    Lúc cửa gỗ mở ra phát ra tiếng kêu cót két, hẳn là bản lề cần được tra dầu.

    Trong căn phòng nhỏ thoang thoảng có mùi của sách cũ, sàn gỗ cũ kỹ lồi lõm, may là không có dấu hiệu bị mọt gặm.

    Đồ dùng trong phòng chỉ có một chiếc giường đơn, bàn làm việc, tủ quần áo và một chiếc ghế gỗ cứng ngắc.

    Harry xách hành lý vào rồi mở cửa sổ ra, bên ngoài là một góc sân vườn, có thể thấy rõ giàn nho trống trải.

    Dư vị của mùa hè vẫn chưa hoàn toàn biến mất, những bông hoa nở rộ rơi rụng trên đường, gió thổi qua mang theo dư âm của vị ngọt.
    Trên hành lang lại truyền tới một trận tiếng ồn náo động, chắc là bốn người vừa chạy như bay xuống lầu kia, có thể đoán được sau này cậu phải làm quen với những tiếng ồn này thôi.

    Harry bước hai bước đến cửa, lúc chuẩn bị đóng cửa lại, một cậu con trai đã đẩy cửa ra trước cậu, cậu ta thò đầu vào rồi nhìn Harry, tựa như nhận ra mình vừa mới đi nhầm, cậu ta làu bàu nói xin lỗi rồi rời đi.

    Tiếng bước chân nghe như đã đi xuống lầu, chốc lát sau lại vòng trở lại, ngoài cửa vang lên tiếng gõ "cốc cốc".
    Harry vừa mới mở hành lý ra, cậu đang ôm một đống áo sơ mi và áo len, đứng tại chỗ do dự một hồi, cuối cùng cậu đặt đống áo xuống bàn làm việc, mở cửa ra.

    Là người học sinh mới nãy, tóc vàng, mặc áo sơ mi và áo gile màu xám, không thắt cà vạt.

    Ngoài hắn ra thì còn có ba người nữa đang đứng ngoài hành lang dáo dác nhìn vào, tò mò đánh giá Harry.
    "Tớ đoán đúng rồi mà, tớ đã nhìn thấy tên của cậu ở trên tờ đơn.

    Cậu nhất định phải đi uống một ly với chúng tớ đó, không có ai muốn ở mốc lên trong căn phòng này đâu."
    Harry nhìn hắn, hơi há miệng, không biết nên trả lời thế nào.
    "Harry Prudence." Vị khách tóc vàng không mời mà đến nói, Harry đột nhiên nhận ra người này nhìn rất giống với George Loiseau hai mươi tuổi vào năm đó, chẳng qua là đôi má lúm đồng tiền khiến hắn trông ôn hòa hơn nhiều: "Tớ là Alex.

    Nếu cậu dám nói cậu không có ấn tượng gì với cái tên này, tớ thề rằng tớ sẽ ném cậu xuống từ cửa sổ đấy."
    - --
    *Parhelion: (Mặt trời giả hoặc Mặt trời ma) là một hiện tượng quang học khí quyển, gồm đốm sáng ở một hoặc cả hai bên của Mặt trời..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 12: Chương 12


    Harry không bị ném ra khỏi cửa sổ mà bị đẩy ra khỏi cửa chính, ba người bạn của Alex đi phía sau giống như ba người lính ngự lâm, ngăn không cho Harry nửa đường chạy trốn.

    Alex thành thạo đi qua những con hẻm chật hẹp, chứa đầy mùi rêu xanh, đưa Harry đến một quán rượu nhỏ mang tên "Puffins and Tridents".
    "Puffins and Tridents" là một quán rượu nhỏ được xây từ gỗ và đá, phía sau quầy bar có treo một bức tranh được lồng trong khung đồng đen, bối cảnh của bức tranh vẽ một cây đinh ba được phủ đầy vòng hoa xung quanh cùng với một con hải âu cổ rụt* được ngâm trong thùng bia.

    Trên lý thuyết, quán rượu có hai lầu nhưng bởi vì sàn nhà đã bị mối gặm cộng thêm tin đồn trên đó có ma nên chưa từng có người nào dám đi lên lầu.

    Một tấm bảng gỗ được đóng vào cạnh cửa thông báo với khách hàng rằng: Từ tháng năm đến tháng tám, quán mở cửa đến chín giờ tối, từ tháng chín đến tháng tư thì mở cửa đến năm giờ chiều.

    Nếu ở lại sau khung giờ này, nghe nói - chỉ là nghe nói thôi, chưa có ai chứng thực cả - nếu tiếp tục ở lại sẽ có chuyện ngoài ý muốn xảy ra, về phần chuyện đó có gì bất ngờ, xảy ra như thế nào thì phiên bản kể lại quá nhiều, hơn nữa lại chẳng có ai chịu kiểm chứng sự thật.
    *hải âu cổ rụt: tên tiếng Anh là puffin, là một loài chim biển.
    "Toàn là mấy chuyện bịa ra để dụ khách hàng, tớ cá chắc luôn." Alex chọn một chiếc bàn trống ở gần cửa sổ, sai tên "lính ngự lâm" cường tráng nhất đi mua bia.
    Harry cười một tiếng: "Chẳng có ai lại bị hấp dẫn bởi những câu chuyện ma cùng lời nguyền cả."
    "Tớ biết." Alex nháy mắt với cậu, chỉ tay về phía những người đang chen đầy trong quán rượu: "Hẳn là những người này cũng nghĩ vậy."
    Tên "lính ngự lâm" cao to nhưng lùn quay về với bốn ly bia, mỗi tay anh ta cầm hai ly, bọt bia tràn ra chảy thẳng lên cổ tay anh ta.

    "Đây là Digby, cha của cậu ấy là Thượng tướng trong hải quân, có lẽ vì vậy mà cậu ấy rất quen với việc nghe theo mệnh lệnh của người khác." Alex giới thiệu, trừ Harry ra thì những người còn lại đều nở nụ cười, bao gồm cả chính Digby.

    "Kia là Barry, ở giữa là a, không phải e." Một cậu trai có gương mặt chứa đầy tàn nhang bắt tay Harry.

    "Còn đó là James." Alex chỉ người sinh viên đang mang một chiếc cà vạt màu xanh đậm, James đeo một chiếc mắt kính có gọng màu da beo, khiến y trông già hơn hai mươi tuổi so với tuổi thật của mình: "Các binh lính, đây là Harry Prudence."
    Một cuộc tra hỏi bắt đầu, ít nhất là Harry có cảm giác như đang bị tra hỏi.

    Trước tiên, "ba chàng lính ngự lâm" hỏi cậu đã từng học ở đâu cho giống với phép lịch sự rồi hỏi cậu đã biết tên giáo sư của bọn họ chưa; tiếp theo, bọn họ hỏi Harry có phải đã tốt nghiệp ở Eaton không, sau khi nhận được câu trả lời là không, họ không tiếp tục đề tài này nữa.

    Barry "ở giữa là a, không phải e" thành thục hỏi đến cha của Harry, cậu ta muốn biết xem liệu ngài Prudence đáng kính có đang làm việc ở Whitehall hay không.

    Harry nói cho cậu ta biết rằng ngài Prudence đáng kính chỉ là một người quản lý ngân hàng khiêm tốn, Barry đụng ly với cậu, khen ngợi công việc này.

    Từ đầu đến cuối, Alex không hề chen miệng vào, hắn chỉ nhìn Harry, nở nụ cười mỉm không yên lòng như một người đứng ngoài đang xem một chú ngựa con chưa được huấn luyện, vụng về nhảy qua chướng ngại vật.
    Đợi đến khi đợt bia thứ hai được dọn lên bàn, cuộc tra hỏi ngắn ngủi kết thúc, Alex dẫn đề tài nói chuyện sang chèo thuyền, Digby và James bắt đầu tranh cãi về chênh lệch tỷ số giữa Oxford và Cambridge suốt ba năm qua.

    Harry đoán rằng "ba chàng lính ngự lâm" của trường Harrow đang cố gắng tiêu hóa những thông tin mà bọn họ vừa mới đào được để đánh giá xem Harry nên được đặt ở vị trí nào trên bậc thang xã giao, từ đó mới áp dụng thái độ tương ứng để đối xử với cậu.
    "Cậu cảm thấy tỷ số năm sau sẽ như thế nào, Harry?" James hỏi.
    Tôi cũng đâu phải là nhà tiên tri.

    "Tôi không hay đoán trước mọi chuyện." Harry trả lời.
    "Một nhà logic học, tụi bây nên học tập người ta đi." Barry chen miệng vào.
    "Thứ lỗi cho sự tò mò của tôi." James lấy thuốc lá và hộp diêm ra khỏi túi áo khoác, châm một điếu: "Cậu và Alex quen nhau như thế nào vậy?"
    "Chúng tôi cùng trải qua một mùa hè."
    James nới lỏng cà vạt, thổi ra một làn khói thuốc: "Mong là một mùa hè tốt."
    "Có thể nói như vậy."
    Digby nhún vai: "Ít nhất thì kể từ năm nay, tao không cần phải sợ bị ném đến vùng Piedmont để trải qua mùa hè nữa."
    "Tao thích Piedmont lắm đó." Alex cầm lấy bao thuốc từ tay James, châm một điếu: "Chỗ đó có gì không ổn à?"
    "Núi."
    "Còn có mấy em người Ý xinh đẹp bán phô mai nữa, do mày không biết khám phá thôi." Barry ực cạn lượng bia còn dư lại trong ly: "Có đứa nào muốn đến tầng hầm của McAllister không?"
    Có vẻ đó là địa điểm mà bọn họ thường hay tụ họp bởi vì Digby và James đều đã đồng ý ngay mà không cần nghĩ ngợi.

    Alex từ chối, hắn bảo rằng tối nay cha của hắn muốn ăn cơm với hắn, nếu hắn muốn đến London trước giờ ăn tối thì phải nhanh chóng lên đường ngay.

    Digby thanh toán tiền rượu cho tất cả mọi người, anh ta khoác áo khoác lên vai, cùng hai "người lính ngự lâm" còn lại rời khỏi quán rượu.

    Harry đề nghị rằng cậu có thể cùng đến trạm xe lửa với Alex nhưng người nọ lại lắc đầu, tỏ ý cậu hãy ở yên chỗ cũ.
    "Tớ xạo đấy, không có ăn tối gì cả, cha đang ở Cornwall, ông ấy ghét London lắm." Alex đứng dậy rồi ngồi xuống cạnh Harry, dời ly bia mà Barry đã uống cạn sang chỗ khác: "Chỉ là tớ không muốn đi đánh bóng bàn với bọn họ mà thôi, một khi có người bắt đầu hút thuốc, chỗ McAllister ấy sẽ trở thành một phòng chứa đầy khí độc ngay, sẵn tiện nhắc đến thì đó là một quán rượu Ireland."
    "Các bạn của cậu đều rất..." Harry châm chước chọn từ ngữ một hồi: "Sống động."
    "Tớ không thích bọn họ, cho nên cậu cũng không cần phải nói một cách khách sáo vậy đâu." Alex nói dứt khoát, ném tàn thuốc vào số bia còn dư lại: "Chúng tớ biết nhau ở Harrow - nói vậy cũng không chính xác lắm bởi vì cha của chúng tớ có quen biết nhau, chúng tớ đã từng nghe qua tên của người kia trước khi đến Harrow, nghe không chỉ một lần.

    Tớ dám cá rằng bọn họ cũng không ưa gì tớ đâu, ít nhất là Digby chắc chắn không ưa tớ nhưng cậu ta không dám đắc tội với George...!Cậu còn nhớ George mà, đúng không? Phía tớ thì cũng không muốn đắc tội với người cha làm Thượng tướng của cậu ta.

    Cha của Barry là đại sứ ở Israel, ông ta rất có khả năng sẽ trở thành bộ trưởng bộ ngoại giao trong nhiệm kỳ tiếp theo, chuyện này thì vẫn chưa ai dám chắc cho nên cứ chuẩn bị trước là tốt nhất.

    Cha của James thì là thẩm phán, cậu xem đi, Harry yêu dấu, đây đúng là một cuộc hôn nhân chính trị đa phương mà, tha thứ cho ví dụ này của tớ."
    "Cậu cũng cố ý ném tớ vào giữa bầy sói nhỉ, tha thứ cho ví dụ này của tớ nhé."
    "Rất cố ý là đằng khác."
    Một người phục vụ với gương mặt đầy mỏi mệt cầm theo một chiếc khay trống đến dọn những chiếc ly thủy tinh trống không dính đầy bọt bia, ông ta hỏi bọn họ có cần gì khác không, Alex lắc đầu.
    "Chắc là tớ phải gửi một bức điện báo về nhà thôi.

    Martha nhớ cậu lắm đấy." Alex nhìn Harry: "Chúng tớ vẫn luôn nhớ đến cậu."
    "Mọi người vẫn khỏe chứ?"
    "Nghe cậu vừa nói gì kìa, Harry, Mọi người vẫn khỏe chứ?, nghe cứ như một luật sư bất động sản đã năm sáu mươi tuổi rồi ấy.

    Đúng vậy, cảm ơn, mọi người vẫn rất khỏe.

    Leila đã được gả cho một vị nha sĩ, nếu cậu không may phải đi lấy tủy răng, cậu có thể gọi điện cho chị ấy.

    George vẫn còn ở RAF*, thỉnh thoảng anh ấy lại bay đến Berlin giống như đánh một trận vẫn chưa đủ, muốn đánh tiếp trận thứ hai.

    Cha rất không hài lòng với việc ấy nhưng ông ấy không thể làm gì cả.

    Chỉ có tớ là bất hạnh nhất thôi, ông ấy không thể quản được đứa con trai lớn và đứa con gái lớn của mình, không thể làm gì khác hơn là đi quản tớ, cậu biết cha là người như thế nào mà, cảm ơn thượng đế vì cuối cùng năm nay tớ cũng có thể rời khỏi Cornwall.

    Harry, cậu vẫn chưa kể chuyện của cậu, không công bằng tí nào."
    *RAF: (Royal Air Force) lực lượng không quân hoàng gia Anh.
    "Tớ tin chắc là tớ đã nói về bản thân của mình suốt một giờ qua, các bạn của cậu là người thẩm vấn đấy."
    "Cậu có thể bắt đầu câu chuyện từ Xe lái khỏi nhà." Alex giơ tay gọi người phục vụ đến, người phục vụ đáng thương trông càng mệt mỏi hơn: "Hai tách trà, nếu quán ông có thể phục vụ, chúng tôi chắc chắn sẽ ở đây rất lâu."
    Bọn họ đúng là đã ở lại đó rất lâu.

    Tháng tám, "Puffins and Tridents" mở cửa đến chín giờ tối.

    Lúc về đến ký túc xá, bóng lưng của hai người kéo dài trên đường, sau đó hòa làm một trong buổi tối muộn.

    Lúc người gác cổng nhìn thấy hai bọn họ, ông lớn tiếng gọi: "Chào buổi tối, cậu Loiseau, cậu Prudence", thay vì nói là lịch sự thì chi bằng nói thẳng là cảnh cáo: Tôi nhớ các cậu đi ra ngoài lúc nào, đi với ai cả đấy, tốt nhất là cẩn thận vào.
    Phòng của Alex ở trên phòng Harry, chỉ cần không có ai mở tiệc rượu say bét hoặc hành hạ người khác bằng buổi trình diễn violon, Harry có thể nghe rõ tiếng bước chân của bạn mình ở trên lầu, tấm ván cũ kỹ phát ra tiếng cót két khô khốc.

    Căn phòng lầu hai ở gần cầu thang này đúng là một cái hộp chứa đầy tiếng ồn, vừa có thể nghe rõ tiếng bước chân ở trên cầu thang, vừa có thể nghe thấy người ta nói chuyện dù có nói nhỏ đến thế nào.

    Có lần Barry định dẫn hai cô gái vào, Harry không thể không nghe hết cuộc tranh chấp nảy lửa kéo dài suốt bốn mươi phút, có lần còn có tiếng thủy tinh bể.

    Harry rất ít khi tham gia vào những chuyện mạo hiểm này, chủ yếu là bởi vì cậu không hề được mời, cậu không biết ai nhưng những người kia lại có vẻ như đã hiểu rõ lẫn nhau, việc này càng khiến cậu cảm thấy mình như một người ngoài cuộc.
    Một tối trước mùa vọng, có người gõ cửa cậu "bịch bịch".

    Lúc ấy Harry đang đọc thơ của Virgil, mặc dù nói là chỉ có một đoạn nhỏ nhưng đoạn ấy cũng dài hơn mười trang, hơn nữa cậu không thể không chậm rãi tra từ điển.

    Ban đầu cậu không để ý đến tiếng gõ cửa bởi vì thỉnh thoảng vẫn có học sinh uống say rồi đi lộn phòng, đôi khi lại còn ca hát ở trên cầu thang.

    Nhưng mà tiếng gõ cửa ấy vẫn không dừng lại, người bên ngoài có vẻ như nhất định phải vào phòng này.

    Harry tiện tay kẹp bút vào trong từ điển, đứng dậy mở cửa.
    "Chào buổi tối." Alex không đợi mời đã đi vào phòng, đóng cửa lại.
    "Cậu uống say." Harry chỉ hắn.
    "Một chút."
    "Cậu không thể cứ như vậy được, cậu biết không."
    "Cứ như vậy là như thế nào?" Alex tháo nơ, hắn vẫn đang mặc bộ lễ phục dự tiệc, Harry có thể ngửi thấy mùi xì gà trên người hắn, chắc là của người khác, Alex không hút xì gà.
    "Uống say." Harry ngồi vào bàn làm việc, mở từ điển ra: "Với lại phòng của cậu ở trên lầu."
    "Có lẽ tớ thích phòng của cậu hơn."
    "Điểm không tốt là sẽ có người tới gõ cửa lúc nửa đêm." Chiếc bút hơi chảy mực một chút, người viết phải cầm nó ở một góc độ chính xác thì bút mới không chảy mực lên giấy, Harry không yên lòng chùi giọt mực đen lên ngón tay: "Cậu vừa đi đâu vậy?"
    Không ai trả lời.

    Alex đang ngủ trên giường cậu, hoa cài nhàu nhĩ được đặt cạnh gối.

    Harry do dự một hồi, cậu đứng dậy, đắp chăn cho bạn mình.

    Còn bảy tiếng nữa mới đến bình minh, có lẽ tối nay cậu phải cố gắng học xong đoạn thơ đầy khô khan u buồn này thôi.
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 13: Chương 13


    Cuối cùng Harry ngủ ở trên ghế, lúc tỉnh lại trời vẫn còn mờ tối, đồng hồ đeo tay nói cho cậu biết rằng bây giờ là năm giờ mười lăm phút.

    Không biết từ lúc nào mà chiếc bút thép đã lăn xuống mặt đất, nó chảy ra một vũng mực lớn, trông như một thi thể vừa ngã từ vách núi.

    Trong phòng rất lạnh, gió thổi vào từ cửa sổ, người gác cổng bảo rằng đây là "Vấn đề do xây dựng", trừ khi cả tòa nhà bị đập đi xây lại, không thì sẽ không thể sửa được, cậu phải tập làm quen với việc này thôi.

    Harry cử động đôi vai cứng ngắc của mình, cậu khom người, nhặt chiếc bút đã trở nên vô dụng rồi quấn nó vào trong khăn tay.
    Alex nằm trên giường trở mình, gọi tên cậu.
    "Xin lỗi." Harry nhỏ giọng nói, cậu cũng không biết tại sao mình lại hạ thấp giọng: "Cậu muốn tớ tắt đèn bàn hả?"
    "Lên giường nằm đi."
    "Tớ có thể ngủ trên ghế."
    "Đừng có ngốc, đây là phòng của cậu."
    "Không ngờ là cậu vẫn còn nhớ chuyện này đấy."
    "Lại đây đi." Alex nhặt chiếc hoa cài đã bị đè đến không còn hình dạng gì ở chiếc gối bên cạnh, ném xuống đất: "Trước kia chúng ta vẫn thường làm vậy mà, không phải sao?"
    "Khi đó chúng ta chín tuổi."
    "Có khác gì nhau sao?"
    Rất nhiều.

    Harry muốn nói như vậy nhưng trong lúc nhất thời lại không tìm được lời giải thích nào hợp lý.

    Alex nép sát vào tường, chừa ra một chỗ trống: "Thưa cậu Prudence, nếu cậu cứ tiếp tục do dự như vậy, chúng ta sẽ chết rét với nhau đó."
    Harry đưa tay tắt đèn bàn.
    - --
    Prudence dừng lại, ông dựa vào tảng đá để nghỉ ngơi, kiểm tra xem đôi giày da đã dính bao nhiêu cát.

    Có lẽ cảm thấy bị uy h**p, một con hải âu bỗng thét lên một tiếng chói tai với bọn họ, nó giương cánh, bay lướt qua mặt biển màu xanh lá cây văng đầy bọt sóng.

    Người phóng viên quay đầu nhìn lại bãi cát mà họ đã đi qua, sóng biển đã lau sạch dấu giày của bọn họ.

    Viện dưỡng lão chỉ còn là một mái hiên nho nhỏ màu nâu.

    Sương mù và gió biển dính ướt trên đầu anh, nhầy nhụa.

    Ngọn hải đăng vẫn ở phía xa, nó không hề đến gần bọn họ, giống như họ có đi mãi cũng không thể tới được.
    "Sau đó tôi quyết định đưa chìa khóa dự bị cho cậu ấy, tránh việc cậu ấy lại tới gõ cửa lúc nửa đêm." Prudence tìm một chỗ bằng phẳng trên tảng đá rồi ngồi xuống, người phóng viên cũng làm theo: "Với Alex, cậu phải luôn luôn chịu thỏa hiệp, chẳng qua là sớm hay muộn thôi.

    Sau khi có chìa khóa, cậu ấy thường xuyên tới, có khi là buổi chiều, có khi lại là buổi tối, có những buổi sáng lúc tôi tỉnh lại sẽ phát hiện ra cậu ấy đang ngủ bên cạnh, ngay cả áo khoác cũng chưa cởi ra.

    Nếu tôi không có trong phòng, cậu ấy sẽ đặt vài món quà nhỏ ở trên bàn làm việc, rượu vang, táo, nửa chiếc bánh galette*, một cây bút thép mới.

    Cậu ấy rất sợ một mình, mặc dù cậu ấy chưa từng thừa nhận chuyện ấy, nếu cậu ấy không tới tìm tôi, cậu ấy cũng không chịu ở yên trong phòng mình đâu.

    Năm đầu tiên ở Oxford, mọi người bắt đầu bàn luận về những người bạn đến phòng Alex, trong đó có vài cô gái nhưng đa số vẫn là con trai, tôi đã trông thấy vài người trong đó nhưng không nhớ tên ai cả, những người này tới nhanh, biến mất cũng nhanh nốt.

    Tôi chưa bao giờ hỏi về chuyện này, Alex cũng chưa từng nói."
    *bánh galette: hay còn gọi là bánh vua, là một loại bánh truyền thống thường xuất hiện vào lễ hiển linh vào tháng 1, sau lễ giáng sinh.
    "Cậu có thể tưởng tượng, vòng xã giao của Alex bao trọn cả Oxford và London, trải dài trên khắp tất cả những câu lạc bộ trên toàn quốc.

    Ai ai cũng là bạn của cậu ấy, từ con gái của viện trưởng đến một kẻ dị giáo không tin vào ngày tận thế.

    Cậu ấy kéo tôi vào thế giới xã giao của cậu ấy, những buổi dạ tiệc, những buổi tiếp khách và tiệc rượu, nhất là tiếp khách ấy, nghe thì có vẻ rất mê người nhưng thực chất chỉ là một đám người uống say đang tranh nhau quyền được phát biểu mà thôi, những người ở đó ai cũng nói chuyện lớn tiếng, chen vào miệng lẫn nhau, chẳng ai chịu nghe ai, tranh cãi như một bầy ngỗng hoang.

    Tôi là cái bóng của Alex, khi thì bọn họ sẽ giả bộ như không thấy tôi, khi thì sẽ đối xử với tôi quá nhiệt tình.

    Có một khoảng thời gian Alex rất thích đến những buổi họp mặt bí mật của cánh tả* để lắng nghe bọn học sinh cuồng tín bàn luận xem làm thế nào để bãi bỏ lớp học.

    Barry thường tổ chức những buổi họp mặt này ở nhà cậu ta, đúng vậy, tên Barry ở giữa là a không phải e đấy, tên đầy đủ của cậu ta là Brandon Morton, sau này làm việc ở bộ ngoại giao."
    *cánh tả: hay chính trị cánh tả, là bên chính trị có khuynh hướng trái ngược với cánh hữu, thường phản đối sự phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội.
    "Chờ một chút." Người phóng viên nhíu mày: "Brandon Morton là gián điệp của Liên Xô."
    "Đúng vậy, Barry đã từng phụ trách một tờ báo về cánh tả ở trường, MI5* đã cho cậu ta vào danh sách theo dõi từ đầu năm 1955 nhưng cậu ta vẫn yên ổn làm việc ở bộ ngoại giao suốt mười mấy năm, đến năm 1972 thì mọi chuyện mới hoàn toàn bị bại lộ.

    Barry đã cố trốn thoát qua Istanbul nhưng cuối cùng lại bị bắn chết ở trên tàu.

    MI6* đợi đến năm 1991 mới chịu công khai hồ sơ của Barry, sau này còn được dựng thành phim, nếu tôi nhớ không lầm."
    *MI5: là cơ quan tình báo, phản gián điệp và đảm bảo an ninh của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.
    *MI6: là cơ quan có nhiệm vụ cung cấp cho chính phủ Anh những thông tin tình báo nước ngoài.
    "Tôi biết, cũng nhờ có bộ phim đó mà tôi mới biết đến người tên Morton nhưng tôi chưa từng biết rằng người đó lại có quan hệ với ngài Loiseau."

    "Đại học, Whitehall và phố Downing là một vòng tròn rất nhỏ, ít nhiều gì thì chúng tôi cũng có quan hệ với nhau, dù chúng tôi có muốn hay không."
    Ba người đến bơi ôm theo ba chiếc chăn dày đi qua trước mặt bọn họ rồi cất tiếng chào, họ trải chăn trên bãi cát lạnh như băng rồi cởi những chiếc áo len rộng lớn xuống, để lộ bộ đồ bơi ở bên trong, họ co ro, đi về phía mặt biển.

    Người phóng viên và Prudence nhìn bọn họ bơi trong làn nước như đang nhìn những con thiêu thân đang lao vào ngọn lửa.

    Bọn họ cười đùa, vẩy nước vào người nhau, nhào vào trong làn nước lạnh như băng, cất lên những tiếng kêu không biết là hưng phấn hay đau đớn.
    "Cũng chỉ có người Bretagne mới có thể làm như vậy." Prudence bình luận, ông đứng dậy, vỗ vào tảng đá như đang cảm ơn nó rồi tiếp tục đi về phía ngọn hải đăng.
    "Còn xa lắm không ạ?"
    "Khoảng ba mươi phút nữa.

    Cậu cần nghỉ ngơi thêm một lát nữa sao, chàng trai trẻ tuổi?"
    "Không cần đâu ạ, cảm ơn ngài."
    Một con đường được lót gỗ bỗng xuất hiện trên bãi cát, kéo dài đến tận hàng đê chắn sóng.

    Những tấm ván gỗ thấm đầy nước nên đã trở nên mềm oặt, biến thành màu đen, trông chúng vô cùng mục nát nhưng ít ra vẫn thoải mái hơn việc bước đi trên cát một chút.

    Gió biển thổi vù vù, người phóng viên lo rằng bút thu âm sẽ không thể thu rõ giọng Prudence, anh âm thầm hối hận vì mình đã không mang bút và sổ tay theo.
    "Alex rất thích Bretagne nhưng ở thời chúng tôi, đường đi vô cùng khó khăn, chúng tôi phải ngồi trên chuyến tàu đêm đi từ Cornwall rồi xuống tàu ở Brest, sau đó lại ngồi xe lửa để đến Saint Malo, cứ như vậy mà đã lãng phí mất hai ngày.

    Đó là chuyện trước khi tôi trở thành phóng viên cho mục nước ngoài ở tờ Góc nhìn, sau này tôi quá bận rộn, ngay cả một buổi chiều rảnh rỗi cũng khó kiếm.

    Rất nhiều người không biết rằng trừ Paris, Góc nhìn còn có một phòng làm việc ở Bonn, tôi đã từng ở cả hai nơi.

    Cậu có để ý thấy Alex gửi không ít thư đến nước Đức không? Địa chỉ đó từng là địa chỉ của Góc nhìn, bây giờ thì không còn nữa rồi, lúc tôi quay lại đó vào thập niên chín mươi, chỗ đó đã được xây thành một siêu thị.

    Một siêu thị cơ đấy! Đúng là quyết định của Chúa mà." Prudence lắc đầu: "Nói một cách công bằng thì thời ấy đi Cornwall cũng không dễ chút nào, mùa hè năm George kết hôn - đó là vào tháng 7 năm 1953 - Alex và tôi đã phải lăn lộn trên những con đường thôn quê gập ghềnh suốt một ngày rưỡi, cả hai chúng tôi đều không phải là những tài xế thuần thục, xe là do Barry cho chúng tôi mượn, đó là một chiếc Bristol 400 màu xanh da trời vô cùng bắt mắt, tiếc là nửa đường lại chết máy, làm thế nào cũng không khởi động được.

    Chúng tôi phải đi tám chín dặm suốt dọc đường hoang dã mới tìm thấy một quán rượu nhỏ khiến người ta nghi ngờ, cả người ướt sũng, chủ quán nhìn chúng tôi, bảo rằng muốn gọi điện thoại thì phải trả hai bảng Anh."
    Hai cậu sinh viên trẻ tuổi không còn lựa chọn nào khác, chỉ có thể trả tiền.

    Trong lúc Alex đang miêu tả vấn đề của chiếc xe với một người thợ sửa xe có chất giọng đậm chất Scotland, Harry cởi chiếc áo khoác đã ướt sũng ra, đánh giá khu vực âm u xung quanh.

    Người khách duy nhất là một người đàn ông đang nằm trên một chiếc bàn ở trong góc, ông ta đeo đôi găng tay cụt ngón bẩn thỉu, trông như đang không hề hô hấp.

    Nước mưa vỗ đầy lên cửa sổ thủy tinh vô cùng dơ bẩn, người chủ quán quan sát bọn họ, có lẽ là đang nghĩ xem có thể moi thêm bao nhiêu tiền từ trên người bọn họ.
    Alex cúp điện thoại, lắc đầu: "Chúng ta phải ở lại đây một đêm."
    Người chủ quán lười biếng báo một cái giá, bởi vì quá hoang đường, Harry không kìm được bật cười: "Số tiền đó đủ cho chúng tôi mua một hồ xăng luôn đấy."
    "Nếu không ở đây thì ở bên ngoài đi, các cậu tự chọn."
    Phòng dành cho khách ở trên lầu, trần nhà thấp lùn cọ trúng đỉnh đầu Harry.

    Hai chiếc giường một người đặt song song nhau dưới khung cửa sổ, tấm nệm lõm xuống như một cái hố, ga trải giường thì ố vàng.

    Sau khi lò sưởi sát tường được đốt lên, trong phòng tràn ngập mùi thuốc lá gay mũi.

    Ngọn đèn duy nhất trong phòng cũng không có chao đèn*, nó tỏa ra ánh sáng vàng nhạt mờ tối, lúc hai người đi lại cũng phải vô cùng cẩn thận, tránh không đụng vào bóng đèn nóng bỏng.

    Hành lý vẫn còn ở trên xe, hai người bọc cơ thể trong tấm chăn len sần sùi, có mùi mốc, chờ cho lò sưởi hong khô quần áo đang được trải trên ghế.
    *chao đèn: là bộ phận úp trên bóng đèn nhằm bảo vệ và tăng lượng ánh sáng cho đèn.
    "Nếu nửa đêm chúng ta bị cắt cổ họng bởi một đám thổ phỉ ăn mặc như ở thế kỷ mười tám rồi bị băm nát ra làm thức ăn cho chó, tất cả đều là lỗi của Barry." Alex nói với lò sưởi sát tường, co lại thành một đống nhỏ trong tấm chăn.
    "Có lẽ chỗ này không phải là một chỗ tốt để nhắc đến chuyện giết người." Harry nhìn một vết bẩn màu nâu bị bắn tung tóe ở trên tường: "Cậu có nghĩ đây là vết nước đọng không?"
    "Tốt nhất là như vậy." Alex vỗ gối, nằm xuống: "Coi như sáng mai người thợ máy chạy đến đây kịp lúc, chúng ta cũng sẽ tới trễ mười hai tiếng."
    "Sáng mai chúng ta có thể gọi điện thoại giải thích."
    "Tới trễ cũng không hoàn toàn là chuyện xấu đâu."
    "Tại sao?"
    "Giảm bớt thời gian xã giao.

    Tin tớ đi, Harry, không phải người nhà Loiseau nào cũng thú vị như tớ đâu."
    "Có thể tưởng tượng được." Harry nhìn trần nhà, hai tay chắp sau gáy: "Cậu vẫn chưa nói cho tớ biết cô dâu may mắn ấy là ai."
    "Thành thật mà nói thì tớ cũng chưa gặp chị ấy, là cha giới thiệu cho George đó, họ là Hartford, cha của chị ấy có tước vị không bằng cha tớ nhưng lại có nhiều địa sản hơn.

    Đúng là một cô gái đáng thương, chắc chị ấy vẫn chưa phát hiện ra người George yêu thật lòng là máy bay." Alex yên lặng một hồi, hai người mỗi người nằm đó, nghe tiếng tí tách của gỗ đang cháy trong lò sưởi: "Cậu còn nhớ có một khoảng thời gian, chúng ta tưởng rằng anh ấy đã chết rồi không? Không ngờ anh ấy lại quay về trước lễ giáng sinh ấy?"
    "Tớ nhớ."
    "Vào khoảng thời gian ấy..." Alex hắng giọng: "Hồi còn bé tớ đã tưởng rằng anh ấy thật sự đã rơi xuống eo biển cùng với máy bay, người trở về chỉ là một hồn ma.

    George nhìn thì rất khắc nghiệt nhưng anh ấy chưa bao giờ là một người nghiêm túc.

    Cậu nên nhìn dáng vẻ bây giờ của anh ấy đi, khác gì một nhà tu hành khổ hạnh trong bộ quân phục của lực lượng không quân đâu."
    "Tớ nhớ cậu đã từng viết một câu chuyện, gì mà một con chim lớn ăn thịt người ấy."
    "Tớ không tin là cậu có thể vặn vẹo câu chuyện đến như vậy."
    "Cậu viết như vậy thật mà."
    "Harry."

    "Cái gì?"
    "Chỗ này lạnh quá, tớ có thể đi qua chỗ của cậu không?"
    "Nếu tớ nói Không thể, cậu có ngoan ngoãn ở yên chỗ cũ không?"
    "Không biết."
    Harry thở dài: "Đến đây đi."
    Hôm đó không phải là một buổi tối yên ổn, cơn mưa đập vào căn nhà gỗ nhỏ đã không được sửa chữa nhiều ngày, quầy rượu dưới lầu lại luôn truyền tới tiếng va chạm "đinh đinh" giữa kim loại và thủy tinh.

    Chỉ cần ngoài cửa truyền tới tiếng "cót két" của ván gỗ, Harry sẽ bất chợt choàng tỉnh, lo rằng có người sẽ lén cầm dao lẻn vào.

    Alex, người luôn nhắc đến chuyện bị cướp giết, lại không có nhiều băn khoăn đến như vậy, hắn không tỉnh lại một lần nào.
    Trời vừa sáng, bọn họ đã rời khỏi quán rượu nhỏ ngay, họ từ chối món trứng rán và thịt xông khói đắt tiền, để bụng đói quay về tìm chiếc xe hỏng hóc kia.

    Sau một đêm mưa như thác đổ, Bristol 400 đã lõm sâu vào trong bùn lầy.

    Người thợ máy đến vào buổi trưa, sửa chữa hết ba tiếng, ông ta đổi bánh xe, cuối cùng hợp lực với bọn họ để đẩy chiếc xe ra khỏi hố bùn.

    Rốt cuộc hai người tiếp tục lên đường vào buổi trà chiều, trước khi ánh nắng hoàn toàn biến mất, họ lái được đến con đường mòn dẫn về dinh thự.
    Vẫn như thường ngày, Martha đợi họ ở hành lang, Harry trong ấn tượng của bà đã bắt đầu trở nên phai nhòa, giờ đây bà còn thấp hơn cậu một cái đầu.

    Bà vừa nhìn thấy Harry đã bụm miệng ngay, xúc động bảo cậu "Lớn nhanh đến vậy", sau đó hỏi hai người tại sao lại "nhăn nheo" như thế, sau khi nghe Alex giải thích, bà đuổi hai người vào trong phòng bếp.
    Phòng bếp vẫn giống hệt như trong trí nhớ của Harry, chiếc bàn dài, lò sưởi sát tường thật lớn và cửa sổ thông hơi hình tròn, ngay cả giỏ để khoai tây cũng vẫn còn ở chỗ cũ.

    Vì để chuẩn bị cho hôn lễ, trong phòng chất đầy những phần thịt đã được ướp sẵn cùng với những vòng hoa chưa được trang trí xong, một nồi kem đánh được đặt trên bàn, Alex quết một ít rồi bỏ vào trong miệng, bị Martha dùng muỗng gõ vào mu bàn tay.

    Trông thấy ánh mắt của Harry, hắn trừng mắt nhìn lại.
    Martha bảo Harry đến ở căn phòng trước kia của cậu, lầu hai ở phía tây.

    Harry kéo hành lý vào, đặt trên thảm, đi tới bên cửa sổ.

    Chiếc ghế bập bênh đã nhỏ hơn trong trí nhớ của cậu, gỗ ghế cũng trông yếu ớt không chịu nổi.

    Cậu đẩy cửa sổ ra, những cây dẻ bên ngoài chụm lại thành một chiếc bóng trong buổi hoàng hôn, sương mù bao phủ đồng ruộng hiện lên một màu nâu đục ngầu, ngọn đèn đường vừa được xây rọi vào trong đó.
    Ga trải giường và gối hơi có mùi xà phòng và hơi bị dính bụi, Harry cầm chiếc gối lên, ở dưới chẳng có cái gì, có lẽ cậu có thể hỏi Martha có nhìn thấy khăn tay của mẹ cậu không nhưng cậu nhanh chóng bỏ đi ý định ấy.

    Cậu vặn mở đèn bàn, quan sát căn phòng nhỏ này lần nữa.

    Mười một năm sau, cậu đã trở về nhà..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 14: Chương 14


    "Tớ không biết cậu có để ý hay không." Harry xích lại gần Alex, giả bộ như đang nhìn bãi cỏ ngoài cửa sổ: "Người Thượng úy đó đã nói về hải chiến suốt một giờ liền rồi, nếu ông ta dám nhắc tới từ tàu trục hạm thêm một lần nữa, tớ chắc chắn sẽ tạt ly rượu này vào mặt ông ta."
    Hôn lễ sẽ được cử hành tại một nhà thờ nhỏ vào sáng hôm sau, khách mời lục tục đến, từng chiếc xe hơi cán qua đá vụn trên đường, tranh thủ từng chỗ trống nhỏ giữa những lùm cây để đỗ xe.

    Một buổi tiệc cocktail nhỏ đang được tổ chức trong phòng hứng nắng, đồ lặt vặt đã bị dời đi, thay vào đó là hai chiếc bàn dài được phủ khăn trải bàn màu trắng, trên đó bày đầy những món điểm tâm lớn chừng ngón tay, hạt dẻ bọc nước đường, ăn cùng với thịt xông khói và ô liu, ngoài ra còn có món cá trích lên men được cắt thành những miếng nhỏ.

    Chiếc bình thủy tinh miệng rộng đựng rượu trái cây được phủ một lớp nước mỏng bên ngoài, người phục vụ tạm thời đi lại giữa những người khách để mời họ rượu vang và bánh quy, đồng thời cũng đổ đầy những chiếc ly trống rỗng của họ bằng hương rượu mát lạnh tươi mới.

    George và Nam tước Loiseau như hai mặt trời vận hành theo hai hướng hoàn toàn đối ngược nhau, xung quanh họ là hàng tá những hành tinh với màu sắc khác biệt.

    Bên cạnh George là một sĩ quan không quân đang mặc lễ phục màu xanh đậm, mà người đang nói chuyện với Nam tước lại là một người đàn ông trung niên có bụng hơi phệ.

    Harry và Alex núp ở một cánh cửa sổ sát đất cách xa đó để quan sát chiều chuyển động của bọn họ, hai người nhìn chằm chằm vào cựu sĩ quan hải quân đang nói rất nhiều một hồi, vì để không khiến ông ta nghi ngờ, hai người dời ánh mắt đi.
    "Trung tá, không phải Thượng úy." Alex đặt chiếc ly không lên bàn dài rồi cầm lấy một cái ly mới: "Ông ta cũng chẳng còn đề tài nào khác để mà nói, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có hai câu chuyện là Khai chiến với tàu ngầm hình chữ U và Giải cứu phi công bị rơi xuống nước.

    Nhưng mà phiên bản tớ nghe được là lần đầu tiên vị Trung tá đó ra biển, tàu của ông ta đã lái trúng ngư lôi, ông ta nhanh chóng chạy thoát, leo lên phao cứu sinh rồi trôi dạt trên biển suốt một đêm, ngày hôm sau thì được tàu cứu hộ vớt lên, chưa từng ra biển lần nào, chỉ biết ngồi lì trong phòng làm việc ở bộ chỉ huy Dover suốt hai năm mà cứ thích đi khắp nơi rêu rao rằng mình đã từng đánh chìm tàu trục hạm của quân phát xít, nếu không để ý lời nói của ông ta thì có khi cậu cũng sẽ bị ông ta thuyết phục đấy.

    Cậu có nhìn thấy vị Thượng tướng kia không? Cằm vuông, cao hơn mọi người một cái đầu, tay cầm tách trà, chưa uống một giọt rượu nào hết đó."
    "Thấy rồi."
    "Đó chính là cha của Digby, ông ta ghét vị Trung tá kia lắm, chưa bao giờ nói chuyện với nhau cả.

    Có lẽ chúng ta sẽ tò mò tại sao Digby lại nhìn không giống cha cậu ta, Barry nói rằng người nhà này giống như một con đại bàng cùng với một con mèo đã đẻ ra một con tê giác nhỏ."
    Harry nở nụ cười ở trong ly rượu, cậu ho khan một tiếng, che mất nụ cười.
    "Nếu chúng ta đã nhắc đến Barry..." Alex tìm kiếm những hành tinh ở gần Nam tước Loiseau: "Đứng bên phải cha - người thắt cà vạt màu xám tro, mang mắt kính, đó chính là ngài đại sứ đáng kính đấy, tớ hy vọng rằng ông ta vẫn chưa phát hiện ra chuyện con trai ông ta đã cho chúng ta mượn xe."
    "Râu của ông ta là thật sao? Nhìn giống đồ trang trí khi lên biểu diễn vậy."
    "Có lẽ đó là giấy thông hành để ông ta đi vào đại sứ quán ở Israel."
    Hai người cùng thấp giọng cười lên.

    Alex cầm lấy một miếng cá trích lên men ở trên bàn dài rồi cắn một miếng, hắn nhíu mày lại, để lộ vẻ mặt như đang đau răng, hắn than phiền rằng món cá này quá mặn, không hiểu tại sao Martha cứ thích làm món này.

    Hắn uống cạn số rượu vang còn dư lại trong ly rồi huých vào cùi chỏ của Harry, nhắc cậu để ý đến một người đàn ông lùn mập đang múc rượu trái cây từ chiếc bình thủy tinh: "Ông Bloomer cũng tới kìa."
    "Tớ chưa từng nghe cậu nhắc tới người này."
    "Luật sư của cha, chuyên giải quyết những chuyện liên quan đến bất động sản, ủy thác quỹ và di chúc của ông ấy.

    Nếu cậu hỏi tớ còn gì khác không thì có lẽ ông ta còn giải quyết cả chuyện ly dị nữa, nhưng cha và mẹ chưa từng đi tới bước này." Alex gọi người phục vụ tới, hắn đặt chiếc ly không vào trong khay rồi cầm lấy vài chiếc bánh quy được phủ đường và hạnh nhân, chia cho Harry một ít: "Ông Bloomer lúc nào cũng nhớ lộn tên tớ, ông ấy hay gọi tớ là Adrian, cũng không phải là chuyện khó hiểu, con út thì chẳng dính dáng tới chuyện gì cả, chẳng có ai lại phí công đi nhớ tên của một đứa xếp chót trong nhà Loiseau.

    Tớ rất mừng vì sau này người tiếp xúc với ông Bloomer sẽ là George."
    "Tuy vậy, người xếp chót trong nhà Loiseau lại là người thú vị nhất."
    "Cảm ơn lời nịnh nọt vụng về của cậu, cậu Prudence."
    Một tràng cười truyền tới nhanh chóng hấp dẫn sự chú ý của tất cả mọi người.

    Không biết những sĩ quan không quân hoàng gia kia vừa kể câu chuyện cười gì, ngay cả George cũng nở một nụ cười hiếm thấy.

    Cánh cửa đến nhà kính đột nhiên bị mở ra, Leila lặng lẽ đi tới.

    Người con gái của Nam tước có đôi mắt xanh cùng với góc cạnh dưới cằm giống với Alex, mái tóc vàng của chị ngắn ngủn, dáng đi của chị khiến Harry nhớ đến một con linh dương đang đi dạo trên bãi cỏ.

    Đầu tiên chị tới hôn lên gò má của em trai, thấp giọng nói với hắn mấy câu, sau đó đi tới bên cạnh George, nhỏ giọng trò chuyện, George gật đầu, nụ cười trên mặt biến mất.
    Một người phụ nữ mặc một chiếc váy màu vàng nhạt bước vào trong phòng hứng nắng, tất cả các cuộc nói chuyện lập tức trở nên im lặng, hơn phân nửa người trong phòng ngắm nhìn bà, sau đó mới dời ánh mắt đi chỗ khác, giả bộ như không có chuyện gì xảy ra.

    Người phụ nữ đi thẳng đến chỗ của Nam tước Loiseau, đôi bông tai nho nhỏ làm bằng kim loại đung đưa theo từng bước chân của bà, hai người cứng nhắc gật đầu chào hỏi lẫn nhau, từ đầu đến cuối vẫn duy trì một khoảng cách, không hề nói một câu.

    Tiếp theo, người phụ nữ mặc chiếc váy dài đi ra ngoài, bà cười một tiếng với Leila, sờ gò má chị, sau đó bà ôm lấy George, đưa cho anh một chiếc hộp gỗ được buộc ruy băng.

    Leila nói gì đó với bà, người phụ nữ quan sát đám người đang đứng trong phòng hứng nắng, trông như đang tìm người nào đó.
    Nhưng Alex đã rời đi, hắn đã lặng yên không một tiếng động biến mất vào trong nhà kính.

    Harry đứng tại chỗ do dự một hồi, cuối cùng cậu đặt ly rượu xuống, đi theo hắn rồi rón rén đóng cửa lại.
    Không khí trong nhà kính vừa nóng vừa ẩm, mùi hương ngọt lịm của những giàn hoa lan trộn lẫn vào nhau, có cảm giác như một chiếc khăn tay ướt sũng đang quét trên mặt.

    Không thấy bóng dáng Alex đâu, Harry từ từ đi qua những loài cây đang rũ xuống cùng với những chiếc lá vô cùng bóng loáng, cậu thấy hơi mất phương hướng.

    Ở giữa nhà kính là một cái bàn gỗ vô cùng lớn, trên đó đặt rải rác những chậu cây lớn chừng bàn tay và hạt giống trồng hoa tulip, ngoài ra còn có một đôi găng tay dính đầy bùn cùng với đủ loại công cụ dùng để làm vườn, bình tưới vừa được dùng cách đây không lâu, trên bình vẫn còn dính những giọt nước sáng long lanh.
    Nắng chiều ở phía tây chiếu xuyên qua những tấm kính thủy tinh to lớn, ánh lên một màu đỏ vàng lấp lánh, rực rỡ như máu.

    Harry bắt đầu toát mồ hôi, cổ áo siết chặt cổ, cậu tháo lỏng nơ ra một tí nhưng vẫn không mở ra hoàn toàn.

    Cậu gọi Alex một tiếng, không ai trả lời, không khí ẩm ướt chặn ngang cổ họng cậu, giọng nói không thể cất lên mắc nghẹn như một miếng bọt biển.

    Ở một góc trồng đầy những chậu cây nhỏ nghe như có động tĩnh, Harry đi về phía bên đó, cậu vô tình đá ngã hai chậu hoa bằng đất sét nên vội vàng khom người đặt bọn chúng lại chỗ cũ.
    "Tớ tìm thấy cậu rồi."
    Harry ngẩng đầu lên, Alex đang cười với cậu, hắn đi ra khỏi giàn hoa trồng đầy hoa lan nhiệt đới, chỉ tay: "Bên này, Harry, cái phòng thủy tinh này nóng như một cái lò lửa vậy."
    Alex đẩy cánh cửa nhỏ thông với vườn hoa ra ngoài, không khí mát mẻ thổi vào trong mặt, đây đúng là một buổi chiều khô ráo thoáng mát.

    Harry băng qua bãi cỏ theo hắn, đi tới đài phun nước.

    Có vẻ đài phun nước đã được trùng tu, những kẽ hở trên đá cẩm thạch được lấp đầy, những vết bẩn màu xám đen bởi vì dãi nắng dầm mưa mà hình thành trên đá cũng đã được rửa sạch, mặc dù vẫn không quá lộng lẫy nhưng ít ra bây giờ Harry có thể phân biệt được thân và vảy cá.

    Nước được phun ra ngoài từ chiếc răng nhọn nhỏ xíu trong miệng cá, chúng chảy vào trong hồ nước trong suốt, trong đó còn có nuôi mấy con cá, chúng nấp dưới bóng râm của đá, miệng hơi mở ra.

    Lúc Alex đưa tay vào trong làn nước, bầy cá nhỏ bơi loạn đi khắp nơi.

    Harry ngồi dọc theo đài phun nước, ngắm nhìn giàn hoa được lấp đầy bởi những bụi hoa hồng ở cách đó không xa, một tấm biển phai màu được treo ở chỗ dễ thấy nhất, trên đó viết "Hoa hồng Blakely", phía dưới được viết thêm một dòng chữ: "Giành giải nhất trong cuộc thi làm vườn ở Cornwall năm 1949."
    "Đó là mẹ cậu, đúng không?" Harry phá vỡ sự yên lặng.
    Alex nhún vai, hắn ngồi trên bãi cỏ, dựa lưng vào tường đá làm bằng cẩm thạch của đài phun nước, lơ đãng dùng áo khoác lau nước trên tay.

    "Ít nhất cũng nên chào hỏi."
    Alex ngửa đầu nhìn Harry: "Cậu nói tới nói lui giống hệt Leila."
    "Còn cậu thì nói tới nói lui giống hệt một cậu bé đang dỗi."
    "Đó là chuyện xấu sao?"
    "Không phải vậy à?"
    "Cậu không thể đẩy ngược lại vấn đề cho tớ, Harry, đó là gian lận." Cơn gió nhẹ thổi lướt qua những giọt nước li ti, Alex tựa đầu vào đài phun nước, nhắm nửa con mắt: "Lần cuối cùng tớ gặp mẹ là khi...!Tớ cũng không biết chuyện ấy đã bao lâu rồi nữa, sáu năm hay bảy năm gì đấy, hơn nữa còn không phải ở đây mà là ở trường.

    Trước dịp lễ Phục sinh, bà ấy đến gặp tớ vào một buổi chiều nọ, bà mang cho tớ một hộp socola.

    Cậu không cảm thấy kỳ lạ sao, lúc mọi người muốn dỗ dành con họ thì họ luôn mang cho chúng đồ ngọt, cứ như làm như vậy là đã có thể lừa chúng rồi ấy.

    Tớ vốn không thích socola, huống chi lúc ấy tớ đã không còn là một đứa trẻ nữa rồi.

    Nếu bà ấy đã không muốn gặp tớ, tớ cũng không cần phải gặp bà ấy."
    Harry không trả lời, cậu không tìm được từ phù hợp.

    Hình như Alex bỗng thấy hứng thú với đám cỏ dại ở cạnh đài phun nước, hắn nắm lấy một cây, cẩn thận nghiên cứu phiến lá và rễ cây của nó.

    Trong vườn hoa rất yên tĩnh, không còn tiếng chim hót, ngay cả tiếng gió thổi cũng đã dừng lại, chỉ còn lại tiếng nước chảy từ đài phun nước.

    Harry trượt xuống bãi cỏ, ngồi chung một chỗ với Alex.
    "Tớ nhớ cậu từng nói với tớ rằng bà ấy ở viện dưỡng bệnh, bệnh phổi gì đó."
    "Tớ chỉ nói lại lời giải thích của George mà thôi.

    Có lẽ tớ vẫn luôn biết rằng đó không phải là sự thật nhưng tớ chưa bao giờ hỏi, tớ không muốn kiểm chứng.

    Cha và mẹ đã ở riêng từ rất lâu trước đó, chỉ là tớ còn quá nhỏ nên không nhớ rõ cuộc cãi vã ấy nhưng George và Leila chắc chắn nhớ, tiếc là họ chưa từng kể với tớ, Martha cũng không." Alex dùng sức ném sợi cỏ dại ở trong tay nhưng loài cây này quá nhẹ nên không thể bay xa, nó chậm rãi rơi xuống ống quần hắn: "Chưa có ai kể chuyện gì với tớ cả."
    Harry vừa định nói gì đó nhưng cậu lập tức thay đổi ý định.

    Một bóng người đang đi loanh quanh trước mái hiên, bà mặc một chiếc tạp dề màu xanh lam quen thuộc - Martha đang tìm cậu út nhà Loiseau và đồng bọn vừa mất tích của hắn.

    Hai người trao đổi ánh mắt với nhau, không thèm để ý đến áo sơ mi và áo vest, hai người nằm nhoài lên bãi cỏ, tránh khỏi tầm mắt của nữ quản gia.

    Hàng rào ở cách đây không xa, khe hở đó vẫn còn nhưng bây giờ nó lại quá nhỏ so với bọn họ.

    Harry và Alex dùng cả tay và chân để leo lên lùm cây bên cạnh, hai người khó khăn chen vào, một cành cây đâm trúng mu bàn tay Harry tạo thành một vết thương, nút cài trên áo khoác của Alex thì bị cành cây móc trúng, Harry vội vàng giúp hắn cởi ra, ngón tay vừa bị gai nhọn cắt trúng lại có thêm một vết thương mới.

    Hai người nhanh chóng vòng qua bãi cát ở chuồng ngựa rồi vọt vào rừng cây rậm rạp, họ nín thở núp trong bụi cây, hòa vào làm một trong bóng tối của cây mây và dây leo.
    Chưa tới ba phút, Martha đã đi vòng qua hàng rào, bà nhìn bãi cát trống rỗng rồi đi vào chuồng ngựa, chốc lát sau đã lại đi ra, bà quét mắt nhìn quanh rừng cây, phủi bụi đang dính trên váy rồi vòng qua lại hàng rào, biến mất không thấy đâu.
    Harry và Alex nhìn nhau, cười rộ nhưng vẫn không dám phát ra âm thanh quá lớn, bọn họ sợ rằng Martha vẫn chưa đi xa.

    Hai người nằm co dưới một bóng cây không hoa không trái, những tán cây đan xen vào nhau hệt như một chiếc dù che mưa đang phủ trên đỉnh đầu.
    "Tớ cũng không biết mình đang sợ cái gì." Harry nhìn ra ngoài từ khe hở giữa cây mây và dây leo, chắc chắn Martha đã đi thật rồi: "Tớ cũng hai mươi hai tuổi rồi nhưng bà ấy vẫn để lại ấn tượng sợ hãi trong lòng tớ như một đứa con nít bảy tuổi."
    "Martha luôn quyền lực như thế, dù có là với ai." Alex cúi đầu nhìn áo khoác của mình, chiếc nút thứ hai đã bị thay thế bởi một vết rách dài bốn tấc: "Đúng là gặp quỷ."
    Harry nhìn vết thương trên mu bàn tay của mình, không quá nghiêm trọng nhưng cậu đã lau máu lên áo sơ mi, giờ đây vết máu đỏ trông vô cùng nổi bật trên nền vải trắng.
    "Thật xin lỗi." Alex nhỏ giọng nói.
    "Có gì đâu mà xin lỗi? Cái này chẳng là gì cả."
    Trong tóc Alex có một chiếc lá nhỏ, chắc là nó đã rơi xuống lúc họ trèo qua hàng rào, Harry vô thức đưa tay phủi chiếc lá xuống giúp hắn.

    Đối phương nhẹ nhàng cầm lấy cổ tay cậu, hắn nghiêng đầu, hôn lên lòng bàn tay.

    Harry hít một hơi thật sâu như vừa bị bỏng nhưng cậu không thể rút tay về được.

    Ngưng đọng như vậy mấy giây mà cứ như nửa thế kỷ, bọn họ nhìn đối phương, không ai nói gì, chỉ chờ đợi.

    Ánh mặt trời nhỏ vụn xuyên qua tán cây rơi lên người họ, đôi mắt xanh đen của Alex phản chiếu màu xanh của tán cây.

    Một chú chim sơn ca hót vang trên cành cây phá vỡ sự yên lặng.

    Alex buông cổ tay Harry, hắn nắm chặt lấy cổ áo cậu, cúi người về trước, hôn môi cậu.

    Harry nâng tay như chuẩn bị sờ má Alex nhưng giữa đường lại thay đổi ý định, tay cậu rơi trên vai hắn, nhẹ nhàng đẩy Alex ra.

    Đối phương kinh ngạc nhìn cậu, vẻ mặt đau lòng như vừa bị phản bội.
    "Alex." Harry mở miệng nhưng lại không biết nên nói thế nào, cậu hàm hồ nói xin lỗi rồi đứng dậy, rời khỏi bụi cây, xuyên qua ánh mặt trời màu đỏ đang thiêu đốt bãi cỏ, cậu đi về phía dinh thự..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 15: Chương 15


    Alex bước vào phòng ăn sau khi bữa tiệc đã bắt đầu, may mà Nam tước vẫn đang nâng ly chúc mừng đôi trẻ, sự chú ý của tất cả mọi người đều đặt trên chính chủ của bữa tiệc.

    Martha nghi ngờ híp mắt nhìn hắn, yên lặng chỉ vào chỗ ngồi mà hắn nên ngồi.

    Alex ngồi đầu bàn dài, Leila ngồi bên phải.

    George và vị hôn thê của anh ngồi bên trái Nam tước, ngoài ra còn có một cặp vợ chồng mà Harry không nhận ra, có lẽ là Tử tước Hartford và phu nhân của ông.

    Harry ngồi ở phía cuối của bàn, cách chỗ ban nhạc không xa, cậu ngồi giữa hai người sĩ quan trẻ tuổi.

    Hai người kia nói mãi về chuyện của người Liên Xô và Berlin, Harry chỉ biết lờ mờ về chuyện này nên không thể chen miệng vào, chỉ có thể lễ phép phụ họa theo, cậu nhâm nhi rượu vang trong ly, lơ đãng ngắm nhìn những bức họa được vẽ trên tường.

    Đây là lần đầu tiên cậu để ý đến những bức tranh và những bức tượng điêu khắc tinh tế được trang trí trong phòng ăn, trong trí nhớ của cậu, căn phòng này luôn được thắp sáng bởi những ánh nến mờ tối, rèm vải bốn góc luôn luôn được kéo kín, tuân thủ nghiêm túc quy định hạn chế đèn đuốc.

    Giờ nhớ lại mới thấy chuyện ấy cứ như đã xảy ra từ thế kỷ trước.
    Harry không ăn bao nhiêu, cậu cũng không nhớ mình đã ăn cái gì, chỉ hy vọng bữa tối mau mau kết thúc.

    Thỉnh thoảng một hai lần, khi Harry vô tình nhìn đến trước bàn dài, cậu bắt gặp Alex cũng đang đúng lúc nhìn cậu nhưng hắn nhanh chóng dời ánh mắt đi, giống như không muốn Harry nhìn thấy.

    Tiếng kêu của chim sơn ca vang vọng trong trí óc cậu, Harry có thể nhớ rõ nhiệt độ nóng bỏng khi môi cậu bị chạm vào, đầu lưỡi của Alex có vị như đường cát, hạnh nhân và rượu vang.

    Mùa đông năm ngoái đã để lại những lớp lá khô kêu vang xào xạc, khoảnh đất mềm xốp xung quanh chỗ trồng cây sung tản mát ra một mùi ẩm ướt nồng nặc.

    "...!Không có hệ thống radar tương tự thì cũng không thể tạo thành mối nguy nào đâu, cậu không nghĩ vậy sao, cậu Prudence?" Người sĩ quan bên cạnh cậu nói, Harry hoàn hồn, cậu thu hồi tầm mắt, đáp lại một câu có lẽ vậy lấy lệ.

    Người phục vụ dọn món tiếp theo lên bàn, thịt cừu sốt nước sốt đậm đặc, cứu Harry ra khỏi đoạn đối thoại nhạt nhẽo.
    Món tráng miệng là panna cotta dâu tây cùng với những lát mơ vàng ươm đã được thái mỏng.

    Ban nhạc bắt đầu biểu diễn những khúc nhạc vui tươi, vài người đàn ông rời chỗ để ra ngoài hành lang hút thuốc, uống một ly whiskey.

    Alex ở lại khoảng mười phút để nói gì đó với phu nhân Hartford, cả hai người đều có vẻ như không muốn để đối phương rời đi.

    Sau đó, người con út của nhà Loiseau nói gì đó rồi đứng dậy, hắn hôn mu bàn tay của phu nhân rồi mở cửa sổ sát đất để ra ngoài vườn hoa.

    Harry gấp khăn ăn lại một nửa rồi đặt cạnh đĩa ăn, đi theo hắn.
    Cậu tìm thấy Alex dưới giàn hoa hồng.

    Trong vườn hoa không có đèn, ánh sáng duy nhất đến từ những ngọn đèn đuốc sáng choang trong phòng ăn nhưng ánh sáng ấy cũng chỉ chiếu sáng được một nửa bãi cỏ cùng những khúc cây, chỗ còn lại dần bị nhấn chìm trong bóng tối.

    Alex châm một điếu thuốc, ánh lửa ngắn ngủi rọi sáng mặt hắn, sau đó chỉ còn là một chấm sáng đỏ nhỏ xíu yếu ớt.

    Hắn đưa thuốc lá cho Harry.
    "Không, cảm ơn."
    "Hình như đây là câu trả lời duy nhất mà tớ có thể nghe cậu nói trong hôm nay: Không, cảm ơn."
    "Thật xin lỗi."
    "Không, đừng nói xin lỗi, Harry, tớ mới là người nên nói xin lỗi.

    Tớ tưởng là..." Hắn không nói hết câu đó mà chỉ rít một hơi thuốc, thở ra.

    Gió nhanh chóng thổi bay mất mùi thuốc.

    "Cậu nói đúng."
    "Phần nào đúng?"
    "Phần Cậu tưởng là." Harry hắng giọng, tim đập quá nhanh, cậu còn có cảm giác là mình sẽ không nói được tiếng nào: "Tớ chỉ không chắc là liệu mình có trở thành một phần trong...!trò chơi của cậu không."
    Alex vứt điếu thuốc, dập tắt: "Trò chơi là ý gì?"
    "Hồi còn ở Oxford, những người bạn nhanh tới nhanh đi của cậu ấy.

    Tớ không giỏi...!Ý tớ là, tớ không muốn trở thành bọn họ, tớ hy vọng tớ có thể mãi mãi ở bên cạnh cậu."
    Một hồi tĩnh lặng, chỉ có tiếng kêu vang của côn trùng lấp đầy.

    Không khí xung quanh bỗng nhiên trở lạnh, có lẽ là do bãi biển cách đây không xa.

    Trên thực tế, mùa hoa hồng đã qua, những đóa hoa còn sót lại cũng đã úa tàn, tản mát ra một mùi hương khiến người ta nhớ tới những chiếc lá héo tàn cùng mùi bùn đất sau cơn mưa.

    Lúc Alex mở miệng, giọng nói của hắn có vẻ run rẩy.
    "Harry, nếu không phải muốn gây chú ý với cậu, cậu cảm thấy mấy tháng qua tớ đang làm cái gì?" Hắn hít một hơi thật sâu, không cho Harry thời gian trả lời: "Bên cạnh đó, cậu quá nhạt nhẽo, không hợp để tham gia trò chơi nào cả."
    "Tớ không biết tớ nên cảm thấy vinh hạnh hay là bị xúc phạm nữa."
    "Cậu nên nói cảm ơn."

    Bọn họ nắm lấy tay đối phương giống như sợ rằng bóng tối sẽ lại âm thầm kéo đến, tách bọn họ ra.

    Harry dè dặt hôn bạn mình, đầu tiên là trán, sau đó là chóp mũi, cuối cùng là đôi môi.

    Bây giờ Alex có vị như thuốc lá và rượu vang trắng.

    Trong bụi cỏ truyền tới tiếng động nhỏ xíu, bọn họ tách nhau ra, thở hổn hển, trốn vào một giàn hoa hồng ở sâu trong bóng tối hơn.

    Tiếng ồn ấy thật ra chỉ là một con chuột hoang, hoặc là thỏ rừng, nó lén chạy thật nhanh dọc theo những bụi hoa.
    "Bây giờ là thời điểm tốt để mời tớ đến phòng ngủ của cậu đấy, cậu Prudence."
    "Cảm ơn đã nhắc nhở."
    Để đến được phía tây của dinh thự, hai người phải đi cả một đoạn đường dài trong vườn hoa tối đen, băng qua một cánh cửa nhỏ thường dành cho người làm đi lại, hai người lặng lẽ đi lên lầu.

    Hành lang lầu hai vừa được lắp đèn tường, tất cả đều được bật sáng nhưng không có một bóng người.

    Tiếng nhạc từ dưới lầu truyền tới, bởi vì cách quá xa, hai người chỉ nghe loáng thoáng giống như đó là ảo giác của việc say rượu.

    Hai người vào phòng của Harry, không cần mở đèn, họ đã lục lọi tháo nơ cài, nút áo của đối phương, đá giày da và quần dài sang một bên.
    Rèm cửa sổ chưa được kéo lại, bóng cây hạt dẻ phản chiếu trên sàn nhà, ánh trăng mờ ảo vừa đủ để phân biệt sắc đậm của ga trải giường cùng với làn da tái nhợt của hai người, bọn họ dùng một khoảng thời gian dài để thăm dò cơ thể của đối phương, bàn tay và đầu lưỡi ấm áp lướt qua từng đường cong phập phồng.

    Khoảnh khắc Harry vùi trong cơ thể hắn, Alex cất một tiếng nghẹn ngào thật thấp, đầu gối hắn kẹp chặt eo Harry, móng tay hắn bấu thành vết máu trên lưng cậu.

    Harry cúi người hôn hắn, để mồ hôi trên trán hai người chạm vào nhau.

    Tiếng nhạc của bữa tiệc lại vang lên lần nữa, hai chiếc violon quấn quýt vào nhau, cùng cất lên một nốt cao rồi lại chầm chậm hạ xuống, dần hòa vào làm một trong âm sắc ôn hòa của tiếng dương cầm.
    Bọn họ không để ý tiếng nhạc đã dừng lại khi nào, chỉ biết sự yên tĩnh sau cùng ấm áp và mềm mại như một chiếc chăn dày.

    Bóng cây hạt dẻ chuyển động theo vầng trăng sáng, phản chiếu trên tấm lưng tr4n trụi của Alex, Harry đưa tay ra, nhẹ nhàng v**t v* bóng cây đang run rẩy.
    "Tớ đã mơ thấy chuyện này." Alex nói.
    "Thật vậy sao?"
    "Đúng vậy, cùng với cậu, ở trong căn phòng này.

    Chẳng qua là trong giấc mơ của tớ, ngoài trời đang mưa, có thể là buổi chiều, cũng có thể là sáng sớm, khó nói lắm."
    "Nghe có vẻ không khó để thực hiện."
    Alex cười rộ, Harry có thể cảm giác được nhịp hô hấp ấm áp đang phả vào cổ cậu.

    "Harry, cậu cũng phải kể cho tớ một giấc mơ khiến cậu khó chịu, vậy mới công bằng."
    "Bình thường tớ không nhớ tớ đã mơ gì."
    "Cậu viện cớ chứ gì."
    Harry nghiêng đầu, cánh môi lướt qua lỗ tai Alex: "Có lần tớ mơ thấy mình đang đứng trong một phòng tranh với đầy những bức tượng bán thân được làm bằng thạch cao."
    "Nghe không khó chịu lắm."
    "Tớ không mặc quần áo gì cả, giống mấy bức tượng kia ấy.

    Một trong những bức tường của phòng tranh đó là cửa sổ, nó hướng thẳng ra ngoài đường phố, tớ muốn chạy trốn nhưng căn phòng ấy lại không hề có cửa."
    "Phòng triển lãm: Ngài Prudence bất hạnh."
    "Phải là Ngài Prudence bối rối tù túng mới đúng."
    "Bởi vì cậu giống như một con hàu."
    Harry không kiềm được cười lên: "Tại sao lại là hàu?"
    Alex thấp giọng trả lời câu gì đó, hắn đã chìm vào giấc ngủ, từ ngữ dính chung một chỗ, không nghe rõ hắn đã nói gì.

    Harry lắng nghe nhịp hô hấp của hắn, qua một hồi lâu mới hôn trán hắn, kéo chăn lên đắp cho cả hai người..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 16: Chương 16


    Hôn lễ diễn ra lúc mười giờ nhưng mới sáng sớm, trong dinh thự đã vang đầy những tiếng bước chân dồn dập cùng những tiếng xì xầm bàn tán.

    Ống nước cũ kỹ ở trên vách tường phát ra tiếng "ồ ồ" chói tai, trên lầu có một người phụ nữ mang giày cao gót đang đi tới đi lui, nghe giống như đang đóng đinh trên sàn gỗ.

    Ánh mặt trời từ bên ngoài rọi thẳng vào phòng qua cánh cửa thủy tinh không được kéo rèm, Alex nhỏ giọng than phiền, trốn vào trong chăn.

    Harry vô thức dùng tay che ánh sáng, định ngủ thêm một lát nữa nhưng bỗng nghĩ tới gì đó, cậu ngồi dậy, nhẹ nhàng đánh thức người đang say ngủ ở bên cạnh.
    "Hôn lễ." Cậu giải thích với Alex đang cau mày, người nọ nháy mắt mấy cái, giống như bị tạt nước lạnh, hắn nhanh chóng bừng tỉnh, bò dậy, nhặt lấy áo sơ mi và quần dài trên sàn nhà rồi vội vã mặc vào nhưng lại không tìm thấy khuy măng-sét* đâu, đành chịu vậy.

    Harry mở cửa, hai người cẩn thận thò đầu ra, xác nhận trong hành lang không có ai.

    Alex hôn môi Harry, ôm áo khoác rồi chạy nhanh về phòng ngủ của mình.
    *khuy măng-sét: là một loại ốc vít trang trí, được dùng để giữ cố định cổ tay áo sơ mi không có khuy mà chỉ có hai cái lỗ khuyết.
    Harry đóng cửa lại, dọn dẹp căn phòng hỗn độn.

    Quần áo để cậu thay không nhiều lắm, chiếc áo sơ mi mặc hôm qua đã hơi nhăn nhưng không quá rõ ràng, có lẽ sẽ không thể nhìn thấy nếu cậu mặc thêm áo vest.

    Lúc cậu đang phân vân giữa hai cái cà vạt, Martha tới gõ cửa, hỏi cậu đã tỉnh chưa, đến phòng hứng nắng để ăn sáng.

    Harry trả lời "Cảm ơn, cháu sẽ tới ngay" qua cánh cửa, chọn chiếc cà vạt có màu sáng hơn.
    Nhà thờ nhỏ bị nổ sập vào mười ba năm trước đã được xây lại, biến thành một tòa nhà thấp lùn tròn vo được xây bằng gạch giống như một chiếc lều vải xập xệ, tuy đã mất đi sự huyền bí cũ kỹ nhưng lại mang theo nhiều vẻ thân thiết gần gũi hơn.

    Chỉ có hai trong số mười bốn chiếc cửa sổ hoa được sửa chữa lại như ban đầu, những mảnh kính của số cửa còn lại đã bị thất lạc, không thể làm gì khác hơn là lắp thành những tấm thủy tinh bình thường.

    Nhà Loiseau và Hartford đương nhiên ngồi ở hàng đầu tiên, Harry tìm thấy một chỗ trống ở hàng ghế thứ năm, bên cạnh là một cặp vợ chồng trung niên xa lạ.

    Nhà thờ nhỏ này đã từng có một chiếc đại phong cầm nhưng khi bị ném bom, nó đã cháy thành than, bây giờ thay vào đó là một chiếc piano dựng đứng được đặt bên trái thánh đường, trông có vẻ xa lạ.

    Nơi này đã trở thành một nhà thờ Tin lành, cây thánh giá mạ vàng được cứu ra từ đống tro tàn năm đó đã ở suốt trong nhà kho của cục cảnh sát, rốt cuộc gần mười năm sau cũng được nhìn thấy mặt trời lần nữa, trở lại với nơi mà nó vốn dĩ thuộc về.
    Khi người nghệ sĩ dương cầm bắt đầu diễn tấu, tất cả mọi người rối rít đứng dậy, họ quay đầu, nhìn Tử tước Hartford dẫn cô dâu đi đến bên cạnh George đang chờ ở thánh đường.

    Harry nhận ra đây là lần đầu tiên cậu nhìn thấy "bà" Loiseau vô cùng thần bí ấy, trông cô cao hơn người cha mập lùn như chuột đồng của mình một cái đầu, khăn voan che mất mặt cô nên không thể nhìn rõ, mái tóc dài màu nâu được búi gọn gàng, giấu sau khăn che đầu.

    Đi bên cạnh cô là một cô bé phù dâu trông có vẻ vô cùng hưng phấn, cô bé nhảy nhót, cầm trong tay một bó hoa to nhìn giống như một quả lựu đạn chuẩn bị được ném lên không trung, lúc đi tới hàng ghế thứ nhất, cô bé vô tình đạp phải đuôi váy, Tử tước bình tĩnh kéo cô bé ra, ngăn không cho mọi chuyện trở nên hỗn loạn.

    Vị mục sư trông có vẻ rất trẻ, nhìn qua còn nhỏ hơn cả George, anh ta hướng dẫn đôi trẻ luống cuống trao đổi lời thề, người dự lễ vỗ tay khi hai người hôn môi, sau đó là một đống nghi thức dài dòng.

    Vì một sơ sót nào đó, trên giá gỗ của Harry không có sách thánh ca, cậu không thể không lúng túng dùng chung một quyển với cặp vợ chồng bên cạnh, vậy mà khúc dương cầm lại cứ thay đổi liên tục, giai điệu của bài hát nghe như muốn tránh né cậu, khiến cậu không thể hát đúng một nốt nào.
    Tiệc rượu ngoài trời sẽ được tổ chức ở bãi cỏ bên ngoài nhà thờ, ngoài đó bày hai cái bàn dài, trên đó trải khăn trải bàn trắng tinh, bốn góc khăn dùng đá đè lên để tránh gió mạnh đột nhiên thổi bay.

    Những ly rượu sóng sánh đã không còn bọt rượu sau khi bị đặt bên ngoài nắng một khoảng thời gian dài, dần trở thành nước đường có pha thêm mùi chanh.

    Bánh ngọt rất ngon nhưng đám ong mật cũng vô cùng thích chúng, chỉ cần không để ý một lát, một đàn ong nho nhỏ sẽ tập trung lại, bay vo ve quanh những tầng bánh thơm ngon.

    Đôi vợ chồng mới cưới đứng chờ dưới ánh mặt trời gắt gao khoảng nửa tiếng để chắc chắn rằng họ đã nói cảm ơn đến tất cả khách mời, sau đó hai người sẽ lên đường đến Southampton để sáng hôm sau lên du thuyền du lịch.

    Họ sẽ đến New York để hưởng tuần trăng mật, đây là sáng kiến của George.
    Khách khứa của hôn lễ lục tục rời đi vào chiều hôm đó, tiếng ồn ào náo nhiệt ở trước dinh thự và ở chỗ đường đá kéo dài một lát rồi cũng nhanh chóng trở lại với sự yên tĩnh thường thấy.

    Đồ trang trí bị tháo xuống, bàn ghế dư thừa bị xếp lại, chất đống vào trong phòng khiêu vũ không sử dụng hồi lâu, che bằng những tấm vải chống bụi.

    Nam tước thì đến London, ông bảo là mình phải đến phòng làm việc của ông Bloomer để "xử lý một ít việc làm ăn".

    Martha cũng đi, mỗi mùa hè bà đều có khoảng một tháng kỳ nghỉ, nghe nói là bà sẽ đến St.

    Agnes để thăm người cô đã lớn tuổi của mình.

    Mọi chuyện còn lại được giao cho đầu bếp và những người hầu gái xử lý, trên dưới căn dinh thự rơi vào trạng thái nghỉ hưu, Harry và Alex trở thành chủ nhân tạm thời của nó, hai người có thể ở chỗ này đến cuối tháng tám mà không bị ai quấy rầy.
    Chỉ cần trời không mưa, hai người sẽ đi bơi sau khi đã ăn trưa, họ thay phiên nhau mang theo một chiếc giỏ dã ngoại được may bằng mây tre bị vứt ở trong góc nhà kho, bên trong chứa một chai rượu - rượu vang đỏ hoặc rượu vang trắng, tùy theo tâm trạng của Alex - hai chiếc ly thủy tinh đế cao, đồ khui rượu, tiểu thuyết, khăn ăn, xúc xích sấy khô đã được thái mỏng, một chén cherry, nếu trong phòng bếp xuất hiện thêm một số món điểm tâm khác, họ cũng sẽ mang theo một ít.

    Để tiện mang theo, hai người quấn khăn tắm ở trên tay cầm của chiếc giỏ dã ngoại.
    Nhiều năm trước, George đã từng ngồi trên sườn núi chỉ từng chiếc máy b** ch**n đ** vừa bay qua cho hai đứa bé trai nhìn, hôm nay, hàng rào được làm bằng kẽm gai ngăn cách bãi cỏ và bãi biển đã bị tháo bỏ, dấu vết còn sót lại chỉ là vài cái cọc gỗ lẻ loi, ngoài ra còn có một tấm biển gỗ bị chìm trong cỏ dại, cảnh báo mọi người rằng trên bãi cát có thể có lựu đạn và mìn còn sót lại, nếu phát hiện ra thì hãy lập tức thông báo cho căn cứ hải quân ở gần đây.

    Harry vô cùng nghi ngờ rằng liệu người nào đó bất hạnh phát hiện ra mìn có còn sống sót để rời khỏi bãi cát hay không.

    Có một lần bọn họ tìm thấy một mảnh bom cùng ngòi nổ đã rỉ sét ở dưới một tảng đá ngầm, có lẽ biển cảnh báo cũng có lý.
    Đó là một mùa hè không lo không nghĩ, ngày dài đằng đẵng, ánh mặt trời sáng chói đốt cháy gáy đầu cùng tấm lưng bọn họ, khiến làn da hai người được phủ thêm một sắc đồng nhẹ nhàng.

    Alex kẹp chai rượu giữa hai tảng đá, để ngâm nó trong làn nước biển, sau khi bơi xong thì quay lại lấy chai rượu đã được ướp lạnh sảng khoái, hắn khoác khăn tắm, sóng vai cùng Harry ngồi phơi nắng trên bãi cát ấm áp, cùng chia sẻ rượu và cherry, hai người ngắm nhìn những chiếc bóng xám xịt của những con tàu dần biến mất sau chỗ giao nhau giữa đường chân trời và mặt biển.

    Chim hải âu thèm thuồng xúc xích xông khói của họ nhưng lại không dám tùy tiện bay tới cướp, chúng chỉ có thể đứng trên những tảng đá ngầm, đến khi mất kiên nhẫn thì giương cánh bay đi.
    Bọn họ không chỉ l4m tình trên bãi cát vắng người một lần, người say nhẹ, họ nương theo tiết tấu của sóng biển.

    Alex cưỡi trên người Harry, hắn vừa bơi xong, tóc vẫn ướt nhẹp, làn da mang theo cái lạnh cùng vị mặn của nước biển.

    Bãi cát sần sùi cọ vào lưng Harry, Alex khom người hôn cậu, th* d*c trên đôi môi ấy, Harry nhẹ nhàng đè gáy hắn, tay còn lại dò tìm chỗ thân mật đang dán chặt vào nhau giữa cơ thể hai người.
    Sóng biển nặng nề vỗ vào bãi đá ngầm, tiếng "ầm" vang dội khắp chốn, bắn lên hàng bọt biển trắng nhỏ, chúng lui xuống rồi lại cuốn lên, nước văng khắp nơi.
    Một cách khác để tiêu phí thời gian chính là Mercury.

    Con ngựa Ả Rập với thân lốm đốm trắng ấy vẫn là con ngựa duy nhất ở trong chuồng ngựa của dinh thự, Phoebe và Apollo không trở về nữa, không ai biết chuyện gì đã xảy ra, ghi chép của lục quân có khi còn thiếu về người, nói chi tới ngựa.

    Mercury tốn khoảng một tuần để làm quen lại với Harry, nó cẩn thận ăn củ cà rốt và miếng táo ở trong tay cậu.

    Không khí trong lành cùng các loại âm thanh của làng quê vẫn khiến Mercury vô cùng hưng phấn, Alex dắt nó, đi song song với Harry dọc theo con đường đất đã bị bao phủ bởi những đám cỏ dại và bụi cây.

    Sườn núi phát hiện ra thi thể của người lính dù vẫn giống hệt như trong trí nhớ của Harry, những cây sồi trên sườn núi dường như đã trở nên lớn hơn, chúng chiếm cứ đỉnh núi, cành lá vươn rộng về bốn phía, che khuất ánh mặt trời, những bụi cây từng phủ đầy dưới những tán cây sồi cũng đã chết khô, chỉ còn lại lẻ tẻ vài cây nấm và rêu.
    Băng qua vùng hoang dã có một tuyến đường sắt vừa được xây, trong thị trấn mọc lên một nhà máy chuyên chế biến hải sản, phần lớn sản phẩm sẽ được đoàn tàu chở về phía tây nam.

    Harry hỏi về người chuyển ray ở Reckenston, Alex nhún vai, nói hắn cũng không biết, chắc ông lão ấy đã qua đời từ lâu, hơn nữa đường ray xe lửa ấy cũng đã bị bỏ hoang, phương tiện quá cũ, không đáng để bỏ tiền sửa chữa lại.

    "Chúng ta đã từng tính đi bộ đến London, em có nhớ không?" Alex nói với Mercury, chú ngựa Ả Rập chuyên chú nhìn hắn, rung lỗ tai: "Cậu Prudence và anh đúng là hai đứa điên, em đã nghĩ như vậy, đúng không?"
    "Nói với em ấy là cậu Prudence không hề quan tâm đến ý kiến của động vật đi."
    "Cậu Prudence chẳng thân thiết gì cả." Alex vỗ vào cổ của Mercury, tháo dây cương: "Em muốn tự mình đi dạo sao, cậu bé ngoan? Đi đi."
    Nếu trời đổ mưa, bọn họ sẽ đi ngủ trưa, cùng nằm chung một chỗ, cùng rúc trong tấm chăn ấm áp, đến tận buổi chiều mới lười biếng thay quần áo chỉnh tề để chạy tới phòng bếp.

    Mấy ngày trước, bọn họ đã chuyển chiếc bàn tròn dùng để uống cà phê cùng với những chiếc ghế mây tre đã lâu không sử dụng ra ngoài phòng hứng nắng, biến nó trở thành một phòng trà nhỏ.

    Cửa sổ hướng ra ngoài sân cỏ bị bao phủ trong màn mưa, mưa này rất khó đoán, có thể dai dẳng suốt một hai ngày, cũng có thể sấm chớp rền vang suốt một hai tiếng rồi lại bỗng nhiên tạnh mưa, khi đó, ánh mặt trời sẽ thiêu đốt những giọt nước còn sót lại trên lá cây thành lớp sương mù ẩm ướt dày đặc.

    Alex cũng chuyển máy đánh chữ trong thư phòng vào phòng hứng nắng, hắn bảo rằng đó là để đánh thư cùng điện báo nhưng trên thực tế lại dùng để sửa truyện ngắn, hắn luôn nhét vào tay Harry một hai đoạn truyện, hỏi ý kiến của cậu.

    Từ những đoạn trích riêng lẻ, đó là một câu chuyện kinh dị, bối cảnh là ở những năm 1870, phiên bản ban đầu miêu tả một thị trấn nhỏ vô cùng âm u quỷ dị, chỉ trong một tuần lễ ngắn ngủi mà có tới mấy người xa lạ đến đây, đầu tiên là một người luật sư thấp bé, sau đó là một người góa phụ giàu có cùng người hầu của bà, tiếp theo là một người Áo ít nói và một vị thẩm phán, bọn họ không hề quen biết nhau nhưng bằng một nguyên nhân khó hiểu nào đó, họ đều mang theo dây thòng lọng và lưới bắt giống như đang chuẩn bị đi săn chó sói.

    Một phiên bản khác mở đầu bằng cảnh hai người đào mộ nhận được một số tiền lớn không rõ lai lịch cùng một bức thư, bức thư nói với họ rằng một chiếc xe ngựa sẽ xuất hiện ở địa điểm xác định vào ngày tháng xác định, bọn họ chỉ cần chở quan tài đến một thị trấn vắng vẻ để mai táng bằng chiếc xe đó là được, tuy nhiên, trước ngày đến thị trấn ấy một đêm, thi thể mà hai người đào mộ nhận được lại không cánh mà bay.
    Càng đọc nhiều bản thảo hơn, Harry càng nhận ra đây không phải là hai phiên bản của cùng một câu chuyện mà rất có thể là hai chương truyện xảy ra song song với nhau nhưng từ đầu đến cuối, cậu vẫn chưa nhìn thấy toàn cảnh của quyển tiểu thuyết này.

    Alex dùng một chiếc bút máy để sửa chữa bản thảo đã được đánh máy, hắn thường gạch bỏ cả một đoạn dài, sau đó dùng những ký hiệu và cách viết tắt mà chỉ hắn mới có thể đọc hiểu để viết ý tưởng mới ở bên cạnh.
    "Chỉ là một sở thích để giết thời gian mà thôi." Mỗi khi Harry hỏi tới, Alex luôn trả lời như vậy: "Không đáng để đọc đâu, Harry, tớ nói thật đó."
    Nhưng khi mùa hè chuẩn bị kết thúc, một bưu kiện nặng trĩu được gửi đến dinh thự, nơi gửi là một khách sạn, người nhận là ông D.

    Peterson.

    "Cần phải phòng ngừa." Alex giải thích, hắn mở bưu kiện, lấy ra một bản thảo được đóng gói chỉnh tề và một bức thư rồi nhanh chóng đọc qua, hắn cười rộ, đưa cho Harry: "Nhìn xem mấy lão học giả bị dọa sợ như thế nào này."
    Đó là một bức thư từ chối gay gắt, chỉ trích tác phẩm "Chống đối chúa cứu thế bẩn thỉu, đê hèn hơn nữa" của "cậu D.

    Peterson", hơn nữa "Vì lo lắng cho chính cậu, cậu này, tôi đề nghị là cậu nên đốt hết những tập bản thảo khó coi ấy đi".

    Harry gấp bức thư, bỏ lại vào trong phong thư: "Cậu viết cái gì đấy?"
    Alex mở bản thảo, tìm trong đó một đoạn rồi chỉ tay cho Harry xem.

    Harry đọc lướt qua, cậu ngẩng đầu, nhìn Alex, người nọ cười lộ ra đôi má lúm đồng tiền với cậu, nhìn giống hệt một chú mèo đang dương dương tự đắc sau khi đã đánh vỡ một chiếc bình hoa.
    "Cái này rất..." Harry chọn lọc từ ngữ thích hợp, đủ để miêu tả những thứ này: "Chân thật."
    "Tưởng tượng xem biểu cảm của những biên tập viên ấy đi, Harry, chắc bọn họ đã bị dọa đến mức phải mời ngay một vị mục sư đến trừ tà cho toàn bộ nhà xuất bản ấy chứ."
    "Cậu gửi bản thảo này đến bao nhiêu nhà xuất bản?"
    "Tất cả.

    Đây là bên duy nhất gửi thư hồi âm cho tớ, có lẽ là để mắng tớ chống đối chúa cứu thế.

    Bọn họ không thể nghĩ xem ở Oxford có bao nhiêu người muốn chống đối chúa cứu thế sao.

    Mặc áo khoác vào đi Harry, chúng ta phải đến bưu điện một chuyến."
    "Đừng nói với tớ là cậu định viết thư hồi âm đấy nhé."
    "Không phải, tớ chuẩn bị gửi Túc trực bên linh cữu dưới một cái tên khác xem họ có đổi ý không."
    "Túc trực bên linh cữu là cái gì?"
    "Chuyện người đào mộ đi chôn thi thể ấy, Harry, cậu đọc qua rồi mà."
    "Cậu nói với tớ là cậu chưa viết xong câu chuyện này mà."
    "Bây giờ viết xong rồi." Alex ném áo khoác cho cậu: "Đừng có lề mề nữa, hôm nay trời đẹp, thích hợp để đi dạo lắm đấy."
    Bọn họ dùng danh nghĩa là "R.

    Bishop" để gửi bản thảo, địa chỉ nhận điền là quán rượu "Puffins and Tridents" ở Oxford.

    Rạp chiếu phim nhỏ trong thị trấn đang chiếu bộ "Gilbert and Sullivan", đối với rất nhiều người ở thị trấn nhỏ ven biển xa xôi này, đây là lần đầu tiên bọn họ được xem phim có màu sắc rực rỡ, rất sinh động, vì vậy mà trong rạp chứa đầy người.

    Harry và Alex mua hai vé xem phim, nhìn kỹ thì đây là suất chiếu cuối cùng trong buổi chiều này, trùng hợp thay, đó cũng là suất chiếu cuối cùng của mùa hè ấy.

    Chờ đến khi bọn họ rời khỏi rạp chiếu phim, lúc lái xe băng qua đồng ruộng, mặt trời ngày tháng tám đã lộ vẻ mệt mỏi, nó rũ thấp trên ngọn cây, nhuộm bãi cỏ và đường đi thành một màu vàng nâu.
    - --
    "Martha trở lại vào cuối tháng tám, chúng tôi cũng phải quay lại Oxford, mọi chuyện vẫn như bình thường.

    Túc trực bên linh cữu quả thật đã được xuất bản, không ai chú ý đến nó, nó chỉ là một quyển tiểu thuyết kinh dị rẻ tiền, kể về một đám người xấu xa theo đuổi một vị Nam tước đáng lẽ ra đã chết trong đầm lầy, vì tiền, vì lòng tham, vì sự không cam lòng, đa số đều lãng quên sau khi đọc quyển sách ấy.

    Ngài R.

    Bishop không tồn tại cũng nhận được một khoản nhuận bút nho nhỏ, có lẽ đã dùng hết để mua thuốc lá."
    "Giống như tất cả những mùa hè khác, mùa hè này đã kết thúc như vậy, chương thứ mười hai của Mùa hè bất tận." Người phóng viên nói, lúc nhìn thấy ánh mắt của ông già, anh nhún vai: "Rất có thể là trừ ngài ra, tôi là người quen thuộc nhất với quyển sách này đấy, ngài Prudence."
    Đối phương cười một tiếng, không trả lời, ông dừng lại trước chỗ giao nhau của bãi cát và con đê dài.

    Một trận sương mù bị gió biển thổi tới, nó thoáng che mất tầm mắt hai người, lại nhanh chóng bị thổi đi, ngọn hải đăng đứng lẳng lặng cuối con đê chắn sóng.
    "Nhìn kìa, cậu Rivers, chúng ta đến rồi.".
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 17: Chương 17


    Ngọn hải đăng là một tòa nhà trống rỗng, bên trong chỉ còn lại cầu thang đá có kèm theo tay vịn, chúng uốn lượn lên trên theo vách tường loang lổ như những cây mây lạnh giá đang cố gắng vươn tới ánh mặt trời xám trắng - trên đỉnh tháp, cái giếng trời như lúc ban đầu đã không còn, thay vào đó là một đống sạt lở nhỏ.

    Từng viên gạch đều đã bị tróc lớp sơn làm lộ ra phần bên trong, trên đó mọc đầy rêu, trông nhạt nhẽo như những chiếc lá đã héo tàn.

    Bao cát được đặt dưới chân cầu thang, qua năm rộng tháng dài, chúng dần bị đè ép đến cứng như đá.

    Một chiếc bánh xe xe đạp nằm lẻ loi dựa vào tường, bên cạnh là một đôi boot da đã bị chuột gặm nát cùng với một cặp mái chèo đang chầm chậm mục rữa.

    Người phóng viên bước qua cặp mái chèo, tiến lại gần bậc thềm đá để quan sát những vết cháy xém cùng những rãnh hình vuông ở trên đó, chắc là chúng được dùng để cố định tay vịn, tay vịn được làm bằng gỗ, có lẽ nó đã bị thiêu cháy vào một trận hỏa hoạn ở năm nào đó.

    Anh xoay người nhìn về phía Prudence: "Chúng ta có đi lên tiếp không?"
    "Tại sao không? Tôi chưa bao giờ bỏ dở việc gì cả."
    Bước đi trong ngọn hải đăng làm phát ra những tiếng vang dồn dập vô cùng k*ch th*ch, tiếng người cũng vậy, vì vậy khi Prudence nói chuyện, từng câu chữ của ông va đập giữa những vách tường hệt như những chùm nho ướt mọng đang va đập trong những chiếc thùng rượu gỗ.

    Người phóng viên cố gắng bước chậm lại để không vượt qua Prudence, đây không phải là một chuyện dễ làm bởi vì ông lão mới đi được ba bốn bước đã phải dừng lại, dựa vào vách tường để lấy hơi.
    "Alex dùng cái tên R.

    Bishop để viết bốn tiểu thuyết giật gân, tất cả đều là truyện ngắn.

    Sau Túc trực bên linh cữu chính là Thư từ bóng tối, Số 11 đường Laken và Bội thu, sau đó hứng thú với chuyện giật gân của cậu ấy biến mất, giống như..." Prudence búng tay: "Ngọn lửa đã tắt, Alex tiện tay vứt đi R.

    Bishop, xoay người tìm cái khác để thử nghiệm.

    Nhà xuất bản đã viết bốn bức thư để hỏi ngài Bishop chuyện gì đã xảy ra, Alex gửi thư hồi âm bảo với họ rằng ngài Bishop đã bất hạnh chết đuối trong lúc đi du lịch ở Andalusia."
    Chết đuối, tiếng vang của ngọn hải đăng lặp lại từ đó, chết đuối.
    "Sau đó ngài ấy viết Con diều của Agnes với bút danh là M.

    Sears, đây là quyển sách đầu tiên lọt vào tầm mắt công chúng của ngài ấy." Người phóng viên nói, anh cũng đã thấy hơi khó thở, hai người vừa mới leo được nửa ngọn hải đăng, đoạn cầu thang xoắn ốc hướng lên và hướng xuống đều kéo dài vô tận như không hề có điểm cuối.

    Tòa tháp mờ tối cùng với ánh mặt trời rọi xuống từ chỗ cao khiến người ta nảy sinh một loại ảo giác rằng họ đang ở dưới một hầm mỏ sâu hoắm, hiện đang cố gắng leo lên dọc theo đường hầm.
    "Cậu có biết là ban đầu, Con diều của Agnes được xuất bản như một quyển sách dành cho trẻ em không?"
    "Tôi biết.

    Đó chính là lý do khiến cho vài nhà bình luận tin rằng Mùa hè bất tận mới là tác phẩm thành công đầu tiên của ngài Loiseau, đối với bọn họ, Con diều không đủ nghiêm túc nhưng tôi vẫn bầu cho Con diều một phiếu.

    Nhớ lại đoạn hồn ma của phi công cùng với Agnes chạy đuổi theo con diều ở nghĩa địa, nếu tôi là một đứa trẻ, chắc tôi sẽ mơ thấy ác mộng cả tuần liền mất."
    "Tôi lại thấy đoạn ấy rất đẹp, cũng rất đau lòng."
    "Đúng thật, nhưng vẫn rất rợn tóc gáy."
    "Bọn họ còn dùng cái tên Sears nữa không? Ý tôi là bản tái bản Con diều của Agnes vào những năm gần đây ấy, tên tác giả trên bìa sách là cái nào?"
    "Đã thống nhất là sẽ dùng Alexander Loiseau.

    Năm ngoái nhà xuất bản Landong đã cho ra mắt box set phiên bản sưu tầm, ngoài Con diều ra thì còn có hai quyển tiểu thuyết miêu tả về cuộc sống hậu chiến tranh, nhà xuất bản cho rằng cùng một bộ sách thì không nên dùng hai cái tên, độc giả sẽ không hiểu, với lại Loiseau vẫn có độ nhận diện cao hơn Sears."
    "Độ nhận diện." Prudence lặp lại danh từ này, lắc đầu: "Ai lại có thể nghĩ tới chứ?"
    Ai lại có thể nghĩ tới chứ? Ngọn hải đăng lặng lẽ học vẹt.
    "Alex không thích cái tên đó lắm."
    "Sears ạ?"
    "Alexander.

    Chưa có ai gọi cậu ấy như vậy cả, cho dù ở những trường hợp quan trọng thì cậu ấy cũng tự xưng là Alex, chữ ký cũng vậy.

    Cậu ấy nói rằng cái tên Alexander ấy quá nặng, nghe giống một bao cát, cậu ấy không thích gánh theo một bao cát như vậy."
    "Giải thích rất thú vị."

    Phía dưới phòng điều khiển đèn chính là phòng ngủ của người gác tháp đã bị bỏ hoang, đó là một gian phòng hình bán nguyệt, cầu thang dẫn l3n đỉnh tháp nằm ngay cạnh chiếc nệm đơn độc.

    Nơi này đã từng có người khác đến thăm, trên tường phủ đầy hình vẽ bậy, hình khiến người ta chú ý nhất chính là hình vẽ một cặp đầu rắn đang nhô lên từ nước biển sôi sùng sục, xung quanh là hàng đống những từ chửi bậy cùng lời đe dọa được viết bằng súng sơn, bởi vì bị sương mù từ biển ăn mòn, màu sơn trở nên cũ kỹ nâu đen như vết máu.

    Một chiếc đèn lồng cũ đang nằm úp trên tấm nệm, bên cạnh là một vài chiếc kim tiêm đã sử dụng cùng những vết cháy do tàn thuốc gây ra.

    Bụi bặm như những lớp tuyết bẩn phủ đầy trên mặt đất, Prudence đạp phải một cuốn lịch cũ đã ướt meo, hình vẽ trên lịch đã không còn thấy rõ, miễn cưỡng lắm mới nhận ra đường nét của cánh buồm, phía dưới là một dòng chữ nguệch ngoạc mờ ảo viết "Hiệp hội thuyền buồm Brittany, 1979".
    Cầu thang được cố định bằng đinh tán, các mối hàn được sơn cẩn thận để tránh bị ăn mòn, nhìn vẫn rất chắc chắn.

    Người phóng viên leo lên trước, sau đó giúp Prudence leo lên sau.

    Cửa sổ thủy tinh trong phòng điều khiển đèn đã không còn bao nhiêu, gió thổi vào từ bốn phía, chuôi đèn trống rỗng nhưng thấu kính to lớn vẫn chưa bị tháo bỏ, nó hướng về mặt biển mênh mông ở phía tây, nhìn xuống từ độ cao này, mặt biển như biến thành một tấm vải có màu xanh của tảo, mỗi một vết nhăn đều trông như được vẽ một cách cẩn thận.
    "Alex có rất nhiều ý tưởng kỳ diệu." Prudence dùng mũi giày để gạt mảnh kính bể ở trên mặt đất sang một bên: "Cậu ấy nói rằng câu chuyện giống như một vi khuẩn gây bệnh, người nghe là những người mang theo mầm bệnh, nhà văn lại là vật chủ dẫn bệnh, câu chuyện thét chói tai trong đầu bọn họ, chúng đòi được biểu đạt ra ngoài, được sao chép, được tiếp tục sống trong một linh hồn khác.

    Vài câu chuyện sẽ bị quên lãng, từ đó sẽ biến mất.

    Vài câu chuyện khác lại tiếp xúc, tranh đấu, dung hợp với nhau, vào một ngày nào đó sẽ sinh ra một mầm bệnh mới, hoặc có thể khiến con người mừng như điên, hoặc có thể thật đáng thương, cũng có thể dọa người hơn, vậy thì nó mới có thể tiếp tục chiếm một chỗ riêng trong trí nhớ của mọi người."
    Người phóng viên đứng lại bên cạnh thấu kính: "Nghe có vẻ kinh dị."
    "Nhưng cậu cũng đồng tình với ví dụ này mà đúng không?"
    "Tôi yêu cái ví dụ này."
    "Tôi đã thấy tận mắt." Prudence bước tới bên cạnh mảnh thủy tinh bể, đôi mắt ngắm nhìn vịnh biển hoang vắng, cân nhắc lựa lời: "Ý tôi là việc này giống như tận mắt nhìn thấy một cây thường xuân lan đầy cả một mặt tường, thời học sinh, Alex và những câu chuyện của cậu ấy vẫn đang kiếm tìm âm thanh và hình thái của riêng mình, vì vậy mà chúng ta mới có một kẻ bề tôi như Peterson, một kẻ mê đắm những câu chuyện kinh dị máu me như Bishop và một Agnes tưởng tượng về con diều màu trắng của mình, Alex đập tan con người của mình, sau đó hợp nhất lại, cuối cùng cho ra đời một Alex mới.

    Cậu ấy rất may mắn, bản thân cậu ấy chính là câu chuyện, mà tôi lại có vinh hạnh được làm vai phụ của cậu ấy.

    Nhưng Harry trong sách cũng không phải là tôi, đó là một bức tượng được Alex tạo thành dựa trên hình mẫu là tôi, cuối cùng thì bức tượng ấy vẫn chỉ thuộc về một mình cậu ấy.

    Bọn họ sẽ mãi mãi sống trên sân khấu, còn tôi và cậu, cậu Rivers, chúng ta ở dưới sân khấu, không bao giờ có thể tồn tại được."
    - --
    "Nếu." Alex bỗng nhiên nói.
    Harry lật một trang sách, chờ hắn nói tiếp.

    Chăn rất ấm áp, cơ thể của Alex cũng vậy.

    Chiếc giường ở căn hộ mới khá lớn, rốt cuộc bọn họ cũng không cần lo lắng xem nửa đêm ai sẽ là người té khỏi chiếc giường đơn nhỏ hẹp ở ký túc xá.

    Hai người đã dọn vào căn hộ ở số 55 đường Juniper sau lễ Giáng sinh, Alex tuyên bố rằng mình đã chịu đủ những chuyện điên cuồng trong năm nhất làm sinh viên, cần một nơi yên tĩnh, Nam tước trả tiền thuê cho hắn, không hỏi chuyện gì cả.

    Chỗ này có hai căn phòng ngủ, phòng thừa kia đương nhiên biến thành một phòng chuyên chứa đồ lặt vặt, phần lớn những thứ lộn xộn trong vali của mình đều bị Harry ném vào bên trong.

    Nếu bị một người khác không rõ nội tình nhìn thấy, hơn phân nửa là họ sẽ cảm thấy nghi ngờ nhưng hai người lại cho rằng không có khả năng nào là sẽ có khách đến thăm trong tương lai gần.
    Gió ngoài trời bỗng trở lớn, những bông tuyết nho nhỏ cũng đã không còn nhỏ, ngoài cửa sổ phát ra tiếng "rắc rắc" nhỏ nhẹ.

    Harry lại lật một trang sách, cậu đọc được hai dòng rồi khép sách lại, nghiêng người sang, nhìn Alex: "Nếu cái gì?"
    "Làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng mình cũng không phải là một nhân vật bị người khác điều khiển chứ?"
    "Đây lại là một trong những lý luận về vi khuẩn gây bệnh của cậu à."
    "Lấy ví dụ là Agnes và hồn ma của Thượng úy đi, bọn họ chắc chắn sẽ không ngờ rằng nhất cử nhất động cùng với mỗi lời nói của mình đều được người ta viết ra sẵn."
    "Alex, bọn họ chắc chắn sẽ không muốn, đó chỉ là tưởng tượng của cậu thôi, với lại ma quỷ cũng không tồn tại."
    "Leila nói rằng chị ấy đã nhìn thấy hồn ma của bà ngồi trước chiếc dương cầm trong phòng ăn."
    "Lúc đó chị ấy mấy tuổi?"
    "Không nhớ nữa, tám tuổi, tớ đoán vậy."
    "Chị ấy chỉ muốn hù dọa cậu thôi."
    "Harry, trí tưởng tượng của cậu còn kém hơn một hòn đá nữa."
    "Giữa hai chúng ta chỉ cần một người có trí tưởng tượng phong phú là được rồi." Harry thở dài, đặt quyển tiểu thuyết lên tủ đầu giường, nằm xuống: "Tớ chỉ có thể chắc chắn rằng không ai có thể điều khiển khiến tớ không ngủ.

    Cậu cũng nên dành ít thời gian ngồi trước máy đánh chữ thôi, dù sao thì cậu cũng viết xong Con diều của Agnes rồi mà."
    "Vẫn còn những câu chuyện khác nữa." Alex leo lên người Harry, hai tay chống trên bờ vai cậu, mắt nhìn xuống cậu: "Tớ là vật chủ của bọn chúng, bọn chúng phải dựa vào máy đánh chữ của tớ thì mới tồn tại được."
    "Ý tưởng lãng mạn đấy, mặc dù nghe cũng hơi đáng sợ."
    Alex cười, cúi đầu hôn môi Harry, Harry giơ tay v**t v* gáy hắn, lục lọi cởi nút áo và quần ngủ của Alex.

    Tiếng chuông cửa lại chọn đúng lúc này để vang lên, hai người giật nảy mình, sau mấy giây trố mắt nhìn nhau, hai người vội vàng bò dậy, mặc thêm áo khoác rồi chạy vào phòng khách.
    Bên ngoài là hai người đàn ông to lớn mặc áo khoác dài, một người đội mũ phớt, người còn lại thì không, trên tóc và bả vai ông ta rơi đầy tuyết.

    Gió rét thổi vào dọc theo cầu thang, Harry không kiềm được run người.

    Vị khách không mời mà đến nhìn bọn họ từ trên xuống dưới, hỏi ai là cậu Loiseau.
    "Là tôi." Alex trả lời: "Có cần tôi nhắc hai vị rằng bây giờ đã hơn mười một giờ rồi không?"
    Người đàn ông đội nón phớt tháo bao tay, móc giấy chứng nhận từ trong túi áo ra rồi giơ lên trước mặt bọn họ: "MI5, tôi tên là Connelly.

    Cậu có quan hệ rất thân thiết với cậu Brandon Morton mà, đúng không cậu Loiseau?"
    "Tôi không biết thân thiết có nghĩa là gì đối với ông, Barry và tôi biết nhau ở trường học."
    Thành viên MI5 không đội mũ tiếp lời: "Chúng tôi cần nói chuyện với cậu một chút, cậu Loiseau, đến văn phòng của chúng tôi để nói."
    Alex kéo chặt áo khoác, hẳn là hắn cũng thấy lạnh nhưng lại không muốn đối phương nhìn ra việc ấy, Harry muốn đưa tay nắm lấy bờ vai hắn nhưng lại không dám làm vậy trước mặt người lạ.
    "Các người không có quyền làm vậy." Harry nói.
    "Đây không phải là bắt giữ, tôi đã nói rồi, chẳng qua là cần phải nói vài chuyện với cậu Loiseau đây thôi.

    Chúng tôi có đầy đủ lý do để nghi ngờ rằng cậu Morton là một tên gián điệp nguy hiểm.

    Vì lý do an toàn, chúng tôi sẽ nói chuyện với những người quen biết với cậu Morton, với lại chúng tôi sẽ rất lịch sự." Người đàn ông đội nón phớt bước lên một bước, bây giờ Harry có thể nhìn thấy đường nét của một khẩu súng được cất sau áo khoác ông ta: "Nếu cậu Loiseau vẫn không đồng ý, chúng tôi chắc chắn sẽ không lịch sự nữa."
    Harry định nói gì đó nhưng Alex đã bắt lấy cùi chõ của cậu, lắc đầu.

    Hai thành viên của MI5 chỉ cho Alex năm phút để thay quần áo, sau đó một trái một phải áp tải hắn xuống lầu, đẩy hắn ngồi vào sau xe hơi.

    Harry đứng bên con đường đã đóng băng nhìn chiếc xe lái đi, hoàn toàn quên mất rằng mình chỉ đang mặc quần áo ngủ..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 18: Chương 18


    Mọi chuyện dần được sáng tỏ vào bốn ngày sau.

    Trong đó cảnh sát có đến một lần, hỏi vài chuyện vô thưởng vô phạt, ghi chép qua loa rồi rời đi.

    Sau đó hai nhân viên trong MI5 lại đến nhà, họ không phải là hai người đã đưa Alex đi, dựa vào trang phục, có thể thấy họ đang giả làm nhân viên văn phòng.

    Bọn họ ngăn Harry đang muốn ra ngoài lại rồi bắt cậu ở trong phòng khách khoảng hai mươi phút để chất vấn về quan hệ giữa cậu và Alex, quan hệ giữa Alex và Barry, rằng hắn đã gia nhập vào tổ chức quân sự nào chưa, có qua lại với ai trong đoàn ngoại giao Liên Xô hay không, có nhận được bức thư nặc danh khả nghi nào không, đại loại là thế.

    Harry chỉ không trả lời, không biết, không để ý rồi hỏi về tung tích của Alex.

    Hai nhân viên giả bộ như không nghe thấy câu hỏi của cậu, họ cất quyển sổ tay, thông báo rằng nếu còn có chuyện gì khác thì bọn họ sẽ quay lại đây.
    Bọn họ không quay lại nữa.

    Hai mươi bốn giờ đã qua nhưng vẫn không có chút tin tức nào về Alex.

    Harry lấy hết dũng khí để gọi điện cho Nam tước, đối phương đã sớm biết về chuyện này, ông đang thỏa hiệp với luật sư của gia đình Bloomer, hy vọng có thể tìm được một sợi dây thừng để giật dây cùng với một thỏa thuận có thể thực hiện được.

    Tuy nhiên MI5 vẫn tỏ thái độ quyết liệt một cách dị thường, họ từ chối thông báo về tung tích của Alex, nói rằng đây không phải là tra hỏi, chẳng qua chỉ là hỗ trợ điều tra, hơn nữa còn bảo rằng "Cậu Loiseau vẫn nhận được sự tiếp đãi phù hợp với thân phận của cậu ấy".

    Harry vô cùng sốt ruột lo lắng lại tìm đến Digby, ôm một tia hy vọng rằng có thể hỏi thăm được tin tức gì đó, thế nhưng con trai của thượng tướng cũng chẳng hay biết gì hơn.

    Từ trong miệng anh ta, Harry biết được James cũng đã bị đưa đi tra hỏi vào hôm trước.

    Rõ ràng là MI5 đã điều tra ra toàn bộ vòng xã giao của Barry, ngoài ra còn nhắm đến cả câu lạc bộ ở Harrow của cậu ta.

    Điều tra viên cũng đã định bắt cả Digby nhưng vì Thượng tướng đã gây áp lực lên các quan chức ở Bộ quốc phòng khiến họ phải tìm đến Bộ ngoại giao, Bộ ngoại giao đã nhờ đến MI6 để cân bằng lại cán cân này, khiến cho MI5 phải từ bỏ, chưa tới mười giờ đã thả anh ta ra.
    "Rốt cuộc Barry đã làm cái gì?" Harry hỏi.
    Tên to con nhíu mày, môi mấp máy trông như anh ta đang nhai vấn đề này, đối với Digby, suy nghĩ vẫn luôn là một chuyện thật khó khăn: "Tôi nghĩ là do quyển tập san kia."
    Quyển tập san tên là "Kèn lệnh", do Barry hợp tác cùng với một người bạn học khoa lịch sử xuất bản, Digby không nhớ rõ tên của người còn lại.

    Phần lớn các bài viết trong "Kèn lệnh" đều do những sinh viên theo chủ nghĩa lý tưởng cực đoan ở Oxford viết nên, ngoài ra còn có những đoạn trích và bài phân tích các bài báo, cuối tập san là thư từ độc giả, đa số đều do công nhân vận chuyển ở các bến tàu, các dây chuyền sản xuất và thợ mộc thất nghiệp viết để tố cáo những tên chủ doanh nghiệp keo kiệt.

    Quyển tập san ấy không được in quá nhiều bản, bình thường cứ cách nửa tháng sẽ tổ chức một cuộc họp quy mô nhỏ để phân phát, phạm vi truyền bá cũng rất có hạn.

    Trong số mới nhất được xuất bản cách đây không lâu, một người tên là "Jacob" - chỉ có "Jacob", không có họ - đã viết một bài báo bàn về hội nghị Berlin, nội dung bài báo vô cùng bình thường, đôi chỗ còn hơi dài dòng nhạt nhẽo nhưng ở cuối bài có một đoạn ví dụ, đại ý chính là bom nổ đã chuẩn bị xong, chỉ chờ châm lửa.
    "Nhưng chẳng phải những người hâm mộ đảng Bolshevik vẫn luôn nói mấy lời như vậy sao?" Harry hỏi: "Đêm tối, Ngọn đuốc, Cờ đỏ, Đốt cháy tất cả, bọn họ chỉ thích mỗi mấy lời này."
    Tuy nhiên trùng hợp thay, Digby lại tiếp tục dùng giọng nói nhàm chán khô khan của anh ta để giải thích, tuần cảnh đã bắt được hai người đàn ông đáng nghi lãng vãng gần Whitehall vào tuần trước, một người là thủy thủ tàu, người còn lại là thợ nề, hai người họ không thể giải thích cho việc tại sao họ lại xuất hiện ở đó vào hơn nửa đêm, càng không thể giải thích tại sao trong túi xách của họ lại có thuốc nổ.

    Hai tên nghi phạm ấy nhanh chóng bị giao cho MI5, MI5 dễ dàng tra ra được những người tổ chức, tham gia và ngày diễn ra các cuộc họp ngầm, thuận lợi tìm ra tập san "Kèn lệnh" và Brandon Morton, tiếp đó thì mò đến vòng xã giao của Morton ở Oxford, trong đó đứng mũi chịu sào chính là Alex, James và Digby.

    "Chuyện này quá hoang đường, Alex không phải là người theo đảng cộng sản."
    "Cậu ta đã tham gia vào những buổi tụ họp nhỏ lén lút của Barry, không phải sao?"
    "Cậu ấy có tham gia vào cuộc tranh luận về Bảo hiểm Y tế Quốc gia thì cũng không có nghĩa là cậu ấy ủng hộ Công Đảng*; cậu ấy có tham gia vào quỹ Caritas cũng không có nghĩa là cậu ấy theo đạo Thiên chúa.

    Chẳng phải cậu cũng biết Alex thích cái gì thì sẽ tham gia vào cái đó một chút sao, cậu ấy chỉ đơn giản là thấy vui mà thôi."
    *Công Đảng: hay Đảng Lao động Anh, đảng chính trị chính của phe cánh tả tại Anh, Scotland và Wales.
    Digby nhún vai: "Thuyết phục tôi thì có ích gì, cậu đi mà nói với MI5 ấy."
    "Vấn đề nằm ở đấy đấy, tôi không có cách nào để tiếp xúc với đám người ở MI5 cả."
    Digby xoay cái cổ to tròn của anh ta, chậm rãi nhìn kỹ xung quanh như một con tê giác: "Bây giờ cậu đang ở cùng với Alex à?"

    Harry ngẩn người, không ngờ đề tài cuộc nói chuyện sẽ bỗng nhiên thay đổi: "Đúng vậy, chúng tôi cùng thuê một căn hộ." Cậu suy nghĩ một lát, bổ sung thêm một câu "Chúng tôi là bạn cùng phòng" không cần thiết chút nào.
    "Các cậu phải cẩn thận đấy."
    "Cậu có ý gì?"
    "Không có ý gì, chỉ là tốt bụng nhắc nhở thế thôi." Digby gác cánh tay tráng kiện của anh ta lên vai Harry khiến cậu có cảm giác như đang gánh một cái gông sắt: "Kiên nhẫn chờ đi, Prudence, thứ cho tôi nói thẳng, cậu không thể giúp được gì đâu.

    Nam tước sẽ biết cách giải quyết chuyện này, nếu ông ta không thể thì còn có George Loiseau."
    Digby buông tay, vỗ gáy Harry một cái rồi rời đi.

    Harry nhìn anh ta đi vòng qua những bãi cỏ hình vuông giữa sân trường rồi biến mất vào bóng tối sau cánh cổng, không thể không thừa nhận nói chuyện với Digby đúng là một quyết định sai lầm.

    Mặc dù con trai của Thượng tướng trông có vẻ là một tên ngu ngốc đần độn nhưng chắc chắn không thể có chuyện như vậy được.
    Harry quay về số 55 trên đường Juniper, chờ đợi.

    Sau khi thất thần dọn dẹp lại một số thứ trong căn hộ vào một buổi chiều không có tiết, cậu ngẩn người nhìn đồng hồ treo trên tường.

    Ngoài đường chỉ cần truyền tới tiếng động cơ xe hơi, cậu sẽ nhảy dựng lên rồi đi đến bên cửa sổ để xem, thế nhưng từ đầu đến cuối vẫn không có chiếc xe nào đỗ lại bên ngoài căn hộ.
    Đến tận một buổi chiều vào thứ sáu, Alex đã mất liên lạc suốt sáu mươi ba giờ.
    Lúc chuông cửa vang lên, Harry đang làm bài tập phiên dịch, bởi vì gấp gáp đứng dậy mà cậu đã đụng phải quyển từ điển Hy Lạp đang đặt mở trên bàn, quyển từ điển gây ra hiệu ứng dây chuyền, khiến cho chồng sách được đặt trên bàn rơi thẳng xuống đất, Harry mệt mỏi nhìn chằm chằm vào những quyển sách, cuối cùng từ bỏ, xuyên qua phòng khách để đi mở cửa.
    Đứng ngoài cửa không phải là người đưa thư, càng không phải là Alex.

    Harry mất tự nhiên hắng giọng, không chắc mình đang mỉm cười hay vẫn đang nghiêm túc, cũng không chắc mình nên xưng hô với đối phương như thế nào mới tính là lễ phép.
    "Chào buổi chiều, George."
    "Chào buổi chiều."
    Con trai trưởng của nhà Loiseau bước vào, gần đây anh đã nuôi râu, cộng thêm việc mặc một chiếc áo khoác dài màu đen được là thẳng khiến anh càng có vẻ nghiêm nghị hơn trước.

    Bây giờ anh đã là Chuẩn tướng* không quân, không còn đóng quân ở Berlin nữa nên anh có thể ở lại London lâu hơn.

    Harry đóng cửa lại, bỗng cảm thấy thật xấu hổ, lần đầu tiên cậu nhận ra phòng khách nhà mình nhỏ hẹp bao nhiêu, khắp nơi toàn là sách và tạp chí, trên tường thì dán bảng tỷ số vào mùa trước của môn bóng gậy và mã cầu, bên cạnh còn có tranh cổ vũ của một vũ nữ nóng bỏng.

    Màu sắc của hai chiếc ghế salon một người không hề giống nhau, hơn nữa trên đó còn để đầy áo khoác, khăn choàng và chai rượu rỗng, không hề có chỗ để ngồi xuống.

    Cửa sổ cũng quá nhỏ, ánh sáng mờ mờ soi rõ những hạt bụi đang bay đầy trong không khí cùng với những cây kim ngân đã héo úa trên bệ cửa sổ.
    *Chuẩn tướng: là quân hàm sĩ quan cấp tướng trong quân đội của một số quốc gia.

    Thông thường cấp hiệu quân hàm này được biểu hiện bằng 1 ngôi sao cấp tướng, được xếp trên cấp Đại tá và dưới cấp Thiếu tướng.

    Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam không có cấp bậc quân hàm này.
    "Ông Bloomer đã cho tôi địa chỉ, tôi đã sớm đoán được Alex sẽ không thích ký túc xá trong trường học." George tháo bao tay, nhét vào túi áo khoác, anh nhìn ghế salon đã bị đặt đầy những món đồ lặt vặt nên tiếp tục đứng: "Hy vọng tôi không làm phiền cậu, cậu Prudence."
    "Không, hoàn toàn không.

    Anh muốn trà hay cà phê?"
    "Không, cảm ơn, tôi sẽ không ở đây lâu." George thong thả đi đến gần giá sách, anh cầm lấy một cái tượng gỗ hình con vẹt, nhìn một chút rồi đặt lại chỗ cũ: "Alex không gây phiền toái gì cho cậu chứ? Trừ chuyện mà em ấy đang vướng phải bây giờ ra."
    "Không có, cậu ấy chỉ..." Harry đi tới trước bàn gỗ, che lại máy đánh chữ cùng với xấp giấy nháp xốc xếch: "Thích tiệc tùng với mọi người, kết bạn khắp nơi, thế nhưng ai mà lại không thích những việc ấy cơ chứ?"
    "Tôi không thích." George trả lời, khi nhìn đến vẻ mặt Harry thì lại cười một tiếng: "Đừng căng thẳng quá, cậu Prudence, tôi chỉ đùa chút thôi.

    Cậu có quen với các bạn của Alex mà, đúng không?"
    "Một số thôi, cậu ấy có nhiều bạn quá."
    "Cậu quen với Brandon Morton chứ?"
    "Đúng vậy.

    Chúng tôi gọi cậu ta là Barry, Alex vẫn thường hay đến câu lạc bộ Harrow cùng với cậu ta.

    Chúng tôi thường tụ họp trong nhà cậu ta, những buổi tụ họp về văn học, mặc dù trên danh nghĩa là vậy nhưng tất cả mọi người đều chỉ nghĩ đến việc uống rượu."

    "Tôi nghe nói cậu Brandon có quen với một đám lưu manh người Liên Xô, hơn nữa Alex còn từng tham dự vào cuộc tranh luận của bọn họ, có người nhận ra em ấy nên đã lén báo cáo với MI5."
    "Ai cơ?"
    "Không biết, báo cáo ẩn danh."
    "Alex chỉ đến đó một hai lần thôi, tôi không biết nhưng tôi dám chắc chắn rằng cậu ấy chỉ đi vì tò mò."
    "Cậu xem này cậu Prudence, hiện tại MI5 đang nghĩ rằng đoàn ngoại giao Liên Xô có nhúng tay vào Kèn lệnh, lợi dụng nó để truyền ám hiệu, điều động những gián điệp nằm vùng ở nước Anh, đây chính là lý do khiến bọn họ không chịu thả em trai tôi ra, cộng thêm việc có lời đồn rằng người Liên Xô đang dụ dỗ những sinh viên trẻ trong trường đi theo con đường phản động khiến việc này ngày càng bất lợi hơn cho em ấy."
    "Chuyện này chỉ là hiểu lầm."
    "Đương nhiên là hiểu lầm, chúng ta sẽ nhanh chóng làm sáng tỏ hiểu lầm này." George nhìn chằm chằm vào Harry, cậu đang đứng đờ người ở nơi đó, hối hận tại sao mình không mặc một chiếc áo sơ mi trông có thể diện hơn: "Còn người bạn đặc biệt nào khác đáng để tôi lưu tâm không, cậu Prudence?"
    "Chắc là không."
    George gật đầu, lấy bao tay từ trong túi áo ra rồi đeo vào: "Để ý Alex thay tôi, được không? Khống chế lòng hiếu kỳ của em ấy lại, có lẽ em ấy sẽ chịu nghe lời cậu.

    So với tôi, cậu trông giống anh em của em ấy hơn."
    Harry không biết nên nói gì, chỉ có thể tỏ ý đồng ý.

    George bắt tay với câu, chúc cậu có một buổi chiều vui vẻ rồi rời khỏi căn hộ.

    Harry dựa vào bàn gỗ, nghe tiếng bước chân xuống lầu, tiếng động cơ xe hơi khởi động đến khi những âm thanh ấy dần đi xa.

    Hồi lâu sau, cậu mới mở đèn bàn lên, đẩy bài tập và từ điển sang một bên rồi nhặt nhạnh những quyển sách rơi đầy dưới đất trong ánh đèn.
    Sáng hôm sau, người đưa thư gửi cho cậu một bức điện báo được dán kín, trên thư đề gửi cho "Ngài M.

    Sears", chắc chắn là có liên quan đến "Con diều của Agnes".

    Harry không mở ra xem, cậu đặt bức điện báo vào trong máy đánh chữ của Alex rồi vội vã ra ngoài, chạy tới hội thảo nghiên cứu thơ Hy Lạp.

    Thế giới vẫn vận hành khi không có Alex, con chó núi Bern bị cột lại ở góc vườn vẫn không ngừng sủa điên cuồng khi nhìn thấy cậu, con đường mòn đi xuyên qua sân cỏ vẫn trơn trượt khó đi như cũ.

    Lò sưởi bằng đồng theo kiểu cũ khiến lớp học nóng bức đến không chịu nổi, tiếng nói chuyện xì xào của mọi người khiến Harry nhức đầu, cậu chen vào một chỗ trống ở gần cửa sổ, dùng hơn nửa buổi sáng để ngắm nhìn cây thanh lương trà bên ngoài, nó đã rụng hết lá, tuyết rơi trên những cành cây tan ra rồi kết lại, tạo thành những hạt băng tỏa ra ánh sáng bóng loáng ẩm ướt dưới ánh nắng muộn..
     
    Mùa Hè Bất Tận Của Ngài Loiseau
    Chương 19: Chương 19


    Alex trở về vào một đêm khuya, một thân một mình.

    Harry tỉnh dậy khi nghe tiếng khóa cửa mở, chờ đến khi Alex đi vào phòng ngủ, cậu đã mở đèn, bước hai bước sang phía bên kia phòng rồi ôm chầm lấy hắn.

    Alex thấp giọng thở dài, hắn dựa vào trong ngực Harry, ôm lấy cổ cậu.

    Harry hôn trán hắn, bàn tay đặt sau gáy nhẹ nhàng v**t v*.

    Không ai nói gì.
    Alex vẫn còn mặc bộ quần áo lúc rời đi, hắn đã không cạo râu suốt mấy ngày liền, ánh mắt giăng đầy tia máu.

    Trong lúc hắn đi rửa mặt, Harry vào phòng bếp pha trà, cậu bỏ vào tách trà nửa lóng rượu Brandy, sau khi nghĩ lại lại cho vào thêm một ít rồi mang đến phòng tắm.
    Nước chảy rào rào tạo thành một tầng hơi nước dày đặc, Alex co mình vào một góc bồn tắm, dưới vòi sen, nước nóng chảy qua bả vai cùng với đường cong ở sống lưng của hắn rồi từ từ chảy xuống đầu gối.

    Harry nhẹ nhàng gọi tên hắn, cậu hơi quỳ xuống bên cạnh bồn tắm, đưa tách trà cho hắn.
    "Cảm ơn." Alex nói bằng giọng khàn khàn, hắn uống một ngụm trà nóng, đôi mắt khép hờ: "Rượu Brandy, tớ yêu cậu."
    "Tớ không chắc người cậu yêu là tớ hay rượu Brandy nữa."
    Alex nghiêng đầu, nở một nụ cười mỉm với cậu, men rượu cùng với nước nóng khiến người hắn hơi đỏ lên: "Trước mắt thì có lẽ là rượu Brandy."
    "Đúng là khiến người ta đau lòng."
    "Cậu có thể đưa xà phòng cho tớ không?"
    Harry nhận lấy tách trà từ tay hắn rồi đặt trên mặt đất, sau đó lấy xà phòng và dao cạo râu, Alex nghe lời ngẩng đầu, để cậu cạo râu giúp hắn.

    Đây vốn là một nhiệm vụ đơn giản, chỉ cần đối phương không nói gì thì sẽ không xảy ra thương tích nào cả, thế nhưng Alex rõ ràng không phải là một người giỏi giữ yên lặng.

    MI5 đã giam lỏng hắn trong một khách sạn tên là "Gloucester" - Harry đã xâu chuỗi lại toàn bộ hình ảnh diễn ra trong năm ngày qua thông qua những lời kể tuy rời rạc nhưng liền mạch của hắn - đó chắc chắn là một căn phòng chuyên dùng để tra hỏi, trên vách tường được bọc thêm đệm, tay nắm trong của cửa bị phá dỡ, không có cửa sổ, không có điện thoại, chỉ có một căn phòng tắm nhỏ hẹp cùng với một cái bồn rửa tay, trong phòng tắm cũng không có cửa sổ nhưng được treo một chiếc khăn lông màu vàng, đương nhiên là cũng không có lưỡi dao cạo râu.

    Mỗi ngày điều tra viên đến hai lần vào buổi sáng và buổi chiều, ít nhất là Alex đoán như vậy, trong phòng không có thứ gì có thể giúp hắn xác định thời gian cả.

    Bọn họ rất lịch sự nhưng cũng rất hùng hổ dọa người, lần nào cũng hỏi câu hỏi y hệt nhau nhằm ép Alex phải khai ra âm mưu đánh bom không thành, một âm mưu mà Alex vốn chưa từng nghe qua.

    Hắn không bị tra tấn nhưng đèn trong phòng chưa bao giờ tắt đã gây cản trở cho việc ngủ của hắn.

    Điều tra viên luôn chọn lúc hắn mệt mỏi nhất để đi vào, bọn họ hỏi hắn có biết tác giả thần bí "Jacob" trong quyển tập san "Kèn lệnh" là ai hay không.

    Alex nhất quyết trả lời không biết nhưng không một ai tin hắn cả.

    Đến tận mấy giờ trước, Connelly, điều tra viên trưởng, bỗng nhiên mở cửa nói rằng hắn có thể đi, ông ta dắt hắn xuống lầu rồi nhét hắn vào trong xe taxi.

    Vào lúc này hắn mới vội vã nhìn thấy tên của khách sạn.
    Harry ngâm dao cạo vào trong nước rồi rửa sạch bọt cạo: "Sau này tránh xa Barry một chút, đừng tham gia vào những hội nhóm nguy hiểm kia nữa."
    "Bọn họ có rất nhiều nhận xét thú vị."
    "Thú vị đến nỗi chọc tới MI5 à? Không nhé, cảm ơn." Harry kéo khăn lông xuống, ngâm vào trong nước nóng để lau mặt cho Alex: "Hôm qua George đã đến đây."
    "Đến đây? Đến căn hộ này của chúng ta sao?"
    "Đúng vậy."
    "Anh ấy muốn làm gì?"
    "Bảo tớ để ý đến cậu, không cho cậu gây phiền phức nữa."
    "Nếu anh ấy tưởng tượng được cậu để ý đến tớ nhiều thế nào..."
    "Nói tới đây, Digby có cảnh cáo chúng ta phải Cẩn thận một chút."
    "Cậu đi gặp Digby khi nào đấy?"
    "Một hai ngày trước, lúc ấy tớ không biết cậu thế nào nên đã tìm đến mọi đường dây tin tức có thể thăm dò được."
    "Nếu có vậy thì cũng không nên tìm Digby chứ."
    "Tớ nghi là cậu ta đã biết."

    "Biết cái gì?"
    "Chúng ta."
    "Cậu ta cũng chẳng làm được gì."
    "Bất kể thế nào, chúng ta cũng nên cẩn thận một chút."
    Alex thở dài, tắt vòi sen, hắn nằm sâu xuống bồn tắm hơn để ngâm bả vai mình trong nước nóng: "Tớ vẫn luôn rất cẩn thận."
    "Cẩn thận hơn bây giờ một chút nữa đi, ít đi tiệc lại, cậu có biết cậu khó chiều đến thế nào sau khi uống say không?"
    "Hai chuyện này có liên quan đến nhau đâu, Harry, cậu lo nhiều quá."
    "Cậu thì lại lo ít quá."
    "Bởi vì có chuyện gì để tớ bận tâm đâu, chuyện lần này chỉ là hiểu lầm."
    Harry còn muốn nói gì đó nhưng đã từ bỏ không nói nữa, cậu đặt khăn lông lên thành bồn tắm, đứng dậy, lúc chuẩn bị rời khỏi phòng tắm, Alex bỗng bắt lấy cổ tay cậu: "Cậu Prudence."
    Harry nhìn hắn: "Chúng ta sẽ lại làm ngập căn hộ này nữa."
    "Tớ không ngại."
    "Tớ lại rất để ý đến chuyện này, tớ mới là người phụ trách việc dọn dẹp."
    Alex không nói gì hừ một tiếng, hắn kéo tay Harry xuống nước, dẫn tay cậu đến g*** h** ch*n: "Tớ chắc chắn là tớ sẽ giúp."
    - ---
    "Như tôi đã nói với cậu từ trước, đối mặt với Alex, sớm muộn gì cậu cũng sẽ thỏa hiệp với cậu ấy." Prudence nói, leo lên ngọn hải đăng đã vượt quá giới hạn của cơ thể ông, trên đường trở về viện điều dưỡng, số lần ông dừng lại nghỉ ngơi rõ ràng nhiều hơn trước: "Cậu ấy không còn đến những cuộc họp của công nhân ở bến tàu nhưng cũng không có nghĩa là cậu ấy từ bỏ cả những hoạt động xã giao khác, Alex vẫn là một gương mặt thân quen của các buổi dạ tiệc và tiệc rượu ở Oxford.

    Về phần Barry, đại sứ Morton đã đoạt lại cậu ta từ trong tay MI5 không lâu sau đó, cậu ta biến mất một khoảng thời gian nhưng cũng nhanh chóng trở lại, trò chuyện vui vẻ trong các buổi tụ họp như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

    Theo phép lịch sự không vạch trần người khác mà chỉ giữ trong lòng, không một ai nhắc đến chuyện cậu ta bị bắt cả.

    Thái độ của mọi người đối với tôi cũng không đổi, trong mắt họ, tôi chính là món đồ chơi cho mèo mới nhất của Alex, họ thắc mắc tại sao tôi có thể chờ ở bên cạnh cậu ấy lâu như vậy nhưng không ai nói cái gì với tôi hết, nếu như nói trong xã hội thượng lưu có ưu điểm gì trong việc giao tiếp thì đó chắc chắn là giữ yên lặng."
    Dấu chân lưu lại trên bãi cát lạnh ngắt đã không còn, người đi bơi cũng không thấy đâu.

    Hai người chậm rãi đi hết quãng đường còn lại, sau khi cọ sạch sẽ bùn cát dính trên đế giày của họ bằng tấm thảm ngoài cửa, họ trở lại phòng tiếp khách ấm áp.

    Lò sưởi sát tường vẫn cháy hừng hực, sau cơn mưa tạnh, ánh mặt trời yếu ớt khiến căn phòng nhỏ này trông thông thoáng hơn.

    Prudence lục lọi trong chiếc rương sắt nhỏ một hồi, ông lấy ra một xấp thư rồi ngồi lại trên ghế bập bênh.
    "Mùa hè năm 1954, cả nhà Loiseau đi nghỉ mát ở vùng núi Tuscan, bọn họ có một căn hộ ở đó.

    Tôi không đi cùng, thứ nhất đương nhiên là vì không thích hợp, tôi không phải là người nhà của cậu ấy.

    Thứ hai, tôi tìm được một công việc bán thời gian viết bài cho một tờ báo để thay cho một tác giả đang nghỉ phép dài hạn, công việc không thú vị lắm, tôi chỉ đi phỏng vấn các chủ vườn, sao chép công thức bí truyền của tổ tiên cho món bánh mì pita thơm ngon, thế nhưng cuối cùng đó vẫn là một công việc thực tập cho nghề phóng viên nên tôi thấy rất vui.

    Có thể tưởng tượng Alex không có chuyện gì để làm ở Italy, bởi vì cậu ấy cứ viết thư cho tôi mãi."
    Prudence rút một lá thư rồi đưa cho người phóng viên.
    "Harry thân mến,
    Tớ không hiểu tại sao cậu cứ nhất quyết ở lại London, London vào mùa hè chính là nơi nhàm chán nhất mà tớ có thể tưởng tượng được, đáng lẽ cậu phải đến đây cùng với tớ, tớ có một trăm lý do để làm chuyện đó xảy ra.

    Harry, ở đây có một cái sân quần vợt bằng đất đỏ cùng với một nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ, cái loại mà có gạch lát đẹp tuyệt vời cùng với giếng trời hình tròn ấy, thử nghĩ xem chúng ta có thể làm gì bên trong nhà tắm ấy.
    Leila và chồng của chị ấy cũng ở đây, bác sĩ có vẻ còn nhàm chán hơn cả cậu, tuy nhiên, may là họ đã hấp dẫn sự chú ý của cha nên kỳ nghỉ của tớ coi như yên tĩnh.

    George không tới, đương nhiên là không, tớ nghe nói anh ấy đã đến Strasbourg cùng với vợ.
    Cuộc sống mỗi ngày của tớ là thế này: Bảy giờ bị một con gà trống điên đánh thức (cần phải nhắc Giovanni giết con chim đáng ghét này mới được, đó là tên của một người làm trung thành của nhà tớ ở Italy, mọi người hay gọi anh ấy là Jodi).

    Tám giờ rưỡi ăn sáng, tớ rất thích món xúc xích ở đây, có lẽ nó chính là thứ duy nhất khiến tớ vui vẻ ở nơi khỉ ho cò gáy thế này.

    Sau bữa sáng chính là khoảng thời gian mà tớ thích nhất trong ngày - đi dạo, thích thứ hai chính là khoảng thời gian khi tớ ngồi dưới cây sung để đọc sách và viết thư, cũng chính là bây giờ đây.

    Cái cây này đã bị sét đánh một lần, nửa thân cây chết, nửa còn lại thì sống, tớ ngồi bên nửa sống, mấy con côn trùng thật ồn ào, thường xuyên rơi vào rượu trái cây của tớ, đúng vậy, Harry, tớ biết cậu muốn nói cái gì, tớ còn có thể tưởng tượng ra dáng vẻ cậu đang nhíu mày nữa.

    Dựa vào triết học Thanh giáo mà cậu đã dạy tớ trước kia, xin hãy thông cảm cho một kẻ đáng thương phải trải qua một mùa hè cô độc ở vùng núi hoang vu, không có rượu, tớ thật sự không biết nên giữ tinh thần mình bình thường bằng cách nào nữa.
    Ở đây còn có một nhà hát đó, cậu có tin được không? Chiều hôm qua tớ có đi xem một vở kịch được diễn bởi dân địa phương, sau khi xem xong thì hoàn toàn không biết bọn họ vừa diễn cái gì, kịch bản có lẽ là do họ viết, chắc là bọn họ đã có một buổi chiều sung sướng lắm, người xem thì không chắc.
    Tớ định viết xong "Anh túc trắng" nhưng đã không thành công, tớ không thể quyết định nhân vật chính sẽ sống hay chết, chết đi luôn luôn là một kết cục tốt hơn nhưng không bao giờ là một quyết định dễ dàng.

    Tớ có đính kèm một đoạn ngắn vào bức thư này đấy, nhớ nói cho tớ biết ý kiến của cậu.
    Tái bút, cảm ơn cậu đã gửi cho tớ công thức làm mứt vào lần trước, mặc dù vô dụng nhưng vẫn cảm ơn cậu.
    Của cậu,
    A ở Cortona (chú thích 1).
    Ngày 11 tháng 7 năm 1954.
    Chiều hôm ấy.
    Ngày mai Jodi mới đến bưu điện trong thị trấn nên tớ lại mở bức thư ra, muốn viết thêm vài dòng.

    Hạn chế lớn nhất của việc viết thư chính là phải giữ gìn nó như một quyển nhật ký, Harry thân mến, tha thứ cho tớ vì đã dùng cách này nhé.

    Hôm nay tớ được người trong thị trấn mời đi thưởng thức dầu ô liu, tớ cảm thấy vị của mỗi loại không khác nhau mấy nhưng dân bản xứ chắc chắn rất coi trọng việc chiết dầu ấy.

    Tớ không biết nói tiếng Italy nên suốt đường đi chỉ cười xòa, Jodi thì bận liếc mắt đưa tình với vợ của chủ vườn, bọn họ tán tỉnh nhau nhiều lắm, không biết sao, có lẽ tớ là người duy nhất để ý đến chuyện này.
    Tớ rất thích con chó ở vườn trái cây, có lẽ chúng ta cũng nên nuôi một con ở đường Juniper nhỉ, hay là nuôi mèo tốt hơn? Cậu thích nuôi con nào hơn? Nhớ viết thư trả lời cho tớ đó.
    A.
    Tiếc làm sao, vẫn bị mắc kẹt ở Cortona."
    Người phóng viên đặt bức thư xuống, lấy mắt kính để lau.
    "Nếu cậu có chuyện muốn hỏi thì cứ hỏi đi." Prudence nói.
    "Hai người trông rất hạnh phúc."
    "Đúng vậy, hai đứa trẻ vô lo vô nghĩ, cùng nhau chìm đắm trong một tình yêu ngọt như mật."
    "Vậy thì bước ngoặt nằm ở đâu?"
    Prudence không suy nghĩ về chuyện này quá lâu, giống như ông đã sớm đoán được câu hỏi này: "Cũng là vào một mùa hè, cậu Rivers ạ.

    Theo tôi nghĩ, điểm bi thương nhất của câu chuyện không nằm ở những tác động từ bên ngoài đã chia rẽ hai nhân vật, bởi vì bọn họ vẫn sẽ yêu nhau.

    Câu chuyện khiến người ta tiếc nuối nhất sẽ luôn diễn ra một cách thầm lặng, bắt nguồn từ những sai lầm của mỗi người.

    Phải đến rất nhiều năm sau khi quay đầu lại, họ mới có thể nghe thấy tiếng sấm, mới nhận ra một hạt mưa đã rơi xuống."
    Chú thích 1: Cortona, một thôn nhỏ ở vùng Tuscany, Italy..
     
    Back
    Top Bottom