Cập nhật mới

Khác Mưa Đỏ

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
400869540-256-k638786.jpg

Mưa Đỏ
Tác giả: peaches_mm
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Mưa Đỏ là tiểu thuyết sử thi mới nhất của nhà văn Chu Lai.

Tiểu thuyết lấy bối cảnh chính là 81 ngày đêm huyết chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè rực lửa năm 1972.

"Đáy sông Thạch Hãn đâu chỉ có "bạn ta nằm" mà còn có cả những đồng loại nhưng không đồng chiến tuyến nằm" - nhà văn Chu Lai chia sẻ tại buổi giao lưu.

Chủ ý của nhà văn khi viết cuốn sách này là muốn trình hiện thêm một tiếng nói quyền lực của văn chương, trong việc lay thức con người nỗ lực phòng tránh chiến tranh cũng như hòa hợp, hòa giải dân tộc, chiến truyến.

"Mưa đỏ" là ký ức lương thiện của một thế hệ "đem thân xơ xác giữ sơn hà", là một tác phẩm ghi dấu sự thành công mới của Chu Lai, chứng tỏ sự trường sức, trường vốn của nhà văn này, khẳng định độ phong nhiêu của đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng.



vietnam​
 
Mưa Đỏ
Phần mở đầu


Hà Nội.

Xanh.

Một màu xanh yên ả nhưng trống trải trong những ngày hòa bình đầu tiên.



Hà Nội đã chớm bước vào hè, trời nín gió nhưng phố phường lại bồi hồi dịu mát như có ngọn gió hanh hao mơ hồ nào thổi dọc theo những hàng cây, mái ngói vào tận mỗi khoảnh sân, góc nhà khiến cho niềm vui bảng lảng, ngây ngất trong ánh mắt người cứ rờ rỡ nhen lên, vỡ ra, lan tỏa, lẫn cả lắng chìm, hụt hẫng.

Dẫu biết rằng cái gì phải đến sẽ đến nhưng khi nó đến sao lòng dạ lại cứ thấy bất chợt ngổn ngang, xốn xang, ngỡ ngàng dường như không phải, không có thật, dường như đang mơ thế này!

Phải chăng chưa có thời khắc linh diệu nào của dân tộc, của một vùng đất lại xen lẫn nhiều tâm trạng trái chiều nhau đến thế?

Bởi có những người cha, người chồng, người con, từ trong rừng xanh đã xiêu vẹo trở về, nhưng cũng còn biết bao người cha, người chồng, người con cho đến giờ phút này vẫn chưa thấy hình bóng và có thể sẽ không bao giờ thấy hình bóng ở nơi đâu.

Nụ cười xen nước mắt, nỗi đau trộn niềm vui, cái sống cái chết, cái thăng hoa điều mất mát cùng lúc òa ập, len lỏi, giằng xé, quẫy đạp trong đáy sâu lòng dạ những con người vừa kiệt sức vặn mình trong chiến cuộc, trong đợi chờ.

Hà Nội hân hoan như sống lại, trẻ lại nhưng Hà Nội cũng lặng thầm xao xác.

Mặt Hồ Gươm sáng nay xanh hơn nhưng cũng dường như man mác buồn hơn.



Giữa cái đan xen, ngào trộn ấy, vẫn có một nơi mà ở đó con người đang tìm về cõi tĩnh để được nghe, được thả hồn, được giãi bày, được lắng kết, được vơi nhẹ phần nào cái tâm trạng không mấy nhẹ nhàng của mình trong một không gian kiến trúc thâm nghiêm, cổ kính có từ đầu thế kỷ 20 do người Pháp để lại.

Không gian Nhà hát Lớn.

Trong ánh sáng mờ ảo thấp thoáng chút cô tịch thần thánh, một bản giao hưởng hợp xướng sâu thẳm đang vang lên vỗ ào ạt vào khắp bốn bức tường mang màu hồng nhạt.

Bản nhạc như một âm hưởng thao thiết chạy suốt chiều dài cuộc chiến, làm thức dậy trong lòng người những cảm xúc bồi hồi khác lạ.

Cả khán phòng im phắc với những đôi mắt nhìn lên đắm chìm như thấm từng nốt nhạc.

Đó là những giai điệu về chiến tranh, về khát vọng yên hàn, về sự mất mát và lòng kiêu hãnh, về tình yêu và chia ly, về cái lãng mạn và điều trần trụi, về cái nhất thời và cái vĩnh cửu của cuộc đời... về tất cả.

Nét nhạc bùng lên lúc cuồn cuộn lúc sâu lắng, lúc trải ra lúc nén lại, khi vỡ nổ khi trở trăn, chân thật, gợi mở, mãnh liệt đến khốn cùng, khi lại như tiếng gọi thì thầm đưa con người trở về với những khoảng tối của rừng, khiến cho không ít người đã không kìm được những giọt nước mắt cứ chực trào ra nơi bờ mi.

Trong đó, ở hàng ghế giữa, nhòa chìm trong bóng tối huyền ảo là khuôn mặt thanh thoát, phúc hậu của một người đàn bà ngoài năm mươi tuổi.

Bà không khóc nhưng đôi mắt mù mịt, trống rỗng của bà đang nhìn lên kia còn đau hơn là khóc.

Cô gái mặc áo bà ba, quấn khăn rằn khá xinh đẹp, một vẻ đẹp mộc mạc mặn mòi đặc trưng cho nét đẹp nắng gió của con gái miền Trung ngồi bên cạnh thỉnh thoảng lại đưa tay sang nắm lấy tay bà, siết nhẹ.

Bà để yên, khẽ mỉm cười, một cái cười trống trải, vô hồn, héo hắt...

Trên kia, dưới ngón tay của những nhạc công tài hoa và của vị nhạc trưởng đứng tuổi, gầy gò, nét nhạc từ từ rơi vào khoảng lặng rồi bất thần vươn tới cao trào như một tiếng kêu kiêu hãnh và bi thiết của định mệnh.

Bản nhạc dừng lại kết thúc chương Một trong tiếng Saxophone trầm khàn, ánh ỏi ngân lên lần cuối.

Cả nhà hát lắng đi giây lát trước khi bật vang lên những tràng vỗ tay không ngớt, kéo dài.

Để chuyển tiếp sang chương kế tiếp, từ trong cánh gà, một người đàn ông tóc bạc bước ra, giọng ông trầm ấm nhưng không giấu được chút nghẹn ngào cố nén phát ra từ lồng ngực:

- Thưa tất cả các quý vị và các bạn!

Bản giao hưởng hợp xướng mà các quý vị được nghe phần một vừa rồi là tác phẩm đầu tay nhưng cũng là tác phẩm cuối cùng của một nhạc sĩ tài hoa.

Bởi vì trước, trong và sau bản nhạc này, anh đã chiến đấu và ngã xuống như một người lính dũng cảm trên chiến trường Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Bản nhạc này anh viết tặng mẹ và lúc này đây, người mẹ ấy đang ở đâu, làm gì, rất tiếc là chúng tôi chưa bắt liên lạc được.

Bàn tay cô gái lại nắm chặt lấy tay người đàn bà.

Toàn thân bà rung lên nhưng khuôn mặt lại cúi xuống như để che đi, giấu đi sự hiện diện của mình.

Bản nhạc lại tiếp tục, trầm hùng, bi tráng, da diết hơn với những giai điệu dồn dập, xoáy buốt, nóng rẫy như có lửa cháy phần phật bên trong.

Đôi mắt người đàn bà nhìn lên, mở to, mở to nữa rồi từ trong đôi mắt ấy, như có một tiếng nổ khủng khiếp xé toạc không gian.

Sân khấu biến mất, dàn nhạc biến mất, cả khán phòng cũng biến mất.

Trước mắt bà chỉ còn là bom đạn mù mịt, lửa khói cuộn sôi, gạch đá và cả những thân xác cũng văng lên, hạ xuống...

Rồi một bức tường thành hiện ra lở loét, trắng xác, nát vụn như một bộ xương hóa thạch méo xếch và từ trên cao, bầu trời bỗng nổi cơn sấm chớp thịnh nộ, soi nhấp nhóa xuống dòng sông chạy cạnh khu thành đang dâng nước réo gào như có trận đại hồng thủy kinh hoàng từ thế giới hồng hoang ngàn xưa tràn về.

Nước dâng ngang trời, nước ngập kín đất, nước đỏ bầm màu máu.

Mưa xối xả, những giọt mưa cũng mang màu máu...

Đôi vai mảnh của người đàn bà co rút lại, mắt nhắm chặt, hai tay ôm cứng lấy đầu, toàn thân rung lên như đang vào cơn sốt rét ác tính.

"Má ơi!"...

Cô gái khẽ kêu lên một tiếng rứt ruột rồi ôm chặt lấy bà, ép sát tấm thân bà vào ngực mình như chở che, như an ủi.

Người đàn bà dần hồi tỉnh, mồ hôi vã ra, khẽ nở một nụ cười mộng mị, lúc ấy mới để mặc cho những giọt nước mắt khe khẽ chảy ra...
 
Mưa Đỏ
Chương 1


Hà Nội chiều cuối đông.

Gió lạnh hun hút thổi dọc những phố vắng.

Lá rụng cô đơn xuống vỉa hè.

Chiến tranh mới đi qua, cuộc chiến tranh phá hoại khác có thể ghê gớm hơn lại đang rình rập tìm đến.

Hà Nội gượng nhẹ trong những bước chân đi, trong từng hơi thở, trong mỗi mắt nhìn, lo âu và chờ đợi.

Nhưng nhịp điệu Hà Nội, con người Hà Nội, cảnh sống Hà Nội vẫn diễn ra bình thản, tự tin như hàng ngàn năm qua vẫn tự tin, trầm mặc trước mọi can qua, thăng trầm giông bão như thế.

Chiều nay võ đường mang tên Vovinam vẫn có khá đông các võ sinh cả nam lẫn nữ đến miệt mài tập luyện.

Những tấm thân trẻ trung căng rướn, những động tác đầy tràn sức lực, những giọt mồ hôi lấm tấm trên mặt, trên lưng.

Đặng Cường, một thanh niên có vóc người cao ráo, nét mặt khôi ngô, cương nghị, ở trần, quần dài, để lộ những cơ thịt rắn đanh, xoắn bện nhưng đôi mắt lại thoang thoảng mang cái buồn bâng quơ của một tâm hồn đa cảm đang một mình thi đấu với bốn chàng trai khác theo thế võ cổ truyền quen thuộc.

Đòn chân đòn tay từ anh bay ra dứt khoát, biến ảo, mạnh mẽ nhưng có độ dừng đủ để bốn chàng trai phía trước không làm sao tiếp cận được.

Rồi lựa lúc họ sơ hở, anh quét mạnh một đường chân sát đất khiến cả bốn đều mất thế trụ, đổ rạp xuống.

Có một tiếng vỗ tay rất hồn nhiên của một nữ võ sinh đứng xem vang lên.

Anh mỉm cười tiến đến đỡ từng người dậy.

Riêng người thứ tư, một thanh niên vâm vam, thấp đậm, tóc húi cua, bắn cái nhìn hậm hực về phía cô gái vừa vỗ tay là tự đứng lên cùng với một câu nói vừa đủ nghe:

- Cậu vẫn thích cái trò đánh lén ấy lắm nhỉ?

Xoàng!

Tôi muốn mời cậu một lần nào đó chơi trực điện bằng quyền Anh, thế nó chính nhân quân tử hơn.

Cường cười thật hiền:

- Nếu có dịp, nhưng mình e muộn mất rồi!

- Muộn hay sợ?

Vẫn cái cười không thể hiền hơn:

- Có lẽ cả hai.

Rồi anh quay qua phía ông thầy tóc để búi tó và các môn sinh đang đứng trước mặt, khoanh hai tay đặt lên ngang mắt nói một câu như đã được chuẩn bị sẵn:

- Thưa thầy!

Tuần sau con có việc phải đi xa, xa lắm, chưa biết khi nào về, nên hôm nay con xin được bái biệt thầy và các bạn đồng môn, xin hẹn ngày trở lại.

Vẫn hồn nhiên, cô gái nhảy lên vỗ tay lúc nãy buột miệng như mếu:

- Anh Cường... anh đi đâu?

Cường:

- Tôi đi đến cái nơi mà thằng con trai nào lúc này cũng nên đến!

Ông thầy võ đi đến, ôm chặt anh vào lòng:

- Thầy hiểu.

Nếu thầy còn trẻ thì thầy cũng sẽ đi như con.

Cái dân mình nó thế.

Nào, thôi, đừng bịn rịn nữa, ta làm một đường quyền để tiễn một cánh chim sắp bay về vùng bão gió cái nào, các con!

Cường, con cũng đứng vào hàng đi!

Tất cả đứng thành ba hàng ngang rồi cùng với tiếng hô dõng dạc của ông thầy, thân thể họ bay lên, sà xuống, liên hoàn tung ra những đường quyền mãnh liệt, chỉ nghe có tiếng gió thổi ràn rạt trong phòng...

Bài quyền mang sắc thái trượng phu ly biệt này sẽ còn đi hết phần cao trào nếu như con mắt sáng rực của Cường không vấp phải một con mắt khác vừa xuất hiện ngoài cửa.

Con mắt của một cô gái đẹp, cái vẻ đẹp lãng mạn, thanh thoát điển hình của thiếu nữ Hà thành, vận bộ đồ đen sang trọng đang lặng hướng về phía anh.

Anh dừng lại, cúi đầu xin phép tất cả rồi khoác áo đi ra.

Đôi mắt to tròn của cô gái vỗ tay lúc nãy nhìn theo anh thoáng một chút tần ngần, ngơ ngác...



Chiều đông ở đâu cũng buồn, chiều đông Hà Nội với những con phố hun hút gió dường như càng buồn hơn.

Họ đèo nhau trên chiếc xe đạp, đạp chầm chậm trên đường Hoàng Hoa Thám, đi qua khu Bách Thảo.

Khẽ nhìn vào bên trong, nơi chỉ thấy um tùm cây lá và mặt nước màu chì, Cường mỉm cười:

- Thanh biết không?

Hồi học cấp ba anh sống già lắm nhé, mẹ anh bảo anh như ông cụ non!

Mới tí tuổi mà chiều đông nào anh cũng tìm đến đây vào cái giờ mà các đội tự vệ vừa kịp về và các đôi tình nhân chưa kịp ra để được một mình độc quyền thiên nhiên và nghĩ về cái chân lý bất di bất dịch của kiếp người.

- Già thật!

Cũng giống như mẹ anh bảo cậu con của mình hay chọn lúc mưa to gió lớn một mình khoác áo mưa đi bộ qua cầu Long Biên để cũng được độc quyền vũ trụ?

- Có khác một chút, ở đây anh thường chọn một gốc si già nhất, uống một chén rượu nhạt nhất để được nghe cái âm thanh hoang vắng đến tột cùng nó vỡ ra trong đầu mình.

- Hoang vắng mà cũng có âm thanh hả anh?

- Đó là một thứ âm thanh chìm, phải thật nhập tâm mới nghe thấy, nó còn xôn xao hơn mọi thứ âm thanh nổi khác.

Cô gái im lặng.

Cường khẽ nhìn sang...

- Có chuyện gì phải không em?...

Vốn không thích cánh đàn ông cơ bắp, đã có khi nào em đến tận lò võ tìm anh?

Cô vẫn im lặng, mắt hướng về phía trước như chứa cả cái u hoài của một chiều giá lạnh.

- Em có đói không?

Anh hỏi và cô khẽ gật đầu.

Họ rẽ vào một cửa hàng mậu dịch vắng tanh ở cạnh đường với những chiếc bàn nhôm lạnh lẽo, cáu bẩn gọi hai tô mì.

Chị bán hàng nét mặt càu cạu đặt cộp hai tô lõng bõng nước trước mặt họ, nói trả tiền trước.

Thanh sầm mặt định phản ứng nhưng Cường gạt đi:

- Anh muốn buổi chiều cuối cùng không có va chạm để mai lên đường cho thanh thản.

Nhìn hai tô mì trong leo lẻo như mắt ma, không hành không răm không cả thịt, mặn chát, Cường bật cười:

- Đây gọi là tô mì không người lái hả em?

Rồi họ ăn.

Thanh khêu từng sợi nhai uể oải, thỉnh thoảng lại lơ đãng nhìn qua khung cửa sổ ra mặt đường đã có chiều thưa vắng người qua lại.

Còn Cường lại hồn nhiên húp sùm sụp vèo cái là hết.

Anh nhìn lên cười để lộ hàm răng trắng đều và đẹp:

- Giờ mới thấm câu: đói tức là ngon, yêu tức là đẹp.

Thanh này, có lẽ đây sẽ là hai tô mì ngon nhất trong cuộc đời ẩm thực của anh vì được ăn bên cạnh em, ăn trước lúc đi xa, ăn trong chiều chiến tranh.

Cô nhìn anh, khẽ mỉm cười bâng quơ không trả lời.

Đâu đó, chả biết có đỡ đói không, họ mỗi người làm một bụng nước chè loãng được vặn ra từ chiếc thùng nhôm to tướng rồi lại đi tiếp.

Họ đi theo con đường hoa Nhật Tân ra phía bờ sông.

Cánh đồng hoa Hà Nội mùa này chưa có hoa nhưng chắc chỉ hơn tháng nữa thôi là các nụ đào, nụ quất sẽ tưng bừng khoe sắc để chuẩn bị cho một cái Tết Nguyên Đán đang náo nức đến gần.

Bờ sông Hồng những năm tháng này còn nguyên vẻ hoang sơ, quạnh quẽ như hàng ngàn năm qua nó vẫn cứ quạnh quẽ, hoang sơ một màu nguyên thủy như vậy.

Những bãi mía, nương ngô, vườn dâu đang kỳ thay lá trải ra màu xanh dài tít tắp.

Một cánh buồm trôi giữa đôi bờ như một chấm nâu bay về vô định.

Xa lắm, sát mép nước là sự chuyển động nhỏ nhoi của một cái chấm khác, cái chấm mang dáng hình một người đàn bà tần tảo, âm thầm đi trên cát với gánh cỏ trên vai.

Rồi chỉ một tích tắc sau, cả dòng sông, cánh buồm, gánh cỏ mờ dần, nhòa trong hoàng hôn ít nắng nhưng lại có rất nhiều gió.

Ngồi đằng sau, Thanh chợt khẽ giật áo anh.

Con gái Hà Nội hay thật, động tí là giật áo, nói cũng giật, hỏi cũng giật, không nói không hỏi cũng giật cứ như thể không giật như vậy thì cái vật thể đàn ông ngồi phía trước kia sẽ biến mất.

Cường nghĩ vui và dừng xe lại:

- Cái gì em?

Thanh rụt rè:

- Anh ở trên này trông xe, em xuống dưới kia em đi...

ấy một cái!

Tại... uống nhiều nước quá!

Thì ra là vậy.

Cường cười và bóp nhẹ phanh.

Đi...

ấy một cái!

Biết đến bao giờ anh mới lại được nghe cái động từ nhõng nhẽo, đa chiều đa nghĩa ắp đầy nữ tính đó.

Ấy...

Anh biết rằng rồi đây, trong những cánh rừng xa ngái, anh sẽ đem theo cái từ này vào hành trang như một giọt ngọt ngào, tinh khiết.

Trong khi cô gái xiêu xiêu bước xuống chân đê, lần tìm vào sau một bụi chuối rậm rạp, anh con trai đủ ý tứ để đứng quay mặt về phía sông, nhìn xa xăm sang phía bờ bên kia, nơi những tia hoàng hôn hình nan quạt đang hắt lên bầu trời lần cuối cùng rồi đi vào lịm tắt, chạng chân, khẽ phanh ngực áo như một hiệp sĩ thánh chiến sẵn sàng lấy máu của mình để bảo vệ cho cái đẹp đang...

ấy ở dưới kia.

Và anh sẽ cứ đứng như thế nếu lát sau cô gái không bật lên một tiếng cười khúc khích ngay phía sau lưng:

- Anh làm cái gì mà như sắp sửa đánh nhau với Diêm Vương, Hà Bá thế?

Xong rồi!

Họ đi thêm một đoạn nữa, đến một chỗ thoáng nhất, có vạt cỏ mịn nhất, ngồi xuống.

Gió thổi mạnh.

Tóc cô gái bay dạt về phía sau để lộ một khuôn mặt nhìn nghiêng được cảnh bãi bờ sông nước phiêu linh ướp vào làm sáng bừng lên tất cả cái vẻ đẹp nữ tính dịu dàng, thoáng kiêu sa.

Vẻ đẹp ấy đã khiến người con trai bất giác đặt tay lên bờ vai mảnh tròn của cô kéo khẽ vào lòng mình.

Cô gái để im, khẽ nhắm mắt lại...

- Tóc em thơm quá!

Mẹ anh bảo, con gái mà biết gội đầu với lá chanh là sau này chăm chồng chăm con mát tay lắm.

Cô gái không trả lời, chỉ khẽ rùng mình một cái rồi lặng thả tầm mắt sang tận bên kia sông như đang có sương khói vấn vương mà ảo.

Người con trai nhìn sâu vào đôi mắt vời vợi đó, khẽ hỏi lại cái câu hỏi trên đường chưa được trả lời:

- Thanh...

Hôm nay em lạ lắm!

Nói với anh đi, có chuyện gì phải không?

Một tiếng thở dài thật nhẹ như tiếng gió thổi hắt lên từ mặt nước:

- Thế là mai anh đi rồi!

- Anh đi rồi anh sẽ về.

Cô gái quay hẳn mặt lại nhìn thẳng vào mắt anh:

- Nhưng có nhất thiết cứ phải như vậy không?

Có nhất thiết cứ phải dứt bỏ hết thảy khi anh không cần phải dứt bỏ, không ai bắt đứa con duy nhất của một liệt sĩ phải đi cả, trong khi Nhạc viện Tchaikovsky, một học viện danh giá bao nhiêu người mơ ước mà không được đang chờ anh ở bên kia và cũng chỉ còn không đầy một năm nữa là anh sẽ tốt nghiệp Nhạc viện bên này?

- Mẹ anh cũng nói như em và nhiều thầy cô, bạn bè cũng nói như em nhưng anh nghĩ cái sự học là cả đời, học lúc nào cũng được, còn có nhiều dịp để học, lúc này cả nước theo lệnh tổng động viên ra đi hết, mình ở lại không đành.

Và kể cả em nữa, anh ở lại có thể em sẽ vui hơn, hạnh phúc hơn, nhưng rồi biết đâu ánh mắt em nhìn anh mỗi sáng ra sẽ lùn đi, sẽ thấp xuống như anh có điều gì không phải với cuộc đời, đúng không?

Cô gái không trả lời, chỉ khẽ sầm mặt lại, cúi xuống nhặt nhặt những nhánh cỏ lông gà găm ở gấu quần mình rồi thả ra cho gió cuốn đi.

- Thỉnh thoảng em đến chơi cho mẹ đỡ buồn.

Anh... thương mẹ lắm!

Bất ngờ cô bật trở lại:

- Anh thương mẹ nhưng anh có thương thân anh, có thương em không?

- Chính vì thương, rất thương nên anh mới phải đi.

- Người ta bảo anh gàn, anh chơi trội, anh thích biểu diễn lòng yêu nước, biểu diễn chí nam nhi... em không tin nhưng bây giờ thì...

- Em tin, đúng không?

Thôi thì tùy em, mỗi người mỗi quan niệm, mỗi cách sống.

Cách sống của anh không phải do anh chọn mà hình như lịch sử nước mình, con người nước mình nó thế, có muốn làm khác cũng không được.

Hơn thế, bạn bè đi cả rồi, đi đến vắng lặng cả đường phố, mình ở lại mãi sao được.

Cô không nói nữa, im lặng thả ánh mắt trống trải vào mênh mông...

Gió vẫn thổi.

Mặt sông vẫn xao xác.

Bóng chiều đang chuyển sang màu sẫm.

Cô gái khẽ rùng mình.

Nhận thấy điều đó, anh nhẹ cởi tấm áo gió trên người khoác cho cô.

Cô để yên, hơi thu nhỏ thân mình lại, bé bỏng, tội tình.

Lát sau, như để phá cái không khí nặng nề không cần thiết đang phủ xuống tâm trạng của họ, anh mỉm cười:

- Đêm qua anh đã viết xong cái ca khúc mà anh đã hứa dành tặng cho em, giờ anh hát cho em nghe, mình em thôi, nhé!

Cô gái không trả lời.

Anh siết cô chặt thêm vào người rồi nhẹ cất tiếng hát.

Giọng hát người con trai không thật hay, thậm chí còn hơi khàn rè nhưng thật nồng nàn, nóng ấm mà mỗi từ, mỗi nốt thả xuống dường như đều được chiết ra từ gan ruột, từ nỗi niềm sâu xa, chân thật nhất như một lời tâm sự lúc chia xa.

Giọng anh hòa vào bóng tối, vào gió lạnh, vào hương phù sa nồng ngái từ lòng sông phả lên.

"Anh yêu em như anh yêu Hà Nội...

Anh nhớ em như nhớ về một mái ngói xô nghiêng...

Hà Nội xô nghiêng...

Sông Hồng chảy nghiêng...

Dáng mẹ nằm nghiêng...

Đất nước nằm nghiêng nhìn những đứa con ra trận...

Heo may lá rụng, hương cốm đầu mùa ướp vào mỗi bước chân đi, ướp vào môi người lính như nụ hôn của em, vội vàng, cuống quýt.

Em, mênh mang biển trời, mênh mang Hồng Hà, mênh mang Trường Sơn, mênh mang em..."

Có một giọt nước mắt rơi ra, lăn nhẹ trên má cô khiến anh chợt dừng lại.

Anh dịu dàng ghé môi hôn khô giọt nước mắt ấy rồi khẽ chuyển nụ hôn vào đôi môi giá lạnh hơi hé mở kia.

Một làn hơi thơm thoảng như ngọn lúa làm đòng tràn vào thân thể anh, nồng ấm.

Lại một giọt nước mắt nữa lăn xuống, thấm vào môi anh, chảy sâu vào trong anh, ngọt ngào và mặn chát.

- Cám ơn em!

Chỉ thế thôi cũng là đủ để anh cất giữ vào hành trang như một điểm tựa tinh thần, một giá đỡ tâm linh trong những ngày xa cách.

Đến đây thì cô gái bật khóc.

Anh để nguyên cho cô khóc, nghĩ rằng sau khóc chắc chắn sẽ là một câu nói anh đang có ý chờ đợi, một câu nói sẽ sưởi ấm cho anh trong suốt cuộc hành trình phía trước chưa biết gian nguy, khốc liệt thế nào...

Nhưng không, cô gái tự chùi mắt rồi ngước lên nhìn thẳng vào anh, tiếng nói cất lên xa lạ như tiếng nói của người nào khác, không kỷ niệm, không yêu thương, ráo hoảnh:

- Tháng sau em sẽ đi Ba Lan du học.

- Tốt quá!

Chúc mừng em!

Con đường em đi phải là như thế, anh vẫn hằng mong em được như thế, cuộc chiến này mình anh đi là đủ rồi.

Thanh... trong cái lẽ cầm súng tới đây, anh có thêm một lý do riêng tư nữa là được giữ gìn cho sự yên tĩnh học hành của người con gái mình yêu ở trời Tây.

- Nhưng em sẽ không chờ đợi được.

Tiếng nói cô bắn ra như một viên đạn súng kíp xuyên thẳng vào óc khiến anh choáng váng không còn tin ở tai mình.

- Em nói gì?

- Em không thể chờ đợi.

Lần này tiếng nói bay ra một cách trôi chảy hơn nhưng cũng khô khốc hơn.

Đến đây thì anh đã nghe rõ và chợt vỡ ra về sự im lặng khó hiểu của cô từ đầu đến giờ.

Cô nhọc nhằn, vấp váp nói tiếp như không nói bây giờ thì không bao giờ có thể nói ra được nữa.

- Anh Cường...

Chúng mình khác nhau quá!

Có thể em tầm thường, em tủn mủn, em không xứng với tâm hồn khoáng đạt, mạnh mẽ của anh nhưng em là phận gái, em không muốn giẫm lại cái bước chân bi kịch của mẹ em suốt đời chờ đợi một con người, người ấy luôn mang trong mình những lý tưởng, hoài bão to lớn mà quên đi tình yêu gần kề để rồi cuối cùng cả hai đều lỡ dở, mang khổ suốt đời.

- Tức là em muốn nói người ấy giống tôi?

- Cơn choáng đã qua, giọng anh lạnh lại.

- Tùy anh nghĩ.

Cô trả lời rồi nhẹ cầm lấy bàn tay khẽ run lên của anh, nói tiếp:

- Thực ra cho đến lúc này em vẫn yêu anh, cũng như em đã từng nói anh là người đàn ông sinh ra để chỉ dành cho em, nhưng chiến tranh chưa biết bao giờ kết thúc, em lại đi học xa chưa biết điều gì sẽ đến với em nên...

Một tiếng nổ nhỏ vỡ ra trong tim anh.

Những điều anh nghe vừa rồi thực chất gần đây anh cũng đã mang máng đoán ra và có ý chờ đợi nhưng khi nó đến, anh vẫn không thể không bị choáng nhẹ.

Khốn khổ, thì ra sự im lặng và đôi mắt buông lơi của cô ấy từ đầu đến giờ kết cục là thế này đây.

Tất cả những kỷ niệm, những lời nói, những thề thốt bỗng chốc tan thành mây khói.

Chao ôi, em đã nói những lời thế nào ấy nhỉ? ...Anh là người đàn ông mà bất cứ cô gái nào cũng phải ghen với em...

Đời này kiếp này em chỉ yêu một mình anh thôi...

Anh biết không, anh thật là một người con trai hoàn hảo mà có đốt đuốc đi tìm giữa ban ngày cả đời cũng không có...

Dường như tất cả ưu tú của một người đàn ông đều dồn tụ hết vào anh: thông minh, nghị lực, đẹp trai, hào phóng, ga lăng, anh như là một thỏi nam châm cực mạnh cứ hút cạn kiệt lấy từng ý nghĩ hơi thở của em...

Em không cần gì hết, chỉ cần được ở bên anh suốt cả cuộc đời, được chăm sóc, được hầu hạ anh, được chia sẻ tất cả những vui buồn của anh...

Và còn gì ấy nữa nhỉ? ...Chỉ có cái chết mới chia lìa được chúng ta...

Thật hài hước và mỉa mai làm sao!

- Thôi!

- Cường đứng dậy.

- Thế là đủ, em không cần nói thêm gì nữa.

Đúng là chúng mình khác nhau thật, khác quá xa, chỉ lạ một điều là bấy lâu nay mù lòa thế nào mà cả hai hoặc ít nhất là ở anh không nhận ra điều ấy.

Nhưng vẫn còn kịp, anh không hận em, không trách em, thậm chí còn cám ơn em đã can đảm, trung thực hơn nhiều cô gái khác là dám nói trước ra sự thật này thay vì sẽ lẳng lặng thay đổi khi người lính đã đi xa rồi đổ tại hoàn cảnh trong khi người lính đó vẫn âm thầm giữ gìn, nâng niu mọi kỷ niệm và cố gắng vượt qua tất cả để trở về gặp lại kỷ niệm đó.

Trước vẻ chấp nhận dễ dàng và dứt khoát của anh, cô gái lại tỏ ra chới với:

- Anh Cường...

Cô bước đến gần anh, áp sát vào ngực anh, hơi ngửa mặt lên, mắt nhắm lại, bờ môi khao khát như muốn có một cái hôn cuối cùng cho mãi mãi.

Nhưng cái hôn ấy không đến.

Cô lại ghì siết lấy anh hơn, muốn kéo thân hình anh nằm xuống cỏ.

- Anh...

Trước khi xa... em muốn... lần cuối...

Cường khẽ đẩy cô ra, cài lại khuy áo ngực cho cô, vuốt lại tóc cô, nhưng tiếng nói lại trở nên rất lạnh:

- Sau tất cả mọi điều mà em vẫn còn muốn gần nhau tận cùng thì đó là cái gì?

Tình yêu hay trả vốn?

- Anh ác lắm!

- Có ác bằng nói lời đoạn tuyệt trước khi người lính đi vào chỗ chết không?

Xin lỗi em, tôi không phải là kẻ chết đói chết khát như thế.

Cô gái bỗng bật khóc:

- Hiểu cho em...

Thực lòng em đâu muốn thế, nhưng...

- Em ngồi dậy đi!

Không còn gì nhưng chúng ta vẫn còn những kỷ niệm thật đẹp để lưu giữ.

Mà có khi thế lại hay, cả hai đều thanh thản không vướng bận khi mỗi người mỗi ngả mà chưa biết chặng đường đi phía trước thế nào.

Chúc em thu nạp được thật nhiều kiến thức trở về và tìm được một hạnh phúc trọn vẹn, như ý!

Thôi, ta về, sương bắt đầu xuống rồi.

Anh dắt xe đi trước, cô gái vẫn còn ngồi lại như một hình nhân vô tri bên bờ sông hoang lạnh...



Cường về nhà vào lúc trời đã khuya.

Từ ngoài cổng, anh đã nhận ra mùi khói hương thoang thoảng từ phòng trong bay ra.

Không hiểu sao anh rất sợ cái mùi tâm linh huyền bí mang hơi hướng mất mát, chết chóc ấy.

Cái mùi bao giờ cũng gắn liền với dáng đứng cô đơn của mẹ trước ban thờ có hình cha và người anh trai.

Hình cha tóc bạc, hình anh trai tóc còn đen nhức, cả hai đều có một cái nhìn giống nhau, rắn rỏi, yêu thương xuống nhân quần.

Cha mất trên giường bệnh, còn người anh hy sinh không tìm thấy thi thể ở vùng đất phía nam ngay từ những ngày đầu đánh Mỹ.

Nhất là vào những đêm mùa đông như đêm nay, nó cứ phảng phất nhen lên trong lòng anh nỗi buồn thăm thẳm không chịu nổi.

Buồn đến nỗi nhiều khi anh muốn rời xa nó, tách ra khỏi nó và phải chăng, điều này anh không bao giờ dám thổ lộ với mẹ, một người mẹ không có gì là anh không thổ lộ, cũng một phần vì nó mà anh kiên quyết ra đi.

"Ông ơi!...

Khi nước nhà thống nhất, tôi với thằng Cường nhất định sẽ đi một chuyến vào trong đó tìm con cho ông... cho chúng ta..."

Lời hứa của mẹ trước cha vào phút chót khi người ta quyết định rút máy thở ra khỏi cổ ông đã đằng đẵng đeo đuổi, ám ảnh khôn nguôi trong đầu óc anh cho mãi đến bây giờ.

Thống nhất, bao giờ mới thống nhất?

Mai anh đã lại đi rồi, đi vì cái tâm nguyện của mẹ và cũng là ước vọng của cha.

Cánh cửa bong sơn cũ kĩ khép hờ như bao năm nay mẹ luôn khép hờ nếu anh về muộn.

Nhìn vào anh lại thấy mẹ đang đứng trước cha, miệng lẩm nhẩm nghe câu được câu mất: "Ông ơi... thế là mai con nó đi rồi.

Tôi không làm sao giữ được nó, chả ai giữ được nó mặc dầu có ông ở trên bàn thờ liệt sĩ kia rồi, lại là con một nó đâu phải đi.

Thôi thì đất nước có giặc, giống tính ông nó không thể ngồi yên một chỗ, chỉ mong ông sống khôn chết thiêng ông phù hộ cho nó được bằng anh bằng em và trở về với tôi...

Trở về với tôi, chỉ cần trở về với tôi, đó là điều quan trọng nhất..."

Chả biết linh hồn cha có nghe thấy gì không nhưng nén hương đang âm ỉ cháy bỗng bùng lên soi tỏ một nụ cười thành kính biết ơn trên khuôn mặt thăm thẳm buồn của mẹ.

Không chịu nổi cảnh ấy, anh đi tới ôm khẽ lấy mẹ từ phía sau:

- Mẹ...

Hương hóa thế kia là bố đồng ý rồi, nhất định con sẽ trở về mà.

Bà mẹ nhìn quanh:

- Thế con Thanh đâu?

- Cô ấy... bận lên lớp, chúng con ngồi với nhau cả chiều nay rồi.

Một chiều sông Hồng đẹp như cổ tích.

Vậy là con có hai người phụ nữ chờ đợi ở phía sau, lại cả linh hồn của bố nữa, không có lý gì lại không trở về.

Bà mẹ nhìn sâu vào mắt con trai:

- Cường, có chuyện gì phải không?...

Ngay cái này con cũng giống bố con, không giấu được điều gì trong lòng cả.

Mỗi khi có chuyện gì xảy ra là cứ nói lấp liếm đi.

Cường cười phá lên:

- Có chuyện gì đâu mẹ, rất ổn, chiến tranh xong ngày nào là con sẽ có cháu cho mẹ bế ngày đó.

Một thằng cháu trai kháu khỉnh đàng hoàng.

- Biết bao giờ xong?

Người mẹ cố nén đi một tiếng thở dài rồi bước vào bếp hâm lại mấy món ăn đã bị nguội mang ra cho con ăn.

Nhìn món canh dưa chua nấu cá rô đồng ăn với rau ghém, món mà anh mê từ bé, mắt anh bỗng nhòa đi...

Mẹ ơi, rồi những ngày tới đây không có con ở nhà, mẹ còn nấu món này nữa không, và tối tối ngồi bên mâm cơm một mình, mẹ sẽ ăn uống thế nào?...

Em, thỉnh thoảng sang chơi với mẹ cho mẹ đỡ buồn...

Nếu mẹ biết rằng cô gái mà từ lâu mẹ đã coi như là dâu con ấy sẽ không bao giờ còn sang với mẹ nữa...

Trong lòng cuộn lên một cái gì đó đắng chát, anh nâng bát cơm và vội mấy miếng, nuốt nhanh.

Lúc ngồi bên cô, nghe cô cất lên tiếng nói giã từ, anh chỉ thấy sốc chứ không thấy buồn, giờ đây ngồi trước mẹ, nhìn rõ mấy sợi tóc bạc ánh lên dưới ánh đèn của mẹ, mường tượng ra cảnh một mình cô đơn của mẹ những năm tháng dặc dài tới đây, mẹ lại hay bị đau đầu mất ngủ nữa, anh mới thật sự thấy đau.

Như đọc được suy nghĩ của con, người mẹ gắp thêm vào bát con một lát cá bống kho tiêu, cũng là món ăn mà đứa con ưa thích, mỉm cười:

- Đừng lo cho mẹ ở nhà.

Con đi rồi, nửa tháng sau mẹ cũng lên đường sang bên kia.

Mắt người con sáng lên:

- Paris?

Lại tiếp tục họp hả mẹ?

Hay quá!

Mẹ ở mặt trận ngoại giao, con ở mặt trận súng đạn, con sẽ làm supporter đắc lực cho mẹ nhé!

Mẹ hãy cười lên nào, khi người Mỹ đã buộc phải xuống nước chấp nhận ngồi lại bên bàn hòa đàm là kiểu này chiến tranh sắp kết thúc tới nơi rồi!

Supporter: Người ủng hộ, người cổ vũ.

Người mẹ không cười, bà khẽ hỏi cái câu không tiện hỏi, không muốn hỏi, nhưng là một người mẹ bà lại không thể không hỏi:

- Con đã biết con được điều vào mặt trận nào trong đó chưa?

- Biết mang máng.

- Anh con trai vẫn tỏ ra vô tư.

- Nghe đâu như Quảng Trị thì phải.

Quảng Trị bên kia vĩ tuyến mười bảy, so với Hà Nội gần xịch mẹ nhỉ?

Người mẹ thoáng rùng mình một cái rồi lặng lẽ bê mâm cơm xuống bếp.

Thế là cái điều bà linh cảm đã trở thành sự thực.

Hơn ai hết, bà hiểu hai tiếng Quảng Trị đó có ý nghĩa thế nào trong trận đấu trí đấu lực một mất một còn mang trọng trách lịch sử tới đây của cục diện hai bên.

Nỗi lo lắng mơ hồ đó khiến cả đêm bà không chợp mắt.

Về đêm trời chuyển oi nồng.

Lại mất điện.

Bà ra ngồi cạnh cầm chiếc quạt nan khẽ phe phẩy cho con.

Sợ con tỉnh dậy, bà chỉ khẽ nắm vào tay, vào bả vai con như ngày nào con còn lên ba lên năm đêm ngủ cứ xoay ngang xoay dọc khắp giường.

Hơi ấm và nhịp thở của đứa con truyền sang người mẹ như những giọt phù sa ngọt ngào, lắng đọng.

Chao ôi!

Xương thịt của bà đây, phần hồn phần xác của bà đây, tất cả mọi niềm vui nỗi buồn của bà đây, ngày mai nó đi xa rồi, xa lắm và ở nơi rốn bão kinh hoàng không có gì là không thể xảy ra đó, liệu nó, một thằng bé giàu tình cảm, yếu đuối, thích mộng mơ, thỉnh thoảng lại nói ngang khó ai bắt bẻ được có trụ được không?...

Bà mẹ rùng mình không dám nghĩ tiếp nữa.

Nghĩ tiếp chắc tiếng khóc dấm dứt đang cố nén trong cổ của bà sẽ bật lên.

"Ai mua xôi vò, xôi gấc, xôi lạc, xôi đậu xanh ra mua đơ...ơ...ơ...i..."

Một tiếng rao sáng buồn như tiếng gió thổi dọc phố vang lên ở đầu ngõ, bà thoáng giật mình, vội cúi xuống hôn nhẹ lên mái tóc rất mềm của con, khẽ buông một tiếng thở dài, tần ngần ngồi nán lại thêm chút nữa rồi đi vào bếp nắm cho con mấy nắm cơm nắm chấm với muối vừng bà tự giã lấy làm chút lương khô chuẩn bị cho con lên đường.

Nằm lại, anh khẽ mở mắt.

Thì ra anh cũng không ngủ.

Ngày xưa có hơi mẹ ấp bên cạnh, đứa trẻ thơ là anh say ngủ ngon lành mà giờ đây, cũng cái hơi mẹ nồng ấm ấy phả xuống mà lại làm anh không sao ngủ được.

Đất nước thương đau, đất nước tần tảo, biết đến bao giờ mới hết được cái cảnh những người mẹ rứt ruột tiễn đưa con vào trận như thế này?

Câu tùy bút của một nhà văn nào đó được đọc trên đài lúc này bỗng chẹn ngang lấy ngực anh.

Nhìn dáng mẹ nhỏ bé cặm cụi dưới ánh đèn lom dom, mắt anh bỗng dưng thấy cay sè...

Mẹ ơi!
 
Mưa Đỏ
Chương 2


Với một vùng đất, thường là thời tiết, phong thổ, tập quán, văn hóa nơi đó thế nào thì tính cách, tâm hồn con người cũng hao hao thế ấy.

Hà Nội và Huế có nhiều nét giống nhau về phong thổ nên phải chăng con người sinh ra cũng có những điều trùng lặp, trong đó cái nét hào hoa, lãng mạn, đa tình trội lên không phải dễ nhận ra, tuy con người Huế có thêm sự cực đoan, hà khắc mà người Hà Nội do thế đất hình sông yên ả, mưa thuận gió hòa nên cái tính cách ấy cũng có nhưng ít khi được dịp bộc lộ.

Có học giả nói một cách võ đoán rằng, con người khi sinh ra có ba điều không chọn được là mẹ, quê hương và chiến tuyến.

Hai điều trên là rõ rồi, như một định mệnh, nhưng còn cái thứ ba, chiến tuyến, có rất nhiều cái cần phải bàn lại cho thấu đáo mà các nhân vật trong câu chuyện đau thương này sẽ góp phần cùng bàn lại với ta.

Huế tháng này bắt đầu vào mưa, một mùa mưa dai dẳng.

Mưa sầm sì trắng đất trắng trời.

Mưa ướp vào tâm hồn, thói quen, tính cách con người nơi đây.

Và phải chăng vì thế mà những điệu hát, những câu thơ cũng như có cả mưa tẩm vào.

Dưới kia, con sông Hương xẻ đôi thành phố buồn như một tiếng thở dài thiếu phụ.

Trong một căn nhà xây theo lối cổ u trầm, xinh xắn, có vườn cây, hòn non bộ bao quanh, một thiếu úy dù khá bảnh trai, mắt sáng, nước da ngăm đen, khuôn mặt lạnh hiện rõ vẻ phớt đời đang ngồi trước mẹ, một người đàn bà mà mọi cử chỉ, lời nói, ăn mặc, đi lại, đến cái nhướng mắt, cách cầm chén trà cũng đều toát lên vẻ quyền quý, sang giàu.

Bà không nhìn vào mắt con mà thả cái nhìn ra ngoài cửa sổ đang có những giọt mưa cuối mùa tinh tang nhỏ xuống, giọng ấm và ngọt như bất kỳ một giọng Huế căn cốt nào:

- Ngay bây giờ con vẫn có thể thay đổi quyết định chỉ bằng một cú phôn mẹ gọi cho ông tướng tư lệnh.

Quang nắm lấy tay mẹ, khẽ rung:

- Con biết, ông ấy ngày xưa cùng học một trường và chơi rất thân với ba con.

- Hơn thế, ông đang là con nợ của mẹ.

Quang cười:

- Nợ tiền chớ không phải nợ... tình hả mẹ?

Người ta bảo ngày trước mẹ là hoa khôi trường nữ sinh Đồng Khánh làm xiêu diêu tất cả cánh học trò nam.

- Quang!

- Nét mặt người mẹ lạnh lại.

- Mẹ đang chờ câu trả lời của con.

Ba con ở nước ngoài cũng đang chờ câu thông báo cuối cùng của mẹ.

Quang chợt đứng dậy, cao lớn, bụi bặm, anh ta nhìn thẳng vào mắt mẹ:

- Câu trả lời của con là không!

Và con cũng không muốn mẹ nhắc đến cái đám tướng lĩnh xôi thịt ấy một lần nữa.

- Quang!

Con không thể nói về những người bạn của ba con như vậy.

Dù sao họ cũng vẫn là rường cột của cái chế độ này.

- Rường cột?

- Quang bật lên một tiếng cười khinh khi.

- Ngay từ hồi học ở quân trường con đã biết họ rường cột như thế nào rồi và sau này đánh đấm vài trận, con càng hiểu cái rường cột đó ra làm sao.

Mục ruỗng hết rồi, mẹ.

Con không thay đổi quyết định bởi con muốn một lần nữa thử sức với một đối phương mà bằng cách nào đó họ đã khiến cho người Mỹ, một loại người ngạo mạn nhất thế giới phải kiêng dè, hãi sợ.

- Nhưng ba con nói đó là chiến trường khốc liệt nhất trên cả bốn vùng chiến thuật, thường chỉ dành cho lính cảm tử và những kẻ lao công đào binh bị đày ra đó để thí thân.

Đã có bao nhiêu người bỏ cả núi tiền ra để con cái họ tránh xa được cái vùng tiền đồn 1 ấy, vậy mà con...

- người mẹ nói vớt vát.

- Chính vì thế mà con càng cần phải đi.

Trong con có thể có cả chất cảm tử lẫn chất đào binh nhưng chắc chắn con không phải là một thằng có chất hèn.

- Con sao khác ba con quá à?

Cùng một thời quân ngũ với ông Thiệu, ông Minh và có thể trên cả ông Thiệu, ông Minh về đường binh nghiệp, nhưng ba con dám bỏ tất cả để trở thành một trong sáu tài phiệt lớn nhất nước, vì ba con bảo, tướng lĩnh, nội các chỉ có thời, ba hồi lên ba hồi xuống nhưng đồng tiền và kinh doanh thì thể chế nào, thời buổi nào cũng cần.

- Đó là một triết lý sặc sụa mùi con buôn, không nô lệ cho quyền lực nhưng lại nô lệ cho đồng tiền, vậy cả.

Con khác.

Bà mẹ không nói nữa, những ngón tay trắng nhỏ bất giác chuyển động trên chuỗi tràng hạt đeo nơi cổ.

Vẻ như nhận ra mình vừa rồi có những lời nói có thể làm mẹ buồn, Quang cười, bước đến cạnh mẹ, ngồi xuống tay ghế, quàng tay qua vai mẹ, giọng dịu hẳn:

- Mẹ...

Vả lại chuyến đi này con cũng còn có một lý do riêng tư nữa là muốn tìm lại, gặp lại cái cô sinh viên cứ ám ảnh con miết kể từ lần đụng độ ấy.

- Hả?...

Cái cô bé Quảng Trị thân Cộng mà vì cô ấy con đã tụt từ trung úy xuống thiếu úy?

- Để gặp lại được em, con sẵn sàng tụt xuống binh nhất hay đi lao công đào binh cũng được.

Đến đây thì bà mẹ không lần tràng hạt nữa mà khẽ buông một tiếng thở dài phiền muộn:

- Đa tình, phóng đãng là tính khí của những người đàn ông trong cái nhà này, nhưng đa tình đến độ bất chấp tất cả đem lòng thương cả kẻ ở chiến tuyến bên kia thì rồi đời con sẽ ra sao hả Quang?

Anh chưa kịp trả lời mẹ thì từ khung cửa đã xuất hiện một thiếu nữ đẹp chói chang như bước ra từ những tờ Program Cinema Hồng Kông.

Áo pull xanh, quần loe trắng, kính râm to bản, phấn son điệu đàng, cô bước vào tỏa sáng như một tia nắng trong khung cảnh ảm đạm mưa rơi, khẽ cúi đầu lễ phép chào bà mẹ rồi đến bên Quang, tiếng nói thật dịu nhưng đanh:

- Anh Quang!

Như vậy anh vẫn quyết định tìm đến cái chết?

Quang nhìn đi chỗ khác, thoáng một cái chau mày:

- Để được sống một lần cho ra sống.

Tôi ngán cái cuộc sống nhờ nhợ, tanh tanh mùi cá ươn này quá xá rồi.

Bà mẹ đánh mắt về phía cô gái như ra ý con hãy cố khuyên nhủ nó cho bác rồi bước vào nhà trong.

Cô gái nhìn thẳng vào mắt Quang:

- Và có thể hiểu được rằng, anh đang ngán cả em?

- Để cho em khỏi ngán tôi trước.

- Anh tàn nhẫn lắm!

Ít nhất cũng có những con người đang sống đàng hoàng, tử tế không đến nỗi để cho anh phải hắt nước đổ đi chớ?

Như bác đây chẳng hạn.

- Không được động đến mẹ tôi!

- Quang bỗng trừng mắt lên.

- Và tôi đi cũng là để cho bọn nhà quê vô đạo, chân đất mắt toét phía bên kia không thể động được đến bà.

- Em xin lỗi!

Đã từ lâu em coi bác đây như mẹ...

- Cám ơn, nhưng tôi nghĩ có lẽ em đã gõ nhầm cửa.

Giữa mẹ tôi và em chả có điểm gì có thể gọi là tạm giống nhau cả.

Đến đây thì nét kiêu sa của cô gái biến mất, chỉ còn lại một ánh nhìn nanh nọc chiếu thẳng về phía anh ta:

- May mà tôi gõ nhầm cửa.

Nếu tôi gõ trúng thì với một thằng đàn ông vừa cuồng tín vừa kệch cỡm như anh thì không biết đời tôi sẽ như thế nào!

- Tốt!

Ngay bây giờ chúng ta coi như kết thúc và tất cả những thứ ngớ ngẩn gọi là tình yêu vừa qua chỉ là trò cám dỗ của xác thịt.

- Tôi cũng muốn kết thúc từ lâu rồi.

Hôm nay tôi đến đây để mong níu vớt được ở anh một chút gì còn lại của ngày hôm qua nhưng bây giờ thì hết, hết thật!

- Lần đầu tiên được nghe một câu nói thật từ cái miệng chỉ quen nói giả.

Em cứ coi như không còn tôi, không còn một con đực tương đối hay ho bên một loạt những con đực quá hay ho khác đang bấu xấu quanh em.

Và nói thật nhé, em đến đây không phải để cứu vãn một mối tình mà thực chất muốn đập nát nó đi qua thái độ của tôi để dễ bề ăn nói với hai bên gia đình đã nặng lòng thề ước.

Chúc em có được một thằng đàn ông trong nhà để tránh có một thằng rồ đeo khiên hiệp sĩ ngoài nghĩa trang, đó là tôi cũng nhái lại lời người khác.

Từ biệt!

Cô gái lặng đi một lát rồi ngoắt người đi ra.

Bà mẹ vào, dõi theo bóng cô gái chui vào chiếc xe nằm khuất bên kia đường rồi quay lại khẽ lắc đầu nhìn con với vẻ mặt phiền muộn:

- Đây là cô thứ mấy con ruồng bỏ?

- Không, họ ruồng bỏ con chứ con đâu có dám ruồng bỏ họ.

Con nói thật, từ ngày Mỹ nó đổ quân vào đây với tất cả thứ văn hóa thực dụng của nó, tâm hồn, tính nết các cô gái bỗng trở nên xộc xệch, bốc mùi hết.

Mà vậy cũng tốt, càng đỡ nặng gánh thê nhi.

- Còn cái cô gái Quảng Trị kia?

Có phải vì chính cô ta mà con có lối hành xử quá nghiệt ngã như vậy?

- Dạ, chưa đến nỗi đâu má.

Con đã được trực tiếp chuyện trò với cô ấy lần nào đâu mà hành xử, nhưng có lẽ chính hình ảnh, dáng hình, tác phong, nhất là đôi mắt kỳ lạ của cô ấy trước bạo lực, dù chỉ là khoảnh khắc thôi nhưng đã là một phép thử để xiêm y tất thảy các cô gái khác cứ mặc nhiên bị tuột ra.

Bà mẹ mệt mỏi khẽ buông người xuống ghế, nói mà không nhìn thẳng vào con:

- Thôi thì tùy con.

Mẹ chỉ dặn một điều, vì một bóng hình vu vơ con có thể đi vào chỗ hiểm nghèo nhưng cũng đừng vì cái bóng hình đó mà con không nghĩ gì đến mạng sống của mình.

Con nên nhớ phía sau con luôn có một người đàn bà đêm ngày nghĩ về con, mong con lành lặn trở về, đó là mẹ.

- Con nhớ, vì chỉ có mẹ là người thương yêu con nhiều nhất và con cũng chỉ có một mình mẹ là đủ sức níu kéo con với cuộc đời chán ngắt này.

Con đi nghe mẹ!

Thiếu úy Quang đi đến bên mẹ, ôm khẽ lấy bờ vai mảnh dẻ của mẹ để yên một lát rồi vội chụp chiếc mũ dù nâu lên đầu, ra nhanh.

Từ dưới cổng, một tiếng động cơ xe Jeep rú lên rồi xa dần.

Từ cánh cửa sổ chưa khép, gió đem theo những hạt mưa li ti bay vào trong phòng, người mẹ khẽ rùng mình, run run đưa tay lên, bối rối lần vào chuỗi tràng hạt đeo nơi cổ, nước mắt từ từ rịn ra...
 
Mưa Đỏ
Chương 3


Chiến tranh dù khốc liệt đến mấy thì nó vẫn có những khoảng lặng bất ngờ không tin được.

Một trận đánh không phải lúc nào, ở đâu cũng quằn lên cái âm thanh gầm gào, rú thét như sẵn sàng bứng con người ra khỏi cuộc sống đem quẳng sâu vào địa ngục, mà cũng có những giây phút tĩnh lặng đến ngẩn ngơ như buổi sáng mai này trên đất rừng Quảng Trị đang trải ra trước mắt người lính kia.

Một buổi sáng chỉ có nắng gió yên bình phơn phớt tô trên những dải rừng, đồng ruộng, dòng sông, khe suối như thể chiến tranh chết chóc đang xảy ra ở đâu đó, ở quốc gia bất hạnh nào đó chứ chưa hề xảy ra ở đây.

Trong một cánh rừng xơ xác phía thượng nguồn bên dòng Thạch Hãn đang mùa khô, nước chảy lặng tờ, hơi đục.

Dưới một gốc cây kín đáo, có sáu con người mặc quân phục Giải phóng, trong đó có Cường, chàng trai Hà Nội, đang ngồi quanh một nồi măng rừng sôi sủi.

Một con thú rừng đang được làm lông treo ngược thân cây.

Đám lông màu xám được cạo dần, con thú trở nên trắng nhễ nhại như một hình nhân bé nhỏ bị tùng xẻo.

Đâu đó, họ hạ con thú xuống, đặt trên tấm ni lông, thận trọng xắt ra từng miếng nhỏ rồi thả vào nồi.

Thịt thú rừng gặp măng rừng bỗng dào lên, quấn quyện lấy nhau, thoáng chốc đã làm cho nồi nước lèo chuyển sang màu vàng nhợ bởi những váng mỡ nổi dềnh trên mặt.

Dường như chỉ hau háu chờ có thế, Tiểu đội trưởng Tạ, chừng hơn ba mươi tuổi, tóc rễ tre, trán vuông cằm vuông, cái chóp mũi hình như cũng vuông nốt, da đen mun, dáng nông dân chắc nịch vùng đồng bãi, múc nước trong nồi lên húp soạp một cái rồi nhe răng cười, hàm răng ám khói thuốc cũng chắc nịch như bàn cuốc, lưỡi thuổng:

- Ngọt thịt lắm, các chú mày ăn đi, có thể đây là bữa ăn tươi cuối cùng.

Đêm nay vào trong đó chưa biết khi nào được ăn lại cái món này đâu.

Nói rồi, như một lão anh nuôi kỳ cựu và kĩ tính, phân rất đều lượng măng và thịt, anh thận trọng múc vào bát từng người.

Vèo một cái, họ đã húp sạch bát thứ nhất.

Bát thứ hai lại được múc tiếp.

Lại hết.

Tạ dừng lại, nhìn tiểu đội của mình một cách âu yếm như cách nhìn của ả gà mái nhìn đàn gà con đang bới thóc.

Đến bát thứ ba thì mọi người dừng lại, nói đúng hơn là nồi canh đã cạn sát đáy buộc họ phải dừng lại, miệng người nào người ấy nháng mỡ, có người vẫn còn đá lưỡi vào chân răng chẹc chẹc vẻ thòm thèm.

Tạ rít roóc roóc hơi thuốc lào rồi ngửa cổ phun một luồng khói như rắn cuộn vào không gian.

Để cho cái say ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng, ngấm kĩ vào đôi mắt đang chuyển sang đờ đẫn một lát, chiêu một ngụm nước súc òng ọc trong cổ họng, Tạ mới thủng thẳng:

- Hầy!

Chưa vào trận, mới chỉ đi đường thôi quân số đã vợi đi quá nửa.

Tiên sư cái thằng Mỹ, phải nói bom pháo nó mạnh thật!

Nghe này, tao nhắc lại: Đây là Tiểu đội 1 thuộc Trung đội 3, Đại đội 8.

Là một tiểu đội chủ công, một tiểu đội hỗn hợp mới thành lập, nào, bây giờ điểm danh cái cho chắc ăn, kẻo mai mốt đánh đấm mù mịt lại không biết thằng nào vào thằng nào mà báo chết báo tử!

Bắt đầu từ cậu, nào!

Anh chỉ một thanh niên dáng cao, đeo kính trắng, vẻ điềm tĩnh, từng trải ngồi trước mặt. người này lên tiếng, cũng với một giọng điềm tĩnh ấm áp:

- Tôi là Sen, Trần Văn Sen, hai mươi tư tuổi, quê ở ven sông Sài Gòn, miệt Bến Cát, trước hoạt động ở Tổng hội Sinh viên, lộ, được ra Bắc học, học chưa xong thì vô đây, xin làm lính đặc công trinh sát, chưa vợ, ông già hy sinh thời đánh Pháp, nhà còn mẹ và đứa em gái.

- Đặc công à?

- Tạ đưa bàn tay chuối mắn vỗ bộp một cái khá nặng vào vai người này, cười hết cỡ.

- Tốt rồi.

Mọi trận đánh bộ binh đòi hỏi phải có đặc công dính vào mới ngon.

Còn cậu?

Tạ chỉ một chiến sĩ có thân hình tròn lẳn như cá trắm, nét mặt không đẹp nhưng đường nét rất đàn ông, hơi gồ ghề, bụi bặm, chiếc răng vẩu làm nụ cười của cậu ta trở nên rất duyên.

Người này ngượng ngập trả lời bằng cái giọng thật đằm:

- Dạ, em là Nguyễn Quang Bình, bọn bạn nó thường kêu là Bình Vổ, học sinh miền Nam.

Quê em ở đây, ngay Đông Hà, theo cha mẹ ra tập kết từ nhỏ, đang học năm thứ ba Đại học Mỹ thuật Hà Nội thì có lệnh tổng động viên, mười chín tuổi, ăn nói vô duyên, mặt mũi xấu xí nên chưa vợ, chưa người yêu luôn.

- Xấu à?

Tốt!

- Tạ lại định giơ tay vỗ vào vai cậu ta nhưng cậu này đã vội tránh được khiến bàn tay to tướng của anh rơi thõng xuống.

- Theo kinh nghiệm chiến đấu của tao, thằng xấu bao giờ cũng uýnh ngon hơn thằng đẹp, nhưng mày...

đâu có xấu, chỉ ăn nói quàng xiên.

- Quay qua chỉ vào Cường.

- Thằng này đẹp, quá đẹp nữa là khác, sao?

Cường cười:

- Em là Đặng Huy Cường, quê Hưng Yên, sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, hai mươi hai tuổi, năm thứ tư Nhạc viện.

- Nhạc à?

- Lần này thì cái bàn tay to tướng kia không giơ lên nữa.

- Quá tốt!

Cậu viết nhạc đi, viết cho bốc máu vào, tớ hát cho, giọng tớ tuy thuốc lào nhưng mấy cô gái làng cũng chết mê chết mệt đó.

Chỉ biết đánh nhau thí mạng mà không biết hát hò, đánh không bền đâu.

Còn người yêu người iếc sao, chắc có cả tá rồi hả?

- Dạ, cũng gọi là có nhưng... thôi rồi.

- Ai thôi?

- Tạ trợn mắt.

- Cậu thôi hay nó thôi?...

Chắc là cô ả đúng không?

Vậy thì vất thằng bố nó đi, nó không xứng đáng với một chiến sĩ Thành cổ, khỏi bận lòng.

Đàn bà con gái thiếu cha gì, uýnh nhau xong, chưa chết, tha hồ chọn, đích thân tao chọn cho.

Tạ quay sang tiếp một chiến sĩ có dáng người thấp đậm, cái lưng hơi gù và đôi mắt nhìn rất lạ, như rất gần lại như rất xa, lại có lúc không nhìn gì cả mà lại như nhìn ngược vào trong mình.

- Còn cậu, chắc không phải bị tật từ nhỏ chứ?

Người này giật mình định trả lời thì Tạ xua tay:

- Khoan đã!

Cậu làm sao mà như mất hồn mất vía thế?

Này, tớ nói thật nhé, sắp vào trận mà mặt mũi đăm chiêu như cái đứa bị vợ bỏ thế kia là không ổn đâu.

Tên gì?

Trước câu nói xối xả của Tạ, người này không thay đổi nét mặt, lặng lẽ trả lời:

- Tôi tên Hải, Phạm Huy Hải, biệt danh Hải gù, gù có gen, hai mươi mốt tuổi, quê Hà Tây.

Hồi ở nhà theo nghề bố, suốt ngày đi mắc, sửa điện, đào cống đào rãnh cho thiên hạ nên nó mới bị gù.

Còn cái chuyện mặt mũi đồng chí vừa nói, nó không liên quan gì đến vào trận hay không vào trận cả.

Hết!

- Tốt!

Lính bộ binh mà gù là quá tốt, càng thu nhỏ mục tiêu, đỡ mất công khom lưng khi tiếp cận.

Này, coi chừng vào Thành cổ, cái nghề điện của cậu lại được việc đó.

Còn thằng cu này?

Mi sướng cái gì mà cứ ngoác mồm cười hoài vậy, mày?

Anh hất cái cằm râu ria lởm chởm về phía một người trẻ nhất, bẽn lẽn như con gái, nước da mai mái, có chiếc răng khểnh rất duyên bên trái khóe miệng.

- Tại em thấy Tiểu đội trưởng giống... bố em ở nhà quá!

- Giống bố em?...

Hả, láo, tao già thế rồi kia à?

Sao?

- Em là Tú, Trương Đình Tú, mười... sáu tuổi.

- Mười sáu?

Thằng này càng láo!

Bộ đội chứ đâu phải trường thiếu sinh quân.

Ngày mai tao đề nghị trả mi về phía sau, ra ngoài kia đi học tiếp!

- Ối, chết em thủ trưởng ơi!

Em phải khai thế người ta mới cho đi.

- Thôi được rồi.

Ở đời có nhiều cái khai gian nhưng khai gian để đi vào chỗ ác liệt thì cái gian ấy có thể chấp nhận được, nhưng để tao nghĩ thêm cái đã, miễn là ngay trận đầu mi phải đánh đấm ra trò, chứ đây không phải là trò đánh trận giả của đám trẻ trâu.

Nói rồi anh chợt cúi xuống chiếc ba lô cóc cáy của Hải gù, rút ra một cuốn sách nhăn đang thò lên khỏi miệng túi, chau mày nhăn trán đọc một cách khó nhọc:

- Hả, cái gì đây?

Thép... thép đã tôi... tôi thế đấy?

Cậu làm nghề luyện thép?

- Dạ, không!

Tiểu thuyết Nga đấy ạ.

- Cậu là nhà văn?

- Không, em chỉ là học sinh giỏi văn toàn miền Bắc thôi.

- Văn à?

Tốt thôi.

Viết đi, viết lại tất cả những gì sắp trải qua, viết rõ thật vào, đừng uốn éo như mấy thằng cha thông tin xã để nếu có chết, con cháu mấy đứa còn có cái để đọc, để hiểu cha anh chúng đã đánh nhau như thế nào.

Sen, người lính đeo kính trắng chợt trầm giọng:

- Đồng chí Tiểu đội trưởng!

Sao chưa vào trận mà đồng chí toàn nói chết với chóc thế, ảnh hưởng đến tâm lý anh em.

- Ờ nhỉ?

- Tạ cười dễ dãi, vần vò mớ tóc cứng queo làm tóe lên cả đám gầu trắng như bụi.

- Tính tớ bỗ bã, nghĩ gì nói đó, thỉnh thoảng cậu làm ơn phanh lại cái nhé!

Tóm lại tớ là Tạ, Nông Văn Tạ, nghe nặng chưa, ba mươi tư tuổi, quê Cao Bằng, tiểu đội trưởng i nốc, tám năm không lên nổi một cấp, nông dân trăm phần dầu, văn hóa lèng phèng nhưng cũng đủ để viết thư cho bà xã đôi dòng nguệch ngoạc, một vợ một con, khi đi vợ con theo tiễn, khóc ướt...

ướt sũng cả một... một triền đê.

- Ướt sũng cả triền đê...

Câu này em nghe quen quen, hình như các cụ tả mưa chứ không phải tả khóc.

Tú hồn nhiên buột miệng nhưng không làm Tạ chựng lại, thậm chí cái miệng của anh còn dẩu ra hơn:

- Đê là đê chứ cậu muốn tôi nói ướt sũng cả... cái đũng quần thì nó mới không quen quen à?

Bố khỉ, thằng, chỉ được cái hay vặn vẹo, mất bố nó cả hứng của người ta.

Tú lí nhí:

- Em... em xin lỗi, chỉ tại em mê cả văn lẫn toán nên hay đòi hỏi mọi thứ phải chính xác.

Tạ cười khồ khồ:

- Tao nói vui chứ làm gì mà mặt mày bí xị như sắp chảy nước đái ra thế kia?

Thôi, tất cả nghe tiếp đây.

- Nét mặt vị Tiểu đội trưởng thoắt trở nên trang trọng như nét mặt của một vị tướng đứng trước ba quân, lại còn cả khịt mũi nữa.

- Tiểu đội ta vậy là gồm cả ba miền Bắc, Trung, Nam, coi như cả nước vào trận.

Sáu thằng thì ba thằng là sinh viên, hơi nhiều, một thằng là học sinh, một công nhân, một cày cuốc, nói như kiểu nói của ông chính trị viên đại đội thì tiểu tư sản chiếm đa phần, tốt, không sao, trí thức và thợ thuyền cùng sát cánh, bổ sung nhau mà đánh đấm cho tợn vào.

Giờ phân công cậu Sen, do đã qua hoạt động đoàn thể lại kinh qua cả chiến đấu, thêm tính tình chín chắn sẽ làm tiểu đội phó.

Hết!

Có ai thắc mắc gì không?

Cả tâm sự nữa.

Giờ coi như anh em cốt nhục một nhà, tao lớn tuổi là anh cả, thằng Tú là em út, đứa nào có gì trong bụng nói hết ra, đừng giữ lại mà thành táo bón, để từ ngày mai chỉ một lòng uýnh giặc chết bỏ, không vân vi nhằng nhịt gì nữa.

Có gì không?

Tao thấy mắt thằng Sen nhấp nháy, hình như có điều muốn nói?

Sen cười, để lộ ra hàm răng ken nhau đều sin sít:

- Có.

Đó là tiểu đội có được một tiểu đội trưởng bộc trực, tình cảm, xuề xòa lại dạn dày trận mạc như đồng chí Tạ thì chắc chắn tiểu đội sẽ là một tiểu đội mạnh.

Tạ có vẻ ngượng ngập:

- Dạn dày mẹ gì đâu!

Tớ cũng còn nhiều cái xấu lắm, nếu tốt cả thì lúc này tớ lên tút lút tận đâu rồi chứ làm gì được ngồi đây chỉ huy các cậu.

- Rồi làm ra vẻ bí mật, anh lôi trong túi quần ra một chai rượu nhỏ, nút lá chuối, mắt sáng lên.

- Coi như Kết nghĩa vườn đào...

Ấy, đây làm đếch gì có đào mà kết, vậy gọi là kết nghĩa bên sông, được không?

- Mọi người gật đầu.

- Đây là chai rượu cuối cùng.

Sáu đứa mình uống mỗi đứa một tợp để thề sống chết có nhau, không thằng nào được ngã vục mặt giữa dòng.

Tao lớn tuổi, uống trước!

Không có ly, anh đưa cút rượu lên miệng tu nhẹ một tợp rồi đưa cho Sen...

Sen cũng làm một tợp rồi đưa cho Cường...

Cường đưa cho Hải...

Hải đưa cho Bình và khi đến Tú, cậu em út tiểu đội thì vừa xoẻn.

Tạ xoa xoa hai bàn tay nháng mỡ vào nhau cười khà khà, một thứ cười lộ hết ruột gan ra ngoài.

- Xong. giờ nghỉ ngơi, kiểm tra trang bị, chờ tối bất cứ lúc nào có lệnh là sang sông!

Cả tiểu đội lặng lẽ tản ra trở về với công việc của mình.

Trong đầu Cường xuất hiện một khoảng lặng không rõ ràng.

Sang sông!

Một cái từ thật gợi trong các áng văn chương kim cổ nhưng hai tiếng "sang sông" chiều nay sao nghe có cái gì rờn rợn như mang hơi hướng sắc thái một đi không trở lại thế nào!
 
Mưa Đỏ
Chương 4


Huế.

Vẫn mưa.

Tại căn cứ quân sự Mang Cá, một chiếc chuyên cơ đen sì như con nhặng chửa từ hướng nam bay đến, nặng nề đáp xuống rồi từ từ dừng bánh.

Bước xuống là cái dáng nhanh nhẹn, tầm thước, vận đồ trắng lịch lãm quen thuộc của Tổng thống Thiệu, kế tiếp là cái dáng cao dong dỏng của Đại tướng tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, rồi Trung tướng Ngô Quang Trưởng với nước da đen cháy, khuôn mặt hốc hõm và một cố vấn Mỹ cao cấp vận thường phục.

Họ rảo bước đi thẳng vào phòng họp, nơi đã có Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Vùng 1 và chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn 3 Vũ Văn Giai cùng một số sĩ quan cao cấp khác đã đứng nghiêm chờ sẵn với vẻ mặt căng thẳng, rám nắng.

Vừa an tọa, bỏ qua tất cả những lễ nghi, thủ tục rườm rà, với khuôn mặt sáng láng, khá đẹp và giọng nói mềm mại của một chính khách hơn một nhà quân sự, Tổng thống Thiệu vào đề luôn như đã nén sẵn những câu nói này từ trước:

- Thưa các ông!

Để mất Quảng Trị, một địa bàn chiến lược là một sự nhục nhã.

Nhục nhã cho cả người Mỹ lẫn cho cả chúng ta.

Cho nên hôm nay đến đây, tôi rất tiếc phải thông báo rằng, ông Lãm không còn đủ tư cách để giữ trọng trách tư lệnh Vùng 1 và Quân đoàn 1 nữa.

Đúng là một trái mìn nổ toác giữa phòng họp.

Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía vị tướng vừa được nêu tên.

Nhưng như có vẻ đã sẵn sàng đón nhận từ trước, Tướng Lãm không hề thay đổi nét mặt, ông ta bước lên một bước, dập mạnh gột giày:

- Rõ, thưa Tổng thống!

- Và từ giờ phút này...

- Viên Tổng thống dường như không để ý đến thái độ ấy, đanh giọng nói luôn.

- Người thay thế sẽ là Tướng Ngô Quang Trưởng đây.

Tôi hy vọng hai ông sẽ có những trao đổi cần thiết với nhau để đừng làm hổ danh uy thế của một quân lực có không dưới một triệu quân được trang bị không kém bất cứ một đội quân mạnh nào.

Nét mặt khắc khổ, đen sạm, mắt trũng tối, Trưởng bước lên, ưỡn căng lồng ngực vốn không lấy gì làm nở nang lắm:

- Rõ!

Tôi sẽ hết lòng, thưa Tổng thống!

- Chưa hết!

- Thiệu vẫn đanh giọng.

- Việc Sư đoàn 3, một sư đoàn con cưng của quân lực đã tự động rút lui trong trận chiến vừa rồi lại còn nhục nhã hơn.

Sư trưởng Vũ Văn Giai sẽ phải ra tòa án binh điều trần về vụ này!

Lại một tiếng mìn nổ nữa nhưng lần này có cả chớp lửa bùng lên.

Không hiểu có phải vị sư trưởng nổi tiếng là gan dạ, liều mạng và nóng tính này đã bị ảnh hưởng phong độ người chỉ huy của mình hay do vốn dĩ tính cách ông ta là như thế, Tướng Giai đứng lên với nét mặt lộ rõ vẻ lì lợm, bất cần:

- Tôi đã xác định trước và xin hoàn toàn chịu trách nhiệm, thưa Tổng thống!

Thiệu bất ngờ đập mạnh những ngón tay trắng hồng xuống mặt bàn:

- Chịu trách nhiệm!

Cứ thua bại, cứ bỏ chạy rồi lại cứ xin chịu trách nhiệm thì dễ quá, thằng hèn nào cũng làm được thưa các ngài sĩ quan vô cùng thân mến và rất đáng tin cậy của tôi.

Viên cố vấn Mỹ tóc bạch kim, dáng cao, nói tiếng Việt khá chuẩn, khẽ nở một nụ cười vừa đủ cho một ứng xử ngoại giao:

- Tôi thành thực chia buồn với ông Lãm và ông Giai, nhưng ta cũng nên ý thức đó là quy luật của chiến cuộc.

Trước đây, để mất vùng tiền đồn 1, không chỉ các ngài mà ngay cả Tướng Westmoreland của chúng tôi cũng phải ra đi để thay vào đó là Tướng Abrams.

Thiệu nhún vai, khẽ nhếch mép để lộ ra chiếc răng khểnh khá duyên cho một người phụ nữ nhưng lại hơi thừa cho một người đàn ông:

Có thể mất một vài nơi khác nhưng không thể để mất Quảng Trị.

Nó là điểm nhạy cảm nhất và cũng là điểm quyết tử nhất để Hà Nội họ không có trớn phát triển xuống phía nam và có cớ nói mạnh, ra giá, chơi khó ta trên cái gọi là hòa đàm Paris chết tiệt sắp họp trở lại.

Ngừng một lát, Thiệu nhìn khắp lượt tướng lĩnh, cao giọng:

- Đây là danh dự, là lịch sử.

Tôi, tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ra lệnh cho các ngài bằng mọi giá trong thời gian ngắn nhất phải tái chiếm được Quảng Trị, trong đó khu thị xã và Thành cổ là yếu điểm cốt tử.

Để đạt được điều này, tôi sẽ quyết định vét toàn bộ lực lượng tổng trù bị thiện chiến nhất của quân lực là sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến, ba liên đoàn biệt động, tăng cường thêm một lữ đoàn thiết giáp, hai lữ đoàn pháo, một sư không quân... lên đây trực tiếp tham chiến cùng các ông.

Ba quân nhân đeo lon đại tá đại diện cho ba sắc lính con cưng như chỉ chờ có thế, vội đồng loạt bước lên, dập gót giày, mặt đằng đằng sát khí.

Thiệu nhìn ba khuôn mặt đó với vẻ không mấy hài lòng như cách nhìn những chú ngựa non háu đá, nói tiếp, giọng mềm hơn:

- Nếu cuộc tái chiếm này không thành, không phải chỉ các ông mà ngay cả chính tôi cũng không còn đường rút.

Ông Đại tướng tổng tham mưu trưởng đây sẽ giúp các ông hoàn tất kế hoạch mang tính sống còn này.

Tướng bốn sao Cao Văn Viên có cái dáng trí thức nho nhã của một nhà chính trị hơn là một võ tướng từ tốn đứng dậy, thẳng người nhưng rõ ràng trong cái nhìn của ông vẫn có điều gì như là sự nghi ngại.

Viên cố vấn Mỹ nói thêm:

- Trung thành với công thức vũ khí Mỹ, bộ binh Việt, xin hứa chúng tôi sẽ dùng tối đa hỏa lực không quân và pháo binh để nghiền nát Thành cổ Quảng Trị trong thời gian ngắn nhất!

Đó là ý định của Tổng thống Nixon.

Danh dự của các ngài cũng là danh dự của chúng tôi.

- Cái đó còn phải suy xét lại, thưa ông cố vấn!

Thiệu lạnh mặt buông thõng một câu rồi đi trở ra chiếc chuyên cơ nằm loang lổ dưới nắng, vẫn dáng đi nhanh nhẹn nhưng đôi vai đã có chiều hơi gù xuống như đang bị gánh nặng cuộc chiến trĩu đè.

Cả đoàn tùy tùng ra theo.

Thoáng một ánh nhìn giễu cợt, khinh khi của viên cố vấn Mỹ dõi theo dán vào cái gáy lấm tấm mồ hôi đang căng ra của viên Tổng thống bản địa.
 
Mưa Đỏ
Chương 5


Từ trên một điểm cao kín đáo có nhiều khóm lá bao quanh, chiếc ống nhòm của Tư lệnh mặt trận Lê Trọng lia chầm chậm một vòng xuống các cảnh vật phía dưới.

Trước mắt ông là thị xã Quảng Trị đang nằm im lìm, thoi thóp bên dòng Thạch Hãn.

Dòng sông mùa này chưa có nhiều nước nên nó giống như một vành khăn xanh vắt qua nhà cửa, đất đai, đường sá, làng mạc rồi uể oải nối ra cửa biển Ái Tử.

Một cửa biển có cái tên Mẹ Con thao thiết thế này mà giờ đây đen đặc những ụ pháo nòng dài, đen đặc những con tàu gầm ghì súng ống như sẵn sàng lao lên làm cuộc cày nát đất liền.

Ánh mắt mất ngủ của ông hơi dừng lại ở cây cầu Thạch Hãn khẳng khiu chưa có người xe qua lại...

Dừng lại ở thôn Nhan Biều không còn ngan ngát màu xanh cây lá như hồi mới đến...

Dừng lại ở ngã ba Đông Hưng phập phồng một dải đất ba-zan bầm đỏ...

Dừng lại ở nhà thờ Trí Bưu mà từ đó dường như đang vọng lên những tiếng chuông nguyện hồn ngột ngạt, u trầm...

Dừng lại ở Bến Sải lặng tờ như một bến chết và xa nữa là khu vực Đông Hà.

Cuối cùng, ánh mắt ấy dừng lại thật lâu vào một khu đất vuông vức có tường thành bao quanh, bên trong gần như không có sự sống.

- Thành cổ Quảng Trị...

Tiếng ông thì thầm.

Người sĩ quan tham mưu đứng cạnh nhìn lên.

- Dạ, thủ trưởng nói gì kia ạ?

- Thành cổ, Trí Bưu, Nhan Biều, Tri Tôn...

Rồi đây tất cả sẽ trở thành những địa danh lịch sử.

- Giọng ông vẫn thì thầm, rồi ông bỏ ống nhòm quay qua người trợ lý.

- Cậu có nhìn kĩ khu Thành cổ không?

Mặt hậu nó chỉ có dòng Thạch Hãn làm đường tiến lui, còn mặt tiền ba bề đều trống trải, vị thế hết sức mỏng manh, theo cái nhìn quân sự thì không bao giờ nên cố thủ ở đó nhưng ở vị trí chính trị chiến lược thì lại phải giữ cho bằng được, giữ càng lâu càng tốt.

Cậu thấy sao?

Không chờ trả lời, ông nói tiếp, gọng hơi căng lên:

- Đây là một cái quyết chiến điểm cho toàn cuộc, có thể thành có thể bại nhưng chắc chắn ta phải trả giá rất đắt.

Tôi đã có lần nói điều này với đồng chí Bí thư quân ủy nhưng không được chấp nhận.

Phải thông cảm nơi chôn rau cắt rốn của đồng chí ấy chính ngay ở đây.

Vì vậy, tôi muốn Ban tham mưu của cậu ngay ngày mai hãy trình lên Bộ tư lệnh Mặt trận những phương án phòng thủ sao cho bộ đội cầm cự được lâu nhất và thương vong ít nhất.

Đã đến lúc trong căn cốt tư tưởng của chúng ta, phải xác định không thể đạt hiệu quả bằng bất kỳ giá nào.

Đây là một mục tiêu có ý nghĩa lịch sử và vì thế về sau này nó sẽ được lịch sử nhìn nhận lại.

Ông không nói gì nữa, hạ người ngồi xuống một gốc cây, móc thuốc ra hút, trầm ngâm.

Người sĩ quan tham mưu cũng im lặng.

Anh hiểu lúc này, người tư lệnh nổi tiếng là tài ba và thương lính trong toàn quân của mình đang có điều khó nghĩ.



Lúc đó, từ trên các chiến hạm Mỹ đậu ngoài khơi, từ những cao điểm nơi cửa Ái Tử, bất thần những nòng pháo đen sì ngóc đầu khạc lửa.

Những tiếng nổ, những cột khói úp chụp xuống thị xã và các vùng lân cận.

Úp chụp xuống một dòng người đông vô kể đang lũ lượt, hoảng loạn, bế bồng, gồng gánh nhau chạy ra khỏi vùng lửa đạn, ra khỏi thị xã.

Pháo vẫn nổ cấp tập.

Tiếng đạn rít trong thinh không sằng sặc như tiếng cười của quỷ.

Trong dòng di tản hỗn loạn đã có thân người, nhóm người tung lên, quật xuống.

Tiếng kêu khóc, tiếng rên rỉ, giãy giụa, quằn quại, máu chảy thành vũng thành vệt, láng nhầy mặt đường.

Lại một chiếc xe đò bốc lửa, nổ tung.

Chiếc xe đò nữa, mảnh vỡ bay lên như xác pháo hồng.

Một người đàn ông cháy đen như khúc củi bên đường, nước dịch rỉ ra làm dính nhớp cả những bầy ruồi đang sà xuống.

Một đứa trẻ bung hết quần áo chạy như hóa dại gào thét gọi mẹ.

Một người mẹ trẻ nằm chết vùi trong vệ cỏ để lộ những mảng trắng xanh xao trên da thịt.

Đứa bé sơ sinh nằm cạnh không hay, cứ mãi rúc đôi môi nhỏ xíu vào khuôn ngực bết máu của người mẹ mà bú...



Từ trên sườn đồi, Thiếu úy Quang và tốp lính dù của mình qua chiếc ống nhòm có độ phân giải cao đã nhìn thấy hết thảy.

Hắn gọi vào máy bộ đàm, rít lên: "Tiên sư bọn Mẽo!

Chúng mày lòi tròng hả?

Đạn rơi hết vào đầu dân rồi!

Chuyển làn sang phải đi!"

Nhưng những cột lửa vô tri vẫn dựng lên ở ngay giữa đoàn người.

Những thân xác và xe cộ lại nát vụn, bay lên.

Quang quay qua người lính ngồi bên cạnh, nói vung cả nước miếng:

- Hoài!

Mày lấy xe phóng ngay về chỉ huy sở nói bắn con mẹ gì mà toàn rơi vô đầu dân.

Không dừng lại, chính tao sẽ xách đại đội dù về hỏi tội chúng.

Phóng lẹ đi!

Người lính vâng lời, cuộn giò lao nhanh đến chiếc Jeep lùn đậu dưới dốc, nhảy lên rồ ga phóng ngược về phía sau.

Quang lại đưa ống nhòm lên mắt...

Bỗng bàn tay hắn thoáng giật sựng như vấp phải một cái gì.

Hắn thả nhanh ống nhòm, dụi mắt...

Dụi nữa rồi vòng tròn dừng hẳn, run run...

Trước mắt hắn, qua làn khói bụi dày đặc đang nhấp nhóa hiện lên dáng hình một cô gái áo quần cũng rách tơi tả, nhuốm máu chạy nhanh đến chỗ đứa bé đang tìm ngậm vú người mẹ đã chết.

Cô cúi xuống gỡ đứa bé ra, bồng lên tay, lấy tấm mền xanh vương gần đó đắp hờ lên thân hình người mẹ rồi cùng đứa bé nhập nhanh vào dòng người...

Quang vội vặn hết nấc ống nhòm.

Khuôn mặt cô gái dần dần hiện ra khá nét rồi bất thần biến mất trong đám đông.

Từ miệng hắn bật ra một tiếng kêu thảng thốt: "Hồng...

Trời!

Có đúng là Hồng không?...

Sao cô ấy lại ở đây?..."

Tiếng nói ấy lọt vào tai viên Chuẩn úy đội phó có khuôn mặt thư sinh, mái tóc bồng bềnh nhưng con mắt lại rất tối ngồi cạnh.

Gã Chuẩn úy đưa đôi mắt ấy chém nhanh vào nét mặt của Quang như chém vào một vỉa quặng bí ẩn như thăm dò một chút rồi cũng đưa ống nhòm lên phóng chiếu về hướng dòng thác di tản nhưng không nhận ra điều gì.

Không nhận ra cả những điều đang hiện lên bảng lảng, nhức nhối trong đầu Quang...

...

Đó là vào một buổi sáng có nhiều nắng giống như buổi sáng này, nhưng khung cảnh lại là trong khuôn viên tĩnh lặng, thơ mộng của một sân trường đại học nằm ngay giữa kinh thành Huế.

Có rất nhiều sinh viên vận đồng phục đang đứng hướng nhìn lên một bục cao.

Nơi đó hiện diện một nữ sinh vận áo dài trắng, tóc vén cao, khuôn mặt thanh thoát, sáng trắng, đôi mắt hơi xếch, đen huyền đẹp đến nao lòng chiếu thẳng vào đám đông, chiếu thẳng vào cả toán lính dù của Quang mặc thường phục đứng lẩn quất phía dưới, cách hơi xa một đoạn.

Tiếng nói của cô cũng thanh thoát nhưng rắn rỏi pha chút xa xót, nghẹn ngào: "...

Tuổi trẻ học đường của chúng ta đã đến lúc phải ra khỏi cơn mê để thấy rằng hành động của quân đội Mỹ đang tâm rót pháo vào dân lành là trái với đạo lý, với lương tri, là không thể tha thứ được.

Hành động này càng cần lên án khi có sự tiếp tay của chính quyền và quân lực..."

Thực ra Quang không nghe rõ cô gái nói gì mà chỉ thấy choáng ngợp trước hình ảnh mỏng manh và kiêu hãnh được kết hợp đến kỳ lạ như hiện thân của thiên sứ trong một con người cô.

Giọng nói của cô gái vẫn vang lên bằng thứ giọng Huế thật ngọt như là nhõng nhẽo: "Thưa các bạn!

Là con Lạc cháu Hồng, chúng ta không thể làm ngơ trước hiện trạng này.

Chúng ta phải biết nói lên tiếng nói của mình cũng như tổ tiên ta đã biết cách nói qua hàng ngàn năm Bắc thuộc..."

Đến đây thì bản năng phận sự làm chất lính trong người hắn chợt tỉnh, hắn tiến đến sát trước mặt cô, nói vừa đủ nghe: "Cô gái...

Nói đủ rồi đó!

Xuống đi, nên xuống ngay đi, không bọn cảnh sát dã chiến nó đến lại rầy rà."

Không hiểu cô có nghe được những lời ấy trước hàng trăm tiếng hưởng ứng cồn lên như sóng trào của đám đông không, nhưng trong một thoáng hắn cảm thấy rõ đôi mắt long lanh kia đã đậu nhanh vào khuôn mặt hầm hố của mình trước khi nhìn nhanh sang chỗ khác để tiếp tục bài diễn thuyết bằng chất giọng ngân nga như hát: "Thưa các bạn!

Tuổi trẻ của chúng ta sẽ mắc tội với tổ tiên khi chỉ biết nằm trong chăn ấm với những vui buồn vị kỷ của mình.

Chúng ta đã đến lúc phải..."

Từ phía sau, Phan Thái, gã Chuẩn úy đội phó có mái tóc bồng bềnh và cái nhìn u tối chen lên đứng ngay trước mặt diễn giả, khẩu rulô hườm hườm trên tay.

Tiếng nói của gã đầy uy lực đượm chút lưu manh giang hồ: "Có câm đi không con nặc nô đội lốt tiên cô kia!

Mi còn gào lên như vậy nữa, thân thể của mi sẽ nhòe máu ngay bây giờ.

Câm!"

Một thoáng rùng mình chựng lại nhưng tiếng nói ấy vẫn không hề giảm âm lượng, thậm chí còn ánh ỏi hơn: "Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục trước bạo tàn xâm lăng và những điều ác nhân thất đức..."

Cây rulô trên tay hắn lạnh lẽo đưa lên nhằm đúng khuôn ngực thanh nữ no tròn đang rướn căng ở trên cao.

Ngón tay đặt vòng cò của gã từ từ siết lại...

Quang vội lách người lao đến chặn lại: "Dẹp đi Chuẩn úy!

Bắn một đứa con gái là hèn, bắn một đứa con gái trên tay không tấc sắt còn hèn hơn.

Còn có nhiều dịp để Chuẩn úy thi thố ngoài tiền đồn, vội gì!"

Gã Chuẩn úy sầm mặt.

"Tôi làm phận sự của một người lính!"

Nòng súng ấy lại đưa lên...

Lần này thì Quang không kìm được nữa, hắn chuyển mũi súng trên tay mình vào giữa ngực Phan Thái, gằn giọng: "Phận sự người lính không ai dạy cậu phải là kẻ sát nhân, rõ chưa?"

Nhìn trong mắt viên đội trưởng, gã đội phó biết con người này không nói giỡn và đã cùng sống chết với nhau không ít ngày, gã hiểu rằng đội trưởng của mình chưa nói giỡn bao giờ nên thở phì ra một cái như rắn mang bành vuột mất con mồi, đành tra súng vào bao rồi lùi lại.

Trên bục, lại thoáng một cái nhìn là lạ của cô gái chiếu vào người vừa cứu mình nhưng không ẩn chứa một điều gì rõ ràng, chỉ thấy trên khuôn mặt xinh xắn ấy có những giọt mồ hôi lấm tấm rịn ra...

Quang như sực tỉnh, vội đưa ống nhòm lên quan sát một lần nữa...

Lát sau vẻ không thấy gì, hắn hạ xuống, nói với gã Chuẩn úy:

- Cậu ở lại chỉ huy đơn vị.

Tôi có chút việc phải đi.

- Đi đâu?

- Giọng hỏi cố tỏ ra cấp dưới nhưng vẫn không thể giấu được một chút xấc láo và tò mò vẩn lên.

- Nhà binh!

Có những việc chỉ cần nghe chứ không cần hỏi.

Bài học đầu tiên trong quân trường chắc cậu chưa quên?

Nói rồi, để mặc tia nhìn hằn học phóng theo của gã đội phó, Quang lách qua, chìm người vào các lùm cây cháy sém lao thẳng về phía đám đông đang di tản.

Đến một đoạn, hắn tháo giây lưng, tháo chiếc áo rằn ri, tháo luôn cả chiếc mũ nồi nâu bỏ vào một bụi cây kín đáo gần đó, trên người chỉ còn độc cây súng ngắn giắt trong áo, lao đi tiếp...

Chạm dòng người, phát hiện ra một chiếc Honda vô chủ vẫn nổ máy nằm đổ nghiêng phịt khói ở vệ đường, hắn vội dựng lên, vặn ga phóng chầm chậm về phía trước, đưa mắt sục sạo khắp mọi ngóc ngách, mọi khuôn mặt nhưng vẫn không thấy cái hình bóng kia đâu.

Hắn phóng tiếp và ánh mắt đỏ kè lại sục sạo nhưng vẫn không thấy gì.

Đúng vào lúc hắn thất vọng định quay đầu xe trở lại thì chợt dừng, toàn thân nóng bừng...

Trời ơi!

Người đó đấy, chính cô ấy đấy, khuôn mặt kia, đôi mắt kia, cái miệng đang mím chặt kia không thể sai được.

Cô ấy đang bồng đứa bé trên tay, lưng áo ướt đẫm, chân trần, bắp chân con gái mịn trắng có mấy vệt máu chảy dài, thỉnh thoảng lại vấp chao lạng người đi.

Pháo vẫn nổ ở hai bên, ở đằng trước đằng sau quẩn vào bụi đỏ.

Dáng hình của cô phiêu dạt như một bức tranh tội tình về người con gái chìm trong khói lửa chiến tranh.

Hắn cho xe cắt đến sát cạnh, dừng khựng, không nói không rằng xốc cả hai lên phía sau xe rồi bươn nhanh qua dòng người, qua các đụn khói, qua những thân người nằm rải rác đó đây...

Đến một chân dốc, hắn cho xe dừng lại, nói nhanh:

- Đã qua tọa độ pháo.

Nghỉ một chút đi rồi cô dùng chiếc xe này đưa đứa nhỏ về hướng bắc, ở đó sẽ an toàn hơn.

Cô chăm chú nhìn vào khuôn mặt râu ria, hầm hố của hắn, ngờ ngợ...

- Còn ông?

- Tôi sẽ đi trở lại.

- Xin hỏi ông...

à... anh là ai mà đối xử tốt với chúng tôi như vậy?

- Không cần biết.

Việc cần làm bây giờ là phải thoát khỏi tọa độ này ngay!

Và nói chung, một người như cô nên tránh xa mọi trò chính trị, đấu tranh tầm thường, nó uổng phí đi!

Chính câu nói này cộng với chiếc quần lính bỏ trong đôi giày bốt-đờ-xô đã khiến cô gái chợt nhận ra mình đang đứng trước ai.

Cô vén tóc, khẽ cười, nụ cười có lẫn cả bụi cát trên bờ môi khô xác:

- Thì ra là anh!

Hôm đó tôi chưa kịp cám ơn anh thì bây giờ lại mang thêm cái ơn nữa.

- Cách trả ơn tốt nhất là cô ráng đưa đứa bé cùng với cô ra khỏi vùng chết chóc vớ vẩn này trở về Huế.

Đây là địa chỉ có thể tin cậy...

Hắn rút cây bút ra khỏi túi định viết vào mảnh giấy cái gì đó, thì cô buộc phải chặn lại:

- Cám ơn ông sĩ quan nhưng ở đây tôi còn gia đình, bè bạn và bổn phận không thể bỏ đi được.

- Bổn phận chống Mỹ chống chính quyền phải không?

Hắn nhìn thẳng vào mắt cô, cô cũng nhìn thẳng trở lại và gật đầu.

Cái nhìn bướng bỉnh và thoáng phiền muộn ấy đã khiến hắn bỗng nheo mắt lại như bị chói nắng.

Quang cười nhạt:

- Tùy!

Hắn quăng mạnh cây bút vào bụi cây gần đó rồi quay lại, để lộ một chút thảng thốt và đau đớn vụt qua trên khuôn mặt:

- Tôi chưa thấy ai có cái nhìn lạ lùng như cô.

Và vì chính cái nhìn này, tôi hy vọng sẽ có dịp gặp lại, và càng hy vọng chúng ta không rơi vào cảnh đối đầu ngớ ngẩn, tất nhiên là nếu tôi chưa bị con quái vật chiến tranh nó nhai mất đầu.

Bảo trọng!

Chào!

Nói xong, quẳng chiếc xe ở lại, hắn băng mình qua đường, phóc vào rừng cây khét cháy, lao nhanh về hướng vị trí đóng chốt của đơn vị, mềm dẻo như một con dã thú.

Cô gái chau mày nhìn theo giây lát cái hình hài đàn ông hiện ra và biến đi bất chợt như một ảo ảnh đó, khẽ lắc lắc đầu vẻ không hiểu...
 
Mưa Đỏ
Chương 6


Pháo cũng đang thè những cái lưỡi tanh tưởi đỏ lòm của mình liếm xuống những cánh rừng chồi xơ xác ven dòng Thạch Hãn.

Pháo giội thẳng vào lòng sông.

Cây bùng cháy, nước dựng lên, bầu trời bầm đỏ, cảnh vật chao nghiêng.

Tất cả rung giật, vỡ vụn như báo hiệu cái thời khắc trọng đại và khốc liệt nhất của lịch sử vùng đất này, của lịch sử cuộc chiến tranh dằng dặc này sắp xảy ra.

Song điều đó vẫn đang nằm ở phía trước, nằm trong khoảng thời gian địa ngục trải ra suốt tám mươi mốt ngày đêm mà lúc này tiểu đội sáu người của Tạ chưa thể mường tượng ra, làm sao có thể mường tượng ra?

Họ vô tư, hồn nhiên xen một chút lãng mạn, hồi hộp như những chú chim non sắp sải cánh bay vào một vùng giông bão phiêu bồng và kỳ vĩ.

Pháo bắn họ chui xuống hầm.

Pháo ngừng, họ lại trồi lên làm những công việc theo thói quen nghề nghiệp trước khi bước vào đời lính xông pha của mình.

Người thích vẽ thì vẽ, người thích cơ khí thì cứ loay hoay tháo ra lắp vào mấy khẩu súng trên tay, người mê nhạc lại lim dim mắt lắng nghe đến tận cùng những âm thanh tĩnh lặng kỳ lạ sau mọi rú rít, gầm gào.

Người không thích gì thì ngồi đốt thuốc tán gẫu hoặc tranh thủ nhảy xuống sông tắm táp, bơi lội một chút cho vơi nhẹ đầu óc.

Đặng Cường và chú bé Tú đang chìm người trong dòng nước lúc này vẫn còn trong xanh, răng cười lóa nắng.

- Chiến tranh mà cũng thơ mộng nhỉ, anh nhỉ?

- Tú đưa mắt nhìn sang hai bờ lau lách.

- Sông này giống sông Nhuệ quê em quá, chỉ trong hơn thôi và không có bọn con gái chiều chiều đi làm ruộng về xuống tắm.

Cường mỉm cười, đưa tay khẽ bẹo má cậu bé:

- Ở nhà em đã có người yêu chưa?

- Chưa.

Cũng mấy bận định yêu nhưng bọn con gái nó cứ bảo em chỉ bằng quả ớt thì yêu iếc gì ạ, không bõ!

- Ớt à?

- Cường bật cười.

- Con gái quê em bạo miệng nhỉ?

Mà sao họ biết?

- Chúng nó cứ đè em ra rồi lột truồng, tức lắm nhưng không làm gì được.

- Không sao.

Ớt rồi sẽ biến thành dưa, sau này còn sống trở về, em sẽ tự lột truồng cho họ nổ con ngươi.

- Ối giời!

Anh nói nghe kinh quá, em không dám đâu.

- Thôi tắm cho thỏa đi rồi lên.

Nghe nói khu thành bên kia sông, nơi chúng ta sắp sang rồi sẽ ác liệt lắm, có khi không còn kịp tắm nữa kia.

- Em chả sợ.

Khi đi, mẹ em bảo, cố bằng anh bằng em mà trả thù cho bố rồi còn về.

Bố em là lính pháo thủ 14 ly 5, hy sinh ngay trên mặt cầu Hàm Rồng.

Tiểu đội phó Sen đi xuống sát mí nước, giọng thật dịu:

- Thôi lên đi, lại sắp đến cữ pháo của chúng rồi đấy.

Cường và Tú bước lên, vẻ tiếc rẻ.

Sen đưa cho Cường chiếc áo lót còn mới, nói nhỏ:

- Cái của cậu rách quá, mình còn thừa một cái, mặc vào đi!

Cường cảm động cầm lấy chiếc áo màu lá cây mặc vào người.

Sen khẽ lắc đầu:

- Cậu có một thân hình đẹp thật, như lực sĩ, cố đừng để khuyết đi một bộ phận nào nhé!

Chắc hồi ở nhà có chơi thể thao?

- Vâng, cũng võ vẽ qua loa.

- Sắp đánh lớn, các cậu là sinh viên mà cũng phải bỏ dở để lao vào trận theo lệnh tổng động viên thế này, mình cảm phục lắm!

Kể ra cũng hơi uổng nhưng biết làm sao, chiến tranh là vậy, nó chẳng chừa ai.

Rồi tới đây có gì trong đánh đấm, anh em mình sẽ bảo ban, nương tựa vào nhau, cũng quen nhanh thôi.

- Dạ, tất cả trông vào anh và anh Tạ, những người đã qua chiến đấu.

Vừa lúc Tạ đi đến cùng với bốn, năm chiến sĩ trẻ măng khác.

Đang đi, anh chợt dừng, tò mò nhìn chăm chú vào những nét ký họa trên tay Bình như cái nhìn háo hức của trẻ trâu gặp cảnh cầu vồng bảy sắc sau mưa:

- Vẽ đẹp hè!

Như thật í nhưng xếp lại đi đã, mi còn có nhiều dịp để vẽ.

Bây giờ tất cả nghe đây!

- Anh nhìn khắp lượt, giọng thoắt trở nên nghiêm trang.

- Đã có lệnh qua sông tối nay.

Tiểu đội ta được bổ sung nóng năm cậu nữa, vậy coi như một tiểu đội đủ.

Các cậu chuẩn bị đi, không được quên một thứ gì hết, nhất là bông băng.

Cậu Cường đâu ấy nhỉ?

- Báo cáo Tiểu đội trưởng, có tôi!

- Cường bước ra, đứng nghiêm.

- Báo cáo mẹ gì, nghe thuốn cái lỗ tai lắm!

Cậu chạy nhanh lên Ban chỉ huy trung đoàn, hình như có ai muốn gặp cậu.

- Ai ạ?...

Ai mà lại gặp lúc này ạ?

- Hỏi ông giời.

Đi nhảu chân lên không là tớ bỏ lại đấy.

- Rõ!

Nói rồi Cường xách theo cây AK phóng nhanh ra phía cửa rừng.



Ai nhỉ?

Câu hỏi đó cứ trở đi trở lại trong đầu Cường suốt đoạn đường năm cây số chạy gằn lên Ban chỉ huy trung đoàn.

Từ lúc nhập ngũ cho đến khi hành quân vào đây, đến cấp đại đội anh cũng chưa một lần giáp mặt ai huống chi là cấp trung đoàn cao vời vợi kia.

Hay là ở nhà có chuyện gì rồi?...

Mẹ anh làm sao ư?...

Một hơi thở lạnh buốt chạy dọc suốt sống lưng khiến anh không muốn nghĩ sâu thêm nữa.

Mẹ thời gian gần đây thỉnh thoảng hay ho về đêm, lại đôi khi đau nửa đầu nữa, rất có thể, biết đâu...

Mà chắc cũng không phải.

Thời gian này anh biết chắc mẹ đã sang bên Paris rồi, đâu còn ở lại Hà Nội mà đau này đau kia!

Bước chân anh sải nhanh hơn, mặc kệ cho những vết gai cào rớm máu khắp bắp chân, bàn chân.

Cái sợ nhất lúc này của anh là không về kịp để sang sông với tiểu đội chứ chuyện ai gặp, gặp ai không còn quan trọng nữa.

Đến nơi, người sĩ quan trực ban bảo anh ngồi chờ vì các thủ trưởng còn đang có cuộc họp quan trọng.

Cuộc họp ấy có quan trọng thật không anh không biết, nhưng trong một căn hầm thùng đào kiểu nửa nổi nửa chìm gần đó, mấy người ngồi bên trong đều mang một bộ mặt trang nghiêm khác lạ.

Người thứ nhất chừng ba mươi lăm tuổi, cao gầy, tóc húi cua, vẻ mặt khắc khổ nhưng rõ là lành hiền.

Sau này anh mới biết đó là Trung đoàn trưởng Vũ Thành.

Người thứ hai lớn hơn một chút, đeo kính trắng đang cúi xuống ghi chép điều gì vào trang sổ tay vẻ miệt mài, thận trọng lắm, đó là Chính ủy Phạm Lân.

Và người thứ ba không ai khác chính là Tư lệnh mặt trận Lê Trọng, trán rộng, mắt sâu, mỗi lời nói mỗi cái phẩy tay, nhướng mắt đều lộ rõ vẻ quyền uy khác lạ, mặc dù tiếng nói đang vang ra của ông rõ ràng là có cái gì khào khào, đứt quãng của một người đang ủ bệnh.

Ông nói rành rẽ từng chữ:

- Trước mắt, toàn bộ khu vực thị xã và Thành cổ do trung đoàn các đồng chí kết hợp với tỉnh đội đảm nhiệm.

Sau này tùy chiến sự diễn biến sẽ có điều chỉnh thích hợp.

- Ông ngừng lại nhìn sâu vào mắt hai người ngồi đối diện.

- Đây là một địa danh nhạy cảm, vì thế sẽ hết sức ác liệt.

Có thể là điểm ác liệt nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh này.

Với một lực lượng hỗn hợp rất đông và mạnh, chúng sẽ cố tái chiếm bằng được và ta cũng cố phòng thủ bằng được.

Cả nước, cả Nhà Trắng, cả công luận thế giới và tương lai chính trị của chúng ta sẽ nhìn vào mặt trận này.

- Giọng ông bỗng trở nên xuề xòa hơn.

- Nào, sắp sang sông, các cậu đều đã sống với tôi từ hồi Điện Biên, hiểu nhau quá rồi, cứ cho nghe một tiếng nói thật lòng.

Chính ủy Phạm Lân lên tiếng như các câu chữ đã được sắp đặt trước:

- Điểm chốt giữ này đã được Quân ủy và Bộ tư lệnh mặt trận hạ đạt quyết tâm thì có nghĩa nó là một yếu điểm mang tầm chiến lược, chúng tôi xin chấp hành giữ bằng mọi giá.

- Bằng mọi giá à?

- Tư lệnh cười nhẹ.

- Mình không thích cái khẩu lệnh này lắm, có cái gì như là quen mồm, là câu cửa miệng mà khi nói ra người ta chưa thật hiểu hết cái nội dung bên trong.

Tôi luôn tâm đắc lời của anh Văn, chiến thắng nhưng không có nghĩa thỏa sức phung phí xương máu của đồng đội.

Còn cậu?

- Ông quay sang Trung đoàn trưởng đang ngồi gật gù.

- Có gì khoái chí lắm sao mà cái đầu của cậu cứ gục gặc không ra gật không ra lắc vậy?

Vẫn cái tật giống như khi nhận lệnh ôm bộc phá lên đồi A1.

Vũ Thành không gục gặc nữa, giọng tỉnh bơ:

- Hơi ngạc nhiên.

- Cậu ngạc nhiên cái gì?

- Một cái đầu thông tuệ luôn biết nhìn xuyên thấu mọi việc như anh mà lại đồng ý cho chọn cái Thành cổ trơ trụi, bé bằng cái tẩy này làm điểm chốt giữ?

- Thì sao?

- Cá nằm trên thớt.

Nói gì thì nói đây cũng chỉ là cái thế cá nằm trên thớt, điều tối kỵ trong binh pháp, dù tác chiến hiện đại hay cổ điển, không khác gì cái thế của lòng chảo Điện Biên mà tụi Pháp đã chọn làm quyết chiến điểm.

Bí lắm!

- Tức là cậu thấy không giữ được?

- Giữ chứ!

- Vũ Thành đứng bật dậy.

- Nhưng chỉ có vấn đề thời gian giữ được bao lâu.

Trung đoàn Sông Hương anh hùng xin hứa với Tư lệnh và Quân ủy sẽ giữ được thời gian lâu nhất có thể.

Tư lệnh thở phào, vỗ mạnh vào vai thuộc cấp:

- Mình cũng chỉ cần các cậu nói được một câu như thế, còn mọi việc sau đó là phần của mình, phần việc của ba sư đoàn mạnh sẽ hỗ trợ cho các cậu ở vòng ngoài.

Suy nghĩ của cậu Thành thực ra cũng là suy nghĩ của tôi.

Chiến tranh dài quá rồi, anh em mình hy sinh cũng nhiều quá rồi, là thằng chỉ huy, chúng ta không được phép để bộ đội hy sinh thêm nữa mà không đạt được mục đích cuối cùng.

Chiến dịch bảo vệ Thành cổ này nó có khác với các chiến dịch trước, đó là từng giờ từng phút nó sẽ tác động rất mạnh đến tư thế của chúng ta trên bàn Hiệp định Paris sắp tái họp và tư thế ấy, nếu giữ được, nó sẽ tạo một nút nhấn bản lề để đưa đến thắng lợi toàn cuộc.

- Còn không?

- Sẽ có tội với lịch sử.

Và cả tôi, cả các cậu chúng ta sẽ dắt tay nhau ra tòa án binh.

Trả lời thế được chưa?

- Ông bật ho khan vài tiếng, mồ hôi trên trán toát ra.

- Báo cáo, được rồi.

Nhưng còn điều cuối cùng...

- Gì nữa?.., Cái đầu bướng bỉnh thích phản biện của cậu lại mới nảy ra điều gì à?

- Không!

Em chỉ lưu ý là sức khỏe bác dạo này chán lắm rồi đấy, bác mà bị làm sao là bọn em trống lưng.

- Cái thằng... chỉ được cái nói gở.

Tao còn khỏe chán, còn dư sức đi hết được cuộc chiến tranh này và nếu cần, tao cũng sẽ rời chỉ huy sở mặt trận sang sông sống với chúng mày ít ngày.

- Thôi, em xin bác!

- Vũ Thành chắp hai tay vái lạy.

- Bác mà sang là chỉ thêm vướng, mất công lo bảo vệ.

Lê Trọng trừng mắt nhưng đôi môi nhợt nhạt lại cười:

- Vướng?

Cậu ăn nói với tư lệnh như thế đấy à?

Láo!

Càng ngày càng láo!

Vừa lúc đó, người cán bộ trực ban vào báo có chiến sĩ tên Cường đã có mặt theo lệnh gọi.

Nét mặt của vị Tư lệnh hơi sáng lên:

- Tới rồi à?

Cho cậu ấy vào!

Cường bước vào, đứng nghiêm trước mặt Vũ Thành:

- Báo cáo, tôi, Trung sĩ Đặng Huy Cường, Tiểu đoàn 8, Đại đội 3, Trung đội...

Vũ Thành nhìn người lính trẻ từ đầu đến chân rồi đưa tay ra bắt thật chặt:

- Cường đấy hả?

Sinh viên hả?

Đẹp trai lắm!

Mà thú vị thật, chưa bao giờ trung đoàn lại có nhiều sinh viên cùng vào trận như đợt này.

Những dũng sĩ học đường!

Cái tên nghe cũng hay đấy chứ, anh Lân?

Chính ủy Lân gật đầu rồi vỗ vai người mới đến, chỉ về phía ông Lê Trọng:

- Đồng chí ở lại nói chuyện với Tư lệnh, bọn mình có chút việc phải đi.

Cố gắng lên nhé, chàng trai!

Họ chào Tư lệnh rồi đi ra.

Còn lại hai người, Tư lệnh đưa tay khẽ vỗ vào vai anh, ấn anh ngồi xuống chiếc ghế được ken buộc bằng ba đoạn cây:

- Thôi, ngồi xuống, ngồi xuống đi!

Uống trà nhé!

- Vừa rót trà, ông vừa nhìn người lính chăm chú.

- Giống lắm, giống lắm...

Cường ngơ ngác:

- Dạ, thủ trưởng...

Giống gì cơ ạ?

- Cháu giống bố cháu lắm, chỉ riêng đôi mắt là giống mẹ.

Hồi tiền khởi nghĩa chú là bạn... không, là cấp dưới của bố cháu.

Bố cháu khi đó là bí thư đảng bộ của cả ba nước Đông Dương, một chiến sĩ cách mạng tuyệt vời.

Bố cháu mất, rất tiếc chú lại đang ở xa.

Còn mẹ cháu, phải tới mấy chục năm nay chú cũng không có dịp gặp lại.

Chú nhớ ngày ấy cháu mới lẫm chẫm biết đi.

Uống nước, uống nước đi... con!

- Dạ...

Cháu cũng thường được nghe mẹ cháu kể về chú nhưng... nhưng có chuyện gì không ạ?

- Cường hỏi vẻ nghi ngại.

- Cũng không có chuyện gì.

- ông cười hiền hậu như cái cười của một người cha.

- Trước khi chú vào đây, mẹ cháu có điện cho chú nói cháu cũng vừa vào...

Mẹ cháu rất lo cho cháu.

Nhà có hai anh em thì cậu anh cháu đã hy sinh ngay từ hồi đầu đánh Mỹ rồi.

- Mẹ cháu có nói gì nữa không ạ?

- Tóm lại là vầy, theo ý chú, ý chú thôi chứ không phải ý mẹ cháu, biết, bà ấy mắng chết, tức là bên tuyên huấn mặt trận đang thiếu một họa sĩ cho nội dung tuyên truyền, cổ động tinh thần bộ đội, công việc nào cũng là phục vụ cách mạng hết, chú muốn cháu làm công việc đó, ngay từ bây giờ.

Cường đứng thẳng người:

- Báo cáo thủ trưởng, tôi bỏ tất cả vào đây để mong được làm một người lính thực thụ ngoài chiến hào!

Và bây giờ tôi vẫn không thay đổi ý định ạ!

Nếu không còn gì, xin phép thủ trưởng cho được trở về để kịp sang sông với tiểu đội!

Vị Trung tướng tư lệnh đột ngột ôm siết chàng trai vào người, nghẹn giọng:

- Khi nói ra điều này, chú biết câu trả lời của cháu sẽ là như thế.

Đúng là tính cách của bố cháu.

Dũng cảm nhưng hết sức cẩn trọng nhé, con trai!

Cho chú hỏi thăm tất cả anh em trong tiểu đội.

Ông thả tay.

Chàng trai vùng ra, lao nhanh lên mặt đất và biến mất nơi cửa rừng như một cánh chim khát khao được bay lên vẫy vùng giữa bầu trời cao rộng.

Còn lại một mình, người Tư lệnh nhìn theo, đôi mắt hơi mờ đi.

Giọng ông lẩm bẩm:

- Chiến tranh ác nghiệt...

Một chàng trai như thế này mà phải làm mồi cho cái dạ dày không bao giờ biết no của nó thì...

Ác nghiệt thật!
 
Mưa Đỏ
Chương 7


Đêm vượt sông bắt đầu.

Trời lắc rắc mưa.

Cả dòng Thạch Hãn sáng rực như một đêm hoa đăng nếu như chốc chốc không có một cột nước dựng lên sau tiếng pháo nổ.

Pháo nổ dày, san sát như có hàng ngàn con thủy quái vừa gầm gào vừa quẫy lộng làm cả dòng sông chao nghiêng, đổ rạp, chuyển màu.

Chỉ vào khoảnh khắc pháo ngừng, dưới ánh đèn dù, mới nhận ra những đoàn quân xuôi sông, ngang sông bằng đủ các loại phương tiện: xuồng cao su, thuyền dân, phao ni lông, dây chằng vắt ngang...

Cũng như trẩy hội, ken đặc, ngậm tăm.



Tại một khúc sông cạn, một tốp bộ đội đang cởi truồng như nhộng ôm đồ lội qua.

Trên vai họ lỉnh kỉnh những súng đạn, ba lô, gạo, thuốc...

Ra giữa dòng, đụng một con thuyền đang chèo xuôi do một cô gái cầm lái, không kịp hụp xuống họ đã để hở ra toàn bộ thân thể khiến cô gái vội quay đi, chiếc thuyền chở đầy lính bỗng lạng sang bên, chao đảo.

Đến khi các chàng trai hụp thấp được người xuống, nhe răng trắng nhởn ra cười thì cô mới lấy được thăng bằng chèo tiếp.

Trên thuyền, tiểu đội của Tạ đang ngồi ôm súng thu lu.

Và người chèo không ai khác chính là cô gái có tên là Hồng đã dứt đứa bé ra khỏi vú mẹ trong buổi chạy loạn hôm rồi và cũng là cô sinh viên áo trắng diễn thuyết trên sân trường đã làm cho viên Thiếu úy biệt động dù chao đảo trước đó.

Dáng cô mềm mại, nghiêng nghiêng như đi ra từ huyền thoại.

Thỉnh thoảng, ánh lửa pháo trát lên người tạo cho cô một nét đẹp kiêu hãnh, mỏng manh.

Có những con thuyền vượt qua, có những con thuyền tụt lại, lại có những con thuyền bị sóng đánh tròng trành muốn đổ ụp.

Cầm cây súng lăm lăm trong tay nhưng con mắt Bình, chàng họa sĩ tương lai, lại cứ nhìn lên cô đăm đắm rồi chặc lưỡi:

- Không thể có hình ảnh nào đẹp và bi tráng hơn anh Cường ơi!

Giá lúc này có cái máy ảnh trong tay...

Cường cũng đang nhìn lên cô, khẽ gật đầu:

- Mình cũng đang ước giá như có một chiếc máy thu âm.

Rồi anh ngước nhìn lên cao hơn, về hướng bầu trời đang nhì nhằng sáng tối như lắng nghe mọi thứ âm thanh kỳ lạ chưa bao giờ được nghe của một khoảnh khắc vào trận.

Còn Tú, với khuôn mặt trẻ thơ cứ nháo nhác nhìn đó đây, thỉnh thoảng lại:

- Đẹp, đẹp quá!

Giống hội mừng lúa mới quê em quá!

Sen mỉm cười suỵt nhẹ, giơ tay chỉ lên trời ra ý nhắc cậu phải cẩn thận rồi quay qua phía Cường, nói sát vào tai:

- Người ta bảo chiến tranh không nên có khuôn mặt đàn bà nhưng thử hỏi đêm như đêm nay, nếu không có khuôn mặt kia, dáng hình kia thì chuyện sang sông rồi chuyện chiến tranh sẽ khô khan kém phần lãng mạn đi biết chừng nào!

Cường nắm chặt tay Sen biểu lộ sự đồng cảm sâu sắc.

Bởi chính trong đầu anh cũng đang vẩn lên điều suy nghĩ ấy nhưng chưa kịp thoát thành lời.

Chỉ có Tạ là cứ mở căng đôi mắt chằng chằng nhìn chếch theo mặt nước về phía bờ bên kia.

Bất ngờ từ trên cao, hàng chùm pháo sáng lại rực lên, rơi xuống, nhấp nhóa tựa những con mắt thóc mách, thô bạo.

Trong chốc lát, tất cả thuyền xuồng và những cái gì gọi là vật thể đang di động trên mặt nước vội tấp hết vào bờ hay đứng im phăng phắc.

Mặt sông lại vắng hoe, lặng tờ như một khúc sông chết, như một đoạn sông hàng trăm năm bị bỏ quên trong lau lách, hoang dại.

Như một thói quen của quy luật giết người, và cũng là cách chơi lập trình của tư duy quân sự Mỹ, lại giống như trận chiến trên bờ, sau B52 rải thảm là bộ binh đổ quân, ở đây sau pháo sáng là pháo nổ.

Nổ dữ dội hơn.

Nổ như vãi đỗ.

Nổ kiểu con nhà giàu tiêu tiền không đếm.

Đã có xuồng dính miểng chúi mũi xuống, đã có xuồng hứng cả một cột nước ụp vào như muốn nhấn chìm xuống đáy.

Người trên xuồng văng ra tựa những tảng đất có hình hài, lại có xuồng trúng pháo vỡ tan, biến mất trong lòng nước.

Những mảnh gỗ và đầu người cùng bồng bềnh, lóp ngóp, vật vờ, trồi sụt...

Pháo ngừng.

Mặt sông chợt tối sầm.

Thuyền của cô gái tên Hồng lại nhanh chóng lao ra giữa dòng.

Tất cả các xuồng thuyền lại trở về quỹ đạo sang sông.

Thoáng nhận ra dáng chèo của cô đã có chiều đuối dần, bai chèo khoét trong lòng nước không còn ngọt sâu như cũ, Cường đứng lên:

- Xin lỗi, o để tôi chèo phụ cho một lúc!

Hồng nhìn nhanh sang anh, khẽ nhíu mày:

- Người như anh không chèo được mô.

- Sao?

- Anh trợn mắt.

- Phải quen và khỏe kia, mà dòm anh yếu ớt, thư sinh lắm!

- Đừng đùa, hồi ở nhà, tôi đã từng chèo Peritsoir trên Hồ Tây giật giải nhất đấy!

- Em nỏ biết Peritsoir là cái chi mô nhưng anh cứ ngồi yên đó, mỗi người mỗi việc.

Một trái pháo "đĩ" như cách thường gọi của lính, chỉ những trái pháo đi một mình, đỏng đảnh, bất ngờ chợt nổ gần khiến chiếc thuyền bị bốc đít muốn nhủi đầu xuống cái hút nước vừa mở ra sâu hoẳm ấy.

Cô suýt chút nữa rời tay khỏi bai chèo ngã dụi ra khỏi mạn thuyền nếu không được cánh tay rắn chắc của Cường kịp giữ lại.

Anh đứng bật dậy, giằng lấy bai chèo, trừng mắt ấn cô ngồi xuống.

Ánh mắt đầy uy lực ấy khiến cô bất giác trở nên ngoan ngoãn, đành phải ngồi im.

Nhưng đúng là chưa quen thật.

Mũi thuyền bắt đầu còn đi thẳng, sau đó lạng qua lạng lại như gã say thuốc lào rồi quay tròn.

Đến lượt cô gái đứng dậy, trừng mắt lại:

- Đã bảo rồi, bướng!

Anh trả tôi bai chèo đây, soa với chả soa, sốt ruột!

Có vẻ tự ái, anh lại ấn cô ngồi xuống, quả quyết hơn rồi cởi phăng áo ra, mắm môi, căng gáy, vận sức vào tay chèo.

Pháo sáng trôi xa soi rõ khuôn ngực nở nang vuông vức, săn rắn nhếnh nháng nước của người lính.

Và rồi chỉ lát sau, có lẽ anh đã nhớ lại được những động tác chèo cơ bản, mũi thuyền đã giữ được cân bằng, chỉnh hướng, xé một đường thẳng sang phía bên kia bờ.

Lại một trái pháo "đĩ" nữa nổ ngay sát mạn thuyền.

Đáy thuyền dâng bềnh lên khỏi mặt nước rồi hạ xuống cái doành, muốn lật sấp.

Thân hình anh cũng tròng trành như đi trên dây thép nhưng liền sau đó, bằng đôi chân choãi rộng, anh đã lấy lại được thăng bằng.

Con thuyền tiếp tục xé sóng lướt đi.

Pháo vẫn tiếp tục trò chơi cấp tập.

Cấp tập đến cấp tập đi như đùa giỡn với sự sợ hãi đến tột cùng của thần kinh con người.

Anh vẫn chèo, chèo bình thản, chèo rạp người như một dân ngư phủ thực sự.

Bên trái anh, một con thuyền khác cách đó không xa trúng nguyên trái pháo tan vụn, tan biến luôn cả những thân thể ngồi trên rồi chìm nghỉm, biến mất từ từ trong dòng nước bầm đỏ.

Tú ôm chặt lấy mặt, kêu rú lên.

Bình cũng thoáng ngơ ngẩn.

Tạ văng một câu chửi tục vu vơ bắn cả nước bọt không biết về hướng nào:

- Mẹ thằng Mẽo!

Mày xổ thì xổ mẹ nó ra một thể, cứ như thằng sa đì đái dắt thế này thì bố mày điên lắm rồi!

Cường càng khoét mạnh bai chèo.

Thoáng ánh mắt của cô gái nhìn lên anh.

Ánh mắt chứa cả lửa và nước...

Rồi con thuyền cũng khốn khổ bỏ lại đằng sau được những thước nước tử thần nhanh chóng cặp bờ, tơi tả, xộc xệch.

Chờ mọi người lên hết, Cường mới lên sau, hơi loạng choạng.

Tạ chợt kêu:

- Cường, mày bị thương rồi!

Tất cả nhìn lại: từ bả vai trần của anh, máu đang thấm tràn xuống ngực.

Ánh mắt cô gái sững lại một giây rồi kéo anh ngồi xuống, gắt nhưng giọng lại nghẹn:

- Người gì mà gàn thế, không biết đường kêu lên một tiếng, máu chảy hết thì sao?

Anh cười, một cái cười trẻ trung và rất tươi.

- Lại còn cười nữa, ghét!

Cô xé nhanh vạt áo của mình băng vội cho anh.

Anh lại cười nữa nhưng lần này cái cười có phần chìm lắng hơn.

- Cô gái!

Cho tôi được mang theo vạt áo này bên mình đến... hết chiến dịch nhé!

Coi như lá bùa bảo mạng.

Cô gái làm như không nghe thấy, đi nhanh đến bên Tạ:

- Các đồng chí đi nhé!

Cứ theo đường mòn này là đến.

Hai trăm mét nữa thôi.

Em quay lại đón tốp khác!

Tạ oang oang:

- Ừ, chào o, cám ơn o, o đi nhé!...

Mà o tên là gì?

Hỏi để lần sau còn biết đường mà gọi?

- Em tên Hồng.

- Cám ơn o Hồng nhé!

Giọng người Tiểu đội trưởng vẫn oang oang rồi quay lại đội hình, hô khẽ:

- Thế là chưa mất thằng nào.

Quá tốt!

Tiểu đội một hàng dọc, cách nhau mười thước, tiến vào Thành cổ, tiến!

Cô gái nhìn nhanh sang Cường rồi bước đến cạnh Tú đứng ở sau cùng, làm như vô tình:

- Này em, cái anh chèo đò vừa rồi tên chi?

- Chị muốn hỏi ai cơ?

Tú giả vờ ngây ngô.

- Thì cái anh bị thương vô vai đó.

- À, anh Cường sinh viên.

- Sinh viên...

Cô khẽ mấp máy môi nhìn theo bóng Cường đang dần dần khuất chìm vào bóng tối Thành cổ như một khu thành không có thật...
 
Mưa Đỏ
Chương 8


Thành cổ.

Trời còn tinh mơ nhưng qua màn sương đục lờ, cả khu Thành cổ đã nhờn nhợt hiện lên trước con mắt mang tính nghề nghiệp của chàng sinh viên Bình vổ.

Anh dừng tay, tò mò sục mắt về một bức tường thành dày dặn, vuông vức bao quanh với mỗi chiều chỉ chừng năm trăm thước, chiều cao khoảng bốn thước, mặt thành rộng hơn nửa thước nhưng chân thành lại xoải ra tới mười hai thước và bốn cửa thành nằm ở bốn hướng đông, tây, nam, bắc đều được đóng kín bằng cửa gỗ dày, gài then ngang.

Trong khuôn viên thành lúc này cây cối vẫn xanh, nhà cửa, hầm hào còn tương đối nguyên vẹn nhưng vẫn gợi cái cảm giác âm u, nặng nề, bức bối trước cơn bão mà con người nằm trong đó giống như cá nằm trong rọ khó mà thoát vùng ra được.

Mới sáng ra trời đã nắng nóng hầm hập.

Phía sau anh, cả tiểu đội đang quần quật đào hầm cả bên trong lẫn bên ngoài dãy tường thành.

Kiểu hầm chữ A thấp xịt, chắc nịch được nối với nhau bằng những đường hào chằng chịt.

Bụi đất tung lên.

Những lưỡi cuốc lưỡi xẻng ngoạm vào đất đá ừng ực, chốc chốc lại một tiếng va chát chúa tóe lửa vang lên.

Hầu hết họ đều ở trần, mồ hôi nhễ nhại, tóc trắng như rắc vôi.

Tú ôm súng ngồi ở một mô đất cao có cành lá che khuất kế bên, chăm chú quan sát mọi sự qua chiếc ống nhòm cũng bị phủ toàn bụi trắng.

Cậu thốt kêu lên:

- Cảnh đẹp quá, anh Cường ơi!

Em nhìn thấy ba con sông đều xanh cả.

Như vẽ ấy.

- Tập trung vào, nhóc, coi có thấy cái nón sắt nào lô nhô ở xa không?

- Tạ gắt.

- Bức thành cũng đẹp nữa, dày ơi là dày, y như trong phim Tam quốc.

- Tú vẫn xuýt xoa.

- Sao nó lại có tên là thành Đinh Công Tráng anh Cường?

- Đinh Công Tráng là tên một tướng tài được chúa Nguyễn điều ra đây trấn giữ khu thành có một vị trí quân sự đặc biệt từ thế kỷ 16.

- Cường ngẩng lên lau mồ hôi chảy tràn xuống mặt.

- Chính vì thế mà tụi mình phải vào đây để giữ tiếp, nối tiếp lịch sử ông cha, cũng oách đấy chứ?

Tiểu đội phó Sen đến gần anh, chăm chú nhìn vào lòng hầm, khẽ lắc đầu:

- Chưa được, Cường!

Đào sâu xuống nữa, đắp thêm đất vào!

Càng dày càng tốt, sơ sài một chút, chỉ loạt pháo là bung hết.

- Rõ!

Có gì anh Sen cứ chỉ bảo, đối với chúng tôi, đây là trận đánh đầu đời, tất cả đều từ số không đi lên.

Chợt nhìn thấy bóng Hải gù đang lúi húi bới cỏ ở một góc phía trong tường thành, Tạ gắt:

- Thằng kia!

Mi đi bắt rắn đấy à?

- Em thử xem trong thành có một đường cống ngầm nào không?

- Hải nói mà không nhìn lên.

- Chắc là phải có theo nguyên tắc xây dựng.

- Cống rãnh gì vào lúc này, vớ vẩn!

Về chỗ!

- Tạ lại gắt.

- Cứ để cho cậu ấy tìm.

- Sen nhẹ nhàng.

- Thì chính anh chả nói cái nghề cơ điện của cậu ấy sẽ có dịp được dùng đến là gì?



Cách công sự tiểu đội chừng ba trăm thước hơi lui về phía sau là khu hầm chỉ huy.

Hầm nằm dưới một tòa nhà hai tầng khá rộng.

Tất cả có bốn ngăn, mỗi ngăn chừng mười lăm thước vuông.

Lúc này, khu hầm tạm thời là kho chứa đồ và nơi đóng quân của trạm xá luôn.

Trong ngăn rộng nhất, Bộ chỉ huy Thành cổ và các đơn vị trưởng đang ngồi cao thấp trên các bao gạo, thùng đạn khác nhau.

Trung đoàn trưởng Vũ Thành vẫn cái thói quen gục gặc đầu một lúc mới nói:

- Tóm lại, trên cho biết lực lượng tương quan ta địch như sau: Địch có mười tiểu đoàn quân tinh nhuệ cộng với hỏa lực cực mạnh cả tầm xa lẫn tầm gần của Mỹ, ta có ba sư đoàn trấn giữ trên địa bàn toàn tỉnh, khu vực thị xã do trung đoàn ta và lực lượng tỉnh đội đảm trách.

Riêng trong nội vi Thành cổ này, ta sẽ có ba tiểu đoàn làm nhiệm vụ cố thủ.

Ba mặt đều là địch, ta chỉ có mặt sông là hướng duy nhất để dựa lưng và tiếp tế, chuyển quân, tải thương.

Do địa hình chật, hầm phẫu sẽ được đặt luôn tại đây, ông bác sĩ trạm trưởng Lê thấy sao?

Bằng kiểu nói khề khà nhưng sắc lẻm, thẳng băng, giật cục khiến người không quen rất khó nghe, bác sĩ Lê tưng tửng:

- Quá nhỏ!

Ba mươi ca thì được nhưng nếu ba trăm ca hay hơn nữa, mà điều đó rất có thể xảy ra thì phải xếp chồng lên nhau như xếp cá mà lại không được làm đông lạnh.

Chính ủy Phạm Lân gõ gõ ngón tay xuống mặt bàn, vẻ nhắc nhở:

- Này, nói đây thì được nhưng đừng nói rộng ra, bộ đội dễ hoang mang.

Đây vốn là dinh tỉnh trưởng cũ của ngụy được xây từ thời Pháp, và cũng chỉ còn nơi này là có kiến trúc kiên cố nhất.

- Tôi xin bảo lưu ý kiến này.

- Tiếng bác sĩ Lê vẫn lục cục, thẳng căng.

- Trận địa ven vẻn chỉ có bốn cây số vuông, có mỗi mặt hậu lại vướng sông, với kinh nghiệm của một thằng đã có trên hai chục năm cầm dao mổ, tôi thấy các thủ trưởng nên tiên liệu trước kẻo rồi mất bò mới lo làm chuồng thì kẹt lắm, chỉ khổ cái thằng cầm dao mổ là tôi!

- Ông Lê này!

- Vũ Thành cả cười.

- Tôi đã là cái thằng ăn nói nổi tiếng là dùi đục chấm mắm cáy mà so với ông, ông còn mắm cáy hơn.

- Báo cáo, tôi đẻ ra ở vùng đất gan gà lại suốt ngày đập mặt vào máu me, xương cốt, ruột gan phổi phèo, kêu la than khóc, tôi nói vậy quen rồi, khó sửa lắm.

Mà nhìn đúng bản chất sự vật bao giờ cũng khó nghe.

- Từ từ.

- Vũ Thành giơ tay ra ngăn lại.

- Tôi có phản bác ý kiến của ông đâu, nhưng tạm thời lúc này cứ vậy đi rồi liệu cơm ta cùng gắp mắm, bây giờ tập trung vào các phương án đánh địch đã, vấn đề thương binh để sau.

Ông quay sang các đơn vị trưởng, tiếng nói trở nên lạnh lùng:

- Các đơn vị về cho bộ đội chuẩn bị thật tốt, nhất là công sự và các cơ số đạn.

Theo tin từ bên trong, chỉ nội đêm nay hoặc rạng sáng ngày mai, chúng sẽ chính thức phát hỏa mở đầu cuộc tái chiếm.
 
Mưa Đỏ
Chương 9


Cách Thành cổ về phía tây nam chừng chục cây số, trong một tòa nhà được đắp bao cát xung quanh, cũng có khoảng mươi sĩ quan cấp tướng cấp tá, cả cấp úy, người thì vận đồ dù, người thì đội mũ nồi nâu đang ngồi nghiêm ngắn trước một tấm bản đồ căng rộng trên tường.

Trong đó để ý thấy có cả vóc dáng to lớn, đen rầm của Thiếu úy Quang đứng sau cùng cũng đang càu cạu nhìn lên.

Viên Đại tá tư lệnh sư dù vạm vỡ, để ria mép, dáng yêng hùng, bụi bặm, có vết thẹo ở đuôi mắt chém mạnh bàn tay chuối mắn phừn phựt vào không gian như đang pheng cổ đối phương ở trước mặt:

- Hả?

Phong độ lính dù là gì?

Là tốc chiến tốc thắng, là can tràng, quyết liệt chứ không đánh ê a kiểu bà giá thèm chồng như các sắc lính khác.

Và, hả? (Lại "hả") Cũng không phải là hùng hục, liều mạng như bọn lái giống, đâm thuê chém mướn đầu đường xó chợ được tập trung về đây như tụi thối mồm thường nói.

Vì vậy, hả?

Tôi ra lệnh cho các người nội trong hai mươi ngày, hạn cuối là mùng Mười tháng Bảy phải chiếm lại được cái Thành cổ mắc dịch đó.

Tai mắt của các người chính là Đại đội Hắc Báo do Thiếu úy Quang chỉ huy kia.

- Quang tiến lên một bước, nét mặt vẫn không biểu cảm điều gì.

- Đúng năm giờ sáng mai, chiến dịch "Lam Sơn 72" bắt đầu.

Khu Thành cổ phải thành chảo lửa thiêu rụi hết bọn Cộng quân không chừa một mống!

Tất cả cánh sĩ quan khét lẹt mùi quân phục và mùi nắng gió bật người đứng dậy, gót giày đinh quất vào nhau nghe rốp rốp, mặt mày bừng bừng sát khí như sẵn sàng thiêu rụi cả hành tinh.

Riêng người đội trưởng Hắc Báo là khẽ nhếch một cái cười khó hiểu...

Hắn không lạ gì con người của viên Đại tá thượng cấp này.

Không như cánh nhà nòi con ông cháu cha hoặc dùng tiền bạc, đầu gối mà leo lên như một số sĩ quan khác mà hắn biết rất rõ, đúng là ông ta leo lên từ lính trơn thật, leo từng nấc, leo do đánh đá thực sự nhưng phổi bò lắm, võ biền lắm, chỉ lấy hùng hục và khát máu làm chính.

Lại dốt nát, tham lam nữa, ăn không từ một cái gì của lính, không bao giờ cầm một cuốn sách, không lúc nào tỏ ra trầm ngâm suy nghĩ về một điều gì sâu xa cả, sểnh ra là nhậu, là buôn bán gỗ lậu, chơi gái như chảo chớp, chơi cả vợ đám sĩ quan dưới quyền.

Thì cái thẹo như miếng thịt trâu thiu trên mặt kia đâu có phải do chiến trận, mà do một đại úy nổi điên đã để một viên đạn vào mặt nhưng trượt và tất nhiên sau đó, người chồng tội nghiệp kia không hiểu vì lý do gì một lần xuất kích rồi không thấy về.

Nhưng được cái trung thành, chỉ đâu đánh đấy, đánh thục mạng, đánh đến nơi đến chốn, không tranh luận, không phản biện, dù phải mất tiêu cả nửa đơn vị.

Phải chăng vì thế mà lão rất được lòng cấp trên, được lòng đến nỗi chính Tổng thống đã quyết định điều về nắm quyền tư lệnh một trong ba đơn vị thiện chiến nhất lực lượng Tổng trù bị của toàn quân và mới đây đã trịnh trọng hứa trước hội đồng tướng lĩnh rằng, nếu lần này tái chiếm được Quảng Trị, được Cổ thành thì gì chứ cái lon cấp tướng sẽ đậu lên ve áo là không cần phải bàn cãi.

"Đơn vị Hắc Báo của Thiếu úy Quang sẽ là tai mắt của các ngài..."

Hắn thực sự không khoái câu nói đầy chất mị dân này, cũng như cả đời hắn không thích làm tai mắt của ai, của thế lực nào hết nhưng phận số làm lính nó đã phân nhiệm vậy rồi, đành phải chấp nhận thôi.

Một cái vỗ rất mạnh vào vai và liền đó là cái cười rất rộng của viên sư trưởng, ông ta nói vẻ thân tình tuy hơi suồng sã:

- Nghĩ gì mà đăm chiêu vậy Thiếu úy?

Quân hàm, gạch bậc à?

Bình tâm đi, sau trận này moa không để toa lẹt đẹt hoài như vậy đâu, nó uổng đi một người tài.

Hơn nữa, hả, qua tướng phó tổng tham mưu trưởng, moa cũng có biết sơ sơ gia đình toa, một gia đình danh giá, ai lại để cà trớn vậy.

- Dạ thưa không phải chuyện đó đâu, Đại tá.

Chỉ vì tôi đang lo không hoàn thành được cái vụ tai mắt Đại tá trao.

- Quang lạnh giọng.

- Kệ má nó, hả!

- Lại suồng sã.

- Hơi đâu mà lo cho nó già người đi, chuyện đến đâu lo đến đó, đời lính sống chết một mai tính toán trước làm gì.

Tối nay Thiếu úy lên chỗ moa nghen, có thùng rượu nguyên dạng bà xã vừa gửi ở Sài Gòn lên.

Không hiểu sao tôi lại rất khoái uống rượu với cậu, có thể hả, cái đầu thông minh và rắc rối của cậu đã khiến cho tôi sáng ra nhiều điều.

- Dạ cám ơn Đại tá, tối nay tôi có chút việc bận, xin phép để khi khác.

- Bận gì?

Lại có một con bé nào đó chờ đợi hả?

Tốt!

Tôi thực sự ghen với cậu đó, đời lính tráng mà có một con bé nào đó chờ đợi là phúc rồi.

Gặp đi, gặp tận cùng, gặp cho tan nát, cho hết mình đi vì biết đâu hả, ngày mai không còn gì để gặp nữa.

Lại một cái vỗ vai khá mạnh nữa, kèm theo một tiếng hả cũng khá to, viên Đại tá bước ra xe.

Từ sau cánh cửa sắt sơn màu ghi, một ánh mắt nhìn ra lặng lẽ và hằn học.

Ánh mắt của viên Chuẩn úy toán phó.
 
Mưa Đỏ
Chương 10


Những lá thư gửi mẹ của Cường được ghi những dòng đầu tiên trong cuốn sổ bìa xanh anh mang theo từ Hà Nội:

"28 tháng 6 năm 1972

Mẹ!

Thế là chúng con sắp vào trận rồi.

Không biết những dòng thư này có đến được tay mẹ không nhưng con cứ viết, bởi khi viết là lúc con đang được chuyện trò, tâm sự, giãi bày với mẹ, người mẹ mà con thương yêu hơn tất cả những gì có trong cuộc đời này.

Tiểu đội con có mười một anh em, bao gồm hầu hết các tỉnh thành về đây mà số lượng sinh viên chiếm quá nửa.

Có người bảo, chiến tranh gì thì chiến tranh, nhưng đến mức phải tổng động viên cả sinh viên đang ngồi ghế học đường hay sắp ra trường vào đây thì phí quá, tầm nhìn hạn hẹp quá, mai mốt hết chiến tranh rồi thì còn lấy ai để xây dựng đất nước.

Con lại nghĩ khác, chiến tranh là một khoảnh khắc sinh tử, sống còn, có liên quan đến số phận của dân tộc.

Không giữ được nước thì ngay cả văn hóa chứ chưa nói đến khái niệm dựng xây cũng chả có ý nghĩa gì.

Tụi con thương yêu nhau lắm mẹ ạ!

Ở nhà con thường có thói xấu là hơi coi thường nông dân ăn no vác nặng mồ hôi dầu nhưng vào đây, cọ xát với hoàn cảnh ngặt nghèo, qua con người anh Tạ, tiểu đội trưởng, một nông dân thuần túy, con mới thấy cái chất nông dân cục mịch, bộc trực, quả cảm, yêu thương, nhường nhịn vô cùng ấy mới đáng quý biết chừng nào.

Lại thêm anh Sen, một học sinh miền Nam tập kết nữa, với tất cả vẻ lịch lãm, từng trải, tinh tế của một người có học vấn, lại đã từng kinh qua trận mạc, anh ấy đúng là chỗ dựa, điểm tựa tinh thần không thể thiếu được của đám lính trẻ chúng con.

Cảnh vật, con người nơi đây lạ kỳ lắm mẹ ạ!

Hình như đứng trước phong ba, tất cả đều lên hết màu hết nét, nghe đâu nhìn đâu cũng thấy những âm thanh khác biệt nhưng chưa có thời gian ghi lại, con sẽ cho nó lặn thật sâu vào trong đầu rồi nhất định sẽ có lúc tháo ra, dùng đến mẹ nhỉ?

Chắc mẹ đã bay sang bên ấy?

Paris mùa này đẹp lắm phải không mẹ, nhưng chắc vẫn còn lạnh, mẹ nhớ giữ ấm cổ nhé.

Nếu có thể, có thể thôi, mẹ nhớ mua cho con những cuốn sách khảo cứu về âm nhạc thời Phục hưng để sau này trở về con sẽ đọc bù..."



Trời sắp sáng nhưng cả khu thành rộng bốn cây số vuông, cảnh vật vẫn còn chìm trong bóng tối im lìm.

Trên ngọn cây nào, một tiếng chim kêu báo sáng nghe thật lẻ loi, yên bình.

Giấc ngủ đêm đầu tiên trong các cán hầm chật chội của các chiến sĩ tiểu đội 1 cũng thật thanh thản.

Bỗng màn đêm bị xé rách bởi những tiếng rít kinh hoàng rồi liền đó là bão rung chớp giật hầm hập giội xuống như âm thanh của ngày tận thế.

Cả khu thành giật nẩy, quằn lên trong lửa khói mù mịt.

Tiếng nổ này tiếp tiếng nổ khác.

Tiếng nổ sau toác vỡ hơn tiếng nổ trước.

Ngọn lửa này đè lên ngọn lửa kia.

Mùi diêm sinh, mùi lưu huỳnh trộn với mùi lá cây bầm nát tạo thành thứ mùi đặc trưng của bom đạn xộc lên, len thẳng vào từng hầm, len sâu vào lồng ngực người lính phòng thủ.

Tiểu đội chia làm hai hầm.

Tạ, Tú và Hải gù cùng ba chiến sĩ nữa một hầm.

Hầm kia là Sen, Cường, Bình vổ và hai người nữa.

Cả hai hầm đều đã trúng pháo nhưng chưa đủ sức bốc hứng nó đi mà chỉ làm cho đất đá sạt đi một mảng.

Tại hầm của Tạ, Tú đang hai tay bưng chặt lấy đầu, mỗi tiếng rít lại khiến cậu co rúm lại, mỗi tiếng nổ lại làm toàn thân cậu giật nẩy lên.

Cứ thế lặp đi lặp lại như đất trời đang chuyển cơn kinh giật không thể kìm lại vào sâu thân thể con người.

Tạ quay sang Tú, cười:

- Mày càng thế càng sợ.

Bỏ tay ra, cu con, nó ngừng rồi kìa!

Mà kệ con mẹ nhà nó.

Nó có của nó cứ xài, có rơi trúng hầm cũng chưa chắc đã chết mà có chết thì cũng chưa chắc đã chết hẳn.

Bỏ tay ra!

Tú bỏ tay, cố cười nhưng cái miệng lại méo xệch:

- Nhưng... nhưng sao nó nổ to thế, nhiều thế?

Cứ như nhà hàng xóm đang đốt pháo đùng ấy.

Hầm bên, Bình ngó nghênh nhìn ra ngoài cửa hầm một chút không thấy gì, quay lại vẻ tò mò:

- Sau pháo là cái gì hả anh Sen?

- Là bộ binh.

Khi đó đến lượt cánh ta nổ.

Nổ thoải mái.

Sen vẫn tỏ ra bình thản nhưng giọng nói đã có chiều lắng chìm, cân nhắc:

- Đánh nhau đã nhiều nhưng chưa bao giờ thấy pháo chúng nó lại dập dữ dội thế này.

Như thể muốn chơi canh bạc cuối cùng ở đây.

Bình vổ ngó mắt nhìn lên nên trời đã rạng, chẹp lưỡi:

- Cảnh này chả danh họa nào có thể miêu tả được, kể cả ông trùm siêu thực Picasso.

Chỉ có máy ảnh.

Chao, giá như bây giờ có cái máy ảnh!

Cường cũng thần mặt:

- Cái âm thanh này lạ lắm, vượt xa mọi sự tưởng tượng về bom đạn trong đầu mình, nó chỉ có thể xuất hiện trong những bộ phim nói về ngày tận thế.

Sen bật một tiếng cười khan:

- Trở về thực tế thôi, các nghệ sĩ!

Chính ra các cậu phải được ở lại học đến đầu đến đũa.

Chuyện đánh đấm này là của tụi mình.

Cường chợt nhìn sâu vào mắt Sen như để đo lường câu nói ấy chiết ra từ đâu...

Pháo lại bắn, thưa thớt hơn.

Một tiếng nổ rất to vang lên phía sau rồi liền đó là một tiếng đổ vỡ rầm rầm.

Hầm bên, Tạ ngóc đầu lên ngoái lại nhìn phía phát ra thứ âm thanh đó rồi kêu tướng:

- Chết mẹ rồi các cậu ơi!

Hầm chỉ huy bị sập rồi.

Hải cũng rướn cổ lên, há hốc mồm.

Trước mắt anh, tầng mái của khu dinh tỉnh trưởng đã bay biến đi đâu mất.

Anh nhăn nhó:

- Trời ạ, mới trận đầu mà rắn đã mất đầu thế này thì còn đánh đấm cái nỗi gì nữa.

Không biết trong đó có ông chỉ huy nào bị không?

Đúng lúc, cái bóng cao khòng của Trung đoàn trưởng Vũ Thành bỗng hiện ra trước cửa hầm, giọng oang oang:

- Ê!

Có cậu nào bị sao không?

Tạ bật người lên mặt đất, cố đứng thẳng theo đúng điều lệnh nhưng người cứ nghiêng nghiêng chực ngã:

- Báo cáo chỉ huy trưởng, còn đủ!

Nhưng chúng em tưởng... thủ trưởng tiêu rồi?

Vũ Thành cười to một tiếng có cả bụi trắng bay ra từ hai lỗ mũi:

- Sập nhà chứ mấy khi sập được người.

Yên tâm đi, bọn mình chủ động đánh sập tầng mái để hạ thấp mục tiêu thôi.

Nào các chiến binh Thành cổ, pháo sắp dứt, chuẩn bị lên mặt thành đánh một trận phản kích cho oách vào để chúng nó tởn.

Mẹ, cứ cậy phi pháo à?

Hỗn láo!

Nói xong, ông lại nhảy sang khu hầm khác, vẫn tiếng nói oang oang vang dọc đường hào.



Trận đánh gần bắt đầu.

Cùng với các tiểu đội khác, tiểu đội của Tạ đã trườn mình nằm hết trên mặt đất tạo thành một vòng cung phòng thủ im lìm.

Người ở cửa hầm, người trên tường thành, người sau gốc cây, người bên tảng đá... mỗi người dựa vào một vật che đỡ thích hợp găm súng về phía trước.

Im lặng rờn rợn.

Nghe được cả tiếng con chôm chôm búng càng trong cỏ ướt và tiếng chân chuột lao từ hầm ra.

Tạ nhìn một lượt khắp đội hình của mình, nói gằn từng tiếng:

- Tao dặn lại này, để nó đến thật gần mới nổ!

Nổ hai phát một, không siết cả băng, phải hết sức tiết kiệm đạn.

- Rồi nhìn sang Tú, bật cười.

- Ê, thằng cu đái ướt hết quần rồi kìa!

Mọi người tò mò nhìn sang: từ đũng quần Tú, có một vệt nước tràn ra thấm xuống đất.

Tú ngượng nghịu chuyển người sang chỗ khác, vẫn ướt.

Cuối cùng cu cậu mặc kệ, cứ nằm nguyên mà tháo ra muốn đến đâu thì đến.

Cường cũng cười, đá đá vào chân cậu:

- Vạch hẳn ra mà đái.

Bằng quả ớt thế kia ngại gì.

Để quần ướt sũng thế kia, nó hăm bẹn thành ghẻ lở, hắc lào đấy.

Tạ chợt hô khẽ:

- Lính!

Phía trước, cách chừng năm mươi mét, sau những mô đất, lùm cỏ bất ngờ hiện lên những chiếc mũ sắt bắt nắng lấp loáng.

Tạ giơ tay ra hiệu chờ thêm chút nữa...

Chút nữa...

Thế!

Và khi đã nhìn rõ những khuôn mặt bôi vằn vện như những khuôn mặt chui ra từ địa ngục, anh rít lên như tôn vỡ:

- Bắn!

Chỉ chờ có vậy, những nòng súng AK rung lên.

Những nòng súng tiểu liên cực nhanh phía bên kia cũng rung trở lại.

Đạn AK nổ trầm đục, đạn cực nhanh M16 nổ lách chách.

AK của Liên Xô, M16 của Mỹ.

Hai siêu cường xa xôi đang ráo riết đọ uy lực các loại vũ khí của mình ở đây.

Những luồng đạn không rõ hình hài, chỉ nghe tiếng gió rít lên, hạ xuống, găm thẳng, đan xé vào nhau, cày sâu xuống đất, văng vào đá sỏi, bật vào mũ sắt...

Nhưng vẫn là một trận đánh thăm dò nên chưa có những thân người gục ngã, chưa có những tiếng kêu rống khủng khiếp của sự đớn đau và tuyệt vọng.

Cho đến khi những chiếc mũ sắt như những mu rùa nhấp nhô nhiều hơn, hỏa lực nổ chát chúa mạnh hơn và loáng thoáng có những đầu xe thiết giáp M113 đen trũi như đầu tê giác gầm ghì chồm tới thì trận đánh mới bắt đầu trở thành ác liệt.

Trước mắt Cường, đã có chiến sĩ bị đạn trúng ngực, lật ngửa.

Lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy một người bị trúng đạn như vậy, anh bỗng cảm giác ghê rợn, rồi có cái gì đó nóng buốt chạy xộc lên đầu rồi lại chạy ngược xuống vùng hạ vị, choáng váng.

Bên anh, đôi mắt trẻ thơ của Tú cũng kinh hãi dán vào đó, hai mắt bạc phếch như muốn lồi ra, toàn thân tê dại như nửa đêm phải đứng trước một cái xác sống kinh dị.

Chính đôi mắt tội tình ấy đã khiến Cường tỉnh lại và giống như một bản năng che chở của người anh đối với cậu em bé bỏng đang trong hoàn cảnh ngặt nghèo, anh gắt:

- Tú, đừng nhìn vào đó, nhìn thẳng về phía bọn lính dù kia kìa!

Tú bất giác làm theo, nhưng chỉ lát sau lại dáo dác nhìn lại như có một sức hút ma mị không cưỡng được.

Căn hầm của tiểu đội bên cạnh đang vỡ vụn, bẹp rúm dưới sức nặng và đà chồm khủng khiếp của một bánh xích xe bọc thép.

Một người lính có vẻ không chịu nổi tiếng nghiến ken két ghê rợn của nó đã điên loạn vùng chạy ra khỏi hầm nhưng không kịp, bị đạn ngã sấp mặt.

Vòng xích lập tức nghiến đè lên, nhồm nhoàm...

Tràng âm thanh tơ tướp, kinh hoàng này rất may là Tú mải điểm xạ không nhìn thấy, nếu không thì không hiểu cái gì sẽ xảy ra với tâm lý đã quá hoảng loạn của cậu.

Nhưng Cường lại chứng kiến toàn bộ và đến lượt toàn thân anh rung lên, mồ hôi toát ra đầm đìa như chính xương thịt của mình đang bị xé nhừ.

Và lần này thì lại chính là Tiểu đội phó Sen lặp lại câu nói của anh vào chính tai anh như dây chuyền của một liệu pháp trấn mạc:

- Cường, chuyển mắt về phía trước, về phía kẻ thù ấy, không được dừng lại ở những cảnh máu me như thế!

Cường nhìn nhanh sang Sen.

Sen cũng đã bị đạn nhọn găm lút vào vai, máu chảy ra khô cứng, chuyển màu tím đen nhưng nét mặt vẫn lạnh như không, vừa siết cò vừa rất tỉnh táo quan sát xung quanh, xa gần, thỉnh thoảng lại khoát tay ra hiệu cho anh em trong tổ nhằm trúng mục tiêu không được nổ loạn xạ.

Bình nhao đến, chỉ thấy mấy cái răng vổ trước cửa miệng chìa ra:

- Anh Sen để em băng lại cho!

Sen lắc đầu:

- Vặt, mình tự băng được.

Cậu hết sức chú ý chỗ gò mối vừa bị phạt nóc kia kìa!

Có mấy chiếc nón sắt đang muốn bay thẳng vào đây đó!

Cường bất giác nhìn sang chỗ Tạ.

Trước mặt người Tiểu đội trưởng gan lì này bày đủ ba loại súng nằm sóng hàng như đang trong một cuộc triển lãm trưng bày các loại vũ khí thời hiện đại: B40 có đầu đạn nở xòe như hoa chuối, AK báng gập, M79 phóng lựu với cả một dây đạn vàng chóe và một dãy tạc đạn mang nhãn hiệu USA ánh mun.

Thành thục như một nghệ sĩ biểu diễn đàn dân tộc, Tạ thoăn thoắt dùng hết loại này đến loại khác theo từng mục tiêu một cách rất chính xác, rạch ròi: B40 bắn xe, AK bắn bộ binh, M79 tróc vòng cầu như những chú chim chích chòe đủ màu bay vào giữa đội hình địch và tạc đạn khi chúng vào đông, xáp gần.

Một chiếc xe bị cháy và không ít thân xác rằn ri đổ gục trước dàn âm thanh chết chóc của Tạ.

Bên anh, thêm một chiến sĩ mới bổ sung bị đạn xé rách đùi, kêu rú lên một tiếng "Ôi, mẹ ơi!..." chói tai rồi cứ thế ngây ngây nhìn khúc xương gãy vát nhọn nhô lên khỏi da thịt mình lạ lẫm như nhìn xương người khác.

Tiếng rú ấy thọc thẳng vào tai Tú.

Từ nãy cậu chàng vừa nhắm nghiền mắt vừa nhả đạn tung tóe, giờ lại thêm tiếng rú kia tác động thì bỏ súng chạy về phía sau, nhưng Hải gù vội đưa tay giữ cứng lại:

- Thằng nhóc!

Sao không ở nhà bú tí mẹ mà mò ra đây làm gì?

Đến nằm cạnh tao đây!

Và mở to mắt ra, nhìn thật thẳng, mày cứ nhắm tịt lại như thế, nó đái vào sọ bây giờ!

Nào, cầm súng lên!

Tú lóng ngóng làm theo, mặt mũi đổ chàm, bàn tay dính máu không có cách nào cầm ngay ngắn được cây AK đã ôm vào người.

Thoáng ánh mắt lặng lẽ của Sen nhìn sang...



Thư gửi mẹ:

"Ngày... tháng... năm...

Mẹ ơi!

Chỉ mấy giờ đồng hồ vùi mình vào trận đánh đầu đời thôi, con đã hiểu chiến tranh thực sự là thế nào!

Nó không giống bất kỳ những gì con đã mường tượng ra, dù là một sự mường tượng khủng khiếp nhất.

Phải chứng kiến một người lính dù phía bên kia vỡ toác sọ, óc bắn ra cỏ như những miếng đậu phụ vương ngoài cửa chợ dưới luồng đạn của mình, con bỗng thấy hẫng hụt thế nào!

Rồi người lính bên con cũng vậy, thịt xương giắt vào xích xe như giắt vào lưỡi dao băm thịt ở nhà...

Thế là thế nào hả mẹ?

Lạ quá!

Dù ở hai chiến tuyến khác nhau, hầm hè sát hại nhau nhưng nếu phải ngã vào lòng đất thì câu cuối cùng của cả hai bên bao giờ cũng là hai tiếng "Mẹ ơi!..."

Mẹ ơi...

Chẳng may nếu con cũng như vậy thì không hiểu mẹ sẽ ra sao?

Bỗng hiểu ra, chiến tranh bọn con khổ một thì những người mẹ ở hậu phương sẽ khổ hàng trăm lần, ngàn lần hơn.

Nỗi khổ của sự chờ đợi đêm đêm tựa cửa mà đâu có hay rằng đứa con rứt ruột của mình đẻ ra sẽ không bao giờ trở về nữa khi xương cốt đã tan biến dưới vòng xích vô cảm của kẻ thù!

Nhưng nhất định con sẽ trở về.

Trở về với tư cách một người cầm súng tử tế.

Không hiểu sao con vẫn tin như thế, bố và anh sẽ phù hộ cho con như thế, mẹ có hiểu không..."



Chiều tối.

Một buổi chiều tan hoang.

Tiếng nổ đã tạm im.

Im như mọi gầm gào, rú thét vừa rồi chỉ là ác mộng, chỉ là trò đùa của địa ngục trong trí tưởng tượng của con người.

Mùi máu, mùi thuốc súng, mùi cỏ nát và cả mùi đất mới bị xới đào cứ chốc chốc theo gió xộc lên, ngào trộn, len sâu vào từng ngóc ngách thân thể.

Và ngọn gió từ sông thổi về chiều nay dường như cũng có cả những hạt máu tanh nồng vẩn trong đó, bay vu vơ.

Cả tiểu đội đứng cúi đầu trước nấm mồ đắp vội tại chân thành.

Nấm mồ của người lính đã bị bắn nát ngực.

Hất xẻng đất cuối cùng đắp lên nắp mộ, vỗ vỗ mấy cái, Tạ thì thầm:

- Thanh ơi...

Điều kiện không đưa qua sông được, thôi, đành chôn tạm em ở đây cho gần anh gần em, mai mốt xong việc, bọn anh sẽ đưa em về chỗ thoáng đãng hơn.

Bọn anh sẽ trả thù cho em.

Em sống khôn chết thiêng hãy phù hộ cho anh em giữ vững được trận địa này.

Sen cẩn thận bẻ một nhánh cây còn vài cọng lá cắm lên mộ rồi hơi lùi ra, chắp hai tay lên vái, nét mặt dạn dĩ vẫn bình thản nhưng giọng nói lại chìm nghẹn:

- Ngày mai chúng tôi sẽ khắc tên đồng chí lên một mảnh gỗ ghi rõ ngày này, tháng này, tại Thành cổ Quảng Trị đồng chí đã hy sinh anh dũng...

để làm mốc.

Tạ đưa đôi mắt đỏ cạch nhìn hết lượt tiểu đội rồi bật cười một tiếng méo xẹo chả đâu vào đâu:

- Rõ là khổ!

Hóa ra cũng bị thương nhiều nhỉ?

Những ba thằng kia à?

Không sao, cứ coi như gãi ghẻ, bể đầu, cụt chân cụt tay mới tính.

- Anh quay qua Cường.

- Cậu cũng bị à?

Kém thế.

Thế này, tối nay anh em ở lại củng cố hầm hào, cậu đưa cậu ấy...

- Chỉ người thương binh băng kín đùi, chỗ có mẩu xương gãy chọc lên hồi sáng đang nằm rên rỉ ở cửa hầm.

- ... ra bến, chuyển sang sông.

Một cán bộ có nước da đen nhẻm, đầu húi cua, gò má cao tướng, đeo súng ngắn đi tới, giơ cao tay vẻ khoáng đạt như một thủ lĩnh đường rừng, tiếng nói oang oang như có cả một cái loa gắn bên trong mồm:

- Chào các đồng chí!

Bây giờ ta ngồi tán láo với nhau một tí nhỉ?...

Ấy cứ ngồi, ngồi cả xuống, đứng suốt ngày nay rồi.

Tạ bỗng làm ra vẻ trịnh trọng thật khác với cái bộ dạng cua đồng thô rám của anh và tiếng nói bật ra thì thật là khổ, như cả đời chả mở miệng bao giờ.

- Ầy!

Buổi hội ý tối nay xin giới thiệu có thủ trưởng đại đội đến dự.

Nhưng không được hoan hô, thấy động nó bắn chết.

Người Đại đội trưởng vẫn xuề xòa ngồi xuống:

- Tóm lại trận đầu thế là ổn, quá ổn.

Cả đại đội hy sinh mười, bị thương gấp đôi, ngoài ra sây sát nhì nhằng không tính.

Nhưng chúng nó ít nhất phải đi tiêu cả trung đội.

Oách đấy chứ!

Ngày mai tất cả phát huy!

Mình ngắn gọn vậy thôi, dài hơn, hay hơn, để dành cho đồng chí chính trị viên.

Nào, có ai có ý kiến gì không?

Cứ nói toạc ra, thằng lính biết bắn thẳng thì cũng biết nói thẳng.

Sen giơ tay, giọng cân nhắc:

- Xin lỗi, theo tôi là chưa ổn, ít nhất là về tư tưởng tiến công.

Mới vào trận mà đã có hai người bỏ chạy.

Một là đồng chí Tú, hai là đồng chí bị hy sinh kia.

Chỉ một động tác hèn nhát đó đã làm thương tổn rất nhiều đến uy tín quân Giải phóng, gây tâm lý xấu cho bộ đội và hơn thế, kẻ địch nó khinh thường.

Đại đội trưởng gật gù vẻ thích thú.

Còn Hải gù lại nói nhỏ vào tai Cường:

- Ơ hay!

Vừa nãy lão ấy nói người lính kia hy sinh anh dũng kia mà, nghĩa tử là nghĩa tận, sao bây giờ lại nói ngược lại?

Cường nháy Hải im lặng.

Đúng ra trong đầu anh cũng vẩn lên một chút suy nghĩ như thế nhưng rồi tự gạt đi ngay.

Chiến tranh nó có những cái riêng của nó, không thể mang cái chung áp dụng vào được.

Riêng Tú, cậu mở to mắt ngơ ngác nhìn Sen vừa nói về mình rồi ngượng nghịu gãi đầu:

- Báo cáo, tính em nhát từ bé, sáng nào đi học qua bãi tha ma cũng cứ phải hát tướng lên cho khỏi sợ.

Nhưng về sau em cũng nằm lại đấy chứ.

Sen không để ý đến câu nói của Tú, giọng càng đanh hơn:

- Cách đánh của ta còn nặng về chất du kích, mạnh ai nấy nổ súng không có hiệp đồng gì hết, kể cả đồng chí Tiểu đội trưởng đây cũng chỉ biết lúi húi đánh một mình mà thiếu hẳn tầm nhìn bao quát.

Đánh kiểu này, nếu địch tấn mạnh hơn, sẽ khó giữ được trận địa.

Đáng lẽ tự ái thì Tạ lại cười khì khì:

- Tôi xin nghiêm khắc rút kinh nghiệm.

Tại cái thằng nông dân trong tôi cứ nghe mùi súng đạn là ham, như nghe tiếng cá quẫy ngoài đồng sau cơn mưa.

Ây à...

- Còn nữa...

- Sen nói tiếp.

- Tiểu đội ta có những đồng chí theo tiếng gọi của non sông đã dám xếp bút nghiên vào đây, rất đáng quý, nhưng để trở thành một người chiến sĩ thực thụ, các đồng chí phải tháo bỏ ngay cái vỏ sinh viên, học sinh ấy đi!

Tôi biết có đồng chí vừa bắn vừa ngần ngừ, như thể chưa xác định được mình nẻ đạn vào ai, vào cái gì.

Thậm chí tôi còn đọc được trong mắt đồng chí ấy một câu hỏi: "Những hình hài kia có đúng là cần phải tận diệt khi chúng chỉ là phương tiện, là bia đỡ đạn cho một thế lực thâm độc khác đứng đằng sau?"

Tóm lại, muốn có hiệu quả chiến đấu thực sự thì ngay từ lúc này, ta phải chôn vùi xuống ba tấc đất tất cả những mơ hồ về địch ta do cuộc sống học đường để lại.

Tôi nói thế cũng là nói chính tôi, xin lỗi!

Bình vổ từ nãy nghe có vẻ chăm chú, gò má đỏ dần lên, chiếc răng vổ nhe ra như răng lắp, lúc này đứng bật dậy:

- Nhất trí!

Cần phải tháo bỏ hết, tháo từ bên trong và tôi, Bình vổ, sinh viên năm cuối Đại học Mỹ thuật xin tháo trước.

Thủ trưởng cho phép!

Cậu đứng bật dậy, quay lưng, tụt mạnh quần xuống, để hở ra chiếc quần sịp màu đỏ, lại tụt nốt chiếc quần sịp, quăng vào bụi, lộ đôi mông trắng hếu rồi quay lại, nhe chiếc răng vổ ra, cười:

- Thằng sinh viên vào trận khác thằng nông dân là ở cái đồ lót lằng nhằng này, vất luôn!

Thành bần cố nông, thành thằng đánh giậm luôn!

Nhưng cái mộng mơ, lãng mạn bên trong thì phải giữ.

Tháo nốt, tôi đảm bảo nó sẽ trở thành một thứ rô bốt chiến binh vô tri vô giác ngay.

Sự bốc đồng hay lây, thấy vậy, Hải gù cũng làm theo, nhưng là chiếc quần sịp màu đen và cái mông lỗ chỗ toàn sẹo.

- Đúng đấy, có đàn bà con gái quái đâu mà sợ nó ngóc lên.

- Anh Cường sao?

- Bình hỏi.

Cường cười:

- Tớ bỏ từ đêm vượt sông rồi.

Dính dấp quá!

Sen thoáng sầm mặt, ngồi im, mắt nhìn lên rặng cây đã cháy sém.

Tạ lúng túng chưa biết xử lý thế nào, thậm chí theo đà tụt của mọi người, anh cũng định kéo chiếc cạp quần xuống nhưng chỉ thấy một đám lông đen sì lại vội kéo thếch lên rồi hếch mắt nhìn người Đại đội trưởng đầy vẻ ngượng ngập.

Nhưng người chỉ huy đại đội lại cười phì cả bọt mép, phẩy tay:

- Thôi, tháo bỏ như thế là được rồi.

Tớ mà có cái của nợ ấy bên trong thì tớ cũng tháo luôn nhưng lâu nay cứ nhồng nhỗng thế quen rồi, cho nó mát.

Mà các cậu khá!

Dám tháo bỏ cái lốt học trò một cách quyết liệt như thế là rất khá!

Lại dám cợt đùa trước những mất mát hy sinh vừa diễn ra ngày hôm nay lại càng được.

Nói thật, khi đến đây tớ chỉ lo có cậu nào khóc.

Thôi, nghe này, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm là truyền thống quý báu của bộ đội ta, vấn đề là có hoang mang, hãi sợ nó không?

Mấy đồng chí bỏ chạy kia là dễ hiểu, trận đầu của tôi, tôi còn chạy văng cứt về phía sau cả ba cánh rừng rồi đêm mới lọ mọ trở về kia.

- Anh ngừng một lát, nhìn khắp lượt mọi người rồi hơi cao giọng.

- Căn cứ vào hiệu suất chiến đấu, tiểu đoàn gửi lời khen tiểu đội của các đồng chí và dặn, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ sẽ ngày càng ác liệt, hôm sau ác liệt hơn hôm trước, tất cả sẽ lấy câu "Quang Sơn còn, Thành cổ còn" của bộ chỉ huy làm khẩu lệnh hành động.

Cơm nước xong, thay nhau tranh thủ ngủ chút đi, đêm nay chưa biết chúng xộc vào giờ nào.

Chào!

Nhìn theo bóng người Đại đội trưởng đi khuất sang các khu hầm khác rồi, Tú mới quay lại Cường hỏi nhỏ:

- Anh Cường, Quang Sơn là cái gì?

Em chỉ biết Lam Sơn tụ nghĩa của cụ Lê Lợi...

- Là biệt danh của trung đoàn bảo vệ Thành cổ, tức là anh em mình là chiến sĩ của đoàn Lam Sơn anh hùng đấy, nhớ chưa?

Cường trả lời rồi quay qua nhìn thẳng vào Sen, giọng xúc động:

- Cám ơn anh Sen!

Nhờ có những câu nói trung thực của anh mà cái mớ bòng bong trong đầu tôi có vẻ như đã tìm được nút gỡ.

Sen lặng lẽ cười không nói gì.
 
Mưa Đỏ
Chương 11


Dòng sông về đêm vẫn sáng rực như ban ngày.

Ánh hỏa châu phả vào dòng nước làm nó đỏ bầm như dòng nham thạch từ ngọn núi lửa nào đó phun ra từ trời.

Pháo vẫn bắn dai dẳng như những tiếng ho khan đặc đờm của một con quái thú ẩn trong bóng tối.

Dứt pháo, lập tức có nhiều võng cáng, nhiều bóng đen chống gậy, chống nạng, băng bó trắng toát từ mọi góc tối lao ra gợi lên một đoàn âm binh hiện lên từ địa ngục.

Bác sĩ Lê cũng từ đâu đi đến, áo lót, quần dài, chẳng có tí áo choàng, áo khoác nào cho ra dáng một ông thầy thuốc.

Cái giọng càng không có vẻ gì là bác sĩ cả, cứ nặng trình trịch như một người phu mộ, thỉnh thoảng lại còn gắt nhặng lên:

- Tôi nhắc lại lần nữa, thương binh nặng mới được xuống thuyền, thương binh nhẹ tự ôm phao bơi qua, không thằng nào được xập xí xập ngầu, không nghe, dồn ứ lại là chết cả lũ, nghe chửa?

Miệng nói tay gạt, anh lầm lì chọn tách từng thương binh như chọn cá.

Có lúc còn cả văng tục: "Cậu kia, làm cái c... gì mà chen ghê thế?...

Còn thằng này, có muốn tao bẻ luôn mẹ nó cái khớp gối ra không?

Ấy, đã bảo nặng mới được xuống thuyền kia mà, điếc à?

Lên!..."

Đến lượt Cường dìu người thương binh băng đùi đi đến.

Như thói quen nghề nghiệp nhìn đâu cũng thấy lúc nhúc vi trùng, bác sĩ Lê quát luôn:

- Ê, dừng lại!

Bị vào đâu?

- Vào đùi ạ.

- Phần mềm hay xương?

- Dạ, cả hai.

- Sao không nói cả ba luôn?

Xem nào!

Anh cúi xuống vết thương nắn nắn, bẻ bẻ rồi nhìn lên:

- Tòi bố nó cả xương ra rồi!

Thế các cậu không biết ấn nó vào rồi ga rô lại cho đàng hoàng à?

Xương người chứ có phải xương gà đâu.

Xuống!

- Em... em tự bơi được.

- Cậu thương binh nhăn nhó.

- Nhiều lời, lên thuyền!

Nhanh không pháo nó lại bắn bỏ mẹ bây giờ!

Rồi đột ngột anh quay qua Cường:

- Này!

Hà Nội phải không?

- Sao bác sĩ biết?

- Ngửi mùi là biết.

Toàn mùi trèo me trèo sấu, mốc xì.

Tớ cũng Hà Thành phố cổ đây, làm sao thì làm, đừng để xấu mặt thủ đô nhé, thằng em!

Đưa cậu ấy xuống đi!

Các thương binh được khênh, dìu lên những con thuyền đã đậu sẵn.

Có thương binh nặng nhọc đưa lên được rồi nhưng mất thăng bằng ngã tòm xuống nước, lại phải vớt lên.

Lại có thương binh đang nằm thoi thóp trên võng cáng với vòng băng quấn kín đầu, lên được thuyền rồi lại tỉnh như sáo, tự chuyển người tìm một chỗ ngồi chắc chắn nhất, cũng may mà đôi mắt cú vọ của người bác sĩ không nhìn thấy.

Vô tình Cường lại dìu bạn lên con thuyền nằm cạnh thuyền của cô gái tên Hồng.

Cô đứng đó, đẫm mồ hôi, ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân thon trắng đến phi lý.

Hai ánh nhìn bất giác chạm nhau...

Hồng hỏi khẽ:

- Anh... anh bị rồi ư?

- Không, tôi chỉ chuyển thương rồi lại trở về ngay.

- Sao mới có ngày đầu đã bị quá trời thế này?

- Giọng cô xa xót.

- Anh... anh Cường ráng cẩn thận nghen!

Anh mà bị là em... không chở đâu.

- O biết tên tôi ư?- Cường tròn mắt.

- Đàn bà con gái xứ này muốn biết cái gì là biết được hết à.

Vang khẽ một tiếng cười khúc khích.

Một cô khác chạy đến, ống quần ướt sũng, giọng Quảng Trị vang lên lúc này thật ngọt:

- Báo cáo Xã đội trưởng, các thuyền đã đủ người, chị cho xuất phát!

Hồng gật đầu:

- Em nói các thuyền chú ý qua thật lẹ!

Rồi cô quay lại anh, giọng như gió thoảng:

- Em đi nha anh!

Không mong gặp lại...

Thuyền ra giữa dòng rồi anh mới chợt hiểu ra câu nói tưởng như vĩnh biệt, như chia xa lần cuối ấy.

Không, gặp lại chứ, nhất định sẽ gặp nhưng cô gái ơi, yên trí đi, tôi sẽ không gặp trong hình hài một thương phế binh đâu.

Mà em cũng đừng để bị làm sao nhé!

Cầu mong cho em cứ đêm đêm qua sông mãi thế này để thỉnh thoảng tôi còn được nhìn thấy em và, nói thật nhé, sự có mặt của em, của những cô gái như em sẽ làm cho ý nghĩa cuộc chiến đấu này giàu có hơn và làm cho mọi khổ đau chết chóc vơi nhẹ đi...

Anh ném theo câu nói thầm trong đầu ấy vào cái dáng hình mềm mại kia đang nhòa chìm vào sóng nước...

Khuôn mặt gầm ghì của người bác sĩ lại đột ngột hiện ra trước mặt:

- Sao?

Vẫn trở lại à?

Tôi tưởng cậu lừa lúc nhá nhem chuồn theo sang bên kia rồi.

Tốt, trai Hà Nội linh khí Thăng Long trát đầy người phải như thế nhưng khép bớt con mắt đa tình lại.

Người ta cũng là sinh viên Văn khoa, dễ vỡ lắm đấy, chớ có nhìn lòi con ngươi ra như vậy.

Cường bật cười rồi đeo súng qua người, rảo chân chạy trở lại phía khu thành mà ngôi nhà hai tầng là vật chuẩn để nhận ra trong đêm.



Tại một rặng cây ở xa bến sông chừng năm trăm thước, nhóm Hắc Báo của Quang cũng đang ngồi chồm hổm nhìn ra mặt nước.

Vành ống nhòm của Quang đã nhìn rõ cảnh chuyển thương dưới ánh pháo sáng.

Thuyền trôi như lá tre.

Và hình như hiện ra cả cái dáng bay bay ở mũi thuyền rất đẹp của Hồng.

Thì cũng chỉ là hình như thôi nhưng cái dáng ấy lại bất giác nhói lên trong ký ức của hắn một hình ảnh nữ sinh vận áo dài trắng đứng kiêu hãnh trước mũi súng đặc nhiệm hôm nào và cả cái nhìn xa lạ của cô khi bất ngờ gặp lại hắn trên đường di tản với đứa nhỏ trên tay...

Chỉ khác giờ nó là màu đen huyền hoặc và rõ ra phong cách một chỉ huy dày dạn, vừa chèo vừa khoát tay điều hành các con thuyền khác tiến lui lúc nhanh lúc chậm.

Gã Chuẩn úy toán phó mặt thư sinh hạ ống nhòm xuống, trợn mắt:

- Sao không gọi pháo, Thiếu úy?

Chúng sắp cập bờ rồi.

Quang nhìn vào sát mặt hắn, gằn giọng:

- Cậu có biết trên thuyền chở gì không?

Chiến tranh hạ sát thương binh là nhục, là phạm công ước quốc tế, vả lại...

- Quang cười khẩy.

- ...không gọi nó cũng bắn.

Đúng như câu nói, pháo bắt đầu dựng cột nước giữa dòng, ven bờ.

Pháo rơi lân la bên ngoài rồi dần dần úp chụp vào chính giữa đội hình tải thương.

Cả khúc sông quặn xiết như một người đàn bà đang bị băng huyết, máu, máu và chỉ thấy máu...

Mảnh vỡ của thuyền và mảnh vỡ của thân xác người trộn vào nhau, tung lên, rơi xuống, lập lờ.

Con thuyền của Hồng có lúc biến mất rồi lại hiện ra trôi nhanh hơn.

Như trôi trong lò lửa địa ngục, rực hồng, tối thẫm nhưng vẫn không dừng lại.

Bàn tay cầm ống nhòm của Quang run lên...

Bàn tay giương ống nhòm của gã toán phó lại im lịm...

Hình như gã đã nhận ra viên toán trưởng của mình đang chú mục vào cái gì.

Gã cười khẩy một tiếng:

- Và, thưa Thiếu úy, chiến tranh cũng không phải chỗ cho sự si mê đàn bà, nhất lại là một con đàn bà ở phía bên kia.

Quang trừng mắt:

- Nếu Chuẩn úy im mồm đi thì tôi rất lấy làm cám ơn, còn nếu không...

- vẫn cái giọng đặc vụ đó.

- ...tôi sẽ có cách nói chuyện khác.

Mà con người của Chuẩn úy thì biết gì về đàn bà, hả?

Gã Chuẩn úy im lặng nhưng là cái im lặng của rắn...
 
Mưa Đỏ
Chương 12


Paris hoa lệ.

Paris phập phồng.

Paris, thủ đô ánh sáng.

Paris, nơi trầm tích của một nền thi ca nhạc họa đỉnh cao của lịch sử loài người.

Và cái ánh sáng lung linh, huyền ảo từ tháp Eiffel dựng ngang trời kinh đô kia đang dịu dàng chiếu rọi vào một căn phòng ở tầng mười tám nằm giữa tòa nhà mang dáng nét vừa cổ vừa kim cách đó không xa.

Căn phòng nhỏ nhưng sang trọng, cổ kính với những bức tượng, bức tranh đạt đến độ kinh điển đã bay đi khắp thế giới như một niềm tự hào về thiên tài hoa mỹ của nhân loại.

Chỉ khác chính giữa những bức tranh đó là tấm ảnh đen trắng bình dị chụp Bác Hồ cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong những ngày sang đây dự hội nghị lịch sử, Hội nghị Fontainebleau hiểm nghèo gần ba mươi năm về trước.

Khuôn mặt Bác trong ảnh thật gầy, hốc hác nhưng đôi mắt trũng sâu nhìn vạn dặm lại đang tỏa xuống những mái đầu Việt Nam đang có mặt trong căn phòng này.

Họ vừa xuống sân bay Charles de Gaulle cách đây nửa giờ đồng hồ và thay vì đi dạo ngắm phố phường như thói quen thường có khi đến một địa danh xa lạ, nhâm nhi một ly cà phê ngon vào hàng đệ nhất thiên hạ thì họ lại ngồi đây, trầm mặc, trang nghiêm và xen một chút háo hức khác thường.

Ngay sáng mai, họ sẽ thay mặt Tổ quốc nơi xa đang chìm trong bom đạn để bước vào một hội nghị quan trọng có liên quan đến số phận sống còn của dân tộc, hội nghị bàn về hiệp định hòa bình, chấm dứt cuộc chiến tranh đã kéo dài gần hai chục năm qua, cuộc chiến tranh phải chăng là dài nhất, khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh nhân loại đã đứt đoạn tới bốn năm bây giờ mới được nối lại.

Họ, những mái đầu bạc bên mái tóc hoa râm, những mái tóc hoa râm bên những mái đầu xanh đều đang nghĩ về một điểm.

Trong đó, ngồi hơi lùi lại phía sau một chút, gần nơi cửa sổ, bà mẹ của Đặng Cường khẽ đưa mắt nhìn ra dòng sông Seine đang chảy yên bình phía dưới.

Đáng ra, vào tuổi sắp nghỉ hưu, sức khỏe lại không mấy ổn thỏa, bà không được phân công đi lần này nhưng do là một người giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, lại đã tham dự đầy đủ các cuộc họp trước với tư cách chuyên viên ngoại giao cấp cao mang hàm thứ trưởng nên bà không thể vắng mặt.

Và bà cũng không muốn vắng mặt, ngàn lần không muốn vì hội nghị này có liên quan rất mật thiết đến người con còn lại duy nhất của bà đang chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị nắng lửa mưa dầu, đồng khô cỏ cháy kia.

Nơi đó có dòng Thạch Hãn chảy từ cao nguyên ra cửa biển, không hiểu nó có giống như dòng sông Seine tráng lệ, xanh trong lãng mạn này hay lại đêm ngày bầm đỏ máu người như anh Lê Trọng đã có lần buột miệng nói ra.

Cũng anh ấy trước khi bà sang đây đã gọi điện cho biết con bà không muốn về phía sau mà chỉ thích lao về phía trước với đồng đội.

Nghe, bà chỉ lặng lẽ cười.

Cái dòng máu cốt nhục của cha, anh khi đất nước có giặc chảy trong người nó là thế, làm sao lòng mẹ có thể đổi thay được.

Và bà có thực sự muốn đổi thay không thì giờ đây, ngồi ở cách xa cả chục ngàn cây số bà cũng không tự biết.

Để từ trong chiều sâu tâm khảm, cùng với tâm trạng bất an đến cồn cào, bà không thể không ánh lên một chút tự hào vì con.

Trong kia, người đàn ông cao niên tóc bạc mang trọng trách cố vấn tối cao cho đoàn đang chậm rãi nói cái gì đó mà bà chỉ nghe được loáng thoáng nhưng lại hiểu trọn từng ý nghĩa mỗi từ.

Ông nói đây cũng là một mặt trận chiến lược, mặt trận ngoại giao, mặt trận không tiếng súng, mặt trận đấu trí đấu lực diễn ra từng giây từng phút, hơn thế nó còn là cuộc đọ sức của hai nền văn hóa, hai bề dày lịch sử cho nên đòi hỏi tất cả phải tỉnh táo, phải kiệm lời, cứ để cho đối phương bộc lộ hết ý đồ gan ruột của mình ra rồi ta mới lên tiếng vặn lại từng điểm một, vặn đến đâu chắc đến đó, vừa rắn vừa mềm, "dĩ bất biến ứng vạn biến" nhưng quyết không khoan nhượng.

Khoan nhượng lúc này là có tội với lịch sử, có tội với những người lính đang đổ máu ngoài chiến trường mà mặt trận Quảng Trị là quyết chiến điểm chiến lược để ta giành thế thượng phong ở đây.

Mặt trận Quảng Trị...

Mấy tiếng đó dội vào khiến lòng người mẹ bất giác quặn lại.

Mẹ ở mặt trận ngoại giao, con ở mặt trận súng đạn, con sẽ làm cổ động viên đắc lực cho mẹ...

Câu nói vui của người con hôm nào trước lúc ra đi giờ đây lại vang lên rõ mồn một trong tâm trí bà, rõ đến nỗi che át đi cả tiếng nói thân quen, ấm áp của con người đóng vai trò là linh hồn của cuộc hòa đàm kia.

Ngừng một chút, tiếng nói ấy lại rủ rỉ vang lên như câu chuyện dặn dò bếp núc trong nhà: Thực chất đây là cuộc đối đầu ngoại giao giữa ta và Nhà Trắng, nhưng cũng không coi nhẹ thái độ và phản ứng của Phủ Đầu Rồng ở Sài Gòn, một khi họ bị sa vào cái thế cố cùng liều thân.

Cũng như khác với những lần trước, lần này ta đến đây với một tư cách hoàn toàn khác, tư cách của người đang giành được thế thượng phong bằng những chiến thắng quân sự to lớn ở trong nước, buộc người Mỹ phải chủ động mời ta đến...

Cuộc họp nội bộ kết thúc lúc nào không hay.

Chỉ đến khi cái tiếng nói ấy vang lên ngay bên tai: "Cô Lan hôm nay có vẻ mệt?", thì bà mới sực tỉnh, vội đứng dậy: "Dạ thưa chú... không ạ!"

Ông mỉm cười nói thêm với sự thấu đáo của người già: "Là người làm cha làm mẹ, tôi hiểu tâm trạng của cô lúc này.

Và nếu tôi có con trai thì con trai tôi cũng sẽ có mặt ở những nơi cần có mặt như cháu nhà ta.

Thôi, muộn rồi, cô đi nghỉ sớm đi, ngày mai chắc sẽ mệt ra trò đấy."

Bà nghe lời gấp cuốn tài liệu đóng dấu tối mật lại, nhưng biết chắc rằng, đêm nay bà sẽ lại có một đêm thao thức nữa.
 
Mưa Đỏ
Chương 13


Cảnh vật khu thành sáng nay đã hoàn toàn thay đổi như không phải là nó, chưa hề là nó.

Tất cả những gì gọi là màu xanh hay gần như xanh đều biến mất để thay vào đó là màu đỏ lở loét, ngổn ngang, toang hoác đến không tin được của những hố bom, hố pháo, đất đá, công sự, tường thành.

Bức tường thành được xây dày dặn, vững chãi là thế mà giờ đây gần như đã tụt ngang bằng với mặt đất, trừ một vài đoạn nhô lên tróc lở như có một con khủng long thời tiền cổ nào đêm qua đã đói khát ngoạm vào nham nhở.

Và đó đây là những căn hầm bị xới tung, những đoạn giao thông hào bị biến dạng, lấp đầy.

Cuộc giằng co quyết liệt diễn ra ngay từ lúc ánh trời chưa rạng.

Cuộc chiến vào lúc tranh tối tranh sáng rất dễ khiến con người cho rằng đó chính là sự phân định bằng máu của bóng đêm và ánh sáng.

Giữa trần gian và địa ngục.

Reuters, một hãng tin tự cho mình luôn lấy sự khách quan, công bằng làm chuẩn mực đã viết, viết theo đúng cái chất tả thực trần trụi nhằm tạo thương hiệu của nó:

"...Có lẽ chưa bao giờ phi pháo được phát huy hết công năng như ở cái võ đài rộng không quá bốn ngàn mét vuông mà chưa rõ vì sao cả hai bên đều mang ra làm trò tỉ thí nhằm tác động tích cực đến cán cân trên bàn hòa đàm Paris?

Quân đội Sài Gòn sáng nay đã quyết định cho xung trận những loại xe bọc thép hiện đại nhất có trấn bao cát chắn đạn ở xung quanh sườn với hy vọng theo luận thuyết quân sự mơ hồ rằng có thể thay đổi được cục diện chiến sự.

Còn bên Hà Nội vẫn những vũ khí truyền thống được sản xuất từ Nga Xô nhưng họ đã thể hiện một khả năng bám trụ kỳ lạ!

Và như thế kế hoạch tái chiếm dự tính sẽ được thực hiện trong vòng mười tám ngày của phía quốc gia đã khiến người cả tin nhất cũng phải nghi ngờ.

Phóng viên của hãng đã có mặt ngay từ những giây phút đầu tiên để chứng kiến bộ binh bên tái chiếm ồ ạt lao lên sau đợt pháo giội xuống tới hàng ngàn trái chỉ trong vài giờ như thế nào.

Có thể nói đây là một trận thảm sát mà nó chỉ có thể có trong bức tranh lập thể "Guernica" bất hủ của danh họa Picasso khi miêu tả sức công phá của bom Đức trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha thế kỷ 20..."



Trước mắt Cường, dù hết đợt này đến đợt khác bị đốn ngã như ngả rạ, dù tiếng kêu khóc vang lên váng trời nhưng cánh lính dù vẫn say máu, lì lợm bám theo những chiếc M41 to cao như tòa nhà có trấn bao cát hai bên thành xe ào lên.

Đã có không ít những trái đạn B40, B41 mang sức công phá hủy diệt phụt ra trúng đầu xe, thân xe nhưng cũng chỉ đủ để những con quái thú này rung lên, khựng lại giây lát rồi lại tiếp tục gục gặc chồm tới khạc lửa.



Có một đoạn được ghi trong lá thư gửi mẹ của Cường sau đó vài ngày:

"...Mẹ!

Đến lúc này con mới hiểu thế nào là giao chiến!

Hồi nhỏ theo anh trai đi xem chọi gà được nhìn tận mắt những chú gà be bét máu me, thân thể rách toác mà vẫn gân cái cổ đỏ rực lao vào nhau thì thấy lạ, giờ mới thật hiểu.

Thoạt đầu còn rụt rè, ngần ngại, suy nghĩ xa xôi nọ kia, nhưng một khi máu đã bốc lên đầu, mắt đã nhìn thấy máu đổ ra, thấy đồng đội ngã vùi mặt vào đất ngáp ngáp là không còn cảm nhận gì nữa, chỉ thấy máu và máu sôi lên trong huyết quản, vỗ táp vào giữa mặt.

Khoảnh khắc tối tăm mù mịt ấy, con người cả hai bên đều tự quẳng tất cả những gì là ý thức, là chủ thuyết, là lý tưởng, hoài bão, mục đích nọ kia đi mà chỉ còn lại một lớp sương mù đặc quánh của bản năng tự vệ.

Đối phương khi đó không hiện hình bằng da bằng thịt mà nó chỉ tồn tại như một bức tường xám xịt, tanh nồng, khét lẹt.

Đục thủng, phá vỡ được bức tường ấy thì sống mà để nó đè lên là chết, đơn giản vậy thôi.

Con nghĩ vậy mẹ có thấu hiểu cho con không?..."



Đối phương vẫn tràn vào như lũ giật.

Do lượng người chênh lệch nên các tay súng trong tiểu đội buộc phải cơ động liên tục, lúc nhảy chỗ này lúc nhảy chỗ khác để bịt kín các kẽ hở chứ không thể cố định nằm yên được một chỗ sau những vật che khuất, che đỡ có lúc đã trở thành mỏng manh, vô nghĩa.

Chính vì vậy mà tốc độ phòng thủ bị chậm, càng chậm hơn khi nhảy tới đâu phải xách theo cả các loại vũ khí cồng kềnh, lỉnh kỉnh theo đến đó.

Có chiến sĩ vừa tiếp cận được chỗ mới, chưa kịp giương súng lên thì đã trúng đạn hay ăn cả một đường lê sắc ngọt xuyên qua người.

Xót xa và điên giận, bất chấp các luồng đạn réo qua đầu như mưa táp, Tạ đứng thẳng người trên bờ đất, gào lạc giọng:

- Mẹ chúng mày!...

Nghe này, tụi bay để sẵn vũ khí, lựu đạn ra các điểm cho tao, nó lên điểm nào, chạy người không đến điểm đó mà mần.

Bắn chết mẹ chúng nó đi!

Như đi trên sa mạc bỗng được hắt cả một vốc nước mát lạnh vào cổ, chợt tỉnh ra, cả tiểu đội vội ngoăn ngoắt làm theo.

Các loại súng, các băng đạn, quả đạn, lựu đạn, cả dao găm, xẻng cuốc...

được nhanh chóng đặt về các điểm.

Im lặng...

Và kế sách của người Tiểu đội trưởng mang cái dáng cua đồng đã có tác dụng rõ rệt.

Các luồng đạn bỗng trở nên ken dày, linh hoạt, kịp thời như thể quân số phòng thủ đã bất ngờ được tăng cường lên gấp hai gấp ba và cường độ sát thương cũng theo đà đó mà nhân lên.

Những "tòa nhà" di động bắt đầu bị tháo mất móng, đổ kềnh.

Những thân người bốc cháy ngùng ngoặng rơi xuống.

Một tiếng thét như bị cắt cổ từ phía đối phương vang lên: "Coi chừng dính bẫy mẹ nó rồi.

Tản ra!..."

Tản đội hình nhưng cường độ tấn công của đối phương vẫn không giảm, chỉ khôn ngoan, thận trọng hơn.

Dưới nắng, những bóng rằn ri màu nâu xám vẫn xuất hiện ngày một đông, lao lên, lùi lại, gầm gừ, gào thét, nhảy nhót như những cái bóng đười ươi, khỉ, vượn thời tiền sử xô về phía con mồi.

Bình vổ nhổ phì từ trong miệng ra một búng máu lẫn cả răng, chửi tục:

- Thế là mất cha nó chiếc răng duyên của bố mày rồi!

Tạ cười khồ khồ:

- Mày phải cám ơn nó đã nhổ cho chiếc răng vổ không công chứ chửi gì?

Rồi anh bất giác sững người, tròn mắt nhìn sang hầm bên cạnh.

Tại đó, Hải gù không thèm nằm, không thèm nấp, không thèm cả đội mũ nữa, cứ đứng sổng lưng mà nghiến răng nhả đạn như không cần biết mình đang ở đâu, mình đang đối diện với cái gì.

Chốc chốc cậu ta còn nhao hẳn lên mặt đất trống trơn, rút tạc đạn ném như điên cuồng, như mê mụ về phía trước, đến nỗi Tạ phải nhảy thếch lên kéo giật cậu ta xuống với tiếng thét lạc giọng:

- Thằng ngu!

Mày chán đời muốn chết thì tìm chỗ khác chết một mình chứ đừng chết ngớ ngẩn trước mặt mọi người thế này!

Xuống!

"Chết ngớ ngẩn à?"

Hải lầm bầm nhắc lại rồi mặt vẫn lạnh tanh, lại định một mình nhao lên khoảng trống nữa và anh sẽ nhao lên được nếu như cánh tay rắn như thép của Cường không lôi xệch trở lại lòng hào.

Hải đần mặt ra một chút rồi tự nhiên cất tiếng làu bàu như bà già đi chợ:

- Đây là đợt tấn công thứ tám!...

Không, thứ chín.

Mới có một buổi sáng mà những chín đợt, nhiều quá!

Từ giờ đến tối không hiểu còn mấy đợt nữa?

Sen nhìn sang, khẽ chau mày:

- Đừng đếm.

Đếm, sẽ không chịu nổi đâu.

Vẻ như không nghe thấy, Hải lầm bầm đếm thêm vài tiếng nữa rồi quay sang chú mục vào đường bắn của mình.

Góc bên kia, cậu bé Tú vừa lắp thêm xong một băng đạn, định bắn tiếp thì chợt nhìn sang Cường, tròn mắt như nhìn người hành tinh khác.

Cường chau mày:

- Cái gì thế?

- Anh giống cái giẻ lau bã trầu của bà nội em ở nhà quá!

Cường giật mình nhìn lại và phì cười.

Đúng là giống thật!

Áo một nơi, quần một nẻo, toàn thân nhem nhuốc, tơi tả, sây sát, một bên ống quần bị đứt bay đâu không biết, máu chảy ròng ròng trên mặt.

Vậy mà đội hình phía bên kia có nã đạn thế nào chúng nó cũng chỉ khuyết đi một chút rồi lại trám lại như cũ.

Trong đầu anh bỗng lóe lên một suy nghĩ khi chợt nhớ đến một trò chơi trận giả trên bãi cát sông Hồng hồi còn đi học, lợi dụng lúc bên kia đang cúi xuống tránh đạn, Cường ghé tai Tú nói nhanh:

- Giờ thế này, em chuẩn bị tiếp lựu đạn cho anh nhé, anh ném đến đâu em rút chốt đến đó.

Phải vun chúng lại cái đã!

Tú chưa kịp hiểu chuyện gì thì với sức vóc sẵn có và với một nghệ thuật sử dụng lựu đạn đạt điểm tối ưu hồi còn tập luyện ở thao trường, bằng những trái lựu đạn đã rút chốt do Tú đưa cho, anh vung tay ném chậm từng trái và mở rộng ra vòng ngoài đội hình đám lính dù đang nằm tản mát trước mặt.

Trái thứ nhất... trái thứ hai... rồi trái thứ ba... chưa động tĩnh gì.

Bị quả nổ phạt sau lưng, chúng vẫn trơ khấc, thậm chí có cái miệng sau bụi cỏ còn nhe chiếc răng bắt nắng vàng chóe ra cười khấc lên như vừa đạt tới cơn cực khoái: "Trật rồi, trật xa rồi các con ơi..."

Nhưng đến những trái tiếp theo vẻ như không còn chịu nổi tầm sát thương mỗi lúc mỗi rát rạt ấy, đám lính dù buộc phải hốt hoảng co cụm lại.

Chỉ chờ có thế, Cường hét: "Tú, cấp tập!" cả hai cánh tay đồng loạt vung lên.

Những chớp lửa cùng lúc phủ chụp xuống những chiếc nón sắt đang tụ lại dày đặc...

Chỉ thấy tiếng nổ nối tiếp tiếng nổ, tiếng la hét chồng lên tiếng la hét và khi khói bụi tan, chỗ đó chỉ còn lại một khoảng trống ghê rợn...

Tiếng Bình vổ thét lên khoái trá:

- Cường!

Cậu chơi hay quá!

Để tớ chơi tiếp!

Bình phấn khích định làm theo thì Cường đã cau mày ngăn lại:

- Thôi, nó chạy hết rồi, để dành.

Nói vậy nhưng trong đầu anh, một suy nghĩ đau đớn vừa nứt ra khi trân nhìn vào cái bãi trống hoác lổn nhổn toàn xác người kia.

Anh thực lòng không muốn cái cảnh hãi hùng này lặp lại một lần nữa, nhất là lặp lại do mình.

Chết!

Chết nhiều quá, ai chết, chết vì cái gì?

Bình vẫn chưa hết phấn khích, anh đứng hẳn lên bờ hào, vạch quần ra đái tồ tồ, còn nói vóng lên như chiếc loa thôn treo trên cành xoan:

- Chết cha các chú chưa? cầm c... cho Mỹ đái mà có khi nó không biết đái còn đái văng cả vào mặt các cậu, sướng chưa?

Nói vừa dứt câu, một luồng đạn cực nhanh hất nhào anh xuống hố nhưng may không bị sao, cái báng súng rắn đanh đã chắn cho anh khỏi cái lưỡi của tử thần đang liếm tới, chỉ có bộ mặt bị đất cát trát vào nhìn như cái mặt ông Địa.

Sen cúi xuống đỡ Bình lên, lắc đầu, vẫn cái lắc đầu nghiêm khắc:

- Mình là quân đội cách mạng, không nên ăn nói như vậy, càng không nên làm những hành động tục tĩu, thắng thua chưa biết nhưng bên kia nó coi thường.

"Coi thường cái con c...

ấy!

Mẹ!"

Vốn trực tính, Bình định văng ra một câu vỗ mặt như thế nhưng vội kìm lại được.

Đúng ra chính cái vẻ đĩnh đạc, trầm tĩnh, không bốc mà cũng không chùng của người Tiểu đội phó trong mọi tình huống đã tạo được một cái uy cho mọi người nể vì, noi theo đã kìm anh lại.

Chỉ có điều, như một lần thằng Tú vô tình nhận xét, ranh con mà nhận xét sắc gớm: "Anh Bình, sao em thấy con mắt của anh ấy có cái gì lành lạnh lạ lắm, lạnh cả khi nhìn vào xác chết của bên này lẫn bên kia, thật ấy, em nhìn thấy thật mà...

Anh Cường bảo đó là phong cách của một người lính con nhà nghề, đúng không?"

Chả biết có đúng thật không nhưng cái đầu bù xù đất cát của Bình cứ gật đại vì chàng họa sĩ tương lai đang nghĩ ráo riết đến một chuyện khác.

Cái chuyện làm sao phải cho đối phương mất dần sức chiến đấu chứ cứ để nó ào lên như lũ thiêu thân thế này thì mệt quá!

Và, như được cái kỹ xảo tác chiến độc đáo, đầy hiệu quả của Cường khích lệ, Bình vổ quyết định tập trung vào trò chơi điểm xạ của mình.

Một thứ điểm xạ không giống ai.

Trước những đường đạn chuẩn xác của anh, chỉ thấy địch đứa thì bị vào chân, đứa bị vào tay, đứa lại chỉ bị vào vai chứ không tên nào bị trúng chỗ hiểm.

Tạ nhào tới, gắt:

- Cậu bắn cái kiểu gì thế hả?

Chơi à?

Đùa đấy à?

Lui ra!

Bình cười:

- Uýnh bọn dù này không biết chơi có mà toi.

- Sao?

- Rất đơn giản: bắn chết là chỉ mình nó chết, những thằng khác sống nhăn, chựng lại một tí lại xông lên.

Bắn bị thương, cứ một thằng bị là mất hai thằng cõng về, ta rảnh tay hơn.

Tạ ngó ra một chút rồi cười khồ khồ, nhe cả hàm răng ám khói, vỗ vào vai Bình đến bốp một cái:

- Giỏi!

Cái thằng vẩu...

à, không, thằng móm, bây giờ móm rồi, thằng móm này trông ngu ngơ thế mà suy nghĩ lại chả móm tí nào, giỏi!

Mặc dù vậy, sau một hồi chệch choạc, cường độ tấn công của đối phương vẫn không thuyên giảm.

Đến đây thì những tuyến hào nông choèn, đào vội mới bộc lộ hết cái điểm yếu chết người của nó.

Những tuyến hào nối các hầm chỉ sâu không quá thắt lưng đã khiến cho nhiều chiến sĩ dù đã cố gắng cúi thấp hết cỡ lưng nhưng vẫn bị trúng đạn khi đang vận động.

Trong đó có Tú.

Cậu ta chạy được một đoạn, thấy đạn bắn sát sạt trên đầu, làm cháy sém cả một chỏm tóc nên vội chạy trở lại.

Được mấy bước, đụng một đồng đội vỡ toang lồng ngực, lại vội trở lui...

Cứ thế xà quầy, xà quầy hệt con thú bị dính bẫy và chắc chắn sẽ dính nếu như Tạ không kịp chồm tới, gần như kéo xếch cậu ta về phía trước.

Trong lòng hào, người chết, người bị thương nằm ngổn ngang càng làm cho tuyến giao thông đã tắc nghẽn càng trở nên tắc nghẽn.

Ánh mắt Hải gù, người thợ cơ khí đường hầm dừng sững vào đó, cháy lên như đang nung nấu một điều gì.



Bóng tối sụp xuống.

Kiệt quệ và im ắng.

Im ắng đến nỗi Tú tự nhiên thốt lên:

- Em nghiệm ra rồi, cứ khi nào im tiếng súng thì tiếng u u của ruồi nhặng lại tấu lên.

Chỉ có độc tiếng u u đó thôi.

Các anh thử lắng tai nghe mà xem!

Tạ gắt:

- Nghe mẹ gì, điếc hết lỗ nhĩ rồi còn nghe với ngóng.

Mà ruồi nhặng nào bay ra vào lúc tối tăm thế này?

Ăn đi không bọn chó nó lại cắn dao lao tới bây giờ!

Ngồi trên mặt đất, ngay cạnh cửa hầm, cả tiểu đội giở cơm nắm ra nhai trệu trạo với mấy miếng cá hộp.

Một chiến sĩ bỗng nôn ọe ra đất rồi quay nhìn đi chỗ khác, không ăn nữa.

Tạ hỏi:

- Mày làm sao thế?

Nghén à?

- Mùi cá hộp như mùi xác chết... em... em không...

- người lính trả lời.

Tạ cũng ném nắm cơm của mình ra xa:

- Mẹ!

Mới sang ngày thứ hai mươi lăm mà tiểu đội đã hai mươi lăm lần thay quân.

Mỗi ngày mất phân nửa.

May mà mấy thằng cũ vẫn còn.

Cúi xuống nhặt cọng cỏ xỉa răng cành cạch, nhổ phì phì mấy cái rồi nhìn khắp lượt tiểu đội, Tạ hắng giọng nói tiếp:

- Rút kinh nghiệm tẹo cho ra cái vẻ chính quy heng!

E hèm!

Ngày hôm nay tiểu đội nhiệt liệt biểu dương cách đánh của cậu Cường.

Khớ đấy, mẹo đấy, đúng kiểu đánh của chiến tranh nhân dân, mai phát huy.

Ngược lại cậu Hải, không được, rất không được, đây là chủ nghĩa anh hùng tập thể chứ không phải là anh hùng cá nhân, mang cái cá nhân to tướng ra đây là không hợp.

Còn cậu Bình nữa, cũng không được.

Ai dạy cậu cái lối đánh chỉ sát thương chứ không tiêu diệt.

Mai, dẹp ngay!

- Rõ!

- Bình trả lời.

- Thì là em cũng thử thí nghiệm.

Sen lên tiếng:

- Tôi lại tán thành thí nghiệm của đồng chí Bình.

Không thí nghiệm sao biết sai biết trúng mà chỉnh sửa.

Đó cũng là tinh thần của chiến tranh dân dân.

Trong khi mặt mũi Bình rõ là nở ra hết cỡ thì Tạ lại làu bàu:

- Mẹ, cái thằng sao nói kiểu gì nghe cũng được cả thế hè!

Sen nói tiếp, giọng thoáng phiền muộn:

- Đồng chí Tú vẫn tỏ ra nhát sợ, gần một tháng trôi qua rồi mà vẫn nhát sợ thì đây là căn bệnh cố hữu không có khả năng tiến triển, ảnh hưởng không tốt đến tinh thần chiến đấu của anh em.

Tôi đề nghị trả đồng chí ấy về phía sau làm nhiệm vụ phục vụ như nấu cơm hay tải thương, tải đạn gì đó sẽ thích hợp hơn.

Tú òa khóc:

- Em sắp quen rồi.

Trận nữa là quen thôi.

Đừng cho em về phía sau...

Mai em sẽ không nhát nữa.

Tạ cười, kéo cậu vào lòng:

- Cố lên, mai mốt thắng lợi, tao gả con nhỏ em cho, con nhỏ đẹp ác ôn!

- Rồi anh nhìn qua nhìn lại.

- Thằng Cường đâu ấy nhỉ?

Tiểu đội vừa biểu dương nó có nghe không đấy?

Ngồi im lìm ở phía sau, chìm trong bóng tối, Cường không trả lời.

Biểu dương ư?

Biểu dương cái gì ấy nhỉ?

Biểu dương vì đã biết dùng kỹ xảo giết được nhiều kẻ thù ư?

Trong số kẻ thù ngã vùi mặt xuống đất hôm nay chắc cũng có mẹ có cha, có gia đình, có người yêu, thậm chí cô người yêu ấy cũng lạnh lẽo chia tay trước khi họ vào trận như mình...

- Cường đâu?

Tiếng gọi lần hai kéo xếch anh về thực tại.

Cường đứng dậy bước trở lại đội hình, nói cái điều anh đã định nói từ lâu nhưng chưa có dịp nói:

- Tôi thấy ta thương vong nhiều vì hệ thống hầm hào đều đang ở dạng gần như lộ thiên rất nguy hại.

- Đó là chủ trương của trên để dễ cơ động và tiếp ứng.

Chả lẽ ta lại đào địa đạo ngay ở cái chỗ không còn một phân vuông đất nào không trộn toàn sắt thép ư?

- Sen ôn tồn bác lại.

- Trên không phải bao giờ cũng đúng.

Mọi chủ trương không phải bao giờ cũng không sai.

Tôi nghĩ mọi cái đều phải bắt đầu từ cọ xát thực tiễn, từ xương máu người lính đổ ra.

Tạ xua tay:

- Ồi ồi!

Thôi, con xin các bố không lý luận nữa.

Chắc các bố ở trên cũng đang nhức đầu về chuyện này.

Chợt Bình vổ ngó quanh:

- Ơ, thằng Hải gù đâu ấy nhỉ?

Lúc nãy còn thấy hắn đánh rắm bum bủm như cái thằng bị táo bón mãn tính ở đây kia mà?

Một tiếng nói bật lên từ vũng tối:

- Từ ngày đầu vào trận đến giờ, tôi thấy thái độ cậu này lạ lắm, lúc thì ngồi im như chết, lúc lại lao lên nhả đạn tứ tung như cái kẻ bị tâm thần, không để ý gì đến chết sống cả.

Coi chừng cậu ấy đi... hôi của.

- Tôi không tin.

- Sen bác lại.

- Trong chiến đấu, hôi của là một hành vi không thể tha thứ được, nó làm tổn thương nghiêm trọng đến phẩm chất và nhuệ khí chiến đấu của người lính.

- Đúng!

- Cường nói.

- Với Hải, nếu đêm qua cậu ta đi moi gạo sấy, thịt hộp, thuốc lá trong đám xác lính dù thì cũng là để đem về dùng chung cho tiểu đội chứ không phải cho cá nhân mình.

Sen gật đầu:

- Tôi cũng nghĩ vậy.

Những lúc thân thể và đầu óc căng lên như sắp đứt thế này, ta nên cố gắng nghĩ đúng về nhau.

Tạ vỗ hai tay vào nhau cái bốp:

- Đúng, phải nghĩ đúng chứ.

Đồng đội mà nghĩ sai là rất bậy đó.

Nhưng tao nói cho nghe này, kinh nghiệm đánh nhau là cấm kỵ ba điều: cơm sống, hôi của, mèo mỡ.

Mèo mỡ thì ở cái chảo lửa này có bói cũng không ra một mẩu, có chó đứa nào mà mèo, nhưng còn hai cái kia, đứa nào phạm đứa đó chết sặc máu đấy.

Tú ghé tai Cường nhưng mắt lại liếc nhìn nhanh sang Bình:

- Thảo nào hôm qua anh Bình nấu cơm sống, tiểu đội "đi" luôn hai người.

Tạ vẻ sốt ruột:

- Cậu Cường đi tìm thằng Hải xem nó có đi hôi của thật không thì xách cổ nó về!

- Tôi đi với Cường.

Sen nói và cả hai xách súng, ngoắc đèn pin bước nhanh vào khoảng tối trước mặt.

Ngổn ngang, bừa bộn, mùi tử khí xông lên sặc sụa.

Chốc chốc họ lại vấp lại trượt lại giẫm phải một cái rễ cây, một xác chết... không hiểu của phía bên kia hay phía bên này nếu không chú mục nhìn vào bộ đồ họ đang mặc, đôi giày dưới chân hoặc cái mũ họ đội trên đầu.

Đó đây có những tốp đi gom tử sĩ đem chôn, giọt đèn pin trên tay họ run rẩy, nhấp nháy như giọt ma trơi trên một vùng nghĩa địa.

Chôn trong đêm, chôn âm thầm, chôn tạm bợ, chôn cả hai sắc lính như không phải là chôn mà chỉ là vùi nhanh vào mặt đất một thân thể con người không còn nguyên vẹn!

Sen bước đến một hố chôn nông hoẻn, hỏi nhỏ:

- Sao không đào sâu xuống chút nữa, đồng chí ơi!

- Sâu ích gì!

- Người lính càu nhàu.

- Mai bom pháo nó lại cày lên, mất công.

Cường nghẹn lời:

- Anh Sen...

Cứ đà này tôi sợ mấy ngày nữa không còn đất để chôn mất!

Sen gật đầu:

- Mình tin cấp trên đã thấy rõ điều này và chắc chắn sẽ tìm ra giải pháp.

- Giải pháp chuyển qua sông ấy à?

Ta đã cho chuyển rồi nhưng không xuể, lại đành phải chôn tại chỗ đấy thôi.

Sen không nói thêm gì nữa.

Họ cắm cúi đi tiếp.

Đến một chỗ thoáng hơn, bớt nặng mùi hơn, Sen dừng lại, giọng nói rõ ràng là đã được chất chứa từ trước:

- Cường này, cậu là một người lính tốt, cậu có những lợi điểm mà người khác không có như sự dũng cảm, trí thông minh và khả năng quyết đoán, nhưng trong góc khuất của cậu hình như vẫn có vấn đề.

Vấn đề?

Không hiểu sao gần đây, nhất là khi bắt đầu vào trận, anh rất hay dị ứng với hai chữ "vấn đề".

Vấn đề gì?

Sao người ta lại lấy những ngôn từ vốn chỉ dùng trong văn bản cuộc họp ra để lắp đặt vào góc khuất trong tư tưởng con người thế nhỉ?

Tuy vậy, trước cách nói chân thành của Sen, anh cũng không lấy đó làm điều nên vẫn cố tỏ ra nhẹ nhàng:

- Anh nói tiếp đi!

- Đó là cách nghĩ và cách nói ra cái suy nghĩ ấy.

Cái câu "Trên không phải bao giờ cũng đúng" hay "Mọi chủ trương không phải bao giờ cũng không sai" của cậu, sự thật có thể như thế, hơn như thế nhưng nói ra là bất lợi, bất lợi cho cậu và bất lợi cho cái chung, nhất là vào lúc nước sôi lửa bỏng như thế này, dễ bị người ta đánh giá.

- Tức là mình phải nói khác sự thật?

- Tùy cậu hiểu.

- Cuộc sống và tính mạng của người lính là thật nhất mà chúng ta còn không tiếc thì hà cớ gì phải tránh né những sự thật râu ria khác.

- Mình đồng ý nhưng vấn đề là chúng ta phải biết đặt tình cảm, suy nghĩ của mình trong cái đà chung của hoàn cảnh.

Ví dụ, điều này mình cũng nói thật, vì quý cậu mà nói, những trang nhật ký của cậu viết gửi mẹ nên cất kín đáo một chút, cứ để tơ hơ ra như thế, người xấu bụng nó đọc được dễ thành chuyện lắm.

Cường thoáng lặng đi.

Thảo nào chiều qua giở cuốn sổ ra định ghi tiếp vài dòng thì anh chợt thấy cái trang có đánh dấu không còn nguyên như cũ nhưng không để ý, cho rằng nó bị xô lệch do hơi bom thôi chứ giữa cái sống cái chết mỏng manh quá thể thế này, ai còn lòng dạ nào mà đi đọc trộm nhật ký của nhau.

Nghĩ vậy, giọng anh căng lên:

- Riêng cái này thì tôi không đồng ý với anh.

Chả lẽ cứ chiến tranh là con người ta phải trở thành vô tri vô giác, thành cỗ máy chiến đấu mà không được giãi bày, tâm sự, không có tâm hồn, tâm trạng gì hết sao?

Cuộc chiến đấu vậy thì buồn quá!

Và lý do cầm súng như vậy cũng nghèo nàn quá!

Đó là chưa nói viết nhật ký là quyền riêng tư của mỗi người, không ai có quyền xâm phạm.

Sen khẽ cười, vẻ buồn buồn:

- Cường hiểu sai mình rồi.

Cuốn nhật ký của cậu không hiểu sao lại rơi ra khỏi ba lô, sợ bị đất vùi nên mình mới nhặt lên, xếp lại rồi vô tình đọc lướt được mấy dòng thôi.

Nếu mình có ý gì thì phải im lặng chứ nói thẳng ra với cậu làm gì, đúng không?

Mình chỉ muốn giữ cho cậu, cho các cậu thôi.

Cường bất giác khẽ rùng mình rồi như có cái gì nghèn nghẹn dâng lên, anh quay sang nắm chặt tay Sen, chìm giọng:

- Thành thực... thành thực xin lỗi anh!

- Không có gì.

Đây cũng là tấm lòng của mình.

Kẻ thù và bom đạn đã làm cho ta quá khổ rồi, đừng vì một sơ suất gì mà ta lại làm cho ta khổ thêm nữa.

Sen chỉ nói thế rồi im lặng hạ thấp người đi tiếp.

Đang dò bước, bỗng họ chợt nghe thấy một tiếng sột soạt ở ngay phía trước.

Sen vội ngồi thụp xuống, găm súng lên, nói khẽ:

- Coi chừng thám kích chúng đột vào ban đêm!

Cường cũng găm súng về phía tiếng động ấy...

Nhưng không phải, chỉ là cái bóng của một con kỳ đà to bằng bắp đùi vụt ra từ một cái bụng tử thi ép xẹp chắc sau khi đã ăn hết ruột gan...

Bụng Cường cũng bất giác cuộn lên bỏng rát như bị chính hàm răng nhọn hoắt, trắng ởn của con vật chuyên ăn xác thối kia cắn nát, lôi hết ruột gan ra ngoài.

Lại một tiếng sột soạt nữa...

Nhưng lần này là bóng người, cái bóng gù gù của Hải.

Hải đang lui cui tìm kiếm cái gì trong cỏ lác, vôi vữa, dưới lưng xác chết.

Anh lật cái này, lật cái kia rồi lại lui cui tiếp, lại lật lên hạ xuống, thở phì phò.

Cường tái mặt, dừng sững, trời ơi, chả lẽ nó hôi của thật ư?

Còn Sen lại lặng lẽ cười, cái cười như hàm ý, các cậu còn nông cạn lắm, các cậu còn chưa hiểu gì về con người cả, rồi bám theo với bước chân nhẹ như chân mèo...

Phía trước, đang lui cui chợt Hải như phát hiện ra điều gì, vội dò dẫm bước tới, vận sức nâng lên một cái nắp bằng xi măng khá dày.

Một lỗ tối hun hút hiện ra.

Hải tuồn người xuống.

Cường tuồn theo.

Một mùi hôi thối xộc lên khiến anh xây xẩm mặt mày.

Thì ra họ đang đứng trong lòng một cái cống ngầm không rõ hình hài.

Bóng Hải đen sì mò mẫm lần từng bước ở đằng trước.

Cường cũng lần theo, cố không để phát ra tiếng động.

Im ắng...

Chỉ có bước chân người giẫm lên nhóp nhép.

Thời gian trôi qua...

Và Hải chỉ dừng lại khi trước mặt anh bỗng xuất hiện một khoảng sáng cửa hầm có tiếng sóng sông dội vào ì oạp.

Kêu lên một tiếng mừng rỡ như kẻ đi đào vàng đã tìm ra được một vỉa vàng quý giá, Hải vội quay lại, chạm Cường, giật nẩy người định giương súng.

Cường kêu:

- Khoan, đừng bắn!

Tớ đây, Cường đây!

Hải cũng kêu:

- Mình tìm ra được đường cống ngầm rồi.

Thắng rồi!

Vô lý lại không có.

Gọi là thành thì dưới phải là cống chứ.

Người Pháp họ chả làm thiếu cái gì bao giờ.

Cường nắm chặt lấy bàn tay tơ tướp của bạn:

- Hóa ra cái nghề làm điện hay chui rúc của cậu nó cũng có tác dụng đấy nhỉ?

Thôi, lên!

Cả tiểu đội đang nháo nhác vì cậu kia kìa!

Họ đi nhanh trở lại.

Lên đến cửa cống, chạm cái bóng của Sen đang đi đi lại lại có vẻ bồn chồn, Cường nói vui:

- Đúng là cậu này đi hôi của thật.

Hôi được cả một cái cống ngầm Paris ăn thẳng ra sông Seine.

Sen cũng cười, vỗ mạnh vào vai Hải:

- Thật vậy ư?...

Tuyệt lắm Hải ơi!

Rồi tới đây, cả cái Thành cổ này, cả mặt trận này sẽ biết đến công lao của đồng chí.

Mình biết đồng chí sẽ là người như thế.

- Cám ơn Tiểu đội phó!

Lời cám ơn không mặn không nhạt, vẫn vẻ đăm chiêu như đang nung nấu một điều gì, anh nhanh chân đi về khu hầm của tiểu đội.
 
Mưa Đỏ
Chương 14


Sự kiện Hải gù phát hiện ra được đường cống ngầm đã bay đến tai những người chỉ huy cao nhất của Thành cổ.

Anh cùng với Cường, Tạ và người đại đội trưởng lập tức được gọi lên chỉ huy sở.

Tại đây, chỉ huy trưởng Vũ Thành rót cho mỗi người một nắp bình tông trà đặc quẹo rồi xoa xoa hai tay vào nhau, vẻ thích thú:

- Nào tôi nghe đây.

Đúng là có cái đường hầm đó thật không?

Các cậu không nhìn gà hóa cuốc đấy chứ?

Tạ vươn thẳng người:

- Báo cáo, gà là gà cuốc là cuốc, con mắt chiến sĩ Thành cổ không bao giờ nhầm.

Báo cáo!

- Chỉ tay về phía Hải.

- Chính đồng chí này phát hiện ra nó.

Tôi, Tiểu đội trưởng Nông Văn Tạ cũng đã trực tiếp xuống đó khảo sát, rò rẫm, đúng là cống ạ!

Cái cống cổ nằm theo hình xương cá ăn thẳng ra sông.

Nếu ta cho dọn dẹp sạch lại thì báo cáo các Thủ trưởng, ây à, cứ gọi là cơ động nhanh như gió, lại kín đáo nữa, bố thằng dịch cũng không phát hiện ra.

Chính ủy Tân nhắc khẽ:

- Đồng chí Tiểu đội trưởng!

Đồng chí đang đứng trước mặt Thủ trưởng trung đoàn.

Vũ Thành cười, gạt đi:

- Không sao.

Trong chiến đấu nhiều khi phải biết bỏ qua tiểu tiết để tập trung vào cái chính yếu.

- Chợt nhận ra Cường.

- À, chàng trai hôm nọ đây phải không, tốt, thế cậu nhận định chuyện này thế nào?

Cái cống đó?

- Dạ!

- Cường nói.

- Đây là một đường địa đạo, một lối huyết mạch trời cho để phòng ngự, chuyển thương và tạo thế tiến công bất ngờ ạ!

Chính ủy chau mày:

- Khoan đã.

Nhưng có bất ngờ thật không nếu như kẻ địch cũng đã phát hiện ra rồi tương kế tựu kế đặt ổ phục kích hoặc cho nổ bộc phá bít lại?

- Dù thế vẫn còn hơn rất nhiều tuyến giao thông hào được triển khai lỡ cỡ như hiện nay ạ!

- Sao?

Cái gì lỡ cỡ?

- Chính ủy hỏi nặng giọng.

Cường thoáng giật thột nhưng chợt nhận được cái nhìn khuyến khích của Trung đoàn trưởng nên giọng anh trở nên mạnh dạn hơn:

- Dạ, là ngay từ đầu ta đã không chú ý đến các hệ thống phòng thủ vững chắc, lâu dài, nhiều tầng nhiều lớp nên phần lớn đã không chịu đựng được áp lực bom pháo của chúng, xảy ra thương vong rất nhiều.

Đến đây thì khuôn mặt của người Chính ủy sầm hẳn:

- Chủ trương của mặt trận là phản kích và tiến công chứ không phải là phòng thủ bị động, đồng chí được đại đội quán triệt chưa?

- Báo cáo, tôi nghĩ tư tưởng tiến công khác với chiến thuật tiến công.

Với đặc điểm ở đây, nếu chỉ lo tiến công là tự sát.

Chính ủy nổi cáu:

- Đồng chí là ai, cấp bậc gì, đã qua trường lớp nào chưa mà dám ăn nói bừa bãi như thế?

- Dạ!

- Cường vẫn hết sức nhẹ nhàng.

- Tôi chỉ là người lính và nói ra từ trái tim trung thực của người lính.

Nếu có gì không đúng, tôi thành thực xin lỗi.

- Xin lỗi?

Trên chiến hào, người lính không có động từ xin lỗi mà chỉ có chấp hành vô điều kiện, đồng chí hiểu không?

- ông quay sang người Đại đội trưởng.

- Còn đồng chí, đồng chí thấy sao?

Người Đại đội trưởng không thay đổi nét mặt:

- Báo cáo, tôi tin ở chiến sĩ của tôi.

- Tin?...

Chính ủy định cao giọng nữa nhưng Trung đoàn trưởng đã cười mà cản lại:

- Thôi, anh Tân, đây là một vấn đề lý thú ta cần suy xét.

Chiến trường có những cái mà nhà trường chưa chạm tới được.

Chỉ lo phản kích, tiến công mà mỗi ngày để mất đi một đại đội, một đại đội hơn trăm tay súng là không chịu nổi đâu.

Vả lại...

- Ông nhìn sang Cường, khẽ nói vào tai người đồng cấp.

- Cậu ấy đấy, cái cậu hôm rồi tư lệnh gọi lên định điều chuyển về phía sau nhưng cậu ta không chịu đấy, anh không nhớ à?

Một thoáng nhìn mềm dịu hơn của Chính ủy hướng về phía Cường giây lát rồi ông quay qua Hải gù, chợt hạ giọng:

- Thôi được rồi, giờ Ban chỉ huy muốn được nghe vị kiến trúc sư cống ngầm này trình bày cụ thể!

Dường như chỉ chờ có thế, Hải đứng thẳng dậy, có cảm giác như cái lưng gù của anh biến mất hay gần như biến mất trước một đề án mang đầy tính nghề nghiệp.

- Báo cáo, có cần bản vẽ không ạ?

- Bản vẽ à?

- Trung đoàn trưởng xua tay.

- Hay lắm, bài bản lắm nhưng tạm thời lúc này đồng chí cứ trình bày miệng đã, sẽ có các sĩ quan tác chiến làm việc cụ thể với bản vẽ của đồng chí sau.

- Dạ, đơn giản thôi ạ!

Đường cống ngầm có chiều dài năm trăm mét, rộng một mét, cao tám mươi phân, có nhiều ngóc ngách ăn thẳng từ trung tâm Thành cổ ra tới cửa sông.

Do đó, về mặt phòng thủ, nếu cứ cách vài chục mét, ta cho trổ lên một lỗ cửa để đặt các ổ hỏa lực, phục kích thì đối phương sẽ hoàn toàn bị bất ngờ và ta sẽ có thể chủ động trong mọi tình huống, về mặt cơ động, do địa hình mặt đất chật hẹp, trơ trụi, hệ thống giao thông hào lại nông, tôi nghĩ đường cống này sẽ nâng hiệu suất chiến đấu lên gấp đôi và mật độ thương vong cũng sẽ giảm xuống một nửa.

Chỉ xin đề nghị phải cho dọn quang, có chỗ phải khoét lại, làm sạch nó đi vì bao lâu nay không được sử dụng, đường cống bừa bộn, ngổn ngang lắm ạ!

Trung đoàn trưởng đấm mạnh bàn tay xuống mặt bàn, gần như reo lên:

- Hiểu rồi, rất hay!

Nói tiếp đi!

Lịch sử chiến tranh trong các thành phố cho biết, ai nắm được các đường cống ngầm thì người đó nắm được thế chủ động và năm mươi phần trăm thắng lợi.

Chính ủy cũng tỏ ra phấn khích, con mắt sau cặp kính cận của ông hơi sáng lên:

- Tốt lắm, cám ơn đồng chí!

Này, hỏi thẳng nhé, trước khi nhập ngũ, đồng chí đã có qua một trường lớp dự bị nào chưa mà sự hiểu biết về quân sự thấu đáo thế?

Hải chợt trở nên lúng túng, cái lưng vừa mới thẳng được một chút giờ lại gù xuống khốn khổ.

Tạ liền nói thay với vẻ đầy tự hào:

- Báo cáo chưa ạ!

Đồng chí ấy trước khi đi lính...

- Đi bộ đội.

- Vị chính ủy sửa lại.

- Dạ, trước khi nhập ngũ đi bộ đội, đồng chí ấy vốn là một công nhân điện chuyên lắp đặt hệ thống ngầm ạ!

- Tốt rồi!

- Trung đoàn trưởng bước đến siết chặt tay Hải.

- Chơi nhau với thằng này không chỉ là sức mạnh cơ bắp mà còn cần phải có trí tuệ.

Các đồng chí về đi, riêng đồng chí Hải sẽ cùng cán bộ tham mưu đi thị sát lại một lần nữa thật chắc chắn rồi lên sơ đồ tỉ mỉ trình lên Ban chỉ huy.

Cám ơn các đồng chí!

Người chính ủy đột ngột nói:

- Anh Thành, anh còn nhiều việc, cứ ở nhà để tôi đi cho.

Trước tình hình này, thú thật tôi không muốn mình chỉ là một chính ủy chuyên tâm vào nghị quyết và đả thông tư tưởng.

Hình như đồng chí này nói đúng.

- Chỉ Cường.

- Mọi nghị quyết đều phải từ...

đường cống ngầm đi lên.

Hà hà!

Ông cười rất vui.

Tiếng cười lây lan khiến tất cả những khuôn mặt hốc hác, đen nhẻm, võ vàng không thể không cười theo.

Tất nhiên tiếng cười to nhất là tiếng cười của Tiểu đội trưởng Tạ.

Tâm hồn người nông dân ít học đang cực kỳ khoái chí với học vấn, tài năng của các chiến sĩ dưới quyền mình.

Tiễn mọi người ra cửa, Trung đoàn trưởng nói khẽ vào tai Cường:

- Anh bạn trẻ khá lắm!

Cứ thế nhé!

Cường im lặng.

Giây phút này, không hiểu sao trong đầu anh lại chợt nhớ đến mẹ...



Chui lên khỏi hầm chỉ huy thì trời đã về chiều, họ bất ngờ đụng một đoàn thương binh gồm đủ những cáng thương, dìu, nạng, cõng, vác...

đang nối nhau về hướng bến sông.

Đoàn người băng bó trắng toát chuyển dịch âm thầm lúc nhập nhoạng lại giống như một đoàn âm binh rời khỏi âm phủ.

Đụng cả bác sĩ Lê, mắt thâm quầng, quần áo bê bết máu.

Thoáng nhận ra Cường, cái miệng râu ria khẽ nhúc nhích:

- À, lại anh bạn trèo me trèo sấu đấy à?

Vẫn chưa bị chứ?

- Dạ, nhờ giời chưa.

- Cường khẽ bật cười trả lời.

- Giời đất gì, số mày may đấy thằng em ạ.

Mở to mắt mà nhìn vào trong kia kìa!

Giời với chả đất!

Theo tay chỉ của người bác sĩ có cái dáng đồ tể giữa chợ, Cường thoáng rùng mình khi trước mắt anh hiện ra những ngăn hầm cứu thương đang lèn chặt ních, lèn chồng cả lên nhau những thân hình máu me, cong giật, bông băng, quằn quại cùng những tiếng rên la đau đớn tột cùng từ đó vang ra.

- Chuyển sang sông cả đống rồi mà vẫn còn phải nằm xếp lớp lên nhau như xếp cá thế này đấy.

Đi đi!

Cầu chúc cho thằng em đồng hương đẹp trai không phải vác cái mặt nát bấy đến đây.

Bác sĩ Lê nói rồi vừa cấm cẳn vừa chạy gằn theo đoàn người xiêu vẹo của mình xuống bến.
 
Mưa Đỏ
Chương 15


Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ đã bước sang ngày thứ ba mươi.

Ba mươi ngày là ba mươi trận đánh, ba mươi lần hết quân rồi lại thay quân, ba mươi ngày nắng vẫn đổ lửa trên đầu, ba mươi ngày xác chết vẫn rải đầy mặt đất.

Và trước mắt còn bao nhiêu cái ba mươi ngày nữa, hay là chỉ chịu thêm được vài ngày nữa rồi sẽ kiệt sức?

Mỗi sáng tỉnh dậy, câu hỏi ấy lại xoáy nhức vào đầu óc Cường.

Tuy vậy, dù sao cũng đã trụ được ba mươi ngày.

Ba mươi!

Một con số chất ngất đến không tin được trong cục diện quá ư chênh lệch này, mà một trong những lý do quan trọng để đạt được con số mang tinh thần bám trụ phi thường đó là hiệu năng tuyệt vời của đường cống ngầm kia.

Với bản vẽ chính xác mang tính chuyên nghiệp của Hải, lực lượng công binh của trung đoàn đã khẩn trương cho dọn dẹp, khơi đào lại toàn bộ chiều dài đường cống và hình thành trên ba chục ổ đề kháng chắc chắn bất ngờ từ lòng đất trổ lên.

Nhờ đó, đúng như Hải nhận định, hiệu suất chiến đấu và mật độ thương vong đã tạo nên một tỷ lệ nghịch không ngờ làm nức lòng tất cả các tay súng trong Thành cổ.

Tờ Reuters, lại Reuters, một tờ báo tự hào là dám bám sát các tin chiến sự nhất trong hệ thống các báo phương Tây buộc phải rút một cái tít in chữ đậm:

"Lần đầu tiên phía quân lực Sài Gòn, mà cụ thể là sư đoàn dù con cưng bị choáng váng bởi cách đánh xuất quỷ nhập thần, lúc có lúc không, khi ẩn khi hiện như những bóng ma trong nghĩa địa của đối phương mà không có cách gì giảm bớt được thương vong..."

Sau lần ấy, trung đoàn có ý điều Hải lên Ban tác chiến chuyên trách về toàn bộ hệ thống hầm hào phòng thủ nhưng anh xin được ở lại với lý do: "Ở đâu quen đấy, con người giống như cái cây, cái cây bật khỏi gốc là trở thành èo uột, không sức sống."

Cái cây ở đây anh muốn nói là tiểu đội.

Nghe thế, Tạ khoái lắm, vung tít chân tay: "Thấy chưa?

Tiểu đội mình ngon chưa?

Phải như một gia đình thương yêu, chia sẻ mọi điều, sống cùng sống, chết cùng chết thế nào thì nó mới không chịu đi chứ!"

Nhưng chỉ có Cường là hiểu sâu xa ngọn ngành con người này.

Trong một lần tâm sự, mà không rõ tại sao anh luôn trở thành đối tượng tâm sự của mọi người, chắc là do đôi mắt biết nghe, biết san sẻ luôn mở to chân thành thông cảm của anh hướng về người nói chuyện, đôi mắt của một người viết nhạc.

- Hải à, lên trên đó có khi cậu làm được nhiều việc cho anh em hơn là lúi húi cầm súng ở dưới này.

- Cường nói với bạn ngay tại mép chiến hào giữa hai trận pháo.

Hải im lặng, nhặt vu vơ một mảnh gang còn nóng ném ra xa vào cỏ lác.

Sau rồi thấy Cường không hỏi thêm gì nữa, anh lại chủ động lên tiếng:

- Vậy cậu thử cắt nghĩa tại sao cậu cũng xin vào đây trong khi cậu có một gia thế đáng nể để cậu có thể ở lại hoặc đi nước ngoài, và như vậy, cậu sẽ cống hiến cho cuộc đời ngàn lần hơn ở chỗ cối xay thịt này?

- Mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi động cơ.

Động cơ của mình là được thử thách, nói chính xác hơn là được hòa chung với mọi người khi đất nước có giặc, ở lại hay đi đâu cũng cảm thấy lòng dạ không yên.

- Mình lại hoàn toàn khác, rất bình thường nhưng lại rất cần thiết, chả có tí gì cao quý cả.

- Chấp hành lệnh tổng động viên?

- Không!

Là thợ bậc 7, mình hoàn toàn có thể ở lại và họ cũng muốn giữ mình ở lại.

Đơn giản mình xin đi chỉ là để... rửa lý lịch.

- Rửa lý lịch?...

Mình không hiểu.

- Lý lịch mình, nói theo các vị làm tổ chức là có vấn đề.

Ông nội là địa chủ kháng chiến bị quy oan.

Bố mình là một nhà khoa học nhưng đề tài nào cũng bị gác lại, buồn quá, thế là bỏ tất cả về nhà uống rượu, đọc thơ.

Chỉ còn mẹ mình với hai đứa em học rất giỏi ở nhà vậy mà thi đâu cũng trượt.

Có một đêm thức giấc, mình nghe bà cụ lầm rầm khấn vái trước bàn thờ gia tiên một câu nghe rợn người: "...Giá như gia đình con cũng có một tấm bằng liệt sĩ như gia đình hàng xóm bên kia thì đời chồng con của con đâu đến nỗi..."

Thế là mình bỏ tất cả xin đi.

- Đi để kiếm tấm bằng liệt sĩ?

- Cường tròn mắt.

- Thảo nào tớ để ý thấy cậu trong mọi tình huống, kể cả những tình huống nguy hiểm nhất cứ lao lên ầm ầm mà không nghĩ gì đến sống chết cả.

Giờ mới hiểu cậu đang cố đi tìm cái chết...

Nhưng như vậy có đáng không?

Như mình biết, không một bà mẹ Việt Nam nào lại sẵn sàng đi đánh đổi đứa con của mình để lấy một tấm bằng liệt sĩ cả.

Kể cả bà mẹ của cậu.

- Chưa hẳn như thế.

- Hải lắc đầu cười.

- Với mật độ bom đạn ở đây, chả phải kiếm nó cũng tự đến nhưng trước khi có tấm bằng này, mình muốn chứng tỏ một điều là lòng yêu nước và nghị lực làm người không có liên quan gì đến thành phần lý lịch cả.

Lòng yêu nước là của lịch sử, của tổ tiên để lại, chả phải độc quyền của bố con thằng nào.

Thì đấy, đã có ối thằng lý lịch con nhà nòi cách mạng đàng hoàng nhưng lại tìm cách lẩn về phía sau.

Và nếu có chết thì mình sẽ chết như một con người cái đã.

Cường im lặng.

Với tuổi ngoài đôi mươi lại chưa va chạm nhiều, tâm sự của Hải, anh làm sao có thể hiểu hết, nhưng có một điều anh lờ mờ nhận ra rằng, để đi vào cuộc chiến đấu này, mỗi người có một góc độ riêng chứ không phải tất cả cứ bừng bừng dàn hàng ngang tiến tới.

Bất giác, như một sự chia sẻ tận đáy lòng, anh đưa tay ra cầm tay bạn, siết chặt...

Nắng nóng cùng với từng đợt gió Lào khô rát, rần rật giội xuống từ sáng sớm đến sẩm chiều như cái nắng cái gió của cả hành tinh gom tụ cả vào đây, làm cho mọi sự tróc lở lại trở nên tróc lở toang hoác hơn, đến nỗi cây cỏ cũng gục xuống, cháy sém không chịu nổi huống chi là con người.

Có cảm giác lúc này, chỉ cần một đầu tàn thuốc lá rơi xuống là tất cả sẽ bốc cháy ngùn ngụt không gì có thể kìm lại được.

Buổi trưa, tiếng súng tạm im, như thể cái nghiệt ngã của thiên nhiên đã đẩy lùi cái nghiệt ngã của súng đạn.

Tất cả tiểu đội đều ở trần hoặc áo lót, người mặc quần đùi, người quần lửng, người lại cố gắng chịu đựng chiếc quần dài dính nhằng bết bát nhưng cái thân thể nhếnh nháng mồ hôi, đỏ như gà chọi vẫn nóng hầm hập như muốn bốc khói.

Mặt mày ai nấy đều hốc hác, sạm đen, phờ phạc, đầu tóc bù xù, già hẳn đi đến nỗi có lúc phì cười vì không còn nhận ra nhau nữa.

Không một bóng lá, càng không một bóng mây, họ tìm những góc khuất nắng nhất ngồi thu lu, im lặng trong tiếng ruồi nhặng bay u u như tiếng trực thăng vọng đến từ nơi xa.

Trừ Tú và một vài chiến sĩ trẻ mới bổ sung, ngoài ra ai nấy đều râu ria tua tủa, đặc biệt là bộ râu quai nón của Tạ đâm ra xanh rì, dữ tợn.

Anh đang gãi tung đầu:

- Cứ thế này mà nửa đêm mò về, có khi chó sủa nhặng, vợ con cũng khóc thét tưởng thằng điên nào xông vào nhà.

- Không!

- Tú vẫn giữ được cái chất hồn nhiên ban đầu.

- Không giống điên mà giống ông Trương Phi thét đổ cầu Trường Bản trong truyện Tam quốc chí mà hồi ở nhà em đọc trộm được của ông nội.

- Tam quốc à?

Cu con còn nhớ hết không?

Nhớ, mỗi tối trước khi đi ngủ sẽ kể lại cho tiểu đội nghe một chương để cho đầu óc nó đỡ rơ rão, khét lẹt đi, thù lao hậu hĩnh là được miễn gác, được chưa?

Bình vổ từ nãy cứ mải nhìn Tiểu đội trưởng lúc này mới chêm vào:

- Cánh điện ảnh họ mù chứ nếu không họ chọn anh làm vai tướng cướp trên sa mạc thì chả có đại tài tử Hollywood hay Moscow nào sánh tày.

Tạ cười hiền khô, càng gãi tung đầu:

- Này, đừng đùa!

Hồi ở nhà, đám đàn bà con gái nó chết mê chết mệt vì cái vẻ tướng cướp của tao đấy.

Ngồi gần cửa hầm, Cường đang đăm đắm lia ngòi bút vào cuốn sổ nhăn nheo đặt trên nắp thùng đạn, đôi mắt hốc hõm đã xuất hiện vài nét nhăn chân chim của anh thỉnh thoảng lại ngước nhìn lên bầu trời vẩn đục như đang chú mục đón đợi một âm thanh mơ hồ nào đó sắp văng vẳng tới.

Hải gù, dạo này ngoài chuyện đánh giặc vẫn lì lợm nhưng đã có vẻ hòa đồng với mọi người hơn, rón rén đến gần nhìn vào cuốn sổ đang mở rộng trên đùi Cường thì thấy dày đặc những nốt son phe nghiêng nghiêng viết vội, anh rụt cổ lắc đầu định nói một câu gì đó tếu táo nhưng Bình đã nhanh tay kéo lại:

- Im!

Để cậu ấy mơ mộng một chút.

Còn mơ mộng được là còn khát sống.

Những lúc như thế này, không biết mơ mộng, không còn chút lãng mạn nào là dễ tự sát lắm, ông hiểu chưa?

- Đếch hiểu!

Dân văn nghệ ăn nói phức tạp bỏ mẹ!

- Hải nói và bỏ đi về chỗ của mình.

Góc kia, Tạ đang nhúng cái đầu bù xù, cứng queo, cháy nắng của mình vào một chiếc mũ sắt đựng đầy nước đục ngầu rồi chợt rú lên:

- Rận!

Một đoàn quân rận chúng mày ơi!

Mọi người xúm lại: Trong lòng nước đang lổn nhổn những chấm đen di động, đảo lên đảo xuống, tan ra hợp vào, lúc ngoăn ngoắt, lúc lờ đờ.

Tạ trừng mắt nhìn xuống đó rồi ngẩng lên, hét:

- Thằng nào trả tao cái kéo đây.

Thằng Bình, hôm rồi mày mượn kéo để xén giấy vẽ vời cái gì, trả chưa?

Bình lục trong ba lô lấy ra cây kéo đã cùn nhụt, sét gỉ.

Tạ vội vồ lấy rồi trước con mắt kinh ngạc của mọi người, bất thần đưa lên tóc cắt lấy cắt để, có chỗ phải nhay, dứt.

Tóc rơi lả tả như những sợi kẽm gai vừa bị kìm quân dụng xén vào.

Chỉ thoáng sau, cái đầu anh đã trở nên lem nhem, hốc hõm, chỗ trắng chỗ đen như quả đồi vừa bị bom Napal thiêu rụi.

Với vẻ ngô nghê khác lạ, Tạ vừa xoa đầu vừa nhe răng:

- Mẹ, thế là các con thân yêu của bố hết chỗ ẩn nấp để hành hạ bố đêm ngày nữa nhé!

Há!

Cái cười khoái trá đầy vẻ đắc thắng ấy như một dây chuyền nổ, không ai bảo ai, tất cả hào hứng làm theo người chỉ huy.

Người tự cắt, người nhờ bạn cắt hộ, cây kéo mặc sức tung hoành kêu rốp rốp như tiếng rao thịt bò khô trong đêm đông Hà Nội.

Tóc rơi như mưa, tóc bay ra khỏi cửa hầm, bay rối rít vào nắng, để lại những cái đầu trắng xác, nham nhở vẫn còn sót lại những chấm đen tuyệt vọng bò qua bò lại.

Ngoài kia, không gian vẫn im ắng.

Trừ một người ngồi ôm súng canh chừng, tất cả gà gật vào giấc ngủ trưa.

Ngủ vài phút thôi, thế là đủ tỉnh táo để chơi nhau đến sẩm chiều.

Ngủ mỗi người mỗi kiểu, chỉ có thể là kiểu Thành cổ, ngủ đứng, ngủ ngồi, ngủ nghiêng, ngủ gục, ngủ chéo, ngủ sấp, mụ mị như hôn mê, súng đạn vẫn lỉnh kỉnh đeo quanh mình.

Bình vổ cũng đã buồn ngủ lắm rồi, hai mắt díp lại, lát lát lại nhấp nháy như cái kẻ bị lông quặm mãn tính, nhưng trước các dáng ngủ tội tình, pha chút lang bạt mang đặc thù Thành cổ của đồng đội kia, anh lại cố mở mắt, nói vóng lên với cậu chiến sĩ ngồi trên thân cây cụt ngọn:

- Xuống ngáo chút đi, anh gác cho!

Cậu kia tụt xuống, biến nhanh vào ngách hầm.

Còn Bình lại lôi tệp giấy trong ba lô ra, đặt lên đùi huơ tay vẽ ngoay ngoáy những dáng ngủ kỳ quặc và tội tình của đồng đội.

Câu thơ tráng khí ngày nào còn đi học chợt vang lên trong đầu anh: "Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mũ ngủ quên đời..."

Rồi anh ngủ thật, ngủ phát ra tiếng ngáy rè rè đàng hoàng, cây viết rơi sang bên...

Chính khi đó, một mũi Hắc Báo do Quang chỉ huy bắt đầu nhô ra khỏi lùm bụi, gờ tường, mô đất, hố rãnh như từ địa ngục nhô lên.

Đã có tốp táo bạo vượt qua được những đoạn tường thành sụt lở và lừ lừ tiến lại với lưỡi lê bắt nắng đỏ lè như lưỡi rắn trên tay.

Thực ra Quang không thích đánh cái kiểu cắn trộm thế này.

Biệt động dù nức tiếng can tràng và bạt tử mà phải lén lút bò luồn vào giấc ngủ của địch quân như cái đám địa phương quân đánh thì kém, ăn nhậu gái gú thì giỏi kia là hèn lắm.

Nhưng thật ra còn biết đánh cách nào khi đã có hàng trăm trận chơi vỗ mặt rồi, lại vượt trội về quân số, phi pháo, hỏa lực, xe bọc thép mà có ăn thua gì đâu.

Nói giỡn, nếu họ (quân Giải phóng) có yểm trợ như bên này, kể cả có cánh thủy quân lục chiến kiêu binh tham dự vào thì chắc không chịu nổi ba ngày.

Chỉ ba ngày là cha con ôm đầu máu rút sạch.

Một cảm giác nể phục ngấm ngầm nhoi lên trong đầu Quang.

Chả thế mà họ đã làm cho bọn Mẽo, những thằng tự vỗ ngực là đệ nhất uy dũng thiên hạ phải tìm đường cút xéo như con chó cụp đuôi để bảo toàn cái thanh danh đã uế nhục của mình.

Và Quang, hắn cũng đếch thú gì cuộc chơi này, thậm chí chán ngấy nhưng đã trót mang cái phù hiệu con hổ nhe nanh cắn vào cuộc đời nên cũng không muốn làm ô danh nó.

Vả lại, có lẽ điều này chỉ có thằng toán phó đểu độc là biết được, đó là hắn muốn mọi việc sớm kết thúc để còn làm một việc khác hệ trọng hơn, cái việc đi tìm cô gái có nét đẹp liêu trai đã không thôi ám ảnh vào cái đầu rất đỗi đa tình của hắn mà dòng họ truyền cho kia.

Hồng...

Hình như cô ấy tên là Hồng thì phải?

Chính vì vậy mà hắn xung phong có mặt trong mũi nhọn đánh ban trưa, đánh vào cái khoảnh khắc bất ngờ nhất của đối phương này.

Quang vằng mạnh mái tóc cho mọi suy nghĩ mung lung thoát ra khỏi đầu vì cái gờ thông hào xù xì, tơi vụn của đối phương đã hiện ra ngay trước mắt kia rồi.

Chỉ còn mười lăm thước... mười hai thước... mười thước nữa là...

Hắn đưa nòng cây M72, loại súng chỉ bắn một viên, bắn xong vất nòng, có sức công phá hầm hào kinh khủng, lên vai sẵn sàng nhảy cò...

Bên cạnh hắn, các nòng súng cực nhanh, những trái tạc đạn, thủ pháo mang nhãn hiệu USA, Mã Lai láng cảo cũng được đưa lên miệng chuẩn bị cắn chốt.

Chỉ một lát nữa thôi, theo lệnh hắn, cả khu hầm kia sẽ tan biến trong những thây người bị vùi lấp, gãy gập...

Và điều ghê gớm ấy sẽ nhỡn tiền xảy ra nếu như Bình không bất chợt choàng tỉnh, nói đúng hơn là cây bút sắt trên tay anh nếu lần thứ hai không tuột rơi xuống miếng tôn nằm dưới chân kêu cái coong làm anh choàng tỉnh.

Một cái nón sắt và một khuôn mặt dữ tợn có đôi mắt trắng dã đập mạnh vào mắt anh.

"Lính..."

Anh thét lạc giọng.

Tiếng thét chưa dứt thì trái đạn M72 từ tay Quang bay ra nhưng chỉ sượt qua vai anh, xuyên thẳng vào ngực một chiến sĩ vừa nhảy ra khỏi hầm ở phía sau.

Người lính này biến mất trong quầng lửa, chỉ thấy còn một cánh tay văng lên không trung rồi rơi xuống đất, im lịm...

Ngay lập tức, tại bờ hào, như guồng máy đã được lập trình, cũng như một bản năng tự vệ đã thành thói quen, bản chất, tất cả các nòng súng của tiểu đội đều kịp thời rung lên.

Tạ ôm cây trung liên RPD đứng ngay trên miệng hào, đầu trọc lốc, nghiến răng:

- Các bố mày ngủ một phút cũng không yên à?

- Rồi chạng chân, ngửa người siết hết băng đạn.

Bên cạnh anh, Hải lẩm bẩm:

- Lần tấn công thứ mười trong ngày!

Bị bật lại bất ngờ, cánh Hắc Báo hơi chững lại giây lát rồi tiếp tục trò chơi tập kích quyết liệt hơn.

Thiếu úy Quang cũng đứng thẳng dậy, nẻ cả băng M16 nổ giòn như bắp rang vào các cửa hầm và cũng nghiến răng thét lớn:

- Các anh em!

Dịp may đã đến, các anh em xông lên cho chúng biết thế nào là đội quân Hắc Báo đi!

Với khoảng cách chỉ còn trên dưới mười thước, xông lên tức là đánh giáp lá cà.

Trận đánh giáp lá cà lần đầu tiên diễn ra nơi Thành cổ.

Cả khu Thành chang chói nắng bỗng trở thành một võ đài khốc liệt cho các đấu sĩ thư hùng.

Trong khói bụi mù mịt, chỉ còn thấy những thân người mờ mờ lao vào nhau, những báng súng dộng xuống, những đường lê xuyên thẳng, có cả những lưỡi cuốc, lưỡi xẻng rít lên vù vù, những thân người tung lên, những cái đầu ngã rụi...

Chỉ có điều bên tấn công thì áo quần, mũ mãng nai nịt đầy đủ, còn bên phòng ngự lại chẳng có gì, ở trần, quần đùi, tóc trụi, gầy gò, râu ria như một cánh quân sơn cước vừa từ rừng xanh kéo xuống.

Tại cửa hầm tiểu đội, lực lượng chênh lệch, gần như một phải chọi ba.

Họ đánh bằng tất cả những gì có thể có được trong tầm tay: lưỡi lê, báng súng, gậy gộc, cuốc xẻng, gạch đá, thậm chí bằng cả tay không.

Bản năng tồn tại khiến họ bỗng trở nên dũng mãnh khác thường.

Tiểu đội trưởng Tạ với cái dáng đô vật cửa đình vừa tả xung hữu đột vừa thét lác chỉ huy bít chỗ này, mở chỗ kia, luôn mồm váng tục.

Tiểu đội phó Sen lại khác hẳn, do có nghề đặc công nên những cú đánh bằng dao găm anh đưa ra thật ngọt và chính xác, không thừa một động tác nào.

Hải gù, Bình vổ làm thành cặp đôi chắc nịch tựa lưng vào nhau, che đỡ cho nhau hạ hết thằng này đến thằng khác.

Tại một khoảng trống, Cường bị đánh bung hết vũ khí, không một tấc sắt trong tay, còn một chút miếng nghề nhớ được hồi học ở võ đường Vovinam, anh xoay người làm cú đá liên hoàn vào giữa ngực, giữa mặt tốp rằn ri đang bâu quanh mình.

Với con mắt sáng rực, thân hình săn rắn như chão rừng, nét mặt kiên nghị như tượng đúc, các ngón đòn của anh ra khá đẹp, như một màn biểu diễn Kungfu trên màn ảnh Hồng Kông đang phát rộng rãi ở hầu hết các rạp chiếu phim gần đây.

Hình ảnh anh đẹp và oai hùng đến nỗi Quang, viên chỉ huy Hắc Báo đang đâm chém điên loạn gần đấy cũng không thể không đưa mắt nhìn sang...

Nhìn sang cả cái tình huống đã khiến cho hắn không thể không kinh ngạc và sau đó còn lại rất lâu trong tâm tưởng, đó là lúc con người chão rừng kia đã đè nghiến được một gã lính dù to khỏe của hắn xuống đất, cái gã lính vừa phóng một đường lê khá ngọt vào chính bả vai anh ta, hòn đá nặng nề sắc cạnh trên tay chỉ còn làm nốt cái động tác cuối cùng là nện thẳng một đường nện hận thù xuống mảng thái dương đang đập thoi thóp kia là xong nhưng không hiểu sao bàn tay ấy lại chợt dừng, kèm theo câu nói gằn vào tai gã: "Mày không đáng phải chết thế này.

Cút đi!"

Gã lính của hắn ngơ ngác rồi vùng dậy chạy biến về phía sau...

Trong ngách hầm, trước những cú hạ sát man rợ như từ tiền kiếp sống lại, Tú sợ quá, cứ nằm úp mặt xuống đất, mông vổng lên như chú đà điểu đang muốn nhủi sâu đầu vào gạch đá.

Một tên lính nhìn thấy, hắn nhao đến găm mũi súng vào lưng cậu định siết cò thì bỗng bật ngửa bởi một viên đá từ trên tay Cường, chính cái viên đá lúc nãy anh giơ lên mà không hạ xuống, bay tới, vút thẳng vào trán.

Tên lính bật ngửa, co giật một chập rồi nằm im.

Thoát chết, Tú ngơ ngác ngồi dậy không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Bất chợt một tên khác bặm trợn, to cao hơn xốc lưỡi lê lao tới.

Cậu hoảng hồn vùng dậy chạy tót vào lòng hầm, nấp sau một tảng bê tông, rồi tiện có cây súng trên tay, cứ thế nhắm mắt nhắm mũi nã đạn tứ tung về phía trước.

Những tràng đạn hoảng loạn của Tú kết hợp với những tràng đạn chi viện đúng lúc của tiểu đội bạn từ phía trái cơ động sang đã phần nào đẩy lui được đội hình tập kích của đối phương.

Ở đó, bị phản đòn quyết liệt, đối phương vỡ từng mảng rồi thoáng cái, như lúc đến, những bóng rằn ri đột ngột biến mất bên kia tường thành, khuất lấp vào cây cỏ.

Người rút cuối cùng là Quang.

Trước khi nhảy sang bên kia tường, hắn còn ngoái cổ, đưa đôi mắt sục sạo lại phía sau như muốn tìm một cái gì đó.

Và cái hắn muốn tìm chính là khuôn mặt Cường.

Hai ánh mắt đấu vào nhau, chớp sáng như hai vằn lửa rồi cười nhạt một tiếng, hắn quăng mình như một chú vượn xám bị vấy máu khắp người biến mất bên kia tường.

Tất cả chỉ diễn ra chóng vánh có mười hai phút.

Mọi sự lại trở về vẻ ắng lặng ban đầu như tất cả chuyện vừa rồi chỉ là một trò đùa dai không có thật nếu như xung quanh, phía trước, đằng sau không có la liệt những thây người của cả hai bên gục ngã với đủ các tư thế kỳ dị trong vũng máu, kể cả những người đang đớn đau, rung giật...

Bình vổ chấp chới mắt nhìn ra.

Lần đầu tiên thấy anh thoắt rùng mình.

Nắng từ trên cao vẫn giội xuống, biến màu đỏ của máu thành màu đen của hắc ín, cả màu đen của đám ruồi nhặng tinh quái chỉ chờ có thế là từ các lùm bụi vội bay ra bu kín các hốc mắt hốc mũi tử thi mà chắc không một họa sĩ tài hoa nào có thể hình dung ra nếu không tận mắt nhìn thấy, dù là tả thực hay siêu hình.

Liền đó, những tiếng ì ì nặng nề của phi cơ phản lực rền lên.

Nhiều tiếng rít từ pháo hạm dội về.

Cả khu thành tiếp tục chìm trong những tiếng nổ giận dữ, những tiếng nổ hủy diệt như muốn vùi lấp, muốn xóa đi, dọn dẹp đi những tấm thân chiến bại đang nằm ngổn ngang, trơ khấc giữa nắng trời.

Chúng đâu có biết rằng, bằng sự lau chùi đó, chúng đã hất tung, xé nát những thi thể bẽ bàng kia một lần nữa.
 
Mưa Đỏ
Chương 16


Những dòng thư gửi mẹ của Cường:

"Ngày... tháng... năm...

Khi còn sống, bố đã có lần nói với con, không ai sinh ra đã là anh hùng phải không mẹ?

Anh hùng cũng sợ chết, thậm chí là sợ chết nhất, nhưng nếu biết vượt qua được nỗi sợ chết thì là anh hùng.

Và không ai sinh ra đã muốn mình thành một đao phủ nhưng có những hoàn cảnh không thể không biến mình thành một người như thế.

Trận đánh giáp lá cà trưa nay của chúng con xét về một góc độ nào đó cũng là anh hùng.

Anh hùng hay đao phủ thì con chưa đủ thời gian để nhận biết nhưng rõ ràng có những điều còn cao hơn cả những danh từ này, như lòng tự trọng, như sự hận thù cái ác chẳng hạn.

Cái ác ở đây, mẹ ơi, chúng con lại không đổ tại tất cả cho những người lính dù phía bên kia, mà chính là những kẻ ngoại quốc đứng đằng sau họ, đang biến họ thành những vật thế mạng cho các chủ thuyết phi nhân đã đè nặng lên đất nước mình mấy chục năm qua.

Pháo từ Cửa Việt lại bay vào trận địa, bay xuống sông, rồi lại bao người tử tế, lương thiện phải rời bỏ sự sống?

Pháo của họ đấy, những kẻ ở cách nửa vòng trái đất không hiểu nguyên cớ gì mà bỗng dưng nhảy vào can thiệp một cách ngang nhiên và ngụy tạo là ngăn chặn một làn sóng Đỏ như thế..."



Bóng tối như một tấm voan đen rách nát, hôi hám và ngột ngạt trùm xuống Thành cổ.

Mệt và lênh loang đầu óc, không còn ai thấy đói nữa.

Mà có đói cũng không thể nhai nổi mấy cái nắm cơm khô xác này.

Thế là tiểu đội lại đi tong mất ba con người.

Những người trai trẻ vừa mới bổ sung hôm qua.

Trầm ngâm một lát như thả hồn đi đâu rồi Bình quay qua Hải gù:

- Này, cậu có thấy lạ không?

Tiểu đội mình không biết bao nhiêu người chết, người bị thương rồi mà số cũ anh em mình vẫn chưa ai phải vùi thây xuống đất hay phải cáng qua sông.

Trời Phật phù hộ à?

Hải gù đang loay hoay với cây M72 được tháo dỡ từng bộ phận trên tay, không nhìn lên:

- Phù hộ mẹ gì!

Chẳng qua những thằng cũ có kinh nghiệm hơn, khôn ngoan hơn nên đạn nó chưa chạm tới.

Ông Tạ bảo, thằng nào chỉ cần trụ được ở đây chục ngày mà không chết thì sẽ thành tinh thành cáo không bao giờ chết được nữa.

Mà này, cái bọn Mỹ này giàu thật chứ chả bỡn, khẩu súng được cấu trúc kỳ công thế này mà bắn phát vứt đi, phí quá!

Đang nói thì cái bóng gầm ghì của Đại đội trưởng đi tới.

Bộ quần áo trên người ông cũng rách tơi tả như người rừng.

Mọi người vội đứng dậy.

Ông trừng mắt nhìn tất cả khiến ai nấy dáo dác nhìn nhau không hiểu.

- Các cậu đánh đấm cái kiểu gì thế hả?

- Câu hỏi văng ra nặng như đá tảng.

- Dạ, báo cáo... báo cáo...

- Tạ thực sự lúng túng đưa tay gãi đầu nhưng không thấy tóc đâu lại thõng xuống.

- Báo cáo!

- Bình vổ nhích lên một bước.

- Tôi xin nhận kỷ luật vì đã ngủ gật không phát hiện ra chúng từ đầu.

- Ai nữa?

- Vẫn cái giọng nặng trịch.

- Dạ...

- Đến lượt Tú bước lên, cúi gằm mặt.

- Tại cháu nữa ạ!

Lúc ấy không hiểu sao cháu cứ bắn tứ tung...

Đại đội trưởng bỗng cười toác:

- Mấy cái thằng, không khảo mà xưng.

Ai đã hỏi tội nào.

Nghe đây các bạn, trung đoàn vừa có điện khen tiểu đội các bạn chiến đấu dũng cảm, đã đánh tan được một chiến thuật mới là tập kích ban ngày của bọn dù.

Tôi đến đây chuyển lời khen.

Hết!

- Rồi bỗng nhìn quanh, nghẹn giọng.

- Lại hy sinh gần một nửa phải không?...

Hơi tốn nhỉ?

Cố gắng đừng để mất thêm nhé!

Nhớ ghi lại tên tuổi, quê quán các cậu ấy cẩn thận để sau này còn báo về cho gia đình.

Thôi, cố mà ăn một miếng rồi tranh thủ chợp mắt đi.

Khổ!

Ông đi đến bắt chặt tay từng người rồi đi nhanh sang khu vực khác cũng đang im ắng như không có bóng người.

Sen bước đến ôm sát Tú vào người, ánh mắt thật ấm áp:

- Trưởng thành, trưởng thành lắm!

Nhận thức là một quá trình, mình tin điều đó.

Chúc mừng em!

Tú ngượng ngập chuồi người ra như không muốn nhận cái ôm mà mình không đáng được hưởng này:

- Em trưởng thành à?...

Em sợ quá nên chỉ bắn tung tóe, chẳng may lại trúng...

- Lòng dũng cảm và sự trưởng thành của người lính nhiều khi chỉ cần một hành động tung tóe, nhưng có hiệu quả như thế.

Tú càng ngượng nghịu, mặt cứ cúi gằm xuống, hai má cứ đỏ rần lên.

Đêm đó tự dưng cậu chàng lại không ngủ được.

Chả biết do lời khen hay do cú ngáp phải ruồi lại được khen ấy mà cứ loay hoay mò tìm cái gì trên đất, dưới gầm sạp, trên nắp ba lô...

Tạ ngóc cổ ra khỏi mấy cái ba lô đang chèn kín mặt, hỏi:

- Thằng cu sao thế, đánh tuột linh hồn ra đằng đuôi rồi à?

Tú ngơ ngác:

- Em tìm con dế.

Nó cứ kêu rát tai mãi không ngủ được nhưng... tìm không ra.

Bình cười hô hố:

- Thằng này tâm thần rồi, lúc thì u u ruồi nhặng, lúc lại inh ỏi dế kêu.

Ở đây chỉ có ma kêu chứ không có dế diếc gì hiểu chưa?

Ngủ đi ông nỡm, cho người khác còn ngủ!

Cường cũng cười, thả chân khỏi ván nằm được kê bằng mấy thùng đạn, bước đến cạnh Tú:

- Còn kêu không?

- Còn.

- Bây giờ thế này, em bịt chặt tai lại đi!

Tú làm theo, thò hai ngón tay cáu bẩn vào sâu trong màng nhĩ.

- Rồi.

Còn không?

- Cường hỏi.

- Còn, nghe to hơn.

Cường bẹo vào cái má còn căng của Tú, cười:

- Vậy thì chỉ tại nghe bom pháo nhiều quá nó kêu trong tai thôi, không có con nào đâu.

Ngủ giấc sáng mai là sạch.

Tú thả tay, chớp mắt ngẩn ngơ:

- Ừ nhỉ?

Đúng là kêu trong tai.

Nghe dế kêu, em thấy nhớ nhà quá...

Cuối hầm, Hải gù đang bụm miệng ho khụ khụ.

Càng nín càng ho, tiếng ho như xé cổ.

Tạ ngồi dậy thò tay xuống nắm chim chim một cục đất ướt bằng quả nhót đưa vào tay Hải:

- Nuốt đi!

Nuốt đại đi là hết!

Hải đưa cục đất lên mũi, nhăn mặt:

- Như mùi bốc mả!

Nhưng cũng cố nhắm mắt nhắm mũi đưa vào mồm.

Cục đất ngắc ngứ mãi một lúc mới trôi được xuống khỏi cổ.

Anh há to mồm, chẹp chẹp mấy cái, cười như trẻ thơ:

- Hết rồi!

Hết thật rồi!

Tiểu đội trưởng này, nếu bây giờ bảo phương pháp chữa ho tốt nhất là nuốt đất mùn có trộn xương thịt người thì cả nền y học thế giới phải nhảy cẫng lên.

Cường cũng bật cười.

Giây phút ấy anh đâu có biết rằng, chỉ mấy tuần sau, cũng cơn ho này, cũng cục đất nhoét này đã vận vào chính người Tiểu đội trưởng khắc nghiệt biết chừng nào!

Tại cửa hầm, Bình cũng không ngủ.

Anh bị cái bệnh mất ngủ quái ác này từ hồi còn là sinh viên, vào đây, tưởng đánh đấm mệt nhoài có thể ngủ được nhưng lại mất ngủ hơn.

Trời, chả lẽ cái chuyện với người đàn bà giàu có và hoang dâm đã biến anh thành trò chơi, thành món đồ trang sức đó lại khiến cho đầu óc anh không bao giờ trở lại được trạng thái bình thường?

Người đàn bà...

Cho đến bây giờ, dẫu phải vùi mình vào chiến trận đến ngạt thở nhưng con người ấy, khuôn mặt ấy, những câu nói khủng khiếp ấy vẫn không rời khỏi được trí não của anh.

Mới sáu tuổi, lũn cũn theo người cha tính tình nghiêm khắc ra Bắc tập kết, học hết trung học ở trường Học sinh miền Nam ở Hải Phòng rồi về Hà Nội vào Đại học Xây dựng, đúng theo cái nghề kỹ sư cầu đường của người cha.

Nhưng không hiểu sao anh lại không thích chút nào cái môn học đầy những con số khô khan và những bản vẽ vô hồn này.

Anh yêu phong cảnh và thích ngắm những nét mặt muôn hình vạn trạng của con người nên quyết định chuyển sang Đại học Mỹ thuật.

Ba anh kiên quyết không cho, còn nói cái nghề đó chỉ làm hư người, vẽ với vời, vớ vẩn, chả có tích sự gì.

Anh kiên quyết lại.

Thế là hai cha con gần như không nhìn mặt nhau.

Để tránh nặng nề, anh bèn xin ra ở ký túc xá.

Ba anh không nói gì nhưng sau một đêm ngủ dậy, tóc trên đầu ba dường như bạc nhiều hơn.

Năm đó anh vừa bước vào năm thứ hai của một trường đại học mỹ thuật danh giá nhất.

Mà lạ thế, ở đời càng danh giá lại càng nghèo.

Nghèo tàn nghèo mạt, nghèo đến nỗi ngày đi học, đêm về anh phải ra bến Phà Đen bốc vác thuê kiếm sống, kiếm tiền nộp học phí.

Thế rồi một lần anh được bà chủ thuyền buôn đồ gốm hơn anh gần hai chục tuổi đã ly dị chồng nhưng còn đẹp, còn mỡ màng, vô tình để ý đến.

Sau khi biết anh là dân sinh viên hội họa, bà có ý mời anh đến nhà để chỉ dẫn cho cậu con trai mới lớn cũng rất muốn theo ngành mỹ thuật, sẽ giả lương cao và có nơi ăn ở tử tế.

Vậy thì còn gì bằng, anh đồng ý ngay.

Nhưng có biết đâu rằng, người đàn bà giàu có đang vào tuổi hồi xuân ấy chỉ lấy đó làm cái cớ để ngấm ngầm thực hiện một hành vi khác.

Cái hành vi mà ngay từ lần gặp đầu, anh đã mang máng nhận ra nhưng không dám tin qua câu nói cùng cái nhìn lúng liếng của bà: "Cậu có một vẻ đẹp đàn ông lạ lắm, hơi hoang dã mà vẫn thư sinh, vừa bụi bặm lại vừa nhã nhặn, một khuôn mặt mà tôi đi tìm cả đời cũng không ra."

Thế rồi cái gì phải đến đã đến.

Gái lỡ thì, trai đang xoan, suốt thời gian hơn một năm sau đó, họ dính chặt vào nhau gần như không rời ra nửa bước.

Bà ta như trẻ lại đến chục tuổi, người ngợm cứ phây phây, còn anh lại cứ gầy rạc đi, lúc nào cũng như kẻ đói ngủ nhưng lại không ngủ được.

Có lần, dụi sâu vào cái chỗ đáng lẽ không nên dụi của anh, bà ta nói thật: "Em đã gặp không ít đàn ông nhưng chưa một ai làm em sung sướng đến phát điên như mình cả!"

Khốn khổ, đó cũng chính là lúc anh bắt đầu thấy sợ.

Sợ sự quản lý như cai ngục quản lý phạm nhân, sợ sự ham muốn không biết thế nào là đủ, sợ mùi da thịt, sợ tiếng rên như con thú bị thương của bà ta, sợ hết.

Sợ đến nỗi mỗi lần phải gần tấm thân nhưng nhức những thịt là thịt đó, anh cứ phải nhắm mắt nhắm mũi làm cho xong.

Căn bệnh mất ngủ của anh bắt đầu xuất hiện từ những đêm truy hoan mang tính tra tấn ấy.

Cuối cùng không thể chịu nổi nữa, anh đã nói lời chia tay, sẵn sàng trở về kiếp bốc vác thuê như cũ.

Điên giận, bà ta xối xả mắng anh là đồ ăn cháo đá bát, đồ đĩ đực, đồ chó nôn ra lại liếm, đồ thối thây, đồ rạc rài, chắc lại có con đĩ nào nó trát cái của nợ của nó vào mặt rồi chứ gì?...

Tóm lại dân gian có bao từ độc địa nhất bà ta đều phun hết vào mặt anh, phun nhầy nhụa đủ để anh buộc phải bắn ra khỏi cuộc sống khá nhung lụa đó với câu nói táng tận cuối cùng "Mày đến đây trên răng dưới cát-tút thì mày đi cũng chỉ dưới cát-tút trên răng".

Rồi rít lên đòi anh phải trả lại hết những gì bà ta đã mua sắm cho anh, từ chiếc xe máy, cái đồng hồ, bộ đồ vẽ cho đến tất cả những thứ quần áo quý.

Thì trả, đúng là trên răng dưới... thật.

Nhưng thế đã xong đâu, ba ngày sau, bà ta xộc đến trường, ăn mặc, phấn son như cô đồng, bước thẳng vào phòng giám hiệu lớn tiếng vu cáo anh là đê tiện, là gã lừa đảo, là thằng lưu manh, là một tên bẩn thỉu chuyên gạ gẫm những người phụ nữ tội nghiệp để lừa tình, lừa tiền...

Nhục quá nhưng anh không thể thanh minh và cũng không muốn thanh minh, trong khi chờ xét kỷ luật, kể cả có thể bị đuổi khỏi trường, nhân có đợt tổng động viên vào mặt trận, anh xin đi luôn, đi như một kẻ trốn chạy, đi mà chỉ báo với người cha trước vài giờ.

Trước khi đi, không hiểu sao bà ta lại đến tìm anh, khóc xin tha tội, nói chỉ vì yêu anh quá và bảo nếu anh chịu trở lại sống với bà ta như cũ thì bà ta thừa sức can thiệp để anh không phải đi.

Kinh tởm, anh nhổ một búng nước bọt xuống đất rồi xách ba lô lên tàu...



Vẫn không ngủ được, chán, anh bèn mượn ánh sáng pháo dù đang thất thểu rơi xuống, dùng mũi dao găm khắc sồn sột cái gì trên một miếng tôn.

Tạ ngóc cổ lên hỏi:

- Mày làm cái gì thế?

Gãi ghẻ à?

- Nhớ nghề chạm khắc, em tranh thủ khắc tên tuổi, quê quán từng người trong tiểu đội vào đây, mỗi người mỗi miếng, nếu có chết cũng còn cái để đánh dấu, còn chết ngày nào, ở đâu, người còn sống sẽ khắc sau.

Tạ ngồi hẳn dậy, vẻ rất khoái:

- Phải đó, mày khắc tao kĩ kĩ vào để tao chuyển về trước cho con vợ tao.

Cường cũng ngồi dậy, vẻ tò mò:

- Sao lại trước?

- Vì đằng nào chẳng chết mà để đoán được ngày chết, nơi chết khó mẹ gì, dễ như ăn chuối.

Từ góc tối trong cùng, tiếng Sen nói ra:

- Thôi, bỏ cái trò mèo ấy đi!

Đang không lại tính đi tự báo tử cho mình?

Có thể chết nhưng không thể tự đào mộ trước như vậy được, nó gọi là thất bại chủ nghĩa.

Tạ cười thật hiền rồi thôi, không nói thêm gì nữa, chuyển mình ngồi chồm hỗm xem cậu bé Tú đang diệt muỗi.

Có lẽ chỉ ở tâm hồn trẻ thơ hoặc chỉ ở cái nơi gọi là Thành cổ này mới có cách diệt muỗi kỳ quái như thế.

Thoạt đầu là cậu dùng tay đập phành phạch, đập liên tục nhưng tiếng vo ve vẫn võng vãnh đến nhức đầu.

Cáu, cậu bèn nghĩ ra một cách như để giết thời gian: bắt muỗi bằng hộp Coca Cola Mỹ có gắn bấc đèn.

Bấc cháy, muỗi thấy sáng lao vào, nổ lách tách.

Mỗi khi có con muỗi bị nổ, gãy cánh, quay tròn nhủi xuống đáy hộp, cậu lại khoái chí kêu lên: "A, con AV10 này, mày chết này...

A, lại con L19 này, chết cha mày chưa?

Ấy, con này nhanh quá, cho nó là phản lực F4 đi!

Còn chú này béo ú, đích thị là con B52 rồi.

Cháy này, rơi này!

Hoan hô!"

Vẻ nghịch ngợm của Tú làm sinh động cả căn hầm, xua đi mọi nặng nề u ám đang úp chụp xuống từng ngóc ngách tâm hồn.

Cũng không ngủ được, Tạ bò ra ngoài cửa hầm, ngồi xuống với Cường đã ngồi sẵn ở đó.

- Tao nhớ vợ quá!

- Tạ nói.

- Buổi sáng tao đi, cô nàng chân đất lẽo đẽo tiễn suốt mười cây số mặt đê, nước mắt rơi lã chã, phải quát to một tiếng mới chịu về.

Vừa quay về vừa chùi nước mắt, chốc chốc lại vấp một cái.

Quát?

Khốn nạn, sao tao lại quát nhỉ?

Hỏi thật nhé, ở vào trường hợp ấy chú có quát không?

- Chắc chắn là không!

Cường nói và chợt nôn nao nghĩ đến hình ảnh Thanh một mình ngồi lại khi anh quyết định bỏ đi trên cái bờ bãi sông Hồng hôm ấy.

- Thế tao mới quỷnh.

Giờ nghĩ lại cứ cồn cào cả gan ruột.

Mà thực chất tao có ra cái gì đâu, một thằng chuyên đi chặt củi, bốc vác thuê, được cô con gái ông chủ nhà mê rồi khăn gói quả mướp đi theo mà lại còn... quát?

Nhưng hỏi này, chú mày có người yêu chưa?

- Có nhưng... người ta bỏ em rồi.

- Sao bỏ?

Đẹp giai, tốn gái như chú, chú không bỏ thì thôi chứ ai lại dám hỗn hào bỏ chú?

- Cô ấy đẹp, con nhà, lại sắp đi học nước ngoài.

Ai dại gì dính với thằng lính cứ nằng nặc bỏ tất cả ra đi mà chưa chắc có ngày về.

Đàn bà con gái mà anh.

- Tầm bậy mày!

Cái gì mà đàn bà con gái?...

Ai cũng như nó thì có mà mất nước.

Vậy cái mặt đẹp của nó đáng để chú kê xuống đít mà ngồi.

Để câu nói của mình thêm sức nặng, Tạ nhổm lên dộng đít xuống đất lịch bịch mấy cái rồi nhay nhay, vẻ như chưa đã, anh nói thêm với chất giọng cố làm ra vẻ thâm trầm của một nhà hiền triết tỉnh lẻ:

- Vợ đẹp là vợ thiên hạ, ông bà dạy cấm có sai chữ nào.

- Rồi chợt cảm thấy cái giọng ấy không hợp với mình, anh lại trở lại cái bỗ bã như cũ.

- Mà cứ giả dụ như nó chờ mày được đi thì khi mày trở về, trong bụng nó chả có cả đống cái của nợ ấy à.

Cứ như con vợ tao, đảm bảo còn sống trở về là nó vẫn khít khìn khịt.

Sao, cái gì mà cười?

Cường vẫn cười.

Chao ôi, cứ sống cứ nghĩ cứ nói năng thẳng đuột như cái lão tiều phu đốn củi này thì cuộc đời sẽ dễ chịu đi biết chừng nào?

Cái gọi là thế giới bên trong con người phức tạp thật!

Như anh, chưa bao giờ anh nghĩ đến cái sống cái chết nhiều như những ngày này.

Sống nặng nề, chết mỏng manh, như trò đùa.

Chả lẽ chiến tranh chỉ gói gọn trong cái định nghĩa khô cằn là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình ư?

Anh hiểu, trước sau gì rồi cái chết cũng sẽ tìm đến anh nhưng nó đến lúc nào, đến ra sao, đêm hay ngày, chóng vánh hay nhọc nhằn, đau đớn hay nhẹ bẫng thì chưa liệu được, và anh cũng đã sẵn sàng đón nhận nó như bạn bè đồng đội lần lượt từng người đã đón nhận.

Song một khi nó chưa đến thì cái đầu con người cũng chia thành nhiều ngăn nhiều vách lắm.

Không phải không có lúc nửa đêm chợt tỉnh, nhìn lên bầu trời đen kịt như một cái nắp quan tài, anh chợt hãi hùng nhận ra thế là mình sắp phải xa cái thế giới này, sắp phải xa tất cả: bầu trời, mặt đất, Hà Nội, xa mẹ...

để rồi thoắt rùng mình khi có một ý nghĩ xám xì bật nở: hay là tìm cách trở về phía sau như có lần ông tư lệnh mặt trận bạn của mẹ đã gợi ý?

Chính ông ấy gợi ý chứ có phải mình chủ động, mình hèn nhát tìm đường lui lại đâu.

Nhưng rồi những khuôn mặt của Tạ, của Sen, của Bình, của Hải và đặc biệt nét ngây thơ đến tội tình của Tú đã khiến anh không thể, đã níu giữ anh lại như sự níu giữ của một cái gì hết sức thiêng liêng, sâu thẳm, cốt nhục chứ không đơn thuần chỉ là danh dự hay mục đích to lớn của trận đánh.

- Anh Tạ, thằng cu con anh lớn chưa?

- Cường hỏi sau một lúc im lặng.

- Mười ba tuổi, nhưng nó cao gần bằng bố nó và chỉ vài mùa rẫy nữa là nó nhất định sẽ cao hơn tao.

Không hiểu nó giống tính ai mà ghê lắm, nhất là đôi mắt, mắt chồn mắt thú chứ không phải mắt người.

Mỗi lần tao chán đời đi uống rượu về là mắt nó lại nhìn tao như nhìn cái thằng vô tích sự.

Mà kể ra cũng vô tích sự thật.

Có mỗi thằng con mà không nuôi nổi, đành phải để nó nghỉ học giữa chừng đi phụ mẹ nó làm rẫy thì còn ra cái giống gì, nhục hơn chó!

Thế là nhân có đợt nghĩa vụ quân sự, tao đi khám luôn và mấy tuần sau lên đường.

Cũng là muốn sau này trở về, cái thằng con trời đánh nó không còn nhìn tao với đôi mắt ấy nữa, nó phải tự hào vì bố nó là một người lính anh dũng đàng hoàng chứ đùa à?

Khà khà!

Tạ cười hiền khô.

Lây cái cười đó, Cường hỏi tiếp:

- Anh đi bộ đội lâu chưa?

- Chục năm có lẻ.

- Vậy tại sao...

Biết lỡ lời, Cường kịp dừng lại nhưng Tạ lại dấn luôn:

- Tại sao tao chậm tiến chứ gì?

Đã hỏi thì hỏi bố nó luôn đi lại còn tế với chả nhị...

Đúng là dân sinh viên!

Trả lời nhé, tại tao thất học và cả tại có lần tao đã cho thằng cha xã đội trưởng chỗ đóng quân một cái bạt tai vẹo mặt vì dám tòm tem với vợ của một cậu đi B, thế là đang thượng sĩ tụt xuống trung sĩ, tức nhưng không tiếc, có dịp tao lại bạt nữa.

Mẹ, tòm tem với vợ thằng nào còn có thể nhắm mắt bỏ qua nhưng với vợ thằng lính, lại là lính chiến trường thì không tha được, cứ phải bạt cật lực.

Khà khà...

Cái miệng Tạ lại nhệch ra trong một nét cười chả biết vui hay buồn.

- Thôi không khúc nhôi nữa.

- Tạ phẩy tay.

- Cứ như hai cái con đàn bà rỗi việc, tao đi kiểm tra một vòng đây, tranh thủ ngủ tí lấy sức đi, thằng em!

Tạ nói rồi xách súng đi ra khỏi cửa hầm, cái dáng đi vâm vam, chắc nịch như đi trên chính đất đai mồ mả nhà mình.

Nửa đêm rồi mà nóng nực vẫn hoàn nguyên nóng nực, chả dịu đi được chút nào!

Ngoài này còn có chút gió loe hoe chứ trong kia bí bách lắm nên Cường vẫn nán ngồi lại chưa muốn vào.

Tiểu đội phó Sen bước ra ngồi xuống cạnh anh, vẫn cái giọng vừa xa lạ vừa gần gũi, nửa phê phán nửa thông cảm:

- Này, hành động tha cho thằng lính hồi chiều khi cậu đã định giáng thẳng viên đá xuống đầu nó là không ổn đâu, cái chất yêng hùng, hảo hớn, mơ hồ địch ta ấy nó chỉ có thể có trong tiểu thuyết dã sử Trung Hoa, còn đây là cuộc chiến tranh tổng lực của thế kỷ 20.

Biết đâu tha cho nó lúc này, lúc khác nó lại găm súng bắn nát ngực cậu và nát ngực cả tôi?

Cuộc chiến một mất một còn này, mọi hành động nhân đạo chung chung đều là tự sát.

Cường im lặng.

Không hiểu sao lúc này anh không muốn đối thoại, không muốn tranh cãi gì hết, nhất là tranh cãi với một cái đầu thông minh, phức tạp như Sen.

Anh chỉ muốn ngồi một mình, ngồi xa ra tất cả mọi sự để cho đầu óc nó vơi loãng đi một chút.

Sen cũng không nói thêm gì nữa, cả hai nhìn ra khoảng không mờ mịt hình như đang có những ngọn gió nồng tanh, khô khát sắp thổi về.
 
Mưa Đỏ
Chương 17


Trung úy Quang cũng đang ngồi một mình trong bar rượu của Câu lạc bộ sĩ quan.

Trung úy - cái lon hàm mới vinh thăng chiều nay đối với hắn thực chất không nói lên điều gì.

Nếu muốn, chỉ cần bằng thực lực, bằng giá trị thật trong bản ngã con người mình chứ chưa cần và không bao giờ cần đến uy tín gia đình, đồng tiền, sự khôn ngoan, bợ đỡ, xu nịnh như hầu hết những sĩ quan tướng lĩnh xôi thịt khác mà hắn vốn coi khinh, hắn sẽ dư sức để có một lon hàm khấm khá hơn nhiều.

Hắn đã bỏ tất cả các ngả đường khác màu mỡ, ngon lành hơn để xung vào lính không phải vì ba cái bông mai vô nghĩa này mà vì một cái khác thuộc bản tính thích thử thách, thích xông pha, thích thử nghiệm bản thân mình của hắn.

Trong đầu hắn giờ đây đang day dứt sống lại toàn bộ cái trận đánh giáp lá cà chết tiệt trong Thành cổ buổi trưa vừa rồi mà sự chống trả quật cường của đối phương là không thể hiểu được, nó mang cái dáng dấp các dũng sĩ thánh chiến tử vì đạo của Kinh Coran mà hắn đã đọc được khi còn ngồi ghế nhà trường, trong đó hình ảnh của tên Việt Cộng đẹp trai kiêu dũng đụng độ bất chợt kia đã bám nhầy không ra khỏi suy nghĩ của hắn.

Thế là thế nào nhỉ?

Cấp trên của hắn đã không ít lần ra rả nói rằng, quân đội Cộng sản thực chất không phải đánh cho chính họ, cho Hà Nội, mà đánh cho Nga Xô và Trung Cộng, tức là họ chỉ là một phương tiện, một thứ đánh thuê cho các chủ thuyết chi phối đằng sau nhưng hắn chưa tin, không tin.

Nếu chỉ là như thế thì họ, như cái tay Việt Cộng đẹp như tượng kia, chắc chắn không thể có được cái khí phách siêu phàm như vậy.

Thứ khí phách mà chỉ có thể có được ở những đội quân chiến đấu cho chính mình, cho tổ tiên, cho quê hương của mình.

Trước đây đối với hắn, người lính phía bên kia luôn luôn, mãi mãi chỉ là một đám mọi rợ, chém vè nằm bụi, ăn lông ở lỗ, rách rưới bẩn thỉu được huấn luyện đâm chém như một bầy quỷ cuồng tín lao từ trong rừng ra và hắn cùng đồng đội của hắn có nhiệm vụ làm sạch.

Vậy mà con người ấy, cái thằng nói giọng Bắc ấy rõ ràng có cái gì ngược lại.

Không tìm thấy sự khát máu vằn lên trong ánh mắt vừa kiên nghị vừa buồn phiền như đôi mắt của một thằng tướng cướp khét tiếng đã ra tay giết cả ba mạng người mà chính hắn đã là kẻ đánh gục nó giữa chợ Đông Ba hôm nào.

Ở vào trường hợp hắn, liệu hắn có đủ nhân đạo để tha cho một thằng vừa chơi một đường lê tứa máu vào thân thể mình không?

Không!

Chắc là không rồi.

Thế thì cái gì đã khiến cho cái thằng người ở trần, quần cộc, râu ria ấy có được sự hành xử vượt ra ngoài bản năng hoang thú đó?

Một chút tò mò và vì nể vẩn lên trong cái đầu đặc sệt những suy tưởng cực đoan và miệt thị đối phương của hắn.

Toán phó Phan Thái từ ngoài cửa đi vào, mặt mày sa sầm:

- Báo cáo!

Hạ sĩ Tâm đào ngũ rồi!

- Cái thằng được tên Việt Cộng tha không đập đá vô sọ ấy hả?

- Chính nó.

Tôi đã cho người tức tốc đuổi theo.

- Bắt được không?

- Quang hỏi hững hờ.

- Sao mà thoát!

Tôi đề nghị giải nó về Ban an ninh để họ xử nó theo đúng điều lệnh.

- Khoan đã!

Cái gì cũng xử theo đúng điều lệnh thì cả tôi lẫn cậu cũng đáng bị xử vì để thất bại trận đột kích mới rồi.

- Tức là...

- Tức là coi như không có chuyện gì xảy ra.

Để tôi nói chuyện với nó.

Giờ ngồi xuống làm một ly vì thoát chết đã Chuẩn úy!

- Thiếu úy, thưa Đại đội trưởng!

- Phan Thái chỉnh lại.

- Ừ, Thiếu úy!

- Quang nhếch cười đưa mắt nhìn cái bông mai được lau chùi láng coóng trên ve áo Phan Thái.

- Cậu có vẻ coi trọng nó lắm hè?

- Cái gì thuộc về vinh dự và trách nhiệm thì đều đáng coi trọng.

- Tốt thôi.

Thật may mắn được cùng làm việc với một quân nhân mẫu mực như ông Chuẩn...

à, ông Thiếu úy như ngài.

Và hình như trong trận đánh gần buổi trưa, tôi có để ý nhìn nhưng xin lỗi, không thấy ông Thiếu úy ở mô cả.

- Tôi luôn biết đứng ở cái chỗ cần đứng của mình thưa Trung úy!

Báo cáo tôi đi!

Đứng con mẹ gì?

Mày có đứng bằng đầu gối cả đời thôi con ạ!

Với tất cả vẻ khinh bỉ, Quang đã định tung ra câu ấy vào giữa cái miệng thơn thớt của hắn nhưng lại thôi.

Loại này bây giờ nhung nhúc, chấp làm gì.

Phan Thái quay người đi ra, mỗi sải chân dài đúng bảy mươi lăm phân như đang đi trong đội hình duyệt binh ở quảng trường trước cửa Dinh Độc Lập.

Quang chau mày nhìn theo, nâng ly rượu uống một hơi cạn đáy rồi định gọi thêm một ly đúp nữa thì một trung sĩ cao to, có vẻ mặt sắt nguội từ nãy ngồi cô độc ở cái bàn góc tường, giờ mới đứng dậy, lặng lẽ cầm chai rượu còn gần đầy bước đến trước mặt Quang:

- Xin phép Trung úy cho em ngồi cùng.

- Xin phép mẹ gì, ngồi đi, tao cũng đang muốn có bạn nhậu đây.

Mà tối nay sao càng uống càng tỉnh queo chả phê gì hết trơn, như làm tình với con đàn bà không có vú ấy, chán!

- Dạ, mời Trung úy!

- Người này rót từ chai rượu của mình một ly đầy rồi lễ phép đưa cho Quang.

- Chắc loại này sẽ làm Trung úy hài lòng.

Quang đưa ly rượu lên miệng cạn luôn rồi tròn mắt:

- Đã!

Thằng em này khá, kiếm đâu ra thứ xịn này vậy?

- Dạ, có một người bạn bên biệt động đem cho.

Anh Hai, em cám ơn anh Hai vì đã bỏ tha cho thằng Tâm, nó là thằng bạn thân nhất của em, nếu giải về Ban an ninh là nó chết chắc.

- Mày có nhìn thấy cái tay Vẹm cầm cục đá nằm trên nó không?

Chính hắn mới là người tha cho bạn mày.

- Dạ, em biết.

- Mày thấy nó thế nào?

- Ai ạ?

- Thì cái tay Vẹm có thân hình đẹp như tượng đó?

- Thực ra em không biết nói sao nhưng... nếu Trung úy cho phép em mới nói.

- Nói, đây không có trung úy với đại úy gì hết ráo.

- Nếu lính dù mình ai cũng được như hắn thì cái Thành cổ kia ta đã làm cỏ từ lâu rồi.

Quang khẽ gật đầu, trầm ngâm một lát rồi nói:

- Ở đời có những kẻ thù làm ta kính trọng nhưng lại có những thằng bạn làm mình coi khinh, cậu có thấy điều đó không?

Lạ, không hiểu sao tao rất muốn gặp lại hắn, gặp trong đâm chém hay gặp trong quán nhậu cũng được.

Từ ám ảnh, tao hình như bị nó hớp hồn rồi.

- Em hiểu.

Vì anh Hai là người cao thượng, can tràng khác biệt, có lẽ chỉ có cái tay kia mới xứng tầm để anh Hai đối đầu hay cũng để tri kỷ.

Quang tung cái ly lên cao rồi bắt lấy ném mạnh xuống đất, vỡ tan, vỗ vai gã trung sĩ một cái khá mạnh:

- Mày lại khá!

Nhìn thì cục mịch, cô hồn mà suy nghĩ lại như một gã triết nhân phố thị.

Nào, kết nghĩa anh em, uống!

Cả hai ngửa cổ uống cạn rồi khà một tiếng như rắn hổ khè mồi.

Giây lâu, gã trung sĩ khẽ hỏi:

- Hình như anh Hai đang có tâm sự khó nói?

- Đoán đi!

Nhà hiền triết cô hồn thử đoán coi, đúng, có thưởng.

- Vẫn là hình bóng cô sinh viên Văn khoa và bây giờ đang ở phía bên kia?

Quang hơi nhìn xuống, lát sau nhìn lên, ánh mắt thoắt trở nên mờ mịt:

- Cậu có người yêu chưa?

- Em đã có vợ.

Hai đứa mới ở với nhau được hai ngày thì em đi đây.

- Vợ cậu là người thế nào?

- Nói chung là tạm ổn ạ.

Đẹp, có học và... chung tình.

- Mới ở có hai ngày sao biết là chung tình?

Tầm bậy!

Chữ chung tình cậu nói ra ngọng lắm.

Nhưng thôi cứ coi như vậy đi không đời thằng lính ở tiền đồn hóa ra lại khốn nạn quá à!

Hỏi đây: Đối với cậu, một người đàn bà thế nào là một người đàn bà đáng để ta ám ảnh, đáng để ta nghĩ về?

- Em... không biết.

Vợ em do má lấy cho chứ em có ám ảnh, có nghĩ về viếc gì đâu.

- Là bí hiểm, là không nắm bắt được, là đẹp, kiểu đẹp có hồn, có cái gì đó như ánh sáng trong mắt khiến ta không dám nhìn thẳng vào nhưng lại khao khát được nhìn, là làm cho mọi cái ta hằng theo đuổi bỗng thành vô nghĩa, là... cậu hiểu chưa?

Quang quát lên khiến người trung sĩ càng bối rối:

- Tức là cô ấy?

Dạ, em cũng lờ mờ nhận ra điều đó nhưng đầu bã đậu, không biết cách nói ra.

- Cậu thấy cái đầu tôi kỳ cục không?

Khi tôn vinh tôi là một sĩ quan Hắc Báo có tư tưởng chống Cộng khét tiếng nhưng họ đâu có biết rằng, ít nhất hai người phía bên kia đã khiến tôi ám ảnh, thậm chí cảm phục và... yêu thương.

Này, cậu nhìn đi đâu vậy hả?

- Em... em ngại kẻ xấu nó nghe được.

- Nghe được thì làm gì tao?

Hạ cấp hạ chức à?

Hạ đi, tao càng thích.

Người trung sĩ có nét mặt sắt nguội chợt ghé sát tai Quang, hạ giọng:

- Em thấy anh Hai nên đề phòng ông Thiếu úy.

Em không biết nói nhưng mỗi lần con mắt ông ấy nhìn anh từ phía sau khác lạ lắm, như cái nhìn của con rắn.

- Con rắn?

- Quang bật cười to.

- Đến con cọp tao còn không sợ nữa là con rắn, dẹp đi!

- Tuần trước...

- Tiếng nói của viên trung sĩ vẫn thì thầm.

- ...vô tình đi qua lán dã chiến của ông Đại tá, em có loáng thoáng thấy ông ấy nhắc đến tên anh.

Hình như nói anh là dao động, lung lay, lộn xộn ta địch, yêu đương vô lối hay cái gì gì đó.

Quang cười nhạt một tiếng nghe ghê rợn:

- Nói vậy còn nhẹ, đáng ra nó phải kết án tao là thằng phản bội, là kẻ đầu hàng, là đứa khiếp sợ nhan sắc và uy lực của kẻ thù kia mới đủ đô.

- Anh Hai...

- Cái gì?

- Hầu hết anh em trong đơn vị đều rất cám ghét cái kẻ ăn lương CIA này, nếu anh cho phép, em sẽ thay mặt tất cả cho hắn đập mặt xuống sình trong một trận đánh tới?

- Khỏi!

- Quang loạng choạng đứng dậy.

- Cứ để nó đó, coi như một gia vị trận mạc, thằng nào cũng ngon, cũng trung thành cả thì đời nhạt thấy mẹ.

Thôi, về!

Viên trung sĩ cô hồn vội đứng dậy dìu Quang ra cửa, mặc dù bước đi của anh ta còn có vẻ xiêu vẹo hơn.
 
Mưa Đỏ
Chương 18


Trời về chiều rồi mà trong khu hầm chỉ huy Thành cổ vẫn nóng hầm hập.

Thỉnh thoảng một trái pháo rơi đúng nóc khiến cả khu hầm rung rinh như muốn sập xuống, bụi rơi lả tả, gạch đá, bê tông kêu răng rắc như một bộ xương sắp gãy vụn.

Râu ria lởm chởm, quần áo nát nhàu, loang lổ đất cát, Trung đoàn trưởng Vũ Thành đang gào vào ống điện thoại.

Nhưng chỉ thấy khào khào, ngáp ngáp như tiếng vịt bị bóp cổ chứ tịnh không nghe thấy một âm tiết nào.

Từ miệng ông bụi trắng bay ra từng đụn.

Ông gí sát ống nói vào miệng, gọi nữa, vẫn khào khào.

Cáu sườn, ông bèn rút bút viết vào giấy mấy chữ nguệch ngoạc rồi chỉ vào ống nói nhờ cậu công vụ đọc giúp.

Cậu này bắt đầu còn đọc rụt rè, vấp váp, sau trôi chảy, lớn tiếng dần, thậm chí hơi hanh hách, cứ làm như mình chính là chỉ huy trưởng:

- A lô!

Tiểu đoàn 8 đâu!

Thằng dù đánh theo bài bản là phải đủ hai hướng, các cậu cố bẻ gãy một hướng là hướng kia sẽ rơi vào bị động, tự khắc tan...

Hướng nào ấy hả?

- Cậu quay qua Vũ Thành.

- Hướng nào Thủ trưởng?

Thành ghi: "Hướng mẹ nào cũng được, miễn là bẻ cho gãy!"

Cậu công vụ cũng thét vào máy nhưng có cải biên đi một chút, có lẽ do sự thành kính người mẹ của mình:

- A lô!

Thủ trưởng bảo hướng... thằng bố nào cũng được miễn là bẻ cho gãy.

Trố mắt nhìn cái miệng đang chuyển động của cậu công vụ, Vũ Thành thấy có gì không ổn, vội giật lại ống nghe, kê sát miệng vào, gần như ngoạm lấy nhưng vẫn lại khào khào, lại rin rít đến khốn khổ.

Ông dập mạnh máy xuống, ngoáy tõe ngòi bút: "Mày ở đây chỉ huy thay tao, tao nghe cái giọng mày chỉ huy được đấy, oai phết!"

- Thay...

Thủ trưởng ạ?

- Đến lượt cậu ta trố mắt.

Vũ Thành gật.

Cậu chàng cũng máy móc gật theo.

- Nhưng Thủ trưởng đi đâu để nếu có ai hỏi, em còn biết đường mà nói ạ!

Ông lại lia bút: "Bảo tao ra trận địa với anh em.

Ngồi trong này ngứa mồm lắm!"

Nói xong, để mặc cậu công vụ ngơ ngác ở lại, ông xách cây AK lao ra ngoài nhanh nhẹn như một người lính trinh sát.
 
Back
Top Bottom