Ngôn Tình Lang Hoài Hữu Ngọc

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
1,388,149
Phản ứng
0
VNĐ
361,707
lang-hoai-huu-ngoc.jpg

Lang Hoài Hữu Ngọc
Tác giả: Mễ Hoa
Thể loại: Ngôn Tình, Cổ Đại, Khác, Đoản Văn
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

Tên truyện: Lang hoài hữu ngọc

Tác giả: Mễ Hoa

Thể loại: Cổ đại, tình cảm, đoản văn, thị giác nữ chủ, ngôi thứ nhất, bình dân sinh hoạt, HE

Số chương: 11 chương + 1 ngoại truyện

Convert: LEO SING

Edit + Bìa: Lam Trà

Văn án:

Ta mới gả cho Đại Lang nhà họ Bùi mấy ngày, hắn đã bệnh chết.

Bùi Nhị Lang nhập ngũ từ thủa thiếu thời thay huynh trưởng ký thư phóng thê.

Ta cầm thư rời đi, cuối cùng lại lộn trở lại…

“Tiểu cô còn nhỏ tuổi, thái mẫu cũng cần người chăm sóc. Thư phóng thê ta tạm giữ, nhị thúc cứ yên tâm đến quân doanh, đợi sau này chúng ta thu xếp xong xuôi, ta lại đi cũng chưa muộn.”

Bùi Nhị Lang im lặng đồng ý.

Sau đó hắn tới biên cương tòng quân, ta ở lại lo liệu việc nhà.

Năm năm sau, tiểu cô vào trường tư thục, Bùi Nhị Lang trở thành tướng quân, ta vẫn còn đang bán tào phớ ở huyện.

Trên phố có vị tú tài họ Trần đối xử với ta rất tốt. Ta thương lượng với Nhị Lang vừa về thăm nhà, muốn gả cho tú tài.

“Nhị thúc yên tâm, tú tài đã nói rồi, sau khi thành thân chúng ta vẫn là người một nhà, ta có thể tiếp tục hành nghề, cũng có thể lo cho tiểu cô…”

Ta càng nói, mặt Nhị Lang càng lạnh, giọng ta lại càng trầm xuống.

Nhị Lang nhà họ Bùi tuy tướng mạo đẹp nhưng lại có chút tiếng xấu, đi đánh trận từ thời trẻ, tính tình ngang ngược.

Nghe nói hắn giết địch ngoài sa trường chưa hề nương tay bao giờ, thủ đoạn vô cùng tàn nhẫn.

Từ khi gả vào nhà họ Bùi, ta đã âm thầm sợ hắn. Mãi đến khi hắn chặn ta trong phòng bếp, ôm ta ngồi lên trên bệ, thấp giọng nói bên tai ta…

“Muốn gả đi rồi sao? Ta mạnh hơn tú tài kia nhiều, không tin cô cứ thử xem…”​
 
Có thể bạn cũng thích !
  • Lăng Thiên Mộng Huyễn
  • Thời Gian Thầm Lặng
  • Lãng Mạn Đời Thường
  • Ngân Hà Lặng Thinh
  • Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 1


    Năm mười ba tuổi, qua lời giới thiệu của bà mai, cha đưa ta đến nhà họ Bùi ở thôn Đại Miếu.

    Nói dễ nghe một chút là “bàn chuyện cưới hỏi”, nói khó nghe một chút thì gọi là “bán con gái”.

    Nhà họ Bùi đưa năm lượng bạc, ông ta vui vẻ phấn khởi cầm đi, lại tới sòng bạc trên huyện.

    Thím nhà họ Bùi sức khỏe không tốt, Đại Lang sức khỏe cũng không tốt, trong nhà còn có tiểu cô ba tuổi cùng thái mẫu đã cao tuổi.

    Bọn họ mua ta, thứ nhất là để kiếm cho Đại Lang một cô vợ, đợi khi nào cập kê ta sẽ gả cho hắn, thứ hai là muốn tìm người cơm nước giặt giũ, chăm sóc một nhà già yếu bệnh tật.

    Nhà họ Bùi cũng từng là một gia đình khá giả ở huyện Vân An chúng ta.

    Cha Bùi thời trẻ từng là một người gánh dầu bán dạo trên phố, chăm chỉ chịu khó, sau đó lại chạy đến chỗ một vị sư phụ già ở Dự Châu học làm tào phớ.

    Khi tay nghề đã tinh thông, ông quay trở về, việc đầu tiên làm là bày một gian hàng trên huyện. Mấy năm sau, ông mở được một cửa tiệm, lúc làm ăn phát đạt nhất còn thuê thêm cả tiểu nhị.

    Nhưng rồi lại bệnh mà mất.

    Thím Bùi sinh được hai trai hai gái, sau khi tiểu cô chào đời thì bị cảm lạnh, cơ thể vẫn luôn ốm yếu. Bà đi theo cha Bùi làm ăn buôn bán từ thời trẻ, thức khuya dậy sớm xay đậu lọc bã, khớp tay khớp chân cứng đờ, cả ngày eo mỏi lưng đau.

    Còn Đại Lang thì từ nhỏ đã gầy yếu, sinh ra vốn không khỏe mạnh, sau còn mắc bệnh lao phổi.

    Cha hắn vừa qua đời, tiểu nhị lập tức bắt đầu lại từ đầu, tự mở một hàng tào phớ khác, tiệm tào phớ nhà họ Bùi tự nhiên phá sản.

    Cũng may là nhà họ còn ít của cải.

    Đại Lang tới tuổi cưới vợ, nhưng cơ thể lại ốm đau bệnh tật, đại phu nói bệnh lao nguy hiểm đến tính mạng, còn dễ lây lan.

    Gia đình bình thường sẽ chẳng có ai bằng lòng gả con gái cho hắn, nhưng nhà ta thì không vậy. Mẹ ta đã mất từ lâu, còn cha ta thì lại là một tay cờ bạc.

    Mười ba tuổi, ta đến nhà họ Bùi, nấu nướng giặt giũ, chăm sóc thái mẫu tuổi già, giúp thím Bùi đắp thảo dược lên đầu gối, dỗ tiểu cô ba tuổi ngủ… chẳng rảnh tay ra được một khắc nào.

    Khi Bùi Đại Lang chong đèn đọc sách giữa đêm, sù sụ ho không ngớt, ta còn xuống bếp nấu nước củ cải cho hắn uống.

    Mỗi lúc như vậy, hắn đều áy náy mà nói với ta: “Tiểu Ngọc, muội bận cả ngày rồi, cứ nghỉ ngơi đi.”

    “Muội không mệt đâu Đại Lang ca, hồi ở nhà muội còn phải lên núi đốn củi, ra ruộng cuốc đất nữa kìa, không có ngày nào rảnh rỗi, cũng đã sớm quen lâu rồi.” Ta khoát khoát tay.

    Đại Lang mười bảy tuổi, đang học ở trường tư thục, là một thiếu niên thanh tú thích đọc sách.

    Hắn đã qua được kỳ thi huyện và thi phủ, tiếc là vì lý do sức khỏe nên không thể tiếp tục tham gia thi viện.

    Người đọc sách luôn khiến kẻ khác ngưỡng mộ. Nhờ có hắn, ta không chỉ viết được tên mình mà còn biết thêm không ít chữ.

    Hai năm sau, lúc ta vừa tròn mười lăm, thím Bùi trao cho ta một cái vòng ngọc, nói là phải lo liệu chuyện cưới xin giữa ta và Đại Lang.

    Ta không có ý kiến gì, nhưng Đại Lang lại không muốn.

    Khi đó hắn đã bệnh nặng, còn chưa kịp nói hết câu thì đã ho ra một ngụm máu.

    Hắn nói với thím: “Sức khỏe của con con biết, sợ là sẽ không chống đỡ được lâu, tốt nhất không nên liên lụy Ngọc Nương. Muội ấy ở trong lòng con cũng giống với Tiểu Đào, con vẫn luôn coi muội ấy là em gái.”

    Thím Bùi khóc đến ngất xỉu, tỉnh lại thì liền hỏi ta, có còn nguyện ý gả cho Đại Lang hay không?

    Ta vừa lau nước mắt vừa gật đầu: “Lúc trước mua con, không phải là để làm vợ Đại Lang ca sao?”

    Thím nhịn không được, lại khóc: “Ngọc Nương à, con đừng trách ta, cả nhà chúng ta đều phải trông cậy vào con.”

    Ta thành thân cùng Nhị Lang nhà họ Bùi.

    Không không không, phải nói là Nhị Lang nhà họ Bùi bái đường thay anh trai hắn, bởi vì khi đó Đại Lang đã sức tàn lực kiệt, suy yếu đến mức không thể nào xuống nổi giường.

    Ta tới nhà họ Bùi hai năm, đó là lần đầu tiên trông thấy Nhị Lang.

    Hắn lớn hơn ta hai tuổi, tướng mạo đoan chính, dáng vẻ tựa như cây ngọc.

    Hồi còn đang sống, cha hắn đã đưa hắn đi tòng quân.

    Theo pháp luật nước Đại Sở, nam tử có thể đi tòng quân từ năm mười lăm tuổi. Căn cứ vào nguyên tắc ba năm cày một năm trữ, bất kể giàu nghèo sang hèn, hai mươi tuổi nhất định phải đăng ký tại quan phủ.

    Nhiều người bị chọn đi lính thì đều kêu trời khóc đất, sợ sau này lúc đánh giặc sẽ bị giết hoặc bị thương.

    Nhưng Nhị Lang nhà họ Bùi thì khác, hắn còn chưa tới mười lăm đã bị cha hắn nhờ người đi cửa sau, khai gian hai tuổi, nhét vào quân đội cho bằng được.

    Thực ra cũng không thể trách cha hắn nhẫn tâm. Bùi Nhị không giống với đại ca, từ nhỏ đã không an phận, suốt ngày giao du với đám lưu manh vô lại ở phía cổng Tây ngoài thành, lừa gạt trộm cắp, gây chuyện thị phi khắp nơi.

    Tiểu Đào năm tuổi, ta còn dụ được muội ấy nghịch bùn. Nghe nói lúc Nhị Lang năm tuổi, đã biết trộm gà nhà hàng xóm, trộm rau xanh và quả lễ của các thầy tu trong chùa.

    Tóm lại, đó là một tay phá phách cố ý làm bậy, gây ra không ít rắc rối.

    Thế rồi một hôm, đứa con đã lâu không về nhà này lại xuất hiện bên mép giường cha hắn lúc nửa đêm, toàn thân dính máu, nói mình lỡ tay giết người, hỏi cha phải làm sao giờ.

    Cha Bùi hoảng sợ tột độ, tặng hậu lễ cho người quen ở nha môn ngay trong đêm, nhờ người ta dàn xếp giúp, mất hơn cả nửa gia tài, mấy tháng sau mới đưa được Bùi Nhị Lang đang giấu trong nhà đi nhập ngũ.

    Ta thành thân với Đại Lang cũng là lúc hắn trở về nhà lần đầu sau bốn năm trong quân đội.

    Thiếu niên khí phách hăng hái, mày mắt hẹp dài. Khác với Đại Lang văn nhã, hắn trời sinh mũi thẳng môi mỏng, khóe môi hơi cong xuống, đôi mắt sắc sảo sâu thẳm, vẻ mặt lạnh lùng ngang ngạnh.

    Dưới sự chỉ huy của thím Bùi, hắn thay anh trai mặc hỉ phục, mím chặt môi, gượng gạo bái đường cùng ta.

    Kết quả là lúc nửa đêm, Đại Lang không trụ nổi nữa, máu ho ra như hoa nở trên khăn tay, không cách nào ngăn lại được.

    Chống chọi thêm hai ngày, hắn lại nói với mẹ: “Hôn sự của con và Ngọc Nương không tính, sau này con đi thì ký thư phóng thê cho muội ấy, đừng làm muội ấy lỡ dở cả đời.”

    Lúc Đại Lang mất, thím khóc đến chết đi sống lại. Ta ngẩn ngơ đứng một bên, bưng chén thuốc đắng trên tay mà không biết phải làm sao, trong đầu chỉ toàn là những điều mà hắn từng nói…

    <i>Chiều là kẻ nông phu, sáng lên thiên tử đường, quan tướng không nòi giống, nam nhi nên tự cường.</i>

    <i>Mũ Nho không đội lầm, thi thư chẳng phụ ai, đạt thì giúp thiên hạ, nghèo cũng ích một hai.(1)</i>

    <i>(1) Hai bài thơ trong loạt thơ “Thần đồng thi” của Uông Thù, bao gồm 45 bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với câu từ giản dị dễ hiểu, được coi là mẫu mực cho trẻ học thơ.</i>

    Bùi Nhị Lang cầm tay anh trai, lau đi vết máu nơi khóe miệng hắn. Ta nắm chặt viên đường trong tay, để nó chảy ra lòng bàn tay mình.

    Nửa năm sau, thím Bùi cũng đi theo.

    Một trận gió lạnh trực tiếp cướp đi mạng sống của bà. Bà ra đi rất vội, đổ bệnh mấy ngày, chợp mắt một giấc là đã không tỉnh lại nữa.

    Mấy tháng sau đó, Bùi Nhị Lang lại một lần nữa xin nghỉ để quay về nhà. Trước những mộ phần trên núi, hắn bái tế cha mẹ và huynh trưởng.

    Cha ta nghe nói hắn về thì lập tức tới tận cửa, nhờ hắn thay anh trai ký thư phóng thê cho ta.

    Bùi Nhị Lang vung bút ký, không nói hai lời.

    Tiết Thủ Nhân mặt mày hớn hở, đánh xe lừa đến, kiên quyết lôi ta lên xe…

    “Con gái, cha giờ không cờ bạc nữa, cha đang làm việc rồi, cha mua lừa làm phu xe. Con rể đoản mệnh của cha đã qua đời gần một năm, con mới có mười sáu tuổi, sao có thể ở lại đây mãi được. Chúng ta cũng đã tận tình tận nghĩa lắm rồi. Con về nhà với cha đi, sau này cha lại nhờ người ta tìm cho con một hôn sự tốt đẹp khác.”

    Ta ngồi trên xe lừa, bị ông ta kéo đi, đầu óc quay cuồng.

    Giữa đường, ta hỏi ông ta: “Ông thật sự không đặt cược nữa?”

    “Thật sự.”

    “Vậy ông thề đi, nếu như ông gạt ta thì sẽ bị thiên lôi đánh, chết không tử tế, tay chân miệng lưỡi thối rữa, sau khi chết cũng bị ném ra bãi tha ma không ai nhặt xác, rồi sau đó bị chó hoang gặm mất…”

    “Tiết Ngọc! Khốn kiếp! Mày trù ẻo cha mày đấy à!”

    Tiết Thủ Nhân tức muốn hộc máu, ta cười lạnh một tiếng: “Không đặt cược nữa? Loại con nghiện cờ bạc như ông nói mà tin nổi sao? Cái gì mà một hôn sự tốt đẹp khác, chỉ sợ ông lại muốn lừa ta về bán lần nữa ấy chứ. Trước kia ta nhỏ tuổi không có lựa chọn, giờ ông còn muốn dùng chiêu thức này lừa gạt ta ư, đừng có hòng.”

    Ta vừa dứt lời thì xe lừa cũng nhẹ bẫng. Ta nhảy xuống, xách theo bọc hành lý, chạy thẳng một mạch không quay đầu lại, sau lưng vẫn văng vẳng tiếng chửi tục của Tiết Thủ Nhân.

    Nghĩ tới nghĩ lui, ta lại đi thêm mười dặm, vòng vèo một hồi, cuối cùng vẫn trở về thôn Đại Miếu.

    Thôn Đại Miếu nằm dưới chân núi Cửu Bình, có khoảng hơn trăm hộ dân.

    Nhà họ Bùi nằm ở cuối phía Tây của thôn, chỗ hàng rào tre trước cửa ta đã quây một khoảnh vườn nhỏ để trồng rau, còn trồng thêm cả mấy cây mộc lan nữa.

    Chạng vạng trời chiều, mảnh sân nhỏ trước nhà xanh xanh trắng trắng, phía chân trời là ánh tà dương đỏ thẫm như màu máu.

    Bùi Tiểu Đào với hai búi tóc rối tung đang gào khóc ở ngoài cửa.

    Bên cạnh con bé còn có thái mẫu lớn tuổi, một già một trẻ ngồi sát bên nhau, thái mẫu run rẩy chống quải trượng, cẩn thận nhìn đứa nhỏ…

    “Nhị Nha, đừng có khóc nữa, miệng con há to như thế, bà sợ.”

    “Nhị Nha, quần bà ướt rồi, thay hộ bà được không?”

    “Hu hu hu, sao thái mẫu lại tè dầm nữa thế?”

    “Bây giờ không phải là lúc nói chuyện này, con thay quần giúp bà được không?”

    “Hu hu hu, con không thay được.”

    “Thế con vào bếp nấu bát hủ tiếu được không?”

    “Hu hu hu, không phải ca ca đi nấu rồi sao?”

    “Ầy, nó thì làm được cái gì, đến vợ cũng chẳng giữ nổi, nếu không phải tại nó thì hai chúng ta có ra nông nỗi này không?”

    “Hu hu hu, thái mẫu, con muốn tẩu tử của con, con nhớ tẩu.”

    “Đừng khóc nữa, thái mẫu đã sớm nghĩ xong xuôi rồi, đợi trời tối chúng ta liền trốn nhà đi, cái nhà này thực sự ở không được nữa, cái thằng cháu ranh kia đúng là không phải người tốt.”



    Lúc ta về được đến nơi, Tiểu Đào khóc toáng lên, ôm chặt lấy ta không chịu buông tay. Thái mẫu ở cạnh đó cũng nhìn ta với vẻ mặt đáng thương khôn tả…

    “Quần ta ướt rồi, vẫn chưa thay được.”

    Vỗ về Tiểu Đào và thay quần cho thái mẫu xong, ta mới đứng dậy, xuống bếp tìm Bùi Nhị Lang.

    Lúc ấy hắn đang nấu cơm. Lửa trong bếp cháy hừng hực, nước trong nồi sôi sùng sục, người đứng trước thớt vẫn còn loay hoay với cái chậu.

    Bùi Nhị Lang dáng người đĩnh bạt, sống lưng thẳng tắp, gương mặt dính đầy bột mì, hai bàn tay đều be bét, thoạt nhìn có vẻ bình thản, nhưng đồng thời cũng trông rất bối rối.

    Phòng bếp vốn được dọn dẹp ngăn nắp gọn gàng giờ đã nồi niêu xoong chảo lộn xộn. Ta khẽ thở dài: “Nhị thúc, để đấy ta làm cho.”

    Bùi Nhị Lang quay đầu lại. Trong căn phòng không mấy sáng sủa, nét mặt hắn thoáng kinh ngạc, đôi mày rậm hơi nhướng lên, đôi mắt đen sẫm lại. Nhưng chỉ chốc lát sau, hắn đã lấy lại bình tĩnh, mím môi đi ra.

    Nấu hủ tiếu xong, ta bưng nồi gốm ra cái bàn ngoài sân, cho chút dầu vừng vào bát của Tiểu Đào và thái mẫu.

    Sau khi hai người họ vui vẻ ăn hết phần mình, ta lại tới gian phía Tây của nhà chính, thấy cửa chưa đóng thì liền gọi qua rèm cửa: “Nhị thúc, đi ăn thôi.”

    Những tấm rèm cửa bạc màu đã hơi cũ kỹ, sàn nhà lát gạch thô sần sùi mới được quét sạch.

    Trong phòng tối om nhưng rèm đã hơi hé mở. Bước chân của Bùi Nhị Lang trầm thấp, bộ áo xanh hắn mặc dần lộ ra giữa lặng im. Thân hình hắn cao lớn, uy nghiêm như cây tùng bách.

    Trên khuôn mặt với những đường nét góc cạnh là đôi mắt tựa mảnh băng, lại càng giống như trăng lạnh, khiến cho người ta cảm giác mọi sự tối tăm xung quanh đều bị ép xuống, ánh sáng lạnh lẽo lóe lên.

    Bùi Nhị Lang sinh ra đã có tướng mạo đẹp đẽ, nhưng cách đối xử với người khác thì lại gây ra cảm giác xa cách từ trong xương tủy. Bất thình lình đối diện với cặp mắt sắc bén thẳm sâu kia, trái tim ta nhịn không được mà hoảng loạn, tay cũng xoắn chặt tay áo…

    “Tiểu cô còn nhỏ tuổi, thái mẫu cũng cần người chăm sóc, nhị thúc nếu về quân doanh thì đã nghĩ sẽ thu xếp cho bọn họ thế nào chưa?”

    Giọng của ta rất nhẹ nhàng, giọng của hắn lại rất trầm, cũng rất nhỏ. Hắn chậm rãi nói: “Ta định gửi gắm họ cho nhà họ Chu ở Tây Ba.”

    Ta lại căng thẳng trong lòng.

    Nhà họ Bùi có một tỷ tỷ gả đến thôn Tây Ba.

    Tỷ tỷ kia tên Bùi Mai, là trưởng nữ của Bùi gia, lớn hơn Đại Lang ba tuổi.

    Lúc cha Bùi còn sống, Bùi Mai đã gả cho đại công tử nhà lý trưởng Chu ở Tây Ba.

    Lý trưởng Chu là hương thân(2), nhà họ Chu cũng là gia đình có của nhất trong khắp làng trên xóm dưới.

    <i>(2) Hương thân: Những người có chút học thức và địa vị ở trong làng, dưới quan nhưng ở trên dân.</i>

    Là thiếu nãi nãi nhà lý trưởng, quan tâm em gái nhỏ và bà nội nhà mẹ đẻ cũng không phải chuyện khó nhọc.

    Điều trùng hợp chính là, ta cũng lớn lên ở thôn Tây Ba.

    Ta biết nhà họ Chu tuy giàu có, trong nhà rất nhiều nha hoàn hạ nhân hầu hạ, nhưng lý trưởng Chu lại là kẻ coi tiền như mạng. Phu nhân của ông ta cũng hay tác oai tác quái, bình thường luôn khắt khe với các tá điền thuê đất, động một chút là nhục mạ.

    Khi cha Bùi còn sống, Bùi Mai thường xuyên về nhà mẹ đẻ, bởi vì cha mẹ chồng kiểm soát tiền bạc chặt chẽ, trượng phu cũng chẳng có bản lĩnh kiếm tiền, thi tú tài mãi không đậu, cả ngày chỉ biết ăn ăn uống uống.

    Là thiếu nãi nãi nhà họ Chu, vậy mà muốn để ra chút tiền mua quần áo và son phấn tốt, cũng phải nhờ nhà mẹ đẻ trợ cấp.

    Mà từ khi cha Bùi qua đời, cửa tiệm trên huyện đóng cửa, Đại Lang sức khỏe yếu, tài sản cần phải giữ gìn. Bùi Mai về nhà hỏi tiền, thím Bùi cũng không thể cho hào phóng như trước được.

    Mắt thấy vừa không được tiền lại vừa phải nghe thím Bùi đau khổ kể lể, Bùi Mai dứt khoát không tới nữa.

    Ta sống ở nhà họ Bùi ba năm, cũng phải đến khi Đại Lang và thím Bùi chết mới gặp được nàng ta.

    Lần cuối cùng gặp mặt, nàng ta mặc một cái áo choàng màu trắng ngà lả lướt, trên áo thêu một đóa hoa lan tinh xảo, vô cùng tao nhã.

    Lúc vội vàng về nhà chịu tang, đầu tiên nàng ta khẽ vuốt tóc mai, sau đó mới đặt hờ các ngón tay lên eo, khóc to một tiếng…

    “Nương, con gái đến chậm rồi.”

    Giọng nói mềm mại bi thương, nhưng động tác lại không cẩu thả một chút nào. Lúc lấy khăn lau nước mắt, nàng ta còn dặm lại phấn trên cánh mũi.

    Làn da Bùi Mai rất trắng, trên mặt rất nhiều phấn mịn và phấn hồng, dù có khóc lóc thì nước mắt cũng không làm trôi mất lớp trang điểm của nàng ta.

    Thật khó tưởng tượng, một thiếu nãi nãi điệu bộ giàu sang, nhất cử nhất động đoan trang mười phần như vậy, thời thiếu nữ cũng đã từng phụ gia đình bán tào phớ ở trên huyện.

    Bùi Nhị Lang nghĩ thế nào ta không biết. Ta chỉ biết nếu đưa thái mẫu hơi lẩm cẩm với Bùi Tiểu Đào ta đã chăm nom ba năm đến nhà họ Chu, ta không yên tâm.

    Thế là ta nói với Bùi Nhị Lang: “Nhị thúc muốn nhờ cậy nhà họ Chu, có lẽ nghĩ lý trưởng Chu là người đứng đầu cả thôn, vì thể diện cho nên sẽ không cự tuyệt. Nhưng mà không biết thúc có biết không, cô tỷ tuy là mợ cả nhà họ Chu nhưng gả qua nhiều năm như vậy cũng chỉ sinh được một cô con gái, mẹ chồng đã từng nhiều lần oán giận, tỷ phu bên đó cũng đã sớm nạp thiếp, thật ra tỷ ấy sống không tốt lắm.”

    Bùi Nhị Lang lặng thinh. Không đợi hắn mở miệng, ta đã nói: “Nếu đã vậy, chúng ta cũng không cần gây thêm rắc rối cho cô tỷ nữa. Thư phóng thê ta tạm giữ, nhị thúc cứ yên tâm đến quân doanh, đợi sau này chúng ta thu xếp xong xuôi, ta lại đi cũng chưa muộn.”

    Ta nói một cách chân thành. Vẻ mặt của Bùi Nhị Lang ẩn trong bóng tối, đôi mắt tựa như có một làn sương mù phủ lên, dày đặc mà tĩnh lặng.

    Thấy hắn không nói gì, ta lại hỏi: “Ý của nhị thúc thế nào?”

    Lại là một hồi trầm mặc, cổ họng như bị tắc nghẽn. Cuối cùng, hắn cũng cất tiếng trả lời, giọng nói có hơi khàn khàn: “Được.”

    Một chữ “được” của hắn làm ta thở phào nhẹ nhõm, người cũng hoàn toàn thả lỏng…

    “Đồ ăn chuẩn bị xong rồi, nhị thúc đi ăn đi, để lâu nguội mất.”
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 2


    Mấy ngày sau, Bùi Nhị Lang trở về quân doanh.

    Hắn vừa rời đi không lâu, ta đã đến nha môn tố cáo cha mình Tiết Thủ Nhân.

    Nguyên nhân là, thừa lúc ta mang Tiểu Đào ra bờ sông giặt quần áo, ông ta đã vờ vịt cầm một túi bánh nướng tới nhà họ Bùi, lừa thái mẫu đi gặp con gái, sau đó khoắng sạch một lượt từ trong ra ngoài.

    Tráp đựng tiền giấu trong tủ quần áo, mười ba lượng sáu đồng, cùng với chiếc vòng ngọc mà thím Bùi để lại, toàn bộ của cải trong nhà, đều bị ông ta vét mất.

    Sau đó ta mới biết được, quả nhiên như mình đã đoán, không đánh cược nữa là giả, xe lừa cũng là đi thuê. Ông ta muốn lừa ta về nhà rồi gả cho một ông lão góa vợ đang mở cửa hàng đồ da trên huyện, hơn nữa cũng đã lấy năm lượng bạc tiền lễ của người ta.

    Ngày ấy, ta tức giận đến váng cả đầu, xách theo một con dao phay, chạy một mạch hai mươi dặm lên tận huyện.

    Trong sòng bạc, một kẻ hom hem gầy yếu còn có mỗi bộ xương khô bị lôi cổ đến nha môn.

    Nước Đại Sở trọng chữ hiếu, làm con ruột mà kiện cha cũng bị quy vào tội “nghịch”, những kẻ gian ác nghịch loạn sẽ bị mang đi treo cổ.

    Từ lúc bước vào nha môn, tay Tiết Thủ Nhân đã run bần bật.

    Quan huyện với bộ ria mép chĩa sang hai bên nghe xong ta kể thì nheo mắt nói: “Hay cho Tiết Ngọc nhà ngươi, ngươi giờ tuy là dâu nhà họ Bùi nhưng cũng từng là con gái họ Tiết, nếu khăng khăng muốn kiện cha mình cho bằng được thì là trái với đạo hiếu, sau khi xử án xong bổn lão gia sẽ phạt ngươi hai mươi đại bản. Ngươi còn muốn kiện nữa không?”

    “Kiện! Ta muốn kiện Tiết Thủ Nhân ở thôn Tây Ba quận Thao Châu huyện Vân An, bán vợ cho nhà thổ, hại nương ta là Lý thị treo cổ tự sát, còn chiếm đoạt của hồi môn của bà.”

    “Ngươi có chứng cứ không?”

    “Khi Lý thị chết dân phụ mới có bảy tuổi, không có chứng cứ.”

    “Thế thì chính là nói miệng không bằng chứng.”

    “Vậy dân phụ cũng phải kiện Tiết Thủ Nhân, một con gái vọng tưởng bán hai lần, phá hỏng quy củ quan nha.”

    “Cha ngươi gả ngươi cho nhà họ Bùi có bà mai đứng ra bảo đảm, không tính là mua bán. Tiền lễ của lão Dương hói buôn đồ da cũng đã trả lại hết, không tính là gả con gái hai lần, tội không thành lập.”

    “Thế trộm cắp tiền bạc của Bùi gia giữa ban ngày ban mặt thì có phải tội của ông ta không?”

    “Đương nhiên rồi, phía trên công đường gương sáng treo cao, bổn lão gia sẽ không thiên vị bất kỳ ai cả. Nhưng Tiết Thủ Nhân trộm tiền là bởi ngươi là dâu nhà họ Bùi, chuyện ấy vốn có nguyên do, như vậy bổn lão gia phán hắn trả lại tiền cho nhà họ Bùi là được rồi chứ?”

    “Ông ta làm gì có tiền, tiền đã đánh cược hết rồi.”

    “Thế thì để hắn ký giấy vay nợ, có nha môn huyện làm chứng, không thể không trả.”

    “Nếu như ông ta cứ nhất quyết không nhận thì sao?”

    “Thì bổn lão gia sẽ trị hắn tội gian dối, phạt trượng rồi tống vào ngục!”

    Dài dòng một hồi, huyện lệnh lão gia mất hết kiên nhẫn, kinh đường mộc(1) đột ngột đập mạnh xuống bàn…

    <i>(1) Kinh đường mộc: Khối gỗ cứng hình chữ nhật mà các quan viên sử dụng để đập bàn thị uy khi lên công đường.</i>

    “Bãi đường!”

    Tiết Thủ Nhân mắc một khoản nợ, còn ta ăn hai mươi đại bản.

    Nếu không vì lúc hành hình một đại thúc nha dịch nhân từ đã nương tay với ta, ta hẳn là phải nằm liệt trên giường mấy tháng.

    Đại thúc nha dịch kia họ Triệu, tên Triệu Cát, sở dĩ thủ hạ lưu tình là bởi quen biết cha chồng ta Bùi Trường Thuận.

    Thúc ấy nói bọn họ quen nhau từ thuở cha chồng ta còn trẻ tuổi, mới mở quầy bán tào phớ ở huyện, đã rất lâu về trước rồi.

    Vận may của ta tốt, Triệu đại thúc cũng rất tốt, không chỉ bỏ mười lăm văn tiền giúp ta tìm một cái xe lừa về nhà mà còn tặng ta một lọ sang dược, dặn dò ta ở nhà nhớ phải tĩnh dưỡng chu đáo.

    Dù đại thúc xuống tay rất nhẹ nhưng ăn hai mươi bản tử của nha môn, mông ta vẫn cứ nở hoa. Ta đau đến mức cả người đổ mồ hôi lạnh, sắc mặt trắng bệch.

    Từ lúc bị đánh đến lúc bò lên xe lừa, Tiết Thủ Nhân vẫn luôn đi theo ta, ngập ngừng giải thích: “Cha không bán nương của con. Không phải cha đã nói với con rồi sao, khi đó cha nợ tiền sòng bạc, người ta tới tận cửa đòi, nương con rõ ràng có chút ngân lượng hồi môn mà lại nhất quyết không chịu lấy ra. Ai biết tính bà ấy lại quật cường như vậy, mới chỉ hù dọa vài câu bảo sẽ bán cho nhà thổ, bà ấy đã đi thắt cổ…”

    “Cút!”

    “Cha đưa con đến nhà họ Bùi chỉ là muốn tìm cho con một chỗ tốt, không phải là bán con gái. Còn lão hói Dương bán đồ da, tuổi tác có hơi lớn chút nhưng lại lắm tiền nhiều của, cha chẳng qua chỉ muốn con sống được thoải mái một tí thôi.”

    “Cút!”

    Ta lấy hết sức lực để quát, cuối cùng lại thành ra đau cả người, mặt cắt không còn giọt máu.

    Từ năm bảy tuổi để tang mẹ, ta đã không ngừng suy nghĩ trong suốt một khoảng thời gian rất dài, rốt cuộc con người ta sống trên đời là vì cái gì?

    Ta đã tận mắt chứng kiến nương ta treo cổ ở trên xà nhà, hai chân đung đưa trong không khí.

    Tiết Thủ Nhân hoảng sợ, cũng từng khóc lóc thảm thiết, quyết tâm ăn năn hối cải.

    Nhưng mà hối cải chưa tới một năm, ông ta lại chui đầu vào sòng bạc.

    Nói đến chuyện bán vợ buôn con, ông ta trước nay chưa từng thừa nhận.

    Có lẽ trong lòng ông ta nghĩ ta hẳn phải biết ơn ông ta mới đúng, bởi vì khi ấy ông ta vẫn chưa hoàn toàn quên mất mình còn có một đứa con gái, lúc cược thắng sẽ mua cho ta cái màn thầu, lúc cược thua cũng biết đi mót chút cơm thừa canh cặn mang về.

    Con người khi còn nhỏ yếu đa phần không có lựa chọn, thường xuyên cảm thấy hoang mang.

    Sau đó ta dần lớn lên, xong rồi còn tới Bùi gia, bỗng nhiên lại có thể tự mình suy nghĩ cẩn thận.

    Thế gian đầy rẫy khổ đau, có thể sống sót đã là may mắn cực hạn rồi.

    May mắn như vậy mà còn hỏi mục đích sống là gì, đúng là quá đạo đức giả.

    Sống tất nhiên là vì để sống cho thật tốt.

    Chẳng hạn như Đại Lang, muốn đọc sách, muốn chiều là kẻ nông phu, sáng lên thiên tử đường.

    Chẳng hạn như ta, muốn an cư lạc nghiệp, sống không lo âu phiền muộn.

    Tuy nhiên, trên cái thế gian muôn hình vạn trạng này, chỉ có còn sống mới có hi vọng, mới có đường để đi tiếp.

    Đại Lang không có cái cơ hội ấy, nhưng ta thì có.



    Sau khi trở về Bùi gia, ta nằm bò trên giường tròn một tháng.

    Trong khoảng thời gian đấy, Bùi Tiểu Đào vừa khóc khóc mếu mếu vừa vụng về làm theo sự chỉ huy của ta.

    Sau đó, ngay cả khi thái mẫu tè dầm, cô nhóc cũng có thể tung tăng chạy tới thay quần giúp bà.

    Thậm chí chuyện ấy còn khiến con bé rất có cảm giác thành tựu, mỗi lúc rảnh rỗi không việc gì làm đều chăm chăm nhìn thái mẫu.

    Thái mẫu: “Nhị Nha, sao con cứ nhìn ta thế, đừng có nhìn mãi như vậy, ta sợ.”

    “Thái mẫu, người khát rồi, uống nước đi.”

    “Ta không khát.”

    “Không, người khát.”



    Đến khi ta có thể miễn cưỡng xuống giường, những thứ ăn được trong nhà đều đã hết sạch, vườn rau trụi lủi, lu gạo thấy đáy, chuồng gà trống trơn.

    Hai con gà đẻ trứng ta vất vả nuôi đều đã bị Bùi Tiểu Đào xách sang nhà quả phụ Ngô hàng xóm, nhờ người ta làm thịt giúp.

    Quả phụ Ngô khi ấy còn trợn mắt mỉa mai: “Đã là lúc nào rồi mà còn ăn gà.”

    Bùi Tiểu Đào cực kỳ đắc chí: “Trong nhà còn một con nữa, hai ngày tới con lại qua tìm thím, thím đừng thèm quá, phao câu để lại cho thím hết đấy…”

    Quả phụ Ngô: …

    Ngô Thúy Liễu là một quả phụ trẻ tuổi mới chỉ có ngoài hai mươi, miệng hay nói lời độc địa nhưng thật ra lại rất tốt bụng. Lúc ta nằm không dậy nổi, tỷ ấy còn từng tiếp tế chúng ta, hai lần tặng bánh nướng lớn và cháo trắng.

    Nhưng cũng chính là tỷ ấy khuyến khích Tiểu Đào, nói chị gái con bé Bùi Mai là thiếu nãi nãi nhà lý trưởng Chu, nhà ta hiện giờ sắp hết sạch cái ăn rồi, Tiểu Đào có thể tìm tỷ tỷ mượn chút ngân lượng.

    Không biết Bùi Tiểu Đào nghĩ thế nào mà thật sự gạt ta lặn lội mười mấy dặm đường, hỏi thăm nhà họ Chu ở thôn Tây Ba.

    Đêm đó, con bé ủ rũ, thất vọng trở về.

    Cô nhóc nhỏ ngồi xổm trên mặt đất, vừa lau nước mắt vừa nói: “Tẩu tử, Bùi Mai thực sự là tỷ tỷ của muội sao, có phải lúc sinh tỷ ấy nương muội đã bất cẩn đánh rơi xuống hố phân không, phân lừa trông sáng sủa, nhưng kỳ thực vẫn chỉ là phân lừa.”

    Sau đó ta mới biết, lúc Tiểu Đào tới nơi, Bùi Mai vẫn ra vẻ một thiếu nãi nãi điệu bộ giàu sang, đầu tiên là giả vờ giả vịt chiêu đãi cô nhóc một ít điểm tâm, xong rồi mới nói vài câu bóng gió.

    Tiểu Đào tuổi còn nhỏ nên nghe không hiểu nàng ta quanh co lòng vòng, chỉ biết phấn khích vùi đầu ăn điểm tâm với con gái bốn tuổi Quyên Nương của nàng ta. Những gì Bùi Mai nói, một câu Tiểu Đào cũng không nghe lọt.

    Bùi Mai nói như nước đổ đầu vịt, dần dần mất sạch kiên nhẫn, tức giận vỗ bàn một cái…

    “Ăn ăn ăn! Chỉ biết ăn! Nhìn cái tướng nghèo kiết hủ lậu của mày kìa, tao nói mày nghe có hiểu không hả, tao bảo là không thể nào giữ mày và thái mẫu được, các người nghĩ cũng đừng có nghĩ!

    “Tiền nhà họ Bùi để lại một văn tao cũng không lấy, ai cầm thì mày tự đi tìm người đấy đi. Mày nói với cái con ả Tiết Ngọc kia, đừng có làm bộ làm tịch diễn kịch với lão cha ả, diễn xong rồi còn muốn dọn quầy quăng bọn mày sang chỗ tao, mơ đi nhá!”

    Bùi Mai hung dữ mắng xong một trận, thấy Tiểu Đào trợn mắt há hốc mồm nhìn mình, con gái Quyên Nương cũng bị dọa cho phát khóc thì liền bảo nha hoàn bế con đi dỗ dành, sau đó bỗng dưng thay đổi một khuôn mặt khác, lấy khăn tay che miệng ho nhẹ một tiếng, ôn tồn nhỏ nhẹ cất lời: “Đào này, muội còn nhỏ tuổi, không hiểu lòng người hiểm ác. Tỷ tỷ làm như vậy cũng chỉ là muốn tốt cho muội thôi, muội và thái mẫu nhất định phải ở lại Bùi gia, nếu không ả Tiết Ngọc kia có khi còn hủy cả nhà của chúng ta luôn ấy chứ.”

    Mặc dù Tiểu Đào khóc lóc trở về, nhưng đêm ấy vẫn móc được từ trong ngực ra khá là nhiều loại điểm tâm.

    “Tỷ ấy cứ nói, còn muội cứ lấy, dù sao cũng không thể phí công đi một chuyến được.”

    Thái mẫu bên cạnh liên tục gật gù: “Nhị Nha đúng là có tiền đồ.”

    Tiểu Đào được khen, tâm trạng tức khắc vui sướng: “Lần sau con lại đi tiếp, mang cả thái mẫu đi luôn.”

    “Được, chúng ta đều phải có tiền đồ.”

    “Chúng ta nhất định phải có tiền đồ!”

    Ta: …

    Sau khi thương thế đã lành, ta quyết định ngày nào cũng đi bộ hai mươi dặm lên huyện, tìm ít việc để làm.

    Bùi Tiểu Đào ngoéo tay với ta, yêu cầu ta phải về nhà trước khi mặt trời lặn xuống, nếu không sẽ quẳng thái mẫu lại đi tìm ta.

    Lên trên huyện rồi mới biết, những tịnh quán trà lâu kia căn bản là không thiếu người, càng không thuê nữ tử vào làm việc.

    Chỉ những viên ngoại giàu có mới có ít việc lặt vặt trong nhà cần kiếm người làm. Quản sự của họ đứng hét trong hẻm Sư Tử, một đám lớn đàn bà phụ nữ nhao lên giành giật, đông đến không chen vào nổi.

    Ta lên huyện mấy ngày, mặt dày hỏi từng cửa tiệm một xem có việc gì đang cần người đỡ đần không.

    Cuối cùng, ta hỗ trợ nghiền thuốc mở một y quán hai ngày. Khi tiệm vải Kinh Vân dọn dẹp lại nhà kho, ta cũng đi theo bọn họ xếp vải một ngày.

    Chưởng quầy Tôn của tiệm vải này rất kỳ quái, trai tráng trẻ tuổi không cần, lại cứ nhất định phải bỏ tiền ra thuê mấy cô gái dọn kho.

    Có một cô nương cũng chung nghi vấn với ta, nhịn không được lên tiếng hỏi.

    Kết quả là chưởng quầy Tôn tủm tỉm cười nói: “Vải này trong tay cô chính là vải Phù Quang, mấy chục lượng bạc một cuộn, nơi đây còn có lụa dệt hoa và lụa tơ tằm thượng hạng, vô cùng đắt giá, những kẻ tay chân thô kệch đều không dám đụng vào đâu. Các cô cũng phải cẩn thận một chút, cứ từ từ mà dọn, cho dù người có bị rách thì vải cũng không thể bị rách được.”

    Mấy chục lượng bạc một cuộn, chắc là phải phủ doãn Thao Châu cùng các quan huyện và gia quyến mới mặc được.

    Ta líu lưỡi, sờ lên tấm vải qua lớp bọc, mơ hồ nhìn thấy những màu sắc sặc sỡ lấp lánh bên trong, trái tim nhịn không được mà đập loạn xạ.

    Nhưng rồi sau khi đã lĩnh tiền công, mua được vài cái màn thầu trên phố về nhà, ta cũng vứt béng mấy thứ Phù Quang dệt hoa gì gì đó ra sau đầu.

    “Tẩu tử, màn thầu còn nóng quá nè, thơm ngon thật đấy.”

    Bùi Tiểu Đào cong mắt, hồ hởi chia cho thái mẫu một cái màn thầu, xong rồi đưa lại toàn bộ bốn cái trong bao cho ta.

    Ta nhận lấy, bọc lại lần nữa rồi để lên bàn: “Ngày mai muội và thái mẫu đem hấp lại, mỗi người ăn nốt hai cái.”

    “Tẩu tử, sao tẩu không ăn?” Bùi Tiểu Đào bĩu môi, có vẻ rất không vui.

    Ta vỗ vỗ bụng: “Chưởng quầy ở tiệm vải đã lo bữa trưa cho bọn ta rồi. Ta ăn hết ba bát cơm lớn của ông ta, khiến ông ta đen sì mặt.”

    “Ngọc Nương, con đúng là có tiền đồ!”

    “Tẩu tử, tẩu đúng là có tiền đồ!”

    Tiểu Đào và thái mẫu nhất mực đồng thanh, giơ ngón tay cái lên, kiêu ngạo vì ta.

    Ta khiêm tốn xua tay: “Cũng bình thường thôi, lần sau có cơ hội con sẽ tranh thủ ăn bốn bát lớn.”

    Trước mắt bọn họ ta không thể biểu hiện ra, nhưng kỳ thực trong lòng cực kỳ sốt ruột.

    Tiền kiếm được quá ít, hiện tại ba chúng ta hoàn toàn là ăn bữa nay lo bữa mai.

    Khi Bùi Nhị Lang rời nhà đã nói, cứ cách hai tháng hắn sẽ gửi quân lương về một lần.

    Ta thật hổ thẹn với hắn. Lúc hắn ra đi, toàn bộ tiền bạc trên người đều để lại, còn hành lễ phó thác ta…

    “Tiểu muội và thái mẫu, đành phải làm phiền tẩu tẩu ở nhà chăm sóc.”

    Giọng nói của Nhị Lang vô cùng nghiêm trang nghiêm túc, từ trước đến nay hắn chưa gọi ta là tẩu tẩu bao giờ. Ta kích động đến đỏ mặt, gắng nén sự ngượng ngùng lại, cũng vô cùng nghiêm túc đáp lễ…

    “Nhất định không phụ sự gửi gắm của nhị thúc.”

    Kết quả thì sao, người ta vừa mới nhấc gót rời đi, ta đã chăm sóc muội muội và thái mẫu hắn tới mức uống gió Tây Bắc.

    Càng hổ thẹn trong lòng, ta lại càng thấy bất an, ngày hôm sau trời chưa sáng đã vội lên đường tới huyện.
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 3


    Hôm ấy ta xui xẻo, chẳng tìm được việc gì cả, mãi tới buổi trưa mới thấy một hiệu sách kiếm người chép sách.

    Chép hết mười tờ mới được trả một văn tiền, nhưng người ở hiệu sách nói yêu cầu không cao, chữ viết ngay ngắn là được.

    Lòng ta tức khắc rục rịch, biết rõ trong bụng chẳng có bao nhiêu chữ nghĩa, nhưng mà cuối cùng vẫn vào.

    Trong hiệu sách mười mấy người ngồi đen kịt, đều đang vùi đầu chép sách, chỉ có ta là vò đầu bứt tai liên tục.

    Ta đã quá xem trọng bản thân mình rồi. Tuy rằng Đại Lang từng dạy chữ cho ta, nhưng trên thực tế chữ ta xiêu xiêu vẹo vẹo, động tới một vài chữ khó ít dùng là chúng ta lại trơ mắt nhìn nhau, nó không quen ta, ta cũng không biết nó.

    Bên cạnh ta là một thanh niên mặc bộ áo vải màu nâu đang nghiêm túc chép lại sách. Ta nhịn không được, liếc nhìn về phía hắn. Chữ hắn cũng đẹp như chữ của Đại Lang, từng nét chữ tựa như nước chảy mây trôi, sôi nổi hiện trên trang giấy.

    Ta buồn bã nói…

    “Huynh viết chữ đẹp thật đấy.”

    Thanh niên nọ ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt đôi bên bất chợt giao nhau, mặt hắn đỏ lựng.

    Ta lúc này mới ý thức được mình đã quá mức đường đột, vội lên tiếng trước: “Xin lỗi nhé, ta nói bừa ấy mà. Ta chỉ định hỏi huynh một chút, chữ này có nghĩa gì vậy?”

    Ta chỉ lên một chữ trên sách mẫu. Thanh niên thoáng sửng sốt, sau đó nói: “Đây là chữ xung, hộc phi cử vạn lý, nhất phi xung hạo thương(1), ý là bay thẳng.”

    <i>(1) Hai câu thơ trong bài thơ “Tặng Vô Khiêu Kinh Châu” của Đỗ Chí (tể tướng nước Tần thời Chiến Quốc), nói về hoài bão. Dịch nghĩa: Thiên nga bay vạn dặm, bay thẳng đến trời xanh</i>.

    Giọng hắn ta thật trong trẻo, cũng rất dễ nghe, ta nhịn không được lại hỏi: “Ta thấy mọi người đều chép cùng một nội dung, sao hiệu sách lại cần sao chép nhiều như vậy?”

    Thanh niên nhìn quanh bốn phía, hạ giọng nói: “Đây là tập sách mới của Khang Vương điện hạ trong kinh, rất phổ biến ở kinh thành. Các châu phủ giờ đang tranh nhau biểu hiện, muốn gây ấn tượng trước mặt Khang Vương điện hạ, hiệu sách cũng chỉ là muốn làm bộ cho quận Thao Châu xem, kỳ thực không thể bán được nhiều bản như vậy.”

    “À à.” Ta yên tâm ngồi về chỗ, cười với hắn: “Đa tạ.”

    Thanh niên thư sinh da mặt mỏng, vội nói: “Cô nương không cần khách khí.”

    Ta sinh ra đúng là không phải để kiếm tiền theo cách này. Người khác hạ bút, loáng cái đã xong một quyển, còn ta vẫn đang căng da đầu lên chép trang thứ năm.

    Cuối cùng thực sự chịu không nổi nữa, bụng ta sôi lên sùng sục.

    Giữa hiệu sách yên tĩnh, tiếng bụng ta réo nghe rất rõ ràng. Ta xấu hổ không dám ngẩng mặt nhưng vẫn ra vẻ bình tĩnh, tiếp tục chép sách.

    Chẳng bao lâu sau, một bàn tay đã đột ngột xuất hiện cạnh ta, trên tay là một chiếc khăn sạch sẽ, bên trong có đặt một chiếc bánh hấp.

    Là thanh niên thư sinh kia.

    Ta ngẩng đầu nhìn hắn, hắn bất ngờ nói: “Nếu như cô nương không chê thì có thể ăn lót dạ một chút.”

    Khi đói cồn cào ruột gan thì ai chê gì cơ chứ.

    Mặt ta cũng hơi ửng hồng. Cuối cùng cơn đói đã chiến thắng nỗi ngượng nghịu, ta duỗi tay ra, cầm lấy chiếc bánh hắn đưa.

    “Cảm ơn huynh nhé, ta đói quá rồi, không khách sáo nữa đâu.”

    Ngày ấy, chưởng quầy hiệu sách nhìn mười tờ giấy ta miễn cưỡng chép xong, cực kỳ không tình nguyện mà cho ta một văn tiền.

    Mà ta, để kiếm được một văn tiền này, không chỉ có miệng run lên mà tay cũng run lẩy bẩy.

    Nửa tháng nữa, hẳn là Bùi nhị thúc sẽ gửi tiền về nhà.

    Hắn tham gia quân ngũ ở ngoài biên cương, là lính trung đẳng, một ngày được bảy mươi văn tiền, quân lương cả tháng là hai lượng mốt.

    Nghĩ đến đây, ta lại tới nha môn huyện, tìm được nha dịch Triệu đại thúc, mặt dày hỏi vay một quan tiền của thúc ấy.

    “Ta nể tình cha chồng cháu nên mới cho cháu mượn tiền, nhưng cháu nhớ phải trả đấy, ta sống cũng không dễ dàng, trong nhà còn một khuê nữ bị què chân nữa.”

    “Triệu thúc yên tâm, cháu nhất định sẽ trả, Tiết Ngọc là người thủ tín.”



    Hai mươi ngày sau, Bùi Nhị Lang cuối cùng cũng gửi về bốn lượng bạc.

    Lúc tiếp nhận bạc từ tay quân sai dịch trạm, ta suýt nữa rớt nước mắt.

    Ta mua một con gà quay cùng một miếng thịt nướng tương ở huyện, về nhà thái ra rồi bày lên đĩa. Lúc bỏ thịt vào trong miệng, Tiểu Đào òa khóc…

    “A a a, thơm quá! Lưỡi muội cũng thơm nức rồi! Cảm tạ nhị ca của muội! Cảm tạ mười tám đời tổ tông nhà huynh ấy!”



    Trong tay có tiền, ta không lên huyện tìm việc làm nữa mà mày mò cái cối xay nước cũ vứt chỏng chơ ở góc sân.

    Thớt đá ở trên được treo lên bởi giá đỡ, thớt đá ở dưới gắn với trục quay, chuyển động bằng sức nước, dùng để xay nhỏ ngũ cốc.

    Lúc trước khi thím Bùi còn tại thế, ta giúp thím đắp thảo dược lên đầu gối, từng nghe thím nhiều lần kể về tay nghề làm tào phớ của nhà họ Bùi.

    Ngâm đậu tương trong nước giếng, xay đậu thành dạng sệt, xát mạnh đến mức nghe tiếng lách tách, sau đó lại dùng rổ thưa và vải mịn lọc hai lần.

    Nổi lửa to khi bắc nồi rồi hạ lửa xuống đun liu riu, đến khi lớp nước bên trên kết tủa lại thì tắt lửa.

    Nấu chín thạch cao, nghiền thành dạng bột, trộn với nước rồi đổ vào vại sành cùng với nước đậu tương đã nấu xong…

    Trong hẻm Sư Tử ở phố Nam của huyện là một phố chợ với nhiều cửa hàng san sát, những người bán hàng rong nối dài đến tận cầu Châu, khiến cho nơi ấy trở nên vô cùng sầm uất.

    Ngày đó chép sách ở hiệu sách rồi đi mượn tiền Triệu đại thúc xong, ta khóc nức nở suốt dọc đường về Bùi gia.

    Một văn tiền kia kiếm được quá gượng gạo quá vất vả, áp lực kéo dài khiến ta không thể không hoài nghi bản thân, không biết có phải mình thực sự vô dụng hay không.

    Sau khi nảy ra ý định buôn bán ở hẻm Sư Tử, chuyện đầu tiên ta nghĩ tới chính là bán tào phớ.

    Bởi vì vật dụng cần thiết vẫn còn chất đống ở nhà họ Bùi, không thiếu một thứ gì cả, có thể lược bớt không ít phiền toái.

    Thím Bùi đã từng nói, làm tào phớ nhìn thì có vẻ đơn giản, nhưng muốn làm ra tào phớ trắng mịn cùng với nước dùng chuẩn vị thì phải để ý từng công đoạn một.

    Thời gian ngâm đậu dài hay ngắn còn phải phụ thuộc vào mùa, vại sành không thể dùng loại tráng men…

    Lần đầu tiên ta làm tào phớ, múc một vài lát vào bát, Bùi Tiểu Đào còn kích động hơn cả ta: “Tẩu tử! Tẩu tử! Tẩu thật là lợi hại, cái gì tẩu cũng biết làm!”

    Thế nhưng Bùi Tiểu Đào cũng chỉ kích động hai ngày. Thấy ta dậy xay đậu từ lúc trời còn chưa sáng, cô nhóc lại bất mãn mà lẩm bẩm…

    “Nhị ca gửi tiền về rồi, chỉ cần tiết kiệm một tí là có thể giải quyết cơm ăn áo mặc, sao tẩu cứ phải vất vả như vậy làm gì.”

    “Không thể nào dựa dẫm vào nhị ca muội mãi được. Thúc ấy tòng quân bên ngoài, phải dư dả chút mới tốt, cứ có tiền là gửi về thì gò bó lắm, làm cái gì cũng bất tiện.

    “Người sống trên đời này, ngoài giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc, còn phải biết tích cóp nữa, sống tốt một chút thì lòng mới có thể càng vững vàng, càng kiên định.”

    “Tẩu tử, tẩu muốn tích tiền làm gì?”

    “Có nhiều tiền rồi, ta sẽ đưa muội đi học, may quần áo mới cho muội và thái mẫu, ngày nào cũng cho hai người ăn gà quay và thịt nướng tương.”

    Ta đếm đếm trên ngón tay, nói với muội ấy: “Người đều hướng tới chỗ cao, lo xong những việc kia rồi, ta còn muốn để dành ít của hồi môn cho muội nữa.”

    “Sao lại phải để dành của hồi môn cho muội, sao tẩu không tự để dành của hồi môn cho mình?”

    “Ta đã gả chồng rồi mà, ta là tẩu tử của muội.”

    “Thế sao không để dành của hồi môn cho nhị ca? Nhị ca lớn tuổi hơn muội, hẳn là nên để cho huynh ấy trước mới đúng.”

    “… Với bản lĩnh của nhị ca muội, thúc ấy chắc là không cần chúng ta chuẩn bị của hồi môn cho đâu.”

    “Vì sao? Huynh ấy lợi hại lắm à?”

    “Lợi hại lắm. Ta cảm thấy thúc ấy nhất định sẽ trở nên vượt trội trong tương lai, có khi còn trở thành đại tướng quân ấy chứ.”

    Ta vừa xay đậu vừa trò chuyện cùng cô bé. Bùi Tiểu Đào như đang có chuyện suy tư, lại hỏi: “Thế còn muội thì sao? Tẩu cảm thấy tương lai muội có thể làm gì?”

    “Muội ấy à, nói không chừng có thể lên thiên tử đường, giống như Tần Lương Ngọc(2) hoặc Phùng Liêu(3) gì đó ý, làm một nữ quan.”

    <i>(2) Tần Lương Ngọc: Nữ tướng triều Minh, người phụ nữ duy nhất trong lịch sử Trung Quốc cổ đại được ghi vào phần tiểu sử của các tướng quân trong cuốn “Nhị thập tứ sử” và cũng là nữ tướng duy nhất được phong hầu nhờ những chiến công quân sự của mình.</i>

    <i>(3) Phùng Liêu: Nữ chính trị gia và nhà ngoại giao nổi tiếng thời Tây Hán, đồng thời cũng là nhà ngoại giao nữ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.</i>

    “Muội lợi hại như vậy á?”

    “Đúng, muội rất lợi hại, rất có tiền đồ.”

    Nói hươu nói vượn một hồi, đến chính ta cũng trở nên nghiêm túc: “Tới lúc đó muội có đại trạch riêng ở hoa kinh, cũng đừng quên đón tẩu tử đi hưởng phúc, để tẩu được dính chút hào quang của muội, có thể tìm bảy tám nha hoàn với hạ nhân hầu hạ mình.”

    “Muội tìm cho tẩu một trăm!”

    Bùi Tiểu Đào chạy tới giúp ta, tinh thần phấn chấn, mặt mày hớn hở: “Tẩu tử, mau tích tiền thôi.”

    Mấy ngày sau, lúc cảm thấy tay nghề mình đã tạm ổn, ta đặt hai bát tào phớ vào trong giỏ rồi ngồi xe lừa đến nhà Triệu đại thúc trên huyện.

    Ta trả lại tiền đã mượn, kể về ý tưởng mở quán của mình, rồi lại nhờ thúc ấy nếm thử tào phớ ta làm.

    Kết quả thúc ấy nói: “Tào phớ rất non, nhưng hương vị hơi kém chút, không thể so với tào phớ của cha chồng cháu được.”

    Ta sửng sốt, nghĩ mãi không ra mình đã làm sai ở đâu.

    Triệu đại thúc lại nói: “Hương vị của tào phớ Bùi thị chính tông tất nhiên là người khác không bắt chước được. Hay là cháu đi hỏi thử tiểu nhị làm ở cửa tiệm hồi ấy xem sao, không thì mở quán một năm là không làm nổi nữa đâu. Những người ở huyện Vân An phần lớn đều đã từng ăn tào phớ chỗ cha chồng cháu, khẩu vị kén chọn lắm. Tào phớ ở hẻm Sư Tử cũng không phải chưa ai bán, nhưng làm ăn đều không tốt. Một bát mì mười lăm văn, một bát tào phớ phải hai mươi văn, nếu hương vị còn tệ nữa thì mọi người thà ăn mì còn hơn.

    “Với giá đậu tương ở đây, bán rẻ thì không có lời, mà bán hai mươi văn một bát thì dĩ nhiên ăn phải ngon, đây mới là nguyên nhân khiến tiệm tào phớ nhà họ Bùi năm đó kinh doanh khấm khá.”

    Chưa ra khỏi cửa mà lòng ta đã chết lặng, nhưng ta không định bỏ cuộc.

    Ngày tiếp theo, ta dẫn Tiểu Đào tới nhà họ Chu ở thôn Tây Ba.

    Nếu nói trong huyện Vân An vẫn còn một người biết được công thức tào phớ của nhà họ Bùi, thì người ấy nhất định là Bùi Mai.

    Không ngờ kết quả lại là, chúng ta được mời uống canh bế môn, ngay mặt Bùi Mai cũng không nhìn thấy.

    Tiểu Đào thấy thế thì vừa bất bình vừa phẫn nộ: “Bủn xỉn! Bủn xỉn! Không phải chỉ là vài lần lấy mấy cái bánh của tỷ ấy thôi sao!”

    “… Vài lần? Không phải ta bảo muội đừng đến nữa à, muội vẫn đi lấy điểm tâm nhà họ hả?”

    “Ừm, muội đến lấy bánh rồi mang đi luôn, lần cuối cùng mẹ chồng tỷ ấy nhìn thấy, tẩu không biết mặt bà ấy trông khó coi tới mức nào đâu, muội còn rất hiểu chuyện mà hỏi thăm xem bà ấy có ốm đau gì không nữa.”

    “…”

    Vì hành vi ác liệt của Bùi Tiểu Đào, Bùi Mai không lộ diện nữa mà chỉ cử một nha hoàn mắt mọc trên tận đỉnh đầu ra ngoài, nàng ta nhìn chúng ta với vẻ ghê tởm…

    “Đừng có suốt ngày dán lên nãi nãi nhà chúng ta y hệt cao da chó thế, nãi nãi chúng ta nói, công thức gì đó nãi nãi không biết, mà có biết thì cũng sẽ không nói cho một người ngoài. Ai mà muốn làm ăn buôn bán với các người chứ? Nực cười chết mất. Có biết nãi nãi nhà chúng ta có thân phận thế nào không? Sau này đừng có tới nữa!”

    Nha hoàn vừa dứt lời, Bùi Tiểu Đào đã sốt sắng hỏi: “Ai chết cơ?”

    “Cái gì mà ai chết hở? Nhà ngươi nói bậy gì đó?” Nha hoàn hùng hổ vặn lại.

    “Không phải tỷ nói nực cười đến chết người à? Tại nhà của tỷ tỷ mình mà ta không thể hỏi thăm một chút hay sao? Còn nữa, tỷ đừng có dùng lỗ mũi trừng bọn ta nữa! Hai cái lỗ kia to quá! Ta sợ!”

    Bùi Tiểu Đào chỉ vào mũi nàng của nàng ta, thái độ còn hung hăng hơn.

    Ta túm lấy cổ áo Bùi Tiểu Đào lôi đi, con bé còn rất không cam lòng mà tiếp tục la lối: “Mũi tỷ hình như vẹo rồi đấy, nhớ tìm đại phu khám nhá, xấu hoắc…”

    Kế hoạch mở tiệm của ta tạm thời gác sang một bên. Tinh thần ta sa sút, người cũng theo đó mòn héo mấy ngày.

    Mãi đến hôm nay, khi khuê nữ của Triệu đại thúc là A Hương tới Bùi gia.

    Nàng ấy ngồi xe lừa từ huyện thành đến đây, còn mang cho chúng ta bánh vừng mua ở Ngũ Hương Trai nữa.

    Ta có hơi kinh ngạc, bởi vì nàng ấy đi lại bất tiện, là một người què.

    A Hương là một cô nương mi thanh mục tú, tính tình có chút trầm lặng. Ngày trước đến nhà Triệu đại thúc trả tiền, ta cũng từng gặp nàng ấy, nhưng mới chỉ gật đầu chào chứ chưa nói gì với nhau.

    Theo lời của Triệu đại thúc, từ khi nàng ấy ngã què chân trái năm mười một tuổi thì đã không ra ngoài nữa, cũng không thích giao thiệp cùng người khác.

    Ấy vậy mà hôm nay nàng ấy lại đến tận cửa, còn hỏi thẳng ta: “Những gì ngày đó cô nói với cha ta, ta đều đã nghe cả rồi. Cô muốn từ bỏ sao? Không định mở tiệm tào phớ nữa à?”

    Ta vội vàng xua tay, kể lại một lượt tình trạng trước mắt cho nàng ấy nghe.

    Nàng ấy nói: “Sao cô không hỏi Nhị Lang, có lẽ cô tỷ của cô thực sự là không biết đâu. Bùi bá bá là người làm ăn, vất vả kinh doanh nửa đời, công thức như thế cũng chỉ có thể truyền được cho con trai thôi, dù sao con gái tương lai cũng gả ra ngoài.”

    Ta sửng sốt, quả thực không hề nghĩ tới hướng này, song lại chần chừ nói: “Nhị thúc cũng chưa chắc đã biết, thúc ấy rời nhà từ sớm…”

    “Không hỏi thì sao biết được? Cô cứ hỏi thử đi.”

    A Hương dường như còn để ý tới chuyện này hơn ta, còn giục ta viết thư cho Nhị Lang ngay lập tức, để lúc quay trở lại huyện nàng ấy có thể thuận đường mang qua dịch trạm.

    Trước ánh mắt nóng bỏng của nàng ấy, ta đành phải đi lấy giấy bút tới.

    Nội dung ta viết đại ý là…

    Ta muốn kiếm việc gì đó làm trên huyện, nhưng làm tào phớ theo những gì thím từng nói thì hương vị lại chưa chuẩn, nếu nhị thúc biết cách làm cụ thể thì có thể chỉ điểm một chút được không.

    Đồng thời kèm theo công thức của loại tào phớ ta làm.

    A Hương nhìn rồi nhíu mày, nói chữ ta xấu thì thôi đi, nội dung cũng quá mức thẳng thắn rồi, giữa các hàng chữ chẳng có tí quan tâm của hai người nhà với nhau gì cả.

    Thế là nàng ấy bảo ta viết thêm một câu phía cuối…

    <i>Biên cương giá rét, nhị thúc nhất định phải bảo trọng thân thể, mong sớm bình an về nhà.</i>

    Ta viết thư xong, nàng ấy liền cầm đi.

    Lúc đầu ta vốn không hiểu tại sao nàng ấy lại nhiệt tình với việc này đến thế. Mãi tận khi ra cửa, nàng ấy mới nói: “Tiết Ngọc, ta và cô bằng tuổi, mẹ cũng mất sớm như nhau, hơn nữa ta còn què quặt.”

    Ta vẫn đang mù mờ thì lại nghe nàng ấy nói: “Cha ta muốn tìm cho ta một mối hôn sự thật tốt, nhưng ta biết, ta sao có thể kiếm người trong sạch được chứ, làm gì có nhi lang trong sạch nào lại sẵn sàng cưới một người què. Nhưng cha ta cứ không tin, ông ấy nói đã để dành được một trăm lượng làm của hồi môn cho ta, nhà chồng nghèo một chút cũng không sao, chỉ cần hôn phu đối xử tốt với ta là được.

    “Ông ấy đã nhiều tuổi mà còn ngây thơ như thế. Nhi lang nhà nghèo bằng lòng lấy một người què, sao có thể không phải vì một trăm lượng hồi môn kia?

    “Tiết Ngọc, nếu cô muốn bán tào phớ, ta có thể trực tiếp mang của hồi môn ra giúp cô mở cửa tiệm. Cô tạm thời đừng từ chối, ta không có mục đích khác, cũng chẳng mong đợi gì nhiều. Ta không có lòng tham, chỉ muốn có một lối đi cho chính mình. Ta không muốn gả cho những tên đàn ông mắng ta là con què chết bầm sau lưng.”
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 4


    Ta cảm thấy A Hương hơi xem trọng ta.

    Thư đã gửi đi một tháng, sắp sửa lại tới ngày Bùi Nhị Lang gửi quân lương về, nhưng vẫn chẳng thấy có động tĩnh gì.

    Ta nhịn không được mà nghĩ, mọi người coi ta là quả tẩu của nhà họ Bùi, nhưng trong mắt Bùi Nhị Lang, ta hẳn chỉ là một người ngoài mà thôi.

    Dù sao cũng ký cả thư phóng thê rồi.

    Đã là người ngoài, sao có thể nói công thức tào phớ quan trọng như vậy cho ta biết được.

    Song Bùi Tiểu Đào thì lại không cho là thế. Cô nhóc xoa eo, ngẩng đầu, hai cái lỗ mũi nhỏ hếch lên ngay trước mắt ta: “Tẩu tử, tẩu sai rồi, nhị ca ta tương lai sẽ làm đại tướng quân, ta tương lai cũng sẽ làm nữ quan, Bùi gia chúng ta sẽ có đại trạch riêng ở hoa kinh, sẽ có một trăm người hầu hạ, sẽ lên thiên tử đường, ai còn về đây bán tào phớ chứ. Cho nên cái công thức gì đó kia, căn bản là không quan trọng!”

    Ta: …

    Ngay khi ta bắt đầu từ bỏ, chuẩn bị buôn bán nhỏ lẻ gì đấy, thư của Bùi Nhị Lang lại được gửi về cùng bốn lượng bạc.

    Ta thật không ngờ chữ hắn lại đẹp đến vậy, bút lực khỏe khoắn, nét chữ cứng cáp.

    Càng không ngờ hắn lại thực sự tiết lộ công thức cho ta.

    Tào phớ Bùi gia thơm ngon, thứ nhất là vì nước dùng, thứ hai là vì dầu tam hợp.

    Trước khi học làm tào phớ, cha Bùi từng là một người bán dầu dạo.

    Tào phớ của người khác, trước khi bưng lên bàn sẽ nhỏ thêm vài giọt dầu vừng vào bát.

    Mà dầu của Bùi gia không chỉ có dầu vừng mà còn pha thêm cả mỡ gà và mỡ lợn, ba loại nguyên liệu điều chế với nhau theo một công thức bí mật.

    Bùi Nhị Lang viết công thức chế dầu tam hợp cho ta.

    Hắn còn nói cho ta biết, nước dùng bỏ thêm lòng gà, hương vị sẽ càng đặc biệt.

    Hốc mắt ta hơi nóng lên. Hắn quả thực tín nhiệm ta, đối xử với ta như tẩu tẩu ruột.

    Từ khi nhận được lá thư kia của hắn, mọi việc ta làm bỗng nhiên vô cùng suôn sẻ.

    Đầu tiên, ta đã tìm được một cửa tiệm với mặt tiền rất hợp ý ở cuối hẻm Sư Tử trên con phố Nam của huyện, ngay gần ngã rẽ tới chân cầu Châu.

    Cửa tiệm không rộng rãi lắm, lúc trước nó chỉ là một quán rượu nhỏ với một lối vào phía trước nối với hậu viện đằng sau.

    Tiền sảnh có bàn ghế và quầy gỗ để tính tiền, hậu viện có đầy đủ giếng nước và bệ bếp. Ngoài bếp ra, gian phía Đông còn có cả chỗ chứa đồ linh tinh.

    Sở dĩ ta thích nơi này là bởi vì trên lầu hai có hai gian phòng ở.

    Cầu thang nằm gọn ở một góc của hậu viện, lầu hai đón sáng rất tốt, cửa sổ hướng ra hẻm Sư Tử, có thể nhìn thấy cả cầu Châu náo nhiệt gần đấy.

    Trước khi A Hương đề nghị mở hẳn cửa tiệm, ta vốn chỉ định làm một quầy nhỏ mà thôi.

    Nhưng nếu đã có lựa chọn tốt hơn, ai lại muốn đi đi về về bốn mươi dặm đường, đẩy xe lên huyện bày hàng cơ chứ.

    Mặc dù ta có ít tiền trong tay, có thể thuê được xe lừa, có thể chịu khó thức khuya dậy sớm thì vẫn không thể để mắt đến thái mẫu và Tiểu Đào ở nhà được.

    Bây giờ thì tốt rồi, tất cả chúng ta có thể dọn đến cửa tiệm trên huyện.

    Khai trương cái cửa tiệm này, gần như đã xài hết tất cả tiền hồi môn của A Hương.

    Lúc đầu ta vẫn có hơi dè dặt, sợ sẽ mất tiền, nhưng A Hương lại chẳng sợ gì cả. Nàng ấy nói rất bình thản: “Sợ cái gì, cha ta đã bảo hương vị không khác trước kia là mấy, tào phớ nhà họ Bùi, còn sợ không bán được ư?”

    Nàng ấy nói đúng. Sau hai năm, chúng ta đã thu hồi được toàn bộ vốn.

    Cửa tiệm chỉ mở buổi sáng, bởi vì qua trưa một tí là đã hết sạch hàng rồi.

    Bên trong không đủ chỗ ngồi, chúng ta còn bày thêm mấy bàn ngoài đường, ngày nào cũng đầy ắp khách.

    Nhờ có Triệu đại thúc nên dù chúng ta bày hàng bán ở trên đường, các bộ khoái nha môn đi tuần ngoài phố cũng nhắm một mắt mở một mắt.

    Việc nhiều quá lo không xuể, A Hương đành phải khập khiễng đến hỗ trợ ta dọn dẹp.

    Triệu đại thúc lo con gái bị bắt nạt nên hễ không có việc gì là lại mặc quan phục nha dịch, đi đi lại lại quanh hẻm Sư Tử.

    Bùi Tiểu Đào cũng đi theo đỡ đần chúng ta. Thái mẫu rảnh rỗi, thường run rẩy ngồi trước cửa tiệm phơi nắng, thấy ai cũng hỏi…

    “Ăn không?”

    Năm thứ hai sau khi cửa tiệm hồi vốn, ta tìm một trường tư thục, gửi Bùi Tiểu Đào đến học.

    Năm thứ ba, ngoại trừ chi tiêu hàng ngày, ta còn dành ra được năm mươi lạng bạc.

    Chẳng ai tin một cửa tiệm tào phớ nhỏ bé có thể kiếm được nhiều tiền như thế.

    Trên thực tế, từ rất lâu trước kia, ta đã viết thư gửi Bùi nhị thúc, bảo hắn không cần gửi tiền về nữa.

    Chớp mắt đã qua ba năm. Trong ba năm này, chúng ta vẫn luôn thư từ qua lại.

    Ban đầu là ta nói với hắn, cửa tiệm đã bắt đầu có lợi nhuận rồi, hắn ở trong quân cũng cần chi tiêu, đừng có làm khổ chính mình.

    Thư gửi đi, hắn không trả lời, cũng không gửi thêm tiền về nhà nữa.

    Bùi Nhị Lang chính là con người như vậy, sự xa cách của hắn đã khảm vào trong xương cốt.

    Khi quá bận bịu làm ăn, ta cũng chẳng suy nghĩ được gì nhiều. Thế rồi một hôm, vị quân sai truyền tin ở dịch trạm kia tình cờ đi ngang cửa tiệm tào phớ của ta, trông thấy ta thì thuận miệng hỏi một câu: “Tiết nương tử, cô có muốn gửi đồ ấm như bao đầu gối áo lông cừu gì đấy không? Bên kia chuẩn bị đánh giặc rồi, trời rét lắm, hai ngày nữa là bọn ta sẽ xuất phát, muốn gửi thì đưa nhanh nhé.”

    Huyện Vân An thuộc quận Thao Châu, thường ngày tin tức tương đối nhanh nhạy. Ta hỏi thăm thì mới biết, bắt đầu từ đầu năm nay, các bộ lạc du mục như Tái Bắc, Man Kim, Thiết Lặc… đã không ngừng khiêu khích, quấy nhiễu lãnh thổ Đại Sở.

    Mới đầu chỉ là những trận đánh nhỏ, Đại Sở vừa mới xuất binh là đã biến mất không thấy tăm hơi đâu nữa.

    Thế nhưng cách đây không lâu, chúng đã liên kết với nhau, đánh qua biên giới phía Bắc, chiếm được huyện Võ Tì ở Bình Thành, tàn sát cả mấy trăm người.

    Thiên tử giận dữ, hạ lệnh xuất binh.

    Mấy ngày ấy, ta không rảnh rỗi được một khắc nào. Ta mua một ít lông cừu và vải vóc, khâu áo xuyên đêm.

    Hành quân đánh trận phải mặc áo giáp bên ngoài, để tiện hành động thì áo trong không thể quá dày, lại còn phải thật ấm nữa.

    Bùi Nhị Lang cao khoảng chừng tám thước, thân hình cân đối. Ta may áo dựa theo khổ người của hắn, sau lưng và trước ngực khâu thêm một lớp lông cừu rất dày.

    Lông cừu hướng vào trong người, hẳn sẽ ấm áp hơn nhiều.

    Sau khi làm xong cả bao đầu gối và áo khoác ngoài, kịp thời đưa tới dịch trạm, ta mới thở phào nhẹ nhõm.

    Trận chiến ngoài biên ải kéo dài gần ba năm.

    Quân sai ở dịch trạm nói, quân doanh có phát áo ấm, chỉ có điều cầm đến tay kích cỡ thường không vừa vặn, lớp bông bên trong không dày, chỉ có thể miễn cưỡng dùng để chống rét.

    Những binh lính nhà có điều kiện thì gia đình thường gửi cho áo trong bằng lông cừu. Lông cừu ấm hơn quần áo mùa đông rất nhiều, nếu nhận được thứ này ở quân doanh thì sẽ khiến vô số người hâm mộ.

    Cho dù nhà không có điều kiện thì chỉ cần có người thân, vẫn sẽ luôn nhận được bao đầu gối và áo khoác.

    Quân sai nói, mùa đông hàng năm, dịch trạm của họ chuyển đi nhiều nhất chính là bao đầu gối và áo khoác.

    Ta nghe vậy, không khỏi có chút ngạc nhiên: “Năm nào cũng gửi?”

    “Đúng rồi, cô không biết đó chứ, biên cảnh lạnh thấu xương, gió đông quật qua người chẳng khác nào dao cứa, có thể cứa vào cả da thịt trong quần áo luôn, ấy là còn chưa kể bọn người man tộc đang liều mạng xâm chiếm lãnh thổ của chúng ta, đánh trận vào mùa đông đúng là khó khăn nhất đấy.”

    Ta nhíu mày, không nói gì.

    Bùi nhị thúc tòng quân từ thời niên thiếu, đến nay đã được bảy năm, mà từ khi ta tới nhà họ Bùi, chưa bao giờ thấy thím gửi quần áo cho hắn.

    Nghĩ đến đây, trong lòng ta không khỏi thở dài một tiếng.

    Năm thứ hai, khi đã bắt đầu dư dả một tí, ta may cho hắn một cái áo lông cừu càng ấm càng tốt hơn trước, lại làm thêm một bộ bao đầu gối, bên trong cũng đính một lớp lông dày.

    Năm thứ ba vẫn vậy.

    Những lúc gửi quần áo, ta thường kèm thêm một phong thư nhà…

    <i>Thái mẫu thân thể khoẻ mạnh, Tiểu Đào đã học trường tư, cửa tiệm làm ăn phát đạt, trong nhà hết thảy đều tốt, nhị thúc xin đừng lo lắng, mong sớm bình an về nhà</i>.

    <i>Trong nhà hết thảy đều tốt, thái mẫu ăn uống ngon miệng, chỉ có Tiểu Đào học hành không chăm chỉ lắm. Cửa tiệm tào phớ làm ăn ngày càng thuận lợi, láng giềng đều nói rất giống tay nghề của Bùi đại bá năm đó. Chúng ta hiện tại còn bán thêm canh lòng gà, mười lăm văn tiền một bát, bên trong có miến, còn cho được cả bánh bao vụn vào, mùa đông ăn một bát thì ấm bụng lắm, khi nào nhị thúc trở về có thể nếm thử xem. Mong sớm bình an về nhà</i>.

    <i>Trong nhà hết thảy đều tốt. Ta thường dẫn thái mẫu lên cầu dạo bộ, chỉ có Tiểu Đào là khó quản giáo, đã trốn học còn đánh nhau với bạn cùng lớp, nhị thúc về nhà nhớ dạy bảo lại con bé. Mong sớm bình an về nhà</i>.

    Biên quan chiến sự căng thẳng, ta vốn không mong nhận được hồi âm của Bùi Nhị Lang. Vậy mà năm thứ hai từ lúc gửi thư, dịch trạm đã đưa thư của hắn về.

    Thật sự là chữ viết của hắn, trên thư chỉ có đúng một chữ “tốt”.

    Năm thứ ba, vẫn là một chữ “tốt”.

    Vì Bùi Nhị Lang nên ta rất để tâm tới tình hình chiến sự ở ngoài biên cảnh, thường xuyên nhờ Triệu đại thúc hỏi thăm tin tức từ nha môn.

    Năm thứ ba, cuộc chiến cuối cùng cũng kết thúc, Đại Sở chiến thắng tuyệt đối, người man tộc bị đuổi đi, triều đình thiết lập Hổ Khẩu ở biên giới phía Bắc.

    Thánh Thượng long nhan vui mừng, hạ lệnh khao thưởng ba quân, luận công ban thưởng.

    Mùa đông năm ấy, ta vẫn mua vải lông cừu tốt nhất như thường lệ. Áo lông cừu của Bùi Nhị Lang còn chưa may xong, đã nghe được tin quân lính biên ải hồi kinh, đặc biệt là còn được về thăm người nhà.

    Mấy ngày sau đó, Bùi Nhị Lang trở lại.

    Hắn không về nhà một mình mà còn mang theo tám chín binh tướng, đều mặc áo giáp quân trang như nhau, cưỡi chiến mã khỏe mạnh, oai phong lẫm liệt.

    Từ cổng Tây ngoại ô vào thành, từ phố huyện đến hẻm Sư Tử, tiếng vó ngựa vang dội suốt dọc đường, khiến cho người người chú ý, tranh nhau nghị luận sôi nổi.

    Buổi trưa, nắng trời ấm áp.

    Trong hẻm Sư Tử ở phố Nam, cửa tiệm đương lúc đông khách, A Hương múc tào phớ cho mọi người, ta bận rộn bưng ra bàn.

    Đúng lúc vừa đặt hai bát tào phớ xuống một cái bàn ngoài đường, ta chợt nghe tiếng vó ngựa từ xa vọng tới, càng lúc càng gần.

    Ta nhìn theo những tiếng vang nọ, chợt thấy đám người phía trước hối hả tránh sang hai bên, nhường đường cho một tốp binh lính cưỡi ngựa.

    Con ngựa dẫn đầu tung vó lên trời rồi thong thả dừng bước. Nam tử ngồi cao trên lưng ngựa, sừng sững dưới ánh mặt trời, vận một bộ áo giáp đen, áo giáp bóng loáng phản quang chói lóa làm cho người ta không mở nổi mắt.

    Đến khi ta nhìn rõ rồi mới trông thấy được đôi mày kiếm xếch đĩnh đạc, cặp mắt hẹp dài sắc bén, đôi môi mỏng hơi mím lại cùng quai hàm nghiêm nghị của hắn. Cặp mắt nâu thẫm ấy đang nhìn ta, sâu thẳm mà an tĩnh.

    Ánh mắt chúng ta chạm nhau, một lúc lâu sau, ta mới choàng bừng tỉnh.

    Bùi Nhị Lang đã khác trước quá nhiều.

    Ba năm rưỡi đã trôi qua. Lúc hắn đi, trên người chỉ có chút khí chất ngang tàn của tuổi trẻ, hiện tại trở về, dáng vẻ càng lãnh đạm, ngoài ngang tàn và nghiêm cẩn ra thì còn có hơi thở của mác vàng máu sắt, còn có sự sắc sảo và thâm trầm của một nam nhân đã thành niên.

    Ngoài ra, còn có cả sự khốc liệt và khí thế chấn động được tích lũy qua nhiều năm chinh chiến và giết chóc.

    Trong cặp mắt lạnh như băng kia là đôi đồng tử sâu hoắm, khiến người ta chỉ nhìn một lần đã không dám đối diện nữa, âm thầm kinh hoảng trong lòng.

    Hắn xuống ngựa, thân cao tám thước, dáng tựa cây trúc, bội kiếm đeo bên hông, tiến về phía ta, bước chân thấp mà vang vọng.

    Không đợi hắn mở miệng, ta đã hoảng hốt gọi một tiếng: “Nhị… nhị thúc.”

    “Ừ.”

    Lúc trước là giọng ta nhẹ, còn giọng hắn trầm.

    Giờ tình thế hình như đã đảo ngược, giọng của ta rất trầm, trầm đến mức chính ta cũng nghĩ chắc hắn sẽ không nghe thấy.

    Vậy mà hắn vẫn nghe thấy, lại còn nhẹ nhàng trả lời một tiếng.

    Tựa như một tiếng cười rất khẽ khàng.

    Ta không biết có phải mình nghe lầm không nên hơi ngạc nhiên nhìn hắn, kết quả là trông thấy hắn thực sự đang cong môi, trong đôi mắt thâm sâu lóe lên vài tia sáng nhạt vụn vỡ.

    Ta lại càng chắc chắn, tiếng “ừ” mới nãy của hắn là một tiếng cười.

    Điều này khiến ta càng thêm ngẩn ngơ, sững sờ chôn chân tại chỗ.

    “Tẩu tẩu! Đây chắc hẳn là tẩu tẩu nhà chúng ta rồi.”

    Đến tận khi những người theo sau hắn cũng xuống ngựa, một đám đàn ông cao lớn thô kệch mặc giáp vui vẻ lễ phép chắp tay chào ta thì ta mới lần nữa hoàn hồn trở lại, vội vàng đáp lễ với họ…

    “Các vị quân gia không cần đa lễ, dân phụ tổn thọ mất.”

    “Không không không, tẩu tẩu mới không cần đa lễ, chúng ta thẹn không dám nhận.”

    “Tẩu tẩu đừng ngại, nếu không phải nhờ lá thư kia của tẩu thì mấy người chúng ta sao có phúc tới quận Thao Châu này ăn tào phớ và canh lòng gà chứ. Lời hứa của tướng quân đáng giá ngàn vàng, chúng ta thật sự mặt dày đến đây, mong tẩu tẩu đừng để ý.”

    Ta bị bọn họ nói tới mức đầu xoay mòng mòng, tuy vẫn chưa rõ cụ thể là chuyện ra sao nhưng nghe đã hiểu bọn họ muốn đến ăn tào phớ và canh lòng gà, thế là liền vội vã quay người vào cửa tiệm, vừa đi vừa nói lớn…

    “Không bán nữa không bán nữa, ngại quá các vị hàng xóm, ngày khác Tiết Ngọc sẽ bồi tội với mọi người sau, hôm nay nhị thúc nhà ta trở về, còn dẫn theo những đại hán mới đánh giặc ở biên giới Đại Sở chúng ta, xin mọi người hôm sau lại đến ăn, hôm nay không thu tiền nữa.”
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 5


    Tào phớ nóng hổi chan nước dùng, cho thêm ít giấm, rắc hành lá và tôm nõn lên trên, cuối cùng là dầu tam hợp.

    Canh lòng gà phủ một lớp mỡ vàng sóng sánh, thơm nức mũi.

    Đã gần tới mùa đông mà trong cửa tiệm vẫn nóng hầm hập, lính quân đội rất có sức ăn, trước mặt mỗi người đều chồng tận mấy cái bát.

    A Hương cũng rất phấn khởi, thấy bọn họ ăn ngon miệng như thế thì che môi cười, sau đó lại múc tào phớ cho họ.

    Bọn họ vừa ăn vừa cười cười nói nói, bảo tướng quân không nói dóc, tào phớ này quả thực thơm ngon tuyệt đỉnh.

    Họ còn kể về trận chiến kéo dài ba năm ở biên ải, thời tiết khắc nghiệt, bọn man tộc mọi rợ quỷ kế đa đoan, nhưng bọn họ vẫn đánh thắng, gần như giết sạch bọn mọi rợ kia, đuổi chúng ra ngoài Hổ Khẩu.

    Nói đến đây, không hiểu sao họ lại đột nhiên ngưng cười, bầu không khí thoáng chốc trầm mặc, tất cả cúi đầu xuống ăn tào phớ, chẳng có ai ngẩng đầu lên.

    Cuối cùng, một tiểu tướng trẻ tuổi đứng dậy, lau mặt, cười gượng với ta, đôi mắt còn hoe hoe đỏ: “Tẩu tẩu, có còn tào phớ không, bưng thêm mấy bát ra đi, chúng ta còn rất nhiều người không về được, lúc trước đã hẹn là sẽ cùng nhau ăn rồi.”



    Những binh tướng Bùi Nhị Lang dẫn về đây hơn nửa sẽ tiếp tục theo hướng Kinh Châu về nhà. Sau khi đã ăn no rồi, bọn họ vội vàng từ biệt.

    Chỉ có bốn người là lưu lại huyện Vân An, trong số đó có vị tiểu tướng trẻ họ Hàn nọ.

    Bùi Nhị Lang nói, bốn người này đều là những kẻ lang bạt, trong nhà đã chẳng còn ai, dù cho Thánh Thượng đặc biệt cho phép họ về nhà thăm người thân thì bọn họ cũng chẳng có chỗ nào đi cả, vậy nên đều ở nơi này với hắn.

    Ta nói: “Lúc có tin tức cho binh lính về thăm thân ta đã bớt chút thời gian quay về thôn Đại Miếu rồi. Hiện tại nhà cửa đã được thu dọn sạch sẽ, thúc giữ họ ở lại nhà mình đi, ta và Tiểu Đào, thái mẫu đã sớm dọn qua cửa tiệm này rồi, trong nhà hẳn là đủ chỗ cho bọn họ ngủ.”

    Bùi Nhị Lang “ừ” một tiếng: “Ta biết, yên tâm, cho dù không có chỗ ở thì bọn họ cũng không để mình chịu thiệt đâu.”

    Mấy ngày sau đó, khi bốn người kia cùng nhau xuất hiện tại một nơi buôn son bán phấn trong hẻm Sư Tử, ta mới run môi, bất chợt hiểu ra ý tứ trong lời hắn nói.

    Vì chân thái mẫu không tiện trèo cao nên gian phòng chứa đồ linh tinh ở sau hậu viện đã sớm được thu dọn cho bà ở.

    Còn hai căn phòng trên lầu hai thuộc về ta và Tiểu Đào, mỗi người một căn.

    Từ năm ngoái thái mẫu đã trở bệnh suốt một thời gian dài, còn ta thì trời chưa sáng đã bận tối tăm mặt mũi. Tiểu Đào phải học rất nhiều, nhưng vì muốn giảm bớt gánh nặng cho ta nên đã chủ động nhận nhiệm vụ chăm nom thái mẫu, dọn xuống dưới ngủ cùng bà.

    Căn phòng bỏ trống ở lầu hai liền bị ta chất một vài vật dụng ít dùng, những khi nhàn rỗi ta cũng thỉnh thoảng may vá bên ấy.

    Ta vốn không định để Bùi Nhị Lang ở lại cửa tiệm, bởi vì hai căn phòng trên lầu kia quá sát nhau, cực kỳ bất tiện.

    Nhưng hình như hắn cũng không định ở lại nhà cũ trong thôn Đại Miếu.

    Ngày đấy hắn đưa bốn thuộc hạ tới thôn Đại Miếu, lúc gần ra cửa còn nói với ta: “Ta đi một lát rồi về.”

    Ta thoáng sửng sốt, đi một lát rồi về là ý gì? Chẳng lẽ hắn không ở bên ấy ư?

    Xong rồi ta lại nghĩ, hắn vội vã trở về nhà, còn chưa chính thức bái kiến thái mẫu, cũng chưa thấy mặt Tiểu Đào, hẳn là muốn quay lại gặp người thân.

    Thế nên ta cũng không để ý nữa.

    Hắn quay trở lại cũng vừa lúc Tiểu Đào mới từ trường tư thục về, cô nhóc hưng phấn vọt vào cửa tiệm, nhảy nhót quanh hắn: “Nhị ca! Nhị ca! Nghe nói giờ huynh đã là đại tướng quân rồi, tẩu tử quả nhiên là không lừa muội, từ lâu tẩu ấy đã bảo là huynh rất lợi hại, chắc chắn sẽ trở thành đại tướng quân!”

    Ta đang dọn dẹp bàn ghế, bất thình lình nghe câu ấy thì liền liếc nhìn Bùi Nhị Lang theo phản xạ, kết quả lại phát hiện là hắn cũng đang nhìn ta.

    Trong nháy mắt, động tác của ta trở nên hoảng loạn.

    Còn hắn thì lại hoàn toàn ngược lại, vẫn cứ bình thản ung dung như lúc gặp ta ban trưa, đôi môi mỏng hơi cong lên, tạo thành một nụ cười nhàn nhạt.

    Song Tiểu Đào chẳng mừng vui được bao lâu. Bùi Nhị Lang hỏi cô nhóc về bài tập về nhà, còn kiểm tra cái gì mà kinh sử tử tập(1) với bát cổ văn(2) này nọ.

    <i>(1) Kinh, sử, tử, tập: Cách phân loại sách vở thời cổ đại, bao gồm kinh điển (sách Nho gia), lịch sử, chư tử (triết học, tôn giáo) và văn tập (văn thơ).</i>

    <i>(2) Bát cổ văn: Một thể loại văn biền ngẫu tám vế, được quy định là phần thi bắt buộc trong khoa cử triều Minh – Thanh của Trung Quốc và triều Nguyễn của Việt Nam.</i>

    Tiểu Đào lắp ba lắp bắp trả lời, cẩn thận nhìn hắn với một vẻ mặt đau khổ: “Nhị ca, sao huynh lại biết mấy thứ này vậy, chẳng lẽ ở trong quân cũng phải đọc sách ạ?”

    “Đấy là đương nhiên, các học giả trong doanh đều được gửi tới chỗ quân sư giảng bài, nếu không ai cũng mù chữ thì sao có thể xem hiểu binh thư với bản đồ quốc phòng được.”

    Giọng Bùi Nhị Lang vừa lạnh lẽo vừa trầm thấp mà bén nhọn, có vẻ rất không vừa lòng với câu trả lời của Tiểu Đào.

    Nhưng Tiểu Đào vẫn là đứa trẻ thông minh, không đợi hắn mở miệng răn dạy đã cười ngọt xớt: “Nhị ca đi đường vất vả rồi, mau lên nhà nghỉ ngơi đi ạ, quần áo cũng phải thay ra giặt nữa, bẩn hết cả rồi.”

    Nói xong, cô nhóc liền tiến tới cầm tay hắn lấy lòng, dẫn hắn về phía cầu thang ở hậu viện.

    Ta bỗng nhiên thót tim, vội vàng đuổi theo bọn họ: “Ấy… nhị thúc cũng muốn ở lại cửa tiệm sao?”

    Bùi Tiểu Đào quay đầu nhìn ta: “Không thì sao ạ, trên lầu chẳng phải có phòng trống ư?”

    Bùi Nhị Lang cũng quay đầu nhìn ta: “Tẩu tẩu không chuẩn bị chỗ ở cho ta à?”

    Mặt hắn vừa lạnh lùng vừa mỏi mệt, giọng nói cũng vừa lạnh lùng vừa mỏi mệt, trong tiếng nói trầm đục còn lộ ra chút không hài lòng, khiến ta càng thêm căng thẳng: “Sao có thể chứ, ta đã chuẩn bị rồi, chỉ là ta tưởng nhị thúc muốn ở cùng hội Hàn tiểu tướng.”

    Sắc mặt Bùi Nhị Lang lúc này mới hơi giãn ra, hắn mở miệng nói: “Theo bọn họ làm gì nữa, đã về nhà dĩ nhiên là muốn ở cùng người nhà.”

    Ta sững sờ, cảm giác như hắn tựa hồ không còn là Bùi Nhị Lang rời nhà ba năm trước nữa, nhưng lại cảm thấy thế này mới đúng là hắn.

    Hắn rốt cuộc là người như thế nào, sao mà ta biết được chứ, chúng ta vốn đâu có tiếp xúc nhiều với nhau.

    Song ta vẫn hơi chột dạ, trên căn phòng không người kia ngay chăn đệm cũng chưa có, chỉ có một giỏ kim chỉ để trên một cái bàn nhỏ, cực kỳ lộn xộn.

    Thế là ta căng da đầu tiến lên, nói với Tiểu Đào: “Đi đi đi, muội ra kia dọn bàn giúp ta đi.”

    Tiểu Đào sảng khoái nhận lời, tựa như đã muốn chuồn đi lâu rồi.

    Còn ta thì lòng rốt loạn, bước chân yếu ớt, đầu óc mụ mị, dẫn hắn lên chính căn phòng mà mình đang ở.

    Cũng may là phòng này rất sạch sẽ, mọi thứ ngăn nắp gọn gàng, chăn đệm đều mới giặt xong, cửa sổ cũng được mở ra cho thoáng khí.

    Mặc dù như vậy nhưng vào phòng vẫn có thể ngửi thấy hương hoa quế thoang thoảng, trên chăn còn thêu toàn hoa mẫu đơn đỏ rực, rèm giường cũng là màu đỏ.

    Nhìn qua vừa hân hoan vừa dung tục.

    Ta ngượng ngùng nói: “Trong nhà đều là nữ quyến, cho nên cũng bài trí theo kiểu mà chúng ta thích…”

    “Không sao.”

    Bùi Nhị Lang không để ý lắm. Hắn gỡ kiếm bên hông xuống, để lên bàn, sau đó bắt đầu cởi áo giáp trên người.

    Ta vội bước lên đón lấy, định bụng lát nữa sẽ mang xuống giặt.

    Bên trong hắn mặc một cái áo lông cừu màu xanh lá sẫm, phần cổ cũng đính một lớp lông dày, đề phòng gió lọt vào cổ.

    Không phải đồ mới, chính là thứ năm ngoái ta may cho hắn.

    Ta chỉ xuống đôi ủng quân đội của hắn: “Ủng cũng cởi ra đi, để ta mang ra ngoài phơi. Nhị thúc tạm nghỉ ngơi đã, tối đun nước xong tắm sau cũng được. Ta đang may dở áo mới cho thúc, chỉ cần khâu viền nữa thôi, một lát nữa ta làm nốt, thúc đi tắm xong thì thay là vừa.”

    Bùi Nhị Lang “ừm” một tiếng. Ta một tay cầm áo giáp, một tay xách ủng của hắn, lại hỏi: “Nhị thúc lần này có thể ở nhà bao lâu?”

    “Khoảng hơn một tháng.”

    “Sau đó phải quay về biên quan sao?”

    “Không về nữa, ta sẽ tới nhậm chức ở doanh trại tại hoa kinh Trường An.”

    Ta nhịn không được mà líu lưỡi, doanh trại tại hoa kinh Trường An, nằm ngay dưới chân thiên tử, con người này thật sự thăng chức quá là nhanh mà.

    “Tốt quá rồi, ta vẫn nghe nói kinh thành phồn hoa, ai nấy đều mặc gấm vóc tơ lụa, tấm biển Thừa Thiên Môn làm bằng vàng ròng, trên núi Tam Trùng có một ngôi tháp cổ, đứng tại đó có thể nhìn thấy tất cả châu quận của Đại Sở chúng ta.”

    “Đợi khi nào sắp xếp xong, ta sẽ đón mọi người qua đấy.” Bùi Nhị Lang khẽ cười một tiếng, tâm trạng có vẻ không tệ.

    Ta ngạc nhiên, lặp lại những lời này trong đầu một lần nữa, lòng lại thở dài khe khẽ.

    Muốn đón cũng là đón Tiểu Đào và thái mẫu, còn ta thì thôi đi. Nếu ta vẫn là quả tẩu của hắn thì tất nhiên cũng có thể đi theo hưởng phúc, nhưng ta không định thủ quả cả đời ở nhà họ Bùi.

    Duyên phận giữa người với người vốn đã được định sẵn rồi.

    Ban đầu tất cả mong mỏi của ta chỉ là ăn no mặc ấm, có thể cùng Tiểu Đào và thái mẫu an cư lạc nghiệp. Bây giờ tất cả đã thành hiện thực, ta cũng bước sang đầu hai.

    Tới tuổi này rồi, suy nghĩ không thể nào không khác trước, dù sao cũng phải tính toán cho nửa đời sau của mình.

    Ta bắt đầu có ý định muốn lấy chồng, bởi vì thực ra, ta đã gặp được một người rất tốt.

    Đó là một tú tài họ Trần, là tiên sinh dạy học ở trường tư thục của Tiểu Đào.

    Nói đến cũng thấy trùng hợp, năm ấy chép sách ở hiệu sách, người đưa ta một cái bánh hấp cũng chính là Trần tú tài kia.

    Cha mẹ hắn qua đời sớm, trong nhà chỉ còn mình hắn, hắn lại một lòng hướng tới thi cử công danh, đến nay vẫn chưa thu xếp được chuyện gia đình.

    Ta nhớ rõ ân tình trong cái bánh nọ, lại thương cảm nhà hắn không có một ai nên thường làm ít thức ăn, bảo Tiểu Đào mang cho hắn.

    Hai năm trước hắn thi rớt một lần, nản lòng thoái chí, ta ở cửa tiệm bưng cho hắn một bát tào phớ, cổ vũ hắn ba năm sau đi thi lại.

    Lúc ấy tú tài rầu rĩ hỏi ta: “Cô cảm thấy ta thực sự có thể thi đậu sao? Ngay cả thi hương mà ta cũng không qua nổi.”

    “Có thể chứ, đâu phải là không còn cơ hội nữa, những tú tài ngoài bốn mươi vẫn còn nghĩ tới chuyện đậu cử nhân nữa là. Huynh còn trẻ tuổi, học vấn lại tốt, nhất định sẽ thi đậu thôi.”

    “Thật ra hôm đó thi hương ta cảm thấy không khỏe lắm, cả người rét lạnh, ta vốn cứ nghĩ là mình có thể thi qua chứ.” Mắt của tú tài đỏ lên.

    Ta nói: “Đúng vậy, cho nên dù bận đọc sách cũng phải ăn cơm đầy đủ, những gì thuộc về huynh cuối cùng vẫn sẽ là của huynh thôi.”

    “Ngọc Nương, ta sẽ cố gắng, lần sau ta nhất định có thể thi đậu cử nhân. Nếu ta thi đậu, cô… cô có thể… nhìn ta một cái hay không?”

    “Nhìn huynh làm gì?”

    “Ta… ta muốn cưới cô làm nương tử, nhưng mà hiện giờ chưa được, nhà ta chỉ vỏn vẹn bốn vách tường…”

    “Nhưng ta là quả phụ mà.”

    “Ta không để ý đâu, Ngọc Nương, ta thật sự không để ý, ta cảm thấy cô tốt cho nên mới muốn cưới cô, không liên quan gì tới chuyện cô có phải là quả phụ hay không cả.”

    Tú tài gấp gáp giải thích, cả khuôn mặt lẫnh đôi tai đều đỏ rực. Ta nhịn không được, cười bảo: “Được rồi, nói chuyện này làm gì, huynh bây giờ nên tập trung vào việc thi cử mới đúng, đợi huynh đậu xong hẵng nói.”

    Ta đối với vị tú tài này, kỳ thực ấn tượng không tồi.
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 6


    Từ khi Bùi Nhị Lang trở về, cửa tiệm tào phớ vốn đã đông khách lại càng trở nên náo nhiệt.

    Đầu tiên là huyện lệnh lão gia tự mình đến ăn tào phớ, sau đó phủ doãn Thao Châu cũng ngồi xe ngựa tới.

    Nhờ vậy mà ta mới biết, trong cuộc chiến ngoài biên ải, Bùi giáo úy ban đầu phụng mệnh lĩnh một ngàn binh mã qua núi Lộc sông Hồn để nội ứng ngoại hợp với Trấn Bắc đại tướng quân, giành lại huyện Võ Tì trong tay người Hồ.

    Sau đó, hắn lại xuất quân công phá hậu phương của địch, bắt sống mấy ngàn người già, phụ nữ và trẻ em người Hồ.

    Lúc ấy, có người đề nghị giữ lại tù binh để áp chế giặc Hồ.

    Kết quả là Bùi giáo úy chỉ thờ ơ đáp: “Không cần thiết.”

    Mấy ngàn phụ nữ và trẻ em bị tàn sát, thiêu cháy toàn bộ.

    Khi hắn hạ lệnh, ai nấy đều nói Bùi giáo úy thủ đoạn tàn nhẫn, máu lạnh vô tình.

    Tin tức truyền tới hoa kinh, có những quan văn lòng đầy căm phẫn, hành động như thế thì có khác đám mọi rợ man tộc đâu?

    Đương kim thiên tử là một minh quân, vốn có tấm lòng nhân từ, mà Đại Sở đối xử với tù binh luôn là chiêu hàng chứ không giết, huống chi phụ nữ trẻ em.

    Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, thanh danh Bùi giáo úy đã vang dội với vô số lời khen chê không thống nhất.

    Mãi tới khi chiến dịch kết thúc, Trấn Bắc tướng quân và Bình Tây lão vương gia trở về kinh thành, thấy danh sách phong thưởng của thiên tử chỉ không có mỗi Bùi giáo úy chiếm phần lớn chiến công thì không khỏi nhắc nhở Hoàng Đế, lúc trước Bình Thành thất thủ, bá tánh huyện Võ Tì bị đồ sát, tất cả chỉ bởi những người lính ở biên giới phía Bắc đã thương hại một đứa bé man tộc, khiến nó có cơ hội hạ độc vào trong nguồn nước.

    Nhân từ trên chiến trường chính là đưa cả bụng lẫn lưng cho địch chém. Ai có thể đảm bảo trong mấy ngàn phụ nữ và trẻ em kia, không có kẻ nào lòng dạ khó lường cơ chứ?

    Không ai có thể hiểu rõ sự giảo hoạt và ngoan độc của mọi rợ Hồ hơn những người trở về từ biên quan như họ.

    Bình Tây lão vương gia nói Hoàng Đế đứng ở vị trí thiên tử, đương nhiên nên gánh vác trách nhiệm của một thiên tử.

    Hoàng Đế áy náy trong lòng, lập tức hạ chỉ sắc phong Bùi giáo úy làm Võ Vệ tướng quân, còn ban thưởng rất phóng khoáng.

    Sau đó khi tuyên Bùi tướng quân lên điện, Hoàng Đế còn định cho hắn nhiều thể diện hơn, muốn phong cáo mệnh cho một vị nữ quyến trong nhà.

    Nữ quyến của Bùi gia, ngoài thái mẫu đã cao tuổi thì cũng chỉ còn một vị quả tẩu.

    Quả tẩu kia lo liệu việc nhà, hiếu thuận với thái mẫu, nuôi dạy tiểu cô, vừa thủ tiết vừa hiểu lễ nghĩa, cũng coi như một tấm gương tốt.

    Thiên tử bừng bừng hứng chí, nhưng Bùi Nhị Lang lại cự tuyệt.

    Hắn đã cự tuyệt…

    Cự tuyệt…

    Song cũng nghe nói, Hoàng Đế hỏi Bùi tướng quân, đều từ biên ải trở về, những người khác trẫm đã phong thưởng hết, chỉ mãi không triệu ngươi vào yết kiến, ngươi có suy tính gì không?

    Bùi tướng quân nói: “Có, thần định cởi giáp, về quê nhà bán tào phớ.”

    Hoàng Đế nghẹn họng, bởi vì ông ta bỗng nhiên cảm thấy, Bùi Nhị Lang dù giọng điệu hờ hững nhưng sắc mặt lại có chút nghiêm túc, có vẻ như hắn thực sự không mấy bận tâm đến chuyện phong thưởng.

    Võ quan tam phẩm từ kinh thành về hiển nhiên vô cùng có giá.

    Từ sau khi trở về nhà, Bùi Nhị Lang không lúc nào là nhàn rỗi. Rượu của quan huyện lệnh có thể không uống, nhưng phủ doãn tam phẩm và phủ đài nhị phẩm thì không thể không nể mặt.

    Hơn nữa nhìn vào thái độ của họ, ta cảm thấy đường công danh của Bùi Nhị Lang mai sau sẽ cực kỳ rộng mở.

    Suy đoán này tất nhiên là chính xác, bởi vì sau đấy, mấy người Hàn tiểu tướng tới cửa tiệm ăn tào phớ còn tiết lộ cho ta biết, Trấn Bắc tướng quân Phùng Kế Nho rất coi trọng Bùi Nhị Lang, có ý định tuyển hắn làm con rể.

    Nhà họ Phùng ở hoa kinh vốn là hoàng thân quốc thích, trâm anh thế tộc chân chính.

    Tướng quân Phùng Kế Nho không chỉ là anh trai ruột của Phùng quý phi trong cung mà còn là cữu cữu ruột của Khang Vương điện hạ.

    Đồng thời cũng là cháu trai nhà mẹ đẻ của đương kim Thái Hậu.

    Phùng gia có ba vị tiểu thư chưa xuất giá, mà Phùng tướng quân lại cố ý hứa gả con gái vợ cả cho Bùi Nhị Lang, ý tứ trong đó, không cần phải nói cũng biết.

    Bùi tướng quân sắp một bước lên mây rồi.

    Ta nghe vậy, nhịn không được mà hỏi Hàn tiểu tướng: “Thế vị Phùng tiểu thư kia là người như thế nào?”

    “Thế gia tiểu thư, đương nhiên là rất tốt rồi. Chỉ có điều, nghe nói người ta là con gái của vợ cả nên bị người nhà chiều tới mức hơi phách lối, tâm cao khí ngạo.”

    Hàn tiểu tướng nói xong, đôi mắt đảo quanh bốn phía một hồi rồi mới khẽ nói với ta: “Nhưng tẩu tẩu cứ yên tâm, ở trước mặt tướng quân nhà chúng ta cô ta không thể kiêu căng được đâu. Lần đầu tiên tướng quân đến nhà họ Phùng, Phùng tiểu thư nghe nói cha muốn gả mình cho hắn thì định ra oai phủ đầu với tướng quân, bỡn cợt tướng quân một phen, nào ngờ tướng quân của chúng ta căn bản không để ý tới cô ta, còn Phùng tiểu thư thấy tướng quân thì lại ngây ngẩn cả người, từ đó về sau cũng rất ít ra khỏi cửa, nghe nói là đang ở nhà thêu hoa, tu dưỡng tính tình.”

    Hàn tiểu tướng vẻ mặt đắc chí, ta cũng gật gà gật gù: “Nhị thúc nhà ta xuất thân bần hàn, tuy xứng với quý nữ thế gia nhưng chỉ sợ vẫn bị người ta khinh rẻ, được vậy thì tốt quá rồi.”

    “Sao có thể chứ, huynh ấy chính là Bùi Ý, người đã dẫn một ngàn binh mã đánh qua núi Lộc sông Hồn, tự mình ra lệnh tàn sát mấy ngàn phụ nữ trẻ em man tộc một cách vô cùng quyết đoán. Dũng khí như thế, ai dám coi thường chứ?”

    Phái nữ chung quy vẫn là phái nữ, cho dù biết quyết định xử lý phụ nữ và trẻ em là chính xác nhưng nghe thấy Hàn tiểu tướng nhắc lại thì ngực ta vẫn khó chịu, trong lòng giá buốt.

    Nhị thúc nhà họ Bùi, quả thực là một người tàn nhẫn.

    Tuy nhiên, dù cho hắn có hơi tàn nhẫn chút thì vẫn là nhị thúc của Bùi gia, trước khi chính thức thành hôn, những chuyện nên lo liệu vẫn cần quả tẩu là ta thu xếp.

    Chẳng hạn như lần này hắn trở về, ngoài bộ áo lông cừu và áo giáp trên người kia thì chẳng còn quần áo nào khác cả.

    Khí hậu biên cương rét mướt, nhưng thời tiết ở kinh đô và Thao Châu thì lại không lạnh như vậy, buổi sớm mặc áo lông cừu còn được, chứ tới buổi trưa thì hơi nóng quá.

    Huống chi hắn hiện giờ còn phải tham dự yến tiệc của phủ đài đại nhân.

    Thế là ta liền dành ít thời gian tới tiệm vải, chọn mấy cuộn vải thật tốt, định may hai bộ áo bào dài cho hắn.

    Trước giờ ta đều lựa chọn dựa theo cảm tính của mình, nhưng nay hắn đã trở lại, ta cũng phải hỏi ý kiến hắn một chút.

    Ta chờ một mạch tới khuya, trong lúc đang chong nến may túi da dê màu đen thì chợt nghe tiếng vang truyền tới từ hậu viện, sau đó là tiếng Tiểu Đào cất giọng nói: “Nhị ca, huynh lại uống rượu rồi.”

    “Ừ.” Bùi Nhị Lang hời hợt đáp.

    Tiếp theo là tiếng bước chân càng lúc càng gần. Bên căn phòng sát vách, cửa phòng bị đẩy ra.

    Ta bỏ kim chỉ xuống, đứng dậy, đi qua bên ấy hỏi hắn.

    “Nhị thúc, chiều nay ta đã qua tiệm vải mua mấy cuộn vải, định may áo bào cho thúc. Ta muốn lấy vải xanh lục làm áo bào cổ tròn tay bó, còn cuộn xanh đen màu sắc tối hơn một tí, hợp làm áo bào cổ dài, ống tay áo may kiểu có thể quấn lại, sau đó dùng vải lụa màu lục làm viền tay và viền cổ, thúc thấy thế nào? Nếu thúc không thích thì ta sẽ đi mua hai cuộn màu khác…”

    Ánh nên trong phòng lay động, Bùi Nhị Lang đang trông ra cửa sổ bất chợt quay đầu nhìn ta, mày kiếm khẽ nhếch, trong giọng nói trầm thấp là chút ý cười dịu hòa…

    “Cô tự quyết định là được.”

    Nhị Lang nhà họ Bùi, tính tình lãnh đạm, sắc mặt cũng lãnh đạm.

    Lần này hắn trở về, tuy càng có vẻ lãnh đạm hơn những lần trước, nhưng ta lại cảm thấy hắn gần gũi với người nhà hơn rất nhiều, ít nhất là khuôn mặt không phải lúc nào cũng lạnh tanh, thỉnh thoảng trong mắt sẽ thoáng ý cười.

    Ta gật đầu, dù đứng cách hắn một khoảng nhưng vẫn ngửi thấy mùi rượu trong phòng, thế nên lại nói: “Nhị thúc uống rượu à? Để ta xuống lầu đun ít trà đường cho thúc, thúc ngồi nghỉ đi.”



    Ta nổi lửa dưới phòng bếp. Trà đường nấu không khó, chẳng mấy chốc đã xong.

    Nhưng khi ta để trà vào khay rồi bưng lên trên lầu, lại chẳng thấy Bùi Nhị Lang đâu cả.

    Ta đặt trà đường xuống bàn, quay về phòng ngủ của mình.

    Quả nhiên, Bùi Nhị Lang đang ở gian phòng sát vách.

    Giữa ánh nến vàng tù mù, hắn đĩnh đạc đứng nơi ấy, cúi đầu nhìn mấy cuộn vải cùng giỏ kim chỉ trên bàn của ta.

    “Nhị thúc, ta nấu trà đường xong rồi, để ở bàn bên kia đó.”

    “Ừ.” Hắn đáp, nhưng lại không hề rời đi.

    Trong lúc ta đang nghi hoặc, hắn bỗng nhiên cười nói: “Chẳng phải là may quần áo à, không định đo kích cỡ một chút sao?”

    Ta sực tỉnh táo lại, “à” một tiếng rồi lấy thước đo trong giỏ ra.

    Bùi Nhị Lang vẫn đang mặc chiếc áo lông cừu mà ta mới may cho hắn. Áo thuần một màu xanh lam, khiến hắn trông càng cao ráo, rắn rỏi như ngọc.

    Hắn vững vàng đứng đó, hai tay dang rộng. Ánh nến hắt lên từng góc cạnh rõ ràng trên khuôn mặt hắn, soi tỏ mày kiếm thẳng tắp.

    Ta cầm cây thước gỗ dài, có hơi chần chừ: “Cái áo thúc đang mặc không vừa người sao?”

    “Ừ, có hơi chật.”

    “Chật à? Thế để ta nới eo ra một chút.”

    “Cứ đo hết đi, phần vai và lưng cũng chật.”

    Giọng nói của Bùi Nhị Lang trầm khàn và rất có sức thuyết phục, gần như không cho phép người ta phản bác, có lẽ là thành quả của nhiều năm tòng quân.

    Thế nên ta chỉ đành tiến lên phía trước một bước, bỏ cây thước gỗ trong tay mình xuống: “Nhị thúc thứ lỗi, phần eo thì để ta lấy tay đo nhé, sẽ chuẩn hơn dùng thước một chút.”

    “Ừ, làm phiền rồi.”

    Ta đứng ở trước mặt hắn, vươn tay ra. Hắn sinh ra đã cao to, khiến ta trông càng có vẻ nhỏ gầy trước ánh nến.

    Đỉnh đầu ta còn không chạm tới cằm hắn, chỉ có thể so được ngang vai hắn.

    Mà hắn lại là người tập võ, dáng vẻ uy nghiêm dũng mãnh, chỉ cần một bên bả vai cũng đủ che hết mặt ta.

    Khi đã đến đủ gần, ta đặt tay lên eo hắn, đo từng tấc một, tuy vẻ mặt rất nghiêm túc nhưng hình bóng ở trên tường lại trông như cả người ta đang dán sát vào lồ ng ngực hắn, đôi bên quấn quít lấy nhau.

    Bùi Nhị Lang dáng vóc cường tráng nhưng vòng eo lại săn chắc, mùi rượu trên người cùng hơi thở lạnh giá của hắn quyện lại với nhau, khiến trái tim ta run rẩy.

    Thế nên động tác của ta vừa khẽ khàng vừa mau lẹ, ngón tay chạm hờ trên eo của hắn, hết một vòng liền rụt về.

    Khi đang ghi nhớ kích cỡ ước lượng trong đầu thì ta chợt nghe hắn gọi: “Tiết Ngọc.”

    “Hả?”

    Ta ngẩng đầu nhìn hắn, vẫn đang đứng trước mặt hắn, khoảng cách rất gần, gần đến mức ta có thể trông rõ từng biểu cảm nhỏ nhặt khi hắn cúi xuống nhìn ta.

    Mái tóc đen thẳm như mực, hàng mày xa xăm như núi, đôi mắt dưới bờ mi dài như đang chất chứa vô vàn phiền muộn và áp lực, che giấu một loại tâm sự không thể cho người khác biết.

    Hắn hơi mím môi, đầu óc vừa mới ghi nhớ kích cỡ của ta nhất thời trở nên trống rỗng, đáy lòng run rẩy, cảm giác như mình có vẻ đã bỏ lỡ điều gì đó.

    Ánh mắt đôi bên giao nhau, vẻ mặt của ta vừa hoang mang vừa lúng túng.

    Hắn nói với giọng khàn khàn: “Vai lưng còn chưa đo kìa.”

    Khi đã hồi phục tinh thần, ta mới phát hiện tay mình vẫn đang run rẩy, sau lưng còn đổ một lớp mồ hôi mỏng.

    Ánh mắt vừa rồi của hắn, có chút khác với Bùi nhị thúc thường ngày.

    Nó sắc bén đến cực điểm, tựa như cặp mắt lóe sáng của một con sói trong bóng tối.

    Quả không hổ là Bùi tướng quân thủ đoạn tàn ác, giết người như ngóe trên chiến trường mà người ta vẫn đồn đại, chỉ cần mỗi ánh mắt thôi là đã khiến cho kẻ khác sợ phát run trong lòng rồi.

    Ta có hơi sợ hắn.

    Khi đã bình ổn tâm trạng để đo vai và lưng cho hắn, ta liền tìm một đề tài để nói chuyện, tránh cho bầu không khí trở nên quá mức quái dị.

    “Nhị thúc, ngày thúc và mấy người Hàn tiểu tướng trở về, chuyện lá thư mọi người nói là thế nào vậy, sao lại bảo không vì lá thư kia thì không biết có phúc tới quận Thao Châu ăn tào phớ hay không?”

    Bùi Nhị Lang im lặng, một hồi lâu sau mới chầm chậm nói: “Khi lên kế hoạch đánh chiếm huyện Võ Tì, chúng ta đã phái một đội nhân mã đi đường vòng qua sông Hồn. Lúc ấy tiết trời giá rét, tuyết đã rơi mấy ngày liền, không ngờ giữa đường lại đụng phải một đoàn người Thiết Lặc đang hạ trại. Địch nhiều ta ít, nếu đánh thì khả năng thắng là rất thấp, hơn nữa còn trì hoãn viện quan trọng, vậy nên ta dẫn bọn họ trốn vào núi Lộc.

    “Đám người Thiết Lặc hạ trại ba ngày, chúng ta cũng chịu rét ở núi Lộc ba ngày. Trời quá lạnh, đêm đầu tiên đã chết mất mười mấy người, hôm sau là mấy trăm người. Ngày thứ ba, ta nói với bọn họ, nhà họ Bùi chúng ta mở một cửa tiệm tào phớ ở huyện Vân An quận Thao Châu, nếu như bọn họ sống sót thì sau này ta sẽ dẫn họ đi ăn tào phớ và canh lòng gà.

    “Bọn họ không tin, bảo là giáo úy nói xạo, vừa lúc trên người ta có thư cô gửi cho ta, liền lấy ra đọc cho họ nghe, mọi người khi ấy mới tin tưởng hẳn.

    “<i>Trong nhà hết thảy đều tốt, thái mẫu ăn uống ngon miệng, chỉ có Tiểu Đào học hành không chăm chỉ lắm. Cửa tiệm tào phớ làm ăn ngày càng thuận lợi, láng giềng đều nói rất giống tay nghề của Bùi đại bá năm đó. Chúng ta hiện tại còn bán thêm canh lòng gà, mười lăm văn tiền một bát, bên trong có miến, còn cho được cả bánh bao vụn</i> vào, mùa đông ăn một bát thì ấm bụng lắm, khi nào nhị thúc trở về có thể nếm thử xem. Mong sớm bình an <i>về nhà</i>.”

    Bùi Nhị Lang đọc lại toàn bộ nội dung bức thư, không sót một chữ. Dưới ánh nến màu vàng nhạt, khuôn mặt hắn vừa ôn hòa lại vừa có vẻ đau xót, giọng nói rất chậm rãi và nhẹ nhàng. Cuối cùng, hắn còn khẽ cười một tiếng.

    Ta đột nhiên có cảm giác hơi chua xót, nhịn không được mà siết tay, nói với hắn: “Nhị thúc, hành quân đánh trận khó tránh khỏi gặp phải nhiều chuyện bất ngờ nảy sinh, cũng đâu còn cách nào khác.”

    “Không, có cách đấy.”

    Bùi Nhị Lang nhìn ta, đôi mắt đầy ẩn ý: “Chúng ta có ngựa, nếu làm thịt ngựa lót dạ hoặc uống mấy bát máu ngựa, sẽ không bị chết nhiều người như vậy.

    “Chỉ có điều nếu làm thế thì tức là trì hoãn quân lệnh, gi3t chết chiến mã càng là trọng tội. Cho nên giữa quân lệnh và trách nhiệm, ta đã chọn vứt bỏ họ.”

    “Chuyện này không phải thúc sai, trong những hoàn cảnh như thế, đâu ai biết lựa chọn nào mới là chính xác. Giết một con ngựa dễ thôi, nhưng cho dù có làm vậy thì cũng chưa chắc tất cả mọi người đều có thể sống sót. Nhị thúc, ta tin mỗi lựa chọn thúc đưa ra đều đã cân nhắc kỹ càng.”

    Quân lệnh như sơn, xưa nay vẫn luôn là vậy.

    Nhưng hình như những lời an ủi của ta cũng chẳng có tác dụng gì với hắn. Hắn lẳng lặng nhìn ta, khóe môi cong lên thành một nụ cười châm chọc: “Phải, hạ lệnh tàn sát mấy ngàn phụ nữ và trẻ em, cũng là đã cân nhắc kỹ càng rồi.”

    “… Tuy rằng như thế rất tàn nhẫn, bọn họ cũng rất đáng thương, nhưng lỗi không phải tại thúc.”

    “Thế thì là lỗi tại ai?”

    “Lỗi tại họ là người Hồ, chúng ta là người Hán, lỗi tại họ sinh ra nơi hoang dã, chúng ta sinh cùng cảnh xuân, lỗi tại họ muốn giết chóc và cướp bóc, còn chúng ta muốn bảo vệ quốc gia của mình, lỗi tại họ muốn ăn no mặc ấm, chúng ta cũng muốn cấy cày làm ruộng.”

    Phụ nữ trời sinh đã có chút cảm tính và nhu nhược. Khi nói, giọng ta cũng không tránh khỏi hơi nghẹn ngào: “Nếu đã định là kết thúc bằng chém giết thì hà cớ gì phải phân rõ đúng sai, nếu như thúc sai thì những gì người khác làm cũng không thể coi là đúng. Đâu có ai là thần tiên trên trời, sao có thể kín kẽ không một khe hở mãi chứ, gáo gỗ dùng lâu thì vẫn sẽ rạn nứt mà.”

    Mặc dù nói vậy nhưng dù sao cũng là mấy ngàn mạng người. Ta nói một hồi, mắt đã nóng lên, vô dụng lau lau nước mắt.
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 7


    Bùi Nhị Lang lẳng lặng nhìn ta, đôi mắt vẫn thẳm sâu như thế nhưng không hiểu sao lại có vẻ ôn hòa hơn trước rất nhiều, giọng nói cũng mềm mại hơn: “Được rồi, khóc cái gì. Không nói chuyện này nữa. Hôm nay ở trong phủ của phủ đài đại nhân ta đã gặp Từ huyện lệnh.”

    Bàn tay đang lau nước mắt của ta khựng lại. Ta nhìn hắn, có hơi nghi hoặc: “Rồi sao?”

    “Rồi ta nghe nói, năm đó cô xách theo một con dao phay, kiện cha mình lên nha môn, còn ăn hai mươi đại bản.”

    Ta: …

    Từ huyện lệnh kia đúng là vị quan phụ trách nha môn huyện Vân An, lúc trước đứng ra thẩm án. Ông ta bỗng nhiên biết nhà họ Bùi có một vị tướng quân tam phẩm ở kinh thành, mà quả tẩu của hắn lại từng bị mình đánh hai mươi đại bản, sợ sau này Bùi Nhị Lang tính sổ nên mới vội vàng chủ động đề cập trước.

    Nghĩ cũng biết con người này khéo đưa đẩy tới mức nào.

    Trước nói mình xuất phát từ chữ hiếu nên mới nghĩ đến chuyện đánh quả tẩu nhà họ Bùi, sau lại bảo vị quả tẩu nọ tính tình cương trực, nhân nghĩa vẹn toàn, là một nữ tử trung thành dũng cảm, đáng được tôn kính vạn phần.

    Có lẽ ông ta vẫn còn may mắn, may mà Bùi Nhị Lang đã từ chối thiên tử sắc phong, nếu không quả tẩu kia mà được cáo mệnh thì ông ta mới thật sự là chua xót.

    Những chuyện cũ của ngày trước, giờ ta nghĩ lại cũng thấy vặt vãnh, nhịn không được mà cười một tiếng: “Vậy sao, khi ấy xúc động quá, hành xử không được chu toàn, không chỉ không lấy được tiền mà còn ăn đòn một trận, lại bị người ta mắng là đồ con gái bất hiếu, giờ cẩn thận nghĩ, đúng là mất nhiều hơn được.”

    “Ai dám nói bậy hả?”

    “Ây da, thanh quan khó chặn việc nhà mà, hơn nữa đã buôn chuyện thì đề tài nào chẳng có, cứ kệ bọn họ nói đi, ta cũng đâu sứt mẻ gì.”

    Ta thản nhiên xua xua tay, ánh mắt Bùi Nhị Lang thoáng dừng ở trên người ta rồi lại dịch qua chỗ khác. Hắn nói: “Gặp chuyện khó khăn như vậy, sao không viết thư kể cho ta biết?”

    “Kể chuyện ấy làm gì, có gì thú vị đâu, nhị thúc ở trong quân cũng không dễ dàng. Ta đã thấy đám người Hàn tiểu tướng tiêu xài rồi, nào có ít ỏi gì chứ, vậy mà nhị thúc lại gửi tiền về nhà hết. Cái khoảng thời gian kia ấy à, nghĩ thôi cũng thấy túng quẫn.”

    “Không đâu, ta sao có thể tiêu nhiều tiền như họ được.”

    Hắn nói bâng quơ, thế mà ta lại đỏ mặt.

    Bởi vì hai ngày trước, ta tình cờ gặp mấy người Hàn tiểu tướng trong lúc đang mua thức ăn trên huyện. Thấy bọn họ đi về hướng hẻm Sư Tử, ta cứ tưởng là tới tìm Bùi nhị thúc.

    Kết quả lúc quay lại cửa tiệm chẳng thấy bóng dáng một ai, ta còn cố ý hỏi hắn xem bọn họ đâu.

    Lúc ấy hắn liếc ta một cái, nhẹ giọng nói: “Họ không đến tìm ta.”

    “Thế bọn họ đi đâu vậy? Ta tận mắt thấy họ vào hẻm Sư Tử mà.”

    “Không cần lo đâu, cứ kệ họ đi.”

    “Sao có thể thế được, đã tới hẻm Sư Tử thì chúng ta nhất định phải tiếp đãi chứ. Đồ ăn ta đã mua xong cả rồi, nếu nhị thúc biết bọn họ ở đâu thì đi gọi một tiếng đi.”

    “Không gọi.”

    “Hả? Thế họ ở đâu, ta đi gọi vậy.”

    Ta nghiêm túc hỏi hắn, hắn lại nhướng mày nhìn ta bằng cặp mắt đen láy kia, sau đó cong cong khóe môi, cười như không cười: “Tần Lâu.”

    Tại hẻm Sư Tử phía đông cầu Châu, Tần Lâu là nhà thổ tư nhân nổi danh nhất.

    Ta tức khắc đỏ bừng mặt, chẳng nói gì nữa, xoay người rời đi.

    Thời gian này Bùi Nhị Lang trở về nhà, kỳ thật mọi thứ với ta đều rất nhẹ nhàng.

    Bởi vì ngày nào hắn cũng tập thể dục buổi sáng, dậy còn sớm hơn cả ta.

    Lúc mặt trời vẫn chưa lên, ta vừa mới ra hậu viện, hắn đã sớm xay xong đậu tương và lọc bã rồi.

    Nhìn thấy ta, hắn còn hỏi một câu: “Sao không ngủ thêm tí nữa?”

    Cho dù trước kia hắn là con nhà bán tào phớ thì giờ cũng đã trở thành quan lớn trên kinh, sao có thể làm những việc nặng nhọc thế này được.

    Vậy nên ta ngượng vô cùng, thầm nghĩ lần sau nhất định phải dậy sớm hơn, làm xong mọi việc trước hắn.

    Kết quả là khi ta vội vàng thức giấc vào giờ Dần, còn chưa ra đến hậu viện thì từ cầu thang đã trông thấy hắn mặc độc cái áo đơn, đang luyện kiếm ở giữa sân, cả người ướt đẫm mồ hôi.

    Sau khi luyện kiếm xong, hắn dùng một chiếc khăn vuông lau mồ hôi rồi bắt đầu xắn tay áo lên xay đậu.

    Lưng thẳng, vai rộng, eo thon như ong bắp cày, dưới lớp áo mỏng manh là dáng người cường tráng rắn chắc và hai cánh tay to khỏe…

    Cảnh tượng này, không phải là thứ mà một quả tẩu nên nhìn.

    Ta xấu hổ trở về phòng.



    Ngày thứ mười Bùi Nhị Lang trở về, cô tỷ Bùi Mai ghé qua cửa tiệm tào phớ.

    Thiếu phụ bước từ trên xe ngựa xuống vận một chiếc áo choàng dài màu hồng phấn điểm khói xám, lông mày kẻ nhẹ, mặt thoa một lớp phấn mỏng. Nàng ta chầm chậm bước tới, dáng người yểu điệu thướt tha.

    Vừa thấy Bùi Nhị, nàng ta đã đỏ mắt gọi một tiếng: “Nhị Lang.”

    Không ngờ lần này đại công tử nhà lý trưởng Chu cũng theo nàng ta đến đây.

    Chu công tử thân hình cao gầy, gò má nhô lên, trong đôi đồng tử tối tăm lộ ra chút ánh sáng nhạt.

    Hai vợ chồng bọn họ ngồi trong cửa tiệm, một người vừa khóc nức nở vừa lấy khăn tay gạt lệ, một người ngồi thẳng, lưng song song với kệ.

    Từ khi vào cửa, Chu công tử vẫn chưa mở miệng nói lấy một câu, trông dáng vẻ kia thì có lẽ đang chờ Bùi Nhị Lang thăm hỏi thăm vị tỷ phu là hắn trước.

    Chỉ tiếc người ngồi đối diện họ là quan lớn trên kinh, không phải câu nệ lễ tiết như vậy.

    Bùi Mai dường như đang đắm chìm trong những cung bậc cảm xúc khi chị em gặp lại nhau, không thể tự kiềm chế được, đầu tiên là nhắc tới cha mẹ họ, sau đó nhắc tới Đại Lang, cuối cùng cảm khái Nhị Lang hiện giờ tiền đồ vô lượng, vinh quy bái tổ, người làm chị như nàng ta rất tự hào.

    Ánh mặt trời xuyên vào trong cửa tiệm, soi lên bộ đồ màu lam của Bùi Nhị Lang. Trong ánh nắng vàng dịu nhẹ, khuôn mặt lạnh như sương giá kia cũng có vẻ dịu dàng hơn rất nhiều.

    Từ khi hắn về nhà, cuộc sống thảnh thơi, thái mẫu và tiểu muội gắn bó, không còn những tranh đấu khốc liệt nơi chiến trường, địch ý và sự bén nhọn trên người cũng đã giảm hẳn.

    Nếu bỏ đi sự sắc bén sâu nơi đáy mắt, trông hắn gần như cũng có mấy phần công tử ôn nhuận như ngọc.

    Nhưng lúc này, hắn đang xoay xoay cái ly, hờt hợt liếc nhìn Bùi Mai một cái: “Mở miệng ngậm miệng đều là người chết, sao không hỏi xem người sống đang như thế nào?”

    Một câu nói rất hờ hững, nghe không ra xúc cảm gì, nhưng sắc mặt Bùi Mai lại trở nên cực khó coi. Nàng ta nắm chặt chiếc khăn trong tay, ứa nước mắt nói: “Nhị Lang…”

    Mà vị Chu công tử thanh cao kia rốt cuộc cũng mất kiên nhẫn, nói: “Lời này của nhị đệ không đúng rồi. Lần này chúng ta tới đây, chính là muốn đón tiểu muội và lão thái thái đến Chu gia hưởng phúc.”

    Ta xách theo cái ấm, đang định đi pha trà, nghe thế thì liền kinh ngạc.

    Công tử Chu gia nhìn quanh cửa tiệm một lượt từ trên xuống dưới với vẻ khinh bỉ, lời nói đều là thái mẫu và muội muội phải ở nơi này chịu khổ, lúc trước hắn đã đề nghị đưa bọn họ về nhà họ Chu, song Bùi Mai lại không chịu, nói trong nhà còn một người anh em, cho dù không có anh em thì cũng vẫn còn quả tẩu, nàng là gái đã gả đi, nếu khăng khăng muốn đón người thì bọn họ biết làm sao, sao có thể không bị người ta chỉ trỏ, nói này nói kia cơ chứ.

    Một đống lời lẽ đường hoàng, nói xong thật ra nghe cũng có vẻ hơi có lý.

    Mà mục đích chuyến viếng thăm này của họ, nghe bảo chính là lo lắng cho thái mẫu, bởi vì từ vài năm trước sức khỏe của lão nhân gia đã bắt đầu đi xuống rồi. Bùi Mai là do một tay thái mẫu nuôi lớn cho nên rất thương bà, cũng muốn đưa bà về chăm sóc, làm tròn chữ hiếu.

    Cuối cùng hai người thống khoái bày tỏ, nhị đệ còn phải lên kinh nhậm chức, sau này cứ an tâm thoải giao người cho họ là được.

    “Không cần, ta sẽ đưa tất cả đi cùng mình.”

    Từ đầu đến giờ, giọng điệu của Bùi Nhị Lang luôn lãnh đạm, thái độ cũng rất xa cách.

    Bùi Mai sửng sốt hỏi: “Đệ muốn dẫn cả nhà lên hoa kinh?”

    “Ừ.”

    “Cả ả ta nữa à?” Bùi Mai đột nhiên quay đầu, lấy tay chỉ vào mặt ta.

    Bùi Nhị Lang nheo mắt, vẻ mặt thoắt cái trở nên lạnh lùng: “Tỷ có ý kiến gì?”

    Sự sắc sảo đan xen với lạnh lẽo thoáng chốc trở lại, tựa như hắn lại biến thành cái kẻ vừa về từ chiến trường kia, không khí quanh người vô cùng u ám.

    Bùi Mai run lên, sắc mặt trắng bệch: “Không có.”

    “Thế thì về đi.” Hắn lạnh lùng ra lệnh đuổi khách.

    Bùi Mai cắn môi, viền mắt đỏ hoe. Ta đứng đằng xa, trông thấy công tử Chu gia đá nàng ta một cái dưới gầm bàn.

    Bùi Mai lại run rẩy, nước mắt lã chã như mưa, lấy hết can đảm nói với Bùi Nhị Lang: “Nhị Lang, nghe nói đệ có tham dự yến tiệc của phủ đài đại nhân, hẳn là đã từng gặp Từ huyện lệnh. Nha môn của họ vừa mới trống một vị trí giáo dụ cách đây không lâu, đệ có thể mở lời một chút, để tỷ phu đệ vào đó được không?”

    Quan giáo dụ trên nha môn huyện là quan giám khảo thi huyện, quản lý chuyện tế lễ tại Văn Miếu, phụ trách giáo dục học trò, ít nhất cũng phải là thân phận cử nhân mới đảm đương được.

    Mà công tử Chu gia, đã đến tuổi nhi lập(1) nhưng vẫn chưa đậu tú tài.

    <i>(1) Theo Khổng Tử, tuổi ba mươi phải tự lập, gây dựng sự nghiệp cho mình, gọi là tam thập nhi lập.</i>

    Quả nhiên, Bùi Nhị Lang đã bị chọc tức.

    Hắn cong môi, đôi mắt thâm sâu như hồ nước lạnh, nhìn công tử nhà họ Chu, rất không khách khí mà gõ xuống bàn: “Huynh muốn đến nha môn dạy học?”

    Có lẽ là giọng nói của hắn quá mức băng giá, Chu công tử mặt tái nhợt, ánh mắt lảng tránh: “Là tỷ tỷ đệ muốn ta đi…”

    “Tỷ ấy không có đầu óc, chẳng nhẽ huynh cũng không có đầu óc hay sao? Không tự biết giá trị của chính mình à?”

    Bầu không khí trở nên cực kỳ ngượng ngập, nhưng Bùi Nhị Lang vẫn kiên quyết nói. Dưới khí thế hung hãn của hắn, đôi vợ chồng kia nói không nên lời, vừa không dám tức giận, lại vừa không dám lên tiếng.

    Đến khi bọn họ chật vật rời đi, ta mới rót trà cho Bùi Nhị Lang.

    Ánh mắt hắn vẫn hướng ra ngoài cửa tiệm. Thấy xe ngựa đã khuất bóng, hắn liền bật cười một tiếng…

    “Cô thấy đấy, từ lúc vào cửa đến giờ, tỷ ấy vẫn chưa mở miệng hỏi thăm thái mẫu một câu, cũng chẳng thèm bảo muốn ghé nhìn bà một cái. Nhưng tự bản thân tỷ ấy cũng biết, hồi còn bé người thái mẫu thương nhất chính là tỷ ấy.”

    Hồi còn bé người thái mẫu thương nhất là tỷ ấy, còn thím tự nhiên là thương nhất Đại Lang.

    Trà phải ấm uống mới ngon. Ta cầm ly trà, đẩy về phía hắn: “Nhị thúc uống trà đi.”

    Bùi Nhị Lang liếc nhìn ta: “Tiết Ngọc, năm đó ta không phải không biết tỷ ấy là người thế nào, chẳng qua là không còn cách khác thôi. Cũng may khi ấy có cô, nếu không ta hẳn là sẽ cắn rứt lắm.”

    Lời cảm ơn đột ngột này khiến ta có chút bối rối, mặt cũng đỏ lên. Một lúc lâu sau, ta mới ngượng ngùng nói: “Nhị thúc, sao thúc cứ gọi thẳng tên ta hoài vậy.”

    Hắn đã hai lần gọi ta là Tiết Ngọc rồi, rốt cuộc ta đã làm sai chuyện gì? Sao tự nhiên lại không còn được tiểu thúc tôn trọng nữa?

    Trong lúc ta đang thấp thỏm, hắn bỗng nhiên cười như không cười nhìn ta, khóe môi cong lên, nhẹ giọng gọi: “Tẩu tẩu.”

    Các xưng hô đúng mực đã trở lại, nhưng hai chữ giống nhau này nhẹ nhàng phát ra từ miệng hắn lại nghe có vẻ như đã lặp đi lặp lại đến cả trăm lần, quyến luyến và sâu lắng một cách lạ kỳ.

    Ta lại bắt đầu cảm thấy bất an.
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 8


    Bùi Nhị Lang vốn sẽ ở nhà khoảng hơn một tháng.

    Nhưng mà mới qua nửa tháng, triều đình đã đột nhiên hạ lệnh triệu tập toàn bộ quan viên lớn nhỏ tại hoa kinh Trường An về kinh, tuyệt đối không được chậm trễ.

    Từ sáng sớm, mấy người Hàn tiểu tướng đã chạy tới hẻm Sư Tử, muốn quay về kinh thành với hắn.

    Ta cũng có hơi thắc mắc, trong lúc giúp hắn thu dọn hành lý còn hỏi: “Sao lại đột ngột quay về như thế, trong kinh đã xảy ra chuyện gì à?”

    “Nghe nói là quân doanh tại Trường An tra ra một vụ buôn lậu vũ khí, số lượng quá lớn, liên lụy tới rất nhiều người, tất cả mọi người đều phải về để thẩm tra.”

    “Ối chao, đây là chuyện lớn đó, nhị thúc nhớ phải cẩn thận một tí nhé.”

    “Không cần lo đâu, ta chưa chính thức nhậm chức, sao có thể bị cuốn vào chuyện gì được.”

    “Kinh thành tuy rằng phồn hoa, nhưng nghe người ta nói chốn quan trường xảo trá, mà ở dưới chân thiên tử cũng chẳng dễ giấu giếm gì. Bình an vô sự là tốt nhất, nếu không thì thà làm quan địa phương, chí ít cũng được tiêu dao tự tại.”

    “Sao có thể so sánh như vậy được, hoa kinh tùy tiện phái một viên quan đến là quan lại địa phương đã sợ run hết lên rồi. Thật ra tất cả đều như nhau thôi, chẳng có thứ gì gọi là tiêu dao tự tại cả, chi bằng hướng tới chỗ cao, đá trụ giữa dòng, đứng lại càng vững.”

    “Ừm, nhị thúc nói có lý, là ta ánh mắt thiển cận.”

    Ta gật đầu tán đồng những lời hắn nói, hắn cong môi, đưa một cái tráp cho ta.

    “Đây là gì vậy?”

    Ta nhận lấy tráp, mở ra, thấy một xấp ngân phiếu dày bên trong thì kinh ngạc nhìn hắn.

    “Bao nhiêu thế?”

    “Một vạn lượng.”

    “Nhị thúc lấy đâu ra tiền chứ?” Lần đầu tiên thấy nhiều tiền như vậy, tay ta run rẩy một cách kém cỏi, giọng nói cũng theo đó mà run lên.

    “Yên tâm, không phải trộm cướp gì đâu. Là tiền thưởng Hoàng Thượng ban, ta đã đổi thành ngân phiếu.” Hắn khẽ cười một tiếng.

    Lúc này ta mới an tâm, đóng tráp trả lại cho hắn: “Nhị thúc giữ là được rồi.”

    “Cô cứ giữ đi.”

    “Chuyện ấy sao có thể chứ?”

    “Sao lại không thể.”

    Hắn nhướng mày nhìn ta, mí mắt hơi giương lên. Ta nghĩ ngợi một chốc, cuối cùng thật sự nhận về: “Thế cũng được, ta tạm giữ giúp nhị thúc, khi nào nhị thúc và Phùng tiểu thư thành thân thì ta sẽ giao lại cho…”

    “Tiết Ngọc, cô nói bậy cái gì đó?”

    Ta còn chưa dứt lời, hắn đã đột ngột cắt ngang, vẻ mặt lạnh đi, giọng nói cũng trầm hơn trước: “Phùng tiểu thư cái gì, Phùng tiểu thư ở đâu ra, là kẻ nào đã khua môi múa mép với cô?”

    “… Còn không phải là tiểu thư nhà họ Phùng của phủ Trấn Bắc tướng quân sao, nhị thúc không thích nàng ấy à?” Ta yếu ớt nói.

    Phản ứng này của hắn đúng là khiến cho người ta khiếp vía, vậy là ta liền nghĩ hắn không thích vị Phùng tiểu thư kia theo bản năng.

    Hắn cũng thật sự hừ lạnh một tiếng: “Không thích.”

    “À, vậy cũng được, sống cùng nhau vẫn nên tìm người mình ái mộ thì hơn. Nếu nhị thúc đã không thích, cửa nhà họ Phùng lại cao, chúng ta cũng không cần vào, hơn nữa trong kinh không thiếu quý nữ, không có gì phải vội, cứ từ từ là được.”

    “Trong kinh không thiếu quý nữ thì liên quan gì tới ta? Cô đừng có mà nói xằng nói bậy nữa.”

    Hắn đột nhiên lại nóng nảy cau mày, ngữ điệu trầm xuống, ta bị hắn khiển trách liên tục nên đâm ra cũng căng thẳng bất an, không biết mình đã nói sai ở đâu, trong lòng có hơi nghẹn lại, chẳng dễ chịu gì cho cam.

    Nhưng nghĩ tới chuyện hắn chuẩn bị phải ra đi, ta cũng không định so đo với hắn nữa, bèn chuyển sang chủ đề khác, nhẹ giọng hỏi: “Chỗ ngân phiếu này, ta có thể lấy một trăm lượng ra tiêu không?”

    “Tất nhiên, cô muốn tiêu bao nhiêu thì tùy.”

    “À không, chỉ cần một trăm lượng là đủ rồi.”

    Ta thoắt cái vui vẻ trở lại: “Trước kia ta đi dọn hàng ở tiệm vải có trông thấy một cuốn lụa, giá phải mấy chục lượng ấy, gọi là vải Phù Quang với lụa dệt hoa gì đó. Ta đã nghĩ đến nó suốt ba năm rồi, thực sự muốn thử may quần áo từ chất liệu kia xem thế nào. Giờ nhị thúc đã có tiền, có thể cho ta may một bộ, Tiểu Đào một bộ, thái mẫu một bộ…”

    Lúc người ta đang sung sướng không khỏi có hơi nhiều lời. Bùi Nhị nhìn ta đầy ẩn ý, bỗng nhiên nói chen một câu: “Cô có thể mua thêm vài cuộn, muốn mua bao nhiêu thì mua bấy nhiêu, về sau cũng vẫn như thế.”

    Ta sững người, có hơi không hiểu ý hắn.

    Một tia sáng lóe lên trong cặp mắt đen láy của hắn, hắn lại mở miệng hỏi ta: “Cô có còn thứ gì quên không đưa cho ta không?”

    “Thứ gì cơ?” Ta hoang mang hỏi lại.

    “Khí hậu trong kinh không khắc nghiệt như ở biên cương, thật ra những thứ ấy hơn nửa là không dùng đến. Nhưng nếu cô đã làm rồi thì cứ đưa cho ta đi, chưa biết chừng sẽ có lúc cần dùng cũng nên.”

    “Nhị thúc nói cái gì vậy?”

    “Bao đầu gối.”

    Đầu ta nổ đoàng một cái, miệng cũng há ra thở d ốc.

    Lần trước khi giúp hắn đo kích cỡ, trong giỏ kim chỉ của ta quả thực có một cặp bao đầu gối mới may xong, còn cả một tấm thảm bằng lông cừu màu đen nữa.

    Ngặt nỗi chúng lại làm cho Trần tú tài.

    Tú tài ba năm trước đi thi hương bị cảm lạnh, mà mấy tháng nữa là sẽ đến kỳ thi lại, vậy nên ta đã làm cho hắn một bộ bao đầu gối cùng với một tấm thảm, đều dùng lông cừu màu đen rất dày.

    Nhưng giờ Bùi Nhị Lang đứng trước mặt lại bảo ta đi lấy cho hắn. Ta mở miệng toan giải thích, song lại chẳng thể nói nổi rằng đó là đồ làm cho người khác.

    Thế là ta đành phải trở về phòng, lấy bao đầu gối cho hắn.

    “Còn tấm thảm kia đâu?”

    “Nhị thúc không dùng đến thảm, cứ để tạm trong nhà đã.”

    “Có dùng đến, đi lấy đi.” Hắn không cho phép người ta kháng cự.



    Lúc Bùi Nhị Lang rời đi, hắn vẫn khoác trên mình bộ giáp sắt đen đã từng mặc hôm về nhà.

    Hắn cất lời cáo biệt thái mẫu.

    Thái mẫu năm nay lại càng lẩm cẩm hơn năm trước, giận dữ dùng quải trượng đánh hắn: “Sao mày lại đi tiếp hở, mày đi rồi thì Tiểu Ngọc biết làm sao bây giờ, hai đứa khi nào mới có con được, mày đã ngần này tuổi rồi, thằng cháu trai đáng hận, mày rốt cuộc là có được không thế, phải nỗ lực hơn nữa vào…”

    Tướng quân trẻ tuổi mặc bộ giáp sắt quỳ trước mặt bà, dáng vẻ bình thản ung dung, hai vành tai lại đỏ lựng.

    Da đầu của ta căng lên, không dám liếc qua nhìn hắn mà chỉ tiến tới kéo thái mẫu về, vội vàng phân bua: “Đó là Nhị Lang, Nhị Lang mà, thái mẫu nhận sai người rồi.”

    “Lại còn muốn gạt ta ư? Đừng có tưởng là ta ngốc, chính mắt ta trông thấy con và nó bái đường kìa. Có phải nó lại đuổi con đi không, nó bảo không cần con à? Con đừng sợ, xem ta đánh nó thế nào…”



    Nhoáng cái đã lại đến đêm giao thừa.

    Bùi nhị thúc về kinh đã được ba tháng.

    Từ khi hắn đi, cuộc sống trước sau như một của ta bỗng lại có chút thay đổi.

    A Hương đổ bệnh, không tới cửa tiệm trong suốt một thời gian dài.

    Quả phụ Ngô từ thôn Đại Miếu lên đây, hỏi thăm về Hàn tiểu tướng.

    Thế nên ta mới biết, trong khoảng thời gian đám người Hàn tiểu tướng ở lại thôn Đại Miếu, đã từng ăn không ít thức ăn mà quả phụ Ngô mang sang.

    Sau đấy, Hàn tiểu tướng ỷ vào vài phần nhan sắc, qua đêm với quả phụ Ngô.

    Lại còn hứa hẹn sẽ cưới người ta.

    Kết quả là khi cùng Bùi nhị thúc về kinh, hắn ta lén lút chuồn đi mà chả thèm chào một tiếng.

    Ta không khỏi nói với Ngô Thúy Liễu: “Sao tỷ có thể tin lời hắn nói được chứ, hắn ta cũng đâu phải thứ đàn ông tốt đẹp gì.”

    “Hầy, đàn ông làm gì có mấy ai tốt đẹp đâu. Dù sao ta cũng mặc kệ, hắn đã hứa sẽ cưới ta, cho dù có trốn đến chân Hoàng Đế ta cũng phải tìm ra hắn.”

    “Tìm ra rồi thì sao nữa, nếu như hắn ta nhất định không chịu cưới tỷ thì sao?”

    “Ta sẽ thiến hắn.”

    “…”

    Sau đó Ngô Thúy Liễu thực sự thu dọn một ít hành lý, một mình lên kinh.

    Bùi Tiểu Đào giơ ngón cái sau lưng tỷ ấy: “Thím Ngô giỏi quá, dám lên kinh thành thiến quan, quả không hổ là người đã ăn hai cái phao câu nhà chúng ta.

    “Đúng là tấm gương mẫu mực cho chúng ta noi theo! Tuyệt vời!”

    Ta lạnh lùng nhìn con bé: “Hôm nay không đi học à?”

    “Thầy tú tài không phải sắp sửa đi thi rồi sao, tiên sinh dạy học mới của bọn muội còn chưa tới.”

    “Thế ra hậu viện rửa bát đi.”

    “… Hu hu hu, được rồi.”

    A Hương bị bệnh một thời gian, công việc chồng chất, ta thật sự lo không xuể, đành phải tuyển một tiểu nhị chạy vặt cho cửa tiệm.

    Tiểu nhị rất có năng lực, ta cũng nhẹ gánh đi nhiều, buổi trưa rảnh rỗi đi thăm A Hương, trên đường trở về còn ghé qua tiệm vải Kinh Vân mua hai cuộn vải.

    Đó là loại vải Phù Quang mà ta vẫn hằng mong ước, sặc sỡ lung linh, nhìn mà lóa mắt.

    Ta hạnh phúc ôm vải về, ngồi lỳ trong phòng may vá cả chiều.

    Nửa tháng sau, Triệu đại thúc tới cửa tiệm tìm ta. Một nha dịch cường tráng như thúc ấy, nhìn thấy ta lại đỏ cả hai mắt, quỳ xuống đất cầu xin ta cứu A Hương nhà họ.

    Ta tức thì nhíu mày, mời thúc ấy ngồi xuống từ từ nói.

    Triệu đại thúc bảo tình hình A Hương dạo này không tốt, hôm nay mời đại phu tới xem, đại phu lại nói đó là u tim.

    Bệnh này không cứu chữa được.

    Lòng ta bỗng dưng thắt lại. Mấy hôm trước thăm A Hương, quả thực nàng ấy vô cùng gầy yếu, vẻ mặt cũng rất khó coi, môi tái nhợt không huyết sắc.

    Lúc ấy Triệu đại thúc không ở đó, A Hương nói với ta là đã mời đại phu rồi, đại phu bảo khí huyết hư, tĩnh dưỡng một thời gian là sẽ ổn.

    Ta còn bỏ mấy lượng bạc đến y quán, mua một củ nhân sâm thật bổ cho nàng ấy.

    Triệu đại thúc nói, bệnh của A Hương là tâm bệnh, nếu như Nhị Lang không trở lại, nàng ấy e là sẽ không trụ được.

    Ta nghe thế thì ngây ngẩn cả người.

    A Hương thích Bùi nhị thúc.

    Bắt đầu từ khi nào vậy?

    Triệu đại thúc quen biết cha Bùi đã lâu, trước kia thường hay đưa con gái A Hương tuổi còn nhỏ tới cửa tiệm nhà họ Bùi ăn tào phớ.

    Khi ấy nàng vẫn còn là một cô nương hoạt bát, chân chưa bị què.

    Đại Lang nhà họ Bùi thích đọc sách, thường tới trường tư thục học.

    Nhị Lang từ nhỏ đã là thành phần bất hảo, cũng không chịu ngoan ngoãn phụ việc ở trong cửa tiệm.

    Cha Bùi lúc nào cũng phải gác lại việc làm ăn để chạy quanh huyện tìm hắn.

    Bởi vì những khi không hỗ trợ cửa tiệm, hơn nửa là hắn cũng chẳng chịu ngồi yên trong nhà, thường xuyên trà trộn vào đám lưu manh du côn ở khắp làng trên xóm dưới, lang thang bên phía cổng Tây ngoài thành.

    Cha Bùi sợ hắn gây chuyện cho nên lần nào túm được cũng lôi hắn về cửa tiệm, tức giận mắng mỏ hắn không nên thân.

    Còn A Hương thì vừa ăn tào phớ, vừa xem hắn bị ăn mắng.

    Thiếu niên mặt mũi bướng bỉnh, đôi khi trên mặt còn có vài vết bầm tím, trông có vẻ rất không phục, trợn tròn hai mắt sau lưng cha mình.

    A Hương nhịn không được mà cười khúc khích.

    Thế là Nhị Lang nhướng mày nhìn nàng, trong đôi mắt đen như mực lộ rõ vẻ nghịch ngợm của tuổi trẻ. Hắn hung hăng nói…

    “Cười cái khỉ gì!”

    A Hương có hơi hoảng sợ, nép vào người Triệu đại thúc, lại thấy cha Bùi cầm muỗng dài gõ lên đầu hắn: “Tiểu tử thối, đừng có bắt nạt A Hương.”

    Cha Bùi làm lụng suốt nửa cuộc đời, kỳ thực vẫn luôn muốn truyền nghề lại cho Nhị Lang.

    Tiếc là Nhị Lang quá khó quản giáo, vậy nên ông liền nghĩ đến chuyện sau này tìm một nhạc phụ thật sự lợi hại cho hắn.

    Vị nhạc phụ ấy chính là Triệu đại thúc.

    Triệu đại thúc mà ta gặp sau này chỉ là một nha dịch rất đỗi bình thường.

    Nhưng khi xưa thúc ấy đã từng là một bộ khoái cực kỳ uy phong, suốt ngày tuần phố quản án, đối phó với đám lưu manh du côn kia cũng chưa nương tay bao giờ.

    Mà trên đời này lại có vô số kẻ cùng hung cực ác.

    Một hôm Triệu đại thúc trở về nhà, không thấy con gái A Hương mười một tuổi đâu thì liền phát hoảng.

    Mấy tay ác ôn, vì ghi hận Triệu Cát mà bắt trói khuê nữ của ông.

    Trong một ngôi miếu đổ nát ở khu đất hoang ngoài cổng Tây của huyện, chúng đánh gãy chân trái của cô gái nhỏ, muốn c**ng b*c nàng.

    May mà nàng gặp được Bùi Nhị Lang đang trên đường trở về nhà, tình cờ đi ngang qua đó.

    Nhị Lang đương nhiên là có biết mấy kẻ kia. Trông thấy hắn, bọn chúng cảnh cáo bằng ánh mắt hung ác: “Bùi Ý, đừng có xen vào việc của người khác, cút đi mau.”

    Thiếu niên mặt mày lạnh ngắt, chỉ liếc mắt một cái rồi bỏ đi.

    A Hương nước mắt giàn giụa, run rẩy trong cơn tuyệt vọng, khóc không ra tiếng.

    Rồi trong lúc những kẻ kia đang cười cợt xé rách quần áo của nàng, A Hương lại thấy Bùi Nhị Lang đi một vòng trở đã về, tay lăm lăm một viên gạch, sắc mặt hiểm ác, hung tợn đập vào đầu một tên trong số đó.

    Động tác của hắn vừa nhanh lẹ vừa tàn nhẫn. Hắn đánh liên tiếp mấy đòn, âm thanh trầm đục vang lên, máu bắn tung tóe vào mặt.

    Đến lúc có người lấy lại tinh thần thì kẻ kia đã chết ngoẻo, phần đầu máu thịt lẫn lộn, còn loáng thoáng thấy được bộ óc màu trắng bên trong.

    Một mạng người đã ra đi, ngôi miếu nát nơi đất hoang nháy mắt yên tĩnh trở lại.

    Giữa màn đêm đen kịt, Bùi Nhị Lang cõng A Hương đến nhà nàng, thả xuống rồi rời đi ngay.

    Sau đó hắn về nhà, hỏi cha hắn, đánh chết người rồi thì phải làm sao bây giờ?

    Sau đó nữa, Nhị Lang đến quân doanh, Triệu đại thúc nói với bên ngoài là A Hương què chân do bị ngã trước cửa nhà.

    Nhưng A Hương vẫn luôn nhớ rõ bờ vai dài rộng và mạnh mẽ của thiếu niên kia.

    Cũng nhớ rõ ở cửa tiệm tào phớ, hắn nhướng đôi mày rậm, hung dữ mắng nàng: “Cười cái khỉ gì!”

    Hắn vẻ ngoài ngang bướng, mặt mày ngỗ ngược, nhưng thực sự rất đẹp mắt.

    À phải rồi, Bùi bá bá đã từng nói đùa với cha nàng, bảo là sau này sẽ để Nhị Lang lấy nàng làm vợ.

    Chỉ là sau khi Nhị Lang ra đi, vẫn chưa một lần trở lại.

    Đám tang Bùi bá bá cũng không thấy mặt hắn đâu, nghe nói là vì hắn bị điều tới biên quan, là binh lính nhỏ tuổi nhất trong doanh trại, không được lòng mọi người, cũng không có tư cách xin nghỉ về thăm người thân.

    Mấy năm sau, Đại Lang thành thân, cuối cùng hắn cũng trở về.

    Nhưng A Hương vẫn không có cơ hội gặp hắn. Nàng là một kẻ què quặt rất hiếm khi ra khỏi cửa, mà hắn ở nhà chỉ được mấy ngày là đã vội vã lên đường.

    Bùi bá bá đã qua đời, không ai nhắc lại chuyện để Nhị Lang lấy nàng làm vợ nữa.

    Ngay cả cha hắn cũng chưa từng đề cập tới việc này. Chuyện cũ kia qua đi rồi, vẫn để lại một lằn ranh, vĩnh viễn chia cách Nhị Lang và nàng.

    Nàng chỉ là một con què, không xứng với Nhị Lang.

    Những người đã quen sống ở dưới đáy, chưa từng nảy sinh hi vọng, cũng chưa từng tìm cách bò lên, có lẽ sẽ không có nhiều mong ước xa vời đến thế.

    A Hương liều lĩnh lấy toàn bộ tiền hồi môn của mình ra mở cửa tiệm, không chỉ là vì chính nàng, mà còn là vì Nhị Lang.

    Làm việc với quả tẩu nhà họ Bùi, chính là cơ hội duy nhất để nàng tiếp cận Nhị Lang.

    Mà sự thật quả nhiên cũng thế, sau khi cửa tiệm khai trương được ba năm rưỡi, rốt cuộc nàng cũng gặp lại Nhị Lang.

    Nào có ai hay, nàng đã phải dùng bàn tay đang run lẩy bẩy bấu lên cái chân trái què của mình, đau đến chết lặng, dùng rất nhiều sức mới có thể duy trì được vẻ bình tĩnh, trưng ra được một nụ cười.

    Nhị Lang đã thành tướng quân, không còn là cậu thiếu niên ngang ngạnh quái đản kia nữa.

    Hắn trầm ổn, sắc bén, đôi mắt thâm trầm.

    Hắn từng vì nàng mà giết người, nhưng dường như hắn đã quên mất nàng là ai. Khi quả tẩu giới thiệu đây là A Hương cô nương nhà Triệu đại thúc, hắn chỉ liếc nhìn thoáng qua, trong mắt không hề gợn sóng.

    Sau đó, từ đầu tới cuối, hắn chưa từng nhìn nàng thêm lần nào nữa.

    Giấc mộng thủa niên thiếu, đến lúc phải tỉnh lại rồi.

    Sợi dây căng lên trong tim suốt ngần ấy năm, cuối cùng cũng đã đứt phựt.

    Dây đứt rồi, người cũng đột nhiên mất hết ý chí, không thể gượng dậy nổi nữa.

    Nhị Lang đi mất, nàng liền lâm bệnh.

    Triệu đại thúc khóc đỏ mắt: “Con bé ngoan cố quá. Ta đã sớm bảo nó rồi, chưa nói đến việc Nhị Lang bây giờ đã là tướng quân, cho dù thằng bé có không làm tướng quân, chỉ là một người lính bình thường đi chăng nữa thì chúng ta cũng không xứng với người ta. Một nam tử như Nhị Lang, sao có thể lấy một cô gái què cơ chứ.

    “Con bé tưởng rằng có thể che giấu được tâm tư đó của mình, ta cũng nghĩ thôi thì cứ kệ nó vậy, bao nhiêu năm đã qua, nếu vẫn không gặp Nhị Lang thì nó sẽ không bao giờ hết hi vọng. Nhưng mà ta lại không ngờ, gặp được người rồi, nó không chỉ hi vọng hết mà thân thể cũng không chịu đựng nổi.”
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 9


    Ta viết thư cho Bùi nhị thúc.

    Hỏi hắn gần đây thế nào, sắp tới có thể về huyện Vân An hay không?

    Ta biết hắn rất bận, vụ buôn lậu vũ khí ở quân doanh Trường An liên quan tới rất nhiều người, ngay cả Khang Vương cũng nhúng tay vào.

    Cả quan trường chốn kinh kỳ đang kinh qua một đợt thanh tẩy lớn.

    Bùi Nhị Lang thân là một võ quan mới nhậm chức, lý lịch trong sạch, hiển nhiên đã gặp đúng thời cơ tốt, trực tiếp thăng lên nhị phẩm.

    Trong một khoảng thời gian ngắn, hắn không cách nào trở lại.

    Cứ thế lại qua nửa tháng, sức khỏe A Hương càng ngày càng kém, ta rốt cuộc cũng sốt ruột.

    Mang theo bộ xiêm y mới may cùng canh gà hầm đã lâu, ta dẫn Tiểu Đào đến nhà của Triệu đại thúc.

    Tiểu Đào vẫn chưa biết chuyện gì đã xảy ra, vừa vào nhà đã ồn ào: “A Hương tỷ tỷ, chẳng phải chỉ là một tên đàn ông thôi sao, tỷ phải học tập quả phụ Ngô thôn chúng ta, chiếm không được thì thiến hắn.”

    Ta: …

    Sắc mặt A Hương thật sự rất tệ, nàng ấy không nén được nụ cười, nhưng khuôn mặt vẫn vô cùng tiều tụy.

    Ta lấy bộ váy áo may bằng vải Phù Quang ra đưa cho nàng ấy: “Đẹp không? Ta cố ý chọn màu ráng trời này đấy, mặc vào sẽ như khoác quanh mình một đám mây vậy. Cô mau mau mặc thử xem, mặc xong thì uống một bát canh gà, chúng ta lên cầu Châu đi dạo, buổi tối còn có lễ hội đèn lồ ng nữa.”

    “Không đi đâu, ta mệt lắm, thực sự dậy không nổi.”

    “A Hương…”

    “Ngọc Nương, bộ xiêm y này đẹp quá, tiếc là ta không ra cửa được, cô có thể mặc cho ta ngắm một cái được không?”

    Giọng nói A Hương nhỏ nhẹ, ánh mắt trống rỗng vô hồn, ta nhịn không được mà cáu kỉnh: “Giờ không ra cửa được thì giữ để sau này mặc, còn có nhiều cơ hội lắm, cô uống canh gà trước đi.”

    “Ta uống không được, đến ruột gan cũng rối bời, thật đó, ta cũng muốn uống lắm chứ, ta biết cha ta khó chịu, nhưng hình như ta thực sự không xong rồi… Ngọc Nương, ta không muốn chết, nhưng ta chịu đựng không nổi…”

    Ra khỏi nhà A Hương, nước mắt ta bắt đầu tràn như vỡ đê.

    Theo yêu cầu của nàng ấy, ta khoác trên mình bộ váy Phù Quang màu ráng trời. Nàng ấy nói tóc phải thả ra mới đẹp, ta làm quả phụ nhiều năm, đã quen dùng trâm búi tóc, giờ đây mái tóc dài được bung xõa, vừa vặn chạm tới vòng eo.

    A Hương nói, Ngọc Nương, trông cô thật là xinh đẹp, mắt đẹp, miệng cũng đẹp, nhìn chẳng khác nào đang khoác mây ở quanh mình, đêm nay cô giúp ta đi xem lễ hội đèn lồ ng ở cầu Châu được không…

    Nàng ấy cơ hồ sẽ không qua nổi đêm nay.

    Ta vừa đi vừa thút thít, lách qua đám đông trên phố, nước mắt không ngừng tuôn rơi.

    Tiểu Đào ầm ĩ suốt cả chặng đường giờ cũng đã bắt đầu trở nên lo lắng: “Tẩu tử, tẩu khóc gì vậy? A Hương tỷ tỷ sắp chết sao, chẳng nhẽ những gì tỷ ấy vừa nói đều là di ngôn?”

    Sau đó, hai chúng ta liền khóc lóc cùng nhau, vừa đi vừa khóc, vừa khóc vừa đi.

    Người qua đường đều lần lượt nhìn lại, bàn tán không ngớt.

    Ta và Tiểu Đào rẽ từ đường lớn của huyện vào hẻm Sư Tử.

    Từ hẻm Sư Tử đi về phía Nam cầu Châu.

    Sắc trời dần tối, đèn lồ ng trên phố cũng đã bắt đầu thắp lửa.

    Trong lúc nước mắt lưng tròng, ta quay về tiệm tào phớ, vậy mà sinh ra ảo giác, trông thấy Bùi nhị thúc đang đứng trước cửa tiệm, mặc một bộ đồ màu đen thêu mây bay cùng viền bạc, đai lưng thắt chặt, dáng như cây ngọc.

    Thế rồi hắn liếc nhìn về phía chúng ta, sửng sốt.

    “Kia chẳng phải là nhị ca của muội ư? Sao huynh ấy lại về vậy?” Tiểu Đào vừa khóc vừa hỏi ta.

    “Không… không biết nữa, sau thúc ấy lại về vậy?” Ta vừa khóc vừa trả lời.

    Sau đó ta bỗng sực tỉnh, khóc toáng lên, nhào về phía hắn.

    Bởi vì quá mức bốc đồng nên đầu ta trực tiếp lao vào ngực hắn. Ta kích động tới mức nói năng lộn xộn: “Nhị thúc, nhị thúc về rồi, sao giờ thúc mới trở về, hu hu hu.”

    Bùi Nhị Lang đỡ lấy người ta, đầu tiên là dùng tay giữ chặt vai ta, nhíu mày quan sát, sau đấy mới lấy ngón cái lau lau hai hàng nước mắt đang tuôn như suối của ta, trong giọng nói lại có vài phần xót xa: “Làm sao thế, đừng khóc nữa, mắt đều sưng hết lên rồi.”

    Trong lúc ta vừa nức nở kể lể ngọn nguồn sự tình vừa lôi hắn một mạch tới nhà của Triệu đại thúc, tiếng khóc của Tiểu Đào sau lưng ta lại càng thêm vang dội…

    “Hu hu hu, hóa ra người A Hương tỷ tỷ không chiếm được chính là ca ca muội…”



    Khi ra khỏi nhà của Triệu đại thúc, tâm trạng của ta đã hoàn toàn ổn định.

    Không biết Bùi Nhị Lang ở trong phòng đã nói gì với A Hương, lúc ra khỏi phòng, sắc mặt hắn không dễ coi cho lắm.

    Trên đường trở về cửa tiệm, ta hỏi hắn: “Nhị thúc, thúc làm sao thế, A Hương không có vấn đề gì chứ?”

    Hắn mím môi, như là đang cố gắng bình ổn cảm xúc của mình: “Không sao.”

    “Không sao là tốt rồi. Nàng ấy mắc phải tâm bệnh, huyết mạch không thông, đại phu nói cần phải có tâm dược mới…”

    “Cô viết thư hỏi ta khi nào quay về, chính là vì việc này?” Bùi Nhị Lang đột nhiên cắt ngang lời ta.

    “Đúng rồi, ta sốt ruột muốn chết luôn đó.”

    “Thế à?”

    Hắn bất chợt dừng bước, nhìn ta bằng đôi mắt đen thẫm, cười lạnh một tiếng: “Ta thì không như vậy, ta là ngu ngốc muốn chết.”

    Ta bàng hoàng, không biết hắn có ý gì, lại cảm thấy không thể tưởng tượng nổi. Hắn đường đường là một đại tướng quân, sao lại nói ra mấy lời kỳ quái như thế chứ?

    “Thúc… thúc sao có thể ngốc được, thúc là quan lớn của triều đình, nếu như thúc ngốc thì Thánh Thượng còn cần thúc làm gì chứ.”

    “À…”

    Bùi Nhị Lang khẽ “à” một tiếng, như đang kìm nén xúc cảm của mình, xong rồi lại quay qua đối diện với ánh mắt thấp thỏm bất an của ta.

    “Nhị thúc, có phải ta lại nói sai cái gì rồi không?” Ta có hơi bối rối.

    Hắn bỗng bật cười…

    “Không có. Bộ đồ này là cô mới may hả?”

    “Ừm, một trăm lượng bạc mới mua được ba mảnh vải, đắt thật đấy.”

    Dù sao cũng là mua bằng bạc của hắn, ta vẫn có chút ngượng ngùng.

    Còn hắn thì lại chẳng thèm để ý chút nào, chỉ mỉm cười, nhỏ giọng nói: “Không đắt, rất đáng tiền, đẹp lắm.”

    “Vậy à, ta cũng thấy đẹp, nhưng mà vẫn đau xót lắm, phút cuối ta còn mặc cả với trưởng quầy, bảo sẽ lấy thêm một cuốn lụa trơn thượng hạng, thế mà ông ta vẫn không vui…”

    Ta hào hứng muốn kể lại chi tiết quá trình ăn hời của mình cho hắn nghe, kết quả là vừa ngẩng đầu, trông thấy đôi mắt đen láy với những tia sáng nhỏ dưới đáy kia, lòng ta bỗng nhiên lại hơi hốt hoảng.

    Hắn vừa mới nói gì nhỉ, đẹp lắm?

    “Nhị… nhị thúc, trời đã tối rồi, chúng ta mau vào cửa tiệm gặp thái mẫu đi.”

    “Không cần phải vội, ta vừa mới gặp người rồi, tinh thần rất tốt, lực tay cũng rất khỏe.”

    “… Thái mẫu lại dùng quải trượng đánh thúc sao?”

    “Ừ.”

    “…”

    Tiêu rồi, ta giờ còn hoảng loạn hơn lúc trước.

    Chúng ta cùng đi bộ về cửa tiệm. Trên con phố nối liền hẻm Sư Tử với cầu Châu, phía dưới là những phiến đá xanh trải dài, hai bên đường đèn lồ ng treo cao, tỏa ra ánh sáng rực rỡ.

    Mà khu vực phụ cận cầu Châu lại càng náo nhiệt.

    Những chiếc đèn lồ ng lung linh, trống chiêng rộn rã, còn có kỹ tử Tần Lâu đàn tỳ bà trên mấy con thuyền hoa trôi sông.

    Bùi Nhị Lang trở về thật đúng lúc, hôm nay đang có lễ hội đèn lồ ng.

    Tới gần cửa tiệm rồi chúng ta vẫn không vào trong, hắn nói đã nhiều năm chưa được xem hội đèn lồ ng, bảo ta dẫn hắn lên cầu Châu chơi một chút.

    Ta nói phải về chăm sóc thái mẫu, hắn lại nói đã có Tiểu Đào rồi, ta không cần lo.

    Sau đó hắn cứ lặng im nhìn ta, mày kiếm mũi thẳng, trông như đỉnh núi dốc đứng.

    Người này từ trước đến nay chưa bao giờ chấp nhận lời từ chối. Ta đành cười khan hai tiếng, bước lên phía trước dẫn đường cho hắn.

    Dọc đường còn mua một chiếc đèn lồ ng hình thỏ.

    Giữa dòng người ồn ã, ta đi phía trước, hắn nối gót theo sau.

    Chiếc đèn con thỏ trong tay rực sáng.

    Có lẽ là bởi ta đang vận một bộ đồ rất lóa mắt cho nên không ít người trên đường ngoảnh đầu nhìn ta, chưa kể ánh mắt như kim đâu sau lưng nọ. Ta bồn chồn trong lòng, bất cẩn bước lệch một cái.

    Bùi Nhị Lang kịp thời giơ tay đỡ ta. Chúng ta chen chúc trong đám đông, tới được cầu Câu, giọng nói quan tâm của hắn vang lên trên đỉnh đầu ta…

    “Có đau không, để ta cõng cô nhé.”

    “Hả? Không cần đâu, nhị thúc đỡ ta một chút là được.”

    Vậy là chúng ta không thể dạo hết lễ hội đèn lồ ng được nữa. Dựa vào cánh tay khỏe khoắn hữu lực kia, ta khập khiễng về đến cửa tiệm tào phớ.

    Vừa đúng lúc bắt gặp tú tài đang chờ trước cửa.

    Trần tú tài đã thấy ta chân cao chân thấp từ xa. Hắn sốt sắng đi tới, lo lắng hỏi: “Ngọc Nương, nàng làm sao vậy?”

    “Ta không sao, chỉ là trẹo chân thôi mà.”

    Hắn vươn tay ra, hình như định đón lấy ta từ tay Bùi Nhị Lang.

    Cử chỉ này có hơi quá phận, quả nhiên, sắc mặt Bùi Nhị Lang trầm xuống, hắn nhìn tú tài bằng một ánh mắt lạnh băng.

    Tim ta giật thót, lập tức nói: “Tú tài, đây là nhị thúc nhà ta, hôm nay mới từ kinh thành trở về.”

    Tú tài tất nhiên biết Bùi Nhị Lang, chỉ là chưa từng gặp mặt trực tiếp mà thôi. Hắn là người nho nhã lễ độ, tức thì cúi xuống hành lễ với kẻ đối diện…

    “Bùi tướng quân.”

    Bùi Nhị Lang không trả lời, chỉ lẳng lặng nhìn hắn như cũ, không hề nể mặt người ta một chút nào.

    Ta có hơi xấu hổ, lại nói: “Nhị thúc, thầy tú tài đây nguyên là tiên sinh dạy học của Tiểu Đào nhà chúng ta, hiện tại đã qua thi hương, ba tháng nữa sẽ lên kinh thi tiếp.”

    Hắn rốt cuộc cũng có chút phản ứng, nhưng vẻ mặt vẫn lạnh nhạt như thế: “Kỳ thi mùa xuân vốn là tháng Hai, sao ba tháng nữa mới lên kinh thi?”

    Tú tài vội nói: “Vốn là tháng Hai, nhưng năm nay trong triều nhiều chuyện, cách đây không lâu Thánh Thượng đã hạ chỉ dời kỳ thi đình sang tháng Năm.”

    Trong triều nhiều chuyện, hẳn là vụ việc buôn lậu vũ khí vừa rồi.

    Bùi Nhị Lang gật đầu, không nói gì nữa. Ta lại tiếp lời: “Ba tháng nữa tham dự kỳ thi mùa xuân thì bây giờ cũng sắp sửa phải lên đường rồi, huynh đã thu dọn hết hành lý chưa?”

    “Thu dọn hết rồi, những thứ cần mang đều đã chuẩn bị sẵn cả. Đợt thi hương trời còn lạnh, bây giờ đã ấm hơn nhiều, bao đầu gối không cần phải cầm theo nữa. Tấm lót lông cừu màu đen của Ngọc Nương làm rất tốt, ta sẽ mang đi, khi nào thi thì đặt ở trên ghế…”

    “Ừm… tú tài, huynh về trước đi, ta đứng nhiều có hơi mệt, hôm nay không tiện hàn huyên cho lắm.”

    “À ừ, được, vậy nàng nhớ bôi thuốc vào chân nhé, nếu không ngày mai không đi ra đường được đâu.”

    Tú tài lưu luyến hành lễ với chúng ta rồi xoay người rời đi, cứ ba bước lại ngoái đầu nhìn hai lần.

    Ta cũng không biết tại sao lại thấy chột dạ trong lòng, không dám nhìn Bùi Nhị Lang mà chỉ chăm chăm cúi xuống, để mặc hắn đỡ mình lên lầu trên.

    Vào phòng rồi, không cần phải đối mặt với Bùi Nhị Lang nữa, ta tức khắc thở phào nhẹ nhõm.

    Cử chỉ mới rồi của tú tài thật ra cũng chẳng phải là quá phận. Sau khi hắn đậu cử nhân đã từng thương lượng với ta, muốn ước định chuyện chúng ta trước khi lên đường vào kinh thi đình.

    Cái gọi là ước định, tất nhiên là nói với người nhà họ Bùi.

    Mà cái gọi là người nhà họ Bùi, tất nhiên là Bùi Nhị Lang.

    Thư phóng thê hắn đã sớm ký cho ta, ta gả cho tú tài, cũng không có gì không hợp lẽ.

    Chỉ có điều, dù sao ta cũng là quả tẩu nhà hắn trên danh nghĩa, qua lại nhiều năm như thế, vẫn nên bàn bạc với hắn một chút thì hơn.

    Hôm nay hắn quay lại huyện Vân An, đúng là một cơ hội tốt.

    Ngặt nỗi chính ta cũng không biết sao lại tự thấy chột dạ, cứ như mình đang làm chuyện gì đáng hổ thẹn không bằng.

    Nghĩ tới nghĩ lui một hồi, ta càng thấy không thoải mái. Ta không ăn trộm ăn cướp, có gì mà đáng hổ thẹn, trời phải mưa con gái phải gả, quả tẩu nhà đại tướng quân không định thủ tiết, cũng chẳng mất mặt tí nào.

    Hơn nữa, ta cứ cảm giác lần này Bùi Nhị Lang trở về, có vẻ gì đó rất lạ, làm ta càng thêm mông lung.

    Ta hạ quyết tâm, ngày mai gặp hắn, nhất định sẽ nói với hắn chuyện này.
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 10


    Trong lúc ta đang nghĩ ngợi, ngoài cửa phòng bỗng nhiên vang lên tiếng gõ. Ta vội hỏi: “Ai đó?”

    “Ta.”

    “Nhị thúc, có chuyện gì à?”

    “Ta mang rượu thuốc sang, cô lấy bôi vào chân đi.”

    “À, được.”

    Ta tập tễnh bước ra cửa, thấy Bùi Nhị Lang đứng bên ngoài thì liền nhận lấy bình rượu thuốc trên tay hắn, trong đầu tự hỏi không biết có nên nhân cơ hội này mà nói với hắn về chuyện tú tài hay không.

    Thế là ta mở miệng: “Nhị thúc, có chuyện…”

    Ta vừa nói mấy câu thì đã đột nhiên phát hiện có gì đấy không đúng lắm. Bùi Nhị Lang ăn vận chỉnh tề, tay cầm bội kiếm, có vẻ đang định ra ngoài.

    “Nhị thúc sắp phải đi sao?”

    “Ừ.”

    “Đi đâu vậy?”

    “Huyện Giang Châu.”

    “Sao vừa về nhà đã lại đi rồi?”

    “Lần này ta rời thành vốn là vì việc công, chỉ là thuận đường đi qua huyện Thao Châu nên mới gặp mọi người một lát thôi.”

    “Trời đã khuya rồi, nhị thúc đi đường cẩn thận nhé, nhớ chú ý an toàn.”

    “Vừa rồi cô muốn nói gì với ta à?”

    “Không có gì quan trọng đâu, đợi thúc về rồi nói sau cũng được.”

    Bùi Nhị Lang cầm kiếm trong tay, dáng đứng cao thẳng, hơi thở bức người. Hắn nhìn ta chăm chăm, cười gằn một tiếng: “Còn ta thì lại có chuyện quan trọng muốn hỏi cô. Bao đầu gối và thảm lót lần trước cô đưa ta, vốn là làm cho người khác phải không?”

    “… Phải.”

    “Vì sao cô lại làm mấy thứ đấy cho hắn? Nghĩ kỹ đi rồi hẵng nói.” Giọng nói của hắn trầm trầm, sắc mặt có vẻ không vui.

    Ta lắp bắp giải thích: “Tú tài… con người tú tài rất tốt, trước kia huynh ấy từng giúp ta, ở trường cũng đối xử với Tiểu Đào không tệ, hơn nữa… hơn nữa nhà người ta không cha không mẹ, lần trước bị cảm ảnh hưởng tới việc thi cử, cho nên ta mới… ta mới…”

    “Không có lần sau, về sau không được làm cho hắn nữa.”

    Hắn nhíu mày, khuôn mặt vẫn lạnh tanh như cũ, nhưng giọng nói đã dịu đi đôi chút.

    Đầu óc ta vốn chậm tiêu, đến giờ rốt cuộc mới chợt bừng tỉnh. Nhị Lang đối xử với ta, hình như có hơi khác lạ.

    Ta bỗng cảm thấy hoảng hốt trong lòng, vội nói: “Không phải, nhị thúc, ta có chuyện muốn nói với thúc.”

    “Không vội, đợi khi nào ta trở lại, ta cũng có chuyện muốn nói với cô.”



    Thoắt cái đã là một tháng kể từ ngày hắn ra đi.

    Chẳng mấy ngày nữa tú tài cũng sẽ lên kinh thi đình.

    Trước khi lên đường, hắn hỏi ta: “Ngọc Nương, nàng đã nói với nhị thúc trong nhà chuyện của hai chúng ta chưa?”

    “… Ta vẫn chưa kịp nói, đợi lần này thúc ấy trở về ta sẽ mở lời.”

    Ta có hơi luống cuống, nhưng hình như tú tài không phát hiện ra, chỉ nói: “Ta cảm giác Bùi tướng quân có vẻ không ưa ta lắm, nhưng nàng yên tâm, lần này ta thi đậu công danh rồi, có lẽ sẽ có thể khiến ngài ấy xem trọng ta hơn một chút.”

    “Vậy huynh… thi tốt nhé.”

    “Ừ, ta sẽ cố gắng.”

    Sức khỏe A Hương dạo này khá hơn rất nhiều, gần đây đã có thể ra ngoài đi lại, còn đến cửa hàng hỗ trợ.

    Chỉ có điều tiểu nhị mới tới kia cứ thấy nàng ấy là lại chủ động cướp việc, chẳng cho nàng ấy làm gì.

    Ta có hơi tò mò không biết Bùi Nhị Lang đã nói gì với A Hương, nhịn không được mà hỏi thử. A Hương kể là hắn cũng chẳng nói gì nhiều, chỉ nhìn nàng ấy một chút rồi hờ hững bảo, lúc trước ta cứu cô là mong cô sống sót, sống vì chính mình chứ không phải là ký thác hết hi vọng lên kẻ khác.

    A Hương còn cười khổ nói: “Ngọc Nương, nhị thúc nhà cô nói năng đúng là quá nhẫn tâm. Huynh ấy còn nói nếu biết trước hôm nay ta như thế này thì đã chẳng cứu ta rồi, dù sao ta cũng muốn chết, sống thêm mấy năm để làm gì chứ.

    “Thế là ta òa lên khóc, vậy mà khóc xong lại dễ chịu hơn rất nhiều, trong lòng cũng không còn đau buồn nữa…”

    Nàng ấy hết buồn, nên đổi sang thành ta buồn.

    Tinh thần ta bất ổn suốt một khoảng thời gian, ngay cả Tiểu Đào cũng phát hiện tâm tình ta không được tốt, còn hỏi: “Tẩu tử, trong lòng tẩu cũng có người tẩu không chiếm được sao?”

    Ta: …

    Tháng Ba đầu xuân, những lúc về khuya tiết trời vẫn hơi se lạnh.

    Hôm nay có mưa rơi ngoài cửa sổ, trước khi đi ngủ ta đã khép chặt cánh cửa, cuốn mình lại ở trong chăn.

    Vào lúc nửa đêm, trong khi đang mơ màng ngủ, ta bỗng cảm giác có hơi lạnh phả vào người, cuộn theo nước mưa ướt át, từng giọt từng giọt nhỏ xuống mặt ta.

    Ta bỗng nhiên choàng tỉnh, sợ tới mức thất hồn lạc phách, lập tức la lên oai oái.

    Người ngồi bên mép giường bịt miệng ta lại, nói bên tai ta: “Đừng sợ, là ta.”

    Bùi Nhị Lang đã quay trở lại sau tròn một tháng xa nhà.

    Chỉ là hắn lại vào nhà bằng đường cửa sổ, không phải cửa chính.

    Trong bóng tối, giọng nói của ta vừa run rẩy vừa nức nở: “Nhị thúc?”

    “Ừ.”

    “Thúc làm ta sợ muốn chết! Hu hu.”

    Hắn tỏ vẻ xin lỗi, trấn an ta, sau đó bảo ta mau chóng mặc quần áo rồi đi ra ngoài, đến chỗ đình hóng mát ở ngoại ô, cách huyện Vân An khoảng mấy trăm dặm, đón một vị công tử họ Tiêu mặc y phục màu tím thẫm.

    “Ngay… ngay bây giờ á?”

    “Ừ, ngay bây giờ, xe ngựa đã chuẩn bị xong xuôi rồi, đang chờ cô dưới cửa đấy.”

    “Ừ, được, thế ta đi ngay đây.”

    Khi ta mặc xong quần áo ra cửa thì hắn đã chờ sẵn ở đó, lặng lẽ đưa cho ta một cái áo khoác và một chiếc ô, dịu giọng bảo: “Đừng sợ, ta đã an bài chu đáo cả rồi, cô chỉ cần yên tâm đi là được, sẽ không có nguy hiểm đâu.”

    Thật ra ta hoàn toàn chẳng hiểu hắn đang làm gì, nhưng hắn là một tướng quân, những chuyện hắn làm tất nhiên đều là nên làm, còn ta chỉ là một nữ nhân không tài cán, cứ nghe hắn nói là được.

    Vậy là trong một đêm lạnh lẽo giữa làn mưa bụi mịt mùng, ta vén váy lên xe, nói với hắn: “Nhị thúc yên tâm, ta nhất định sẽ đón được người về.”

    Bùi Nhị Lang gật đầu mỉm cười.

    Sau đó ta đi một mạch hai canh giờ giữa đêm hôm khuya khoắt, rốt cuộc cũng đón được vị quý công tử mặc áo bào tím thẫm kia.

    Lúc ta trông thấy hắn thì hắn đang lẻ loi đứng một mình tại đình hóng mát nơi ngoại thành. Nơi đây hoang vắng không một bóng người, mà trời vẫn còn mưa gió. Hắn nhận cái áo khoác trên tay ta, sắc mặt có hơi nhợt nhạt vì lạnh, nhưng khí thế vẫn áp đảo.

    “Bùi tướng quân đâu?”

    Ta nghe theo lời Nhị Lang dặn dò, không trả lời mà chỉ nói: “Lát nữa công tử sẽ biết, giờ đi cùng dân phụ đã.”

    “Nương tử là gì của Bùi tướng quân?”

    “Dân phụ là quả tẩu trong nhà thúc ấy.”

    Tiêu công tử rất cẩn thận, sau khi dò hỏi kỹ càng thì mới lên xe, đi thẳng tới huyện Vân An.

    Xe ngựa rẽ vào hẻm Sư Tử, lúc đến được cửa tiệm thì đã là giờ sửu, xung quanh còn văng vẳng tiếng gà gáy sớm.

    Ta ngẫm nghĩ một chút, quyết định treo biển nghỉ bán lên cửa.

    Dẫn người lên lầu hai rồi, ta đẩy cửa phòng ra, cất tiếng gọi: “Nhị thúc, khách quý tới rồi.”

    Song vừa nói được một câu thì vẻ mặt ta đã đột ngột biến đổi. Ta vọt vào trong, hoảng tới tái mặt: “Nhị thúc! Nhị thúc làm sao vậy?”

    Bùi Nhị Lang vẫn còn ở trong phòng, chỉ là đang nằm bất tỉnh trên chiếc giường bê bết máu, một cánh tay rơi khỏi thành giường, vết thương trên vai không ngừng đổ máu, chảy lênh láng ra mặt sàn.

    Ta bật khóc vì hoảng sợ, ôm lấy mặt hắn, bàn tay run run vỗ lên má hắn: “Sao lại thế này? Lúc ta đi vẫn còn tốt mà, nhị thúc, thúc đừng làm ta sợ.”

    “Mau đi mời đại phu đi, hắn bị thương nặng đấy.”

    Vị Tiêu công tử bình tĩnh tự chủ kia vừa phân phó ta đâu vào đấy, vừa bước lên đỡ lấy Nhị Lang đang ngã vào mép giường, bắt đầu băng bó vết thương cho hắn.

    Đại phu vội vã chạy đến.

    Cầm máu, vén quần áo ra, lại phát hiện không chỉ có một vết thương trên vai mà sau thắt lưng còn có một vết chém rất sâu.

    Phải hai ba canh giờ sau, Bùi Nhị Lang mới dần dần tỉnh lại.

    Người đã mất quá nhiều máu, sắc môi tái nhợt, mặt cũng trở nên trắng bệch.

    Khi trông thấy vị Tiêu công tử kia, hắn mở miệng nói: “Thái Tử điện hạ, thần vô năng, đã khiến ngài sợ hãi rồi.”

    Quả nhiên, người này không phú thì quý, chỉ là ta không ngờ được, hắn lại là đương kim Thái Tử.

    Một kẻ xuất thân thảo dân sống trên phố xá như ta, cả đời này cũng chưa từng nghĩ mình còn có ngày thấy được một nhân vật như vậy.

    Trữ quân của cả đất nước.

    Tay ta khẽ run, gối cũng vội vàng khuỵu xuống.

    Thái Tử mỉm cười, nhìn qua có vẻ rất đỗi hiền hậu: “Tiết nương tử có ân với cô, không cần đa lễ, đứng lên đi.”

    “Điện hạ nói quá rồi, dân phụ thẹn không dám nhận.”

    Ta thấp thỏm đứng dậy, trông thấy bọn họ có vẻ cần nói chuyện riêng thì liền lui xuống pha trà.

    Trà pha xong rồi, ta nghiêm chỉnh đứng ngoài cửa phòng, nhưng cũng mơ hồ nghe được đại khái.

    Vụ buôn bán vũ khí cuối năm kia kéo theo một loạt những vụ tham ô, nhận hối lộ và phản quốc.

    Thái Tử phụng mệnh xuôi Nam điều tra, Thánh Thượng sai Bùi tướng quân đi cùng.

    Kết quả là vừa tìm được chút manh mối, đã có rất nhiều thích khách kéo đến tận cửa, âm mưu ám sát Thái tử điện hạ đương triều.

    Bọn họ đào vong suốt cả chặng đường.

    Tới quận Thao Châu, lại là một trận chém giết. Bùi Ý không ngần ngại dùng bản thân mình làm bia ngắm để đánh lạc hướng sát thủ, cũng đã hẹn trước với Thái Tử, sẽ hội họp với nhau ở đình hóng mát cách huyện Vân An mấy trăm dặm.

    Thái Tử đã đợi hắn ở đó hai ngày.

    Sống sót sau một đại nạn, Thái Tử cao quý cũng không khỏi cảm thán bản thân đã quá may mắn.

    Thái Tử rất cảm kích và ghi nhớ công lao bảo hộ chủ tử của Bùi Ý, còn hỏi: “Bùi tướng quân cũng biết lai lịch của những tên thích khách kia đúng không?”

    Bùi Nhị Lang im lặng một lúc rồi mới nói: “Đề hạt Giang Đô, thứ sử U Châu, đều là những kẻ nghe lệnh Khang Vương điện hạ.”

    “Cô biết, Phùng Kế Nho có ơn dẫn dắt với ngươi, thế lực Khang Vương bành trướng, các đảng phái trong triều giao tranh, ngươi hiện tại là quan lớn mới nhậm chức, không muốn bị cuốn vào trong đó.”

    “Điện hạ, thần chỉ nghe lệnh thiên tử.”

    “Thiên tử như thế nào?”

    “Thiên tử đã chính thức tức vị.”

    “Ha ha ha, hay cho Bùi Ý nhà ngươi.”

    “Điện hạ yên tâm, thần đã giết sạch đám thích khách kia, cũng đã truyền tin cho phủ đài đại nhân của quận Thao Châu biết. Hàn Anh cử người tới hộ giá rồi, điện hạ chỉ cần chọn ngày là có thể bình an hồi kinh.”

    Mấy ngày sau, Thái Tử điện hạ được hộ tống về kinh thành.

    Bùi Nhị Lang vì còn đang bị thương nên ở lại huyện Vân An tĩnh dưỡng.

    Người giúp hắn thay thuốc mỗi ngày, hiển nhiên là ta.

    Ánh nến trong phòng khẽ lay động. Hắn bị thương ở vai và thắt lưng, chỉ mặc có mỗi một cái quần dài.

    Người luyện võ quanh năm, vóc dáng cường tráng, cơ bắp rắn chắc, đường nét mạch lạc, lưng rộng thẳng tắp, vòng eo săn chắc nằm gọn gàng trong cạp quần.

    Chỉ là những vết thương lớn bé cũ mới chồng chất lên nhau nhìn trông cực kỳ chói mắt.

    Hắn ngồi thẳng trên giường, ta cẩn thận thay thuốc cho hắn, lần nào cũng kinh hãi trước những vết thương dữ tợn kia, động tác lại càng nhẹ nhàng và chậm rãi hơn.

    Thi thoảng những ngón tay của ta lại sượt qua vai lưng và eo của hắn.

    Người hắn bỗng nhiên run lên, ta liền ngỡ rằng mình làm đau hắn, căng thẳng hỏi: “Đau không?”

    Hắn lại ngồi thẳng lưng lại: “Không đau.”

    Ta thở dài một tiếng, lòng lại cảm thấy kỳ quái, không khỏi thắc mắc: “Ngày ấy lúc ta đi đón người nhị thúc rõ ràng vẫn còn đang ổn, sau chúng ta vừa trở về thúc lại đột nhiên trọng thương, chẳng nhẽ khi ta ra ngoài có thích khách vào tiệm sao?”

    Hắn nghe vậy thì nhàn nhạt cười: “Không có.”

    “Thế còn vết thương đó thì sao?”

    Hắn cứ nhìn ta chẳng nói chẳng rằng, ta lại cảm giác được chút hơi lạnh trong ánh mắt của hắn: “Thúc cố ý?”

    “Coi là thế đi.”

    “Tại sao chứ? Thúc không muốn sống nữa à, sao có thể tàn nhẫn với chính bản thân mình như vậy?”

    Ta vừa nóng nảy vừa giận dữ, nhịn không được mà đấm hắn: “Chuyện có lớn đến đâu cũng không thể ra tay nặng như thế được, ngộ nhỡ xảy ra chuyện gì thì tới mạng cũng chẳng giữ nổi nữa.”

    “Tẩu tẩu đang đau lòng à?”

    Ta lo lắng tới không thở nổi, hắn thì lại vẫn vân đạm phong khinh, cứ thế im lặng nhìn ta, xong rồi còn bất thình lình hỏi câu ấy.

    Ta nhất thời ngưng thở, lại cảm giác tim mình hụt đi một nhịp.

    “Đương… đương nhiên rồi, ta là tẩu tử của thúc, đương nhiên là sợ có chuyện xảy đến với thúc.”

    “Thế… sao mặt tẩu lại đỏ vậy?”

    Gò má vốn đã nóng bỏng của ta giờ lại càng nóng như rang, giống như có một điều cấm kỵ nào đó đang chực chờ bùng nổ.

    Hắn vẫn bất động nhìn ta, đôi mắt đen sẫm kia như có thể nhìn thấu tận trái tim ta, sóng gió cuồn cuộn dâng nơi đáy mắt.

    Ta hoảng loạn tới luống cuống, vội vàng giơ tay lên che má trái lại, cả giận nói: “Nhị Lang, đừng có ăn nói bậy bạ.”

    Ta không thể ngờ được, hắn vậy mà lại duỗi một tay ra, nắm lấy bàn tay ta đang dùng để che mặt.

    Tay hắn thô ráp mà nóng ấm, khiến ta cảm giác như bị lửa thiêu, bắt đầu nổi lên từ tay, sau đó lan ra toàn thân, cả người nóng rực.

    Hắn dùng ánh mắt mông lung nhìn ta, xúc cảm trào dâng, thấp giọng gọi ta bằng một thứ tiếng khản đặc: “Ngọc Nương…”

    Ta hoảng hốt, đôi mắt đỏ lên, giọng nói run rẩy: “Nhị thúc!

    “Nhị thúc, ta có chuyện này muốn bàn bạc với thúc. Tú tài lần trước thúc gặp, đã chiếu cố ta rất nhiều trong những năm qua. Thúc cũng biết, ta vừa thành hôn với ca ca thúc thì huynh ấy đã ra đi. Ta lo liệu nhiều năm như vậy, bây giờ đã hai mốt rồi, ta cảm thấy tú tài kia rất tốt, muốn gả cho huynh ấy.

    “Nhị thúc yên tâm, tú tài đã nói rồi, sau khi thành thân chúng ta vẫn là người một nhà, ta có thể tiếp tục hành nghề, cũng có thể lo cho tiểu cô…

    “Mai sau thúc ở kinh thành thu xếp mọi thứ xong xuôi, có thể đón thái mẫu và tiểu cô lên đó, mà nếu họ không muốn lên thì cũng có thể tiếp tục sống cùng ta, ta thế nào cũng được hết.”

    Ta càng nói càng hoảng, càng nói càng loạn. Tay Bùi Nhị Lang khẽ run lên. Hắn tiện đà thu tay về, đôi mắt phiếm đỏ, vẻ mặt lại càng lạnh lùng hơn trước.

    “Tẩu tẩu có vẻ đã suy tính kỹ càng rồi nhỉ.”

    “Kỹ càng rồi.”

    “Được, tẩu cứ đợi đó.”
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 11: Hoàn chính văn


    Một câu “đợi đó” của Bùi Nhị Lang làm ta sợ hãi suốt mấy ngày liền.

    Tuy ta không rõ “đợi đó” cụ thể là ý gì, nhưng ta biết, ngày ấy hắn nghiến răng nghiến lợi như thế, chắc chắn cực kỳ tức giận.

    Sau đó bọn ta chẳng nói chuyện với nhau nữa.

    Ta vẫn thường xuyên thay thuốc cho hắn hàng ngày. Vết thương của hắn mỗi ngày một tốt lên, còn mặt hắn thì mỗi ngày một lạnh đi.

    Ta cúi đầu thay thuốc cho hắn. Lúc quấn băng quanh eo hắn, ta cứ cảm giác hình như hắn đang nhìn ta.

    Ta ngẩng đầu, quả nhiên đối diện với cặp mắt sắc bén mà thâm trầm nọ.

    “Vết… vết thương của nhị thúc gần khỏi rồi,” ta lắp bắp.

    “Ừ, gần khỏi rồi.” Hắn chằm chằm nhìn ta đầy ẩn ý.

    Lần nào cũng là ta hoảng loạn chạy khỏi phòng hắn.

    Tiểu Đào thấy vậy thì hỏi ta với vẻ mặt mờ mịt: “Tẩu tử, ca ca muội không ổn à, sao mặt tẩu nhợt nhạt thế?”

    “Bùi Tiểu Đào!”

    Ta cố nén giọng, sợ người trong phòng nghe thấy, tức giận nói: “Muội không nói gì không ai bảo muội câm đâu.”

    “Nếu như muội không nói gì thì chả phải thành người câm rồi sao.”

    “Muội không có việc gì làm đúng không, xuống bếp nhóm lửa đi, lát nữa ta còn nấu nước.”

    “Hu hu hu, được rồi.”



    Chiều tối cửa tiệm không còn khách nữa, ta chuẩn bị các nguyên liệu để ninh nước dùng, xoay tới xoay lui ở trong hậu viện.

    Đến khi đã bắc nồi lên bếp xong mà vẫn chẳng thấy bóng dáng Tiểu Đào đâu, ta không khỏi lẩm bẩm: “Cái con bé lừa đảo này, lại chuồn đâu mất tiêu rồi.”

    Nói rồi, ta chuẩn bị tự mình nhóm bếp.

    Ta cầm lấy dao đánh lửa, quẹt vài cái mà chưa lên, rồi lại tự nhiên nghe thấy một giọng nói trầm thấp truyền tới từ ngoài cửa…

    “Để ta làm cho.”

    Tay ta run lên, quay đầu lại, quả nhiên trông thấy Bùi Nhị Lang đứng tựa mình vào cửa.

    Vết thương của hắn gần như đã khỏi hẳn. Lúc này hắn đang mặc một chiếc áo đơn màu trắng, dáng người cao thẳng, khoanh tay nhìn ta, nở một nụ cười như có như không.

    Tay của ta lại càng run lẩy bẩy.

    Ta bỏ dao đánh lửa xuống, lắp bắp nói: “Thế… thế nhị thúc làm đi, để ta mang chỗ quần áo trong chậu đi giặt.”

    Dứt lời, ta vội vàng đứng dậy, mặt cúi gằm vì không dám nhìn hắn, hoảng hốt bối rối chạy khỏi phòng bếp.

    Song còn chưa chạy được ra thì cửa đã đột ngột đóng lại, Bùi Nhị Lang chắn ở trước mặt ta, sừng sững như một bức tường.

    Ta đâm sầm vào người hắn, suýt chút nữa đã bổ nhào, hắn liền thuận tay đỡ lấy eo ta.

    Nhị Lang vốn đã rất cao, ta chỉ đứng được đến ngang vai hắn.

    Người ta nép gọn trong lồ ng ngực hắn, hơi thở lạnh giá của nam nhân quyện lại với mùi thảo dược, quẩn quanh nơi chóp mũi ta.

    Hắn cúi xuống nhìn ta, ôm lấy ta, còn cười khẽ bên tai ta: “Định ra ngoài à?”

    “Nhị Lang, thúc buông ta ra.”

    Ta vừa thẹn vừa bực, trừng mắt nhìn hắn, mặt đỏ tới tận mang tai.

    Ánh mắt hắn khẽ lay động, nhưng hắn vẫn không chịu buông tay mà thậm chí còn siết lấy eo ta chặt hơn. Cả người ta bị hắn bồng lên, tiến về phía trước một bước, ngồi xuống bệ bếp không cao không thấp.

    Một bàn tay của hắn nắm chặt lấy eo ta, bàn tay còn lại đưa lên, v**t v* khuôn mặt của ta.

    Trốn không thoát nổi, ta cả giận nói: “Bùi Ý! Ngươi điên rồi! Thả ta xuống mau.”

    Bàn tay thô ráp của hắn chạm vào má ta. Ánh mắt hắn thẳm sâu như biển lớn, sau đấy lại thoáng mềm mại, đáy mắt sương mù giăng kín. Hắn thấp giọng thì thầm bên tai ta…

    “Muốn gả đi rồi sao? Ta mạnh hơn tú tài kia nhiều, không tin cô cứ thử xem…”

    Câu nói ấy của hắn khiến ta chấn động tới mức toàn thân tê dại, cả người bỗng nhiên run rẩy: “Nhị Lang, ta là tẩu tử của thúc.”

    “Ừ, ta biết.”

    “Huynh chết thúc cưới tẩu, nhất định sẽ bị mang đi treo cổ.”

    Mặt ta trắng bệch, giọng nói cũng đang run run. Hắn lại bất chợt bật cười, một tay v**t v* vành tai của ta: “Là lo lắng chuyện này à?”

    Theo như luật lệ truyền từ đời này qua đời khác, huynh chết thúc cưới tẩu, là không tuân thủ lễ pháp.

    Thực ra ở ngoài kia không hiếm những chuyện như vậy, cũng chẳng thấy ai thật sự bị mang đi treo cổ vì vi phạm quy củ này cả.

    Nhưng đó là bởi vì bọn họ đều là bá tánh thường dân.

    Bùi Nhị Lang thì không thế, hắn hiện giờ là quan viên kinh thành, còn là quan lớn, là người trước mắt Hoàng Đế, nhất cử nhất động đều lộ ra ngoài ánh sáng.

    Trèo càng cao thì ngã sẽ càng đau.

    Hắn đã rất vất vả mới có thể đứng được ở vị trí ấy, chém giết từ chiến trường ra, trải qua gió tanh mưa máu.

    Nếu như hắn bị chuyện này kéo chân, rơi vào kết cục thân bại danh liệt, cho dù có chết ta cũng không thể chối bỏ tội lỗi của mình.

    Ta càng lúc càng khủng khoảng, nước mắt theo đó mà tuôn ào ạt.

    “Không được, chúng ta không thể được, ai cũng có thể, nhưng hai ta thì không thể.”

    Thấy ta lắc đầu nguầy nguậy, ánh mắt hắn bỗng trở nên mềm mại. Hắn thấp giọng cười, dịu dàng nói: “Ta chỉ hỏi nàng có muốn gả cho ta hay không. Chỉ cần nàng muốn, những chuyện khác nàng không cần phải lo lắng.”

    Ánh mắt của hắn rất mực kiên định, tựa như không chấp nhận phản kháng, cũng không chấp nhận dối gạt. Ta cắn môi, nhỏ giọng nói: “Ta không biết, ta đã nhận lời gả cho tú tài… Á…”

    Lời còn chưa dứt thì cánh tay bên hông ta đã đột ngột siết lại. Hắn hôn lên môi ta, vừa ngang ngược vừa mạnh bạo.

    Ta giãy giụa mà không được, trái tim sắp vọt ra khỏi lồ ng ngực tới nơi. Cả thân thể ta mềm nhũn, trực tiếp ngã thẳng vào trong lòng hắn.

    Một lúc lâu sau, hắn mới vừa thở d ốc vừa buông ta ra. Ta hổn hển lấy hơi, cả người lâng lâng không còn chút sức, nằm lỳ bất động trong lồ ng ngực hắn.

    “Mới rồi ta không nghe rõ, nàng nói lại cho ta đi, nàng muốn gả cho ai, nghĩ kỹ rồi hẵng nói.”

    Hắn khàn giọng nói, nhìn xuống đôi môi sưng đỏ của ta, trông hệt như một con sói với cặp mắt xanh rực sáng.

    Ta bật khóc: “Gả cho chàng, ta muốn gả cho chàng, Nhị Lang, chàng buông tha cho ta đi.”

    Hắn rốt cuộc cũng hài lòng, cong môi ôm ta trong vòng tay mình: “Là chính nàng nói đấy, không thể đổi ý được đâu.”

    Sau một hồi náo loạn, ta mặt đỏ tai hồng, giơ tay đẩy hắn ra, chỉ muốn chạy thật nhanh ra khỏi bếp.

    Kết quả là cánh cửa đang đóng kín kia, mở thế nào cũng không được.

    Xem tình hình này, hẳn là đã bị khóa lại từ bên ngoài rồi.

    Ta trợn mắt há hốc mồm, quay đầu lại, nhìn về phía Bùi Nhị Lang.

    Hắn nhướng mày: “Không liên quan tới ta nhé.”



    Khi Tiểu Đào quay trở lại, giải cứu chúng ta ra khỏi phòng bếp, ta cúi gằm mặt, vội vàng phóng lên trên lầu.

    Nhưng vẫn có thể nghe thấy tiếng Tiểu Đào nghi hoặc hỏi: “Ấy, ai khóa hai người lại thế?”

    Sau đó là tiếng Bùi Nhị Lang cười nhẹ: “Thái mẫu đâu rồi?”

    “Đang phơi nắng ngoài cửa ạ.”

    “Ta đi đấm vai cho người.”



    Nửa năm sau, cửa tiệm tào phớ của nhà họ Bùi được nhượng lại cho Triệu đại thúc và A Hương.

    Những thứ như công thức dầu tam hợp, công thức nấu nước dùng bí truyền, ta cũng dạy lại hết cho nàng ấy.

    Bùi Nhị Lang từ kinh thành trở về, đón chúng ta đi.

    Chúng ta thu dọn đồ đạc xong xuôi, đang định rời đi thì không biết cô tỷ Bùi Mai nghe được phong thanh ở đâu mà vội vã dẫn con gái mình là Quyên Nương tới cửa, quỳ phịch xuống đất.

    “Nhị Lang, tỷ tỷ cầu xin đệ, đệ mang Quyên Nương đi đi, cho nó đi theo đệ đi, sau này cũng không cần quay về nữa.”

    Quyên Nương năm nay chỉ mới chín tuổi, vừa lau nước mắt vừa không ngừng khóc, để lộ ra những vết bầm tím trên cánh tay.

    Cuộc sống của Bùi Mai tại nhà họ Chu chẳng tốt đẹp gì, đương nhiên một phần nguyên nhân cũng nằm ở Bùi Nhị Lang.

    Có lẽ nhà họ Chu đã sớm nhìn ra, Bùi Nhị Lang căn bản không hề để ý tới người chị này, bọn họ cũng sẽ chẳng vớt được tí lợi lộc gì từ chỗ nàng ta.

    Đặc biệt là lần trước bị Nhị Lang đe nẹt một hồi, thể diện của Chu công tử đã mất sạch.

    Bùi Mai chỉ có một con gái là Quyên Nương, Chu công tử lại có hai nàng thiếp, mỗi người đều sinh một trai một gái.

    Nàng ta bẩm sinh tính tình quật cường, bản thân có thể chấp nhận mẹ chồng mắng mỏ, em dâu trào phúng, trượng phu lăng nhục.

    Nhưng nàng ta lại không nỡ để Quyên Nương sống một cuộc sống như vậy.

    Tuy nhiên, Bùi Nhị Lang vẫn luôn là kẻ nhẫn tâm.

    Ánh mắt hắn lướt qua Quyên Nương, hoàn toàn chẳng có chút hơi ấm nào.

    Quyên Nương sợ đến mức lùi về phía sau một bước.

    Ta cũng chẳng thể làm chủ thay hắn, dù sao đây cũng là chuyện giữa chị em bọn họ.

    Quả nhiên, Nhị Lang chầm chậm nói: “Công việc của ta bận rộn, không thể lo lắng chuyện nhà.”

    Thái mẫu đã lên xe ngựa tựa như trông thấy Quyên Nương qua lớp rèm vải, đột nhiên run rẩy gọi một tiếng…

    “Đại Nha.”

    Nhị Lang giật mình, ta túm lấy ống tay áo của hắn: “Ta không bận, ta có thể lo lắng chuyện nhà.”

    Hắn cúi đầu nhìn ta một cái, trong mắt đều là ý cười: “Được.”

    Trên đường lên kinh, ta vẫn luôn nghĩ về chuyện của tú tài. Từ lúc nhập đinh đi thi, hắn gần như đã biệt tăm biệt tích, đến chút tin tức ít ỏi cũng chẳng thấy đâu.

    Ta hỏi Bùi Nhị Lang, hắn lại nhếch môi cười khẽ: “Rồi sẽ gặp thôi.”

    Mãi tới khi gặp được tú tài lúc trước bị bắt rể theo bảng(1), nay đã là con rể của thị lang Bộ Lễ trên kinh, ta mới ngây người ngẩn ngơ.

    <i>(1) Bắt rể theo bảng: Chọn con rể theo danh sách thi đậu bảng vàng, một văn hóa hôn nhân khá phổ biến thời Tống. Văn hóa “bắt rể” này đánh dấu một bước tiến trong tư tưởng về quan niệm hôn nhân thời cổ đại khi các yếu tố về gia thế trở nên suy yếu, người ta bắt đầu coi trọng tài năng và công danh hơn.</i>

    Nghe nói, mối hôn nhân ấy chính là do Bùi tướng quân đứng ra đảm bảo.

    Tú tài hai mắt hoe đỏ nhìn ta, đôi môi mấp máy, song lại chẳng nói nên lời.

    Có lẽ hắn cho rằng ta đang oán trách hắn.

    Nhưng thực ra người ta oán trách lại là Bùi Nhị Lang.

    Đêm đó, ta đấm hắn mấy cái liên tiếp: “Sao chàng có thể làm ra loại chuyện như thế chứ?”

    Hắn nhéo cằm ta, thở d ốc: “Nàng tập trung chút đi, không được nghĩ tới đàn ông khác. Ta làm thì đã sao nào, nếu hắn ta không có cái tâm tư kia thì ai có thể ấn đầu hắn vào trong động phòng hở?”



    Tú tài đã thành thân, quả phụ Ngô lúc trước kiên quyết muốn tới kinh thành cũng đã thành thân, trong bụng còn có em bé, ngày nào Hàn tiểu tướng cũng bận bịu chạy theo hầu hạ.

    Đối với chuyện này, Tiểu Đào còn hơi oán giận: “Đây không phải thứ muội muốn nhìn thấy đâu.”

    Ta cũng thành thân ở trên kinh thành.

    Thái Tử là người bảo đảm, Hoàng Hậu chỉ hôn.

    Đương kim Hoàng Hậu nói ta trông rất giống tiểu muội đã qua đời của mình, sau khi lau lau mấy giọt nước mắt thì liền nhận ta làm nghĩa muội, còn sửa lại tên ta theo họ nhà mẹ đẻ, gọi là Thiệu Ngọc.

    Từ ấy về sau, cái tên Tiết Ngọc chỉ còn tồn tại ở huyện Vân An quận Thao Châu xa xôi.

    Quan lớn kinh thành, Võ Vệ tướng quân Bùi Ý, tan triều liền về nhà kẻ lông mày cho thê tử, trong ánh mắt nghiêm trang như ẩn giấu tất thảy cảnh xuân dào dạt.

    Ta cũng không biết bỗng nhiên nghĩ tới điều gì mà bật thốt: “Chàng cố ý.”

    “Sao cơ?”

    Hắn nâng cằm ta lên, chăm chú nhìn ta, khóe môi cong cong: “Ý của phu nhân là gì?”

    “Chàng đã sớm để mắt tới ta rồi.”

    “Ừ.”

    “Chàng bắt đầu tính kế ta từ khi nào vậy?”

    “Ngoan nào, tối nay ta sẽ kể cho nàng nghe.”

    Ngoài cửa sổ hoa mộc lan nở rộ, xanh trắng đan xen, hương thơm ngào ngạt.

    Ta dùng sức toan đấm hắn một cái, hắn lại nắm lấy tay ta, khẽ cười một tiếng: “Sức lực càng lúc càng mạnh mẽ đấy, tốt lắm.”

    HOÀN CHÍNH VĂN
     
    Lang Hoài Hữu Ngọc
    Chương 12: Ngoại truyện


    Từ nhỏ Bùi Ý đã biết, hắn ở nhà không được coi trọng.

    Thái mẫu thương tỷ tỷ nhất, mà đại ca từ khi sinh ra đã ốm yếu, cha và nương luôn ân cần hỏi han, vây quanh huynh ấy.

    Mười ba tuổi hắn tới doanh trại ở biên cương phía Bắc, trà trộn trong một đám người thô lỗ lớn tuổi hơn hắn rất nhiều, nghe bọn họ mắng chửi người khác, xem bọn họ đánh nhau, mở mồm ra là văng lời tục tĩu.

    Mà hắn thì chỉ là kẻ gọi là đến, xua tay là đi.

    Một tên lính mới, nếu không nghe lời sẽ bị đá rất thảm hại.

    Thân thể hắn luôn cường tráng, thế nhưng năm thứ hai ở quân doanh lại bỗng nhiên đổ bệnh nặng.

    Có thể là không thích nghi được với khí hậu trong suốt một thời gian dài, cũng có thể là quá rét.

    Sau đó hắn lâm vào cơn mê man, mơ thấy rất nhiều chuyện hồi còn bé.

    Trước khi nhà mở cửa tiệm, thực ra bọn họ sống rất kham khổ.

    Tỷ tỷ là người thích khoe khoang, cái gì cũng muốn thứ tốt.

    Còn đại ca thì phải đến trường, học phí cũng không hề rẻ.

    Hắn cũng muốn đọc sách, có lần nói với cha, cha lại bảo: “Đọc sách thì có ích gì, mai mốt cha sẽ truyền lại cửa hàng cho con, con cứ an tâm học làm tào phớ với cha, sau này gia sản nhà ta đều là của con hết.”

    Đọc sách sao lại không có ích gì chứ?

    <i>Tất cả đều thấp hèn, chỉ có đọc sách cao</i>(1), đây là điều đại ca chính miệng nói cho hắn nghe.

    <i>(1) Trích từ bài thơ đầu tiên trong loạt “Thần đồng thi” của Uông Thù, nguyên văn: “Thiên tử trọng anh hào, dùng văn chương dạy học, tất cả đều thấp hèn, chỉ có đọc sách cao.”</i>

    Hắn nhớ khi nhỏ từng luộc một ít khoai môn ở nhà.

    Khoai vừa thơm vừa ngọt, hắn ăn xong một củ, đang duỗi tay muốn lấy củ nữa thì nương đã trực tiếp bưng đi.

    “Đừng ăn nữa, để khi nào ca ca con đọc sách đói bụng thì ăn.”

    Rõ ràng vẫn còn hơn nửa nồi mà.

    Còn thái mẫu lại nhân lúc nương không để ý mà lấy trộm một củ, đưa cho tỷ tỷ.

    Khi còn niên thiếu, Bùi Ý đã từng làm không ít chuyện hoang đường.

    Đơn giản là hắn cảm thấy ở nhà chẳng ai quan tâm tới hắn, cho dù đùa nghịch có điên loạn hay ngông cuồng đến cỡ nào cũng sẽ không ai quản hắn.

    Nhưng có lẽ hắn đã lầm. Bùi Trường Thuận một lòng muốn giao cửa tiệm lại cho hắn, hình như vẫn còn để tâm đến đứa con này.

    Hắn bắt đầu cảm nhận được từ lúc nào?

    Là lúc hắn giết người, về nhà kể lại, Bùi Trường Thuận òa khóc thật to: “Con trai của ta, con thế này là muốn lấy mạng cha con đúng không?”

    Sau khi tiêu tốn hơn nửa gia tài, hắn bị đưa đến quân doanh.

    Ngay cả khi cha qua đời, hắn cũng không thể trở về.

    Sau đó, lần đầu tiên hắn về nhà, là nương viết thư cho hắn.

    Đại ca sắp thành thân.

    Đó cũng là lần đầu tiên hắn trông thấy Tiết Ngọc. Cô nương mười lăm tuổi, mặc quần áo bằng vải thô, mái tóc đen dài, đôi mắt to tròn.

    Là một cô gái nhỏ rất ưa nhìn.

    Nàng vô cùng chăm chỉ, ngay cả quần trong áo trong của hắn cũng mang đi giặt.

    Lại còn khoanh vườn trồng rau, nuôi gà, trồng hoa ngoài cổng.

    Cơm nàng nấu ăn rất ngon.

    Khi băm thức ăn cho gà, nàng vừa ôm Tiểu Đào đang quấn chặt lấy cổ mình, vừa ca hát dỗ dành con bé.

    Bùi Ý đứng ở trước cửa, nhìn Tiểu Đào kéo cổ nàng, cũng nghe nàng hát.

    Đột nhiên cảm giác sân nhà như bừng sức sống.

    Đồng thời cũng cảm thấy không công bằng, nương sốt sắng cưới vợ cho đại ca, sao không bao giờ nghĩ tới chuyện cưới một cô vợ cho hắn.

    Rõ ràng là hắn cũng đã mười bảy rồi.

    Hắn thay đại ca bái đường, thành thân với Tiết Ngọc.

    Mà đại ca vẫn ra đi.

    Cô nương kia mặt trắng bệch, bưng chén thuốc đứng trong phòng, dáng vẻ luống cuống chân tay đó đột nhiên khiến hắn cảm thấy nàng thật đáng thương.

    Mới vừa kết hôn đã thành quả phụ.

    Nhưng ai cũng có số mệnh của mình.

    Hắn trở về quân doanh, chuyên tâm tuần doanh và huyến luyện hết ngày này qua ngày khác, nỗi thất vọng và buồn khổ cũng sớm bị gió biên cương thổi cho nguội lạnh.

    Cứ đến mùa đông, đám mọi rợ người Hồ lại như hổ đói rình mồi mà lao tới cướp bóc.

    Hắn ở nơi này năm năm, đã từng tự tay đánh giặc, cũng tận mắt thấy không ít người tử trận.

    Hắn vẫn còn nhớ rõ những kẻ thô lỗ mở mồm ngậm mồm đều buông lời tục tĩu lúc hắn mới đến doanh trại, khi thấy hắn cầm trường mâu hướng lên phía trước thì lại hung tợn đẩy hắn ra sau…

    “Lông còn chưa mọc đủ, thể hiện cái mẹ gì.”

    Sau đó, gã cọc cằn từng đá hắn, chết dưới lưỡi đao người Hồ.



    Thời niên thiếu thích liều mạng đánh lộn, kỳ thực quá mức nực cười.

    Quân sư tiên sinh đã nói với hắn, những thứ ấy đều không phải là năng lực. Đôi vai của một người đàn ông tốt, phải gánh vác gia đình, gánh đỡ đất nước.

    Sau khi đại ca qua đời nửa năm, nương cũng đi theo.

    Mà phải đến bảy tháng sau hắn mới nhận được tin tức.

    Trái tim đột nhiên rét lạnh.

    Trong nhà còn có thái mẫu đã già và tiểu muội còn non nớt, đều trông cậy cả vào hắn.

    Hắn lại lần nữa xin nghỉ để về nhà. Khi đứng ở cửa thôn, chỉ thấy trước mắt đều là điêu tàn hoang vắng.

    Tiết Ngọc rời đi, vốn là chuyện trong dự kiến.

    Trong lúc lâm chung đại ca cũng đã từng nói, phải ký thư phóng thê cho nàng.

    Nàng thủ tiết một năm, đã đủ tận tình tận nghĩa.

    Lần đầu tiên trong cuộc đời, Bùi Ý cảm thấy hoang mang.

    Hắn sẽ phải về quân doanh, sắp xếp cho thái mẫu và tiểu muội như thế nào, chính là chuyện đau đầu nhất.

    Sau khi nương mất, tỷ tỷ Bùi Mai tham dự tang lễ xong thì tới mặt cũng chẳng dám lộ, cứ như thể sợ người ta ăn vạ mình.

    Vị tỷ tỷ này của hắn, ích kỷ, thờ ơ và phù phiếm đến cỡ nào, hắn còn rõ hơn bất kỳ ai hết.

    Khi còn đang bán tào phớ ở trên huyện, nàng ta đã quyết tâm làm dâu nhà giàu quyền quý, nhất định phải cưới cho bằng được tên công tử Chu gia dáng vẻ kệch cỡm kia.

    Một nơi như nhà họ Chu, nếu nhất quyết đưa thái mẫu và Tiểu Đào đến, sao bọn họ có thể sống yên ổn được.

    Bùi Ý nấu cơm cho thái mẫu và muội muội dưới bếp. Lửa trong bếp cháy hừng hực, còn hắn thì lại không thể bình tĩnh như ngoài mặt, trong lòng hoang vu trống trải.

    Cho đến tận khi Tiết Ngọc đi một vòng lại trở về, gọi hắn một tiếng “nhị thúc”.

    Khoảnh khắc trông thấy nàng, hắn liền biết, hắn đã được cứu rồi.

    “Ý của nhị thúc thế nào?”

    “Được”

    Chữ “được” ấy, lúc bật ra khỏi miệng, cổ họng hắn đã khản đặc.

    Nàng không đi nữa, nàng còn trẻ như vậy, tuổi thanh xuân đẹp đẽ nhất sẽ phải chôn vùi trong nhà họ Bùi bọn họ.

    Sau đó Bùi Ý lại trở về quân doanh.

    Quân lương đã được phát, mỗi tháng hắn chỉ giữ lại một quan tiền, còn đâu tất cả đều gửi về nhà hết.

    Tính ra, đây đã là năm thứ bảy hắn ở trong quân.

    Từ một thiếu niên ương ngạnh khó bảo không biết trời cao đất dày, đến một Bùi giáo úy đã nhìn quen sinh tử và giết chóc.

    Ai nấy đều tán dương hắn, nói hắn còn trẻ như thế mà đã trở thành giáo úy.

    Chỉ có hắn biết, hắn có thể tàn nhẫn đến vậy, là bởi vì muốn vượt trội hơn mọi người.

    Ở trong quân doanh, tuy rằng ít phải xài tiền, nhưng không có nghĩa là hoàn toàn không tiêu gì cả.

    Đặc biệt thân là giáo úy, không thể không uống rượu cùng thuộc hạ.

    Có lẽ mọi người đều biết là hắn có hơi túng quẫn.

    Những người không được người thân gửi quần áo mùa đông cho, lại chê đồ quân dụng không đủ ấm, thường sẽ vào trong Bình Thành, bỏ ít tiền ra mua đồ ở huyện.

    Chỉ có mình hắn, chưa từng mua gì, cũng chẳng có tiền mà mua.

    Hắn luôn nghĩ đến cô nương đang chôn vùi tuổi thanh xuân đẹp đẽ nhất trong nhà họ Bùi bọn họ kia, cho dù chính mình chịu khổ, hắn cũng không muốn để cho ba nữ nhân trong nhà phải khổ.

    Lần đầu tiên Tiết Ngọc gửi thư đến, hắn hơi có chút hoảng sợ trong lòng.

    Mấy năm nay, hầu hết tin tức gửi tới từ nhà đều là tin xấu.

    Nhưng vừa mới mở thư ra, hắn đã bật cười.

    Nàng nói muốn bắt tay vào làm lụng, còn hỏi hắn công thức nấu tào phớ.

    Trong nhà chẳng có ai nắm rõ cách nấu tào phớ hơn Bùi Ý, cha Bùi lúc trước luôn muốn để cửa tiệm lại cho hắn.

    Hắn liền hồi âm nói cho nàng biết, không do dự một khắc nào.

    Cũng không lờ đi câu cuối cùng nàng viết trong thư…

    <i>Biên cương giá rét, nhị thúc nhất định phải bảo trọng thân thể, mong sớm bình an về nhà.</i>

    <i>Mong sớm bình an về nhà…</i>

    Căn nhà kia, hắn đã quên mất đấy là nhà mình từ rất lâu rồi.

    Nửa năm sau, Tiết Ngọc lại gửi thư tới. Nàng nói cửa tiệm đã bắt đầu có lợi nhuận rồi, hắn ở trong quân cũng cần chi tiêu, đừng có làm khổ chính mình.

    Từ trước tới nay hắn chưa bao giờ thấy khổ.

    Sau đó chiến dịch biên cương bùng nổ, triều đình điều binh khiển tướng, mọi người tất bật trong quân, bỗng nhiên lại có quân sai gọi hắn, nói nhà hắn gửi quần áo chống rét tới.

    Bùi Ý sửng sốt, phản ứng đầu tiên chính là cảm giác mình đang nằm mơ.

    Từ khi tham gia quân ngũ năm mười ba tuổi, hắn chưa từng được người nhà gửi quần áo chống rét bao giờ.

    Cho dù chỉ là một cái bao đầu gối.

    Chưa từng mặc áo lông cừu, cũng không biết thì ra áo lông cừu lại ấm áp đến vậy, ngay cả cổ áo cũng đính một lớp lông thật dày.

    Bao đầu gối cũng vừa nhẹ vừa ấm.

    Chàng giáo úy trẻ tuổi đột nhiêt cảm giác đôi mắt nóng lên, lúc trước vẫn luôn sống thế, chưa bao giờ cảm thấy lạnh.

    Lúc mặc áo lông cừu vào mới kinh ngạc phát hiện, không biết từ đó tới giờ mình đã chịu đựng thế nào.

    Gió lửa liền ba tháng, thư nhà tựa ngàn vàng.

    Ngày nào cũng có người chết, gió biên cương thổi cho lòng người vừa lạnh lẽo vừa cứng cỏi.

    Mỗi một phong thư của Tiết Ngọc, hắn đều cất kỹ trong ngực áo mình.

    Đêm nào hắn cũng mang ra đọc đi đọc lại. Rõ ràng là nội dung rất giản đơn, lại làm cho trái tim cứng ngắc của hắn trở nên mềm mại.

    Thư nói, tại huyện Vân An quận Thao Châu, có cửa tiệm tào phớ nhà bọn họ.

    Trong cửa tiệm có tào phớ nóng hôi hổi, có canh lòng gà tươi ngon, có thể thêm miến, còn có thể cho thêm bánh bao vụn.

    Thái mẫu lớn tuổi và muội muội bướng bỉnh, đều mong hắn bình an về nhà.

    Tiết Ngọc, cũng mong hắn bình an về nhà.

    Tiết Ngọc, Tiết Ngọc…

    Bùi Ý nhẩm đi nhẩm lại cái tên này, cảm thấy cực kỳ dễ nghe, thậm chí chính bản thân hắn cũng không biết môi mình đã nhoẻn cười.

    Cho đến tận khi Hàn Anh nhảy dựng: “Bùi Ý, huynh giờ trông giống hệt Vương Đại Đức ở doanh trại chúng ta, tiểu tử kia năm ngoái thành thân, mỗi lần nhận được thư vợ gửi cho cũng cười nghệch ra như thằng ngốc ấy.”

    Nụ cười của Bùi Ý đóng băng lại trên khóe môi.

    Sau đó, hắn bắt đầu nghĩ ngợi, tính toán làm sao để cưới được Ngọc Nương về.

    Chém giết trên chiến trường, sinh tử nhìn riết cũng quen.

    Lúc bị mắc kẹt trong núi Lộc, ngoài trời tuyết giăng trắng xóa, những người bên cạnh lần lượt lần lượt ra đi.

    Đều là huynh đệ kề vai chiến đấu bên nhau, vậy mà hắn lại bất lực.

    Hắn chỉ có thể tận lực đánh thức bọn họ, bảo bọn họ không được ngủ.

    Hắn kể cho họ về cửa tiệm tào phớ ở huyện Vân An quận Thao Châu, nói rằng tay nghề kia là gia truyền, hương vị độc nhất vô nhị.

    Còn lấy thư của Tiết Ngọc ra đọc cho mọi người nghe.

    Tiết trời giá trét, tuyết tàn gió bạo, người thân vẫn đang đợi bọn họ trở về, ăn một bát tào phớ nóng hổi, uống một bát canh lòng gà.

    Giữ được tính mạng thật khó. Một cậu lính nhỏ mới mười lăm tuổi chịu đựng không nổi nữa, nói với Bùi Ý: “Ca, đệ cũng muốn ăn tào phớ.”

    Nói xong thì người cũng đi. Bùi Ý khóc, nước mắt đọng lại trên mặt, gió thổi qua càng đau rát.

    Hắn đột nhiên nhớ nhà khôn xiết, muốn ăn bát tào phớ ấy, nhớ thái mẫu, nhớ muội muội, cũng nhớ Tiết Ngọc.

    Trong nháy mắt đó, hắn đột nhiên có một suy nghĩ, nếu có thể sống sót trở về, hắn nhất định sẽ cưới Tiết Ngọc.

    Nàng là một quả phụ, bị kiềm hãm trong nhà họ Bùi bọn họ, cũng có trách nhiệm của hắn.

    Mà hắn, dường như không thể nào không có nàng.

    Trải qua ba năm rưỡi, rốt cuộc cũng đánh trận xong, lúc này hắn đã trở thành Bùi giáo úy thủ đoạn hiểm ác trong miệng người đời.

    Bùi Ý cảm thấy bản thân mình rất đáng sợ.

    Hàng ngàn phụ nữ và trẻ em, sao hắn có thể xuống tay được chứ?

    Nhưng nếu không giết, cũng không thể thả, giữ lại thì sẽ lãng phí lương thực, còn ẩn chứa tai họa ngẩm.

    Hắn nhớ rõ sự phẫn hận trong mắt đám trẻ nhỏ và phụ nữ người Hồ kia, họ chỉ một lòng muốn ăn thịt bọn hắn, uống máu bọn hắn.

    Không cùng một tộc, không thể nào không ra tay.

    Bùi Ý nằm mơ cả đêm, hắn mơ thấy những đứa trẻ người Hồ đã chết đều bám riết lấy hắn. Sau đó, hắn chạy trốn tới một cửa tiệm tào phớ.

    Hắn trông thấy Tiết Ngọc đứng ở đấy, ngẩng đầu lên, cười với hắn: “Đồ ăn chuẩn bị xong rồi, nhị thúc đi ăn đi, để lâu nguội mất.”

    Thế rồi xung quanh đột nhiên tĩnh lặng trở lại. Hắn ngồi trước mặt Tiết Ngọc, ăn xong một bát tào phớ, bật khóc.

    Vì chuyện tàn sát tù binh, khi gọi họ vào kinh thành phong thưởng, Hoàng Thượng cố ý bỏ qua hắn.

    Bùi Ý không hề thấy không cam lòng, cũng chẳng oán hận.

    Vậy mà hắn lại cảm thấy như thế này cũng không tệ.

    Cởi giáp về vườn, trở lại bàn bạc mấy câu, thành gia với Tiết Ngọc, bọn họ có thể cùng nhau kinh doanh cửa tiệm gia đình.

    Nhưng cuối cùng Hoàng Đế lại chợt tỉnh ngộ, triệu hắn vào cung.

    Không chỉ phong hắn lên làm tướng quân, mà còn muốn phong cáo mệnh cho quả tẩu trong nhà.

    Mí mắt Bùi Ý khẽ giật, hắn không biểu cảm cự tuyệt.

    Nếu Tiết Ngọc được cáo mệnh, cả đời này bọn họ cũng không thể nữa.

    Bùi Ý trở về nhà, dẫn theo đám người Hàn Anh.

    Tiết Ngọc đứng ở ven đường, nắng trời soi rọi.

    Hắn muốn cưới nàng, nhưng hắn tạm thời không thể nói.

    Giờ hắn đã là tướng quân, nếu cưới quả tẩu trong nhà thì người thiên hạ sẽ không thể nào dung thứ.

    Điều càng quan trọng hơn là, hắn lo dọa Tiết Ngọc sợ.

    Thương lượng kỹ hơn, chậm rãi từ từ, hắn tự nhủ với mình như thế.

    Tiết Ngọc đối xử với hắn thật tốt. Rõ ràng bọn họ không thân thuộc lắm, nhưng nàng vẫn giống như một thê tử dịu hiền, đi theo sau hắn, nhận lấy áo giáp của hắn, xách đôi ủng của hắn lên.

    Nàng huyên thuyên không ngớt, nói buổi tối đun nước nóng để hắn tắm, còn nói đang may quần áo mới cho hắn.

    Khung cảnh này, thật sự quá giống với sự ấm áp trong mơ của hắn.

    Từ khi về nhà, trái tim Bùi Ý mỗi lúc một mềm mại hơn.

    Hắn nghĩ, có lẽ chính bản thân Tiết Ngọc cũng không biết, trong lòng nàng cũng có hắn.

    Tất thảy những gì nàng làm, đều là chuyện mà một thê tử nên làm cho trượng phu.

    Hắn cũng biết mình ở trong phòng Tiết Ngọc, dưới chồng chăn nệm có một cái yếm của nàng, có lẽ nàng đã quên mất.

    Khi cầm cái yếm đó lên nhìn, mặt hắn đỏ bừng, trái tim đập loạn.

    Hắn đi dự tiệc uống rượu, sau khi trở về Tiết Ngọc giúp hắn nấu trà, còn nói muốn may quần áo mới cho hắn.

    Bùi Ý viện cớ cần đo kích cỡ, để Tiết Ngọc xích lại gần hắn hơn.

    Hai người đứng sát cạnh nhau, hắn cúi đầu, ngửi được hương dầu hoa quế trên tóc nàng, rất giống với mùi hương của căn phòng hắn đang ở.

    Từ sau khi về nhà, hắn ngủ trong căn phòng ấy, luôn thấy vô cùng an tâm.

    Nửa tháng sau, hắn vì chuyện buôn lậu vũ khí mà trở về hoa kinh.

    Khi đang bận tới tối mặt, hắn lại nhận được thư của Tiết Ngọc, nàng hỏi hắn khi nào có thể về huyện Vân An.

    Bùi Ý cười, trái tim ngập tràn vui sướng, quả nhiên trong lòng Tiết Ngọc cũng có hắn.

    Hắn không muốn đợi nữa.

    Bùi Ý nheo mắt, sắc mặt thâm trầm.

    Thái Tử đến huyện Giang Châu, hắn chủ động xin đi cùng.

    Hành động này không khác nào trực tiếp đắc tội Phùng Kế Nho và Khang Vương.

    Hắn cần phải chọn một phe, vì chính hắn, cũng là vì Ngọc Nương.

    Thái Tử bị truy sát, hắn dụ thích khách rời đi, lành lặn quay về.

    Nói ra lại thấy buồn cười, một tướng quân mười ba tuổi đã tham gia quân ngũ, sống sót qua cả chiến trường biên cương, nếu như không thể lành lặn quay về, há chẳng phải làm trò hề cho thiên hạ hay sao?

    Nhưng hắn vẫn cố ý để Thái Tử đợi hai ngày ở đình hóng mát.

    Chỉ khi trải qua cảm giác lên voi xuống chó, tinh thần bất ổn, con người ta mới biết mạng sống đáng quý cỡ nào.

    Mới có thể càng kính trọng những người đã từng cứu mình.

    Tiết Ngọc được hắn an bài để trở thành ân nhân cứu mạng của đương kim Thái Tử.

    Có mối quan hệ này rồi, lại thêm hắn quy phục nữa, ngày sau Thái Tử làm mai, Hoàng Hậu chỉ hôn, tất cả sẽ là nước chảy thành sông.

    Bùi Ý cũng rất tàn nhẫn với bản thân, hắn tự chém mình bị thương.

    Chỉ là trông thấy Ngọc Nương bận bịu liên hồi, vì hắn mà đau lòng rơi nước mắt, hắn lại cảm thấy có chịu thêm hai đao nữa cũng chẳng hề gì.

    Ngọc Nương, nàng có điều không biết, tất thảy những gì ta làm, trải sẵn đường, bước từng bước một, đều là vì mai sau chúng ta có thể quang minh chính đại bên nhau…

    Bùi Ý nắm lấy tay nàng.

    Nhưng hắn không ngờ, Tiết Ngọc lại phản ứng mạnh như thế.

    Nàng nói nàng muốn gả cho tú tài, hơn nữa hai người bọn họ đã bàn bạc với nhau xong xuôi cả rồi.

    Bùi Ý bỗng chốc cảm thấy thất vọng tột độ, đôi mắt đỏ bừng, cả người như rơi thẳng xuống hầm băng.

    Nàng không thích hắn?

    Chơi một bàn cờ lớn như vậy, không tiếc mạo hiểm bản thân, nào là khi quân nào là trọng thương, kết quả nàng nói nàng muốn gả cho tú tài.

    Ngực hắn đau, vai đau, eo cũng đau.

    Hắn nổi cơn thịnh nộ. Gả cho tú tài? Kiếp sau đi.

    Không, kiếp sau cũng không được.



    Sau khi vết thương lành lại, buộc Ngọc Nương thừa nhận tâm ý của mình xong, hắn hồi kinh, việc đầu tiên làm chính là tìm người mai mối cho tú tài kia.

    Hắn ta không muốn ư?

    Ha ha, hắn có nhiều thủ đoạn tuyệt diệu lắm.

    Cuối cùng, trong phủ tướng quân, hắn kẻ lông mày cho thê tử mới cưới, ngoài cửa sổ hoa mộc lan nở rộ, cành lá sum sê.

    Ngọc Nương bất mãn hỏi: “Chàng bắt đầu tính kế ta từ khi nào vậy?”

    Bùi Ý cười, nên bắt đầu kể từ khi nào đây? Hình như nàng vẫn chưa từng nhận ra, nàng bị mất một cái yếm.

    Kẻ d*m t*c háo sắc trộm hương trộm ngọc này, dự định đêm nay sẽ thẳng thắn với nàng.

    Ngọc Nương, quãng đời còn lại dài lâu, tình đời bạc bẽo, nhân gian với ta đều là đau thương tịch mịch, duy chỉ gặp nàng, như gặp cảnh xuân.

    HOÀN
     
    Back
    Top Bottom