[*] khô cốt — xương khô.
•
•
•
Mùa đông thứ năm mươi lăm.
Cửu Long Thành tuyết rơi trắng xóa, nhưng thiếu đi những hồ tắm onsen và hương rượu sake ủ suốt bốn mùa, Yamagata tạm bợ này của tôi thoạt trông tồi tàn hẳn.
Tám rưỡi sáng.
Đã non nửa buổi ngày mà tầng ba trụ sở vẫn chỉ vỏn vẹn mấy bóng người.
Tôi xoay xoay phần đế làm bằng nhựa đông của một trái cầu thuỷ tinh đúc ruột hình ngọn núi Phú Sĩ, hướng bề mặt phía trước quả núi trắng tinh khôi về phía mình.
Shizuoka bé nhỏ chỉ vỏn vẹn nằm trong một lòng bàn tay, thoáng đâu đây phấp phới bóng cờ.
Tuyết lẳng lặng rơi trong những bọng dầu trong suốt, còn bên ngoài ô cửa sổ đã hằn in từng vết rạn của tiết khí tháng đầu năm.
Hoắc Đồng Anh đẩy cửa đánh 'xoạch', khung cửa bằng kính mờ lập tức trượt về bên phải.
Gã bước vào phòng và hờ hững dựng chiếc ô còn sũng nước mưa lên vuông kính trắng, sàn nhà dần lấm đen dấu giày, trên tay trái còn quắp một điếu thuốc hiệu Trường Đông đang cháy dở dùng xông hơi buổi sáng.
Dường như nhận được ánh mắt chẳng mấy dễ chịu từ tôi phóng ra, gã ngẩn người trong giây lát rồi xòe hai bàn tay giơ lên tỏ ý điều đình.
"Rồi rồi," Hoắc Đồng Anh lầm bầm trong cuống họng, biếng khác khom người nhặt chiếc ô lên để cắm nó vào trong ống đựng.
"Văn phòng nguyên tắc nhất khu, tôi đã hiểu...
Quả thực không khác gì tới gặp luật sư."
Luật sư.
Tôi lặp lại, thì thào, như một âm câm ẩn mình nơi đầu lưỡi và sẵn sàng hoá mũi gai đen đâm sâu lên yết hầu.
Luật sư.
Luật gia.
Người thụ uỷ.
Trái nghĩa của luật sư là gì nhỉ.
Tội phạm?
Khoan hồng?
Hảo ý?
Hoặc dựa vào phục trang để phán đoán những kẻ không làm nghề này.
Có những luật sư đi giày tây ắt trái ngược với những thằng rỗi hơi xỏ chân dép lá.
Hoặc là thành bại.
Giá mà tôi tồn tại cũng dễ dàng như chơi trò tìm từ phản nghĩa.
Giá mà vậy.
"Có việc gì không?"
Cơn đau trôi tuột qua thực quản, trệu trạo nuốt xuống dạ dày.
Gã đồng nghiệp thong thả tháo mũ, ý tứ treo lên chiếc móc đã được dựng sẵn bên lề cửa thay vì ném toẹt chúng xuống đất như tấm ô, mỗi khi trút xuống một món gì, gã lại đưa điếu thuốc kê môi rít lấy hơi sâu rồi rũ rũ khiến cho tàn lửa vật vờ cứ rơi trên sàn xi măng màu lông chuột.
Trò giữ ý nửa vời cộng thêm điệu bộ gai mắt bám trên người gã đã từ lâu làm tôi khó chịu, song vẫn cố giữ hoà khí chờ thủ tục xong xuôi.
Cuối cùng, gã bước lại phía bàn làm việc tôi ngồi đó và rút trong ngực áo gile ra một tệp hồ sơ ước chừng nửa đốt ngón tay, giấy bìa nâu in hằn dấu đỏ, thả lên bàn.
Tôi liếc nhìn gã rồi lại nhìn tệp giấy chưa ráo mực màu, dưới lớp hoen đỏ hỏn có ghi nắn nót một hàng chữ.
Cổ độc trùng năm mươi năm tuổi.
"Vụ ở Long Tường Đạo đêm đó."
Như thể sợ tôi còn nghi hoặc, Hoắc Đồng Anh sấn sổ dí đầu ngón tay vào cái tên trên bìa.
"Tôi huy động được một đội có mặt phân tích hiện trường, ngay sau khi..."
Gã tằng hắng trong giây lát, tuy thế tôi hiểu gã muốn nói gì.
Tôi đã bất tỉnh suốt nửa giờ đồng hồ sau khi chứng kiến màn khiêu vũ của nàng tayu trên sân khấu giả, vào thời điểm tỉnh lại còn nghe bề sau hộp sọ mình nhói đau.
Có lẽ Hoắc Đồng Anh đã thẳng tay cho tôi một cú hòng tiện bề xử lý vụ việc, hẳn nhiên, trong tình huống nghi phạm rành rành trước mắt, chẳng ai hơi đâu mà lo lắng cho tên đồng đội hờ của mình.
Kẻ thủ ác đã chết.
Án khép mà chẳng có lấy một câu biện bạch.
Đôi khi tôi vẫn thầm trách móc đám người trong trụ sở về lối làm ăn thiếu lương tri, có lẽ vì quen biết em, có lẽ vì một phần gốc tích háo thắng trong tôi vẫn học đòi chuỗi tháng năm lôi thôi thuở trẻ.
Nếu kẻ nằm vạ vật chết ngay đó là một con người, liệu họ có mủi lòng xót thương và tra án tới cùng không hay cũng chỉ lặng thầm đóng triện.
Bởi nếu đó là một cái xác quỷ thì thật dễ dàng quá, đâu còn mối nguy hại nào cần bận tâm.
Cổ độc trùng cũng được, cô hồn dã quỷ cũng thế thôi.
Đã có kẻ nhận lấy mọi tội lỗi, và chẳng phải con người yếu nhược.
Tất nhiên cơ sự ấy cũng mang đến cho tôi không ít những ngày bạc đầu đau đớn, song về cơ bản, đây là cuộc đời.
"Dù sao, tôi cũng đã suy nghĩ mãi về cái chết của Cổ độc trùng khi ấy.
Nghe nói có một bên thứ ba đã nhúng tay vào vụ này.
Một giáo phái nào đó, hoặc một tổ chức phạm pháp...
Chúng tập hợp những con quỷ có tham vọng hạ sát đồng loại, và, dĩ nhiên — là cả con người.
Nhưng cấp trên chẳng đả động gì, ngay cả đội phân tích hiện trường cũng lặng tiếng im hơi.
Nếu cứ mãi ôm khư khư cái tác phong làm việc thiếu chuyên nghiệp như thế này, rồi đến một ngày kia chắc chắn mấy lão quản sự sẽ lôi cả đồng nghiệp nhau lên bàn mổ.
Trụ sở dầu sao cũng chẳng phải hạng sạch sẽ gì cho cam."
Hoắc Đồng Anh vẫn thao thao bất tuyệt, nhưng chẳng còn câng câng vẻ trâng tráo như lần đầu chúng tôi gặp gỡ.
Gã nửa tựa người lên mép bàn, cổ ngửa góc phần tư, thâm trầm phả ra một luồng khói đục.
Cái chết của một con quỷ lại có thể tác động lên tâm tưởng một con người đến thế sao.
Hay những vụ án suy cho cùng cũng chỉ là vụ án, cái trụ sở này, những cá thể đương trên đà suy vong và trút dần sinh khí theo thành phố này, chỉ mãi hoài vọng một thế gian xuôi theo vạn chiều lý tính?
Còn hy vọng nào nữa không khi ngay cả tôi cũng đã manh mún buông xuôi?
"Hẳn vậy."
Tôi cố tránh khỏi nhắc tên em.
Suy cho cùng cả hai chúng tôi đều là những kẻ trốn chạy khỏi thân phận cũ, cái tên bị vứt bỏ sau mỗi bận thoát thai.
Nó ngỡ như đã mất hẳn đi sự thanh thoát lúc ban đầu.
Chỉ còn vài âm phổ dính dớp trên đầu lưỡi, khi thoát ra ngoài cửa miệng sẽ ngay lập tức hoá bùn đen.
"Xin lỗi.
Đã không giúp được gì còn gây phiền phức tới cậu."
Hoắc Đồng Anh phất tay vẻ bất cần.
Tôi chỉ nói bâng quơ, song giọng điệu chân chính tợn.
Gã rồi đây sẽ còn phải đối mặt với nhiều đồng sự quái đản hơn, rồi có thể sẽ vĩnh viễn tàn tật hoặc phải chịu một rủa nguyền ác tính nào đó.
Bầy đạo sĩ chúng tôi từ khi bước chân vào tòa nhà này đều đã được phán trên đầu một án tử, chưa bàn đến những kẻ chết rũ muôn niên.
Tôi miên man nghĩ thế chứ chẳng mảy may hối lỗi chút nào.
Chúc cho tuổi trẻ mãi bừng trên thân xác gã.
Ngay khi tôi đã trộm nghĩ muốn đem trả tập hồ sơ mới xem xong rồi tiễn khách sớm, gã đồng nghiệp bỗng nhiên ngoái lại nhìn tôi.
Ảo giác lẳng lặng vây quanh.
Tôi thấy gương mặt mình rõ đến từng chân tơ trong mắt gã, lẫn lộn sâu nơi một bể hoang đường.
Như thể gã nhìn một sinh thể lạ.
Thế rồi gã hỏi: "Nhưng quả thực tôi chỉ còn một thắc mắc duy nhất.
Ngày hôm đó vì nguyên cớ gì..."
Hoắc Đồng Anh khó khăn đắp nặn từng chữ, dường như việc trông thấy một tôi dở điên dở dại dưới chân món quốc bảo hoàng gia trong chuyến săn đêm ấy vẫn là điều không tưởng, "rõ ràng trên sân khấu đó còn chẳng có lấy một nàng vũ công, chứ đừng nói đến múa thoát y giữa thanh thiên bạch nhật?
Chỉ độc sân khấu chết.
Vậy mà..."
Mi mắt trái tôi liên hồi giật.
Khi tôi ngã xuống, đất trời tối tăm.
Khi tôi đứng lên, ánh đèn sáng đục.
Tôi đã cuồng quay giữa hai đầu biên giới bất minh suốt khoảng thời gian Hoắc Đồng Anh còn mải mê tra án, trong khoang mũi chỉ tuyền sực nức mùi hương nước hoa quán nhạc.
Những cái bóng trắng đảo đều trong hai hốc, phảng phất in trên bốn bức tường áp mặt vào nhau.
Sáng tối giao thoa, thời gian xoay tròn.
Kiệt quệ.
Hồn cốt tôi kiệt quệ.
Tôi điếng người giở tay nhẩm đếm: ba hồn bảy vía vẫn còn đây nhưng U Tinh có phần mờ nhoè hẳn.
Tay trái tôi vội vàng vuốt mắt, không thấy có mồ hôi rơi.
Hẳn nhiên đêm kia đã xảy ra nhiều chuyện.
U Tinh thuộc ba hồn, còn nó là còn biết yêu người khác.
U Tinh mất cũng là khi người ta ráo kiệt cảm giác yêu thương.
Ước chừng như U Tinh của tôi đã bị ai cố tình rút trộm, song không rút đi hết được, ngoại trừ việc thoạt trông nó chẳng khác gì một hư ảnh thì cội rễ vẫn còn nguyên và cắm chặt vào lồng ngực tôi, xuyên qua hai lần áo khoác.
Những tiếng gào the thé phát ra bên tai khi tôi dừng việc.
Tôi ít khi kiểm tra mệnh số, nhưng mỗi lần nhìn lại đều chỉ thấy tai ương.
Em đã nghĩ gì khi hằng buổi bình minh phải vật vờ khảo tra xem đó có phải là ngày nên sống.
Em có từng thấy mệt mỏi không.
Tôi còn khuya mới đủ can đảm làm vậy.
Những kiếp sống đè lên nhau chưa bao giờ xua bớt được cái mùi tử khí đã từ lâu bám sâu vào da thịt.
Một công nhân viên chức tầm thường và một ả gái giang hồ phường lang bạt.
Một nho sinh mặt mày yếu ớt đi cùng nàng ca kỹ vô danh.
Một tay đào binh được nàng thôn nữ bảo hộ khỏi hiến binh lùng bắt.
Và đôi vợ chồng trẻ mới cưới, nàng tân nương lớn tuổi luôn mang đôi mắt thật buồn rầu xa xôi vạn dặm, trong khi đức lang quân có nụ cười rộ nở những tháng đương hoa.
Bao nhiêu lần mất mạng là bấy nhiêu lần đè nén ưu tư.
Cho đến một ngày kia hai cá thể buộc lòng nói ra câu bái biệt, hoa nở phường Tây, chàng phiêu du đằng Bắc.
Đời này nguyền không hạnh ngộ.
Thế rồi chúng tôi lại gặp nhau, lại vướng vào nhau theo cách thê thảm nhất.
Níu tay nhau, làm vướng chân nhau, che kín mắt nhau.
Tôi ôm theo mối duyên nợ mê man qua mấy lần chuyển thai hoán cốt, nghiễm nhiên coi đó là chuyện thường tình.
Có lẽ em cũng đã dửng dưng.
Xin em đừng thờ ơ mãi thế.
Với tôi và cả với chính mình.
Tôi quay sang nhìn Hoắc Đồng Anh, cả hai ngơ ngác đối diện nhau như vừa bị dội ngược trở về từ một hiện thực xa lạ.
Không còn là đồng nghiệp nữa, cũng chẳng ngầm xem nhau chướng tai gai mắt như tôi đã từng, càng thôi ngay cái trò giả lả.
Giờ thì hai chúng tôi giống hệt, đều là những kẻ bị người ta chơi khăm.
Nhân gian là miền bất tín.
Tôi cố nhớ lại phút giây đêm ấy song không thể.
Gương mặt nàng tayu bỗng hoàn toàn mất tăm khỏi đền đài ký ức, tàn nhẫn không lưu lấy một dấu chân.
*
*
*
Cái lạnh thẩm thấu vào tận hồn tôi, lang thang trải rộng khắp mấy nẻo đường khi chân đi đã thấm mỏi, trốn vào đâu cũng không thể thoát.
Lẽ thường tình tháng Giêng rét đậm, sinh tồn ở cái chốn suy vong đây đã độ mấy mươi niên, tôi vẫn không sao quen biết.
Thảng hoặc cơ địa tôi không được, hoặc lòng tôi cố chấp không dung.
Hồng Kông có làm sai gì chăng, có quá phận lần nào với tôi chăng?
Không hẳn.
Nếu chỉ viện cớ tôi đã quá ư chán chường với một miền đất chết, thì quê hương xứ sở cũng vậy đấy thôi.
Nghe bảo bây giờ người ta đã ban hành lệnh bỏ ngành quân sự, cắt giảm ngân sách và chuyển hoá nó trở thành mối bận tâm hàng đầu bao gồm y tế và giáo dục.
Lo cho tương lai lũ trẻ và chăm nom quá khứ người già.
Một đất nước tái sinh từ bi thương máu lửa.
Vậy thì đất nước nào mà chẳng thế.
Cũng lò dò trỗi dậy trong những đống tro tàn hoang phế xỉn mùi khói bom, để rồi lại một lần nữa rỏ máu lần khần, chậm chạp, leo lắt thôi, nhưng cứ vậy mà tong tong tới chết.
Thú thực tôi chẳng có nhiều thời gian để suy ngẫm sâu xa tới vậy.
Tôi bắt vội một chuyến xe ngược về Long Tường Đạo, mặc cho tiếng gọi gần như gào thét của Hoắc Đồng Anh đã bị át đi trong tiếng gió thê lương.
Gã đòi đi cùng tôi, nhưng tôi từ chối.
Âm thanh phát ra từ đầu môi gã kéo dài thành một loại thanh sắc xa lạ còn ngôn ngữ tôi nghe không hiểu nổi.
Gã đang nói bằng một ngôn ngữ chết, thậm chí người tài xế cũng đang nói bằng một tử ngữ vô danh, Đi đâu đây?, Năm mươi đồng., Không được, trả trước cho tôi đi.
Trong tai tôi lùng nhùng, máu tràn ra khỏi hai lỗ và tí tách rơi trên đôi bả vai.
Dường như không ai nhìn thấy, dường như không ai bận tâm, máu tiếp tục rỏ xuống và bất lợi duy nhất tôi nhận được còn chẳng phải là cơn đau thấu sọ.
Tôi đã dần không nghe ra nổi tiếng Hoa.
Xe tấp vào lề đường.
Quán rượu nằm cuối tiểu khu, nói khiêm tốn lại là nói quá.
Trong cái ánh sáng lờ mờ của mùa đông trên một nền tuyết rơi bải hoải, quán rượu thoạt trông lừng khừng như vẫn đang nằm trong chăn ấm.
Đã bớt náo nhiệt so với buổi tối hôm trước, nên tôi nhìn được nó rõ hơn.
Nằm nép mình giữa một bức tường cao xám xịt và một tòa cao ốc tối tăm, độ cao thi công vừa phải.
Quán bar Đông Lâu.
Cuối Long Tường Đạo.
Những con chữ neon xỉn màu không sáng đèn, vậy mà đôi mắt tôi vẫn đau nhức nhối.
Ngay khi tôi vừa bước xuống, chiếc taxi đã phóng vọt đi.
Tuyết cồn lên sau một cú rít sâu bên dưới chiếc lốp, văng mù mịt, áo choàng đen bợt màu lếch thếch.
Tôi bước nhanh vào trong quán, tay dùng lực đẩy cửa, hất văng tấm màn châu sang phía khác.
Bốn bức tường treo đầy những tranh nam nữ dung tục, một nàng ca sĩ để tóc hippie đang xoắn xuýt bên cây micro, vẽ kiểu pop–art.
Đám người phục vụ ít ỏi tập trung ở phía xa, nơi bật chiếc đèn mờ, loay hoay phần công việc gì đó.
Một cậu nhân viên bê những chiếc thùng đi tới lui từ phía sau lưng quán vào quầy rượu, một cô hầu bàn lẳng lặng lau những mặt gỗ vẻ như hơi nhám đen, nhoài người khoa trương nhưng cánh tay thì ỳ ạch.
Tất cả bọn họ đều mang vẻ rời rạc thờ ơ.
Tôi từng xem một bộ phim về người máy bồi bàn phục vụ trong một quán ăn kiểu u, đánh bẫy những thực khách hạng sang bằng thực đơn là chính từng bộ phận trên cơ thể họ.
Con người không ăn thịt đồng loại mà ăn thịt chính mình.
Nhưng tôi không tới đây để tự tiêu hoá.
Nếu có thể, tôi đã làm điều ấy từ lâu mà không phải viện tới bất kỳ một sự trợ giúp vô nhân tính nào.
Không gian quán nhạc vẫn vẻ tối tăm, bốn bức tường vây lấy phần chính diện là sân khấu cao nửa thước cách bề mặt đất, nối liền bằng cầu thang sập cỡ bốn thanh ngang.
Vẫn là hai tầng tách biệt, lan can tầng trên chỉ cần một cú nhoài người là răng môi lộn lẫn, ngã chổng vó.
Ngay vị trí chếch ánh đèn kia tôi đứng trong đêm nọ, đứng và nhìn chăm chăm xuống sân khấu nơi buổi biểu diễn mang đậm sắc màu văn hoá giao bôi.
Buổi biểu diễn giả mạo.
Ai đã ăn tươi nuốt sống trái tim tôi đêm ấy.
Ai đã đẩy tôi rơi xuống một hố sâu, để rồi ngàn đời mắc kẹt, chỉ còn biết vĩnh viễn nghển cao đầu để nước mắt rơi mỗi khi muốn ngắm ánh trăng rằm.
Tôi muốn vớ lấy một người mà hỏi.
Anh có nhìn thấy không?
Nàng ta đứng ở ngay đó.
Nàng ta cứ vậy mà như thế đó.
Anh thấy không, thấy không?
Nào có chuyện thiếu nữ kia lại biến mất một cách vô lý, huống hồ, tâm trí tôi đâu phải thứ dễ bị đánh lừa.
Song tôi chợt nhận ra nàng là thứ gì còn tôi là thứ gì.
Một Phù Tang dạng sinh thể sống với một kẻ biệt xứ đã lâu.
Nếu bảo tôi chết dưới chân nàng, tôi cũng nhiệt tình chấp thuận.
Cái chính là tôi không tin nàng lại lừa tôi.
Chưa bao giờ tôi cảm thấy tôi đáng giá.
Bên dưới cái bóng mờ của phần lan can kết nối giữa tầng trên cùng tầng trệt, có một người đàn ông trung niên lặng lẽ bước qua với nét thẫn thờ đọng sâu giữa hai cánh lông mày.
Tôi bước lại gần ông, khớp cổ chân sụp vỡ.
Trên người ông mặc một chiếc áo gile bên ngoài sơ mi trắng dựng cổ, quần tây, ống tay áo xắn cao.
Manager.
Biển tên nhỏ trên ve áo kia viết vậy.
"Thưa ông.
Tôi đến từ Cục Điều tra, mong ông hợp tác."
Nói đoạn tôi vừa giơ bảng tên, chờ ông ta đọc được.
"Ba ngày trước một vụ án đã khép lại ở đây, nhưng có một số bằng chứng vẫn cần thu giữ.
Nếu ông không phiền, làm ơn dẫn tôi đến chỗ trữ đồ biểu diễn của một vũ công người Nhật."
Người đàn ông đờ đẫn cúi đầu, tóc hoa râm lùng nhùng đổ.
Trên mặt ông không đeo kính mà tôi ngỡ như cặp mắt ấy đã gần như mù lòa.
Hay cái tên tôi trông có vẻ không đáng tin?
Đời nào.
Con người chỉ nhìn vào khuôn mặt và tin vào khuôn mặt, họ trao cho nhân tướng học một niềm tin tuyệt đối đến ngu muội rồi lâu lâu vẫn viện cớ lôi ra để chối từ một hợp đồng nào đó.
Đơn xin việc, hoặc đề nghị hợp tác.
Hoặc chỉ đơn giản là ông bố vợ nhìn vào mặt anh con rể với vẻ nhiều hơn cả đắn đo – ngần ngừ, không được bao nhiêu thiện chí – rồi bảo anh ta cứ liệu thần hồn.
Tôi cũng tin vào nhân tướng học nhưng chỉ một chút thôi.
Càng chứng kiến người ta bị khuôn mặt tôi dối gạt, lại càng tự niệm bản thân đừng nên quá nặng lòng.
"Vâng, thưa ngài..."
Chẳng biết đã qua bao lâu, mãi đến tận lúc tôi sốt ruột dậm gót chân, ông bỗng như sực bừng tỉnh.
Khi ông ngước lên, tôi mới nhìn ra trong đôi mắt ấy hai điểm sáng mờ.
Tôi biết ông không phù hợp với vị trí này, song cứ giữ mãi suy nghĩ ấy trong lòng mà không nói ra.
"Chúng tôi quả thực có một phòng thay đồ và kho trữ đồ nghề biểu diễn ở sau sân khấu, nằm ngay hai bên cánh gà...
Nhưng bên trong đó đã có người kiểm tra hết rồi.
Hiện tại hai phòng này đều đã khoá.
Nếu cần, tôi có thể mở cửa cho ngài.
Tuy nhiên, mong ngài hiểu cho, tôi muốn xem qua về lệnh khám xét..."
Ông ngập ngừng, khi nói lại lén nhìn tôi.
"Phía Cục đã đảm bảo quán chúng tôi không dính dáng gì tới vụ án nọ."
"Đã có giấy lệnh đây.
Tôi chỉ cần kiểm tra một chút."
Dù nói thế nhưng trong người tôi chẳng có giấy tờ nào cả.
"Vâng, vậy thì tốt...
Còn về phần người vũ công mà ngài miêu tả...
Người Nhật sao?
Chúng tôi không thuê người nào mang quốc tịch Nhật Bản hết, và những buổi biểu diễn ở đây nếu không phải ca nhạc thì đều sẽ là biểu diễn nghệ thuật phương Tây."
Ông không nhắc đến múa thoát y mà nuốt vụng từ ấy vào trong họng.
"Những năm gần đây, khách hàng nước ngoài đến quán chúng tôi cũng không ít.
Nhưng khách hàng từ Nhật Bản ư?
Gần như là không thể."
Đã nắm bao quát sự tình rồi, tôi vẫn hụt hẫng khi nghe ông nói vậy.
Buổi diễn múa đêm đó không có thật, tuy nhiên nó không thể giả tạo hoàn toàn.
Nó là một cái bẫy rập thông minh chỉ dành cho những con mồi đặc biệt.
Chuyến săn được đầu tư kỹ lưỡng.
Tôi bất giác nhận ra những đóa hoa nở bung trên chiếc kimono của nàng tayu khi lững lờ múa lượn và dòng ảo giác vô minh mang dáng hình em.
Thực vậy chăng.
Sống lưng tôi bấy giờ lạnh toát.
Cổ họng chặt thít còn trán nóng bừng bừng.
Hai vai tôi run cầm cập, cơn giận dữ lẫn lộn trong khí huyết mùa đông đã hóa than hồng.
Tôi thoáng muốn đốt rụi cả quán này nhưng kinh hãi kiềm lại.
Khó khăn lắm ngôn ngữ Hoa mới trở về, nay lại tù mù biệt tích.
Chẳng nói chẳng rằng tôi bước vội về gian trong.
Người quản lý rượt theo nhưng tôi đi quá vội, làm ông bắt hụt mấy lần.
Chắc ông vẫn còn nhớ nhung tờ trát khám.
Tôi kệ.
Tiếng người và tiếng vật lại cồn lên trong tai, ném ngược tôi dội trở về đêm thương đau lúc ấy nàng ngoái đầu trông vạn mũi tên xuyên thấu hồng tâm.
Ngay cả khi biết nàng là một loài quái vật, tôi vẫn không sao căm ghét nàng.
Nhưng chính con quái vật ấy đã nắm trong tay quả tim tôi, linh cữu tôi, kinh hồn táng đảm của tôi — chết đi thật nhiều lần từ những đêm hôm trước.
Vì tôi biết mình không phải kẻ duy nhất bị dẫn dụ sa chân vào cái bẫy này.
Còn ai khác phù hợp hơn ngoài em, đứa trẻ trong hình hài đòi được lớn, kẻ thoạt trông như đã thấu thạo mọi mánh lới lừa lọc của thế gian.
Lồng ngực tôi đau đớn tê dại, dẫu cho ý nghĩ cố tảng lờ.
Tấm màn nhung hai bên sân khấu buông lơi, hững hờ rủ trên mặt đất cách chừng một sải tay mới chạm sàn.
Song song đối diện nhau là hai phòng trữ đồ nhưng tôi không chọn tiến về phía nào.
Tôi áp tai lên tấm vách và nghe tiếng trái tim thình thịch đập, hẳn nhiên có một thứ gì vùi say bên trong đó.
"Thưa ngài?"
Người quản lý nơm nớp hỏi, dầu tôi chẳng ngoái đầu nhìn ông lấy một lần thì những ngón tay thô mập kia vẫn xoắn xuýt vào nhau, khuôn mặt già nua loang loáng nước.
Thực hiếm khi người ta e sợ tôi thế này, không rõ bởi nguyên do tại chính tôi hay cố nhiên bột phát từ thâm tâm họ.
Ông lặp lại dấu hỏi hỏi tu từ kia thêm lần nữa, gắng cứu vớt một thứ gì có hình thù như là tội nghiệt.
Nhưng âm thanh ấy tôi đã chẳng nghe ra, bởi nó ngay lập tức chết chìm trong tiếng phản mùa đông ọp ẹp bị bứt rời, mảng da trước ngực rách toạc.
Tôi bắt đầu ném đi đám gỗ vân sam để lục lọi bên trong cội nguồn nó.
Ánh đèn quán hát buổi ban ngày có rõ ràng hơn chút ít so với thời điểm về đêm nô nức trẩy tiệc tình, song vẫn có vẻ gì đùng đục, tối nhờ nhợ như vũng nước mưa...
Không có nhạc khúc nào reo lên trong tim tôi khi tôi lần mò trái tim rỗng lỗ của nó hòng bới cho ra một manh mối tốt lành.
Tường gắn đầy ghim giấy và những mấu đinh, như thể một thứ kiến trúc đạo méo mó bị thi công chớt nhả vội vàng hỏng.
Dựa vào hiện trạng của nó lúc này, mặc nhiên đội khám nghiệm hiện trường đã vô ý tứ bỏ qua.
Có nhiều thứ đáng giá lắm nằm trong một trái tim con người (hoặc tim quỷ) mà chẳng mấy ai chịu lưu tâm tìm tòi.
Cho đến một ngày nọ dưới thềm tuyết phủ bốn phương, người ta chia nhau vò rượu ủ thơm nức anh đào, rồi bỗng chợt nhận ra trong dĩ vãng ta đã lỡ lạc mất bao điều.
Ấy là nếu như người còn có thể già đi.
Những ánh sáng mỏng manh như hoa tuyết khẽ đậu lên bức tường, rọi chiếu vài ba khuôn mặt ít điểm thân quen.
Tôi thoáng nhớ về cái đêm định mệnh ấy trước khi đạp chân dấn thẳng lên sân khấu, hiến thân người cho một vầng ánh lửa, đám khuôn mặt này đã nằm la liệt ngay trên mặt đất trong lúc những đế giày ngang dọc cán qua.
Một khung hình lóe lên rồi chìm ngay vào tối đặc, tựa mảnh pháo hoa lúc tiêu tàn.
Hỗn mang trần trụi.
Tôi chộp lấy nó.
Giật nó xuống khỏi cái đài hành quyết quắt queo khô.
Cảm giác nhờ nhợ khi miết lên đôi chiều tấm ảnh, vẽ lung tung ra hai góc mặt người.
Phía được ánh sáng rọi soi tôi thấy sống mũi thon gọn và gò má trắng hồng thuộc về nàng tayu trước đó.
Còn xoay ngược về tôi tấm lưng ong, những vân áo yukata đạm màu ấp ôm hình thể người thiếu nữ nằm trong đoá mộng, của tôi, của tôi, của tôi.
Hai cánh môi khớp nhau.
Con mắt trái em hững hờ, sóng mi rợn ngợp.
Bằng ấy năm quen biết và tôi vẫn chưa từng một lần được chạm vào em.
*
*
*
Tôi đi giữa hai hành lang nhiễm đầy bóng tối; máu đổ ra từ những con mắt tục tằn gắn trên tấm phản.
Hai chân tôi dẫm chìm trong máu, lộm cộm và buốt đau khi dịch đỏ đẫm dần ngấm khớp xương khô.
Nếu như đây là máu của em, hẳn chuyện sẽ khác.
Tôi sẵn sàng chết ngộp trong thác máu miễn sao vớt ra được thân thể đã yếu mềm của em trên tay, thổi vào buồng tim cùng hai khoang phổi thổn thức những giọt hơi cuối cùng.
Nhưng không phải máu thịt em nằm lại.
Đây là máu thịt tôi — ngàn năm cóp tích, ngàn năm tanh bành, ngàn năm tồn đọng.
Đây là máu thịt tôi và cốt tuỷ tôi tán đồng hoà quyện, cùng nhau đồng hoá rồi cùng nhau dìm chết tôi trong cõi bể trần ai.
Rồi tôi thừ người ra, cứ đứng lặng im.
Tôi không nghe mình thở nữa và cũng chẳng còn nghe tiếng em hổn hển, như thể chúng tôi chỉ còn là hai cái xác khô đã gục chết trên mộ phần kẻ khác, thoi thóp ngủ, ngủ thật say, cho đến một ngày kia khi bình minh chồm dậy tôi cũng sẽ giật mình và choàng tỉnh giấc, đáy mắt rộ anh hoa.
Những tháng vàng son trên bờ vực thẳm.
*
*
*
Chúng tôi chưa từng yêu nhau, chưa từng chung sống, thậm chí còn chẳng có khả năng đứng cùng nhau trong một khung hình.
Không—chúng tôi chẳng có gì cả—để gợi nhớ về nhau, rằng một trong hai người đã từng thương tiếc đến nhường nào chuyến xe khuya còn cách nhà đối phương vạn dặm, con tàu viễn dương không kham chở được bao nhiêu tấn hàng nhung nhớ cập cảng kỳ ba, rằng người kia có từng ngoảnh mặt về phương Bắc mà đoái mong một tiết lập đông đôi én sum vầy, chỉ cần có nhau cùng vượt qua tuyết lạnh.
Chẳng một điều gì.
Chúng tôi có từng nắm tay nhau chưa?
Có từng đau xót cho nhau chưa?
Em có bao giờ hồi âm tôi một lá thư nào không hay những phong giấy mục cả đời này tôi cũng chỉ dám xếp trong ngăn kéo?
Em đã bao giờ chân chính nhìn vào tôi chưa.
Có hẳn trên một lần tôi cất tiếng gọi em trên quãng hành lang đọng đầy nắng ấm, một mùa xuân tê tái trôi qua.
Thật nhiều mùa xuân trôi qua.
Rồi mùa hạ, rồi mùa thu, rồi đông cùng nhau nối gót.
Thấm thoắt bảy bảy năm.
Đúng bằng độ tuổi tôi gặp lại em khi em mất, đúng bằng từng ấy những lần mặt trời lên rồi mặt trăng ngụp lặn.
Từng hàng chữ nhảy nhót trên bia mộ cái tên của em, khi tôi đem đầu ngón tay chạm khẽ, chúng lập tức hóa thành cánh hoa rồi tàn phai ngay tức thì.
Thế là một mùa xuân nữa lại ra đi.
*
*
*
Như thể có bàn tay ai vuốt nhẹ gò má tôi, lạnh toát nhưng mềm mại như một chiếc khăn mùi soa.
Ánh sáng rơi trên mi mắt tan thành nhiều bông tuyết nhỏ, làm ướt phần tóc mai và gió khẽ lùa những sợi đen lất phất bay ngược về hướng gáy.
Vài sợi tóc quệt vào mắt, vào sống mũi kêu lạo xạo.
Khi kịp tỉnh trí lại, tôi đã đứng ở ngõ sau quán rượu với hai cánh cửa mở toang.
Cuối đường, tuyết rơi lả tả lấp đầy từng ngóc ngách, chặn đứng mọi lối thoát hiểm của bầy chuột đêm và sẵn sàng vùi chôn cả một xác người nếu như tay cùng chân xếp gọn.
Tuyết ngập tận đầu gối tôi.
Nằm trong góc ngõ là những thùng rác rất lớn có nắp đậy, đậy điệm cẩn thận bên trên.
Con ngõ được rào sau hàng thép gai đâm tua tủa như những cành hồng được tưới trong máu huyết, nham nhở ngả màu thâm đen.
Hiện thực ùa tới đập mạnh vào hai vai làm tôi lảo đảo.
Đôi chân ngập dưới tuyết đã bắt đầu đóng băng, máu chảy giữa những thớ cơ nguội lạnh dần.
Tôi dấn thân ra ngoài.
Ngước mắt, nhìn xung quanh, chẳng thấy gì ngoài một màu trắng xám của tuyết và của tường rêu.
Sau lưng, hành lang độc màu u ám nháy mắt co ngắn lại như thể chỉ vài bước chân đã đủ nối liền giữa thực tại thảm khốc và mộng tưởng phù du.
Không còn cả mùi hương hay tiếng thở đều đều của linh hồn quấn quýt, cứ ngỡ như em chưa từng tồn tại, ngỡ như hàng trăm năm gặp gỡ của chúng ta đã hoá thành mộng ảo.
"Anh Hoa Yêu!"
Tôi thét lên, lạc giọng.
Cổ họng khàn đặc bật ra vài chữ khuyết vành âm, ngoài kia, những mảng mây trắng đục dần rã đông và rơi xuống đất.
Bắp chân tôi đau thắt, rồi đến hai đùi bệ rạc, đi qua từng đốt sống lưng để quấn chặt vào cặp xương sườn giòn mỏng.
Ngay vùng ức, dữ dội trồi lên cơn đau thấu tim.
Như có mũi dao găm phập vào đó.
Hoặc một đầu đạn thuỷ tinh, tiếp xúc rồi vỡ tung từ trong thớ thịt, vụn vặt tản ra xuôi dòng mạch máu.
Cái tên cố nhân hoá thành khẩu ấn phong bế trên đầu lưỡi, một lần gọi ra là một lần tự huỷ hoại.
Tôi giật phăng nút cà vạt thắt sâu trên hõm cổ, chừng như muốn xé đôi vạt áo.
Một vụ nổ bùng lên từ sâu thẳm tâm can, vươn từng đốt tay chạm vào hiện thực.
Cơn đau là có thật.
Bên dưới lớp áo giữ nhiệt mùa đông, lồng ngực tôi trống hoác, hay đúng hơn, chỉ có một khung xương trắng trọi trơ nằm đó như ngóng chờ lộ diện suốt bao năm.
Từ trong cốt tuỷ lại nở ra một đoá hoa anh đào đỏ rực như máu, cánh hoa phất phơ dưới tuyết bạc đầu mùa.
Chút tàn hồn em còn sót ở nơi nhân thế, chẳng rõ bằng cách nào lại có thể bám lên tôi mà trổ hoa một lần nữa.
Ban ngày, đèn đường không được bật lên vì không cần thiết.
Nhưng tiết trời âm u đã níu chặt cái tinh mơ của buổi ngày xuống tầm mờ mịt như thể mùa đông bị tráng qua một khung kính lão, mọi thứ gấp khúc và phù nề, trông hoàn toàn không có chút liên tưởng nào đến hiện thực.
Từng cột khói cuộn lên dưới những chân mây khiến cho bầu trời càng thêm sa sầm, bị kéo thốc xuống đất.
Dưới cái bóng nhờ nhợ của nhựa đục, của mây và tuyết tranh chấp lẫn nhau, một bàn tay trắng muốt dần hiển lộ trên nền tuyết tinh khôi.
Rồi dần thoải tới bờ vai, tấm lưng xộc xệch.
Một gốc cây sần sùi vươn thẳng lên từ tuyết xám, rễ cây chôn sâu trong sắc trắng bạc màu.
Thẳng từ gốc tới ngọn cây cao nhất cao khoảng nửa thước, vượt lên khỏi cái bóng màu tro của bốn mặt tường bảo bọc.
Rất nhanh, tán cây trổ hoa.
Những bông anh đào rực rỡ nhuộm hồng không gian, ngây ngất hút cạn dòng sinh khí hiếm hoi của cái xác bị tuyết chôn vùi mà nở bung thành nghìn mảnh diễm lệ.
Vô số điểm sáng hội tụ lại trên tán cây, khấp khởi tỏa ra một vầng hào quang vô hình mà tôi vốn đã quen trong ký ức, vào một đêm mùa đông tối tăm...
Đoá hoa trước ngực tôi run rẩy, dường như nó cũng linh cảm được nguồn sinh lực đang dần ráo khô.
Không còn mẫu thể cung cấp, nó sẽ rất mau lụi tàn.
Tôi hứng lấy nó bằng cả hai tay, gượng sức che chở chút tàn dư hơi ấm em bỏ quên giữa thế gian.
Em chết rồi.
Ấy vốn là điều khả dĩ.
Không một tin nhắn nào còn hiện lên trên màn hình điện thoại, cũng im bặt những âm thanh sương gió chạm nhau nơi ngõ hẻm hang cùng.
Lần này, tôi không cần phải hỏi em mấy câu vô vị kia nữa, cũng đừng mơ mộng gặp nhau những nơi chỉ cả hai ước hẹn.
"Ta nghe tin em chết đêm qua."
Không, không; chẳng còn nguyên cớ gì buộc tôi đến tìm em ngoại trừ thông qua cái chết, nhưng em ơi, số mệnh hai ta vốn từ đầu định đoạt rằng cái chết đâu chịu dung túng mệnh này.
Trên bầu trời, rực sáng mãi những ánh sao mai bị màn đêm bỏ mặc.
Nỗi thống khổ của cái chết chia lìa không làm trái tim tôi sầu thảm, nhưng xé toạc lý trí ra hai phần: một còn lại đây, sững sờ, nguội ngắt dưới lớp tuyết cứ đôn dần lên; một đuổi theo em hớt hải về phía bên kia lằn ranh tồn tại, dẫu cho chỉ là hoang tưởng cố chấp, cũng chẳng vì nghịch cảnh mà muốn thoái lui.
Tôi cùng em đang bị thế giới này phân tách, và, tôi chưa bao giờ cảm nhận em xa tôi đến thế.
Tựa hồng hoang thêm lần nữa cuộn trào, gào thét như van lơn được thoát khỏi những kiềm giữ bao năm nay dưới dáng hình nhân loại, tôi oằn mình, mắt trái buốt lên nhói đau.
Tôi chỉ một tâm hướng mình trở thành tha nhân chứ chưa từng có suy nghĩ muốn làm ác nhân.
Nhưng, đã không còn quan trọng nữa.
Loài người phản bội chúng tôi đã nhiều rồi, hay vốn bản chất loài quỷ không đáng được để vào mắt giống dòng cao thượng ấy?
Mà dẫu cho giây phút này tôi có điên cuồng tá hoả, huỷ diệt toàn bộ Trung Tây, giết sạch số dân trên mười vạn đó, cũng không bù đắp được sinh mệnh của em...
Đoá hoa đào khảm trên xương cốt tôi rụng rời lả tả.
Em đang rút cạn từng chút sinh khí cuối cùng của mình khỏi tôi.
Mặc cho bao năm nay tôi đã thoái lui ở một vị trí bên ngoài những khung trang xán lạn của em bậc nhất, yên vị đóng vai một người ngoài cuộc, em vẫn nhẫn tâm cướp đi chút lưu luyến vốn từ em tôi trót lọt có được.
Trên tuyết trắng tuyệt không dấu máu, giống như lá cờ thua cuộc nhục nhã bay.
Vầng mặt trời đỏ bị con người chiếm đoạt.
Tôi gục quỳ xuống tựa xác chết bị chịu mũi tên xuyên qua thái dương, hai mắt trân trân nhìn khoảng tường xám phía trước không đành lòng.
Hốc mắt nóng ấm, dòng nước chạm phải khí trời buốt lạnh thì quắt lại như kim đâm vào giác mạc.
Tôi nào còn gì để mất.
Thứ duy nhất cần e sợ dè chừng ở đây, là những thứ tôi đã cố bảo vệ suốt bao năm qua khỏi cuồng điên chôn giấu dưới lớp da này.
Nhưng chẳng còn nữa.
Chẳng còn gì cả.
Nếu như em có thể chết, vậy, liệu cõi ngục tù bên kia nơi sản sinh ra cái chết tận cùng, sẽ chấp nhận ta chứ?
Bởi ta cần phải tới tìm em.
Cung đường đầy tuyết cứ trải dài ra, dài mãi phía sau lưng tôi...
Tiếng quạ kêu trên mái ngói vọng vào từng khúc gạch, chát chúa như cầm búa gõ lên sọ người.
Một khúc hát cất lên từ cõi sâu tâm tưởng, đồng vọng với tiếng phách đánh vào mặt trống da bằng tay trần, và thế là khúc hoà tấu sơ khai ra đời.
Hai bàn tay tôi quơ vào thinh không, rồi sờ lên vùng ngực xương khô dưới hai lần áo vải.
Nằm sâu trong túi áo ngực là trái tim bằng kim loại đương run lên.
Tôi rút nó ra.
Màn hình điện thoại bật sáng, hiện rõ cái tên của Hoắc Đồng Anh đuổi sát gót từng tin nhắn một, có lẽ gã lo rằng tôi đã gặp phải chuyện gì không may.
Nhưng tôi chẳng cảm thấy gì.
Đồng cảm không, cảm kích cũng không.
Mọi điều xấu xa trên thế gian này từ trộm cắp cho tới gian dâm, chẳng thứ gì ghê gớm bằng sự vô cảm.
Khi uống máu người nóng rực, khi nghe tiếng khóc ré lên của một đứa trẻ chứng kiến cái đầu mẹ nó bị bửa làm đôi... khi gã đàn ông hèn mọn trốn sau áo giáp thét to cái tên con ác quỷ đã nuốt trọn cả gia đình gã, cả những kẻ hầu người ở vô danh mà gã mua được từ một tay lái buôn Ba Tư...
đều không thể lấp đầy cơn đói khát trong dạ dày con quỷ.
Tôi bấm một dãy số trên màn hình.
Và tín hiệu thuộc về chiếc điện thoại được Trụ sở cung cấp, cuối cùng, sau sáu mươi năm, cũng phát ra lần đầu tiên.
Thật nhiều, thật nhiều cảm giác đột ngột ùa về và lấp đầy tâm trí tôi bằng vô số điểm ảnh rực rỡ.
Màu đỏ của máu, màu đen kịt của màn đêm, màu vàng hanh của cỏ úa và màu xám đục ngầu của những quãng sông đoàn binh sắt đã hành quân qua.
Màu trắng lạnh toát của mặt trăng.
Màu môi nhàn nhạt.
Màu áo kimono thiên thanh.
Màu huyết dụ được sơn trên cánh cổng torii dẫn đường về địa ngục, đằng sau đó là bạt ngàn hoa đăng trôi theo dòng nước.
Tôi sẽ còn có thể đi đâu?
Địa ngục nào đón chào tôi nữa?
La Sinh Môn hay Quỷ Môn Quan, hai tín ngưỡng quỷ yêu như hai bến tàu nằm trong lòng cùng một thành phố nhưng chưa bao giờ chung tuyến tính nhau.
Nơi cổng La Sinh há phải chăng sẽ còn bóng em nán đợi?
Tháng năm mòn mỏi của chúng tôi nay đã thật tiêu tan.
Anh Hoa Yêu sinh ra từ một gốc anh đào chết khô thời chiến loạn.
Tôi còn nhớ khi mình là con người, hoặc là một đứa trẻ nào đó trong tương lai sẽ điểm mặt tại quân doanh, hay một thiếu niên dũng tướng, rằng gốc cây kia từ trăm năm trước đã không thể trổ bông.
Cái cây đứng sừng sững trước nắng mưa, ngắm mặt trời lặn và mặt trăng nhô lên không dưới ngàn lần, hứng trọn tinh hoa nhật nguyệt mà vẫn chẳng thể đơm hoa kết trái.
Mỗi độ xuân về, cả cánh rừng bạt ngàn anh đào lộng lẫy lại hiện lên một chạc cây héo hon, đen đúa, như xác người chết cháy quắt queo nằm lại bên rìa cuộc đời.
Có lẽ cũng từng có lần tôi thử tưới nước cho gốc cây ấy, hoặc vun dưới lớp rễ cây những mảng đất tươi lấy về từ bên kia con sông.
Nhưng rồi dường như tôi đã bỏ cuộc.
Để mặc một gốc cây héo mòn dầu cho nó chưa bao giờ từng được sống cũng như rót vào lớp vỏ sần sùi luồng sinh khí vô tri, cứ trôi tuột ra bên ngoài.
Thật nhiều năm sau đó thì ngay cả tôi cũng không còn nữa.
Màn hình điện thoại tắt ngấm bỗng vụt sáng lên, và rung liên hồi.
Nhưng tôi đã thẳng tay ném nó về phía sau từ lâu, rơi lõm vào lớp tuyết rồi yên vị nằm lại đó.
Nhiệm vụ của nó, không, nhiệm vụ của tôi nay đã hoàn thành.
Giờ thì Trụ sở chỉ cần đặt bút ký tên lên bản công văn sa thải vị nhân viên mẫn cán sau hơn năm mươi năm làm việc tại tòa công sở chết ấy, là xong.
Bọn họ sẽ sớm có mặt ở đây để xử lý một vụ mới.
Con Ngạ Giả Độc Lâu[*] đầu tiên xuất hiện tại Hồng Kông.
Đêm nay, những tay săn quỷ vẫn sẽ trở về nhà, con cái họ vẫn sẽ đón chào ngay bên thềm lối vào ra cùng một chú chó hoặc mèo nhỏ vẫn hằng mong ngóng họ.
Trên bàn sẽ luôn có sẵn nồi sủi cảo chiên và bánh bao hấp cách thuỷ, còn đối diện với ghế bành bằng da thuộc phát một bộ phim truyền hình của đài SHI[*].
Chỉ vài ngày nữa thôi là tuyết tan gần hết, và hơi ấm mùa xuân trở về trong đêm lễ tất niên.
Tôi nắm hai bàn tay em để áp chúng lên mặt.
Hai đầu ngón trỏ cong như lưỡi câu, nhưng mềm oặt và vương mùi hoa tuyết, đệm thịt trắng nõn phía trong dần ấm lên bởi đôi hàng nước mắt tuôn đầy.
Tay em se lạnh, chợt tan ra như tuyết đầu mùa.
Những sợi lông mi của tôi vờn qua phần nào da thịt, rũ xuống đầm đìa ướt.
Và tôi chẳng nhìn vào mặt em, thú thực phần nhiều tôi chẳng dám nhìn em.
Nỗi sợ hãi sâu mọt cứ tác quái tác oai và oanh tạc khắp tim mình, phá tung buồng phổi, làm máu tươi ộc lên ngay hốc mắt.
Máu đổ làm ướt tay em.
Máu long lanh trong suốt.
Máu nhỏ giọt tràn ly.
Máu có chăng chỉ khiến thịt da em tan chảy, thay vì làm mủi lòng em hay khơi gợi được lên phần nào ấp yêu cảm nghĩ.
Vốc một vốc tuyết trong tay, cận kề da thịt, chóp mũi, bọng mắt, áp kề trên những vân môi, có lẽ cũng chỉ đến vậy.
hết.
[*] Ngạ Giả Độc Lâu — Gashadokuro (餓者髑髏), một bộ xương khổng lồ cao 27m, được sinh ra bởi oán niệm của các tướng sĩ chết trận.
Đây là một con quái vật ăn thịt người nguy hiểm và nổi tiếng trong văn hoá Nhật Bản.
Gashadokuro có nghĩa là tiếng khò khè của bộ xương.
(tranh vẽ của Utagawa Kuniyoshi.)
[*] Anh Hoa Yêu — Sakura no Sei (樱花妖) là yêu quái Nhật Bản được khai sinh từ cây hoa anh đào chết khô nghìn năm tuổi, ở một số địa phương coi yêu quái này là thần bảo hộ cho mùa hoa anh đào.
[*] Đài SHI: một đài truyền hình nổi tiếng tại Hồng Kông vào thập niên 90, lịch phát sóng thường là phim bộ hoặc các phim lẻ tình cảm thời đại cũ.
Theo thói quen các gia đình người Hoa sẽ cùng xem kênh này khi quây quần với nhau, tương tự như đài VTV ở Việt Nam.
/