I.
Ở Lý Ô có dòng họ Đồng làm nghề chạm khắc nổi tiếng một vùng, nhưng có ai hỏi Đồng Cát Sỹ, người trưởng họ về nguồn gốc của nghề, ông cũng không tường tận.
Ông bảo: thoạt kỳ thủy đâu như các cụ tổ nhà chúng tôi làm nghề đẽo cày, cuốc, đóng bàn ghế.
Ở nhà thờ họ hiện còn một cái hương án, một cái ngai thờ của một cụ tổ làm ra coi như gia bảo lâu đời nhất...
Nghề này đâu có bí truyền hay sách vở gì, chỉ là cầm tay chỉ việc, cha truyền con nối.
Trong các cụ tổ cũng có nhiều người đi học, nhưng chẳng thấy nói đỗ đạt gì, lại nữa trong số còn có cụ đã từng đi ăn cướp vậy mà sau theo nghề cũng trở thành một tay thợ cả tiếng tăm...
Cứ như thế hết đời này sang đời khác.
Nhưng không phải ai trong dòng họ cũng theo nghề.
Đồng Cát Sỹ sinh được bốn người con trai.
Ngay từ nhỏ ông đã cho các con đi học chữ.
Ông bảo: làm nghề gì đi nữa thì ít ra cũng phải biết viết tên mình, đọc được cái văn tự.
Người con cả là Đồng Hạo Thiên được cha gửi qua học chữ bên nhà họ Danh, một dòng họ có năm đời tiến sĩ, nổi tiếng khoa bảng một vùng.
Hạo Thiên thông minh, học đâu nhớ đó, được thầy yêu.
Có lần thầy đồ nói với Đồng Cát Sỹ chắc đến đời con ông thì họ Đồng có người làm quan.
Năm 18 tuổi Hạo Thiên thi đỗ đầu xứ, hay chữ nức tiếng trong vùng.
Nhưng đột nhiên Hạo Thiên khăn gói trở về nhà, bỏ đường khoa hoạn.
Ông bố sửng sốt, thầy đồ ngạc nhiên, gặng hỏi lý do, Hạo Thiên thưa: Con chịu ơn thầy đã khai trí cho.
Học chữ, hiểu được nghĩa sách để sống cho phải đạo làm người, cái học cốt là ở đó.
Đi học đâu phải là để đậu Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ... mà ra làm quan có được nhiều bổng lộc.
Bon chen chốn quan trường có lẽ không hợp với người vốn sinh sống ở nơi thôn ổ...Thầy đồ mỉm cười nhìn người môn sinh hiếm có trong đời dạy học của mình.
Đi học mà chỉ nghĩ đến đỗ đạt, làm quan để sống sung sướng, thực tủi cho đèn sách, chữ nghĩa.
Thầy đồ nói: Thầy mong con sống được như con muốn.
Hạo Thiên trở về sống bên cha già, cởi bỏ áo dài làm bạn với cái cưa cái đục.
Thỉnh thoảng có bạn đồng môn tới chơi, Hạo Thiên pha trà ngồi nói chuyện kinh sách một cách hào hứng, có khi cùng nhau xướng họa thơ phú.
Có ai nhắc đến chuyện thi cử, con đường khoa hoạn chàng chỉ lặng lẽ mỉm cười.
Đồng Cát Sỹ thấy tay nghề của con cả tiến bộ từng ngày, cái vốn chữ nghĩa hình như cũng là cái vốn tay nghề của Hạo Thiên.
Sau một thời gian Hạo Thiên được giao tạc những pho tượng nhỏ, như tượng la hán...
Với những tượng này người thợ được tự do nhiều hơn, ít phải tuân thủ những qui định nghiêm ngặt.
Qua tay Đồng Hạo Thiên, Di Lặc như mập mạp hơn đôi mắt to hơn, hai tai dài hơn nhưng tươi cười và thanh thoát hiền hòa.
Tượng Tuyết Sơn gầy gò xương sát da mà thần thái mạnh mẽ, trầm mặc mà thoát tục.
Đồng Cát Sỹ nói với con trai mình: con đã nối được nghiệp cha, chắc chắn con sẽ hơn cha, con làm cho thân gỗ có thần sắc.
Người con thứ hai của Đồng Cát Sỹ ra đời khi gia đình đã đủ ăn, ông đặt tên con là Bái Nhật, người con thứ này chỉ nhìn gương mặt không thôi đã thấy vẻ chân chất, thực thà.
Khi được đi học chữ anh ta rất khổ sở, học mãi mà không được bao nhiêu, chỉ mới viết được tên mình đã lấy làm hài lòng.
Bái Nhật nói với cha: nhìn vào trang sách là con thấy chóng mặt, học chữ thực cực hơn đi cày.
Người cha nhìn con với vẻ khoan dung độ lượng và cho anh thôi học ở nhà lấy nghê nông làm căn bản.
Bao nhiêu việc nặng nhọc trong nhà một mình Bái Nhật vui vẻ đảm đương, chẳng ai phải mó tay vào.
Mỗi lần thấy Bái Nhật cầm tới cái cưa cái đục thì Cát Sỹ vội lên tiếng bảo anh ta bỏ xuống vì đã có lần anh ta ngứa ngáy tay chân làm hỏng một pho tượng đã gần hoàn chỉnh: con đụng vào cái gì thì chỉ thành củi đun thôi.
Đồng Tuệ Nhân, người con thứ ba của Đồng Cát Sỹ, rất ham học nhưng tối dạ.
Ngay từ những ngày đầu anh ta đã nhận ra thế, nhưng anh ta nói với cha một cách cương quyết: người thông minh chỉ học một lần là nhớ, con tối dạ thì học ba bốn lần phải thuộc.
Những nỗ lực không ngừng của những ngày đầu kết quả phần nào, nhưng càng học lên anh ta càng nhận ra rằng: giỏi chữ không phải ai cũng có được.
Thấy con cố gắng thức khuya dậy sớm đèn sách miệt mài cha nhiệt tình khuyến khích những mong con đạt được ước nguyện.
Sau bao cố gắng hao công tốn sức anh ta nhận thấy mình không thể lập thân bằng con đường khoa cử.
Tuệ Nhân từ biệt thầy học trở về nói với cha: sức người có hạn phải không cha?
Chữ nghĩa không có duyên nợ với con thì đành chịu chứ biết làm sao?
Nhiều ngày buồn chán anh ta lấy rượu giải khuây.
Một buổi sáng, trong tuần trà sớm mai Tuệ Nhân nói với cha: con nghĩ kỹ rồi, người ta phần lớn đi học là để thi đỗ làm quan, để được vinh hoa phú quý, sống sung sướng, vợ đẹp con khôn.
Nhưng bổng lộc triều đình thực ra đâu được bao nhiêu, cứ nhìn đời sống những vị quan thanh liêm thì rõ.
Muốn giàu có, nhà cao cửa rộng, quần là áo lụa, châu báu đầy người thì phải đục khoét dân đen.
Như thế thì tệ quá.
Thánh hiền có chỗ nào dạy vậy đâu.
Phú quý sinh lễ nghĩa, phi thương bất phú, những câu ấy người ta nói nhiều rồi, chắc không sai?
Con tính: đi buôn có lẽ hợp với con hơn.
Đi buôn kiếm tiền, những đồng tiền của mình kiếm được là do công khó mua tận gốc bán tận ngọn, sòng phẳng, thuận mua vừa bán, không lừa gạt, dối trá, giữ tín nhiệm, như thế đi buôn làm giàu là hơn.
Người cha nghe con nói thì yên lòng.
Bàn tay còn có ngón dài ngón ngắn, sinh con ra mỗi đứa có con đường của nó biết làm sao được.
Cát Sỹ dồn được ít vốn cho con khởi nghiệp.
Thức khuya dậy sớm, vén khéo, tiết kiệm, giữ lời hứa, chẳng bao lâu Tuệ Nhân đã dần dần gây được sản nghiệp, việc buôn bán mỗi ngày một thịnh vượng.
Thỉnh thoảng Tuệ Nhân cũng có lúc thong thả nhưng tuyệt nhiên không bao giờ đụng vào cái cưa cái đục, có chăng là đứng trước những khúc gỗ, những pho tượng anh thường có lời phẩm bình: Làm sao mà trên thực tế có một vị Di Lặc mập như thế này được.
Với những khúc gỗ lớn do các chùa đưa đến để làm tượng, anh ta liên tưởng tới những cánh rừng và từ đó nảy sinh ý định đi buôn gỗ, tre nứa... những thứ bán cho người ta làm nhà cửa.
Anh ta nói với cha: chưa chừng con mua được nhiều gỗ quý thì nhiều nơi sẽ làm tượng, nhà ta sẽ có nhiều việc làm, dân gian có nhiều tượng.
Sao con không nghe nói có một vị la hán nào xuất thân từ đám thương lái nhỉ?
Người cha nhẹ nhàng nói với con: bố có nghe sự tích một tay đồ tể bỏ đao xuống làm việc thiện sau thành Phật.
Chắc những người đi buôn kiếm tiền không chịu ngừng kiếm tiền để đi tu nên chưa ai thành Phật cả.
Thế khi nào thì con định ngừng đi buôn kiếm tiền?
Người con có vẻ ngượng thẹn một cách chân thật.
Ông bố cười: ham lợi, có lẽ vì thế không có vị la hán nào xuất thân từ đám con buôn.
Người ta còn buôn thần bán thánh kia mà.
Mạnh Tông là con út của nhà họ Đồng, Đồng Cát Sỹ đã lấy tên một giống tre đặt tên cho con mình với một mong ước như thánh hiền đã từng nói về tre: tiết trực, tâm hư.
Từ nhỏ Mạnh Tông đã có phong cách một tay tài tử: mắt sáng, môi đỏ, da trắng, những ngón tay búp măng thuôn thả.
Bà mẹ bảo: nó mà là con gái thì bố tha hồ uống rượu...
Khi người anh cả không đi học nữa trở về nhà thì Mạnh Tông quanh quẩn bên anh, theo anh đọc sách, theo anh học nghề, nghe anh nói chuyện, nghe lỏm những buổi đàm đạo của anh với bạn học.
Điều gì không rõ thì hỏi, chỉ nghe, nhìn.
Bố bảo Mạnh Tông đi học, chàng lần khân và thưa: xin cho con học anh con trước đã.
Đồng Cát Sỹ cũng không ép con.
Có thì giờ Mạnh Tông học thổi sáo trúc với một cụ già trong làng, chàng còn mê hát chèo, hát xẩm.
Nghe ở đâu trong vùng có phường hát về là chàng rủ đám bạn cùng đi, mỗi lần như thế chàng lại thuộc một vài bài hát mới để ngâm nga khi làm việc.
Với đôi tay khéo léo, con mắt quan sát tinh tường, chẳng bao lâu Mạnh Tông đã là một tay chạm khắc có nghề vững.
Chàng đã có thể thực hiện những họa tiết sắc sảo tinh vi trên những nếp áo, chóp mũ...
Nhưng khốn nỗi chính tài hoa sắc sảo của mình khiến cho nó lạc lõng khi đi với những chi tiết do người khác thực hiện, Không là một tổng thể, có những pho tượng chân tay mặt mũi đi một đường, trang phục đi một nẻo.
Cái chân chất mộc mạc khó đi với cái tinh xảo tài hoa.
Đồng Hạo Thiên và cha nhận ra điều đó.
Năm Mạnh Tông 17 tuổi, sư thầy chùa Mai Tụng tới mời Đồng Cát Sỹ lên chùa về việc tạc mấy pho tượng Phật.
Vị sư già nói:
- Từ nhiều năm nay thiện nam tín nữ ở vùng tôi đã cùng nhau quyên góp để đúc một pho tượng đồng, phường đúc đã khởi công, nhưng cả ba lần rót đồng vào khuôn mà không thành.
Lần đầu: một nửa mặt và một bên vai bị khuyết, lần thứ hai: thiếu hẳn một tay, lần thứ ba: mũi và tai không ra hình dạng...
Chúng tôi đã thiết đàn cầu kinh nhưng không linh ứng.
Có người bảo: trong cúng dường có của bất chính, có người bảo tại mấy cân vàng quan tri huyện bỏ vào là mồ hôi nước mắt dân lành.
Đám phường đúc sợ không làm tiếp, những phương đúc khác nghe nói lại cũng không dám nhận làm...
Không lẽ chùa không có Phật.
Tôi nhờ ông mang công đức giúp cho.
Cái khối đồng mình hãy để đó sau này sẽ đúc chuông.
Dân làng nay đã lên rừng đốn được gỗ quý, cho xuôi theo sông cái về.
Xin ông tính cho.
Đồng Cát Sỹ nhận lời đưa thợ lên chùa Mai Tụng.
Cây gỗ quý lớn ngoài sức tưởng tượng của ông.
Sư thầy nói:
- Mang được cây gỗ về tới đây bốn người đã chết vì ngã nước độc.
Công đức ấy chùa sẽ ghi ơn.
Pho tượng Thích Ca là chính, còn là những tượng la hán và còn lại sẻ ra khắc bộ Thập Điện Diêm Cung.
Ông thấy thế nào?
Đồng Cát Sỹ thấy công trình lớn quá có vẻ lo.
Sư thầy nói tiếp:
- Cả vùng này chỉ có gia đình cụ là theo nghề của tổ tiên đạt đến cái tinh xảo, cụ hãy hết sức giúp cho nhà chùa.
Một tháng không xong thì một năm...
Với cái thước trên tay, Đồng Cát Sỹ tính toán, phân ra từng phần gỗ rồi cho thợ bắt tay vào việc.
Mái chùa Mai Tụng từ đó vang lên những âm thanh đều đều của cưa của đục, suốt từ sớm mai tới khi chuông thu không hòa vào không trung bao la.
Đồng Cát Sỹ và người con cả dành hết tâm trí cho pho tượng Thích Ca, Mạnh Tông phụ giúp những việc lặt vặt.
Thấy còn những tượng nhỏ khác, Mạnh Tông xin cha cho mình làm một pho tượng La hán.
Mạnh Tông nói:
- Có sẵn mẫu, cha cho con thử tay nghề...
Thấy cha ngần ngại, Đồng Hạo Thiên nói vào:
- Con thấy chú út tay nghề đã khá, lại thêm có cha con mình ở đây để mắt thường xuyên cha còn lo gì...
Đồng Cát Sỹ giọng điềm đạm:
- Tay nghề của thằng út thì có chỗ còn hơn cả cha và anh, nhưng nó còn trẻ, lòng chưa tĩnh.
Chỉ cần một đường nét nhỏ đủ làm cho thần sắc pho tượng thay đổi.
Như con đã thấy: chỉ cần lượn mỏng hơn, hay để dày đã làm thay đổi cái nhìn của một đôi mắt...
Được, cha để út làm, nhưng trước hết con hãy tĩnh tâm, con hãy nhớ nằm lòng điều cha đã nói với các con: người ta thờ cái đẹp, cái thiện.
Mạnh Tông hớn hở với công việc mới.
Trước hết chàng quan sát pho tượng la hán đã bị hư hỏng nay làm lại, pho tượng là một vị già cởi trần, tay chống một cái gậy, thắt lưng đeo một cái giỏ tre, rõ ràng là một ông già đi bắt cá, người gầy nhưng khỏe mạnh.
Mạnh Tông hỏi cha:
- Hành trạng của vị La hán này là như thế nào?
- Ở các chùa luôn luôn có những pho tượng La hán, thường là 18 vị, mỗi người mỗi nghề, và mỗi người một con đường tu tập, hành đạo để cuối cùng thành Phật.
Nên chúng ta thấy trong Thập Bát La Hán có vị gầy, quần áo rách rưới như kẻ ăn xin, có người vác cần câu, có người đánh dậm, có người chăn nai...
Hành trạng của vị La hán này như thế nào cha không rõ, có lẽ phần lớn người dân quê mình đều thế, các vị sư chắc am tường.
Nhưng có một điều chắc chắn là: các vị ấy trước hết là những con người thường sau đó dốc tâm làm điều thiện mà thành Phật.
Ai dốc lòng tu đều đi tới đó...
Nhưng người hiền dốc lòng tu đâu có nhiều...
Bố nhắc lại với con: mặt các pho tượng thờ bao giờ cũng phải tuân thủ một điều căn bản: thượng bi hạ hỷ.
Từ một thân gỗ, Mạnh Tông đã phác xong những nét lớn cho toàn thể pho tượng, tỷ lệ cân xứng từng phần đã hình thành nhưng chỉ tới đó chàng ngừng lại.
Pho tượng cũ đã hư hỏng nhiều chỗ, cái giải lưng đã gẫy không biết dài ngắn thế nào, một bên tai đã sứt, một bên mặt mối ăn nham nhở không còn mũi và mắt.
Chưa dám trực tiếp hình thành đường nét ngay trên thân gỗ, Mạnh Tông cẩn thận dùng bút giấy phác thảo trước.
Tôn trọng giữ nguyên những nét có sẵn, nhưng với óc sáng tạo, Mạnh Tông cũng có chút thêm bớt.
Nhìn ngắm phác thảo, Mạnh Tông rất hài lòng.
Chẳng đưa cho Đồng Hạo Thiên coi.
Người anh cả hết sức ngạc nhiên thấy em mình còn có tài vẽ, đặc biệt là vẻ linh hoạt của nét bút.
Hai anh em mang tấm phác thảo trình cha.
Đồng Cát Sỹ mới nhìn thoáng thì vui mừng, nhưng sau khi ngắm kỹ ông hơi chau mày:
- Nét mặt, tất cả là nét mặt, sắc sảo quá, tinh ranh quá, người quá...
Những điều này không nên có nơi tượng thờ.
Thượng bi hạ hỷ, con nhớ lời cha không?
Con nhìn những tượng thờ trong chùa xem, ngay cả tượng Ác Lai, rồi tượng ông Thiện.
Ác mà không phải ác.
Có cái dũng mãnh, nghiêm trang mà vẫn khoan hòa, có cái tươi tắn mà không ham hố, có cái gì không phải vui mà không phải buồn...
Thiện nhưng đầy uy dũng.
Nhìn vào những nét phác thảo của mình, Mạnh Tông nhận ra những điều cha nói.
Không biết phải mô tả thế nào nhưng chắc chắn không có được cái dáng vẻ của một vị La Hán ngồi nơi bệ thờ chốn thiền môn.
Mấy ngày liên tiếp ngồi trước pho tượng cũ với bút và giấy trên tay chàng vẫn không sao phác họa được một vị La hán phải có.
Sự gắng sức không thành khiến chàng bực dọc bụng nóng như lửa đốt, và có những gương mặt được phác thảo bỗng trở thành hung dữ, ác độc khác thường...
Mạnh Tông mạnh tay vò hết, xé nhỏ không để cho cha và anh thấy.
Nhiều ngày liên tiếp Mạnh Tông không thiết nhìn đến công việc còn dở dang của mình.
Chàng rong chơi trong vùng cho khuây khỏa, hy vọng lòng mình được thanh thản, chiều lại ngồi trên bờ đê cao, gió lộng chàng lấy cây sáo trúc ra thổi, âm thanh dìu dặt và vẻ vắng lặng của đồng quê làm cho chàng thấy dễ chịu hơn.
Một hôm Đồng Cát Sỹ nói với Mạnh Tông:
- Pho tượng La hán con hãy để đó đã.
Mình bắt tay vào bộ tranh khắc Thập Điệm Diêm Cung.
Cái này có thể thích hợp với con.
Ở đây chỉ có quỷ, kẻ ác, nhân vật nhỏ và cảnh rộng khiến con dễ làm hơn.
Hai bên tả hữu của chùa Mai Tụng cũng giống như nhiều ngôi chùa khác là cảnh Thập Điện Diêm Cung, mỗi bên vách chùa có năm cảnh, mỗi cảnh như một câu chuyện kể về sinh hoạt nơi Diêm Cung.
Mô tả cảnh địa ngục không biết do ai và từ đời nào nhưng nói chung những tranh khắc, hoặc tranh vẽ, có nơi là tượng được bài trí thường gần giống nhau, dù cách diễn tả thì mỗi nơi một khác, tùy theo óc tưởng tượng và tài năng thực hiện của người thợ.
Thập Điện Diêm Cung là một bộ tranh khắc nổi, đã được tô sơn nhưng lâu ngày mối mọt đã làm hư hỏng gần hết.
Bắt tay vào việc mới nhưng đầu óc Mạnh Tông vẫn không quên đi pho tượng La hán còn dở dang.
Chỉ qua vài ngày cảnh đầu tiên của địa ngục đã hiện ra: những tội nhân đang được lùa qua một cây cầu cao, dưới sông là rắn rết, ba ba thuồng luồng.
Hai đầu cầu quỷ đầu trâu mặt ngựa, có người đang bị dí dao vào lưng, có người đang rớt xuống sông, có người đang bị rắn quấn, có người bị quỷ thọc giáo vào bụng đổ ruột máu me tuôn chảy...
Đồng Hạo Thiên nói với em:
- Nét khắc họa của chú linh hoạt khác thường...
Người cha nói:
- Chắc quỷ thật mặt mày cũng không thể hung ác dữ tợn hơn.
Trông mà khiếp quá.
Sư thầy bảo:
- Mắt cháu đã nhìn thấy địa ngục chưa?
Một cụ già chân chất gật gù cái đầu:
- Trông thấy cảnh địa ngục như thế này người ta sợ mà không làm ác...
Nhìn xong có khi quên ngay.
Rồi tới cảnh leo cột lửa, người bị xé xác, moi ruột, người bị chó ngao cắp ngang cổ, đám đông chen lấn ăn cháo lú.
Mạnh Tông nói với cha:
- Làm sao người ta biết được cảnh địa ngục?
Đã có ai từ địa ngục trở về?
Đồng Cát Sỹ cười ngất:
- Địa ngục ư?
Nó ở ngay trần gian này.
Người ta đã chẳng nói: địa ngục trần gian.
Những cảnh mô tả địa ngục kia đã xảy ra trên đời, hoặc do những kẻ ác tâm nghĩ ra, hoặc có người tưởng tượng ra, kể ra, viết ra...
Đồng Cát Sỹ giữ lấy vai người con út:
- Cha thấy con khắc mặt quỷ mỗi lúc một ác hơn, hung dữ hơn...
Đồng Mạnh Tông thừ người ra không biết trả lời sao.
Đồng Hạo Thiên sau khi hoàn tất tượng Thích Ca, rồi tượng La hán đã phụ với Mạnh Tông làm bộ tranh khắc.
Mạnh Tông nói:
- Chắc Diêm Vương phải khác quỷ, khác những kẻ có tội, anh làm hộ em đi, em không mường tượng được con người ấy như thế nào.
- Mình dựa vào mẫu tranh cũ đó.
Mặt phương phi, vẻ nghiêm trang đường bệ, trán rộng, râu dài, quần áo chỉnh tề.
Phải thế không.
Diêm chúa thì phải khác chứ.
- Anh muốn nói, vua thì phải khác?
Nhưng vua của quỷ thì cũng là quỷ chứ khác sao được.
Vua của quỷ phải tàn ác hơn chúng quỷ, có thế mới sai khiến được chúng quỷ.
Không lẽ lại còn có quỷ hiền, quỷ ác.
Người ta thường nói tới những minh quân, Em thấy hiếm lắm.
Đã là tay không mà lập nghiệp thì không thể can vào việc giết người, không một ai tự nhiên mà lên làm vua, ngay cả những tên vui ai cũng biết là ác nhưng lúc nào nói thì tên này cũng chỉ nói nhân nghĩa, nhưng làm nhân nghĩa mới là chính chứ, nói nhân nghĩa dễ quá mà.
Phải mưu mô quỷ quyệt, phải giết người mới có thể làm vua được.
Để giữ ngôi vua người ta phải giết kẻ chống mình, kẻ muốn làm vua thay mình, giết bầy tôi giỏi hơn mình, có khi giết cả cha mẹ anh em để được làm vua, để giữ ngôi vua.
Anh đọc sách nhiều không thấy điều đó sao?
Cảnh địa ngục chẳng qua cũng chỉ là cảnh trần thế, có điều người ta làm với mục đích khuyến thiện, răn con người không nên làm ác.
Đó là cảnh thực chẳng ai tưởng tượng ra được...
Răn không nên làm điều ác, nhưng còn khuyến thiện.
Cực lạc sao không được nói đến?
Không được mô tả?
Phải chăng ở trần thế người ta không có kinh nghiệm cực lạc mà chỉ có kinh nghiệm địa ngục?
Mạnh tông hoàn thành mười cảnh địa ngục thì Hạo Thiên cũng đã xong những phần việc khác: mười vị Diêm Chúa.
Mạnh Tông nhìn kỹ, so sánh từng ông thì thấy những đường nét khắc của anh khác hẳn mình, nhưng có điều, Diêm Chúa chắc chỉ có một nhưng sao những khác biệt hiện ra nơi mỗi nét mặt, không ông nào giống hẳn ông nào.
Mặt nào cũng vuông vức, lông mày thanh nhã, mắt nhìn nghiêm khắc, dáng vẻ oai vệ.
Mạnh Tông nói với anh:
- Sao Diêm Vương không giống nhau, không lẽ có tập đoàn Diêm Vương?
- Có một Diêm Vương thôi, nhưng lúc thế này lúc thế khác.
Chứ Diêm Vương mà kiểu anh hùng cát cứ người ta chịu gì thấu.
Hạo Thiên cười phá lên khi đứng nhìn cảnh cuối cùng ở địa ngục: người ta đứng chờ ăn cháo lú, ở bên này sông xô đẩy chen lấn nhau, mặt mày đau khổ.
Qua bên kia sao mặt mày vui sướng, khoa chân múa tay...
Mạnh Tông nói:
- Sao anh lại cười?
Có kẻ thiếu chân thiếu tay?
- Cái cảnh ăn cháo lú này thú quá.
Chỉ ăn có một bát cháo mà đã thay đổi thế kia, nếu giúp hết cả nồi thì chắc là tuyệt diệu lắm...
- Thì xuống địa ngục lại.
- Sao chú nói thế?
- Vì mắc tội tham lam, không đúng sao?
Hai anh em ôm nhau cười ngất.
Bộ tranh làm xong đã được đưa qua cho đám thợ sơn làm tiếp.
Những người tới lễ chùa thấy bộ tranh dù đang làm ai cũng lắc đầu lè lưỡi.
Cảnh địa ngục đầu rơi máu chảy, mổ bụng phanh thây, voi dày ngựa xé, cưa người rút lưỡi...
Nhiều đứa bé ôm chặt lấy người lớn khóc thét vì sợ.
Hạo Thiên nói:
- Chú sinh ra là để khắc mặt quỷ.
II.
Công trình làm tượng của cha con họ Đồng coi như đã đi tới chỗ hoàn tất.
Đồng Cát Sỹ chau chuốt lại toàn bộ các pho tượng rồi giao cho đám thợ lo sơn son, thếp vàng.
Hạo Thiên được cha giao hoàn tất pho tượng la hán mà Mạnh Tông đã làm được một phần.
Mạnh Tông không vui nói với anh:
- Thế này thì không biết tới bao giờ em mới có dịp làm một pho tượng thờ.
Hạo Thiên ái ngại nhìn em:
- Thì em cũng đã làm gần như hầu hết bộ Thập Điện Diêm Cung rồi đó thôi.
- Có ai thờ quỷ đâu...
Hạo Thiên an ủi em:
- Rồi cũng tới lúc em làm những tượng khác.
Sự thầy chùa Mai Tụng hết sức vui mừng thấy công việc tạc tượng đã viên mãn.
Nhưng trong chùa còn một khúc gỗ nữa chưa dùng đến, sư thầy nói với Đồng Cát Sỹ:
- Còn một khúc gỗ, tôi muốn ông làm cho một pho nữa.
Đồng Cát nhìn sư thầy:
- Còn thiếu tượng gì ạ?
Sư thầy ngần ngại một lúc mới nói:
- Các tượng trên chùa đã đủ, còn dư lại khúc gỗ, tôi muốn làm thêm tượng vị để hậu tại chùa, ông thấy có được không?
- Tức người đã dựng lên chùa này?
- Không phải vậy, nhưng công cũng lớn lắm.
Không có vị này có khi chùa đã bị phá đi rồi...
Vào cái thời đói kém, khói lửa can qua và dịch bệnh cách đây mấy chục năm, nay những người lớn tuổi còn sống chắc không thể quên được.
Cướp của giết người diễn ra giữa ban ngày ban mặt.
Một đêm nghe tiếng người kêu rên ngoài cửa tam quan, sư thầy của chúng tôi thức dậy ra ngoài thì thấy một thanh niên máu me đầm đìa đang nằm bất tỉnh.
Sư thầy sai chúng tôi mang vào chùa cứu chữa.
Giữa đêm có toán người mang hung khí xông vào chùa hỏi: có người nào bị thương chạy vào chùa không?
Sư thầy ra bảo: không có ai.
Toán người tin lời sư thầy mà không lục soát, họ bỏ đi.
Sau chúng tôi thắc mắc, sư thầy bảo: kẻ tu hành không nói dối nhưng vì tính mạng một kẻ bị thương nặng mà ta phải nói thế, để rồi sẽ hỏi cho rõ ngọn ngành, kẻ có tội ta không che chở.
Mấy ngày sau người thanh niên bình phục dần, thầy của chúng tôi chưa kịp hỏi căn nguyên thì kẻ kia đã thừa đêm tối trốn đi.
Chúng tôi nói với thầy: chắc đó là kẻ xấu...
Thầy chúng tôi bảo: cứu người là luật của đạo, trừng phạt kẻ có tội là luật của đời.
Câu chuyện trôi qua cùng thời gian...
Loạn lạc tiếp diễn, triều đình suy tàn thêm...
Vùng này xuất hiện một đám giặc lớn, đầu đảng đóng quân trên núi.
Mới đầu chúng cướp của người giàu chia cho kẻ nghèo, dân lành nức lòng qui phục...
Khi hết kẻ giàu thì ai có gì chúng cướp cái đó, bắt dân phục dịch, bắt dân nộp lương thực cho chúng.
Chúng cho quân ngó vào từng củ khoai, buồng chuối, từng con gà con chó.
Chúng phá đình, phá miếu và làm nhiều việc tàn ác...
Riêng chùa Mai Tụng chúng không đụng đến.
Một hôm tên đầu đảng xuất hiện: đó chính là kẻ chùa chúng tôi đã cứu sống năm xưa.
Chùa chúng tôi không hề hấn gì đã đành, chúng tôi còn nhận được đủ thứ, mà thực ra là của chúng đi ăn cướp được, trong đó có đồ thờ quý giá, và cả Phật ở những chùa khác, chuông mõ cũng rất nhiều...
Nhưng sự việc cũng không được bao lâu, hình như cái xấu thì không bền.
Thời gian sau tên đầu đảng chết, đám bộ hạ tranh nhau quyền, xâu xé nhau làm cho đảng cướp tan dần.
Có người nói: tên đầu đảng chết rồi mà còn bị mổ bụng moi ruột.
Có một tên tâm phúc, chắc là kẻ có lòng vốn chịu ơn của hắn mang một ít vàng bạc tới cúng cho chùa và xin cho chủ cũ được thờ nơi nhà hậu.
Người này còn để lại một bức chân dung vẽ tuyệt khéo, một sấp những thơ văn mà hắn nói là của những danh sỹ đã ca tụng ân nhân của hắn lúc thịnh trời.
Sau sấp thơ văn này đâu mất chỉ còn tấm chân dung, có điều sau đó cũng không thấy người này trở lại và cũng không có ai tới thờ cúng gì...
Sư thầy ngừng kể rồi dẫn cha con Đồng Cát Sỹ xuống nhà hậu ở phía sau chùa.
Nhà hậu xây đâu lưng lại với chính điện ngó ra một khoảng sân rộng có trồng mấy khóm ngô đồng.
Trong nhà ngoài tượng Địa Tạng còn có tượng những vị sư từng trụ trì tại đây đã viên tịch, cạnh đó có bàn thờ riêng trên có tâm chân dung vẽ một mặt người với đôi mắt sâu hoắm.
Sư thầy nói:
- Đó là người để hậu mà tôi vừa nói tới.
Nhìn tấm chân dung ai cũng nhận ra nét vẽ sinh động, nhất là cái thần toát ra từ đôi mắt, lại thêm một gương mặt mà người ta ít thấy ở người thường.
Đồng Cát Sỹ nhìn bức chân dung rồi lơ đãng nhìn chung quanh, dáng vẻ như không mặn mà với đề nghị của sư thầy:
- Cũng khó vì đây là tượng một người thường, lại chỉ có chân dung nhìn từ một mặt duy nhất...
Ý Đồng Cát Sỹ không muốn nhận làm.
Nhưng sư thầy như không hiểu ý đó.
- Mình chỉ cần lấy cái tiền diện thôi, còn những mặt khác mình chế như tượng La hán chẳng hạn.
Bức vẽ chân dung là đủ rồi.
Đồng Cát Sỹ nói với hai con:
- Sư thầy đã nhờ thì cha con mình nhận.
Cha giao cho hai con đó.
Có lẽ mình chỉ làm bán thân thôi.
- Sao lại không làm như những tượng khác?
Đồng Cát Sỹ ngập ngừng không nói.
Sư thầy tiếp lời:
- Mình làm như tượng La hán, hoặc như mấy vị sư tổ...
- Thầy muốn thế... nhưng có lẽ nên theo quy cách của tượng thần, hay thành hoàng thì hợp lẽ hơn...
Trong thâm tâm Đồng Cát Sỹ không muốn nhận làm pho tượng vì những điều đã được nghe, một kẻ cướp dù có công với chùa thì vẫn là một kẻ cướp.
Nhưng vị nể sư thầy mà Đồng Cát Sỹ không nói ra.
Giao công việc cho con xong Đồng Cát Sỹ lên đường trở về quê.
Khúc gỗ còn lại trong chùa được mang ra, Hạo Thiên tính toán rồi khởi đầu công việc.
Mạnh Tông nói với anh:
- Sao cha lại nói: làm tượng này như tượng thần hoặc như Thành Hoàng là thế nào?
Em thấy làm như mấy vị La hán này hoặc như tượng mấy cao tăng đã viên tịch cũng được chứ sao?
Mình không cho ông ta ngồi trên tòa sen, hoặc cưỡi rồng là phải phép rồi...
Hạo Thiên mỉm cười:
- Em còn trẻ, anh cũng còn trẻ chắc bọn mình chưa hiểu hết điều cha muốn nói.
Tốt nhất là cha dặn sao thì mình làm vậy.
Theo như chỗ anh biết thì mỗi loại tượng có những quy định riêng.
Cứ đâu xa như chúng ta thường làm cửa võng thì rõ: đền chùa, đình miếu thì rồng đủ cả râu, vảy, móng, nhưng làm cho tư gia thì chúng ta đâu có làm như thế.
Có những quy định bất thành văn mà trong mỗi nghề đều có.
La hán không thể như Phật Thích Ca.
Tượng vua không thể giống tượng quan.
Những quy định không phải chỉ ở áo mũ, hia, hốt mà ngay cả trong tạo hình.
Một vị La hán có thể dơ tay cao, cười miệng rộng.
Nhưng Phật Tam Thế thì không như vậy được.
Không phải chỉ ở nét mặt mà còn cả trong dáng ngồi, cách để tay...
Ở nước ta chỉ có Phật là được làm tượng nhiều.
Các đình miếu thờ thần hoàng cũng hiếm khi có tượng mà thường chỉ có bài vị và ngai thờ như một hình thức vọng tưởng, cũng có khi người ta thờ một vật.
Ở Kinh Bắc có đền thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dong ở bên hồ Dạ Trạch do ông Chu Mạnh Trinh dựng lên.
Sau khi ông Chu Mạnh Trinh qua đời dân ở đó lập bàn thờ ông ngay nơi đền thờ Chử Đồng Tử với Tiên Dong, trên bàn thờ có một cây bàn đáy, vật mà lúc sinh thời ông Chu thường mang bên mình khi vui chơi với đám ả đào.
Trong trường hợp này người ta gọi việc thờ ông Chu là thờ thần hộ.
Thần hộ được hưởng theo sự cúng tế của dân cho thần chính.
Còn các chùa đều có nhà hậu để thờ những vị sư trụ trì đã viên tịch, và thờ theo những người có công với chùa, hoặc góp công đức cho chùa về sau.
Những người lập tự thường không có con cái nối dõi, phải nhờ nhà chùa hương khói sau khi qua đời.
- Kẻ ác, có nhiều tiền của cũng được thờ trong chùa sao?
Hạo Thiên nhìn em:
- Cũng khó để định thế nào là ác, thế nào là thiện.
Cửa chùa rộng mở cho mọi người, anh nghĩ thế...
Công việc đang dở dang thì Đồng Cát Sỹ lâm bệnh gọi Hạo Thiên về, việc làm tượng một mình Mạnh Tông đảm đương.
Trước khi về Hạo Thiên căn dặn em:
- Nhớ lời cha dặn, sau nữa theo sát tấm chân dung là được.
Mạnh Tông lấy làm thích thú với công việc, hoàn toàn độc lập không bị lệ thuộc vào cha và anh nữa.
Mạnh Tông mải miết với những đường chạm bay bướm, những nét khắc tinh xảo.
Dần dần pho tượng thành hình.
Nhìn đi nhìn lại giữa tấm chân dung và khuôn mặt tượng, Mạnh Tông tự bằng lòng.
Lại nữa, nét khắc họa rõ ràng dứt khoát càng làm cho tượng giống và sinh động hơn.
Chàng nhủ thầm: một tên đầu đảng chứ đâu phải tay thường.
Chàng có lúc quên đi những phép tắc bất thành văn cũng như lời căn dặn của cha.
Giao pho tượng cho đám thợ sơn rồi Mạnh Tông xếp đồ nghề để trở về nhà.
Sự thầy vui mừng thấy pho tượng đã xong.
Sư thầy nói với Mạnh Tông:
- Anh về thưa với thân sinh giúp nhà chùa: khi nào làm lễ an vị tượng sẽ cho người sang mời.
Các tượng mới do cha con Đồng Cát Sỹ làm đều đã được sơn son thếp vàng và để tại nhà đại bái, chính từ đây sẽ tiến hành lễ an vị nơi thượng điện.
Trước khi đám thợ sơn rời chùa, sư thầy xuống coi thợ đánh bóng tượng.
Tượng Thích Ca là tượng lớn nhất, tượng tạc Thích Ca ngồi trên tòa sen uy nghi, nhưng từ bi với mắt nhìn đầy trắc ẩn.
Tượng La hán mỗi tượng một kiểu nhưng đều toát ra vẻ nhân từ thoát tục ở nụ cười ánh mắt.
Riêng bộ tranh chạm khắc Thập Điện Diêm Cung thì quả tình thấy cảnh địa ngục thực kinh hãi...
Nhìn sang pho tượng người để hậu do Mạnh Tông hoàn tất sư thầy phải khâm phục sự tinh xảo hiện rõ từ trên những nếp áo tới những hoa văn trang trí.
So sánh mặt tượng chân dung vẽ không khác nhau, có thể nói giống như tạc, hơn thế, còn có vẻ sống động hơn.
Ngắm kỹ, sư thầy thấy như mặt tượng thay đổi, môi như cử động, đôi mắt như trợn lên hung dữ, trên vầng trán rộng đôi sừng mọc lên từ từ...
Sư thầy vội nhắm mắt lại rồi lại mở ra: không có gì khác.
Lúc sau nhìn lại mặt tượng sư thầy lại thấy như mặt tượng có gì rung động, môi hé ra với đôi răng nanh, mắt long lanh như đổ lửa, tưởng như tượng sắp thét lên và lao tới ôm lấy sư thầy...
Sư thầy nói với một đệ tử đi bên:
- Nhìn xem giữa tấm chân dung và tượng có giống nhau không?
- Dạ quá giống, nét chạm khắc còn sinh động bội phần nữa.
Mấy người chung quanh đều tấm tắc khen pho tượng và ca ngợi người thợ khắc có đôi tay tuyệt giỏi và mắt nhìn chính xác.
Nhìn lại pho tượng, sư thầy không thấy có gì khác thường, nhưng cứ mỗi lần nhìn lâu, chăm chú thì sư thầy lại thấy khác, nét mặt bỗng nhiên chuyển đổi.
Mỗi lần như thế sư thầy lại thấy một khuôn mặt khác lạ hiện ra.
Khi thì mặt đen, khi mặt đỏ, khi nhắm mắt, khi mọc sừng hai bên, khi mọc một sừng ở ngay giữa đôi mày, lúc há miệng, có lúc hé môi, có lúc như thấy tiếng cười độc ác, có khi là tiếng gầm rú của ác thú.
Mặt tượng đã không còn là mặt một người nhất định.
Không lẽ người thợ đã yểm bùa thiêng vào pho tượng?
Từ đó Sư thầy không còn dám nhìn mặt pho tượng lâu, sư thầy sai lấy một vuông vải đỏ phủ lên mặt tượng rồi vội vã lên chính điện bắt đầu một khóa lễ ngoài thông lệ.
Tiếng chuông, tiếng mõ vang lên nhưng nghe sao náo động bất an. ...
Các đệ tử ngơ ngác nhìn nhau không hiểu nguyên cớ.
Mọi người sợ hãi khi thấy chim đậu trên những ngọn cây bay lên như vỡ tổ, con bay đi, con bay lại đâm vào nhau rơi xuống như mưa với những tiếng kêu thảm não...
Vừa lành Cát Sỹ được sư thầy chùa Mai Tụng cho người tới rước lên nhân lễ an vị các tượng thì vui vẻ đi ngay.
Trong khung cảnh yên tĩnh của nơi cổ tự không bợn chút bụi trần Cát Sỹ thấy lòng êm ả.
Nâng chén trà thanh khiết với hương sen thơm nhẹ nhàng Đồng Cát Sỹ nghe sư thầy nói về ngôi cổ tự và những lời ca tụng tay nghề đối với cha con nhà họ Đồng.
Sư thầy dẫn Đồng Cát Sỹ lên chùa coi các bệ tượng đã sẵn sàng cho lễ an vị.
Sau đó hai người xuống nhà đại bái, nơi để các tượng đã hoàn thành mà từ đó được cung nghinh lên chính điện.
Các pho tượng rực rỡ vàng son, mỗi tượng đầu đều phủ một tấm vải đỏ.
Theo nghi lễ, sau khi tượng an vị nơi cố định tấm vải đỏ mới được lấy đi.
Đồng Cát Sỹ nhẹ nhàng vén từng tấm vải che từng pho tượng lên coi lại.
Khi nhìn vào mặt pho tượng do Mạnh Tông làm thì Cát Sỹ sững người và bỏ ngay tấm vải che lại.
Sư thầy nhìn Cát Sỹ:
- Tay nghề con út ông thực không ai bằng, ông thấy pho tượng thế nào, giống như in với tấm chân dung.
Vừa nói vị sư thầy vừa lấy hẳn tấm vải đỏ ra tay, vừa ngắm nghía vừa gật gù:
- Giống, thật giống, ai so sánh cũng thấy vậy, có cái lạ là nhìn lâu vào mặt thì...
Đồng Cát Sỹ nhìn thẳng vào mắt sư thầy:
- Sư thầy thấy sao?
Ngập ngừng một lúc sư thầy mới nói:
- Tôi thấy như tượng biến đổi sắc diện, thay hình đổi dạng...
Có lúc như mọc răng nanh, có lúc mọc sừng, có lúc mắt láo liên, có lúc mặt xanh, có lúc mặt vàng...
Đồng Cát Sỹ nhắm mắt lắng nghe tiếng sư thầy đều đều.
Lúc sau ông mở mắt nhìn thẳng vào mặt pho tượng.
Ông nhắm mắt mở mắt nhiều lần cho tới lúc ông không bình tĩnh được nữa nên chạy ra sân chùa, ông chắp tay vái tứ phương rồi đi về phía nhà bếp.
Sư thầy chăm chú nhìn theo.
Chợt Đồng Cát Sỹ trở lên vẻ vội vã, tay cầm chiếc rìu, ông ta chẳng nói chẳng rằng tiến tới bên pho tượng, tay cầm rìu, đứng nghiêng một bên đưa tay lên vạt một nhát mạnh vào mặt tượng.
Mặt tượng gần như phẳng và hơi lõm vào.
Đồng Cát Sỹ với tiếng nói rõ ràng từng tiếng:
- Ai thờ cái ác, cái hung dữ, cái xấu?
Sư thầy kinh hãi không thốt thành lời.
Đồng Cát Sỹ vứt bỏ rìu, bước đi mạnh mẽ dứt khoát ra khỏi cửa tam quan của chùa Mai Tụng.
Sư thầy nhìn chung quanh không thấy ai vội vàng phủ tấm vải đỏ lên đầu pho tượng rồi tất tả đi về trai phòng.
Chiều hôm ấy khi chuông thu không thả từng tiếng vào không trung, sư thầy không lên chánh điện với khóa lễ thường lệ, đệ tử xuống trai phòng tìm thì hoảng hốt thấy sư thầy nằm sấp vắt người nơi bậc cửa ra vào, chân ở ngoài hiên, đầu dấu trong bóng tối, thân xác đã cứng lạnh.
Trong lễ cung nghinh an vị tượng Phật được tiến hành bình thường nhưng giản dị theo như ngày giờ đã định trước.
Riêng khi đặt pho tượng người để hậu ở nhà thờ phía sau chùa, vị sư chủ lễ khi cầm tấm vải đỏ phủ trên mặt mới nhấc lên nửa chừng thì ngừng lại: sao tượng mất mặt?
Vị sư phân vân giấy phút rồi thả tay phủ lại tấm vải đỏ lên đầu tượng như lúc trước...
III.
Từ khi ở chùa Mai Tụng trở về, Đồng Cát Sỹ lòng không vui mỗi khi nhớ tới pho tượng người để hậu nơi chùa.
Không lẽ bàn tay của Mạnh Tông có thể làm cho một pho tượng biến ảo?
Không lẽ vì việc mình không phải: Sao lại làm tượng kẻ không xứng đáng?
Một kẻ xấu thì không thể được làm tượng cho người ta thờ?
Mấy cây gỗ của chùa Trúc Lâm mang lại từ lâu để làm mấy pho tượng Phật vẫn chưa đụng đến.
Hạo Thiên, Mạnh Tông đã mấy lần nhắc đến nhưng Đồng Cát Sỹ vẫn chưa muốn bắt tay vào.
Mạnh Tông nói với cha:
- Làm mãi hoành phi với câu đối... chán quá.
Kỳ này cha để cho con được tạc một pho tượng Phật.
Đồng Cát Sỹ không nói gì.
Quả thực là ông phân vân, có nên nói về pho tượng người để hậu ở chùa Mai Tụng không?
Có phải chính vì ám ảnh bởi pho tượng do Mạnh Tông tạc tượng Phật không?
Vừa lúc đó sư thầy chùa Trúc Lâm tới nói phải ngưng việc tạc tượng.
Đồng Cát Sỹ liên tưởng tới ngay pho tượng người để hậu:
- Thưa sư thầy sao vậy?
Thầy không tin nơi nhà chúng con nữa?
Sư thầy sua tay, nụ cười dịu dàng:
- Không phải, không phải vậy.
Triều đình mới có lệnh cầm đúc chuông, tạc tượng, xây chùa...
Vua quan không thờ Phật thì hẳn là không muốn dân thờ...
Mấy cây gỗ được mang đi, khi từ biệt sư thầy nói với Đồng Cát Sỹ:
- Tôi lo mang mấy cây gỗ quý này về chùa bảo quản, đến một lúc nào đó, ông hãy tin tôi... tôi sẽ mời ông lên hẳn trên đó lo việc này.
Tôi mong ông bảo trọng sức khỏe.
Mấy ngàn năm rồi người ta vẫn thờ Phật.
Phật đâu phải chỉ là tượng gỗ.
Phật đâu chỉ ở chùa?
Thấy không còn cơ hội tạc tượng Phật với đôi bàn tay của mình, Mạnh Tông đi ra đi vào thơ thẩn.
Phần Đồng Hạo Thiên mỗi lúc một ham đọc sách, làm thơ, đi ngao du cùng đồng bạn ít để mắt tới công việc chạm khắc.
Riêng với Mạnh Tông vẫn hy vọng tới một ngày nào đó, theo như lời cha nói: người tài bao giờ cũng có lúc được dùng.
Vì thế Mạnh Tông vẫn kiên trì rèn luyện tay nghề.
Khúc gỗ, tấm ván sau khi qua tay Mạnh Tông đã trở thành những tác phẩm tuyệt mỹ.
Với những mẫu mã có sẵn: long, ly, quy, phụng, mai, lan, cúc, trúc...
Cá vượt vũ môn.
Tất cả những ước lệ đó dần dà làm cho Mạnh Tông cảm thấy chán.
Chàng dành nhiều thì giờ dạy cho đám con cháu trong nhà là chính, chàng muốn chúng vào nghề một cách căn bản.
Bao nhiêu thì giờ còn lại Mạnh Tông dành cho cây sáo trúc, tiếng sáo của chàng mỗi lúc một mượt mà, mỗi lúc một thanh thoát ngọt ngào hơn.
Và thỉnh thoảng chàng cất tiếng hát. ...
Các chàng trai, các cô gái và đám mục đồng mỗi lần thấy chàng ngồi đâu là xúm lại...
Có đêm thanh vắng chợt văng vẳng tiếng trống chèo từ xa, Mạnh Tông thao thức.
Có phải tiếng trống đang réo gọi chàng?
Có phải tiếng trống đánh thức một phần con người Mạnh Tông vẫn dấu kín trong mình, một con người bí ẩn vẫn lẫn khuất trong một thân xác hiện hữu?
Thấy Mạnh Tông như mỗi lúc một hướng ngoại hơn, tiếng sáo, tiếng đàn, tiếng hát như cuốn lấy Mạnh Tông.
Hạo Thiên nói với em:
- Người xưa bảo: ở trong sách có mỹ nhân.
Không đọc sách đời người mất đi một nửa.
Những câu hỏi vẫn đến với Mạnh Tông: tại sao anh Hạo Thiên không nghĩ tới việc ra làm quan?
Tại sao anh lại không có vẻ gì mặn mà với lời giới thiệu của thầy học mà làm rể nhà quan phủ ở Thượng Ngàn?
Sao không thấy anh bén mảng tới những nơi vui chơi giải trí.
Mạnh Tông nghe lời anh mà chăm đọc sách hơn, gặp chỗ nào không hiểu thì hỏi, nhờ sáng dạ nên Mạnh Tông học rất mau giỏi.
Chẳng bao lâu Hạo Thiên thấy em mình đã lầu thông kinh sử.
Mạnh Tông chỉ đọc mà không học viết.
Hạo Thiên bảo em:
- Chả cần học viết, đọc người xưa là đủ.
Đọc nhiều, nhớ nhiều, thơ văn xướng họa trong sách chỉ lướt qua đã thuộc, mấy ngàn câu trong Kinh Thi chàng đọc như nước chảy.
Đôi khi Mạnh Tông cũng ứng khẩu làm một vài bài, nhưng sau đó thường quên ngay, hoặc chỉ nhớ một đôi câu khi có ai hỏi đến.
Bạn của Hạo Thiên ai cũng lấy làm lạ, có người để sẵn bút giấy khi Mạnh Tông đọc thơ thì ghi ngay lại.
Nhưng chỉ sau đó ít ngày nếu có ai đọc cho nghe, có khi Mạnh Tông hỏi: thơ của ai thế?
Trong vô số những thơ mà bạn Hạo Thiên ghi lại của Mạnh Tông, nhiều người nói tới bài Xuân Tửu:
Nhấp chưa nguôi chén càn khôn tửu
Nhan sắc trần gian nhắm sạch rồi
Đưa mắt trông trời nhìn địa ngục
Thần tiên, yêu quái bỗng xôn
Nhiều người khuyên Mạnh Tông học viết chữ nhưng một mực chàng không nghe.
Mạnh Tông nói:
- Anh tôi bảo: tay chú sinh ra để chạm khắc, không phải để cầm bút.
Không vượt lên được cái tầm thường mà cầm tới bút có khi phạm tội ác còn hơn cả quân giết người.
Ngày tháng trôi qua, có một mùa đông khắc nghiệt để sau đó là một mùa xuân dài, tươi vui, mùa lễ hội bắt đầu.
Mạnh Tông lại nôn nao vì những tiếng trống chèo từ xa vọng về.
Phường chèo Nam Hạ về diễn ở một làng bên kia sông.
Xưa, ngay từ đêm đầu tiên đã có mặt Mạnh Tông.
Vẫn là những Lưu Bình Dương Lễ với tình bằng hữu có một không hai.
Vẫn là Thị Kính nhẫn nhịn với lòng hiếu sinh.
Vẫn là Xúy Vân giả dại giữa đời đen bạc.
Vẫn là tiếng hát xẩm của Thị Phương trên đường lưu lạc...
Ban đêm hòa mình với những vui buồn nơi chiều chèo, ngày lại Mạnh Tông nghêu ngao hết làn chèo này sang làn chèo khác.
Một hôm Mạnh Tông đánh bạo nói với bố:
- Con đi hát chèo được không bố?
Một khoảnh khắc im lặng khác thường, Đồng Cát Sỹ nhìn người con út có hai bàn tay khéo léo.
Hát chèo?
Sao lại thế?
- Người ta ghét những người theo nghề hát chèo lắm phải không bố?
Người ta nói: xướng ca vô loài, con những người hát chèo còn không được đi thi chứ nói gì tới làm quan.
Còn cha?
Đồng Cát Sỹ phân vân chưa biết trả lời con làm sao.
Ông nhớ tới pho tượng ở chùa Mai Tụng, cái mặt tượng mà ông đã dùng dìu vạt đi.
Giọng Đồng Cát Sỹ từ tốn:
- Con thực thích hát chèo sao?
Nếu con thích cha cho phép chọn...
Nghề chạm khắc nhà mình...
Đồng Mạnh Tông cắt ngang lời cha:
- Bố ơi, hát chèo đâu có cần đến tay.
Anh con bảo: tay con sinh ra là để chạm khắc.
Đồng Cát Sỹ cười ngất:
- Nghĩa là con vừa dùng tay chạm khắc, miệng thì hát chèo, thế còn đôi chân thì dùng làm gì?
Mạnh Tông cũng cười theo:
- Ý con muốn nói, tới một lúc nào đó, chẳng hạn như khi hơi không còn để hát nữa.
Đồng Cát Sỹ để cho con chọn nghề theo ý muốn, lại nữa, ông cũng đợi ngày tháng sẽ tới, những trải nghiệm trong cuộc sống sẽ ảnh hưởng tới đôi tay tài hoa của con mình.
Một con người sinh ra đâu phải bỗng nhiên đã có thể hoàn hảo, mỗi kẻ đều phải qua những nhọc nhằn mới trở thành người.
Thế rồi Mạnh Tông bạo dạn tới tìm ông trùm của phường chèo Nam Hạ.
Sau khi nghe Mạnh Tông nói, ông trùm nhìn chàng từ đầu tới chân rồi gật gù:
- Anh thích nghề hát chèo à?
- Dạ mê hát chèo...
- Mê chưa đủ, dòng họ nhà anh từ xưa tới nay đã có ai là kép chèo, hoặc đào chèo không?
- Sao lại thế?
- Mấy thứ này là phải có dòng, có máu, có gia phả...
Nhưng thế này: anh có biết hát không?
- Dạ có biết hát...
- Ai dạy anh hát?
- Chỉ nghe hát nhiều mà biết.
Ông trùm vẫn nhìn Mạnh Tông không rời mắt.
Có một cô gái người nhỏ nhắn trong phường chèo tới ngồi bên.
Ông trùm quay sang nói với cô gái:
- Tay này muốn bái tổ theo nghề, trông tướng tá cũng được đấy chứ, có chịu nhận làm đệ tử không?
Cô gái không nói đưa mắt nhìn chàng trai lạ, ông trùm quay sang nói với Mạnh Tông:
- Anh nói biết hát, vậy hát thử nghe.
- Nhưng hát bài nào?
- Anh hát bất cứ bài nào anh biết.
Mạnh Tông nhớ ngay tới giáo đầu của vở Quan Âm Thị Kính mà chàng đã thuộc như cháo, chàng hắng giọng rồi cất tiếng.
- Ai ơi giữ lấy đạo hiền
Giồng cây lấy đức, xây nền lấy nhân
Đôi chữ Di Đà
Gái trai khỏe mạnh, trẻ già bình an
Lòng thành thắp một nén nhang
Mô Phật, từ đường siêu khổ hải
Ngũ phúc chiếu thuyền lâm
Mở Phật kinh thấy tích Quan Âm
Nhà họ Mãng...
Ông trùm vỗ tay rồi ra dấu cho Mạnh Tông ngưng lại:
- Giáo đầu mà như vậy thì chiến lắm, từ hát vỉa, sang hát cách, tới nói chúc, nghề quá đi chứ, giọng lại ngọt nữa...
Bài khác xem nào:
Mạnh Tông hắng giọng:
- Nam Mô A Di Đà Phật, Phật, Phật, Phật, Phật...
Nam mô bát bộ kim cương
Gãy bốn chân giường chết ổ chó con
Nam Mô Bồ Tát Bồ Hòn
Bao nhiêu vãi trẻ có con kỳ này...
Mạnh Tông vừa xuống giọng ông trùm đã cười lớn, cô gái ngồi bên cũng cười ngặt nghẽo, mấy người đứng chung quanh vừa cười vừa vỗ tay tán thưởng khiến Mạnh Tông phấn khởi hẳn lên.
- Anh còn định làm hề nữa à, anh vào vai Thị Kính thử xem, giọng anh giả gái có khi trong và thanh hơn cả các cô không chừng.
Mạnh Tông bước đi mấy bước nhớ tới cảnh Mãng ông gọi con gái ra và Thị Kính cất lời:
- Vẳng nghe thấy tiếng cha đòi
Nào gương soi, lược giắt, trâm cài bước ra...
Công cha mẹ càn khôn cao hậu
Chữ lan thù phú tái chi ân
Sinh con ta dưỡng dục sinh thành
Phải lo giả cù lao chi đức...
Con có hiếu đẹp lòng cha mẹ
Trình lạy cho con được ra hầu...
Mạnh Tông ngừng lại, mọi người vỗ tay không ngớt.
Ông trùm nói với cô gái ngồi bên:
- Tiểu Kính Tâm này tuyệt đấy chứ, sao Thị Mầu không hát cho chàng nghe đi... chàng như khế rụng sân đình, em như gái chửa đi rình của chua...
Cô gái đấm thùm thụp vào lưng ông trùm.
Mạnh Tông đoán chừng đó là đào Soan thường đóng vai Thị Mầu trong tích Quan Âm, nhưng ở ngoài thấy cô khác hẳn với vai trên chiếu chèo.
Mạnh Tông hát hết bài này sang bài khác, từ vỉa nồi niêu tới sa lệch chênh, từ điệu xuân sang điệu nam, từ ngâm thơ tới nói sử... làn điệu nào chàng cũng tường.
Khi nhập vai nữ giọng ngọt ngào cao thanh, khi riễu cợt khê nồng trần tục, qua giọng nam thì mạnh mẽ, khúc triết khỏe mạnh, giọng ca lúc nào cũng đầy.
Mạnh Tông nhập phường chèo chẳng mấy ngày đã quen thuộc thân thiết với mọi người nhờ tính vui vẻ và dễ chan hòa, lời ăn tiếng nói lại dễ nghe, khi nào cũng tao nhã duyên dáng ý nhị.
Trong phường chèo trên hết là ông trùm Phúc, sau đến kép Trụ, đào Hòe, đào Soan... tất cả không được mười người.
Mỗi người mỗi việc, mỗi người mỗi vai.
Đào Soan là người chàng gặp ngay từ buổi đầu, người nhỏ nhắn, không đẹp một cách khoa trương, mà ngược lại có duyên thầm với vẻ kín đáo khác hẳn với đào Hòe.
Tiếng hát của Soan trong ngọt mà Mạnh Tông đã được nghe nhiều lần mỗi khi coi phường Nam Hạ diễn trong vùng trước đây.
Đào Soan không được coi là đào chính của phường, nhưng mỗi lần cô sắm vai Thị Mầu thì ai cũng phải công nhận là đào lẳng có một không hai.
Đặc biệt nhất phải kể vai Thị Phương trong tích Trương Viên, đào Soan như nhập hẳn vào vai người vợ hiền dâu thảo dắt mẹ chồng vượt qua cảnh loạn ly, quỷ dữ, làm người hát sẩm, tiếng hát đưa nàng đến gặp chồng vẫn thủy chung một dạ để đôi ngọc lưu ly nhập vào mắt nàng mang lại ánh sáng và hạnh phúc...
Vai diễn chân thật, tiếng hát có lúc uất nghẹn hờn oán, rồi chan hòa âu ca đã làm bao nhiêu người đàn bà chất phác nơi thôn dã phải nhỏ lệ thương thầm.
Hôm đầu trùm Phúc bảo đào Soan nhận dạy Mạnh Tông, nàng lắc đầu quầy quậy, dù vậy nàng vẫn cùng kép Trụ, đào Hòe và những người khác giúp Mạnh Tông quen dần với từng vai diễn.
Trong một buổi diễn thử, cũng là tập cho Mạnh Tông.
Khi cầm tay chỉ cho chàng cách diễn múa, đào Hòe giữ chặt lấy, đưa tay lên nhìn rồi nói với mọi người: tay đẹp hơn tay con gái trời ạ...
Đào Hòe cứ giữ chặt lấy tay Mạnh Tông khiến chàng luống cuống, ngượng nghịu mãi mới dụt được tay về trong khi mặt thì đỏ lên.
Đào Hòe còn trêu thêm: kìa coi có lạ không, má đỏ như cô gái mười tám...
Trong phường chèo kép Trụ ăn ở với đào Hòe như vợ chồng, nhưng hỏi ra thì chưa phải vợ chồng.
Có người nói với chàng: vợ chồng phường chèo mà, tuồng làm sao thì đời làm vậy.
Có ai chỉ sắm một vai thôi đâu: khi Quan Âm, lúc Thị Hến, khi Thị Mầu...
Hành trang của phường chèo chỉ vỏn vẹn có mấy đôi bồ đan bằng tre trong đó những áo mũ cân đai, chuông mõ, tràng hạt...
Mỗi lần từ làng này sang làng khác kẻ gánh người gồng chẳng mấy khó khăn.
Phường chèo sống với nhau như một gia đình, có tôn ty trật tự riêng của nó, nhưng cũng đầy những xô bồ bát nháo bề bộn như một đám người thất cơ lỡ vận sống nơi đầu đình góc chợ.
Một tối không diễn, ngồi chơi nơi thềm ngôi đình làng, trùm Phúc nói cho Mạnh Tông nghe về nghề chèo của mình: Xưa kia phường chèo chỉ đi hát vào mùa nông thôn vào hội khi ấy là mùa xuân, nông dân không còn việc đồng áng, những người có nghề hát chèo tụ tập lại với nhau đi lưu diễn, vì thế mới gọi là phường, đến khi vụ lúa mới bắt đầu thì họ lại trở về làng ra ruộng với cái cuốc con trâu chờ tới mùa xuân năm sau.
Nghề này thường là cha truyền con nối, chẳng có trường nào, lò nào dạy, mỗi phường thường là một gia đình, một giòng họ, nếu không thì cũng là người trong làng, trong tổng.
Người nào giỏi, có khả năng đứng đầu điều khiển thì làm trùm, sống lâu lên lão làng, người nào giỏi vào vai chính, người nào kém giữ chân chạy cờ, lính lệ, nô tì...
Một phường chèo nổi tiếng nhờ vào những đào kép chính có nhan sắc, có giọng hát hay, đặc thù mà những phường khác không có, nhất là những vai hề.
Không tích nào diễn mà không có vai hề, có hề nam và hề nữ.
Mụ Đốp vợ anh mõ trong tích Quan Âm không phải đào nào diễn cũng được.
Những tiểu đồng thầy bói, thầy lang, lão say thì ở tích nào cũng có thể đưa vào để có những tràng cười.
Thân trò thì đào kép chính hay phụ đều như thuộc lòng, vì số tích không nhiều, gần như chẳng có tích nào mới, lại năm nào cũng diễn, có thể hôm nay diễn mai lại diễn, có tích diễn liên tục nhiều đêm do dân làng yêu cầu.
Nhưng không hẳn chèo chỉ có một mùa hội hè đính đám, thỉnh thoảng cũng có những người giàu có, hoặc các nhà quan có khao vọng, thượng thọ cha mẹ cho gọi phường chèo về hát chầu, ông trùm tập hợp đào kép lại đi diễn dăm ba đêm.
Mãi sau này có những khu dân chúng tập trung, dân không sống bằng nghề nông mới có những gánh chèo thường trực.
Từ đó phường chèo thành gánh chèo và nảy sinh việc đào kép thay đổi gánh, truyện đào kép ghen tuông với nhau, thay vợ đổi chồng...
Các ông trùm thì tìm cách o bế những đào kép chính ăn khách để thu lợi.
Thế là hát chèo thành một cái nghề hẳn hoi, đào kép không còn nghề nông căn bản nữa.
Mỗi gánh chèo thường có những đặc điểm để người ta nhớ như trước đây có phường chèo Bắc Nhị, gánh này không có đào, chỉ toàn kép đóng giả gái mà lại sắm vai rất tài tình, tích nào họ diễn cũng được.
Trùm Phúc bảo Mạnh Tông:
- Tôi thấy chú giả gái chắc ăn, giọng cao thanh, người nhỏ, da trắng...
để rồi coi.
Đang từ cuộc sống lặng lẽ êm đềm bước vào gánh chèo sô bồ chàng thấy một cuộc sống hoàn toàn khác nhưng cũng đầy hào hứng bất ngờ.
Bây giờ chỉ có tiếng trống, tiếng đàn reo vui mỗi tối.
Những y phục rực rỡ, ánh sáng bập bùng như thật như giả, những son phấn mặn mà quyến rũ, và tiếng cười đùa, tiếng reo hò, tiếng hát vang vọng....
Mạnh Tông vốn thông minh, chỉ đến đâu nhớ tới đó nên chỉ một thời gian ngắn chàng đã có thể theo tiếng trống bước ra làm anh lính chạy cờ la thét dẹp đám, rồi làm hề đồng, làm lính gác, có hôm đào Hòe hóa trai giả gái cho làm tiên nữ.
Mạnh Tông trở thành một cô gái đẹp như ở chốn kinh kỳ với má phấn môi son, mặt trái soan, người mảnh dẻ, chân tay thon thả...
Xuất hiện ít lần mà đã làm nhiều người coi tấm tắc khen gánh chèo mới có đào đẹp.
Họ đâu có biết là trai giả gái.
Có lần sau khi đánh phấn xong, đào Hòe ghé lại gần hôn đánh chụt vào má Mạnh Tông và nói: người đẹp của tôi ơi... làm cho cả đám phường chèo cười rú lên.
Gánh chèo không bao giờ có thể ở một nơi nào lâu, Mạnh Tông sống như đã quen thuộc với những di chuyển thường trực.
Với Mạnh Tông mỗi đêm diễn vẫn là một hấp dẫn, háo hức, chàng lẩm nhẩm hát theo những đào kép trên chiếu chèo, chàng quan sát từng cử chỉ, điệu múa, cách liếc mắt đưa tình, cách chuyển quạt từ tay này sang tay khác, cách vuốt râu sửa tóc.
Đặc biệt chàng thấy đào Soan mỗi lần ra diễn là một lần khác lạ, mỗi lần như có một đào Soan mới tạo ra những cảnh huống mới.
Càng nhìn, càng nghe, chàng càng thấy cái duyên thầm của đào Soan với sàn diễn.
Ở cuộc sống thường nhật đào Soan lặng lẽ như tự ẩn khuất mình vào một thế giới riêng kín đáo, giản dị...
Nàng vốn người đồng chiêm, cha mẹ mất sớm, ông trùm nhận nuôi như con cho đi theo gánh chèo.
Còn nhỏ đã không được đùm bọc giữa những người máu mủ ruột thịt, Soan lúc nào cũng thu nhỏ người lại với những lo sợ không rõ ràng.
Với Mạnh Tông chừng như nàng có phần tin cậy hơn.
Một lần Mạnh Tông hỏi Soan:
- Em cất giấu kép ở đâu?
Soan cười rúc rúc trong cổ họng, lúc lâu nàng mới nói:
- Kép của em không biết hát chèo, chỉ biết cày ruộng thôi.
Nói xong nàng chạy đi.
Gánh chèo ở Cổ Sơn chỉ mới hai đêm đã thưa người xem, phần nào vì đào Hòe giận kép Trụ, mỗi người kiếm cớ khác nhau để không diễn, hoặc diễn thì miễn cưỡng.
Tất cả có một cái gì uể oải khiến cho tích diễn không còn sinh động để lôi kéo người xem.
Ông trùm quyết định đưa gánh sang Ô Lâu bên kia sông.
Đêm cuối giữa những đồ đạc ngổn ngang không khí vắng lặng của chùa Cổ Sơn, Mạnh Tông thơ thẩn một mình và nhớ tới quê nhà.
Chợt nghe tiếng gọi, Mạnh Tông nghe có tiếng gọi mình.
Mạnh Tông đi tới góc chùa nơi có ngọn đèn nhỏ, kép Trụ đang nằm bên bàn đèn thuốc phiên trên chiếc chiếu hoa rách bẩn.
Mạnh Tông ngồi ghé xuống bên.
Kép trụ đưa dọc tẩu về phía chàng:
- Làm một điếu.
Mạnh Tông lắc đầu:
- Bố em bảo: trâu cày béo mập, ruộng thẳng cánh còn bay dinh cơ nhà ngang cửa dọc kềnh càng nhưng có thể chui qua cái lỗ nhỏ xíu của cái tẩu đấy, đừng có đụng đến.
Kép Trụ nhếch mép cười khinh bạc lặng lẽ tiếp tục hút, sau mấy điếu liên tiếp mới bỏ tẩu xuống, rót nước cho mình và mời Mạnh Tông, đôi mí mắt sùm sụp, giọng nói rã rượi buồn thảm:
- Đời đào kép nó oan nghiệt lắm chú em ạ.
Hãy về nhà đi.
Kép Trụ một tay chống xuống chiếu, một tay như sua chàng đi:
- Vậy sao anh không về nhà?
Kép Trụ lắc đầu nhẹ, giọng nhỏ và thấp:
- Muộn rồi, muộn rồi... chú thì còn kịp.
Cái ma lực của đời xướng ca.
Chúng ta như con thiêu thân tìm tới ngọn lửa mà đốt cháy mình...
Kép Trụ nằm co người lại, hình ảnh quen thuộc này chàng đã nhìn thấy nhiều lần: một xác chết.
Nhưng khi đêm tới, và tiếng trống chéo gióng lên, lửa bắt đầu được đốt trên những ngọn đuốc... kép Trụ đã lại tỉnh như con sáo, giống như kẻ lên đồng, cái xác chết kia bỗng nhanh nhẹn thay quần áo, làm mặt, đội mũ... và bước ra với vai diễn.
Đam mê, trôi nổi, tạm bợ, không ngày mai, cuộc sống lấy đêm làm ngày, lấy đình chùa làm nhà ở, lấy quán chợ làm nơi sum họp.
Những cô đào, những anh kép chắc cũng có lúc nghĩ tới ngày mai tới một mái nhà.
Có phải họ bị cuốn vào một đam mê không tên gọi?
Hết người này tới người khác hết đời cha tới đời con, hết anh đến em, có ai thoát ra khỏi cơn xoáy... phường chèo, bao kẻ sống chết với nó như một nghiệp dĩ chứ không phải là một nghề để mưu sinh.
Sáng hôm sau trên đường qua sông, Mạnh Tông gánh hai bồ nhỏ, ông trùm đi bên vác mấy thanh kiếm, giáo mác, gậy gộc.
Trùm Phúc vừa đi vừa nói:
- Tối nay qua bên toàn những người xem còn lạ, diễn tích Quan Âm Thị Kính tôi giao cho anh sắm vai Thị Kính, xem bộ đào Hòe không còn muốn diễn nữa rồi.
Mạnh Tông ngạc nhiên đứng lại, đặt đôi bồ xuống ven đường:
- Chết, không được đâu...
- Đừng sợ, thừa sức mà, đào Soan sắm vai Thị Mầu...
Tới đình Ô Lâu, sau khi thu xếp mọi việc xong thì cả gánh nhốn nháo lên vì kép Trụ ôm bụng lăn lộn rồi sau cùng nằm thẳng đơ ra mà thở như chờ chết, nói không ra tiếng.
Kép Trụ không thể diễn được, Mạnh Tông sắm vai Thiện Sỹ đóng cặp với đào Hòe sắm vai Thị Kính.
Trùm Phúc căn dặn:
- Tối nay phải diễn cho ra trò, cứ như mấy ngày trước thì chết đói cả đám.
Mạnh Tông vào vai Thiện Sỹ chững chạc rõ ra một thư sinh, giọng hát ngọt ngào, đào Hòe vào vai Thị Kính thương cảm nhưng phong thái như một vị chân tu, đào Soan lẳng lơ như chưa bao giờ lẳng lơ.
Tất cả đã làm cho vở chèo có một sinh khí mới.
Ngay vai thằng Nô, đứa ở trong nhà phú ông đêm nay cũng diễn xuất thần.
Tiếng trống, tiếng vỗ tay rộn rã, những nắm tiền ném lên sàn diễn.
Tiếng trống đã dứt, đám người tan ra nhiều ngã như đàn kiến vỡ tổ với những tiếng cười nói mỗi lúc một xa dần, đào kép người lo dọn dẹp, kẻ thay trang phục, lau phấn chùi son...
Mạnh Tông bồi hồi với vai Thiện Sỹ lần thứ nhất diễn giữa hai cô đào lâu năm của gánh nhưng không chút kém cỏi, chàng như đã nhập vào vai ấy từ lâu lắm rồi.
Chàng thừ người đứng khuất vào trong một góc tối.
Bỗng chàng giật mình khi thấy đào Hòe đứng ở bên từ lúc nào chưa thay áo, chỉ mới bỏ cái khăn ra cho mái tóc chảy dài về phía lưng, nàng hơi mỉm cười với đôi mắt long lanh, Mạnh Tông vừa định nói thì bàn tay của đào Hòe đã đưa ngay lên trước miệng như ngăn lại rồi nàng đưa tay ôm lấy ngang người Mạnh Tông, đầu rúc vào ngực...
Mạnh Tông luống cuống gỡ tay đào Hòe rồi quay người thoát ra ngoài chỗ sáng...
Qua phút bàng hoàng Mạnh Tông rảo bước về phía những đào kép đang quây quần ăn cháo khuya.
Tiếng ông trùm Phúc gọi lớn:
- Thiện Sỹ lại dây, còn Tiểu Kính Tâm đâu rồi...
Mọi người nhìn quanh không thấy đào Hòe đâu, có người lên tiếng gọi, lúc sau mới thấy đào Hòe bước tới lặng lẽ không nói đưa tay nhận lấy bát cháo từ tay trùm Phúc, kép Trụ đứng ở xa không thấy nhìn lên.
Suốt đêm đó Mạnh Tông không sao chợp mắt được, sớm hôm sau từ tờ mờ chàng đi về phía sông lớn nhảy xuống dòng nước đang chảy xiết, chàng thả người cho nước đưa đi thật xa rồi mới bơi ngược trở lại.
Ngâm mình cho tới lúc thấy người lạnh cóng chàng mới leo lên bờ đê lấy cây sáo trúc dắt trong người ra thổi, chàng nhớ tới bờ đê quê mình, những cánh ruộng phẳng, những ngọn tre cao lắc lư trong gió.
Chàng nghĩ tới những pho tượng ở chùa Mai Tụng, mái nhà mà cha anh mình đang sống với nghề chạm khắc.
Rồi chàng nhớ tới những ngày đầu tiên theo gánh chèo, tới đôi mắt long lanh của đào Hòe... tiếng sáo bỗng như trầm xuống, bâng khuâng không cớ...
Chàng bỏ ống sáo xuống, nhìn sang bên thấy đào Soan đang nhìn mình.
Nàng mỉm cười:
- Anh thổi sáo nữa đi, sao người nhiều tài thế...
Phân vân giây phút Mạnh Tông đưa sáo lên thổi tiếp, tiếng sáo dìu dặt nhẹ nhàng như vút cao vào không trung.
Chàng nhìn dòng sông nước đang suôi chảy, nắng sớm mai chiếu xuống mặt nước óng ánh như những miếng bạc vỡ, bên kia sông lau trắng ngút ngàn chạy mãi tới chân dãy núi lam mờ mờ cuối chân trời.
Đâu đây một tiếng chim sâu đơn lẻ, lạc lõng.
Đào Soan ngắt một bông cỏ may thả theo hướng gió.
Cả hai người ngồi im không nói.
Mạnh Tông nằm dài ra sườn đê, hai tay dang ra mở mắt nhìn nền trời cao xanh, những vạt mây trắng bay chầm chậm...
Sau khi ăn cơm trưa, ngồi dưới gốc cây đa ven bờ ao sen của đình Ô Lâu, ông trùm nói với Mạnh Tông:
- Đào Hòe sáng nay đã xin phép về quê vì có tin mẹ đau nặng – ông trùm vẻ ngán ngẩm – kiểu này chắc không xong rồi phải tìm đường thôi.
Đào Soan ngồi gần bên nói:
- Thì bố để anh Mạnh Tông sắm vai Tiểu Kính Tâm như bố đã cho tập thử đó?
Giọng ông trùm có vẻ dứt khoát:
- Phải đấy, chiều nay mình dượt thêm lần nữa.
Buổi chiều tập lại tích Quan Âm Thị Kính, kép Trụ nói không thành tiếng nên không thể vào vai, ông trùm vào vai Thiện Sỹ...
Tối lại tích Quan Âm Thị Kính được diễn với một Thị Kính hoàn toàn mới nhưng lại được hoan hô không ngừng.
Mạnh Tông nghiễm nhiên trở thành đào chèo thanh sắc làm ngẩn ngơ bao nhiêu người, trong gánh có người gọi chàng là cô Mạnh Tông.
Đào Hòe về quê không trở lại sau đó nhắn lên lời chào mọi người, kép Trụ sang diễn ở gánh khác dưới mạn suôi.
Ông trùm Phúc phải cho gánh ngừng ít ngày trong khi đi gọi thêm đào kép.
Một tối không diễn, trùm Phúc nói với Mạnh Tông:
- Liệu chú có quyết đi theo gánh không?
Này Soan nó có cảm tình với chú lắm đó.
Có đào thì phải có kép...
Mạnh Tông không nói chỉ mỉm cười nhìn ông.
Khi nhắc đến đào Hòe ông Phúc bảo:
- Tôi đã nói rồi, tay Trụ không xứng với nó, thêm nữa nghiện rồi thì đâu có tiền cho đủ hút, mà cái nàng tiên nâu ấy khi đàn ông đã mắc rồi thì không biết vợ con nữa, chỉ có con đường giữ vợ là làm cho vợ nghiện luôn mới xong...
Đào chèo, cái nghiệp của nó nặng lắm...
Ông trùm ngửa cổ cạn hết một chén rượu lớn:
- Ngay chính bản thân tôi cũng như đã chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc đời đào kép rồi.
Thuở còn thanh sắc kẻ đón người đưa, bao người chiều lụy.
Nhưng khi hát không ra tiếng, nhan sắc đã tàn thì nó bi thảm lắm, có chăng thỉnh thoảng người ta nói lời thương hại: xưa kia...
Thanh sắc đã đưa người ta tới bao nhiêu bi kịch, mà bào chỉ với đào kép thôi đâu?
Lúc tôi còn trẻ có kết với đào Hồng, lúc đó tôi hát hay, đẹp trai, khỏe mạnh, nhưng đâu phải chỉ có một mình đào Hồng đâu?
Lúc chúng tôi diễn ở phủ Lạc Châu, tên tri phủ mê đào Hồng, kêu trùm phường chèo phải đưa đào Hồng vào trong phủ hát gõ.
Cái trò quan gọi đào vào phủ này diễn ra hoài.
Tôi biết nếu đào Hồng vào thì chẳng thoát được tên quan ấy.
Tôi ngăn lại.
Tên quan cho lính giữ gánh chèo không cho đi.
Tay trùm thuyết phục tôi và đào Hồng để cứu gánh chèo.
Tôi đành buông xuôi.
Vào phủ rồi không biết tên quan hăm dọa và dụ dỗ ra sao không rõ, đào Hồng không về với gánh chèo mà ở lại làm nàng hầu.
Phần tôi đã đành, phần nàng sao tội nghiệp hết sức.
Sắc đã tàn, hương đã rữa tên quan mang gả nàng cho một tên đề lại.
Có nhan sắc đâu có sung sướng gì.
Lúc tôi đã từng trải tôi mới lấy người vợ sau.
Nàng theo gánh chèo từ nhỏ do tôi dìu dắt, nhưng đến lúc đã đủ lông cánh, lại có nhan sắc thì không cầm lòng được mà theo lời dụ dỗ của một kép trẻ đang lên.
Đời đào kép là như thế đó.
Phường chèo không có đào trẻ hát hay thì không ai xem, nhưng một khi đào đã nổi tiếng thì lại khổ vì kép tranh nhau đào, khổ vì gánh khác tìm cách mua chuộc rù quến đi, nhưng khổ nhất là với những kẻ có tiền, có quyền như mấy tên đầu tỉnh, đầu huyện, đầu làng, những lãnh chúa...
Khi gánh chèo nào có đào xinh đẹp là chúng nhòm ngó.
Khi tới xem diễn là đôi mắt của chúng đã hau háu, rồi sau đó tìm đủ cách để ít nhất cũng vuốt được má, sờ được mông, để ngủ với đào.
Đâu phải những tên đó không có vợ đẹp, không có hầu non, khi chúng làm quan thì bỗng nhiên chúng trở thành dâm đãng, tàn ác.
Cũng có một vài tên quan chỉ mê đào, say tiếng hát rồi thôi.
Nhưng cũng có tên mê đào mà bỏ cả làm quan, trường hợp này hiếm nhưng cũng đã có.
Hình như đào chèo khi xuất hiện trên sàn diễn có thêm một sức quyến rũ ma quái nào đó, Họ liếc mắt đưa tình, diễn cảnh âu yếm đã tập luyện, rồi... phấn son, trang phục, kèn trống...
Làm cho người xem muốn được sống như trong cảnh diễn, điều mà ở cuộc sống họ không được sống.
Họ muốn sống với một cảnh mà họ từng mơ ước.
Ông trùm Phúc ngừng lại một chút, rót thêm rượu:
- Anh còn trẻ mới theo gánh chưa thấy được hết thế nào là đời sống phường chèo.
Tôi hỏi thực anh: tại sao anh lại mê chèo?
Hay vì một cô đào chèo nào đó hớp hồn anh?
Đào Soan hả, nó đâu phải một cô đào chim sa cá lặn gì... tôi chưa thấy ai đi theo nó cả.
Mạnh Tông cười thành tiếng.
Trùm Phúc nói tiếp:
- Trong đời tôi nhớ một cô đào.
Đó là đào Sen.
Sen đẹp và hát hay.
Trong gánh lúc đó có tới ba kép cúc cung tận tụy với cô ta.
Lẳng lơ, sắc sảo ai gặp cũng tưởng cô ta có tình ý với mình.
Tới làng nào bọn hương lý gọi tới hát là cô đi ngay không bao giờ để cho gánh gặp khó khăn.
Có lần vào hát trong nhà tên lý trưởng, mụ vợ ghen đốt nhà luôn, đào Sen chạy được về.
Có người hỏi: có sao không?
Cô ta nói tỉnh queo: mặc tới bốn cái quần lận...
Rồi lên huyện, lên tỉnh các quan đâu tha, nhưng chỉ là mèo vờn chuột với cô ta thôi.
Nhưng sau này nàng lại chịu đi lại với một tên đầu tỉnh.
Tôi hỏi: định làm bà lớn thật à?
Đào Sen bảo: hắn già và hôi hám, em muốn xây cho mẹ em cái nhà ngói và mua mấy sào ruộng.
Nhớ lại tôi còn nhớ như in, thảm quá, tôi đâu có làm được gì.
Cô ấy ăn ở với gánh chèo rất tốt, chẳng có nay gánh này mai gánh khác, lẳng lơ hình như chỉ ở ngoài da cô, người cao số, không chồng con, cho mãi tới khi lớn tuổi mới rời gánh trở về quê sống với mẹ.
Sao những người như thế mà không được sống sung sướng?
Trong tất cả những cô đào mà tôi được biết chỉ có một người mà cuối đời là có hậu.
Trong các phường chèo chẳng ai không nghe danh đào Út Gái.
Út Gái là một đào thương khi sắm những vai bi lụy thì không ai có thể cầm được nước mắt vì tiếng hát não lòng người.
Đào Út Gái không thiếu người đeo đuổi si mê.
Trong số đó có một anh đồ, nhà có của và nền nếp.
Anh ta xem đào đào Út Gái diễn lần đầu đã si mê bỏ cả đường học vấn, bỏ cả gia đình vác thân đi theo gánh chèo.
Mới đầu Út Gái khó chịu, có khi nặng lời nữa, rồi tìm đủ mọi cách xua đuổi, anh ta nhất định không lùi một bước, gánh đi đâu anh theo đó, không được tới gần thì ở xa xa.
Út Gái khi trở trời trái nắng thì anh ta lại tới hầu hạ, khi Út Gái thất vọng thì anh ta an ủi vỗ về.
Anh ta vui buồn theo với vui buồn của Út Gái.
Cuối cùng cảm vì mối tình si, Út Gái ngả vào lòng anh ta, Út Gái bỏ gánh chèo và lập gia đình với anh ta.
Họ sống sung sướng.
- Nghe rồi cháu cũng muốn lạy tổ mà đi, sao đời đào kép khổ thế mà tổ không động lòng...
- Tùy thôi, cũng có lúc tôi muốn cho gánh tan hàng, ai về nhà nấy.
Nhưng cứ nghĩ ít lâu lại thấy nhớ, cổ ngứa ngáy muốn hát, chân tay buồn bực muốn múa may...
Thế là thế nào nhỉ?
Hay ông tổ của mình đã có một lời nguyền nào chăng?
Vừa nói hết câu trùm Phúc cười khà.
Mạnh Tông nói:
- Phường chèo mà cũng có tổ?
- Nghề nào mà không có tổ, ăn mày cũng có tổ nữa.
Nghề chèo ở ta thì tổ cũng không rõ ai, có người nói là người Tàu tên Lý Nguyên Cát, người Tàu này sang dạy cho các cung nữ của triều đình.
Nhưng ở bên Tàu cho tới ngày nay đâu có hát chèo, không lẽ ông ta nghĩ ra được.
Khó tin, chắc tổ chèo phải là một người Việt chứ không thể là Tàu.
Các cụ mình ngày xưa khôn lắm.
Có chữ viết mà không dùng.
Tàu nó đô hộ thì dùng chữ Tàu nhưng không nói tiếng Tàu.
Có nhiều điều không viết ra, chỉ truyền miệng, truyền từ đời này sang đời khác.
Tích chèo của mình cũng vậy, có ai viết, chép ra đâu.
Nên cũng chẳng thấy tên tuổi người viết, chẳng biết được viết từ thời nào.
Cái thân trò thì ai theo nghề phải thuộc, cứ truyền miệng thế, rồi người diễn tùy tiện thêm bớt, nhưng hẳn nhiên những cái gì hay thì lưu truyền, cái nào dở thì tự nhiên đào thải, cũng như ca dao của mình, bao nhiêu bài hát của vùng quan họ cũng thế, những bà mẹ ru con từ lúc lọt lòng, thế là câu hát điệu ru thấm vào đứa trẻ và lớn lên làm người Việt Nam.
Cho nên các truyện diễn ca của mình, anh thấy đó đều có thể trở thành hát ru cả, cái thể thơ sáu tám nó mới giản dị làm sao, ai cũng có thể làm rồi từ đó là biến ra những điệu hát...
Tài tình thật.
Hát chèo là của sân tau
Bên Tây chẳng có, bên Tàu cũng không
Tây trắng chúng biết múa mông
Tàu vàng có đĩ đánh bồng múa đao...
Trùm Phúc vào ngay một làn chèo rồi cười khà khà nhừa nhựa chất men.
Ông hát rồi ông múa tay, dần dần tiếng nói không gõ trở thành lảm nhảm tiếng gõ tiếng mất cho đến khi ngã người xuống chiếu ngủ vùi.
Đêm đã khuya, Mạnh Tông nhìn lên bầu trời sâu thẳm không một vị sao, chợt chàng thấy ánh mắt long lanh của đào Hòe hiện ra.
Chàng đứng lên trở về chỗ nằm của mình.
Gánh chèo Nam Hạ có thêm đào kép mới từ gánh khác qua, Mạnh Tông đóng cặp với đào Soan rất ăn ý, tiếng nổi khắp vùng đồng chiêm.
Dân mê chèo bàn tán về đào Thị Phương sắm vai Tiểu Kính Tâm, một Mạnh Tông đóng vai Kim Nham, Dương Lễ, hoặc Lưu Bình.
Nhưng có người bảo: tận mắt trông thấy Thị Phương chính là kép Mạnh Tông giả gái.
Hơn thế nữa còn quả quyết Mạnh Tông là chồng đào Soan, người thường đóng vai Thị Mầu, Thị Hến và cả vai Châu Long, Xúy Vân.
Người nói thế này, người nói thế khác khiến cho nền phường chèo Nam Hạ càng thêm có sức hấp dẫn đối với người mê chèo.
Người ta rủ nhau đi xem chèo nhưng cũng là để đánh cược xem ai đúng, ai sai.
Ban ngày còn có người rình xem mặt Mạnh Tông và đào Soan.
Người ta lẫn lộn giữa đào Soan với kép Mạnh Tông một phần vì Mạnh Tông khi giả gái đóng vai nữ, rồi có khi đóng vai nam.
Từ Ô Lâu gánh Nam Hạ di chuyển không ngừng, nơi nào cũng được chào đón nồng nhiệt, chẳng đêm nào vắng người xem, có người mới đêm trước coi ở đình làng, đêm sau lại theo gánh sang làng bên xem lại.
Cuối cùng phường Nam Hạ lên phủ Lạc Quần với dự định sau đó sẽ nghỉ diễn một thời gian.
Ngay từ đêm đầu tiên phường Nam Hạ đã lôi cuốn một số người xem kỷ lục, nhiều thanh niên trèo cả lên tường, lên ngọn cây để coi cho bằng được.
Người xem đông, đào kép nức lòng khiến cho tích diễn càng hay, người xem càng nồng nhiệt cổ vũ.
Gánh thành công nhờ tài diễn và tiếng hát của Mạnh Tông kéo theo đào Soan lên hạng đào chèo có giá.
Trùm Phúc nghĩ tới việc cho hai đào kép này thành đôi.
Một hôm ông nói:
- Hai đứa bây cứ vợ chồng hờ mãi à?
Thị Phương thì phải có Trương Viên, Dương Lễ thì phải có Châu Long, Kim Nham thì phải có Xúy Vân.
Có đực thì phải có cái...
Cứ mỗi lần nghe trùm Phúc bắt đầu nói như thế thì Mạnh Tông chỉ cười trừ, còn Soan tìm cách đi chỗ khác.
Có lần trùm Phúc lấy giọng nghiêm mà vẫn như đùa:
- Tôi hỏi thực anh, anh là trai hay gái?
Đám đào kép bu quanh cười rộ.
Mạnh Tông đỏ mặt, đào Soan ngượng ngùng.
Có người nói: chắc ái nam ái nữ.
Hề Đá giọng bông đùa: tôi thấy...
Anh ta không nói tiếp mà diễn ngay một hồi hề câm làm mọi người cười bò lăn bò càng.
Một tay chuyên vào vai chạy cờ, giọng táo tợn: khám đi, không thì tụt quần ra là biết...
Mạnh Tông cáu lên, quát lớn:
- Không đùa nữa...
Thấy mặt Mạnh Tông đỏ gay, lông mày cau lại mọi người vội lảng đi.
Trùm Phúc hơi tủm tỉm cười:
- Mới đùa một chút mà đã cáu lên là thế nào?
Vậy sao không chịu lấy vợ?
Mạnh Tông bỏ đi, lúc ra gặp đào Soan, nàng hơi cười vẻ đùa cợt.
Mạnh Tông chưa nguôi cơn bực bội:
- Cười, cười cái gì...
Đi hết một đoạn đường Mạnh Tông mới thấy người dễ chịu.
Chợt chàng lại thấy những người qua đường như chú ý tới mình, chắc họ nhớ mình trong tích diễn.
Mạnh Tông đổi hướng qua con đường vắng.
Mạnh Tông nhận ra rằng: mình vẫn chưa hòa nhập được với đời sống phường chèo, một đời sống đầy buông thả và nhuốm chất phi luân.
Son phấn hào nhoáng, tiếng đàn tiếng hát reo vui, những va chạm chớt nhả, những cuộc đời thu ngắn trong một đêm diễn, đào kép phải sống với bao nhiêu cuộc đời khác nhau, nhiều khi đối nghịch nhau về nhân cách, họ cười cợt, họ khóc than thảm thiết...
Cuộc đời, tích diễn, giả và thực, mặt trái và mặt phải...
Người ta sống không lẫn lộn?...
Vào đêm diễn chót ở phủ Lạc Quần, người xem đông không có chỗ chen chân.
Tiếng trống rộn rã hòa lẫn tiếng đàn, tiếng hát, những tràng vỗ tay không ngớt suốt từ màn giáo đầu cho tới tích diễn kết thúc với tiếng trống vãn chèo.
Giữa lúc người xem đang ùa ra về thì một toán lính phủ ùa vào, đào kép chưa kịp thay quần áo nhốn nháo cả lên.
Trùm Phúc chạy ra, tên Đề lại hỏi:
- Đào Thị Phương đâu, quan phủ gọi.
Trùm Phúc ngỡ ngàng không hiểu, sao lại đào Thị Phương, vai Thị Phương vợ Trương Viên thì đâu phải một đào sắm vai duy nhất?
- Dạ, chắc trên phủ nhầm, chỉ có Thị Phương vai vợ Trương Viên.
Ở gánh chúng tôi chỉ có đào Soan, đào Lệ, đào Tý.
Nghe đến tên mình, đào Soan rúm người lại, Mạnh Tông thì nhìn nàng lo âu.
Lúc bấy giờ đào kép đang đứng chung quanh theo dõi câu truyện, một tên lính chỉ vào Mạnh Tông giả gái sắm vai Thị Phương vợ Trương Viên:
- Nó đây này.
Trùm Phúc vội nói:
- Đó không phải đào mà là kép Mạnh Tông đóng giả gái vai Thị Phương.
- À bọn mày định lừa chúng tao phải không?
Bắt nó đi.
Không nói thêm gì đám lính ùa tới kéo Mạnh Tông đi, chàng kinh sợ ngã xuống, bọn lính liền đứa giữ chân, đứa nâng đầu vác lên vai mà khiêng đi...
Đào kép chung quanh cũng như mọi người không hiểu việc gì vội vàng tản đi lo tai bay vạ gió tới với mình.
Mạnh Tông tỉnh dậy thấy mình đang nằm trong phủ đường của quan đầu tỉnh.
Chàng không hiểu vì sao chàng lại bị bắt dẫn tới đây, có chăng một lầm lộn nào với kẻ tội phạm giết người nào đó.
Chàng lắng nghe có tiếng người: cô đào này đẹp thiệt, sắm vai sẩm mù đi ăn xin mà vẫn ngon lành...
Đẹp thế làm sao qua mắt quan được...
Có nhiều tiếng lao xao lẫn lộn nghe không rõ, chợt có tiếng hỏi lớn: nó tỉnh chưa? ... hình như chưa... vào xem...
Thấy có người bước tới, Mạnh Tông ngồi bật dậy.
Tên lính nói vọng ra:
- Nó tỉnh rồi.
- Vậy dẫn nó lên, quan phủ đợi.
Tên lính giữ lấy cánh tay Mạnh Tông kéo đi.
Chàng bước theo ra ngoài.
Tới cửa tên đề lại kèm một bên:
- Muốn sống thì quan bảo gì nghe nấy.
Nhớ không?
Đi qua mấy tòa nhà, qua mấy khoảng sân tối họa huần mới thấy một ngọn đèn với ánh sáng yếu ớt, chỉ có tiếng bước dưới chân của ba người khua động sự im lặng trong khi phủ quan.
Đến một dãy nhà ngang có treo một ngọn đèn lớn ánh sáng chiếu rõ một cửa vào đang mở, tên lính giữ tay Mạnh Tông lại, tên đề lại cất tiếng:
- Bẩm quan... con đã...
- Cho nó vào...
Tên lính đẩy cho Mạnh Tông bước qua bậc cửa rồi lấy tay kéo hai cánh cửa đóng lại.
Mạnh Tông nghe rõ tiếng chốt cửa.
Đứng giữa một gian phòng đầy ánh sáng, trước mặt là một người đàn ông đã đứng tuổi, có râu bên mép mặc quần áo lụa đang nửa nằm nửa ngồi trên tràng kỷ.
Mạnh Tông nghĩ: chắc đây là quan phủ.
Chàng cũng không biết phải làm sao vì lần đầu tiên bước tới một nơi như thế, lại không hề được hướng dẫn chút nào, thêm nữa là cảnh huống chàng đang gặp không biết lành dữ ra sao.
Tại sao mình lại bị dẫn tới đây?
Tên quan ngồi thẳng dậy, hai chân thả xuống đôi hài ở dưới nền gạch, đôi mắt hau háu nhìn Mạnh Tông từ đầu đến chân rồi tủm tỉm cười:
- Đến mà không đàn trống gì hát cho nghe à?
Ông ta muốn nghe mình hát?
Mạnh Tông hơi ngạc nhiên:
- Dạ, lính bắt con tới, không nói gì cả, con tưởng...
Mạnh Tông nói với sự yên tâm hơn.
Như vậy là không có tội gì.
Bỗng giọng tên quan rành rọt:
- Tại sao tới phủ này hát mà không biết quan là ai?
Đến nhà người ta mà không biết chủ là thế nào?
Có biết lỗi đó không?
Mạnh Tông lúng túng, thế là thế nào, phải chăng vì lỗi gánh chèo không trình quan mà bắt mình phải chịu tội.
Mạnh Tông nói:
- Dạ, chúng con có lỗi.
- Biết lỗi vậy là được...
Giọng tên quan nhẹ hẳn đi.
Mạnh Tông đứng im, tên quan rời trường kỷ đi một vòng chung quanh Mạnh Tông ngắm nghía.
- Đẹp, đẹp thật...
Trở lại ngồi nơi trường kỷ, tên quan nói tiếp:
- Vậy bây giờ hãy hát một bài cho ta nghe.
Mạnh Tông lấy lại bình tĩnh và cất tiếng hát:
- Tại sơn chi hổ báo
Chưa gặp thời còn ẩn náu rừng xanh
Tôi Lưu Bình quê ở Bắc Ninh...
Tên quan giơ tay ra dấu cho Mạnh Tông ngừng lại:
- Mày hát được cả giọng nam nữa à?
Mạnh Tông ngạc nhiên:
- Dạ con là kép.
- Mày là kép?
Mày định lừa tao à?
- Dạ không, con là kép giả gái đóng vai Thị Phương và nhiều vai nữa như Thị Kính, Thị Hến và...
- Mày là kép giả gái?
- Dạ vâng,,,
Tên quan vùng đứng dậy khỏi trường kỷ:
- Cởi quần áo ra...
Mạnh Tông kinh hãi nhìn lên, chàng thấy mặt tên quan giống như mặt những tên quỷ chàng đã khắc trên ván ở chùa Mai Tụng.
Mạnh Tông luống cuống nhìn quanh như tìm đường tháo chạy.
- Mày định chạy à, có mà chạy lên trời con ạ.
Cởi quần áo ra.
Mạnh Tông càng luống cuống và không biết làm sao chỉ còn nghe theo như cái máy.
Chàng bỏ bộ quần áo giả gái của vai Thị Phương ra chỉ còn lại cái quần lót.
Chàng vừa đứng ngay thì tên quan lại quát lớn:
- Cởi hết ra...
Mạnh Tông như người mất hồn, cởi bỏ nốt chiếc quần rồi đứng ngay tàn tán, hai tay bụm lại che hạ bộ như một phản ứng tự nhiên.
Tên quan đôi mắt mở lớn nhìn khắp thân thể chàng.
Chợt tên quan ra lệnh:
- Quay đằng sau lại...
Mạnh Tông như một kẻ vô hồn.Chợt chàng thấy những bước chân tiến lại gần từ phía sau lưng, một bàn tay ướt lạnh để lên vai rồi vuốt suông xuống tới lưng, thân thể chàng uốn theo và nổi gai khắp người.
Một giọng nói lảm nhảm:
- Thị Phương, Thị Kính, Thị Mầu..
Mạnh Tông bị ôm chặt từ phía sau không sao cựa quậy được.
Một nỗi kinh hoàng khác thường ập đến.
Chàng cố gắng vùng vẫy nhưng cuối cùng bị đè xuống nền nhà.
Tên quan như con thú điên trên lưng Mạnh Tông.
Tỉnh lại Mạnh Tông thấy mình nằm ven đường cái quan, thân thể trần truồng nhớp nhúa, quần áo vứt ở bên.
Trời chưa sáng, không có một bóng người trên đường.
Mạnh Tông vớ lấy quần áo mặc vào rồi phóng chạy.
Khi nhìn thấy ông trùm Phúc đứng nhìn chàng trân trân, Mạnh Tông hình như chưa hoàn hồn, chàng nói trong cơn mê loạn:
- Tôi bị... hiếp...
Mạnh Tông co rúm người lại và ngã xuống bất tỉnh một lần nữa.
Trùm Phúc như hiểu ra cơ sự vội vàng bế chàng vào chỗ kín đáo, tắm rửa thay quần áo cho Mạnh Tông.
Khi tỉnh dậy Mạnh Tông định nói nhưng trùm Phúc ra dấu cho chàng im lặng và nằm yên.
Ngay buổi trưa hôm đó gánh chèo Nam Hạ gồng gánh kéo nhau đi khỏi Lạc Quần.
MạnhTông quyết định đưa đào Soan về quê mình.
Trên đường Mạnh Tông nói về gia đình về nghề chạm khắc mà trước đó chàng đã theo đuổi.
Giọng Mạnh Tông như vẫn ở trong cơn kinh hãi:
- Làm đào chèo không được đâu, đã bao nhiêu người khốn khổ vì nó rồi.
Anh mê chèo, anh cũng muốn sống tới già với chèo nhưng không được, cái này nó oan nghiệt quá, mình không thể sống với nó... quỷ ở khắp trần gian...
Giữa đường đi ngang qua chùa Mai Tụng.
Mạnh Tông nói với Soan:
- Hay quá, không ngờ mình lại đi ngang qua đây, anh muốn chỉ cho em thấy những tượng mà nhà họ Đồng đã làm.
Hai người bước qua cửa tam quan.
Đi hết nửa sân Mạnh Tông gặp một chú tiểu, khi hỏi thăm mới rõ sư thầy trụ trì trước đây đã qua đời.
Trước tam bảo Mạnh Tông và Soan cùng quỳ xuống, không khí tĩnh lặng, khung cảnh trang nghiêm, những tượng Phật son thấp vàng rực rỡ, hương trầm phảng phất, Mạnh Tông thấy mình như đang ở một thế giới khác, thế giới của tĩnh tại và thanh thoát.
Lễ Phật xong Mạnh Tông dẫn Soan đi coi bộ tranh khắc Thập Điện Diêm Cung chạy theo bức tường quanh chính điện.
Mạnh Tông nói rất nhỏ vào tai Soan:
- Anh khắc đấy, đẹp không?
Đi hết một vòng, khi bước xuống sân Soan mới nói:
- Trông khiếp quá anh ơi.
- Là địa ngục mà, toàn quỷ với những kẻ có tội...
- Anh chỉ biết khắc quỷ thôi à?
Mạnh Tông không biết trả lời sao, mãi sau nhớ tới tượng người để hậu thờ ở sau chùa:
- Anh có khắc người nữa...
Hai người đi vòng ra sau chùa để tới nhà hậu.
Sau khi quan sát khắp một lượt Mạnh Tông nhận ra pho tượng mình đã khắc nhưng có điều khác thường: một tấm vải đỏ phủ lên đầu pho tượng khiến không thể nhìn thấy mặt.
Mạnh Tông chỉ cho Soan pho tượng rồi tiến tới gần để lật tấm vải lên cho Soan nhìn rõ pho tượng mình đã khắc.
Nhưng vừa lật miếng vải Mạnh Tông đã vội buông xuống: tượng không có mặt, tượng đã bị vạt mất mặt.
Mạnh Tông bàng hoàng cầm tay Soan đi vội ra ngoài.
Soan hỏi:
- Sao vậy anh?
- Không biết nữa...
Bao nhiêu câu hỏi đến với Mạnh Tông.
Ai đã đục bỏ mặt tượng người để hậu?
Tại sao?
Tượng không có mặt sao vẫn để trên bệ thờ.
Suốt trên đường về nhà pho tượng mất mặt ám ảnh Mạnh Tông.
IV.
Thấy người con út trở lại nhà họ Đồng ai cũng mừng rỡ.
Riêng Mạnh tông khi thấy cha già nay đã không nói được sau một cơn bệnh ngặt nghèo.
Anh Hạo Thiên thì lên núi đã lâu, có người nói hình như anh đi tu tiên.
Đồng Bái Nhật mới lập gia đình ở chung với cha thay người con trưởng.
Đồng Tuệ Nhân buôn bán giàu có nay đã có dinh cơ riêng.
Về nhà Mạnh Tông không nói gì về những ngày theo phường chèo Mạnh Tông dẫn Soan vào lạy cha, chào các anh các chị trong nhà và xin phép làm lễ cưới.
Trong nhà không ai hỏi, nhưng Tuệ Nhân thì nói với anh Bái Nhật: chắc chú út mê cô ấy từ trước nên mới theo gánh chèo.
Trong nhà dù Hạo Thiên vắng mặt nhưng những người thợ chạm vẫn làm việc như hồi Mạnh Tông chưa đi.
Bái Nhật nói:
- Lúc cha còn nói được, cha bảo: thế nào rồi út nó cũng về.
Sau khi cha thoát chết, anh vẫn lo việc làm cho thợ để trong nhà được vui vẻ với một sinh hoạt không thay đổi, anh nghĩ điều đó có thể giúp cho cha sớm bình phục đợi ngày em về.
Quả như lời cha nói.
- Anh Hạo Thiên bảo em: tay chú cha mẹ sinh ra là để chạm khắc...
Mạnh Tông soạn lại đồ nghề của mình, ngó mắt vào công việc thường ngày của thợ, mà thợ trong nhà nào ai khác là những con cháu không bên nội thì bên ngoại, còn thì người làng, người trong tổng cả.
Khi thấy một khúc gỗ ngắn, lớn hơn cái đầu người thì Mạnh Tông nghĩ tới pho tượng bị mất mặt ở trên chùa Mai Tụng: sao mình lại không thay bằng một cái đầu mới hay một cái mặt mới?
Ngay hôm đầu tiên cầm cái dùi đục trên tay, sau vài nhát chạm chàng ngẩng mặt lên, nơi cửa Đồng Cát Sỹ đang nhìn con, chàng vội chạy đến, người cha run rẩy cầm lấy tay người con út, môi ông mấp máy muốn nói mà không thành lời, nước mắt chảy ràn rụa xuống hai gò má nhăn nheo.
Mạnh Tông cũng khóc theo...
Từ một đào chèo với cuộc sống gần như không nhà, trôi nổi hết nơi này tới nơi khác, Soan bắt đầu một cuộc sống mới không phải không ngỡ ngàng.
Mạnh Tông chỉ cho vợ từ cái nhỏ nhất trở đi, chẳng bao lâu với thiện chí nàng đã trở thành người nội trợ tháo vác, hầu cha khuya sớm tận tụy, sống với mọi người chân tình đằm thắm.
Cầm chiếc đục trên tay, trước khúc gỗ ngắn, Mạnh Tông cố nhớ tới mặt pho tượng của người để hậu ở chùa Mai Tụng nhưng chàng chẳng thể nào nhớ ra được.
Những nét mặt hiện ra lúc thế này, lúc thế khác, lúc thì ác, lúc thì hiền... bao nhiêu nét mặt hiện ra nhưng chàng thấy đều như không phải...
Chàng lấy giấy bút ra phác thảo, vẽ rồi xóa, xóa rồi vẽ mà cuối cùng chẳng đi tới đâu.
Tại sao mình đã quên đến như thế được.
Vẽ mãi cũng chẳng ra đâu với đâu chàng quay sang vẽ phong cảnh, vẽ chó mèo trong nhà, vẽ chim và những hoa lá trong vườn...
Chàng nhớ tới những ngày giả gái đóng vai Tiểu Kính Tâm, chàng cười thầm với mình chàng đưa bút vẽ một ni cô, sau mấy nét phác thảo chàng chợt nhận thấy có nét hao của Soan.
Càng vẽ tiếp, chân dung Soan càng đậm nét, chàng hứng thú và tiếp tục hoàn chỉnh.
Chàng quên hẳn pho tượng ở chùa Mai Tụng.
Vẽ hết bức này tới bức khác, mỗi lúc Mạnh tông một thấy nét bút của mình thay đổi, từ rườm rà tới tinh giản, trong lúc đó chân sung Soan mỗi lúc một đẹp hơn, sinh động hơn.
Sau cùng chàng ngừng lại và gọi vợ tới coi mình vẽ bức cuối cùng chàng còn giữ lại:
- Có giống em không?
Soan bối rối:
- Anh vẽ em để chờ em chết mà thờ à?
Mạnh Tông phải giải thích nhiều lần, nhìn nét vẽ của chồng Soan thấy mình như đẹp hơn, duyên dáng hơn.
Chàng cất bức tranh đi và nói:
- Anh sẽ khắc tượng em.
Thấy khúc gỗ ngắn còn lăn lóc dưới chân, chàng cầm lên ra sân và vứt nó xuống ao.
Mạnh Tông nhủ thầm: một cái đầu thôi không ư?
Không?
Trong đầu Mạnh Tông như một pho tượng ngồi với dáng vẻ riêng của Soan hiện ra: một Soan gần gũi, dịu hiền.
Một buổi sáng vừa thức dậy Mạnh Tông đã thấy anh Hạo Thiên đang tươi cười từ ngoài ngõ bước qua cổng nhà.
Chàng reo lên như một đứa trẻ:
- Anh đi đâu vậy?
- Anh đi tìm chú, nhưng...
Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể bắc đi tìm bể đông
Tìm biển đông thấy lông chim nhạn
Anh đi tìm biển cạn thấy đàn chim bay
Tìm em...
Vừa hát Hạo Thiên vừa ôm lấy người em út rồi tiếng cười sảng khoái.
Anh em gặp nhau mừng rỡ khôn xiết, ngôi nhà họ Đồng như ấm hẳn lại với niềm vui sum họp.
Trong bữa cơm sum họp, mấy anh em nhà họ Đồng mãi vui mà đều uống quá chén cho tới khi ai cũng say khướt.
Đồng Bái Nhật nằm ngay nơi chỗ ngồi mà ngũ không còn biết trời trăng gì.
Đồng Tuệ Nhân thì được dịp để huyên thuyên về những chuyến buôn hàng của mình, nhưng lẫn lộn nơi này với nơi khác, chuyện mới mà thành chuyện xưa.
Mạnh Tông chuếnh choáng hỏi anh:
- Anh đã vào tới cõi Thiên Thai chưa?
Có thấy Tiên không?
- Tiên à, chưa thấy...
Thế còn chú?
Chú đã tới chốn đào tiên và khênh cả một cô tiên về nhà này rồi còn gì...
- Thế còn anh, cô tiên của anh đâu?
- Có đấy.
Tôi lên núi đi mãi, đi mãi tới một nơi sao phong cảnh mới hữu tình làm sao, tôi có làm mấy bài thơ đấy, rồi tới một nơi tôi chắc là động tiên...
Lúc ấy nghe có tiếng hát, chắc chắn là tiếng hát của một cô tiên... tiếng hát nó hay làm sao...
Nhưng lắng nghe tôi thấy tiếng hát đến ở sau lưng mình, tôi nghĩ chắc các nàng tiên đang ở ngoài, tôi quay lại, đi mãi chẳng thấy ai, và lúc đó tôi mới nhận ra tiếng hát đó là của chú, thế có chết không.
Tôi vội trở lại đường cũ, nhưng chẳng thấy có con đường nào, chẳng thấy cửa động đâu mà chỉ thấy rừng cây rậm rạp.
Chưa vào thiên thai mà Từ Thức đã phải trở về trần.
Chính là tại chú...
Bây giờ chú phải đi tìm cho tôi một cô tiên để chuộc cái lỗi...
Trần gian lạc lối sao mình ở đây...
- Em hát mà sao anh tưởng là tiên nữ được...
Không phải thế.
- Đi tìm chú, người ta nói...
Nhưng thôi, chú đã hát cho khắp cả bàn dân thiên hạ nghe rồi, bây giờ chú phải hát, hát cho cả nhà nghe...
- Được quá đi chứ, để em hát hầu cha và các anh...
Mạnh Tông đứng lên nhưng thấy chân mình không vững nữa, đôi chân của chàng như đã biến đâu mất, chàng lảo đảo đứng mãi không được.
Soan chạy đến bên cho chàng vịn, chàng giữ chặt lấy vai vợ cho khỏi ngã.
Hình ảnh đôi mắt long lanh khác lạ của đào Hòe, hình ảnh tên quan với đôi mắt hau háu, hình ảnh những quỷ dữ dưới Diêm cung ở chùa Mai Tụng chợt hiện đến.
Chàng khoa chân múa tay điên loạn, miệng há hốc, đôi môi run rẩy mà chẳng ai nghe thấy tiếng nói, tiếng hát nào.
Rồi chàng gào lên và những chuỗi âm thanh không rõ ràng, không tiếng nào ăn với tiếng nào.
Cho đến lúc tiếng hát rõ dần thì nó khê đục và không ai nghe ra làn điệu gì cả...
Chàng cố gắn mấy lần nhưng đều vô vọng, chàng như mất hẳn vẻ bình tĩnh, chàng cố gào lên những âm thanh hỗn độn, những âm thanh giống như của tên điên đang gào thét kêu la.
Mạnh Tông cứ ú ớ như thế, lưng thì ướt đẫm mồ hôi, lúc sau chàng đứng im như trời trồng.
Soan lay gọi chàng:
- Sao vậy anh?
Nước mắt chảy ròng ròng xuống má, giọng Mạnh Tông như lạc đi:
- Tiếng hát của anh đâu?
Nói vừa hết câu Mạnh Tông ngã vào tay vợ.
Men rượu làm cho chàng ngủ vùi.
Hạo Thiên cũng đã say khướt đang ngâm nga một bài thơ nhưng cũng chẳng ai nghe rõ tiếng nào.
Không ở lại nhà lâu, Hạo Thiên xin phép cha đi xa, nhờ cậy các em trông nom cha già.
Mạnh Tông hỏi:
- Anh đi đâu?
- Anh có hẹn với các đồng bạn, anh lên mạn ngược.
Đồng Tuệ Nhân lo lắng:
- Em nghe nói trên đó hồi sau này nhiều giặc nổi lên, anh tới đó mà làm gì...
Bái Nhật chen vào:
- Như thế thì giặc nó bắt mất tiên rồi còn đâu, nếu không tiên cũng chạy rồi anh cả ạ.
Mấy người cùng phá lên cười.
Mạnh Tông không nói gì.
Hạo Thiên rời nhà khi chiều vừa tắt nắng.
Mạnh Tông đưa anh cả ra sông chờ đò dọc, hai anh em đều im lặng nhìn nhau, Hạo Thiên cầm chặt lấy tay em trước khi bước xuống thuyền.
Mạnh Tông đứng nhìn theo cho tới khi con thuyền khuất hẳn mới trở về nhà.
Cuối cùng Mạnh Tông đã tìm được một khúc gỗ như mong đợi.
Chàng ngắm nghía và phác họa trong đầu.
Thấy em như có ý tạc tượng thì Tuệ Nhân hỏi ngay:
- Chú định tạc tượng?
- Dạ, sao vậy anh?
- Chú quên là triều đình đã ra lệnh cấm không được tạc tượng à?
- Nhưng chỉ cấm tạc tượng Phật, Thần thôi...
- Thế chú định làm gì với khúc cây tốt như thế này?
- Em định...
để làm xong rồi anh sẽ thấy, chắc đẹp lắm đó...
- Đẹp, nhưng liệu có bán được không?
Mạnh Tông giữ cho mình không cười lớn.
Trong óc người anh kinh doanh hình như lúc nào trong đầu cũng là một phép toán, hết cộng trừ đến lời, lỗ, nhiều, ít...
Mạnh Tông nói với anh:
- Trách nào chẳng bao giờ anh chịu làm thơ...
- Sao chú nói vậy?
- Thơ đâu có bán được...
Đồng Tuệ Nhân gúc gúc cái đầu không nói thêm nữa.
Mạnh tông trở lại với những phác thảo, chàng quanh quẩn bên vợ để ngắm nghía, nhìn từ nhiều góc cạnh khác nhau chàng thấy vợ mình đẹp hơn, xinh hơn khi nhìn kỹ.
Khóe miệng tươi nhưng kín đáo, đôi mày thưa nhạt mà vẫn rõ nét, đôi mắt sâu nhiều tâm sự nhưng trắc ẩn và khoan dung, nước da trắng mịn, nét thanh tú của sống mũi khiến cho gương mặt lúc nào cũng đầy ánh sáng...
Sau phần tạo dáng toàn thể, Mạnh Tông mang pho tượng vào gian phòng riêng của ngôi nhà vợ chồng chàng ở.
Chàng không muốn ai chú ý tới việc của mình.
Trông nom ít người thợ trong nhà, khi mùa màng đến Mạnh Tông giúp một tay một việc đồng áng.
Pho tượng được gợi hứng từ những bức chân sung phác thảo người vợ là một nguồn hạnh phúc vô ngần đối với một người vẫn say mê tin rằng: đôi tay mình được cha mẹ sinh ra là để chạm khắc.
Chàng tiến hành khắc tượng một cách chậm rãi, cẩn trọng với tất cả tâm hồn.
Có những ngày liên tiếp người trong nhà không thấy bóng Mạnh Tông, chỉ có Soan biết chồng mình ở đâu.
Soan sinh được đứa con trai đầu lòng.
Cả nhà mừng rỡ, thỉnh thoảng nghe tiếng vợ ru con, Mạnh Tông thoáng nghe như một điệu hát nào đó hết sức quen thuộc, mà mình đã từng nghe, từng hát.
Thấy chồng ngớ ra, vẻ mặt khác thường, Soan hỏi:
- Anh đã quên hết những làn điệu chèo rồi sao?
Mạnh Tông giật mình như vừa ra khỏi cơn mê.
Những làn điệu chèo, bài ru con của những bà mẹ sau lũy tre xanh, nhịp trống quân trong sân đình những đêm trăng sáng, tiếng hò trên bến sông...
Chàng ngồi lắng nghe tiếng Soan hát, giọng ngọt ngào chân chất, âm vang như quấn quít quanh chiếc võng đong đưa mà Soan đang đẩy qua đẩy lại cho đứa con vào sâu giấc ngủ...
Soan nói:
- Bao nhiêu làn điệu của chèo, anh nhớ không?
Nhưng với em bài nào cũng thành điệu ru con được cả...
Mạnh Tông nhìn vợ đang cúi xuống đứa con nằm trong võng:
- Xưa anh cũng đã được nghe mẹ hát...
Pho tượng Soan qua những đường chạm khắc của Mạnh tông dần dần thành hình mỗi lúc một rõ hơn, hằng ngày Mạnh Tông thường tìm cách để ngắm vợ một cách kín đáo không cho Soan biết.
Có những quãng thời gian dài chàng chỉ ngắm vợ rồi ngắm tượng.
Chẳng có gì hối thúc khiến chàng phải vội vã.
Tới lúc pho tượng phải thành, như nơi đến của một người trong cuộc hành trình.
Một ngày tới đây chàng sẽ dẫn vợ vào trong gian nhà vẫn đóng kín cho nàng thấy: khúc gỗ ngày nào đã không còn là khúc gỗ xù xì tầm thường như bao khúc gỗ khác.
Nó không còn là kiếp gỗ.
Nó đã chuyển sinh qua một kiếp sống khác.
Trong những ngày đêm say mê, mải miết bên pho tượng, Mạnh Tông chẳng còn để ý tới những gì đang xảy ra.
Mùa nắng lửa vừa qua, trời đổ mưa như trút không ngừng hạt, hết ngày này sang ngày khác gần như không lúc nào dứt.
Trong mưa, để nói cho người khác nghe thì phải gào lên.
Trời như thấp xuống trong khi nước sông hồ dâng lên tràn bờ.
Có ngày mới giữa trưa mà tưởng như trời đã tối tự bao giờ.
Pho tượng đã hoàn tất, Mạnh Tông ngắm nghía từ góc nhìn này sang góc nhìn khác mãi không biết chán.
Mạnh Tông nóng ruột nhìn trời đất, chỉ mong cho trời quang mây tạnh, chàng mở toang tất cả các cánh cửa cho ánh sáng chan hòa gian nhà nhỏ, chàng sẽ dắt tay Soan vào để thấy được công trình của mình.
Tiếng trống hộ đê vẫn vang lên: tai họa đang chờ đợi.
Trời mưa như đánh trống, nhiều người ở vùng trũng lũ lượt kéo nhau lên những vùng cao hơn...
Mỗi lúc người chạy đi một đông.
Rồi tin đê vỡ, mọi người bỏ hết của cải mà chạy mong sao thoát thân.
Mạnh Tông nghe tiếng réo gọi hốt hoảng cõng cha già lên vai, Soan bế con nhỏ rồi cùng nhau chạy theo mọi người...
Ai cũng thấy như con nước đang bén gót phía sau lưng, chẳng ai còn có thì giờ mà ngoảnh cổ nhìn lại.
Nước lên cao và nhanh có thể nhìn thấy được, những bờ ruộng biến mất, rồi tới những mái nhà thấp... qua đêm, trước mắt mọi người chỉ có nước đục mênh mông cuồn cuộn chảy ra biển, thỉnh thoảng nhô lên mấy ngọn tre già phơ phất...
Những người ở gần quãng đê vỡ khóc than nói về những thảm khốc ở đó, có những cụ già, những trẻ thơ, những người đàn bà chậm chân nước đã cuốn đi cùng với nhà cửa, trâu bò...
Và đồng ruộng, nương bãi thì hoa màu rồi đây còn gì để thu hoạch?
Người ta chỉ còn biết cầu trời khấn Phật mong cho con nước sớm qua.
Mưa ngớt dần rồi dứt hạt, trời sáng và xanh trở lại, nước rút nhanh, dân chúng đã đắp lại quãng đê vỡ.
Mọi người dắt díu nhau trở về.
Mạnh Tông bàng hoàng nhìn cảnh làng mạc bị nước tàn phá.
Trong khu vườn rộng của nhà chàng chỉ còn lại ngôi từ đường, ngôi nhà nhỏ của vợ chồng chàng nước đã cuốn trôi, và pho tượng cũng không thấy dấu vết.
Mạnh Tông lòng thắt lại, nhìn vợ không nói thành lời.
Sau mấy ngày đêm lo ổn định chỗ ăn ngủ cho vợ con, Mạnh Tông quyết định men theo dòng sông với hy vọng tìm thấy pho tượng đá trôi giạt vào đâu đó.
Chàng đi theo hướng nước rút.
Những ngày thơ thẩn tìm kiếm vô vọng chàng chỉ thêm đau lòng với cảnh tang thương bày ra trước mắt của vùng chiêm trũng vốn đã nghèo khó...
Nhưng người ta không bó tay chờ chết.
Những con người khốn khổ không chịu khuất phục, điều mà chắc từ ngàn xưa người đời trước cũng đã từng trải phấn đấu.
Những ngôi nhà sơ sài được dựng lên, người ta dọn đất, đào mương, gieo hạt, trồng cây...
Mỗi bước kiếm tìm của Mạnh Tông là thêm một bước thất vọng.
Nước đã đưa pho tượng tới đâu?
Nó đang chìm dưới đáy nước hay đang lênh đênh trên mặt biển mênh mông?
Khi đi tới ngã ba sông nỗi thất vọng đã thành tuyệt vọng, chàng ngồi bệt xuống bãi phù sa nhìn mung lung bốn phía.
Chợt chàng thấy ở phía xa, trên một gò đất cao có nhiều người đang tụ tập dưới một tàn cây xanh.
Hình như nơi này nước không dâng tới.
Mạnh Tông đi nhanh lên phía gò đất.
Một nông dân từ phía trên đi xuống, chàng hỏi:
- Có chuyện gì ở trên đó thế?
- Chúng tôi dựng đền...
Chưa kịp hỏi thêm người kia đã vội vã đi mất.
Khi lên được tới nơi có gốc cây xanh, Mạnh tông ngạc nhiên sung sướng: pho tượng còn đây.
Chàng định chạy tới ôm lấy pho tượng.
Bỗng chàng ngừng lại.
Pho tượng ở cách gốc cây khoảng mười bước chân, được để trên một tảng đá, phía trước tượng để một bát nhang còn mới khói hương nghi ngút.
Chàng tự hỏi: tượng thần.
Hay mình lầm.
Chàng nhìn những người quanh, mỗi người một việc với công trình xây cất, những người mới tới thì không ai bảo ai đều tới trước tượng thắp hương van vái hết sức cung kính.
Chàng nhìn kỹ pho tượng và tin chắc đây là pho tượng mình đã làm.
Nhưng tại sao nay tượng lại ở đây, trong khung cảnh này?
Mạnh Tông đến bên một cụ già:
- Thưa cụ, đây là tượng...
Ông cụ nhìn Mạnh Tông, miệng suỵt suỵt ra dấu cho chàng đừng nói tiếp, ông cụ nói nhỏ cho chàng vừa đủ nghe:
- Phải, đây là tượng Bà Chúa...
Bà Chúa Trôi đã cứu người trong trận vỡ đê vừa rồi...
Ông cụ kéo tay chàng đi lui ra phía sông như để tránh cho những điều sắp nói có thể thành bất kính trước pho tượng.
- Anh ở xa tới nên không rõ, chẳng là thế này: Hôm vỡ đê, nước tràn về vùng chúng tôi khiếp lắm, cái gì cũng cuốn băng, không có cái gò đất này thì chúng tôi chết sạch rồi.
Những người ở phía trên chết vô kể.
Làm sao mà cứu được?
Chính mắt tôi nhìn thấy những cánh tay dơ lên kêu cứu, chính mắt tôi nhìn thấy hai người đang bán trên một mái lều mà nước đang cuốn đi băng băng...
Chúng tôi chỉ biết lạy trời, lạy Phật.
Rồi chúng tôi thấy một pho tượng trôi dạt vào mép nước – ông cụ chỉ xuống đất ngay chỗ hai người đang đứng – Đây, chính ở chỗ này đây.
Chính tay tôi và mấy người nữa, chúng tôi quăng dây thừng ra kéo vào.
Nhưng sao tượng quá nặng, có người nói chắc tượng đồng, tượng đồng làm sao mà nổi, thật chẳng biết gì cả, khi kéo được đầu tượng lên thì chúng tôi hiểu vì sao tượng nặng: dưới chân tượng có một cành tay ôm lấy, cánh tay một cháu nhỏ, chúng tôi vội vàng kéo nhanh, một người lội xuống và bế cháu trai nhỏ lên bờ, tay cháu vẫn bám chặt lấy chân tượng.
Đưa cháu vào lều, thay bỏ quần áo ướt, một thanh niên vác ngược cháu lên chạy mấy vòng cho nước trong bụng ọc ra, lau khô rồi chúng tôi người bóp chân, kẻ bóp tay...
đứa nhỏ thở rồi khóc, chúng tôi thì mừng chảy nước mắt.
Cháu đã sống.
Pho tượng cứu cháu...
Ông cụ kể một cách hối hả như sự việc vừa mới xảy ra đây, Mạnh Tông hồi hộp lắng nghe câu chuyện.
Ông cụ nói tiếp:
- Lúc cháu nhỏ tỉnh rồi, chúng tôi hỏi thì cháu nói: cháu bị nước cuốn đi, bỗng thấy có vật gì trôi bên cạnh, cháu đưa tay bám lấy, từ đó cháu không biết gì nữa cho tới khi được cứu sống.
Thật là chuyện lạ...
Trở lại trước pho tượng, cụ già giọng kính cẩn:
- Bà Chúa đã cứu người, Bà sẽ phù hộ chúng tôi.
Chúng tôi lập đền thờ Bà...
Mạnh Tông nhìn lên: pho tượng mới uy nghi làm sao.
Chàng bước tới gần nhìn từng chi tiết trên mặt, dưới chân, tới những nếp áo... tất cả, chàng không thể lầm: chính là pho tượng chàng đã khắc.
Cụ già nói:
- Khi vớt tượng lên cùng cháu bé, có người nói: Phật Bà Quan Âm.
Mới thoạt nhìn chúng tôi cũng tưởng thế và cho rằng tượng đã trôi từ một ngôi chùa nào đó và định rước vào chùa làng.
Nhưng sau mọi người nhìn kỹ thấy không hoàn toàn đúng, có những chỗ giống nhưng không phải.
Đây là tượng một bà chúa từ trên ngàn theo nước xuống.
Chúng tôi ngay lúc đó đã quyết định lập đền thờ ở chính nơi Bà đã dừng lại.
Sao Bà lại chọn nơi này?
Cũng lạ lắm anh ạ, cái gò này với làng chúng tôi là một gò đất thiêng: đây là Gò Mả Trâu.
Chẳng là ngày xưa vùng này còn hoang vu, thú dữ còn nhiều, các cụ kể lại rằng một đêm cọp về làng, trong làng có một con trâu đã xông ra đánh nhau với cọp, hai con vật quần nhau suốt đêm.
Sáng hôm sau, trước mắt dân làng: mấy nương ruộng đã trở thành một ao bùn, chẳng còn một ngọn cỏ, con trâu nằm đè lên xác con cọp mà chết.
Nhìn cảnh tượng ai cũng khiếp hãi.
Xác cọp được lôi đi, xác trâu được để nguyên tại chỗ và dân làng làm lễ mai táng cho nó.
Nếu không có con trâu dũng cảm kia thì bao nhiêu người dân đã thiệt mạng?
Sau đó người dân cùng nhau gánh đất đắp mả cho trâu, khi ruộng trũng đắp mãi thành một gò cao, trên giữ gò để một phiến đá lớn, bên cạnh trồng một gốc đa.
Từ đó nơi đây người dân gọi là Gò Mả Trâu...
Cây đa mỗi lúc một cao, tàn lá mỗi lúc một rộng, bóng mát mỗi lúc một nhiều và trở thành nơi nghỉ chân cho người đi cày đi cấy, cũng như những ai ngang qua cánh đồng...
Giọng kể của cụ già đầy vẻ tôn kính.
Mạnh Tông thắp ba nén hương cắm vào bát nhang, chàng chắp tay nhìn lên: khói hương bay quyện mờ ảo, pho tượng trước mắt chàng đã trở thành một pho tượng khác, không còn là tượng đào Soan, không phải tượng vợ chàng.
Chẳng phải tượng người con dâu nhà họ Đồng.
Đây là tượng Bà Chúa Trôi.
Bà Chúa đã cứu sống người.
Giữa đồng nước mênh mông, pho tượng Bà Chúa đầy vẻ uy nghi mà vẫn hiền hậu dịu dàng, như từ đó tỏa ra một vùng ánh sáng lung linh huyền ảo...
Chẳng bao lâu cả vùng đồng chiêm ai cũng biết sự tích pho tượng cứu người.
Đền thờ nơi Gò Mả Trâu lúc nào cũng khói hương nghi ngút.
Có những người dân quê nói với nhau về những điều cầu xin của mình thành sự thật...
Đền thờ Bà Chúa Trôi nay vẫn còn.
Gia Định 1996
--------------------------------
Thơ N.Đ.Vinh.