Khác Huyền sử Silmarils

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
407032716-256-k291382.jpg

Huyền Sử Silmarils
Tác giả: Rakazhanda
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Bản dịch cá nhân, nghiên cứu về các tên gọi trong ngôn ngữ của người Tiên.

Từ niềm yêu thích và kính trọng dành cho J.

R.

R.

Tolkien vĩ đại, ngôn ngữ và các tác phẩm của ông.

Original text © J.R.R.

Tolkien / Tolkien Estate.



translation​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Từ vô danh đến huyền thoại
  • [BH tự viết] Chuyện Đế Vương
  • Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
  • chuyện bịa quốc sự (hồi1)
  • chuyện tình Đồng Giới Của A.Dương
  • Chuyện Đoá Thụy Hương
  • Huyền Sử Silmarils
    Of the Silmarils - Các viên Silmarils


    ...

    Và ngọn lửa nội tại của những Silmaril Fëanor đã tạo nên từ ánh sáng hòa quyện của Hai Cây thần Valinor — ánh sáng ấy vẫn còn sống trong chúng, dẫu Hai Cây từ lâu đã héo tàn và không còn tỏa chiếu nữa.

    Bởi vậy, ngay cả trong bóng tối của kho tàng sâu thẳm nhất, những Silmaril vẫn tự mình tỏa rạng, rực rỡ như các vì sao của Varda Elentári.

    Thế nhưng, như thể quả thật là những sinh thể sống động, chúng vui mừng trong ánh sáng, đón nhận nó và hoàn trả lại bằng những sắc huyền diệu hơn gấp bội.

    Tất cả những ai cư ngụ tại Aman đều tràn đầy kinh ngạc và hoan hỉ trước công trình của Fëanor tài ba.

    Và Varda đã thánh hóa, phù phép lên các viên Silmarils, để từ đó về sau không phàm nhục nào, không bàn tay ô uế nào, không vật mang ác tâm nào có thể chạm đến chúng, nếu không sẽ bị thiêu đốt và lụi tàn.

    Và Mandos đã tiên báo rằng vận mệnh của Arda — đất, biển và không khí — đều bị khóa chặt trong ba viên ngọc ấy.

    Trái tim của Fëanor nhanh chóng bị ràng buộc chặt vào bảo vật do chính tay ông đã tạo ra.

    Khi ấy Melkor nảy sinh lòng ham muốn với các Silmarils, và ngay cả ký ức về ánh sáng huy hoàng của chúng cũng trở thành ngọn lửa gặm nhấm trong tim hắn.

    Từ đó về sau, bị thiêu đốt bởi khát vọng ấy, hắn ngày càng sốt sắng tìm cách hủy diệt Fëanor và chia rẽ tình bằng hữu giữa Valar và Tiên tộc; song hắn che giấu mưu đồ bằng sự xảo quyệt, và chưa có chút ác ý nào lộ ra trong hình dạng mà hắn khoác lên mình.

    Hắn đã âm thầm hành động rất lâu; ban đầu chậm chạp và cằn cỗi là công việc của hắn.

    Nhưng kẻ gieo dối trá cuối cùng sẽ không thiếu mùa gặt; và chẳng bao lâu hắn có thể nghỉ tay thật sự, trong khi kẻ khác gặt hái và gieo trồng thay cho hắn.

    Luôn luôn Melkor tìm được những đôi tai chịu lắng nghe, và những chiếc lưỡi sẵn sàng thêu dệt điều đã nghe; và những lời dối trá của hắn truyền từ người này sang người khác, như những bí mật mà kẻ nắm giữ chúng tưởng rằng mình trở nên khôn ngoan.

    ...

    Quả có một phần chân thực trong những lời ấy (lời độc địa của Melkor), và xưa nay các Valar hiếm khi lay chuyển được ý chí của loài Người; nhưng nhiều người trong số các tiên Noldor đã tin, hoặc nửa tin nửa ngờ, những lời độc hại ấy.

    Bởi vậy, trước khi các Valar hay biết, sự hòa bình của Valinor đã bị đầu độc.

    Người Noldor bắt đầu xì xào oán thán các Valar, và nhiều kẻ đầy ắp kiêu ngạo, quên mất rằng biết bao điều họ có và họ hiểu đều đến với họ như những ân điển từ các Valar.

    Ngọn lửa mới của khát vọng tự do và những cõi giới rộng lớn hơn bùng cháy dữ dội nhất trong trái tim háo hức của Fëanor; và Melkor cười thầm trong bóng tối, bởi chính vào đích ấy mà những lời dối trá của hắn đã nhắm tới, khi hắn ghen ghét Fëanor hơn hết thảy, và không ngừng thèm thuồng các Silmarils.

    Nhưng hắn không được phép đến gần chúng; bởi dù trong những đại yến tiệc Fëanor có khi mang chúng trên trán, rực cháy huy hoàng, thì những lúc khác chúng vẫn được canh giữ nghiêm ngặt, khóa kín trong những phòng sâu thẳm của kho báu tại Tirion.

    Bởi Fëanor bắt đầu yêu các Silmaril bằng một thứ tình yêu tham luyến, và keo kiệt cả ánh nhìn của chúng đối với mọi người, trừ cha ông và bảy người con trai; và nay ông hiếm khi còn nhớ rằng ánh sáng trong chúng vốn không phải của riêng ông.

    ...

    Giờ đây Fëanor đã bắt đầu thẳng thừng nói về một cuộc nổi dậy chống lại các Valar, dõng dạc tuyên bố rằng mình sẽ rời khỏi Valinor trở về thế giới rộng bên ngoài, và sẽ đưa toàn bộ người Noldor ra khỏi xiềng xích thống trị, nếu họ chịu đi theo ông.

    Sau đó, những bất ổn lớn đã xuất hiện ở Tirion, và Finwë đã gặp rắc rối; và ông đã triệu tập tất cả các lãnh chúa của mình đến hội đồng.

    Nhưng Fingolfin đã lao đến đại sảnh và đứng trước mặt ông, nói "Vương và phụ thân, người không thể kiềm chế được sự kiêu ngạo của anh trai chúng con, Curufinwë, người được gọi là Linh hồn của Lửa, và quả thật quá đúng như vậy sao?

    Bằng quyền lực nào mà Fëanor có thể nói thay cho tất cả dân tộc ta, như thể anh ấy là Vương?

    Dù lâu trước đây chính Người đã đứng trước toàn thể Quendi, đã kêu gọi họ chấp nhận lời mời gọi của các Valar mà đến Aman.

    Dù Người đã dẫn dắt các Noldor trên con đường dài vượt những hiểm nguy của Trung Địa để đến với ánh sáng của Eldamar.

    Nếu nay Người không hối hận điều ấy, thì ít nhất hãy để hai con trai của Người tôn trọng những lời nói ấy.

    Nhưng ngay khi Fingolfin còn đang nói, thì Fëanor bước vào sảnh điện, cả người vũ trang đầy đủ: chiếc mũ trụ cao ngự trên đầu ông, và bên hông là thanh gươm hùng mạnh.

    "Quả đúng như ta đã đoán," ông nói.

    "Người anh em cùng cha khác mẹ của ta, hẳn đã ở đây với cha ta trước ta, trong lúc này và mọi lúc khác."

    Rồi quay thẳng sang Fingolfin ông tuốt kiếm ra và quát "Biến đi, và trở về nơi ngươi thuộc về!"

    Fingolfin quỳ trước Finwë, và không nói một lời hay một ánh nhìn nào đến Fëanor chàng bước ra khỏi đại sảnh.

    Nhưng Fëanor chưa từ bỏ, và tại cửa nhà của vua, ông chặn chàng lại; và mũi kiếm lóe sáng của ông chĩa thẳng vào ngực Fingolfin.

    "Nhìn đây, kẻ cùng cha khác mẹ!"

    ông nói.

    "Thứ này bén hơn lưỡi của ngươi.

    Nếu ngươi dám một lần nữa mưu chiếm địa vị của ta và tình yêu của cha, có thể thanh kiếm này sẽ quét ra khỏi tộc Noldor kẻ khát khao trở thành chủ nhân của đám nô lệ".

    ...

    "Nhà của vua" hay "king's house" trong bản gốc.

    Trong tiếng Anh cổ, "house" không chỉ có nghĩa là nhà ở nhỏ mà có thể là cung điện, vương thất,... nên dịch là "nhà của vua" để sát nghĩa và giữ vẻ cổ xưa.

    Từ "nhà" có thể không trang trọng như từ Hán Việt "vương thất" nhưng chính Tolkien cũng dùng từ quen thuộc với người Anh hiện nay, "house".

    Các tên gọi - ngôn ngữ:

    - Hai Cây thần Valinor: Là Telperion Cây Bạc và Laurelin Cây Vàng, thay nhau tỏa sáng trên toàn cõi Valinor và đã bị Morgoth và Nhện Ungoliant phá hủy.

    Tên của Hai Cây là từ tiếng Quenya.

    Với Telperion (hay Tyelperion) bắt nguồn từ gốc √TELEPE (gốc từ tiếng Tiên Nguyên thủy/Primitive Elvish) "bạc".

    Còn -ion là hậu tố để tăng tính trang trọng.

    Còn các Valar, trong ngôn ngữ của họ - Valarin, gọi nó là Ibrīniðilpathānezel.

    Tên khác của Telperion là Ninquelótë "Hoa Trắng" (kết hợp ninquë "trắng" and lótë "hoa").

    Còn Laurelin là sự kết hợp giữa laurë "vàng/gold" and lin(dë) "hát, bài hát".

    Tên cây là "Bài ca của Vàng".

    Ngoài ra Laurelin còn có các tên khác như Culúrien "Vòng hoa Vàng" (từ gốc √KUL "vàng-đỏ" và riende "vòng hoa"), Malinalda "Cây Vàng" (từ malina "vàng (cả yellow và golden)" và alda "cây").

    Laurelin trong Valarin là Tulukhedelgorūsb.

    - Curufinwë "Finwë Tài nghệ": Là tên mà cha của Fëanor đặt cho ông, còn Fëanor là do mẹ ông đặt.

    Bắt nguồn từ gốc √KUR "có sức mạnh, tài năng; kỹ năng".

    - Quendi: Số nhiều của quendë "người Tiên, những kẻ cất tiếng".

    - Eldamar "Nhà của Tiên": Từ Elda "Tiên" và már "nhà".

    - Tirion "Tháp canh Vĩ đại": từ gốc √TIR "nhìn, canh gác", như trong quả cầu nhìn xa Palantír.

    Hầu hết các tên gọi đều là tiếng Quenya.
     
    Huyền Sử Silmarils
    The Fall of Fingolfin


    Rồi Fingolfin chứng kiến (hay như chàng cảm nhận) sự sụp đổ hoàn toàn của người Noldor, và thất bại không sao cứu vãn được của tất cả Tiên tộc; và tràn đầy phẫn nộ cùng tuyệt vọng, chàng leo lên Rochallor, con tuấn mã vĩ đại của mình, và một mình phóng đi, không ai có thể ngăn cản.

    Chàng băng qua Dor-nu-Fauglith như cơn gió giữa bụi mù, và tất cả những ai đã trông thấy đà xông tới của chàng đều choáng ngợp mà lùi tránh, tưởng rằng chính Vala Oromë đã giáng lâm trên lưng Nahar lao đến: bởi một cơn cuồng loạn của thịnh nộ đang bao trùm lấy chàng, khiến đôi mắt chàng rực sáng như mắt của các Valar.

    Rồi chàng một mình đến trước cổng Angband, thổi vang tù và, lại một lần nữa giáng đòn lên những cánh cửa đồng, và thách thức Morgoth bước ra quyết đấu tay đôi.

    Và Morgoth đã đáp lại.

    Đó là lần cuối cùng trong những cuộc chiến ấy hắn bước qua cánh cửa thành trì của mình, và người ta nói rằng hắn không hề tự nguyện chấp nhận lời thách đấu; bởi dù quyền năng của hắn là lớn nhất trong vạn vật trên thế gian này, thì chỉ riêng trong số các Valar, hắn là kẻ biết đến nỗi sợ.

    Nhưng giờ đây hắn không thể từ chối lời thách thức trước mặt các tướng lĩnh của mình; vì đá núi đang rung vang bởi âm thanh gầm rống của tù và Fingolfin, và giọng nói của chàng vang, sắc và rõ xuống tận những vực sâu của Angband; và Đại vương Fingolfin gọi Morgoth là kẻ hèn nhát, là chúa tể của lũ nô lệ.

    Vì thế Morgoth bước ra, chậm chạp trồi lên từ ngai vàng dưới lòng đất, và tiếng bước chân của hắn vọng lên như sấm sét trong đất ngầm.

    Hắn xuất hiện trong bộ giáp đen, sừng sững trước nhà vua như một tòa tháp, đội vương miện sắt, và tấm khiên khổng lồ của hắn, đen tuyền với phù hiệu khắc nổi, phủ bóng xuống Đại vương Noldor như một đám mây giông.

    Nhưng Fingolfin lóe sáng bên dưới như một vì sao; bởi áo giáp của chàng được dát bạc, và tấm khiên xanh lam của chàng nạm đầy pha lê; và chàng rút bảo kiếm Ringil, lấp lánh và lạnh lẽo như băng giá.

    Rồi Morgoth giơ cao Grond, Búa của Địa Ngục, và nện xuống như một tia sét.

    Nhưng Fingolfin bật sang bên, và Grond xé toạc mặt đất, khoét nên một hố sâu khổng lồ, từ đó khói và lửa phun trào.

    Nhiều lần Morgoth cố giáng đòn vào chàng, và mỗi lần Fingolfin lại nhảy tránh, như tia chớp vụt lên dưới đám mây đen; và chàng đã gây cho Morgoth bảy vết thương, và bảy lần Morgoth gào lên đau đớn, khiến quân đoàn Angband ngã rạp xuống đất trong kinh hoàng, và tiếng thét vọng khắp các vùng đất phương Bắc.

    Nhưng cuối cùng nhà vua cũng kiệt sức, và Morgoth đè tấm khiên của hắn lên chàng.

    Ba lần Fingolfin bị ép quỳ xuống gối, và ba lần chàng lại vùng dậy, gượng nâng tấm khiên tơi tả và chiếc mũ trụ bị đánh nát.

    Nhưng mặt đất quanh chàng đã bị nứt toác và đầy hố sâu, và chàng loạng choạng rồi ngã quỵ dưới chân Morgoth; và Morgoth đặt bàn chân trái lên cổ chàng, nặng nề như cả một ngọn đồi sụp xuống.

    Tuy vậy, với nhát chém cuối cùng trong tuyệt vọng, Fingolfin đã bổ trúng bàn chân ấy bằng Ringil, và máu phun ra đen kịt, bốc khói, tràn ngập những hố sâu do Grond tạo nên.

    Như thế Fingolfin đã chết, Đại Vương của người Noldor, kẻ kiêu hãnh và quả cảm bậc nhất trong các vị vua Tiên thuở xưa.

    Các tên riêng

    - Fingolfin: tên của chàng trong tiếng Sindarin, còn tên chàng trong tiếng Quenya là Nolofinwë, do cha của chàng, Finwë đặt.

    - Angband "Nhà tù Sắt": từ ang "sắt" + band "nhà tù".

    Gốc "ang" xuất hiện khá nhiều như Anglachel "Sắt của Sao trời" và Gurthang "Sắt của Cái chết" (các tên gọi cho thanh kiếm của Túrin Turambar).

    - Rochallor: Con ngựa vĩ đại của Fingolfin.

    "roch" trong tiếng Sindarin là "ngựa" còn phần sau thì không rõ.

    - Ringil: Bảo kiếm của Fingolfin, từ gốc "ringe/ringi" nghĩa là "lạnh".

    Hậu tố "-il" chỉ công cụ.

    - Morgoth "Kẻ thù Đen": Tên của Vala Melkor, được Fëanor đặt cho sau khi hắn cướp ngọc Silmaril của chàng.

    Từ gốc Sindarin mor "đen" (Mordor) và coth "kẻ thù" (làm mềm âm "c/k").

    Trong tiếng Quenya là Morikotto.

    - Grond: Búa Địa ngục - vũ khí của Morgoth.

    Trong tiếng Sindarin, grond nghĩa là "nặng nề, cồng kềnh/ponderous".
     
    Huyền Sử Silmarils
    Fingolfin


    Hùng tráng là thế, dũng cảm là thế, nhưng Fingolfin lại không hề được kể riêng thành một tác phẩm hay một câu chuyện đầy đủ như những Túrin Turambar hay Beren và Lúthien.

    Nếu nói vậy cũng tương tự như trường hợp của Fëanor, người tạo ra ba viên Silmarils.

    Hai điều làm tôi nhớ nhất về chàng, đó là bị anh trai Fëanor chĩa kiếm vào ngực và trận quyết chiến với Morgoth.

    Ngoài ra có thể kể đến việc chàng dẫn dân tộc băng qua vùng băng giá Helcaraxë.

    Không như các vị thần trong Thần thoại Hy Lạp - cơ bản là có thân xác giống người phàm nhưng bất tử và có sức mạnh, và vẫn bị thương như thường, như Diomedes làm bị thương Aphrodite; các thực thể quyền năng trong The Legendarium nằm ở một đẳng cấp khác, "thần của thần".

    Vậy nên việc Đại vương Fingolfin gây ra tận 7 vết thương cho Morgoth là điều trước nay chưa ai làm được, kể cả người căm thù Morgoth nhất là Fëanor.

    Sử thi thường chú trọng vào những hành động lớn.

    Ta sẽ không thấy Tolkien miêu tả tâm lý của Fingolfin.

    Thay vào đó, hành động của chàng diễn ra nhanh, đột ngột, leo lên Rochallor mà phóng đến Angband.

    Tất cả đều nằm trong ý muốn của Tolkien, dù có hay không.

    Một vũ trụ mà khó có thể tìm ra lỗ hổng.

    Nhưng tôi vẫn thấy chưa hài lòng lắm.

    Qua những bức tranh minh họa hay trong suy nghĩ và hình dung, tôi thấy và thường mặc định Fëanor là "lửa", như trong tên của ông, Tinh thần Lửa, là màu đỏ.

    Còn Fingolfin thì trái ngược, là màu xanh của băng giá, như tên gọi của thanh kiếm của chàng, Ringil.

    Nhưng hành động chàng lao đến Angband trong cơn thịnh nộ có vẻ hơi trái ngược với hình ảnh ấy.

    Trận chiến của chàng với Morgoth được kể lại chưa đầy một trang giấy.

    Và tôi tin là Tolkien đã có lời giải thích đầy đủ cho vấn đề này.

    Mỗi nhân vật trong The Legendarium đều là những tinh túy của thế giới ấy, của giống Người và Tiên (và Người Lùn).

    Những Eärendil, Galadriel, Nữ hoàng Sao Varda, Manwë, Melkor, Thượng đế Eru Illúvatar, Finrod Felagund, Turgon, Elendil,...

    Mỗi nhân vật đều có những hành động rung chuyển lịch sử.

    Nếu mỗi người trong họ đều có câu chuyện riêng, thì chắc chắn The Legendarium phải đồ sộ và vĩ đại hơn thế nữa, và Tolkien chính là người được các Đấng trên cao gửi xuống để hoàn thành sứ mệnh nghệ thuật vĩ đại của nhân loại.

    Hoặc con trai ông, Christopher Tolkien vẫn chưa tìm ra được hết các bản thảo của cha mình.

    Và một điều có thể các bạn đã được nghe nhiều, thậm chí The Legendarium chỉ là "phụ", là nền, là chỗ đứng cho các ngôn ngữ mà ông xây dựng.

    Đó là điều không tưởng và tôi không mong là sẽ có người thứ hai.

    Tôi rất mong The Silmarillion sẽ sớm có bản dịch tiếng Việt và sẽ không dịch bằng văn phong Trung Quốc.

    Vậy nên tôi không còn cách nào khác phải để Fingolfin gọi Fëanor là "anh trai" thay vì "huynh/huynh trưởng".

    Tiếng Việt rất đẹp và hay.

    Vậy nên Fingolfin, dù ít được mô tả, vẫn là nhân vật mà tôi yêu thích nhất.

    Chàng đại diện cho lòng dũng cảm cổ điển, biết đối thủ của mình khủng khiếp thế nào, biết rõ cái kết của mình mà vẫn lao đi, điều mà những nhà văn ngày nay đang cố gạt bỏ.

    Tôi đã suy nghĩ rằng "Fingolfin là một tướng giỏi, tại sao lại vì một phút cuồng mà đem thân mình hiến cho địch?"

    Nếu Fingolfin được đưa về dưới tay của George R.

    R.

    Martin, chàng sẽ bị Morgoth lừa.

    Thay vì tự mình ra đấu, hắn sẽ xua hết những orcs, balrogs hay đám rồng còn lại ra để quây kín chàng và Morgoth, như đã luôn ở sau lưng tuôn ra những lời độc địa, lần này cũng sẽ đứng sau đám tay chân của mình mà nện Grond xuống đầu chàng.

    Thật may là điều đó không xảy ra.

    Kể cả Tiên cũng hành động bằng lý trí chứ không phải logic.

    Mọi thứ không cần phức tạp như vậy.

    Người suy nghĩ theo logic là chúng ta, người chứng kiến.

    Chàng mất đi để trở thành người Tiên vĩ đại nhất, là Tiên Huyền thoại, Đại vương Noldor Fingolfin.
     
    Back
    Top Dưới