Cập nhật mới

Khác Duyên Thời Ấy

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
174649284-256-k584486.jpg

Duyên Thời Ấy
Tác giả: user25544194
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Những chuyện tình ngày xưa



congchua​
 
Duyên Thời Ấy
Mối tình đơn phương của Công chúa Ngọc Anh


Theo thư tịch còn lại của chùa Đại Giác, chùa được lập từ năm 1412, ban đầu là một cái am nhỏ thờ Phật, sau dần dần, dân cư đến sinh sống đông đúc đã hình thành một ngôi chùa lớn.

Đến nay, chùa Đại Giác vẫn được xem là một trong những ngôi chùa cổ nhất miền Nam.

Khi nhà Tây Sơn thắng thế, Nguyễn Ánh trên đường trốn chạy đã từng ghé qua ngôi chùa này và được nhà chùa cưu mang.

Không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, chùa Đại Giác còn chứng kiến một câu chuyện tình đẹp đã trở thành giai thoại đất Đồng Nai.

Công chúa Ngọc Anh - công chúa thứ ba của Nguyễn Ánh

Chùa Đại Giác thuộc thôn Bình Hoàng, xã Hiệp Hòa, tổng Trấn Biên (nay thuộc ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP.

Biên Hòa, Đồng Nai).

Theo lời kể của các bậc tiền nhân để lại cho con cháu, năm 1801, khi bị quân Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Ánh trên đường chạy trốn đã từng dừng chân tại chùa Đại Giác.

Trong bầu đoàn thê tử của Nguyễn Ánh có công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh là người sắc nước hương trời.

Công chúa Ngọc Anh là vị công chúa thứ ba của Nguyễn Ánh, khi chạy trốn cùng với vua cha tuổi đời còn nhỏ, nhưng lại là người uyên thâm về Phật học, từ bé đã chăm chỉ đi chùa chiền, lễ tạ, chịu khó ăn chay trường và tụng kinh niệm Phật.

Khi dừng lại ở chùa Đại Giác, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã xin với Nguyễn Ánh cho được ở lại chùa Đại Giác, xuất gia và ẩn mình nơi cửa Phật vì không muốn bị cuốn vào cuộc tranh giành quyền lực giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn.

Sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Anh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long và chọn kinh đô ở Huế đã gửi chiếu thư triệu hồi công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh về kinh thành.

Không thể cãi lệnh vua cha, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh lên đường về kinh mà lòng vẫn còn lưu luyến cuộc sống thanh bạch, không vướng bụi trần chốn cửa Phật.

Trải qua nhiều thăng trầm, chứng kiến nhiều cảnh loạn ly, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã nguyện sẽ không lấy chồng mà thành tâm ăn chay trường niệm Phật tại phủ của mình, cầu sự thái bình, thịnh trị cho triều đại nhà Nguyễn.

Nhưng phận đời khó tránh, công chúa Ngọc Anh cuối cùng cũng không thoát khỏi chữ “tình”.

Thuở đó đất phương Nam có một vị Thiền sư nổi tiếng là Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành.

Không ai rõ Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành sinh năm bao nhiêu, nhưng đức độ và sự uyên bác của ông thì ai cũng kính nể.

Theo sử sách ghi lại, Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành có dáng người cao to, gương mặt tuấn tú, phúc hậu, giọng nói truyền cảm, dáng vẻ oai nghiêm, đĩnh đạc, có tài hùng biện.

Với kiến thức Phật học uyên bác và khả năng thuyết giảng Phật pháp xuất chúng, nên Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành được nhân dân và Phật tử vô cùng kính trọng, mến mộ.

Một lời Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành nói ra, Phật tử không thể không nghe.

Nhờ trí tuệ uyên bác và phẩm hạnh trong sáng, Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành đã trở thành nhà sư đầu tiên ở miền Nam được phong quốc sư.

Khi vua Minh Mạng lên ngôi, Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành được được vua Minh Mạng vời về kinh thành Huế để làm tăng chùa Thiên Mụ và giảng dạy Phật pháp cho Hoàng tộc Nguyễn.

Ngay khi gặp Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã đem lòng say đắm vị Thiền sư.

Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh ngày ngày nghe Thiền sự giảng về Phật giáp, thấy sự uyên bác của Thiền sư, càng đem lòng thương nhớ.

Dù biết Thiền sư đã là người nhà Phật, không được phép dính vào duyên trần, nhưng công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh vẫn đề nghị Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành phá giới để nên duyên cùng công chúa.

Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành biết công chúa đem lòng cảm mến mình thì vô cùng khổ tâm.

Thiền sư đã dùng Phật pháp ngày ngày giảng giải cho công chúa, với hi vọng công chúa sớm tỉnh ngộ mối tình oan trái này.

Nhưng những cố gắng của Thiền sư không thể ngăn được sự si tình của công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh.

Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh còn đề nghị vua Minh Mạng tác thành cho tình duyên của mình.

Hiểu tấm lòng của công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh, nhưng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành cũng là một bậc cao tăng có cao đạo, một lòng hướng Phật, nên không thể đáp lại tình cảm của công chúa.

Khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành còn chưa biết gỡ những rối rắm với công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh ra sao thì sư phụ của Thiền sư là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc – trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định viên tịch, Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành đã nhân cơ hội này xin về chùa Từ Ân ở Gia Định làm trụ trì.

Từ khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành rời khỏi kinh thành Huế, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh ngày đêm nhớ thương Thiền sư, không thiết ăn ngủ.

Vua Minh Mạng thấy thế liền hỏi người cô ruột của mình nguyên do, thì công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh xin với vua cho vào chùa Từ Ân cúng dường, để thỏa lòng thành tâm với Phật, nhưng thực chất là để bớt nhớ nhung Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành.

Được sự đồng ý của vua Minh Mạng, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã mang rất nhiều lễ vật và dẫn theo một đoàn tùy tùng đến cúng dường tại chùa Từ Ân.

Hay tin công chúa sắp đến, Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành là trụ trì chùa Từ Ân khi đó đang ngồi uống trà đàm đạo trong khuôn viên chùa vô cùng lo lắng.

Không những không ra đó, Thiền sư còn kiên quyết lẩn tránh vì lo sợ chuyện không hay sẽ xảy ra.

Lúc công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh bước vào chùa, Thiền sư đã lên chùa Đại Giác để nhập thất trong 2 năm.

Công chúa Ngọc Anh khi đến chùa Từ Ân không thấy Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành đã vô cùng hụt hẫng thất vọng trong lòng.

Hỏi tăng ni trong chùa, tất cả đều trả lời không biết Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành đi đâu.

Phần vì đi đường sá xa xôi, phần vì thương nhớ Thiền sư khôn nguôi, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã lâm trọng bệnh, sức khỏe mỗi ngày thêm sa sút.

Lo sợ nguy hại cho bổn tự của công chúa, nên các tăng chúng trong chùa Từ Ân đành nói sự thật.

Nhưng khi biết Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành đang nhập thật ở chùa Đại Giác, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh lập tức khỏi bệnh.

Công chúa báo cho quan tổng trấn gia đình là mình sẽ lên chùa Đại Giác để cúng dường.

Quan tổng trấn Gia Định lại cử một đoàn tùy tùng hộ tống công chúa lên chùa Đại Giác.

Sau khi đến chùa cúng dường, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã nhờ người đưa đến tịnh thất của thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành.

Thiền sư ở trong tịnh thất không ra ngoài, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đứng ở ngoài cầu xin được gặp mặt Thiền sư nhưng ngài im lặng.

Đau khổ tột cùng, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh quỳ trước tịnh thất, không ăn không uống, đòi gặp bằng được Thiền sư mới thôi.

Thiền sư vẫn im lặng.

Công chúa lại xin gặp Thiền sư lần cuối để từ biệt về kinh, cửa tịnh thất vẫn không mở.

Cuối cùng, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh dập đầu lạy trước tịnh thất mà rằng: “Nếu Hòa thượng không tiện ra để gặp tiện thiếp, xin Hòa thượng cho đệ tử nhìn thấy bàn tay của Hòa thượng, đệ tử sẽ hân hoan ra về”.

Cảm động trước tấm lòng của công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh, Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành đã đưa ban tày qua cái ô cửa nhỏ cho công chúa nhìn.

Nhưng vị công chúa si tình đã nhân cơ hội này, nắm chặt lấy tay Thiền sư và hôn say mê bàn tay Thiền sư, vừa hôn vừa khóc sướt mướt, nước mắt nhỏ xuống tay Thiền sư.

Đêm hôm đó, nửa đêm khi cả chùa Đại Giác đang yên giấc, tịnh thất của Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành phát hỏa.

Mọi người chạy ra dập lửa thì thất tịnh thất đã cháy rụi.

Nhục thân của Thiền sư cũng cháy đen.

Điều kỳ lại là trên vách chánh điện của tịnh thất vẫn còn bài kệ của Thiền sư viết bằng mực đen:

THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần

THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần

LIỄU tri mộng huyễn chơn như huyễn

ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần.

Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành thấy cuộc đời quá nhiều mộng ảo hão huyền.

Thiền sư đã dùng ngọn lửa tự thiêu để thức tỉnh và giáo dục công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh.

Nhưng Thiền sư không ngờ rằng, sau khi Thiền sư tự thiêu, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh vô cùng đau khổ.

Công chúa đã ở lại lo xong xuôi lễ nhập thất cho Thiền sư.

3 ngày sau, công chúa uống thuốc độc tự vẫn ngay tại hậu viên chùa Đại Giác, kết thúc một mối tình đơn phương bi thương.
 
Duyên Thời Ấy
Vua Thành Thái và cô lái đò sông Hương


Mối nhân duyên của Vua Thành Thái và cô gái lái đò sông Hương

Thành Thái là ông vua nổi tiếng thương dân trong sử Việt vì đã không ít lần cải trang làm thường dân vi hành để hiểu hơn về cuộc sống của họ.

Và chính hành động này của vua Thành Thái, trong một lần đã giúp ông nhặt được một người vợ xinh đẹp làm nghề lái đò trên sông Hương.

Chuyện kể rằng vào một ngày Tết Nguyên Đán, vua Thành Thái cải trang thành dân thường, đến vùng đất Kim Long – một vùng đất ngoại ô vô cùng trù phú nổi tiếng sản sinh ra hàng loạt các mỹ nhân vào thời đó.

Và sau khi đi ngao du khắp vùng, vua Thành Thái mới thuê một chiếc đò để ra về.

Khi đò vừa ghé vào, bước lên trên, ông trông thấy cô gái lái đò khoảng chừng hai mươi đang khép nép trong chiếc áo vá vai với đôi má ửng hồng, đôi mắt long lanh và gương mặt rất duyên.

Thế là vua Thành Thái xao xuyến rộn lên một niềm cảm xúc lạ trong lòng, ông quyết định mang cô ấy về làm vợ.

Ông liền chớp lấy thời cơ ngỏ lời khi cô gái đang ở cuối thuyền rồi hỏi một cách đột ngột: "Nì, o tê!

O có muốn lấy vua không?" (Này, cô kia, cô có muốn lấy vua không?).

Bất ngờ trước câu hỏi từ vị khách lạ, cô gái liền bẽn lẽn đáp: "Đừng có nói bậy mà họ lấy đầu chứ".

Biết ý thấy cô gái hơi ngại ngùng, vua Thành Thái nói tiếp: "Tui nói thiệt đó, O có muốn lấy vua thì tui làm mối cho!".

Sau câu nói này của vua Thành Thái, cô gái còn ái ngại hơn, thậm chí quay mặt đi chỗ khác.

Một vị quan khách đi cùng chuyến đò, thấy thế liền vui vẻ tiếp lời chọc khuấy cô lái đò: "Ni, o tê!

O cứ nói "ưng" để coi thử nờ!" (Này, cô kia!

Cô cứ nói "ưng" để xem thử thế nào).

Thế là cô lái đò đánh bạo nói nhanh: "Ưng!".

Và rồi vua Thành Thái mở cờ trong bụng, đột ngột đứng dậy đi về phía cô lái đò, mở lời bảo cô đã là Quý phi rồi hãy ngồi nghỉ ngơi để ông chèo cho đỡ vất vả.

Khi thuyền xuôi dòng về đến trước Kinh thành, vua Thành Thái đưa đò vào đậu ở bến Nghinh Lương, trước Phu Văn Lâu, rồi bảo cận thần giả dạng đi cùng trên chuyến đò như sau: "Thôi, thiên hạc đứng dậy trả tiền đò cho Trẫm và tiễn đưa Quý phi vào cung!".

Từ đó, cô lái đò Kim Long chính thức trở thành vợ vua Thành Thái trong sự bất ngờ của nhiều người.

Tuy nhiên, về sau này, có nhiều người cho rằng người vợ lái đò đất Kim Long từ "trên trời rơi xuống" của vua Thành Thái này thực chất chỉ là một giai thoại dân gian chứ không có thực.

Chuyện gần khớp và có vẻ hợp lý hơn về vua Thành Thái và đất Kim Long này là việc ông từng mê mệt một cô nàng kiều nữ nơi đây nhưng không phải làm nghề lái đò mà lại chính là khuê nữ của Vĩnh Quốc Công Nguyễn Hữu Độ tên Nguyễn Hữu Thị Nga.

Bà cũng chính là Huyền phi trong hậu cung của vua Thành Thái sau khi vào cung.
 
Duyên Thời Ấy
Lý Chiêu Hoàng - Trần Cảnh


TRẦN CẢNH CÓ YÊU LÝ CHIÊU HOÀNG HAY KHÔNG ?

Với cuộc đời đầy sóng gió Lý Chiêu Hoàng – Lý Chiêu Thánh – Lý Thiên Hinh tên húy Lý Phật Kim : Vị vua cuối cùng của nhà Lý, Nữ hoàng đầu tiên của Đại Việt, Nữ vưng bi kịch nhất của lịch sử.

Từ làm vua triều Lý - xuống làm hậu triều Trần - bị phế truất làm công chúa và tệ hại nhất là bị chồng đem gả cho người khác.

1224 - Trần Thủ Độ ép Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là công chúa Chiêu Thánh.

Năm đó nàng mới 7 tuổi - bảy tuổi nàng lên ngôi và rơi vào cuộc chiến chính trị cũng như báo động một kết thúc vương triều nhà Lý rực rỡ hơn 200 năm.

1225 - Dưới sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh – cháu của Trần Thủ Độ, chấm dứt thời gian cai trị của nhà Lý và lịch sử bước sang trang mới.

Từ Hoàng đế, Chiêu Hoàng trở thành Hoàng hậu, vợ của Trần Cảnh – Trần Thái Tông.

Về việc nhường ngôi cho chồng, Đại Việt sử kí có ghi chép:

Một hôm, Cảnh lúc ấy mới lên 8 tuổi, phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong.

Chiêu Hoàng trông thấy làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng.

Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh.

Cảnh không dám nói gì, về nói ngầm với Thủ Độ.

Thủ Độ nói: “Nếu thực như thế thì họ ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?”.

Lại một hôm, Chiêu Hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không?

Thần xin vâng mệnh”.

Chiêu Hoàng cười và nói: “Tha tội cho ngươi.

Nay ngươi đã biết nói khôn đó”.

Cảnh lại về nói với Thủ Độ.

Thủ Độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả, bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm.

Thủ Độ đóng cửa thành và các cửa cung, sai người coi giữ, các quan vào chầu và các tướng không được vào.

Thủ Độ loan báo rằng:

“Bệ hạ đã có chồng.."

Bảy tuổi, làm sao có ái tình nam nữ?

Có chăng chỉ là sự gần gũi và ngây thơ giữa 2 đứa trẻ.

Chỉ vì sự trong sáng của trẻ thơ mà những người lớn kia đã biến nó thành một âm mưu chính trị – một cách chuyển giao êm thấm và khôn khéo.

1226 - Trần Thủ Độ ép chết Lý Huệ Tông.

Trước khi chết ngài còn khấn: "Thiên hạ nhà ta đã vào tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày nay ta chết, đến khi thác con cháu ngươi cũng sẽ bị như thế."

Quả nhiên, lời từ miệng vua thốt ra.

Sau đó nhà Trần cũng bị rơi vào tay ngoại thích là nhà Hồ và Hồ Quý Ly lên ngôi.

Quay lại chuyện chính.

1233 - Lý Chiêu Hoàng năm đó 14 tuổi, nàng hạ sinh thái tử Trần Trịnh nhưng bị mất cách đó không lâu.

Sau cơ sự ấy nàng cơ thể suy nhược không hoài thai được nữa.

1237 - Lo sợ Chiêu Thánh không sinh nở được và dẫn đến sự sụp đổ của nhà Trần, Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung bàn bạc, yêu cầu Trần Thái Tông phế hoàng hậu, lấy Thuận Thiên công chúa đang mang thai 3 tháng – chị gái của Chiêu Thánh và cũng là chị dâu của Trần Cảnh (Anh trai của Thái Tông là Trần Liễu, chồng của Thuận thiên).

Trần Cảnh không chấp nhận được chuyện trái đạo, vô luân thường đạo lý ấy và đang đêm trốn khỏi kinh thành để lên gặp sư chùa Phù Vân ở Yên Tử nương nhờ.

Thái sư vừa dỗ dành vừa gây sức ép, cuối cùng hoàng đế cũng phải chịu nghe theo.

Không còn cách nào khác, cuối cùng Trần Thái Tông cũng trở về.

Phế bỏ hoàng hậu Chiêu Thánh, lập công chúa Thuận Thiên làm Hoàng hậu.

Chiêu Thánh công chúa lúc đó độ 19 - 20 tuổi.

Vậy Trần Cảnh – Chiêu Hoàng – Thuận Thiên – Trần Liễu.

Ai mới là người có lỗi?

Chiêu Thánh - từ ngôi cửu ngũ chí tôn, bị giáng thành Hoàng hậu rồi làm công chúa, mang tội danh thiên cổ làm mất cơ nghiệp nhà Lý.

Cuộc đời là một nỗi bi thương.

Thuận Thiên - lên ngôi Hoàng hậu, lòng bà hạnh phúc lắm sao?

Lấy chồng của em gái, rời xa chồng mình.

Sự ăn năn của bà khiến bà ra đi khi còn quá trẻ – 33 tuổi.

Nhưng vẫn có ba người con với Trần Cảnh và một với Trần Liễu.

Còn Trần Liễu - Còn gì đau lòng hơn khi vợ mang thai cốt nhục 3 tháng của mình lại bị em ruột lấy làm vợ.

Lực bất tòng tâm không thể kháng lại thế lực lớn, chỉ có bi phẫn, uất hận lẫn đau thương.

12 năm - Cùng nhau lớn lên, 7 năm làm vợ chồng, từ ngây thơ non nớt đến tình yêu khắc cốt khi tâm....

Vậy Chiêu Thánh có yêu Trần Cảnh hay không ?

Chắc chắn là có, yêu đến tâm tê phế liệt nhưng thời thế không cho phép họ ở bên nhau, chỉ mãi mãi nhìn người kia bên cạnh người khác.

Vậy Trần Cảnh có yêu Chiêu Thánh không?

Cũng chắc chắn là có.

Cùng nhau trải qua những năm tháng thanh xuân làm sao lại không yêu cho được.

Bằng chứng là không thể chấp nhận việc cưới chị dâu của Trần Thủ Độ sắp xếp ngài đã bỏ kinh lên chùa với ý niệm xuất gia.

Năm ấy ngài 20 tuổi.

Về câu chuyện gả chồng cho vợ, Trần Cảnh cũng bị tiếng vang chê trách muôn đời:

"Trách người quân tử bạc tình

Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao”...

Năm 1258, sau kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông lại đem Chiêu Thánh khi ấy nàng 40 tuổi nhưng vẫn sinh đẹp rạng ngời gả cho Lê Phụ Trần (vốn tên là Lê Tần) - vị tướng có công cứu giá và được đặc ân đổi họ sang họ Trần.

Không biết Trần Thái Tông gả Chiêu Thánh cho Lê Tần với mục đích gì nhưng dù sao những năm tháng còn lại Chiêu Thánh cũng được hạnh phúc bên chồng và sinh hạ một trai một gái.

Một trong những người con là vị tướng Trần Bình Trọng với câu nói để đời - "Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc".

Năm 1277: Trần Thái Tông qua đời.

Năm 1278: Chiêu Thánh công chúa qua đời.

Chiêu Thánh công chúa lúc đó đã 61 tuổi, qua đời ở Bắc Ninh.

Ra đi không rõ nguyên nhân, dân gian truyền miệng bà trầm mình xuống sông tự vẫn.

Về lý do vì sao Chiêu Thánh tự vẫn, tôi luôn nghiêng về giả thiết là do nhớ thương Trần Cảnh.

Tôi muốn tin vậy bởi tôi muốn tin trong dòng chảy lịch sử hỗn loạn, không có binh biến lục cung, không có đầu rơi máu chảy lại thảm khốc đến vô tình vẫn tồn tại tình yêu sâu sắc cốt khắc tâm ghi giữa Trần Cảnh - Chiêu Thánh.

Tôi tin vào tình yêu, duyên nợ giữa Trần Cảnh và Chiêu Thánh.

Tôi tin hai người họ vốn đã yêu nhau vô cùng nhưng kiếp này lại vô tình trở thành nạn nhân trong cuộc chiến vương quyền chính trị tàn bạo.

Hai người họ như 2 đường thẳng cắt nhau tại một điểm, bên nhau một lần rồi lại đi về hai hướng mãi mãi chẳng gặp lại.

Nhưng người xưa đã đi, lịch sử luôn là ẩn số.

Mối lương duyên của hai người hậu thế cũng không khỏi thở dài xót xa.

Âu cũng là số kiếp có duyên nhưng phận mỏng của hoàng đếTrần Thái Tông và phế hậu Lý Chiêu Hoàng.

Tham khảo từ các nguồn:

- Chuyện hậu cung

- Wiki
 
Duyên Thời Ấy
Lý Hệ Tông - Linh Từ Quốc Mẫu


LÝ HUỆ TÔNG ĐÃ TỪNG SỦNG ÁI LINH TỪ QUỐC MẪU TỚI MỨC NÀO ?

Linh Từ Quốc Mẫu hay còn gọi là Trần Thị Dung ( Sau làm vợ Trần Thủ Độ ) là hoàng hậu, thái hậu triều đại nhà Lý từ năm 1216 - 1223.

Bà được vua Lý Huệ Tông nhất mực yêu thương và sủng ái.

Theo sử sách ghi chép rằng:

“Ban đầu, Lý Huệ Tông nghe mẹ đã phế bà làm ngự nữ, nhưng sau đó vì quá yêu thương bà nên đã ra sức che chở cho bà, ngay cả khi vua đang đối đầu với Trần Tự Khánh (khi đó Tự Khánh đã lập hoàng thân khác làm Càn Ninh Đế) vẫn phong bà lên làm Thuận Trinh phu nhân.

Năm 1216, mùa xuân, Lý Huệ Tông lập Trần ngự nữ làm Thuận Trinh phu nhân (順貞夫人).

Hoàng thái hậu cho Trần Tự Khánh là kẻ phản trắc, thường chỉ phu nhân mà nói là bè đảng của giặc, bảo Huệ Tông đuổi bỏ đi.

Sau đó, Thái hậu lại sai người nói với bà, bảo phải tự sát.

Huệ Tông biết bèn ngăn lại.

Hoàng Thái hậu bỏ thuốc độc vào món ăn uống của phu nhân.

Mỗi bữa ăn Huệ Tông thường chia cho bà một nửa và không lúc nào cho rời bên cạnh.

Tha thiết hơn, Huệ Tông không phải vì chạy loạn mà vì muốn bảo vệ bà đã cùng bà bỏ cung điện đi tìm đến chỗ Tự Khánh.

Tuy nhiên, những việc làm của Huệ Tông không được Linh Từ Quốc mẫu đền đáp tương xứng “.

Thời chuyển giao từ triều đại nhà Lý sang Trần có lẽ phải nói lắm Drama nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ad không thích bà Trần Thị Dung nhưng là hậu thế Ad cũng không dám chỉ trích hay phán xét về hành động của bà.

Lý Huệ Tông - Ông không phải là người vua giỏi nhưng đích thị ông là người chồng tốt, người cha hiền.

Có lẽ đại nhà Lý đã đến hồi kết, nhưng chăc chắn rằng người mà ông yêu trong suốt cả cuộc đời từ khi làm vua cho đến lúc từ giã cõi trần người mà ông yêu cũng duy nhất Trần Thị Dung mà thôi.

Tham khảo từ: Wiki

Ảnh: Tran Ngoc/ Group Đại Việt Cổ Phong

#Drama #LyHueTong #TranThiDung
 
Back
Top Bottom