Cập nhật mới

Khác Đông Thanh Kiếm

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
403684144-256-k227881.jpg

Đông Thanh Kiếm
Tác giả: LamvuTran
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Đa Bang thất thủ, là do đục thành lùa voi?

Triệu Cơ đón vua, thật là quân thần đồng đức?

Chính sử bốn ngàn năm, cuối cùng cũng vẫn là lời của giai cấp đặc quyền.

Dã sử văn bia, tựu chung không thoát được âm thanh của già làng, phú hộ.

Còn tiếng nói của những người cày ruộng, kẻ vác đá, người bị gạt ra bên lề - những linh hồn bé nhỏ của đất nước này - ở đâu trong trang sử?

Chiến công của anh hùng còn đó...

Tiếng nói của dân chúng ở đâu?

Một linh hồn từ tương lai trở về, xuyên qua lớp bụi ngàn năm của triều đại cũ.

Một sự va chạm, một cuộc đấu tranh, giữa một bên là hình tượng anh hùng của Nho giáo, của sử quan, với một bên là hình bóng người anh hùng cách mạng áo vải cờ đào, sao vàng trên mũ.

Có lẽ, một tiếng nói mới đang cất lên - tiếng nói của những người từng bị buộc phải im lặng,
đòi lại quyền được kể lại lịch sử của chính mình.



vietnamalthistory​
 
Đông Thanh Kiếm
Đều Là Bán Nước


Nguyễn Đông Thanh nuốt nước bọt.

Xung quanh gã, có mười mấy người vạm vỡ cường tráng, gươm sắc lăm lăm trong tay.

Ánh mắt hau háu như hổ đói nhìn lợn con.

Gã đưa tay áo, lau mồ hôi, cảm giác mình chuẩn bị chết đến nơi rồi.

Hắn... vừa nghe thấy điều không nên nghe.

Hắn... vừa nghe thấy chân tướng của trận tử thủ thành Đa Bang.

Cái gì mà Hồ Tôn Hiến đục thành lùa voi ra càn giặc.

Cái gì mà quân Minh trùm bao tải vẽ mặt hổ báo lên đầu ngựa để dọa voi, hoặc bắn tên cháy để voi lùi lại.

Tất thảy những gì viêt trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, hóa ra đều là đám văn nhân đang "múa bút đùa mực" cả.

Chân tướng bị chúng che đậy trần trụi, tàn khốc, và đáng thất vọng hơn rất nhiều.

Thành Đa Bang thất thủ là do gián điệp làm loạn.

Hơn nữa, không chỉ có một, hai người, mà là chín phần mười số quan lại cơ sở.

Trên từ tri huyện, dưới đến thư tá, tất cả đều phản trong một đêm.

Số binh tướng thực sự trung thành với nhà Hồ chỉ là số ít mà thôi.

Nhân đêm tối, đám quan lại này âm thầm giết tướng, mở cửa thành, phóng quân Minh vào đánh úp.

Quân Hồ kẻ chết thì chết, người hàng thì hàng, thất bại trong gang tấc.

Bên tai Nguyễn Đông Thanh lúc này truyền đến tiếng ngón tay gõ lên mặt bàn cồng cộc từng tiếng, cắt đứt dòng hồi tưởng của gã.

Đối diện gã ngồi hai thiếu niên.

Một da ngăm ngăm đen, mắt sáng như sao, gương mặt góc cạnh.

Tuy không tính là trai đẹp theo thẩm mỹ quan hiện đại, nhưng tinh thần sáng láng.

Tựa hồ, gã là sự cô đọng của bốn chữ "nhiệt huyết thiếu niên".

Gã tay nâng chung trà, tay còn lại chống vào chuôi kiếm, miệng ngậm một nhánh cỏ lau, thỉnh thoảng lại đẩy qua đẩy lại hai bên.

Đôi mắt như điện nhìn chằm chằm Nguyễn Đông Thanh, làm gã có cảm tưởng như bị xuyên thủng.

Người còn lại da trắng bóc như trứng gà luộc, dáng vẻ thư sinh, mặt búng ra sữa.

Tóc y dài đến vai, thả tung ở sau lưng, đen nhánh như mực.

Giữa hai hàng lông mày bạc trắng là một nốt ruồi nhỏ, rất nổi bật.

Nếu thiếu niên da ngăm là hiện thân của "nhiệt huyết thiếu niên", thì vị còn lại đại khái chính là bốn chữ "đẹp phi giới tính" mọc chân vậy.

Thiếu niên da ngăm đen, tay chống chuôi kiếm, còn được biết đến là hào trưởng đất Lam Sơn, Bình Định vương, Thuận Thiên hoàng đế Lê Lợi.

Người da trắng, tóc dài, không ai khác ngoài nạn nhân của oan án Lệ Chi Viên, nhân vật vừa kể ra chân tướng thành Đa Bang: Nguyễn Trãi.

Sở dĩ cha con Nguyễn Trãi biết bí mật này, ấy là vì gã có một ông ngoại vô cùng trâu bò.

Người này chính là Trần Nguyên Đán, tông thất nhà Trần, hậu duệ của Trần Quang Khải, cũng là cây đa cây đề trong giới sĩ phu bắc hà.

Nhân lúc quân Minh chưa đánh vào Đông Đô, Nguyễn Phi Khanh bèn đút lót lính canh cổng, để họ thả Nguyễn Trãi ra.

Có lẽ do xuất thân bình dân, có lẽ do lương tâm còn chưa bị giới kẻ sĩ thượng lưu bào mòn hoàn toàn, Nguyễn Phi Khanh dặn con mang bí mật này trốn đi.

Đi nhìn, nhìn xem cái thế đạo này ra sao.

Sau đó, Nguyễn Trãi sẽ tự quyết định con đường tương lai, cũng như sẽ làm gì với chân tướng đang giấu kín trong bụng.

Trên bàn, ngọn nến duy nhất tiếp tục cháy.

Trước mặt Đông Thanh, hai vị tai to mặt lớn vẫn không chịu hé nửa lời, quả thực là "tích chữ như vàng".

Gã lúc này len lén lau mồ hôi lần thứ n, cảm giác áp lực sau lưng lại tăng thêm một cân.

Hai người thiếu niên này trong lòng Đông Thanh có tính áp chế tuyệt đối.

Dù sao, hai người họ cũng là danh nhân lịch sử, anh hùng dân tộc, được đặt tên đường hẳn hoi.

Không sai!

Nguyễn Đông Thanh vinh dự gia nhập hàng ngũ "xuyên không" vào mười hôm trước.

Cuộc sống đời trước của gã cũng chẳng có gì đáng nói.

Mẹ mất sớm, cha bị bệnh nan y.

Hắn làm một công việc quèn 8 giờ đến 5 giờ về, dù làm thêm làm nếm đến 2-3 giờ sáng thì cũng không đủ trả tiền viện phí.

Cha hắn từng nhiều lần bị bọn ăn chặn từ thiện lừa tiền, nên có chết cũng không để Đông Thanh đi cầu xin lòng thương hại của xã hội.

Như ông ấy nói thì: "tao có chết cũng không để con tao bị gộp chung với đám súc vật đấy".

Nguyễn Đông Thanh có cố giải thích rằng mình chỉ cần minh bạch, không có ý định riêng thì chẳng ai nói được gì, nhưng ông cụ nhất quyết không nghe.

Bây giờ cha hắn đã không quá tỉnh táo, kích động ông ấy chỉ tổ khiến bệnh tình càng nghiêm trọng, thành thử hắn cũng không dám cãi cụ.

Cực chẳng đã, bí quá hóa liều, Nguyễn Đông Thanh vay nặng lãi.

Tiếc là đời không có hậu như phim, giải phẫu của cha hắn rơi vào con số 60% thất bại, mất trên giường mổ.

Mà hắn thì cũng chán nản chẳng muốn đi làm, chưa đến một tháng sau đã bị đám dân anh chị "khử".

Nguyễn Đông Thanh sau đó nhập vào một phú hộ cùng tên cùng họ.

Cha mẹ người này mất sớm, trong nhà không anh em, không vợ không thiếp.

Nắm trong tay một số tiền lớn, lại chẳng có chí hướng gì kinh khủng, Nguyễn Đông Thanh quyết định đời trước đã quá khổ, kiếp này muốn buông thả một kiếp người.

Muốn ăn cái gì thì ăn, chơi cái gì thì chơi.

Chẳng biết có phải quả báo hay không...

Gã vừa đến kỹ viện, định bỏ tiền nghe hát uống rượu một phen, thì đạp trúng miếng sàn gỗ mục, rơi thẳng vào phòng của hai vị vĩ nhân đang bàn đại sự.

Hơn nữa, chuyện đáng sợ hơn là, hắn rơi vào phòng đúng lúc Nguyễn Trãi vừa kể cho Lê Lợi nghe chân tướng cuộc chiến thành Đa Bang.

Nến đã cháy gần hết...

Nguyễn Đông Thanh cuối cùng không chịu nổi áp lực từ vĩ nhân, cổ hơi rụt lại, lí nhí hỏi:

"Bẩm hai ông, nếu... nếu... không còn gì nữa thì cho con lui trước."

Gã vừa chuyển eo, thì bả vai đã bị hai bàn tay cứng như sắt ghim xuống ghế.

Nguyễn Đông Thanh khẽ rít lên một cái, thầm hỏi chẳng biết người xưa dinh dưỡng không bằng bây giờ mà sao khỏe như thế.

Bấy giờ, Lê Lợi mới chậm rãi:

"Nhà ngươi nghe được bao nhiêu?"

"Bẩm ông... con..."

"Ông cái gì?

Ta già như thế à?

Gọi cậu!"

"Dạ.

Thưa... cậu... con... chưa nghe thấy gì ạ."

"Anh Lợi, tôi thấy tên này muốn sỉ nhục trí tuệ của ta, nên chém cho hả giận."

Nguyễn Trãi ngồi im nãy giờ đột nhiên lên tiếng, từng chữ như từng nhát dao thọc vào mạng sườn Nguyễn Đông Thanh.

Hắn quýnh cả lên, trong lòng lúc này chỉ có hai chữ "sống sót", vội vàng xua tay:

"Không phải!

Thưa cậu!

Con... con nghe thấy... hết rồi ạ!"

"Anh Lợi!

Cái chuyện ở Đa Bang không thể để người ngoài nghe được, bằng không cả tôi cả anh đều có họa máu chảy đầu rơi.

Chi bằng ta giết người bịt miệng."

Nguyễn Trãi chặn họng, mỗi chữ tựa một nhát dùi táng thùm thụp vào ngực Nguyễn Đông Thanh.

Lúc này, trong lòng hắn, lửa giận bắt đầu sôi lên, lấn át hết những kiêng dè, cả nể, tôn kính đối với vĩ nhân.

Nguyễn Đông Thanh thấy tai như ù đi, gằn lên từng chữ không kiểm soát:

"Mẹ nó!

Đường nào cũng ép ông đi chết đúng không!

Cái đ** con m* mày!"

Bốn chữ cuốn hắn phun ra tròn vành, rõ nét, âm vang, cứng cáp, có hồn, và vô cùng diễn cảm.

Nguyễn Đông Thanh trợn mắt lên, gườm gườm hai thiếu niên trước mặt.

Lúc này, hắn cũng mặc xác cái gọi là anh hùng dân tộc, vĩ nhân lịch sử.

Muốn giết hắn thì là kẻ thù.

"Hai đứa bay có bị thần kinh không?

Đéo ai đi nói chuyện đấy ở kỹ viện!

Bố tổ sư chúng mày bị lừa ỉa vào tai trái, não phọt mẹ nó ra tai phải à?"

Nguyễn Trãi ngẩn người, sau đó ho khan:

"Chửi hay lắm.

Nhưng sau này nên chửi văn hóa hơn chút."

Lê Lợi thì cười vang, xua tay:

"Tốt.

Mấy người lui xuống.

Bảo bà chủ dọn mấy món ngon lên đây."

Đoạn, gã tự rót cho mình một chén, bưng lên ngang mặt:

"Đã làm cậu phải sợ rồi.

Ta xin tự phạt một chén."

"Mỗ cố ý dọa cậu, song cũng bị cậu mắng cho một trận bằng toàn những từ... thối khắm, nên không tự phạt uống nữa."

Nguyễn Đông Thanh thấy hai vị vĩ nhân đột nhiên thay đổi thái độ, ngẩn cả người ra chẳng hiểu chuyện gì.

Chỉ biết xương trong người gã bây giờ như nhũn cả ra, cuối cùng trượt dài trên ghế.

Sau đó, gã nuốt khan một cái, rặn từng chữ:

"Hai người không sợ tôi nói chuyện ban nãy ra?"

"Chuyện gì?"

"Chân tướng thành Đa Bang thất thủ!"

Mắt Nguyễn Đông Thanh giật lên mấy cái, nói.

Nguyễn Trãi bèn cười.

Tiếng cười của gã còn khó nghe hơn tiếng khóc.

"Cần quái gì phải che che lấp lấp?

Chính cái bọn đấy chẳng nhẽ chúng nó không biết sao?

Biết...

Chúng biết cả.

Biết hết đấy.

Chẳng qua là bịt tai trộm chuông."

Đột nhiên, tay gã nắm chặt, đấm một đòn lên bàn nghe "rầm" một tiếng:

"Tiếc là trăm năm sau, hai trăm năm sau, người ta sẽ chỉ còn nghe được tiếng bọn chúng đóng cửa đánh rắm, tự ngửi tự khen của chúng mà thôi.

Để chúng ta sống, ép chúng ta bất lực chứng kiên mọi chuyện đi theo hướng bọn chúng muốn, có lẽ đối với bọn hắn lại càng hay ho.

Con mẹ nó!"

Nguyễn Đông Thanh chớp mắt liên hồi.

Vị thiếu niên trước mặt gã lúc này có máu có thịt, có nhiệt huyết, có căm phẫn, có bất lực, có tuyệt vọng.

Hoàn toàn không giống với thằng cha đạo đức rởm, chỉ biết cãi nhau suông chép trong sử sách.

Lê Lợi vỗ vai gã:

"Anh Trãi đã chọn tin tưởng ta, vậy ta nhất định sẽ làm đám người kia phải trả giá đắt!"

"Chúa công."

"Trãi."

"Chúa công."

"Trãi."

...

Nguyễn Đông Thanh quay đầu, chỉ cảm thấy trước mặt tình đồng chí bắn tung tóe.

Cũng may hắn không phải hủ, không thì tối nay chắc chắn sẽ có bảy bảy bốn chín cái kịch bản công thủ chát chát.

"Hai vị.

Hay là... chúng ta tiếp tục câu chuyện ban nãy được không?"

Nguyễn Đông Thanh ho khan, vội vàng xen vào.

Hắn chỉ sợ nếu không chen vào, cặp chúa công – thuộc hạ này sẽ nắm tay nhau dông dài đến tối.

Nguyễn Trãi hắng giọng một cái:

"Kể đến chỗ mỗ đây rời khỏi Thăng Long, trốn về phía nam.

Sau đó, mỗ lang bạt kì hồ, tình cờ đến đất Thiên Trường, náu nhờ Tái Mạnh Thường Trần Triệu Cơ.

Sau Cơ đón được một vị tông thất họ Trần, cũng là hoàng đế Ngỗi bây giờ."

"Kế thì sao?"

"

Sau này, mỗ mới hay, té ra Triệu Cơ là con cháu xa của hoàng tộc.

Y bụng có chí lớn, nhưng không dám tự lập.

Thế là, y bèn bỏ tiền nuôi học trò, nhà Nho, làm chuyện 'lấy ngàn vàng mua xương ngựa'.

Cái danh hào phóng như Mạnh Thường Quân tái thế dần lan truyền trong giới kẻ sĩ.

Mượn thế, Triệu Cơ ngấm ngầm nuôi quân, chiêu binh mãi mã."

Nguyễn Đông Thanh nghe Nguyễn Trãi kể đến đoạn này, thoáng rùng mình, miệng nói ra bảy chữ:

"Ép thiên tử hiệu lệnh quần hùng."

Gã nhìn sang, phát hiện người vừa lên tiếng đồng thời với mình chẳng ai khác ngoài Lê Lợi.

Cứ như Nguyễn Trãi kể, thì Trần Triệu Cơ muốn làm Tào Tháo!
 
Đông Thanh Kiếm
Dường Như Bị Nguyễn Trãi Bắt Cóc Lên Thuyền Giặc


Nguyễn Đông Thanh sau đó cũng bình tĩnh lại.

Hắn không phải dân quá chuyên sử, chẳng qua bố hắn thích nghe.

Thành ra, công việc của gã kể từ lúc cha ngã bệnh là ngồi bên giường, đọc quyển Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đã cũ rích cho cha nghe.

Có lẽ mưa dầm thấm đất, cũng có thể do giai đoạn Trần – Hồ – Lê được viết rất rõ, hoặc giả là do hắn sống hai kiếp người, nên Nguyễn Đông Thanh có thể nhớ rất rõ nội dung của những quyển sách sử này.

Tuy không nói là đọc ngược vanh vách như đọc truyện Kiều, nhưng ngoại trừ số năm, các sự kiện hắn vẫn nhớ được.

Hắn nhớ sau khi Trần Ngỗi – Giản Định đế – khởi sự ở Mô Độ thì bị quân Minh phát hiện.

Trương Phụ mang quân tới đánh, Ngỗi thua chạy về phía nam, được Đặng Tất hay tin mang người ra tiếp đón, dâng con gái cho.

Ngỗi bèn phong cho Tất làm quốc công, hai bên cùng tính chuyện khôi phục.

Sách sử chỉ chép đơn giản như vậy...

Sau khi Trương Phụ tấn công, Trần Triệu Cơ hoàn toàn biến mất, tựa như bốc hơi khỏi cõi đời.

Hoặc đơn giản hơn là bị "khử".

Nguyễn Trãi lim dim, nói:

"Trần Ngỗi cố tình để lộ tin tức, tính chuẩn thời gian phái Triệu Cơ ra ngoài chiêu binh.

Sau khi Cơ chết dưới gót sắt của quân Minh, bộ hạ như rắn mất đầu, Ngỗi bèn dẫn mọi người vào Nghệ An, cam đoan là có người tiếp đón.

Mà Đặng Tất, sớm đã được người mật báo, mới có thể vừa khéo tiếp ứng.

"Đặng Tất được chức quốc công, khống chế toàn bộ Hóa châu, thế không thể cản.

Trần Ngỗi thì diệt được một mối họa trong lòng, thu hàng được một số binh mã thân tín, mỗ cũng lẫn trong đám này, ăn nhờ ở chực.

Hai bên cùng được lợi, chỉ có Triệu Cơ là tiền mất tật mang."

Lê Lợi hỏi:

"Cũng vì lí do này mà anh không muốn phò tá Trần Ngỗi?"

"Trần Ngỗi làm việc tàn nhẫn, không từ thủ đoạn, có thể làm ra một phen sự nghiệp.

Tiếc là lòng dạ nhỏ hẹp, chứa không được người khác, khó mà đi được đến đích.

Mỗ thấy chỉ có thể giao du khách sáo, không thể trở thành bạn bè tâm giao, bằng không họa lớn ập xuống đầu."

Nguyễn Trãi đáp.

Nguyễn Đông Thanh nghe hai vị vĩ nhân nói chuyện, cái hiểu cái không, chỉ biết là chuyện này dường như lại là một bí mật hắn không nên nghe.

Lê Lợi hỏi:

"Vì cớ gì nói không dung được người khác?"

"Anh có biết Trần Nguyệt Hồ không?"

Nghe Nguyễn Trãi hỏi, Đông Thanh bèn lục tìm trong ký ức.

Gã nhớ vị "Trần Nguyệt Hồ" này cũng xưng vương, sau bị quân Minh bắt, từ lúc khởi sự đến khi thất bại chỉ để lại một dòng trong sách sử.

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, Lê Lợi cũng nói:

"Có nghe nói đến."

"Quân Minh vừa đánh tan nghĩa quân của y hôm trước.

Nhưng không giống Ngỗi hoàng đế của chúng ta, Nguyệt Hồ bị bắt, Trần Triệu Cơ của y là Phạm Chấn lại chạy thoát thân."

Nguyễn Trãi đặt chung trà lên, nhấp một ngụm, đoạn nói:

"Nếu tôi nói, mọi chuyện là do Trần Ngỗi âm thầm bắt liên lạc với một nhân vật lớn ở Bình Than, cố tình dồn Nguyệt Hồ vào chỗ chết thì sao?"

"Thế thì lạ thật.

Tôi nghe nói hoàng đế phái người thu nạp bộ hạ cũ của Nguyệt Hồ, lại bị quân Minh mai phục chặn đánh, thảm bại mà về."

"Người Minh vừa sang nước ta, không thạo địa lý các quận, các huyện.

Nay có thể 'xảo diệu' mai phục lính của Ngỗi, ngoại trừ có kẻ thông thạo đường ngang ngõ tắt hỗ trợ, ắt hẳn còn phải biết tuyến đường hành quân của Ngỗi mới được.

Mà người hội tụ đủ cả hai điều kiện này không nhiều."

"Ý của cụ... cậu là...

Trần Ngỗi bị vị nhân vật lớn kia chơi xỏ lá?"

Nguyễn Đông Thanh lắp bắp, kém chút thì gọi Nguyễn Trãi là cụ theo thói quen.

Gã dần dần nhớ lại một chuyện kì thú trong sử sách về Trần Nguyệt Hồ.

Nguyệt Hồ mang tiếng là xưng vương, lại chỉ để lại vỏn vẹn một dòng ngắn cũn trong sử sách.

Trái lại, hai kẻ dưới trướng là Phạm Chấn – người lập y làm chúa, tự xưng là "quân trung nghĩa" – và Bùi Bá Kỳ - tì tướng của Trần Khát Chân sang nhà Minh cầu viện – lại được viết một đoạn dài.

Đặc biệt là người sau, cơ hồ là chép lại hành trạng nửa đời người của y.

Từ chuyện chạy trốn sang nhà Minh, mượn điển cố Bao Tư nước Sở đánh bật lên sự "trung nghĩa" và "tài trí".

Lại dùng Trần Thiêm Bình làm đòn bẩy, hai bên so sánh, một đen một trắng, tựa hồ đều cố ý đánh bóng danh tiếng cho Bùi Bá Kỳ.

Lại cố tình nhấn mạnh gã khác với các quan lại khác đầu hàng Minh, không tham tán cho quân giặc, chỉ ở nhà riêng mà "thu nạp các quan lại cũ của nhà Trần sa cơ lỡ bước".

Cuối cùng, mới nửa hư nửa thực, nói Trần Nguyệt Hồ thực ra có Bùi Bá Kỳ chống lưng, mà họ Bùi đứng sau màn giật dây lại chỉ đơn giản là bị "bắt về phía bắc".

Từ đấy, một "Bùi Bá Kỳ" trung thành tuyệt đối với nhà Trần được ngòi bút của giới Nho sử đắp nặn hoàn mĩ.

Càng đáng nói hơn, là Bùi Bá Kỳ tự xưng "Nam triều trung nghĩa thần", Phạm Chấn cũng tự xưng là "trung nghĩa quân".

Hai chuyện này nói riêng ra thì chỉ là đôi bên cùng muốn chiếm lấy chính nghĩa về mình, bắt lấy "trung nghĩa" làm biển hiệu.

Nhưng đặt chung một chỗ lại khiến người ta không khỏi cảm thấy có chút quá trùng hợp.

Lúc còn ở hiện đại, có lẽ do cách biệt về thế hệ, nên Nguyễn Đông Thanh đọc những dòng này cũng chẳng cảm thấy gì.

Nhưng vừa rồi, được Nguyễn Trãi nhắc nhở, hắn mới giật mình nhận ra tựa hồ mỗi câu, mỗi chữ trong sách đều như đang cố ý tô son thếp vàng cho Bùi Bá Kỳ.

Nghĩ đến đây, Nguyễn Đông Thanh lại hỏi tiếp một câu:

"Vị nhân vật lớn kia có phải Bùi Bá Kỳ?"

"Cậu cũng biết người này?"

Nguyễn Trãi mở to mắt, con ngươi đảo như rang lạc nhìn từ đầu đến chân Nguyễn Đông Thanh, giống như muốn đánh giá lại vị "địa chủ không có chí lớn" trước mặt.

Nguyễn Đông Thanh gãi mũi, hỏi:

"Chẳng nhẽ người này không nổi danh?"

"Sau khi Trần Khát Chân ngộ hại, y lập tức trốn sang phương bắc, đến nay đã có bảy – tám năm chưa về.

Nếu không phải nhân vật trong sĩ lâm Bắc Hà thì cho dù là giao thiệp rộng rãi như anh Lợi đây quả thật khó mà nghe đến tên tuổi của y."

Nguyễn Trãi vừa nói, vừa rót trà cho Lê Lợi.

Sống lưng Đông Thanh lạnh buốt, cảm giác như vừa có một tảng đá lớn nện xuống đầu.

Gã biết là mình vừa ngáo ngơ, để lộ ra manh mối chuyện mình biết những thứ vượt thời đại.

Thế là, Đông Thanh hắng giọng một cái, nói lảng:

"Cậu... cậu quá coi thường tin tức chợ búa rồi.

Tôi.. tôi thường xuyên đi tới những nơi trăng gió, những việc này có nghe một hai."

Nguyễn Trãi khoát tay, tiếp:

"Quả có chuyện này.

Về sau, Bá Kỳ biết Ngỗi hận mình, bèn theo Trương Phụ về nước.

Mà đám quan lại cựu triều do y che chở cũng 'bị bắt' một cách vô cùng hợp lý."

Hai chữ "về nước" gã nói với giọng đầy mỉa mai, khích bác.

Trong đầu Nguyễn Đông Thanh bất giác hiện lên mấy chữ "làm đĩ còn muốn lập miêu trinh" khi nghe đến đoạn này.

Lúc này, một vài thuộc hạ của Lê Lợi từ bên ngoài đi vào, trên tay cầm mấy đĩa thức ăn.

Rau muống xào, canh tôm nấu bí, đậu phụ rán, đĩa thịt gà, khoanh giò tai, và một đĩa thịt dê xào.

Những món ăn vốn dĩ bình dân ở hiện đại, về thời này lại có giá cả hãi người.

Có lẽ do bị giữ lại kiểm tra độc tính, nên đại đa số món ăn đã bắt đầu nguội.

Lê Lợi tự gắp cho mình một đũa, nói:

"Nay gặp hai vị anh hùng ở đây, có một ít cơm quê, mạo muội mời khách, xin chớ trách là sơ sài."

Mỗi người nhấm nháp một chút, mỗi món một ít.

Nguyễn Đông Thanh không ăn quá nhiều, chủ yếu là do khẩu vị của gã bị gia vị hiện đại chiều hư, đến nay vẫn chưa thích ứng được với hương vị đồ ăn thời cổ.

Hắn nào biết được, hành vi của hắn rơi vào trong mắt hai thiếu niên kia lại có một ý nghĩa hoàn toàn khác.

Cuối cùng, sau chừng mười phút, một tên thị vệ lục tục chạy tới, kề miệng sát tai rì rầm gì đó với chủ.

Bấy giờ, Lê Lợi mới buông đũa:

"Không biết sau này bá hộ Nguyễn có ý định gì không?"

Nguyễn Đông Thanh chưa từng xưng tên do chẳng có cơ hội.

Không ngờ lúc này Lê Lợi lại lấy họ của hắn ra để tôn xưng.

Lờ mờ đoán được trong quãng thời gian này, hẳn là đám thị vệ của Lê Lợi ra ngoài hỏi thăm nghe ngóng chuyện của mình, Song, gã lại nghĩ dù sao mình cũng vô tình nghe trộm được bí mật động trời, chân tướng xấu xí đằng sau những con chữ của sách sử.

Hai người cẩn thận điều tra hắn cũng là chuyện dễ hiểu.

Thậm chí, chỉ cần Lê Lợi có thể tha hắn một mạng, cho dù điều tra mười tám đời tổ tông nhà hắn hắn cũng giơ hai tay đồng ý.

Nguyễn Đông Thanh bèn nói:

"Tôi chỉ có gia tài bạc vạn, chẳng có chí lớn.

Định sẽ đóng cửa chờ qua cơn loạn lạc này mà thôi.

Việc vinh hiển cửa nhà, trả nợ tang bồng hồ thỉ kia để cho con cháu đời sau đau đầu là được."

"Thời loạn lạc nhiễu nhương, giặc cướp như ong, chỉ sợ bá hộ khó mà bo bo giữ mình."

Lê Lợi im lặng, Nguyễn Trãi lại vô cùng tri kỉ nói một lời.

Nguyễn Đông Thanh lờ mờ đánh hơi được mùi không ổn, song vẫn nói:

"Tôi tài mọn chí hèn, biết thân biết phận, đâu dám có ý nghĩ gì không an phận?"

Nguyễn Trãi lại nói:

"Trần Ngỗi, Đặng Tất bây giờ đang dựng cờ tụ chúng, hội tụ các lộ nghĩa quân về quy phục dưới trướng họ Trần.

Người ăn mã nhai, mỗi ngày núi lở, lương tiền tiêu hao tính bằng đấu lớn.

Cho dù Tất khống chế Hóa châu chỉ e là cũng không nuôi nổi nhiều lính như vậy.

Đến lúc bí quá tung binh cướp bóc, thì bá hộ phải xử lý thế nào?"

"Ý của hai vị là..."

"Mỗ Lê Lợi, ở Lam Sơn có chút tiếng quèn, nay dẫn người đến tụ binh bắc phạt.

Nếu bá hộ theo ta, hẳn là có thể tránh được họa soát nhà diệt tộc."

Nguyễn Đông Thanh nhìn hai thiếu niên trước mặt.

Ngoài miệng không nói một lời, trong bụng điên cuồng chửi bậy.

"Không đúng!

Mẹ nó quá bất hợp lý!

Nguyễn Trãi nổi danh mắt to mày rậm thế mà bắt cóc ta lên thuyền giặc?"
 
Đông Thanh Kiếm
Sáu Cánh Quân Tụ Nghĩa


Cuối cùng, để giữ mạng, Nguyễn Đông Thanh đành phải nhận lời gia nhập vào quân của Lê Lợi.

Gã quyên hai trăm gia nô trong nhà làm lính, hơn một vạn bao thóc gạo mỗi bao chừng mười cân.

Lê Lợi bèn nhận hắn làm tham quân.

Ít ngày sau, Nguyễn Đông Thanh theo quân đi lên phía bắc hai mươi dặm.

Đặng Tất dựng lá cờ "khôi phục", mượn danh nghĩa Trần Ngỗi triệu tập các lộ binh mã, chuẩn bị ra bắc.

Ngoại trừ Lê Lợi, còn có mấy cánh quân của Bùi Quốc Hưng, Lê Văn Linh, Vũ Uy, Trịnh Khả lũ lượt kéo đến.

Người ngựa dưới tay ít thì vài trăm, nhiều thì mấy ngàn, đều là trai tráng khỏe mạnh.

Nguyễn Đông Thanh không biết cưỡi ngựa, cho dù là ngựa Việt chẳng to cao khỏe mạnh như ngựa chiến phương bắc thì gã cũng không điều khiển nổi.

Thế là, trong quân Lê Lợi xuất hiện một kẻ ăn mặc áo lụa theo kiểu bá hộ, ngồi trên một con lừa xám lững thững theo quân.

Gã tò mò nhìn về chung quanh, quan sát bốn vị vĩ nhân về sau sẽ tham gia hội thề Lũng Nhai.

Bùi Quốc Hưng vóc dáng cường tráng, cưỡi ngựa lông trắng, lưng đeo cung cứng, eo dắt ống tên.

Bên cạnh có một người cầm ngọn thương dài đứng hầu, trên tua thương buộc mấy đồng tiền vàng.

Lê Văn Linh ngồi một chiếc xe ngựa kéo, cằm để chòm râu dê.

Một tay y phẩy quạt lông, tay kia nắm một quả bầu đựng nước, tóc búi củ tỏi, trên đầu chít cái khăn vuông.

Nếu không phải đây là thời cổ đại, Nguyễn Đông Thanh còn tưởng có người cosplay Gia Cát Lượng.

Gã nhớ mang máng ngày bé lười học, cha từng kể, xưa có ông Lê Văn Linh viết văn trách mắng đuổi được cả hổ, để hắn học hành chăm chỉ.

Nguyễn Đông Thanh không tin, bảo hổ mà đọc được văn của người thì chả quá bằng cụ cao tằng tổ khảo con hổ tinh trong Tây Du Ký.

Gã lại hỏi sách nào viết, thì ông cụ lấy quyển Đại Nam Nhất Thống Chí ra, chỉ đúng phần nhân vật cho đọc.

Thành thử, Lê Văn Linh chẳng những là danh nhân trong sách sử, đối với Nguyễn Đông Thanh mà nói còn là "con nhà người ta".

Gã nuốt nước bọt một cái, không ngờ có ngày lại được gặp tận mắt "kẻ khiến bữa cơm trở nên chua chát" này.

Trịnh Khả là một người vóc dáng cao lớn, đứng dưới đất không cưỡi ngựa.

Trên mặt hắn có thích một chữ "nô", hẳn là dùng sắt nung ấn vào da, xung quanh còn rõ mồn một những lớp hằn.

Cũng vì vậy, gương mặt hắn có thêm mấy phần dữ tợn.

Hai bên cạnh cắm hai thanh kích dài, chỉ có một ngạnh cong.

Nguyễn Đông Thanh nhẩm nhanh cũng tính được một thanh cũng phải nặng cỡ hai mươi mấy cân.

Cuối cùng, Vũ Uy là một võ tướng mặc giáp sắt, ngồi ngựa cao, eo đeo kiếm.

Người hầu bên cạnh vác một thanh đao lớn đứng hầu, phần nối chạm trổ đầu rồng tinh xảo.

Ngựa của Vũ Uy cao lớn lạ thường, hẳn là thứ ngựa mua ở phía bắc về, một con đáng giá mấy cân vàng.

Giáp sắt của y cũng là loại đặc chế, giá một bộ bằng tiền thuế mười năm của một nhà làm nông bình thường.

Chí ít, Nguyễn Đông Thanh mà muốn mua thì dốc cả gia tài cũng chỉ được vài chục bộ.

Quân đội dưới trướng Vũ Uy là đông nhất, có đến ba ngàn người.

"Các vị anh hùng nể mặt Ngỗi tụ hội chỗ này, như tinh tú trên trời cùng hạ phàm, quả thật là một chuyện xứng đáng ghi vào sách sử."

Nguyễn Đông Thanh lần đầu tiên tiếp xúc với Trần Ngỗi.

Chỉ thấy vị Giản Định đế nhà Hậu Trần là một trung niên hơi lùn, người mập mập, mép để hai chòm râu.

Lúc nói chuyện mắt y lúc nào cũng híp lại thành hai hình trăng khuyết, trên mặt treo nụ cười tươi rói, khiến người ta vô thức cảm thấy kẻ này là một tên mập vô hại.

Bên trái lão là một trung niên cao lớn, mình mặc giáp sắt, đeo áo bào đỏ, eo dắt một thanh gươm dài.

Nguyễn Đông Thanh đoán đấy là Đặng Tất.

Bên phải là một người mặc áo vải nhà nho, tay cầm hốt, đầu đội mũ vải.

Cái kiểu ăn mặc sang chả ra sang, bần chả ra bần này lại khiến lão trở nên nổi bần bật, không thua kém gì hai người còn lại.

Nguyễn Đông Thanh nghĩ người này hẳn là một trong hai "nhà đầu tư" của Hậu Trần, Nguyễn Cảnh Chân.

Trần Ngỗi ở trên bình đài bắt đầu thao thao bất tuyệt, nói một trận này đánh kinh thế hãi tục, khoáng cổ tuyệt kim, về trước chưa ai thấy, sau này không ai bằng.

Mà những người tham dự đều ắt công thành danh toại, rạng rỡ môn phong, phong hầu bái tướng.

Nhìn chung, có từ gì to tát, có thành ngữ tục ngữ nào hoa mỹ là lão phun ra một lượt.

Cái miệng bắn liên tục, ngữ tốc còn hơn cả AK-47.

Đương nhiên, kẻ bán mình cho tư bản nửa thanh xuân như Nguyễn Đông Thanh thừa biết Trần Ngỗi đang đút bánh vẽ.

Gã lén bĩu môi, thầm nghĩ:

"Lưu danh sử sách?

Có lưu hay không cũng không đến lượt ông quyết định."

Nguyễn Đông Thanh đến từ đời sau, biết chuyện sáu cánh quân hội minh bắc phạt này căn bản không được chép lại.

Bấy giờ, Lê Lợi lại nói:

"Muôn tâu thánh thượng, kẻ hèn có chuyện muốn nói."

"Tướng quân là nghĩa sĩ phạt Ngô, cớ gì tự nhận là hèn kém?

Mau đứng lên.

Về sau không cần lễ nghi rườm rà đến vậy."

Trần Ngỗi vội vàng bước xuống đài, đưa tay nâng Lê Lợi dậy, lời nói chân thành.

Nguyễn Đông Thanh biết lão đang diễn, trong lúc nhàm chán, bèn nhìn lên bình đài.

Ánh mắt của hắn vô tình va phải ánh mắt sâu thăm thẳm, rét căm căm của Đặng Tất.

Gã giật mình một cái, chân vô thức thúc vào bụng lừa, làm nó kêu lên "ọoo" một cái.

Bầu không khí vô cùng hài hòa, tuyệt đối điện ảnh giữa hai người Trần Ngỗi, Lê Lợi bị một tiếng hú này phá tan chẳng còn một miếng.

Trần Ngỗi hơi biến sắc mặt, nhưng chỉ duy trì trong một giây, nụ cười đầy chuyên nghiệp lại trở về với lão.

Lão đỡ Lê Lợi, hỏi, cứ như chưa có chuyện gì xảy ra:

"Chẳng biết tráng sĩ có gì lo lắng?"

Lê Lợi nói:

"Chúng ta vì trung nghĩa mà dấy binh cần vương, tuy là không thẹn với lòng, nhưng cuối cùng cũng là việc danh không chính, ngôn không thuận.

Nay thánh thượng đã có chí hướng khôi phục cố đô Thăng Long, dựng lại lá cờ 'Sát Thát', chi bằng ban cho các lộ nghĩa quân một quan, nửa chức.

Có thế, chúng thần mới không bị đàm tiếu là loạn thần tặc tử, hào khí Đông A cháy mãi không ngừng."

Còn chưa kịp chờ Trần Ngỗi phản ứng, Đặng Tất đứng trên đài tụ tướng đã có ý kiến:

"Quan chức triều đình không phải chuyện đùa, há lại có thể trao nhận khơi khơi được?

Xin bệ hạ nghĩ lại."

"Đặng quốc công nói thế là muốn ép bọn tôi vào thế bất nghĩa rồi?"

"Tấc công chưa lập, đức không xứng vị, sao có thể nói bừa phong quan?

Tráng sĩ phải biết vô công bất thụ lộc, đừng lúc nào cũng nghĩ hưởng thụ mà quên chuyện cần vương báo quốc."

Hai bên đối chọi như nước với lửa, không ai nhường ai.

Lúc này, Nguyễn Đông Thanh đột nhiên lên tiếng:

"A.

Chúa công đừng nói nữa.

Đặng quốc công đã mở lời vàng ý ngọc, ai mà dám cãi lời?"

"Thất phu ở đâu tới, sao dám dùng lời lẽ yêu ma li gián quân thần chúng ta?"

"Nguyễn Đông Thanh, bá hộ vùng Lương Sơn, tự nhận là kẻ vô học thứ hai thiên hạ, xin được yết kiến quốc công."

Nguyễn Đông Thanh vận dụng hết chút văn nghệ văn gừng trong ruột, cúi đầu vái một vái.

Ba quân đều cười vang.

Trần Ngỗi bèn nói:

"Được rồi, quốc công hà tất chấp nhặt với một kẻ giàu xổi?

Chuyện tước phong ta tự có quyết đoán, ngài không cần nói nhiều nữa."

Đặng Tất hơi cúi đầu, không ai nhìn rõ biểu cảm trên gương mặt lão hiện tại:

"Thần xin nghe ý chỉ của thánh thượng."

Cuối cùng...

Trần Ngỗi phong thưởng các lộ nghĩa quân, Lê Lợi cũng nhận được chức Kim Ngô tướng quân của Hậu Trần.

Riêng Nguyễn Đông Thanh càng kỳ quái, được phong là Vô Học Thái Học Sinh.

Vừa trở về nơi đóng quân của Lam Sơn, Lê Lợi đã bá bả vai gã, ôm bụng cười:

"Được đấy.

Đời này ta lần đầu mới thấy một người tự nhận là 'vô học' thứ hai thiên hạ, lại còn nhận thẳng thắn như vậy."

Nguyễn Trãi lại nói:

"Hôm nay cậu đắc tội Đặng Tất, chỉ sợ chẳng mấy sẽ bị nhắm vào.

Sắp tới cần phải đề phòng cẩn thận."

Nguyễn Đông Thanh gãi đầu:

"Quả thật là không nhìn nổi cách thằng cha Đặng Tất kia nhảy như con choi choi, mới đánh liều một phen."

"Thật sao?

Chứ không phải là đoán được chức quan của họ Trần có tác dụng lớn với ta, nên mới liều mình hỗ trợ?"

Lê Lợi cười vang.

Nguyễn Đông Thanh khịt mũi, hỏi:

"Thưa cậu, kẻ vô học này làm gì có cái ánh mắt sắc sảo đến thế?"

Lê Lợi khoát tay, từ chối cho ý kiến, lại hỏi:

"Anh Trãi, thử nói xem vì cớ gì Đặng Tất lại phản ứng mạnh như vậy?

Chuyện ta đòi quan tước há chẳng phải rất bình thường sao?"

Nguyễn Đông Thanh cũng gật đầu:

"Chúa công tỏ rõ mình chỉ muốn một chức quan, không có dã tâm quá lớn.

Về lý mà nói, không phải nên khiến Đặng Tất yên tâm sử dụng hay sao?"

"Lần này chúng ta khéo quá hóa dở.

Chúa công giả ý tham quyền cố vị, khiến bọn họ quá yên tâm.

Thế là Trần Ngỗi nổi ý lôi kéo, định nâng đỡ chúa công thành một phe, dùng để cân bằng với thế lực của Đặng Tất.

Hành động này chọc giận Đặng quốc công."

Nguyễn Trãi nói.

"Xem ra vị Đặng quốc công này cũng không muốn phụ tá một vị hoàng đế không an phận."

Lê Lợi gật đầu, nói.

Mà Nguyễn Đông Thanh, lúc này ý nghĩ sớm đã bay tới những trang sử khô khan còn lưu truyền đời sau.

Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân quả thực là chết vì Trần Ngỗi nghe lời xúi giục của hoạn quan hay sao?

Hiện thực dường như khác xa cái lịch sử mà hắn biết, dòng chảy tháng năm cuộn cuộn sôi trào, cuốn tung lên đầy những bí mật bị nét bút Nho sử cố ý chôn vùi hàng trăm năm.

Đối mặt với đầy rẫy những điều chưa biết, Nguyễn Đông Thanh vô cùng bất an, tựa một con chuột chạy qua đường.

Đấy cũng là một phần lí do hắn quyết định dựa dẫm vào hai vị danh nhân để mà sinh tồn.
 
Đông Thanh Kiếm
Phá Quân Trảm Tướng


Cuối cùng, Lê Lợi xác định phương hướng kế tiếp của ba quân.

Cố tình giữ khoảng cách với Trần Ngỗi, ổn định Đặng Tất.

Lê Lợi mang năm trăm nghĩa binh, thêm hai trăm gia đinh của Nguyễn Đông Thanh cũng mới cả thảy bảy trăm mống.

Hơn nữa thiếu giáp, trang bị sơ sài.

Đi đấu với một Đặng Tất có cả Hóa Châu chống lưng quả thật không khác nào tự tìm đường chết.

Tối đó, Lê Lợi một mình đến gặp Đặng Tất.

Nguyễn Đông Thanh không đoán được hai người nói gì với nhau.

Lê Lợi trở về, không nói một câu, hắn cũng không tiện hỏi.

Song, có thể đoán được hẳn là nhận mình yếu thế, chịu nhục một phen.

Sáng ngày thứ hai, toàn quân xuất phát, Đặng Tất để Lê Lợi cầm ấn tiên phong, trực chỉ Diễn Châu.

Quân bắc phạt của Hậu Trần chia làm hai đạo, một lao hướng chính bắc tấn công châu trị Nha Nghi, một đánh về phía đông bắc, tấn công Phù Dung.

Đạo quân chính bắc do quân Lam Sơn làm tiên phong, phối hợp với quân của Trịnh Khả.

Đạo quân đông bắc thì do Vũ Uy dẫn đầu, Lê Văn Linh hỗ trợ.

Quân đội Hóa Châu của Đặng Tất thì ì ạch tiến đằng sau, quan sát thế cục.

Ngay cả thằng ất ơ sinh ra lớn lên trong thời bình như Nguyễn Đông Thanh còn biết Đặng Tất đang sử dụng bọn họ làm đao, làm kiếm, huống chi hai người Lê Lợi, Nguyễn Trãi?

Nhưng lúc này chuyện tiếp tế, hậu cần đều do Đặng Tất nắm trong tay, bọn họ gần như chẳng thể làm gì được.

Tối ngày đầu tiên, Trịnh Khả đến gặp ba người, phàn nàn hồi lâu.

Lê Lợi cũng chỉ ậm ừ đáp lại lấy lệ.

Cuối cùng Khả cả giận, mắng to một trận, ỉu xìu quay về doanh.

Đi gấp ba ngày, ba quân đã đến Nha Nghi.

Lê Lợi dừng ngựa, nheo mắt nhìn về phía xa.

Trước mặt bọn họ là một quãng ruộng thưa.

Bấy giờ đương tháng 12, vừa gặt vụ lúa mùa.

Những cánh đồng chia thành từng thửa đất tựa như các ô bàn cờ, bấy giờ đất nứt nẻ cả lên, không thấy một gốc rạ.

Ruộng không còn lúa, bốn bề phẳng phiu không giấu được người.

Xa xa, đã có thể thấy bóng cờ bay phần phật, tựa hồ là quân canh giữ Nha Nghi đang dàn trận chờ sẵn.

Nguyễn Đông Thanh thấy trước mặt cờ xí rợp trời, vũ khí như rừng, hiếu kỳ mở to hai mắt.

Trước đây đọc sử, động một cái là mấy vạn, chục vạn quân đánh nhau, khiến hắn hoàn toàn không có chút khái niệm nào về chiến tranh cổ đại.

Đến hôm trước, Đông Thanh vẫn cho là mấy ngàn quân hội chiến chẳng qua là vài trận đánh nhỏ, làm nền mà thôi.

Hôm nay tận mắt thấy cảnh cờ xí như rừng, giáo mác như măng, vô cùng chấn động.

Gã lại bất giác nghĩ, trận đánh con con đã hoành tráng như vậy, thì những đại chiến lớn như trận Như Nguyệt, trận Bình Lệ Nguyên còn đến mức nào?

Lúc này, Nguyễn Đông Thanh thậm chí có hơi tiếc.

Hắn là kiểu linh hồn xuyên qua thời không, không mang theo bất cứ thứ gì khác.

Nếu như lúc này có một cái máy quay, thậm chí một cái điện thoại cũng được, ghi hình lại trận chiến này, có lẽ có thể phục hưng phong trào làm phim dã sử cổ trang ở nước mình cũng không biết chừng.

Nghĩ đến đây, gã lại xua tay...

Ủy ban chuyên gia "đóng góp thì nhác, phê bình thì siêng" còn lù lù ra đấy, thì có mà phát triển bằng mắt.

Lê Lợi, Nguyễn Trãi hoàn toàn không biết hắn đang nghĩ tận đẩu tận đâu, đầu óc treo trên mây gió.

Hai người ra lệnh cho toàn quân dừng lại, phái dọ thám tỏa đi các nơi, vừa thám thính tình hình quân địch, vừa liên lạc với Trịnh Khả.

Quân đội Nha Nghi cũng phát hiện được bọn họ xuất hiện, bắt đầu hành quân về phía trước.

Chừng nửa ngày sau, hai bên đã dàn trận cách nhau khoảng ba trăm bước chân.

Lê Lợi cưỡi ngựa lên trước trận, hô to:

"Mỗ là Kim Ngô tướng quân, phụng thánh chỉ bắc phạt đánh đuổi giặc Ngô, khôi phục xã tắc.

Các ngươi vì sao lại trợ Trụ làm trái, cản bước quân ta?"

"Trần Ngỗi chẳng qua là một đứa con hoang, có phải giống rồng hay không còn chưa biết.

Lấy tư cách gì ra mà chỉ tay la hét?"

Một tướng tách khỏi đám người, buông lời dè bỉu.

Lê Lợi xách giáo, quát:

"Kẻ đến là ai, có dám xưng tên?"

"Mỗ chính là Trần Thúc Dao!

Ngươi mau bảo Ngỗi đến hàng, nể tình cùng họ, ta sẽ tha cho một mạng!"

"Nòi giống vua Trần xăm hai chữ Sát Thát lên cánh tay, thà làm ma nước Nam chẳng làm vua phương Bắc.

Ngươi vì sợ cái dâm uy Trương Phụ mà luồn cúi, vì khúc xương thối của Chu Đệ mà khom lưng, có mặt mũi gì mà sủa loạn?"

Nói đoạn phạt ngang ngọn giáo, quát:

"Vương hầu chẳng phải trời sinh, hào khí Đông A không chảy trong huyết quản, mà là ý chí!

Nay ta điếu dân phạt nghịch, tướng giặc còn chưa chịu hàng?"

"Nhãi ranh chỉ giỏi miệng lưỡi, không biết võ nghệ thế nào?"

Trần Thúc Dao tế ngựa, lao đến trước trận, ngọn thương trong tay đâm về phía địch.

Lê Lợi kẹp chặt bụng ngựa, thúc cương phi nhanh, chờ đón thế công.

Một thương của Trần Thúc Dao đâm sượt qua chùm tua trên đầu mũ giáp, Mà giáo của Lê Lợi thì hất trúng vào giáp vai của đối thủ, cắt đứt dây buộc.

Miếng giáp đúc bằng sắt rơi xuống đất nghe "bịch" một cái.

Lính lác đứng xem đều kêu là "hay", sĩ khí quân Lam Sơn lên như diều gặp gió.

Trần Thúc Dao tựa hồ bị chọc giận, lại đâm một đòn.

Lê Lợi lấy giáo gạt đi, trở tay dùng cán thương gõ một cái vào mũ giáp của đối thủ.

Hai ngựa tách nhau ra, Trần Thúc Dao chật vật mười phần, Lê Lợi nhàn nhã thong dong.

Tiếng hò reo cổ vũ của quân Lam Sơn rúng động cả quãng đồng.

Nguyễn Đông Thanh nhìn đấu tướng sướng rơn, vỗ tay đôm đốp.

Ngày xưa xem Thủy Hử, Tam Quốc trên ti vi, hắn thích nhất là trường đoạn võ tướng hai bên xáp ngựa vào, vũ khí va chạm, rong ruổi phân cao thấp quanh chiến trường.

Bấy giờ, được làm đương sự, xem biểu diễn trực tiếp, gã bèn lục tục thúc lừa đến hỏi Nguyễn Trãi:

"Trước khi đánh nhất định có cảnh đấu tướng sao?"

"Nếu quân lính đủ tinh nhuệ thì đúng là không cần."

Hai người vừa trao đổi một câu, thì trước trận, hai vị tướng cũng xáp lại đánh hiệp thứ hai.

Lần này Trần Thúc Dao đã nổi giận, dồn sức cả người lẫn ngựa, đâm một thương thật lực.

Lê Lợi nhắm chuẩn thời cơ, tóm lấy thân thương, sau đó tung mình nhảy sang.

Vai hắn huých vào ngực đối thủ, hất tung Trần Thúc Dao xuống ngựa, ngọn giáo trong tay nhắm chuẩn thời cơ tung ra một đòn đoạt mạng.

Máu phun ra đến mấy chục phân, đầu của Trần Thúc Dao bị cắt lìa một cách gọn ghẽ, treo lên đầu ngọn giáo.

Lê Lợi đoạt ngựa địch, tay nâng cao ngọn giáo gắn đầu người, miệng quát:

"Toàn quân xung kích!"

Nguyễn Đông Thanh quay đầu nôn ọe, binh lính sau lưng đã vọt qua con lừa của hắn, nhao nhao xông về phía địch.

Sĩ tốt Lam Sơn do Lê Lợi dẫn theo chí ít còn có chương có pháp, có trận có thế.

Còn hai trăm gia đinh do Nguyễn Đông Thanh cung cấp bấy giờ đã hỗn loạn, la ó ầm ĩ.

Nguyễn Trãi để ngựa bước chậm, vừa lấy cành cây vỗ vỗ vào lưng Đông Thanh, vừa giải thích:

"Đột tướng giao phong trước trận, thắng có thể chấn hưng sĩ khí toàn quân, biến nông dân thành hổ sói.

Dân binh ít huấn luyện, kỷ luật không nghiêm, một khi mất tướng thì như một đám bèo không rễ.

Thế nên, chiến tranh quy mô càng nhỏ lẻ, trình độ binh lính càng thấp, giá trị của đột tướng lại càng lớn."

"Đi thôi.

Nôn xong rồi thì cùng mỗ đi thu hàng quân giặc."

Chuyện Nguyễn Đông Thanh nôn mửa trước ba quân trở thành trò cười trong quân Lam Sơn.

Lê Lợi thấy vậy, bèn giao cho hắn nhiệm vụ hỗ trợ Nguyễn Trãi kiểm kê chiến lợi phẩm, tổng kết thương vong.

Lần này hai bên giao chiến, quân Lam Sơn đại thắng.

Tướng địch Trần Thúc Dao bỏ mạng, quân Nha Nghi trận vong ba trăm người, bị bắt một ngàn người.

Tổng cộng tịch thu được mười bộ giáp da, một bộ giáp sắt, ba ngọn giáo, tám trăm thanh đao, tám trăm khiên gỗ, hai trăm cây cung, hơn ngàn mũi tên.

Quân Lam Sơn chỉ có mười người bị thương, gia đinh của Nguyễn Đông Thanh chết hai mươi người, sáu mươi người bị thương nhẹ.

Nguyễn Đông Thanh lại phát hiện trong số ba trăm binh sĩ "tử vong" của Nha Nghi thì chỉ có số ít là do đao kiếm, chiếm chưa đến một phần tư.

Phần lớn là tử thương do tự dẫm đạp, dày xéo lẫn nhau mà chết.

Cũng có nghĩa...

Hơn một ngàn ba trăm người, mới thiệt hại chưa đến một trăm người đã vỡ trận, dày xéo nhau bỏ chạy.

Nếu không phải tự mình chứng kiến, tự mình kiểm tra, có lẽ chính gã cũng không tin trên đời có chuyện nực cười đến vậy.

Lúc này, Nguyễn Đông Thanh bắt đầu hiểu cái gì gọi là "binh bại như núi đổ" vẫn đọc được trong sách.

Nửa ngày sau, giám quân của Đặng Tất đến.

Hắn kiểm tra một lượt, tuyên bố là quân Hậu Trần chém ba ngàn đầu người, bắt một vạn tù binh.

Trong đó có phản thần Trần Thúc Dao và ba trăm thân tín.

Nguyễn Đông Thanh nghe mà chỉ biết chửi mẹ.

Hắn đoán được chắc chắn sẽ có chuyện nói quá chiến công, tự thổi phồng phe mình, nhưng không ngờ giám quân Hậu Trần lại thổi một phát x10 cả thương vong lẫn chiến quả.

Dân gian bảo nói dối như Cuội, rõ ràng là chưa gặp cái đám giám quân này bao giờ.
 
Đông Thanh Kiếm
Chiếm Nha Nghi, Vô Tình Gặp Đồng Hương


Sáng hôm sau, quân Lam Sơn hội hợp với quân của Trịnh Khả, vào chiếm Nha Nghi.

Dân binh trong quận đều bị Trần Thúc Dao kéo lên chiến trường, nay cả huyện trống rỗng.

Lê Lợi kéo quân vào, đám kẻ lại đã chờ sẵn ngoài đường, cúi đầu dâng sổ sách thuế ruộng.

Nguyễn Trãi khuyên Lê Lợi cho bọn hắn giữ chức cũ, sau đó ba người nhanh chóng tiến về phủ nhà họ Trần.

Ngoài cửa Trần phủ đang huyên náo ầm ĩ.

Một đám tiểu tốt đứng chen chúc trước cửa, la ó kêu gào.

Bên trong thỉnh thoảng lại vọng ra tiếng kêu la, tiếng đổ vỡ, tựa như là có người đang đánh nhau.

Lê Lợi tung mình xuống ngựa, Nguyễn Trãi ưu nhã hạ mã, duy chỉ có Nguyễn Đông Thanh là lục tục mãi mới lăn xuống được khỏi lưng lừa.

Hai người trước khí độ lạ thường, người sau như thằng dở hơi, tổ hợp kì quái tựa như mỹ nam quân đội và tài tử điện ảnh cùng dắt một con husky, vô cùng bắt mắt.

Lê Lợi xông vào trước nhất, ngặt nỗi cửa chen đầy người, không tiến vào được.

Gã bèn nhún mình, phóng một cái vút lên đầu tường, nhảy vào trong sân.

Nguyễn Đông Thanh đứng sau nhìn trố cả mắt.

Tường bao của Trần Phủ cao phải hơn hai mét, thế mà Lê Lợi phóng mình một cái là nhảy qua, siêu sao NBA cùng lắm cũng chỉ đến thế mà thôi.

Lúc này, hắn bắt đầu nghi ngờ liệu có phải mình nơi này là tiểu thuyết võ hiệp hay không, chứ làm quái gì có tiểu thuyết lịch sử nào nó hư cấu đến mức này?

Nguyễn Trãi bình tĩnh bắt một tên lính đứng gần đó lại, hỏi:

"Bên trong có chuyện gì?"

Gã này không phải quân lính Lam Sơn, nhưng thấy Nguyễn Trãi giơ tấm lệnh bài của Lê Lợi, thì cũng không dám ăn nói xấc láo.

"Bẩm cậu, chúng con vâng lệnh Trịnh tướng quân đến đây bắt dư đảng bọn phản thần, thế nhưng trong nhà có một con bé rất hung dữ, mấy người vây đánh cũng không thắng.

Thế nên chỉ đành vây chặt cửa phủ lại, chờ tướng quân đến."

Gã này hẳn là ngày xưa có đi học, biết chút chữ nghĩa, ăn nói cũng hoa mỹ hơn lính lác bình thường.

Đám lính lác thấy có nhân vật lớn đến, vội vàng tránh đường cho hai người Nguyễn Trãi, Đông Thanh bước vào trong sân.

Bấy giờ, trong sân có mười ba người đang quỳ gối run rẩy, toàn bộ đều là phụ nữ và người già.

Trong đó, vài người đầu tóc xõa tung, trên đất còn lưa thưa những lọn tóc dính cả ít máu, hẳn là từng có kẻ thô bạo nắm tóc họ mà lôi đi.

Trong sân, Lê Lợi đang lấy tay không giao đấu với một thiếu nữ.

Cô nàng này tóc buộc đuôi ngựa, vóc người rất cao, ra tay vô cùng dứt khoát.

Gương mặt không phải rất xinh đẹp, nhưng giữa hai lông mày lại có một loại khí chất đặc biệt: anh khí.

Thành thử, mỗi cái đưa tay nhấc chân, đều có một loại dáng vẻ oai phong hào hùng, nhưng lại không mất uyển chuyển nữ tính.

Lê Lợi cùng cô nàng đánh mười chiêu, tạm thời ngang tay.

Song càng đánh lâu, ưu thế sức mạnh của Lê Lợi càng thể hiện rõ.

Đến chiêu thứ hai mươi, cô gái nọ vì mỏi mệt, bước hụt một bước.

Lê Lợi chớp thời cơ dùng chân quét một cái, đánh ngã cô nàng, kế lập tức rút gươm gác vào cổ, lúc này cô nàng mới chịu thua.

Người già, phụ nữ trong sân thấy thiếu nữ thua trận, đều kêu một tiếng.

Bà cụ già nhất thậm chí bắt đầu dập đầu mà vái:

"Tướng quân xin mở lượng hải hà, dưới đao giữ người tha cho con bé.

Nếu muốn đầu người lập công dùng của đám người già chúng ta là được rồi."

"Bà!

Không cần phải cầu xin đám người này."

Lê Lợi hỏi:

"Nàng này võ nghệ rất khá, chiêu số lạ kì, ta chưa thấy bao giờ.

Không biết tên họ là gì, sư thừa nơi nào?"

Cô nàng hứ một tiếng, không thèm đáp.

Bà cụ tinh đời tựa hồ nghĩ đến một khả năng nào đó, vội vàng cười mà rằng:

"Cháu nó tên Yên Chi, cháu ruột của bà cụ này.

Ta có một tên con hư là Thúc Dao.

Yên Chi từ bé chưa từng ra khỏi cửa, cũng chưa theo học ai.

Những chiêu thức này chắc là nó tự sáng tạo ra.

Nếu không phải hôm nay có nạn này, trên dưới Trần phủ có lẽ đều không biết nó có võ công."

Lê Lợi giật mình, chặc lưỡi tấm tắc:

"Thật là kỳ tài võ học."

Nguyễn Đông Thanh lắc lư bước tới:

"Chúa công, để mỗ nói mấy câu với vị tiểu thư này có được không?"

"Chẳng nhẽ bá hộ Nguyễn thích nàng ta?"

"Nào dám trèo cao.

Chỉ là mỗ tự biết mình sức trói gà không chặt, nay bị một cặp chủ - thần vô liêm sỉ bắt cóc lên thuyền giặc, nên muốn tìm một hộ vệ.

Sau này lên chiến trường cũng có thể giữ được cái mạng nhỏ bé này."

Nguyễn Đông Thanh cúi đầu một cái, sau đó lại thở dài:

"Số ta quá vất vả.

Đang yên đang lành ôm gia tài bạc vạn hưởng phước, chẳng hiểu thế nào lại gặp đám buôn người Lam Sơn các người."

Nguyễn Đông Thanh biết Lê Lợi rất để ý, giúp đỡ hắn.

Biết hắn sợ thấy cảnh máu chảy đầu rơi, chưa từng lên chiến trường, bèn an bài cho một chức kiểm kê chiến quả, tổng kết thương vong.

Đây là một chức quan văn, công việc nhàn hạ, lại có nhiều chỗ để hí hoáy vớt mỡ.

Chiến công của mỗi một binh lính là do hắn và Nguyễn Trãi chép, cũng đồng nghĩa quan lộ của bọn họ nằm trong tay gã.

Chuyện xấu của Nguyễn Đông Thanh truyền khắp ba quân, ngoại trừ quả thật là hắn mất mặt, trong đó còn có yếu tố ghen tị.

Thành thử, sau chuyện ngày hôm qua, Nguyễn Đông Thanh bắt đầu thoải mái hơn khi ở chung với Lê Lợi, Nguyễn Trãi.

Gã bắt đầu nói đùa, không còn quá kiêng kị thân phận danh nhân lịch sử, anh hùng dân tộc của hai người bọn họ nữa.

Lê Lợi cười hềnh hệch:

"Đành chịu thôi.

Lam Sơn ta nghèo, mặt không dày một chút sao có thể bắt cóc được người khác về giúp đỡ?

Được rồi.

Bá hộ Nguyễn muốn nói chuyện riêng với cô Trần, ta không tiện can thiệp.

Chỉ là... nàng ta võ nghệ không tầm thường, vì để bảo đảm an toàn, vẫn xin cảm phiền cụ bà đi với ta một lúc."

"Tên kia, ngươi muốn làm gì?"

"Cô yên tâm.

Chỉ cần người bạn này của ta không bị làm sao, ta cũng sẽ để cụ bà bình yên về với cô."

Lê Lợi nói đến chỗ này, chợt nghiêm mặt, hạ giọng:

"Cô Trần, ta đang thông báo cho cô biết, chứ không phải thương lượng.

Cô bây giờ là người nhà kẻ bại trận, con gái của kẻ phản tặc, càng không có tư cách khua môi múa mép với ta.

Hiểu chưa?"

Trần Yên Chi nghiến răng, trợn mắt không phục, song cũng không nói gì nữa.

Thê thiếp, người già khác trong Trần phủ cũng thức thời lui ra góc vườn, chừa không gian cho hai người Nguyễn Đông Thanh.

Bọn họ sống trong nhung lụa đã quen, vừa trông thấy binh sĩ cầm đao, kiếm là lá gan đã bể tan tành, nào dám nghĩ đến chuyện bắt Nguyễn Đông Thanh làm con tin?

Nguyễn Đông Thanh ngồi xổm trước mặt Trần Yên Chi, nói:

"Năm điều Bác Hồ dạy!"

"Hằng đẳng thức đáng nhớ?"

"Những lời lẽ đê tiện như vậy cũng nói ra được sao?"

"Trông anh cũng dâm đãng lắm mà."

Trần Yên Chi nói xong, phì cười:

"Đồng hương?"

"Đồng hương."

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, đáp.

Trần Yên Chi hỏi:

"Sao anh biết tôi cũng từ hiện đại trở về đây?"

"Mẹ trẻ, mẹ thử đoán xem năm 1407 có bao nhiêu người biết đánh cả chiêu thức của muay thái, karate, taekwondo, vovinam?

Lại còn vô sỉ tự nhận là mình sáng tạo nữa."

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng:

"Tôi có cơ sở nghi ngờ cô đang sỉ nhục trí thông minh của tôi."

Trần Yên Chi bật cười, lại hỏi:

"Đúng.

Bây giờ là thời nào?

Sắp có chuyện gì xảy ra?"

"Cô mù sử à?"

"Tôi... nhớ sự kiện, không nhớ số năm cụ thể."

Nguyễn Đông Thanh nghe Trần Yên Chi nói, cũng gật đầu đồng tình.

Dù sao, gã vì chiều người cha mắc bệnh, đọc sách sử nhiều hơn người thường vài lần, xem như là trường hợp cá biệt.

Đổi lại một người cùng tuổi khác, có mấy ai lại rỗi hơi rửng mỡ đi đọc dăm ba quyển sách như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, hoặc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư?

Nếu chỉ học chương trình phổ thông, đương nhiên là không thể nào biết hai nhân vật quèn chẳng để lại nổi hai dòng trong sách sử như Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Dao.

Nguyễn Đông Thanh cười toe toét:

"Cô biết mình vừa đánh nhau với ai không?"

"Cái cậu thiếu niên đen nhẻm ấy hả?

Chẳng có nhẽ là Mai Hắc Đế?"

"Cũng gần đúng, cùng là anh hùng dân tộc với nhau cả.

Lê Thái Tổ - Lê Lợi.

Ngoài cửa còn có cụ Nguyễn Trãi đang đợi."

"Sư phụ, xin người hãy dạy con bí kíp ôm đùi!"

Trần Yên Chi giả vờ cúi rạp đầu, nói.

Hai người đùa cợt một hồi, cô nàng mới hỏi:

"Bây giờ chắc là thuộc Minh, vậy còn cách khởi nghĩa Lam Sơn bao lâu?"

"Tôi phục cô luôn.

Cha cô là tông thất nhà Trần đầu hàng quân Minh, thế mà cô chẳng biết chuyện gì cả?

Khai thật đi, cô là người trong bao đúng không?"

"Đề nghị bộ trưởng trả lời đúng câu hỏi của dân."

"Thôi được rồi.

Bây giờ là năm 1407, sang tháng là 1408.

Sau 8 năm, Bình Định vương Lê Lợi sẽ mở hội thề Lũng Nhai.

Thời thuộc Minh còn kéo dài 20 năm nữa cơ.

Nhưng trước đó, nước ta cũng không hẳn là thái bình.

Còn có nhà Hậu Trần kéo dài 7 năm nữa."

Nguyễn Đông Thanh gãi mũi, thầm nghĩ tính ra nước Đại Việt dưới thời thuộc Minh chỉ thực sự yên tĩnh hai năm.

Hai năm sau khi Hậu Trần thất bại, Lê Lợi đã bắt đầu trù tính chuyện dấy nghĩa, cùng mười mấy người mở hội thề Lũng Nhai.

Mười mấy người đàn ông cùng thề đánh giặc ngoại xâm, ngày xưa đọc trong sách sử không cảm thấy gì.

Bây giờ tám chín phần mười hắn sẽ có một chân tham dự sự kiện này, bất giác lại cảm thấy có hơi trung nhị.
 
Đông Thanh Kiếm
Trịnh Khả Múa Kích Đâm Lê Lợi, Đặng Dung Rút Đao Cướp Lương Thảo


Trả lời vấn đề của Trần Yên Chi, Nguyễn Đông Thanh cũng vội vàng hỏi vấn đề hắn thắc mắc bấy lâu.

Thế giới này rốt cuộc có phải thế giới võ hiệp hay không.

Hoặc tệ hơn, tiên hiệp, huyền huyễn, hay lịch sử thần quái như trong Phong Thần Diễn Nghĩa.

Gã bây giờ leo được lên thuyền Lam Sơn, chỉ cần mọi việc đi đúng phương hướng phát triển của lịch sử, hắn lại bo bo giữ mình, hẳn là có thể sống đến sau cùng.

Thế nhưng, nếu thế giới này không bình thường, mấy năm nữa đột nhiên phọt ra một tên tu tiên, dùng một phép đóng băng mấy vạn quân như trong Phong Thần Diễn Nghĩa thì Nguyễn Đông Thanh chẳng biết khóc cho ai nghe.

Thành thử, để cho yên tâm, hắn nhất định phải hiểu bản chất của thế giới này.

Trần Yên Chi nói thế giới này dường như tồn tại một thứ sức mạnh gần giống nội lực.

Thế nhưng, cùng lắm chỉ có thể giúp võ tướng làm được những việc trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, tỉ như mặc giáp nặng cầm đại đao bốn mươi cân, giương cung bắn trúng nhánh nhỏ của phương thiên họa kích mà thôi.

Cuối cùng, hai người mang bí mật của đời sau bắt tay hợp tác...

Nguyễn Đông Thanh giúp Trần Yên Chi xóa bỏ cái mác "hậu duệ của phản thần", leo lên con thuyền Lam Sơn đang rục rịch dương buồm.

Đổi lại, Trần Yên Chi đi theo làm bảo kê cho hắn.

Hai người đều đạt được mục đích riêng, hài lòng gật đầu.

Đương nhiên, vì để tránh lộ sơ hở, khi có người khác Trần Yên Chi phải gọi Nguyễn Đông Thanh bằng "cậu", xưng "con".

Cũng không phải Nguyễn Đông Thanh có sở thích quái dị, muốn bắt con gái nhà người ta tự xưng kẻ hầu người hạ, gọi hắn bằng cậu bằng ông.

Chẳng qua là lần trước gã "công nghệ var" với Đặng Tất, còn đang bị người ta ghim.

Nếu như sơ hở, để tay quốc công mượn chuyện này chụp cho hắn cái mũ "cấu kết với Trần Thúc Dao" thì đầu của hắn cũng phải đổi địa chỉ.

Lê Lợi nhận người nhà Trần Thúc Dao làm tù binh, phân Trần Yên Chi đến làm thị vệ của Nguyễn Đông Thanh.

Lại dùng "Nguyễn bá hộ cho lương cho người, không thể không nể mặt" dằn chuyện này xuống.

Giám quân của Đặng Tất chỉ bảo sẽ thưa thật với quốc công, Trịnh Khả lại hậm hực không vui.

Người của hắn vây Trần phủ trước, công lao bắt sống người nhà của Trần Thúc Dao vốn là của hắn.

Lê Lợi chém tướng đã lập công lớn, bây giờ còn cướp người của hắn, quả thật là "ăn giày ăn tất ăn cả đất xung quanh", khiến gã không tài nào nén nổi giận.

Thế là, sáng hôm sau, Trịnh Khả tay xách hai thanh kích dài, chạy đến chỗ Lê Lợi đòi đấu tay đôi.

Chỗ Lê Lợi đang ở là một phủ lớn, làm theo kiểu chữ công, nhà trước năm gian, nhà sau năm gian, kết nối với nhau bằng ống muống.

Chỗ này vốn là nhà của một bá hộ lớn ở Nha Nghi, song đã sớm ôm của bỏ chạy về phía bắc.

Quân Lam Sơn bèn trưng dụng chỗ này làm nơi ở tạm.

Trịnh Khả vừa bước vào, đã thấy bốn người Nguyễn Đông Thanh, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Trần Yên Chi tụ tập trong sân.

Lê Lợi cầm kiếm luyện võ, cởi trần áo, mồ hôi lóng lánh phản chiếu dưới nắng.

Nguyễn Trãi nâng bút làm thơ, bên cạnh để một ấm trà nóng.

Hương trà bay phấp phơ, quện vào lòng người thấm từng tấc từng tấc một.

Nguyễn Đông Thanh văn dốt, võ nát, lại càng không biết cái thú thơ cờ đàn vẽ của người xưa.

Gã bấy giờ đang ôm quyển sổ nhỏ, nhận mặt từng chữ Hán một.

Trần Yên Chi đã nhận lời dạy thêm cho hắn hôm qua, lúc này chính đang yên tĩnh đứng ở một bên, giải thích cho Đông Thanh nghĩa của những chữ tượng hình ngoằn ngoèo khó đọc.

Hôm qua, hai người trao đổi quá trình "xuyên không" với nhau, Nguyễn Đông Thanh mới biết hóa ra Trần Yên Chi còn là tiền bối của mình.

Cô nàng vượt qua thời không từ hơn mười năm trước, linh hồn nhập vào tiểu thư Trần phủ Trần Yên Chi vừa mới qua đời vì kiết lỵ.

Ban đầu, cũng như bao thanh niên cùng tuổi khác, một chữ Hán bẻ đôi cô nàng cũng không đọc được.

Nhưng Trần Thúc Dao là tông thất nhà Trần, quan to một phương, tiểu thư nhà gã tự nhiên là được đọc sách học chữ từ bé.

Trịnh Khả lúc này xông vào, phá nát bầu không khí yên bình trong sân.

Gã chĩa mũi kích về phía Lê Lợi, quát:

"Họ Lê, cớ gì làm cái chuyện đoạt công lao của kẻ khác?

Hôm nay ắt phải để ngươi nếm thử ngọn kích của ta."

Lê Lợi trông thấy Trịnh Khả hung hãn, bèn nhảy phốc ra, rút gươm đón đánh.

Trịnh Khả múa kích vù vù, xổ tới mà đâm.

Hai ngọn đơn nhận kích dài phải gần hai mét trong tay gã múa tít mù, tưởng như là que củi.

Mũi kích phản chiếu ánh nắng sáng lóa, chói mắt.

Lê Lợi lách giữa hai thanh kích, đoạn giơ tay vung gươm, chặt mạnh một cái.

Lưỡi gươm sắc bén chém xéo xuống, phạt đứt non nửa lưỡi kích bên phải.

Vết cắt ngọt xớt như vừa chém qua thân chuối.

Nửa lưỡi kích rơi trên đất hóa ra là rỗng bên trong, làm bằng lá thiếc, chỉ phủ một lớp sắt mỏng bên ngoài.

Loại vũ khí này cùng lắm là dùng trên sân khấu tuồng chèo kịch hát, không thể nào lên chiến trường được.

Nguyễn Trãi đang ngồi xem phun ngụm trà đang uống ra ngoài.

Nguyễn Đông Thanh và Trần Yên Chi trố mắt nhìn đối phương, hoàn toàn không ngờ tới người anh em Trịnh Khả này hóa ra lại là Cừu Thiên Trượng.

Trịnh Khả đỏ mặt, thế nhưng rất nhanh đã chỉ vào mặt Lê Lợi mà quát to:

"Lê Lợi!

Ngươi thật sự là âm hiểm!

Chẳng những cướp công còn cho người tráo cặp kích bốn mươi cân một thanh của ta!"

Lê Lợi giận quá bật cười, nói:

"Trịnh Khả phải không?

Tốt.

Ngươi không có kích thì ta bỏ đao, chúng ta đánh tay không cũng được.

Hôm nay không đánh ngươi bới đất tìm răng từ mai ta theo họ Trịnh!"

Trịnh Khả ưỡn ngực, nói:

"Đấu tay không chẳng phải sở trường của ta!

Ngươi chờ đấy!

Ngày khác ta tìm thợ rèn, đánh lại một cặp kích mới, sẽ trở lại đâm thủng ngươi một vạn lần!"

Nói rồi cụp đuôi bỏ chạy, không dám ngoái lại nhìn lấy một cái.

Nguyễn Trãi lắc đầu, gọi với theo:

"Không hổ là 'hình rồng mắt hổ, khỏe nhất ba quân, ngày sau tất cầm cờ mao tiết, đuổi giặc Ngô đi tất là quân.

Phải giết ngay đi kẻo lo ngại về sau'."

Ba người đều không hiểu gã nói gì, chỉ có Trịnh Khả là như Tôn Ngộ Không bị sư phụ niệm chú Khẩn Cô, ôm đầu chạy càng nhanh.

Ngày thứ ba sau khi quân Lam Sơn chiếm Nha Nghi, binh mã Hậu Trần mới chậm rãi đi tới.

Lê Lợi dậy từ sớm, cùng Nguyễn Trãi kéo Đông Thanh ra tận cửa thành đón quân bạn.

Đương nhiên, thực tế giống chó săn ra cửa vẫy đuôi mừng chủ hơn, nhưng cả ba đều ăn ý không nói toạc ra chuyện này.

Quân Hậu Trần như một dòng lũ kéo tới, quân số nhẩm tính vào khoảng hai ngàn người.

Đi sau cùng là một nhóm hai trăm binh sĩ mặc giáp da, bên vai buộc mảnh vải đỏ, lưng đeo cung cứng, eo buộc ống tên.

Người nào người nấy mắt như ưng, hai tay như tay vượn, hiển nhiên đều là thiện xạ trăm người lấy một.

Nguyễn Đông Thanh phát giác hai người dẫn đầu là hai thiếu niên, cũng trạc trạc tuổi Lê Lợi.

Một người mặc giáp minh quang, hộ tâm khắc hoa văn trống đồng sặc sỡ, chiến bào bị gió thổi tung.

Mái tóc đen dài buộc đuôi ngựa lòa xòa bay, thanh cự kiếm đen nhánh treo bên yên ngựa được rèn đúc tỉ mỉ, trông mà tưởng như Huyền Thiết Trọng Kiếm trong phim Thần Điêu Đại Hiệp.

Người còn lại mặc áo quan văn, thắt lưng không buộc, thành ra hai vạt áo cứ phùng phà phùng phình bay bay trong gió đông.

Y vừa cầm cương, vừa ngáp dài ngáp ngắn, bên khóe mắt còn có rỉ vàng trông rõ mồn một.

Lê Lợi dẫn đầu quỳ một gối xuống, hô:

"Kim Ngô tướng quân Lê Lợi soái lĩnh binh mã Lam Sơn nghênh đón Đặng tướng quân, Nguyễn tham quân."

"Lê tướng quân không thể làm thế được.

Mỗ nhờ vào oai của cha, mới được chức thiên tướng quân.

Tính ra chúng ta là đồng liêu ngang cấp, sao có thể để tướng quân hành lễ lớn như vậy?"

Đặng Dung miệng nói, mình vẫn ngồi vắt vẻo trên lưng ngựa, không có ý định trèo xuống khỏi yên cương.

Xem ra cũng là công phu miệng lưỡi, nói khách sáo vậy thôi.

Người bên cạnh Đặng Dung, đương nhiên chính là con của Nguyễn Cảnh Chân – Nguyễn Cảnh Dị.

Y ngáp một cái, hỏi:

"Không biết ba hôm nay ba quân tịch biên được bao nhiêu lương thực, bao nhiêu vũ khí giáp trụ?

Thành này lại có bao nhiêu hộ, bao nhiêu đinh, bao nhiêu ruộng?"

Nguyễn Trãi vái một vái:

"Bẩm cậu, trong thành tịch biên được hai trăm tấn gạo, vũ khí giáp trụ giám quân đã báo lên.

Thành này có ngàn hộ, một ngàn hai trăm đinh, ruộng công sáu trăm mẫu."

Nguyễn Cảnh Dị nghe xong không lấy làm vui, nói:

"Hai trăm tấn tuy nhiều, còn chưa đủ quân ta sử dụng."

Đặng Dung nhếch miệng, gỡ trọng kiếm bên eo ra cầm ở tay, tế ngựa chỉ kiếm về phía Nha Nghi:

"Toàn quân nghe lệnh!

Bản tướng quân cho phép các ngươi mượn lương của dân.

Ba ngày không cần tra đao!"

Binh sĩ Hậu Trần dạ một tiếng vang rền, sau đó đều tuốt gươm đao, hùng hục xông về phía Nha Nghi tựa như một bầy chó dữ.

Lê Lợi giật mình, vội vàng đứng dậy chạy về phía ngựa của Đặng Dung.

"Đặng tướng quân làm vậy là có ý gì?"

"Kim Ngô tướng quân bình tĩnh nghe Dị nói một lời."

Đặng Dung không đáp, Nguyễn Cảnh Dị đã cười hì hì bước tới, giảng giải:

"Một binh sĩ một tháng ăn hết khoảng ba mươi cân gạo.

Chúng ta có bốn ngàn người, hai trăm tấn gạo ở Nha Nghi chẳng đủ dùng trong hai tháng.

Huống hồ phía sau còn có đại quân của bác Đặng đang đổ về.

Mỗi người một cái miệng, thiết nghĩ không kiếm thêm chút ít lương thảo, chỉ sợ đại nghiệp bắc phạt sẽ đứt gánh giữa đường."

"Thế nhưng..."

"Kim Ngô tướng quân, dân chúng ở dưới ách cai trị của quân Minh khổ không thể tả.

Thiên binh Trần triều chúng ta đến giải cứu người dân khỏi cảnh nước lửa, người dân cũng nên bày tỏ chút lòng thành, đúng không?"

Đặng Dung cười nhạt, đoàn cung thủ sau lưng y bấy giờ đã nắm cung, tên đặt trên dây, mấy trăm đôi mắt theo dõi chặt từng cử động nhỏ của Lê Lợi.
 
Đông Thanh Kiếm
Anh Hùng? Anh Hùng!


Nguyễn Đông Thanh bất giác nhớ đến một chuyện.

Sau sự kiện Thúc Dao, Nhật Chiêu bị bắt, Cương Mục chép: năm ấy dân đói to, phát sinh chứng dịch.

Cùng một việc này, Sử Ký lại ghi: "năm ấy đói và dịch bệnh, dân không cày cấy được, người chết gối lên nhau".

Cương Mục viết thời Nguyễn thì nói phát sinh dịch bệnh là do dân đói, không nói rõ nguyên do vì sao mà dân không đủ lương ăn.

Sử Ký do Ngô Sĩ Liên viết ngay sau khởi nghĩa Lam Sơn lại chỉ viết đơn giản là do chứng dịch nên không cày cấy được, dân mới đói.

Trong chuyện này, ắt có vấn đề.

Cương Mục có thể do kỵ húy, chỉ viết lấp lửng.

Ngô Sĩ Liên lấy quả làm nhân, hẳn là muốn che lấp nguyên nhân thực sự.

Nguyễn Đông Thanh từng kiểm tra tận mắt kho lương ở Nha Nghi.

Trong hai trăm tấn lương thực có một nửa là vừa thu hoạch, bao đóng còn mới.

Lúc vào thành, dân chúng tuy sợ quân Lam Sơn, nhưng không đến nỗi gầy da bọc xương, lam lũ thê thảm.

Như vậy, chân tướng của cái gọi "nạn đói", khiến "dân chết gối lên nhau", cũng đã rõ ràng.

Chẳng phải thiên tai, mà là nhân họa.

Là một câu "ba ngày không cần tra đao" của Đặng Dung.

Lê Lợi nghiến răng, dậm chân mà lắc đầu.

Nguyễn Trãi mặt không đổi sắc.

Ba người cứ như vậy đứng bên vệ đường, nhìn dòng lũ "quân nhân nghĩa" của Hậu Trần tràn vào trong thành.

Chẳng mấy, tiếng oán thán váng cả trời đất.

Lê Lợi lắc đầu, vỗ vai Nguyễn Đông Thanh:

"Về.

Đi đón hộ vệ của cậu thôi.

Nguyễn bá hộ."

Dọc đường, Nguyễn Đông Thanh thấy lính Hậu Trần phá cửa xông vào nhà dân, chẳng mấy chốc máu tươi đã lênh láng đầy đất.

Tiếng kêu cứu thất thanh của những người vợ, người mẹ, người con chẳng mấy mà đã bị nhấn chìm bởi giọng cười đầy thú tính.

Bước chân nặng như đổ chì...

Cách mấy bước, lại trông thấy một đám binh lính mình đeo vàng bạc, trên đao móc cái đầu của một ông cụ mà rêu rao giữa phố.

Nguyễn Đông Thanh còn nhận ra người nọ chính là ông quan quỳ gối dâng sổ sách hôm nào.

Lại đi nửa dặm, có thể nhìn được cảnh một tên lính già đè nghiến một cô gái xuống bên bờ rào.

Trong góc nhà, nằm rũ một xác đàn ông, nơi cổ còn đỏ lòm một vạt máu chưa khô.

Không giống như lúc Trần Thúc Dao chết dưới giáo của Lê Lợi, lần này Nguyễn Đông Thanh không buồn nôn.

Hắn chỉ thấy uất nghẹn nơi cổ họng.

Đây chính là người mà sử sách của Nho giáo viết là cúc cung tận tụy, đầu rơi máu chảy vì nước?

Đây chính là người mà chính sử đắp nặn thành một bậc anh hùng bi ai, ngồi dưới trăng mài kiếm Long Tuyền?

Vậy những người chết hôm nay tính là gì?

Một câu: dân đói to...

Bên dưới, lại che giấu từng chồng xương trắng, che giấu gương mặt nhe nanh, múa vuốt hút máu trăm họ, ăn thịt người dân.

Nguyễn Đông Thanh vô thức bước về nhà.

Cửa phủ bấy giờ đã mở toang, một đám binh lính cầm đao bấy giờ đang đứng hau háu trong sân, vây chặt lấy căn nhà năm gian lại.

Lê Lợi rút gươm, quát:

"Các ngươi muốn làm gì?

Chẳng nhẽ còn dám cướp lương, cướp người của tướng quân ta sao?"

Quân lính Hậu Trần thấy rõ là Lê Lợi, mới vội vàng rút đi.

Kẻ cầm đầu đi cuối cùng, trước khi ra khỏi phủ còn quay lại giải thích:

"Không biết đây là nơi tướng quân tạm chiếm.

Anh em thấy nhà cao cửa rộng, đoán là kẻ này hút không thiếu máu mỡ của dân, bèn rủ nhau cùng vào thay trời hành đạo."

Nguyễn Đông Thanh không nói, chỉ mở cửa phòng.

Trần Yên Chi lúc này mới ló đầu ra, thở phào một cái, hỏi:

"Bên ngoài có chuyện gì thế?"

Nguyễn Đông Thanh nhớ lại cảnh tượng như địa ngục bên ngoài, thẫn thờ ngồi phịch xuống đất.

Trong đôi mắt gã, không còn ánh sáng như thường ngày nữa.

Thấy Nguyễn Đông Thanh từ một người tưng tửng, thích đùa biến thành dáng vẻ chán chường, tuyệt vọng như bây giờ, Trần Yên Chi vô cùng giật mình.

Cô nàng lui lại một bước, quay đầu hỏi hai người Lê Lợi, Nguyễn Trãi:

"Thanh bị sao thế?"

Lê Lợi lắc đầu, thở dài:

"Đều tại ta."

Nói đoạn, thuật lại mệnh lệnh của Đặng Dung cho cô nàng nghe.

Trần Yên Chi không che miệng ngồi thụp xuống như thiếu nữ bình thường, chỉ là bả vai không ngừng run lên.

Lê Lợi trông thấy, càng lấy làm hổ thẹn.

Hắn tưởng mình làm tiên phong, sớm chiếm Nha Nghi, còn có thể giảm thiểu một chút thương vong của người bình thường.

Thế nhưng Đặng Dung lần này tới, hạ lệnh ba ngày đao không vào vỏ, rõ là có ý muốn đồ thành.

Nguyễn Trãi lắc đầu:

"Thế đạo như thế.

Sinh ra ở thời loạn, loại chuyện này ai cũng phải trải qua, không sớm thì muộn thôi.

Anh Lợi không cần vơ hết trách nhiệm vào người mình như thế."

"Nhưng..."

Lê Lợi còn muốn nói gì đó, thì bên cạnh, tiếng cười thảm thiết đã cất lên.

"Anh hùng?"

"Anh hùng!"

"Ta cuối cùng cũng hiểu, té ra anh hùng trong lòng ta, và anh hùng do bọn hắn viết, từ xưa đến nay căn bản vốn không phải cùng một người."

Nguyễn Đông Thanh cong lưng, đấm tay xuống nền đất đến bật máu.

Trong ánh lửa cháy đượm hắt từ bên ngoài vào phủ, hắn lúc này tựa như một con thú điên, đang tự hành hạ bản thân.

Tựa như đối với hắn, cơn đau thể xác có thể nhấn chìm vết thương trong lòng.

Ngày hôm sau...

Nguyễn Đông Thanh mặt đơ như khúc gỗ, viết vào một tờ giấy.

"Quận binh Nha Nghi liều chết phản kháng.

Đặng tướng quân Đặng Dung dẫn binh trấn áp, chém đầu ba ngàn, đoạt được sáu trăm tấn lương thảo.

Cùng ngày, tham quân Dị mở lượng hải hà, thu gom xác ba ngàn phản quân, chôn chung một chỗ mà đốt."

Đó là chiến báo của ngày hôm qua.

Nguyễn Đông Thanh nhờ Nguyễn Trãi đọc cho nghe, rồi dùng chữ quốc ngữ chép lại một bản

Hắn nhìn mảnh giấy trong tay.

Qua mép giấy, Nguyễn Đông Thanh loáng thoáng trông thấy trong đống xác người thò ra một bàn tay bé xíu, tím tái nắm lấy cánh tay của một xác người không đầu.

Đầu người ở đâu?

Đầu sớm đã bị lính của Đặng Dung chặt xuống, dùng để lĩnh thưởng.

Nguyễn Đông Thanh nghiến răng, dùng hai tay xé nát tờ chiến báo hư ngụy giả dối trước mặt, quăng mảnh vụn vào trong hố xác.

Mùi thi thể bị đốt truyền ra, ánh lửa đối xác hắt lên gương mặt lạnh căm căm của gã.

Nguyễn Đông Thanh lấy dao, gọt đứt tay áo mình, vạch đầu ngón tay, dùng máu viết lên vải:

"Năm ngàn mạng người chết dưới đồ đao của Đặng Dung.

Hai ngàn đầu lâu hóa thành bậc thang để anh hùng leo lên vũ đài lịch sử, bái tướng phong hầu."

Tay ngừng, máu vẫn còn rơi...

Nguyễn Đông Thanh dập đầu trước hố xác, gằn từng chữ một:

"Các vị, nhất định có một ngày, ta sẽ để cái gọi là anh hùng thiên hạ phải run rẩy, quỳ gối, khóc lóc, van xin.

Nhất định có một ngày, ta để tiếng gầm của các vị xuyên thủng màng nhĩ của chúng, chọc mù đôi mắt chó của chúng, nghiến nát cái lưỡi thối tha của chúng, giật tung cái mặt nạ giả tạo của chúng!

"Trời ngoảnh mặt làm lơ các vị... không xứng chứng giám lời thề này!

Đất chôn vùi tiếng nói của các vị... cũng không xứng chứng giám lời thề này!

Nguyễn Đông Thanh thề với danh dự của cha, ắt sẽ khiến thế gian ngập trong lệ máu anh hùng!

Nếu trái lời này, không bao giờ nhìn mặt bố nơi chín suối!"

Gã đứng dậy, nhắm mắt, giang hai tay ra.

Tựa như muốn đón lấy hết thảy những tàn dư của người dưới hố huyệt.

Sau khi tạm dừng chân ở Nha Nghi, Đặng Dung lại lệnh cho hai cánh quân Lam Sơn, Trịnh Khả tiến ra bắc.

Dọc đường, cả thảy đi qua sáu cửa ải lớn nhỏ.

Đặng Dung tiếp tục truyền thống "sau khi phá thành, ba ngày không tra đao", cuốn theo một đội quân nửa lính nửa cướp, càn qua vùng Nghệ An.

Mà Nguyễn Đông Thanh cũng được mục sở thị độ hiệu quả của kiểu luyện binh đồ sát này.

Lính của Đặng Dung ban đầu nhiều kẻ tay cầm đao kiếm còn không chắc, nhưng trải qua mấy lần giết người, bọn hắn càng lúc càng hung hãn dữ tợn.

Máu tanh tựa hồ có thể thay đổi một người.

Cái cách quân Hậu Trần nhìn người dân bình thường dần dần thay đổi, giống như một đồ tể từ trên cao nhìn xuống đám gà sắp bị cắt tiết.

Tiền bạc, đàn bà, thóc gạo dường như khiến bọn hắn quên đi rằng chỉ vài tháng trước, bọn hắn cũng chẳng khác gì những người đang ngã xuống dưới lưỡi gươm của mình.

Đáng sợ hơn, là loại khát máu này tựa như một căn bệnh truyền nhiễm, lây từ cánh quân này sang đạo quân khác.

Lính của Trịnh Khả bây giờ đã hoàn toàn buông thả bản thân, mặc sức cướp giết.

Binh sĩ của Lam Sơn do Lê Lợi thống binh có quy củ hơn một chút, song cũng có đến gần nửa bắt đầu làm cái chuyện giết người đốt nhà, đoạt vợ cướp của.

Trước đây quân của Lê Lợi cũng chẳng phải cánh quân lý tưởng, cũng có những chuyện đen tối, song con số thường thường chỉ khoảng hai, ba phần mười.

Lần này hành quân cùng Đặng Dung chưa tới hai tháng, mà số binh mã tham gia đốt cướp đã tăng gấp đôi.

...

Không giống khi phá Nha Nghi, trên đường bắc phạt này Đặng Dung không để binh lính dưới quyền giết sạch dân nữa.

Trái lại, gã hạ lệnh cho Nguyễn Cảnh Dị phối hợp giám quân kiểm kê kỹ số hộ, rồi bắt đầu nhổ dân.

Dân các làng xung quanh cửa ải bị đánh hạ chỉ có thể trơ mắt nhìn nhà mình cháy thành tro mà không dám tiến lên một bước, khóc lấy một câu.

Kế đó, Đặng Dung chọn lấy trai tráng khỏe mạnh sung vào quân, trẻ em phụ nữ thì bị giám quân dùng vũ khí giải về Hóa Châu.

Về phần những người già vướng víu, đầu của bọn họ tự nhiên là biến thành "chiến công" của các vị "lính nhà trời", "quân nhân nghĩa".

Chỉ mất ba tháng, quân Hậu Trần đã đánh đến tận cố đô Hoa Lư.

Thành Hoa Lư dễ thủ khó công, quân Hậu Trần vây mười ngày không hạ nổi, thương vong đến mấy ngàn.

Đặng Dung đành hạ lệnh rút về vùng Tràng An, đóng quân dựng trại, chờ viện quân của Đặng Tất.
 
Đông Thanh Kiếm
Hoa Lư


Cánh quân thứ hai của Hậu Trần cũng liên tiếp giành thắng lợi.

Vũ Uy, Lê Văn Linh phá cửa ải, chém tướng địch, hướng về phía đông bắc lao nhanh.

Đến cửa biển Nhật Lệ, quân Hậu Trần chém được Duệ Vũ đại vương – cũng tức là Phạm Thế Căng, thu được nhiều lính và chiến thuyền.

Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân cho quân dùng thuyền, ngược sông Vạc mà lên, hợp binh cùng Đặng Dung.

Quân Hậu Trần có thêm gần hai vạn sinh lực quân gia nhập, bắt đầu tấn công mạnh vào Hoa Lư.

Quân của Vũ Uy, Lê Văn Linh được dùng làm tiên phong công thành, chết và bị thương mấy trăm người, thế nhưng thành vẫn sừng sững ở đó.

Đến chiều tối, cửa thành Hoa Lư vẫn đóng im ỉm, Đặng Tất đành cắn răng cho người thu quân.

Doanh trại quân Lam Sơn...

Nguyễn Đông Thanh dường như đã khôi phục lại đáng vẻ thường ngày.

Bấy giờ, gã và Trần Yên Chi ngồi trước đống lửa, chính đang nướng một con cá sông.

Thời này gia vị khan hiếm, nhưng chất thịt thắng ở tươi ngon, không bị ô nhiễm.

Lúc ăn vào miệng tuy nhạt, lại có một hương vị riêng.

Trần Yên Chi hỏi:

"Tức là, hai cụ gặp anh lúc anh đi kỹ viện?"

Nguyễn Đông Thanh nhún vai:

"Chỉ định đi nghe hát, uống rượu lành mạnh, không có bước tiếp theo.

Cô cũng biết đấy, thời này đến viên kháng sinh cũng chả có.

Nhỡ mà lây bệnh truyền nhiễm qua đường ấy ấy thì có mà toi à?

Hơn nữa, đã kịp làm gì đâu?

Vừa mới gọi hai cô, người ta còn chưa kịp lên, ông trời đã đổi cho tôi thành hai cụ."

Hai người còn đang nói chuyện, thì từ xa đã có tiếng cười sang sảng:

"Hai người nói chuyện gì?

Vì sao cứ gọi ta là cụ thế?

Chẳng có nhẽ ta già lắm hay sao?"

Âm thanh hào sảng đanh thép, không cần nhìn cũng đoán được là Lê Lợi quay về.

Nguyễn Trãi giành trước ngồi xuống bên đống lửa, lấy một con dao nhỏ ra, vừa cắt thịt cá vừa nói:

"Hai người chắc không biết ngày xưa giấy rất đắt, người ta viết chủ yếu bằng thẻ tre, thẻ gỗ.

Cái chuyện ghi công, ban thưởng, cũng không phải ngoại lệ.

Thế nên giám quân ngày xưa thường mang một con dao nhỏ bên người, cách gọi 'đao bút tiểu lại' cũng từ ấy mà ra."

"Nói rõ lắm, cuối cùng cũng chỉ là muốn giải thích vì sao bác mang theo dao bên người thôi chứ gì?

Này!

Đừng cắt miếng to thế."

Nguyễn Đông Thanh vừa nói, vừa đưa tay ngăn Nguyễn Trãi lóc thịt cá.

Hành quân đánh trận không giống ở nhà, gã đã có vài tháng chưa ăn mặn.

Đối với một người hiện đại bữa nào cũng có thịt như Nguyễn Đông Thanh thì quả thật không thể chịu nổi.

Lê Lợi ngồi khoanh chân, nói:

"Hai quân giao chiến đã nhiều ngày, Hoa Lư vẫn sừng sững không ngã.

Quả thật là thành cứng hiếm thấy trên đời."

Nguyễn Trãi cũng gật đầu, lại tiếp:

"Quân của Đặng Dung không hạ được thành, không giết được người, đồng bọn lại liên tục xuất hiện thương vong, bấy giờ lòng quân đã xao động.

Cái khí thế hung ác dữ tợn do đồ thành diệt làng đem đến đã bị hóa giải quá nửa.

Xem ra, lấy giết chóc luyện binh cũng không phải là vạn năng."

Nguyễn Đông Thanh nhìn về phía tây bắc, nơi cố đô Hoa Lư sừng sững mà đứng giữa những rặng núi đá vôi.

Bất giác, hắn nhớ đến những gì sách sử ghi chép về Đinh Bộ Lĩnh, về vị hoàng đế hạ lệnh dùng nỏ bắn về phía con trai.

Trải qua những chuyện gần đây, hắn lại bắt đầu tự hỏi...

Cái người tàn nhẫn máu lạnh trên trang sử kia thật sự là Đinh Bộ Lĩnh sao?

Không ai trả lời hắn.

Cũng chẳng ai có câu trả lời mà Nguyễn Đông Thanh đang tìm.

Trần Yên Chi khều ngọn lửa, hỏi:

"Vì sao chúng ta nhất định phải chiếm Hoa Lư?

Đánh vòng qua không được sao?"

Nguyễn Đông Thanh lúc này cũng thẳng lưng, đưa lỗ tai về phía Nguyễn Trãi để mà hóng hớt.

Chuyện quân Hậu Trần hai đường bắc phạt, vây thành Hoa Lư không tồn tại trong sử sách, chí ít là hai bộ sử hắn được đọc là Sử Ký và Cương Mục.

Sử Ký chép quân Hậu Trần chẳng khác nào con ruồi không đầu.

Quân Minh đến đánh, Hậu Trần thua chạy vào tận Quảng Bình, sau đó Đặng Tất thần kỳ rút về Nghệ An.

Đáng nói là, Nghệ An nằm ở phía bắc Quảng Bình, quân Minh từ bắc đánh vào nam.

Đặng quốc công dùng cái gì mà có thể an toàn băng qua vùng địch kiểm soát thì Ngô Sĩ Liên không nói, nhưng hẳn là không ngon bằng thứ mà ông ta hút lúc viết những dòng này.

Về sau lại càng kinh khủng, Tất đón Ngỗi về Nghệ An vào tháng 4, tháng 6 đánh tan Phạm Thế Căng, tháng 10 điều động binh mã ra Tràng An, tháng 12 đánh trận Bô Cô.

Toàn bộ quá trình từ bại quân chuyển mình thành bố đời gần như không cần điều động lương thảo, huấn luyện lại sĩ tốt, tích trữ lại vũ khí.

Hiển nhiên, Đặng Tất trong Đại Việt Sử Ký hẳn là một con chồn màu xanh cụt tai, chứ người thì đéo thể nào làm được những việc như thế.

Khâm Định thì không có đoạn thua chạy, nhưng cũng vẫn viết cánh quân Hậu Trần đang đánh ra bắc đột nhiên ngoặt về, tấn công Phạm Thế Căng ở cửa biển Nhật Lệ, Quảng Bình.

Kể từ lúc tung quân đánh ra bắc, giết Thúc Dao và Nhật Chiêu, đến vào nam đánh Thế Căng chỉ kéo dài chưa đến nửa năm.

Tuy không hack game như Sử Ký, nhưng rõ ràng đường tiếp tế của Đặng Tất cũng là nằm trên giấy mới có thể điều binh dẻo như vẩy AOE thế được.

Mà dòng lịch sử Nguyễn Đông Thanh tự mình trải nghiệm lại có vài khác biệt lớn.

Cửa biển Nhật Lệ nằm ở cửa sông Đáy, giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Ninh Bình bây giờ.

Quân Hậu Trần chia hai đường đánh ra bắc, một đường đánh Diễn Châu thì tiêu diệt Nhật Chiêu, Thúc Dao, một đường đánh Nghệ An thì đánh vỡ Phạm Thế Căng, cướp thuyền ngược dòng sông Vạc đi về phía tây.

Hai cánh quân dùng ba tháng thì hội binh ở Tràng An, kế vây thành Hoa Lư không hạ nổi.

Ngắn gọn, súc tích.

Không có chuyện đánh ra bắc, lộn vào nam, rồi lại đánh ra bắc như hai quyển Nho sử chép.

Lại càng không có cảnh quan địa phương nhao nhao ra hàng, cơm giỏ canh ống nghênh đón quân của vua, đón quân "nhân nghĩa".

Một đường cũng là giết quan, nhổ dân, hấp thu tráng đinh làm lính mới, bổ nhiệm con cháu hào cường địa phương làm quan mới.

Khi không còn bộ lọc "số trời" đầy màu hồng do nhà Nho tạo nên, hiện thực trần trụi của lần Hậu Trần bắc phạt hoàn toàn bạo lộ trong mắt hai linh hồn đến từ đời sau.

Nguyễn Đông Thanh cũng muốn biết.

Vì sao Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân không tiếc giá nào cũng phải đánh hạ thành Hoa Lư.

Lê Lợi nói:

"Thành này dễ thủ, khó công.

Nếu có thể đoạt được, ắt sẽ trở thành một mũi kiếm cắm vào tiền tuyến, thuận lợi cho việc tiến quân đánh đuổi quân Minh."

Nguyễn Trãi cười:

"Anh Lợi thân là võ tướng, cách nhìn nhận vấn đề cũng từ góc độ quân sự.

Đúng là như vậy, nhưng còn chưa đủ."

Nguyễn Đông Thanh hỏi:

"Ý cậu là Đặng Tất nhắm vào ý nghĩa chính trị của nơi này?"

"Bá hộ Nguyễn vì sao lại nghĩ đến điểm này?"

"Ngày còn bé từng nghe cha nói: 'chiến tranh chẳng qua là sự kế tục, hoặc kéo dài của chính trị'.

Thế nên, mới đoán bừa một câu."

Vừa nói, Nguyễn bá hộ của chúng ta vừa xin lỗi vì đạo văn cụ Clausewitz.

Nguyễn Trãi mở to mắt, nói:

"Bá hộ Nguyễn nói không sai.

Thứ mà Đặng Tất muốn tranh thủ cho Trần Ngỗi chính là tính chính thống.

Hoa Lư tuy không phải kinh đô nhà Trần, nhưng trải qua ba đời vua đều phát tích ở đây.

Nhất là Vạn Thắng Minh Hoàng Đế đã từng từ nơi này bắc phạt, thống nhất thiên hạ.

Nếu như chiếm được Hoa Lư, vậy thì chứng minh Trần Ngỗi khác với bọn Nguyệt Hồ, Thúc Dao, Nhật Chiêu, thật sự kế thừa mệnh trời."

Ngừng một lát, gã lại nói:

"Đương nhiên, lời của anh Lợi cũng không sai.

Nơi này quả thật chiếm vị trí quan trọng.

Tây nhìn ngã ba sông Gián Khẩu, đông thủ một dải sông Đáy làm yếu hại.

Trừ phi đối phương chấp nhận từ sông Hồng đi đường vòng ra biển, xuôi nam mấy trăm dặm đánh thốc vào mạng sườn Diễn Châu, chiếm được nút chai Hoa Lư, thì đất lập nghiệp của Hậu Trần vững như bàn thạch."

Lê Lợi vỗ trán:

"Ta hiểu rồi!

Mộc Thạnh, Trương Phụ được người mách nước, phát giác được nút thắt Gián Khẩu này là tuyến đường liên thông nam – bắc quan trọng, nên mới cho xây thành Cổ Lộng ở bờ bắc!"

Nguyễn Trãi ho khan một cái, quay đầu nhìn sang nơi khác.

Nguyễn Đông Thanh biết, người nói cho Trương – Mộc chuyện này ắt hẳn là sĩ phu, hào tộc phía bắc.

Gã bèn đảo mắt, vội vàng thay đổi chủ đề:

"Đúng.

Chúa công, không biết đám giám quân Đặng Dung phái vào trong quân có ảnh hưởng thế nào?"

Nói đến chuyện này, chân mày Lê Lợi bắt đầu nhăn lại, nói:

"Đám giám quân này không phục tùng mệnh lệnh, hơn nữa thường kích động lính của ta giết người diệt làng, vô cùng đáng căm giận.

Tiếc là ta bây giờ mang danh nghĩa là tường Hậu Trần, không thể làm gì được."

"Vậy cũng chưa hẳn."

Nguyễn Trãi chỉ vào ngã ba sông, nói:

"Nơi này có một bến đò, gọi là Bô Cô, nằm ở ngã ba Gián Khẩu.

Chúng ta có thể xin cha con Đặng Tất dẫn người đến đây đắp lũy đất, xây phòng tuyến, chuẩn bị chống cự quân Minh.

Lại xung phong nhận việc dùng thuyền xuôi nam về Hóa Châu, vận lương đến đồn ở Tràng An, lấy đó làm bàn đạp bắc phạt."

Nguyễn Đông Thanh lắc đầu:

"Chỉ sợ cha con họ Đặng sẽ không đồng ý đề nghị của anh Trãi."

"Ồ.

Xin rửa tai lắng nghe."

"Anh Trãi, Đặng Tất mưu cầu điều gì?

Danh, lợi, thực quyền.

Người này đi con đường của quyền thần.

Mà từ xưa đến nay, quyền thần muốn thu được quyền lực, không thể không giật lấy từ chỗ hoàng đế.

Thế lực của phái bảo hoàng càng mạnh, quyền lực mà quyền thần mò được càng nhỏ.

Lại nhìn quân Hậu Trần hiện tại, Trần Ngỗi đến Tràng An, phàm là hào cường đi theo hắn đều trao cho quan chức, quan lại đầu hàng đều được thăng một hai bậc.

Vị hoàng đế này bây giờ đã có lông, có cánh của mình."

Ngừng một chốc, gã lại tiếp:

"Theo anh Trãi, Đặng Tất có chịu để yên cho Trần Ngỗi đánh ra bắc hay không?"
 
Back
Top Bottom