Cập nhật mới

Tiểu Thuyết [ĐM]Hồng Bạch Song Hỉ

[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 20


Chương 20

Lời còn chưa dứt, Ô Tất Hữu đã đạp ngã chiếc ghế, bật dậy rời đi một nước ra khỏi phòng, đóng cửa cái "rầm".

Chiếc điện thoại bị ném vào nồi lẩu làm dầu nóng văng tung toé, màn hình nhấp nháy mấy lần rồi hoàn toàn tắt ngúm.

Nồi lẩu sôi sùng sục, bong bóng lăn tăn trào lên, cả căn phòng rơi vào tĩnh lặng.

Những lời Ô Tất Hữu vừa nói như tiếng sấm giữa trời quang, đánh cho An Bình choáng váng đầu óc, hồi lâu mới hoàn hồn: "Cậu ấy nói vậy là có ý gì?"

Mộc Cát Sinh nâng chén trà, ánh mắt bình thản: "Đúng theo nghĩa đen."

"Cái gì?!"

"Tôi không nhớ."

Mộc Cát Sinh nhún vai: "Trí nhớ tôi bị thiếu khuyết, mất đi vài phần quan trọng, nên nhiều chuyện cũng chẳng rõ đầu đuôi.

Chỉ toàn nghe người đời sau kể lại, họ bảo rằng năm xưa tôi từng phạm sai lầm, liên luỵ đến không ít người."

"Ân sâu phụ bạc, thầy bạn đồng sinh tử..."

Mộc Cát Sinh nhấp một ngụm trà: "Chén rượu thuở xưa, giờ đã chìm vào quên lãng."

"Lúc ăn cơm đừng nói những chuyện khó tiêu."

Nói rồi, Mộc Cát Sinh đặt chén trà xuống, cầm đũa gắp chiếc điện thoại trong nồi lẩu ra: "Nồi này không ăn được nữa, bảo họ đổi nồi khác."

Nồi lẩu mới nhanh chóng được dọn lên.

An Bình ăn mà chẳng cảm thấy mùi vị gì, Mộc Cát Sinh gắp cho cậu một lát tổ bò: "Muốn biết gì thì hỏi, đừng có ngồi ủ rũ giữa bữa ăn.

Đừng bắt chước đứa con gái xui xẻo của tôi, chuyện gì cũng giấu trong lòng, gánh nặng trên vai quá lớn, đáng đời nó chẳng cao lên nổi."

An Bình gắp lát tổ bò, vị cay xộc thẳng lên mũi, suýt nữa thì rơi nước mắt: "Bán tiên, tôi vẫn muốn hỏi thêm về chuyện ban nãy..."

"Tôi biết.

Tôi thực sự đã quên mất một việc rất quan trọng."

Mộc Cát Sinh rút một tờ giấy đưa cho cậu: "An Bình nhi à, cậu đã mơ tới đâu rồi?"

"Sài Thúc Tân...

À không, là Linh Xu Tử đến Ngân Hạnh Thư Trai ở."

"Vậy là sắp đến rồi."

Mộc Cát Sinh tính toán một chút, nói: "Lúc Tam Cửu Thiên đến là giữa mùa đông, sang đầu xuân năm sau tôi đã từ biệt sư phụ xuống núi.

Để xem... chắc tôi đã rời đi khoảng bốn năm."

An Bình sững người: "Vì sao vậy?"

"Ra nước ngoài du học.

Dân thời đó chuộng việc này."

Mộc Cát Sinh cười: "Trước khi bái sư, cha tôi đã nói với sư phụ rằng, tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ, mà tu thân chỉ là bước đầu tiên.

Tôi sinh ra tại Mộc phủ, nào có thể cứ mãi ở lại đấy mà tận hiếu với sư phụ được."

An Bình chợt hiểu ra: "Chẳng trách anh chưa từng chép bài tiếng Anh của tôi."

"It was the best of times, it was the worst of times."

Mộc Cát Sinh đọc một câu tiếng Anh, phát âm theo giọng Oxford chuẩn chỉnh: "Bốn năm đó, e là cậu sẽ không mơ thấy đâu.

Nhưng trong thời gian ấy cũng chẳng có chuyện gì to tát, chỉ có một việc mà thôi.Đó là năm thứ ba tôi ở nước ngoài, khi ấy tôi đang ở Moskva.

Trường tôi theo học nằm cách sông Neva chừng một cây số.

Thư của lão nhị cũng đến vào mùa đông, lúc bờ sông phủ đầy tuyết."

Mộc Cát Sinh chậm rãi nói: "Trong thư, hắn bảo rằng sư phụ đã qua đời."

An Bình giật mình đứng phắt dậy, làm đổ cả chén trà trên bàn, tiếng sứ vỡ vang lanh lảnh, trà loang đầy mặt đất.

"Chuyện cũ nhiều năm rồi, An Bình, cậu giật mình thế làm gì."

Mộc Cát Sinh lại rót cho cậu một chén trà: "Trước khi sư phụ qua đời có căn dặn, nói rằng tôi có thể về nước chịu tang, nhưng sau khi qua đầu thất nhất định phải rời đi."

"Trung Hoa và Moskva cách nhau cả vạn dặm.

Khi tôi nhận được thư của lão nhị, đầu thất của sư phụ cũng đã qua rồi.

Lệnh sư không thể trái, nên tôi chẳng trở về.

Mãi đến khi hoàn thành việc học, tôi mới về dập đầu trước linh vị của người."

Mộc Cát Sinh nói xong thì lắc đầu, cười nhạt: "Tôi cũng đã phiêu bạt rất lâu..."

Dẫu đã trở về, muôn việc thuở xưa, sao đành ngoảnh lại.

Đến khắp chân trời, người thân ruột thịt còn lại mấy nhà đâu?

...

An Bình ngơ ngẩn thất thần cho đến tận lúc về nhà.

Cậu vội vàng rửa mặt rồi lên giường nghỉ, nhưng lăn qua lăn lại mãi vẫn không sao chợp mắt được.

Cậu không hiểu.

Khi tiễn cậu về, Mộc Cát Sinh dường như cũng nhìn ra tâm sự nặng nề trong lòng cậu, y vỗ vai cậu rồi để lại một câu: "Chuyện đã qua cả rồi, chỉ là giấc mơ thôi, coi như xem phim đi."

Có lẽ vì ăn quá nhiều đồ cay và dầu mỡ, cổ họng An Bình khô rát, cậu bèn ngồi dậy pha một gói trà an thần mà Mộc Cát Sinh cho.

Đã chẳng ngủ được, cậu dứt khoát thắp đèn lên học bài đêm, lôi đống bài tập ra ôn lại.

Bài vở chất như núi, nhưng học hành đúng là cách tốt nhất để quên đi muộn phiền.

An Bình lấy một tờ giấy trắng, bắt đầu vẽ trục thời gian lịch sử cận đại.

Năm 1937, năm thứ 26 của Trung Hoa Dân Quốc.

Chính phủ mặt trận bình dân Pháp buộc phải từ chức, tình trạng bất ổn chính trị ở Pháp tiếp tục kéo dài cho đến khi Thế chiến thứ II nổ ra.

Nam Tư đã ký một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Ý, gia nhập phe Rome-Berlin.

Tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô đứng đầu Châu Âu và là cường quốc công nghiệp lớn thứ hai thế giới.

Khinh khí cầu Hindenburg của Đức gặp sự cố, kể từ đó rút khỏi vũ đài hàng không thương mại.

Ngày 7 tháng 7, Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện Trung Quốc.

Trung Hoa bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc.

Đêm đã khuya, kim giây từng nhịp từng nhịp trôi đi.

An Bình nhìn tờ giấy trắng chữ đen chi chít, cảm nhận rõ cơn buồn ngủ nặng nề kéo tới, cậu liền đặt bút xuống, định gục đầu nghỉ một lát.

Thế sự trôi tựa dòng nước, đời người như một giấc chiêm bao.

...

"Báo đây, báo đây!

Ngày 7 tháng 8 nhà nước tổ chức họp hội nghị quốc phòng!"

Tiếng rao lanh lảnh của một cậu bé vang lên nơi bến cảng.

"Báo đây!

Mỗi tờ chỉ năm xu."

Bến cảng là nơi náo nhiệt nhất trong thành phố.

Tàu thuyền lần lượt cập bến, tiếng còi tàu kéo dài, người qua lại tấp nập trên cầu thang gỗ.

Có những cô gái thời thượng ăn vận hiện đại, tay xách chiếc ví da bò, tiếng giày cao gót gõ lộp cộp trên sàn.

Cậu bé bán báo tinh mắt chạy đến, hồ hởi nói: "Cô ơi, mua báo không?"

Cô gái dường như đang vội, xua tay liên hồi: "Không mua, không mua, tránh ra mau."

"Mua một tờ đi cô, thời buổi này loạn lạc lắm, đọc tin tức cho yên tâm..."

"Tôi lấy một tờ."

Một bàn tay bỗng chìa ra chắn giữa hai người.

Cậu bé ngẩng đầu, thấy đó là một thanh niên dáng người cao gầy, mặc bộ âu phục vải lanh, tay xách vali và một chiếc ô dài.

"Cảm ơn cậu chủ đã ủng hộ."

Cậu bé vội vàng rút ra một tờ báo: "Một tờ năm xu ạ."

"Không cần thối."

Thanh niên đưa cho cậu một đồng đại dương, rồi chỉ về phía cô nhóc bán hoa gần đó: "Hình như bé kia là em gái cậu phải không?

Lấy một cành hoa trà đỏ, tặng cho tiểu thư này."

Nói rồi y quay sang mỉm cười với cô gái:"Trẻ con kiếm sống ở bến cảng thật chẳng dễ dàng, nếu có lỡ sỗ sàng, mong tiểu thư đừng trách."

Cậu bé bán báo ngẩn ra một giây, rồi lập tức chạy đi gói một cành hoa trà đỏ, đưa cho cô gái: "Xin lỗi cô ạ, em lỡ lời, cho em xin lỗi!"

Cô gái đang giận bỗng nguôi, đôi má ửng hồng, nhẹ giọng cảm ơn chàng thanh niên, nhận lấy bông hoa rồi quay người rời đi, để lại mùi nước hoa vương nhàn nhạt.

Cậu bé bán báo nhìn chàng thanh niên hào phóng trước mặt mình, vừa định mở miệng cảm ơn, đối phương đã giơ tay vỗ mạnh một cái lên đầu cậu: "Vài năm không gặp, Tiểu Phong Tử, con mắt tinh đời của nhóc đâu?

Người vừa nãy là cô hai nhà ông chủ hãng tàu vận tải đấy, nhóc dám làm phiền người ta, còn muốn kiếm ăn ở bến cảng này không?"

Tiểu Phong Tử bị vỗ loạng choạng, ngẩng đầu ngơ ngác nhìn người thanh niên trước mặt: "Anh là..."

"Là tôi đây."

Chàng thanh niên tháo kính xuống, nhướng mày cười: "Mới mấy năm thôi mà đã không nhận ra tôi rồi à?"

Tiểu Phong Tử sững người, rồi bất chợt lao tới ôm chầm lấy y, kêu to: "Lão tứ Mộc Cát Sinh, anh thật sự trở về rồi!"

Hai người ôm lấy nhau, Mộc Cát Sinh cao hơn Tiểu Phong Tử hẳn một cái đầu, cậu bé bám chặt lấy y không chịu buông, vừa cười vừa khóc: "Anh Mộc, cuối cùng anh cũng về rồi...

Mà sao anh không chịu gội đầu?

Để tóc bóng nhẫy vậy?"

"Biến đi!

Này gọi là keo vuốt tóc."

Mộc Cát Sinh vỗ vai cậu bé: "Anh nhớ nhà chú lúc trước mở tiệm may mà, sao giờ lại ra đây bán báo rồi?"

"Thời buổi loạn lạc, làm ăn khó khăn.

Dạo trước cha em lại đổ bệnh, nên phải đóng tiệm, em với em gái ra ngoài kiếm ít tiền phụ giúp gia đình."

Tiểu Phong Tử thấy mũi mình cay cay: "Anh Mộc, em nhớ anh lắm."

Thuở thiếu niên, Mộc Cát Sinh nổi danh là anh lớn với đám nhóc trong thành.

Hễ xuống núi là kéo bè kết phái cả đám rủ nhau chơi bời khắp thành, y lại chẳng có chút dáng vẻ công tử cao ngạo xíu nào, vô cùng hoà đồng với mọi người.

"Anh đi mấy năm, phố xá chẳng còn vui như trước."

Tiểu Phong tử nói: "Đến cả anh Tùng cũng chẳng buồn rủ ai đánh nhau.

Vài năm trước trai chủ Ngân Hạnh Thư Trai mất, mọi người đều đến viếng, mà chẳng thấy anh về..."

"Giờ chẳng phải anh đã về rồi sao?"

Mộc Cát Sinh mỉm cười: "Thanh niên trai tráng lớn rồi thì phải đứng thẳng lưng, đừng có hơi tí là rũ đầu đỏ mắt như con nít nữa."

Y nói xong liền buông người ra: "Cha cậu bệnh, sao không đến Sài phủ khám?"

"Là đích thân công tử nhà họ Sài bắt mạch cho cha em đó.

May nhờ có hiệu thuốc của Sài phủ, bằng không thì em chẳng biết lấy đâu ra tiền chữa bệnh cho cha."

Tiểu Phong Tử dụi mắt: "Anh, lần này anh về định ở bao lâu?"

"Không đi nữa."

Mộc Cát Sinh cười cười: "Tối nay anh Tùng chắc sẽ mở tiệc đón anh, bao ăn bao no, nhớ dẫn em gái tới."

"Dạo này em toàn sang nhà anh Tùng ăn chực."

Tiểu Phong Tử gãi đầu ngượng ngùng, rồi lại lo lắng nói: "Anh, em nghe mọi người bảo sắp có chiến tranh rồi, sao anh không ở nước ngoài cho yên thân, lúc này lại về đây làm gì?"

"Nói cái gì thế!"

Mộc Cát Sinh vỗ nhẹ lên đầu cậu nhóc một cái: "Lá rụng còn biết về cội.

Đây là quê hương anh, nếu có chiến tranh thật, lẽ nào anh lại trốn?"

"Anh nói đúng."

Tiểu Phong Tử gật đầu liên hồi: "Vậy là anh thật sự không đi nữa phải không?"

"Không đi."

Mộc Cát Sinh nói: "Có chuyện gì đừng cố chịu, cứ đến tìm anh."

"Có anh ở đây rồi thì em chẳng sợ gì hết."

Tiểu Phong tử cười tươi rói: "Anh mới về, có muốn đi đâu không, để em dẫn đường cho."

"Cút đi, mới mấy năm không về mà chú mày tưởng anh đây mù đường rồi à?"

Mộc Cát Sinh bật cười: "Muốn giúp cũng được, xách vali hộ anh, chúng ta tới Quan Sơn Nguyệt."

"Rõ ạ."

Tiểu Phong Tử nháy mắt tinh nghịch: "Không hổ là anh Mộc, có tình có nghĩa, mới về đã vội đi gặp người thương rồi!"

"Cái gì mà gặp người thương?"

Mộc Cát Sinh hờ hững nói: "Anh dẫn chú đi thanh lâu nghe hát cơ."

Bốn năm xa cách, cảnh vẫn như xưa.

Quan Sơn Nguyệt nay đã mở rộng thêm hai tầng, trong đại sảnh dát vàng thoang thoảng hương thơm dịu nhẹ.

Nơi này ban ngày không tiếp khách, chỉ mở quầy trà nước phục vụ.

Khi hai người bước vào, đúng lúc trong sảnh đang diễn một buổi bình đàn*.

(*)Bình Đàn: Diễn lại truyện xưa tích cũ phong cách kể + hát xướng.

Trên đài kể chuyện, bên trái có một cô gái cầm đàn tam huyền, cô bên phải ôm đàn tỳ bà, giữa hai người là một công tử phong tư như ngọc, tay cầm quạt trắng, đang cất giọng hát khúc "Văn Chiêu Quan".

"Nào màng chi nghìn dặm phong sương, núi cao khó trèo..."

Tiếng tỳ bà như ngọc rơi, tiếng hát của công tử cất lên ôn hòa nho nhã, giọng ca trong trẻo, đượm chất thư sinh.

Mộc Cát Sinh đặt một gian phòng, ngồi nhìn xuống lầu, cười nói: "Cả sảnh toàn là khách nữ, tất thảy đều tới để nghe kể chuyện.

Quả không hổ là danh ca, đến cả các cô nương cũng vào thanh lâu chỉ để nghe y hát, thật lợi hại."

Bên cạnh, một thanh quan* tươi cười bước lên dâng trà: "Giọng hát của Ngô tiên sinh là hạng nhất ở đây, thường ngày muốn mua vé vào nghe cũng khó.

Hôm nay là suất hát sớm nên mới còn phòng trống.

Công tử thật có duyên."

(*)Thanh quan: Kỹ nữ không tiếp khách.

Mộc Cát Sinh bật cười: "Không chỉ là có duyên đâu, mà là nghiệt duyên oán nợ từ mấy năm trước đó."

Thanh quan hơi ngẩn ra, đưa tay che miệng cười: "Công tử và Ngô tiên sinh là người quen cũ ư?"

"Tôi từng gặp chị rồi, chị có phải là người được dì Triệu tự tay dẫn dắt đúng không?"

Mộc Cát Sinh nháy mắt, mỉm cười: "Không nhận ra tôi sao?"

"Ôi chà, nhận ra mới là lạ ấy."

Tiểu Phong Tử xen vào: "Nhìn anh mặc kiểu Tây thế này, ai mà ngờ được!"

Thanh quan nhìn kỹ Mộc Cát Sinh từ đầu đến chân, bỗng như nhớ ra điều gì, giật mình nói: "Cậu...

Cậu là Mộc thiếu gia?!"

"Làm khó cho chị phải cố nhớ ra tôi rồi."

Mộc Cát Sinh cười tươi: "Bao năm xa cách, người xưa cảnh cũ, nghe nói việc làm ăn của dì Triệu càng lúc càng phát đạt, đến cả lão tam cũng có thể mời lên sân khấu được rồi."

Người kể chuyện trên đài nào phải ai xa lạ, chính là Ô Tử Hư.

Khoảng hơn hai năm trước, Mộc Cát Sinh đang ở châu Âu thì nhận được thư nhà.

Tùng Vấn Đồng vốn không thích dài dòng, viết thư luôn gọn ghẽ chỉ nói trọng điểm.

Thế nhưng lần này, lá thư lại dài đến mấy tờ, viết tràng giang đại hải chỉ để kể về một chuyện, rằng Ô Tử Hư đã làm thầy hát bình đàn ở Quan Sơn Nguyệt.

Câu chuyện đầu đuôi cũng chẳng có gì phức tạp, vẫn là Ô Tử Hư bị Tùng Vấn Đồng kéo đến Quan Sơn Nguyệt đánh bài, và tất nhiên, thua đến sạch túi.

Lần này dì Triệu lại chẳng chịu cho ký nợ, ép người ở lại, bắt lên sân khấu hát vài khúc để trừ nợ.

Ô Tử Hư vốn có giọng hát trời phú, vừa cất lời đã khiến cả sảnh lặng đi rồi nổ tung trong tiếng khen ngợi.

Dì Triệu thừa thắng xông lên, bảo y ở lại hát trừ nợ.

Dì đích thân dạy y cách luyện giọng, mở thêm buổi diễn bình đàn ban ngày.

Chẳng mấy chốc đã nổi danh khắp thành.

Người trong thành ai ai cũng biết Quan Sơn Nguyệt có một vị Ngô tiên sinh, giọng hát tuyệt vời, vé vào cửa nghe hát khó tìm như vàng.

Tiền nợ chẳng mấy chốc đã trả xong, nhưng khán giả lại chẳng chịu buông, khiến dì Triệu phải đích thân đến Ô phủ mời người.

Ô Tử Hư từ chối không đặng, từ đấy thành nghề luôn.

Nhà họ Ô vốn là Âm Dương gia, xưa nay chẳng mấy bận tâm chuyện trần thế, nên người trong tộc cũng chẳng ai quản việc Ô Tử Hư đi hát.

Mấy năm trôi qua, danh tiếng ngày càng vang xa, y được giới mộ điệu gọi là "Ngọc Diện Lang Quân".

Mộc Cát Sinh vừa cười vừa lắc đầu: "Trên đài kia là công tử nhà ai mà phong lưu đến thế?

Dù nghe lão nhị kể rồi, nhưng nay tận mắt thấy vẫn giật mình.

Ai mà ngờ được vài năm trước, lão tam chỉ cần thấy con gái là đỏ mặt."

"Mấy ngày trước có nghe anh Đồng nói Mộc thiếu gia sắp về."

Thanh quan mỉm cười, mừng rỡ đến mức ngồi không yên: "Toàn người nhà cả, công tử đừng ngồi mãi trên lầu nữa, để tôi dẫn cậu vào hậu trường nhé?"

"Vậy thì làm phiền chị rồi."

Mộc Cát Sinh đứng dậy nói: "Mấy năm không gặp, cũng nên đến chào hỏi dì Triệu một tiếng."

Ô Tử Hư vừa hát xong một hồi, tiếng đàn tạm ngừng, anh vén rèm bước vào hậu đài, lại thấy một nhóm người đang vây quanh thành cụm phía trong, giọng dì Triệu cao vút: "Ôi chao ~ con trai ngoan của dì, đúng là hiếu thảo, không uổng công dì thương con."

Một giọng cười vang lên giữa đám người: "Đây là mỹ phẩm đang thịnh hành ở Pháp dạo gần đây, con không rành lắm, chỉ mua theo mấy loại được bạn bè giới thiệu.

Dì Triệu dùng thử đi, nếu thấy hợp, con nhờ bạn gửi thêm về."

Chất giọng của y đã trầm ổn hơn xưa, nhưng nụ cười ấy, tiếng nói ấy, Ô Tử Hư sao có thể quên được, anh mừng đến đỗi hai mắt sáng ngời rạng rỡ, lớn tiếng gọi: "Lão tứ!

Về từ khi nào thế?!"

"Lão tam!

Hát xong rồi à?"

Mộc Cát Sinh đứng dậy, chen khỏi đám đông.

Hai người lập tức ôm chầm lấy nhau.

"Giỏi phết!"

Mộc Cát Sinh cười ha hả, vỗ mạnh vai bạn: "Ba năm xa cách mà giờ đã thành danh rồi đấy!"

"Chỉ là trò góp vui thôi, khán giả dễ tính nên chịu nghe, so với dân chính quy còn thua xa lắm."

Ô Tử Hư mừng quýnh, nói liền một hơi: "Cậu về lúc nào thế?

Tôi nghe lão nhị bảo cậu mua vé tàu trễ, còn mấy ngày nữa mới tới mà?"

"Tôi chọc hắn đấy.

Hôm nay hắn mà biết tôi về, chắc chắn đã ra bến tàu chặn tôi rồi."

Mộc Cát Sinh nháy mắt: "Tôi là vì ái mộ giọng hát của ngài 'Ngô tiên sinh' nên mới chạy thẳng tới đây."

"Vừa về đã chọc tôi rồi!"

Ô Tử Hư đẩy nhẹ y một cái, rồi kéo về ngay: "Giờ này không kịp làm cơm trưa, tối nay tôi đặt mấy bàn, anh em ta tụ họp một bữa ra trò.

Chờ tôi hát xong hồi sau, mình sang chỗ lão nhị ăn chực."

"Tuyệt vời."

Mộc Cát Sinh vỗ tay: "Ở nước ngoài ngày nào cũng ăn đồ nguội, tôi chỉ mong được về ăn cho sập tiệm nhà lão nhị thôi."

"Cậu đúng là..."

Ô Tử Hư vừa cười vừa cảm thán: "Lão nhị mà biết tin cậu về, chắc sẽ mừng phát điên.

Dù cậu đòi hắn đãi một bữa Mãn Hán Toàn Tịch, hắn cũng vui lòng xắn tay xuống bếp."

Nói rồi anh tỉ mỉ ngắm người bạn trước mặt: "Ăn mặc kiểu này trông cũng ra dáng thật đấy, là đồ Tây à?"

"Thôi đừng nhắc, ông có bộ nào dư không, cho tôi mượn một bộ thay."

Mộc Cát Sinh khoát tay: "Vừa thấy tôi, dì Triệu đã gọi là 'thằng Tây dỏm' rồi đó."

"Cũng giống thật."

Ô Tử Hư cười trêu: "Nhưng cậu cao hơn trước nhiều rồi, chẳng biết mặc vừa đồ của tôi không."

"Không vừa thì sửa!"

Dì Triệu nói liền, giọng sang sảng: "Mang bộ áo dài màu xám bạc mới may hôm trước lại đây.

Vài ngày nữa Tiểu Ngô sẽ diễn vở Tam Tiếu, chơi cùng một cây đàn tam đại, mặc bộ áo này rất hợp để lên diễn, thế mà lại để nhóc con được hời."

"Là dì Triệu thương con nhất."

Mộc Cát Sinh chợt nhớ tới một chuyện, quay sang hỏi Ô Tử Hư: "Ông hát vở gì tiếp theo?"

"Vẫn là Văn Chiêu Quan."

Ô Tử Hư đáp: "Sao, cậu muốn nghe vở nào?"

"Hồi đó ông từng hát tặng tôi một khúc Trường Đình Tống Biệt ở bến tàu."

Mộc Cát Sinh cười nói: "Giờ đây bạn cũ bên Tây đã về, hát một khúc Gặp Gỡ đi."

"Dễ thôi, tôi nhớ cậu vốn thích Tây Sương Ký."

Ô Tử Hư đồng ý ngay: "Vừa hay cũng phải thay trang phục, lên sân khấu hát cùng tôi luôn đi."

"Không được đâu, tôi không rành bản bình đàn, chỉ biết vài câu Côn Khúc."

Mộc Cát Sinh xua tay: "Khán giả đều đến để nghe kể chuyện, sao lại có thể nói đổi là đổi, coi chừng họ đòi trả vé."

"Không sao cả."

Dì Triệu mỉm cười, giọng ngọt ngào: "Để dì sắp xếp cho con, cứ việc hát thoải mái đi."

"Trời đất, dì yêu của con ơi..."

Mộc Cát Sinh xua tay lia lịa: "Con ở nước ngoài mấy năm, mấy cái làn điệu gì đó quên sạch từ đời tám quánh rồi."

"Đừng có giả vờ.

Năm đó chẳng phải cậu còn bảo lão nhị gửi đĩa hát sang cho à?"

Ô Tử Hư chen lời: "Đừng tưởng tôi không biết.

Ngày trước hai người các cậu ba ngày hai bận lại kéo nhau đến Quan Sơn Nguyệt nghe hát, lúc nổi hứng còn giành hát với thanh quan, đẩy người ta xuống đài.

Nghe nói cậu còn từng gảy đàn tam cho Linh Xu Tử nghe nữa phải không?"

Mộc Cát Sinh: "Không chạy được rồi, chắc chắn là lão nhị bán đứng tôi."

"Ngày lành cảnh đẹp, tâm thưởng ý vui.

Lệch nhịp thì tôi đỡ cho cậu."

Ô Tử Hư cười, cất giọng: "Mời quan nhân - "

Ngày trước, Mộc Cát Sinh bị gọi là công tử bột, ở Ngân Hạnh thư trai chẳng học được bao nhiêu lục nghệ bát nhã, thế mà lăn lộn trong chốn phong nguyệt lại thành thạo tứ thanh ngũ âm.

Ngân Hạnh trai chủ thích nghe côn khúc, hễ đến lễ tết lại bảo y hát mấy đoạn Tây Sương Ký, còn cười đùa mà rằng: "Phong lưu nghiệp chướng cũng có tình."

Mộc Cát Sinh thay áo dài, hai người phân vai, Ô Tử Hư làm Trương Sinh, y diễn Hồng Nương; lại mời thêm một ca nữ đóng vai Oanh Oanh.

"Tiểu nữ hôm nay thật có phúc."

Ca nữ cười duyên: "Gặp được hai vị lang quân tuấn tú."

Tiếng đàn vang lên, màn trướng mở ra.

Oanh Oanh và Trương Sinh gặp nhau trong Phật điện, ánh mắt chạm nhau, một cái nhìn đã gieo mầm tương tư.

Chỉ nghe Trương Sinh than: "Ôi chao, ai ngờ trong chùa ta lại gặp tiên nữ giáng trần, đúng là nợ phong lưu từ kiếp trước."

"Ghét thay, trời không để người yên lòng, khiến ta bận lòng chẳng đặng tiêu dao, sao cứ mãi vấn vương đến vậy."

Hồng Nương duyên dáng mở miệng: "Tiểu thư ơi, chẳng phải cô đang làm lòng người ta rối bời rồi đó sao?"

"Người khiến ta hoa mắt, miệng nói chẳng nên lời, hồn phách bay tận chín tầng mây."

Trương Sinh xoay chiếc quạt trong tay, cất giọng: "Ây da, ta chết mất thôi..."

Trích Đoạn "Gặp Gỡ" vốn không dài, song hai người hát quá say sưa, không hay đã đến giữa trưa.

Khán giả tan gần hết, chỉ còn lại một người vẫn ngồi yên dưới ghế, lạnh nhạt nói: "Vừa về nước đã vội leo lên sân khấu hát hí khúc, còn ra cái thể thống gì?"

Mộc Cát Sinh vừa vén rèm định bước vào hậu trường, nghe thế liền khựng lại, ngoảnh đầu nhìn, giây sau đã lao thẳng xuống khán đài: "Lão nhị!

Ông đến từ bao giờ vậy?"

"Từ lâu rồi.

Cậu hát nhập tâm quá, nửa ngày trời chẳng nhận ra tôi."

"Còn chẳng phải vì ông càng ngày càng đẹp, làm tôi cứ tưởng tiên nữ nhà ai ngồi dưới kia cơ đấy."

"Bớt dẻo mỏ đi."

Tùng Vấn Đồng mặc áo dài đỏ sậm, dáng người cao thẳng, giơ tay vỗ mạnh lên đầu Mộc Cát Sinh: "Keo vuốt tóc xịn đấy, hàng Tây à?"

"Thôi thôi, đừng chọc tôi nữa, bị trêu suốt cả buổi sáng rồi."

Mộc Cát Sinh vuốt tóc: "Đến đúng lúc lắm, tôi đang định tới tìm ông đây, trưa nay ăn gì?"

"Đợi lão tam ra đã."

Tùng Vấn Đồng cất bước, vén vạt áo dài: "Dẫn cậu đến quán của tôi ăn."

Trong thư từng nhắc, Tùng Vấn Đồng mở một quán lẩu, đặt tên là Nghiệp Thủy Chu Hoa.

Y vốn khéo chuyện bếp núc, lại thích ăn đồ cay, chế ra công thức nước lẩu ngon tuyệt diệu, vừa mở tiệm khách đã đến nườm nượp, muốn đặt bàn phải xếp hàng.

Từ xa xa, Mộc Cát Sinh đã ngửi thấy mùi thơm: "Tôi nhớ mỗi dịp Đông chí ông đều nấu lẩu, dùng ớt chuông, gừng già với tỏi xào cùng mỡ bò, thơm đến mức chú tiểu ở chùa Bạch Thủy nửa đêm phải dậy gõ chuông."

"Lão ngũ không ăn cay, nên sau khi nó đến thì tôi nấu ít cay hơn."

Tùng Vấn Đồng vừa dẫn người lên tầng hai, vào một phòng riêng: "Muốn ăn gì thì gọi."

"Ồ~!"

Ô Tử Hư cười khà: "Ông chủ đúng là rộng rãi."

"Nghe như tôi nợ tiền cậu ấy."

Tùng Vấn Đồng liếc y một cái: "Đãi cậu ăn còn đỡ, đến cả tiệc âm phủ cũng phải dắt qua đây ăn."

"Thế thì tôi không khách sáo nữa."

Mộc Cát Sinh đặt quyển thực đơn lên bàn cái cộp, xắn tay áo: "Mang cho tôi một quyển, đầy đủ các món, không được thiếu món nào."

*Chú thích của tác giả:

It was the best of times, it was the worst of times ("Đó là những ngày huy hoàng nhất, cũng là những ngày đen tối nhất.") - Trích "A Tale of Two Cities" của Charles Dickens.

Thế sự trôi tựa dòng nước, đời người như một giấc chiêm bao - Trích "Ô Dạ Đề" của Lý Dục.

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 21


Chương 21

Giữa bàn ăn đặt một cái nồi đồng năm ngăn, chia ra ngăn dầu đỏ vị cay Tứ Xuyên, ngăn canh trắng vị tam tiên, một ngăn canh bổ, một lẩu cá lạnh, ngăn cuối là nồi lẩu hoa cúc.

Mộc Cát Sinh gắp một miếng sách bò, cay đến đỗi cánh môi sưng tều: “Ở nước ngoài mấy năm, ăn đồ nhạt đến mức sắp liệt vị giác.

Vẫn là tay nghề của lão nhị tuyệt nhất, không uổng công tôi ngày nhớ đêm mong, cứ thèm mỗi cái hương vị này.”

Trong phòng riêng còn kê một chiếc bàn nhỏ, đặt đầy thịt rau, bát đũa nồi niêu.

Tùng Vấn Đồng thắt tạp dề, đang thái thịt cừu: "Cậu mà ăn không hết chỗ này, thì nuốt luôn cái bàn cho tôi.”

“Dễ thôi, dễ thôi.”

Mộc Cát Sinh cười hì hì: "Dù ông có xẻ sống một con voi, tôi với lão tam cũng dọn sạch cho mà xem.”

"Lúc xưa khi lão ngũ hóa hình, bụng dạ khỏe đến mức suýt ăn sạt cả thư trai."

Ô Tử Hư vừa cười vừa lắc đầu: "Chính vì thế mà lão nhị mới mở cái quán này, lão ngũ ăn khoẻ quá, mỗi ngày nguyên liệu còn dư trong bếp nhỏ cũng đủ nấu ra mấy nồi.

Để khỏi phí phạm, thế là có 'Nghiệp Thủy Chu Hoa’.”

Mộc Cát Sinh nghe vậy thì bật cười, gật gù: “Hồi tôi đi, tên nhóc đó cao chưa đến thắt lưng tôi."

Y giơ tay ước lượng: “Lão Nhị có viết thư bảo nó được nhà họ Chu đón về rồi.

Gần đây có tin gì không?

Sống ra sao?”

“Mấy ngày trước có thư đến, nói là cơm nhà họ Chu dở quá, bị đói đến gầy rộp cả người.”

Ô Tử Hư cười nói: "Lão ngũ mong ngóng được quay về lắm đấy.

Còn cậu, định thế nào?”

“Người nấu ăn đâu phải tôi, câu này phải hỏi lão nhị mới đúng.”

Mộc Cát Sinh ngậm đũa nói: “Nếu lão ngũ trong thư mà khóc lóc ăn vạ đòi chết đòi sống, e chừng lão nhị lại xách Đao Thỉ Hồng dọn đường đến đó nấu cho nó một bữa thật."

“Nhà họ Chu vốn sống ẩn dật, muốn mời được Tinh Túc Tử e rằng chỉ có thể là…”

Ô Tử Hư còn chưa nói hết, thì Tùng Vấn Đồng đã cắm dao vào thớt cái "phập", bưng lên đĩa thịt cừu: "Ăn thôi!"

“Vâng vâng, vất vả cho ngài rồi.”

Mộc Cát Sinh tươi cười đi rót cho y một chén rượu: “Ăn nào.”

Bữa ăn kéo dài hơn một canh giờ, ba người xa cách lâu ngày gặp lại, chuyện trò từ Nam chí Bắc.

“Tôi sang Đức trước...”

Mộc Cát Sinh say lướt khướt kể: "Rồi chuyển sang Liên Xô, năm cuối thì du học khắp châu Âu…

Các ông đoán xem?

Người Anh khi lên giường cũng đọc thơ Shakespeare đấy!”

Tùng Vấn Đồng nghe thế thì cười phá lên: “Sao, nếm mùi hàng ngoại rồi à?”

“Còn lâu nhé, tôi biết chừng mực, ham mấy cũng không đến mức đó.”

Mộc Cát Sinh khoát tay: “Là nghe đám bạn trong câu lạc bộ kịch ở Cambridge kể thôi.

Khi đó bọn tôi chèo thuyền trên sông Cam, có một du học sinh Trung Quốc mang theo đàn violin, không ngờ lại kéo ra được điệu Tây Bì.”

"Tôi cao hứng hát khúc Lương Chúc, có cô nàng hỏi tôi ý nghĩa của khúc hát đó.”

Mộc Cát Sinh vừa kể vừa cười: "Tôi liền bảo đấy là chuyện Romeo và Juliet ở phương Đông, chết rồi hóa thành bướm.”

"Đẹp thay....”

Ô Tử Hư cũng say ngà ngà, liền cất giọng ngâm: “Trước cửa thư phòng mai nở hoa, hôm nay hiền đệ lại về nhà.”

“Có tụ rồi lại có tan, hoa tàn hoa nở vẫn đơm nhụy.”

Mộc Cát Sinh nâng chén hô vang: “Đã có biệt ly, ắt có tái ngộ.”

“Hai con ma men.”

Tùng Vấn Đồng nghe mà chỉ biết lắc đầu, đứng dậy dọn bát đũa: "Vừa mới về, đã thay nhau giở trò hát mười tám khúc tiễn nhau.”

Ăn xong, Mộc Cát Sinh đứng dậy cáo từ: "Tôi đi tìm Tiểu Phong Tử may mấy bộ áo dài mới.

Lão nhị à, tối bày thêm vài bàn cho rôm rả, mời mọi người đến họp mặt nhé.”

"Phắn lẹ đi!"

Tùng Vấn Đồng phất tay: “Đêm nay Nghiệp Thủy Chu Hoa đóng cửa, dọn tiệc chiêu đãi, chẳng thiếu phần ăn của cậu.”

Mộc Cát Sinh vừa xoa bụng vừa cười, rồi quay người rời đi.

Ô Tử Hư nhìn theo bóng người dần xa, thấp giọng nói: “Lão tứ chắc là sắp về đó thật rồi.”

"Tha hương đã nhiều năm, khi trở về lòng bồi hồi lo sợ, nên mới qua chỗ chúng ta uống vài chén lấy can đảm, đúng là đồ nhát gan.”

Tùng Vấn Đồng hừ khẽ, rồi cau mày: “Lúc nãy trên bàn ăn, sao cậu lại nhắc đến chuyện đó?”

“Tôi nói lời thật thôi.

Lão tứ hiểu, ông cũng hiểu mà.”

Ô Tử Hư thở dài: “Năm xưa nhà họ Chu giao Tinh Túc Tử cho tiên sinh trông nom, bề ngoài là gửi vào thư trai học tập, nhưng ai mà chẳng biết, thật ra họ đang phó thác cho Thiên Toán Tử.

Khi tiên sinh sắp mất, đã nói rõ với thất gia chư tử, lão tứ sẽ kế thừa vị trí Thiên Toán Tử.

Bốn mươi chín đồng Sơn Quỷ Hoa Tiền, bất kể y có muốn hay không, đều phải nhận.”

"Y không muốn thì thôi, cùng lắm thì chúng ta gánh hộ."

Tùng Vấn Đồng nói: “Lão tứ là con nhà tướng, chưa chắc đã muốn dính dáng đến chuyện rối ren của bảy nhà.”

"Ông chỉ có một mình một đao, chẳng vướn bận gì nên nói dễ lắm.”

Ô Tử Hư nghe mà đau đầu: “Đến lúc thật sự xảy ra chuyện, chẳng phải vẫn là tôi đứng ra dàn xếp sao.”

“Khổ cho lão tam quá, tối nay tôi mời cậu ăn cơm.”

“Thôi khỏi.”

Ô Tử Hư xua tay: “Phía Phong Đô có việc, tôi còn phải xuống dưới đó.”

“Lão tứ vừa mới về.”

Tùng Vấn Đồng nhướng mày: "Ai báo tin nhanh thế?"

“Người chết bao giờ cũng ít bận hơn người sống.”

Ô Tử Hư khẽ lắc đầu: "Đây cũng là chuyện sớm muộn thôi.”

...

Mộc Cát Sinh đi đo may mấy bộ áo mới, rồi thay một chiếc áo dài trắng tinh, rửa mặt, rửa tay sạch sẽ, rời thành, một đường đi đến Ngân Hạnh Thư Trai trong Chùa Bạch Thủy.

Sau khi trai chủ qua đời, nơi này không còn mở lớp giảng học, nhưng cũng không dùng để làm nơi ở, vẫn giữ nguyên dáng vẻ ngày xưa.

Chú tiểu đang quét dọn nhìn thấy Mộc Cát Sinh đến thì khom người niệm một tiếng A di đà Phật.

Mộc Cát Sinh quỳ trước thủy tạ, dập đầu ba lạy, rồi bước vào hương đường, quỳ lên đệm bồ đoàn, thắp ba nén hương.

Cây ngân hạnh vàng rực khẽ đong đưa ngoài cửa sổ.

Mộc Cát Sinh nhìn linh vị trên bàn thờ, nhỏ giọng nói: “Thưa sư phụ, Cát Sinh đã trở về.”

Y quỳ rất lâu, mãi đến khi hoàng hôn buông xuống, cửa hương đường “kẽo kẹt” mở ra.

Mộc Cát Sinh không quay đầu, chỉ khẽ cười: "Tôi biết anh sẽ đến.”

Một người bước vào hương đường, dập đầu dâng hương, rồi nói: "Cậu đã quỳ suốt cả buổi chiều.”

“Lạ thật đấy.”

Mộc Cát Sinh bật cười: “Tam Cửu Thiên mà cũng lo cho tôi quỳ lâu sao.”

Sài Thúc Tân quỳ bên cạnh y.

Bốn năm không gặp, người trước mắt vẫn mang vẻ lạnh lùng tuấn tú, điểm thêm phần trầm ổn chững chạc, như tuyết phủ rửa sạch hương mai, lạnh lẽo mà thanh khiết, trên người anh vẫn là bộ trang phục trắng thuần như xưa.

“Lúc ăn trưa không thấy cậu, tôi nghĩ cậu đã đến thư trai."

Mộc Cát Sinh nói: "Trong dáng bộ rành rẽ thế này, anh chắc thường lui tới đây lắm?”

"Dược gia vốn bận rộn, tôi cũng chẳng có nhiều thời gian rảnh rỗi, ghé vào đôi ba lần thôi."

Sài Thúc Tân nói xong, lại cúi người bái trước linh vị: “Học trò bất hiếu.”

“Thôi đi, như anh mà cũng gọi là bất hiếu, thì tôi hóa ra là kẻ khi sư diệt tổ sao?”

Hai người im lặng giây lát, Sài Thúc Tân lên tiếng hỏi: “Hai năm trước lúc tiên sinh qua đời, vì sao không về?”

"Lệnh của sư phụ, không thể về.”

Mộc Cát Sinh nói: “Sư phụ có lệnh, quá đầu thất không được về nước chịu tang.

Lúc thư của lão nhị gửi đến Moskva thì đã qua đầu thất từ lâu rồi, với bản lĩnh của sư phụ thì không thể tính sai ngày được.

Chỉ có một khả năng duy nhất, là người không muốn tôi trở về.

Hơn nữa, bao đời nay Thiên Toán Tử đều là kẻ tính mệnh trời.

Sau khi chết, hồn phi phách tán, không vào luân hồi.

Tang lễ chỉ là hình thức mà thôi, có đốt bao nhiêu giấy tiền vàng bạc đi nữa thì người cũng chẳng thể bước qua cầu Nại Hà.

Nếu không phải vì thế, lão nhị đã sớm đến Phong Đô cướp người, sau đó mở hội lớn đón sư phụ hoàn dương rồi.”

"Năm đó cậu không về, dấy lên rất nhiều lời đồn đoán."

Sài Thúc Tân nhàn nhạt nói: “Tiên sinh đã đích thân truyền vị trí Thiên Toán Tử cho cậu, bảy nhà đều tuân theo.

Cậu lãng phí hai năm ở nước ngoài, các Chư Tử đã chờ đợi đủ lâu rồi.

Giờ là lúc cậu kế thừa bốn mươi chín đồng tiền Sơn Quỷ.”

“Thế còn sư huynh đâu?

Sư huynh giỏi hơn tôi, để anh ấy kế thừa đi.”

“Lâm sư huynh năm đó nhận lệnh tiên sinh vào Bồng Lai, ước định mười năm, trong mười năm không được rời núi.

Nay tiên sinh đã truyền vị cho cậu, theo quy củ của phái Thiên Toán, anh ấy buộc phải xuất môn, hiện giờ đã là môn sinh của Bồng Lai rồi.”

“...Sư phụ rốt cuộc là đã tính toán cái gì thế?"

Mộc Cát Sinh ngẩn người, hồi lâu mới cười khổ: "Muốn ép người ta lên Lương Sơn sao?”

“Tin cậu trở về đã lan khắp nơi.

Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, cậu muốn tránh cũng không thoát đâu.”

"Tuổi xuân phung phí chẳng nề, buồn thay non nước chẳng về cùng ai."

Mộc Cát Sinh khẽ thở dài: "Thất gia chư tử, nhà thứ bảy còn chưa xuất thế mà?

Sao ai nấy đều gấp gáp vậy?”

“La Sát Tử sinh ra trong thời loạn, là sát thần hủy diệt trời đất.

Nếu nhà thứ bảy xuất thế, các chư tử sẽ không còn an ổn chèo lái mà phải gắng sức xoay trời chuyển đất.”

Sài Thúc Tân nói: “Đã mấy trăm năm rồi La Sát Tử chưa giáng thế.

Giờ đây thiên hạ đại loạn, các nhà đều lo lắng.”

Thất gia chư tử thật ra chỉ có sáu nhà tồn tại lâu đời, nhà cuối cùng chính là La Sát Tử.

Cũng như Thiên Toán Tử, mỗi đời chỉ có duy nhất một người, khi thời thế rối ren mới được sinh ra, chủ về sát kiếp.

La Sát Tử tuy có thể trấn áp thời thế, nhưng lại hung bạo tà nghịch, không ai có thể kiểm soát.

Mỗi đời La Sát Tử đều là kẻ phản nghịch cực đoan, thậm chí từng trở mặt với sáu nhà còn lại, nhà này chính là biến số khiến ai nấy đều phải đau đầu và kiêng kỵ.

Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán diệt La Hán, gặp cha mẹ giết cha mẹ, gặp thân quyến giết thân quyến, khi đó mới được giải thoát.

"Mệnh của La Sát Tử, chỉ có Thiên Toán Tử mới có thể kiểm soát."

Mộc Cát Sinh đã hiểu: "Chẳng trách, ngay từ đầu anh đã ở đây chờ tôi."

"Bảy nhà đều đã nhận được tin tức, trong vòng vài ngày nữa sẽ tụ họp, cậu nên suy tính mọi việc thật sớm."

"Trẫm hiểu rồi, ái khanh lui đi."

Mộc Cát Sinh đứng lên: "À, tôi nghe Tiểu Phong Tử nói cha nhóc đang chữa bệnh ở phòng thuốc nhà anh, tôi thay nhóc ấy cảm ơn anh."

"Hành y cứu đời vốn là trách nhiệm và bổn phận của Dược gia."

Sài Thúc Tân cũng theo đó đứng dậy, nhìn về phía Mộc Cát Sinh: "Cậu cười gì?"

"Không gì cả."

Mộc Cát Sinh cười cười, xua tay rồi từ tốn nói: "Chiến sự sắp nổi, bảy nhà xôn xao.

Mấy ngày trước tôi đã cẩn thận suy tính mọi mặt, chỉ cảm thấy sự tình phức tạp rối rắm.

Nhưng đến khi trở về rồi, tôi lại thấy chẳng có gì to tát, vì dù sao thì các anh vẫn còn ở đây."

Hai người cùng đứng dưới hành lang, Mộc Cát Sinh ngẩng đầu nhìn mái hiên: “Anh biết không, sáng nay tôi với lão tam đã cùng hát Tây Sương Ký.”

“Ừm.”

"Tôi nhớ về mùa đông năm ấy, lần đầu anh ở lại thư trai ăn Tết.

Lão tam gảy đàn tỳ bà, anh thổi sáo Tô, chúng ta diễn trọn năm hồi hai mươi mốt khúc Tây Sương, hát hò thâu đêm.”

“Khi đó tôi còn nghĩ, giá mà năm nào cũng được như vậy, cứ hát mãi như thế, đợi đến khi lão ngũ lớn rồi sẽ bảo nó kéo đàn cho chúng ta...

Đâu ngờ, làm gì còn có lần sau nữa.”

Mộc Cát Sinh cười nhạt, giọng nói của y man mác buồn: “Hoa xuân rực rỡ khắp nơi, cuối cùng cũng héo tàn cạnh bờ tường đổ.

Cảnh đẹp ngày lành, còn mấy ai nghe được hay chăng?"

Sài Thúc Tân lặng thinh giây lát, rồi lên tiếng: "Cậu hát đi.”

“Hửm?”

"Tôi nghe.”

“Không được đâu, sáng nay vừa hát với lão tam cả buổi, mời ngài ngày mai quay lại sớm."

"Áng chừng vài ngày nữa là bảy nhà tề tựu, cậu chính thức kế nhiệm vị trí Thiên Toán Tử, đến lúc đó bảo bọn họ bưng bàn xách ghế ngồi ngay ngắn nghe cậu hát bình đàn, cũng chẳng ai dám phản đối."

“Ha – ý hay đấy!

Không bằng kéo họ đến họp ở Quan Sơn Nguyệt, để tôi nghĩ xem nên hát gì nào…

'Trương Sinh náo canh năm'* nhé?”

(*)Trương Sinh Náo Canh Năm là đoạn H trong Tây Sương Ký.

“……”

“Đừng có cau có thế, lão tam còn dám lên đài kể chuyện, tôi tùy hứng một chút thì có sao đâu!

Hay là...

Cùng nhau gầy sòng đánh mạt chược?”

“Bảy nhà có sáu người, không đủ hai bàn.”

“Thế thì có sao, dù La Sát Tử có giáng thế cũng chẳng việc gì to tát.

Bảy nhà hai bàn, vẫn là ba thiếu một đấy thôi.”

“...

Đừng đùa nữa."

Hai người cùng xuống núi.

Mộc Cát Sinh vốn định mời Sài Thúc Tân đến Nghiệp Thủy Chu Hoa ngồi một lát, nhưng đối phương lắc đầu: “Chiến sự đã bắt đầu, Dược gia bận rộn nhiều việc, trong phủ còn có trưởng bối đang chờ tôi về họp bàn.

Ngày khác cậu đến, tôi sẽ mời cậu ăn lẩu Nhất Phẩm."

“À đúng rồi, suýt quên mất chuyện của chị Sài."

Mộc Cát Sinh vỗ trán: “Trong thư anh có nói bệnh của chị đã đỡ, nay thế nào rồi?”

"Chị mang bệnh lâu năm, không thể khỏi trong một sớm một chiều."

Đôi mày Sài Thúc Tân hơi giãn ra: “Nhưng đã có thể trị lành.”

“Vậy thì tốt quá.”

Mộc Cát Sinh cười: "Vài hôm nữa tôi đến ăn chực, nhớ chừa cho tôi một khung cửa sổ nhé.”

Sài Thúc Tân vẫn nhớ chuyện năm xưa, người này lần nào cũng trèo tường rồi đu cửa sổ vào phòng, chỉ khẽ lắc đầu: “Trận pháp ở hành lang cửu khúc đã thay đổi, khi vào nhớ cẩn thận.”

“Yên tâm, chuyện nhỏ.”

Mộc Cát Sinh phẩy tay: "Tôi đi đây, trễ chút nữa lão nhị lại chẳng chừa cơm cho tôi, hẹn ngày khác gặp."

Mộc Cát Sinh còn chưa vào đến thành, đã thấy ven đường có một chiếc xe hơi dừng sẵn.

Y nheo mắt nhìn, dưới ánh trăng nhận ra biển số xe, liền đứng ngẩn người.

Cửa sổ xe hạ xuống phân nửa, một giọng nam trầm truyền ra: “Lên xe.”

Mộc Cát Sinh lập tức mở cửa ngồi vào trong xe, kéo rèm lại: “Không phải người đi dự hội nghị quốc phòng à?

Sao về sớm vậy?"

Người đàn ông ngồi ở hàng ghế trước mỉm cười, ném cho y một chai nước ngọt: "Mấy năm đi du học, không biết khẩu vị của con có thay đổi không."

"Vậy thì người phải gửi thư thăm hỏi con một chút chứ."

Mộc Cát Sinh bắt lấy chai nước, cười bất lực: "Cha à."

*Chú thích của tác giả:

Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán giết La Hán, gặp cha mẹ giết cha mẹ, gặp thân quyến giết thân quyến, khi đó mới được giải thoát. –《Lâm Tế Lục》

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 22


Chương 22

Mộc Tư Lệnh ngồi ở hàng ghế trước, người vận bộ quân phục thẳng thớm, hai bên tóc mai đã điểm vài sợi bạc.

Giọng nói của ông tuy rất nhẹ nhàng từ tốn, nhưng vẫn toát lên khí chất nghiêm nghị đặc trưng không thể xem thường, hoàn toàn không giống “lão lưu manh” trong lời Mộc Cát Sinh, mà giống một vị nho tướng, văn võ song toàn hơn.

Mộc Cát Sinh từ tấm bé đã theo cha vào doanh trại, sống trong quân doanh đến mười tuổi mới tới Ngân Hạnh Thư Trai để học tập.

Kể từ đó, hai cha con hiếm khi gặp nhau.

Mộc Tư Lệnh không thủ trong thành, quanh năm dẫn quân chinh chiến khắp nơi, thư từ qua lại với con trai cũng rất ít.

Suốt bốn năm Mộc Cát Sinh đi du học, ngoài bức thư đầu tiên ông gửi sang để dặn dò chuyện học hành, thì chẳng có thêm gì.

Đôi khi, Mộc Cát Sinh gần như quên mất mình còn có một người cha.

Mộc Tư Lệnh không nuông chiều con cái, ưu tiên phong cách nuôi thả, để con trai tự va chạm, bương chải mới trưởng thành.

Ông chỉ sắp xếp cho Mộc Cát Sinh đi du học, học phí và sinh hoạt phí một xu cũng không chu cấp.

Trái lại, đám anh em bạn bè chí cốt thì ba ngày hai bữa lại gửi tiền gửi đồ tiếp tế.

Trước khi về nước, y có gửi thư báo tin, nhưng Mộc Tư Lệnh quanh năm suốt tháng không về nhà, chắc hẳn không nhận được.

Vì thế nên khi bất ngờ gặp được ông ở đây, Mộc Cát Sinh có hơi kinh ngạc.

“Ta không quan tâm đến nhiều chuyện lắm, thiếu một hai câu hỏi thăm con cũng chẳng sao đâu.”

Mộc Tư Lệnh rút một điếu thuốc, nói: “Ta sắp phải đến phương nam, vốn không định gặp con, nhưng gặp cũng đã gặp rồi, thế thì hỏi thêm vài câu.”

Mộc Cát Sinh đưa diêm, châm thuốc: “Xin người cứ nói.”

"Thế sự gần đây, trong lòng con đã nắm rõ rồi chứ?"

“Dạ, có.”

“Lần này về nước, đã có tính toán gì chưa?”

"Có rồi ạ."

“Từ khi con mười tuổi, ta đã không quản chuyện của con nữa.

Những năm qua cha con ta gần thì ít mà xa thì nhiều, con tuy vẫn chưa làm được gì ra hồn, nhưng cũng học được đôi chút mánh vặt, ít ra vẫn có thể tự đứng giữa đời."

Mộc Tư Lệnh nhàn nhạt nói: “Giờ đây khói lửa bốn phương, là giai đoạn triều thế lung lay khốc liệt, con lại về đây dấn thân vào vũng nước đục này, rốt cuộc là vì cái gì?”

Mộc Cát Sinh khẽ cười: “Cha, con trai họ Mộc.”

“Thế vẫn chưa đủ.”

"Non xanh trải dài chôn thây người trung nghĩa...

"

“Đừng có hoa hoè văn vở với ta.

Nghĩ cho rõ rồi hãy nói.

Nếu còn vòng vo, lập tức xuống xe, mua vé tàu quay về Châu Âu học tiếp cho ta.”

Mộc Cát Sinh thu nụ cười, trầm ngâm một lúc, rồi ngồi lại ngay ngắn nghiêm chỉnh, bắt đầu nói.

Y nói một tràng lưu loát bằng tiếng anh, lời lẽ đậm sắc thái trang trọng, nghe qua như bài diễn văn phát biểu trước hội đồng chứ chẳng giống lời của một người con nói với cha mình.

Nhưng Mộc Tư Lệnh vẫn lắng nghe.

Ông dập tàn thuốc, thản nhiên bảo: “Tiếp đi.”

Ông hoàn toàn hiểu con trai mình đang nói gì, đây chính là bài tường thuật về tình hình chiến sự mà tờ Times đã đăng mấy hôm trước.

Mộc Cát Sinh chậm rãi mở ra toàn cảnh cục diện: Tranh chấp quốc tế, thế sự trong nước, tình hình chiến trường, lòng dân và sinh kế…

Y trút đi dáng vẻ hoạt bát thường ngày, chỉ ra từng điều từng chi tiết một cách rõ ràng rành mạch.

Qua đó mới thấy y đã bỏ rất nhiều tâm tư, cân nhắc kỹ càng, mới có thể trình bày đường hoàng đến thế.

Thanh niên chớm tuổi trưởng thành trong vài lời ngắn ngủi đã cởi bỏ lớp vỏ lưu manh hoạt bát thường ngày, phơi ra đoạn xương cứng cỏi ngâm trong dòng máu nóng, tựa ngụm rượu mạnh đập tan lớp sương đêm, vừa lạnh lại vừa bỏng rát.

Như có một ngọn lửa thắp sáng đêm đen tĩnh lặng, từ nơi ấy vang lên tiếng trống dồn, đầu nguồn là chỗ lồng ngực của chàng.

Mộc Cát Sinh nói xong thì lại mỉm cười, một nụ cười khó mà hình dung được, như đương sẵn lòng dấn thân vào chốn sinh tử, hào sảng như khúc ca tráng sĩ, lại pha lẫn một chút thấu hiểu ngầm từ huyết thống cha con.

Sinh ra trong nhà tướng giữa thời chiến loạn, nào câu nệ lễ nghi hiếu từ, mà chỉ còn là hai thanh đao liếm máu vì nhau.

“Dẫu chẳng có gân đồng cốt sắt, vẫn nguyện cúi đầu góp ít sức mọn, cầu may được làm một đốt xương lưng cho tổ quốc."

Hai cha con im lặng nhìn nhau qua gương chiếu hậu.

Mộc Tư Lệnh ném cho y một điếu thuốc: “Xem ra con đã sẵn sàng rồi."

“Nếu không thì đâu dám múa rìu qua mắt thợ trước mặt ngài.”

Mộc Cát Sinh đốt que diêm, bật cười: “Thưa Tư lệnh, ngài xem, người lính như con có đủ tiêu chuẩn không?"

Mộc Tư Lệnh khẽ “ừm” một tiếng nhỏ: “Coi như đạt tiêu chuẩn.”

Lời đã nói rõ, ông cũng không vòng vo nữa, đi thẳng vào chuyện chính: “Giờ thế cục đang giằng co, đại chiến sắp nổ ra.

Ta phải dẫn quân tiến về phía nam, lần này không thể đưa con đi, nhưng ta muốn con giúp ta hoàn thành một việc khác.”

“Xin nhận lệnh, ngài cứ nói."

Mộc Tư Lệnh hạ cửa xe xuống, chỉ về phía xa xa: “Giúp ta giữ vững tòa thành này.”

Mộc Cát Sinh theo hướng tay cha trông ra, nơi ấy cổng thành sừng sững, muôn nhà sáng đèn, là chốn phồn hoa được gột nên từ nghìn năm gió sương.

"Toà thành này là vị trí chiến lược quan trọng, cũng là cửa ngõ tiến sâu vào địa phận trung tâm.

Một khi thất thủ, hậu quả sẽ là thây chết trải đầy đường, non sông vạn dặm tan hoang.”

Mộc Tư Lệnh nói: "Dẫu không thể đoán được tình hình chiến sự sắp tới sẽ ra sao, nhưng nếu có bất trắc, phải giữ từng tấc đất.”

“Con ba tuổi đã theo ta vào doanh trại, chạy khắp trời nam bể bắc, giữ một tòa thành với con chẳng phải chuyện khó.”

Mộc Tư Lệnh quay lại, mỉm cười với con trai: “Đừng làm ta mất mặt.”

Mộc Cát Sinh nghiêm người, giơ tay chào: “Xin Tư lệnh yên tâm.”

"Tư Lệnh cái gì, gọi là cha.”

Mộc Tư Lệnh vỗ vai con trai: “Mấy năm nay ta bôn ba khắp nơi, chẳng lo cho con được bao nhiêu, cũng may con không khiến ta phải bận tâm.

Căn nhà trong thành xây đã nhiều năm, ta lại chẳng mấy khi ở đó.

Đi xong chuyến này, lúc trở về cha sẽ tìm cho con một mối hôn, căn nhà ấy cho con làm của, coi như nhà cưới.

Sau này có thêm vài đứa nhóc, trong nhà sẽ đông vui hơn."

“Chẳng phải có câu giặc chưa diệt, lấy gì lập gia đó sao?”

Mộc Cát Sinh gãi đầu: “Cha không lo cho mình lại đi lo cho con làm gì.

Con thấy chi bằng cha tự tìm cho mình một người vợ kế đi.

Bốn vị tham mưu của cha, cha đều gả đi hết rồi, sao bản thân lại cứ phòng không hiu quạnh thế?"

“Còn dám nói chuyện tào lao, cha gả mày cho cô bán đậu phụ ở thành đông bây giờ.”

Mộc Tư Lệnh đá Mộc Cát Sinh một cú, quát: "Đi đi!"

“Cha đi thong thả, thật ra con thấy cô nàng bán hoành thánh phía đông thành vừa ý hơn, hoành thánh ở đó đã to nhân lại nhiều."

“Chờ cha về...”

Mộc Tư Lệnh phất tay: "Sắm cho mày năm mươi cân thịt heo làm của hồi môn!”

Chiếc xe lướt nhanh đi, tiếng còi vọng lại một hồi dài.

Mộc Cát Sinh đứng yên nhìn theo một lúc, trong lòng ngổn ngang trăm mối.

Cuối cùng, y dứt khoát đi thẳng một mạch tới phía đông thành ăn hoành thánh.

Quán gánh năm nào vẫn còn đó, trên bếp đặt một chiếc nồi đất lớn, muôi là loại cán tre, bát là sứ viền lam.

Hoành thánh vừa vớt ra nóng hổi, vỏ mỏng nhân đầy, chan thêm một muôi dầu mè ớt đỏ rực.

Mộc Cát Sinh ăn liền hai bát, no căng bụng da mắt lại chùng, y lững thững quay về Mộc phủ, ngả xuống giường là thiếp đi ngay.

Sáng hôm sau, Mộc Cát Sinh dậy thật sớm, rửa mặt chải đầu xong liền tiến ra doanh trại ở ngoại thành.

Người chỉ huy lực lượng đồn trú là thuộc hạ cũ của Mộc Tư Lệnh, cũng là người nhìn Mộc Cát Sinh trưởng thành.

Ông vừa thấy mặt y đã giơ nắm đấm chào hỏi: "Nhóc đến rồi à?

Mấy năm nay ở bên Tây học được món gì?

Đến đây, đánh vài chiêu xem!

Đánh thắng rồi mới được bước vào.”

“Được thôi!”

Mộc Cát Sinh đã đoán trước sẽ có màn này, liền xắn tay áo, cười híp mắt: “Xin dạy bảo thêm."

...

Sáng sớm tinh mơ, Tùng Vấn Đồng đã đá văng cửa lớn Mộc phủ.

Không ngờ Mộc Cát Sinh đã đi từ sớm.

Mộc phủ quanh năm hiu quạnh, chỉ có mấy bà lão lo việc quét dọn, hỏi gì cũng chỉ biết lắc đầu: “không biết, không rõ”.

Tối qua, hắn bị cho leo cây, lửa giận bốc lên ngùn ngụt, lục tung cả thành vẫn không thấy người đâu.

Hắn lại chạy sang chùa Bạch Thủy tìm, vẫn không thấy.

Cuối cùng, khi đi ngang qua Quan Sơn Nguyệt, lại bị dì Triệu gọi giật lại: “Tiểu Đồng à, nghe nói sáng nay con chạy khắp nơi, có chuyện gì thế?”

“Tìm lão tứ!”

“Không phải nó sáng sớm đã ra doanh trại bên ngoài thành rồi sao?”

Dì Triệu kể: “Nghe đâu đánh nhau ầm trời, một đám người đứng quanh xem đông vui lắm!”

“?!?”

Tùng Vấn Đồng lập tức chạy lao đi.

Khi hắn chạy đến gần, từ xa đã thấy trước cổng trại vây kín người.

Mộc Cát Sinh đứng giữa đám đông, vừa mới quật ngã một binh sĩ cao lớn.

"Thứ bốn mươi chín!

Người kế tiếp!”

Tùng Vấn Đồng bước vào vòng người, hỏi: "Chuyện gì vậy?"

“Cậu ấm nhà họ Mộc muốn vào doanh trại, các lão binh xếp hàng đánh tay đôi với cậu ta đấy!”

Một gã đàn ông đứng xem lớn giọng đáp, mặt đầy vẻ hóng hớt: "Một buổi sáng đã hạ gục mấy chục người rồi!

Một mình chấp cả doanh, còn đặc sắc hơn xem sân khấu kịch!”

Tùng Vấn Đồng nhướng mày, chẳng chen vào sâu, chỉ khoanh tay liếc mắt, lặng lẽ quan sát Mộc Cát Sinh đánh đấm liên hồi.

Thanh niên mặc quân phục đứng giữa đám đông, tay áo sơ mi xắn cao, sống lưng thẳng tắp đứng dưới nắng.

Y bật cười, đưa tay vuốt mái tóc ướt sũng mồ hôi ra sau: “Lên!

Người tiếp theo!”

Tùng Vấn Đồng nhìn rõ cách Mộc Cát Sinh đá ngã đối thủ, đây chính là chiêu đặc trưng của y, lúc ra đòn cả người gần như bay lên không, mà giữa không trung lại đổi thế quật người, mạnh mẽ sắc bén.

Hắn chợt nhớ tới lần đầu hai người gặp nhau ở Ngân Hạnh Thư Trai.

Khi ấy Mộc Cát Sinh vừa rời doanh trại, cánh tay còn quấn băng, dáng vẻ ngang tàng lại pha chút bất cần đời.

Y ngậm cọng cỏ đuôi chó, nghiêng đầu hỏi hắn: "Đao của ông nhìn được đấy, đánh một trận không?”

Sau đó, người này lại hóa thành công tử lêu lổng trong Thư trai, áo gấm ngọc ngà, suốt ngày chè chén, nuôi chó chọi gà, chỉ nói miệng chứ chẳng động tay, khí khái ngang ngược dần tan, thay bằng phong thái phong lưu tiêu sái.

Nhưng Tùng Vấn Đồng vẫn không quên trận đầu tiên ấy.

Lúc đầu chỉ là thử chiêu đùa giỡn, ai ngờ càng đánh càng hăng, chẳng ai chịu nhường ai, như hai con chó hoang cắn xé, càng đánh càng dữ.

Lẽ ra Tùng Vấn Đồng có lợi thế hơn, nhưng đối phương nghiến răng nhìn hắn, đôi mắt sáng rực, hung hăng bất kham, cứ thế hai bên giằng co mãi không phân thắng bại.

Cuối cùng, cả hai đều bị khiêng về phòng.

Đêm ấy, Tùng Vấn Đồng lén trộm rượu trong bếp, định tìm người kia uống cùng một chén, lại đụng trúng người ta đang ôm bình rượu đi tìm mình.

"Thứ năm mươi sáu!

Người kế tiếp!”

Tiếng hô của Mộc Cát Sinh kéo Tùng Vấn Đồng ra khỏi dòng hồi ức.

Dưới ánh nắng chói chang, chàng trai ấy vẫn rực rỡ như chim ưng vươn cánh, đôi mắt sáng ngời như ngày đầu gặp gỡ.

Tùng Vấn Đồng vô thức bật cười, quay người trở vào thành.

Khi ra ngoài thành lần nữa, trên tay hắn đã có thêm hai thứ là một thanh đao và một vò rượu.

Hắn giắt Đao Thỉ Hồng sau lưng, gỡ giấy dán nắp vò rượu, vừa uống vừa nhìn Mộc Cát Sinh đánh người.

“Thứ bảy mươi tám!”

“Thứ bảy mươi chín!”

Mộc Cát Sinh cởi cúc, ném phăng chiếc áo sơ mi sang một bên: “Tiếp đi!

Hôm nay tôi sẽ tiếp tròn một trăm người."

“Tám mươi bảy!”

“Tám mươi tám!”

……

“Chín mươi chín!”

Tùng Vấn Đồng uống cạn vò rượu, ném mạnh xuống đất, khiến đám đông giật mình ngoái lại nhìn.

Hắn bước lên, rút đao chỉ về phía Mộc Cát Sinh: “Thứ một trăm.”

Sức chiến đấu của Tùng Vấn Đồng nổi danh khắp thành, ai ai cũng biết.

Mộc Cát Sinh đánh từ sáng đến giờ đã thấm mệt, như cây cung hết đà, mũi tên sắp gãy.

Viên sĩ quan đang đứng xem tỏ ra ái ngại, định bước lên can ngăn, nhưng Mộc Cát Sinh lại xua tay, nói: “Không sao.”

Rồi y ngoắc ngoắc ngón tay với Tùng Vấn Đồng: "Đến đây.”

Tùng Vấn Đồng trở tay rút đao, lưỡi đao vẫn chưa ra khỏi vỏ, hắn đã hạ thấp thân người, chỉ trong một giây, ánh mắt hắn liền thay đổi.

Cách biệt bốn năm, Mộc Cát Sinh lại nhìn thấy đao Thỉ Hồng lần nữa.

Thanh đao cổ xưa vẫn bén nhọn như trước, trông vừa lộng lẫy vừa hung bạo.

Ngay khi đường đao đầu tiên được vung lên, y liền nở nụ cười, bởi vì lần gặp đầu tiên năm đó cũng là vào một buổi chiều hè rực rỡ đầy nắng như hôm nay.

Thiếu niên tuấn tú dưới gốc cây vung đao chém về phía y, ánh đao kinh diễm, tiếng gió sắc lẹm: “Nếu cậu có thể qua được ba chiêu, tôi sẽ cho cậu biết đao này tên gì."

“Nếu tôi thắng thì sao?”

"Đó là việc không tưởng."

“Không thử thì làm sao biết?"



“Chúng ta đánh cả buổi chiều rồi nhỉ?

Xem ra tôi cũng không phải hoàn toàn không có cửa thắng.

Anh nói xem, nếu tôi thắng thì sẽ thế nào?”

“Nếu cậu thắng tôi, tôi sẽ làm cho cậu một việc."



Mộc Cát Sinh bừng tỉnh khỏi dòng hồi ức, nghiêng người tránh luồng gió đao đầu tiên phóng tới, đồng thời lăn một vòng trên đất.

Đao pháp của Tùng Vấn Đồng cực nhanh, chẳng ai nhìn rõ được chiêu thức hoàn chỉnh. khoảnh khắc thấy được ánh đao thứ nhất thì thực ra đó đã là lúc thu đao của chiêu thứ hai.

Muốn tránh được hai tầng đao kép là một chuyện cực kỳ khó, nhưng Mộc Cát Sinh từ bé đã dễ dàng tránh được, y dùng lối đánh không cần mặt mũi trong doanh trại, chính là đừng đứng mà hãy bò, lăn lê bò lết sao cũng được, tránh càng xa càng tốt.

Tùng Vấn Đồng xuất thân Mặc gia, lại từng bồi dưỡng võ học tại Kiếm Các Bồng Lai, chiêu thức chính tông nhuần nhuyễn.

Đó là lần đầu hắn thấy lối đánh thô tục, du côn đến vậy, quả thực cũng bị ngớ ra vài giây.

Mãi về sau, hắn mới hiểu, con người Mộc Cát Sinh cũng chính là như thế.

Phong lưu tiêu sái là y; Mặt dày vô đối là y; Tinh thông tuyệt diệu cũng là y; Dốt nát lười biếng vẫn là y.

Y có thể vui vẻ đệm đàn ca hát với các chị em trong Quan Sơn Nguyệt, cũng có thể nghĩa khí xả thân vì bạn bè.

Nay y khoác lên mình bộ quân phục, lối đánh trơ trẽn không biết xấu hổ như ngày xưa lại càng xuất sắc vượt bậc hơn.

Hai người đánh qua đấu lại, toàn là những thức cũ năm xưa, tái hiện hoàn hảo lần gặp đầu tiên.

Nhưng họ đã quá quen thuộc lẫn nhau, chưa tung hết một chiêu giữa đường đã biến đổi.

Năm đó họ đánh hòa, còn ngày nay, khi tốc độ đã nhanh hơn gấp bội, Mộc Cát Sinh rõ ràng không phải là đối thủ ngang sức với Tùng Vấn Đồng.

Ngân hạnh đã thay lá mấy lượt, chuyện thuở xưa như mới ngày hôm qua.

Tùng Vấn Đồng xoay người, vung đao thành nửa vòng cung: "Cậu chẳng tiến bộ gì cả!"

“Chưa chắc.”

Mộc Cát Sinh bật người né tránh: “Giờ tôi tay không tấc sắt, nếu được cầm vũ khí, một chiêu chắc chắn thắng được ông."

"Đánh đấm vẫn mãi dặm chân tại chỗ, nhưng gáy giỏi lắm."

Tùng Vấn Đồng tặc lưỡi: "Nếu đã tránh được đao của tôi, cậu muốn lấy gì làm vũ khí thì cứ tự nhiên mà lấy.”

“Thế sao được, năm đó chúng ta cũng đánh tay không, tôi mà cầm đồ thì đâu còn như trước.”

"Nên khác đi rồi."

Hai người lướt qua nhau, vai sượt vai, giọng Tùng Vấn Đồng vang bên tai Mộc Cát Sinh: "Giờ đâu phải là ngày đó nữa."

Mộc Cát Sinh khựng lại, rồi bật cười: “Hay lắm!

Nên khác đi rồi, đâu phải là ngày đó nữa.”

Y lớn tiếng gọi: “Lên đi, lão nhị!

Một chiêu phân thắng bại, không cần nương tay."

Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, Tùng Vấn Đồng vung ngang một đao, ánh đao đỏ rực loé trong không trung xé ra một đường cong yêu dị hung hãn.

Cả đám người đứng xem ở xa cũng bị luồng khí đao ép phải lùi liên tục.

Hắn đã dồn nội lực vào chiêu này, đao Thỉ Hồng dù chưa ra khỏi vỏ cũng đủ làm người khác bị thương.

Mộc Cát Sinh né không kịp, bị hất văng một cú, ngã xuống đất rồi lăn xa mấy vòng, nằm cuộn người, chẳng bò dậy nổi.

Tùng Vấn Đồng cũng không lo đối phương bị thương, bởi hắn biết rõ sức mình.

Chiêu vừa rồi Mộc Cát Sinh không phải không tránh được, có lẽ vì do quá mệt nên không kịp phản ứng thôi.

Hắn xách đao đi tới: “Nếu còn đứng dậy được thì tiếp tục.”

Bất ngờ thay, Mộc Cát Sinh phản ứng cực nhanh, y co chân, quét ngang một cái, khiến Tùng Vấn Đồng ngã sõng soài.

Kế đến là một họng súng trỏ thẳng vào thái dương hắn.

"Ông thua rồi!”

Sau nòng súng là khuôn mặt tươi cười hí hửng của Mộc Cát Sinh.

Tùng Vấn Đồng đá y một cái: “Thắng chẳng quang minh chút nào.”

“Binh bất yếm trá, chẳng phải ông bảo tôi dùng vũ khí sao?”

Mộc Cát Sinh cười ha hả, rồi ngã vật xuống đất: “Mệt chết tôi rồi, phiền ông giúp một tay, kéo tôi vào trong đi.”

Tùng Vấn Đồng cũng chẳng khách sáo, chỗ này ngoài cát cũng chỉ toàn cát.

Hắn đứng lên, một tay túm lấy cổ chân Mộc Cát Sinh, lôi sềnh sệch vào trong doanh trại.

Cả khu doanh trại này là do Mộc Tư lệnh xây dựng từ nhiều năm trước.

Bên cạnh thao trường có mấy tòa lầu gác nhỏ.

Mộc Cát Sinh vừa vào đã chạy vọt đi tắm rửa, thay bộ quân phục mới rồi bước ra ngoài, hỏi: “Lão nhị, sao ông lại đến quân doanh?

Trưa nay không buôn bán à?"

“Còn biết nhớ đến Nghiệp Thủy Chu Hoa của tôi cơ đấy!”

Tùng Vấn Đồng hừ lạnh: “Tối qua bày hai tầng tiệc lớn chờ cậu, chờ đến nửa đêm cũng chẳng thấy bóng dáng đâu.”

Mộc Cát Sinh giật mình.

Chết rồi!

Tối qua hiếm khi gặp được cha, khiến y quên mất vụ này.

“Ờ thì…”

Biết mình sai, y cười trừ: “Hay để tôi chi tiền, mấy ngày nữa ông kéo đầu bếp ở tiệm ông đến doanh trại làm một bữa, cũng coi như nấu thêm đồ ăn cho các anh em tẩm bổ."

Tên keo kiệt này cả đời chẳng mấy khi chịu móc tiền, nay lại tự nguyện bỏ của, đủ thấy y chột dạ đến mức nào.

“Thôi đi, tôi không thiếu mấy đồng của cậu.”

Tùng Vấn Đồng đáp gọn: “Tối qua cậu lêu lỏng ở đâu vậy?

Tiệc hôm qua có cả người ở Phong Đô đến đấy."

“Phong Đô à?

Họ lại rảnh rỗi đến gây chuyện gì nữa?”

Mộc Cát Sinh phất tay: "Tôi bên này lo chuyện người sống còn chả xong, hơi đâu lo nổi chuyện người chết."

“Giờ e không thể tùy cậu được..."

Tùng Vấn Đồng mở cửa sổ, từ tòa lầu gác có thể thấy rõ ngọn núi phía xa, nơi đó có chùa Bạch Thủy ẩn hiện trong làn sương mờ.

“Tin cậu quay về đã lan khắp trên trời dưới đất.

Hai năm qua cậu không có ở đây, việc này vẫn luôn bị gác lại.

Giờ các nhà đều phái người tới.

Hai ngày sau tại Ngân Hạnh Thư Trai ở chùa Bạch Thủy – Bảy nhà tụ họp, Chư Tử tranh minh.”

*Mộc Cát Sinh:

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 23


Chương 23

Trời vừa tảng sáng, tiếng chuông chùa vang lên, ngân dài thăm thẳm, lan khắp cả thành.

Trong Ngân Hạnh Thư Trai có một hồ nước, trồng đầy hoa súng.

Trên hồ bắc một cây cầu dài bằng gỗ mun, dẫn đến gian thủy tạ.

Khi còn tại thế, Ngân Hạnh trai chủ rất thích ngồi ở nơi này.

Gió nhẹ rèm đưa, cả gian dịu mát.

Ô Tử Hư đứng trên hành lang, nhìn ra giữa hồ: "Tôi nhớ lúc tiên sinh còn sống, người đã gọi gian thủy tạ này là Phiếm Thu Thanh.

Hồi nhỏ không hiểu chuyện, cứ thắc mắc nơi này rõ ràng là chỗ tránh nóng mùa hè, cớ sao lại lấy mùa thu để đặt tên.

Sau này lớn hơn một chút, tôi cho rằng tiên sinh đã từng trải qua biết bao thăng trầm thế gian, bởi vậy trong mắt người chỉ còn lại trời thu gió mát."

"Ngày bé toàn tự mình suy diễn, cũng chẳng biết tìm tiên sinh hỏi cho rõ.

Cuối cùng lại trở thành một thắc mắc còn bỏ ngỏ đến nay."

Ô Tử Hư rũ mắt, cười nhạt: "Để đại sư chê cười rồi."

Có một nhà sư đang đứng cạnh anh, đó là sư trụ trì của chùa Bạch Thủy.

Đại sư khẽ niệm A Di Đà Phật, rồi đáp: "Vô Thường Tử có điều không biết."

"Xin đại sư chỉ bảo."

“Khi Ngân Hạnh Thư Trai được khởi công xây dựng, bần tăng lúc ấy vẫn còn trẻ.

Năm đó Mặc Tử đời trước vẫn còn sống, người đã tự mình chủ trì xây dựng toàn bộ thư trai.

Đến lúc gần hoàn thiện, có mấy xe gỗ cháy được vận chuyển tới chùa Bạch Thủy, Mặc Tử nhờ các vị tăng nhân trong chùa phụ giúp, dựng lên gian thủy tạ giữa hồ."

Sư trụ trì chậm rãi kể tiếp: "Bần tăng cũng là một trong số những người đến giúp, khi đó có nghe Mặc Tử nói rằng, gian thủy tạ này đã từng được xây dựng ở chỗ khác, tên gốc chính là Phiếm Thu Thanh."

“Thì ra là vậy.”

Ô Tử Hư chợt tỉnh ngộ: "Đại sư nói năm đó gỗ được vận chuyển tới toàn là gỗ cháy, lẽ nào gian thủy tạ này đã từng bị thiêu rụi?"

"Chuyện đó chưa rõ, nhưng khi gỗ được vận chuyển tới, quả thật đã cháy đen toàn bộ.

Dựa vào tài nghề điêu luyện của Mặc Tử, gian thủy tạ này mới được khôi phục lại như cũ."

Sư trụ trì nói: “Trải qua bao năm mưa gió, nên giờ không thể nhìn ra dấu vết ngày trước nữa.”

Ô Tử Hư trầm ngâm giây lát, rồi chắp tay hành lễ với trụ trì: “Đa tạ đại sư đã giải đáp thắc mắc.”

“Con người sống ở đời, lắm khi gặp mê chướng, Vô Thường Tử cứ việc nói ra cho nhẹ lòng.”

Trụ trì chắp tay, giọng ôn tồn: "Lần các Chư Tử tụ họp tại thư trai gần đây nhất, cũng đã là chuyện của mấy mươi năm về trước.”

"Vâng, lúc tiên sinh qua đời, Trường Sinh Tử ở Bồng Lai bận việc không tới.

Ngẫm lại một vòng, từ khi tôi tiếp nhận vị trí Vô Thường Tử tới nay, chưa bao giờ thấy Chư Tử tề tựu đầy đủ."

Ô Tử Hư nhìn gian thủy tạ đằng xa, cười khổ: "Hôm nay cũng vậy, Tinh Túc Tử không tới, lão tứ e rằng cũng không."

Hôm nay Ô Tử Hư mặc cổ phục, áo trắng, tất trắng, tay áo rộng, vạt áo dài, đây là lễ phục truyền thống trong những buổi Chư Tử tụ họp.

Gian thủy tạ phía xa được mở rộng lớn gấp mấy lần bình thường, cơ quan lắp dưới sàn nhà khởi động, kéo rộng ra bốn phía, diện tích nền gần như chiếm nửa mặt hồ.

Trên mặt sàn đàn hương bày bảy tấm bình phong giấy trắng, xếp thành một vòng tròn.

Trước mỗi bình phong là một án hương, một lư đồng.

Ba chiếc lư đồng đã thắp hương, khói mỏng bay phiêu đãng, trước mỗi tấm bình phong đều có một người mặc cổ phục trắng giống hệt Ô Tử Hư đang ngồi đợi.

Phía sau bình phong cũng có rất nhiều người đang đứng xếp thành một hàng, trên vạt áo của mỗi người đều thêu gia huy của tộc mình.

Bồng Lai Trường Sinh Tử – Họa Bất Thành.

Trưởng lão Chu Gia – Chu Bạch Chi.

Linh Xu Tử Dược Gia – Sài Thúc Tân.

Ô Tử Hư đứng ngoài quan sát hồi lâu, rồi khẽ lắc đầu, bước vào thủy tạ.

Ba người còn lại đồng loạt đứng dậy hành lễ, chào hỏi nhau xong, Ô Tử Hư ngồi xuống trước một tấm bình phong, lấy từ trong tay áo ra một nén hương, châm lửa, cắm vào lư đồng.

Khói hương tỏa mờ, chẳng bao lâu, sau tấm bình phong nhà họ Ô đã xuất hiện thêm hai bóng người.

Một người mặc áo xanh, tay cầm thẻ ngà*, chính là một trong tứ đại phán quan của Phong Đô.

Người còn lại là một thiếu nữ búi tóc hai bên, đeo mặt nạ trắng, còn ai khác ngoài bà lớn Thái Tuế – Ô Nghiệt.

(*)Thẻ ngà: Cái gậy dài dài vuông vuông màu trắng ngà mà mấy vị quan ngày xưa hay cầm hai tay để trước ngực khi vào triều.

Chu Bạch Chi thấy vậy liền vuốt chòm râu bạc, chậm rãi nói: “Hôm nay là ngày bảy nhà tề tựu, phán quan Phong Đô cớ sao lại hiện thân ở đây?”

Ô Tử Hư còn chưa kịp đáp thì Ô Nghiệt đã ngáp dài, ném lại một câu: “Ơ kìa, lão ca, ông vẫn chưa chết à?”

Chu Bạch Chi là một trong những trưởng lão cao tuổi nhất của dòng dõi Chu Tước, tu vi gần ngàn năm.

Ô Nghiệt thì là bà lớn Thái Tuế, đã định cư tại Phong Đô hơn chín trăm năm nay, cả hai đều thuộc hàng cụ kỵ cao niên nhất trong bảy nhà.

Chu Bạch Chi dáng người gầy gò tinh anh, giữa trán có một vệt đỏ như mực chu sa, nghe vậy chỉ liếc qua Ô Nghiệt đang nằm bò trên bình phong, nhàn nhạt đáp: “Xem ra bà chị vẫn mạnh khỏe an khang.”

“Có đâu, sao sánh nổi với huynh, mình tùng cốt hạc, thần tiên thoát tục.

Người ngoài trông vào còn tưởng ta là cháu gái của huynh cơ!”

"Ta nào dám hơn bà chị đây."

Ô Nghiệt không thường xuyên đến buổi tụ họp của bảy nhà, thứ nhất là ngại phiền, thứ hai là cảm thấy nhàm chán.

Nhưng Tinh Túc Tử còn quá nhỏ, mấy lần trước bảy nhà tụ họp đều do Chu Bạch Chi thay thế tham dự, Chu Bạch Chi vai vế cao, là một lão già cứng nhắc, đến cả Ngân Hạnh trai chủ mỗi khi gặp cũng phải nhún nhường cung kính.

Mộc Cát Sinh thì tính khí bốc đồng, chẳng nể nang ai, Ô Tử Hư lo y lỡ miệng đụng chạm người ta, nên mới đặc biệt mời Ô Nghiệt đến.

Giữa hai cái hại, chọn cái nhẹ hơn, ít ra Chu Bạch Chi sẽ không nổi giận vì một tiểu bối.

Các cuộc đấu khẩu giữa Ô Nghiệt và Chu Bạch Chi từ lâu đã là giai thoại trong bảy nhà.

Cả hai đều sống quá lâu, chẳng nhớ nổi ai lớn hơn ai.

Chu Bạch Chi khăng khăng nói rằng Ô Nghiệt lớn tuổi hơn, nhất quyết không chịu xưng sai vai vế.

Ô Nghiệt đương nhiên không chịu thua, bị một lão già nhăn nheo gọi là "bà chị”, ai mà chịu thấu.

Thế là hai người cứ mãi không ai nhường ai, nhìn cảnh một đôi trông như ông cháu lại cứ xưng hô "lão ca – bà chị” với nhau, đúng là vừa buồn cười vừa quái gở.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, trong bảy nhà, chỉ có Ô Nghiệt là dám trêu chọc người đó như vậy.

Nàng luôn mang chiếc mặt nạ trắng, biểu cảm biến hóa không ngừng.

Khi thì nở nụ cười để lộ răng nanh trắng nhởn, khi lại mếu máo như sắp rơi lệ, rồi lại biến thành một bộ mặt hề tinh quái, vừa chu môi vừa trợn mắt với Chu Bạch Chi, làm cho bầu không khí âm trầm ở gian thủy tạ náo nhiệt hẳn lên.

Sự tĩnh lặng nơi thủy tạ nhờ thế mà tan đi đôi phần, bầu không khí cũng hòa hoãn vài phần.

Ô Tử Hư nhìn quanh, vừa vặn chạm mắt với Sài Thúc Tân, thấy anh hơi nghiêng đầu, liếc mắt nhìn nén hương trước mặt, ngầm ra hiệu.

Mỗi khi bảy nhà tề tựu đều có quy tắc châm hương, hễ một nhà đến, sẽ đốt hương cắm vào lư đồng, đến khi nén hương của nhà có mặt cuối cùng cháy tàn mà các nhà khác vẫn chưa tới thì xem như vắng mặt.

Đây cũng là lý do khiến Ô Tử Hư cứ nấn ná hoài bên ngoài thủy tạ, đợi mãi đến lúc hương của Sài Thúc Tân sắp tàn mới chậm rãi bước vào, châm hương.

Nhưng dù họ cố kéo dài, thời gian cũng chẳng còn bao nhiêu, một nén hương của Ô Tử Hư nhiều lắm chỉ hơn nửa canh giờ.

Ô Tử Hư thở dài, nhẹ nhàng lắc đầu với Sài Thúc Tân.

Mộc Cát Sinh có đến hay không, anh thực sự không dám chắc.

...

Mộc Cát Sinh lúc này đang ở thao trường ngoại thành huấn luyện binh sĩ.

Y giới thiệu phương pháp huấn luyện của học viện quân sự phương Tây, tuy rằng tân tiến, nhưng dù sao cũng chỉ vừa mới tiếp xúc, sĩ quan binh lính đều cần thời gian thích nghi.

Mộc Tư Lệnh giao cho y thủ thành, nhưng thực chất là đem toàn bộ việc lớn việc nhỏ trong thành giao phó hết cho y.

Mỗi ngày, ngoài việc huấn luyện binh lính, còn có một đống công vụ phải xử lý, bận đến mức từ sớm tinh mơ đến tối khuya vẫn chưa hết việc.

May mà Mộc Cát Sinh vốn quen thuộc với công việc này, trong doanh trại cũng có không ít anh em cũ vào sinh ra tử cùng nhau.

Dù có chút vất vả, nhưng xem ra đều khá thuận lợi, mọi thứ dần vào guồng rất nhanh.

Mộc Cát Sinh vừa luyện quân xong một lượt, y cẩn thận dặn dò mọi người vài câu, rồi về phòng tắm rửa.

Đến khi vừa bước ra khỏi nhà tắm đã thấy Tùng Vấn Đồng đứng ngay ở cửa, tay ôm một bộ áo trắng.

“Làm gì đấy?”

Mộc Cát Sinh nhìn bộ đồ trong tay đối phương, nhíu mày: "Sớm bảnh mắt ra mà đã có ai chết à, ôm đồ tang đứng đây làm gì?"

“Đến Ngân Hạnh Thư Trai."

“Vài hôm nữa hãy đi.

Hai ngày nay tôi bận tối tăm mặt mũi, lát nữa còn một đống báo cáo phải xem.

À đúng rồi, lão nhị, nếu ông rảnh thì giúp tôi huấn luyện quân lính đi, có mấy tên lính mới lắm mồm không chịu nghe lệnh, ông qua dần họ một trận giúp tôi."

Tùng Vấn Đồng vẫn đứng yên không nhúc nhích, chỉ lẳng lặng nhìn y.

Mộc Cát Sinh bị nhìn đến mất tự nhiên, gãi đầu: “Không phải chứ, mấy hôm trước vừa đánh nhau xong, giờ lại muốn đánh nữa hả?

Thắt lưng tôi vẫn còn vết bầm tím đây này!"

"Tôi biết, mấy ngày trước chúng ta đã đánh một trận."

Rốt cuộc Tùng Vấn Đồng cũng lên tiếng: "Cậu thắng."

"Lão nhị, ông đừng khách sáo như vậy, tôi không quen..."

"Cậu đã thắng, nên tôi sẽ giúp cậu."

Tùng Vấn Đồng cắt lời, giọng bình thản mà dứt khoát: "Cậu hiểu ý tôi, đừng có giả ngốc."

Mộc Cát Sinh nghẹn lời, cổ họng cứng ngắt, chỉ giương mắt nhìn đối phương.

Bốn mắt giao nhau.

Cuối cùng, Mộc Cát Sinh chịu thua.

Y thở dài, thấp giọng nói: "Người hiểu ta, biết lòng ta muộn phiền.

Kẻ không hiểu, lại hỏi ta mong cầu chi.”

Y nói xong lại nhìn Tùng Vấn Đồng, cười khổ: "Thua ông luôn, biết rõ tôi chẳng muốn đi, trần đời chắc chỉ có mỗi lão nhị ông đây là có thể ép tôi đến mức này."

“Đi hay không là một chuyện, có làm Thiên Toán Tử hay không lại là chuyện khác.”

Tùng Vấn Đồng bình tĩnh đáp: "Tôi là Mặc Tử, trách nhiệm của tôi là đưa cậu đến đó.

Nếu có ai bức ép cậu, trước hết phải hỏi qua thanh đao trong tay tôi."

“Được rồi.”

Mộc Cát Sinh giật lấy bộ đồ trong tay hắn, vò gọn trong lòng bàn tay: “Đến rồi hẵng thay.

Mặc thứ này trong doanh trại, vẽ thêm cái vòng tròn đỏ là đủ làm bia cho người ta ngắm bắn rồi.

...

Trong thủy tạ, nén hương của Ô Tử Hư cũng sắp tàn.

Họa Bất Thành lên tiếng: "Sắp hết giờ rồi."

Họa Bất Thành là Trường Sinh Tử đời này, cũng là chưởng môn phái Bồng Lai.

Tu sĩ đạo môn, dung nhan chậm lão, người nọ vận áo trắng, đầu đội chiếc mũ kiểu dáng cổ xưa, dung mạo tươi trẻ như thanh niên, ánh mắt chẳng vui chẳng buồn trông hệt hạc trắng đứng giữa trời tuyết.

Phái Bồng Lai là một trong những nhà hưng thịnh nhất trong bảy nhà, lại thuộc tiên đạo, địa vị vốn đã cao.

Mà Họa Bất Thành là người lớn tuổi nhất trong số chư tử hiện nay, thế lực gần như một mình áp đảo.

Thế nhưng hắn lại là người trầm lặng kiệm lời, nhiều năm ẩn thế, thậm chí khi Ngân Hạnh trai chủ qua đời, hắn cũng chẳng đến viếng.

Đây là lần đầu tiên Ô Tử Hư gặp Hoạ Bất Thành, nên chẳng đoán nổi tâm ý đối phương.

Ngay cả Ô Nghiệt cũng im lặng, mặt nạ trên mặt biến thành một tờ giấy trắng không cảm xúc.

Lúc này, Sài Thúc Tân chợt lên tiếng: “Còn nửa khắc nữa.”

Chu Bạch Chi chau mày, có vẻ bất mãn: “Sư phụ qua đời, chẳng về phúng viếng.

Bảy nhà tề tựu, vẫn cứ lề mà lề mề, vị Thiên Toán Tử này cũng thật là…”

Họa Bất Thành bình thản nói: "Hắn vẫn chưa phải là Thiên Toán Tử.”

Sài Thúc Tân lại nói: “Hương chưa tàn, chưa tính là muộn.”

“Linh Xu Tử nói có lý.”

Một giọng nói trầm uy vang lên, theo đó là một bóng người sải bước tiến vào thủy tạ.

Tùng Vấn Đồng một thân áo trắng, sau lưng giắt thanh đao Thỉ Hồng, tay cắm nén hương vào lư đồng, nói: “Mặc gia đã đến, xin chư vị vui lòng đợi thêm nửa canh giờ.”

Các Chư Tử nhìn nhau, vẻ mặt mỗi người mỗi khác, sau tấm bình phong vọng lại tiếng thì thầm khe khẽ.

Tùng Vấn Đồng vén tay áo, ngồi xuống trước bàn hương án.

Mặc gia qua bao đời đều đơn truyền, không thân thích, không đệ tử, nên chỉ riêng bình phong của hắn là trống trơn, chẳng có lấy một người phía sau.

Ô Nghiệt nhìn toàn cảnh trong thủy tạ khi ấy, mặt nạ biến thành một nụ cười rạng rỡ.

Mộc Cát Sinh và Tùng Vấn Đồng cùng bước vào Ngân Hạnh Thư Trai, lúc này y đang ở trong hương đường.

Giờ đang là giữa hè, ngân hạnh ngoài cửa sổ vẫn còn tươi xanh, tiếng cành lá xào xạc truyền vào bên trong ô cửa đóng kín.

Ánh mặt trời chiếu xuyên qua song cửa sổ, ánh lên những hạt bụi nhỏ lơ lửng trong không khí, cùng với bóng cây loang lổ phủ trên mặt sàn.

Mộc Cát Sinh dâng lên một nén hương, khẽ nói: “Thưa sư phụ, đệ tử xin thắp hương ở đây, không thắp tại thủy tạ."

"Ngày trước ở thư trai, ai ai cũng cho rằng đại sư huynh có tiền đồ hơn con nhiều.

Con tự biết mình không thể ở lại lâu, nên mấy năm ấy chỉ xem như lánh đời an nhàn, vốn chẳng muốn gì hơn.

Tuổi trẻ nông nổi, sai thì cứ sai, say sưa ngông cuồng chóng quên ngày tháng, về sau cũng là một giấc mộng đẹp khó cầu.

Đệ tử thật không ngờ, người lại truyền vị trí Thiên Toán Tử lại cho con.

Người biết đó, Cát Sinh mang nghiệp nhà binh, quân nhân tranh giành mạng sống cùng vận trời, vốn chẳng tin mệnh.

Bốn mươi chín đồng tiền Sơn Quỷ, đệ tử hổ thẹn, chẳng dám nhận.

Năm ấy nhận được thư của lão nhị, biết tin sư phụ qua đời, nửa đêm chợt tỉnh, lại nhớ về những lời người từng nói khi thu nhận con làm đồ đệ: ‘Không cầu tỏ đạo lý cao sâu, chỉ cầu mong không thẹn với lòng.’

Bây giờ thế sự hỗn loạn, học trò cân nhắc cẩn thận từng bước, tự hỏi bản thân có tài cán gì mà phán xét đúng sai.

Nói ngàn lời vạn chữ, cuối cùng cũng chỉ vì hai chữ quốc gia.”

...

Sau một tuần trà, bên ngoài thủy tạ vang lên tiếng ngâm dài:

“Thanh thanh tử khâm, du du ngã tâm.”

(Tà áo xanh xanh khiến lòng ta vương vấn.)

Một thanh niên phong tư tuấn nhã từ xa bước đến, áo rộng tay dài trắng muốt, tà áo tung bay như mây.

Tựa như kẻ du xuân nán lại bên hồ, bông đùa gió trăng nơi đình đài, vừa trở về vừa ngâm nga vài khúc hát.

Gian thủy tạ rơi vào tĩnh lặng, mọi ánh mắt đều đổ dồn về hướng đó.

Chàng thanh niên chầm chậm đi vào thủy tạ, dừng bước ngay tấm bình phong của Thiên Toán Tử, cúi mình hành lễ, rồi xoay lưng, chắp tay chào mọi người, trên môi chàng treo một nụ cười nhạt.

Mọi người cùng chào đáp lễ.

Chu Bạch Chi là người mở lời trước: "Mộc công tử, vì sao không ngồi?”

"Chỗ của sư phụ, đệ tử nào dám ngồi.”

Khi nãy Tùng Vấn Đồng đã giới thiệu trước với y những người trong thủy tạ, Mộc Cát Sinh cúi người hành lễ: "Mong Chu trưởng lão thứ lỗi."

Chu Bạch Chi không thích vòng vo, nói thẳng vào vấn đề: "Nói vậy nghĩa là cậu không muốn tiếp nhận vị trí Thiên Toán Tử?"

"Không phải không muốn, mà tôi thực sự không thể."

Họa Bất Thành lên tiếng: "Cậu là người mà Ngân Hạnh trai chủ chỉ định kế thừa khi còn sống.

Đệ tử do chính y chọn, sao lại có chuyện ‘không thể’.”

Chu Bạch Chi cười lạnh: “Chỉ e là không muốn thôi.”

“Trường Sinh Tử.”

Mộc Cát Sinh chắp tay với Họa Bất Thành, nói: "Sư huynh của tôi đang ở Bồng Lai, là người tài giỏi hơn tôi rất nhiều, huynh ấy mới là người thích hợp."

“Lâm Quyến Sinh đã gia nhập phái Bồng Lai.”

Họa Bất Thành thản nhiên nói: “Lần này ta đến, nó đã nhờ ta chuyển lời giúp, chỉ một câu ‘Kính tuân sư mệnh.’ ”

“Nếu anh ta đã là môn sinh Bồng Lai..."

Tùng Vấn Đồng đột nhiên mở lời: "Vậy thì cái gọi là 'sư mệnh' đó, là lệnh của tiên sinh, hay lệnh của ngài?”

"Cũng chẳng khác mấy.”

Họa Bất Thành nói: “Năm đó, bổn phái đến Ngân Hạnh Thư Trai lấy đi một người, ký ước mười năm, sau khi đến Bồng Lai thì mười năm không được xuống núi.

Thiên Toán Tử đoán việc như thần, sao lại không lường được chuyện này?”

Tùng Vấn Đồng cau mày: "Ngài có ý gì?"

"Cậu là Mặc Tử, cũng từng đến Bồng Lai luyện võ, cậu không phải kẻ ngốc, lẽ nào nghe không hiểu?”

Họa Bất Thành liếc Tùng Vấn Đồng một cái, rồi đảo mắt nhìn quanh thủy tạ, từ tốn nói: "Năm xưa, lúc Bồng Lai và Ngân Hạnh Thư Trai lập ký ước, Ngân Hạnh trai chủ đã chọn người kế thừa ngay lúc đó rồi."

Chỉ là chưa từng nói thẳng ra mà thôi.

Mộc Cát Sinh cũng từng lờ mờ đoán được việc này, nhưng y không muốn nghĩ đến.

Giờ bị người khác nói trắng ra, lại thoáng ngây người.

Còn nhớ hôm đó, y đã tự gieo một quẻ trước miếu Nguyệt Lão, tính ra một câu 'Hoàng đạo cát nhật, là ngày thích hợp để xuất hành'.

Nhưng cũng chính trong ngày hôm ấy, Lâm Quyến Sinh rời đi, Tinh Túc Tử đến Ngân Hạnh Thư Trai, mà ngoài Ngân Hạnh trai chủ ra, toàn bộ người trong thư trai đều xuống núi.

Những việc xảy ra ngày hôm đó, tất cả đều là chuyện họ nghe Ngân Hạnh trai chủ kể lại.

Rốt cuộc hôm ấy đã xảy ra chuyện gì?

Bao nhiêu biến cố cùng diễn ra trong một ngày, vậy mà y lại chưa từng để tâm.

Phải chăng là sư phụ cố ý sắp xếp...

Nếu đúng là thế, thì người bày ra ván cờ như thế nào?

Mộc Cát Sinh nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.

Giờ không phải lúc để nghĩ đến chuyện đó.

Việc gấp trước mắt là tìm cách từ chối vị trí Thiên Toán Tử.

Y đứng thẳng lưng, mạnh mẽ lên tiếng: “Chắc hẳn chư vị đều biết, tôi xuất thân từ Mộc phủ, nhà tôi đời đời theo nghiệp binh.”

“Không phải.”

Chu Bạch Chi nói: “Lão từng xem qua gia phả nhà cậu rồi.

Mười chín đời trước, nhà họ Mộc vốn làm nghề dạy học."

Cả phòng thoáng lặng đi.

Mộc Cát Sinh: “…”

“Lão ca, lúc ấy ông chắc cũng còn là một con gà con chứ gì?”

Ô Nghiệt chen lời: “Chuyện mấy trăm năm trước rồi, so đo làm chi?”

"Chu trưởng lão biết rõ đến thế, hẳn cũng hiểu tình cảnh của tôi hiện giờ.”

Mộc Cát Sinh mỉm cười: “Lần này tôi du học trở về, ắt sẽ ra chiến trường.

Nếu tôi hấp tấp giành lấy một vị trí trong Thất Gia Chư Tử, đao thương vô tình, lỡ đâu bỏ mạng trên chiến trường, e rằng sẽ càng rắc rối hơn cho các vị."

“Hai việc này không hề xung đột với nhau.”

Chu Bạch Chi nói: "Trước đó có không ít đời Thiên Toán Tử từng tòng quân, cậu xuất thân từ môn hạ Thiên Toán, lẽ ra phải hiểu được điều này chứ."

“Vãn bối hiểu rõ.”

Mộc Cát Sinh gật đầu, thay đổi giọng điệu: "Thiên Toán Tử đời thứ bảy, xuất thân quý tộc, dẫn quân chinh phạt, giành đại thắng, cuối cùng trấn giữ nơi biên ải.

Thiên Toán Tử đời thứ mười bảy, gia cảnh nghèo khó, tuổi trẻ tòng quân, sau thành đại tướng.

Đời thứ hai mươi ba, làm mưu sĩ trong doanh, rồi phản bội, tự tay giết chủ.

Đời thứ hai mươi sáu, nước mất nhà tan vẫn không bỏ rơi ấu chúa, cuối cùng bị quân phản loạn chém dưới chân ngựa…”

Mộc Cát Sinh nói liên tục không ngừng, Thiên Toán Tử trải qua bao đời, trong đó có người nào tòng quân đều được y liệt kê toàn bộ.

Ai trung, ai phản, số phận ra sao đều được y kể ra hết.

Cả gian phòng yên tĩnh, chỉ còn nghe được mỗi giọng nói dõng dạc của Mộc Cát Sinh.

Cuối cùng, y thở ra một hơi, chậm rãi nói: “Song, nhìn lại các đời trước, dù tiến hay lui, dù công hay thủ, dù trung hay phản, thì động cơ bên trong cũng chỉ vì hai chữ – mệnh trời.

Mọi lựa chọn, đều căn cứ theo quẻ bói của bốn mươi chính đồng Sơn Quỷ hoa tiền.”

“Thiên Toán Tử đoán Thiên mệnh.”

Chu Bạch Chi nói: “có gì không đúng?”

"Thất Gia Chư Tử từ ngàn năm nay đều lấy Thiên mệnh làm gốc, trong thời khắc quan trọng thay thế gian định hướng, chèo lái muôn dân.”

Họa Bất Thành tiếp lời: "Đó là sứ mệnh, nguồn gốc của bảy nhà.

Quẻ bói của Thiên Toán Tử, không ai dám không theo."

“Ngài nói phải.”

Mộc Cát Sinh mỉm cười: “Đó đúng là sứ mệnh của bảy nhà, nhưng không phải sứ mệnh của người lính.

Thiên Toán Tử tính mệnh trời, thuận theo số mệnh, còn người lính không tin mệnh, cũng không nhận mệnh.”

Chu Bạch Chi sầm mặt: "Nhóc con, chớ ăn nói xằng bậy."

"Mộc Cát Sinh xuất thân từ Mộc phủ."

Sài Thúc Tân thản nhiên đỡ lời: "Cậu ấy không nói bậy."

Mộc Cát Sinh ôn hòa đáp: "Lời của vãn bối đều là thật lòng.

Nếu ngày nào đó gieo được một quẻ chỉ rằng tôi phải quay đầu phản bội lại các binh sĩ của mình, tôi tuyệt đối không làm.

Sinh mạng của hàng ngàn hàng vạn con người, sao có thể để bốn mươi chín đồng Sơn Quỷ hoa tiền định đoạt?”

“Trời không hợp thời, thì nhật nguyệt vô quang.

Đất không hợp thời, thì cỏ cây chẳng sinh.

Nước không hợp thời, thì phong ba chẳng dừng.

Người không hợp thời, thì vận lợi chẳng thông.”

Họa Bất Thành vung phất trần, vẻ mặt điềm tĩnh: "Thời là thế, mệnh là thế, vận cũng là thế.

Cậu còn quá trẻ."

“Trường Sinh Tử chê cười rồi.”

Mộc Cát Sinh cất cao giọng: “Vãn bối tuổi trẻ nông nổi, nên dám mạo hiểm một phen.”

Dưới ánh mặt trời, chàng thiếu niên vung tay, áo bào trắng rũ xuống, lộ ra bên trong là bộ quân phục chỉnh tề.

Khoảnh khắc ấy bốn bề lặng ngắt, chỉ còn tiếng thì thầm xôn xao phía sau tấm bình phong.

“Mọi người im lặng."

Họa Bất Thành vung phất trần, giọng nói như sóng nước lan truyền ra xa, sau đó hắn nhìn Mộc Cát Sinh, nói: "Từ xưa đến nay bảy nhà chưa từng ép ai phải tiếp nhận vị trí Chư Tử.

Nếu như cậu đã khăng khăng từ chối như thế, bọn ta cũng không ép."

Mộc Cát Sinh vừa thở phào, thì đã nghe đối phương nói tiếp: “Người như cậu, trong phái Thiên Toán không phải chưa từng có.

Nhưng suốt bao đời nay, vị trí Thiên Toán Tử lại chưa từng bị bỏ trống, không phải vì chọn được người khác lên thay thế, mà là vì chính những người đó, cuối cùng vẫn quay về tuân theo quỹ đạo của số mệnh.”

“Vạn sự đều là mệnh, con người chẳng thể định đoạt."

Họa Bất Thành đứng dậy, nhìn thẳng vào mắt Mộc Cát Sinh: “Đôi khi, cái giá của sự ngông cuồng không chỉ là máu và nước mắt.

Muốn tranh mệnh với trời, vậy thì cậu lo chuẩn bị sẵn sàng đi."

Mộc Cát Sinh mỉm cười, không lùi nửa bước, khom người hành lễ: “Vãn bối lĩnh giáo.”

*Chú thích của tác giả:

"Trời không hợp thời, nhật nguyệt vô quang.

Đất không hợp thời, cỏ cây chẳng sinh.

Nước không hợp thời, phong ba chẳng dừng.

Người không hợp thời, vận lợi chẳng thông.

Thời là thế, mệnh là thế, vận cũng là thế." – Trích “Thời vận phú” của Lữ Mông Chính.

[ Edit by TeiDii]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 24


Chương 24

"Tôi thấy Trường Sinh Tử cũng có ý tốt."

Tùng Vấn Đồng đang xào đồ ăn trong gian bếp nhỏ, ngọn lửa bốc cao ngút: "Tuy lão ăn nói khó nghe, nhưng đều là lời thật."

Mộc Cát Sinh nằm dài trên mái hiên: "Ừ, nghe ra được."

"Vậy cậu định thế nào?"

"Tôi đói rồi."

Mộc Cát Sinh thò đầu vào từ ngoài cửa sổ: "Chỉ là một buổi tụ họp thôi mà kéo dài thế này, ăn gì đây?"

Tùng Vấn Đồng vung xẻng, Mộc Cát Sinh nhanh mắt tránh được: "Ngửi là biết liền, bò hầm chứ gì, ít cay thôi nha!"

Buổi họp kéo dài đến tận chiều, mãi đến khi mọi người tan hết, Mộc Cát Sinh vẫn không ngờ lại họp lâu đến thế.

Y đói đến đỗi bụng dán vào lưng, nằm vật ra mái hiên hóng gió, trên đầu là tán cây ngân hạnh sum suê.

"Dễ chịu thật."

Y thở dài hoài niệm: "Bao năm rồi mới lại được leo lên mái hiên này."

"Lúc nãy ở thủy tạ còn ăn nói hào hùng lắm."

Tùng Vấn Đồng bĩu môi: "Chớp mắt đã lộ nguyên hình."

"Chẳng phải đang đợi ông nấu cơm sao?

Rãnh rỗi tranh thủ nghỉ ngơi chút thôi."

Mộc Cát Sinh nói: "Bữa này xong là hết, sắp tới tôi phải ở luôn trong doanh, nhiều việc lắm, e rằng không thể gặp nhau một thời gian."

"Muốn ăn gì thì cho người qua Nghiệp Thủy Chu Hoa dặn một tiếng."

"Được, có cần trả tiền không?"

"Mả cha mi lại thèm đòn rồi phải không?!"

Tiếng quát của Tùng Vấn Đồng vang trong khu bếp, Ô Tử Hư vừa định đẩy cửa vào thì giật mình: "Lão tứ lại chọc gì ông à?"

"Lão tam, đến đúng lúc lắm."

Mộc Cát Sinh cười tươi rói: "Chỗ này không đủ ăn đâu, bảo lão nhị làm thêm món nữa đi."

Lời vừa dứt, Tùng Vấn Đồng đã vung tay ném một chiếc đũa, bay sượt qua bên tai Ô Tử Hư, cắm phập vào cánh cửa.

"Ông đến thôi, còn dẫn theo ma quỷ đến làm gì?"

Một bóng người bước ra từ sau cánh cửa, hắn khom mình chào: "Mặc Tử có con mắt tinh tường."

"Vừa thấy ông tôi đã muốn nói rồi."

Tùng Vấn Đồng vừa thái thịt vừa nói: "Chuyện của bảy nhà có Ô Nghiệt đến là đủ, phán quan Phong Đô như ông đến hóng hớt cái gì?

Chết lâu rồi nên không sợ chết nữa à?"

Ngoài cửa bếp là một người đàn ông cầm ô giấy dầu, áo xanh mặt trắng, chính là phán quan của Âm Luật Ty - Thôi Tử Ngọc.

"Ty chức không cố ý mạo phạm."

Giọng nói của Thôi Tử Ngọc ngân dài the thé như đang hát tuồng: "Trong đó có nguyên nhân, xin phép các vị cho tôi kể rõ từ đầu đến cuối."

"Bớt nói thừa đi, mới nghe cả đám người lải nhải cả buổi sáng rồi."

Tùng Vấn Đồng đem thịt bò đã chần nước sôi ném xuống thớt: "Ông mà lôi thôi dài dòng, tôi không ngại hầm luôn ông làm mồi nhắm đâu."

Đám "yêu nghiệt" ở Ngân Hạnh Thư Trai và Âm Luật Ty vốn có dây mơ rễ má.

Năm đó Tùng Vấn Đồng cùng Mộc Cát Sinh lần đầu đại náo Phong Đô, sau đó chính là đến Âm Luật Ty lĩnh phạt.

Đây là lần đầu tiên bọn họ gặp Thôi Tử Ngọc, vị phán quan đang cầm bản tội trạng đứng giữa sảnh đường, đọc từng điều một, giọng nhây dài lê thê, còn khó nghe hơn bây giờ.

Mộc Cát Sinh nghe đến sắp chảy nước mũi, Tùng Vấn Đồng thì nổi điên, xách đao lên đập người ta một trận, rồi giật lấy bản tội trạng trong tay phán quan, tự đọc tự phán tội.

Đánh phán quan ngay trên công đường, tội nặng thêm một bậc, nhưng Thôi Tử Ngọc vuốt mặt làm ngơ, mắt nhắm mắt mở mà ém chuyện xuống.

Cũng từ dạo ấy, cái tật nói năng lê thê của vị phán quan đại nhân này mới đỡ hơn đôi chút, tuy nghe qua vẫn khiến người ta muốn đi tè, nhưng chí ít cũng không đến mức đọc một bản tội trạng nửa ngày chưa xong.

Mộc Cát Sinh nhảy khỏi mái hiên, tiện tay vớ lấy một cái chân gà kho trên bếp: "Thôi đại nhân, ngài tới vì việc gì vậy?"

"Bái kiến Mộc công tử."

Thôi Tử Ngọc khom mình hành lễ: "Ty chức lần này tới đây, là muốn xin một quẻ."

Tùng Vấn Đồng nghe xong liền nổi lửa: "Ông chán sống rồi hả?!"

"Lão tam, canh chừng Lão nhị giúp tôi."

Mộc Cát Sinh khoát tay, rồi quay lại cười với Thôi Tử Ngọc: "Thôi đại nhân, chuyện hồi sáng chắc ngài cũng thấy rồi.

Tôi không nhận vị trí Thiên Toán Tử, chỉ là kẻ lười biếng dưới gối sư phụ thôi.

Bây giờ ngài lại đến bảo tôi xem quẻ, việc này mà truyền ra ngoài, đôi bên đều khó coi."

Nói thì nói vậy, nhưng trong lòng Mộc Cát Sinh đang không ngừng suy tính.

Thôi Tử Ngọc lý nào lại không hiểu, thế mà vẫn đích thân tới cửa xin quẻ, đủ thấy chuyện hắn muốn nhờ chẳng phải chuyện nhỏ.

Huống hồ Thôi Tử Ngọc lại do Ô Tử Hư dẫn đến, nghĩa là việc này ngoài liên quan đến Phong Đô, còn dính tới nhà họ Ô.

Phong Đô có nhiều kỳ nhân dị sĩ, nếu phán quan đích thân rời âm ty lên dương gian hỏi chuyện, đủ để thấy việc chẳng tầm thường.

Mà trong phái Thiên Toán bây giờ chỉ còn hai người, đại sư huynh ở Bồng Lai không thể xuống núi, người còn lại duy nhất chỉ có y.

Rốt cuộc là chuyện gì mới phải cần phái Thiên Toán đích thân gieo quẻ?

Mộc Cát Sinh đang tính toán mọi khả năng, chợt nghe Thôi Tử Ngọc lên tiếng: "Công tử có biết đến Thành Tây Quan của Phong Đô chăng?"

Thành Tây Quan, đất A Tỳ, nơi âm binh xuất quan.

Địa danh này nặng tựa ngàn cân, đến cả Thôi Tử Ngọc khi nhắc đến cũng bớt đi cái giọng ngân nga thường ngày, trở nên nghiêm nghị cẩn trọng.

Mộc Cát Sinh thầm nghĩ: Tôi đương nhiên biết, tôi mà kể ra chuyện lần đó chắc ông sợ phát khiếp.

Ngay cả Tùng Vấn Đồng cũng khựng lại: "Thành Tây Quan làm sao?"

"Đã biết Thành Tây Quan, hẳn các vị cũng biết trong đất A Tỳ có thứ gì."

Thôi Tử Ngọc nói: "Âm binh xuất quan, ắt sẽ sinh hoạ.

Mấy năm gần đây thiên hạ đại loạn, địa mạch bất ổn, âm binh di chuyển bất thường trong Thành Tây Quan càng ngày càng nhiều, sợ rằng trong đó sắp xảy ra biến lớn."

Mộc Cát Sinh: "Cho nên?"

"Biến cố phát sinh bên trong Thành Tây Quan sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Phong Đô thậm chí là địa mạch của Hoa Hạ*, toàn bộ Thập Điện Diêm La đều đã chuẩn bị mọi thứ từ sớm, nhưng ý trời khó dò, vì vậy Phong Đô mới sai ty chức đến gặp công tử xin một quẻ, đoán xem lần tới âm binh xuất quan vào khi nào."

(*)Hoa Hạ: Tên gọi khác của Trung Hoa.

"Nếu trong quan có biến, thì cứ để Diêm Vương sai người đến trấn áp sớm là được."

Tùng Vấn Đồng nói: "Tính trước thời điểm âm binh xuất quan làm gì?"

"Âm binh chưa ra khỏi thành, dù có là Diêm Vương cũng không thể cưỡng ép đánh thức họ rồi trấn áp.

Ngược lại, nếu âm binh thật sự tràn khỏi thành, thì dù là Thập Điện Diêm La cùng nhau hợp sức cũng chưa chắc trấn được.

Một khi âm binh bạo động, e rằng ngay cả Phong Đô cũng sẽ gặp nguy."

Thôi Tử Ngọc cúi đầu lạy sát đất: "Giờ là thời khắc sinh tử tồn vong, thêm một phần chuẩn bị thì thêm một phần hy vọng.

Xin công tử rủ lòng thương."

Mộc Cát Sinh trầm ngâm giây lát, rồi từ tốn nói: "Thôi đại nhân, quẻ mà ngài muốn xin hôm nay, không phải loại quẻ tầm thường."

"Ty chức hiểu."

"Năm đó tôi và lão nhị tuổi trẻ nông nổi, Ngân Hạnh Thư Trai nợ ngài một ân tình."

Mộc Cát Sinh thở dài: "Triều đại thay đổi vốn chẳng phải chưa từng có, thiên hạ đại loạn cũng không phải một hai lần, nhưng tôi chưa từng nghe Thành Tây Quan vì thế mà sinh biến, cũng chưa từng nghe Phong Đô gặp cảnh khốn cùng như vậy."

"Mộc công tử..."

Thôi Tử Ngọc nói: "Tình hình biến đổi đột ngột như thế này, cũng chưa bao giờ xuất hiện tại Hoa Hạ."

Mộc Cát Sinh im lặng một lát, chậm rãi nói: "Phải."

"Giờ đã không còn là chuyện thay đổi triều đại đơn giản nữa."

...

Một lúc sau, Thôi Tử Ngọc cúi người hành lễ cảm tạ, rồi tan biến tại chỗ.

Ba người mỗi người ôm một cái bát, ngồi xổm trên bậc thềm ăn cơm.

Tùng Vấn Đồng ăn rất nhanh, chẳng bao lâu đã quay lại bếp múc thêm, rồi pha một ấm trà mang ra: "Cậu làm vậy là tự chuốc rắc rối vào thân đấy."

"Việc đã đến nước này, chi bằng ông nói gì đó có ích một chút đi."

Mộc Cát Sinh gạt hết đồ ăn sang bát của Ô Tử Hư, đổi lấy thịt trong bát đối phương.

"Tôi còn phải tìm xem sư phụ để bốn mươi chính đồng Sơn Quỷ hoa tiền ở đâu.

Mười bảy đồng sư phụ cho tôi lúc đi du học cũng chẳng mang theo, gửi lại cho sư phụ cả rồi.

Nhưng mà tốt nhất là không tìm thấy, đặng khỏi ai có cớ nhờ vả."

"Cậu thôi ôm cái suy nghĩ vớ vẩn ấy đi."

Ô Tử Hư nói: "Tiên sinh đã giao tiền Sơn Quỷ cho sư trụ trì chùa Bạch Thủy cất giữ, bảy nhà đều biết chuyện này."

Mộc Cát Sinh trợn mắt cả kinh: "Mẹ nó, sao tôi không biết vụ này?"

Tùng Vấn Đồng khịt mũi: "Chứ cậu có chịu làm Thiên Toán Tử đâu, giờ lại hỏi sao không biết chuyện của bảy nhà?"

"Không phải người trong bảy nhà mà vẫn phải nai lưng cày việc cho bảy nhà đấy!"

Mộc Cát Sinh lắc đầu nguầy nguậy, nghiến răng than: "Từng nhà từng nhà đều toàn thứ dân chuyên bóc lột người ta...

Này!!

Lão nhị, ông đổ nguyên rổ ớt vào đây phải không?

Cay quá trời quá đất."

"Cay cái đầu nhà mi, không ăn thì thôi."

"Không cay thì ông pha ấm trà này làm gì?"

Hai người vừa nói vừa dùng đũa chọc nhau, Ô Tử Hư bị kẹt giữa, bất lực nói: "Ngần này tuổi đầu rồi, ăn bữa cơm thôi cũng như hai đứa con nít, có cần tôi dỗ không?"

Mộc Cát Sinh chìa bát ra trước mặt Ô Tử Hư: "Vậy lão tam, ông nói xem, có cay không?"

Ô Tử Hư đáp: "Vừa rồi vẫn mải lo nghe Thôi phán quan nói, chắc lão nhị không để ý nên..."

Tùng Vấn Đồng đập mạnh đôi đũa xuống đất: "Vậy thì cậu đừng ăn nữa."

Ô Tử Hư nhanh gọn đổi phe: "Không cay."

"Không thể nào!"

Mộc Cát Sinh la toáng lên: "Lão nhị, Nghiệp Thủy Chu Hoa của ông cũng làm ăn như thế này sao?

Lương tâm của ông cho chó gặm rồi hả?"

Ô Tử Hư hỏi: "Hắn có thứ đó ư?"

Tùng Vấn Đồng đáp ngay: "Nhà mi gặm hết rồi đó!"

Ba người cãi nhau ầm ĩ, trông như sắp choảng nhau đến nơi, thì cổng viện kẽo kẹt mở ra.

"Quấy rầy rồi."

Sài Thúc Tân đi vào trong: "Trụ trì chùa Bạch Thủy mời Mộc Cát Sinh đến phòng thiền một chuyến."

"Tam Cửu Thiên, anh còn chưa về sao?"

Gương mặt Sài Thúc Tân vẫn lạnh nhạt: "Vừa chơi xong một ván cờ với trụ trì."

"Thế anh vẫn chưa ăn cơm à?"

Mộc Cát Sinh đứng dậy, chỉ về phía sau: "Lão nhị nấu bò hầm đấy, muốn ăn cùng không?"

Ô Tử Hư lập tức gật đầu hùa theo: "Đúng đúng, bốn người chúng ta cũng lâu rồi không cùng nhau ăn bữa cơm nào."

"Mẹ kiếp, không chịu nói sớm?"

Tùng Vấn Đồng đá Mộc Cát Sinh một phát: "Vừa nãy đã múc bát cuối cùng, sạch nồi rồi."

"Nguyên cái nồi to đùng thế mà ăn hết thật à?"

Mộc Cát Sinh kinh hãi: "Lão nhị, ông ăn mấy bát rồi?"

"Tôi nấu thì tôi ăn, có ý kiến gì?"

"Tôi đếm rồi."

Ô Tử Hư giơ tay đếm: "Cả thảy sáu bát." nói xong liền bị ai đó đè đầu úp vào bát cơm.

"Lão nhị, may phước cho ông được trời cho cái mặt dễ nhìn, chứ với sức ăn này, đảm bảo chẳng cô nào dám rước ông về làm chồng."

Mộc Cát Sinh xuýt xoa cảm khái, vừa nói vừa linh hoạt tránh đôi đũa Tùng Vấn Đồng phóng qua, sau đó lại nhăn mày.

Sài Thúc Tân là do y mời, trông đối phương cũng có vẻ muốn nán lại thật, giờ lấy gì cho người ta ăn đây?

Hay là tự mình vào bếp nấu thêm món gì đó...

Sài Thúc Tân như đọc được suy nghĩ của Mộc Cát Sinh, liền nói: "Không cần phiền phức vậy đâu."

"Lão tứ, cậu cũng xới ba bát rồi đó, còn mặt mũi mà xỉa xói tôi?"

Tùng Vấn Đồng vẫn chưa chịu buông.

Câu nói đó lại khiến Mộc Cát Sinh nảy ra một ý.

"Đây, bát này tôi mới múc ra, còn chưa ăn miếng nào, hay là anh nếm thử đi?"

Y đưa bát đũa trong tay qua cho Sài Thúc Tân: "Bò hầm Lão nhị nấu đấy, ngon lắm."

Tùng Vấn Đồng nín bặt, liếc sang Ô Tử Hư ra hiệu: Thằng này điên rồi à?

Ô Tử Hư cũng trố mắt nhìn, dù bọn họ quen nhau từ nhỏ, tình cảm khắn khít như anh em một nhà, còn thường xuyên giành đồ ăn của nhau, nhưng người kia là Sài Thúc Tân.

Dược gia coi trọng vấn đề vệ sinh, vốn ưa sạch sẽ.

Năm đó Sài Thúc Tân từng ở lại Ngân Hạnh Thư Trai một tháng, đem phòng của y so với phòng của bọn họ, đúng như thiên cung so với ổ chó.

Trước ánh mắt ngỡ ngàng của cả bọn, chỉ thấy gương mặt của Sài Thúc Tân vẫn lạnh nhạt như cũ, bình thản nhận lấy bát đũa của Mộc Cát Sinh rồi bắt đầu ăn.

Trong sân im phăng phắc, phỏng chừng đến tiếng kim rơi cũng nghe được.

Tất cả đều nhìn Sài Thúc Tân ăn xong một bát cơm.

Mộc Cát Sinh cũng sững sờ, y hiểu tính Sài Thúc Tân nên vốn chỉ định mời lơi trêu chọc, ai ngờ kết quả lại vượt sự mong đợi.

Sài Thúc Tân trả bát lại cho Mộc Cát Sinh, vừa định mở miệng thì bỗng ho sù sụ.

Ô Tử Hư quay phắt lại, giọng đầy nghi ngờ: "Lão tứ, cậu lại giở trò à?"

"Hả?"

Ô Tử Hư chỉ vào Sài Thúc Tân đang ho muốn đỏ mặt: "Cậu bỏ thuốc vào bát phải không?"

"Đùa gì thế!

Trong mắt ông tôi là loại người đó hả?"

"Chẳng lẽ không phải?"

Sài Thúc Tân bên này xua tay lia lịa, cố gắng ổn định nhịp thở, thều thào nói: "Có trà không?"

Ô Tử Hư ngớ người: "Trà?"

"Cay quá!"

Tùng Vấn Đồng: "..."

Trong sân vang lên tiếng cười khoái chí của Mộc Cát Sinh.

*Sài Thúc Tân x Mộc Cát Sinh:

[ Edit by TeiDii]

______________

Chủ nhà:

Anh Tùng: "Họ đồng lòng bắt nạt tôi!!!!"

Anh Ô: (Thương Thương🫂)

***

Chẳng ai biết Sài Thúc Tân đã yêu Mộc Cát sinh từ khi nào...

Có vẻ như lúc này đã yêu rồi nè(⁠.⁠ ⁠❛⁠ ⁠ᴗ⁠ ⁠❛⁠.⁠)

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 25


Chương 25

Chùa Bạch Thủy, phòng thiền.

"Ngân Hạnh trai chủ gửi vật này cho bần tăng.”

Trụ trì lấy ra một chiếc hộp gỗ: “Giờ đã đến lúc trao vật cho người rồi.”

Bốn bề yên tĩnh.

Hai người quỳ trên đệm đan bằng trúc trắng.

Mộc Cát Sinh ngẩng đầu nhìn dòng thư pháp treo trên tường, nét mực tung hoành phóng túng, là một bức cuồng thảo.

"Nét chữ này đậm khí phách của bậc anh tài, đại sư sưu tầm được sao?"

Trụ trì mỉm cười điềm đạm: “Là bút tích của Ngân Hạnh trai chủ năm xưa, do chính người viết tặng."

Mộc Cát Sinh giật mình: “Là chữ của sư phụ?”

Trong ấn tượng của y, nét chữ của Ngân Hạnh trai chủ rõ ràng nghiêm chỉnh, thường viết theo lối Liễu Thể rất đẹp.

Lối cuồng thảo phóng túng vô kỷ luật như này, thật khó tưởng tượng lại xuất phát từ đôi tay bệnh tật gầy yếu ấy.

*Thư pháp chữ thảo | Thư Pháp Liễu Thể.

"Gươm xưa ba thước trong ngần,

Tuốt xanh ánh biếc, viết vần Sở ca."

Trụ trì từ tốn nói: “Câu này trích từ ‘thi quỷ’ của Lý Trường Cát.

Ý thơ trang nghiêm nhưng ẩn sát khí, vốn chẳng hợp với thiền phòng chốn chùa chiền.

Nhưng trước khi Ngân Hạnh trai chủ qua đời, đã nhờ bần tăng treo bức thư pháp này tại đây.

Trong đó có hàm ý gì, e chỉ có Mộc công tử mới hiểu được.”

"Tài hoa của sư phụ, Cát Sinh chưa học được phân nửa."

Mộc Cát Sinh khẽ lắc đầu: “Đại sư có biết về cuộc đời của người không?”

“Dòng Thiên Toán xưa nay vốn một thân một mình.

Ngân Hạnh trai chủ lập thư trai trong chùa này cách đây hơn ba mươi năm.

Về trước nữa, thì bần tăng cũng không rõ.”

“Hơn ba mươi năm trước à…”

Mộc Cát Sinh thở dài: “Người khi ấy trông cũng chỉ tầm ba mươi tuổi mà thôi.”

“Không giấu đại sư, tôi hoàn toàn không biết gì về quá khứ của sư phụ.

Thiên Toán Tử vốn không có tên trong sổ sinh tử, ngay cả Phong Đô cũng tra chẳng ra.

Giờ nghĩ lại, kẻ làm đồ đệ như tôi thật bất hiếu."

“Chuyện đã qua không thể trở lại, chuyện tương lai vẫn có thể bù đắp.”

trụ trì niệm một câu A Di Đà Phật, rồi nói: "Giờ hộp gỗ đã trao đúng người, coi như không phụ sự gửi gắm của Ngân Hạnh trai chủ.”

"Chuyện hôm nay vẫn khiến tôi lo lắng, nhưng thấy được nét chữ của sư phụ, dường như mọi thứ đều đã nằm trong dự tính của người.”

Mộc Cát Sinh khẽ cười: "Hiểu được như thế, lòng tôi cũng nhẹ đi đôi phần.

Chỉ là chuyện tôi đến lấy tiền Sơn Quỷ, xin đại sư đừng nói cho các chư tử khác biết."

“Công tử yên tâm.

Bần tăng không nhận sự phó thác của bảy nhà, chỉ là của một mình Ngân Hạnh trai chủ mà thôi.”

Mộc Cát Sinh chào tạm biệt trụ trì, rồi trở lại thư trai, bước vào hương đường.

Vật trụ trì trao cho y là một chiếc hộp gỗ vô cùng bình thường, nó cũ kỹ, giản đơn, không hoa văn, còn chẳng có lấy một chốt khoá đồng.

Trông cứ như một khối gỗ vuông nhẵn bóng.

Mộc Cát Sinh mân mê chiếc hộp, đang tìm cách mở, thì bỗng nghe một tiếng "cạch", giữa nắp hộp hé ra một khe hở nhỏ.

Mộc Cát Sinh mỉm cười: “Không hổ là tay nghề của Mặc gia.”

Bên trong là bốn mươi chín đồng Sơn Quỷ hoa tiền, một phong thư, và một túi gấm.

Mộc Cát Sinh mở thư ra, chỉ thấy một hàng chữ: “Người Phong Đô đến, lấy hoa tiền.

Gặp biến cố lớn, mở túi gấm.”

Y đơ người giây lát, rồi bật cười ha hả: “Sư phụ ơi sư phụ, việc gì trên đời này người đều tính trước được hết sao?

Lại còn nói gặp biến cố lớn thì mở túi gấm, người tưởng mình là Gia Cát Lượng à?

Hơn nữa, quân sư nhà người ta còn để cho Triệu Vân tận ba túi cơ*, người chỉ để lại cho con một cái, có cần keo kiệt thế không.”

(*)Trong "Tam Quốc Diễn Nghĩa" lúc Lưu Bị sang Đông Ngô ở rể, chỉ dắt theo được mỗi Triệu Tử Long(Triệu Vân), Gia Cát Lượng có đưa cho Bị ba túi gấm, dặn hễ gặp chuyện khó thì mở.

Mộc Cát Sinh nói xong liền dốc túi gấm, đổ cả nắm tiền ra, sau lại phát hiện dưới đáy hộp còn dán một tờ giấy nhỏ, vẫn là nét chữ của Ngân Hạnh trai chủ:

“Con là Triệu Tử Long à, còn ở đó mà chê sư phụ keo kiệt."

Mộc Cát Sinh: “……”

Sư phụ đến cùng vẫn là sư phụ, hiểu rõ đệ tử nhà mình đến từng chân tơ kẽ tóc.

Mộc Cát Sinh cứng họng, chẳng biết nói gì, chỉ đành nhặt lại hết số hoa tiền, đặt chiếc hộp gỗ lên bàn hương án, cung kính bái phục dập đầu ba cái liền.

...

Ngày hôm sau, Phong Đô nhận được thư của Mộc Cát Sinh.

Ngày hai mươi tháng chín âm lịch, âm binh xuất quan.

Sau đó suốt mấy tháng liền, Mộc Cát Sinh bận đến tối mặt tối mũi.

Gà chưa gáy đã phải bò dậy làm việc, lúc về nhà ngã đầu xuống giường liền ngủ mê man.

Quân lính được y huấn luyện bắt đầu có dấu hiệu tiến bộ, nhưng vẫn còn vô vàn chuyện khiến người ta đau đầu.

Đớn nhất là việc trang bị trong nước thua xa so với nước ngoài.

Phần lớn đều sử dụng súng trường Trung Chính, tầm bắn không bằng các loại súng khác hiện giờ.

Mộc Cát Sinh đứng giữa bãi tập bắn, bức bối chửi đổng: "Triều Thanh khi xưa ký cái hiệp ước quốc tế chết dẫm gì không biết, quân đội còn bị cấm dùng đạn Dum-Dum*!”

(*)Dum-Dum là tên nhà máy sản xuất vũ khí của Anh ở Ấn Độ lần đầu tiên sản xuất ra loại đạn này.

Công ước quốc tế cấm sử dụng.

Đạn Dum-Dum có sức sát thương cực lớn, đầu đạn khi vào cơ thể mới nổ, vì thế còn bị gọi là “đạn nở”.

Nhưng quân đội trong nước nghèo rớt mồng tơi, ngoài súng hạng nhẹ và vài quả lựu đạn ra chẳng có trang bị gì đáng giá.

Còn những thứ như súng tiểu liên, ống phóng đạn thì hoàn toàn không có, nói chi đến súng trường tự động.

Lão binh kỳ cựu nghe tên toàn ngơ ngác.

Mộc Cát Sinh tức muốn tăng xông, ba ngày hai bữa là phải ngửa đầu chửi mẹ vài tiếng.

Sớm biết thế này, mặc cho ở nước ngoài khổ cực cỡ nào, y bất chấp dù có bán luôn cả Mộc Phủ cũng phải gom theo mấy lô vũ khí về nước.

Tình hình trong nước chiến sự khắp nơi, giao thông bị phong tỏa, có tiền cũng chỉ đành ngửa mặt than trời.

Mộc Tư Lệnh bao năm qua tuy nuôi con chẳng khác nào nuôi chó, nhưng đội quân ông để lại cho Mộc Cát Sinh đã là đơn vị có trang bị tốt nhất trong nước.

Toàn quốc chỉ có hai mươi sáu khẩu pháo, chừng đó thôi đã tưởng tượng được các đội trên tuyến đầu còn khốn khổ đến mức nào.

Cuối cùng, nhóm binh sĩ lão làng vò đầu bứt tóc nghĩ ra một cách.

Súng trường kiểu Trung Chính bắn không xa, thì bù bằng sức sát thương.

Họ mài đầu đạn trên đá cho bớt nhọn, tạo thành bề mặt tù thô ráp, đạn bắn trúng mục tiêu sẽ tạo nên vết thương lớn, gây thương tích nặng.

Ra nước ngoài học được biết bao nhiêu công nghệ tân tiến, về nước lại chẳng bổ béo mặt nào, cuối cùng phải dùng phương pháp "thủ công" này.

Mộc Cát Sinh nghĩ mà bực, bốn năm du học như đổ sông đổ bể, giá mà khoảng thời gian đó theo cha ra chiến trường, hoặc ít nhất tập tành buôn bán kiếm được một khoản vẫn hơn ngồi đây cắn răng chịu khổ.

Lão tham mưu bên cạnh thì ngược lại hoàn toàn, ông nhìn y, cười híp mắt: “Thiếu gia lớn thật rồi.”

“Thôi chú đừng chọc con nữa.

Đợi cha con về, cưới vợ cho con, không lâu sau có khi con cũng làm cha người ta rồi, còn nhỏ nhắn gì.”

Mộc Cát Sinh vừa nói vừa nuốt vội mấy miếng cơm nguội: "Hơn nữa thời thế loạn lạc như này, ai còn rỗi hơi mà làm thiếu gia chứ.”

Lão tham mưu đặt sổ điện báo lên bàn, trước khi đi vẫn cười: “Thiếu gia nói phải.”

Ông là cựu binh thân tín theo chân Mộc Tư Lệnh bao năm, là người trông Mộc Cát Sinh khôn lớn.

Mộc Cát Sinh chẳng nói nữa, chỉ cúi đầu vả đại cho xong bát cơm nguội, nửa chừng bị nghẹn ná thở, y quay qua lật tung kệ tủ tìm bình nước nóng: “Mẹ kiếp, có thiếu gia nào khổ như tôi không?"

Cuối cùng tìm được, nhưng trong bình trống rỗng.

Y chán nản lê lết đi hứng nước nóng, tiện thể ghé qua phòng thông tin gọi điện.

“A lô – Dì Triệu ơi, lão nhị có đó không?”

Đúng lúc Tùng Vấn Đồng đang ở Quan Sơn Nguyệt, hắn nhận điện thoại: "Chuyện gì?”

“Ngày mai mang cơm qua đây cho ông —”

Đương nói dở câu, từ xa đột nhiên vang lên một tiếng nổ long trời lở đất, đường dây điện thoại liền bị ngắt, chỉ còn lại tiếng “tút tút” đơn điệu.

Toàn bộ doanh trại chấn động.

Mộc Cát Sinh vứt luôn bình nước, lao thẳng lên đài quan sát.

Doanh trại đóng quân tựa núi, đứng ở đây có thể nhìn toàn khu thành.

Tiếng nổ vừa rồi y nghe rất rõ, phát ra từ phía trong thành.

Mộc Cát Sinh lao như bay lên tầng cao nhất, xa xa chỉ thấy khói bụi cuồn cuộn bốc lên, gió lạnh gào rít, tầm nhìn mờ mịt.

Y bảo lính cần vụ đi theo lấy cho mình một cái ống nhòm, rồi lấy ra mấy đồng tiền Sơn Quỷ, sắp xếp chúng dựa theo từng nơi bốc khói trong thành.

Mộc Cát Sinh nhìn trận hình vừa được xếp ra, sắc mặt biến đổi.

"Hôm nay là ngày mấy tháng mấy?"

Y hỏi lính cần vụ bên cạnh.

Lính cần vụ nhìn vẻ mặt nghiêm túc của y, nhanh nhảu đáp: "Ngày 29 tháng 10."

Mà ngày 29 tháng 10 dương lịch chính là 29 tháng 9 âm lịch.

Mộc Cát Sinh không nói thêm tiếng nào, lập tức quay đầu chạy, chỉ kịp ném lại một câu: “Cử một tiểu đội chuẩn bị vào cứu trợ, những người còn lại ở nguyên vị trí chờ lệnh.

Chưa có lệnh của tôi, không ai được phép vào thành."

Miệng nói không được manh động, nhưng y lại xung phong chạy vào thành trước.

Mộc Cát Sinh chạy như điên đến thẳng nhà họ Ô, không thèm gõ cửa mà trực tiếp leo tường vào, vừa vặn đụng mặt Ô Tử Hư đang đi ra ngoài.

"Cậu đến đúng lúc lắm.”

Ô Tử Hư tóm lấy cánh tay y: “Đường dây điện thoại bị cắt, tôi đang định ra ngoài thành tìm cậu.”

Mộc Cát Sinh nhìn tẩu Cô Vọng trong tay đối phương, nghiêm giọng hỏi: “Vừa rồi trong thành có biến, là do Phong Đô phải không?”

“Âm binh xuất quan.”

Ô Tử Hư đáp gọn bốn chữ, giọng trầm xuống: "Thập điện Diêm Vương sắp không khống chế nổi nữa rồi.

Bà lớn Thái Tuế và toàn bộ trưởng lão trong tộc đã đến đó.

Tôi có chuyện phải nói rõ cho cậu biết, cậu nhớ kỹ..."

"Tôi vẫn luôn muốn hỏi."

Mộc Cát Sinh ngắt lời: "Âm binh xuất quan, rốt cuộc là vượt cửa nào?"

“Cửa Tây Thành.”

Ô Tử Hư đáp: “Âm binh xuất quan, vạn quỷ tràn về.

Âm binh bị trấn áp ở đất A Tỳ, tương sinh tương khắc với oán hồn lệ quỷ trong quan, tạo nên thế cân bằng.

Nhưng khi nhân gian đại loạn, oán khí tăng vọt, cán cân ấy sẽ bị nghiêng hỏng, đất A Tỳ không còn giữ nổi âm binh nữa.

Một khi âm binh phá được cổng Tây Quan, Phong Đô sẽ thành biển máu.”

Mộc Cát Sinh nắm chặt cánh tay Ô Tử Hư: "Ông cũng định xuống đó à?”

"Cậu là người nhà họ Mộc thì tôi là người của Âm Dương gia, kẻ tám lạng người nửa cân thôi.”

Ô Tử Hư cười nhạt: “Lão tứ, còn gì muốn hỏi nữa không?”

"Ông chắc được bao nhiêu phần?"

“Khó nói.”

“…Vậy thì nhất định phải sống mà trở về.”

“Tất nhiên.”

Ô Tử Hư vỗ vai y, cười: "Nơi đây là cố hương, đi đâu cũng trở về.

Dẫu có chi ly đôi ngả âm dương, tôi giá nào cũng phải về tìm các cậu.”

Tiễn Ô Tử Hư đi rồi, Mộc Cát Sinh lấy tiền Sơn Quỷ ra gieo một quẻ, xác định chỗ nguy hiểm nhất trong thành, rồi chạy nhanh đến đó.

Trước mắt y là một ngã tư, mặt đất sụp xuống tạo thành một hố sâu không đáy, từng đợt gió lạnh thốc lên.

Vừa nhìn xuống y đã nhận ra ngay, đây chính là nơi lão ngũ đi lạc năm xưa, cũng là Thang Âm Dương, con đường nối giữa cõi người và cõi quỷ.

Ngoài người của Âm Dương Gia, không ai có thể mở được Thang Âm Dương.

Năm đó, người tự tay mở ra nó chính là bà lớn Thái Tuế Ô Nghiệt.

Giờ thang này lại tự động mở, chứng tỏ địa mạch đã hỏng, tình hình dưới Phong Đô nghiêm trọng hơn y tưởng rất nhiều.

Giữa khuya, dân chúng bị tiếng nổ lớn đánh thức, hè nhau đổ ra đường vây quanh miệng hố, xôn xao bàn tán.

Mộc Cát Sinh vung ra một đồng tiền Sơn Quỷ, trấn áp luồng âm khí xung quanh, rồi tiện tay lấy một chuỗi đèn lồng đỏ treo trên mái hiệu buôn bên cạnh, xếp thành một vòng quanh miệng hố.

“Bà con yên lặng.”

Mộc Cát Sinh cất giọng sang sảng: "Đường xá lâu năm chưa tu sửa, vừa rồi mới bị sụt lở, mọi người tuyệt đối đừng đến gần.

Đêm tối đường trơn, bà con mau về nhà nghỉ ngơi đi, sáng mai sẽ có người đến xử lý.”

Việc gấp trước mắt là phải giải tán đám đông.

Thang Âm Dương mở rồi, chẳng biết sẽ có thứ gì chui lên, tình hình đang rối ren, nếu lại có thêm mấy thứ thần thần quỷ quỷ xuất hiện, e rằng cả thành sẽ nguy mất."

"Cậu ơi..."

Một bà lão chống gậy hỏi: "Giặc đánh đến rồi sao?"

“Vừa nãy có phải là pháo bắn tới không?”

“Không phải đang đánh nhau ở phía nam sao?

Vậy mà nhanh thế đã tới đây rồi?”

Mộc Cát Sinh ngẩn ra, vơ ngay lý do đó: “Dạo gần đây không được yên ổn, mọi người giải tán trước đi!

Tụ tập lại một chỗ càng dễ biến thành bia ngắm.

Quân đội trấn giữ thành sẽ bảo đảm an toàn cho mọi người!"

“Ai đấy?”

Có người quay sang nhìn, thấy quân phục trên người Mộc Cát Sinh liền hỏi: “Lính à?

Các anh giữ nổi thành sao?”

Mộc Cát Sinh im lặng, trước mắt bao người lại không biết nên nói gì cho phải, chỉ đành đáp: "Chị gái này, chị về nhà nghỉ ngơi trước.

Ngày mai sẽ có thông báo toàn thành, nhất định sẽ cho chị một lời giải thích."

“Giải thích cái gì?

Từ tháng bảy đến giờ, đám lính lác các anh nói giải thích bao nhiêu lần rồi?!”

Người đàn bà trừng mắt: “Có ngon thì ra chiến trường đánh giặc đi!

Ở đây ra vẻ cái gì?”

“Đúng đó!

Từ lúc khai chiến tới nay có thắng được trận nào đâu!

Một lũ lính vô dụng!”

“Toàn bọn chỉ biết bắt nạt dân nhà, ra ngoài toàn co vòi!”

“Hàng ngày bắt dân nộp lương nộp thuế, nước nhà bị đám sâu mọt như bọn này đục hỏng hết rồi!"

Lòng người căm tức, như một hòn đá ném xuống mặt nước khuấy lên ngàn lớp sóng.

Dạo này thời thế bất ổn, ai nấy đều thấp thỏm sợ hãi, chỉ lo lỡ một chút thôi là bỏ mạng giữa chiến tranh loạn lạc.

Mộc Cát Sinh biết mình xui xẻo đụng trúng họng súng rồi, nên bất kể dân chúng có mắng mỏ thế nào y cũng chẳng để tâm, dù sao họ cũng chỉ là muốn tìm nơi trút giận thôi.

Y mặt dày quen rồi, người ta có chửi tới đâu cũng kệ.

Nhưng Thang Âm Dương đã mở, đám người này cứ đứng đây thì sớm muộn cũng rước họa, lỡ có ai chết bất đắc kỳ tử, chuyện xảy ra trước mắt, chẳng biết dân chúng còn đồn ra thành cái gì.

"Mọi người..."

Có cô gái nhỏ rụt rè lên tiếng: "Anh trai này là con của Mộc Tư Lệnh, anh ấy sẽ giúp chúng ta, mọi người bình tĩnh một chút…”

"Ối giời ơi.”

Người đàn bà bên cạnh túm tóc cô gái, giật mạnh: “Con nhỏ này, thấy trai đẹp liền hùa theo à?

Mày có lương tâm không?"

“Con trai Mộc Tư Lệnh sao?

Là cái thằng chuyên phá làng phá xóm năm xưa chứ gì?"

“Nó chẳng phải đã đi du học nước ngoài rồi à?

Ngân Hạnh trai chủ chết nó còn chẳng thèm về, giờ đứng đây nói gì?!"

"Đã bất hiếu với thầy, còn sính ngoại phản quốc.”

Mộc Cát Sinh chịu không nổi nữa, xắn tay áo, muốn chửi lộn chứ gì?

Loại người như con mụ này là phải chửi mới yên, chẳng quan tâm người ta đồn y gây với đàn bà con gái nữa.

Y hít sâu một hơi, vừa định mở miệng thì bất ngờ có người bắt lấy tay y, thấp giọng nói: “Đừng chửi, để tôi.”

Mộc Cát Sinh bị nghẹn, quay đầu quát: “Sao anh biết tôi định chửi người ta?”

Sài Thúc Tân nhướn mày nhìn y, bày ra vẻ mặt chẳng lẽ không phải sao?

Không biết người kia tới từ khi nào, anh đứng chắn trước mặt y, cất giọng trầm ổn, rõ ràng: “Đêm đông lạnh lẽo, thuốc men trong thành lại khan hiếm, mọi người mau về nhà tránh gió, khéo lại cảm lạnh.”

Nói rồi lễ phép nghiêng mình: “Chuyện hôm nay, quân lính trong thành tuyệt đối sẽ có biện pháp xử lý.

Sáng mai nhất định sẽ có thông báo đến cho bà con."

"Hồi nãy giải thích rồi đó.”

Mộc Cát Sinh đứng cạnh lẩm bẩm: “Do đường cũ, bất ngờ sạt lở."

Sài Thúc Tân quay đầu liếc y một cái.

Mộc Cát Sinh lập tức làm động tác kéo khóa miệng.

Sài Thúc Tân quanh năm khám bệnh bốc thuốc trong thành, danh tiếng cực kỳ tốt, anh vừa lên tiếng, mọi người cũng không tiện nói gì nữa, từ từ giải tán.

Anh xoay lại hỏi Mộc Cát Sinh: “Cậu vào thành một mình à?”

“Tôi có phái một đội cứu trợ đến, nhưng nơi này nguy hiểm quá, không cho họ tới ngay.”

Mộc Cát Sinh nhìn xuống cái hố đen sâu không thấy đáy: “Đây là Thang Âm Dương.”

“Tôi nhớ.”

“Bên dưới có thứ gì đó.”

Mộc Cát Sinh nói: “Tôi tạm thời dùng tiền Sơn Quỷ để trấn lại rồi, nhưng không giữ được lâu.

Phải có người xuống dưới đóng Thang Âm Dương lại.”

“Anh đừng đi.”

Mộc Cát Sinh thấy vẻ mặt Sài Thúc Tân liền đoán được anh định nói gì: "Anh ít khi xuống Phong Đô, không có kinh nghiệm.

Lão nhị đâu?

Gọi hắn tới.”

“Quan Sơn Nguyệt sập mất nửa rồi, Mặc Tử đang cứu người bên đó.”

“Quan Sơn Nguyệt cũng sập à?”

Mộc Cát Sinh nhíu mày: “Được rồi, vậy tôi xuống.

Anh ở trên trông chừng giúp tôi, đừng để ai lại gần.”

Mộc Cát Sinh nói xong liền quay người nhảy xuống.

Sài Thúc Tân với tay ngăn lại, nhưng chỉ bắt được vào khoảng không.

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 26


Chương 26

Sương mù dày đặc, hơi lạnh thấu xương.

Mộc Cát Sinh ném đồng tiền Sơn Quỷ, một cước đá văng con quỷ trước mặt.

Y đứng trên Thang Âm Dương, sắc xanh âm u bao trùm bốn phía.

Thang Âm Dương thông từ dương gian thẳng xuống Phong Đô, quanh co chín khúc, muốn chạy xuống tới đáy thang là một quãng đường rất dài.

Y cắm đầu chạy lao đi không dám ngơi nghỉ giây nào, dọc đường đã giết được mấy con lệ quỷ.

Bình thường những con quỷ này không bao giờ dám rời khỏi Phong Đô, Mộc Cát Sinh đã từng chạy qua chạy lại Thang Âm Dương mấy lần, chưa hề nhìn thấy bất cứ thứ gì xuất hiện trên bậc thang này.

Nay trăm quỷ chạy tứ tán, đủ thấy trong thành Phong Đô đã đại loạn.

Mộc Cát Sinh lo lắng chẳng yên, vội vàng nhảy xuống thang quá gấp, Tùng Vấn Đồng không có ở đây, y cũng không biết thắp Tiểu Thiên Đăng, chỉ còn cách gặp một giết một.

Hơn nữa càng xuống sâu, càng gặp nhiều quỷ, y không thể để chúng tràn lên phía trên, chỉ có thể chặn lại mà giết ngay tại chỗ.

Dù gì y cũng phải xuống được điểm tận cùng, phong ấn Thang Âm Dương lại.

Nhưng sau khi đóng thang lại rồi thì trở về dương gian bằng cách nào, tình hình trong Phong Đô sau đó sẽ ra sao –

Mộc Cát Sinh dùng tiền trấn một con quỷ, rồi đá con khác xuống bậc thang dài.

Y không còn sức để nghĩ thêm nữa.

Sương mù mỗi lúc một dày, không khí đặc quánh lại, tựa những bàn tay trơn lạnh tóm người, kéo chân khiến người ta không thể đi nhanh được.

Mộc Cát Sinh dần không còn nhìn rõ xung quanh, bốn bề chỉ là sương trắng, chỉ còn thấy được dãy bậc thang kéo dài vô tận hướng xuống dưới.

Y bỗng đứng khựng lại.

Không đúng...

Rõ ràng có gì đó không đúng!

...

Cùng lúc đó, tại Thành Tây Quan, Phong Đô.

Từ trên cao nhìn xuống, toàn bộ âm binh trong đất A Tỳ đều đang cố thoát ra ngoài.

Chúng không còn uy nghiêm ổn định như xưa, mà trở thành đội quân công thành, điên cuồng đánh sập tường thành Tây Quan.

Đứng trên tường thành là các âm soái quỷ vương đến từ khắp nơi, họ dẫn dắt quỷ binh quỷ tướng chống lại từng đợt tấn công của âm binh.

Đất rung núi chuyển, đá vỡ trời kinh, lệ quỷ gào khóc, ngựa hí thê lương.

Gió âm cuồn cuộn xoáy thành từng vòng, biến ải Tây Quan thành chiến trường Tu La.

“Giữ vững!

Tất cả cố giữ vững!"

Thôi Tử Ngọc đứng trên đầu thành, bị gió mạnh thổi ngã trái ngã phải: "Chặn phía Đông Nam lại, đừng rối trận hình!"

Có vài bóng người đứng lơ lửng trên cao, ấy là Thập Điện Diêm Vương cùng với Ô Nghiệt và Ô Tử Hư.

Một vị Diêm Vương mở miệng: "Thái Tuế gia, mong người cứu lấy Phong Đô khỏi tình cảnh nước sôi lửa bỏng này."

“Gia đây đã là người chết, nên cũng ít để ý chuyện đời."

Ô Nghiệt đứng lơ lửng giữa không trung cắn hạt dưa, liếc sang người bên cạnh: "Một khi ta mở trận, toàn bộ âm binh và cô hồn dã quỷ sẽ bị xua khỏi Thành Tây Quan, cứu được Phong Đô, nhưng ngươi sẽ lâm vào cảnh ngục tù, suy nghĩ kỹ chưa?"

“Phong Đô không thể bị hủy hoại.”

Ô Tử Hư khẽ lắc đầu: “Xin người mở trận.”

“Thân trong địa ngục, chẳng ngán A Tỳ.”

Ô Nghiệt phun vỏ hạt dưa, miệng đỏ răng trắng, giọng vẫn điềm tĩnh: “Ta thấy đánh một trận cũng hay, Phong Đô càng ngày càng chật, Diêm Vương quản không nổi.

Để âm binh dọn dẹp Phong Đô một lượt cũng tốt.”

Lời nói của thiếu nữ giống như cái tát vào mặt, nhưng các vị Diêm Vương không hề tức giận, chỉ nói: "Mong Thái Tuế nghĩ kỹ."

“Các ngươi mới là người nên nghĩ kỹ.

Nếu mấy thứ bên trong cánh cổng này đi ra, chưa chắc chúng sẽ nghe theo mệnh lệnh của Thập Điện Diêm Vương.

Đến lúc đó chẳng ai có thể ngồi vững ở Phong Đô."

Ô Nghiệt nửa cười nửa không nhìn thoáng qua Ô Tử Hư: “Bao gồm cả Ô thị, đúng chứ?”

Ô Tử Hư im lặng không nói gì, chỉ khom người thật lâu trước Ô Nghiệt.

Ô Nghiệt nhìn y một lúc, thở dài: “Thế gian làm gì có chuyện đẹp cả đôi đường, tự cổ đến nay trung hiếu khó vẹn toàn...

Thôi thôi thôi, đứa chắt bất hiếu này.”

Lời vừa dứt, Ô Nghiệt bỗng bật người nhảy vút lên không trung, lao đến ngay giữa chiến trường.

Hai tay nàng xoay chuyển như tung hoa, kết ra một chuỗi ấn ký phức tạp.

Chỉ trong một thoáng, ánh sáng chói lóa bắt đầu quay vòng, từ trong hư không xuất hiện một quả cầu hoa.

Ô Nghiệt lại khom người nhảy lên lần nữa, những tầng mây dày đặc phía trên Thành Tây Quan tản ra.

Nàng đứng một mình nơi cao tít tắp, dáng người uyển chuyển xoay đều như đang múa, khi cúi đầu lúc ngẩng đầu, hệt như một thiếu nữ đang biểu diễn tung quả cầu hoa trên mười hai tầng tháp bên dòng Vong Xuyên.

Tiếng sát phạt thay tiếng đàn sáo, trở thành nhạc đệm cho điệu múa khúc Phá Trận của nàng.

Thôi Tử Ngọc ngẩng đầu nhìn bóng dáng nhỏ nhắn giữa không trung, ánh sáng vàng rực rỡ dần tụ lại theo hình một ngọn lửa, bao xung quanh là một đường viền đỏ cháy rực.

Cuối cùng Ô Nghiệt ném cầu hoa trong tay lên trời cao, quả cầu nổ tung thành một nụ sen đỏ giữa không trung.

Ô Nghiệt ngồi xếp bằng giữa tâm hoa, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, từng dòng chú văn màu vàng hiện lên quanh đó.

Đóa sen từ từ hé nhụy, chầm chậm nở ra.

Thế nhân đều cho rằng chỉ có đèn Kim Ngô mới có thể thắp sáng đêm dài ở Phong Đô, nhưng lúc này đóa sen mới nở trên không trung đương phát sáng rực rỡ, ráng vàng tràn ngập, soi tỏ Phong Đô.

Cùng lúc đó, một trận pháp lớn vụt sáng lên dưới Thành Tây Quan, hai luồng ánh sáng giao hòa vào nhau, bao trùm lấy hàng ngàn hàng vạn âm binh vào bên trong.

Trời đất tĩnh lặng, vầng sáng ấy lại chói lòa không ngớt như hồng thủy.

Thập điện Diêm Vương đứng trên thành, đồng loạt cúi đầu quỳ bái.

Ô Tử Hư nhìn lên trên, thấp giọng nói: “Thái Tuế toạ đài sen, soi tỏ đêm tối vĩnh hằng tại U Minh."

“Vô lượng kỳ gian*.”

(*)Theo t hiểu: Một bên là ánh sáng rực rỡ, một bên là đêm tối vĩnh hằng, sự chênh lệch ở mức vô lượng, không tưởng được.

Ánh sáng thần thánh soi tỏ Phong Đô là một khung cảnh khó tả bằng lời.

Thôi Tử Ngọc cung kính chắp tay hướng về vầng sáng trên cao bái lạy, vạn quỷ phía sau cũng đồng loạt quỳ xuống theo, nối thành hàng dài vô tận.

Rất lâu sau, hoa sen héo tàn, ánh sáng dần tắt, Phong Đô lại chìm trong bóng tối.

Thành Tây Quan lúc này trống trơn, toàn bộ âm binh đã biến mất không tung tích.

...

Mộc Cát Sinh nghe thấy tiếng nước nhỏ giọt.

Ban đầu y tưởng mình đã đến bờ Vong Xuyên, nhưng sương mù dày đặc xung quanh vẫn lượn lờ mãi không tan, bên bờ sông Vong Xuyên sẽ không bao giờ có sương mù dày như thế này.

Mộc Cát Sinh nhìn quanh bốn phía, chợt nhận ra không biết từ lúc nào mà đám quỷ hồn liên tục quấy phá kia đều biến mất chẳng thấy tăm hơi.

Lệ quỷ oán khí sâu nặng, tuyệt đối sẽ không bỏ cuộc dễ dàng.

Phong Đô đại loạn, thời cơ trời ban để chạy lên dương gian.

Giờ chúng lại biến mất đột ngột, chỉ có thể là loạn ở Phong Đô đã được giải quyết, hoặc là chúng kiêng kỵ thứ gì đó.

Xung quanh im lìm, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt kéo dài không dứt.

Tách… tách… tách…

Tách… tách…

Tách.

Tiếng nước hình như vọng đến từ phía trước lại như vây quanh bốn bề.

Mộc Cát Sinh bước xuống thêm mấy bậc thang, vươn tay thăm dò về phía trước, cảm thấy tay mình lạnh buốt.

Thứ y chạm vào không phải là nguồn nước, mà là một vật thô cứng...

Mộc Cát Sinh biến sắc, lập tức rút tay, bước lùi về.

Trong tích tắc, từ phía trước có một lưỡi đao bổ mạnh xuống, xé toạc màn sương, chém xuống đúng vị trí y vừa đứng.

Thứ mà Mộc Cát Sinh vừa chạm vào là một bộ giáp, y cảm thấy choáng váng.

Ở Phong Đô có rất nhiều quỷ mặc giáp trụ, nhưng khi xâu chuỗi hết toàn bộ sự việc gần đây lại với nhau, oán quỷ trước mặt chỉ có thể là...

Âm binh!

Mộc Cát Sinh quay đầu nhìn, thấy bậc thang đá xanh nứt vỡ, một thanh đại đao bằng đồng xanh đang găm xuống đó, chuôi đao rung bần bật, nhưng lại không thấy kẻ cầm đao.

Thang Âm Dương được xây bằng đá Cửu U, lạnh lẽo cứng rắn đến mức sắt thép bình thường chẳng thể phá được.

Mộc Cát Sinh còn chưa kịp thở, thì bậc thang dưới chân lại chấn động dữ dội.

Từ sâu trong lòng đất, tiếng vó ngựa ầm ầm truyền đến, xen lẫn cả tiếng mõ gõ loáng thoáng.

Trong phút chốc, sắc mặt Mộc Cát Sinh trắng bệch.

Giáp trụ, đao đồng xanh, vó ngựa, tiếng mõ…

Dù là kẻ ngốc cũng biết những thứ này đến từ đâu.

Đám âm binh đáng lẽ đang bạo động ở Thành Tây Quan tại sao lại có mặt ở Thang Âm Dương.

Thang Âm Dương nằm sát bờ Vong Xuyên, cách rất xa đất A Tỳ.

Âm binh muốn chạy đến đây, ít nhất phải băng qua toàn địa phận Phong Đô.

Rốt cuộc Phong Đô đã xảy ra chuyện gì?

Thập Điện Diêm Vương, Thập Đại Âm Soái, Tứ Đại Phán Quan cùng Âm Dương Gia trấn giữ, vậy mà không giữ nổi Phong Đô ư?

Mộc Cát Sinh không dám lơ là, y chắc chắn không có cửa đánh lại âm binh.

Y xoay người, định chạy về thì chợt khựng lại.

Nếu y lui về, phía trên còn cả một thành dân chúng, ai sẽ bảo vệ họ?

Còn nếu không lui, y biết rõ mình sẽ chết tại đây.

Mộc Cát Sinh liên tục suy tính, việc cấp bách trước mắt là tuyệt đối không thể để âm binh leo lên thang âm dương đi đến nhân gian.

Y không thể quay đầu, chỉ có thể đi tiếp xuống dưới, đi thẳng đến điểm cuối, đóng Thang Âm Dương lại, vây nhốt âm binh giữa ngàn vạn bậc đá, như vậy mới có thể mở ra một tia hy vọng sống sót.

Không còn cách nào khác.

Tiếng vó ngựa đã đến rất gần.

Mộc Cát Sinh xoay người, điều chỉnh nhịp thở, điểm vào vài huyệt đạo.

Đây là phương pháp mà y học được từ Tùng Vấn Đồng, có thể làm cho giác quan thêm nhạy bén, tăng cường tốc độ cơ thể, làm cho tim cung cấp máu toàn thân nhanh hơn đồng thời cũng làm cho sinh lực dồi dào hơn.

Nhưng biện pháp này lại có một khuyết điểm, cảm giác đau đớn nhận được sẽ tăng gấp đôi.

Đội kỵ binh dẫn đầu đã áp sát đến.

Mộc Cát Sinh cúi người, đá thật mạnh vào bụng ngựa.

Chiến mã kinh hãi lồng lên, âm binh trên lưng ngã nhào xuống đất.

Mộc Cát Sinh nhân cơ hội giật lấy dây cương, ném ra hai đồng tiền Sơn Quỷ, một đồng ném vào đầu âm binh, một đồng nhét vào miệng chiến mã.

Âm binh bị tiền Sơn Quỷ trấn áp, đứng bất động.

Mộc Cát Sinh giật đao trong tay âm binh, lật người phóng lên lưng ngựa, chém rơi đầu âm binh phía sau, rồi vung ngược tay, vẽ ra một vòng cung màu xanh chói mắt, chặt đứt chân của chiến mã đang chạy đến.

Mộc Cát Sinh hiểu rõ y không thể đấu đao với âm binh.

Y không giỏi dùng binh khí lạnh, chỉ thuận tay cầm đao chém vài đường.

Một chém vừa rồi, nếu là Tùng Vấn Đồng ra tay, đủ sức hất tung đám kỵ binh trong vòng một trượng.

Mộc Cát Sinh chỉ đủ sức chém gãy chân ngựa, thừa lúc âm binh ngã xuống rồi lao xuyên qua.

Y không muốn đánh nhau với âm binh, mà chỉ cố làm chúng rối đội hình, tìm đường đi sâu xuống cuối thang.

Âm binh phía trước chạy loạn, Mộc Cát Sinh thúc ngựa băng qua giữa rừng âm binh.

Hành động này chẳng khác nào tìm đường chết, nhưng nhóm âm binh dường như vừa trải qua một trận chiến lớn, năng lực suy yếu rõ rệt.

Y ngậm một đồng tiền Sơn Quỷ trong miệng, vừa né đòn vừa chạy như bay.

Nhưng Mộc Cát Sinh chưa từng cưỡi ngựa chiến đấu, chẳng bao lâu sau, khắp người y đã đầy vết thương, nghiêm trọng nhất là vết chém ở eo, bị đứt vào một đường sâu, máu chảy đầm đìa.

Chạy, chạy thật nhanh.

Mộc Cát Sinh dùng tiền Sơn Quỷ thúc chiến mã.

Một người một ngựa chạy nhanh đến như hoá thành bóng mờ.

Y đau, cơn đau gấp đôi giáng xuống đầu, y cố gắng giữ bản thân tỉnh táo, vừa lao đi vừa tính toán quãng đường, còn lại không dài nữa, cố một chút nữa thôi.

Đến được đáy thang âm dương, y có thể dùng tiền Sơn Quỷ cưỡng chế đóng nó lại.

Ngay lúc này, bỗng có một mảng tối phủ trùm lên đầu.

Một âm binh cao lớn lạ thường, cưỡi con chiến mã đen mun bất ngờ từ trên không giáng xuống, đạp một cú chí mạng thẳng vào đỉnh đầu!

Mộc Cát Sinh không kịp kéo chiến mã tránh đi, vội vã móc đồng tiền trong miệng ngựa ra, lật người lăn một vòng, suýt soát tránh được móng ngựa đang đạp xuống.

Cả người y đập mạnh lên bậc đá xanh, lăn mấy vòng bậc thang, cuối cùng nện đầu vào một trụ đèn đồng xanh đặt dưới bậc thềm.

Gương mặt Mộc Cát Sinh máu me be bét, gắng sức đứng dậy.

Y biết mình đã đến rồi, chiếc đèn bằng đồng này chính là cột mốc đánh dấu điểm cuối của thang âm dương.

Cách đó không xa có tiếng nước chảy, chính là dòng Vong Xuyên.

Đám âm binh nãy giờ vẫn đang đuổi giết y ghìm ngựa lại ở đằng xa.

Một tràng tiếng "khặc khặc" quái dị vang lên, như thể có kẻ đang trốn trong góc nào đó cười gằn.

Trong tầm mắt mờ nhoè, Mộc Cát Sinh thấy có bóng người đang giơ thanh đại đao, vị trí lưỡi đao chém xuống là đỉnh đầu y.

Mộc Cát Sinh phun ra ngụm máu kèm đồng tiền Sơn Quỷ đang ngậm trong miệng, rồi dùng ngón tay trỏ nhúng máu viết bùa, hấp tấp vẽ nhanh một đạo bùa phức tạp trên mặt đất.

Phía trên vang lên tiếng đao xé gió bén nhọn vun vút, hướng thẳng xuống đầu.

Mộc Cát Sinh không kịp né, chỉ kịp gầm lên một tiếng: “Đóng!”

Giây tiếp theo, cơn đau xé ruột xé gan từ đỉnh đầu ập xuống.

Trước mắt Mộc Cát Sinh tối sầm, hoàn toàn mất ý thức.

Y nghe thấy tiếng mõ.

Trời đổ trận tuyết lớn, trong tầm mắt chỉ là một màu trắng xoá phẳng lặng.

Mộc Cát Sinh đang nằm giữa nền tuyết, nghe có tiếng hát vang lên từ hư không, du dương, trầm bổng lạ thường.

Khi thì mảnh như tơ khói, khi lại dạt dào như sóng nước.

"Trời đất mênh mông, xin dâng một chén.

Nhật Nguyệt thong dong, gói trọn tay áo.

Sơn hà cuồn cuộn, một nét hoạ nên.

Nhân sinh một đời, tựa đoá phù dung."

Tôi đang ở đâu?

Mộc Cát Sinh gắng gượng ngồi dậy, rũ mắt thấy mình đang mặc một bộ áo tay rộng trắng toát. xung quanh đất trời không có thứ gì cả, chỉ có tuyết trắng với khúc trường ca và tiếng mõ khi có khi không.

Tôi chết rồi sao?

Mộc Cát Sinh thầm nghĩ.

Thiên Toán Tử chết rồi thì hồn phi phách tán, không vào luân hồi, đây lẽ nào là chốn về cuối cùng của họ.

Không, không đúng.

Y kịp nhận ra, mình vẫn chưa phải Thiên Toán Tử.

Vậy thì đây là nơi nào?

Mộc Cát Sinh ngồi ngẩn ngơ một lúc, y ngửa đầu nhìn lên mới phát hiện những thứ rơi xuống kia không phải tuyết, mà là tiền giấy.

Tiền giấy tung bay, rơi xuống thành tuyết.

Đất trời lặng ngắt, trắng tinh một màu.

Chốc lát sau, y bật dậy, chạy về nơi phát ra tiếng mõ. y đi chân trần chạy trên nền tuyết, để lại một đường dấu chân ngoằn ngoèo rồi nhanh chóng bị tuyết phủ kín.

Tiếng hát miên man không dứt.

Mộc Cát Sinh không biết mình đã chạy bao lâu, chẳng thấy lạnh cũng chẳng thấy mệt.

Cuối cùng y nhìn thấy một bóng người, người nọ cầm mõ gỗ trong tay, tay áo bay phất phới, đang ngâm xướng bốn câu ca giống nhau hết lần này đến lần khác.

Đợi đến khi Mộc Cát Sinh cuối cùng cũng chạy tới nơi, chưa kịp mở miệng, đối phương đã hỏi: "Đến từ nơi nào?

Đi đến nơi nào?"

"Tôi đến từ Vong Xuyên."

Mộc Cát Sinh dừng một chút, nói: "Muốn đi về nhân gian."

“Hồn ơi, về đi..."

Mộc Cát Sinh giật mình bật dậy.

Tiếng nước róc rách, đèn xanh chập chờn.

"Tỉnh rồi à?”

Người chèo thuyền phía trước quay đầu lại: “Thấy sao rồi?”

Do bật dậy quá nhanh, Mộc Cát Sinh bị choáng một lúc lâu mới nhìn rõ người kia, là Ô Nghiệt.

Nàng đang chèo chiếc thuyền con giữa một vùng sen xanh nở rộ, bọn họ hẳn là đang ở Vong Xuyên.

"Tôi đây là..."

Mộc Cát Sinh cúi đầu nhìn tình trạng của bản thân.

Y bị người ta bó thành cái bánh chưng, khắp người gần như chẳng có chỗ nào lành lặn.

Y thử nhúc nhích cái tay, đau muốn phát khóc.

"Mấy ngày trước ngươi đánh với âm binh, thiếu chút nữa đã đóng được Thang Âm Dương.

Nhưng thực lực đôi bên chênh nhau quá lớn, ngươi không biết tự lượng sức, cuối cùng bị âm binh chém chết."

Ô Nghiệt nhàn nhạt nói: “Gặp nhau xem như có duyên, gia đây tiễn ngươi sang Vong Xuyên, vào điện Diêm Vương, đời sau tìm chỗ tốt một chút mà đầu thai.”

"Bà lớn đừng trêu tôi nữa, không có ai quấn người chết thành nửa cái bánh chưng rồi đem chôn thế này đâu!"

Mộc Cát Sinh đau đầu nói: "Tôi ngất đi bao lâu rồi?

Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”

“Nhóc con nhàm chán."

Ô Nghiệt đảo trắng mắt, vừa chèo thuyền vừa bảo: “Ngươi ngủ bảy ngày rồi.

Nhờ ngươi ngậm tiền Sơn Quỷ trong miệng nên mới giữ được mạng.

Thằng nhóc ở Dược Gia kia đích thân chữa thương cho ngươi, nhờ thế mà mau lành hơn chút.

Chứ không thì e nửa năm đến một năm cũng chẳng xuống giường nổi.”

“Tam Cửu Thiên?

Anh ấy đâu rồi?”

"Vội vàng xuống Phong Đô một chuyến, chữa thương cho ngươi xong liền quay về rồi.

Chư Tử dạo này ai cũng bận."

"Tôi đụng độ âm binh ở Thang Âm Dương, chuyện này là sao?"

“À, cái đó hả?

Là gia làm.”

“Ngài nói gì cơ?!"

“Gia là Thái Tuế, mấy trăm năm trước nhập chủ Phong Đô, làm trưởng lão Âm Dương gia, cũng có trách nhiệm trấn giữ nơi này.”

Ô Nghiệt kể: “Ngày hai mươi tháng chín âm binh phá quan, Phong Đô chắc chắn bị tàn sát.

Thế nên gia ra tay, mở trận lùa toàn bộ âm binh bạo động đến Thang Âm Dương."

“Ngài biết chuyện đó sẽ gây ra hậu quả gì không?"

“Biết chứ!

Chỉ hao mất năm trăm năm tu vi thôi mà.”

Ô Nghiệt liếc Mộc Cát Sinh đang trố mắt nghẹn họng, nhướng mày: “Được rồi, gia hiểu ý ngươi.

Âm binh tràn vào Thang Âm Dương, chẳng khác nào dời tai họa của Phong Đô sang nhân gian, trên đó sẽ gặp nạn lớn."

Mộc Cát Sinh không biết nên nói gì nữa.

Cái được, cái mất trong vụ này, cả hai đều hiểu rõ.

Y cũng đoán được lý do vì sao Ô Nghiệt làm vậy.

"Thang Âm Dương đã đóng, đường từ nhân gian dẫn xuống Phong Đô đã bị cắt.

Nhưng bơi ngược dòng Vong Xuyên vẫn có thể trở về nhân gian.”

Ô Nghiệt nói tiếp: “Ngươi đã cạn sức, vì thế nên sức mạnh mà tiền Sơn Quỷ có thể phát huy sẽ không bằng một phần vạn lúc bình thường.

Ngươi khó khăn lắm mới đóng được Thang Âm Dương, nhưng không giữ được lâu đâu."

“…Tôi còn bao nhiêu thời gian?”

“Ngươi ngủ bảy ngày.

Từ giờ đến khi âm binh phá phong ấn, còn khoảng nửa tháng.”

Ô Nghiệt nói: “Tiến hay lùi, đi hay ở, sớm tính cho xong.”

“Ý ngài là gì?”

“Ngươi hiểu mà.”

Ô Nghiệt quay đầu lại nhìn: “Âm binh bạo động, ngay cả Thập Điện Diêm Vương cũng bó tay.

Đất A Tỳ tích tụ oán khí nghìn năm, không gì có thể trấn áp, chỉ có thể dùng cách giết chóc để hóa giải.

Dựa vào sức một mình ngươi, dù có thêm cả một toà thành, cũng tuyệt đối không giữ nổi."

[ Edit by TeiDii ]

________________

Chủ nhà: Dưới Phong Đô có âm tướng quỷ sai, hơn nữa toàn người chết.

Đến cả Ô Nghiệt cũng muốn để việc này tự Phong Đô lo, vậy mà Ô Tử Hư lại chọn đẩy hoạ lên nhân gian, không biết y nghĩ gì nữa.......

Haizzz!!

Cơ mà t vẫn tin Ô Tử Hư không thể nào có ý muốn hại Mộc Cát Sinh được, có thể y không biết chuyện Mộc Cát Sinh xuống thang âm dương.

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 27


Chương 27

"Một thành e khó mà giữ."

Mộc Cát Sinh nhả từng chữ, chậm rãi nói: "Vậy nếu bảy nhà hợp sức thì sao?"

"Tập hợp sức của bảy nhà, liệu có giữ nổi một thành không?"

Ô Nghiệt ngẩn ra một thoáng, sau đó cười phá lên: "Ý hay đấy!

Gom sức bảy nhà lại, đấu với đám âm binh, giữ một tòa thành bé tẹo, sao lại không được cơ chứ?"

Nàng ôm bụng cười ha hả, suýt thì cười ra nước mắt: "Nhưng mà ngươi có từng nghĩ qua chưa, Thất Gia Chư Tử vì cái gì mà chịu giúp ngươi giữ thành?"

Mộc Cát Sinh lặng im thật lâu, rồi nói: "Vì vị trí Thiên Toán Tử."

"Chà, mấy hôm trước từ chối khí thế dữ lắm mà, vừa đụng chuyện liền nghĩ đến chỗ tốt của sư phụ ngươi rồi."

Ô Nghiệt nhướn mày: "Hắn để lại vị trí này cho ngươi từng ấy năm, ngươi chẳng chịu ngồi, giờ mới gặp tí âm binh đã đổi ý rồi?"

"Người quý ở chỗ biết mình biết ta.

Đánh giặc thì tôi không ngán, nhưng đấu với đám quỷ thần này không phải sở trường của tôi."

Mộc Cát Sinh nói: "Huống hồ, chuyện tôi nhận tiền Sơn Quỷ sớm muộn gì bảy nhà cũng biết, tôi lại dùng tiền Sơn Quỷ để phong ấn Thang Âm Dương.

Chuyện đến nước này rồi, giờ tôi muốn chối bỏ vị trí Thiên Toán Tử, bảy nhà nhất định không chịu để yên."

"Ngươi hiểu được thì tốt."

Ô Nghiệt đổi giọng: "Bảy ngày trước, ngươi dùng tiền Sơn Quỷ cưỡng ép phong ấn Thang Âm Dương, Phong Đô đã loạn cả lên.

Việc này bảy nhà đều hay biết.

Lần này trở về, chờ ngươi sẽ là một trận chiến căng thẳng đấy!"

"Bà lớn à, đừng nói nhẹ tênh như thể ngài là người ngoài cuộc."

Mộc Cát Sinh uể oải nói: "Truy về tận gốc, chuyện này chẳng phải do đại trận của ngài gây ra à?"

"Mỗi nhà mỗi cảnh.

Ngươi có thành của ngươi phải lo, ta có đám cháu chắt khiến ta phải đau đầu."

Ô Nghiệt nhàn nhạt nói: "Ai cũng có nỗi niềm riêng."

"Tôi đánh không lại ngài, ngài nói gì thì là thế."

Mộc Cát Sinh thở dài: "Dù sao cũng cảm ơn ngài đã tiễn tôi một đoạn."

"Ngươi hiểu là được, không cần cảm kích.

Sắp đến nhân gian rồi, ta dặn ngươi một câu, nghe rồi nghĩ cho thấu."

Ô Nghiệt buông mái chèo, nghiêng người sát lại gần Mộc Cát Sinh: "Kế thừa vị trí Thiên Toán Tử, chuyện này không tránh được, nhưng ngươi phải nghĩ kỹ."

"Thất Gia Chư Tử đời này qua đời khác, kéo dài ngàn năm...

Thật sự nghe lời của Thiên Toán Tử sao?"

Ô Nghiệt tiễn Mộc Cát Sinh trở về dương gian, trước khi rời đi còn ném cho y một lọ thuốc: "Trong thuốc có chứa tu vi của ta, đủ cho ngươi khoẻ mạnh như chưa từng chịu thương."

Mộc Cát Sinh cúi người cảm tạ: "Cảm ơn bà lớn."

"Không cần cảm ơn.

Ta vốn là kẻ đã chết, căn cơ khác người sống, ngươi dùng thuốc có chừng mực, bằng không sẽ tổn thọ."

Ô Nghiệt phất tay: "Xéo đi."

Nói rồi vơ lấy mái chèo, nghênh ngang rời đi.

Mộc Cát Sinh quay lại doanh trại ngoài thành trước.

Vừa thấy y, lão tham mưu đã giật mình: "Sao cậu lại quay về rồi?"

Y nghe vậy thì ngẩn ra: "Là sao?"

"Cậu mới cùng công tử Dược Gia đi vào thành cứu trợ thiên tai rồi mà."

Lời qua tiếng lại chẳng ăn nhập gì với nhau, lão tham mưu cũng bắt đầu thấy lạ: "Cậu ăn mặc kiểu gì kì vậy?

Bị thương à?"

Nói rồi lại giật mình: "Chẳng lẽ dân tị nạn bạo động rồi?"

Mộc Cát Sinh chẳng đáp, quay đầu đi nhanh đến văn phòng của mình, lấy sổ ghi lịch trình, xem lại toàn bộ những việc đã xảy ra mấy ngày nay.

Đêm ngày 29 tháng 10, trong thành đột nhiên bị sạt lở, rạng sáng hôm sau lại có động đất, đường xá bị hư hại, nhiều người chết và bị thương.

Mấy ngày tiếp theo đều là các mục ghi chép tình hình cứu trợ.

Mộc Cát Sinh nhìn chữ ký của mình ở cuối trang, đến đây xem như cũng hiểu được chuyện gì đang diễn ra.

Âm binh xông vào Thang Âm Dương gây ra động đất.

Còn người thay y xử lý quân vụ hẳn là Tùng Vấn Đồng.

Mặc Gia thạo nhiều nghề, trong đó có thuật dịch dung, lão nhị còn có thể bắt chước nét chữ của y giống đến bảy tám phần.

Năm xưa khi còn học ở thư trai, bọn họ thường dùng cách "lấy mận thay đào" này để thay phiên nhau chịu phạt quỳ, trốn học.

Tuy khó có thể qua mắt Ngân Hạnh trai chủ, nhưng lừa người thường thì chẳng có gì khó.

Mộc Cát Sinh thở phào nhẹ nhõm.

Tùng Vấn Đồng không biết điều binh, để tránh gây phiền nên mấy ngày nay hắn không lo việc trong doanh, chủ yếu chỉ lo việc cứu tế trong thành.

Mộc Cát Sinh lật vội đống báo cáo chất cao trên bàn, chọn ra vài việc gấp cần phê duyệt, sau đó thay quần áo, lập tức trở vào thành.

Việc quan trọng nhất bây giờ là phải đổi người lại ngay, bằng không sẽ có hai Mộc Cát Sinh đi tuần phố, dân chúng trong thành lại "gặp quỷ giữa ban ngày", lúc đó không biết sẽ ồn ào đến mức nào.

Tuy rằng đã chuẩn bị tâm lý từ trước, nhưng tình huống trong thành vẫn khiến Mộc Cát Sinh kinh hãi.

Y đi thẳng đến khu vực tâm địa chấn, nhà cửa đường phố đều sụp đổ hơn phân nửa, khắp nơi đều là đống đổ nát.

Lều phát cháo miễn phí được dựng ở ven đường, phía sau là hàng dài người xếp hàng, rất nhiều người kéo gia đình đến chờ nhận cháo.

Chỉ rời thành bảy ngày mà hoàn cảnh khác biệt như trời với vực.

Tùng Vấn Đồng đã lập trạm tiếp tế, mỗi ngày đều phát cháo, người mất nhà mất cửa có thể vào chỗ đó trú tạm, tránh cảnh lang thang ngoài đường.

Thế nhưng dư chấn vẫn chưa dừng lại, tất cả mọi người vẫn còn thấp thỏm lo lắng, rất nhiều người thậm chí không dám về nhà, sợ rằng người tiếp theo bị đè chết chính là mình.

Con phố dài chìm trong khung cảnh u ám ảm đạm, một cơn gió lạnh thổi qua, làm cho ánh mặt trời cũng lạnh đến thấu xương.

Mộc Cát Sinh đi trên đường, cảm thấy đồng tiền trong tay áo khẽ rung, đây là cộng hưởng.

Y dùng một đồng tiền Sơn Quỷ cưỡng ép đóng Thang Âm Dương, âm binh trong Thang ngày ngày điên cuồng đập phá lớp phong ấn, y có thể cảm nhận được phong ấn đang yếu dần.

Không chịu được bao lâu nữa.

Trong lòng Mộc Cát Sinh hiểu rất rõ, cứ như này thì không ổn.

Mỗi đồng tiền Sơn Quỷ đều ẩn chứa sức mạnh to lớn, nhưng phát huy được bao nhiêu lại tùy thuộc vào năng lực của người cầm giữ.

Nay y đang trọng thương, nhờ vào thuốc của Ô Nghiệt mới có thể sinh hoạt bình thường.

Đồng tiền Sơn Quỷ y dùng để phong ấn Thang Âm Dương chỉ phát huy được một phần nhỏ sức mạnh bên trong.

Ô Nghiệt tính không sai, từ giờ đến lúc âm binh phá được phong ấn, cùng lắm chỉ nửa tháng.

Y đi tới cuối phố gặp một hàng người đưa tang, nhang đèn ngựa giấy, tiếng kèn thê lương, tiền giấy tung bay khắp trời.

Mộc Cát Sinh bị một người ăn xin đụng phải, lảo đảo mấy bước: "Năm mất mùa đại nạn mà!"

Người kia tóc tai rối bù, chân trần lê bước, điên điên dại dại nghiêng ngả bước đi.

Ven đường có một ông thầy bói mù đang ngồi, Mộc Cát Sinh bị kẻ điên đụng phải, vừa hay dừng lại trước sạp coi bói của người nọ.

Người mù nghe tiếng thì ngẩng đầu lên, nở nụ cười gầy gò méo mó: "Chiến tranh sắp đánh đến đây rồi, muốn xem một quẻ bảo mệnh không?"

"Xin rủ lòng thương..."

Một người bị tàn tật ở chân vất vả bò tới: "Cho tôi chút tiền."

Bên vệ đường, có một phụ nữ tóc tai bết bát ngồi ôm bát cháo được phát, vẻ mặt đờ đẫng, rồi bỗng nhiên bật khóc nức nở.

Kẻ điên, người mù, kẻ què, người ngốc - đủ mọi cảnh đời chen chúc trên con phố dài, tiếng kèn đưa tang đinh tai, tất cả như cùng rơi vào cơn điên loạn.

Mộc Cát Sinh không thể nhìn thêm được nữa, vội vàng đặt xuống mấy đồng tiền rồi xoay người rời đi.

Lão tham mưu nói Tùng Vấn Đồng và Sài Thúc Tân cùng nhau vào thành.

Mộc Cát Sinh tìm khắp thành vẫn không thấy người, bèn đến Sài phủ trước.

Sài phủ chiếm diện tích lớn, nằm ở khu vực hẻo lánh trong thành.

Lần gần nhất Mộc Cát Sinh tới đây đã là nhiều năm về trước.

Năm đó còn là thiếu niên giẫm tuyết tìm mai, giờ cảnh còn đây mà người xưa đã khác...

Y gõ cửa ngách, dược đồng mở cửa sửng sốt: "Không phải ngài mới đi sao ạ?"

Mộc Cát Sinh đoán người đối phương nói tới chính là Tùng Vấn Đồng đang cải trang thành mình.

Y cũng không tiện hỏi "tôi" vừa rồi đi đâu, bèn nói: "Tôi chợt nhớ ra một chuyện, vừa nãy quên dặn Tam... khụ - Linh Xu Tử.

Anh ấy có ở trong phủ không?"

"Thì ra là vậy."

Dược đồng lễ phép cúi người: "Gia chủ vẫn chưa ra ngoài, xin mời đi theo."

Dược đồng dẫn Mộc Cát Sinh đi đến sảnh chính, trong sảnh tiếng người bàn tán ồn ào.

Dược đồng khom người nói: "Lẽ ra phải mời ngài dùng chén trà, nhưng lúc nãy ngài vừa rời phủ, gia chủ và các trưởng lão cứ tranh cãi không ngớt.

Hạ nhân vào phủ nhiều năm, chưa từng thấy cảnh tượng thế này.

Mạn phép mời ngài tới khuyên giải."

Mộc Cát Sinh nghe mà ngớ ra, nào biết trong đó đã xảy ra chuyện gì, chỉ đành thuận miệng đáp: "Không sao."

"Xin ngài chờ một chút."

Dược đồng nói rồi vội vàng chạy vào bẩm báo.

Mộc Cát Sinh đứng ngoài phòng, nghe loáng thoáng tình hình bên trong, dường như nội bộ Dược Gia đang lục đục vì vấn đề phân phối thuốc.

"Tôi phản đối!"

Có người tức tối lên giọng: "Chuyển bảy phần thuốc ra tiền tuyến, chỉ để lại ba phần cứu tế dân trong thành?

Thằng nhóc ngu dốt.

Vốn liếng Dược Gia gầy dựng trăm năm, mày định tiêu sạch hết mới vừa lòng sao?"

"Tài nguyên của cả một quốc gia rộng lớn cũng sắp cạn rồi."

Đó là giọng Sài Thúc Tân: "Triều đại lung lay bên bờ sụp đổ, không ai có thể khoanh tay đứng nhìn."

"Thiên hạ có hợp có tan, thay triều đổi đại vốn là chuyện thường!

Mày thân là Chư Tử, lại để tâm vào được mất của một toà thành một khoảnh đất, đúng là tầm nhìn hạn hẹp!"

"Da không còn, lông sẽ bám vào đâu?

Một thành còn không giữ nổi thì lấy gì mà giữ nước."

"Mày làm việc theo cảm tính, vì nhỏ mất lớn!"

Ngay lúc này, dược đồng chen vào: "Hạ nhân xin quấy rầy, Mộc công tử có việc cần gặp gia chủ."

"Đến đúng lúc lắm!

Bảo nó vào đây, hôm nay phải làm cho ra lẽ!"

Chỉ vài câu ngắn ngủi đã khiến Mộc Cát Sinh cảm thấy bất an.

Nhân lúc dược đồng lui ra, y kéo lại hỏi nhỏ: "Trong đó còn đang cãi nhau à?"

"Phải ạ, mấy hôm nay ngài cùng gia chủ lo chuyện cứu tế, dùng đến rất nhiều tài nguyên của dược gia, các trưởng lão đều tức giận."

Dược đồng đáp: "Chuyện lớn như vậy, hạ nhân không dám lắm lời.

Ngài mau vào đi, mọi người đều đang đợi."

Mộc Cát Sinh vẫn chưa hiểu: "Kho thuốc dược gia tích lũy bao đời dồi dào như thế, chỉ cứu trợ một lần thiên tai đã cạn kiệt sao?"

"Mấy ngày nay ngài hỏi đi hỏi lại câu này mấy lần rồi đó."

Dược đồng thở dài: "Một hai lần đương nhiên chẳng sao, nhưng đây là ngày này qua ngày khác...

Thôi, ngài mau vào đi, mọi người đang chờ."

Mộc Cát Sinh còn muốn hỏi thêm, nhưng đã bị dược đồng đẩy vào trong.

Trong sảnh chính có rất nhiều người.

Sài Thúc Tân vừa thấy y vào, lập tức phất tay ra hiệu.

Mộc Cát Sinh hiểu ngay, anh vẫn cho rằng y là Tùng Vấn Đồng.

Nhưng các trưởng lão trong sảnh vẫn gọi là Mộc công tử, hiển nhiên chuyện lão nhị giả trang là làm lén, trong thời điểm biến động liên tiếp thế này thì đây đúng là cách ổn thoả nhất.

Có một trưởng lão đứng dậy nói: "Mộc công tử, bảy nhà đã hay tin cậu dùng tiền Sơn Quỷ phong ấn Thang Âm Dương.

Cậu đã nhận tiền Sơn Quỷ, vậy thì nên gánh vác trách nhiệm của Thiên Toán Tử."

Mộc Cát Sinh thầm mắng đúng là ngán gì gặp nấy, nhưng bề ngoài vẫn giữ vẻ bình tĩnh: "Tôi không có ý xen vào chuyện của bảy nhà."

"Nếu chuyện này không chỉ liên quan tới bảy nhà thì sao?"

Ánh mắt Mộc Cát Sinh trầm xuống: "Các vị muốn gì?"

"Muốn xin một quẻ."

Người đáp lại là Sài Thúc Tân: "Xin Thiên Toán Tử dùng tiền Sơn Quỷ lập quẻ, xem về sự tồn vong của một thành."

Anh ta nói chuyện với lão nhị chẳng nương tình chút nào cả, Mộc Cát Sinh thầm nghĩ.

"Sự tồn vong của một thành, là ý gì?"

"Chuyện đã đến nước này, chúng tôi sẽ nói thẳng."

Một vị trưởng lão chậm rãi mở lời: "Thiên Toán Tử mấy ngày nay liên tiếp ghé thăm Sài thị bọn ta, hòng vì việc gì, đôi bên đều rõ.

Ngài gánh trách nhiệm giữ thành, lại gặp nạn âm binh, chẳng qua đang tính mượn sức của bảy nhà để xoay chuyển tình thế."

"Xin thôi."

Mộc Cát Sinh xua tay: "Cái danh 'Thiên Toán Tử' này, tôi nhận không nổi."

"Tiền Sơn Quỷ nằm trong tay cậu, tức thị cậu đã là Thiên Toán Tử.

Đó là mệnh trời, không phải cứ bảo không nhận là được."

Trưởng lão tiếp lời, giọng bình thản: "Quẻ bói Thiên Toán, bảy nhà không ai dám làm trái.

Nếu cậu muốn mượn sức Bảy Nhà, cũng không phải không được, chỉ cần đáp ứng một điều kiện."

Mộc Cát Sinh không ngờ người nhà Dược Gia lại nói thẳng đến vậy.

Tuy kinh ngạc, nhưng vẫn nương lời, hỏi lại: "Điều kiện gì?"

"Như gia chủ vừa nói, gieo một quẻ."

Trưởng lão đáp.

"Xem tòa thành cậu muốn giữ, có giữ được hay không."

"Nếu giữ được, bảy nhà sẽ dốc toàn lực hỗ trợ.

Nếu không giữ được, bảy nhà trong vòng ba ngày sẽ rút khỏi thành."

Giọng lão vang vọng trong sảnh chính: "Đi hay ở, đều do quẻ Thiên Toán định đoạt."

Vài lời ngắn ngủi lại như sấm nổ giữa trời.

Mộc Cát Sinh chợt nhớ tới câu nói cuối cùng của Ô Nghiệt trước khi rời đi: Thất Gia Chư Tử đời này qua đời khác, kéo dài ngàn năm...

Thật sự nghe lời của Thiên Toán Tử sao?

Thiên Toán Tử đoán thiên mệnh, dưới lệnh trời, bảy nhà không dám không theo.

Nhưng thứ họ thực sự nghe chỉ là quẻ tượng của tiền Sơn Quỷ, chứ không phải người có danh xưng Thiên Toán Tử.

Thiên Toán Tử truyền đạt ý trời - sai một ly, đi một dặm.

Bọn họ coi Thiên Toán Tử là thứ gì?

Mộc Cát Sinh không nhịn được nghĩ.

Một cái loa truyền tin của ông trời à?

"Chuyện hệ trọng."

Trưởng lão vẫn đang nói: "Cậu nghĩ cho kỹ."

"Hay là thế này đi."

Mộc Cát Sinh từ tốn đáp: "Tôi vứt hết mớ tiền Sơn Quỷ này, Thất Gia Chư Tử giải tán tại chỗ.

Từ nay về sau, nhà ai nấy lo, thế nào?"

"Hỗn xược."

Có người giận dữ bật dậy: "Thằng nhãi, mày dám!"

"Vậy thì mời các vị đi tìm cao nhân khác."

Mộc Cát Sinh quay lưng muốn rời đi: "Mấy trò rách này, ông đây không làm."

"Khoan đã!"

Trưởng lão đứng dậy: "Thiên Toán Tử đừng hành động theo cảm tính.

Một quẻ này không chỉ quyết định việc bảy nhà đi hay ở, mà còn liên quan đến sự sống chết của cả thành!

Cậu nhìn hoàn cảnh thê thảm của dân chúng ngoài kia đi, cậu không xót sao?"

"Ông đến cùng là muốn cái gì?"

Mộc Cát Sinh dừng lại: "Đừng tưởng ông già thì tôi không dám đánh."

"Mong cậu nghĩ kỹ lại."

Giọng lão nặng như chuông đồng.

"Nếu thành vỡ, hàng vạn tính mạng trong thành, một mình cậu lo nổi sao?

Dù cậu có can đảm tự tin cỡ nào, ngoài thành có kẻ địch mạnh, trong thành có âm binh bạo động.

Cậu tự hỏi bản thân mình đi, cậu chắc thắng không?"

"Nếu quẻ không lợi, kế sách trước mắt là phải sớm sơ tán dân chúng rời khỏi thành.

Cậu vì bốc đồng mà muốn làm cho thoả gan, nhưng về lâu về dài sẽ ra sao?

Mai này nhỡ đâu xương trắng chất đầy thành...

Thiên Toán Tử, liệu cậu có thấy thẹn không - "

Ầm!!!

Lời còn chưa dứt, Mộc Cát Sinh đã đá văng cửa lớn sảnh chính.

Cả sảnh kinh ngạc.

"Bốc đồng?"

Mộc Cát Sinh nghiến răng lặp lại.

"Tướng sĩ bách chiến, da ngựa bọc thây* - đến miệng ông lại biến thành một câu 'bốc đồng'?"

Sài Thúc Tân ngớ ra một thoáng, rồi như đã nhận ra điều gì đó, vội đứng dậy.

(*)Ngày xưa quân lính cưỡi ngựa ra trận, khi chết sẽ lấy da ngựa bọc thi thể trả về quê hương.

"Tướng sĩ bách chiến, da ngựa bọc thây": Người lính vì bảo vệ quê hương đất nước mà tình nguyện xông pha mọi chiến trường, chết không hối tiếc.

"Cầu một quẻ bói để quyết định sự sống chết của ngàn vạn sinh mệnh, ai cho ông cái quyền đó?!

Mẹ kiếp, có là vua chúa đi chăng nữa thì nhà Thanh cũng đã tiêu tùng từ mấy chục năm trước rồi!"

Mộc Cát Sinh xoay người, trừng mắt nhìn lão.

"Ông nói tôi làm việc theo cảm tính?

Còn việc thắng bại của một thành lại trông mong vào bốn mươi chín đồng tiền muốn tiêu cũng chẳng tiêu được, ông không thấy buồn cười sao?!

Ông chê tôi là thằng nhãi không biết trời cao đất dày, tôi lại thấy ông là một lão già tham sống sợ chết chui lủi như chuột nhắt!"

Cả sảnh nhốn nháo, có người gầm lên: "To gan!"

"Thiên Toán Tử, ăn nói cẩn thận."

Trưởng lão nghiêm giọng: "Ý trời khó đoán, đừng coi trời bằng vung."

"Thế thì xin thứ lỗi..."

Mộc Cát Sinh đột nhiên bật cười.

"Tôi coi trời bằng vung nên không muốn gieo quẻ.

Tôi không xem quẻ thì 'thiên mệnh' tôn quý của các ngài coi như câm.

Ông tưởng Thất Gia Chư Tử to lắm chắc, chẳng qua cũng chỉ là một đám ruồi mất đầu."

"Thiên Toán Tử nhất định không chịu tính quẻ này?"

"Không."

Mộc Cát Sinh đáp ngay: "Ngày sau nếu tôi chôn thây trên chiến trường, dòng Thiên Toán coi như đứt mạch, bảy nhà có thêm lý do để giải tán, ai cũng nhẹ nợ."

"Đã vậy, chúng tôi rút khỏi đây ngay đêm nay."

Trưởng lão nói: "Không có quẻ tượng, chúng tôi không có nghĩa vụ phải tuân theo."

Mộc Cát Sinh phẩy tay: "Cứ tự nhiên."

"Đáng buồn thay."

Lão thở dài: "Công sức của gia chủ mấy năm nay, xem như đổ xuống sông."

"Ông có ý gì?"

Mộc Cát Sinh nghe ra ý khác trong câu nói ấy.

"Cứu tế dân chúng trong thành là trách nhiệm của Dược Gia, liên quan gì đến tôi?"

Có người bật cười mỉa mai: "Mày nói thì dễ lắm.

Một trận cứu tế này sánh được với những gì Dược Gia đã bỏ ra sao?"

Người kia vừa nói đến đây đã bị Sài Thúc Tân nạt ngang: "Im miệng!"

Anh còn chưa kịp chặn hắn lại thì Mộc Cát Sinh đã đến trước.

Y đi thẳng đến đứng đối mặt với người đó, hỏi: "Ông nói rõ cho tôi biết, Dược Gia đã làm gì?"

Người ấy lạnh lùng trừng mắt nhìn lại, dõng dạc kể: "Năm đó Mộc Tư Lệnh bị vây trong núi, tình thế nguy cấp, nguồn nước trong núi lại bị nhiễm độc, quân sĩ bị bệnh hơn phân nửa.

Sau có một vị thầy thuốc vượt ngàn dặm mà đến, băng qua vòng vây của quân địch, nhờ thế mới cứu được cha mày.

Mày đi du học bốn năm ở nước ngoài, nhàn nhã sung sướng, mày có biết trong nước chiến tranh liên miên, quân đội thiếu tiền thiếu ăn vậy mà chỉ riêng đội quân dưới trướng Mộc Tư Lệnh lại chưa bao giờ thiếu thốn thứ gì, thậm chí có cả thuốc Tây đặc trị các loại bệnh, mày tự nghĩ xem, là ai tiếp tế?

Quân y ngàn vàng khó mời, vậy mà năm nào cũng có du học sinh ngành y vừa về nước đã theo quân đội ra tuyến đầu, mày thực sự cho rằng chỉ vì Mộc Tư Lệnh hay quan tâm giúp đỡ cấp dưới, đánh đâu thắng đó à?

Nếu không có lệnh của gia chủ, chẳng ai sẽ vì một thằng môn sinh còn chưa phải là Thiên Toán Tử đâu...

Nó gần như đã đem toàn bộ tài nguyên của cái nhà này đổ lên trên người mày rồi!"

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 28


Chương 28

Quan Sơn Nguyệt.

Mấy hôm trước có động đất, nửa tòa lầu của Quan Sơn Nguyệt bị sập.

May mà tầng trệt chưa bị hư hại nhiều, mấy ngày nay gấp rút sửa chữa, cuối cùng khó khăn lắm mới có thể dựng lên được khung sườn, khôi phục lại một chút dáng vẻ ngày xưa.

Trên góc hiên có vài sợi dây treo những mảnh ngọc vỡ, tạo thành một chiếc chuông gió, mỗi khi có gió thổi qua sẽ vang lên tiếng leng keng vui tai.

Ô Tử Hư ngồi trong hậu trường, tay cầm một tách trà nguội.

Mấy ngày nay trời đất đảo lộn, dân chúng trong thành sống cảnh lầm than, giờ chẳng còn bao nhiêu người đến nghe bình đàn nữa.

Tuy bận trăm công nghìn việc ở Phong Đô, nhưng anh vẫn giữ thói quen cũ, hễ rảnh là đến đây ngồi, nếu dưới đài có khách sẽ lên hát một khúc.

Các ca nữ có nơi nương thân trong Quan Sơn Nguyệt nay đều rời đi.

Những người không còn chỗ để về thì ở lại, theo dì Triệu ra ngoài phát cháo.

Trong hậu trường chỉ còn mỗi một ca nữ, ngày đó nàng từng cùng Ô Tử Hư và Mộc Cát Sinh hát đoạn Tây Sương Ký.

Nàng ôm đàn tỳ bà, nhìn Ô Tử Hư, rụt rè hỏi: "Ngô tiên sinh ngày mai...

Ngài còn đến không ạ?"

Ô Tử Hư nhìn nàng, mỉm cười: "Nếu vẫn có cô đệm đàn tỳ bà, tôi sẽ đến."

"Nhưng dạo này vắng khách quá..."

"Nỗi lòng trao gửi tiếng đàn.

Tri âm đã vắng, tan đàn ai hay?"

Ô Tử Hư nhẹ nhàng nói: "Tuy vắng người, nhưng hiện giờ ai chịu đến đây đều là thật lòng thật dạ.

Vì lẽ đó nên càng không được lơ là."

"Đến đây ngoài khách tri âm thì là đôi ba kẻ hèn chỉ biết say sưa trốn đời..."

Cửa hậu trường đột nhiên bị đá tung, Tùng Vấn Đồng sải bước đi vào: "Mày còn dám vác mặt tới đây sao?"

Ca nữ giật mình, bị Tùng Vấn Đồng đẩy ra ngoài: "Nói lại với mọi người, lát nữa dù nghe thấy bất cứ động tĩnh gì cũng không được vào."

Ô Tử Hư đặt tách trà xuống: "Dạo này chẳng phải ông đang bận giả làm lão tứ sao?

Nghe nói hôm nay bà lớn Ô Nghiệt đã đưa cậu ấy về..."

Lời còn chưa dứt, y đã bị người ta đánh.

Một đấm không nương tình nện thẳng vào mặt, mũi miệng bật máu tươi.

"Nếu mày ở luôn dưới Phong Đô, tao có thể xem như chưa từng có chuyện gì xảy ra."

Tùng Vấn Đồng xách cổ áo Ô Tử Hư, gằn từng chữ: "Mày còn quay lại đây làm gì?"

"Nếu tôi ở lại Phong Đô, thì Ô Tử Hư sẽ không còn tồn tại trên đời này nữa.

Tôi tuyệt đối không chấp nhận được."

Ô Tử Hư lau vệt máu trên mặt: "Tôi không thể bỏ mặc anh em ở Ngân Hạnh Thư Trai."

"Con mẹ mày còn dám nói những lời này?!"

Tùng Vấn Đồng gào lên: "Giờ vác xác lên đây giả làm Bồ Tát, lúc Ô Nghiệt bày trận, mày ở đâu?

Sao không cản?

Mày biết rõ âm binh một khi chạy đến Thang Âm Dương nhất định sẽ xông lên dương gian, mày làm thế khác nào giết lão tứ?"

"Lúc ấy tôi ở ngay cổng thành Tây Quan."

Ô Tử Hư nói: "Là tôi xin Thái Tuế mở trận, Phong Đô không thể bị phá hủy."

Tùng Vấn Đồng chửi ầm lên, đánh Ô Tử Hư một trận tơi tả, xuống tay không chút nể nang, gần như muốn đập nát cả hậu trường.

Nhưng Ô Tử Hư không hề đánh lại, cúi đầu mặc Tùng Vấn Đồng đấm đá, lặng lẽ chịu đựng tất cả.

Đến khi hậu trường gần như không còn một chiếc bàn cái ghế nào nguyên vẹn.

Tùng Vấn Đồng ném Ô Tử Hư đầy thương tích xuống đất, khàn giọng nói: "Xéo đi!

Đừng bao giờ để tao gặp lại mày.

Tao lo cho lão tứ được, từ hôm nay, chuyện của bọn tao không dính dáng gì đến mày!"

"Vài ngày nữa, âm binh sẽ phá vỡ phong ấn..."

Ô Tử Hư cố chống người đứng dậy, giọng khàn đặc: "Đến lúc đó các cậu tính thế nào?"

Tùng Vấn Đồng lạnh lùng đáp: "Thế thì tốt nhất mày nên cầu cho bọn tao đừng chết, nếu không đến lúc gặp nhau ở Phong Đô, trên dưới mười điện Diêm Vương đều sẽ là vật tế đao của tao."

"Lão nhị, nếu ông thật sự muốn gây chiến với Thập Điện Diêm Vương, e rằng không ai cản nổi ông."

Ô Tử Hư thở dài.

"Nhưng ông có biết, âm binh bạo động, đến cả Thập Điện Diêm Vương cũng bó tay.

Nếu chỉ dựa vào mình ông và lão tứ, chắc chắn không chống đỡ nổi..."

Tùng Vấn Đồng đá y ngã trở lại mặt đất, hắn cụp mắt nhìn, giọng rét lạnh: "Giờ lại giả vờ đóng vai người tốt với tao phải không?!"

"Tôi biết ông giận tôi, trách tôi xin Thái Tuế bày trận."

Ô Tử Hư nghiêng đầu, giọng thều thào: "Nhưng tôi thực sự không còn cách nào khác."

"Cái gì mà không còn cách nào khác?"

"Chính là bất lực.

Dù có tan xương nát thịt cũng không tìm ra kế vẹn cả đôi đường.

Tôi đã thức trắng ba ngày ba đêm, vẫn không nghĩ ra được, đến cùng chỉ có thể làm vậy.

Người nhà họ Ô sau khi chết có thể ở lại Phong Đô, nên cũng có trách nhiệm phải bảo vệ, một khi trong thành xảy ra đại loạn chết chóc, Âm Dương gia sẽ đứng mũi chịu sào.

Sau lưng tôi là cả dòng tộc, trăm đời cơ nghiệp của Ô thị tại Phong Đô, không thể bị hủy hoại."

"Ra là vậy.

Giữa Âm Dương gia và lão tứ, mày đã có lựa chọn rồi."

Tùng Vấn Đồng cười lạnh: "Đã thế thì ai làm nấy chịu.

Mày không ở Phong Đô làm đứa con hiếu thảo đi, còn đến đây diễn trò gì?"

"Tôi không còn cách khác.

Nhưng tôi cũng không thể trơ mắt nhìn các cậu chịu chết."

Ô Tử Hư bật dậy, gằn giọng: "Lão nhị, Mặc gia chỉ còn mình cậu, trơ trọi không gánh nặng, đương nhiên có thể ung dung tự tại, muốn làm gì thì làm.

Nhưng trên đời này có bao nhiêu chuyện lực bất tòng tâm?

Cậu chưa từng nếm qua vị đắng đó sao?!

Năm xưa Mặc Tử đời trước qua đời, cậu cam tâm tình nguyện bị mẹ mình bỏ lại sao?

Tình thân trói buộc và trọng trách dòng tộc, cậu cũng phải chọn kế thừa!"

Ánh mắt Tùng Vấn Đồng trở nên sắc lạnh, giọng âm trầm: "Mày... nói lại lần nữa?"

Từng lời từng chữ lúc này đều như mũi dao nhọn găm vào máu thịt.

Họ từng là những người thân thiết nhất, hiểu rõ nhau nhất, cũng biết cách nào đâm thấu tim nhất.

Ô Tử Hư nhìn thẳng vào mắt Tùng Vấn Đồng, nói rõ ràng từng chữ: "Nếu hôm đó, cậu buộc phải chọn giữa mẹ và lão tứ, e rằng cậu cũng chẳng khác tôi."

Một tiếng nổ kinh thiên động địa vang lên trong phòng.

Tùng Vấn Đồng rút đao chém thẳng về phía Ô Tử Hư, một nhát chí mạng.

Ô Tử Hư lúc này không cam chịu nữa, đưa tay đỡ đòn.

Cán tẩu Cô Vọng chắn lấy lưỡi đao Thỉ Hồng, khoảnh khắc chạm nhau, tay cả hai run lên bần bật.

Giữa tiếng kim loại ma sát chói tai khiến người nghe buốt răng, Tùng Vấn Đồng nghiến từng chữ: "Con mẹ mày đừng có đánh đồng tao với mày!"

"Phải, nói về lòng gan dạ dũng cảm, tôi không bằng cậu."

Ô Tử Hư đáp: "Vì cậu chẳng mang gánh nặng, nên lúc nào cũng có thể lao về phía trước mà chẳng cần ngoái lại.

Trong Thất gia, Mặc gia vốn quen hành động theo ý mình.

Nhưng Âm Dương gia là cầu nối giữa hai giới, gia chủ phải gánh hai lần trách nhiệm, lo cho người sống lẫn nghĩ cho người chết."

Đây là đầu tiên Ô Tử Hư trút bỏ phong thái ôn hòa thường ngày, y bất chấp tất cả mà gào lên: "Cậu từ nhỏ đã mồ côi mẹ thì sao chứ?!

Tôi và cậu ai mà chẳng tan cửa nát nhà!

Mặc Tử đời trước ít nhất còn nuôi cậu đến lúc năm tuổi, còn mẹ tôi, bà ấy đã chết ngay khi vừa sinh tôi ra.

Cậu cầm đao Thỉ Hồng tung hoành ngang dọc, không sợ sống chết, nhưng cậu biết trong cán Tẩu Cô Vọng chứa cái gì không?!

Đó là tro cốt của các đời Vô Thường Tử!"

Nhà họ Ô thạo Âm Dương thuật, truyền thừa quỷ dị lạ lùng.

Mỗi đời Vô Thường Tử đều được chỉ định sẵn từ trước khi chào đời.

Bào thai Vô Thường Tử mang quỷ khí quá nặng, người mẹ sau chín tháng mười ngày sẽ bị quỷ khí nuốt trọn, chắc chắn sẽ chết trong lúc sinh nở.

Vô Thường Tử mồ côi mẹ từ đời này qua đời khác, Ô Tử Hư cũng không ngoại lệ.

Truyền thừa của Vô Thường Tử được đánh đổi bằng mạng sống của đời trước.

Tẩu Cô Vọng có thể triệu âm sai, khiển vạn quỷ, đương nhiên chẳng dựa vào sức người thường.

Gói thuốc đầu tiên Ô Tử Hư nhét vào cán tẩu Cô Vọng chính là tro cốt của cha mình.

Vận mệnh của Vô Thường Tử qua các đời đều trớ trêu như thế.

Nhà họ Ô định sẵn không bao giờ có ba thế hệ sống chung.

Khắc cha, khắc mẹ, khắc vợ khắc con.

Sinh ra là Vô Thường Tử, khi sống phải cúc cung tận tụy cả đời, chết rồi cũng không được an nhàn.

Hay cho một người kiên cường giữ vững cả một dòng tộc, nhưng chính họ đã tan nhà nát cửa tự thuở đầu.

Ngọc diện lang quân cười đời Vô Thường, trông vào tựa một thiếu niên thông minh lanh lợi tài đức vô song, nhưng từ sớm đã bị gột sạch bởi sự phù phiếm si dại, vì mạch sống và mạch chết của dòng dõi Ô thị.

"Sống là người nhà họ Ô, chết là quỷ của Phong Đô, đó là số mệnh của Âm Dương gia.

Cậu trách tôi không đưa tay giúp lão tứ?

Nhưng trên vai tôi là truyền thừa của biết bao đời Vô Thường Tử, là cái giá đánh đổi bằng xương máu của vô số người nhà họ Ô."

Ô Tử Hư trừng thẳng Tùng Vấn Đồng, gào đến lạc cả giọng: "Tùng Vấn Đồng có thể trách Ô Tử Hư, nhưng Mặc Tử không có tư cách trách cứ Vô Thường Tử!"

Đây là lần đầu tiên Tùng Vấn Đồng thấy Ô Tử Hư bất chấp tất cả như vậy.

Trong lòng chấn kinh thoáng chốc, chẳng biết phải đáp thế nào.

Tiếng nói như vỡ tan giữa gian phòng ngổn ngang, rồi trở về sự im lặng chết chóc.

Tẩu Cô Vọng rơi "cạch" xuống đất.

Giọng Ô Tử Hư khàn đi: "Lão nhị, cậu có biết không...

Năm đó, mỗi lần thấy cậu và lão tứ chơi đùa trong thư trai, tôi cũng rất muốn trèo lên cây ngân hạnh trước hiên cùng hai cậu.

Lắm lúc tôi tự hỏi mình, vị trí chư tử này rốt cuộc có đáng hay không?

Nhưng đã trả quá nhiều...

Tôi không thể quay đầu được nữa."

Phòng hậu trường lại rơi vào tĩnh lặng, chẳng biết qua bao lâu, Tùng Vấn Đồng mới cúi xuống nhặt tẩu Cô Vọng lên.

"Lúc sống thì làm đứa con hiếu thảo trong nhà, lúc chết xuống Phong Đô làm tôi tớ.

Đúng là đại trượng phu đội trời đạp đất, khéo nhẫn nhịn đến mức uất nghẹn chất cao như núi.

Tôi không cãi lý với cậu.

Xưa nay tôi cãi không lại cậu với lão tứ."

Hắn đưa tẩu Cô Vọng lại cho Ô Tử Hư: "Cầm đi."

"Tôi với cậu chưa xong đâu!"

...

Cùng lúc ấy, tại Sài phủ.

"Mộc Cát Sinh!"

Sài Thúc Tân bước thật nhanh: "Mộc Cát Sinh!

Cậu đợi chút đã!"

Hai người đi thẳng một mạch từ trong Sài phủ ra, Mộc Cát Sinh bước rất nhanh, Sài Thúc Tân cố lắm mới theo kịp, anh bắt lấy cổ tay y rồi xem mạch.

"Cậu uống thuốc Thái Tuế đưa rồi?"

Mộc Cát Sinh rút tay về, khoanh tay trước ngực: "Nhận ra tôi rồi à?"

"Thuốc của Thái Tuế chỉ cầm cự được nhất thời.

Loại thuốc này tổn hao nguyên khí, chẳng khác nào uống độc giải khát..."

"Tôi tự biết sức mình."

Hai người nhìn nhau, Sài Thúc Tân nghẹn lời.

Hồi lâu mới nói được một câu: "...Tôi không cố ý giấu cậu."

"Thôi đừng..."

Mộc Cát Sinh phất tay: "Anh là gia chủ nhà họ Sài, làm gì cũng có lý lẽ của mình, tôi nào dám trách anh?"

Sài Thúc Tân vốn ít nói, lúc này càng không biết nói gì.

Anh lùi về nửa bước, khom người: "Tôi xin lỗi."

"Cậu là Thiên Toán Tử, Chư Tử làm sai, cậu có quyền phạt."

Mộc Cát Sinh nhìn người trước mặt, cổ họng nghẹn cứng không nói nên lời.

Một lúc sau mới bật ra được một câu: "Mẹ nó chứ!

Sao tự dưng lại thành tôi bắt nạt anh vậy?"

Y đá nhẹ vào chân đối phương một cái: "Mời tôi uống rượu đi."

"Cậu đang bị thương, không được uống rượu."

"Anh còn chưa chịu thôi hả?!"

Hai người tìm đại một quán rượu đang mở cửa, gọi mấy vò rượu, ngồi xổm trước cửa mà tu ừng ực đến say sưa.

Tửu lượng của Mộc Cát Sinh cực tốt, nốc rượu chẳng màng sống chết, thoáng một cái đã uống cạn mấy vò rượu.

Mặt y ửng hồng, nghiêng đầu hỏi Sài Thúc Tân: "Có mang tiền không?"

"Có."

"Nhiều không?"

"Kha khá."

"Giờ tôi muốn uống sạch rượu của cái quán này, anh trả nổi không?"

"Uống nhiều rượu sẽ gây hại cho cơ thể."

"Lại thế nữa rồi!

Giờ nói một tiếng thôi, đủ hay không?"

"...Đủ."

Mộc Cát Sinh chìa tay: "Đưa đây."

Y nhận túi tiền, ném thẳng lên quầy: "Ông chủ, tôi mua hết quán này, giờ đây binh đao loạn lạc, mau cầm tiền chạy trước đi!"

Mộc Cát Sinh nói xong thì ôm mấy vò rượu từ trong quán ra ngoài: "Năm nay hạn lớn..."

Sài Thúc Tân nhanh tay lẹ mắt kéo người lại, hướng về ông chủ quán rượu đang ngơ ngác: "Xin lỗi, cậu ấy say rồi."

Anh nói xong thì lấy ra mấy đồng bạc: "Chỗ rượu này tôi mua hết."

Ông chủ rất thức thời, nhận tiền ngay, rồi kéo rèm cửa xuống, xong xuôi đi ra ngoài cửa nói với mấy vị khách vừa tới: "Thật xin lỗi, quán đóng cửa rồi."

"Tôi không say."

Mộc Cát Sinh ngồi xếp bằng trên quầy tính tiền: "Ở nước ngoài tôi uống vodka còn dốc đứng cả chai, mấy vò rượu nhỏ này nhằm nhò gì."

Nói rồi cầm một vò rượu, nhét vào tay Sài Thúc Tân: "Rượu vào lời ra.

Nào, uống đi!"

Mộc Cát Sinh uống đến khi mặt mày đỏ lự, nhưng xem chừng đầu óc vẫn còn tỉnh táo lắm, y nhìn Sài Thúc Tân gỡ giấy dán, bưng rượu lên uống.

"Tam Cửu Thiên, lần trước chúng ta uống rượu với nhau là khi nào?"

"Lúc cậu chuẩn bị đi du học, trong quán rượu ở bến tàu."

Sài Thúc Tân kể lại: "Cậu với Mặc Tử uống rất nhiều, Vô Thường Tử thì say đến đứng không vững."

"Hôm đó anh đi vội lắm."

Hơi thở của Mộc Cát Sinh nồng nặc mùi rượu: "Tôi chợt nhớ ra...

Hình như ngày đó cha tôi cũng ở trong thành."

"Hôm ấy là lần đầu tiên tôi gặp Mộc Tư Lệnh."

Sài Thúc Tân uống một ngụm rượu: "Tôi thấy ông đứng ngoài cửa sổ nhìn vào, đứng rất lâu."

Mộc Cát Sinh nghe vậy thì bật cười: "Lão già này..."

"Tôi chỉ gặp Mộc Tư Lệnh một lần, sau đó toàn liên lạc qua thư từ điện báo.

Dược gia cung cấp thuốc men, Mộc Tư Lệnh cũng hỗ trợ Dược gia các vấn đề liên quan đến phương diện quân đội.

Vận chuyển dược liệu qua đường thủy, các cửa ải, nhờ có sự hỗ trợ của ông mà thuận lợi hơn."

Sài Thúc Tân nói tiếp: "Mộc Tư Lệnh một lòng vì quốc gia.

Dù chỉ gặp một lần, nhưng phong thái, khí phách của ông thật khiến người ta bái phục.

Trước khi ra quyết định hợp tác với quân đội tôi đã nghĩ rất kỹ, cũng đã họp bàn với các trưởng lão trong nhà..."

Sài Thúc Tân dừng một chút.

"Không phải hành động theo cảm tính, những lời nói lúc nãy, cậu đừng vội tin."

"Chuyện của cha, tôi không biết nhiều.

Trí nhớ của lão già ấy cũng chẳng ra gì, nhưng chuyện nào cần tôi biết, sớm muộn gì ông ấy cũng nói."

Mộc Cát Sinh thở dài.

"Nhưng dù sao tôi vẫn nên nói với anh một lời cảm ơn."

"Giữa chúng ta, không cần nói cảm ơn."

"Ừm, cũng đúng."

Mộc Cát Sinh tươi cười, ôm vò rượu lên: "Vậy thì mời anh một vò."

Hai vò rượu cụng vào nhau.

Mộc Cát Sinh như nhớ ra điều gì đó: "Hèn chi lúc còn ở nước ngoài, tôi đã đi khắp nơi, nhưng dù có đi đến đâu thì bức thư gửi đến đầu tiên cũng đều là của anh.

Khi ấy tôi còn tưởng các anh đã bàn nhau thứ tự gửi rồi.

Anh nói chuyện chính, lão tam gửi tiền, lão nhị chửi bới."

"Mặc Tử và Vô Thường Tử lấy địa chỉ từ tiên sinh."

Sài Thúc Tân nói: "Tiên sinh thần cơ diệu toán, luôn biết được cậu đang ở đâu."

"Ông ấy lười lắm, có tính toán gì đâu!"

Mộc Cát Sinh mỉm cười: "Là tôi mỗi ngày đều như chấm công, đi tới đâu cũng báo cáo hành trình.

Những lúc hiếm hoi sư phụ nhớ ra tôi, ông ấy chỉ gửi ké vài câu dặn dò vào thư của lão nhị, toàn chuyện vụn vặt thôi..."

Chuyển đề tài, y đặt vò rượu xuống: "Nhưng dạo gần đây xảy ra bao chuyện, tôi luôn có cảm giác sư phụ dường như đã lường trước tất cả những gì chúng ta sẽ trải qua."

Sài Thúc Tân ngẩng đầu, hỏi: "Sao cậu nghĩ thế?"

"Năm đó lúc tôi đang ở Moskva, sư phụ có dặn kèm trong thư lão nhị một câu: Gió tuyết càng nặng, nhớ mặc thêm ấm.

Thư sau gửi đến, chính là tin sư phụ đã qua đời."

Mộc Cát Sinh nhẹ giọng nói: "Ngày nhận thư, tôi mặc áo bông dày, đi bộ trên bờ đê rất lâu.

Chiếc áo đó do tôi đặt thợ may làm riêng, gió tuyết không thể thổi vào, nhưng tôi vẫn cảm thấy lạnh thấu xương."

Sài Thúc Tân im lặng một lúc, rồi nhẹ nhàng hỏi: "Tiên sinh có để lại gì cho cậu không?"

"Có."

Mộc Cát Sinh gật đầu: "Nhưng đây vẫn chưa phải lúc khó khăn cùng cực, tôi luôn cảm thấy chưa đến lúc dùng đến.

Thế nhưng trận chiến này, tôi cũng không có nhiều hy vọng thắng."

Y cười nhẹ, thoáng chút chua xót: "Xin lỗi, khi nãy đã để anh phải khó xử.

Tôi không chịu tính quẻ này, thực sự đã phản lại Thất Gia.

Có lẽ anh tin vào thiên mệnh, nhưng tôi không muốn cam chịu số phận."

"Cậu không cần lo lắng."

Sài Thúc Tân lắc đầu: "Tôi tin cậu.

Với tôi, cậu và thiên mệnh... cũng chẳng khác mấy."

Mộc Cát Sinh ngây ra, rồi bật cười: "Tốt!

Vậy là đủ rồi."

Trời dần tối, ngoài quán rượu đã thắp đèn, ánh vàng đỏ lấm tấm dưới màn đêm.

Mộc Cát Sinh trông ra ngoài cửa sổ: "Nếu có thêm tuyết rơi, khung cảnh sẽ rất giống những đêm mùa đông bên bờ sông Neva."

Nói rồi, y mở một vò rượu mới, tựa vào cửa sổ: "Tôi hát cho anh nghe một bài nhé."

Mộc Cát Sinh ngân nga một bài hát tiếng Nga, giai điệu du dương nhẹ nhàng như những bông tuyết rơi trên mặt sông yên ả.

Окрасилсямесяцбагрянцем

(Vầng trăng đã nhuốm màu đỏ thắm)

Гдеволнышумелиускал

(Nơi sóng gào thét bên vách đá xa xăm)

Поедем,красотка,кататься

(Đi thôi, người đẹp ơi, ta cùng nhau rong ruổi)

Давноятебяподжидал......

(Tôi đã đợi người từ rất lâu rồi......)

Sài Thúc Tân nhấp rượu, chỉ nghe hiểu được vài âm tiết lẻ tẻ, nhưng lại mơ hồ chạm tới mảnh ký ức vài năm về trước.

Nơi đó có ánh đèn, bóng đổ dài trên tuyết, xa xa là dòng sông chảy xuôi ngàn dặm, họ ngăn cách nhau giữa núi non, biển cả.

Và giờ đây, họ lại gặp nhau trong một khúc ca.

Uống đến khuya, Mộc Cát Sinh tự dưng muốn gặp Tùng Vấn Đồng, y loạng choạng mò đến Quan Sơn Nguyệt.

Ai ngờ vừa tới cửa đã đụng phải dì Triệu đang hớt hải chạy ra: "Thánh thần ơi, cuối cùng cũng đến!

Con đến muộn thêm chút nữa là nhà hát của dì chắc chắn bị chúng nó đập tan nát."

Mộc Cát Sinh vốn đang ngà ngà say, vừa nghe thấy tiếng đập phá ầm ĩ vang lên trong Quan Sơn Nguyệt liền tỉnh cả người: "Dì Triệu, bình tĩnh, nói cho con nghe bên trong có chuyện gì?"

"Tiểu Đồng và Ngô tiên sinh đánh nhau từ lúc chập choạng tối đến giờ, phá banh nửa toà nhà rồi!"

Dì Triệu hốt hoảng vẫy chiếc khăn: "Hai đứa nó đánh nhau hăng quá, không ai xen vào được.

Con mau lên đó can bọn nó ra giúp dì."

"Lão nhị và lão tam đánh nhau sao?"

Mộc Cát Sinh giật mình, rồi bật cười ha hả: "Mặt trời mọc đằng tây rồi!

Tôi chưa bao giờ thấy lão tam chịu động tay động chân với ai."

Sài Thúc Tân: "Quả thật hiếm thấy."

"Ôi trời, hai anh làm ơn đừng đứng đó kẻ hô người đáp nữa, mau nghĩ cách đi chứ!"

Dì Triệu sốt ruột muốn nhéo tai Mộc Cát Sinh: "Đồ vô lương tâm, dì chỉ còn chút gia sản này thôi đó!"

Mộc Cát Sinh vội né: "Dì Triệu yên tâm, lão nhị hiếu thảo với dì mà."

Nói xong y cùng Sài Thúc Tân bước vào trong quán.

Vừa vào đã nghe tiếng ầm ầm trên lầu dội xuống, Mộc Cát Sinh lắc đầu: "Hai người này ít khi đánh nhau, nhưng họ đang đánh mà tôi lao vào chắc chắn sẽ bị kéo theo."

Sài Thúc Tân nghe vậy liền cởi găng tay: "Vậy để tôi vào can."

"Không được, anh vào có khi họ đánh luôn cả anh đấy."

Mộc Cát Sinh thở dài: "Thế này, lát nữa anh lên xem họ đánh tới phòng nào, rồi chọn thời điểm thích hợp ném tôi vào trong đó, bảo rằng tôi say rượu.

Tôi sẽ bày trò phá phách một chút, thu hút sự chú ý của họ, để họ tự tách nhau ra, thế là xong chuyện."

Tính đâu ra đấy, quen việc thấy rõ.

Sài Thúc Tân gật đầu: "Được."

Cánh cửa phòng mở toang, một người bị ném vào giữa phòng, Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư đang đánh nhau hăng máu bỗng thấy Mộc Cát Sinh từ trên trời rơi xuống, cả hai giật mình:

"Lão tứ?"

"Linh Xu Tử?"

Mộc Cát Sinh nằm lăn ra đất, bắt đầu giả say làm trò, hò hét lộn xộn: "Các ái phi, xin dừng tay -"

Sài Thúc Tân đứng một bên, mặt đơ như tượng: "Cậu ấy say rồi."

"Tôi đi tìm dì Triệu nấu canh giải rượu."

Lão nhị liền quay gót đi, đến cửa mới giật mình: "Không!

Cậu nằm đó đợi lát đi, chúng tôi chưa đánh xong..."

Tùng Vấn Đồng vừa nói đến đây đã bị Sài Thúc Tân dùng kim bạc đâm vào huyệt vị: "Cậu làm gì đó?!"

"Khuyên can."

Sài Thúc Tân cầm kim bạc, nhìn Ô Tử Hư: "Cậu còn muốn đánh không?"

"Chắc thôi."

Ô Tử Hư thở dài, đặt tẩu Cô Vọng sang một bên: "Tôi cũng không đánh nổi nữa."

"Quả nhiên vẫn là lão tam hiểu chuyện."

Mộc Cát Sinh lồm cồm ngồi dậy, nhìn quanh: "Các ông đang muốn dở quán của dì Triệu à?"

"Cậu còn dám nói tôi?

Tôi là vì ai?"

Tùng Vấn Đồng bực bội nhăn mặt quát: "Đồ ăn cây táo rào cây sung!"

"Lão nhị bình tĩnh, bình tĩnh.

Nóng giận hại thân, tự mình hại mình."

Mộc Cát Sinh nhặt một chiếc ghế còn nguyên ngồi xuống, nhìn ba người còn lại trong phòng, bỗng bật cười: "Trừ lần Thất Gia Chư Tử tề tựu ra, bốn người chúng ta bao năm nay chưa từng tụ họp kiểu này."

Sài Thúc Tân ít nói xưa giờ, Ô Tử Hư mệt đến mức không nói nổi, Tùng Vấn Đồng bực quá chả buồn lên tiếng, cả căn phòng im lìm, chẳng nghe ai nói gì.

"Được rồi!

Ngày xưa các ông chỉ đệm đàn, mỗi mình tôi hát, vậy thì hôm nay mình tôi hát tiếp vậy."

Mộc Cát Sinh nhặt được một hộp bánh còn nguyên, lôi ra một miếng bánh bỏ vào miệng, vừa ăn vừa nói: "Gần đây xảy ra nhiều chuyện.

Tôi hôn mê mấy ngày, mọi người cũng không có thời gian bàn bạc.

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều, giờ không có người ngoài ở đây, chúng ta nói chuyện thẳng thắn với nhau."

Mộc Cát Sinh một hơi kể hết mọi chuyện từ lúc xông vào Thang Âm Dương gặp âm binh, những gì thấy và nghe trong mơ, đến những gì Ô Nghiệt đã nói khi vừa tỉnh lại, thậm chí kể luôn cả việc ở Sài phủ và việc y quyết định không gieo quẻ, từ đầu đến cuối không bỏ sót chi tiết nào, chỉ lược đi chuyện Dược gia hỗ trợ Mộc Tư Lệnh.

Mộc Cát Sinh kể xong lại bỏ một miếng bánh vào miệng, nhai rôm rốp, không nhịn được nghĩ: Lâu rồi mình chưa nói thật nhiều đến vậy.

Y liếc qua Sài Thúc Tân, thấy sắc mặt đối phương vẫn thản nhiên, hình như đã đoán trước y sẽ bỏ qua đoạn đó.

Mộc Cát Sinh quắc mắt lườm: Tên này càng ngày càng nhàm chán, khác hẳn hồi xưa, động một xíu thôi cũng xù lông.

"Đúng là chuyện mỗi cậu dám làm."

Tùng Vấn Đồng bị điểm huyệt, không thể nhúc nhích, vẫn giữ nguyên tư thế chân trước chân sau bước khỏi cửa: "Nếu cậu nhất quyết không gieo quẻ, e rằng bảy nhà phần lớn sẽ rút lui, cậu tính giữ thành bằng cách nào?"

Mộc Cát Sinh nhún vai, nhởn nhơ đáp: "Còn có các ông mà."

"Con mẹ cậu cho rằng đang chơi đánh cướp à?

Tay không bắt giặc?"

"Ông đánh thua tôi, đừng quỵt nợ."

Mộc Cát Sinh nói: "Thôi thì đến khi xong chuyện tôi xuống bếp nấu đãi ông một bữa cơm."

"Thôi cậu làm ơn đừng vào bếp dùm."

Ô Tử Hư nói ngay: "Mất công thắng rồi lại bị ngộ độc chết!"

"Vậy đành thôi."

Mộc Cát Sinh xoè tay đếm: "Bồng Lai và Chu gia chắc chắn sẽ rút, hiện tại có Mặc gia, còn Dược gia thì..."

Y nhìn Sài Thúc Tân: "Anh sắp xếp được không?"

Sài Thúc Tân dịu giọng đáp: "Tôi sẽ có cách."

"Thêm vào Dược gia, cùng với Thiên Toán Tử, vậy là ba nhà."

Mộc Cát Sinh ung dung nhàn nhã trói người lên thuyền giặc, y quay sang Ô Tử Hư: "Lão tam, ông có nhập hội không?"

Ô Tử Hư trầm ngâm một lúc, rồi hỏi ngược: "Lão tứ, cậu chắc chưa?"

Tùng Vấn Đồng nghe đến đây lại nổi điên: "Con mẹ nó chứ!

Ăn đòn chưa đã phải không?!"

"Đừng la lối, ông cũng khác gì tôi đâu."

Ô Tử Hư hiếm khi không nhường Tùng Vấn Đồng, tiếp đó quay sang Mộc Cát Sinh: "Nếu cậu chịu gieo quẻ, tình hình có thể sẽ tốt hơn nhiều."

"Dùng một quẻ quyết định sự tồn vong của cả thành, tôi không vĩ đại đến thế."

Mộc Cát Sinh mỉm cười: "Trận này ba phần thắng bảy phần thua.

Tôi sẽ dán thông báo trong thành, đi hay ở, để mọi người tự quyết định."

"Nếu chỉ có âm binh thì còn dễ tính, nhưng nhỡ tuyến trước lui về, giặc đánh tới thành, phần thắng sẽ càng ít hơn."

Ô Tử Hư thở dài: "Tôi không phản đối việc cậu làm, chỉ mong cậu cân nhắc cho kỹ.

Người trong Thất Gia, vốn không cùng dòng với chúng sinh."

"Lão tam, tôi hiểu ý ông."

Mộc Cát Sinh giơ tay chặn Tùng Vấn Đồng sắp mắng người: "Chuyện ở Âm Dương Gia, khi xưa tôi thường nghe sư phụ nhắc đến, ông từ nhỏ đã gánh vác trách nhiệm nặng nề hơn so với chúng tôi.

Về tình, về lý, không ai ở đây có quyền nói câu này hơn ông."

"Nhưng tôi thì khác."

Mộc Cát Sinh nói đến đây thì nở nụ cười: "Tôi là đứa con bất hiếu, nghiệt đồ của sư môn, có lẽ không xứng đứng cùng dòng với chúng sinh, nhưng ít nhất có thể làm kẻ dị biệt trong Thất Gia Chư Tử."

"Cậu không phải là kẻ dị biệt trong Thất Gia Chư Tử."

Ô Tử Hư lập tức phản bác: "Cậu là Thiên Toán Tử, bốn mươi chín đồng tiền Sơn Quỷ nhận cậu là chủ, cậu gánh thiên mệnh trên mình."

"Vậy thì sao?"

"Nếu cậu không chịu thừa nhận những điều này, sẽ làm tổn thương rất nhiều người."

Ô Tử Hư nhìn Mộc Cát Sinh: "Bọn tôi từ nhỏ đã kế thừa vị trí Chư Tử, vốn hiểu bảy nhà luôn tôn Thiên Toán Tử làm người dẫn đường.

Nếu cậu chỉ một câu liền phủ nhận tất cả, thì những gì chúng tôi làm bao năm qua chẳng phải trở thành trò cười sao?"

"Vì cậu xứng đáng."

Tùng Vấn Đồng cười khẩy: "Cậu đáng bị như vậy, tên gọi là Ô Tử Hư, Tử Hư hư ảo, vốn dĩ đã là một trò cười!"

"Im miệng."

Mộc Cát Sinh vỗ nhẹ vào mặt Tùng Vấn Đồng: "Tên của lão tam là do sư phụ đặt."

Rồi y quay sang Sài Thúc Tân: "Anh có thể làm cho hắn câm tạm thời không?"

Sài Thúc Tân bình thản lấy ra thêm một cây châm bạc giữa tiếng gào thét của Tùng Vấn Đồng.

Mộc Cát Sinh thở dài, quay sang Ô Tử Hư: "Lão tam, tôi hiểu.

Tôi cũng hiểu nỗi khó xử của ông trong chuyện vừa rồi.

Lão nhị làm điên làm khùng một trận tôi chẳng hay, chúng tôi thực sự không có tư cách trách móc ông.

Còn việc gieo quẻ, là tôi không muốn, chứ không phải không làm được."

Mộc Cát Sinh nhẹ giọng: "Tôi biết Thất Gia Chư Tử không giống các gia tộc phàm tục, từ thời thượng cổ tới nay, trải qua biết bao triều đại cũng không sụp đổ.

Nhưng tôi xin ông, đừng xem tôi là Thiên Toán Tử, cũng đừng nâng tôi lên tận trời."

"Sư phụ bạc trắng mái đầu là có nguyên do, nơi cao phủ đầy sương tuyết.

Quá lạnh rồi.

Hơn nữa, chúng ta đều ở nhân gian."

Ô Tử Hư ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi: "Cậu thực sự đã nghĩ kỹ chưa?"

"Rồi."

Mộc Cát Sinh cười: "Trước đây ở Ngân Hạnh Thư Trai, tôi là đứa lười biếng nhất, không có tham vọng lớn, tôi cho rằng mình là người trần mắt thịt, không muốn so đo với trời, càng không muốn làm anh hùng cứu thế.

Ta ngẩng đầu nhìn trời tại mây cao, dù trời có đổ sụp, ta vẫn ngẩng cao đầu."

"... thôi thôi thôi!"

Ô Tử Hư lắc đầu lia lịa: "Hiếm khi cậu không mở mồm lừa gạt người ta, tôi sao có thể khoanh tay đứng nhìn.

Âm Dương Gia có tham gia hay không, tôi không chắc, Vô Thường Tử có thể không giúp..."

Y nhìn Mộc Cát Sinh: "Nhưng Ô Tử Hư tôi đây nhất định dốc hết sức hết lòng."

"Vậy thì xem như chúng ta là những con châu chấu trên cùng một sợi dây."

Mộc Cát Sinh vỗ vai Ô Tử Hư: "Anh em tốt."

Bốn người trò chuyện tới khuya, rồi mới lần lượt tản ra.

Mộc Cát Sinh trở về doanh trại, đầu tiên là xử lý công vụ tồn đọng, bận bịu đến trước bình minh.

Vừa mới chịu thương nặng, lại chạy suốt một ngày, thuốc Ô Nghiệt đưa cho không cầm cự được lâu, lúc này đã hết công dụng, cơn mệt mỏi rã rời ập đến.

Y không chịu nổi nữa, nằm nhoài trên bàn, ngủ say sưa.

Lúc nãy y có nhắc đến người cầm mõ gỗ trong giấc mơ với ba người kia, nhưng chẳng ai nghiệm ra được câu trả lời chính xác.

Mộc Cát Sinh linh cảm tiếng gõ mõ ấy có liên quan tới âm binh, nhưng Ô Tử Hư rành rẽ việc Phong Đô nhất lại không biết.

"Có thể là giấc mơ tiên tri."

Ô Tử Hư suy nghĩ một lúc rồi nói với y: "Khi cậu nhận bốn mươi chín đồng tiền Sơn Quỷ, thì đã là Thiên Toán Tử, có thể nằm mơ thấy lời tiên tri."

Giấc mơ lần này lại không yên bình như tiếng gõ mõ...

Tiếng vó ngựa dồn dập áp sát, kèm theo tiếng súng rền vang, có người đau đớn gào thét khản giọng, không khí nồng nặc mùi máu tanh tưởi.

Người người bỏ chạy tán loạn, kẻ ngã nhào, kẻ gào thét, tiếng súng vang dài, thịt da nát vụn.

Chim trời gãy cánh rơi xuống, sấm chớp rền vang, lửa trùm tứ phía.

Nhìn đâu cũng chỉ thấy sắc máu đỏ tươi.

"Chỉ huy...

Chỉ huy... ngài tỉnh lại đi!"

Mộc Cát Sinh bị lay người tỉnh giấc.

Y ngủ quá say, binh nhì gọi mãi mới gọi dậy được, toát mồ hôi hột: "May quá ngài chịu tỉnh rồi, tôi tưởng ngài đang ngất."

"Trời sáng rồi sao?"

Mộc Cát Sinh mơ màng ngồi dậy, đầu óc quay cuồng, lau vội nước dãi trên bàn: "Chưa tới năm giờ sáng nữa, việc gì gấp thế?"

Binh nhì đưa một tệp hồ sơ: "Điện khẩn từ tiền tuyến."

Mộc Cát Sinh nhíu mày, nhận hồ sơ mở ra, thấy mấy dòng chữ mực đen trên nền giấy trắng:

Tiền tuyến thất thủ, toàn quân rút gấp.

Từ nay từng thành từng khu vực đều là quan ải.

Dù chỉ còn một hơi thở, cũng phải giành lại từng tấc đất quê hương.

*Ktt Mộc Cát Sinh hát tiếng Nga:

To view this content we will need your consent to set third party cookies.
For more detailed information, see our cookies page.

[ Edit by TeiDii ]

_________________

Chủ nhà: Cứ dồn dập, khó thở kiểu gì...

Có cần phải nghiệt ngã vậy không?!?

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 29


Chương 29

Một vị sư vận áo trắng xách thùng nước đặt bên miệng giếng, men theo con đường núi dài dằng dặc mà bước lên từng bậc.

Bậc cuối là chùa Bạch Thủy, nơi có tiếng chuông đồng vang vọng.

Chùa Bạch Thủy là ngôi chùa cổ, tiếng chuông ngân miên man mỗi ngày, kéo dài suốt mấy trăm năm.

Tuy bấy giờ đã có đồng hồ xem thời gian, nhưng người trong thành phần lớn vẫn giữ thói quen sinh hoạt theo tiếng chuông.

Lúc bình minh khi hoàng hôn, mở hàng đóng quán, khói bếp nhà nhà và tiếng rao nơi phố thị, lúc nào cũng đi kèm với tiếng chuông ngân dài.

Mộc Cát Sinh ngồi trong gian thủy tạ, nghe tiếng chuông bao trùm cả thư trai.

Y hơi thất thần, hồi tưởng về chuyện năm xưa, có lần Quan Sơn Nguyệt điều chỉnh giờ giấc, sau sáu giờ tối mới mở cửa.

Thế nhưng y và lão nhị nôn nóng muốn nghe khúc nhạc mới, liền lừa chú tiểu chạy đi đánh chuông, làm giờ gõ chuông sớm hơn đến một tiếng.

Thế là cả thành loạn cả lên, người người cầm đồng hồ đi so với nhau khắp nơi, vô cùng náo nhiệt.

Cuộc sống yên bình lắm khi quá đỗi mong manh...

Mộc Cát Sinh rũ mắt nhìn bàn cờ, đặt xuống một quân.

Có thể bị xáo trộn vì một tiếng chuông sai giờ, cũng có thể bởi một tiếng súng.

Trong gian thủy tạ bày hai bàn cờ, Mộc Cát Sinh một mình đánh cờ với Họa Bất Thành và Chu Bạch Chi.

Họ đánh cờ nhanh, chưa đến nửa canh giờ đã phân thắng bại.

Mộc Cát Sinh một thắng một thua, coi như hòa.

Chuyện ở Dược gia nhanh chóng truyền khắp bảy nhà, ai ai cũng biết vị Thiên Toán Tử vừa kế nhiệm này không chịu lập quẻ.

Vài ngày sau, y nhận được thư đến từ Bồng Lai và Chu gia, trong thư viết thời gian địa điểm, nội dung chủ yếu là mời y chơi một ván cờ.

Mộc Cát Sinh hiểu rõ đây là sự thăm dò kèm lời cảnh cáo.

Họa Bất Thành và Chu Bạch Chi đều không phải hạng người dễ đối phó, lão ngũ còn nhỏ, nên ngay từ đầu y đã không mong Bồng Lai hay Chu gia tham dự vào chuyện này, chỉ mong hai nhà chịu đứng ngoài quan sát, chiến sự cận kề, đừng gây thêm rắc rối.

Y vắt hết óc chơi một lúc hai ván cờ, gắng lắm mới thắng được một ván.

Giằng co với quân đen hồi lâu, rốt cuộc cũng mở ra một con đường sống.

"Khá lắm, khả năng chơi cờ không kém Ngân Hạnh trai chủ.”

Họa Bất Thành nhàn nhạt nói: “Bồng Lai thừa nhận cậu là Thiên Toán Tử, nhưng nếu không có quẻ tượng thì sẽ không tham chiến.”

Chu Bạch Chi vuốt chòm râu dài: “Chu gia cũng vậy.”

“Vãn bối đã đoán được.”

Mộc Cát Sinh gật đầu: “Chuyện vãn bối làm lần này đúng là phản nghịch với bảy nhà, Trường Sinh Tử và Chu trưởng lão không ngăn cản đã là khoan dung.”

"Cậu là Thiên Toán Tử, không cần tự xưng vãn bối.”

Họa Bất Thành nhìn bàn cờ: “Nước cờ có sát khí, cho dù chúng ta muốn cản cũng cản không được.”

“Trường Sinh Tử chơi cờ giỏi hơn tôi nhiều."

"Nhờ ăn may thôi, ta đâu phải lần nào cũng thắng được sư phụ cậu.”

Họa Bất Thành đứng dậy, phẩy cây phất trần: “Chuyện ở đây đã xong.

Lá thư cậu nhờ gửi Lâm Quyến Sinh, ta sẽ chuyển cho cậu ấy.”

Chu Bạch Chi tiếp lời: “Tinh Túc Tử ở Chu gia vẫn bình an.

Lần bảy nhà tề tựu sắp tới, nó có thể tham dự được rồi."

“Hai vị đi thong thả.”

Mộc Cát Sinh đưa tay gạt loạn bàn cờ: "

Sau này gặp lại".

...

Dưới giếng trời, tiếng tỳ bà văng vẳng tình tang.

Dì Triệu ngồi bên cửa sổ, xoay trục chỉnh dây đàn.

Dì mặc một bộ sườn xám trắng tinh, ánh nắng xuyên qua khung cửa hoa, in xuống lớp lụa những mảng bóng loang lổ, dì đang đàn thử một khúc nhạc mới.

Từ ngày bước chân vào Quan Sơn Nguyệt, mỗi khúc nhạc mới của dì đều rất được mọi người trong thành mong đợi, khi chính thức diễn trên sân khấu, thể nào Quan Sơn Nguyệt cũng sẽ chật kín khách.

Bao năm nay dì vẫn giữ thói quen luyện đàn, trước khi khúc nhạc mới chính thức được công bố, dì sẽ thay một bộ sườn xám trắng, ngồi gảy đàn một mình bên khung cửa sổ.

Tiếng đàn vừa dứt, dì Triệu vén rèm châu lên: "Con có nhìn thấy quán rượu đối diện không?

Mọi người trong thành đều biết dì có thói quen đàn thử khúc nhạc mới tại đây.

Thế nên ông chủ bên đó bèn mở một phòng đối diện cửa sổ bên này.

Vào thời điểm đắt khách nhất, giá thuê một bàn trong ấy có thể đắt ngang một căn nhà."

Dì đặt cây đàn tỳ bà xuống, vén một bên tóc mai: “Nhưng đó đã là chuyện của mấy năm trước."

Giờ quán rượu đối diện dường như đang sắp đóng cửa vì vắng khách.

Không chỉ riêng nơi đó, cả tòa thành hẩm hiu tiêu điều, người qua kẻ lại trên đường thưa thớt.

Vài hôm trước, quân đồn trú phát thông báo tiền tuyến rút về, báo rằng thành này đã không còn an toàn.

Nhiều người dắt díu nhau rời đi, tìm chốn dung thân.

Mấy ngày vừa qua, tin tức các thành khác liên tiếp thất thủ không ngừng lan đến, nhiều nhất là vài ngày nữa thôi, nơi đây cũng sẽ biến thành chiến trường

“Dì không cần phải ở lại đây.”

Tùng Vấn Đồng ngồi bên cạnh lau đao: “Giờ đi vẫn còn kịp.”

"Tiếng chuông cầu phúc ở chùa Bạch Thủy dạo này vang lên liên hồi..."

Dì Triệu nhàn nhạt nói: “Một đám lừa trọc ngoài thành còn chưa đi, dì đi cái gì?"

“Dì đâu phải người tứ đại giai không.”

Tùng Vấn Đồng nghiêm túc nói: “Dì Triệu, dì vẫn còn nhiều khúc nhạc chưa đánh xong.”

Dì Triệu nghe vậy khẽ cười: “Nói như con thì bốn sợi dây đàn có thể gảy ra muôn vàn khúc nhạc, e rằng dì chơi đàn đến hết đời vẫn không hết."

Dì cúi đầu, tiện tay gảy nhẹ một sợi dây đàn, dịu giọng nói: "Học đàn mười mấy năm nhưng có đôi khi chỉ cần đàn xong một khúc nhạc, con sẽ thấy vậy là đủ rồi."

Tùng Vấn Đồng không nói gì, lẳng lặng nhìn người phụ nữ tao nhã yêu kiều trước mắt.

Mỹ nhân đã đến tuổi trung niên, khóe mắt vương sương tuyết, hồi ức đong đầy dần tan...

"Dì nhớ hôm đó là một ngày đông từ rất nhiều năm trước.

Cũng giống bây giờ, chỉ là khi ấy đông vui hơn nhiều, khắp thành treo đầy lồng đèn đỏ.

Ấy là ngày Quan Sơn Nguyệt công bố khúc nhạc mới, nhưng dì lại trượt chân trên bậc thang đóng băng, ngã trật tay.

Việc xảy ra quá đột ngột, mọi người đều cuống cuồng.

Đúng lúc dì chuẩn bị cắn răng chịu đau bước lên sân khấu, thì người bạn thân nhất của dì dẫn đến một người.

Nàng ấy mượn đàn tỳ bà của dì, nói là để nàng lên thay.

Quan Sơn Nguyệt là quán nhạc, nhạc khúc ở đây không phải muốn đánh là đánh được, dì liền hỏi nàng ta học đàn được bao lâu rồi, nhưng nàng lại đáp chưa từng học, chỉ biết gảy một khúc nhạc cổ mà thôi.

Dì cười nàng ta quá bạo gan, nên bảo nàng chơi ngay tại đây một khúc.

Hồi đó, bọn dì đứng ngay chỗ cửa sổ này.

Nàng ôm đàn tỳ bà chơi một khúc, người múa theo tiếng đàn là cô bạn thân nhất của dì, cũng là hoa khôi đẹp nhất Quan Sơn Nguyệt.”

Dì Triệu khảy nhẹ dây đàn, âm ngân tinh tang: “Chắc con cũng đoán ra rồi, cô nàng chơi đàn tỳ bà hôm đó chính là mẹ con."

Tùng Vấn Đồng nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “Con không nghĩ mẹ con biết chơi đàn."

"Quả thực là không biết.

Nàng ta chỉ biết đàn đúng một khúc, nghe nói là học lén từ một người bạn vong niên nào đó.

Khúc nhạc ấy vốn là khúc nhạc gia truyền, cấm truyền ra ngoài, vậy mà người kia uống rượu thua nên dạy cho nàng.”

Dì Triệu bật cười: “Hôm đó nàng ta đánh xong một khúc nhạc, dì liền xem nàng là bạn tri âm.

Sau đó hoa khôi lâm bệnh qua đời, mẹ con cũng biến mất một thời gian dài.

Đến khi quay lại, nàng bế theo con.

Nhưng nàng ta vụng về lắm, làm gì biết trông trẻ.

Nói là bế con về, đúng hơn là treo con lên chuôi đao rồi xách về đây.

Lúc đó dì nhìn thấy con nằm đung đưa sau lưng nàng ấy, còn tưởng nàng đang xách một gói hành lý.

Hồi ấy dì với nàng đã lập giao kèo, nàng dạy khúc nhạc cổ đó cho dì, còn dì sẽ thay nàng và hoa khôi nuôi nấng con.

Dì học khúc ấy suốt năm năm.

Đến khi học xong, nàng cũng biến mất từ thuở đó."

“Bà ta bỏ trốn theo nhân tình rồi!”

Tùng Vấn Đồng lầm bầm.

“Mẹ con gửi gắm con cho dì, nhưng con lại thích tự lập, chủ động chạy sang Ngân Hạnh Thư Trai học hành, có khi nửa năm một năm chẳng thấy bóng dáng đâu."

Nói đến đây, dì Triệu thở dài: “Bảo sao lại thành ra thế này.

Rõ ràng là một đứa nhỏ được nuôi trong vải gấm phấn son, lớn lên lại hung hăng như bước ra từ lò mổ.

Dì đến giờ vẫn thắc mắc không biết Ngân Hạnh trai chủ dạy con cái gì nữa.

Mỗi lần trông thấy con dì đều cảm thấy có lỗi với mẹ con, nhưng ngẫm ra lại thấy con giống hệt mẹ mình."

“Con giống mẹ lắm sao?”

“Tính cách rất giống.”

Dì Triệu chăm chú nhìn Tùng Vấn Đồng: “Nhưng Tiểu Đồng này, dì không bịa chuyện đâu, con đẹp hệt như cô hoa khôi năm đó."

“Ồ, vậy à!”

Tùng Vấn Đồng chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên: "Thảo nào con nghĩ mãi vẫn không biết cha mình là ai.”

“Đừng có ăn nói linh tinh.”

Dì Triệu đánh nhẹ hắn một cái: “Đi ra phòng nhạc lấy cho dì một cây đàn nữa.”

“Dì muốn lấy đàn nào?"

“Không phải dì đánh.”

Dì Triệu bảo: “Là dạy con, con cứ chọn cây vừa ý nhất."

"Con làm gì biết chơi đàn đâu!

Dì từng bảo con đi tiểu còn lệch nhịp nữa mà."

Dì Triệu nghẹn một chút, trừng mắt lườm hắn: "Bà đây không quan tâm!

Cái này là hứa hẹn năm xưa giữa tôi và mẹ anh, nhất định phải dạy lại khúc nhạc này cho anh!”

Tùng Vấn Đồng nghi ngờ: “Thế sao dì không dạy con sớm tí.

Dì học tới năm năm, vậy con phải học bao lâu?”

“Mẹ con nói vì dì không phải người trong nhà, vốn dĩ không thể đánh được khúc nhạc này.

Nhưng tài chơi đàn của dì tốt, nên mới học nổi.”

Dì Triệu nói: “Nếu là con thì chẳng khó.

Năm xưa mẹ con cũng có biết đánh đàn đâu, vậy mà vẫn đàn được đó thôi!"

Tùng Vấn Đồng trầm ngâm: “Mẹ con còn nói gì nữa không?”

"Nàng bảo rằng con là con nàng...” dì Triệu đáp: “Đây là truyền thừa.”

“Vậy con nhất định sẽ học được.”

Tùng Vấn Đồng gật đầu: “Khúc ấy tên là gì?”

Dì Triệu ôm tỳ bà, bắt đầu gảy đàn, âm thanh réo rắc sắc bén như tiếng xé lụa:

“Vô Y.”

...

Khói nhang lửng lơ cuộn trôi khắp phòng.

Ô Tử Hư ngồi giữa phòng.

Đây là một căn phòng hình tròn, bên trong được bao quanh bởi những chiếc bàn.

Trên mỗi chiếc bàn thờ lại bày tầng tầng lớp lớp bài vị, khói mờ tụ lại trên các tấm bài vị, dần dà ngưng tụ thành hình người.

Vây quanh anh là mười vị trưởng lão, mặc cổ phục đội mũ cao, lơ lửng phía trên căn phòng: "Chúng ta cho rằng cách tốt nhất là rút lui."

"Thiên Toán Tử nghịch mệnh trước, không có quẻ tượng, chúng ta không có trách nhiệm phải tuân theo."

“Bên ngoài âm binh làm loạn, không thể tự ý rời khỏi Phong Đô.”

“Trận này thua chắc, không cần tính."

“Là Vô Thường Tử, phải lấy mình làm gương…”

Ô Tử Hư khoanh tay, hơi cúi đầu nhìn nén hương trước mặt, như đang trầm tư.

Cả phòng tràn ngập tiếng thì thầm bàn tán, sau đó tiếng ồn dần lớn hơn, rồi trở nên ầm ĩ hỗn loạn, cuối cùng tất cả bóng ma đồng thanh nói: "Xin gia chủ mau chóng đưa ra quyết định."

Ô Tử Hư im lặng thêm một lát, cuối cùng mở miệng nói: "Lần này Âm Dương gia sẽ không tham dự vào chuyện của nhân gian."

Các bóng ma đồng loạt thở phào nhẹ nhõm, một người trong đó khom người hành lễ, nói: "Vậy thì mời Vô Thường Tử trở về Phong Đô.

Mấy ngày trước Thành Tây Quan xảy ra biến lớn, sắp tới sẽ có rất nhiều chuyện cần ngài quyết định."

“Nhưng..."

Ô Tử Hư đổi giọng chắc nịch: "Tôi không về.”

Bóng ma khựng lại: “Ngài nói gì?”

“Là gia chủ họ Ô, tôi đã làm tròn trách nhiệm lúc ở thành Tây Quan.

Những chuyện còn lại, các vị trưởng lão tự ra quyết định là được.”

Ô Tử Hư nói: “Tôi sẽ ở lại đây, chưa tính được ngày về."

“Ngài muốn giúp Thiên Toán Tử sao?”

“Không thể được.”

"Ngài mang thân phận Vô Thường Tử, hành động này không hợp lẽ.”

“Xin gia chủ nghĩ lại.”

“Phong Đô còn trăm việc dang dở, xin ngài sớm trở về."

Đợi tiếng phản đối dần nhỏ xuống, Ô Tử Hư mở miệng, giọng trầm mà kiên quyết: "Là tôi – Ô Tử Hư, giúp cậu ấy.

Không phải Vô Thường Tử.

Ý tôi đã quyết.

Các vị không cần nói thêm.”

Nói rồi, anh cúi người thổi tắt nén hương trước mặt.

Những bóng ma bắt đầu dần tan biến.

Có người không chịu bỏ cuộc, vẫn còn khuyên nhủ: “Gia chủ còn trẻ, chớ vì chuyện nhỏ mà làm hỏng việc lớn......"

Lời còn chưa dứt, cửa phòng bị đá mở cái "rầm".

Một chậu nước lạnh hắt thẳng vào lư hương, than hương tắt phụt hoàn toàn, bóng ma biến sạch.

Người vừa đến khó chịu cằn nhằn: “Lải nhải phiền chết đi được.

Từng đứa từng đứa chẳng lớn hơn ai, được cái nói dong nói dài mãi."

Ô Tử Hư bị người ta dội nước ướt từ đầu đến chân, khổ sở cất lời: "Chỉ có bà lớn đây dám bảo mấy vị trưởng lão đó trẻ."

Người tới chính là Ô Nghiệt.

Nàng vén rèm bốn phía lên, ánh sáng tràn vào căn phòng, nàng nhìn quanh, bĩu môi: "Đã gần một trăm năm gia đây không tới nhà chính của họ Ô tại dương gian, căn phòng này vẫn cổ hủ như vậy, thật nhàm chán."

“Các trưởng lão vốn bảo thủ, trong nhà chỉ còn một mình con, con cũng không để tâm mấy chuyện đó.”

Ô Tử Hư mỉm cười: “Vẫn là cảm ơn bà lớn đã giúp.

Lần đầu làm chuyện trái phép tắc, hơi luống cuống."

“Không sao, từ từ cũng quen thôi."

Ô Nghiệt phẩy tay, rồi nghiêm mặt: “Nhưng đây không phải chuyện nhỏ.

Việc đối phó âm binh, ngươi tính kỹ chưa?”

“Vẫn chưa ạ.”

Ô Tử Hư lắc đầu: “Ngoài thành còn có quân của lão tứ.

Còn trong thành, con không nắm chắc được.”

Anh nhìn sang Ô Nghiệt: “Nhưng bà lớn đích thân lên đây, hẳn phải có cách.”

Ô Nghiệt nhướng mày: “Giỏi lắm nhóc con, tính cả ta vào rồi cơ à?”

"Con không dám ạ, là lão tứ nói thế.”

“Biết ngay là nó.

Thằng nhóc đó cái gì cũng chịu, riêng chịu thiệt là không bao giờ.”

Ô Nghiệt hừ một tiếng: “Đi thôi.”

"Bà lớn muốn đi đâu?”

"Theo gia về Phong Đô, gia có thứ phải dạy ngươi.

Trên dương gian thi triển không nổi đâu, không thì trận chưa đánh mà thành đã sập mất.”

"Con vừa mới nói con không thể về Phong Đô rồi.”

Ô Tử Hư ngạc nhiên: “Trong Phong Đô toàn người của Âm Dương gia.

Giờ con về, chắc chắn bị bắt gặp.”

“Ngươi coi gia đây là ai?

Chỉ có một đứa nhóc mà gia cũng không dẫn theo nổi hả?"

Ô Nghiệt trợn trừng mắt: "Gia hiểu ý ngươi, chẳng qua vào giờ khắc này dưới Phong Đô đang có một chỗ cực kỳ an tĩnh, bảo đảm không có con quỷ nào dám bén mảng tới."

Ô Tử Hư trầm ngâm một lát, rồi như ngộ ra điều gì, ánh mắt khẽ lây.

Ô Nghiệt nhếch môi cười: “Thành Tây Quan – Đất A Tỳ.

Hiện tại âm binh đều đã bị phong ấn trong Thang Âm Dương, đất A Tỳ mấy hôm trước bị quỷ binh quỷ tướng càn quét một phen, giờ sạch sẽ lắm.

Cho dù còn sót vài con cá lọt lưới, cũng vừa hay để ngươi luyện tập.”

Ô Nghiệt khí thế bừng bừng: “Đi thôi, thời điểm quá thích hợp."

Ô Tử Hư sững sờ: "Đất A Tỳ là cấm địa, dù cho có là bà lớn, sao có thể cứ thế đi vào được?"

"Thành Tây Quan vừa mới trải qua một trận âm binh bạo động, canh phòng lỏng lẻo, tiến vào không khó, chỉ là không ai có can đảm đi vào thôi."

Ô Nghiệt nhún vai: "Ngay cả lúc thường, muốn vào đó dĩ nhiên chẳng phải dễ dàng gì, nhưng cũng không phải hoàn toàn không có cách."

“Ý ngài là...”

“Chẳng phải ngươi vẫn luôn muốn biết tung tích của cha ngươi sao?”

Ô Tử Hư chấn kinh, ngẩng phắt lên.

“Vô Thường Tử xưa nay đều mồ côi cha mẹ, nhưng Âm Dương gia vốn chẳng sợ người chết.

Dù chết rồi, vào Phong Đô vẫn có thể sống tiếp tử tế.”

Ô Nghiệt nhàn nhạt nói: “Nhưng Vô Thường Tử lại là ngoại lệ.

Người trong tộc sống dưới Phong Đô nhiều vô kể, duy chỉ không có cha mẹ ngươi.”

“Mẹ ngươi thì ngươi biết rồi đấy.

Vô Thường Tử sinh ra vốn mang thân thể bán âm, lúc thai nghén tích âm khí quá nặng, mẹ ngươi bị âm khí gặm nhấm dần, cuối cùng đến hồn phách cũng bị nuốt sạch.

Mà điều kiện để vào Phong Đô là thân xác có thể mất, nhưng hồn phách nhất định phải còn.

Về phần cha ngươi, đừng bảo là ngươi không biết, kỳ thực chốn về của Vô Thường Tử sau khi qua đời là bí ẩn trong Thất Gia Chư Tử.

Có người đoán rằng Vô Thường Tử có lẽ cũng hồn phi phách tán không vào luân hồi như Thiên Toán Tử, nhưng thật ra cũng không hẳn..."

Ô Tử Hư chăm chú lắng nghe, vô thức lặp lại: "Cũng không hẳn?"

"Ngươi đi theo ta."

Ô Nghiệt đẩy cửa bước ra ngoài: "Ta sẽ nói cho ngươi biết cha ngươi ở đâu."

...

Trong sảnh người đông ồn ã, lời qua tiếng lại xôn xao.

Khác với sự vắng vẻ trong thành, đại sảnh Sài phủ lúc này chật kín người, nhiều đến mức không còn chỗ ngồi, phải kê thêm ghế ngoài hành lang.

Đây là cảnh tượng hiếm thấy ở Dược gia.

Dù các trưởng lão và gia chủ thường hay hội họp trong phủ, nhưng chưa bao giờ tề tụ đông đến mức này.

Dược gia có rất nhiều chi, ngoại trừ ngày lễ tết, có người còn không đủ tư cách bước chân vào phủ.

Sài Thúc Tân ngồi trong sảnh, trước mặt là mớ tài liệu chất đầy trên bàn.

Anh vẫn còn chút việc chưa xử lý xong nên dời luôn ra ngoài.

Tuy không gian ồn ào như vỡ chợ, nhưng anh cầm bút vẫn rất vững.

Trên tay anh là đôi găng bằng vải lụa trắng, điểm thêm một nhành mai thêu bằng chỉ bạc.

Anh biết mọi người xung quanh đang bàn tán điều gì.

Tất cả đều chỉ đang đợi một câu trả lời, từ yên lặng chờ đến xôn xao, từ ngay ngắn bình tĩnh đến như bị lửa đốt.

Tất thảy đều đang chờ quyết định của anh.

Anh viết nốt nét chữ cuối cùng, đặt bút xuống, mở miệng nói: “Không rút.”

Đám đông vốn xôn xao lập tức vỡ òa, có người bật dậy lớn tiếng: "Cậu nói gì cơ!?”

Sài Thúc Tân ngước mắt, lặp lại lần nữa: "Quyết định của tôi là ở lại thủ thành, không rút.”

Tràng ho khan nặng nề cất lên.

Một vị trưởng lão đức cao vọng trọng đứng dậy, mọi người xung quanh cũng yên ắng hơn đôi chút.

“Gia chủ.”

Trưởng lão mở lời: “Hôm nay mọi người tề tựu đông đủ tại đây, là vì chuyện này liên quan đến sự sống còn của Dược gia, xin gia chủ suy nghĩ cho kỹ rồi hẵng quyết.”

“Các vị cãi nhau bao lâu, tôi đã nghĩ bấy lâu.”

Sài Thúc Tân lặp lại thêm lần nữa: "Không rút.”

"Mấy năm trước cậu bác bỏ ý kiến của chúng tôi, đổ hết tài nguyên của Dược gia sang giúp quân đội.

Giờ nhìn lại, e rằng đó không phải con đường đúng đắn."

Trưởng lão cất cao giọng: “Cho nên lần này, mong gia chủ đừng chuyên quyền độc đoán nữa.”

“Chiến sự còn lâu mới dứt, con đường đó có đúng hay không, giờ kết luận hơi vội."

Sài Thúc Tân liếc sang trưởng lão: "Ngài không tin tôi thì thôi.

Trong bảy nhà, Dược gia sống theo nề nếp truyền thống nhất, chú trọng tôn ti trên dưới.

Tôi biết mình còn trẻ, các vị luôn không phục, không xem trọng việc tôi làm."

Lời này quá mức trần trụi, khó tin hơn nữa là nó được thốt ra từ miệng Sài Thúc Tân.

Anh vốn lạnh nhạt, chỉ là trước nay luôn coi trọng lễ nghĩa, khiến người ta cảm thấy gia chủ Dược gia có cốt cách quân tử ôn hoà.

Nay anh bỗng dưng tự tay xé toang mặt nạ trước toàn gia, khiến trưởng lão sững sờ, chỉ cảm thấy Sài Thúc Tân trước mặt ông đang biến thành người khác, lời nói sắc bén như gươm.

Gia chủ trẻ tuổi rõ ràng vẫn ngồi yên tại chỗ, ấy mà khí thế toát ra lạnh lẽo đến thấu ruột, áo trắng cứng cỏi khó thuần.

Nhưng giờ không phải lúc nghĩ đến việc này.

Trưởng lão đảo mắt nhìn quanh, dõng dạc nói: "Nếu đã vậy, trên dưới Dược gia xét thấy cậu quá ngông cuồng, đến mức – "

"Không xứng với vị trí gia chủ.”

Sài Thúc Tân dường như lười nghe ông ta nói hết câu, giữa đường cướp lời nói hộ, rồi nhấc mắt nhìn đám người đang trợn mắt há mồm: “Còn gì muốn nói nữa không?”

Cả đám người cho rằng Sài Thúc Tân hôm nay uống nhầm thuốc rồi, còn đang ngớ ra thì đã nghe anh nói tiếp: “Năm đó tôi kế nhiệm vị trí gia chủ, tuổi nhỏ tài hèn, gắng gượng chống đỡ mấy năm, đến giờ này tôi biết chư vị ngồi đây vẫn ôm nhiều định kiến với tôi.

Nay trong thành có biến cố, tôi quyết không lui...”

Giọng Sài Thúc Tân vẫn lạnh nhạt: "Tôi biết, phần lớn các vị sẽ phản đối."

"Lần đầu ngang bướng, Dược gia có thể dung túng, nhưng lần hai thì không thể bỏ qua."

Trưởng lão lạnh giọng: “Nếu gia chủ còn tính đến tương lai lâu dài, xin kịp thời ngăn chặn tổn thất."

“Ừm, cũng đến lúc rồi."

Sài Thúc Tân đứng dậy, tháo găng tay, ném vào lò than.

Cả sảnh xôn xao, ai cũng hiểu hành động ấy có ý nghĩa gì.

Giọng nói của Sài Thúc Tân vang vọng khắp sảnh: “Từ hôm nay, tôi chính thức từ bỏ vị trí gia chủ Dược gia."

"Tình nguyện bị gạch tên khỏi Dược gia.”

Sài Nhẫn Đông đang bước qua hành lang cửu khúc, nghe tiếng vọng xôn xao từ đại sảnh truyền ra.

"Vậy thì từ nay về sau, ai sẽ làm gia chủ đây?!"

Tuy rằng cách một khoảng, nhưng nàng vẫn nghe ra được sự kích động và phấn khởi cố đè nén trong giọng nói của những người kia.

Nàng cúi đầu bật cười, Dược gia là nhánh gần gũi với trần thế nhất trong Thất Gia Chư Tử.

Gia tộc này cũng giống với các thế gia bình thường, nội tộc tranh quyền đoạt lợi, lục đục đấu đá, không tôn trọng người kế vị.

Điều này cũng chẳng lạ, Dược gia tuy nằm trong thất gia, nhưng lại không có tuổi thọ cao, cũng không có huyết mạch đặc biệt, càng không có truyền thừa cổ quái cùng với năng lực bẩm sinh nào cả.

Chẳng qua là có y thuật giỏi hơn thầy thuốc bình thường một chút thôi.

Hiển nhiên cũng càng lưu luyến phàm tục hơn.

Gia chủ Dược gia có lẽ là người bình thường nhất trong bảy nhà, nhưng cũng là vị trí khó ngồi nhất.

Em trai ruột của nàng vất vả gánh vác bao năm, nàng đều trông thấy cả.

“Theo gia quy, vị trí gia chủ phải được dòng chính họ Sài kế thừa.”

Sài Thúc Tân lạnh lùng nhìn người trước mặt: "Ông là dòng nhánh, không xứng.”

Một câu nói trúng tim đen, đối phương giận dữ trợn mắt: "Cậu đã từ nhiệm, dòng chính họ Sài không còn ai.

Ngoài chọn người đức cao vọng trọng đứng ra thay, còn ai xứng hơn nữa?”

Lời vừa dứt, cửa chính bị đẩy ra, một bóng người bước vào: "Còn tôi.”

Lời nói mạnh mẽ quả quyết khiến cả sảnh kinh ngạc.

Sài Nhẫn Đông vận một chiếc sườn xám màu xanh đen, bên tóc cài trâm ngọc lan trắng.

Nàng có đôi mắt trong veo như sương, luôn mang đến cho người nhìn cảm giác mong manh dịu dàng.

Mà giờ đây mây tan mưa tạnh, nàng đứng giữa đại sảnh, vững như bàn thạch.

“Đại tiểu thư?”

Trưởng lão sửng sốt, rồi phá lên cười: “Đại tiểu thư bệnh nặng lâu nay, khi xưa chính vì sức khoẻ của cô quá yếu ớt nên mới để em trai lên làm gia chủ thay mình.

Giờ lại muốn bày trò gì nữa?”

"Tình hình sức khỏe của tôi thế nào, không phải chỉ nghe ông nói là được."

Sài Nhẫn Đông mỉm cười: “Dược quan đâu?”

Dược quan là chức vị đặc biệt của Dược gia, không cần phải có huyết thống họ hàng, chỉ cần y thuật cao minh là có thể đảm đương.

Một người mặc áo đen cầm rương thuốc đi vào trong, hành lễ với Sài Nhẫn Đông: "Bẩm đại tiểu thư."

Sài Nhẫn Đông đưa tay ra: "Khám."

“Vâng.”

Dược quan tháo găng tay, đặt một tấm khăn lụa lên cổ tay nàng, tỉ mỉ bắt mạch.

Một lúc sau liền khom người nói: “Thân thể đại tiểu thư không khác người thường, bệnh lâu năm đã khỏi, hoàn toàn có thể gánh vác vị trí gia chủ.”

“Vô lý!

Tuyệt đối không thể!”

Trưởng lão nổi nóng: “Các ngươi là cùng một giuộc!

Lôi hắn xuống!”

“Nếu ông muốn tự mình kiểm tra, cũng không phải không được..."

Sài Nhẫn Đông giơ tay ngăn hạ nhân lại, giọng nói lạnh nhạt: "Chỉ sợ với y thuật của ông thì xem chẳng ra."

“Không thể nào!

Năm đó bệnh của cô do chính dược quan kiểm tra, tuyệt đối không thể chữa khỏi."

"Tuyệt đối không thể chữa khỏi, lời này thốt ra từ miệng của người trong Dược gia, mỉa mai làm sao..."

Sài Nhẫn Đông ung dung nhìn đối phương: "Lẽ nào ông biết năm xưa vì sao tôi lại đổ bệnh?"

"Cô — !”

“Khi ấy tôi đột nhiên phát bệnh, vô cùng nguy kịch, chẳng bao lâu sau đã không thể xuống giường nổi.

Nếu không phải nhờ cha tôi dốc hết tâm sức điều chế thuốc cho tôi, thì tôi không thể sống đến ngày hôm nay.

Nhưng dù đã chữa trị bằng mọi cách, cũng chỉ giữ lại được cái mạng, không cách nào sống như người bình thường.

Từ đó về sau tôi luôn ẩn mình trong hành lang cửu khúc, mấy năm chưa bước ra ngoài."

Sài Nhẫn Đông chợt cười, giọng điệu trở nên lạnh lùng: "Phỏng chừng trong lòng ông, tôi không khác gì người đã chết đâu nhỉ?"

Trong sảnh không ai từng nghĩ Sài Nhẫn Đông có thể khỏe lại.

Nàng biến mất quá lâu, nhiều năm ẩn mình, ngay cả lễ tết cũng khó gặp.

Nhiều người còn quên mất nhà họ Sài từng có một vị đại tiểu thư.

Mà Sài Nhẫn Đông năm đó, nổi danh không chỉ nhờ dung mạo.

Tài hoa kinh diễm, tiếng vang khắp thành.

Sài Nhẫn Đông đảo mắt nhìn thoáng tất thảy mọi người trong sảnh, mỗi người một vẻ, vô vàng sắc mặt.

Nàng nhớ đến tối hôm trước, Sài Thúc Tân gõ cửa phòng, đưa cho nàng một chiếc hộp gỗ.

Vừa mở ra, nàng lập tức hiểu ngay, bên trong là một đôi găng tay.

Hai chị em ngồi dưới ánh đèn.

Sài Nhẫn Đông dịu giọng nói: "Chị cũng có thứ muốn đưa cho em.”

Rồi lấy ra một chiếc túi nhỏ.

Sài Thúc Tân mở túi ra, thấy bên trong là một tờ giấy tuyên chi chít chữ: “Đây là...”

Sài Nhẫn Đông mỉm cười: "Công thức bí truyền của món lẩu Nhất Phẩm."

Chị em cùng huyết mạch, nhiều chuyện không cần nói vẫn hiểu.

Trước ánh nhìn chằm chặp của bao người, Sài Nhẫn Đông đeo găng tay lên, rũ bỏ toàn bộ dáng vẻ ốm yếu bệnh tật.

Hôm nay nàng vấn tóc cao, để lộ khuôn hàm dưới đẹp sắc sảo.

"Dược gia rút ngay từ bây giờ, sẽ không can dự vào chuyện lần này."

Sài Nhẫn Đông nhìn Sài Thúc Tân, hai chị em bốn mắt giao nhau.

“Linh Xu Tử Sài Thúc Tân, tự nguyện chịu gạch tên, từ bỏ vị trí gia chủ.

Cho ở lại giữ thành, không rút lui.”

Sài Thúc Tân quỳ xuống, dập đầu: "Tạ ơn gia chủ đã cho phép."

Khoảnh khắc trán chạm đất, anh đột nhiên nhớ đến cuộc trò chuyện với Ngân Hạnh trai chủ từ nhiều năm trước.

Khi đó tiên sinh hỏi anh nghĩ thế nào về Mộc Cát Sinh.

Anh đứng thẳng người, ngẩng đầu nhìn ánh mặt trời đang chiếu rọi.

Tấm lòng trẻ thơ, dũng khí thô thuần, như than hồng trong tuyết, tựa ánh nắng ngày đông —

Tuy nực cười nhưng quý giá vô ngần.

...

Tiếng chuông ngân dài.

Mộc Cát Sinh ngồi trong thủy tạ rất lâu, cho đến khi trụ trì chùa Bạch Thủy đi đến: “Thiên Toán Tử, trời đã tối."

“Đúng là nên về rồi.”

Mộc Cát Sinh đứng dậy: "Tôi đợi nghe hết hồi chuông."

Y bước đến mép nước, nhìn những gợn sóng bị tiếng chuông ngân động lan ra khắp mặt hồ.

"Năm xưa khi tôi mới đến thư trai, đêm đêm đều bị tiếng chuông quấy không ngủ được.

Về sau lại quen dần, cứ nghe chuông là yên giấc.

Vài năm trước đi du học, nửa đêm tỉnh giấc, rồi lại không ngủ được vì thiếu vắng tiếng chuông, cảm giác như đã đánh mất thứ gì đó."

“Nhân sinh vô thường.”

Trụ trì nói: “Thiên Toán Tử là người hoài cổ."

“Cảnh cũ khó buông, giấc mộng chốn núi hoang mới là thực."

Mộc Cát Sinh bỗng ho một trận.

Tập trung cao độ hao tổn khí lực, y đã dốc hết tâm trí để chơi hai ván cờ vừa rồi, vội vàng lấy thuốc của Ô Nghiệt trong ngực áo ra uống.

Thương thế vẫn chưa lành, vốn nên nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, nhưng chiến sự kề cận, ai cũng phải tranh thủ từng khắc, nào có thời gian cho người ta thở một hơi.

Mộc Cát Sinh cố nhịn cơn ho, nói: “Đại sư không dẫn chúng tăng rời đi sao?

Chiến tranh sắp đến rồi, nơi này không còn an toàn nữa."

"Thiên Toán Tử chớ lo."

Trụ trì chắp tay niệm A Di Đà Phật: “Lá rụng về cội.”

“Nếu đại sư cần giúp, cứ đến tìm tôi.

Doanh trại đóng ngay sườn núi, rất gần chùa Bạch Thủy."

“Trong chùa mọi sự đều ổn, chúng tăng ngày đêm cầu phúc.

Xin Thiên Toán Tử bảo trọng thân thể.”

"Tăng nhân chùa Bạch Thủy cầu phúc cho toàn thành, tôi thay mặt cảm tạ."

Mộc Cát Sinh mỉm cười: "Còn tôi thì chẳng sao hết."

Y giương mắt trông về phía xa, hoàng hôn trải vạn dặm, núi cao biển rộng, non sông tươi đẹp.

“Gỗ ngã thành củi, củi cháy thành đuốc, Nếu đuốc cháy tàn…

Nguyện xả thân làm nguồn sáng duy nhất."

...

Sáu ngày sau, tiền tuyến thất thủ, chiến trường lại lùi về sau.

Đúng ngay lúc ấy, âm binh bạo động, phá tan phong ấn.

Mộc Cát Sinh dẫn ba nghìn quân đồn trú ngoài thành, đánh một trận sinh tử.

Mà trong thành, đương đầu với âm binh lại chỉ có vài người...

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 30


Chương 30

Tiếng chuông báo thức chói tai réo lên trong phòng ngủ.

Báo thức được cài đặt mỗi lần reo liên tục ba phút, sau đó cách năm phút lại reo một lần.

Chuông đã báo suốt gần nửa tiếng đồng hồ, An Bình mới mở mắt.

Không phải cậu không thức dậy nổi, mà là chưa hoàn hồn.

Trong mơ tiếng súng nổ đinh tai nhức óc, làm cậu choáng váng, tay chân tê rần.

Phải rất lâu sau cậu mới nhận thức được mình đã tỉnh.

An Bình gượng đứng dậy, chân nhũn ra, quỳ sụp cạnh thùng rác mà nôn thốc nôn tháo.

Đêm hôm trước cậu thức khuya ôn bài, lại gục xuống bàn ngủ quên mất, nằm trên bàn cả đêm khiến cậu muốn cảm, bụng thì đói cồn cào.

Hồi ức trong mơ giống như đang vắt khô chiếc khăn đẫm máu, hình ảnh tứ chi nát bét không ngừng hiện lên trước mặt.

Đất trời tăm tối, thây chất đầy đường, mưa bom bão đạn, máu chảy thành sông.

An Bình chật vật mãi mới nôn xong, vừa ngẩng đầu lên thì nhìn thấy những ghi chép lịch sử mà mình sắp xếp đêm qua, giấy trắng mực đen, từng trận chiến năm xưa được liệt kê rõ ràng.

Cậu lại cảm thấy bụng mình nhộn nhạo, cúi xuống nôn thêm một trận nữa.

Cậu nên đặt báo thức sớm hơn một chút.

An Bình rã rời bò vào phòng tắm rửa mặt.

Hôm nay có kỳ thi rất quan trọng, bằng không cậu thật sự chẳng muốn đến trường.

Bao chuyện trong mơ, khiến cảm xúc ngổn ngang trăm mối.

Cậu bỗng rất muốn gặp Mộc Cát Sinh.

Thế nhưng Mộc Cát Sinh hôm nay lại không đến trường, việc này không có gì lạ.

Tuy gần đây y ít xin nghỉ bệnh hơn, nhưng vẫn là bài nào cóp được thì cóp, thi nào trốn được thì trốn, nhưng hôm nay An Bình chẳng còn bụng dạ đâu để oán thầm nữa.

Cậu nhìn đề thi lịch sử hồi lâu mà không viết được chữ nào, thậm chí còn nhen nhóm ý muốn nộp giấy trắng.

So với tự mình trải nghiệm, câu chữ trên giấy thật quá mỏng manh.

Tan học buổi trưa, buổi chiều còn hai môn liền kề.

An Bình dứt khoát không về nhà, vào căn-tin mua đại một phần cơm xào.

Nước sốt cà chua phủ lên cơm đỏ lòm như máu, khiến cậu lập tức mất sạch khẩu vị, thế nào cũng nuốt không nổi.

"Lớp phó học tập, cậu sao vậy?"

Cậu bạn cùng bàn đi ăn chung nhận ra An Bình không ổn: "Thấy khó chịu ở đâu à?"

An Bình đặt đũa xuống, xua tay: "Tớ không sao."

"Không sao cái đầu cậu ấy!

Từ sáng tớ đã thấy cậu cứ là lạ rồi, ra hiệu bảo cậu truyền phao mấy lần, cậu còn chẳng buồn liếc."

Bạn cùng bàn lau miệng, đứng dậy kéo An Bình ra ngoài: "Khó chịu thì đừng cố quá, tớ dẫn cậu đến phòng y tế."

"Tớ thật sự không sao..."

"Trời đất ơi, cơ hội vàng để trốn thi đó, người ta cầu còn chẳng được.

Này, đừng có cứng đầu thế."

Bạn kia nói dứt câu đã lôi An Bình ra khỏi căn-tin: "Cậu cứ cố chấp như vậy..."

Chưa kịp nói hết câu thì cả hai nghe một trận ầm ĩ, ngước mắt nhìn lên liền trông thấy một mảng tường đổ sụp, bụi gạch xám ngoét bay lởn vởn.

Hai người đứng chết trân tại chỗ, xung quanh toàn tiếng hét chói tai.

Bạn cùng bàn trợn mắt nhìn, lẩm bẩm: "Vãi nhái...

Phòng học sập rồi kìa!"

Hai đứa tròn mắt nhìn nhau hồi lâu, cậu bạn bỗng vỗ đùi cái chát, nhìn An Bình: "Vậy chẳng phải chúng ta khỏi phải thi luôn rồi sao?"

An Bình: "..."

Không lâu sau có thầy cô chạy ra giữ trật tự.

Cả khuôn viên trường nháo nhào một hồi, cuối cùng tất cả mọi người tập trung ở sân thể dục.

Nhà trường đưa ra thông báo sơ bộ rằng trường xây dựng đã lâu năm, phòng ốc xuống cấp, trần tầng cao nhất bị sập.

May mắn không ai bị thương, trường cho học sinh nghỉ tạm mấy ngày, lịch đi học lại nhà trường sẽ thông báo sau.

"Má ơi thật hay đùa vậy?"

Bạn cùng bàn tự nhéo mình: "Một trong những nguyện vọng từ nhỏ đến lớn của tôi chính là trường sập đó.

Nhưng mà trường chúng ta thực sự nát đến vậy hả?

Mẹ ơi vậy thì đến khi đi học lại, chẳng lẽ cứ ngồi niệm phật cầu cho trần nhà không sập xuống..."

"Không thể đâu."

An Bình đứng ở sân thể dục quá lâu, đầu óc choáng váng, cậu cố nhịn cơn khó chịu: "Trường trung học phổ thông số một của thành phố được xây cách đây cả trăm năm, toà bị sập là dãy nhà cũ, được xây từ lúc đầu.

Trường chắc chắn sẽ bảo trì kỹ, không thể nói sập là sập......"

Lời còn chưa dứt, trước mắt cậu tối sầm, cả người ngã xuống đất.

"Này!

Lớp phó!

Bạn cùng bàn!!

Cậu không sao chứ...?!"

Trong cơn mơ màng, An Bình thấy cậu bạn đang hốt hoảng gọi mình.

Đầu cậu đau như muốn nứt ra, không còn chống đỡ được nữa, cuối cùng ngất lịm.

Cậu nghe được tiếng cười khẽ.

Tiếng cười rất nhẹ, giống như lông tơ trên móng mèo, đang cào từng nhát một vào trong lòng cậu.

"......Người này sao lại đến nữa vậy?"

"Lần này chắc chạy không thoát rồi......"

An Bình nghe đến ngẩn ngơ, đầu óc mịt mờ.

Cậu cố mở mắt ra, chỉ thấy bốn phía đen đặc một màu, cùng với ánh sáng đo đỏ lờ mờ trôi nổi giữa không trung.

Đây là nơi nào?

Cậu ngồi dậy, phát hiện mình đang nằm trên nền xi măng, tay chân lạnh cóng, nhưng trong lồng ngực lại truyền tới cảm giác ấm áp, giống như có thứ gì đó đang nóng lên.

Cậu cúi đầu xuống nhìn, thì ra là miếng ngọc bội hộ thân.

Miếng ngọc này mấy hôm trước đã dính máu của Mộc Cát Sinh.

Đây là miếng ngọc được mẹ cậu mang về từ một buổi đấu giá, bà nói nó là đồ cổ, có công dụng như bùa bình an, thế nên từ khi còn nhỏ cậu đã luôn đeo nó.

Trừ lần vô tình xông vào Tam Đồ Gian, nó chưa từng có tác dụng gì.

Tuy rằng Mộc Cát Sinh đã bôi máu lên nó, nhưng về sau chỉ để cậu nằm mơ, cũng không có biến hoá khác thường.

Giờ đây ngọc bội chợt ấm lên, quả thật như đang che chở cho cậu.

An Bình đứng dậy, lấy ngọc bội ra, giơ lên trước mặt.

Màu ngọc ấm áp tỏa ra ánh sáng dịu nhẹ, soi mở được một chút bóng tối xung quanh.

Khi nhìn rõ cảnh trước mắt, An Bình lập tức dại ra, rồi da đầu tê rần, mồ hôi lạnh túa khắp người.

Dù cảnh tượng thay đổi nhiều, nhưng cậu không thể nào nhận nhầm.

Đây là Tam Đồ Gian!

Không gian đầy sự ngột ngạt hòa trộn với mùi tanh nồng nhớp nháp, bốc lên một luồng khí lạnh khô, mùi này giống hệt như lần trước khi cậu tới, chỉ là càng nồng đậm hơn.

Trong phút chốc, An Bình sợ đến đỗi lạnh toát sống lưng, nhưng sau đó cậu nhanh chóng ý thức được một điều, tại sao cậu lại ở đây?

Đây không phải mơ.

An Bình cảm nhận rất rõ sự khác biệt với cảnh trong mơ.

Cậu thật sự đã đi vào Tam Đồ Gian một lần nữa.

Cậu cố ép mình phải bình tĩnh, bắt đầu xâu chuỗi lại các sự việc trước đó - Kỳ thi, tòa nhà sập, rồi cậu hình như ngất đi, tỉnh lại đã ở Tam Đồ Gian.

Tòa nhà sập...

An Bình linh cảm chuyện này chắc chắn có liên quan đến Tam Đồ Gian.

Trung học phổ thông số một là trường trọng điểm, không thiếu kinh phí, công tác kiểm tra bảo trì không thể cẩu thả.

Cậu chợt nhớ lời Mộc Cát Sinh từng nói:

"Khu phố cổ này có hơn trăm năm lịch sử, quanh trường chúng ta có rất nhiều công trình cổ.

Vào thời Dân quốc, nơi này dân cư đông đúc, mà chỗ đông người, lúc chiến loạn thì chết cũng nhiều."

"Nơi chúng ta đứng bây giờ, chính là khe nứt ấy, được gọi là 'Tam Đồ Gian', nằm giữa ba cõi trời, người và đất, là chốn thần chê quỷ bỏ, chẳng thuộc cõi nào.

Trong đó toàn mấy thứ nửa sống nửa chết, không phải người cũng chẳng phải ma."

"Tam Đồ Gian xuất hiện trên dương gian, là chuyện lớn đấy.

Đám ăn không ngồi rồi ở Phong Đô bị dọa sợ, nên mới cuống cuồng tìm nguyên nhân."

Chiến trường, Tam Đồ Gian...

Phong Đô.

Trong hư vô dường như có một sợi dây nối liền tất cả lại với nhau.

An Bình bỗng có một suy đoán kinh người - Tam Đồ Gian hiện nay có liên hệ gì với Thang Âm Dương năm xưa?

Thành cổ Đông Nam năm đó, có phải chính là thành phố cậu hiện đang sinh sống hay không?

Còn cả tòa phòng học vô duyên vô cớ sụp đổ khiến cậu liên tưởng đến Quan Sơn Nguyệt bị sập trong mơ, nguyên nhân là do âm binh bạo động.

Xâu chuỗi lại tất cả những chuyện đó, thêm vào chuyện Mộc Cát Sinh từng nói mình là người đã chết.

Vậy đại nạn âm binh trăm năm trước rốt cuộc họ đã giải quyết thế nào?

Nếu âm binh đã bị tiêu diệt sạch, vậy cớ gì Phong Đô lại tỏ ra kinh sợ khi Tam Đồ Gian xuất hiện...

An Bình không dám nghĩ tiếp nữa.

Hiện tại trong đầu cậu chỉ còn một ý nghĩ duy nhất, phải sống mà ra được khỏi đây, sau đó lập tức đi tìm Mộc Cát Sinh.

An Bình giơ ngọc bội lên soi đường, liều mình bước về phía trước.

Quang cảnh trong Tam Đồ Gian khác hoàn toàn so với lần trước, không còn là trường học, mà đã biến thành một đống hỗn độn, chỉ có cầu thang dưới chân là kéo dài vô tận.

Tiếng cười thấp thoáng vang vọng bốn bề, dường như có ai đó đang theo dõi nhất cử nhất động của cậu.

An Bình càng đi càng sợ, mồ hôi lạnh túa đẫm lưng áo, ngay cả cơn đau đầu cũng bị bỏ quên, chỉ vì nơi này quá giống Thang Âm Dương năm đó.

Cậu chùn bước không dám đi tiếp.

Nếu cứ đi sâu xuống dưới thế này, lẽ nào cậu sẽ đi đến Phong Đô thật sao?

Huống hồ Thang Âm Dương cực kỳ dài, với sức đi bộ của cậu, sợ rằng sẽ chết đói giữa đường.

Đúng lúc An Bình đang rối não, từ đâu đó có tiếng cười vọng đến, rồi một thứ gì đó vỗ lên vai cậu.

An Bình dựng gai ốc.

Cậu đã đọc rất nhiều tiểu thuyết, nên cũng biết nhiều cảnh quỷ vỗ vai lúc nửa đêm như thế này, tuyệt đối không được quay đầu lại, cậu chỉ đành vắt giò lên cổ chạy như điên.

Song tiếng cười kia dường như đang bám sát gót cậu, vẫn luôn hiện hữu loáng thoáng.

Chỉ cần cậu dừng lại thở một chút, thứ gì đó sẽ lại vỗ lên vai cậu, cảm giác lạnh buốt thấu xương, khiến cậu không dám dừng, cứ cắm đầu chạy mãi.

Chẳng biết được bao lâu, cậu thật sự chạy không nổi nữa, buộc phải giảm tốc độ.

Nhưng còn chưa kịp thở thì dưới bậc thang vang lên tiếng móng tay cào cào, kèm theo tiếng cười khanh khách.

Có thứ gì đó đang bò lên, giọng nói mơ hồ:

"......cuối cùng ngươi cũng đến......"

Nương theo ánh sáng của ngọc bội, An Bình nhìn rõ vật đang bò lên chính là một con rối ác mộng, giống hệt những con lần trước cậu nhìn thấy trong Tam Đồ Gian.

Mộc Cát Sinh có bảo sẽ ở lại dọn dẹp, phải chăng y sống hơn trăm tuổi rồi nên mắt mũi kèm nhem, mới bỏ sót con này?

Mộc Cát Sinh tuổi cao mắt mờ, hại cậu chuyến này thê thảm.

An Bình bây giờ đã hiểu, tiếng cười đuổi theo cậu chính là con rối ác mộng này.

Nó cứ dẫn dụ cậu chạy xuống dưới, rồi rơi đúng vào chỗ nó muốn, lần này cậu tự đâm đầu vào chỗ chết thật rồi!

An Bình trợn mắt nhìn con rối đang bò dưới đất, hoảng sợ đến mức liên tục lùi lại, cuối cùng lảo đảo vấp trúng bậc thang ngã ngồi xuống đất.

Con rối bật ra tiếng cười the thé, nó nhoài người nhào về phía cậu.

An Bình sợ hãi nhắm mắt hét to, thầm nghĩ dù sao cũng chỉ chết một lần thôi mà!

Khoảng thời gian gần đây cậu cũng tiếp thu được kha khá kiến thức, cùng lắm thì xuống điện Diêm Vương xong lại nhờ người đi tìm Mộc Cát Sinh!

Nói thì chậm, diễn ra thì nhanh.

Bỗng từ phía trước có một đường đao loé sáng, tức thì chém con rối ác mộng thành ra làm hai nửa.

Luồng gió đao cắt đứt sợi dây đỏ trên cổ An Bình, ngọc bội rơi cạch xuống đất, ánh sáng vụt tắt, xung quanh lại chìm vào bóng tối một lần nữa.

An Bình còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì đã nghe thấy tiếng bước chân từ bậc thang bên dưới đi lên.

Có ai đó nhặt miếng ngọc bội của cậu, y xem xét một chút rồi lên tiếng hỏi: "Cái này là của cậu sao?"

Giọng ấy nghe không rõ là người hay quỷ, nhưng ít ra vẫn chịu nói lý lẽ.

An Bình nhắm tịt mắt, gật đầu lia lịa: "Phải, phải, là của tôi."

Cậu nghĩ ngợi chút rồi bổ sung: "Giấy giám định cổ vật vẫn còn để ở nhà tôi."

"Xin lỗi, làm đứt dây của cậu rồi."

"Không sao, không sao."

An Bình không đoán được đối phương là ai, trong bóng tối mờ đục nhìn chẳng thấy mặt, sợ đến mức nói năng lộn xộn: "Tí tôi ra sạp trước miếu Thành Hoàng mua cái khác cũng được."

Đối phương không nói gì thêm, đi đến gần, đặt ngọc bội vào tay cậu: "Cầm cho chắc."

Rồi y tóm phần cổ áo sau gáy cậu, nói: "Đắc tội rồi."

An Bình còn chưa biết trời trăng mây nước gì, đã thấy mình bị người ta nhấc bổng lên.

Người kia đang túm lấy cậu, xoay một vòng rồi ném thẳng ra ngoài.

Miếng ngọc trong tay An Bình lại loé sáng lần nữa.

Nương theo nguồn sáng yếu ớt, cậu lờ mờ trông thấy một thanh trường đao màu đỏ.

Đến đây tự dưng cậu cảm thấy giọng nói của người kia rất quen, hình như đã nghe ở đâu rồi...

...

"Lớp phó học tập!

Bạn cùng bàn..."

Khi An Bình tỉnh lại, cậu phát hiện mình đang nằm trong phòng y tế của trường.

"Cuối cùng cậu cũng tỉnh rồi!"

Bạn cùng bàn hét toáng lên, nhào tới: "Nói ngất là ngất, làm bố mày sợ muốn chết!"

An Bình nhắm mắt lại cho tỉnh táo một chút, vẫn chưa hiểu tình hình: "Chuyện gì vậy?"

Rõ ràng là cậu đang ở Tam Đồ Gian mà, sao giờ lại trở về dương gian, nằm trong phòng y tế?"

"Cậu còn hỏi?!" bạn cùng bàn nói: "Lúc ở sân thể dục, cậu chưa nói hết câu đã ngất rồi.

May mà các thầy cô đều ở đó, họ lập tức khiêng cậu vào phòng y tế."

Cậu bạn bĩu môi ăn vạ: "Doạ tôi sợ chết khiếp, phải mời tôi một cử trà sữa để trấn an tinh thần, rõ chưa?"

"Được thôi."

An Bình xoa xoa huyệt thái dương: "Nợ cậu một ly trà sữa, để sau tôi trả."

"Đừng nhắc đến trà sữa nữa, những người trẻ tuổi như các em bây giờ chẳng biết chú ý sức khỏe gì cả."

Nhân viên y tế mặc áo blouse trắng đi đến bên giường: "Sau khi bị cảm lạnh thì sốt nhẹ, nhịp tim không ổn định, tối qua em thức khuya đúng không?"

"Dạ."

An Bình gật đầu, mũi hơi nghẹt: "Không ngủ được ạ."

"Biết là các em chịu áp lực học tập rất lớn, nhưng nửa đêm làm bài tập xong còn muốn ôm điện thoại, chơi một phát là thức trắng đêm."

Nhân viên y tế nghiêm giọng: "Anh kê đơn thuốc cho em rồi, lát về nhớ lấy, đúng lúc trường học cần sửa chữa nên cho nghỉ, về nhà phải nghỉ ngơi thật tốt.

Ba mẹ em đâu?

Về nhà ăn uống thanh đạm chút, kiêng dầu mỡ cay nóng đi."

Nhắc đến phụ huynh, bạn cùng bàn quay đầu nhìn cậu, thấp giọng hỏi: "Ba mẹ cậu về chưa?"

"Chưa, chắc phải đợi tới Tết."

An Bình lắc đầu: "Không sao, tôi tự lo được."

"Hay để tôi đến nhà cậu?" bạn cùng bàn lo lắng: "Cho tôi chép bài là được - "

Còn chưa nói hết câu, cửa phòng y tế bị đá bật ra, có người bước vào:

"Tôi là người nhà của cậu ấy."

An Bình ngớ ra, người đến lại là Ô Tất Hữu.

"Cậu là người nhà của bạn học này?"

Nhân viên y tế nhìn thiếu niên trước mặt, giọng đầy nghi ngờ: "Cậu đủ tuổi thành niên chưa?"

Ô Tất Hữu hoàn toàn không thèm đáp, đi thẳng đến trước mặt An Bình, mặt mày u ám cúi xuống nhìn cậu: "Đi với tôi."

"Đây là ai vậy?

Em trai cậu hả, chưa từng nghe cậu nói có em trai?"

Bạn cùng bàn ghé sát bên tai An Bình, thì thầm: "Mặt mũi khó ở vậy... cậu thiếu nợ nó hả?"

An Bình thầm nhủ mình không nợ tiền Ô Tất Hữu, nhưng Mộc Cát Sinh thì chưa chắc.

Nhưng cậu biết Ô Tất Hữu không tự dưng đến trường, thiếu niên kia trông u ám khó chịu, tám phần là do bị Mộc Cát Sinh sai đến.

An Bình biết tính khí của Ô Tất Hữu nên chẳng nói thêm gì, cậu đứng dậy bảo: "Đi thôi."

Bạn cùng bàn không yên tâm, nhưng nhìn sắc mặt của Ô Tất Hữu thực sự rất đáng sợ nên không dám ngăn cản, đành phải lén nhắn tin cho An Bình: "Có chuyện gì thì nhớ gọi điện thoại cho tôi, gọi không được thì báo cảnh sát."

"Yên tâm."

An Bình trả lời: "Cậu ta là quản lý đô thị, không làm chuyện phạm pháp đâu."

Ô Tất Hữu quả thật chạy xe ba bánh chở hàng của quản lý đô thị đến đón cậu, chiếc xe kiêu căng hống hách dừng ngay trước cổng trường, chìa khóa còn chẳng thèm rút, loa không ngừng phát bài "chúc mừng sinh nhật" inh ỏi muốn điếc tai, làm cả đám học sinh thò đầu ra hóng hớt.

Ô Tất Hữu kéo từ trên thùng xe xuống một chiếc xe đạp công cộng, quẳng cho An Bình: "Lão bất tử tìm cậu.

Tự lết đến miếu Thành Hoàng đi."

"Đã xảy ra chuyện gì vậy?"

An Bình cản Ô Tất Hữu lại, người này không dễ để Mộc Cát Sinh sai vặt, nhưng bây giờ lại cố ý đến trường đón cậu, chắc chắn bên phía Mộc Cát Sinh đã xảy ra chuyện.

"Tôi chỉ đến đưa lời thôi, cậu hỏi lắm thế làm gì."

Ô Tất Hữu bực mình tặc lưỡi, đẩy An Bình ra, lên xe nổ máy: "Cậu tự đi mà hỏi ông ta."

Dứt lời đạp ga chạy mất.

An Bình đứng tại chỗ, nhìn chiếc xe đạp công cộng bên cạnh, dứt khoát dựng nó sát vào vệ đường rồi gọi taxi đi đến miếu Thành Hoàng.

Lần này Hoàng Ngưu gác cổng chẳng những không bắt An Bình mua vé, mà còn phất tay lùa cậu đi, giống như đã biết cậu đến đây tìm ai, chỉ thuận miệng nhắc nhở một câu: "Người đó ở trong sân, không thấy thì lên phòng trên gác tìm."

An Bình vừa bước vào sân đã thấy Mộc Cát Sinh, y đứng dưới gốc ngân hạnh, vẫn mặc nguyên bộ đồ ngủ, một tay bưng ca sắt tráng men như trước, tay còn lại thì cầm một đồng tiền, y nghe tiếng động thì quay đầu nhìn, cười với cậu: "Đến rồi à."

An Bình đi tới chưa kịp hỏi gì thì Mộc Cát Sinh đã đưa ca tráng men qua cho cậu: "Uống cái này đi."

Ca sắt còn ấm, thoang thoảng mùi thuốc.

An Bình đưa lên ngửi: "Cái gì vậy?"

"Đường nâu pha hoa quế, bổ khí dưỡng huyết, phụ nữ chuyên dùng."

An Bình chán chả buồn nói, đảo mắt nhìn trời, nhưng sau đó vẫn ngoan ngoãn uống hết nước trong ca, cảm thấy cả người ấm áp hẳn lên, cũng không còn thấy váng đầu nữa: "Anh biết tôi bệnh à?"

"Tôi đại khái biết được cậu đã mơ thấy gì."

Mộc Cát Sinh vuốt ve đồng tiền trong tay: "Trung học Phổ thông số 1 sập rồi à?"

"Vâng."

An Bình gật đầu: "Anh tính ra sao?"

"Không cần tính, đến lúc rồi."

Mộc Cát Sinh thấy ánh mắt ngơ ngác của An Bình, bèn đưa đồng tiền trong tay qua cho cậu: "Sơn Quỷ Hoa tiền, chắc trong mơ cậu thấy nhiều rồi."

An Bình đúng là hay thấy những đồng tiền này trong mơ.

Đệ tử thân truyền của phái Thiên Toán có bốn mươi chín đồng Sơn Quỷ Hoa tiền, tiền đồng cổ cũ kỹ được bao một lớp màu hoen, nhìn đã thấy niên đại lâu đời.

"Sao hôm nay anh không dùng những đồng tiền kia?"

An Bình bỗng nhận ra cậu chưa từng thấy Mộc Cát Sinh dùng tiền Sơn Quỷ ngoài đời bao giờ.

"Lúc sáng thức dậy cảm thấy có gì đó không ổn lắm, nên tôi tính một quẻ."

Mộc Cát Sinh nói: "Tính ra được cậu sẽ xảy ra chút chuyện.

Nhưng giữa tôi với cậu có nhiều thứ dây dưa, mấy đồng tiền bình thường không tính chuẩn được, chỉ có thể dùng tiền Sơn Quỷ."

Nói rồi y nhìn An Bình, chốt một câu khẳng định: "Cậu lại rơi vào Tam Đồ Gian rồi."

"Đúng vậy."

An Bình lúc này mới nhớ ra chuyện quan trọng, mở miệng tuôn một tràng câu hỏi như pháo liên thanh: "Trường sập có liên quan gì đến Tam Đồ Gian?

Là do âm binh năm đó đúng không?

Tam Đồ Gian có phải là Thang Âm Dương không?

À đúng rồi, có một người đã cứu tôi, y là ai?"

"Từ từ, hỏi từng câu thôi, tôi già rồi trí nhớ kém."

Mộc Cát Sinh xua tay: "Có vài chuyện cậu hẳn cũng nhận ra rồi, nơi này chính là tòa thành mà tôi từng sống năm đó."

Quả nhiên.

"Lúc âm binh bạo động, chúng tôi buộc phải cưỡng ép trấn áp, nhưng cái giá phải trả rất đắt, trí nhớ của tôi cũng không hoàn chỉnh, chỗ nhớ chỗ không."

Mộc Cát Sinh nói: "Trong mơ chắc cậu cũng thấy rồi, các điểm then chốt đều mơ hồ."

An Bình im lặng một lúc, lại hỏi: "Vậy anh còn nhớ được bao nhiêu?"

"Tôi chỉ nhớ được một chút manh mối, năm đó cưỡng chế tiêu diệt hết toàn bộ âm binh, gây ra thương vong nặng nề.

Nhưng vẫn còn một ít oán khí sót lại không cách nào diệt trừ hoàn toàn.

Tôi phải dùng một đồng Sơn Quỷ để phong ấn chúng một lần nữa."

Mộc Cát Sinh từ tốn nói: "Tam Đồ Gian không phải Thang Âm Dương, nhưng nó là không gian được tạo thành bởi oán khí rò rỉ ra từ Thang Âm Dương.

Oán khí tàn dư ở trong Thang Âm Dương bị phong ấn trăm năm, hiện giờ phong ấn yếu đi, mà trường trung học phổ thông số một lại được xây dựng trên địa mạch, cho nên mới dẫn đến tình trạng tự dưng bị sập."

An Bình sợ hãi: "Ý của anh là những âm binh năm đó sắp thoát ra rồi?"

Cảnh tượng thảm khốc trong mơ vẫn còn rõ mồn một, nhắm mắt lại chỉ thấy máu chảy đầy trời.

Khi ấy phải trả một cái giá rất lớn mới trấn áp được âm binh, nếu chúng quay trở lại lần thứ hai, cậu thật không dám tưởng tượng sẽ có hậu quả như thế nào.

"Yên tâm, có tôi ở đây."

Mộc Cát Sinh nhìn vẻ mặt của An Bình, nở nụ cười: "Cậu có biết tên con phố bên ngoài miếu Thành Hoàng này là gì không?"

"Phố Thành Tây..."

An Bình chợt hiểu ra: "Nơi này có quan hệ gì đến Thành Tây Quan?"

"Nhiều người tưởng Phố Thành Tây nằm ở phía tây khu phố cổ nên mới được gọi như vậy, thực ra không phải.

Cuối con phố ấy, chính là nơi Thang Âm Dương bị phong ấn năm đó.

Tôi sống ở miếu Thành Hoàng lâu như vậy chính là để trấn giữ nơi này."

Mộc Cát Sinh vỗ vai An Bình: "Tôi còn ở đây, nơi này chính là ải Tây Quan, âm binh không ra được đâu."

An Bình nhìn y, nhất thời không biết phải nói gì.

"Cậu từng vào Tam Đồ Gian, bị khí tức nơi đó bám thân.

Hiện giờ long mạch bất ổn, cậu rất dễ lại rơi vào lần nữa."

Mộc Cát Sinh dẫn An Bình vào gian phòng bên cạnh: "Tối nay cứ ngủ lại đây.

Đợi mưa qua trời tạnh, vạn sự hanh thông."

"Mưa qua trời tạnh?"

An Bình ngẩng lên nhìn trời, xanh biếc không một gợn mây: "Dự báo thời tiết nói mấy ngày nay đều nắng mà?"

"Dự báo không chuẩn đâu."

Mộc Cát Sinh tung đồng tiền lên: "Đêm nay sẽ có mưa lớn."

"Nghe thấy động tĩnh gì cũng đừng sợ, con gái tôi sẽ qua đây.

Tính khí nó hơi chướng, nhưng bụng dạ không xấu."

Mộc Cát Sinh ung dung nói: "Không phải tôi bảo nó đi đón cậu đâu.

Nó nhìn thấy quẻ tượng của tôi thì tái mặt, hớt hải chạy đến trường học cứu người."

Việc này đúng là nằm ngoài dự đoán của An Bình: "Vậy người đã cứu tôi trong Tam Đồ Gian là ai?"

"Bạn cũ năm xưa..."

Mộc Cát Sinh mỉm cười hiền hoà: "Yên tâm, rồi cậu cũng sẽ biết thôi."

[ Edit by TeiDii ]

______________

Chủ nhà: Dạo này t lụy kịch truyền thanh, tiến độ hơi chểnh mảng...

Hứa sẽ chăm chỉ hơn.🥹

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 31


Chương 31

Đêm nay An Bình ngủ lại trong miếu Thành Hoàng, cậu trằn trọc mãi không sao chợp mắt được.

Gần đây xảy ra quá nhiều chuyện, rối ren trăm mối, đến mức cậu có phần sợ ngủ.

Mỗi khi nhắm mắt lại là giáo gươm binh ngựa xông vào giấc mộng, toàn là núi thây biển máu.

Ban ngày cậu vốn định hỏi Mộc Cát Sinh sau đó đã xảy ra chuyện gì, nhưng lời đến miệng lại nuốt xuống.

Vì bất kể đối phương vẫn còn nhớ hay không, có một số ký ức vốn là vết thương hằng sâu trong tiềm thức, ngoài mặt đã lành, bên trong vẫn mưng mủ âm ỉ.

Trong ngoài miếu Thành Hoàng đều treo lồng đèn đỏ, có cái dùng điện, có cái đốt nến sáp.

Trước gian phòng nhỏ nơi An Bình ở cũng treo một chiếc, đang nhẹ đung đưa trong gió.

An Bình nhìn chằm chằm chiếc đèn lồng, tim nến nổ tách một bông lửa nhỏ.

Đèn thêm một tối hao tàn, gió mưa tiêu điều hiu hắt.

Bỗng có người cầm kéo, cắt đoạn bấc nến vụn, ánh đèn sáng thêm đôi chút.

An Bình chớp mắt, phát hiện chiếc đèn lồng đột nhiên trở nên tinh xảo lộng lẫy, khung đèn sơn đen sáu góc đính vải lụa mỏng, thoang thoảng hương thơm.

Cách bày trí trong phòng cũng đổi khác, nến đỏ sáng bừng, chăn gối uyên ương, màn the trướng gấm, trên chiếc bàn gỗ tử đàn nhỏ đặt một đôi chén rượu, là chén Cảnh Thái Lam dát vàng*, khảm chỉ men màu tinh xảo.

(*) Đây là một loại đồ đồng tráng men nổi tiếng xuất hiện từ thời Minh Cảnh Thái, nên được gọi là Cảnh Thái Lam.

An Bình nhìn thấy chữ "Hỉ” dán trên cửa sổ, cậu nhớ ra ngay, đây chẳng phải chính là căn phòng cưới mà cậu từng thấy trong mơ hay sao.

Cách đó không xa vẫn còn bình hoa mà cậu vô tình làm vỡ khi tới lần trước, dưới đất toàn mảnh sứ men xanh vỡ vụn.

An Bình đột nhiên nhớ đến một việc, lật đật quay đầu lại nhìn, trong phòng ngoại trừ tân nương, còn có thêm một người khác.

Người ấy quay lưng về phía cậu, đang cầm chụp đèn che ngọn nến cưới, y vận một thân hỷ phục đỏ thẫm, dáng người cao cao thẳng tắp, như cây ngọc đón gió.

Y cúi đầu, nắm tay tân nương, nhẹ nhàng cất lời trước rèm tua của tấm khăn lụa: “...

Nay đã gặp người."

Giọng nói quá đỗi dịu dàng, như kỳ vọng mong manh chỉ chạm nhẹ đã vỡ, lại như một mối thâm tình chất chứa bao năm tháng: “Chớ hắt hủi ta.”

An Bình vô thức nín thở.

Phòng cưới chỉ có hai người đối diện nhau, chụp đèn chạm hoa khắc hoạ ánh sáng, vẩy loang thành những mảng sáng mảng tối, ánh nến vàng như bóng cây ngân hạnh đổ bên tường.

Khoảnh khắc ấy, đèn lặng người yên, ánh trăng ùa vào phòng.

Cửa lớn bất ngờ bị gió thốc bật tung, đập vào vách ầm ầm.

An Bình giật mình mở choàng mắt.

Thì ra nãy giờ cậu ngồi dựa vào thành giường ngủ quên.

An Bình ngơ ngác ngồi dậy.

Cảnh tượng trong mơ vẫn giống lần đầu cậu xông vào phòng cưới, nhưng bầu không gian lại khác hẳn, cả phòng nến đỏ lung linh, phảng phất tình ý nồng nàn.

Nhưng ngẫm kỹ lại, vẫn có cái gì đó quỷ dị khó tả.

Lồng đèn ngoài cửa sổ chẳng biết tắt từ lúc nào.

Cửa phòng mở toang, gió lạnh ùa vào, buốt đến tê người.

An Bình rùng mình, đang định đứng dậy đóng cửa thì phát hiện cả miếu Thành Hoàng đều chìm trong bóng tối, Kiến trúc cổ xưa bị màn đêm bao phủ, chỉ có thể nhìn thấy loáng thoáng xà nhà màu nâu đỏ.

Tình cảnh này thật sự rợn người không sao tả xiết, An Bình ớn lạnh sống lưng, vội vàng muốn đóng chặt cửa, song lại nghe thấy cách đó không xa vang lên một tiếng cạch, như có thứ gì đó vừa rơi xuống.

Cậu vốn định nhắm mắt mặc kệ, nhưng không biết là do sự tò mò thúc đẩy hay trong lòng có linh cảm mà cậu đánh bạo đi ra bên ngoài xem thử, hoá ra đó là một gian phòng không đóng cửa.

An Bình lấy điện thoại, bật đèn pin soi quanh.

Gian phòng này không lớn, tường trắng gạch xanh, không có nhiều đồ đạc, quạnh quẽ đơn sơ.

Có chiếc bàn kê sát một mặt tường, trên bàn đặt một lư hương và hoa quả cúng, thờ một bài vị.

Có lẽ là vì gió thổi bật cửa, bài vị lật úp xuống, âm thanh lúc nãy chắc cũng từ đó mà ra.

An Bình thở phào, việc thờ cúng trong miếu Thành Hoàng vốn chẳng phải chuyện hiếm, chả có gì đáng ngạc nhiên.

Cậu bước lên, đặt bài vị về chỗ cũ, nhờ ánh đèn điện thoại mà xem chữ trên bài vị.

Trong phút chốc, một cơn ớn lạnh ập đến, lạnh buốt tới tận đỉnh đầu, An Bình hoàn toàn sững sờ, khiếp sợ ngây người.

Một tiếng sấm nổ tung trên trời, tia chớp loé lên, mưa lớn trút xuống.

Gió ào ào ngoài cửa, bóng cây nghiêng ngả.

Đêm đông hiếm khi có sấm chớp gió mưa, nhưng Mộc Cát Sinh đã phán đêm nay chắc chắn sẽ mưa, quả nhiên đến nửa đêm mưa như trút nước.

Có tiếng bật lửa vang tanh tách giữa màn mưa, rồi một ngọn đèn được thắp sáng.

An Bình giật mình hoàn hồn, vội vã đặt bài vị ngay ngắn lại chỗ cũ rồi bước ra ngoài.

Cậu quay sang ngó đến cuối hành lang, cửa lớn của miếu Thành Hoàng đã mở, giữa tiếng mưa mênh mang, Ô Tất Hữu đang ngồi trên bậc cửa hút thuốc.

Dưới chân thiếu niên có một ngọn đèn sáng.

Nương vào ánh đèn ấy, An Bình nhìn rõ thứ Ô Tất Hữu đang cầm trong tay, chính là chiếc tẩu Cô Vọng.

Cậu chàng thong thả châm thuốc, phong thái ung dung.

Ô Tất Hữu hiếm khi chịu yên tĩnh như vậy, xuyên qua làn sương khói mờ, An Bình như lại thấy được bóng hình cao gầy ôn hòa năm xưa.

Người kia cũng từng hút xong một hơi như thế, rồi dấn thân vào đường sinh tử.

...

“Phong lưu đến cùng vẫn bị gió tạt mưa vùi.”

Ô Tử Hư đứng ở cuối con phố dài.

Mây đen đằng xa đang dần kéo đến bao trùm cả thành, tiếng đại bác đinh tai nhức óc liên tục vang lên không ngớt.

"Sắp chết đến nơi rồi đấy, mẹ nó cậu còn đứng đây ngâm thơ làm phú nữa à?"

Tùng Vấn Đồng ngồi trên mái hiên uống rượu: "Đúng là cái đồ hủ nho khoe chữ."

“Lão Nhị, mấy câu này chẳng giống lời mà ông sẽ nói chút nào.”

Ô Tử Hư cầm tẩu thuốc, nhàn nhã đứng giữa mưa.

Bây giờ anh lại là quý công tử nho nhã thanh cao ngày trước, không còn sự cuồng loạn như khi đánh nhau với Tùng Vấn Đồng, hay dáng vẻ bất lực như lúc tranh luận với Mộc Cát Sinh.

Dường như mấy ngày trước anh đã lấy lại dáng dấp thiếu niên, giờ đây đương đầu với thiên quân vạn mã, anh lại là một Vô Thường Tử ôn hoà ung dung.

Ngay phía trước chính là con đường dẫn đến chỗ Thang Âm Dương bị phong ấn.

Ngoài thành pháo kích không ngừng, mặt đất rung chuyển từng hồi.

Bỗng từ đâu có một tia chớp xé toạc màn đêm, một tiếng nổ kinh thiên động địa vang lên, mặt đất nứt toạc, sâu dưới lòng đất vọng lên tiếng hí của hàng vạn chiến mã.

Mưa rơi như trút.

Ô Tử Hư quẹt que diêm, châm điếu, ánh mắt dán vào cái hố đen nơi đầu phố: “Bắt đầu rồi.”

Tùng Vấn Đồng nhảy từ trên mái nhà xuống, rút đao khỏi vỏ, chắn ở tuyến đầu, trầm giọng: “Làm cho xong chuyện của cậu đi.”

Ô Tử Hư vỗ vai hắn, xoay người đi về cuối đầu phố bên kia.

Sau lưng là tiếng vó ngựa dồn dập từ xa đến gần, Tùng Vấn Đồng hô vang một tiếng, ánh đao cong vút như vầng trăng thứ hai giữa mặt đất.

Chum rượu rơi xuống vỡ toang, tiếng đao kiếm va nhau hỗn loạn như tơ rối, không khí đặc quánh mùi máu tanh nồng nặc.

Ô Tử Hư không ngoảnh lại.

Anh bước từng bước vững vàng về phía cuối phố, tay cầm tẩu Cô Vọng, phả ra hơi khói đầu tiên dưới đêm mưa.

Trong lúc ấy, trên dưới tường thành đã là núi thây biển máu.

Mộc Cát Sinh khàn giọng gào lên: "Giữ vững!

Ai bị thương thì khiêng xuống!

Ai chết thì chuyển thi thể sang một bên!

Đội tiên phong dùng hỏa lực áp chế!

Tuyệt đối không thể để bọn chúng phá cổng thành!"

Cổ họng đau rát như sắp rách ra, y ngửa đầu uống hai hớp nước mưa, sau đó giơ tay đập vỡ đầu một tên địch đang trèo lên cổng thành, khiến máu văng tung tóe lên khắp mặt.

Chẳng còn thời gian đâu mà lau cho sạch, y cắn giật chốt lựu đạn rồi ném xuống dưới.

Quân địch bất thình lình kéo đến, trận chiến giữ thành đã diễn ra suốt một ngày một đêm.

Ban đầu có ba ngàn người giờ chỉ còn lại chưa tới một ngàn, lực lượng hai bên chênh lệch rất lớn, đạn dược thiếu hụt, hiện tại tất cả mọi người đều đã cạn kiệt sức lực.

Nhưng y nhất định phải chống đỡ đến cùng, tối nay Thang Âm Dương vừa mở, ít nhất phải trụ được đến bình minh, như vậy mới có thể mở ra một con đường sống cho nhóm của Tùng Vấn Đồng.

Nếu chỉ xét chuyện thắng bại, việc âm binh bạo loạn thực ra là trợ lực rất lớn.

Thà làm ngọc nát còn hơn làm ngói lành, dẫn quân địch vào trong thành, lấy khí thế long trời lở đất của hai bên đối đầu nhau rồi cùng đồng quy vu tận.

Nhưng y cũng hiểu rõ, bất kể là quân thủ thành hay hơn vạn quân địch dưới chân thành, đều không phải đối thủ của âm binh.

Một khi thả quân địch vào thành, kết cục cuối cùng chỉ có thể là toàn quân bị diệt, oán khí của cả vạn binh lính tử trận sẽ bị âm binh hấp thu.

Đến mức đó, sẽ không còn ai có thể ngăn được chúng, âm binh sẽ tràn ra khỏi thành, lan đến tứ phương, đây là đại họa diệt quốc thật sự.

Có lẽ thời cơ mà Thất Gia Chư Tử chờ đợi cũng chính là cục diện này.

Mượn sức âm binh dẹp loạn giang sơn, lấy độc trị độc, hoàn toàn lật đổ tất thảy, đến khi đôi bên đều trọng thương, Thất Gia sẽ dang tay cứu trợ, thiết lập lại trật tự nhân gian.

Quả thực là mưu sâu kế hiểm.

Đối với Thất Gia, đây đúng là phương án tối ưu nhất.

Huống hồ là đối với người đứng đầu Thất Gia như Thiên Toán Tử, đây có lẽ cũng là lựa chọn không thể nào tốt hơn, nhưng y không làm được.

Mộc Cát Sinh lau nước mưa trên mặt, tự cười giễu mình, y thật sự không phải người thích hợp để kế thừa vị trí Thiên Toán Tử, y chỉ là một tên lính quèn, bình thường đến không thể bình thường hơn.

Y không thể trơ mắt nhìn tòa thành này rơi vào tay giặc, trung tâm quốc gia không còn biên ải, lại càng không thể nhìn âm binh lan tràn bốn phía, khiến sinh linh đồ thán, ngàn dặm xương trắng phơi ngoài đồng, oan hồn vất vưỡng khắp bờ Vong Xuyên.

Y coi trọng mỗi tấc đất quê hương, từng thành từng lũy, đến cả sinh mệnh của đồng bào từ già đến trẻ, y không có cái khí phách gặp biến không lo, cũng không thể đứng ở nơi cao thanh tịnh mà rũ mắt nhìn xuống thế gian.

Trên tường thành đạn bay tứ phía, quân thủ thành dưới chân tường gần như đã dùng xác người để chặn cổng thành.

“Báo—!”

Một binh sĩ thúc ngựa chạy đến, thở không ra hơi, hét với Mộc Cát Sinh: “Tham mưu trưởng bảo tôi chuyển lời!

Phía Nam sắp không giữ được rồi!"

Mộc Cát Sinh hét lớn: “Dồn đợt đạn dược cuối cùng qua đó!

Bảo ông ấy bằng mọi giá phải cố mà giữ cho được cổng nam."

Thành cổ ban đầu vốn có bốn cổng.

Năm ngoái, Mộc Tư Lệnh nhìn xa trông rộng đã phong kín một cổng.

Ba cổng còn lại, mấy ngày trước Mộc Cát Sinh ép Tùng Vấn Đồng liều mạng làm ngày làm đêm phong kín thêm một cổng nữa.

Giờ bốn chỉ còn hai, một ở phía đông, một ở phía nam.

Trước khi khai chiến, Mộc Cát Sinh đã hạ thiết quân lệnh, đầu có thể rơi, nhưng cổng thì không được mất.

Mộc Cát Sinh vừa nói xong, một viên đạn lạc bay thẳng về phía y, không thể tránh kịp, bên cạnh bỗng có người lao tới, xô y ngã xuống đất, nằm đè lên y.

Mộc Cát Sinh đẩy người kia ra, vừa chạm vào chỉ thấy tay mình đầy máu, bụi đất mù trời, ai nấy đều mặt mũi lấm lem.

Y cố nhìn kỹ một thoáng, cuối cùng nhận ra người trước mặt mình: “Tiểu Phong Tử?!

Ai cho chú mày nhập ngũ?!

Năm nay mày mới mười bốn tuổi thôi!"

"Anh...

Anh Mộc."

Tiểu Phong Tử toàn thân đẫm máu, cố gắng hít thở: “Không… không phải, giờ phải gọi là trưởng quan mới phải...”

"Mày không nghĩ cho cha mẹ à?!"

Mộc Cát Sinh gần như gào lên: “Mày chạy đến đây tìm chết, còn em gái mày ở nhà thì sao?!?"

"Cả nhà em chịu ơn anh…

Tên tham quan đến cướp nhà em là do anh đuổi đi, cha em bệnh nặng được nhà họ Sài giúp đỡ… giờ đây cả anh và anh Sài đều không rút lui, cha em dặn… mang ơn người ta phải biết báo đáp..."

"Em từ bé đã theo anh, năm đó ngoài phố có bọn lưu manh đến cướp chỗ của xóm ta, anh liền dẫn bọn em đi đánh đuổi chúng.

Giờ có bọn lưu manh đông hơn muốn cướp cả thành nhà ta, tất nhiên em cũng phải theo anh… theo anh... cùng nhau đuổi chúng đi…”

Tiểu Phong Tử hộc ra một ngụm máu, nắm chặt lấy tay Mộc Cát Sinh, cười ngắt quãng: “Hôm đó anh đến tiệm nhà em may áo, em đã đưa tới Nghiệp Thủy Chu Hoa cho anh.

Tiếc rằng đêm đó mọi người ăn uống vui vẻ, mà anh lại chẳng đến…

Không… không sao đâu, chờ quân ta thắng, mọi người lại cùng uống rượu mừng…

Hôm đó anh phải mặc áo của nhà em may nhé... hẳn là.. phong độ lắm."

Mộc Cát Sinh quệt máu trên mặt cậu nhóc: “Đừng nói nữa.

Tôi sẽ cho người đưa nhóc đi chữa trị.”

Trại quân y nằm trong thành, y giao Tiểu Phong Tử cho người lính liên lạc vừa cưỡi ngựa tới, y vịn chặt vết thương, đỡ cậu lên ngựa, nghiến giọng căn dặn: "Nhóc phải ráng mà sống.

Đợi tôi quay về, sẽ mời nhóc uống rượu mừng, ăn sập cả Nghiệp Thủy Chu Hoa."

Khói thuốc súng bốc lên bốn phía, trong chốc lát không ai có thể thở được.

Mộc Cát Sinh xoay người rời đi, trên cầu thang đầy rẫy người chết, y giẫm lên từng thi thể của đồng đội, leo trở lại chốn núi thây biển máu trên đầu thành.

Người lính liên lạc đưa Tiểu Phong Tử toàn thân bê bết máu phi nhanh về trại quân y.

Sài Thúc Tân chạy ra đón: “Giao cho tôi.”

Anh đỡ cậu xuống ngựa, người lính lập tức phi ngược trở lại chiến trường.

Sài Thúc Tân ôm Tiểu Phong Tử vào lều quân y.

Mùi máu tanh tưởi khắp nơi, trong lều toàn tiếng rên rỉ đau đớn.

“Anh!”

Cô gái nhỏ phụ việc trong trại vừa nhìn thấy người trong tay Sài Thúc Tân hai mắt liền đỏ hoe, vội đến đỡ giúp, đặt Tiểu Phong Tử xuống một góc trống: "Sài công tử, anh trai em… còn cứu được không?”

Hai ngày nay cô nhóc đã chứng kiến quá nhiều cảnh sinh tử, tương đương với việc chứng kiến mấy đời người trôi qua.

Nhóc không hỏi vòng vo nặng hay nhẹ, mà hỏi thẳng “có cứu được không”.

Cứu được thì cứu.

Nếu không cứu được, chết sớm còn hơn đau đớn dày vò.

Cả ngày nay cô nhóc vẫn liên tục kéo từng thi thể ra ngoài, giờ vẫn còn sức, nếu anh trai mình chết, nhóc muốn tự tay kéo anh đi.

Sài Thúc Tân nhìn cô nhóc, nhấc hòm thuốc lên, nhẹ giọng đáp: “Không sao.”

Cô gái nhỏ nghe đến đây liền bật khóc, xong lại sợ ảnh hưởng đến việc Sài Thúc Tân châm cứu nên đành phải chạy sang một bên chăm sóc người bị thương khác, vừa làm vừa len lén lau nước mắt.

Tiếng gió tiếng mưa hoà cùng tiếng súng.

Mưa lớn đập rầm rập lên nóc lều, tiếng bom rơi đạn lạc nổ tung cách đó không xa.

Cả khu trại quân y lung lay, nhưng tay cầm kim của Sài Thúc Tân vẫn rất vững.

Anh bình tĩnh xử lý vết thương, lấy đầu đạn, cầm máu, khâu lại.

Cuối cùng quay sang dặn cô gái nhỏ: “Anh nhớ là còn dư một ít dược liệu, em cứ dựa theo phương thuốc cũ trước đó, thêm trần bì và đại hoàng, rồi sắc một chén thuốc cho cậu ấy uống."

Cô nhóc nhanh chóng vâng lời, chạy vội ra khỏi lều trại, Sài Thúc Tân nhìn Tiểu Phong Tử: "Em gái cậu đi rồi, thấy đau thì có thể kêu lên."

Tiểu Phong Tử lúc này mới dám bật ra tiếng rên đau đớn, yếu ớt nói: “Bên ngoài đang mưa, anh nhắc nó mặc thêm áo nhé…”

“Ừ.”

Sài Thúc Tân bắt mạch cho cậu, lát sau hỏi: "Tình hình trên thành thế nào rồi?”

"Em không rõ lắm… nhưng em thấy có nhiều người còn chưa kịp đưa vào trại quân y đã chết rồi.

Ai cũng quyết tâm liều chết phen này..."

“Mộc Cát Sinh thì sao?”

“Mộc trưởng quan bị thương, nhưng không đáng ngại, vẫn chống được…”

"Tôi biết rồi.”

Sài Thúc Tân nhẹ giọng nói: “Cậu đã làm rất tốt.”

“…Anh lạnh lắm ư?”

"Tôi không sao.”

Sài Thúc Tân cởi áo ngoài của mình, đắp lên người Tiểu Phong Tử: "Cậu yên tâm nghỉ ngơi, ở đây đã có tôi.”

Trong vài câu nói ngắn ngủi ấy, tay anh run rẩy, lạnh buốt, thậm chí còn run nhanh hơn cả nhịp mạch của cậu nhóc.

Hai bên con phố lớn xếp đầy những chum rượu.

Âm binh trong Thang Âm Dương đang cố gắng chui ra, nhưng dù gào rú xông xáo cỡ nào cũng không thể vượt qua những chum rượu được xếp làm ranh giới.

Phố dài chật ních binh mã, Tùng Vấn Đồng đã giết đến đỏ cả mắt, gặt đầu người như bổ dưa thái rau.

Âm binh bị đao Thỉ Hồng chém bay đầu lập tức hóa thành luồng khói xanh, tro cốt hoà vào không trung.

Tà áo Tùng Vấn Đồng gần như bị nhuộm trắng, rồi lại được cơn mưa xối sạch trong nháy mắt.

Âm binh ồ ạt tràn đến ngày càng nhiều.

Dù đã sớm thả tiền Sơn Quỷ vào chum rượu để bày trận, nhưng một con phố chung quy không thể chặn được cả một đội quân.

Đầu phố quá hẹp, âm binh không thể tản ra, bèn giẫm lên đầu đồng bọn mà leo lên, tầng tầng lớp lớp, giáp trụ chồng lên nhau như một bức tường đồng khổng lồ.

Có người thổi kèn lệnh, âm binh lập tức phát ra tiếng gào khàn đục xé tai.

Tùng Vấn Đồng lạnh lùng nhìn đám oán quỷ trước mặt.

Hắn ngậm một lọn tóc ướt, cơ bắp toàn thân căng lên, xương cốt phát ra tiếng răng rắc.

Cuối cùng hắn xoay mạnh cổ, như thể trong chớp mắt cao thêm một tấc.

Hắn cởi phăng áo ngoài, mồ hôi và hơi nóng bốc lên từng đợt từ thân thể, nóng đến mức hạt mưa còn chưa kịp chạm vào người đã bị bốc hơi giữa chừng.

Đây chính là bí thuật "Đốt Tuyết" của Bồng Lai, hắn phải ở lại Kiếm Các suốt ba năm trời mới luyện thành.

Thông qua vận hành kinh mạch để điều chỉnh xương cốt tứ chi, ép tiềm lực của con người đến cực hạn.

Ngày luyện thành, tuyết rơi phủ trắng quả núi, hắn chôn một hạt giống xuống đất, sau khi vận khí xong, đất tuyết đã nở ra một đoá sen.

Hơi thở của hắn dần chậm lại, cơ thể đã được điều chỉnh vào trạng thái cao nhất.

Chỉ có bí thuật thôi thì chưa đủ, tuyệt kỹ công pháp cần phải phối hợp với một ngoại lực cực mạnh, ấy là thuật dùng đao Thỉ Hồng được Mặc gia truyền lại từ đời này sang đời khác, thanh đao này là do Bàn Cổ tạo ra từ thuở khai thiên lập địa, khi vung đao có thể một nhát bổ đôi cả âm dương.

Một giọng nói quen thuộc vang lên bên tai hắn: "Khi con nắm chắc thanh đao này, thì không gì có thể ngăn cản người Mặc gia."

“Đúng vậy, náo nhiệt thế này sao thiếu mẹ được.”

Tùng Vấn Đồng cười với bóng hình trong ký ức.

Hắn ngửa đầu thở dài một hơi, rồi hô lớn một tiếng, như mũi tên rời cung lao thẳng ra ngoài.

Những chum rượu ven đường nổ tung từng đợt, rượu mạnh hòa cùng mưa lớn, cuộn thành một luồng sóng che khuất bóng hình người cầm đao, hắn dốc toàn bộ sức lực, rút đao, một nhát chém xé trời.

Đó là một đường đao đẹp đến tàn bạo, vẽ nên một vòng tròn hoàn mỹ giữa không trung.

Ánh đao loé sáng đập vào bức tường đồng, tựa như mặt trời lặn xuống mặt sông, tạo ra những cơn sóng cuộn cao ngất.

Âm binh chồng chất như núi lập tức sụp đổ, gào lên một tiếng thảm thiết rồi hóa thành tro bụi.

Tùng Vấn Đồng vì một chiêu mà kiệt sức, ngã sấp xuống đất, rồi chật vật chống đao bò dậy, gào lên: “Ô Nghiệt!”

"Nhãi con xấc láo!

Gọi ta là bà lớn Thái Tuế!"

Một luồng sáng đỏ lao vút qua Thang Âm Dương, vượt qua tầng tầng người ngựa, từ phía sau đánh tan cả đám âm binh.

Ô Nghiệt vừa đánh vừa tiến lên, nửa đường liền ném quả cầu hoa trong tay về phía xa: “Nhóc con, bắt lấy!”

Cầu hoa bay tới, Tùng Vấn Đồng gắng sức bật lên đá một cú, đá nó bay thẳng về cuối con phố.

Quả cầu hoa nổ tung trên mặt đất rồi biến thành một mặt trống lớn màu đỏ thẫm, tiếng mưa to rơi lộp bộp lên mặt trống, ầm ầm như vạn vó ngựa phi.

Ô Tử Hư đứng trước mặt trống, ngẩng đầu lên, chậm rãi phả ra hơi khói cuối cùng.

Anh ném tẩu Cô Vọng đi, tung người nhảy lên mặt trống.

「An Bình nhìn Ô Tất Hữu ném tẩu Cô Vọng sang một bên, chạy xuyên qua màn mưa xối xả, một chốc sau lại có tiếng trống trầm đục mơ hồ vang vọng.

Cậu đi theo tiếng trống đến cổng miếu Thành Hoàng, phát hiện đầu phố chẳng biết từ lúc nào đã có một chiếc trống cổ lớn.

Ô Tất Hữu nhảy lên mặt trống, thiếu niên đứng khom người trong mưa, hai tay xoay chuyển, là thế vào đầu của một điệu múa.

Mộc Cát Sinh ngồi cách đó không xa, y đương ôm một cây đàn tỳ bà, mắt đối mắt với thiếu niên, chậm rãi cất giọng —

Trong phút chốc tiếng mưa ngừng rơi, trời đất tĩnh lặng.」

Ô Nghiệt xông tới ngăn cản âm binh, Tùng Vấn Đồng lao ra khỏi trận chiến, chạy như điên vào Quan Sơn Nguyệt bên cạnh con phố dài.

Đêm nay nhà hát mở hết toàn bộ cửa sổ và cửa ra vào, trên sân thượng chất đầy giá đỡ đàn đủ loại, từ đàn tỳ bà đến đàn cầm đàn sắt đều được bày lên.

Tùng Vấn Đồng vớ lấy một cây đàn tỳ bà, ngồi dưới màn mưa mà gảy một khúc nhạc.

Âm binh vỡ trận, nước văng tung tóe, thiết kỵ chạy xộc ra phía ngoài, đao thương va nhau loảng xoảng.

「 Mộc Cát Sinh nhìn Ô Tất Hữu.」

Tùng Vấn Đồng nhìn Ô Tử Hư.

Tiếng tỳ bà dồn dập, sắc bén như xé lụa, theo đó là tiếng hát phá đất mà lên —

“Há rằng ta thiếu áo?

Hồng trang, sô trắng khoác lên vai.

Há rằng ta thiếu lời?

Thi thư nghìn quyển đốt thành tro bay.

Há rằng ta thiếu khúc?

Trường ca hóa lệ khóc đêm dài.

Há rằng ta thiếu trận?

Binh đao tận sức mở cung đài."

Người trên mặt trống nhảy múa vũ điệu kinh hồng, vừa sắc bén vừa tuyệt mỹ, tựa thanh kiếm phá trận, lại không kém phần uyển chuyển như lụa mảnh.

Vũ điệu mạnh mẽ, khí thế sát phạt không gì ngăn nổi hòa cùng vẻ đẹp kinh tâm động phách tột bậc.

Có khi nặng tựa sức mạnh nhổ núi, có khi nhẹ như hạc trắng dang cánh lướt gió.

Khoảnh khắc vũ giả xoay lưng, tung người tựa kiếm rút khỏi vỏ, không khí bốn bề dường như đặc quánh lại, trời đất trên dưới ngưng động, như đang ngóng đợi sự sai khiển của anh.

Đây tuyệt đối không phải điệu múa phàm trần, mà là tuyệt kỹ chấn thế của Âm Dương gia — Khúc Tướng Quân Na Vũ.

Âm Dương gia có khả năng khiển thần quỷ.

Vô Thường Tử với tẩu Cô Vọng trong tay, thậm chí lệnh được Diêm Vương.

Thế nhưng khi đối mặt với mấy vạn âm binh từng khiến Thập điện Diêm Vương phải bất lực, thứ duy nhất có thể đối kháng, chỉ có thể là một điệu múa từ thời thượng cổ đã thất truyền.

...

"Khúc Tướng Quân Na Vũ đã thất truyền mấy trăm năm...”

Hôm đó ở thành Tây Quan, Ô Tử Hư khó tin nhìn Ô Nghiệt: “Lần cuối xuất thế, là khi Lan Lăng Vương trong quân diễn tấu nhạc khúc phá trận, bà lớn vậy mà vẫn giữ được tuyệt học này?”

"Ta ở Phong Đô gần ngàn năm, nào chỉ có tuổi tác hơn người.”

Ô Nghiệt tung quả cầu hoa: “Thấy qua Quỷ tập bách hí chưa?

Ta thường nhảy múa trên mười hai tầng tháp, thật ra đó chính là một đoạn nhỏ trong điệu Tướng Quân Na Vũ.”

Na Vũ, còn gọi là điệu tế thần, người xưa sẽ đeo mặt nạ các vị thần, ngụ ý mời thần nhập thân và nhảy múa theo ý thức của thần, lấy đó hiển thần ý.

Về sau Âm Dương gia xuất thế, tu thuật thỉnh thần ngự quỷ, vì vậy đã đưa Na Vũ vào học thuật nội bộ của Âm Dương gia, lưu truyền qua hàng trăm đời.

Điệu múa hung tuyệt nhưng rực rỡ nhất trong số ấy chính là Tướng Quân Na Vũ.

Chiến trường là nơi vạn quỷ tụ hội, chẳng kém thành Tây Quan.

Tổ tiên Âm Dương gia sáng tạo ra khúc Tướng Quân Na Vũ, mượn sức quân thần hóa giải oán khí nơi sa trường, vạn quỷ khuất phục dưới một điệu múa tế thần.

Nhưng quân thần vốn mang sát nghiệt thấu trời, hễ mời thần nhập vào ý thức thực hiện điệu múa tế, sát khí sẽ nhập thân.

Vô Thường Tử các đời trước từng vì điệu Tướng Quân Na Vũ mà chết yểu không ít, cuối cùng tuyệt học này dần thất truyền, đã mấy trăm năm không xuất hiện.

"Muốn học được khúc này, ngươi phải có tâm liều chết.”

Ô Nghiệt khi ở thành Tây Quan đã nói với Ô Tử Hư: “Khí thế sát phạt, ý định tung hoành, tâm thế kiêu ngạo, chí nguyện tìm chết.

Có vậy mới múa ra được vũ khúc khuynh thế này.”

“Đương nhiên, ta cũng chẳng nỡ nhìn cháu chắt nhà mình đi chịu chết.”

Ô Nghiệt chợt cười: "Thời Chiến Quốc có nhạc sư từng thấy điệu múa này, trong lúc rung động đã soạn ra một khúc nhạc, đặt tên là Vô Y, có khúc Vô Y hoà tấu cùng Tướng Quân Na Vũ, có thể giảm bớt sát khí.”

“Nhưng khúc nhạc ấy còn thất truyền sớm hơn cả Tướng Quân Na Vũ.

Ta cũng chưa nghe được giai điệu hoàn chỉnh, chỉ dựa vào vài mảnh ký ức vụn vặt từ nghìn năm trước mà phổ lại.

Về sau lúc uống rượu cùng một người bạn, ta ngâm nga vài câu trong lúc say sưa, bạn rượu bèn giúp ta chỉnh lại những đoạn thiếu.

Đây là khúc nhạc truyền thừa của Mặc Gia.

Đến lúc âm binh phá phong ấn, thắng bại chính là ở hai người các ngươi.”

Dưới mười ngón tay của Tùng Vấn Đồng, tiếng đàn nổi lên như nghìn quân vạn mã xông pha trận mạc.

Năm sợi dây đàn rung lên sắc lạnh như tiếng kim loại va nhau.

Sát khí dâng theo từng ngón đàn, âm thanh réo rắc như đao rạch nát màn mưa, nhưng không thể duy trì được lâu, dây đàn nhanh chóng đứt.

Tuy vậy, đàn đã được bày sẵn đầy cả sân thượng của Quan Sơn Nguyệt, giá đàn xếp thành từng tầng, hắn phá một cây liền đổi một cây.

Tùng Vấn Đồng vốn chẳng biết gì về âm luật, có loại nhạc cụ thậm chí chưa từng chạm qua, nhưng lời của dì Triệu quả không sai, khúc nhạc này là truyền thừa, đã hòa vào xương tủy.

Đó là khúc lấy sát chế sát, chỉ cần trong lòng từng trải chiến trường, liền có thể nhớ được giai điệu.

「An Bình đứng giữa màn mưa, nhìn Mộc Cát Sinh ngẩng đầu cất cao giọng hát... 」

“Say rồi ngắm kiếm mấy lần?

Phong lưu bao thuở.

Giáp trụ ngựa sắt bao phen?

Núi xanh chôn thây cốt."

Tiếng đàn vang dội, Tùng Vấn Đồng ném luôn cây đàn cuối cùng, rút đao đứng dậy, lấy cột làm trống, gõ nhịp mà hát.

“Công danh lợi lộc rồi cũng thành tro bụi, phải trái thành bại chỉ một nét bút mà thôi.

Ngư tiều chuyện cũ chốn giang hồ, phồn hoa một thuở vùi xương khô.

"Hưng – dân khổ, Vong – dân vẫn khổ.

Thịnh suy nghiêng ngửa, thiên hạ ai là chủ.

Ngàn thu vạn đại, trẻ thơ vô tội có lỗi chi?”

*Vũ giả Na Vũ:

Chú thích: Na Vũ là điệu múa trừ ôn dịch, xuất phát từ nghi lễ "Na Tế", đây là một nghi thức cổ dùng để xua đuổi tà ma, dịch bệnh, cầu phúc, cầu mùa màng, bảo vệ dân chúng trước tai ương.

Nghi thức này có từ thời Thương – Chu, hơn ba nghìn năm trước.

Bảo là "múa" nhưng không hẳn là múa.

Na Vũ thiên về tính pháp sự (lên đồng) hơn.

Vũ giả sẽ mang mặt nạ lên đài, vũ đạo mạnh mẽ, dứt khoát, mang cảm giác trừ tà, chiến đấu.

Nhạc đệm thường có trống, chiêng, kèn, tiết tấu dồn dập.

[ Edit by TeiDii ]

________________

Chủ nhà: Cảnh trước mắt An Bình là cùng một hoàn cảnh nhưng mộng - thực đan xen.

Ngày xưa Tùng Vấn Đồng và Ô Tử Hư dùng khúc Vô Y và điệu Tướng Quân Na Vũ để trấn âm binh.

Hiện tại là Mộc Cát Sinh và Ô Tất Hữu.

Tớ để ngoặc cho đỡ rối.

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 32


Chương 32

Một điệu múa phá trận.

Theo từng vòng xoay của Ô Tử Hư, như có một quyền năng vô hình lướt qua khoảng không, từng lớp âm binh liền tan biến.

Thế nhưng Tướng Quân Na Vũ vốn là điệu múa cực kỳ hung lệ, vũ giả chẳng khác nào tự đốt mình để sưởi ấm, tiêu hao nội lực vô cùng lớn.

Anh chỉ theo Ô Nghiệt học vội mấy ngày ở đất A Tỳ, gắng gượng đến giờ đã chật vật lắm rồi, anh khuỵu xuống, nôn ra một ngụm máu.

Mười ngón tay của Tùng Vấn Đồng rách toạc, giọng đã khàn, tiếng đao gõ nhịp từng hồi vang vọng bốn bề như khúc Sở ca bi tráng.

Đương lúc hai người sắp cạn sức, một tờ giấy tiền trắng tinh bay lượn lờ trong tầm mắt.

Tiếng mõ gỗ thanh thuý vọng lên từ sâu trong lòng đất.



Mộc Cát Sinh đang nằm rạp trên tường thành thay băng đạn mới, đột nhiên cảm thấy đất trời chao đảo, máu từ mũi liên tục trào ra, khoang miệng đầy vị tanh nồng.

Y biết vết thương cũ đang tái phát, vội vàng lấy lọ thuốc mà Ô nghiệt đưa ra, nhưng bên trong đã rỗng.

Mấy ngày nay y đã ép sức chịu đựng của bản thân đến mức cực hạn, chống không nổi thì nốc thuốc liên tục, liều lượng từ sớm đã vượt xa ngưỡng Ô Nghiệt căn dặn.

Mộc Cát Sinh ho sặc ra một búng máu, vịn tường thành khàn giọng nói to: “Còn lại bao nhiêu người?”

“Còn chưa tới ba trăm!”

Có người chạy lên đầu thành: “Báo!

Cổng nam không chống nổi rồi!”

"Giữ không nổi thì rút!”

Mộc Cát Sinh ước tính thời gian đã đủ, y cố chống người đứng thẳng, trước mắt tối sầm suýt té quỵ lần nữa: “Bắt đầu tác chiến trên phố.”

“Trưởng quan!”

Binh sĩ bên cạnh vội đỡ y, giọng nói hoà vào tiếng pháo nổ mờ mịt: “Cổng nam thất thủ rồi!”

“Cái gì?!”

“Quân lính còn sống ở cổng nam chỉ còn ba mươi lăm người, tử thủ không rút.

Dưới sự chỉ huy của tham mưu trưởng, họ buộc hết số thuốc nổ còn lại vào người, nhảy từ trên đầu thành xuống…”

“Tất cả đều đã hi sinh vì tổ quốc.”

Mộc Cát Sinh lại phun ra một ngụm máu, y vuốt mặt, cắn mạnh đầu lưỡi, tự tát mình một cái để giữ tỉnh táo: “Đến trại quân y xem còn bao nhiêu người, người thương nặng thì sơ tán đi tìm chỗ ẩn nấp, người còn chịu được thì đưa hết đến cổng nam, cầm cự được bao lâu hay bấy lâu!”

“Đưa qua cả rồi.”

Một giọng nói cắt ngang lời Mộc Cát Sinh, y sững người: “Sao anh lại đến đây?”

Người đến là Sài Thúc Tân: "Tôi còn chịu được, đến giúp cậu giữ thành.”

Toàn thân Sài Thúc Tân bê bết máu, nhếch nhác bẩn thỉu chẳng còn chút sạch sẽ lạnh nhạt ngày thường.

Anh cầm khẩu súng, hai bàn tay dính đầy bùn đất và máu khô.

Ánh mắt Mộc Cát Sinh dừng một thoáng ở đôi tay ấy: “Anh có mang thuốc không?

Thuốc của bà lớn Ô Nghiệt đưa tôi uống hết rồi, tôi còn phải cố thêm nửa canh giờ nữa.”

Sài Thúc Tân lấy một lọ thuốc đưa cho y: “Có tôi ở đây, sẽ không để cậu chết.”

Mộc Cát Sinh bật cười, mở nắp đổ hết lọ thuốc vào miệng, vị thuốc đắng ngắt hoà cùng vị máu tanh tưởi: “Bọn Tiểu Phong Tử vẫn ổn chứ?”

“Không sao.”

Sài Thúc Tân hạ giọng nói: “Mọi người đều ổn.”

Vừa rồi có một đợt pháo đánh vào trong thành, rơi trúng mái lều trại quân y.

Sài Thúc Tân lo thuốc của Mộc Cát Sinh đã dùng hết, nên muốn chạy đến cổng thành đưa thuốc cho y.

Anh vừa đi ra một chốc, bỗng bị một trận đất đá bay đến thổi cho ngã nhào xuống đất.

Anh chống tay bò dậy, vừa ngoái đầu nhìn liền thấy toàn bộ trại quân y trước mắt đã hoá thành đống tro tàn.



Ô Tử Hư đứng trên mặt trống, tiếng mõ từ xa đang từ từ đến gần.

Âm binh xung quanh dần hóa tro, khói bụi cuộn thành những mảng sương dày đặc.

Có người từ sâu trong làn sương bước ra.

Người ấy không mặc giáp trụ như các âm binh mà khoác áo trắng, tay cầm mõ gỗ, tà áo bay phấp phới.

Đối phương đứng từ xa nhìn về phía Ô Tử Hư, chậm rãi mở miệng, giọng nói như vọng về từ thuở xưa:

“Hồn ơi về đi – ”

Tiếng hát bất chợt vang lên, giai điệu hoàn toàn khác với Vô Y, mênh mang hùng tráng, lại mang theo một vẻ lạnh lẽo không sao diễn tả.

Ngay khoảnh khắc tiếng hát cất lên, đám âm binh đang dần hoá tro đột nhiên ngưng kết lại.

Tựa như được rót vào một thứ linh lực huyền bí nào đó, đoàn âm binh vốn đã được xử lý gọn ghẽ dần tụ hình, lại bắt đầu bạo động thêm đợt nữa.

Khúc hát ấy dường như có khả năng hấp dẫn oán khí, đến cả vong hồn mới chết trên chiến trường ngoài cổng thành cũng bị kéo đến, trực tiếp từ bỏ luân hồi chuyển thế, hóa thành âm binh mới ngay tại chỗ, trỗi dậy gào thét.

Ô Nghiệt đang chặn đội âm binh giữa con phố, thấy vậy liền quát lớn: “Mặc gia!”

Tùng Vấn Đồng phóng từ trên lầu cao xuống, hai người tức khắc hoán đổi vị trí.

Đao Thỉ Hồng thoát khỏi vỏ, ánh đao lóe lên một đường chém thẳng về phía trước, chỉ trong nháy mắt đã hất đổ tất cả kỵ binh trong vòng một trượng.

Ô Nghiệt lao vút về cuối con phố, đạp Ô Tử Hư xuống khỏi trống: "Tập trung!

Làm tốt việc của ngươi!"

Ô Nghiệt thế chỗ của Ô Tử Hư, cúi người gập chân, tiếp tục múa khúc Tướng Quân Na Vũ trên mặt trống, từng đám âm binh hung bạo liên tiếp bị hạ gục.

Nhưng tiếng mõ và tiếng hát vọng từ cõi u linh kia vẫn không dứt, đằng xa chính là chiến trường, oán khí dâng không ngớt, chẳng bao lâu lại càng nhiều âm binh mới xuất hiện theo.

Thiếu mất Vô Y làm nhạc đệm, khúc Tướng Quân Na Vũ càng gây tổn hại cho người múa, Ô Nghiệt cũng đã cố gắng hết sức, hai bên dần dần rơi vào thế giằng co.

Tùng Vấn Đồng ở phía trước, Ô Nghiệt ở phía sau, Ô Tử Hư đứng giữa con phố dài, nhìn chăm chăm vào người gõ mõ cách đó không xa.

Mưa như trút, qua muôn tầng màn nước ấy, tiếng thương giáo văng vẳng như đang bị đẩy lùi ra xa.

Anh bỗng nhớ tới cuộc trò chuyện của mình với Ô Nghiệt ở đất A Tỳ.

Khi ấy anh vừa học xong đoạn cuối của khúc Tướng Quân Na Vũ.

"Gia biết ngươi muốn hỏi gì."

Ô Nghiệt thản nhiên nói: "Ngươi muốn hỏi về tung tích của cha ngươi."

Đây quả thực là khúc mắc lớn nhất trong lòng anh.

Chốn về của các đời Vô Thường Tử là một bí ẩn chưa có lời giải trong Thất Gia Chư Tử.

Đến cả Ngân Hạnh trai chủ khi còn sống cũng tránh né không muốn nhắc.

Năm bảy tuổi anh đã tiếp nhận vị trí Vô Thường Tử, ngay sau đó cha anh qua đời nhưng linh hồn ông lại không vào Phong Đô, trong sổ sinh tử cũng không có bất kỳ ghi chép nào.

Ông chỉ để lại cho anh chiếc tẩu Cô Vọng, cùng một nắm tro lạnh lẽo trong cán thuốc.

“Ngươi là Vô Thường Tử, ít nhiều cũng có sự am hiểu về âm binh.

Trước ngực mỗi âm binh đều có đeo một mặt kính hộ tâm, còn đeo kính là còn vô thức, chỉ biết nghe theo mệnh lệnh của người gõ mõ.”

Ô Nghiệt nói: “Cái gọi là người gõ mõ, thực chất chính là người dẫn đường cho âm binh, dùng tiếng mõ để điều khiển âm binh, giữ chúng ở đất A Tỳ cho thiên hạ thái bình.”

"Con biết.”

Ô Tử Hư gật đầu: "Vị trí người gõ mõ qua các đời đều là những kẻ được Phong Đô tuyển chọn kỹ lưỡng, đạo hạnh không kém Diêm Vương.”

“Câu đó không đúng."

Ô Nghiệt quay sang nhìn anh: “Người gõ mõ là một chức vụ bí mật ở Phong Đô, trừ một số quỷ sai có địa vị cực cao, rất ít kẻ biết đến sự tồn tại của người gõ mõ.

Còn cái lời giải thích mà ngươi vừa nói, đó chỉ là lời của Phong Đô nói cho Âm Dương gia nghe."

“Ý của bà lớn là..."

"Đúng hơn là nói cho đám Vô Thường Tử các ngươi nghe.”

Ô Tử Hư cắn ngón tay, nhỏ máu vào tẩu Cô Vọng.

Cán tẩu mảnh dài lập tức hóa thành màu chu sa, túi thuốc treo trên cán bùng lửa, như hoá thành ngọn đèn.

Ô Tử Hư chậm rãi bước đà một bước, rồi lao vút xuyên qua màn mưa, tốc độ càng lúc càng nhanh, hướng thẳng đến nguồn phát ra tiếng mõ gỗ, cả người anh gần như hóa thành một vệt mờ.

Anh chạy sượt qua Tùng Vấn Đồng, hai người chạm vai, đổi vật trong tay cho nhau.

Ô Tử Hư nhận lấy đao Thỉ Hồng, liền vung tay rạch một đường sâu hoắm trên cánh tay mình, máu tươi nhuộm đầy lưỡi đao.

Sau đó anh dồn lực giáng mạnh tẩu Cô Vọng lên sống đao, lửa tóe ra bốn phía, theo dòng máu men dọc lưỡi thép mà bùng lên, cả thanh đao rực lửa, ánh đao xé toạc đêm đen vô tận.

“Về lai lịch của người gõ mõ, đó là một lời nói dối mà Phong Đô cố ý dùng để gạt Vô Thường Tử.

Nhưng đến nay, cũng chẳng còn mấy người biết đó là lời nói dối.

Mỗi một Vô Thường Tử sau khi qua đời, hồn phách đều sẽ được dẫn xuống một nơi riêng biệt tại Phong Đô, để trở thành người gõ mõ tiếp theo.

Từ khi gia nhập chủ Phong Đô tới nay, chín trăm hai mươi bảy năm rồi, mỗi đời Vô Thường Tử đều do chính tay gia dẫn đi."

Hôm đó ở đất A Tỳ, Ô Nghiệt chậm rãi nói với anh: "Trải qua ngàn năm, lai lịch của người gõ mõ càng lúc càng thần bí, thậm chí còn trở thành bí ẩn trong Âm Dương gia, vì không phải Vô Thường Tử đời nào cũng tự nguyện hiến dâng hồn phách, trấn giữ chốn không ngày không đêm này.

Hồn phách sau khi trở thành người gõ mõ sẽ mất đi ký ức và ý thức đời trước, chỉ còn một ý niệm duy nhất là trấn giữ âm binh, cho đến khi có người kế nhiệm, thay họ làm việc đó."

Mọi thứ cứ diễn ra như vậy suốt mấy trăm đến cả ngàn năm nay.

Ô Tử Hư thắc mắc: "Nếu đã có người đến gõ mõ thay, vậy thì người gõ mõ đời trước sẽ đi đâu?"

“Bất kỳ hồn phách nào ở lại đất A Tỳ quá lâu đều sẽ bị ăn mòn.

Toàn bộ người gõ mõ cuối cùng sẽ biến thành oán quỷ hung tuyệt như âm binh.

Bằng không ngươi nghĩ xem âm binh vì cớ gì mà bạo động?

Thiên hạ đại loạn, địa mạch bất ổn, oán khí trong đất A Tỳ tăng vọt, tất cả âm binh đều sẽ bị kích động phẫn nộ, người gõ mõ cũng thế.

Oán khí tăng cao kích động chi phối người gõ mõ, mà người gõ mõ lại có năng lực điều khiển âm binh, nguồn cội là từ đây, trong lúc chiến tranh khói lửa oán khí ngút trời lại càng đáng sợ hơn.

Gia đây tiếp quản Phong Đô chín trăm hai mươi bảy năm, dẫn độ ba mươi lăm đời Vô Thường Tử.”

Ô Nghiệt khẽ cười, không rõ vui buồn: “Tự tay kết liễu ba mươi bốn người gõ mõ.”

“Cha ngươi là tự nguyện trở thành người gõ mõ.

Hắn cống hiến cả đời cho Âm Dương gia.

Trước gia đây, cũng từng có một người dẫn độ Vô Thường Tử thành người gõ mõ khác.

Người đó bị gia thay thế là vì gần ngàn năm trước cũng đã xảy ra một lần âm binh bạo loạn.

Lần bạo loạn đó, Thất Gia Chư Tử đã không thể tiêu diệt hết toàn bộ âm binh, lưu lại mầm hoạ.

Sau khi gia chết và trở thành Thái Tuế Phong Đô, đã dành hơn chín trăm năm dài đằng đẵng để giải quyết mầm hoạ đó.

Gia có hai quả cầu hoa, mỗi quả chứa gần năm trăm năm tu vi Thái Tuế của gia.

Lần trước đã dùng một quả mở trận Đài Sen, nay còn một quả, đưa cho ngươi múa khúc Tướng Quân Na Vũ.

Coi như là trả lại ân tình năm đó của cha ngươi.

Ngươi chẳng phải luôn thắc mắc vì sao gia chịu giúp ngươi và thằng nhóc Thiên Toán Tử đó sao?

Trận này nhìn như đùa, nhưng không phải không có cơ hội thắng.

Nếu nắm chuẩn thời cơ, thậm chí còn có hi vọng triệt sạch âm binh.

Bà lớn Thái Tuế, mỹ nhân nghiệp chướng, tự xuống tay giết chết cháu chắt nhà mình suốt hơn chín trăm năm...

Gia đây thật sự quá mệt mỏi rồi.

Âm Dương gia không cần thêm bất kỳ người gõ mõ nào nữa.”

Ô Tử Hư gầm lên một tiếng, giận đến cực điểm, đau đớn tột cùng, bi thương không tả xiết.

Anh lao xuyên qua đoàn âm binh, thanh đao Thỉ Hồng bốc cháy ngùn ngụt, thiêu rụi mọi thứ trên đường đi.

Mỗi nhát đao mà anh vung ra cũng không hoàn mỹ kín kẽ, tay anh hẵng còn run vì chịu không nổi sức nặng của đao Thỉ Hồng.

Anh vốn không phải cao thủ võ học, cũng chẳng thạo trò đấm đá.

Anh thường chọn cách nhường nhịn hoà giải hơn.

Nhưng lúc này anh đã cắt máu tế đao, liều mình mở ra một con đường đỏ rực.

Trong cơn giận không thể kiềm nén, luôn đi kèm với việc đổ máu.

Lắm khi máu tươi hoá thành biển lửa, lửa máu không thể thiêu chết bản thân, cắn răng chịu đựng được nỗi đau cắt da xé thịt đó cũng đủ để thoát xác tái sinh.

Lưỡi đao đỏ rực lướt một đường dài, cuối cùng bổ xuống đầu người đang cầm mõ gỗ.

Dưới màn mưa xối xả, Ô Tử Hư chợt nhớ về Ngân Hạnh Thư Trai, ấy là một buổi trưa cách đây nhiều năm về trước.

Lúc đó Mộc Cát Sinh lại đang lải nhải oán giận về lão cha chẳng có điểm nào đáng tin của y, đương nói dở chừng, y đột ngột quay sang hỏi anh: "Lão tam, cha ông là người thế nào vậy?"

Vô Thường Tử đời trước là người như thế nào...

Ký ức của Ô Tử Hư về cha mình rất mơ hồ.

Trong ấn tượng của anh, ông luôn bận bịu đủ chuyện.

Ngẫu nhiên có lần ông đưa anh đến xem diễn bách hý ở chợ quỷ, trên mười hai tầng tháp có một cô gái trẻ đang múa với quả cầu hoa cúi xuống nhìn anh, đôi mắt nàng cong cong, nở nụ cười: “Ồ!

Đứa chắt không biết cách bao nhiêu đời của gia đây à?"

Ô Tử Hư vì một câu hỏi của Mộc Cát Sinh mà ngồi đần người, cuối cùng Ngân Hạnh trai chủ đẩy xe lăn tiến vào, vỗ vỗ bả vai anh: "Tử Hư, cha của con rất tốt."

"Ông ấy thương con vô cùng."

"Vô Thường Tử đời trước có đạo hạnh cao thâm, nếu hắn không muốn làm người gõ mõ, gia cũng phải đau đầu chẳng biết làm sao.

Nhưng hắn đã tự nguyện nhận vị trí này, chỉ nhờ gia một việc...

Đó là chăm sóc con trai hắn thật tốt.”

...

Hôm đó trong thành nổi lửa, dù trời đổ mưa như thác, ngọn lửa mãnh liệt vẫn cháy mãi không tàn.

Trên đầu thành, Mộc Cát Sinh đã sài hết toàn bộ đạn dược, dốc cạn sức mình, mắng xong tất cả những câu chửi rủa thô tục nhất mà đời này y biết.

Lửa đạn liên miên không ngớt, mưa bom dội xuống từng đợt, tiếng vũ khí va chạm, tiếng súng pháo, tiếng ném bom, tiếng gào khóc, tiếng rít khàn trên khắp thế gian đều đổ dồn về phía y.

Và rồi mọi thứ nổ tung, rầm rầm sụp đổ, cuối cùng hóa thành một nơi chìm trong sự tĩnh lặng mờ mịt.

Khoảnh khắc pháo kích ập đến, Sài Thúc Tân vươn tay kéo mạnh người bên cạnh, giây tiếp theo đất trời sụp đổ, vạn vật tan hoang.

...

Tùng Vấn Đồng đứng giữa đống tàn tích, ngẩng mặt nhìn những vệt nắng đầu ngày, cả người hắn ngã ngửa ra sau, máu tươi bắn tung toé.

Ô Nghiệt rơi khỏi mặt trống, mưa lớn rửa trôi lớp bột màu trên mặt nàng, lộ ra dung nhan non trẻ như thiếu nữ.

Ô Tử Hư quỳ giữa cơn mưa, ôm tẩu Cô Vọng, nhặt túi tro tàn vương vãi trên đất.

Trong mộng nào hay thân là khách, Mấy thuở từng nghe tiếng đao binh.

Ngàn dặm chỉ còn nấm mồ lạnh, Muôn trùng sông núi khóa hồn mình.

Bình minh, Thành vỡ.

Một điệu múa khuynh thành.

Lại nghiêng cả giang sơn.

*Khúc Tướng Quân Na Vũ:

Cre: 浅凝

[ Edit by TeiDii ]

_________________

Chủ nhà: Ô Tử Hư ơi là Ô Tử Hư, sao cái số của anh nó thảm dữ vậy??!😭

***

Note: Tác giả có trích dẫn rất nhiều câu trong các bài thơ, văn của thi sĩ đời trước.

Mỗi một bài tác giả đều chú thích rõ ràng.

Cơ mà bản edit của tớ thì dịch xuôi luôn, cho nó đỡ rối, vs cả nếu để đúng mặt chữ thêm chú thích nữa thành ra mạch văn nó cứ bị ngắt ngắt sao sao ấy, hoặc đọc qua lại thấy nó khó hiểu.

Rồi xem cả nùi chú thích hồi rối não luôn, chủ nhà là một bà thím não tàn, nên cái nào khó quá mình xin phép cho qua nhé (dập đầu cáo lỗi).🙏🏻

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 33 [Lãng Đào Sa]


Chương 33

An Bình giật mình bừng tỉnh.

Trăm năm chuyện cũ trong mộng còn rõ mồn một, gần như trùng khớp với cảnh tượng trước mắt.

Cậu nhìn Ô Tất Hữu múa trong màn mưa, nếu không phải Mộc Cát Sinh vẫn đang ôm đàn tỳ bà ngồi hát bên cạnh, cậu suýt đã cho rằng người kia chính là Ngọc Diện Vô Thường năm ấy.

Đêm nay trời cũng đổ trận mưa lớn giống hệt năm đó.

An Bình rõ ràng cảm nhận được trong không khí tràn ngập một loại biến động khó diễn tả thành lời.

Chiếc trống cổ lớn dưới chân Ô Tất Hữu đặt ở cuối con phố dài, tuy cảnh vật đã đổi khác, nhưng An Bình nhìn là biết, đây chính là con phố từng phát sinh vụ bạo động của âm binh.

Mộc Cát Sinh nói sau khi quét sạch âm binh năm ấy vẫn còn sót lại ít oán khí, sau đó y dùng một đồng tiền Sơn Quỷ trấn lại.

Nhưng trăm năm trôi qua, phong ấn lỏng dần, sẽ lại có thứ gì đó bò lên từ Thang Âm Dương.

Huống hồ nơi này lại là khu phố hàng quán tấp nập, nhỡ có chuyện gì, hậu quả thật không tưởng nổi.

Có điều xem ra Mộc Cát Sinh đã có sắp xếp từ trước.

Con phố lặng ngắt, không một bóng người.

Thân hình Ô Tất Hữu xoay chuyển nhanh nhẹn, điệu múa như tuốt kiếm phá trận.

Rõ ràng cậu chỉ là một thiếu niên, vậy mà quanh thân lại dấy lên một luồng kiếm ý hào sảng, bén nhọn rẽ gió.

Mưa nặng hạt trút lên mặt trống, nhịp trống thùm thùm như thiên quân vạn mã trợ trận xông lên cùng cậu.

Tiếng mưa ồn ã, tiếng tỳ bà càng lúc càng dồn dập.

Thiếu niên xoay người liên tục, gần như biến thành một vòng tàn ảnh, nhưng khi An Bình lắng nghe tiếng tỳ bà, lờ mờ cảm thấy cậu ta đã múa lệch điệu.

An Bình dù gì cũng đã tận mắt nhìn thấy điệu múa khuynh thành năm đó, có thể nhận ra được sự khác biệt giữa hai người.

Mộc Cát Sinh chỉ có một cây đàn tỳ bà, nhưng khí thế không hề yếu hơn Tùng Vấn Đồng thuở trước.

Ô Tất Hữu còn trẻ, khúc Tướng Quân Na Vũ của cậu rõ ràng kém hơn một bậc so với cha mình.

Huống chi khúc Tướng Quân Na Vũ trăm năm trước cũng không phải một mình Ô Tử Hư hoàn thành, khi đó còn có Ô Nghiệt.

An Bình nhìn ra mặt trống dưới chân Ô Tất Hữu là quả cầu hoa của Ô Nghiệt, bên trong chứa gần năm trăm năm tu vi của Thái Tuế.

Giấc mơ của cậu kết thúc đúng ngay khoảnh khắc thành trì sụp đổ, kết cục của những người năm ấy, cậu hoàn toàn không biết.

Tu vi của Ô Nghiệt đã cạn kiệt, thứ còn đọng lại trong trí nhớ của cậu là gương mặt thiếu nữ dưới màn mưa đêm đó, ấy là lần đầu cậu thấy lớp hoá trang trên mặt nàng bị xoá đi, dung mạo tựa đoá phù dung, đẹp đẽ mà tang thương.

An Bình hơi thất thần.

Trên sân bách hý của quỷ giới ngày nay, liệu có còn ai diễn được điệu tung cầu hoa trên mười hai tầng tháp nữa không.

Tiếng đàn đột nhiên trở nên sắc bén, chói gắt đến cực hạn rồi nổ tung.

Ô Tất Hữu loạng choạng một nhịp trên mặt trống, cuối cùng ngã nhào xuống đất, nước văng tung toé.

Mộc Cát Sinh phẩy tay, toàn bộ dây đàn đồng loạt đứt.

Y đặt đàn tỳ bà xuống, xách một chiếc dù đi đến cạnh Ô Tất Hữu: "Múa không tệ, tiếc là vẫn còn thiếu chút máu lửa."

Nói rồi đưa dù cho An Bình: "Đỡ con gái tôi vào miếu.

Trong nồi còn hâm sẵn ít nước đường nâu."

An Bình vội nhận dù, chạy đến đỡ Ô Tất Hữu, nhưng vừa đến gần đã bị đối phương gắt gỏng đẩy ra.

Thiếu niên nghiến răng đứng dậy: "Tôi còn nhảy được!"

"Đừng quậy nữa."

Mộc Cát Sinh nhàn nhạt nói: "Con còn nhỏ, về giường ngủ đi."

Lời còn chưa dứt, dưới lòng đất vang lên một trận rung lắc dữ dội.

Cả dãy phố chấn động như sắp có thứ gì phá đất trồi lên.

An Bình từng thấy cảnh này rồi, khi âm binh tràn ra từ Thang Âm Dương năm ấy cũng hệt như thế.

Ô Tất Hữu tái mặt, chửi đổng một câu rồi túm lấy An Bình: "Mẹ kiếp, đi theo tôi!"

An Bình bị cậu kéo chạy một mạch về miếu Thành Hoàng.

Ô Tất Hữu đóng cửa, gài then, liếc qua cậu một cái: "Không sợ hả?"

An Bình thầm nghĩ: Có gì đáng sợ đâu, tôi còn từng thấy qua cảnh tượng hoành tráng hơn nữa cơ, nói ra e doạ cậu phát khiếp!

Miếu Thành hoàng giống như một tấm bình phong ngăn cách với thế giới bên ngoài, rung chấn dưới lòng đất đã biến mất, đèn lồng trên mái hiên không biết đã sáng lên lại từ lúc nào.

Bốn bề vắng lặng, ngay cả mưa cũng trở nên dịu dàng hơn.

Nhưng Ô Tất Hữu lại rất bức bối, cứ đi lòng vòng trong sân, cuối cùng giậm chân một cái, rồi lại mở khóa kéo cửa miếu hé ra một khe hở nhỏ.

Mưa bão và sấm chớp lập tức tràn vào.

Hai người rúc đầu nhìn qua khe cửa, bên trong và bên ngoài như hai thế giới hoàn toàn khác nhau.

Mộc Cát Sinh đội mưa đứng một mình trên con phố.

Gió cuốn bay mái nhà xung quanh, mặt đất nứt ra, vô số kẽ nứt vươn dài tựa rắn bò, như thể có thứ gì đang nổi loạn dưới lòng đất.

Vết nứt lan từ bên kia con phố tới chân Mộc Cát Sinh, nhưng rồi như đụng trúng vật cản, một tiếng nổ khủng khiếp vang lên, mặt đất sụp đổ ầm ầm.

Thế nhưng Mộc Cát Sinh vẫn đứng nguyên không nhúc nhích, vững chãi như núi.

Lấy y làm ranh giới, con phố dài bị chia cắt thành hai nửa, một nửa gần như đổ nát hoang tàn, một nửa vẫn còn nguyên vẹn không bị tổn hại chút gì.

Một sức mạnh khủng khiếp nào đó đã bị y cản lại, hai bên không ngừng đấu sức giằng co, từ sâu trong lòng đất vang lên loáng thoáng những tiếng gầm lớn đầy giận dữ.

Trong màn mưa có một chấm sáng màu xanh lục lóe lên, đó là tiền Sơn Quỷ trong tay Mộc Cát Sinh.

An Bình nhìn mà lo lắng không thôi: "Anh ấy chịu nổi không?"

"Không chịu nổi cũng phải cố mà chịu!"

Giọng Ô Tất Hữu cất lên từ trên đầu An Bình, âm thanh như nghiến qua kẽ răng: "Ông ấy là trung tâm của toàn bộ kết giới trong khu phố này.

Chỉ cần lùi một bước, oán khí sẽ phá tan Thành Hoàng Miếu, cả khu phố cũng toi luôn."

"Vậy lúc nãy cậu múa khúc Tướng Quân Na Vũ để làm gì?"

"Đậu mé, ông là đang dốc sức trấn áp một nửa oán khí trong Thang Âm Dương, nên bạo động mới xảy ra muộn thế đó!"

Ô Tất Hữu gào đến ù tai An Bình: "Nhưng đã múa xong đâu? oán khí tàn dư sẽ bị kích động, đợt phản công tiếp theo sẽ rất khủng khiếp... không đúng!"

Thiếu niên nhíu mày, túm tóc An Bình: "Sao cậu biết khúc Tướng Quân Na Vũ?

Lão bất tử còn đem chuyện này kể cho cậu hả?!"

An Bình bị túm tóc kéo ngược đến mức hai mắt trắng dã: "Cậu... cậu thả tôi ra cái đã..."

Trong lúc cả hai đang lôi kéo giành giật nhau, thì đột nhiên có một tiếng sấm nổ vang lên ở đằng xa.

Cổng chính của miếu Thành Hoàng bật mở, hai người lập tức bị hất văng xuống đất.

An Bình lồm cồm bò dậy: "Chuyện gì nữa vậy...

Đó là thứ gì?"

Ô Tất Hữu đằng sau hấp tấp bật dậy vô ý đạp một cái, lại hất An Bình ngã xuống đất: "Chết tiệt! cuối cùng cũng đến rồi!"

Trên cao mây đen dày đặc, một tiếng hạc kêu dài xé màn đêm, mưa bão trong phút chốc như ngưng đọng, một tia sáng lao xuyên qua đám mây.

An Bình nheo mắt nhìn kỹ, trong ánh sáng có thứ gì đó đang đung đưa, ấy là một cây phất trần.

Ô Tất Hữu lắc đầu phẩy nước, thở phào một hơi như vừa trút được gánh nặng: "Có hai người họ ở đây, đêm nay có thể yên giấc rồi."

An Bình lảo đảo đứng lên, nhìn bóng người trong ánh sáng đằng xa: "Đó là ai?"

"Trường Sinh Tử đời này, môn chủ phái Bồng Lai - Lâm Quyến Sinh."

An Bình vốn muốn nhìn thêm, nhưng Ô Tất Hữu không cho, khép kín cửa lại.

Cậu ta đi vào gian bếp bưng ra một nồi nước đường nâu lớn, hai người ngồi dưới mái hiên, mỗi người ôm một cái ca sắt.

Tiếng mưa rơi xào xạc, An Bình định hỏi một chút về chuyện Lâm Quyến Sinh nhưng lời nói vừa đến miệng lại nuốt trở về.

Ô Tất Hữu uống một hơi hết ca nước, cả hành lang vang lên tiếng nước ừng ực.

An Bình len lén nhìn cậu, thấy thiếu niên trước mặt mâu thuẫn khó tin, rõ ràng hễ gặp Mộc Cát Sinh là chửi rủa om sòm, nhưng đôi lúc lại rất nghe lời y.

Huyết mạch của Ô Tử Hư, được Mộc Cát Sinh nuôi dưỡng, lại thừa kế Nghiệp Thủy Chu Hoa của Tùng Vấn Đồng, Ô Tất Hữu như thừa kế mỗi người một ít từ ba vị kia.

Cậu ta có khí chất sắc bén giống như Tùng Vấn Đồng, nhưng lại thiếu mất vài phần hào sảng phóng khoáng của người nọ.

Vì thế sự sắc bén ấy trở thành gai nhọn, tạo thành sự gắt gỏng thiếu bình tĩnh che giấu nội tâm cứng cỏi cô độc của thiếu niên.

An Bình thầm nghĩ hình như Ô Tất Hữu không đi học, không thấy cậu ta có người bạn đồng trang lứa nào cả.

Quãng thời gian niên thiếu mà Mộc Cát Sinh và nhóm bạn năm xưa đã trải qua, giờ đây thiếu niên này chỉ có thể đối mặt một mình.

Suy cho cùng, biết tìm đâu ra một Ngân Hạnh Thư Trai thứ hai.

An Bình cảm thấy Ô Tất Hữu rất đáng thương, nhưng nếu giờ cậu mở mồm gọi nó là 'em trai', e rằng bị nó đánh chết.

Nước đường nâu dường như có pha thêm dược liệu an thần, cơn buồn ngủ trĩu nặng ập tới, An Bình mơ mơ màng màng nghĩ, Ô Tất Hữu vẫn là một cậu trai đang tuổi ăn tuổi lớn mà thôi...

Thiếu niên cuối cùng vẫn là thiếu niên.

Khi An Bình thức dậy đã là sáng hôm sau, trời sau mưa quang đãng, cậu mở cửa sổ, hít một hơi không khí mát lành.

Trong sân đặt vài chậu cây, thoang thoảng mùi cỏ cây nhẹ nhàng.

Cậu chợt nhớ tới câu Mộc Cát Sinh nói hôm qua: Đợi mưa qua trời tạnh, vạn sự hanh thông.

"Dậy rồi à?"

Một giọng nói cắt ngang dòng suy nghĩ của An Bình.

Cậu thấy cách đó không xa có một người, chính là Lâm Quyến Sinh, đại đệ tử phái Thiên Toán năm xưa, giờ là chưởng môn Bồng Lai.

Mộc Cát Sinh từng kể rằng phái Bồng Lai cầu tiên hỏi đạo, môn hạ toàn là bán tiên, tu sĩ ai nấy đều mang tướng trường sinh.

Lâm Quyến Sinh vốn là Trường Sinh Tử, dung mạo qua bao năm không hề đổi khác, vẫn y như chàng thanh niên đánh cờ trong gian thủy tạ năm nào.

Chỉ là chàng thanh niên ấy hiện giờ đang mặc quần vải áo bông, tay ôm cái ca sắt tráng men giống hệt Mộc Cát Sinh, ca nền trắng in hàng chữ đỏ "Vì nhân dân phục vụ".

Thần tiên thời nay ai cũng bình dân vậy sao?

An Bình còn đang thất thần thì Lâm Quyến Sinh đã bước lại.

Anh đưa ca sắt cho An Bình: "Tào phớ đấy, cậu ăn ngọt hay ăn mặn?"

An Bình chưa kịp phản ứng, vô thức đáp: "Mặn ạ."

Lâm Quyến Sinh khẽ cười, dùng ngón tay gõ nhẹ lên nắp rồi mở ra lần nữa.

Bên trong là bát tào phớ nóng hổi, rắc thêm hành hoa và mè rang.

An Bình sững sờ nhận lấy chiếc thìa, nếm một miếng.

Hương vị thanh mềm, thơm bùi lan ra khắp miệng.

Cậu âm thầm nghĩ làm thần tiên đúng là tiện thật.

"Ta nghe sư đệ nhắc đến cậu rồi."

Lâm Quyến Sinh đứng ngoài cửa sổ, giọng nói ôn hòa: "Giữa cậu và sư đệ có một đoạn duyên phận.

Gần đây sóng ngầm dâng lên, hai người các cậu vất vả nhiều rồi."

"Không có đâu ạ."

An Bình nghe vậy liền nghẹn một miếng tào phớ trong cổ họng, vừa ho sù sụ vừa xua tay: "Tôi chỉ là đứa chuyên kéo chân sau thôi, đạo trưởng đừng cười chê."

Lâm Quyến Sinh bật cười, đưa cho cậu một gói khăn giấy: "Đừng vội, cứ từ từ ăn."

An Bình trước nay chỉ gặp Lâm Quyến Sinh trong mộng một lần, hoàn toàn không đoán được tính khí của vị Trường Sinh Tử này thế nào.

Đã vậy lại chẳng dám kiếm cớ trốn đi, chỉ đành ôm ca sắt tráng men, nơm nớp lo sợ mà nói chuyện cùng người ta.

May thay, tính cách của Lâm Quyến Sinh cũng có vài phần ung dung thoải mái như Mộc Cát Sinh, khác ở chỗ dịu dàng ấm áp hơn nhiều, khiến người đối diện như được tắm gió xuân.

"Gốc ngân hạnh này được chuyển từ thư trai về đây, tuổi còn lớn hơn cả ta."

Lâm Quyến Sinh chỉ vào cây ngân hạnh giữa sân: "Sư đệ nuôi thứ gì cũng khó sống nổi, chỉ mỗi cây này là chăm rất tốt."

Đối phương nói vu vơ rất nhiều, An Bình cũng dần thả lỏng, ăn hết một ca tào phớ: "Lần đầu tiên tôi gặp bán tiên là lúc cái cây này vẫn còn trổ lá vàng ươm."

Cậu kể chuyện đến đưa bài tập về nhà cho Mộc Cát Sinh: "Hoàng Ngưu ở cổng còn lừa tiền vé của tôi."

Bây giờ nhớ lại mọi chuyện lúc đó, cảm thấy có chút vi diệu.

Lâm Quyến Sinh bật cười: "Cậu nói người gác cổng à, vậy thì chắc hẳn là Thành hoàng nơi này rồi."

"Thành Hoàng?"

"Thành Hoàng là thần giữ thành, bảo hộ dân chúng, cậu có thể hiểu như nha môn của âm ty đặt ở nhân gian.

Thành Hoàng gia cai quản mọi việc trong thành, trừ tai giải nạn, ban phúc phát tài."

Lâm Quyến Sinh từ tốn giải thích: "Nếu muốn hiểu thêm, cậu có thể đọc Liêu Trai Chí Dị hoặc Thái Bình Quảng Ký, trong đó có nhiều chuyện về Thành Hoàng lắm.

Trong các loại quỷ thần bốn phương, Thành Hoàng là vị thần gần gũi với muôn dân nhất, chuyên phù hộ một phương bình an."

An Bình chợt nhớ đến pho tượng thần lôi thôi trong hương đường, nghèo đến mức ê răng: "Hoàng Ngưu đã là Thành Hoàng gia rồi, sao giờ lại đi làm người gác cổng?"

"Tu Hú chiếm tổ."

Lâm Quyến Sinh cười khổ: "Sư đệ là Thiên Toán Tử, ai cãi nổi đệ ấy!"

Quả nhiên là vậy.

"Nhưng phố Thành Tây là nơi phong ấn Thang Âm Dương, sư đệ trấn giữ chỗ này cũng hợp lý."

Lâm Quyến Sinh lại nói: "Miếu thành Hoàng nhiều năm về trước hương khói thưa thớt, đổi lại là chỗ khác thì Thành Hoàng có lẽ đã biến mất từ lâu rồi.

Thành Hoàng nơi đây nhờ hưởng chút vận khí của Thiên Toán Tử mới tồn tại được đến nay, thế là Hoàng Ngưu lấy đó tính làm tiền thuê nhà cho sư đệ."

Hai người đang trò chuyện thì cổng miếu Thành Hoàng bỗng mở ra.

Hoàng Ngưu đeo băng tay đỏ đi vào, khom người chào Lâm Quyến Sinh: "Trường Sinh Tử."

Rồi quay sang An Bình, giơ cái túi nhựa trong tay lên: "Lại gặp cậu chủ nhỏ rồi.

Ăn sáng chưa?"

An Bình còn cách xa đã ngửi thấy mùi thơm của bánh cuộn trứng, thầm nghĩ thần tiên quỷ quái nơi này đúng là mỗi người một kiểu, sống chan hoà với người phàm trần: "Có cho ớt không?"

"Có."

Hoàng Ngưu đáp: "Còn cho thêm cả xúc xích."

Lời còn chưa dứt, ngoài cổng lại có một người khác đi vào, lần này là Ô Tất Hữu.

Thiếu niên ôm mũ bảo hiểm, mặc đồng phục giao đồ ăn, sau đó ném một cái túi giấy cho An Bình: "Trả tiền!"

Trong túi là bánh bao kim sa và cháo hoa quế, bên ngoài còn ghim kèm hóa đơn đặt hàng.

An Bình khó hiểu: "Tôi có đặt đồ ăn đâu?"

"Tôi đặt."

Ô Tất Hữu mở màn hình điện thoại di động, giơ mã thanh toán QR đến trước mặt An Bình: "Ông đang đi làm thêm, quẹt đơn hàng dùm cái."

An Bình ngồi xổm trong sân ăn một đống thức ăn, no đến sắp chết.

Sau đó theo Lâm Quyến Sinh tập Thái Cực để tiêu hóa.

Tập được nửa chừng, cậu mới nhớ ra hôm nay chưa thấy Mộc Cát Sinh đâu: "Trường Sinh Tử, bán tiên đâu rồi?"

"Sư đệ ở trên gác, còn chưa dậy."

Lâm Quyến Sinh chỉnh động tác cho cậu: "Thể chất của đệ ấy đặc biệt, tối qua tiêu hao quá nhiều, phải ngủ bù lại."

An Bình nghĩ đến chuyện Mộc Cát Sinh từng nói mình vốn là người đã chết, cậu băn khoăn nhìn lên căn gác nhỏ, thắc mắc không biết trong đó có đặt cỗ quan tài nào không.

May mà giờ đang là mùa đông, vào hè thì thối rữa mất!

Vì trường bảo trì sửa chữa toà phòng học, trường trung học phổ thông số một cho nghỉ Tết sớm.

An Bình phần lớn thời gian đều ở miếu Thành Hoàng.

Lúc thì học đánh cờ với Lâm Quyến Sinh, lúc lại kết đội chơi game với Ô Tất Hữu.

Vài ngày rỗi thì đến Nghiệp Thủy Chu Hoa ăn chực, gặp hôm nào quán đông khách thì bị túm lại làm cu li trông quầy thu ngân.

Nhà họ An mấy đời làm thương nhân, An Bình từ nhỏ đã chứng kiến việc làm ăn của bố mẹ nên rất thạo việc.

Cậu tiện tay giúp Ô Tất Hữu sắp xếp lại sổ sách mấy tuần gần đây, từ đó mở ra con đường làm công không lương cho Nghiệp Thủy Chu Hoa.

Mỗi ngày cậu đều đi đi về về giữa hai điểm Nghiệp Thủy Chu Hoa và miếu Thành Hoàng, đến lúc nằm mơ cũng nghe toàn là âm thanh reset, reset của máy tính như đang tẩy não.

Sau này An Bình mới phát hiện Nghiệp Thủy Chu Hoa thật luôn mở cửa suốt đêm, chỉ là sau nửa đêm thì không tiếp người sống.

Trong quán có một cái thang máy, ban ngày không thấy đâu, đến nửa đêm đúng mười hai giờ thì hiện ra, chở khách từ mười tám tầng địa ngục lên sảnh lớn.

Khách khứa khi này đều là yêu ma quỷ quái của Phong Đô.

Lúc đầu còn có quỷ tưởng An Bình là nguyên liệu nấu ăn, suýt nữa thì bỏ cậu vào nồi hầm.

Sau này quen mặt rồi, cậu có thể bình tĩnh đón khách, tay cầm cả xấp tiền âm phủ để thối lại cho người ta.

Nhân viên trong Nghiệp Thủy Chu Hoa có người được thuê từ Phong Đô, cũng có người thuộc Âm Dương gia.

An Bình tính tình dễ gần, chẳng mấy chốc đã hòa thành một đám với họ.

Một hôm rảnh rỗi, có người bâng quơ nói gần đây buôn bán bận rộn hẳn lên.

"Đúng là phát đạt thật."

An Bình xuýt xoa.

Ngày nào cậu cũng bận đến chân không chạm đất.

Nhưng ngẫm lại thì thấy lạ: "Chẳng lẽ ngày thường vắng khách lắm ư?"

"Cũng đông, nhưng dạo này hơi khác."

Một nhân viên đến từ Phong Đô ghé vào tai cậu: "Cậu không biết đấy thôi.

Khách đến Nghiệp Thủy Chu Hoa đều là nhân vật có máu mặt ở Phong Đô.

Ma quỷ bình thường làm gì muốn lên dương gian thì lên được.

Bình thường nửa đêm có mười mấy bàn là đông lắm rồi, không đến mức khách ngồi kín chỗ như mấy ngày nay đâu!"

An Bình nhớ tới mấy ngày trước cậu thực sự đã nhìn thấy Thôi Tử Ngọc, đối phương làm chủ đãi khách mấy bàn lớn.

Có thể được tứ đại phán quan mở tiệc chiêu đãi thì chắc chắn không phải quỷ sai bình thường.

Có người thì thầm nói: "Chẳng phải khoảng thời gian trước có tin đồn là đã xảy ra chuyện gì đó sao, dưới Phong Đô cũng bận biệu lắm."

"Lẽ nào là sát hạch cuối năm?"

An Bình nói đùa: "Quỷ sai cũng phải tính thành tích để xét thưởng cuối năm sao?"

Mọi người vui vẻ, phổ cập hệ thống quy chế của Phong Đô cho An Bình biết.

Thời thế đổi thay, địa phủ cũng đang bắt kịp thời đại, An Bình lắng nghe mà ngạc nhiên không thôi, cuộc trò chuyện cứ thế mà chuyển chủ đề.

An Bình biết dù sao mình cũng là một người sống, lai lịch không rõ ràng, không nên quá tò mò chuyện ở Âm ty.

Nhưng cậu có thể lờ mờ đoán được chuyện mọi người đang bàn đến, chắc hẳn là có liên quan tới ngày Thang Âm Dương xảy ra biến động.

Mộc Cát Sinh sau khi trấn áp âm binh liền ngủ một mạch đến nay, như người bị hôn mê sâu.

Nhưng việc này cũng chẳng tới phiên An Bình lo.

Rất nhanh đã sắp đến Tết Nguyên Đán.

Bố mẹ An Bình bận việc kinh doanh ở nước ngoài không về được, cậu dứt khoát ở lại miếu Thành Hoàng ăn Tết.

Cuối năm là dịp hiếm hoi miếu Thành Hoàng đông vui náo nhiệt, phố Thành Tây mở hội du xuân, cả con đường treo đèn lồng đỏ rực, Hoàng Ngưu đếm tiền cúng dường mỗi ngày mà cười đến ngoác mồm, ngay cả tượng thần cũng như béo lên một vòng.

Gần đây người đến miếu dâng hương đông quá, sân trước ngày nào cũng khói nhang nghi ngút, thế là cả bọn chuyển ra sinh hoạt ở sân sau.

Mới tờ mờ sáng sạp hội đã mở hàng, cả ngày đều đông vui ồn ã.

Múa lân, múa rồng, diễn xiếc, đủ loại trò.

Người nặng tò he, người vẽ tranh đường, thậm chí có mấy ông bói dạo dựng sạp ngay cổng miếu Thành Hoàng.

An Bình nhìn mà bật cười, Mộc Cát Sinh còn ngủ say li bì, chẳng biết có hay mình đang bị "đồng nghiệp" đến tận cửa giựt mối làm ăn không.

Ngày giao thừa có tuyết rơi.

Sáng sớm An Bình đã bị tiếng chiêng trống huyên náo đánh thức, cậu ngáp dài một cái rồi ra ngoài đi dạo.

Trong miếu hội có rất nhiều quầy hàng ăn vặt, mua đại mấy món gì đó là có thể làm đồ ăn sáng.

Cậu mua mấy miếng bánh dày đường đỏ và một chén canh hạt sen đựng trong ca sắt tráng men, sau đó lim dim ngái ngủ đi về, mơ mơ màng màng đẩy cửa sân sau ra.

Rồi cậu giật bắn người.

Trong sân có một người thanh niên cao dong dỏng đang đứng trên nền tuyết.

Người ấy mặc áo khoác đen, đứng yên lặng giữa sân, tay cầm một tờ giấy cắt hoa dùng để trang trí cửa sổ, vẻ mặt an tĩnh.

An Bình đứng hình mấy giây mới lấy lại tinh thần, rồi ngoái đầu nhìn ra cửa thấy hai câu đối đỏ đã được dán lên.

Người thanh niên trước mặt nhìn rất quen, cậu còn đang mớ ngủ, cố vận hành cái đầu đang chết máy của mình nhớ xem người này là ai.

Ngay lúc này bỗng một cơn gió lướt qua, trong không khí thoang thoảng hương mai nhàn nhạt.

Bốn mắt giao nhau, An Bình giật mình thêm lần nữa, lập tức tỉnh táo hẳn, vì cậu đã nhận ra người này là ai rồi.

Đương lúc cậu còn đang lắp bắp chẳng biết mở lời thế nào, thì cửa sổ phòng trên gác "cạch" một tiếng mở ra, có tiếng cười truyền xuống sân.

Cậu ngẩng lên thì thấy Mộc Cát Sinh chống cằm tựa vào khung cửa sổ, hai mắt lờ đờ nhìn vào biết ngay mới vừa tỉnh giấc: "Ôi chao - thơm đến mức khiến người chết như tôi cũng phải tỉnh dậy."

Y lại liếc sang An Bình, giọng bông đùa: "An Bình nhi à, cậu biết hoa mai khi nào thì nở không?"

An Bình còn đang sững sờ, chẳng kịp phản ứng: "Hả?"

Mộc Cát Sinh nằm nhoài trên khung cửa sổ cười hì hì, giọng lười nhác vang khắp sân: "Tháng Chạp mai nở hoa, Tam Cửu Thiên lại đến."

[ Edit by TeiDii ]

______________

Chủ nhà: Ck về cái là dậy liền hà, tui tưởng đợi ảnh lên hun mới tỉnh chớ!(⁠.⁠ ⁠❛⁠ ⁠ᴗ⁠ ⁠❛⁠.⁠)

*Top các món pháp bảo đã lên sàn:

-Top 2: Sơn Quỷ Hoa Tiền của Thiên Toán Tử; Đao Thỉ Hồng của Mặc Tử; Tẩu Cô Vọng của Vô Thường Tử; Cây Phất Trần của Trường Sinh Tử.

-Top 1: Ca sắt tráng men ở miếu Thành Hoàng =))

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 34


Chương 34

Câu nói của Mộc Cát Sinh đã xác nhận suy đoán của An Bình, chàng thanh niên trước mắt cậu chính là Sài Thúc Tân.

Gương mặt anh vẫn lạnh nhạt như xưa, bình thản gật đầu với An Bình, rồi nhìn lên khung cửa sổ trên gác chỗ Mộc Cát Sinh đang ngồi: "Tôi về rồi."

"Về đúng lúc."

Mộc Cát Sinh vươn vai, nhảy từ bậu cửa sổ xuống: "Vừa hay tôi vẫn chưa ăn sáng."

"Muốn ăn gì?"

"Mì Dương Xuân, nước dùng đậm một chút."

Mộc Cát Sinh tiện tay cầm lấy ca sắt tráng men trong tay An Bình, mở nắp nếm thử một ngụm: "Ngon đấy, canh hạt sen của tiệm này chỉ bán vào mỗi tháng giêng, năm nào cũng ngon."

Sài Thúc Tân quay vào bếp, An Bình vẫn còn đứng sững sờ, Mộc Cát Sinh giơ tay búng cái tách trước mũi cậu: "Tỉnh lại đê!"

Y cười lém lỉnh: "Mắt trừng to thế, chưa thấy trai đẹp bao giờ à?"

An Bình lúc này mới hoàn hồn, sửng sốt: "Tôi không ngờ anh ấy còn sống..."

"Đã chết rồi."

Mộc Cát Sinh chặn lời cậu: "Cũng giống như tôi."

An Bình lại ngớ người, chưa kịp hỏi thêm gì thì Mộc Cát Sinh đã bưng cốc tráng men đi mất: "Nào, đi dạo miếu hội thôi."

Trước khi đi không quên để lại một câu: "An Bình nhi, không cần hỏi, sau này tự khắc biết."

Mộc Cát Sinh đi qua sân trước, tiện tay vơ lấy một nắm tiền trong hòm công đức, Hoàng Ngưu thấy thế hét toáng lên: "Sao lại lấy tiền hương hoả của tôi?!"

"Chút nữa trả!"

Mộc Cát Sinh phất tay, chuồn mất.

Miếu hội ngoài cửa đã rộn ràng tiếng trống chiêng, trên phố có hai con lân đỏ đang tranh giành một quả cầu hoa.

Thoắt một cái, Mộc Cát Sinh đã lẫn vào trong đám đông.

Đến khi An Bình vất vả tìm được thì đương thấy y đang ngồi xổm trước sạp bói toán, trong tay cầm một cây kẹo mật hình Trư Bát Giới.

Đường đường là Thiên Toán Tử lại đi tranh mối làm ăn nhỏ với mấy ông thầy bói dạo, An Bình nhìn mà cười bất lực, cảm thấy da mặt Mộc Cát Sinh đã dày thêm một lớp.

Khi cậu bước tới gần, loáng thoáng nghe được mấy câu nói của Mộc Cát Sinh: "Ông anh, trong bát của ông toàn đồng xu lẻ, chỗ tôi có mấy tờ tiền chẵn, đổi với tôi được không?"

An Bình: "......"

Ông thầy bói lườm Mộc Cát Sinh, thấy y đang gặm nguyên cái đầu Trư Bát Giới bằng kẹo mật.

"Không đổi miễn phí đâu.

Thế này nhé!

Tôi tính cho ông một quẻ, xem coi hôm nay ông kiếm được bao nhiêu."

An Bình cạn lời sâu sắc, mắc cỡ quá không muốn nhìn nữa, vừa quay đi quay lại đã thấy Mộc Cát Sinh thế mà đổi được tiền thật, không chỉ vậy, y còn cuỗm luôn cái bát sành đựng tiền của người ta.

An Bình theo gót Mộc Cát Sinh đi dạo khắp phố, thấy y đổi bát sành lấy đèn lồng, đổi đèn lồng lấy kẹo hồ lô, đổi kẹo hồ lô lấy con hổ bông trong tay một đứa trẻ...

Thật là, hội miếu cứ thế bị y biến thành sàn giao dịch đổi đồ.

Cuối cùng y nhảy bật lên, tranh thủ lúc ồn ã náo nhiệt, lấy luôn quả cầu hoa trên không trung.

Hai con lân nhảy lên chụp cầu hoa, lúc ngậm vào miệng mới nhận ra, thứ mình chơi cả buổi lại là một con hổ bông.

Đứa nhỏ kia ăn xong kẹo hồ lô thì ngơ ngác nhìn hai con lân, hít mũi mấy cái rồi oà khóc: "Chúng giành hổ bông của con!"

Mộc Cát Sinh ung dung trở về miếu Thành Hoàng, đặt mớ tiền xu vào quầy bán vé, gõ gõ vào cửa quầy: "Tiền hương hoả của ông đây."

Y đi chơi cả buổi, thật sự không tốn một đồng.

An Bình nhìn mà không thốt nên lời.

Lát sau cậu mới hỏi: "Anh đổi tiền ở sạp bói kiểu gì vậy?"

"Cái đó hả..."

Mộc Cát Sinh nháy mắt: "Tôi bảo với ông ta rằng con gái tôi là quản lý đô thị."

An Bình: "...Thực ra tôi vẫn luôn muốn hỏi, Ô Tất Hữu còn là trẻ vị thành niên, sao cậu ta làm quản lý đô thị được thế?"

Mộc Cát Sinh ngáp dài: "Nó là Vô Thường Tử, có trách nhiệm tuần tra nhân gian.

Ngoài việc trị mấy kẻ làm bậy phạm pháp, còn lo thu phục cô hồn dã quỷ lang bạt trên dương gian.

Nói nôm na giống như Nhật Dạ Du Thần* của Phong Đô, chỉ là khoác thêm cái chức vụ phàm trần cho đẹp mặt thôi."

(*)Nhật Du Thần và Dạ Du Thần: Đây là hai vị thần tuần tra của địa phủ trong tín ngưỡng dân gian Trung Hoa.

Họ luân phiên tuần tra ngày và đêm, phụ trách giám sát quỷ hồn, giữ trật tự âm dương.

Cánh cửa sân sau kêu "cạch" một tiếng, Sài Thúc Tân bước ra, tay bưng một chiếc bát sứ trắng đang bốc hơi nghi ngút: "Ăn thôi."

"Được, tới rồi tới rồi."

Mộc Cát Sinh nhận lấy bát, trong bát có vắt mì tơi kèm nước súp màu nâu sẫm, rắc thêm hành lá cắt nhuyễn, An Bình nhìn mà nuốt nước bọt.

Hoàng Ngưu ra khỏi quầy kéo tay cậu: "Đi, xuống bếp múc mì ăn."

An Bình đi theo Hoàng Ngưu vào phòng bếp ở sân sau.

Gian phòng này bình thường chỉ để trang trí, hôm nay lại nổi lửa.

Trong bếp có một nồi mì sợi, một nồi nước dùng.

"Này là nấu cho cả nhà ăn nè."

Hoàng Ngưu múc một bát mì, rồi tự mình bật bếp làm một quả trứng chần, mãn nguyện thốt một câu: "Cuối cùng người biết nấu ăn cũng về rồi."

An Bình cũng múc một bát.

Trong mơ cậu chỉ thấy Sài Thúc Tân nấu cơm duy nhất một lần, không ngờ tay nghề của anh lại tốt như vậy.

Lúc cậu mơ về những ngày ở Ngân Hạnh Thư Trai, ngày nào cũng xem Tùng Vấn Đồng xuống bếp nấu nướng, tiếc là chỉ có thể nhìn mà không thể ăn, khiến cậu thèm đến mức cồn cào ruột gan.

Rốt cuộc thì hôm nay cũng có lộc ăn, An Bình và Hoàng Ngưu ngồi luôn trong bếp, ăn đến quên trời đất.

"Đêm nay là Giao Thừa."

Hoàng Ngưu đặt bát xuống, quay sang mở nắp nồi, chậu, chum vại, thấy gà vịt đã được sơ chế sẵn ướp trong chum, cá tôm ngâm trong nước, còn có thêm vài thúng rau: "Với chỗ thức ăn này, chắc tối nay sẽ bày một mâm tiệc lớn đây."

An Bình nhìn ra ngoài cửa sổ, không biết nên xưng hô với Sài Thúc Tân như thế nào, cậu do dự một lát rồi hỏi bâng quơ: "Vị kia...

Anh ấy sống ở đây sao?"

"Ừ."

Hoàng Ngưu lại cúi đầu ăn mì: "Mấy ngày qua có chút việc cần xử lý, vị ấy hiếm khi ra ngoài lắm, vừa hay lúc cậu đến thì bận.

May mà về đúng ngày giao thừa, không thì với tay nghề của Thiên Toán Tử, phỏng chừng cả miếu chúng ta đêm ba mươi phải ra ngoài cổng hít gió Tây Bắc mất!"

"Công việc nấu nướng hằng ngày đều do anh ấy làm à?"

Hoàng Ngưu cười cười, nhìn ra ngoài cửa sổ: "Cũng không hoàn toàn."

Có hai người đang đứng ở sân sau, Sài Thúc Tân dọn bát, Mộc Cát Sinh đứng ở ngưỡng cửa dán câu đối.

Hoàng Ngưu nói đúng, chiều hôm đó gian bếp lại nhóm lửa, chiên nấu hầm xào, mùi thức ăn thơm phức lan tỏa khắp sân.

An Bình ngồi dưới mái hiên chơi cờ cùng Mộc Cát Sinh, cậu đã theo Lâm Quyến Sinh học đánh cờ mấy ngày, cũng có chút tiến bộ.

Dù thế cậu vẫn chuẩn bị tâm lý trước.

Quả nhiên, thua tan nát.

"An Bình nhi, cậu lại thua rồi."

Mộc Cát Sinh tung tung quân cờ trong tay: "Có muốn chơi cờ caro không?"

Y vừa hạ cờ vừa trêu, chơi một hồi quân cờ trên bàn xếp thành một gương mặt cười nham nhở, An Bình hoàn toàn suy sụp: "Không chơi nữa!"

"Đừng thế chứ, cậu theo đại sư huynh tôi học đánh cờ mà, cứ vậy nhận thua thì mất mặt lắm."

An Bình không dễ mắc câu: "Trường Sinh Tử cũng từng thua anh, không mất mặt."

Mộc Cát Sinh nhún vai: "Đáng tiếc đại sư huynh không có ở đây, chúng tôi đã rất lâu rồi không chơi cờ với nhau."

Lâm Quyến Sinh là môn chủ Bồng Lai, mấy ngày trước trên Bồng Lai có việc nên đã trở về sớm.

Rảnh rỗi không có việc gì làm, Mộc Cát Sinh vào phòng bếp lượn một vòng, ôm ra một cái chậu lớn đựng đầy củ sen vừa mới chiên xong, màu vàng ươm, giòn rụm, ngồi nhai rôm rốp giữa sân.

An Bình nghe mà chịu hết nổi, cậu quay vào phòng lấy ba lô, lôi ra hai xấp đề thi dày cộp.

"An Bình nhi à, sắp đến tết rồi."

Mộc Cát Sinh nhíu mày nhìn: "Cậu không cần phải chăm chỉ đến vậy đâu, ba mươi tết còn giải đề thi à?"

An Bình cười thầm, đặt một xấp đề trước mặt Mộc Cát Sinh: "Đống này là của anh, bạn học Mộc."

"Cùng nhau phấn đấu, chăm chỉ làm bài tập đi."

Không ngoài dự đoán, Mộc Cát Sinh đời nào chịu làm bài tập, y lấy xấp đề thi gấp thành máy bay giấy, ném khắp sân.

An Bình không nhịn được, vừa định mở miệng nói thì cánh cửa sân sau kẽo kẹt mở ra: "Lão bất tử tỉnh chưa...

Moá!!!"

Người đến là Ô Tất Hữu.

Mộc Cát Sinh vừa ném máy bay giấy vào mặt cậu.

"Con gái đến rồi à."

Mộc Cát Sinh vẫy tay, cuối cùng cũng tìm được trò vui mới: "Lại đây khấu đầu với cha, cha cho con lì xì."

Ô Tất Hữu hình như đang mang quà tết qua thật, tay xách nách mang túi lớn túi nhỏ, nhưng vừa nghe một câu nói của Mộc Cát Sinh đã xù lông: "Khấu cái đầu ông ấy!"

"Dám ăn nói với cha kiểu đó à, không biết lớn nhỏ gì cả, coi chừng năm nay không cao thêm được đâu."

Mộc Cát Sinh lau tay: "Vừa hay Tam Cửu Thiên đã về, tối nay ở lại ăn bữa cơm tất niên đi."

Ô Tất Hữu có vẻ kiêng dè Sài Thúc Tân, nó liếc vào bếp, cứng nhắc đáp: "Không ăn."

Nói xong liền đặt hết mớ quà tết xuống, rồi quay lưng định chạy vọt ra cửa.

Ngay lúc này cửa bếp mở ra, Sài Thúc Tân đứng ở ngưỡng cửa: "Tới giờ uống thuốc rồi."

Đến lượt Mộc Cát Sinh từ chối: "Không uống."

Sau đó lại bổ sung thêm một câu: "Vừa mới uống hết một toa thuốc rồi, tốt xấu gì anh cũng phải để cho người ta thở chút chứ."

"Vài tháng qua cậu tự ý ngưng thuốc."

Sài Thúc Tân không lung lay: "Toa thuốc đợt trước, một liều cũng chưa uống."

Lời khẳng định chắc như đinh đóng cột, Mộc Cát Sinh bị vạch trần vẫn chẳng ngại ngùng, y thong dong nhai củ sen chiên, giọng lơ lớ: "Được thôi, đợi con gái khấu đầu chúc tết xong tôi sẽ uống."

Sài Thúc Tân liếc sang Ô Tất Hữu.

Ô Tất Hữu: "......"

Ba người này đúng là hình thành một chuỗi thức ăn kỳ quặc.

Ô Tất Hữu nhắm mắt nhắm mũi khấu đầu chúc tết Mộc Cát Sinh.

Xong rồi không về nữa, đi đến bậc thang chơi game, khi đi còn đá mạnh vào chân An Bình: "Lại đây lập đội."

An Bình lấy điện thoại, hai người đánh vài ván, tỷ lệ thắng cũng ổn, trông Ô Tất Hữu đã vui vẻ hơn.

An Bình ngẫm nghĩ một lát, lên tiếng hỏi: "Cậu đến đây ăn Tết à?"

"Thì sao..."

Ô Tất Hữu liếc cậu: "Tôi không được đến hả?"

"Chẳng phải cậu không ưa cha đỡ đầu của mình sao?"

Ngày nào cũng gọi người ta là lão bất tử còn gì.

"Biến đi, lão không phải cha tôi."

Ô Tất Hữu hừ lạnh: "Tôi đến thăm La Sát Tử, ông ấy với cha tôi ngày xưa là anh em."

Nói cứ như Mộc Cát Sinh không phải là anh em của Ô Tử Hư vậy, An Bình thầm phản bác trong lòng.

Rồi đột nhiên để ý tới cách xưng hô của Ô Tất Hữu với Sài Thúc Tân: "Cậu vừa mới gọi anh ta là gì?"

"La Sát Tử."

Ô Tất Hữu nhìn cậu: "Lão bất tử chưa nói với cậu à?

Chẳng phải đêm đó cậu đã nhìn thấy bài vị trong phòng rồi còn gì?"

Đêm đầu tiên An Bình ngủ ở miếu Thành Hoàng, giữa đêm bị một cơn gió đập mở cửa phòng làm cho giật mình tỉnh giấc, cậu bước sang căn phòng đó, thấy một bài vị.

Trên bài vị khắc tên Chư Tử Linh Xu Tử - Sài Thúc Tân.

Trong mảnh ký ức mà An Bình thấy, Sài Thúc Tân khi đó vẫn là Linh Xu Tử, kế đến lại xảy ra chuyện gì cậu hoàn toàn không biết.

Bài vị từ xưa đến nay vốn là thứ dành cho người chết, lúc sáng Mộc Cát Sinh cũng nói Sài Thúc Tân giống như y, đều là người đã chết.

La Sát Tử - sinh trong thời loạn, chủ về hung sát.

Dù có thể trấn áp loạn thế, vẫn hung bạo tàn nhẫn.

Mỗi đời La Sát Tử đều là kẻ phản nghịch cực đoan, thậm chí từng trở mặt với sáu nhà còn lại, nhà này chính là biến số khiến ai nấy đều phải đau đầu và kiêng kỵ.

Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán diệt La Hán, gặp cha mẹ giết cha mẹ, gặp thân quyến giết thân quyến, khi đó mới được giải thoát.

Sài Thúc Tân trong ấn tượng của An Bình tuy ít nói, lạnh lùng nhưng vẫn là quân tử.

Việc công tử Dược gia năm đó trở thành một kẻ hung ác tàn bạo, quả là chuyện khiến người ta khó mà tin được.

"Tôi còn tưởng lão bất tử kia đã kể hết cho cậu biết rồi chứ."

Ô Tất Hữu nhìn An Bình, cười giễu cợt: "Cũng phải thôi, có những chuyện mà đến cả bản thân ông ta còn chẳng nhớ rõ cơ mà."

Ô Tất Hữu đúng là một quả pháo kích nhẹ là nổ, An Bình đang muốn hỏi về những chuyện đã xảy ra với Ô Tử Hư khi y còn sống, nhưng lời đến miệng lại thôi.

Chuyện cũ chìm trong tầng tầng lớp lớp sương mù mờ mịt, khiến cho mọi thứ trở nên càng rối rắm khó hiểu.

An Bình không biết Mộc Cát Sinh giới thiệu mình với người khác thế nào, nhưng dường như ai cũng thoải mái tự nhiên chấp nhận sự tồn tại của cậu.

Suy cho cùng, cậu chỉ là một người bình thường, sao có thể dễ dàng chen vào Thất Gia Chư Tử được.

Chẳng lẽ như Ô Tất Hữu từng nói, Mộc Cát Sinh định nhận cậu làm đồ đệ thật?!

An Bình rùng mình, cậu còn gia nghiệp phải kế thừa, làm một cậu ấm bình thường là đủ rồi, cậu không có mong ước xa vời nào khác đâu.

Ký ức của Mộc Cát Sinh, cậu đều trông thấy cả, nửa đời ấy hùng tráng xiết bao, lại chan chứa vui buồn hợp tan.

Mộc Cát Sinh tuy gần đây đã thân thiết với cậu hơn, nhưng con người này sống lâu đến mức thành tinh rồi, vui buồn không biểu lộ, gặp ai cũng nở nụ cười.

An Bình nhớ lại mọi chuyện trước đó, cảm thấy Mộc Cát Sinh chưa chắc đã giống lời thiên hạ đồn đoán, có lẽ y còn đang có tính toán gì khác.

Người này đạo lực cao sâu, không phải là người cậu có thể hiểu.

An Bình thơ thẩn nghĩ ngợi một lát...

Thôi khó quá bỏ qua, cậu vứt hết mớ suy nghĩ kia ra sau đầu.

Thời gian còn dài.

Mộc Cát Sinh đứng trong gian bếp nhắm mắt bóp mũi ngậm đắng nuốt cay mà uống hết một bát thuốc: "Việc của anh đã xong chưa?"

"Cũng tương đối rồi, đã dọn sạch được phần lớn những thứ còn sót lại ở Tam Đồ Gian."

Sài Thúc Tân rửa bát bên bồn nước: "Đó chính là đứa trẻ mà cậu nhắc đến à?"

"Ừm, cậu ta vô tình nếm máu của tôi."

Mộc Cát Sinh ngồi súc miệng bên cạnh: "Coi như có duyên, nuôi tạm một thời gian xem đã."

Y nói tới đây chợt nhớ ra một chuyện: "Khoảng thời gian trước Thang Âm Dương có biến động, là anh cứu cậu ấy ra khỏi Tam Đồ Gian sao?"

"Cậu ta mang một miếng ngọc, trên đó có mùi máu của cậu."

"May mà anh nhận ra."

Sài Thúc Tân lau khô tay, lấy một vật từ trong ngực áo đưa cho Mộc Cát Sinh: "Tôi nhặt được từ trong Thang Âm Dương."

Mộc Cát Sinh sững sờ, sau đó nở nụ cười: "Anh tìm được thật này!"

Đó là một đồng tiền Sơn Quỷ.

[ Edit by TeiDii ]

________________

Chủ nhà: Sài Thúc Tân hiếm khi ra khỏi miếu Thành Hoàng.

Khoảng thời gian đầu lúc An Bình đến thì Sài Thúc Tân vừa hay lại bận.

Mộc Cát Sinh lúc đầu bảo ở lại Tam Đồ Gian chút để dọn dẹp, anh có dọn khỉ gì, anh hú ck anh đến dọn thì có, dọn liền một mạch tới nay luôn.

Cơm ck anh nấu, việc ck anh làm, anh sướng quãi cả chưởng =))

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 35


Chương 35

Màn đêm buông xuống.

Tất cả các món ăn đều được bày lên, một bàn đầy ắp sắc hương.

Mộc Cát Sinh vốn chẳng câu nệ lễ nghĩa, suốt cả buổi chiều đã ăn vui đến quên trời đất, trước đó còn dặn ai đói thì cứ tự lên bàn trước.

Ô Tất Hữu xem chừng là cố ý nán lại ăn ké bữa này, thức ăn vừa dọn ra đã cầm bát đũa đánh chén.

Không chỉ riêng cậu ta mà Hoàng Ngưu cũng ăn như lốc cuốn.

Cả hai thi nhau càn quét bàn ăn, thậm chí còn trừng mắt lườm nhau vì một miếng thịt kho tàu.

Mùi đồ ăn thơm phức thoang thoảng khắp sân nguyên chiều, khiến An Bình cũng thèm nhỏ dãi.

Nhưng ai ngờ cậu còn chưa kịp cầm đũa thì đã bị Mộc Cát Sinh gọi vào phòng bếp: “Chúc mừng năm mới.”

Đối phương cười híp mắt, đưa cho cậu một bao lì xì.

An Bình kinh ngạc, há miệng muốn nói nhưng lại nghẹn lời.

Mộc Cát Sinh nhét bao lì xì vào tay cậu: "Trẻ con ăn tết phải được nhận lì xì, năm trước cậu gặp phải nhiều điều xui xẻo nên giờ càng phải nhận."

Trong bao lì xì là một tấm thẻ tín dụng, trên mặt thẻ in tên Ngân hàng Thiên Địa.

"Sắp tới chợ quỷ mở cửa, cậu có thể theo con gái tôi đến đó dạo chơi một chút."

Mộc Cát Sinh nói: "Biết quy tắc của chợ quỷ rồi chứ?

Ngoài các gian hàng treo đèn lồng màu xanh thì cứ quẹt thẻ thoải mái."

Đây là lần đầu An Bình nhận loại tiền mừng tuổi này, nhất thời khóc không được mà cười cũng chẳng xong.

Mộc Cát Sinh hiếm hoi rộng rãi như vậy, cậu còn đang nghĩ xem mình nên chúc câu gì cho hợp thì Sài Thúc Tân bên cạnh đã lên tiếng: “Cứ nhận đi.”

Đối phương đang hấp cách thủy một bát súp, đôi mi anh đang rũ xuống, dưới ánh lửa bếp càng trở nên dịu dàng: "Cậu ấy đang mượn hoa dâng Phật.”

Mộc Cát Sinh lý lẽ đầy mình phản bác ngay: "Tôi đây là trưởng bối có đức độ."

Có đức hay không thì để sau hẵng bàn, nhưng lão thần côn ăn không ngồi rồi quanh năm suốt tháng chẳng ra dáng trưởng bối kia hôm nay cuối cùng cũng có chút dáng vẻ của người lớn.

Mộc Cát Sinh cầm bánh nướng kẹp lấy một miếng thịt lợn hấp đưa cho An Bình: "Ăn chút bánh lót dạ trước đi, ngoài kia có hai con quỷ đói mới đầu thai.

An Bình nhi à, cậu không tranh được đồ ăn với họ đâu."

Bánh vừa ra lò, tiêu muối giòn rụm, hương vị đậm đà.

An Bình liếm môi bước ra khỏi bếp, nhớ lại khi còn trong mộng chỉ nhìn mà chẳng được ăn, ngày ngày đứng trước cửa bếp mà thèm nhỏ dãi, nay cuối cùng cũng đợi được bữa tất niên này.

Nhà bếp nhỏ trong Ngân Hạnh Thư Trai có thể xem như nửa cái trường dạy nấu ăn kiểu Tân Đông Phương, những người xuất thân từ gian bếp này phần lớn đều có tay nghề rất khá, trừ Mộc Cát Sinh.

An Bình nhìn đồ ăn bày đầy trên bàn, so với phong cách nấu nướng nhiều dầu mỡ cay nồng của Tùng Vấn Đồng, thì Sài Thúc Tân rõ ràng thiên về các món thanh đạm và tốt cho sức khỏe hơn, chỉ riêng món hầm đã có bốn, năm món khác nhau.

Trước mặt cậu là một đĩa thịt xông khói om mật ong, bên kia là đĩa sò điệp hấp to tròn, thịt xông khói chín nhừ, lớp sốt mật màu nâu sậm phía trên được rắc thêm một nắm hạt thông nhỏ.

Món bên cạnh hình như là Hải Sâm om hành, nhưng đã bị ăn sạch, chỉ còn lại nước sốt.

Cậu không rõ khẩu vị của Ô Tất Hữu, chỉ thấy trên bàn còn bày thêm mấy đĩa đồ ngọt, theo ấn tượng của cậu thì Mộc Cát Sinh vốn chẳng kén ăn, lẽ nào Sài Thúc Tân lại thích đồ ngọt?

"Ngồi đần ra làm gì, không ăn nữa à?”

Ô Tất Hữu nhìn đĩa thịt viên chiên xù sốt thanh mai trước mặt cậu: “Không ăn thì ông bưng mất đấy.”

An Bình hoàn hồn, vội vàng cầm đũa.

Hơi nóng ngập tràn khắp phòng, cực kỳ giống với không khí của những đêm uống rượu dưới ánh đèn năm ấy, mang theo hương vị gió mưa thuở xưa.

Ăn xong bữa cơm thì đã là nửa đêm, không biết Mộc Cát Sinh câu dây điện từ đâu kéo ra đến giữa sân, rủ cả bọn tụ tập cùng xem tivi.

Đây có vẻ như là chương trình Gala mừng xuân, An Bình nhìn vào một vị quan đội mũ đỏ trên tivi, hỏi: "Đây là ai vậy?"

“Lúc còn sống hình như là một đại thần ngoại vụ thì phải."

Ô Tất Hữu ngồi cách Mộc Cát Sinh tận tám chục mét, cắm đầu chơi game: "Đây là đài truyền hình Phong Đô."

An Bình nghe vậy đơ ra một chút, rồi hắt xì một cái rõ to: "Không ai thấy lạnh à?”

Nói rồi quay sang Mộc Cát Sinh: “Bán tiên, chúng ta vào nhà xem được không?”

“Trong nhà tín hiệu kém.”

Mộc Cát Sinh vừa bóc hạt dưa vừa nói: “Không sao, lát nữa là ấm thôi.”

"Ý gì đây..."

An Bình chẳng hiểu gì sất, mà mọi người ai làm việc nấy, không ai rỗi hơi giải đáp thắc mắc cho cậu.

Hoàng Ngưu đang giúp Sài Thúc Tân gói sủi cảo trong bếp, thò đầu ra ngoài cửa sổ: "Cậu An, có muốn vào đây sưởi chút không?”

An Bình nhìn cảnh yêu ma quỷ quái nhảy tưng tưng trên tivi, chẳng xem nổi nữa, liền chạy vào bếp phụ một tay.

Nói mới thấy, từ khi Sài Thúc Tân trở về hình như chưa bước ra khỏi bếp lần nào.

"Linh Xu Tử...”

An Bình vừa rửa tay vừa hỏi: “Anh không ăn chút gì sao?”

Động tác của Sài Thúc Tân dừng lại thoáng chốc: “Không sao.”

Hoàng Ngưu cười ha hả, vỗ vai cậu: “Trong cái sân này ngoài cậu với Vô Thường Tử ra, không ai cần ăn uống gì đâu.

Chủ yếu là Thiên Toán Tử hay thèm ăn vặt.

Chờ đi, đêm nay còn ba bữa nữa.”

An Bình nghe mà choáng, ba bữa nữa?

Nhưng nhìn nồi niêu xoong chảo đầy ắp trên bếp thì đúng là không có vẻ gì sẽ ngừng tiệc sớm.

Sài Thúc Tân đang rang hạt tiêu trên chảo, mùi thơm bùng nổ cả phòng, chỉ riêng nhân bánh sủi cảo cũng đã có ba thau lớn, An Bình nhận ra có nhân hẹ và cần tây: "Thau này là nhân gì vậy?"

"Củ năng với ngô, nhân ngọt."

Hoàng Ngưu đáp: "Chốc sẽ còn có thêm một thau sủi cảo đường nâu nữa."

Sủi cảo đường nâu?

An Bình chưa biết món này bao giờ, nghe cứ giống như là món ăn kinh dị mà Mộc Cát Sinh tự chế ra, cậu ngập ngừng hỏi: "Sủi cảo nhân ngọt sao?

Ăn được không?”

"Lắm người thì lắm khẩu vị mà."

Hoàng Ngưu cười: "Có nhiều người thích đồ ngọt lắm đấy.”

Chẳng mấy chốc sủi cảo được thả vào nồi.

Trong sân vang lên tiếng trống, An Bình ngẩng đầu nhìn ra ngoài: “Tivi đang chiếu cái gì vậy?”

“Múa sư tử Ngũ Phương.”

Mộc Cát Sinh nói: “Một loại nhạc múa thời nhà Đường, vốn dĩ nó sắp bị thất truyền, nhưng sau khi lập quốc, ban tuyên truyền Phong Đô đã quay phim ghi hình lại.

Bây giờ băng video này bán rất chạy ở chợ quỷ, ngoài ra còn có cả phiên bản thể dục nhịp điệu và nhảy quảng trường nữa."

Nhiều điều gây sốc đến nỗi khiến người ta không biết phải hỏi từ đâu, An Bình không khỏi tò mò Phong Đô hiện nay đã trở thành cái dạng gì, đến quỷ cũng cần tập thể dục sao?

Yêu ma quỷ quái nhảy nhót sập sình rồi hát lớn "đốt cháy đống mỡ thừa của tôi đi" đó hả?

Vậy thì đúng là quần ma loạn vũ rồi.

Cửa sổ bếp bị gõ cộp cộp, Ô Tất Hữu thò đầu vào: “Lấy cho ông tí đồ ăn, nhanh, mẹ nó ông lại sắp chết rồi!”

Khả năng chơi game của Ô Tất Hữu thảm không chịu thấu, nếu không chết thì cũng là đang trên đường tìm chết.

An Bình liếc qua màn hình một cái, xác định hết cứu: "Cậu không tự vào lấy được à?”

“La Sát Tử đang trong đó, tôi không vào.”

An Bình ngạc nhiên: "Sao cậu sợ anh ta dữ vậy?"

Ô Tất Hữu dồn hết trí lực vào con game, vô thức đáp: "Cậu thử bị ổng đập một trận xem...

Mả cha nó!!”

Tướng game bị người ta bắn một phát nổ đầu, Ô Tất Hữu suýt nữa muốn ném điện thoại đi.

Thấy thiếu niên này lại sắp nổi khùng, An Bình vội vàng lấy điện thoại của mình ra: "Tôi lập đội chơi với cậu nhé."

"Không chơi nữa."

Ô Tất Hữu lắc đầu: "Mười lăm tháng giêng có rảnh không?"

"Sao vậy?"

"Chẳng phải lão bất tử vừa cho cậu tiền mừng tuổi sao.”

Ô Tất Hữu nói: “Rằm tháng giêng chợ Quỷ mở, tôi dẫn cậu đi Bar quẩy.”

An Bình nghi mình bị ảo giác: "Cậu nói… gì cơ?”

“Đi quẩy chứ còn gì.”

Ô Tất Hữu tặc lưỡi: “Cậu không muốn đi thì thôi.

Không có tôi dẫn đi, một đứa vị thành niên như cậu còn lâu mới được vào.”

An Bình: “...

Tôi thành niên rồi, cảm ơn.”

"Ha – vậy thì cậu không cao thêm được nữa đâu!”

An Bình không hiểu rốt cuộc tại sao Ô Tất Hữu lại có chấp niệm tiêu cực về chiều cao đến thế.

Cậu ta cũng đâu có thấp, nhưng có lẽ là do bị lời nói của Mộc Cát Sinh đầu độc mỗi ngày, nên cậu mới trở nên ám ảnh như một con nghiện sữa hạng nặng vậy.

Ô Tử Hư không hề thấp, theo gen nhà anh, chỉ cần vợ anh không phải là công chúa xì trum thì với chiều cao hiện tại của Ô Tất Hữu, tương lai cậu chàng chắc chắn sẽ cao hơn mét tám.

Sau đấy, cậu lại nhớ ra một chuyện, hình như thằng nhóc này mới chỉ tốt nghiệp mẫu giáo, chưa biết gì về di truyền học cũng đúng.

An Bình đưa cho Ô Tất Hữu một đĩa khoai môn ngào đường, rồi bị cậu ta khịt mũi chê bai: “Sao cậu thích mấy thứ đồ ngọt hệt như tụi con gái vậy?"

"Tôi tưởng cậu thích.”

An Bình cắn một miếng: “Tôi thấy Linh Xu Tử tối nay nấu nhiều món ngọt lắm.”

Chê thì chê, ăn thì vẫn ăn.

Ô Tất Hữu bốc miếng khoai, vừa nhai nhồm nhoàm vừa nói: “Lão bất tử không kén ăn, ông ấy cũng hảo ngọt.”

An Bình để ý: “Cũng?”

“Cậu không biết à?”

Ô Tất Hữu như chợt nhận ra gì đó, lập tức đổi sang vẻ mặt chuẩn bị xem trò: "Thế cậu tưởng đống đồ ăn chất đầy cái bếp là cho ai ăn?

Heo hả?"

An Bình nhớ đến hai tên quỷ đói càn quét bàn ăn lúc nãy, nhưng thôi, không bắt bẻ thằng nhóc này nữa.

Ô Tất Hữu kể cho cậu nghe vài chuyện kỳ lạ về chợ quỷ Phong Đô.

Trong lúc hai người đang trò chuyện thì sủi cảo đã ra lò, đồng thời bên ngoài cũng truyền tới tiếng gõ cửa.

"Biết chọn giờ đến thật!"

Ô Tất Hữu nhíu mày nói: "Năm nào cũng tới ngay lúc nồi sủi cảo đầu tiên chuẩn bị dọn lên."

Mộc Cát Sinh nãy giờ vẫn dán mắt vào tivi, hoàn toàn không màng chuyện đời.

Sài Thúc Tân và Hoàng Ngưu lại bận bưng sủi cảo.

Cuối cùng, Ô Tất Hữu đẩy An Bình ra mở cửa.

Cửa vừa mở thì...

Phốc – !!!

Pháo giấy nổ tung, dính đầy đầu đầy mặt An Bình.

Sau đó là một giọng nói bừng bừng khí thế vang lên: “Chúc mừng năm mới!

Tài lộc dồi dào!

Cung hỉ phát tài!”

Đứng ngoài cửa là một cô gái cực kỳ xinh đẹp, môi đỏ eo thon, đôi chân dài như siêu mẫu dưới tà váy ngắn.

Cô nàng mang giày cao gót dậm lên bậc cửa, nàng cao hơn An Bình cả một cái đầu.

“Cậu là An Bình đúng không?”

Cô gái khoác vai cậu như anh em giang hồ, giọng mang chút âm sắc Bắc Kinh: "Em trai này nhìn cũng được đấy!”

“Tổ sư cha nó, sao lại đi giày cao gót thế?"

Ô Tất Hữu ngửa đầu nhìn đối phương: "Vãi đạn, còn nhuộm tóc màu hồng nữa?"

“Tóc càng hồng đánh càng hăng.

Chị đây giờ lên rank Vương Giả rồi, lát nữa dẫn chú mày đi cướp mạng nâng rank.”

Cô nàng móc từ túi ra phong bao đỏ: "Lì xì này, cầm đi em giai."

Nói xong lại quay sang An Bình: “Lần này đi vội quá không kịp chuẩn bị quà gặp mặt, đợi dịp khác dẫn em trai đi quẩy chợ Quỷ.”

Cô nàng này đúng kiểu chất chơi người dơi, ăn nói hùng hồn, dáng vẻ phóng khoáng soái tung trời.

Tuy rằng cao hơn một cái đầu nhưng An Bình vẫn không khỏi nảy sinh chút cảm tình với cô: "Hân hạnh được gặp, xin hỏi phải xưng hô với chị thế nào đây?"

Ô Tất Hữu nhìn cậu bằng ánh mắt kỳ quái, như đang cố nhịn cười: “Lão bất tử vẫn chưa nói với cậu chứ gì?"

“Không sao, gặp nhau là duyên, đều là anh em tốt cả.”

Cô nàng vỗ mạnh vai An Bình: “Đói chết tôi rồi, anh tôi nấu cơm xong chưa?"

Vừa dứt lời cửa phòng bếp liền mở toang, Hoàng Ngưu bưng mâm ra ngoài: "Thiên Toán Tử, cảm phiền ngài xích ra chỗ khác dùm tôi cái!"

"Đến giờ ăn rồi."

Một chiếc bàn tròn được dọn ra trong sân, cùng với ngọn đèn đỏ treo trên cao, An Bình kinh ngạc phát hiện xung quanh không còn lạnh nữa.

Cậu thầm nghĩ tới chuyện khi nãy, cô gái vừa tới đã cho Ô Tất Hữu lì xì, nói không chừng là người lớn nhà cậu, đang nghĩ dở thì Mộc Cát Sinh ở bên cạnh lên tiếng: "Lệ cũ, chúc tết rồi mới phát lì xì."

“Được thôi.”

Cô nàng búng tay cái tách: “Năm nay anh muốn nghe đoạn nào?”

“Đêm nay anh vất vả nhất.”

Mộc Cát Sinh nhìn Sài Thúc Tân, nửa trêu nửa thật: "Đầu bếp đại nhân muốn nghe gì nào?”

Sài Thúc Tân nhấp ngụm trà: “Cậu thích là được.”

“Vậy thì nghe Tây Sương đi.”

Mộc Cát Sinh cầm đũa gõ chén cái "ting": "Hát đoạn Hồng Nương nhé.”

Nói diễn là nhập vai ngay.

Cô nàng ném khăn giấy, ánh mắt lúng liếng: “Tiểu thư à, cô thật xinh tươi rạng ngời...

"

Khi chuyển câu lại quay sang nhìn Sài Thúc Tân: “Quân Thụy ơi, ngài thật tao nhã tài hoa...”

“Phong lưu chẳng bỏ ngàn vàng,

Bóng hoa gió chuyển ngọc nhân qua,

Đêm nay trả hết nợ tương tư,

Một đôi tình lữ hợp lòng hòa…”

Cô nàng diễn ơi là diễn, nhăn mặt nhướng mắt lố không chịu được.

An Bình xem mà cười suýt ngất, ngay cả Ô Tất Hữu cũng cười khoái chí.

Hoàng Ngưu ho sặc sụa: “Ôi giời đất quỷ thần ơi!

Tinh Túc Tử, ngài mau mau gả đi cho rồi, đừng ở đây hại nước hại dân nữa!”

An Bình còn đang cười ngoác mồm chợt cứng họng.

Khoan – !

Vừa nãy Hoàng Ngưu gọi cô ta là gì?

Tinh Túc Tử?!?!

An Bình hóa đá tại chỗ.

Mộc Cát Sinh hình như đang cố tình chờ khoảnh khắc này, trong sân vang vọng tiếng cười điên cuồng của y và Ô Tất Hữu.

“Lão ngũ là do lão nhị nuôi.”

Mộc Cát Sinh cười quá nên sặc, vừa ho vừa nói: “Lão nhị từ bé đã ngâm mình trong Quan Sơn nhạc, lớn lên giữa gấm vóc phấn son, nuôi ra lão ngũ y chang một khuôn."

An Bình biết rõ thân thế của Tùng Vấn Đồng nhưng vẫn bị sốc một hồi lâu.

Mặt đẹp tựa phù dung, eo thon như dương liễu, khôi ngô tuấn tú, hoa nhường nguyệt thẹn, đôi mắt phong lưu sắc như đao, bạn của phụ nữ lại nuôi ra được bậc thầy giả gái hả?

Cái này là truyền thống gia đình à?!

Mâm thức ăn toàn đồ ngọt đầy ắp trên bàn lúc này đã có lời giải.

Chu Ẩm Tiêu cứ như cắm đầu vào hũ đường mà ăn, bánh chẻo đường nâu còn chấm mật ong mới chịu, An Bình nhìn mà ê cả răng.

Bảo sao không thấy lạnh nữa, y là hậu duệ Chu Tước, ngũ hành thuộc hỏa, ngay cả đèn lồng treo trên đầu cũng sáng rực hơn, cả sân thành một vùng ấm áp.

Chu Ẩm Tiêu cười hì hì nhận lì xì của Mộc Cát Sinh: "Em cảm ơn ạ."

Rồi quay sang An Bình: “Xin lỗi nha em trai, hôm nào mời cậu uống rượu bù.”

Chu Ẩm Tiêu có nền tảng hát hí kịch, nãy giờ nói chuyện với An Bình đều nén giọng, đổi thành giọng nữ mềm mại lanh lợi.

Giờ y nói bằng giọng thật, âm sắc hơi khàn hơn lúc nãy, toát lên khí chất tiêu sái khó tả.

Người đẹp từ cốt cách, rực rỡ như lửa hồng.

Trong mảnh ký ức mà An Bình thấy, khi đó Chu Ẩm Tiêu vẫn là cái chổi lông gà đầy màu sắc, bị Mộc Cát Sinh mang ra đùa nghịch phải lăn lộn bò toài khắp vườn rau ở chùa Bạch Thủy.

Cậu nhìn chằm chằm cô gái trước mặt, nhìn mãi mới chắc đây là đàn ông, cậu thật sự không nhìn ra được chút bóng dáng nào của quá khứ.

Thời gian quả đúng là một con dao giết gà sắc bén.

Chu Ẩm Tiêu hẳn năm nào cũng tới chúc Tết, nói chuyện với Mộc Cát Sinh rất thân thiết, vừa nói vừa cười, Sài Thúc Tân trông cũng quý anh ta lắm, ánh mắt cũng trở nên dịu dàng như đang nhìn đứa em trai nhỏ nhà mình.

An Bình nhớ tới chuyện Ngân Hạnh trai chủ thích nghe Côn khúc, học trò ở Ngân Hạnh Thư Trai mỗi khi Tết đến đều biểu diễn vài đoạn, đây là truyền thống.

Năm đó, lần đầu tiên Sài Thúc Tân ở lại thư trai ăn Tết, Mộc Cát Sinh cũng hát một đoạn Tây Sương.

Trong tivi vang lên một giai điệu cổ xưa chẳng biết từ triều đại nào, Mộc Cát Sinh và Chu Ẩm Tiêu bắt đầu đấu rượu, từ dưới bàn uống thẳng lên tận mái nhà.

Sài Thúc Tân ra mở cửa chính, trên đường phố tấp nập bóng người qua lại.

Đêm giao thừa mới nhập nhoạng tối thường rất vắng, mọi người đều ở nhà ăn bữa cơm đoàn viên, nhưng gần đến khoảnh khắc giao thời, khi rượu đã ngấm và bụng đã no, thiên hạ lại ùa ra đường, vừa say vừa tán dóc đủ chuyện trên trời dưới đất.

Đêm trừ tịch không có trăng, nhưng cả thành rực rỡ ánh đèn.

Hoàng Ngưu khệ nệ bê từ trong bếp ra một cái nồi lớn, đặt ngay cửa miếu Thành Hoàng để phát cháo.

Cháo gạo nếp được nấu chung với long nhãn, hạt sen, táo đỏ và đậu ván, đám trẻ con cầm đèn lồng líu ríu đứng quanh, khuôn mặt nhỏ tròn tròn ửng hồng, nhìn rất đáng yêu.

Hàng người chờ cháo trên bậc thềm ngày càng dài.

Ô Tất Hữu ném cho An Bình một cái muôi: "Qua giúp một tay đi.”

Tuy miếu Thành Hoàng mấy năm gần đây hương khói thưa thớt, nhưng cháo phúc đêm giao thừa vẫn cực kỳ được ưa chuộng.

Người ta thích đến đây cầu chút may mắn đầu năm.

Khi còn nhỏ, An Bình cũng từng cùng cha mẹ đến xin cháo.

Mẹ cậu đang đánh mạt chược dở, liếc thấy sắp đến giao thừa liền lái xe chạy ngay qua để lấy một bát.

Hồi đó cậu không hiểu ý nghĩa của bát cháo này, chỉ nhớ đêm ấy trời có tuyết, trong không khí đầy ắp mùi thơm của táo đỏ.

Rất nhanh sau đó, nồi cháo đã được phát hết.

An Bình và Ô Tất Hữu bưng nồi lớn trở lại gian bếp, đối phương đột nhiên hỏi cậu: "Có biết Ngân Hạnh Thư Trai không?"

"Sao thế?"

“Khi cha tôi còn sống, tôi nghe ông nói Ngân Hạnh Thư Trai được xây trên nền một ngôi chùa.

Hằng năm đến giao thừa đều có tăng nhân phát cháo phúc, đúng khoảnh khắc giao thừa vị phương trượng đức cao vọng trọng nhất sẽ đánh chuông cầu phúc.

Người ta ngồi trên những bậc thềm dài dằng dặc, vừa ăn cháo vừa nghe tiếng chuông vang.”

An Bình thầm nhủ: Tôi biết, tôi tận mắt thấy rồi.

Cháo phúc năm đó còn là phương thuốc dinh dưỡng do Sài Thúc Tân kê, Tùng Vấn Đồng hì hục nấu suốt cả buổi chiều.

Kết quả bị Mộc Cát Sinh và Chu Ẩm Tiêu lén hớp mất hơn nửa nồi, hai người bị Tùng Vấn Đồng cầm muôi đuổi đánh khắp chùa.

Cuối cùng vẫn là Ô Tử Hư bỏ tiền ra hàng quán trong thành mượn vài đầu bếp về nấu gấp một nồi khác, mới kịp cho buổi phát cháo tối hôm đó.

Cửa bếp bị đẩy ra, Hoàng Ngưu bước vào, bưng một cái nồi từ bếp nhỏ lên, bên trong là cháo phúc nóng hôi hổi.

Ông nháy mắt với họ: “Tôi lén để phần đấy, tranh thủ ăn lúc còn nóng.”

“Tôi có bảo là không cho mọi người ăn đâu."

Giọng nói của Sài Thúc Tân vang lên bên ngoài phòng bếp, anh gõ nhẹ vào cửa sổ: "Ra đây đi, sắp mười hai giờ rồi."

Hoàng Ngưu run rẩy, cười nói: "Quả nhiên không giấu được cặp mắt tinh tường của ngài..."

Lời còn chưa dứt, một tia lửa phóng vút lên cao, nổ tung thành những chùm pháo hoa rực rỡ giữa bầu trời đêm, tiếng hô kinh ngạc vang vọng khắp đường phố.

An Bình thò đầu ra ngoài cửa sổ, chỉ thấy Chu Ẩm Tiêu đứng trên nóc nhà, trong tay cầm một chiếc lông vũ, lông vũ bị anh giật ra từng sợi rồi châm lửa, chúng giống như những sợi kim tuyến cuộn tròn bay lên không trung, rồi nổ vang đì đùng trên trời.

Ô Tất Hữu đẩy cậu sang một bên, hai cái đầu chen chúc trong một ô cửa sổ: "Chim Ướp Tiêu lại đốt lông làm pháo à?"

“Tinh Túc Tử năm nào cũng vậy sao?”

An Bình huých vai Ô Tất Hữu: “Pháo hoa là hàng cấm đấy, cậu là quản lý đô thị mà để yên chuyện này à?

"Cấm đốt pháo, chứ có cấm đốt lông đâu!”

Ô Tất Hữu trợn mắt: "Tôi quản không tới!”

Sài Thúc Tân đứng bên cửa sổ, ngẩng đầu ngắm nhìn một lúc lâu, sau đó nói với An Bình: "Trên bếp còn một nồi cuối cùng, phiền cậu mang ra giúp tôi."

Lúc này An Bình mới nhận ra trong góc phòng còn có một cái bếp đơn, đang đun một nồi đồng: "Đây là gì vậy?"

Ô Tất Hữu vẫn đang ngó ra ngoài cửa sổ, nghe vậy thì hừ một tiếng: "Đặc biệt nấu riêng cho lão bất tử đấy!"

An Bình tò mò mở nắp.

Trong nồi đồng là món thập cẩm đủ thịt đủ rau, tầng tầng lớp lớp, mép nồi được xếp thêm vài miếng sủi cảo trứng bọc tôm, rải phía trên cùng là nấm đông cô và thịt hun khói, mùi thơm phả vào mặt, vừa quen thuộc lại vừa xa xăm.

Là nồi lẩu Nhất Phẩm.

*Chu Ẩm Tiêu:

Cre: 肆桔lin

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 36


Chương 36

Tiếng động cơ motor phân khối lớn gầm rú vang dội khắp con phố, chiếc motor rẽ một vòng rồi phanh gấp trước cổng miếu Thành Hoàng, lốp xe ma sát mặt đường rít lên tiếng két chói tai.

Chu Ẩm Tiêu cười hớn hở, tháo mũ bảo hiểm xuống: “Thế nào, đã không?”

"Chỗ này cấm đổ xe, anh còn đỗ ở đây nữa là tôi phạt anh đấy!”

Ô Tất Hữu từ yên sau motor nhảy xuống: “Lần tới làm ơn đổi màu con xe dùm cái, ông anh làm Thất Gia Chư Tử mất mặt quá."

An Bình ngồi ở bậc cửa miếu Thành Hoàng, nhìn Chu Ẩm Tiêu và Ô Tất Hữu một trước một sau đi đến.

Chu Ẩm Tiêu đam mê tốc độ, cả tháng giêng gần như ngày nào cũng phóng xe vèo vèo trên phố, đôi khi còn giúp Ô Tất Hữu giao mấy đơn thức ăn gấp, tất nhiên cũng không ít lần bị phạt vì chạy quá tốc độ.

Có hôm An Bình về nhà lấy đồ, giữa đường tận mắt trông thấy một luồng sáng đỏ bay xẹt qua đường, đằng sau là một hàng dài motor cảnh sát và xe tuần tra đuổi theo, có một anh cảnh sát đang cầm loa la hét điên cuồng.

Quái đản nhất là cuối hàng xe còn có một chiếc xe điện quản lý đô thị ì ạch đuổi theo, trong tiếng còi xe cảnh sát hú inh ỏi lại lẫn thêm bài nhạc "chúc mừng sinh nhật".

An Bình lúc đầu còn tưởng cảnh sát đuổi bắt cướp, thậm chí còn chụp ảnh đăng lên vòng bạn bè.

Đến khi về miếu Thành Hoàng mới thấy chỉ có một mình Mộc Cát Sinh đang nằm giữa sân tắm nắng, y uể oải nói: "Lão ngũ phóng xe quá tốc độ nên bị công an hốt rồi!"

"Tam Cửu Thiên đang lên phường chuộc người."

Một lúc sau Sài Thúc Tân gọi điện về: “Cậu qua đây nói chuyện chút đi.”

Anh ngập ngừng vài giây rồi kể thêm: "Tôi giải thích cỡ nào họ vẫn không tin lão ngũ là con trai."

Vẻ mặt Mộc Cát Sinh như đã đoán trước được chuyện này, y cố nhịn cười, giả bộ ra vẻ quan tâm hỏi han: "Ồ!!!

Vậy anh thế nào rồi?"

Đầu dây bên kia im lặng mấy giây: "..."

"Tôi cũng chẳng biết làm sao nữa...

Họ đang cho rằng tôi là kẻ buôn người.

Giờ chắc phải nhờ cậu lên đây chuộc hai đứa tôi về."

Mộc Cát Sinh cười suýt ngất, cuối cùng vẫn lên phường đón người.

Lúc bước vào cửa, Sài Thúc Tân còn xách theo một chiếc lồng, bên trong nhốt một con chim lớn lông lá lòe loẹt.

An Bình đang tò mò không hiểu tại sao hai người này còn ghé vào chợ chim làm gì, thì con vật đang bị nhốt trong lồng bỗng lên tiếng: "Anh, em sai rồi, lần sau em không dám nữa đâu."

An Bình giật mình, con chim đó lại chính là nguyên hình của Chu Ẩm Tiêu, hơn nữa còn là phiên bản thu nhỏ.

Nghe nói Sài Thúc Tân thấy ven đường có chỗ bán lồng Hamster, ghé vào mua một cái rồi nhét người vô luôn.

Mộc Cát Sinh cười hớn hở, đem lồng treo lên mái hiên: "Yên chí đi, sáng mai thả cậu ra.”

Sài Thúc Tân vẫn bình thản như thường, chỉ là tối hôm đó làm hẳn một mâm “đại tiệc toàn gà”, còn cố ý xách dao thớt ra giữa sân mần thịt gà, nhổ lông, tiếng gà kêu thảm thiết vang lên liên hồi.

An Bình và Mộc Cát Sinh ngồi trên hành lang đánh cờ, còn cái lồng treo lơ lửng trên đầu.

Chỉ thấy Chu Ẩm Tiêu cứ rúc đầu vào cánh, co ro như chim cút.

Sáng hôm sau An Bình bị tiếng gà gáy đánh thức.

Xuống gác thì thấy Ô Tất Hữu đang đứng dưới lồng cãi nhau với Chu Ẩm Tiêu: "Bộ khùng hay gì mà cứ gáy cả đêm vậy?

Muốn chết hả?!

Anh là Chu Tước chứ có phải gà trống đâu!”

"Thả tôi ra đi mà...”

Chu Ẩm Tiêu nén hơi giả giọng nữ: “Không làm gà trống thì làm gà mái cũng được.”

Cuối cùng vẫn đến phiên Mộc Cát Sinh bị quấy giấc ngủ phát cáu, y mở tung cửa xách cả người lẫn chim đi vứt.

An Bình tìm được Ô Tất Hữu, loay hoay hoài lại chẳng thấy Chu Ẩm Tiêu đâu.

Hai đứa dạo quanh hội miếu một vòng, cuối cùng dừng chân trước một sạp bán thỏ.

Trong sạp có một con gà lôi đang đứng duỗi cổ dựng đuôi, bày ra bộ dáng oai phong lẫm liệt, thu hút cả đám trẻ con bu lại xem.

An Bình nhìn mà cạn lời: “Bị ném ra ngoài rồi, anh ta không tự biến lại thành người được à?"

"Đích thân La Sát Tử hạ chú, thứ xui xẻo này giải được mới lạ."

Sắc mặt Ô Tất Hữu đen như đáy nồi, chạy tới mặc cả với ông chủ sạp: "Chỉ một con gà mà ông bán năm trăm?

Con mẹ ông sao không đi cướp luôn đi!"

Ông chủ hùng hồn đáp: "Oắt con như mày biết cái gì!

Đây là giống gà lai quý, nhìn bộ lông của nó kìa, quý phái chưa!”

An Bình: “…”

Cuối cùng Ô Tất Hữu phải quành ngược trở về lấy thẻ quản lý đô thị ra, tịch thu luôn cả sạp thỏ.

Hai người kéo nguyên một xe chở thỏ, cá vàng, gà về miếu Thành Hoàng.

Vậy mà vừa tới nơi đã thấy Chu Ẩm Tiêu đang ngồi ăn sáng cùng Mộc Cát Sinh.

Đối phương vừa thấy Ô Tất Hữu liền hớn hở vươn tay kéo cậu ta qua: "Nào, nào qua đây, chú em lại nhận nhầm con gà nào thành anh thế?"

Ô Tất Hữu tức muốn tăng xông.

Cái đức hạnh của Tinh Túc Tử đương nhiệm quả chỉ toàn mõm, chuẩn bài nhận sai cho có.

Chu Ẩm Tiêu vừa được tha hôm trước hôm sau lại phi motor vèo vèo, vặn ga như lái tên lửa.

Vòng bạn bè trên dòng thời gian gần đây của An Bình toàn hình ảnh chụp lén của "soái tỷ" chân dài lái motor.

Đến cả thằng bạn cùng bàn cũng nhắn tin hò hét với cậu: "Tôi đăng ký hội viên giao đồ ăn rồi.

Một ngày đặt bốn suất, tôi không tin đời này không gặp được chị gái chân dài."

An Bình không nỡ đập tan giấc mơ màu hường của nó, bèn nhờ Chu Ẩm Tiêu giao giúp một lần.

Tối đó WeChat của cậu bị spam khủng bố, toàn là tin nhắn la lối gào thét của thằng bạn cùng bàn.

Thật chẳng khác gì Vương Bảo Xuyến chờ Tạ Phi Nguyệt mười tám năm cuối cùng cũng đợi được.

Nhưng đúng như Ô Tất Hữu nói, tay lái của Chu Ẩm Tiêu cực vững, gu thời trang đỉnh chóp, nhưng gu thẩm mỹ về xe cộ thì tệ không tả xiết.

Y phun sơn nguyên chiếc motor thành màu đỏ chót, còn dán đủ sticker, decal loè loẹt nhiều màu.

Lúc cưỡi xe nhìn chẳng khác gì con ngựa Pony bờm hồng cưỡi mây ngũ sắc.

An Bình ngó tới ngó lui, thấy cách phối màu của chiếc xe này hơi quen quen, rồi bỗng nhận ra nó giống y hệt bộ lông bảy màu của Chu Ẩm Tiêu trước khi hoàn toàn hoá hình.

Không ngờ bậc thầy giả gái này vẫn còn rất trẻ trâu.

Chu Ẩm Tiêu ở lại miếu suốt nửa tháng, nay đã là rằm tháng giêng.

Vài hôm trước, Mộc Cát Sinh có việc không việc cũng gom người đánh mạt chược.

Đám thanh niên lão thành tại miếu Thành Hoàng người nào người nấy đều sống lâu đến sắp thành tinh, chẳng dễ đối phó.

Ô Tất Hữu với An Bình thua sạch túi, đến cả Chu Ẩm Tiêu cũng đỡ không nổi.

Hai tên kia từ sớm tinh mơ đã lấy motor chở nhau đi trốn, đến chiều mới về, bỏ mặc An Bình ở miếu Thành Hoàng.

"Người anh em, thắng bại ra sao rồi?”

Chu Ẩm Tiêu lắc lắc chìa khóa xe: “Gỡ được đồng nào chưa?”

“Hôm nay không chơi mạt chược.”

An Bình ngồi ở bậc cửa, không thèm ngẩng đầu, nói: “Tôi đang làm bài tập.”

An Bình từ nhỏ đã bị mẹ bế lên bàn mạt chược, Tết nhất cũng hay chơi vài vòng với họ hàng.

Vậy mà đời này lần đầu tiên thua thảm như thế, cậu thực sự đã bất lực lắm rồi, chỉ có lúc ôm đề thi thì Mộc Cát Sinh mới có thể cách xa cậu một chút.

"Vậy hai chúng ta đừng vào nữa."

Chu Ẩm Tiêu thấy vậy bèn bảo với Ô Tất Hữu: "Hiện tại bên trong ba thiếu một, đứa nào bước vào đứa đó lãnh đạn."

“Hôm nay rằm tháng giêng, La Sát Tử phải gói bánh trôi, lão bất tử không gom nổi một bàn đâu.”

Ô Tất Hữu hừ một tiếng, rồi tự mình bước vào miếu: “Gia đi đây, hai đứa cứ ngồi đấy hóng mát."

“Vâng, mời ngài.”

Chu Ẩm Tiêu cũng chẳng cản, ngồi xuống cạnh An Bình, đá đôi giày cao gót ra: “Nghe lão tứ bảo cậu là lớp phó học tập.

Tết nhất mà còn làm bài tập, chăm thế.”

Trong miếu Thành Hoàng toàn kỳ nhân dị sĩ, nhưng về học vấn thì một người tốt nghiệp mẫu giáo, một người lưu ban ba năm liền.

An Bình nhất thời chẳng biết phải đáp thế nào.

"Tán gẫu chút thôi mà, em trai đừng ngại."

Chu Ẩm Tiêu như nhìn thấu suy nghĩ của cậu, cười nói: "Tuy rằng tôi cũng chưa từng học qua trường lớp chính quy nào, nhưng họ hàng nhà tôi quen biết Văn Xương Tinh.

Bao giờ cậu thi đại học thì tới tìm tôi, tôi sẽ bảo ông ấy cho cậu đỗ thủ khoa luôn."

Vãi – Chơi vậy cũng được hả?

An Bình khó tin hỏi: “Thế sao bán tiên bị lưu ban ba năm?”

“Lão tứ từng cãi nhau với Văn Xương, vị tinh quan kia cãi không lại, quay lưng phát liền rủa y mười năm không đỗ.”

Chu Ẩm Tiêu nói: “Mà lão tinh quan coi như chuyện đùa thôi, cái chính là lão tứ có chịu học hành tử tế đâu, cứ vậy thuận nước đẩy thuyền luôn."

Mười năm không đỗ, vậy tức là Mộc Cát Sinh vẫn phải tiếp tục ở lại lớp.

Mà cứ kéo dài mãi như thế thì không còn là truyền thuyết học đường nữa, phải gọi là thần thoại con moẹ nó rồi!

Chu Ẩm Tiêu chuyển đề tài: “Nhưng trong Thất Gia Chư Tử vẫn có người học giỏi lắm đấy.”

“Tôi biết chứ.”

An Bình vừa giải bài vừa nói: “Bán tiên hồi xưa chẳng phải từng đi du học nước ngoài à, nhưng mà qua biết bao nhiêu năm rồi…

Bằng cấp có hạn sử dụng không nhỉ?

Nếu không với những đối tượng bất tử như Mộc Cát Sinh phải tính thế nào?"

“Tôi không nói lão tứ.”

Chu Ẩm Tiêu xua tay: "Trí nhớ lão tứ kém lắm, du học về cũng quên sạch rồi.

Tôi đang nói đến anh tôi cơ.”

An Bình sững lại, nhận ra đối phương đang kể về Sài Thúc Tân.

Sài Thúc Tân năm xưa không phải là môn sinh chính thức của Ngân Hạnh Thư Trai, nên mọi người vẫn chưa xếp thứ bậc cho anh.

Chu Ẩm Tiêu gọi Mộc Cát Sinh là “lão tứ”, nhưng lại gọi Sài Thúc Tân là “anh”, loạn tùng phèo như nồi cháo.

“Linh Xu Tử từng đi du học sao?"

"Đại khái là vào cuối thập niên 40 của thế kỷ trước, anh tôi đã ra nước ngoài một chuyến."

Chu Ẩm Tiêu bấm ngón tay tính toán: "Mỹ, Anh, rồi cả Liên Xô...

Bằng cấp chất thành cả xấp.”

An Bình nghe mà choáng, chuyện này nằm ngoài phạm vi những gì cậu từng thấy trong mơ.

"Tờ đề của cậu tôi xem chả hiểu gì.”

Chu Ẩm Tiêu tiến lại gần nhìn đề thi hóa của cậu: “Nhưng anh tôi từng học tây y, biết đâu lại hiểu được.”

Cũng có lý.

An Bình đứng phắt dậy.

"Em trai đi đâu đấy?"

"Đi hỏi bài."

Sài Thúc Tân đang nhào bột trong bếp, trên bàn bếp bày hoa quế khô và lòng đỏ trứng muối.

Hôm nay là tết Nguyên Tiêu, buổi tối sẽ nấu bánh trôi rượu nếp.

An Bình trình bày lý do, hơi thấp thỏm nhìn anh: “Ngài xem giúp…

được không ạ?”

Sài Thúc Tân chẳng nói gì, chỉ quay qua rửa tay sạch sẽ rồi nhận lấy sách của cậu.

“Có giấy bút không?”

“Hả?!”

An Bình ngơ ra một giây, rồi vội đáp: “Có ạ!”

Cậu luống cuống đưa giấy nháp và bút máy qua cho anh.

Sài Thúc Tân chăm chú nhìn tờ đề: “Cách làm của cậu rườm rà quá.”

Nói rồi viết xuống vài dòng công thức.

Cách nói chuyện của anh từ tốn, phần nào ra phần đó, tách từng trọng điểm rất rõ ràng.

Anh dường như nắm rất vững phạm vi kiến thức phổ thông, giảng giải đơn giản mà thấu đáo.

An Bình nghe đến đâu hiểu đến đó, khiến cậu thực sự muốn khấu đầu bái phục vị thiên tài này.

Đi khắp muôn nơi tìm cao nhân, ai ngờ cao nhân lại ở ngay bên cạnh.

An Bình thậm chí bắt đầu tính xem có thể nhờ Sài Thúc Tân dạy kèm cậu học không, giá bao nhiêu cũng được.

Sài Thúc Tân giảng cho cậu mấy câu khó, An Bình còn định hỏi tiếp, nhưng cuốn sách đã bị đối phương đặt sang một bên.

“Lao động đi đôi nghỉ ngơi.”

Sài Thúc Tân vừa nói vừa đưa cho cậu mấy hạt dẻ: "Vẫn còn đang nghỉ tết."

Là một học sinh cấp ba đang chịu áp lực học tập nặng nề, An Bình nghe mà suýt rơi nước mắt.

Cậu cầm hạt dẻ đi tìm Ô Tất Hữu, nhưng đối phương lại nhìn cậu như vừa nghe được chuyện tiếu lâm: "Cái gì?

Cậu bảo La Sát Tử giảng bài cho cậu à?"

"Thì sao?”

An Bình mờ mịt: “Anh ấy giảng hay mà.”

“Xạo sự.”

Ô Tất Hữu khịt mũi, nhai hạt dẻ nhồm nhoàm: "Từ khi lão bất tử sống lại đến nay toàn do La Sát Tử kèm cặp kiến thức cho đó, kết quả thế nào?

Đừng tưởng tôi không biết, năm nào thi chả tạch."

An Bình: “…"

Ô Tất Hữu dúi vỏ hạt dẻ vào tay An Bình, ra vẻ ông cụ non bàn triết lý nhân sinh: "Biển học vô biên, quay đầu là bờ.”

Nghe thì hay đấy, nhưng mới tốt nghiệp mẫu giáo mà đã quay đầu giác ngộ thì có hơi sớm quá không?

Tối hôm đó Sài Thúc Tân chia bánh trôi cho mọi người.

Chu Ẩm Tiêu gần như múc cả nửa hũ mật ong vào trong bát.

An Bình tặc lưỡi, không biết Chu Tước có bị sâu răng hay không.

"Vậy bọn tôi đi đây."

Ô Tất Hữu húp sùm sụp hết bát bánh trôi, kéo An Bình đi ra ngoài.

Đêm nay bọn họ sẽ đi chơi ở chợ quỷ.

Sài Thúc Tân dặn Chu Ẩm Tiêu: “Chú ý an toàn, đừng vội manh động."

“Đánh được thì đánh.”

Mộc Cát Sinh lười biếng nói: "Thua thì đừng về.”

Chu Ẩm Tiêu cười hề hề: "Em biết rồi ạ, hai anh cứ yên tâm.”

Ba người đi tới Nghiệp Thủy Chu Hoa, Ô Tất Hữu mở thang máy, đi thẳng xuống tầng mười tám dưới lòng đất.

Trên nóc thang máy có thắp một chiếc đèn kéo quân, sáng tối xen kẽ lung linh rực rỡ, giống như có những chiếc bóng đang nhảy múa xung quanh.

Trước đó An Bình đã tưởng tượng ra khung cảnh bên ngoài thang máy, cậu vốn cho rằng nơi mình đến vẫn giống như thời của Mộc Cát Sinh, chỗ đầu tiên nhìn thấy sẽ là bờ Vong Xuyên hoặc là Quỷ Môn Quan.

Thế nhưng trong khoảnh khắc cửa thang máy mở ra, cậu đứng khựng lại, bởi âm thanh truyền tới bên tai không phải tiếng nước chảy mà là tiếng loa báo tới trạm sau khi xe buýt dừng tại bến.

"Đã đến bến phường Tam Sinh, quý khách nào có nhu cầu xuống xe, xin vui lòng kiểm tra hành lý..."

Chu Ẩm Tiêu bóc một cây kẹo mút rồi ngậm vào miệng, quay đầu lại cười với cậu: "Chào mừng đến với Phong Đô thế kỷ 21."

Đây là một nhà ga khổng lồ, mái vòm thủy tinh được chống đỡ bằng những thanh xà cong chạm trổ tinh vi, phía dưới là những cột lớn sơn son thếp đỏ.

Người qua kẻ lại tấp nập không ngừng.

Toàn bộ nhà ga được chia thành ba tầng: Trên cùng là tuyến tàu trên không chạy dọc theo đường ray bằng đồng thau; ở giữa là bến xe buýt chạy trên cầu vượt, xe cộ tấp nập nối đuôi nhau phía sau; tầng dưới cùng thì đầy kín những chiếc xe kéo màu vàng, mấy bác phu xe đội mũ dưa hấu tụ tập thành từng nhóm, khăn trắng vắt hờ trên vai, miệng phì phèo thuốc lào.

An Bình để ý thấy mình và đồng bọn vừa bước ra từ một bức bích họa khổng lồ được khắc trên một cột trụ tròn nằm ở trung tâm của toàn bộ nhà ga, giống như một thang máy đi thẳng lên trời cao.

Trên bức bích hoạ vẽ những mỹ nhân yêu mị đang nhảy múa uyển chuyển, khoác chuỗi ngọc lấp lánh, tay cầm xích khoá hồn.

Có một người bắt gặp ánh nhìn tò mò của An Bình, mi mắt nàng khẽ cong, nở một nụ cười yêu dị trêu ghẹo cậu.

“Đó là Thập Lục Thiên Ma Vũ."

Chu Ẩm Tiêu giới thiệu: “Thang máy này là Thang Âm Dương mới.

Cái cũ đã dùng mấy ngàn năm rồi, đến thế kỷ trước thì gặp chút sự cố nên bị niêm phong hoàn toàn.

Thập Điện Diêm Vương liền xây cái mới ở đây rồi cử Thiên Ma Nữ trấn giữ, phòng ngừa bất trắc.”

"Lải nhải phiền chết đi được, đi nhanh lên."

Ô Tất Hữu sốt ruột nói: "Chợ quỷ sắp mở rồi."

Nhà ga Phong Đô rất gần phường Tam Sinh, gần như nằm ngay bên cạnh chợ quỷ.

Ngay khi ba người vừa ra khỏi nhà ga, An Bình lập tức bị choáng ngợp trong biển đèn trải dài bát ngát.

Đèn lồng treo trên cao với những sắc màu neon rực sáng tỏa ra khắp nơi, bên bờ Vong Xuyên có con thuyền lớn hoa lệ đang neo đậu, ánh sáng chiếu qua tấm giấy dán cửa màu vàng, hắt bóng những cô gái đang cúi đầu e lệ.

Trên mặt nước vang lên tiếng chiêng trống, báo hiệu vở hí khúc sắp mở màn.

Nơi này khác hoàn toàn với Phong Đô trong ký ức của An Bình, nó giống như một con rối bóng khổng lồ được dựng lên từ đồng thau và sắt thép, đang kể lại một câu chuyện xưa bằng điện tử và cơ khí, tràn ngập sức sống kỳ dị.

An Bình đi lên chiếc thuyền khổng lồ, lúc này cậu mới nhận ra toàn bộ khu chợ nổi dập dềnh như mây trên sông Vong Xuyên ngày trước đều đã được chuyển hết lên một chiếc thuyền, tiếng rao hàng liên tiếp truyền tới.

"Tiệm nào treo đèn lồng bên ngoài thì là cửa tiệm cũ, trước khi vào nhớ chú ý màu đèn."

Ô Tất Hữu vội vàng nói mấy lời rồi bỏ chạy: "Bằng không có xảy ra chuyện gì thì tôi cũng kệ cậu."

An Bình nhìn bóng lưng gấp gáp của Ô Tất Hữu: "Cậu ta đi đâu vội vậy."

"Tối nay trên tầng cao nhất có buổi hòa nhạc của Quỷ Tam Cơ."

Chu Ẩm Tiêu nhún vai: "Ô Tất Hữu là trưởng nhóm cổ vũ."

Không phải đã hẹn cùng nhau đi Bar rồi sao, An Bình không thốt nên lời.

Chu Ẩm Tiêu dường như đoán được suy nghĩ của An Bình, y vô tư khoác vai cậu kéo lên lầu: "Muốn vào bar thì phải chờ đến sau nửa đêm, buổi hòa nhạc của Quỷ Tam Cơ sẽ kết thúc vào giờ Tý, lúc đó sẽ thả hoa đăng, đẹp lắm."

"Vậy giờ chúng ta làm gì?"

"Tôi đã đặt một chỗ có vị trí đẹp ở tiệm trà để ngắm hoa đăng rồi, giờ chúng ta đi nghe kể truyện trước đã.

Tối nay kể Điểm Tinh Phong Hoa Lục, trong đó có một đoạn Thiếu Niên Hành, cậu nhất định sẽ thích.”

An Bình đi vào tiệm trà theo Chu Ẩm Tiêu.

Dù chỉ gọi là tiệm trà, nhưng nó chiếm trọn ba tầng lầu, trần nhà chạm trổ dát vàng điểm màu, xung quanh treo rèm trúc tao nhã.

Tầng trệt là khu vực dành cho khách lẻ, chỗ ngồi đã chật kín nhưng bên trong vô cùng yên tĩnh, chỉ có tiếng đàn nhẹ nhàng tinh tang.

Chu Ẩm Tiêu đặt một gian phòng riêng, hương trà lan tỏa trong không gian.

An Bình vén rèm trúc lên, giọng nói của người kể chuyện vọng đến từ đằng xa, trầm khàn luyến láy.

“Trăm đời vương bá tranh phân,

Thắng thua phút chốc hoá thành hư vô.

Long tranh hổ đấu bao lần,

Phong lưu chẳng biết đã ai tỏ tường.

Nay soi chuyện cũ giải sầu,

Giở trang phong nguyệt để vơi muộn phiền.

Thiếu niên rong ngựa gấm y,

Nghe mưa hát vọng bên đài ngân nga."

Tiếng thước gõ đường đánh nhịp lên bàn, làm một con chim đang đậu trên bàn giật mình bay lên, xoẹt qua không trung, làm gợn sóng nhẹ lan trong chén trà.

"Chuyện kể rằng, gần trăm năm trước, có một thiếu niên cầm kiếm xông vào Quỷ Môn Quan, tung hoành chợ quỷ, mở sòng cá cược, khiến bách quỷ phải dốc cạn túi, gây náo loạn cả Phong Đô..."

Nghe hơi quen quen…

Một lát sau An Bình mới bừng tỉnh, đây chính là chuyện của Mộc Cát Sinh và Tùng Vấn Đồng năm đó mà.

Dù đã ẩn danh, nhưng cậu vẫn nhận ra được.

Năm ấy Mộc Cát Sinh dẫn cả nhóm đến Phong Đô tìm Chu Ẩm Tiêu, y còn mua một chiếc mặt nạ bên sông để tránh bị nhận mặt.

Bởi lần đầu đặt chân đến Phong Đô, y đã mở sòng đánh bạc ở chợ quỷ, gần như thắng hết cả nửa cái chợ, cũng gần như đắc tội với nửa thành.

Cuối cùng còn bị toàn thành truy nã, thậm chí phải vào Âm Luật Ty lĩnh phạt.

Giọng kể thong thả, An Bình như mơ hồ nhìn thấy một bóng hình thiếu niên thản nhiên ngồi xuống bàn cược, đặt thanh đao đỏ thẫm lên bàn trước mắt bao người.

Hắn cười lớn sảng khoái, uống rượu rồi hát vang, vung tiền như nước, trong ánh mắt hiện rõ nét ngông cuồng, phóng khoáng chỉ có ở thiếu niên.

Đời người như khách lỡ nhịp, thời gian nào chờ đợi ai.

“Điểm Tinh Phong Hoa Lục là bản truyện cổ dân gian được chúng quỷ truyền nhau ở Phong Đô suốt ngàn năm, thế hệ sau cứ truyền tai nhau rồi thêm thắt.

"Thiếu Niên Hành" là đoạn mới được thêm vào gần đây, vì mới nên rất được nhiều người yêu thích."

Chu Ẩm Tiêu nhấp một ngụm trà: “Chuyện này không ngắn, hôm nay chắc chỉ kể được hồi thứ nhất.

Thêm thắt nhiều lắm, người trong cuộc nghe chắc cũng phải bật cười.”

Nói xong chính y cũng bật cười: “Nhưng mà nghe giải trí thì cũng vui thật.”

Giọng kể chuyển sang hài hước, kể đến chuyện Mộc Cát Sinh và Tùng Vấn Đồng cãi nhau vì ý định mang đao Thỉ Hồng đi cầm, đây hoàn toàn là bịa đặt.

Theo An Bình biết thì năm đó Mộc Cát Sinh đòi lấy đao, Tùng Vấn Đồng còn chẳng buồn chớp mắt.

Hai người vốn là đồng phạm lâu năm, chuyên kéo bè kết đôi đi gây án mà.

Nhưng câu chuyện thêm thắt lại rất thú vị.

Mộc Cát Sinh còn bắt đầu tỏ vẻ đáng thương, nói mình có một mối hôn sự, đôi bên tình cảm sâu đậm, nhưng vì đối phương hiện đang gặp khó khăn nên y bất đắc dĩ mới đến chợ quỷ thử vận may.

Kể lể đáng thương ai oán lắm, coi như cũng tả đúng một phần bản chất mặt dày vô sỉ của bản gốc.

Chu Ẩm Tiêu và An Bình nghe mà cười không ngớt.

Cười được nửa chừng, Chu Ẩm Tiêu bỗng hỏi: "Cậu có biết nguyên mẫu của người tình bé nhỏ mà lão tứ đã đính hôn trong phiên bản này là ai không?"

An Bình đang uống trà thì bị sặc: "Này cũng có nguyên mẫu nữa hả?"

Chu Ẩm Tiêu ra vẻ thần bí, nói thì thầm: "Là lão tam đó."

“?!?!”

Tách trà rơi khỏi tay An Bình.

Cái gì cơ?!

Thánh thần thiên địa ơi...

Phản ứng đầu tiên của cậu không gì ngoài ý nghĩ: Ô Tất Hữu thực sự là con của Mộc Cát Sinh và Ô Tử Hư!

[ Edit by TeiDii ]

_________________

Chủ nhà: Ra đường sợ nhất là va chạm với loại người như anh Sài.

Ổng cứ lầm lầm lì lì vậy chứ đụng chuyện là ổng ác nhất xứ (⁠・⁠∀⁠・⁠)!!!

Đoạn cuối làm tôi nhớ lão nhị quá...

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 37


Chương 37

"Em giai nghĩ đi đâu thế?”

Chu Ẩm Tiêu cười suýt ná thở: “Lão tam với lão tứ tuyệt đối trong sạch, chuyện này tôi dám bảo đảm.”

“Vậy mấy lời bịa đặt vừa rồi từ đâu ra?”

An Bình khó mà tin nổi, quá trời vô lý.

Nói đi cũng phải nói lại, Mộc Cát Sinh keo kiệt như vậy, có người bôi vẽ như thế, lẽ nào y lại để yên, không đòi tiền bản quyền?

“Thực ra chuyện này còn có nguyên nhân sâu xa."

Chu Ẩm Tiêu xoa cằm: “Xem ra cậu chỉ biết một nửa, chuyện lão nhị và lão tứ gây náo loạn cả Phong Đô thôi.

Còn vì sao bọn họ lại kéo nhau đến Phong Đô để đánh bạc, chắc cậu chưa biết.”

“Vì sao?”

“Lão tam lúc mới nắm quyền Âm Dương gia chưa bao lâu thì làm hỏng một việc, kéo theo một khoản nợ rất lớn, vừa là nợ ân tình, vừa là nợ tiền hương hỏa.

Chuyện này vô cùng rắc rối, với khả năng của lão tam khi ấy thì giải quyết không nổi.

Đám người Âm Dương gia lại đang muốn thử thách năng lực của vị Vô Thường Tử mới nhậm chức, chẳng ai chịu giúp y.

Cuối cùng lão tứ bấm tay tính toán một hồi, xong xúi lão nhị cùng xuống Phong Đô diễn một màn.

Y mở một canh bạc thắng hơn nửa cái chợ quỷ, rồi cả hai còn quậy tưng bừng một trận, gần như hất tung cả Phong Đô lên trời, ngông cuồng ngang ngược, giẫm lên mặt mũi của Thập Điện Diêm Vương.

Sau đó đích thân tiên sinh phải đứng ra giải quyết, tiên sinh bề ngoài là đang lấy lại công bằng cho Phong Đô, nhưng thực tế đang là giúp lão tam thoát khỏi cục diện rối ren.

Thứ nhất, phần lớn tiền thắng được trong ván bạc không bị đòi lại, xem như trả tiền hương hỏa; Thứ hai, lão nhị lão tứ gây chuyện, cuối cùng bị phạt nặng, giữ được mặt mũi cho Phong Đô, coi như trả nợ ân tình; Cuối cùng, lão tứ và lão nhị bề ngoài như làm mất sạch mặt mũi của Thất Gia Chư Tử, nhưng từ xử phạt hay thu dọn hậu quả đều do một mình tiên sinh quyết định, xem như đây là lời cảnh cáo, người trong Thất Gia Chư Tử làm sai thì chỉ có nội bộ Thất Gia có quyền phán xét.

An Bình bưng chén trà, nghe xong hồi lâu vẫn chưa tiêu hóa kịp.

Chu Ẩm Tiêu cười nhạt, cảm thán: “Vị trí Chư Tử ai ngồi lên cũng chẳng dễ.

Tiên sinh vì đám học trò như bọn tôi mà tốn bao tâm tư, mới có được một nơi yên bình như Ngân Hạnh Thư Trai năm đó."

"...

Sao anh biết rõ vậy?"

“Tôi do Mặc Tử nuôi mà.”

Chu Ẩm Tiêu nhìn cậu, bỗng bật cười: "Có điều cậu chỉ là người ngoài, biết nhiều như thế mới là chuyện lạ."

An Bình giật mình, lúc này mới nhận ra mình bị đối phương dẫn dắt nãy giờ.

"Thư giãn đi, lão tứ nói với tôi về chuyện của cậu rồi, y quan tâm đến cậu, chúng ta coi như là anh em."

Chu Ẩm Tiêu vỗ vai An Bình: "Nhưng em trai này, cậu phải cẩn thận hơn nữa.

Cậu quá dễ mất cảnh giác, Thất Gia Chư Tử hiện giờ không phải ai cũng đáng tin."

“Ý anh là gì?”

“Trí nhớ của lão tứ không hoàn chỉnh.

Cậu lấy thông tin từ ký ức của y, chắc còn chưa biết vụ biến cố bảy nhà năm đó…”

Chu Ẩm Tiêu đương nói dở chừng, bỗng vung tay, một luồng gió sắc bén thổi tung rèm trúc: “Ai?”

"Ty chức đường đột.. ” Ngoài cửa có người khom lưng hành lễ: "Tham kiến Tinh Túc Tử.”

An Bình nhận ra cách nói chuyện ngâm dài này, người tới là Thôi Tử Ngọc.

"Biết thân phận của tôi dưới này chẳng được mấy người."

Chu Ẩm Tiêu rót thêm trà: "Thôi phán quan bận rộn thế, tới đây có việc gì?”

"Ty chức nào dám.

Chỉ là nghe tin Tinh Túc Tử giá lâm chợ quỷ, nên muốn nhờ ngài chuyển giùm một phong thư.”

“Thư gì mà cần tôi chuyển giúp?

Cho lão tứ hay cho anh tôi?”

Thôi Tử Ngọc đáp: “Kính trình Thiên Toán Tử.”

“Việc gì?”

“…Xin bảy nhà họp mặt.”

Sắc mặt Chu Ẩm Tiêu lập tức biến đổi, lạnh lùng nói: "Thôi phán quan, ông có biết mình đang nói gì không?”

Y hất tách trà xuống đất, vỡ toang: “Ông thật sự nên mừng vì anh tôi không nghe thấy câu này."

"Ty chức biết mình phạm kỵ, chết cũng không thoát.”

Thôi Tử Ngọc trông như đang cố giữ vững tinh thần, tật nói năng ê a ngàn năm khó đổi cũng trôi chảy hơn: "Nhưng biến động ở Thang Âm Dương thực sự là chuyện lớn, dù đã được trấn lại, nhưng trên dưới thập điện diêm vương đều bị lay động, lại có tiền lệ trước đó, không thể coi nhẹ…”

“Thang Âm Dương...”

Chu Ẩm Tiêu cười lạnh: “Lại là Thang Âm Dương.”

"Thiên Toán Tử năm xưa từng gieo quẻ tiên đoán, nói rằng âm binh trong vòng một trăm năm sẽ không bạo động.

Giờ chưa đầy trăm năm đã sinh biến, có lẽ quẻ năm đó đã sai…”

"Thôi phán quan.”

Chu Ẩm Tiêu ngắt lời, cười mỉa mai: “Phong Đô biết anh tôi đã về miếu Thành Hoàng, sợ không dám đến, nên mới sai ông đến tìm tôi phải không?”

Thôi Tử Ngọc cúi đầu, không nói gì.

“Được rồi.”

Chu Ẩm Tiêu hất cằm: "Thư để trên bàn, cút nhanh đi.

Bằng không, tôi không dám đảm bảo ông còn ngắm được biển hoa giờ Tý đâu.”

Thôi Tử Ngọc vội vã rút lui, An Bình hỏi ngay: "Quẻ tượng mà các anh nhắc tới rốt cuộc là quẻ gì vậy?”

Mộc Cát Sinh từng nói, lý do y sống dở chết dở, mất trí nhớ, đều là do năm xưa y tính một quẻ không nên tính.

Còn biến cố bảy nhà mà Chu Ẩm Tiêu vừa nói dở bị ngắt, hai việc này có liên quan gì đến nhau không.

Chu Ẩm Tiêu kéo kín rèm trúc, ngăn giọng nói của người kể chuyện ở bên ngoài: "Vài ngày trước lão Tứ có gửi thư, nói cậu vô tình nếm được máu của y, nhờ đó nên có thể nhìn thấy ký ức của y."

Máu đúng là chất dẫn, nhưng chỉ với vài giọt máu mà tạo ra sự kết nối thì cực kỳ hiếm, lão tứ lại còn là Thiên Toán Tử…

Y cũng không nói nhiều, tôi cũng không tiện đào sâu.”

Chu Ẩm Tiêu nhìn An Bình: “Cậu có biết vụ âm binh bạo loạn năm đó cuối cùng bị trấn áp thế nào không?”

“…Tôi đã mơ thấy khúc Tướng Quân Na Vũ.”

An Bình im lặng một hồi, rồi nói tiếp: “Còn chuyện sau khi thành bị phá, tôi hoàn toàn không biết.”

“Quả nhiên.”

Chu Ẩm Tiêu thở dài: “Chuyện xảy ra sau đó, chính là biến cố bảy nhà.”

“Đêm ấy, nhóm anh tôi dồn hết sức nhưng vẫn không thành công diệt trừ toàn bộ âm binh, cuối cùng lão tứ hi sinh một đồng tiền Sơn Quỷ, trấn áp tàn hồn còn sót lại trong Thang Âm Dương."

An Bình tái mặt: "Ý anh là — ”

“Mấy ngày trước oán khí tàn dư của âm binh xuất hiện biến động, vì thế mà anh tôi phải tiến vào Thang Âm Dương bị phong tỏa từ lâu, lấy đồng tiền Sơn Quỷ kia ra."

Chu Ẩm Tiêu bình tĩnh nói: "Chắc hẳn bây giờ lão tứ cũng nhận được đồng tiền Sơn Quỷ ấy rồi, điều này cũng có nghĩa là y sẽ khôi phục thêm một phần ký ức.

Chuyện năm xưa người cũ chẳng còn, biết sự thật cũng có mấy ai, từ rất lâu về trước anh tôi đã dặn rằng trừ khi lão tứ tự mình nhớ ra, không một ai được phép kể cho y biết.

Lời của anh lớn, tôi đương nhiên phải nghe.

Chỉ là giờ lão tứ đã lấy được đồng tiền Sơn Quỷ, vậy thì không cần phải né tránh chuyện này nữa.”

Chu Ẩm Tiêu vuốt ve phong thư trên bàn, nhìn An Bình: “Cậu có biết năm đó y đã tính quẻ gì không?"

...

Miếu Thành Hoàng.

"Người hỏi ngày về, chưa hẹn đâu,

Gà kho cà tím, nhớ hương đầu.

Bao giờ cùng cắt nến bên khung cửa,

Lại kể chuyện xưa, tranh cơm cười."

Mộc Cát Sinh nằm dài trên mái bếp, ung dung lẩm bẩm mấy câu thơ, mắt hướng ra dàn đèn hoa trên phố, bỗng nói: "Tam Cửu Thiên, chúng ta ra ngoài dạo một vòng không?”

Sài Thúc Tân bước khỏi gian bếp, tay bưng bát thuốc: "Tới giờ uống thuốc rồi."

Nghe đến thuốc là Mộc Cát Sinh phát cơn, thiếu điều muốn lăn lộn vật vạ trên mái nhà: “Thương lượng chút đi, hôm nay vẫn đang ăn tết, cắt một cử thuốc có được không?"

Sài Thúc Tân im lặng một lát, bất ngờ đồng ý: “Được.”

"Cái gì?

Anh đồng ý thật à?”

Mộc Cát Sinh bật dậy: "Tam Cửu Thiên, anh ăn trúng đồ bậy bạ gì rồi hả?!"

Mộc Cát Sinh lập tức nhận ra câu kia không ổn xíu nào, y vội thu lời: “Không không không, ngài ăn gì cũng ngon, cơ thể khỏe khoắn, coi như tôi chưa nói gì.”

Sài Thúc Tân không đáp, đặt bát thuốc trở lại bếp.

Một hồi lâu không thấy người kia ừ hử gì, Mộc Cát Sinh nhảy xuống mái nhà, nhìn vào gian bếp thì chẳng thấy ai, đang khó hiểu thì phía sau bỗng vang lên một tiếng "kẽo kẹt", cửa chính miếu Thành hoàng bị đẩy ra.

Y quay đầu lại, chỉ thấy Sài Thúc Tân đang đứng ở cửa, trong tay cầm một chiếc đèn lồng đã được thắp sáng.

Khuôn mặt đối phương vẫn bình thản, anh chăm chú nhìn y, dịu giọng nói: “Nguyên Tiêu an khang.”

Mộc Cát Sinh hơi ngẩn ngơ, rồi bật cười: “Nguyên Tiêu cát tường.”

Chiếc đèn lồng trong tay Sài Thúc Tân được làm bằng nan tre và giấy xuyến, kiểu dáng cổ xưa thời nay ít thấy, dùng giấy giả lụa viền trên dưới, giản dị mà tinh tế.

“Sao lại nhớ ra mua cái này?”

Mộc Cát Sinh bước đến trước mặt Sài Thúc Tân: “Khoan đã, đây là anh tự làm à?”

Sài Thúc Tân hơi ngớ người: “Cậu nhìn ra được sao?”

"Cả miếu toàn hoa giấy do anh cắt, tôi không nhận ra tay nghề của anh thì đúng là mù rồi.”

Mộc Cát Sinh trêu: "Khai thật cho tôi nghe, anh dùng đao Thỉ Hồng cắt giấy phải không?

Lão nhị biết anh dùng đao của hắn như thế chắc chắn nửa đêm sẽ hiện hồn về giết anh."

"Đến thì đến đi."

Sài Thúc Tân thờ ơ đáp: “Vừa hay đang muốn đánh một trận."

“Được, ngài oai nhất trần đời!"

Mộc Cát Sinh cầm lồng đèn, mỉm cười: “Người xưa có câu, dưới trăng ngắm lang quân, dưới đèn ngắm mỹ nhân.

Đi thôi mỹ nhân, chúng ta ra ngoài dạo một vòng.”

Nguyên Tiêu vừa tới, đèn giăng khắp nơi.

Phố Thành Tây là phố cổ, các tòa nhà được trùng tu theo lối cổ, hầu hết là nhà hai tầng mái cong, giữa các tòa nhà treo dây sắt với dải lụa đỏ, trên không trung giăng đầy đèn lồng rực rỡ.

Con phố đông đúc, người bán hàng gánh những tấm bình phong tre, treo đầy đèn màu rực rỡ.

Mộc Cát Sinh vừa đi vừa cười: “Giờ toàn đèn điện rồi.

Tôi nhớ năm đó dẫn con gái đi hội đèn, nó đòi tôi mua một cái, khóc to hơn cả lão ngũ hồi xưa.”

Nói đến đây, y thoáng trầm ngâm hoài niệm: “Cái đèn ấy hài lắm, còn bật được nhạc Ultraman nữa cơ!”

Sài Thúc Tân chỉ vào một quầy đèn bên cạnh: “Cậu nói cái đó hả?”

Đó là một quầy chuyên bán lồng đèn điện tử, kiểu dáng đủ loại từ mười hai con giáp đến SpongeBob hay Peppa Pig, hai mắt Mộc Cát Sinh sáng rỡ: “Đúng là tìm hoài chả thấy, chả tìm thì ngay cạnh.”

Y tiến đến quầy hàng: “Chọn cho con gái tôi một cái, về treo trên đầu giường nó.”

Sài Thúc Tân vẫn điềm tĩnh: “Cậu muốn cái nào?”

“Hoan nghênh hoan nghênh, quý khách xem thoải mái nhé."

Chủ quầy đơm đã mời mọc: "Hai cậu mua ngắm chơi hay mua cho trẻ con trong nhà?"

"Ông chủ khách sáo rồi."

Mộc Cát Sinh cười ha hả: "Tôi mua cho con gái tôi."

Gương mặt non trẻ của y nhìn kiểu gì cũng chẳng giống người đã có con, nhưng biết đâu lại cưới vợ sớm, chủ quầy ngẩn ra một chút, rồi cười mời: “Được thôi, con gái cậu năm nay bao tuổi rồi?

Tuổi khác nhau, sở thích cũng khác, cậu nói rồi tôi gợi ý cho, đảm bảo bé con ở nhà sẽ thích."

“Chưa lớn lắm.”

Mộc Cát Sinh lắc tay: “Mới tốt nghiệp mẫu giáo.”

“Thế thì dễ rồi!”

Người bán hăng hái lấy xuống một chiếc đèn, đưa cho Mộc Cát Sinh: “Cái này bán chạy nhất, các bé gái mẫu giáo đều tranh nhau mua.”

Đó là một con búp bê màu mè hường phấn, phía sau có đôi cánh cầu vồng, Mộc Cát Sinh nhìn mà cười híp mắt: “Ôi, nàng tiên nhỏ này xinh thật đấy.”

“Không phải nàng tiên nhỏ, đây là công chúa Disney.”

Người bán niềm nở mời chào: "Còn có thể phát nhạc nữa, cậu mở thử đi."

Mộc Cát Sinh vừa gạt nút, nhạc vang ầm ĩ: “Truyền thuyết có một lâu đài tiên hắc ám — "

"Hay, hay lắm, công chúa Disney chạy trốn, chạy đến lâu đài tiên hắc ám và trở thành tiên hắc ám."

Mộc Cát Sinh cười tươi rói, quay sang nói với Sài Thúc Tân: "Mua cái này đi."

Sài Thúc Tân thanh toán xong, bất lực nói: "Cậu còn định mở bài nhạc này đến bao giờ?”

"Nghe cho đã một lần, lát nữa con gái tôi về chắc chắn sẽ đập nát mất.”

Mộc Cát Sinh vừa đi vừa cười: "Phản ứng của nó khi đó chắc chắn rất thú vị."

“Biết nó sẽ đập, sao vẫn mua?”

"Con gái tôi giờ đang bệnh trẻ trâu còn bồi thêm rối loạn tăng động, rõ ràng là một con nhi đồng mà tính khí hệt như bà thím đang ở tuổi tiền mãn kinh vậy."

Mộc Cát Sinh thở dài: “Giới trẻ ngày nay chịu nhiều áp lực, cần chút hồn nhiên.”

“Thật sao?”

“Giỡn thôi.”

Mộc Cát Sinh nói: "Thật ra tôi chỉ muốn thấy nó nổi điên."

"Đủ điên rồi, điên nữa rụng sạch tóc mất!"

"Tam Cửu Thiên này, anh đang bóng gió ai đó?"

Mộc Cát Sinh cười nhăn nhở: "Cùng lắm thì bố ruột của nó là lão tam chỉ bị rụng tóc nặng, chứ không hẳn là hói."

Sài Thúc Tân nghiêm túc: "Chứng rụng tóc có di truyền."

“Được rồi, phạm trù chuyên môn của anh, tôi cãi không lại.”

Mộc Cát Sinh cười nói: "Cùng lắm thì chờ con gái tôi về, anh nấu ít chè mè đen cho nó ăn."

“Nấu rồi, nó chả thèm ngửi."

"Phải, hồi đó lão tam cũng không thích.”

"Đó là vị cậu nấu quá khó ăn."

"Thầy thuốc nhỏ à, anh cứ phải vạch trần người ta như thế hả?"

Hai người vừa đi vừa nói chuyện, rất nhanh đã dạo hết con phố: "Qua ngày hôm nay, miếu hội cũng tan.

Mỗi năm chỉ có mấy ngày tết mới lại nhìn thấy vài món đồ thuở xưa.”

Mộc Cát Sinh hiếm khi tỏ ra bồi hồi, Sài Thúc Tân nhìn y, môi hơi mấp máy, định nói gì đó, nhưng người kia rất nhanh đã phấn chấn trở lại: "Tuyệt vời, mấy ông chủ sạp hàng lợi dụng dịp tết bán giá cắt cổ, dẹp mợ cho rồi!"

Sài Thúc Tân: “……”

Anh nghẹn lời, hồi sau mới lên tiếng: “Qua Tết Nguyên Tiêu, Tinh Túc Tử phải về nhà rồi."

Mộc Cát Sinh nghe vậy liền trêu: “Sao, không nỡ xa lão ngũ à?”

"Dù gì thì cả năm mới gặp được một lần."

“Ừm, cả năm mới gặp được một lần."

Mộc Cát Sinh nói: “Nhưng năm nay khác, nếu tôi tính không nhầm, năm nay lão ngũ sẽ không rời đi sớm."

Sài Thúc Tân nhìn y: “Ý cậu là…”

Đang nói nửa chừng, anh trông thấy đồng tiền Sơn Quỷ trong tay Mộc Cát Sinh.

Đây chính là đồng tiền anh mang ra từ trong Thang Âm Dương.

“Tôi nhớ ra một số chuyện..."

Mộc Cát Sinh tung đồng tiền lên không trung: "Nhờ thế mà đoán trước được vài điều."

“Thảo nào anh không chịu kể tôi nghe năm đó rốt cuộc xảy ra chuyện gì.”

Mộc Cát Sinh nhìn Sài Thúc Tân, nhàn nhạt cười: "Tôi nhớ ra năm đó mình đã gieo quẻ gì rồi."

[ Edit by TeiDii ]

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 38


Chương 38

Thời gian quay về gần trăm năm trước.

Ngày thành thất thủ, trong lúc nguy cấp, Sài Thúc Tân đã túm lấy Mộc Cát Sinh.

Nhưng anh vốn chưa từng ra trận đánh giặc, làm sao quen thuộc chiến trường bằng đối phương được.

Mộc Cát Sinh trở tay bắt lấy, lôi cả người anh vào ôm chặt trong ngực mình.

Tường thành đổ sụp trong nháy mắt, đá vụn từ trên rơi xuống, nện thẳng lên hai người.

Cơn đau nặng nề ập đến, khiến anh hoàn toàn mất ý thức.

Chẳng biết qua bao lâu, Sài Thúc Tân bị cơn mưa xối cho tỉnh lại.

Không khí tràn ngập mùi máu tanh nồng.

Anh đang nằm úp mặt xuống đất bùn, xương cốt toàn thân rệu rã như đảo lộn vị trí.

Anh tự xem mạch cho mình, đa phần đều là thương tổn do bị rơi từ trên cao xuống, vẫn chữa được.

Còn Mộc Cát Sinh đâu?

Sài Thúc Tân muốn đứng dậy, nhưng phát hiện mình đang bị đè dưới đống đá vụn, thân thể nặng tựa nghìn cân.

Anh cố gắng nghĩ cách bò ra ngoài, dốc chút hơi tàn cố nhích người ra khỏi đống đổ nát, nào ngờ chỉ vừa xích lên một chút, lẫn trong đống đá vụn rơi lả tả xuống còn có một cánh tay người rơi sượt qua tai anh.

Trong khoảnh khắc ấy, tiếng mưa ồn ã bên tai đột ngột ngưng bặt.

Lúc này Sài Thúc Tân mới nhận ra, mùi máu quanh thân anh phần lớn không phải của mình.

Có người vẫn đang nằm đè lên lưng anh.

Lúc tường thành sập xuống, Mộc Cát Sinh đã kéo anh lại và lấy thân mình đỡ phần lớn lực va đập từ gạch đá.

Sài Thúc Tân không biết mình đã bò ra khỏi đống đá như thế nào.

Khi có thể tỉnh táo lại, anh thấy mình đã xới tung đống đá vụng lên.

Máu...

Máu, ở đâu cũng là máu.

Trên đá sỏi phủ đầy những mảng máu đông, lại bị mưa rửa trôi xuống.

Có một người đang nằm giữa đống máu ấy, tứ chi vặn vẹo, gần như không còn chỗ nào nguyên vẹn.

Chẳng ai có thể liên hệ được cái thây người tàn tạ này với dáng vẻ phong lưu tiêu sái của chủ nhân nó lúc bình thường.

Thế nhưng sườn mặt này, Sài Thúc Tân chắc chắn không bao giờ nhìn nhầm, đó chính là Mộc Cát Sinh.

Anh bắt đầu run rẩy...

Anh cắn chặt răng, thế mà vẫn run đến đỗi chẳng thể nắm được cổ tay Mộc Cát Sinh.

Máu làm mờ tầm mắt, anh xé toạc chiếc áo quân phục thấm đẫm máu trên người y, áp tai xuống đống máu thịt tả tơi, vết thương chi chít.

Hoàn toàn không có nhịp tim.

Mưa rơi xối xả, nhưng bên tai anh lại là sự im lặng chết chóc.

Khi Ô Nghiệt chạy đến nơi, chỗ đống đổ nát chỉ còn lại một vũng máu.

Nàng chấm ngón tay vào nước mưa lẫn máu, đưa lên miệng: "Chết tiệt! là máu của thằng nhóc Thiên Toán Tử.”

Nhưng vị máu không đúng lắm.

Nàng cố nén nỗi bất an trong lòng, vũng máu này còn phảng phất mùi của Sài Thúc Tân, nhưng có hơi người sống.

Ít nhất trong hai người kia vẫn còn một kẻ sống, nhưng bọn họ đi đâu?

Sau lưng Ô Nghiệt là hai hồn ma chết trận, bị nàng bắt lại.

Hai hồn ma khiêng một cái cáng, Ô Tử Hư và Tùng Vấn Đồng nằm trên đó, cả hai đều bị thương rất nặng, đang chìm vào hôn mê, phải được chữa trị ngay lập tức.

Mà hiện giờ, người duy nhất có thể cứu họ chỉ còn Sài Thúc Tân.

Nhưng rốt cuộc hai người kia đã đi đâu?

Ô Nghiệt cưỡng ép đè nén dự cảm xấu, Linh Xu Tử chết rồi sao?

Song khả năng còn lại càng đáng sợ hơn.

Nàng đã sống cả ngàn năm, đôi mắt nhìn thấu sự đời, nàng biết rõ nếu kẻ chết là Mộc Cát Sinh, hậu quả sẽ rất khó tưởng tượng.

Không thể chần chừ thêm nữa.

Ô Nghiệt bị mưa xối ướt đẫm, nghĩ nhanh một lượt những nơi hai người kia có thể đến: Mộc phủ?

Sài phủ?

Nhà họ Ô?

Quan Sơn Nguyệt?

Nghiệp Thủy Chu Hoa?

Không đúng.

Quân địch đã vào thành, giờ liều lĩnh chạy vào thành chẳng khác nào tìm chết.

Huống chi người dân trong thành gần như đã dời đi hết, vào thành cũng không thể bổ sung vật tư, thuốc men cũng chẳng có.

Vậy bọn họ có thể đi đâu?

Không thể vào thành...

Lẽ nào là doanh trại ngoại thành?

Không, không đúng.

Doanh trại quân đội chắc chắn là nơi bị đánh phá dữ dội nhất, quay về chẳng khác nào tự nộp mạng.

Vậy thì chỉ còn lại một khả năng...

"Mẹ kiếp!"

Ô Nghiệt mắng một tiếng: "Mưa lớn thế này, đường lại xa như vậy, đừng có mà chết dọc đường đấy.”

Mưa tạt ướt sũng, nàng quệt vội nước trên mặt, nhón chân lao vút đi như gió, hai vệt tàn hồn theo sát phía sau.

Nàng sớm nên nghĩ ra chỗ duy nhất mà bọn Sài Thúc Tân có thể trở về lúc này.

...

Chùa Bạch Thủy.

Ngân Hạnh Thư Trai.

Quả nhiên không ngoài dự đoán, trên đường núi toàn là máu.

Càng đi, lòng nàng càng bất an, máu quá nhiều, nhiều đến mức lượng máu chảy ra từ một người khó có thể sánh được, rõ ràng nơi đây vừa xảy ra một trận chiến ác liệt.

Khi Ô Nghiệt cuối cùng cũng tới được cổng chùa Bạch Thủy, nàng giơ chân đạp tung cửa chùa, đồng tử nàng lập tức co rút...

Thi thể nằm la liệt, tường xiêu vách nát.

Khắp nơi đều là máu, màu đỏ bao phủ cả trời đất, ngoài thiền phòng, cạnh giếng nước, trên mặt đường lát đá xanh đầy xác nhà sư nằm đó.

Có người bị giết trong một đòn, có người bị chém nát ra, còn có một vị sư bị treo dưới mái hiên, thân bị đâm nhiều nhát, chết không nhắm mắt.

Chiếc chuông cổ truyền thừa trăm năm bị đập nát trên đất, chỉ còn lại một nửa vành chuông, lại bị gió mưa hất xuống bậc thang, cạnh đó còn có những vật đen tròn lăn lông lốc, chính là đầu người đã bị lột da.

Mưa lớn ào ạt kín trời lấp đất, máu và nước hòa vào nhau chảy thành dòng, uốn lượn quanh co.

Địa ngục Vô gián – chẳng qua cũng chỉ là thế này.

Ngay cả hai linh hồn khiêng cáng cũng sợ đến bốc khói.

Họ là ma vừa chết trận, chỉ mơ màng biết mình đã bỏ mạng trong chiến tranh khói lửa, nào nhớ đã từng thấy cảnh tượng thảm khốc như vậy.

Ô Nghiệt đứng ngoài cửa.

Nàng đường đường là bà lớn Thái Tuế của Phong Đô, quá quen chuyện sinh tử, vậy mà sau khi chứng kiến cảnh tượng đẫm máu trong chùa, nàng lặng người rất lâu mà chưa bước tiếp.

Nàng mờ mịt nghĩ: Mình ở Phong Đô lâu quá rồi.

Kẻ tới người lui chỉ toàn hồn với phách, đến mức nàng suýt quên mất thi thể người chết trông như thế nào.

Người chết rồi, xác sẽ lạnh.

Lạnh hơn cả nước mưa.

Ít nhất Phong Đô còn có dòng Vong Xuyên, có đèn sen xanh, có chợ quỷ bách hí...

Từ bao giờ mà nhân gian lại trở nên giống địa phủ hơn cả địa phủ?

Một sự mệt mỏi khó diễn tả dâng lên trong lòng Ô Nghiệt, nàng cảm nhận đáy tim mình lạnh buốt.

Nàng thật sự đã già rồi.

Ô Nghiệt bước vào Ngân Hạnh Thư Trai, tìm được Sài Thúc Tân đang ngồi trong hương đường.

Căn phòng nhuốm đầy máu, nhưng không phải máu của Mộc Cát Sinh, mà là của một bộ xương be bét máu thịt đang ngồi trên đệm bồ đoàn, hai tay chắp lại trước ngực.

Ngồi kiết già, là tư thế ngồi chuẩn bị viên tịch.

Trước thi thể có tám chữ được viết bằng máu –

Chết nơi nên chết, lá rụng về cội.

Ô Nghiệt nhận ra chữ viết này, là bút tích của trụ trì chùa Bạch Thủy.

Nàng cũng nhận ra cách chết này, là lột da, róc thịt.

Chẳng biết qua bao lâu, Sài Thúc Tân đột nhiên lên tiếng, giọng khản đặc: “Người tu hành đến thành tựu, ngồi yên mà tịch, gọi là tọa hóa.”

“Không vứt bỏ cố hương, ung dung chịu cái chết.”

Ô Nghiệt trầm mặc một lát rồi nói: “Công đức viên mãn, được luân hồi vào cõi trời."

“…Tốt.”

Sài Thúc Tân chậm rãi gật đầu: “Vậy xin người xem giúp tôi…

Cậu ấy sẽ đi về cõi nào?"

Nãy giờ anh ngồi quay lưng ra phía cửa hương đường, trong phòng toàn là mùi máu, Ô Nghiệt vậy mà không phát hiện anh đang ôm một người trong lòng mình, đó chính là Mộc Cát Sinh.

Nhưng người đó giờ đây còn mỗi khuôn mặt miễn cưỡng nhận ra được.

Nếu nói Sài Thúc Tân đang ôm một cái thây người, thà bảo rằng anh ôm một đống thịt nát thì đúng hơn.

Thậm chí Sài Thúc Tân còn không hỏi người này cứu được hay không.

Anh trực tiếp hỏi Mộc Cát Sinh sẽ đi về cõi nào.

Ô Nghiệt nghiến răng, dứt khoát nói: “Ngươi là Linh Xu Tử, quy củ của chư tử ngươi hẳn rõ.

Thiên Toán Tử khi chết sẽ hồn phi phách tán, không vào luân hồi.”

"Tôi biết...”

Giọng nói của anh nghe như trong tim đã rỉ máu: “…Nhưng với tôi, cậu ấy không chỉ là Thiên Toán Tử.”

Câu nói nhanh chóng bị cơn mưa ngoài sân nuốt chửng.

Ô Nghiệt nghe mà lo sợ không thôi.

Sau lưng nàng vẫn còn hai kẻ hấp hối đang chờ cứu chữa, trước mắt phải ổn định tinh thần đối phương trước đã: “Hay là thế này, giờ ta đưa ngươi về Phong Đô một chuyến, biết đâu Thiên Toán…

Khụ, thằng bé họ Mộc kia hồn phách còn chưa tiêu tán hết, các ngươi vẫn còn kịp gặp nhau lần cuối — ”

Nhưng nàng còn chưa nói hết câu, Sài Thúc Tân đã cắt lời: "Bà lớn."

"Gia đang nghe đây."

“Lúc trước, khi trở về từ Phong Đô, Mộc Cát Sinh đã kể với chúng tôi rằng trong bảy ngày hôn mê, cậu ấy đã mơ một giấc mơ.

Trong mơ tiền giấy bay như tuyết, cậu ấy nghe thấy tiếng ca tế."

Ô Nghiệt giật mình.

“Ca tế của Thất Gia Chư Tử có nguồn gốc từ thời thượng cổ, trong đó có hai bài cổ nhất, lần lượt là 'Tư Mệnh' và 'Lễ Hồn'.

‘Lễ Hồn’ truyền cho Âm Dương gia, có thể an linh dẫn hồn.

‘Tư Mệnh’ truyền cho Dược gia, có thể níu giữ sinh hồn.

Một bên chủ tử, một bên chủ sinh.

Thất Gia Chư Tử nhờ đó mà quản việc hai cõi âm dương."

Ô Nghiệt dĩ nhiên biết những điều này, thậm chí biết chi tiết hơn nhiều.

‘Lễ Hồn’ chính là bài ca tế được các Vô Thường Tử xướng lên khi trở thành người gõ mõ, dùng để hiệu lệnh âm binh, cũng là thuật chú mạnh nhất của Âm Dương gia.

Về sau, trong khúc Tướng Quân Na Vũ, vẫn còn vang bóng giai điệu lấy từ bài ca tế này.

Âm Dương gia chủ về cái chết.

Dược gia chủ về sự sống.

Dược gia có thể cứu người thoát khỏi cái chết không chỉ nhờ y thuật, mà còn vì ‘Tư Mệnh’ có thể cưỡng chế gọi hồn về, khiến người chết sống lại.

Hồn ơi về đi –

Ô Nghiệt khó tin: “Khi đó thằng bé họ Mộc gặp âm binh trong Thang Âm Dương, tình thế nguy cấp, cuối cùng nhờ ngươi kịp chạy đến cứu nó..."

“...Thật ra đã không còn cứu được nữa."

Sài Thúc Tân khàn giọng: "Tôi đã dùng ‘Tư Mệnh’.”

"Bài ca tế y từng nghe trong mơ, chính là do tôi xướng."

“Ngươi điên rồi!”

Ô Nghiệt kinh hãi thốt lên.

“Dược gia đã trăm đời không ai dùng Tư Mệnh, tế ca của Âm Dương gia cũng chỉ có người gõ mõ mới được dùng.

Đây là làm trái ý trời!"

"Làm trái ý trời?”

Sài Thúc Tân khẽ lắc đầu, mái tóc xoã tung rối bù: "Nhìn vào những chuyện chúng tôi đã làm, từ lâu đã không xem trời ra gì."

“Ngươi điên thật rồi!”

Ô Nghiệt liên tục lắc đầu, không dám tin: “Tư Mệnh chỉ có thể dùng một lần, lần đó ngươi đã dùng để cứu nó, tuyệt đối không thể dùng được lần hai."

"Bà lớn có điều không rõ."

Sài Thúc Tân nói: “Tư Mệnh tuy là bí thuật, nhưng nguyên lý lại rất đơn giản, chính là lấy mạng đổi mạng.”

“Lần trước tôi ích kỷ… chỉ đổi một nửa dương thọ của mình cho y.

Giờ nghĩ lại, may mà tôi vẫn còn một nửa.”

Chỉ là dùng mạng đổi mạng thôi mà.

Sài Thúc Tân buông thi thể Mộc Cát Sinh xuống, quỳ trước Ô Nghiệt: “Vãn bối có một chuyện muốn thỉnh cầu.”

Ô Nghiệt hoàn toàn không biết phải nói gì.

Nếu trước giờ nàng còn tưởng mình hiểu Sài Thúc Tân, thì những lời vừa rồi đã phá vỡ toàn bộ ấn tượng của nàng về anh.

Người thanh niên khoác vẻ ngoài điềm tĩnh trước mắt này lại ẩn giấu trong mình sự điên cuồng lạnh lẽo đến khôn tả.

Mộc Cát Sinh có lẽ chính là hạt giống đã gieo mầm trong anh từ lâu, cái chết của y khiến cho mọi nỗi kìm nén ẩn sâu trong xương tủy bộc phát ra ngoài.

Có lẽ hai người trong phòng này vốn chẳng khác gì nhau.

Một người thịt nát xương tàn, một người cõi lòng rướm máu.

Chuyện đã đến mức này, nàng không còn lời khuyên nào nữa.

“Ngươi chữa trị cho hai người ngoài cửa giúp ta đi.

Việc ngươi muốn cầu, ta đồng ý.”

Nàng đại khái đoán được đối phương muốn gì: “Dù tu vi đã cạn, ta cũng chẳng biết mình còn sống được bao lâu.

Nhưng trong quãng đời còn lại, ta hứa sẽ bảo vệ nó.”

Sài Thúc Tân vẫn quỳ trên đất, lắc đầu: “Điều vãn bối muốn cầu không phải chuyện này.”

"Tư Mệnh là bí thuật, ngoài lấy mạng đổi mạng, trong quá trình thi triển sẽ tiêu hao tu vi.

Vãn bối không phải tu sĩ, chỉ là một trong những Chư Tử, có chút tu vi công đức bẩm sinh, lần trước đã hao tổn gần hết."

Sài Thúc Tân cúi người dập đầu, giọng trầm khàn: "Vãn bối cả gan, muốn xin ngài dùng tu vi trợ giúp."

Ô Nghiệt sững người.

Tu vi nàng còn bao nhiêu, cả hai đều rõ.

Giờ mở miệng xin, cả hai đều biết điều đó có nghĩa gì.

Ngoài kia mưa như trút nước, một người đứng – một người quỳ, lặng lẽ đối mặt nhau.

Không biết qua bao lâu, Ô Nghiệt khẽ thở dài, nàng bước ra khỏi hương đường, đưa tay ra hứng nước mưa, rửa sạch vết máu trên tay.

Nàng ngẩng đầu ngắm màn mưa một lúc, nhẹ giọng nói:

“Ngươi cứu hai kẻ đang hấp hối cho gia trước.

Còn việc ngươi cầu —

Gia đồng ý."

*Tư Mệnh (Sài Thúc Tân x Mộc Cát Sinh):

Cre: 渠与萆荔

[ Edit by TeiDii ]

________________

Chủ nhà: Vậy ra cái người cầm mõ trong giấc mơ của anh Mộc chính là anh Sài.

Lúc làm đến chương đó thấy cấn ở chỗ anh Mộc đã phun đồng tiền Sơn Quỷ ra ngay trước khi bị âm binh chém, nhưng Ô Nghiệt lại bảo anh Mộc nhờ ngậm tiền Sơn Quỷ nên còn sống.

Chắc anh Sài lừa Ô Nghiệt rồi.

.
 
[Đm]Hồng Bạch Song Hỉ
Chương 39


Chương 39

Đến ngày thứ ba sau khi mưa tạnh, Sài Thúc Tân đã ổn định được tình trạng thương thế của Ô Tử Hư và Tùng Vấn Đồng.

"Thuốc còn sót trong chùa quá ít, châm bạc tôi mang theo cũng không đủ dùng, lúc cấp bách chỉ có thể tạm thời cứu nguy.”

Họ đang ngồi trong gian thủy tạ, Sài Thúc Tân đang bắt mạch cho Ô Tử Hư: “Hai người bọn họ vẫn sẽ hôn mê thêm một thời gian nữa.”

“Không chết là tốt rồi.

Thương tích do âm binh gây ra không phải là thứ mà y thuật thông thường có thể chữa trị.

Hiện giờ xem như chúng phúc lớn mạng lớn."

Ô Nghiệt ngồi bên cạnh, nhìn hai người đang hôn mê: "Không ngờ ngươi có thể làm được đến mức này, quả nhiên xứng danh Linh Xu Tử."

"Bà lớn quá lời."

Sài Thúc Tân nói: "Vãn bối đã không còn là người Dược gia nữa."

“Ta nghe rồi.

Chỉ là chút chuyện lắt nhắt như hạt vừng thôi.”

Ô Nghiệt hừ nhẹ: “Ngươi bị Dược gia trục xuất thì sao?

Chư tử phế lập đều phải được Thiên Toán Tử phê chuẩn.

Ngươi nghĩ thằng nhóc kia sẽ đồng ý à?”

“Đợi lúc y tỉnh lại, cũng gần đến lúc lập ra Linh Xu Tử mới rồi.”

Sắc mặt Sài Thúc Tân vẫn bình thản: "Sau khi dùng Tư Mệnh, ngày tháng còn lại của tôi cũng chẳng còn bao nhiêu.”

"Ngươi còn sống được bao lâu?"

"Vãn bối đã tính qua thọ số của mình.”

Sài Thúc Tân nhàn nhạt đáp: “Nhiều nhất còn nửa năm.”

“Bọn trẻ bây giờ thật là...”

Ô Nghiệt nghe xong chỉ lắc đầu thở dài: "Gia đã già thật rồi."

Nàng nói đến đây thì quay sang nhìn anh: “Thứ cần chuẩn bị đều đã chuẩn bị xong rồi chứ?"

"Đã được chuẩn bị xong, tuyệt đối không có sai sót."

"Vậy cũng đến lúc rồi."

Ô Nghiệt nói: "May mà mùa đông giá lạnh, mới có thể kéo dài được thêm mấy ngày.

Không thể trì hoãn nữa.

Dù thằng nhóc kia là Thiên Toán Tử, nhưng thi thể nó cũng sẽ mục rữa.”

Nàng phủi tay đứng dậy: “Ta không am hiểu Tư Mệnh, nhưng các loại bí thuật vốn rườm rà.

Ngươi định khi nào ra tay?”

“Đêm nay, giờ Tý.”

Sài Thúc Tân nhìn nàng: "Bà lớn có điều gì muốn nhờ vãn bối chuyển lại không?"

“Người sống hơn chín trăm tuổi, muốn nói gì cũng đã nói hết từ lâu rồi, còn lại toàn mấy lời nói nhảm thôi."

Ô Nghiệt khẽ cười: "Chỉ có một thứ, chính là chiếc trống lớn mà gia đã dùng tu vi hóa thành, dùng để múa Tướng Quân Na Vũ, gia đã dùng nó để phong ấn Thang Âm Dương."

Hiện trong Thang Âm Dương vẫn còn chút oán khí sót lại, tuy không thành hoạ nhưng vẫn không thể xem thường.

Nhớ dặn dò người đời sau, phải thường xuyên định kỳ kiểm tra.

Để phòng bất trắc, lát nữa gia sẽ vẽ cho ngươi một trận đồ, ngươi dùng nó có thể gia cố phong ấn.

Còn nếu đảo ngược trận đồ, thì có thể mở Thang Âm Dương.”

“Vâng.”

Sài Thúc Tân gật đầu: "Bà lớn còn điều gì muốn căn dặn nữa không?"

Ô Nghiệt liếc anh, giọng nhàn nhạt: "Nhóc con, ngươi từng chứng kiến cái chết của Thái Tuế chưa?”

“Chưa từng.”

“Ngàn năm trước, khi Thái Tuế đời trước qua đời, trời giáng đại hỏa, cháy suốt mấy ngày không tắt.”

Ô Nghiệt nói: “Tu vi của ta không còn lại bao nhiêu, cách chết chắc không đến mức khoa trương như vậy, nhưng có lẽ trên ngọn núi này sẽ chẳng còn thứ gì sống nổi."

“Máu tanh khắp núi, đốt sạch đi cũng tốt.”

.

Đêm xuống, Ô Nghiệt ra bờ nước rửa mặt chải tóc.

Hồ nước trong Ngân Hạnh Thư Trai thông với suối ngầm, vài ngày trước cả hồ sẫm màu máu, giờ đã sạch trong trở lại.

Ô Nghiệt ngồi bên bờ, hai chân thả vào làn nước, cầm chiếc lược thong thả chải chuốt mái tóc dài của mình.

Bình thường nàng luôn búi tóc song kế, dùng dải lụa mảnh buộc gọn trên đỉnh đầu, rất hiếm khi thấy nàng xoã tóc.

Giờ phút này nàng tháo hết trâm vòng, gỡ từng búi tóc đã dính máu bết lại, chải cho suôn mượt rồi thả vào làn nước trong hồ gội sạch, đến khi nắm tóc xanh lại trở nên mềm mịn như lụa.

Cuối cùng nàng dùng dây đỏ tết phần đuôi tóc thành một bó, rút con dao nhỏ ra, thẳng tay cắt phăng mái tóc dài của mình.

Ô Nghiệt đưa bó tóc cho Sài Thúc Tân đang đứng cạnh: "Đem mớ tóc này buộc vào rèm trúc ở thuỷ tạ.

Lát nữa lửa bốc lên, có nó thì lửa sẽ không lan vào trong.

Các ngươi chắc cũng không ở lại đây bao lâu.

Chùa Bạch Thuỷ cháy, Thái Tuế qua đời, chắc chắn sẽ kinh động đến bảy nhà, chẳng mấy chốc sẽ có người đến đón."

Sài Thúc Tân nhận bó tóc, làm theo lời dặn của Ô Nghiệt, chậm rãi kẹp từng lọn tóc vào những nan trúc trong tấm rèm ở thuỷ tạ.

Bên bờ nước vang tiếng ào ào, Ô Nghiệt đã nhảy xuống hồ, nước văng tung toé.

Đến khi ngoi lên lần nữa, nàng đã mang dung mạo của một thiếu phụ trưởng thành.

Mái tóc bị cắt trước đó lại dài ra, chỉ là đã bạc trắng như tuyết.

Ô Nghiệt lấy từ túi gấm đeo bên hông ra hộp son phấn, nương nhờ ánh trăng soi bóng nước mà điểm tô dung nhan.

Ngày thường nàng luôn bôi lớp thuốc màu rất dày, mặt trắng môi đỏ mang theo vẻ đẹp rực rỡ sống động của bách hí chợ quỷ.

Đến khi mưa cuốn trôi lớp phấn son, mới gột ra gương mặt trong trẻo như nước, non trẻ như thiếu nữ.

Mà bây giờ nàng vấn mái tóc bạc, cách trang điểm khác với thường ngày đôi chút, từ từ vẽ ra một khuôn mặt giai nhân cổ điển.

Son thoa lớp mỏng, mày vẽ tựa núi xa, giống như bức họa thuở xưa, xinh đẹp mà cao quý.

Cuối cùng nàng ngoái lại mỉm cười, cất giọng quan thoại cổ không biết của triều đại nào: “Tiểu quan nhân vậy mà chẳng có chút phản ứng nào, thật buồn chán."

Sài Thúc Tân hơi cúi đầu: “Vãn bối mạo muội suy đoán, đây là dung mạo khi Thái Tuế còn sống.”

“Không sai.”

Ô Nghiệt nghiêng người nhìn xuống mặt nước: “Đây là ta của chín trăm năm trước.”

Nàng từng là cô dâu nhỏ được gả vào nhà họ Ô.

Một đời rong ruổi trời nam biển bắc, ngày trở về tóc đã điểm hoa râm, dung nhan héo tàn.

Đêm thu tỉnh mộng dưới tấm chăn thô, Trước mắt lại hiện ra non sông muôn dặm.

Đêm ấy của trăm năm trước, tinh hoả từ trời cao rơi xuống, cả núi đỏ rực.

Quân lính trong thành bị ánh lửa kinh động tỉnh giấc, nhưng suốt đêm không nhận được lệnh cứu hoả.

Có người nói đó là điềm trời, sát nghiệt quá nặng, dẫn đến quỷ hoả và vong linh dưới âm ty tràn lên.

Ngọn lửa ấy yêu dị cuồng dại, tựa như bóng hình thiếu nữ khoác chiếc váy đỏ rực rỡ, quay cuồng múa lượn giữa không trung.

Nghe kể lại rằng, đêm đó có vài binh sĩ gan dạ đã đến gần vùng ngoại ô tìm hiểu, sau khi trở về thì mỗi người nói một kiểu, vì quá hoang đường nên hầu hết những gì họ kể lại đều bị mọi người coi là ảo giác và mấy lời mê sảng vớ vẩn.

Có người nói họ nhìn thấy sao từ trên trời rơi xuống, có người nói họ nhìn thấy linh hồn đang được siêu độ, có người nói trong ngọn lửa có bóng hình mờ ảo...

Lại có người bảo họ nghe thấy tiếng hát.

Cùng đêm đó ở nhà họ Chu, một trong Thất Gia Chư Tử, trưởng lão Chu Bạch Chi đức cao vọng trọng đã leo lên tháp ngắm sao, lần đầu tiên phóng tầm mắt ngắm nhìn các chòm sao giữa thời buổi loạn lạc.

Chu Ẩm Tiêu khi ấy còn nhỏ, nắm lấy tay ông hỏi: "Tổ gia gia, người sao vậy ạ?”

“Cố nhân xuôi về Tây.”

Chu Bạch Chi đáp: "Ngóng theo để tiễn biệt.”

Đêm đó, Chu Bạch Chi đứng trên đài cao rất lâu.

Không một ai biết vị trưởng lão gần ngàn tuổi ấy đang nghĩ gì.

...

Mộc Cát Sinh từ từ mở mắt, bên tai vang tiếng hạc trắng thanh thoát.

Gió nhẹ thoảng qua, rèm trúc lay động.

Trong khoảnh khắc còn chưa hoàn hồn, y tưởng mình đang nằm trong gian thủy tạ ở Ngân Hạnh Thư Trai.

Nhưng khi ngồi bật dậy, mới phát hiện khung cảnh xung quanh hoàn toàn xa lạ.

Sài Thúc Tân nằm gục bên cạnh, ngủ rất say.

Có vẻ như anh đã bôn ba một thời gian dài, quầng mắt xanh tím, dáng vẻ tiều tụy.

“Cậu tỉnh rồi.”

Có người bước vào thủy tạ.

Mộc Cát Sinh giật mình, người đến lại là Họa Bất Thành.

“Hiện giờ cậu đang ở Bồng Lai.”

Họa Bất Thành nói: “Linh Xu Tử đã gửi tín hiệu.

Vô Thường Tử và Mặc Tử cũng ở đây, tuy vẫn còn mê man nhưng đã được cứu chữa kịp thời, coi như giữ được mạng.”

Mộc Cát Sinh nghe vậy mới thở phào nhẹ nhõm.

Y xuống giường, cúi người cảm tạ: "Cảm ơn Trường Sinh Tử.”

Động tác làm vết thương bị kéo căng, đau đến mức y hít mạnh một hơi.

“Cậu bị thương nặng, không nên cử động.”

Họa Bất Thành ung dung nói: “Nhưng việc cấp bách trước mắt, là có một chuyện cậu cần phải hiểu rõ.”

“Tôi biết.”

Sắc mặt Mộc Cát Sinh chợt trầm xuống: “Chuyện thành vỡ… và đám âm binh.”

Rồi đủ mọi chuyện xảy ra sau đó nữa, bảy nhà chắc chắn sẽ không dễ dàng bỏ qua.

Lão nhị và lão tam đều đang hôn mê, Sài Thúc Tân trông cũng rất mệt mỏi, y giờ đây chính là tình cảnh tứ bề khốn đốn.

"Cậu biết thì tốt, mấy ngày trước nhà họ Ô đã phái người tới đây, có một số việc, cậu phải đưa ra quyết định."

Họa Bất Thành nhìn y: "Nếu đã đứng dậy được thì đi ngay cùng ta."

“Tôi hiểu.”

Mộc Cát Sinh khẽ nói: “Nhưng… có thể để tôi đợi một chút không?”

“Sao vậy?”

Mộc Cát Sinh rũ mắt nhìn Sài Thúc Tân gục đầu ngủ cạnh giường mình: "Tôi muốn đợi anh ấy tỉnh lại.”

Họa Bất Thành lặng im giây lát rồi lên tiếng: “Ta đã từng nói, đôi lúc cái giá của sự ngông cuồng không chỉ đơn giản là máu và nước mắt.

Tranh mệnh với trời, cậu phải chuẩn bị cho hậu quả.”

Mộc Cát Sinh nhẹ giọng: “Tôi biết.”

“Người trong cuộc thì thường u mê."

Họa Bất Thành nhìn thoáng qua Sài Thúc Tân: "Điều cậu biết còn ít lắm."

.

Sài Thúc Tân bị đánh thức bởi tiếng kêu thảm thiết.

Lông vũ bay tán loạn, anh ngẩn người nhìn cảnh trước mắt – Mộc Cát Sinh đang ngồi trên giường, tay bóp cổ một con hạc trắng.

Lông hạc bị nhổ mất nửa, nó kêu quang quác không ngừng, nghe chẳng khác nào tiếng vịt trống.

Anh đờ ra một lúc lâu, rồi mới hỏi: “...Cậu đang làm gì vậy?”

Động tác của Mộc Cát Sinh chợt khựng, quay phắt lại nhìn: “Anh tỉnh rồi.”

Sài Thúc Tân nhìn con hạc trong tay y, hơi cau mày: “Cậu đói à?”

“Không.”

Trời đất chứng giám, Mộc Cát Sinh cũng có lúc không đói.

Hai người nhìn nhau vài giây.

Sài Thúc Tân nắm lấy cổ tay y, xem mạch một lúc rồi mới thở phào: “Không sao là tốt rồi.”

“Tôi không sao, nhưng lão nhị với lão tam vẫn đang hôn mê."

"Không vấn đề gì đâu, tôi đã xem mạch cho họ rồi, chỉ cần có đủ thuốc dùng đều sẽ khoẻ lại."

Mộc Cát Sinh vừa nhổ thêm một nắm lông hạc, vừa nói: "Vài canh giờ trước, Trường Sinh Tử tới tìm tôi.”

Sài Thúc Tân cố gượng ngồi dậy, Mộc Cát Sinh quay sang đỡ anh.

“Ông ấy nói gì?”

“Cũng chẳng nói gì rõ ràng, cứ úp úp mở mở.”

Mộc Cát Sinh nhổ thêm một chiếc lông trắng: “Ông ta thả cho tôi một câu lấp lửng, tôi ngồi đây suy nghĩ cả buổi chiều mà vẫn không nghĩ ra được ông ta đang ám chỉ điều gì."

Y thuật lại sơ qua cuộc trò chuyện của hai người, sau đó nhìn về phía Sài Thúc Tân: "Anh có biết ông ta muốn nói gì không?"

Sài Thúc Tân chậm rãi lắc đầu: "Nhiều khả năng lắm."

“Tôi lại thấy khả năng rất ít.”

Mộc Cát Sinh đột nhiên hỏi: “Tam Cửu Thiên, thân thể anh thế nào?”

Gương mặt Sài Thúc Tân vẫn bình thản: “Không có gì đáng ngại.”

“Thật chứ?”

“Thật.”

Mộc Cát Sinh nhìn anh vài giây, rồi buông tay.

Con hạc trắng lập tức đập cánh loạn xạ bay đi.

“Được, tôi tin anh.”

Tuy rằng trông sắc mặt của Sài Thúc Tân rất tiều tụy, nhưng tinh thần có vẻ vẫn ổn.

Mộc Cát Sinh ngồi bên giường pha trà, nghe đối phương kể lại những chuyện đã xảy ra trong mấy ngày qua.

"Vậy là sau khi mất thành, anh đào tôi ra từ đống đổ nát, rồi gặp được bà lớn ở chùa Bạch Thủy, bà ấy mang theo lão nhị và lão tam đang bị thương nặng."

“Trong chùa Bạch Thủy vẫn còn ít dược liệu, là nơi thích hợp nhất để dưỡng thương.”

Sài Thúc Tân nói: "Tôi trị thương cho ba người các cậu, đợi tình hình ổn định hơn, tôi phát tín hiệu đến Bồng Lai, Trường Sinh Tử phái người đến đưa chúng ta về đây.”

"Còn bà lớn thì sao?'

“…Tu vi của Thái Tuế đã cạn sạch.”

Mộc Cát Sinh im lặng một lúc, rồi gật đầu: "Tôi biết rồi."

Nước trà sôi lục bục, Mộc Cát Sinh rót hai chén rồi đưa một chén cho Sài Thúc Tân: "Đây là trà Trường Sinh Tử cho người mang đến — La Hán Trầm Hương.”

La Hán Trầm Hương là loại trà thiền ô long, khí vị thanh khiết, hương trầm nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Sài Thúc Tân nhấp một ngụm, điềm đạm nói: “Trà ngon.”

Mộc Cát Sinh nhìn men gốm xanh ngọc của chén trà: “Ô Long vào biển, Phượng Hoàng gật đầu*, đây là cách pha trà mà sư phụ dạy tôi năm xưa.

Lâu rồi không dùng, không ngờ tay nghề vẫn còn khá."

(*)Hai trong mười tám bước của nghệ thuật pha trà.

Sài Thúc Tân nói: “Trà thì ngon, chỉ tiếc rằng nước đã bị đun quá già.”

“…”

Mộc Cát Sinh nghẹn họng: “Vậy anh đừng uống nữa.”

Họ lời qua tiếng lại vài câu, bầu không khí cũng nhẹ nhàng hơn đôi chút.

Mộc Cát Sinh thở dài: “Trường Sinh Tử vừa nói với tôi, Ô gia đã phái người đến.”

Sài Thúc Tân xoay xoay chén trà trong tay: “Điều này không có gì lạ."

"Phải, là tôi cả gan làm loạn trước, bảy nhà về sau nhất định sẽ gây khó dễ."

"Cậu đã làm hết sức rồi, ít nhất cũng chặn được đám âm binh.”

"Mọi việc không thể nào đơn giản như vậy."

Mộc Cát Sinh thở dài: "Trận chiến này đã gây tổn thất nặng nề, nhà họ Ô chắc chắn sẽ vịn cớ để gây khó dễ.

Chúng ta cần phải thăm dò ý định của các nhà khác."

Sài Thúc Tân hơi ngồi thẳng dậy, anh bưng chén trà, vẻ mặt trong làn hơi nước trở nên mơ hồ: "Tôi muốn hỏi cậu một câu."

"Có gì mà phải khách sáo."

Mộc Cát Sinh phất tay: "Cứ hỏi đi."

“Giờ thành đã mất, lực lượng thủ thành toàn quân bị diệt.

Trước khi cậu tỉnh lại tôi cũng đã tra sổ sinh tử, không một ai sống sót."

Sài Thúc Tân chậm rãi nói từng chữ: "Hiện tại cậu đang ở Bồng Lai, đợi đến khi mọi việc ở đây kết thúc, cậu sẽ đảm nhiệm vị trí Thiên Toán Tử hay là trở về nhân gian?"

“Anh nói sai rồi.”

Mộc Cát Sinh nói lại: "Non sông đã mất, còn gì là nhân gian."

"Cậu vẫn chưa trả lời tôi.”

Gió thổi qua rèm trúc.

Thủy tạ nằm trên đỉnh núi cao chót vót, ngoài cửa sổ là bầu trời hoàng hôn rộng lớn cùng đàn hạc trắng bay lượn đáp xuống cành tùng.

Mộc Cát Sinh từng nghe sư phụ kể, Dao Đài Bồng Lai quanh năm ấm áp như mùa xuân, trong khi Kiếm Các Bồng Lai lại phủ đầy tuyết trắng ngàn năm không tan.

Còn cả những rừng phong trải dài, trúc xanh mười dặm, mặc dù rời xa thế tục nhưng lại ôm trọn bốn mùa nhân gian.

Bồng Lai thực là chốn thanh tu thoát tục, ở nơi này, dường như chỉ cần với tay là có thể chạm đến những vì sao.

Mộc Cát Sinh nhìn mây trôi ngoài cửa sổ, từ tốn nói: "Đất trời đổi thay, tôi chỉ là người trần mắt thịt, không có năng lực luyện đá vá trời, cũng chẳng thể làm thánh nhân trị thủy.

Chỉ đành gắng chút sức mọn của bản thân, kiên trì đến cùng."

Y bỗng đổi sang giọng điệu lười biếng, bất cần đời: “Huống chi sư phụ từng bảo, tu sĩ Bồng Lai phần lớn đều tu tiên, có ăn cơm thì cũng kiêng thịt cá.

Tôi vẫn nên theo quân đội là hơn, ít ra còn được ăn miếng thịt.”

Sài Thúc Tân không nói gì, đưa chén trà trong tay qua cho Mộc Cát Sinh.

“Làm gì?”

“Trà là cậu đun, lẽ nào không nếm thử?”

Mộc Cát Sinh hơi khó hiểu, nhưng vẫn nếm một ngụm.

Ngay sau đó liền phun sạch —

"Tam Cửu Thiên!

Cái thứ đắng hơn xuyên tâm liên này mà anh bảo ngon?

Anh cố ý phải không?!”

Sài Thúc Tân nhìn y, bỗng bật cười.

"Tôi biết ngay cậu sẽ nói thế.”

[ Edit by TeiDii ]

.
 
Back
Top Bottom