Cập nhật mới

Khác DỆT LẠI SƠN HÀ

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
375797142-256-k915225.jpg

Dệt Lại Sơn Hà
Tác giả: BiButBong
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

DỆT LẠI SƠN HÀ

Tác giả: Đồng Lạc (Bí Bứt Bông)

Thể loại: Truyện cảm hứng lịch sử, phóng tác từ tư liệu nhân vật Giang Thị Tuyết trong Nam Định tân biên dư địa chí.

Cảm ơn em Phương Uyên đã góp ý với tác giả trong quá trình hoàn thiện truyện.

***

Vào một ngày mùa hạ nắng hanh hao, khi bốn bề vẫn chìm trong khói lửa, người lính về làng với thân thể đã chẳng còn lành lặn.

Trên con đường gió cuốn bụi mù, giữa những cái xác, hay những tấm thân đã trơ xương vì đói chỉ chờ biến thành cái xác, nàng thiếu phụ dắt theo ba đứa trẻ, đánh liều chặn đường một người đàn ông hỏi xin làm vợ.

Họ đưa nhau về, bắt đầu câu chuyện nhiều năm sau người đời còn truyền tụng mãi.



dasu​
 
Dệt Lại Sơn Hà
Dệt lại sơn hà


Sơn hà ai dệt nét đan thanh

Lòng son năm tháng chiếu sử xanh

Hồng nhan thuở nước nhà tan tác

Mày hoa chẳng điểm lại khuynh thành.

...

Hắn gặp nàng vào một ngày tháng sáu, ngày nào không rõ, có lẽ là ngoại biên Thanh Hóa, làng nào không rõ.

Cảnh chết chóc vốn nên khiến người ta sợ hãi, sau nhiều năm lặp đi lặp lại từ ngày giặc Minh chiếm đóng, nay lại bình thường như mặt trời vẫn mọc đằng đông.

Những đứa trẻ điềm nhiên bước qua xác chết, có đứa bạo gan lật tay người chết tìm thức ăn khi thấy thứ gì đó thấp thoáng như mảnh cốm, cuối cùng hóa ra chỉ là nắm cỏ.

Năm nay mất mùa, quân Minh nơi này còn có lúc thiếu ăn, phải chờ lương thảo từ vùng khác chuyển sang tiếp tế, cơm thừa cháo cặn làm sao đến được tay dân.

"Này anh..."

Từ bụi cây, thiếu phụ chừng mười tám, đôi mươi thoăn thoắt bước ra, bế theo đứa trẻ chạy về phía hắn.

Hắn quay đầu: "Gọi ta à?"

Thiếu phụ cúi chào, rồi nhìn hắn ngần ngừ: "Con tôi đói quá, mà tôi lại...

Không biết chị nhà có thể cho nó nhờ tí sữa được không."

"Ta không có vợ."

"Anh đưa tôi về làm vợ được không?"

Hắn chau mày, cảnh giác nhìn nàng, sau lại nhớ ra mình đã rời quân ngũ, hẳn chẳng ai buồn dùng mỹ nhân kế hay chiêu trò gì để giết hắn và đồng đội như trước nữa.

Sau mái tóc đã xơ cứng vì gió bụi, sau gương mặt lấm lem tro than bùn đất, hắn nhìn ra đó là một người đàn bà đẹp.

"Chồng cô chết rồi sao?"

Nàng gật đầu.

"Ba đứa này đều là con cô cả à?"

Mắt hắn lướt qua đứa bé chừng bảy tuổi nép sau nàng, đứa nhỏ hơn chừng ba tuổi ngồi bên cạnh, cuối cùng là đứa nàng đang bế trên tay, có lẽ cũng chỉ hơn một tuổi.

Thời buổi này chuyện gá nghĩa giữa đường không phải hiếm.

Vì sinh tồn của bản thân và bọn trẻ, những người đàn bà chết chồng trong loạn lạc có lúc phải bỏ qua tôn nghiêm, tìm vội một người đàn ông che chở.

Nhất là người như thiếu phụ này, nhìn qua bàn tay đã biết quen sống trong sung túc, không thể chịu khổ cực như người khác.

"Tôi nhặt bên đường, cha mẹ chúng đều đã chết cả rồi."

"Ta là người thứ mấy?"

"Thứ năm."

"Nuôi thêm một miệng ăn đã khó, cô lại dắt theo ba đứa trẻ, còn không phải thân thích, những người trước không nhận lời cô cũng phải."

Hắn quay lưng, bóng dần xa nhòa trong sắc nắng.

Nàng lầm lũi đưa lũ trẻ trở lại lùm cây.

Đẹp, trong thời loạn, lại là mối họa.

Từ quân giặc, từ chính những người đàn ông cùng chung cảnh ngộ trên đường chạy nạn, vốn chẳng còn gì để mất, nhiều khi kể cả lương tri.

Cướp bóc, cưỡng hiếp, thậm chí bắt cóc trẻ con rồi xẻ thịt, những chuyện này trong loạn lạc có lạ gì.

Mỗi lần thấy đám đàn ông tụ thành bầy đi đến, ngó trước nhìn sau như đang tìm kiếm một con mồi, nàng lại phải ôm lũ trẻ trốn thật sâu.

Lánh mình sau một ngả rẽ không xa, những cảnh tượng ấy thu cả vào mắt hắn.

Hồi lâu sau, khi nàng định đưa bọn trẻ rời đi, lại thấy hắn vốn tưởng đã đi khuất lúc này lững thững tiến về phía họ.

"Từ nay cô là vợ ta, hai đứa này là con người chị đã mất của cô.

Còn đứa này..."

Hắn điềm nhiên chỉ vào hai đứa lớn, sau cùng ánh mắt dừng lại trên đứa nhỏ.

"Là con của chúng ta."

Hắn đưa tay, dường như định giúp nàng bế đứa bé kia, nhưng chợt nhớ ra chân mình bước cao bước thấp, không có gậy đi còn không vững, sao có thể bế theo đứa bé.

Hắn thu tay lại, đoạn đội lên đầu nàng chiếc nón cỏ của mình.

Trên con đường cỏ đã cháy vàng, nắng trải thênh thang như thiêu như đốt, họ cứ đi, đi mãi, đi mãi, về đến nhà đã thành chồng vợ.

...

Mẹ hắn khóc ngất khi nhìn thấy hắn, đứa con trai bà tưởng chừng đã chết.

Chỉ đến khi thiếu phụ luôn đứng phía sau hắn bước lên mấy bước, cúi chào bà rồi đặt vào tay bà đứa trẻ còn quấn tã đang nhoẻn miệng cười, tiếng khóc kia mới dịu lại rồi dứt hẳn.

"Cháu mẹ đấy, đích tôn họ Đỗ nhà ta đấy."

Một thoáng sững sờ lướt qua đôi mắt thiếu phụ kia.

Nàng nhìn hắn.

Hắn say sưa cùng mẹ trêu đứa trẻ.

Nàng im lặng.

Vùng này là đất tổ của triều Trần, ruộng vườn sông nước đều trù phú hơn vùng khác, lại ít khi phải chịu thiên tai.

Thấy con dâu mang theo hai đứa cháu đến nương nhờ, tuy mẹ hắn không lấy gì làm vui vẻ, nhưng cũng đành nhắm mắt cho qua.

Dù sao con dâu cũng có công sinh cháu, cha hắn lại có chút tiếng tăm trong nghề thuốc, gia đình không đến nỗi thiếu ăn.

"Vợ mày đoảng quá Thiện ạ, còn chả bằng đứa con gái năm sáu tuổi."

Được mấy hôm, mẹ hắn bắt đầu than vãn.

"Ối giời ơi nấu cơm thì hôm nhão hôm khê, kho cá thì vừa tanh vừa nhớt, giặt áo thì suýt rách cả áo ra, đến băm rau cho lợn cũng không xong."

Sau tấm rèm thưa, nàng nghe rõ tiếng cười của hắn khi dỗ mẹ.

Tiếng cười thật khác vẻ trầm mặc nàng từng thấy suốt ba ngày đường, cùng vẻ xa cách khi hắn lẳng lặng mang chiếu trải xuống sàn, cách chiếc giường nàng nằm một quãng.

"Thầy thích chả rươi và bánh mỡ, mẹ thích cháo cá và canh cua nấu rau đay, cô chỉ cần cố học mấy món này thôi."

Giọng hắn trầm, khe khẽ vang giữa tiếng dế trong đêm tối.

"Còn anh thì sao?"

"Ta?"

Hắn có vẻ ngạc nhiên.

"Ta chỉ thích rượu thôi."

Những kẻ ngày ngày liều thân nơi chiến trận, nay sống mai chết, dường như đều thích dùng rượu để tìm quên.

Thấy hắn quanh quẩn trong nhà làm mộc mãi, nàng ướm hỏi hắn chuyện dạy võ cho bọn trẻ.

Trong giấc chập chờn, hắn ưng thuận mà chẳng màng suy nghĩ, cũng không ngờ đến mấy tháng sau, khi đứa cháu lớn một mình hạ được bốn năm đứa khác, đám trẻ trong làng lại nể phục, chạy về đòi cha mẹ đưa sang nhà hắn học.

Vân vê cây gậy gỗ trong tay, dưới nắng thu, hắn chăm chú nhìn người thiếu phụ vừa vui vẻ giúp hắn nhận lễ vật từ đám trẻ, vừa khiêm tốn mà tự hào kể với cha mẹ chúng hắn có thể ngồi một chỗ chỉ dạy các thế võ cho đám trẻ thuần thục ra sao.

Thế nhưng khi tất cả rời đi, xoay người lại, ánh cười kia lại nhạt đi nhanh chóng.

Hắn cũng chẳng thể mong gì hơn thế.

Nàng vốn dĩ không thuộc về hắn, cũng không thuộc về làng quê nhỏ bé này.

Nhưng giống như hắn, bỏ lại sau lưng cuộc chiến dang dở để trở về đây, yên vị trên chiếc chiếu con, cây gậy gỗ và lũ trẻ, họ đều phải học cách chấp nhận những gì cuộc đời còn để lại.

Cuối tháng ấy là giỗ em gái hắn.

Cứ đến ngày này, mẹ hắn nhìn cảnh lại nhớ người, thường chỉ có thầy hắn đi thăm mộ.

"Lúc mọi người trở về ứng cứu, quân Minh đã cướp theo lương thực rút đi."

Khi thầy đã gạt nước mắt rời đi, hắn cùng nàng lặng lẽ ngồi bên mộ.

"Xác đàn bà trẻ con nằm la liệt, nhưng con bé lại không ở đấy, cả nhà đều tưởng nó đã nhanh chân chạy thoát.

Mãi đến chiều, người làng tìm ra xác nó dưới ao.

Không có thương tích, chỉ là chết ngạt.

Có lẽ hôm trước nó tình cờ nghe chuyện làng bên có đứa bé gái trạc tuổi nó bị quân Minh cưỡng hiếp."

Bàn tay hắn miết nhẹ trên bia mộ.

"Nó trốn ở đấy, đợi ta về cứu."

Nắng lên cao, nàng đỡ hắn dậy, thu dọn nhang đèn để trở về nhà.

Trên đường về, hắn dừng lại trước một ngôi mộ khác.

"Cô ấy là người từng đính ước với ta."

Cô gái tên Trúc, ngôi mộ cũng nằm bên hàng trúc.

Lúc quân Minh tấn công đoàn vận tải lương, cô gái nhắm không chạy được, cũng không muốn giặc cướp được lương nên đẩy theo xe gạo nhảy xuống sông.

Người nhà mãi vẫn không tìm được xác, chỉ có thể đắp một ngôi mộ gió để khói hương.

Nàng theo hắn, cúi người thắp cho cô gái ấy một nén nhang.

"Vùng này là đất tổ của triều Trần.

Lúc vua Trần xướng nghĩa diệt giặc Minh, hầu như trai tráng trong làng đều theo cả, có những người hơn năm mươi tuổi vẫn muốn đi.

Mấy năm sau, người trở về còn chưa đầy một phần ba.

Đa số đều bỏ mạng tha hương, mấy trăm cái xác cùng chôn vội trong cái hố nơi nào đấy không ai nhớ, gia đình chỉ có thể làm mộ gió."

Những lúc thế này, nàng như đi cạnh một con người khác, như nhìn thấy bóng dáng hắn những ngày xưa cũ, thuở chân hắn còn hiên ngang băng rừng vượt suối, cùng những người đồng hương rong ruổi từ chiến địa này sang chiến địa kia.

Họ đi từ khi chưa kịp thành niên, cứ thấy ai xướng nghĩa lại theo, từ nhóm vài chục người sang nhóm vài trăm người, rồi vài ngàn người, nhóm này bị diệt lại dẫn nhau gia nhập nhóm khác tìm hy vọng.

Đi hơn mười năm, lang thang khắp từ nam chí bắc.

Đến cuối cùng, trong đám trai làng cùng hắn đi năm ấy, chỉ còn lại hắn và người bạn từ thời thơ ấu.

Sau một trận gió tanh mưa máu, bị thương nặng, suýt hại đồng đội vì quay lại cứu mình mà bỏ mạng, hắn lê đôi chân đã tàn phế ấy trở về làng.

Những câu chuyện của hơn mười năm chinh chiến, thuở mỗi ngày giống như lại sống một cuộc đời, một người hỏi, một người kể, đông qua, xuân đến, kể từ đêm này qua đêm nọ mãi không hết được.

Nàng có vẻ thích những câu chuyện ấy.

Có hôm, đang giữa đêm khuya, nàng dò dẫm xuống giường, bước đến tấm chiếu chỗ hắn nằm lay hắn tỉnh, hỏi hắn nếu ngậm ống trúc như lời hắn kể thì có thể lặn được bao lâu, trốn được bao sâu, có đủ thời gian để đục thuyền không.

"Mình định ra trận hay sao mà truy cùng hỏi tận thế, nửa đêm còn không cho ta ngủ?"

Hắn vừa cáu vừa buồn cười, nhưng vẫn kiên nhẫn trả lời nàng.

Hắn thích ánh mắt nàng khi nghe hắn kể.

Có chút nét ngây thơ trong ấy, dù hắn thấy hay chỉ cảm nhận trong bóng tối.

Có chút quan tâm, hay có lẽ là ngưỡng mộ, dù hắn thấy hay chỉ là ảo giác.

Nàng hiếm khi kể chuyện của mình.

Hắn chỉ biết nàng được đính ước từ rất sớm.

Năm nàng mười tuổi, song thân đều mất, gia đình chồng đón nàng về nuôi dưỡng.

Cha chồng làm quan nhưng là người nhân hậu, mẹ chồng nghiêm khắc nhưng yêu thương, cẩn thận dạy dỗ nàng từng li từng tí.

Về sau, cha chồng nàng vì che giấu nghĩa quân mà bị giết.

Hắn hỏi ngày kỵ gia đình chồng cũ của nàng, sau đó đến ngày lại giúp nàng ra một góc bày đồ cúng, lấy danh nghĩa đó là gia đình từng nhận nuôi nàng.

Chuyện người chồng cũ, dường như nàng chỉ muốn chôn sâu.

Chôn quá sâu, sâu đến nỗi hắn chẳng thể nào chạm đến.

...

Nàng ủ cho hắn vò rượu, hắn mài cho nàng chiếc lược, suốt mấy năm, ngày ngày họ vẫn vừa quen vừa lạ, vừa quan tâm, vừa khách sáo với nhau như thế.

Không thể khác đi, có lẽ khác đi cũng chẳng để làm gì.

Chỉ là chậm rãi sóng bước bên nhau, như thuở ban đầu, cùng nhau đi qua năm tháng yên bình.

Yên bình, khi mỗi tháng giặc lại đưa những người đàn ông khỏe mạnh khỏi làng.

Lên núi đào vàng, xuống biển mò châu, cha chết con thay, anh chết em thay.

Hắn tật nguyền, chẳng ai bắt hắn.

Yên bình, khi đầu làng vừa đọc chiếu năm nay giảm thuế, cuối làng quan binh đã tản ra vơ vét lấp túi riêng.

Trong làng chẳng còn bao nhiêu đàn ông nữa, sức yếu thế cô, chỉ có thể một bước van, hai bước lạy.

Quan binh đi qua, người làng lại cười cười nói nói, thể như đều quên đi những uất hận kia, thể như những tháng năm đàn ông đàn bà người già trẻ nhỏ cùng nhau may giáp, vót chông, tay cuốc tay rìu xông pha chống giặc năm xưa là quá khứ oai hùng của làng nào, chứ không phải của làng này.

Thầy hắn ra đi vào một ngày đông giá.

Ông chỉ là một thầy lang nơi thôn dã, chữ nghĩa không nhiều, xưa nay cũng không có chí lớn gì.

Cả cuộc đời ông, việc vinh quang nhất ông từng làm không phải là đã bốc được bao nhiêu thang thuốc giúp người, mà là lúc giặc Minh lùng sục khắp nơi để tịch thu sách mang đi, ông nhanh trí giấu được quyển ghi chép mấy chục trang của một sử quan nào đấy lưu lạc trong dân gian, hồi trước tình cờ dùng một gánh khoai đổi được.

Dặn dò xong hậu sự của mình, ông xoa đầu đứa cháu đích tôn, rồi bảo con dâu giở quyển ghi chép nọ đọc ông nghe.

Ngồi trong lòng nàng, cu Nhân ê a lặp lại theo lời mẹ.

Nó còn quá nhỏ, chẳng hiểu vì sao ông nhìn mình vừa cười vừa rơi nước mắt, càng không hiểu thế nào là sinh li tử biệt.

Thầy đi rồi, mẹ hắn cũng đổ bệnh triền miên, lay lất một năm thì nốt gót theo thầy.

Ngoài kia, mạn đông bắc lại có người khởi nghĩa, đâu đó phía tây cũng có mấy nhóm nổi lên, nhưng lớn mạnh nhất là nhóm của ông hào trưởng họ Lê nào đấy xứ Thanh.

Thương tích năm xưa cướp đi một bên chân của hắn, cướp cả tương lai nối dõi tông đường của hắn, nhưng không gì có thể cướp được khát vọng đánh đuổi giặc Minh ra khỏi quê hương của hắn.

Và dường như chỉ những lúc nói về chiến trận, về hy vọng giành lại giang sơn từ tay giặc, hắn mới cảm giác nàng thật sự gần mình.

Hắn trêu nàng, lại như trêu chính mình, hẳn duyên tơ hồng không nên kết họ thành chồng thành vợ, rằng nếu kề vai sát cánh ở chiến trường, có khi họ lại là câu chuyện đẹp lưu truyền thiên cổ.

Cứ cách mấy ngày, hắn lại đánh xe mang rượu nàng làm lên trấn bán.

Nơi ấy đông người, tin tức cũng nhiều.

Mỗi lần giao rượu, nán lại ngồi một hồi trong quán, hắn lại có chuyện trở về kể vợ đến khi trời tối mịt.

"Vợ thằng Thiện này, gần đây chồng mày siêng lên trấn lắm nhỉ?"

Bên giếng làng, nơi đám đàn bà quây quần ngồi giặt áo, người dì họ xa bắt chuyện với nàng.

"Vâng ạ, có quán rượu kia dạo này bán buôn rất khá, chồng con phải đi thêm vài chuyến để giao."

Nàng lễ phép thưa.

"Mày liệu mà giữ chồng mày đấy, hôm qua thằng Mão nhà tao lên trấn, nó thấy chồng mày có vẻ thân mật với ả Trúc lắm."

Người dì họ đáp, đôi môi nhếch lên đầy vẻ khinh thường.

Vẻ khinh thường kia không phải cho nàng, cũng không phải cho chồng nàng, mà cho thị Trúc, cô gái tải lương cả làng đều ngỡ là đã chết, không ngờ ba năm trước lại trở về.

Hóa ra năm xưa chẳng những thị tuẫn tiết không thành, mà còn bỏ làng theo gã trai nào đấy, lưu lạc thành hoa nương, thường đi hầu đám quan lại người Minh.

Ngày thị về làng, tuy không son phấn như người làng từng gặp qua trên trấn, nhưng đôi mắt lúng liếng đưa tình, cái eo con ong vòng qua uốn lại ấy quả đúng dáng vẻ của phường bán trôn nuôi miệng thật.

Làm cái nghề kia đã đủ nhục, đã thế thị còn mang thân hầu giặc.

Mấy ngày thị về làng thăm mẹ bệnh, đến đứa con nít ba tuổi vô tình chạy ngang chạm phải thị cũng biết về nhà tắm lại mấy lần cho sạch cái khí nhơ nhuốc ấy.

"Lão nhà chị thấy cảnh ấy những ba lần chứ không phải một."

Người láng giềng ngồi đối diện cũng nói vào.

"Chị biết mày hiền, nhưng chồng mày nối lại tình xưa với ả thì mày không những mất chồng mà còn có tội với tổ tiên nhà chồng đấy Tuyết ạ."

Lúc hắn trở về, trời đã tối.

Cơm canh vẫn sẵn trên bàn như trước, nhưng nàng không nán lại ngồi cùng hắn nữa.

Đêm xuống, hắn vào phòng trải chiếu dưới sàn như trước, nàng cũng chẳng nhìn hắn lấy một lần.

"Mình sao thế?

Không khỏe à?"

Nàng im lặng, dường như muốn nói lại thôi.

"Có người đồn thổi gì à?"

Hắn ngồi ngẫm nghĩ, chợt nhớ ra.

"Đúng là mấy chỗ kia không sạch sẽ, nhưng ta giao rượu xong cũng chỉ ngồi một lát, xưa nay mình biết tính ta mà."

"Mình và thị Trúc..."

"Mình ghen à?"

Hắn chạm vào thân người sau tấm chăn bông.

"Mình...

Mình ghen rồi..."

Lẽ ra nên lo lắng, nên bối rối, nên uất ức, hay nên tức giận, chẳng hiểu sao hắn cứ tủm tỉm cười.

Hắn vươn tay, nhè nhẹ ôm nàng.

Người sau tấm chăn bông không phản kháng.

"Hôn ước kia là cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, chứ đôi bên đã hẹn thề gì đâu, huống hồ ta đã có mình rồi."

Mãi một lúc sau, hắn mới nghiêm túc đáp.

"Ta càng không thể động vào đàn bà của bạn."

Nàng vén chăn, nhìn hắn đầy nghi hoặc.

Nửa năm trước, lúc giao rượu cho một quán trên trấn lớn, hắn gặp lại Lĩnh đầu to, người bạn nối khố từng cùng hắn rời làng phiêu bạt, kề vai sát cánh suốt những năm kháng chiến.

Không lâu sau khi hắn rời quân ngũ vì thương tích, nhóm nghĩa quân kia bị truy lùng rồi tiêu diệt, Lĩnh lại phải tiếp tục tìm đường khác.

Có lẽ thấy hắn vẫn giữ được tâm tính cũ, sau nhiều lần trà đến rượu đi, anh ta bàn với hắn chuyện truyền tin giúp nghĩa quân.

"Không chỉ đơn giản là mở một quán rượu rồi nghe ngóng, truyền tin tức, lúc cần còn phải nuôi giấu nghĩa quân, vận chuyển vàng bạc, vũ khí đến nơi định sẵn."

Nàng không xa lạ gì việc ấy, gia đình chồng cũ của nàng từng như thế.

Cuối cùng cha chồng bị giặc bắt, dùng ngựa kéo lê đến chết chỉ còn xương.

Mẹ chồng nhìn cảnh cha chồng chết thảm, mang hết bạc vàng ra gửi gắm nghĩa quân, nửa đêm đi trộm xác chồng về, dùng một mồi lửa cùng chồng kết liễu.

"Nếu ta chỉ có một mình, ta không sợ..."

Nàng khẽ thở dài.

Đôi bên cùng im lặng hồi lâu.

"Mình nghĩ lần này quân ta có thắng được không?"

Nàng hỏi, câu hỏi vốn biết không ai có thể trả lời.

Nhiều năm trước, quân Trần từng thế như chẻ tre, những tưởng giang sơn đã đến lúc thu về lại, chẳng ngờ cuối cùng vua tôi phải cùng tuẫn tiết, hàng vạn quân binh máu chảy thành sông vô ích.

Mấy năm qua, bao cuộc khởi nghĩa từng nhen nhóm rồi thất bại.

Tóc xanh vùi chốn sa trường, tơ hồng âm dương đứt đoạn, tất cả vì hy vọng phục quốc kia, để rồi sau tất cả chỉ còn tuyệt vọng.

Ngay trong làng này, những con người từng một thời liều chết xông pha trận mạc, sau bấy nhiêu năm, hào khí phai mòn, nay đến gặp một tên lính giặc còn khúm núm.

"Ta cũng không biết, chỉ biết nếu mọi người đều sợ, đều hoài nghi, không còn hy vọng, không ai làm gì cả, chúng ta, con chúng ta, cháu chúng ta mãi mãi chỉ có thể làm nô lệ."

Chỉ một câu, tất cả đều đã định.

Dưới ánh nến mờ, nằm trong lòng hắn, nàng vẫn mường tượng được đôi mắt kia đang rất sáng.

Sau nhiều năm, đây là lần đầu tiên nàng nằm trong lòng hắn.

Hóa ra nằm trong lòng hắn là như vậy.

Hóa ra cái siết nhẹ từ bàn tay hắn là như vậy.

Hóa ra hơi ấm khi da thịt họ chạm nhau là như vậy.

...

Thị Trúc mua lại quán trà trên đường lên trấn, thuê cả mảnh đất bỏ hoang bên cạnh, rồi dựng lên một quán rượu to.

Ngoài vườn, họ xây những cái lán bằng tre, buổi trưa có thể trải chiếu nghỉ lưng, tụ tập đánh bạc, thậm chí làm những chuyện bướm ong.

Không lâu sau, quân lính quanh vùng đều thành khách quen ở đấy.

Trước vì rượu ngon, sau vì chủ quán xinh đẹp lại phong tình.

Mọi việc ngoài sáng đều qua tay hắn và thị Trúc, Lĩnh chỉ điều động những chuyện trong bóng tối.

Tiền của thị Trúc từ đâu mà có, hắn không hỏi, cũng không tiện hỏi.

Họ nhớ mãi chuyện ba năm trước, khi trưởng làng bệnh nặng, biết thang thuốc quý kia mua từ tiền đứa cháu gái trắc nết làm nhục cả họ, cả làng, ông cụ chống gậy mang thuốc ra ao vứt sạch, hôm sau thì chết.

Hằng ngày nàng vẫn ở nhà nấu rượu, mỗi sáng tiễn hắn đi, mỗi tối đợi hắn về, mặc bao lời ong tiếng ve chuyện hắn và thị Trúc, về quán rượu kia.

Ngoài đình, bên giếng, trên đường, mỗi nơi mỗi chốn nàng đi, dường như chỉ cần thoáng thấy nàng, người ta lại buông những câu trêu đùa, những lời thương hại, đôi khi là khiển trách, sau lưng nàng và trước mặt nàng.

"Không giữ được chồng là cái tội của người làm vợ, mọi người trong làng đều bảo thế."

Nằm trong lòng hắn, nàng thủ thỉ.

"Em cam chịu cũng thành có tội, bị người ta nặng nhẹ đủ điều, không biết mấy năm qua chị Trúc sống thế nào."

"Chỉ cần chúng ta đuổi được giặc Minh, mọi chuyện sáng tỏ, những lời kia tự khắc sẽ không còn nữa."

Hắn đáp.

"Thằng Lĩnh bảo, sau này rước thị Trúc về, ngày hôn lễ nó sẽ mang hẳn sáu người khiêng võng."

Nàng chỉ cười, những lời trong lòng lại không thể nào nói rõ.

Thế gian luôn khắc nghiệt với đàn bà.

Đàn ông không hiểu.

Có thể biết, nhưng vĩnh viễn chẳng thể nào hiểu được.

"Hôm nay có gã quan vừa nhậm chức kia đến quán, uống rượu lại đòi nhấm với lá gừng, chả biết học lũ người Minh hay sao mà quái thế."

Hắn kể, dường như xem đấy là một chuyện cười.

"Vậy sao..."

"Trông cũng chính nhân quân tử lắm, thế mà lại làm tay sai cho giặc.

Nghe đâu từng phản bội nghĩa quân, dùng mạng đồng đội để thăng quan tiến chức.

Khốn nạn thật."

Nàng nhắm mắt, như tan chảy vào màn đêm thinh lặng.

...

Sau hôm ấy, đôi lúc nàng lại thơ thơ thẩn thẩn.

Một chiều nọ, hắn về sớm.

Trời mưa tầm tã, hàng chuối sau nhà bị gió thổi đổ rạp cả ra, nàng lại trơ trơ ngồi giữa vườn cắt cỏ.

"Mình sao vậy?"

Kéo nàng vào nhà, hắn nhìn bàn tay lạnh ngắt đầy vết thương của nàng, hốt hoảng.

"Có chuyện gì vậy mình?"

"Em quên nấu cơm rồi."

Nàng quay đi, nước mưa từ áo chảy dài thành vũng trên nền gạch.

Hắn ôm lấy nàng, dỗ dành, an ủi, thậm chí lớn tiếng vì tức giận, nàng lại ra vẻ chẳng có gì.

Thế nhưng hắn cũng chẳng cần chờ lâu để biết.

Sau cơn mưa ấy, nàng đổ bệnh.

Ngoài quán đang có việc không bỏ được, hắn đành tranh thủ sáng sắc thuốc xong thì ra quán, để lại bọn trẻ đứa ra chợ mua muối gạo, đứa trông nhà.

Ngoài bờ rào, mướp chớm đơm hoa, lá xanh nằm lẫn giữa hoa vàng.

Như bao ngôi nhà khác trong làng, cổng nhà ban ngày chẳng bao giờ khóa, chỉ cần đẩy nhẹ sẽ mở ra.

Trong sân, đàn gà tụm một góc say sưa mổ thóc.

Củi vừa mới chẻ, đặt dưới hiên, trong gió dường như vẫn đưa mùi gỗ mới.

Chếch phía tây, bụi hoa nhài cao quá nửa người nở hoa trắng muốt.

Cạnh bụi hoa là cánh cửa sổ khép hờ.

Đưa tay đón chiếc lá gió vừa thổi đến, người đàn ông ung dung đẩy cửa vào, điềm nhiên bước vào căn phòng nơi có khung cửa sổ bên hoa.

Nàng mở mắt khi vầng trán nóng hổi của mình được phủ lên những ngón tay man mát.

Bàn tay hoàn mỹ của kẻ sinh ra trong nhung lụa, cả đời chỉ cần cầm mỗi bút.

Thứ không hoàn mỹ duy nhất giữa những ngón tay kia có lẽ là vết sẹo trên ngón trỏ, vết sẹo tạo ra bởi nàng, năm họ mười tuổi, cùng chơi, cùng bắt nạt nhau, không ai nhường ai, nàng vơ vội thứ gì đấy cạnh mình ném người kia, ném đi rồi mới nhận ra đó là cây kéo.

Người kia cười, những ngón tay trượt qua tóc nàng khi nàng vội vàng ngồi bật dậy, nép vào tường.

"Ngoài cổng không có người canh gác, cửa nhà không khóa, cũng không có gia nhân kề cận, lỡ như có kẻ gian lẩn vào, làm điều xằng bậy với nàng, thậm chí giết nàng thì sao?"

Không giống ngôi nhà của họ năm xưa, tường cao cổng lớn, mỗi bước đi đều đầy người hầu kẻ hạ vây quanh.

"Chốn nghèo hèn không tiếp đón nổi người như quan lớn, mời quan lớn về cho."

Nàng lạnh lùng quay mặt đi.

Kẻ ấy nắm tay nàng, dịu dàng, rồi cứng rắn.

Cảm nhận những vết chai, vết sẹo, cả những móng tay luôn phải cắt ngắn để lo bếp núc, không thể để dài rồi dùng cánh hoa tô hồng như xưa nữa.

"Nàng ghét ta đến vậy sao?

Nhẫn tâm phản bội ta, thà chịu khổ nơi này, túng thiếu đến nỗi phải tự nấu rượu để mưu sinh?"

"Là anh đã phản bội tôi, phản bội thầy mẹ, phản bội đồng đội để đổi lấy vinh hoa phú quý!"

Nàng đẩy hắn ra.

"Mẹ luôn dặn tôi cố giữ chân anh, đừng để anh lầm đường lạc lối, làm nhục tổ tiên, nhưng tôi không làm được...

Không làm được...

Là tôi có tội với tổ tiên..."

Giọng nàng lạc đi trong tiếng nấc.

"Đừng khóc."

Hắn đưa tay lau nước mắt cho nàng, nhưng nàng quay mặt tránh đi.

"Nàng biết ta không chịu được khi nhìn nàng khóc mà.

Cũng không chịu được khi nhìn thầy mẹ đều cố chấp đâm đầu vào con đường chết, càng không chịu được khi nhìn vợ mình ốm nghén lại không có tiền mua thức ăn ngon, tất cả chỉ vì giấc mộng phục quốc viễn vông."

"Là tại tôi... tại tôi..."

Nép sâu vào góc, nàng co người, gục đầu xuống gối, lặp đi lặp lại mãi mấy chữ kia.

Hai đứa bé sau bếp nghe động tĩnh, chạy vào.

Thấy nàng ngồi khóc, chúng gào lên, đôi bàn tay nhỏ thùm thụp đánh vào người gã.

"Cút đi!

Người xấu!

Buông mẹ tôi ra!

Cút đi!"

Mấy nhà xung quanh nghe tiếng thét, chẳng ai hẹn ai đều nhanh chóng chạy sang.

Cửa chính mở toang, cửa sổ cũng mở toang.

Ánh sáng tràn vào, chiếu lên quan phục uy nghi trên người gã.

Trong thoáng chốc, tất cả đều im lặng.

Gã nhìn họ, khẽ cười rồi quay lại nhìn nàng.

Nụ cười rực rỡ, như rất lâu, rất lâu về trước, khi nàng chỉ là một đứa bé con, trốn nhà đi chơi suýt bị người ta bắt cóc.

Là gã, lúc ấy cũng chỉ là đứa bé trạc tuổi nàng, đưa quân lính đến giải cứu nàng, rồi hiên ngang đứng bên thềm nắm tay nàng, cùng nàng nhìn quân lính xử lý đám người xấu ấy.

Lúc này đây, quyền lực trong tay gã lại không dùng để bảo vệ nàng, mà để dọa những người có ý bảo vệ nàng.

Gã túm lấy đôi bàn tay nhỏ của cu Nhân, nhìn kỹ thằng bé rồi quay lại nhìn nàng: "Đây là cu Hiển con chúng ta phải không?"

"Tôi không phải con ông!

Cút đi!"

Bị giữ tay, đứa bé vẫn không ngừng gào thét.

"Tôi không phải con ông!"

Hơn chục con người trên tay đầy vũ khí, đứng trước một kẻ tay không tấc sắt, lại chỉ có thể nín lặng, không dám tiến lên dù là một bước, không dám mở miệng dù chỉ một câu.

Gã đứng dậy, ung dung bước giữa đám người, kiêu hãnh thể như họ đến đây để cung nghênh gã.

Gã đã đi, hơn chục con người vẫn đứng ngây ở đấy.

Ngoài cửa sổ, ông lão nhà bên tuổi gần sáu mươi, người cầm gậy chạy vội chạy vàng sang khi còn chưa kịp lau vệt cháo dính trên râu, chẳng rõ nghĩ gì, bỗng buông gậy ngồi thụp xuống lau nước mắt.

"Thôi mà ông, ông cũng già rồi mà..."

Bà vợ bối rối đỡ chồng đứng dậy, kéo về nhà.

Họ đi rồi, không ai bảo ai, mọi người đều lặng lẽ ra về, như chuyện kia chưa từng xảy ra trong mắt họ.

Đóng cửa lại, tất cả lại ru mình trong giấc mộng vàng son quá khứ, thuở làng họ còn là đất tổ triều Trần, vinh hiển lắm, thuở giặc Minh vừa sang xâm lược, nam nữ già trẻ đều đồng lòng giết giặc...

Họ vẫn thường kể với bọn trẻ con như thế.

Một ngôi làng anh dũng, ghét ác như thù, sao có thể chùn bước trước cường quyền, sao có thể làm ngơ nhìn người phụ nữ đáng thương bị kẻ ác hiếp đáp ngay trước mắt họ, ngay trong làng họ?

Câu trả lời chẳng phải rất hiển nhiên sao?

Vì nàng không xứng đáng.

Chẳng bao lâu, mọi người đều truyền nhau chuyện thị Tuyết, vợ thằng Thiện, con dâu ông lang Đức quá cố, từ thuở còn ở quê cũ đã lẳng lơ.

Nhân lúc thằng Thiện rời nhà chinh chiến, thị không chịu được cảnh chăn đơn gối chiếc, lén ăn nằm với gã thổ quan, sinh ra đứa bé rồi vờ là con thằng Thiện.

Ai đấy bảo từ lần thị về ra mắt người làng, nhìn dáng đi đã thấy thị lăng loàn, kẻ đinh ninh có hôm tối trời đi ngang con đê nọ, từng thấy thị mắt đi mày lại với gã nào.

Không còn ai muốn nói chuyện cùng nàng nữa.

Không còn ai cho bọn trẻ nhà họ chơi cùng con nàng nữa.

Trăng lên cao, hắn và nàng nằm cùng trên một chiếc giường, không ngủ được, nhưng cũng chẳng nói gì.

Khẽ đẩy cửa định ra ngoài ngồi một lát, hắn thấy cu Nhân thu mình bên một góc nhà.

Trông thấy hắn, đứa bé con giọt ngắn giọt dài, chạy đến sà vào lòng hắn, thổn thức: "Thầy ơi, con là con thầy có đúng không?"

Hắn ôm thằng bé vào lòng, đánh vào mông nó mấy cái rõ đau: "Mày ăn của thầy ở của thầy, lại giống thầy như tạc, không con thầy thì con ai?

Mày đừng nghe người làng nói bậy, mẹ mày buồn."

Nó gật đầu như mổ thóc: "Con là con thầy.

Mẹ bảo ông bà con là anh hùng, thầy con cũng là anh hùng."

Hắn thơm lên mái tóc tơ mềm, bế thằng bé về phòng của họ, đặt nó nằm giữa hắn và nàng.

Choàng tay ôm lấy đứa con trai nhỏ, bàn tay nàng lẳng lặng tìm sang phía hắn, chậm rãi lướt theo từng đường nét trên gương mặt hắn.

Trong bóng đêm, hắn nắm lấy tay nàng, nắm chặt.

Suốt mấy ngày hắn không đến quán, thị Trúc phải đánh xe về làng lấy rượu.

Mẹ thị đã qua đời từ năm ngoái, thị cũng chả màng tẩy son gột phấn trông cho chính chuyên những lúc về làng như trước.

Má đỏ môi hồng, mỗi bước đi lại ngập mùi phấn sáp, thị bước vào nhà, chờ hắn chất rượu lên lại đánh xe đi.

"Miệng lưỡi thế gian ấy mà, nếu để trong lòng thì như đao như kiếm, nếu bỏ ngoài tai thì như gió thoảng mây bay thôi, tội gì."

Trước lúc lên xe, thị lơ đễnh bỏ lại cho nàng một câu như thế.

Những lời đồn im ắng được ít hôm.

Mấy hôm nay, người người nhà nhà chỉ quan tâm chuyện nghĩa quân từ Thanh Hóa kéo lên, người đông thế mạnh, uy thế chẳng kém quân vua Trần ngày trước.

Nghĩa quân còn ở xa trăm dặm, lương thực trong làng đã bị quân Minh trưng thu gần hết.

Đám lính giặc không thể đến quán nhiều như trước, hắn đi giao rượu cuối cùng lại phải mang về.

Trên đường về, hắn lại thấy nàng phía bờ sông cạnh cổng làng, giống như những gì dân làng từng thêu dệt.

"Không phải, không phải đâu mình..."

Gượng người tránh khỏi vòng tay người nọ, nàng cố đứng dậy, tiến về phía hắn, nhưng chỉ đi được vài bước đã ngã xuống, cả người ướt sũng, tóc đầy bùn.

"Dân làng chửi ta ngu đúng lắm!"

Hắn hít một hơi dài, bàn tay chống gậy run lên bần bật.

"Ta đi khắp nơi giải thích cho cô, cô lại nằm trong lòng chồng cũ tâm tình, ta ngu lắm!"

Hắn đánh xe đi, nàng hốt hoảng chạy gọi với theo, nhưng không kịp.

"Loại chồng như thế đáng để nàng vì giữ danh dự mà nghĩ quẫn sao?"

Phía sau nàng, gã đàn ông chỉ buông một câu như thế, sau đó im lặng phủi rong rêu xuống khỏi tóc nàng.

...

Nàng trở về, nhưng họ đã chẳng thể như xưa nữa.

Hắn mang rượu ở nhà ra uống cạn, uống không đủ lại lên trấn lấy thêm về.

Ngày qua ngày, nhớ đến ngôi nhà ấy, người ta chỉ nhớ bóng dáng say khướt của hắn, tiếng hắn đay nghiến vợ, cùng tiếng khóc của nàng sau những lời đay nghiến.

Bẵng đi ít lâu, người ta lại nghe nàng và gã quan kia tái hợp, mời cả tướng giặc đến làm chủ hôn, quân lính trong vùng kéo nhau về chúc tụng.

Và như để phô trương chiến thắng, họ mở tiệc ngay trên quán rượu kia.

Hắn phản đối, bị thị Trúc mắng một trận rồi đuổi thẳng.

Đám lính cười vang, quẳng cho thị mấy xâu tiền, thị thấy thế lại càng đon đả, sai người mua thêm thật nhiều rượu đến, lại gọi một đàn ong bướm chốn phong trần sang hầu rượu.

Đêm xuống, trăng lên.

Trong tiếng sênh ca, mỹ nữ như hoa, rượu nồng như mộng.

"Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng 'Hậu đình hoa'."

Gã tướng Minh tức cảnh sinh tình, tựa đầu vào ngực hoa nương xinh đẹp nhất, gõ đũa ngâm nga mấy câu thơ của Đỗ Mục thời Đường.

Quân khởi nghĩa vẫn chưa đánh đến, họ vẫn còn muốn tận hưởng cảnh thái bình này.

Cảnh thái bình chỉ của riêng họ, những kẻ lang thang rời quê hương vạn dặm nơi phương bắc sang đây xâm lược, cả những kẻ sinh ra và lớn lên trên mảnh đất bị xâm lược này, nhưng đã chọn từ bỏ mảnh đất này, từ bỏ những con người trên mảnh đất này, từ bỏ thứ gọi là trung quân ái quốc, theo đuổi giấc mộng vinh hoa phú quý.

Giấc mộng vỡ tan khi những ngọn lửa bùng lên.

Bừng tỉnh khỏi cơn say dang dở, quân lính bên trong vội vã đẩy cửa ra, hoang mang nhìn bức tường lửa chẳng biết từ lúc nào đã vây lấy chúng từ bốn phía.

Cổng đã bị khóa, mấy ả hoa nương chạy loanh quanh khóc rú lên.

Khắp nơi là dầu, mấy tên lính chết lặng nhìn lửa rừng rực lan đi như cơn gió.

"Là hắn phóng hỏa!

Bắt lấy hắn!"

Giữa ánh lửa, trong tấm áo hoa lệ của ngày hôn lễ, nàng chỉ vào chiếc bóng phía xa.

Chẳng ai nhìn rõ là bóng người, bóng cây, hay vốn dĩ không có chiếc bóng nào.

Người chồng cũ nắm tay nàng.

Bàn tay lạnh ngắt giữa bốn bề lửa đỏ.

Trong khung cảnh hỗn loạn kia, cũng chẳng ai quan tâm những vò rượu to được mang đến mừng hôn lễ ban đầu có bao nhiêu là rượu, bao nhiêu là dầu.

Dù nghĩ đến, tất cả cũng không còn ý nghĩa gì.

Đám lính theo chân những người phụ nữ tìm đường sống.

Nhóm chạy theo nàng, nhóm chạy theo ả chủ quán đang không ngừng nguyền rủa tên nào phóng hỏa, nhóm chạy theo đám hoa nương đang thút tha thút thít than trời trách đất.

Những người phụ nữ mặt đầy son phấn.

Phấn son dày, không nhìn thấu nổi nụ cười ánh mắt phía sau.

Họ dẫn đám lính chạy qua những tảng đá thình lình xuất hiện giữa hành lang, qua những sợi dây giăng ngang chẳng hiểu từ đâu lại có.

Qua những vệt dầu, những chiếc hố đầy chông.

Chúng chết dần sau mỗi bước chân.

Đến khi có ai trong số chúng kịp nhận ra, tất cả đã không còn đường quay trở lại.

...

Phía bên ngoài, cách bờ tường chỉ chừng hai mươi bước, hắn cùng Lĩnh đứng quanh chiếc hố, kéo từng người, từng người một vừa từ đường hầm tẩu thoát lên.

Đám lửa to như thắp sáng cả một vùng trời.

Đây chỉ là một phần trong kế hoạch, phần còn lại thuộc về những nghĩa quân đang chia nhau tấn công trại giặc.

Những nghĩa quân kia, những trại giặc kia cũng chỉ là một phần trong kế hoạch lớn hơn, đan xen cùng những kế hoạch khác từ khắp nơi trên đất nước.

Từng ngôi làng, từng thị trấn, từng tòa thành, như muôn vàn sợi chỉ dọc ngang, dần dần dệt thành giấc mộng sau cùng của cả đất nước này.

Những hoa nương kia đều đã trở ra.

Chỉ còn lại nàng và thị Trúc.

Trong ánh lửa, thị Trúc được mọi người đưa lên mặt đất.

Xiêm áo tả tơi, trâm rơi tóc rối, nét mặt thẫn thờ.

Sau lớp đất cát, khói bụi, sau cả tầng tầng son phấn kiều diễm đã phai, nước mắt thị tuôn ra như suối, từng chút, từng chút một gột rửa đi tất cả.

"Tuyết chết rồi, đừng chờ nữa.

Tuyết chết rồi..."

Thị khóc.

Ôm mặt khóc.

Vùi đầu vào lòng tình lang mà khóc.

Đừng chờ nữa.

Thị khóc, lặp đi lặp lại câu ấy đến lịm đi.

Hắn vứt gậy, nhảy xuống hố, mặc tiếng can ngăn của Lĩnh phía sau.

Lê từng bước trong đường hầm mờ mịt, hắn nghe tim mình như muốn vỡ tung.

Đường hầm đào vội, phía dưới, xung quanh đều còn đầy đá sỏi, chỉ đủ để thân thể nhỏ bé của đàn bà bò qua từng người một.

Đừng chờ nữa.

Đừng chờ nữa.

Ba chữ ấy văng vẳng bên tai hắn mãi.

Không rõ là tiếng thị Trúc phía sau, tiếng nàng vang vọng phía bên kia đường hầm, hay chỉ là âm thanh quẩn quanh trong đầu hắn.

Hắn lê mãi, lê mãi.

Tay hắn chạm vào một tảng đá to.

Ai đấy đã ném đá xuống chặn đường hầm lại.

Hắn dùng sức đẩy.

Đẩy đến tay rướm máu, đến mặt nóng ran, đến máu trong người đều như sôi lên sùng sục.

Hắn gọi tên nàng, nhưng nàng không ở đấy, hoặc ở đấy nhưng không đáp lại, hoặc ở đấy nhưng đã không thể nào đáp lại.

Hắn từng nghĩ mình tàn mà không phế.

"Nói cho mình một bí mật này, thật ra năm ấy mình là người đầu tiên em chọn đấy."

"Thế ra không phải mình dù bị bao người từ chối vẫn quyết giữ lại mấy đứa trẻ sao?

Ta vì cảm phục trước tấm lòng của mình nên quay lại đưa mình về làm vợ đấy."

"Vậy là mình bị em lừa à, nhưng có phải em cố tình lừa mình đâu..."

"Đã lừa thì phải lừa cho trót, mình phải lừa ta cả đời mới đáng."

Đó là những lời cuối cùng họ nói, vào đêm cuối họ còn chung chăn gối.

Trên mặt đất, lửa cháy rực trời.

Tiếng chân người, tiếng gươm đao, tiếng cung tên từ nơi nơi lẫn vào nhau.

Xôn xao, rộn rã.

Oai hùng, bi tráng.

Và rồi khi mặt trời lên, khi tất cả đã cháy thành tro bụi, tiếng tung hô chiến thắng vỡ òa.

Dưới dường hầm, từ đầu đến cuối là tịch mịch.

...

Sau đêm ấy, quân khởi nghĩa tràn đến vùng của họ.

Dân làng như bừng tỉnh khỏi cơn mê, người dâng thóc gạo, người rèn binh khí, người khăn gói theo quân lên đường đánh sang vùng khác.

Những hoa nương kia biến mất không dấu vết, tựa như đom đóm, ban ngày chẳng ai nhìn thấy ánh sáng của các nàng.

Có thể các nàng còn nhiệm vụ phía sau, có thể các nàng tìm đến một vùng trời mới, nơi không ai biết đến đến quá khứ tăm tối của các nàng, bắt đầu lại cuộc đời hằng mơ ước.

Chỉ có thị Trúc còn ở lại.

Thị đã quen với những lời đàm tiếu.

Người ta vẫn đàm tiếu dù hiểu thị, cảm phục thị, thương xót thị.

Thế gian luôn khắc nghiệt với đàn bà, hay có lẽ chỉ với đàn bà còn sống.

Chẳng mấy người có thể kiên cường như thị, kiên cường bước qua lời chửi rủa suốt mấy năm của dân làng, kiên cường đón nhận ánh mắt phân vân không rõ nên thương cảm hay nên xem thường của chính những dân làng ấy khi hiểu chuyện.

Thị ở lại làng, được cả làng tổ chức hôn lễ, gả cho Lĩnh, người đồng đội đã cùng thị đi qua những tháng ngày ẩn thân nằm gai nếm mật.

Thế nhưng thị lại bỏ đi sau đêm hôn lễ.

Mấy năm trời miệng lưỡi thế gian, lại không bằng một khắc do dự thoáng qua trong mắt tình lang đêm tân hôn.

Có lẽ vào thời khắc rời đi, cuối cùng thị đã hiểu vì sao đêm ấy người phụ nữ kia lại mỉm cười khi vĩnh biệt thị, tự tay đẩy tảng đá chặn đường sống của chính mình xuống giếng.

Lĩnh cũng chẳng đi tìm thị Trúc.

Không muốn tìm, hoặc chẳng có thời gian để đi tìm.

Anh ta theo quân mấy ngày sau đấy, tiến ra Đông Quan, lên tận Chi Lăng.

Mấy năm sau, khi đất nước thanh bình, lúc trở về làng anh ta đã lên hàng tướng, đi đâu cũng có người theo bê guốc, dâng trầu.

"Đàn bà phiền chết đi được..."

Những lần hiếm hoi họ gặp nhau, trong men rượu, Lĩnh luôn càu nhàu cùng một câu như thế.

Phiền chết đi được, nên anh ta cũng chẳng cưới ai khác nữa, cả đời chỉ có niềm vui là chiến trận.

Anh ta chết trong trận chiến với Ai Lao.

Những năm tháng ấy, cái chết luôn chờ chực.

Không trận này thì trận khác, không quân thù này thì quân thù khác.

Sau khi giặc tan, triều đình cho người đến các làng, các trấn tìm gương anh hùng, tiết phụ rồi dựng đền, cắt cử người lo hương khói để vinh danh.

Nàng được xây một ngôi đền to trên quán cũ, trở thành niềm vinh dự của cả làng.

Chẳng ai còn nhắc những thị phi ngày trước.

Họ truyền nhau câu chuyện về nàng, câu chuyện truyền đi càng lúc càng hoàn mỹ, hoàn mỹ như số mệnh giáng thế phò vua giúp nước của một vị nữ thần nào đấy.

Mấy đứa trẻ nhờ tiếng thơm nàng để lại, thành gia lập thất đều được người ta vị nể.

Thằng cu Nhân được cả làng nuôi ăn học, thi trượt mấy lần nhưng chí lớn không sờn, sau được quan phủ gửi gắm cho người thầy giỏi, đến hơn ba mươi thì đỗ tiến sĩ, từ quan đến dân đều vỡ òa vì cái vinh này.

Ngày trở về, thằng bé năm xưa quỳ trước bài vị của nàng, văn hay chữ tốt đỗ đạt nhường ấy lại chẳng khấn được gì hoa mỹ, chỉ dõng dạc một câu: "Con sắp làm quan rồi mẹ ạ, nhưng không cần phải làm quan cho giặc."

Nơi này hương khói cay nồng, người già như hắn đứng đấy mãi không chịu được.

Hắn quay đi, để lại đàn con cháu phía sau, một mình chống gậy bước ra ngoài, lướt qua từng góc nhà, từng chiếc cột, từng bậc thềm, từng con đường cũ.

...

Giữa nắng trưa, trên con đường chỉ còn lại hắn và chiếc bóng, dường như đâu đây vọng lại tiếng người xưa.

"Anh đưa tôi về làm vợ được không?"
 
Back
Top Bottom