Cập nhật mới

Khác Đế quốc Phù Nam sử ký

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
334400032-256-k249157.jpg

Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Tác giả: sagonastorydrama
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Đế quốc Phù Nam sử ký là bộ quốc sử viết bằng chữ Quốc ngữ (chữ viết hệ Latin) của Đế quốc Phù Nam , viết theo thể văn xuôi, ghi chép lịch sử Đế quốc Phù Nam từ thời đại đồ đá cũ, thời đại đồ đá mới, đến hình thành xã hội có giai cấp đầu tiên, tới giai đoạn phong kiến, đế quốc, tư bản và hiện nay.

Đây là bộ chính sử xưa nhất, đầy đủ nhất về lịch sử vùng đất Phù Nam, do nhiều đời sử quan trong Quốc Sử quán biên soạn.



vietnam​
 
Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Giới thiệu


Đế quốc Phù Nam sử ký là quốc sử của Đế quốc Phù Nam, là cuốn sử của Quốc sử quán được viết từ 31.000 TCN đến lịch sử hiện nay của đế quốc, được viết bằng chữ Quốc ngữ (chữ hệ latin), theo lối văn xuôi.

Đây là tài liệu lịch sử xuyên suốt không đứt gãy lớn nhất của thế giới được tìm thấy.

Ban đầu chúng được viết trên các phiếu tre, sau đó được lắp ráp thành bó nên tốn rất nhiều nguyên vật liệu.

Sau đó các bản thảo được phép lưu hành và được sao chép, lưu hành theo kiểu bó tre hoặc các nhóm nhỏ.

Khi Lạc Hoàng Đại đế thống nhất đế quốc, thành lập Quốc sử quán.

Các tài liệu sử ký được chép và in trên giấy, khiến chúng dễ dàng được lưu trữ, bảo quản, sao chép và vận chuyển.

Đế quốc phù nam sử ký là một trong những bộ sử thuộc nhóm Lịch sử của Quốc sử quán Đế quốc Phù Nam.

Quốc sử quán Phù Nam để lại rất nhiều công trình lịch sử địa lý quy mô, được biên soạn một cách chặt chẽ, được viết theo lối văn xuôi.

Các công trình được chia thành các nhóm: Địa chí (quốc chí, địa phương chí), Lịch sử (đế quốc, châu lục, thế giới), Văn hóa, Văn học, Pháp luật, Lễ nghi, Chính trị,...

Đế quốc Phù Nam sử ký được chia thành các phần sau:

Phần 1: Giới thiệu - mô tả cấu trúc các nội dung được biên soạn trong sử ký.

Phần 2: Mở đầu: Niên biểu lịch sử - mô tả niên biểu lịch sử từ 31.000 TCN đến hiện nay.

Phần 3: Chiến tranh - ghi lại các cuộc chiến tranh nổi bật đã xảy ra ở Đế quốc

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Chân Lạp

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Chăm pa

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Khơ me

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Miến Điện

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Xiêm La

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Java

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Kushan

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Mông Cổ

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Đại Đường

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Đại Minh

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Đại Thanh

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Đại Hòa

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Anh

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Đế quốc Pháp

- Chiến tranh Đế quốc Phù Nam - Liên minh 8 nước

Hầu hết các cuộc chiến tranh diễn ra khi các vương quốc gần kề có vị quân chủ mới làm quốc lực trở nên hùng mạnh, muốn mở rộng lãnh thổ, nên đã dấy binh sang xâm lấn Đế quốc Phù Nam.

Tuy nhiên, tất cả các âm mưu xâm lược đều thất bại trước sự hùng mạnh của Đế quốc Phù Nam.

Phần 4: Văn hóa - mô tả kiến trúc cung đình, trang phục, văn hóa, lễ nghi, mỹ thuật, nghệ thuật ở Đế quốc Phù Nam

- Kinh thành Sài Gòn

- Trang phục Đế quốc

- Chữ viết

- Quân phục Đế quốc

- Các lễ nghi, nghi lễ

- Các ngày Lễ - Tết

- Quốc ấn, quốc ca, quốc phục, quốc hiệu, quốc huy, quốc kỳ,quốc thiều, quốc thú, sử thi, truyền thuyết, quốc hoa, quốc điểu, quốc thụ

- Âm nhạc,mỹ thuật, nghệ thuật, kiến trúc, sáo, lịch, thiên văn học, sông ngòi, đường thủy, cảng biển, quản trị, tài chính, chính trị, các thuật: trị quốc, dùng người, triết học: pháp gia, nho gia, đạo gia, mặc gia,..

- Khoa cử, chuyện học, chuyện thi, nghi thức xướng danh ban mũ áo và thiếc yến

- Khoa học, công nghệ, quân sự, kinh tế, kĩ thuật

Phần 5: Thần thoại - ghi lại các câu chuyện thần thoại được lưu truyền trong dân gian ở đế quốc

- Huyền thoại lịch sử các vị thần

- Thần Mặt trời

- Thần Mặt trăng

- 12 vị thần Cung hoàng đạo

- 12 vị thần Thiên can Địa Chi

- Thần sử học, thần âm nhạc, thần hài kịch, thần bi kịch, thần khiêu vũ, thần trữ tình, thần hùng biện, thần thiên văn, thần thiên anh hùng ca,..

- Thần lửa, thần rừng, thần sông, thần suối, thần biển cả, thần nước, thần mưa, thần băng, thần núi,..

Phần 6: Liệt truyện - ghi chép lại các chuyện tình lãng mạn, chuyện đời sống, truyền thuyết, giai thoại trong đế quốc.

Vì tác phẩm Đế quốc Phù Nam sử ký rất đồ sộ, nên tác giả tạm phép chỉ trích dẫn một phần nội dung cho đọc giả theo dõi!

Ghi chú: Đây là truyện sử ký, những ghi chép ở đây hoàn toàn không có thật.

Những câu chuyện được ghi chép trong Đế quốc Phù Nam sử ký là góp nhặt những câu chuyện lịch sử có thật, có sự thay đổi tên, có kết hợp, có biến tấu, có thay đổi nhiều mẫu chuyện.

Nếu gọi đây là tác phẩm, thì đây là tác phẩm hư cấu, hoàn toàn không phải tác phẩm sáng tạo, mà là tác phẩm sao chép nhiều câu chuyện mà thành, các bạn đọc giả vui lòng lưu ý trước khi đọc.
 
Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Mở đầu: Niên biểu lịch sử


Thời đại đồ đá cũ

30.000 TCN - 12.000 TCN

Người Homo Erectus đã cư ngụ ở Phù Nam.

Những cuộc khai quật tại Cần Giờ và sau đó tại Ba Thê đã hé lộ những dấu tích cư trú đầu tiên.

Mẫu vật nổi tiếng nhất của Homo Erectus được tìm thấy tại Phù Nam là người vượn người An Thít được phát hiện năm 1912.

Homo Sapiens hay người hiện đại đã tới Phù Nam từ khoảng 65.000 trước từ Châu Phi.

Thời kỳ đồ đá cũ Phù Nam cũng có sự độc đáo là sự xuất hiện của các đá móng và công cụ được mài nhẵn sớm nhất trên thế giới, niên đại khoảng 30.000 năm TCN, một công nghệ đặc trưng gắn với sự mở đầu của thời kỳ đồ đá mới, khoảng 10.000 năm TCN, tại phần còn lại của thế giới.

Không rõ tại sao những công cụ như thế này lại được làm ra sớm đến thế ở Phù Nam, mặc dù thời kỳ này gắn với sự ấm lên toàn cầu (cách ngày nay khoảng 30.000-20.000 năm).

Vì sự độc đáo này, thời kỳ đồ đá cũ Phù Nam không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa theo truyền thống về thời kỳ đồ đá cũ dựa trên công nghệ chế tác đá (công cụ đá mài).

Các công cụ thời kỳ đồ đá cũ Phù Nam do đó thể hiện những đặc điểm tiêu biểu của thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá mới từ những năm 30.000 TCN.

Những mảnh đồ gốm có niên đại sớm nhất trên thế giới đã được tìm thấy tại Di chỉ Châu Hậu, cho thấy người Phù Nam đã biết làm đồ gốm từ ít nhất là khoảng 20.000 đến 19.000 năm trước, vào cuối Thời kỳ băng hà cuối cùng, chúng được dùng để đựng thực phẩm và nấu ăn.

Các phát hiện tại Di chỉ Cả Kiều cho thấy người Phù Nam đã biết thuần hóa chó từ khoảng 12.000 năm trước.

Thời đại đồ đá mới

12.000 TCN - 3.000 TCN

Giai đoạn thời đại đồ đá mới của lịch sử Phù Nam bắt đầu bằng việc nông nghiệp phát triển vượt bậc.

Các nghiên cứu gần đây đã xác định quê hương của văn minh lúa nước là vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi lúa nước được thuần hóa lần đầu tiên trên thế giới.

Cùng với nông nghiệp, dân cư ngày càng đông đúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối lương thực và đủ cung cấp cho những người thợ thủ công cũng như quan lại.

Cuối thời kỳ đồ đá mới, vùng châu thổ sông Cửu Long, sông Sài Gòn bắt đầu trở thành một trung tâm văn hóa, nơi những làng xã đầu tiên được thành lập; những di tích khảo cổ đáng chú ý nhất của chúng được tìm thấy tại di chỉ Bến Nghé, Sài Gòn.

Vào khoảng năm 5.000 TCN, các cộng đồng nông nghiệp đã trải dài khắp trên đa phần lãnh thổ Phù Nam hiện nay, và đã có những làng nông nghiệp từ đồng bằng sông Sài Gòn, sông Cửu Long, sông Đồng Nai.

Ở đó con người có rừng và có nước để trồng cây ăn trái, lúa nước, họ săn hươu, nai và các loài thú khác, câu cá làm thức ăn.

Họ thuần hóa chó, heo và gà.

Họ chặt cây để xây những ngôi nhà một phòng, với mái bằng rơm hay lá dừa khô, nhiều ngôi nhà như vậy tạo thành một làng.

Họ đã có guồng quay tơ và biết đan cũng như dệt sợi.

Họ cũng biết chế tạo đồ gốm có trang trí.

Một số học giả còn khẳng định rằng một hình thức chữ viết nguyên thủy đã xuất hiện ở Phù Nam ngay từ năm 3.000 TCN.

Trên cơ sở văn minh nông nghiệp, các nền văn hóa dần phát sinh ở các địa phương khác nhau dọc theo 2 dòng sông lớn là Sài Gòn và Cửu Long, các nền văn hóa này có ảnh hưởng qua lại hoặc tiếp nối nhau.

Trong suốt giai đoạn này, nhiều sự thay đổi đã xuất hiện như là việc thiết lập và mở rộng một nền kinh tế kết hợp trồng trọt và chăn nuôi gia súc, những sáng tạo về mặt kiến trúc, cũng như là sự tinh vi trong nghệ thuật và chế tác công cụ.

Ở những nơi con người sản xuất ra được nhiều lương thực hơn nhu cầu của họ, các chiến binh đã được thúc đẩy để không chỉ đi cướp đoạt mà còn để chinh phục.

Và các vị vua chinh phục đã bắt đầu nổi lên ở đồng bằng sông Sài Gòn cũng như sông Cửu Long.

Giai đoạn đầu, lịch sử Phù Nam chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải cho đời sau bằng truyền thuyết.

Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Phù Nam là ở thời kỳ con Rồng cháu Tiên, cách đây khoảng 7.000 - 4.000 năm.

Theo các nhà nghiên cứu, các truyền thuyết này phản ánh thời kỳ công xã nguyên thủy đang sắp tan rã, liên minh các bộ lạc đang dần trở thành triều đình nắm quyền lực cai trị dân chúng.

Vào khoảng 3.000 TCN, xã hội nguyên thủy ở Phù Nam bước vào giai đoạn tan rã hoàn toàn, xã hội chiếm hữu nô lệ với các giai cấp, triều đại bắt đầu hình thành.

Các nhà khoa học đã phát hiện các chứng cứ cụ thể về nền văn minh Phù Nam có lịch sử 12.000 năm, bao gồm phát hiện di tích hệ thống cổ nhất thế giới (niên đại 12.100 năm), kiến trúc cung đình cổ nhất Phù Nam ở hạ du sông Sài Gòn (niên đại 8.000 năm), phát hiện chữ viết xuất hiện sớm nhất Phù Nam, những đồ dùng (niên đại 6.900 năm), đài quan sát thiên văn sớm nhất thế giới (niên đại 5.100 năm) ở khu vực hạ du sông Sài Gòn, sông Cửu Long.

Chứng thực đặc trưng tổng thể của nền văn minh Phù Nam là "đa nguyên, nhất thể, thu gom tất cả trong giao lưu, tương tác lâu dài, cuối cùng hội nhập, ngưng tụ hình thành cốt lõi văn minh với văn hóa An Thít là đại diện, mở ra văn minh triều đại đế quốc Phù Nam"

Phù Nam cổ đại

3.000 TCN - 664 TCN,

Xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử Phù Nam bắt đầu ở đồng bằng sông Sài Gòn, đồng bằng sông Cửu Long – giai đoạn cai trị được tin rằng đã bắt đầu khoảng năm 3.000 TCN.

Người Phù Nam đã có những đoạn văn khắc dùng để bói toán trên xương thú hoặc mai rùa — được gọi là giáp cốt văn.

Nhờ có giáp cốt văn mà ngày nay các nhà khảo cổ có thể kiểm chứng được các sự kiện chính trị, tôn giáo diễn ra vào thời kì này.

Lạc Tôn cai quản vùng đất ở đồng bằng sông Sài Gòn, đóng đô tại Sài Gòn, Âu Mã cai quản vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long, đóng đô tại Cần Thơ.

Lạc Tôn, Âu Mã bắt đầu xây dựng thành quách để giữ gìn của riêng và người trong dòng họ.

Để tránh những con cháu sau này nối ngôi đánh phá lẫn nhau, gây ra các cuộc chiến tranh không đáng có, Lạc Tôn và Âu Mã đã hợp nhất hai bộ lạc của mình bằng hôn sự của hai người con là Lạc Văn và Âu Thị, đặt tên vương quốc là Phù Nam, đặt hai kinh đô là Sài Gòn và Cần Thơ.

Sài Gòn thì phát triển thành cảng thị giao thương, Cần Thơ thì phát triển thủ phủ nông nghiệp.

Kinh tế xã hội lúc bấy giờ đã phát triển khá tiến bộ.

Phương pháp làm lịch cũng bắt đầu xuất hiện.

Thời kì này, đồ đồng đã được dùng phổ biến, đạt trình độ chế tác cao.

Vương triều Phù Nam cũng thường phái quân đội đi chiến đấu chống lại những bộ tộc lân cận ở vùng phía Nam Á, Đông Nam Á lục địa tràn qua, vùng phía Đông Á tràn xuống và nạn cướp biển ở phía Đông từ Đông Nam Á hải đảo.

Lạc Văn và Âu Thị có tất cả trăm người con (gồm 8 người con ruột và 92 người con nuôi của các tướng lĩnh lập công).

Để tránh các con tranh giành quyền lực, Lạc Văn và Âu Thị chia 50 người con theo cha ở Sài Gòn, 50 người con theo mẹ về Cần Thơ.

Cả nước chia làm 100 trấn chia cho 100 người con cai quản làm thủ lĩnh.

Trong đó con trưởng ở Sài Gòn làm thiên tử, đóng đô ở Sài Gòn, hằng năm mùng 1 các con tề tụ tại Sài Gòn tế bái tổ tiên Lạc gia, mùng 2 các con tề tụ tại Cần Thơ tế bái tổ tiên Âu gia.

Sự ổn định này chỉ tồn tại được năm đời vua, các đời sau bắt đầu tranh giành quyền lực, từ khi vua Lạc thứ năm phong vương cho các anh em, vì cho rằng đất đai mình chinh phục được quá rộng lớn để một người có thể cai trị.

Bắt đầu thời kì này vương quốc Phù Nam đã bắt đầu thời kì cai trị của mình theo một hệ thống nửa phong kiến.

Chính sách này khá tương đồng với mô hình chính trị Châu Âu thời Trung cổ, trong đó có rất nhiều tiểu quốc chư hầu được thành lập, vua của nước chư hầu phần lớn đều do con cháu của thiên tử nắm quyền, nước chư hầu có quyền tự trị và có trách nhiệm trung thành với thiên tử.

Các lãnh đạo, hay vua của các tiểu quốc đó đều nhận tước hiệu của thiên tử.

Từ khi Lạc vương thứ 1 lên ngôi, Lạc vương đã có nhiều chính sách đổi mới, trong đó có việc đặt niên hiệu thiên tử.

Và các thiên tử đóng đô ở Sài Gòn chỉ dùng một niên hiệu của vua cha mình từ khi lập quốc, tính từ khi Lạc vương thứ 1 lên ngôi, đến nay chỉ dùng 1 niên hiệu là Thịnh Thế, dù các con có lần lượt lên nối ngôi cũng không thay đổi niên hiệu.

Khi Lạc vương thứ 5 lên phong vua chư hầu cho các anh em là năm Thịnh Thế thứ 35.

Từ đó, mỗi vị vua chư hầu có quyền sắp đặt mọi vùng đất quanh mình và có lực lượng quân đội riêng.

Và thiên tử ban cho họ những quà tặng như xe ngựa, vũ khí bằng đồng, người hầu và súc vật.

Các vị tù trưởng này được phong các tước vị và cai quản vùng lãnh địa của mình như một tiểu quốc thần phục thiên tử.

Những vị vua địa phương này truyền ngôi cho con trai mình và tước vị của họ là cha truyền con nối.

Và để cai trị vùng đất của mình tốt hơn, vị chư hầu đó lại phong những tước nhỏ hơn cho những người đã từng cầm đầu các nhóm dân ở nơi đó trước khi họ đến.

Một hệ thống thứ bậc địa vị và trách nhiệm xuất hiện giữa và bên trong các gia đình, với việc anh lớn thì có quyền cao hơn em, với quy tắc kế tục theo đó những người đàn ông sẽ làm chủ gia đình.

Nếu một người quý tộc đã có gia đình mà lại thích một người đàn bà khác, thay vì đuổi vợ khỏi nhà, ông ta có thể đưa người đàn bà kia vào trong gia đình với tư cách vợ lẽ, với cấp bậc thấp hơn vợ mình.

Thời kỳ này, chế độ phong kiến đó có nhiều điểm tốt:

- Nó giúp thiên tử cai trị được một lãnh thổ rộng gấp mười đất của thiên tử mà không phải dùng nhiều quân đội, không tốn sức;

- Nó lập được một tổ chức có trật tự, trên dưới đều có quyền lợi và bổn phận, mà bổn phận của trên (thiên tử) nặng hơn của dưới,

- Nó cho mỗi nước độc lập trong một liên hiệp, do đó vừa tạo được tinh thần quốc gia, vừa tạo được tinh thần tứ hải giai huynh đệ.

Tinh thần quốc gia nhờ nó mà không hẹp hòi vì "đất nào cũng là đất của Thiên tử, người nào cũng là dân của Thiên tử"

- Nó trọng ý dân và hoà bình, giải quyết được những mâu thuãn giữa các nước nhỏ mà không phải dùng đến vũ lực.

Nó tạo ra một hình thức chiến tranh "lễ độ", "quân tử" rất đặc biệt, khắp thế giới không thấy ở đâu cả.

Lý thuyết thì như vậy, nhưng trên thực tế sự tốt đẹp không kéo dài, khi quyền lực Thiên tử suy yếu ở Sài Gòn, thì các anh em lật đổ để lên làm Thiên tử.

Mỗi lần lật đổ thay thế thiên tử như vậy là mỗi lần thay đổi niên hiệu, trải qua tất cả thảy 18 lần thay đổi niên hiệu (tức dòng vua mới lật đổ dòng vua cũ thì mới thay đổi niên hiệu, con nối ngôi cha không thay đổi niên hiệu, cho đến khi có dòng vua mới lật đổ dòng vua đang trị vì này), và chấm dứt vào năm 664 khi Lạc Quốc tái thống nhất đất nước, đặt hiệu là Lạc Hoàng Đại Đế.

Khi Lạc Hoàng Đại Đế lên ngôi để tưởng nhớ 18 đời dòng chính đã làm thiên tử, truyền đặt lệ vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm làm lễ giỗ chung 18 đời dòng chính thiên tử.

Để ngắn gọn và dễ nhớ, trong dân gian thường gọi là lễ giỗ 18 đời thiên tử, dần dần thành 18 đời vua.

Chính sự ngắn gọn dễ nhớ trong dân gian, đã khiến nhiều người sau này đặt nghi vấn về tính xác thực của triều đại tồn tại cả trăm năm nhưng chỉ có 18 vị vua.

Cũng may, nhờ có giáp cốt văn ghi lại 18 đời dòng chính thiên tử, cũng như lịch sử giai đoạn này, mà chúng ta hiểu rõ lễ giỗ 18 đời vua là lễ giỗ của 18 đời dòng chính làm thiên tử!

Phù Nam phong kiến

664 TCN - 1780

Các nhà sử học thường coi thời kỳ từ khi bắt đầu Lạc Hoàng Đại Đế lên ngôi tới khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai là giai đoạn Đế quốc Phù Nam.

Trong thời gian trị vì, ông đã chinh phục được những vùng đất rộng lớn để tạo nên cơ sở cho con ông sau này và thống nhất chúng dưới một chính phủ Pháp gia trung ương tập quyền chặt chẽ, thủ đô đặt tại Sài Gòn.

Học thuyết của Pháp gia của Lạc Hoàng Đại Đế đặt trọng tâm trên sự tôn trọng triệt để một hệ thống pháp luật và quyền lực tuyệt đối của hoàng đế.

Học thuyết này tỏ ra rất hữu dụng để mở rộng đế chế bằng quân sự nhưng lại không tốt trong thời bình.

Lạc Hoàng Đại Đế dùng những biện pháp tàn bạo để dẹp yên chống đối.

Điều này khiến cho con ông kế tục sau này phải đưa thêm vào các trường phái cai trị có tính ôn hòa hơn.

Các đóng góp quan trọng khác của Lạc Hoàng Đại Đế gồm thống nhất và tiêu chuẩn hóa pháp luật, chữ viết, tiền tệ, đo lường Phù Nam sau giai đoạn các vương các cứ đầy biến loạn.

Thậm chí cả chiều dài trục xe cũng được quy định thống nhất ở thời kỳ này để đảm bảo hệ thống thương mại có thể hoạt động trên khắp đế chế.

Lạc Hoàng Đại Đế còn thống nhất và tiêu chuẩn hóa y phục, lễ phục cho cả Đế quốc Phù Nam.

Trong đó có những quy định khác biệt về trang phục cho các giai tầng trong xã hội, dựa trên các tiêu chí: chất liệu vải, màu sắc, cách may, họa tiết trang trí, thậm chí cả số lượng y phục dành cho từng hạng người cũng có những quy định rất chặt chẽ.

Áo vua thêu rồng, áo hoàng tử trang trí lân, áo hoàng hậu công chúa thêu hoa và chim phượng (có 3 dải đuôi), áo công chúa thêu chim loan (giống như chim phượng nhưng chỉ có 1 dải đuôi).

Mũ đại triều của vua có 9 hình rồng hướng thiên bằng vàng.

Mũ của hoàng thái hậu chỉ thêu 9 con phượng; mũ của cung giai thì tùy theo thứ bậc mà có từ 1 chim phượng đến 7 chim phượng.

Thần dân thì áo dài, khăn đóng.

Các loại vải lụa dùng để may trang phục, mũ mão cho vua chúa, hoàng thân quốc thích đều là hàng cao cấp

Sau khi Lạc Hoàng Đại Đế mất, con ông Lạc Tông Đại Đế lên ngôi đã thay đổi trường phái cai trị có tính ôn hòa hơn.

Sự thống nhất về chính trị giúp mang lại sự thịnh vượng.

Các nguồn lợi dưới thời kì này lớn gấp ba lần thời cha ông.

Cuộc sống dễ chịu phát triển, và nghệ thuật nảy nở với sự phát triển dân số.

Các thành phố - thủ đô văn hóa - trở nên đông đúc hơn.

Những người chủ đất cũng mò về đấy, và những người giàu có thì hàng đống.

Các khu vườn điểm tô cho thành phố.

Có các trung tâm vui chơi, với các tiệm trà hay rượu, các nhà chứa, rạp hát, múa rối, xiếc và tung hứng.

Phù Nam cũng xây dựng một nền công nghiệp sắt lớn - nền tảng cho một xã hội công nghiệp hiện đại.

Các tàu buôn Phù Nam có số lượng rất lớn, và ngày càng tăng.

Số lượng thương mại tăng lên gấp nhiều lần.

Chính sự cải cách này đã tạo tiền đề cho Đế Quốc ngày càng lớn mạnh.

Phù Nam có đội hải quân lớn nhất thế giới, với ước tính 317 tàu, một số chiếc dài đến 440 feet và rộng 180 feet, những chiếc tàu có từ bốn đến chín cột buồm cao tới 90 feet, và với đội thủy thủ lên đến 500 người.

Sự thịnh trị kéo dài đến hơn trăm năm, đến thời Lạc Cảnh Đại Đế, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, hoàng đế thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh.

Đây là lần đầu tiên, đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Phù Nam.

Cả nước được chia làm 30 tỉnh và kinh đô Sài Gòn.

Kinh thành Sài Gòn nằm ở bờ tây sông Sài Gòn với tổng diện tích hơn 1 km2.

Kinh thành là một công trình cung đình kết hợp phòng thủ quân sự theo kiến trúc hỗn hợp Đông-Tây.

Kinh thành có 8 cửa, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Li Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiền, phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấm Chí, phía tây là cửa Tốn Thuận và cửa Đoài Duyệt.

Bao bọc và bảo vệ Kinh thành Sài Gòn là 2 vòng thành gọi là vòng thành Lão Cầm và vòng thành Bán Bích với tổng diện tích bảo vệ gần 100 km2.

Kiến trúc cung đình ở Sài Gòn là sự pha trộn kiến trúc Nam Á và Đông Á.

Với mái ngói, rường cột theo lối Đông Á, với họa tiết hoa văn chạm sắc khảm xà cừ theo lối Nam Á, sân vườn, hồ nước dày đặc, tạo nên tổng thể hài hòa, mát mẻ, độc đáo của riêng đế quốc Phù Nam.

Một số hình ảnh kinh thành Sài Gòn:

Phù Nam trung đại (ngoại thích và quân chủ chuyên chế)

1780 - 1901

Vào khoảng năm 1780, triều đình phù Nam bị ngoại thích chi phối.

Cộng với việc bị buộc phải mở cửa các hải cảng và chấp nhận thuế nhập khẩu thấp cho các nước phương Tây đã khiến Phù Nam bị chia rẽ.

Phong trào đấu tranh chống ngoại thích bùng nổ khắp nơi với sự lãnh đạo của các đại danh vốn trước đây bề ngoài khuất phục ngoại thích đã lấy cớ ngoại thích liền nổi dậy chống lại.

Tháng 12 năm 1801 chế độ ngoại thích chấm dứt.

Tháng 1 năm 1802, chính quyền mới do Lạc Minh Đại Đế bổ nhiệm được thành lập.

Giai cấp tư sản chưa được tham gia chính quyền, nhưng chế độ mới tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển, nên họ ủng hộ chính quyền mới.

Thời kì Lạc Minh Đại Đế theo hình thức quân chủ chuyên chế bắt đầu.

Về quân sự, quân đội được tổ chức và huấn luyện theo kiểu phương Tây.

Lục quân theo mô hình Lục quân Đức, Hải quân theo mô hình Hải quân Anh, các công xưởng và nhà máy vũ khí theo mô hình công binh Pháp, hệ thống hậu cần học hỏi rất nhiều từ Hoa Kỳ.

Quân đội Phù Nam áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự thay cho chế độ trưng binh và tăng cường mua và sản xuất vũ khí, đạn dược.

Kèm theo đó là mời các giảng viên quân sự nước ngoài về để giảng dạy và đưa các sinh viên sĩ quan đến một số nước như Anh, Pháp học tập.

Về giáo dục, đưa những thành tựu khoa học khoa học-kỹ thuật vào giảng dạy và áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc.

Các môn học chuyển chủ yếu từ học thuộc Kinh Sử sang Khoa học-Kỹ nghệ-Thương mại.

Mô hình tự trị-tự chủ Đại học được áp dụng theo hình mẫu phương Tây.

Tư nhân được phép mở trường.

Chất lượng dạy học cũng như chương trình chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ và Phương Tây nhiều mặt.

Điển hình như việc soạn sách: 80% sách vở và tài liệu chuyên ngành được biên soạn theo mẫu Phương Tây.

Trong thời gian đầu cải cách Giáo dục, ước tính có tới 500 giảng viên nước ngoài trong số 15 Đại học đầu tiên của Phù Nam.

Các giảng viên này được trả lương rất cao - 300 Đồng/ tháng so với lương Công chức Nhật thời bấy giờ là 30 Đồng/tháng và hỗ trợ tốt về ăn ở, đi lại nhằm mục đích để họ cống hiến hết mình, truyền bá các kinh nghiệm của bản thân.

Giảng Viên Phù Nam có thể học hỏi phương pháp của các Giáo sư nước ngoài này.

Những học sinh giỏi được cử sang du học ở nước ngoài.

Phù Nam cận đại (quân phiệt và tư bản chủ nghĩa)

1901 - 1945

Thời kỳ này chứng kiến Chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai.

Cuộc chiến tranh này đã thúc đẩy kinh tế và buôn bán của Phù Nam phát triển.

Trong chiến tranh, các cuộc thương lượng ngoại giao quốc tế được tiến hành để cố gắng duy trì sự cân bằng quyền lực.

Ở Phù Nam, các đảng phái chính trị trở nên mạnh hơn, có Đảng bị khủng bố buộc phải rút vào hoạt động bí mật, các lý tưởng dân chủ chiếm ưu thế.

Sau cùng, dù sao, sự khủng hoảng của nền kinh tế hậu chiến trên thế giới đã ảnh hưởng bất lợi tới các nhà kinh doanh Phù Nam.

Cái chết của Lạc Thế Đại Đế năm 1926 để lại khoảng trống quyền lực; nội các cộng hòa đã tan rã.

Điều này đã mở đường cho Thời kỳ quân phiệt mà phần lớn Phù Nam bị cai trị bằng cách thay đổi liên minh của các nhà lãnh đạo quân sự cấp tỉnh cạnh tranh làm thủ tướng, đã làm cho nên kinh tế thêm khó khăn.

Tình trạng thất nghiệp, đồng lương sụt giảm và tranh chấp việc làm luôn xảy ra.

Suy thoái kinh tế và bế tắc ngoại giao.

Xuất khẩu giảm sút.

Phá sản xảy ra thường xuyên, nhiều người thất nghiệp.

Sự khủng hoảng này đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945 thì mới ổn định trở lại.
 
Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Văn hóa: Trang phục Đế quốc


1.

Phân loại

- Lễ phục: trang phục dùng trong các nghi lễ quan trọng.

Đối tượng dùng: vua chúa, quan lại, dân thường.

- Triều phục: Trang phục dùng trong các ngày triều hội trong triều đình xưa, thường là vào mùng 1 và 15 hàng tháng.

Đối tượng dùng Vua chúa, quan lại.

- Thường phục: trang phục mặc vào các ngày thường triều trong triều, thường là các ngày mùng 5, 10, 20, 25 hàng tháng.

Đối tượng dùng: Vua chúa, quan lại.

- Tiện phục: trang phục mặc thường ngày khi không phải làm việc.

Đối tượng dùng: Tất cả.

2.

Trang phục Hoàng đế

2.1.

Lễ phục

Có 2 loại lễ phục là Lễ phục Cổn Miện dùng trong tế Giao và lễ phục Xuân Thu dùng trong tế Tông Miếu.

2.1.1.

Lễ phục Cổn Miện

Cấu tạo chung của bộ Cổn Miện

1) Mũ Miện 12 dây lưu nhìn từ trên xuống.

2) Mũ Miện nhìn từ trực diện.

3) Mũ Miện nhìn ngang.

4) Dây thùy anh màu vàng gắn trâm ngọc.

5) Cái Hốt (còn gọi là Khuê, Trấn Khuê...)

6) Hia

7) Đại đới

8) Cách đới

9) Bội

10) Tạp bội

11) Tiểu thụ

12) Cổn phục 12 chương

Cấu tạo cụ thể của bộ Cổn phục 12 chương (12 hoa văn):

1) Áo xanh đen có 6 chương, bao gồm:

- a, Nguyệt (Mặt trăng)

- b, Nhật (Mặt trời)

- c, tinh thìn ( Sao)

- d, Sơn (Núi)

- e, Long, (Rồng)

- f, Hoa trùng.

2) Thường cũng với 6 chương

3) Tế tất thêu 2 chương là Long và Sơn

4) Đại thụ

Ảnh mặt Lễ phục:

2.1.2.

Lễ phục Xuân thu

- Mũ Xuân Thu: làm bằng sa trừu màu đen, đính 1 bông hoa bạc, khảm 1 hạt pha lê lấp lánh.

- Võng Cân: một chiếc, sức bốn khuyên bạc.

- Áo giao lĩnh: làm bằng sa mát thuần chỉ màu thiên thanh, áo lót là bằng sa mát thuần chỉ màu tuyết bạch, đều thêu hoa văn rồng mây, sóng nước.

Hoặc làm bằng đoạn bát ti thuần bóng chỉ hai lộ, màu thiên thanh, thêu rồng mây, bên trong lót giao lĩnh 12 hoa mẫu đơn chéo màu ngọc lam.

Cổ áo và 2 dải thùy lưu đều dùng màu gốc của áo.

- Thường: làm bằng sa mát thêu hoa nhỏ, màu ngọc lam, viền bằng đoạn Bát ti bóng màu thiên thanh.

Kế y làm bằng lụa sống.

- Bít tất: thân làm bằng tơ Bát ti bóng màu lam, giữa là tơ Bát ti bóng màu tuyết bạch, phía dưới là vải tây màu tuyết bạch dát thuần vàng, gấm hạng nhất hoa sen xen lan can kim tuyến, trong lót lụa đỏ.

- Hia: có thân hia bằng tơ bát ti bóng màu thâm, bên trong lót lĩnh bóng màu bảo lam.

2.2.

Triều phục

Bao gồm mũ Cửu Long Thông Thiên (tức mũ Xung Thiên) và Bào phục.

2.2.1.

Mũ Cửu Long Thông Thiên

Mũ đại triều Cửu Long Thông Thiên đính 31 hình rồng vàng, 30 hình ngọn lửa, phía trước và sau đều có 1 bác sơn, 1 hoành long, hốt bọc pha lê lấp lánh và hốt thông thiên mỗi thứ 2 chiếc; 1 liên đằng, 1 nhiễu tường, 1 đóa hoa hình tròn, 30 đóa mây đều kết bằng chỉ; các hạng ngọc dùng để khảm sức như hỏa tề, kim cang, trân châu gồm 140 hạt, mắt mỗi con rồng đều khảm 1 hạt trân châu nhỏ.

Trước khi đội mũ vua thắt Võng cân sức 4 khuyên vàng.

2.2.2.

Bào phục

- Áo bào: Làm bằng sa đoạn màu vàng chính sắc, thêu các hình rồng mấy sóng nước lớn nhỏ và 4 chữ Phúc Thọ, áo sa dày thêu hoa tứ hữu (Mai , lan, cúc, trúc) hoặc loại trừu màu hoa xích thêu hoa tứ hữu.

2 cánh phú hậu ở lưng (xem phần triều phục vua chúa thời Lê Trung Hưng) dùng đoạn Bát ti bóng màu bảo lam, mặt trước và sau đều có 2 chữ Vạn thọ, 3 hình rồng, 2 ống tay áo và 2 cánh đều có 1 hình rồng.

Các hoa văn san hô, hỏa lựu đều xâu chuỗi bằng các hạt ngọc châu nhỏ.

Cổ áo may bằng đoạn Bát ti bóng màu tuyết bạch.

Tùy lưu (2 dải thắt nhỏ ở nách tác dụng như cúc áo ) đều thêu hình rồng mây.

- Thường: làm bằng sa mát bóng màu hoa xích, thêu các hình rồng ổ, sóng nước, cổ đồ, bát bảo; phía dưới nối với hình hồi văn, liên đằng, lan can màu hoa xích, gấm đoạn lót lụa màu đỏ, gấm hạng nhất thêu hoa sen thuần vàng màu lục lam.

Kế y làm bằng lụa sống.

- Đai: làm bằng đoạn bát ti bóng màu vàng chính sắc may xen với tơ màu xích vũ, đính 18 miếng sừng tê hình mộc dài, bên ngoài bọc vàng khảm 92 hạt trân châu.

- Bít tất: có thân làm bằng tơ Bát ti bóng màu bảo lam, ở giữa là tơ Bát ti bóng màu tuyết bạch, phía dưới là vải tây màu tuyết bạch dát thuần vàng, gấm hạng nhất hoa sen xen lan can kim tuyến, phía trên gắn hộ tất.

- Hộ tất: là miếng lót đầu gối được buộc vào sau đó mới đi hia len, làm bằng tơ Bát ti bóng màu vàng chính sắc, thêu hình rồng mây, sóng nước, tất cả đều dùng kim tuyến theo kiểu hồi văn, viền gấm hạng nhất thuần vàng màu bảo lam, bên trong lót trừu đỏ bông.

- Hia: có thân hia làm bằng tơ bát ti màu thâm, thêu các hình rồng mây, sóng nước, hoa bằng kim tuyến, bên trong lót tơ bát ti màu đỏ.

Hình ảnh minh hoạt hoàng đế mặc triều phục:

2.3.

Thường phục

Bao gồm mũ Cửu Long Đường Cân và Long Bào

2.3.1.

Mũ Cửu Long Đường Cân

Loại mũ này là biến thể của mũ Xung Thiên có phần gáy mũ nhô cao, chỏm mũ khum tròn chùm về phía trước, choãi ra 2 bên thành hình chữ bát

2.3.2.

Long Bào

Áo bào làm bằng sa mát bóng thuần chỉ, màu vàng chính sắc, bên trong lót cùng màu, thêu rồng ổ lớn và các hình cổ đồ, bát bảo, sóng nước, mắt rồng đều khảm hạt hổ phách màu huyền, còn lại đều xâu chuỗi các hạt châu ngọc nhỏ.

Hai mặt áo và hai ống tay áo đều xâu chuỗi các hạt châu ngọc làm thành hình mỹ tự (Tức là các chữ Phúc, Lộc, Thọ...).

Cổ áo lót đoạn Bát ti bóng màu vàng chính sắc thêu hình rồng mây.

Hai dải thùy lưu đều thêu hình rồng mây.

Thường dùng sa mát bóng thuần chỉ màu hoa xích, thêu hình rồng ổ, sóng nước, cổ đồ, bát bảo, cành hoa...phía dưới nối với hình hồi văn, liên đằng, lan can màu hoa xích, gấm đoạn lót lụa màu đỏ, gấm hạng nhất thêu hoa sen thuần vàng màu bảo lam.

Kế y làm bằng lụa sống.

Bít tất có thân làm bằng tơ Bát ti bóng màu màu bảo lam, ở giữa là tơ Bát ti bóng màu tuyết bạch, phía dưới là vải tây màu tuyết bạch dát thuần vàng, gấm hạng nhất hoa sen xen lan can kim tuyến, lót sa, trừu bóng màu đỏ.

Hia giống hia Đại triều

Đặc điểm của Long bào thường phục khác với Long bào triều phục là có rất nhiều hoa văn sóng nước, cổ đồ, bát bảo cùng với các chư Phúc, Lộc, Thọ...được kết từ các hạt ngọc châu.

Hoa văn bát bảo (bát bửu) là dạng hoa văn rất phổ biến ở Á Đông ảnh hưởng từ tinh thần đạo Phật và Lão, gồm 8 bảo vật được cho là nếu kết hợp lại trên một bộ trang phục, kiến trúc, đồ đạc...sẽ mang lại may mắn

Hoàng Thái tử sẽ đội mũ Thất Long Đường Cân, có sự gia giảm chi tiết bớt đi so với Cửu Long Đường cân, ngoài ra mũ Cửu Long Đường cân và long bào thường phục cũng được dùng làm lễ phục Tịch Điền.

Có điều dạng thức Long bào trong lễ phục Tịch Điền sẽ được cải biên thành áo hẹp tay, xẻ 4 vạt, thắt đai loan, được gọi là áo Long trấn.

Hình ảnh minh họa hoàng đế mặc thường phục 1:

Hình ảnh minh họa hoàng đế mặc thường phục 2:

2.4.

Quân phục

Quân phục của được dùng cho duyệt binh, thực hiện các nghi thức về mặt quân sự.

2.4.1.

Quân phục truyền thống:

Một bộ quân phục bao gồm mũ võ Đại Long và áo Hoàng bào hẹp tay có vân kiên liền cổ màu xanh thẫm

- Áo bào hẹp tay: làm bằng sa mát bóng thuần chỉ màu vàng chính sắc, thêu rồng mây, sóng nước, cổ đồ, bát bảo, lót trừu màu hoa xích thêu mẫu đơn, bướm.

Viền gấm hạng nhất hoa sen thuần vàng màu bảo lam, đều xâu chuỗi các hạt trân châu, san hô nhỏ.

Vân kiên liền cổ áo làm bằng đoạn Bát ti bóng màu thiên thanh , thêu rồng mây, sóng nước, cổ đồ, bát bảo.

- Áo ngắn mã quái: hai chiếc, làm bằng tơ Bát ti thâm, thêu hình rồng mây, sóng nước, hình con dơi, ngọn lửa.

- Thường kép: may bằng tơ Bát ti bóng màu vàng chính sắc, thêu đôi phượng và các hình liên đằng, hồi văn.

Dưới gấu làm bằng tơ Bát ti bóng màu hoa xích thêu rồng mây, sóng nước, liên đằng, hồi văn, lót trìu màu hoa xích thêu hình mẫu đơn bướm.

Bốn bên may liền tơ bát ti bóng màu Ngọc lam.

Viền gấm hạng nhất hoa sen thuần vàng màu bảo lam gắn trừu màu đỏ thêu mẫu đơn, bướm.

Thùy anh, long bài vàng ba mặt đều bằng vàng hình chiếc mộc rồng mây, xung quanh sợi nhiễu tuyến khảm các loại ngọc hỏa tề, trân châu, kim cang, san hô hơn 300 hạt, hơn 50 dải thùy anh kim tuyến.

- Đai loan: 1 chiếc, lan can kim tuyến Tây dương khảm 1 hạt kim cang hình phương đình.

Xung quanh khảm hạt kim cang, bên ngoài bọc vàng, khuy kép, chân cúc xâu chuỗi trân châu, san hô, thanh liễu hình hoa 9 đóa.

- Hia: có thân làm bằng tơ Bát ti màu thâm may xen với tơ Bát ti màu vàng chính sắc, lót tơ Bát ti bóng màu hoa xích

Hình ảnh minh họa hoàng đế mặc quân phục truyền thống:

2.4.2.

Quân phục kiểu châu Âu:

Đội nón vàng, đeo ngù vàng ở vai, mang kiếm ở thắt lưng và đi bốt da cao tới gần đầu gối.

Áo hẹp tay 4 vạt dùng cho cày ruộng Tịch Điền với quân phục Châu Âu, đội thêm với nón và khăn xếp.

Hình ảnh minh họa hoàng đế mặc quân phục kiểu châu Âu 1:

Hình ảnh minh họa hoàng đế mặc quân phục kiểu châu Âu 2:

Hình ảnh minh họa hoàng đế mặc quân phục kiểu châu Âu 3:

3.

Trang phục quan lại

3.1.

Lễ Phục

3.1.1.

Lễ phục Tế giao

Lễ tế Giao là lễ tế quan trọng bậc nhất trong các triều đại phong kiến Á Đông theo Nho giáo

Đế quốc Phù Nam quy định lễ phục dùng trong Tế Giao là Cổn Miện đồng thời chỉ có hoàng tử, thân vương và các quan từ chính tam phẩm trở lên được dự Tế giao

Hoàng đế đội mũ Miện có 12 dây lưu trên dây lưu xâu 12 viên ngọc, áo Cổn có 12 hoa văn (gọi là Chương)

Cấp dưới thì ít số dây lưu và Chương hơn

Theo quy định thì:

- Hoàng tử và thân vương Cổn Miện 9 dây lưu, 9 chương

- Quan từ chính nhị phẩm trở lên Cổn Miện 6 lưu 5 chương

- Quan văn tòng nhị phẩm và chính tam phẩm Cổn Miện 4 lưu 3 chương

Cổn Miện 9 lưu 9 chương của vương công, hoàng tử, thân vương

1) Mũ Miện : Miện bản trước tròn, sau vuông, trước và sau đều gắn 9 dây lưu, mỗi dây bằng tảo ngũ sắc, 9 tựu, xâu 9 ngọc; trâm ngà, dây hoằng màu huyền đính tua màu đỏ; dây khoáng màu xanh, sung nhĩ chốt ngọc trấn màu trắng.

2) Bác Sơn bằng vàng: Bác sơn là loại trang sức hình trăng lưỡi liềm gắn trên trán các loại mũ Phốc đầu và mũ Xung Thiên, mũ Miện

3) Hốt ngà

4) Áo Cổn: màu xanh, thêu 5 hoa văn (chương) Sơn, Long, Hoa Trùng, Tông di, Hỏa; Long ở 2 vai, Sơn ở lưng, các chương Hỏa, Hoa trùng, Tông di mỗi chương 3 hình ở ống tay áo, cổ áo cùng màu với màu áo.

5) Tế tất: màu đỏ nhạt, thêu 2 chương Hỏa và Sơn.

6) Đại thụ: màu đỏ nhạt, trên thêu 2 chương Hỏa, Sơn, phía dưới nối với tua ngũ sắc.

7) Ngọc bội: 2 dải, mỗi dải 1 ngọc hành, 2 ngọc cư; các loại hoàng, xung nha trở lên đều dùng đồng mạ vàng; từ ngọc hành trở xuống thắt với năm dây chập xâu với trân châu chất liệu ngọc, phía trên có móc thau mạ vàng.

8) Chương Phủ (Hoa văn lưỡi rìu) trên thường

9) Chương Phất (Hoa văn chữ Á 亞) trên thường

Ngoài ra còn có

- Thường: màu đỏ nhạt; thêu 4 chương Tảo, Phấn mễ, Phủ.

Phất, mỗi chương 2 hình

- Cách đới: màu đỏ nhạt viền vàng

- Tất: phía trên gắn hộ tất may bằng gấm, hia đầu vuông màu đen.

Cổn miện 6 lưu 5 chương và Cổn Miện 4 lưu 3 chương

Cồn Miện 6 lưu 5 chương dùng cho các quan chính nhị phẩm trở lên

- Mũ Miện: 6 dây lưu, xâu 6 hạt châu, xung quanh miện bản quấn đồng khắc hoa văn mây rủ; mũ mạ vàng sức bác sơn vàng.

2 giao long vàng, 1 kim tuyến, ở chỗ cài trâm cũng sức bằng vàng, còn lại đều theo quy chế Miện phục cho hoàng tử và vương công.

- Áo Cổn: màu xanh 3 chương thêu Phấn Mễ 2 hình ở vai 1 hình ở lưng; Tảo, Tông di ở 2 tay áo, mỗi chương 3 hình; cổ áo như màu áo.

- Thường: màu đỏ nhạt 2 chương, thêu Phủ, Phất mỗi chương 2 hình; cổ áo Trung Đơn làm bằng sa trắng thêu 7 hình Phất.

- Đại Thụ và Tế Tất đều thêu chương Sơn.

Đại Thụ làm bằng là trắng, eo không có viền, ở chỗ rủ xuống viền màu lục.

Ngọc bội xâu bởi 3 viên ngọc châu thái thảo, còn lại đều theo quy chế bội, thụ như của hoàng tử và vương công.

Đai màu đỏ nhạt, mặt trước sức 6 miếng gốm hình vuông lẫn hình quả trám, bề mặt đều khảm đồi mồi, viền đồng mạ vàng.

Cổn miện 4 lưu 3 chương

Dành cho quan văn tòng nhị phẩm và chính tam phẩm

- Mũ Miện: 4 dây lưu xâu 4 viên ngọ, còn lại theo quy chế của quan chính nhị phẩm, có điều lược bỏ đi 2 hình giao long vàng trên mũ.

- Áo Cổn: màu xanh 1 chương thêu Phấn mễ 2 hình ở vai áo, 1 hình ở lưng, ở 2 ống tay áo cũng thêu mỗi bên 2 hình

- Thường: màu đỏ nhạt 2 chương thêu 2 hình Phủ và 2 hình Phất

Tết tất, đại thụ, ngọc bội, đai đều như Cổn Miện 6 lưu 5 chương

3.1.2.

Lễ phục Tịch điền

Trong lễ Tịch Điền quan võ mặc áo bào hẹp tay màu lam đội mũ Hổ Đầu.

Quan văn đội mũ Văn Công, mũ Xuân Thu.

Bát cửu phầm quan văn đội Anh Cân, áo Thái y hẹp tay.

Hoàng tử và vương công đội mũ Kim Quan, áo Thái bào hẹp tay màu đỏ.

Các dạng trang phục này đồng thời cũng là các dạng triều phục và thường phục của quan lại được tận dụng để làm lễ phục Tịch Điền

3.2.

Triều phục

3.2.1.

Triều phục của Thái tử, hoàng tử, thân vương

Thất Long Đường Cân

Thường phục của hoàng đế là Long Bào kết hợp với mũ Cửu Long Đường Cân, thái tử thì sử dụng long bào đỏ kết hợp với mũ Thất Long Đường Cân.

Về kiểu dáng mũ Thất Long Đường Cân gần giống như Cửu Long Đường Cân chỉ có khác là mũ này giảm bớt số hoa văn rồng xuống còn 7 và cũng giảm một số dạng hoa văn khác xuống.

Kết hợp với mũ Thất Long Đường Cân là long bào màu đỏ sẫm (Đại Xích) với rồng 4 móng (mãng bào)

Mũ Bình Đính (Bình Thiên)

Mũ Bình Đính dành cho các hoàng tử, hoàng thân được phong tước thân vương, thân công, quận công

Hoàng tử, hoàng thân được phong tước thân vương, quận vương

- Mũ Bình Đính: 6 hoa vàng, 6 rồng, 4 giao long, 24 vân khí, 10 ngọn lửa, 4 nhiễu tuyến, 4 hình cổ đồ và thùy văn, đỉnh mũ trổ 2 hình long vân, bao đỉnh trổ 4 hình long vân, 28 biên bao.

- Áo bào: Áo bào Đại vân màu đỏ sẫm bằng đoạn Bát ti ngũ sắc gia kim.

- Đai: Trước sau có 18 miếng, bề mặt trổ hình mãng khảm vàng, các miếng đai đều bọc vàng.

- Thường: Làm bằng sa mát màu hoa xích ngũ sắc gia kim, thêu hình kỳ lân.

Với hoàng tử, thân vương được phong tước thân công, quốc công

- Mũ Bình Đính: 4 hoa vàng và rồng, 2 giao long, 24 vân khí, 10 ngọn lửa, 4 nhiễu tuyến, 2 hình cổ đồ và thùy văn, đỉnh mũ trổ 2 hình long vân, bao đỉnh trổ 4 hình long vân, 28 biên bao.

- Áo bào: Áo bào tứ linh màu đại xích làm bằng đoạn Bát ti ngũ sắc gia kim.

- Đai: Phải trái trước sau 18 miếng; đai của thân công bề mặt trổ hình kỳ lân khảm vàng, đều bọc vàng; đai của quốc công miếng chính giữa ở phía trước trổ hình kỳ lân khảm vàng, 4 miếng hình dẹt ở bên phải và trái mặt trổ hoa khảm vàng, 3 miếng còn lại bề mặt khảm gương, các miếng đai xen kẽ nhau đều bọc vàng.

- Thường : như của thân vương, quận vương

Mũ Kim Quan

Mũ Kim Quan kết hợp với áo bào tứ linh màu đỏ là triều phục của hoàng tử, hoàng thân được phong tước quận công, huyện công, hương công, huyện hầu và hương hầu.

Về kiểu dáng mũ Kim Quan rất giống mũ Bình Đính chỉ khác về hoa văn và vài dạng trang sức trên mũ.

Cụ thể

Hoàng tử, hoàng thân được phong tước quận công, huyện công

- Mũ Kim quan: Sức 2 Bác sơn vàng, phía trước và sau 3 hoa vàng, phía trước 4 giao long vàng, trên đỉnh 2 hình mây, 1 cánh sau, 1 hổ kỳ bờm hổ), 2 hổ nhĩ (tai hổ), 6 vân khí, đỉnh mũ trổ 1 thùy văn, 4 ngọn lửa, đều kết chuỗi hạt giả chu.

- Áo bào: Áo bào tứ linh màu hoa xích làm bằng đoạn Bát ti ngũ sắc giả kim.

- Đai: Miếng chính giữa ở phía trước trổ hình kỳ lân khảm vàng, 17 miếng còn lại bề mặt khảm gương, đều bọc vàng.

- Thường: Bằng sa mát màu hoa xích ngũ sắc gia kim, thêu hình kỳ lân.

Hoàng tử, hoàng thân được phong hương công, huyện hầu, hương hầu.

- Mũ Kim Quan: Sức 2 Bác sơn vàng, trước và sau 2 hoa vàng, còn lại như tước quận, huyện công.

- Áo bào, đai, thường: như tước quận, huyện công

Đồ giải 1 chiếc mũ Kim Quan

1) Thùy văn

2) Hổ kỳ

3) Cánh hậu

4) Giao long

5) Hoa vàng

6) Vân khí

7) Hổ nhĩ

3.2.2.

Triều phục Quan lại

Mũ Phốc đầu

Quan văn sẽ đội mũ Phốc đầu dáng tròn quan võ đội mũ Phốc đầu dáng vuông

Đồ giải mũ Phốc đầu

Mặt trước

1) Trang sức Bác sơn (còn gọi là khỏa kiều)

2) Hoa vàng

3) Giao long vàng

4) Khỏa giản vàng (còn gọi là hốt)

5) Cánh chuồn mũ đầu bọc vàng (Ở các cấp cao hơn thì viền cánh chuồn được bọc vàng) bề mặt trang trí giao long vàng

Mặt sau

1) Như ý vàng (Đây là chỗ dùng để cài cánh chuồn vào)

2) Nhiễu tuyến (Ở cấp dưới chỉ làm bằng the đen thôi nhưng đây là cấp cao nên được bọc vàng)

Quy chế đội mũ Phốc đầu

- Chính nhất phẩm: 1 Bác sơn vàng, nghạch tường cao 4 phân phía ngoài trổ hình giao long, 2 khoản giản vàng, phía trước 1 hoa vàng, 2 giao long vàng, phía sau 2 hoa vàng, 2 cánh chuồn viền bọc vàng, bề mặt trang sức long bỡn ngọc bằng vàng, đầu cánh chuồn đều sức vàng, 2 như ý và nhiễu tuyến vàng.

- Tòng nhất phẩm: như chính nhất phẩm nhưng ngạch tường cao 3 phân, trổ hình hoa, mặt mũ không có ngọc châu, đầu 2 cánh chuồn không sức vàng.

- Chính nhị phẩm: 1 bác sơn vàng, 2 khỏa giản vàng, phía trước 1 hoa vàng, 2 giao long vàng, phía sau 2 hoa vàng, 2 cánh chuồn viền bọc vàng bề mặt trang sức giao long, 2 như ý và nhiễu tuyến vàng.

- Tòng nhị phẩm: như chính nhị phẩm, chỉ khác là bỏ trang sức giao long ở mặt mũ.

- Chính tam phẩm: 1 bác sơn vàng, 2 khoản giản vàng, phía trước và sau có 1 hoa vàng, 2 giao long vàng, 2 cánh chuồn viền bọc vàng, 2 như ý và nhiễu tuyến vàng.

- Tòng tam phẩm: như chính tam phẩm nhưng bỏ 2 giao long vàng.

- Chính và tòng tứ phẩm: 1 bác sơn bạc, 2 khóa giản vàng, phía trước và sau đều 1 hoa vàng, 2 cánh chuồn viền bọc vàng, 2 như ý và nhiễu tuyến bạc.

- Chính và tòng ngũ phẩm: 1 bác sơn bạc, 2 khoản giản bạc, trước và sau đều 1 hoa bạc, 2 cánh chuồn viền bọc bạc, 2 như ý và nhiễu tuyến bạc.

- Chính tòng lục phẩm: phía trước và sau đều có 1 hoa bạc, 2 cánh chuồn viền bọc bạc, 2 như ý và nhiễu tuyến bạc.

Bào phục

- Quan từ Tam phẩm trở lên mặc mãng bào

- Trong đó quan trên nhất phẩm mặc mãng bào tía

- Chính nhất phẩm mãng bào màu cổ đồng (đỏ nâu hoặc đỏ sậm)

- Tòng nhất phẩm mặc mãng bào màu thiên thanh

- Chính nhị phẩm màu cam bích

- Tòng nhị phẩm màu quan lục (xanh đen hoặc xanh lá đậm)

- Chính tam phẩm áo màu bảo lam

- Tòng tam phẩm màu ngọc lam

- Quan tứ phẩm mặc Giao bào màu quan lục

- Quan ngũ phẩm không mặc mãng hay giao bào mà mặc áo bào bằng trừu thêu hoa màu bảo lam với bổ tử hình vân nhạn (Ngỗng trời).

- Quan Quan lục phẩm mặc áo bào bằng trừu bóng 0 thêu hoa màu bạch lam với Bổ tử Bạch nhàn (gà lôi trắng)

Kết cấu chung của 1 bộ triều phục nhà Nguyễn gồm võng cân - đai - áo bào - mũ Phốc đầu - hốt - hia .

Ngoài ra, Triều phục hay Thường phục của vua quan đều mặc lót trong với Kế y và Thường.

Kế y (còn gọi là Xiêm) loại áo kết hợp với thường dùng để mặc trong, tuy nhiên khác với thường ở các thời trước thì thường của áo Kế y được may liền luôn vào thân áo, trên thường thêu vô số hoa văn cổ đồ, bát bảo, linh thú... màu của thường trùng với màu áo ngoài, còn thân áo Kế y thì là dạng không có ổng tay với cổ tròn.

3.3.

Thường phục

Quan văn:

- Trên nhất phẩm: Đội mũ Văn Công sức toàn vàng, 2 dải thùy anh trang sức kim hoa khảm ngọc châu.

- Nhất phẩm: Văn Công toàn vàng.

- Nhị phẩm: Văn Công 0 vàng.

- Tam phẩm: Văn Công 0 vàng.

- Tứ Phẩm: Mũ Đông Pha có hoa vàng ở mặt trước.

- Ngũ phẩm: Đông Pha phía trước 2 hoa và giao long bạc, sau 1 hoa bạc 2 giao long bạc.

- Lục phẩm: Đông Pha trước 1 hoa và 2 giao long bạc, sau 1 hoa bạc.

- Thất phẩm: Mũ Văn Tú Tài, phía trước 1 hoa bạc, 2 giao long bạc, sau 1 hoa bạc.

- Bát phẩm: Văn Tú Tài trước và sau 1 hoa bạc

- Cửu phẩm: Văn Tú Tài trước 1 hoa bạc

- Chưa nhập lưu (Chưa chính thức vào biên chế): Trước sau đều trang sức 1 sợi bạc.

Quan Võ:

- Trên nhất phẩm: Mũ Hổ Đầu: sức toàn vàng

- Từ Nhất tới Tam phẩm: đều đội mũ Hổ Đầu nhưng 0 sức vàng

- Tứ phẩm tới Lục phẩm: Mũ Xuân Thu.

- Tòng thất phẩm tới tòng Cửu Phẩm (Theo quan chế nhà Nguyễn Quan võ từ Thất phẩm trở xuống thì chỉ có tòng không có chính): Mũ Văn Tú Tài

- Chưa nhập lưu: Phong Cân trước sau 1 sợi bạc.

Trong các loại mũ trên thì Đông Pha, Văn Tú Tài và Phong Cân gần như có hình dáng giống hệt nhau chỉ khác về hoa văn, họa tiết.

Mũ Văn Công

Mũ Văn Công là mũ Thường phục của quan Văn Nhất, Nhị và Tam phẩm có 2 dải thùy anh sức hoa vàng khảm ngọc châu

Đồ giải Mũ Văn Công

1) Trang sức giao long vàng

2) Hoa vàng đính ngọc châu

3) Dải thùy anh sức hoa vàng khảm ngọc châu

Mũ Văn Công sẽ được kết hợp với áo thường phục dạng giao lĩnh bằng sa đoạn, cổ áo màu trắng, ngực gắn với bổ phục tùy cấp

Mũ Đông Pha, Văn Tú Tài, Phong Cân

Như đã nói ở trên 3 loại mũ này thực tế có kiểu dáng cơ bản giống y như nhau, chỉ khác nhau về trang sức hoa văn và màu sắc

Văn giai nhân chưa nhập lưu (chưa nhận chức, chưa vào biên chế) sĩ tử thi đỗ, hoặc mãn đại nhiêu học, hoặc sáu năm nhiêu học, mũ dùng Phong Cân, trước sau mũ thêu hoa bạc đều một cái, mặc theo thân phận mình, áo giao lĩnh, sa đoạn bằng các sắc xanh, lục, lam, đen, không bổ tử

Mũ Phong Cân thì còn được dùng làm lễ phục cho dân gian tuy nhiên không được thêm nhiều trang sức và phải nhuộm màu đen.

Thứ dân chưa làm quan; phàm có việc nghi lễ gia quan, mũ dùng Phong Cân sắc đen, không thêu hoa, áo dùng áo giao lĩnh màu thâm, giày, tất đều màu đen

Mũ Hổ Đầu

Mũ Hổ Đầu là dạng mũ đặc trưng dành cho võ quan nhà Nguyễn, theo quy chế năm 1804 thì quan Võ từ nhất tới Tam phẩm đội mũ Hổ Đầu với thường phục có Bổ Tử là Kỳ Lân, Bạch Trạch, Sư Tử

Đồ giải 1 mũ Hổ Đầu

1) Bác sơn vàng

2) Hoa vàng

3) Giao long

4) Thùy văn

5) Hổ kỳ

6) Nhiễu tuyến

7) Thùy anh

8) Cổ đồ

Các cấp quan võ được mặc cả áo Mãng Lan cộng với mũ Hổ Đầu

- Thống quản: Đội mũ Hổ Đầu có bác sơn vàng, mặt trước và sau 3 hoa vàng, 2 giao long, 2 cổ đồ và thùy văn, 1 hổ kỳ, biên bao, nhiễu tuyến.

Mạc áo Mãng Lan màu tử đàn, may bằng đoạn ngũ sắc gia kim, áo song khai, thường kép.

- Cai quản: 1 hoa vàng phía trước, còn lại như thống quản.

Áo Mãng Lan màu tương sẫm.

- Chưởng phủ đô thống: Thêm 2 hình ngọn lửa vàng.

Áo Mãng Lan màu tử đàn.

- Thống chế, chưởng vệ: Mũ sức vàng.

Áo Mãng Lan màu mộc xích.

- Vệ úy: Bỏ 2 giao long vàng ở trước mũ.

Áo Mãng Lan màu tương sẫm.

- Phó vệ úy: Bỏ 2 giao long vàng và hoa vàng.

Áo Mãng Lan màu bảo lam và thiên thanh.

Tất cả các cấp trên đều dùng đai có miếng chính giữa phía trước sức vàng, trổ hoa, các miếng ống ở bên trái và phải dùng mai đồi mồi bọc vàng xen kẽ bọc bạc, 0 mạ.

Áo Mãng Lan là một dạng áo sáng tạo độc đáo của nhà Nguyễn dùng cho quan võ mặc khi đang làm nhiệm vụ hoặc mặc làm thường phục, về cơ bản nó chính là Mãng bào nhưng ống tay áo hẹp và bó sát cổ tay, vạt áo cũng ngắn hơn (chỉ dài quá gối một chút).

Mũ Xuân Thu

Mũ Xuân Thu vừa dùng làm mũ tế cho vua lại dùng cả làm mũ thường phục cho quan lại.

Dĩ nhiên mũ Xuân Thu của vua đội chắc chắn cầu kỳ được sức hoa vàng bạc nhiều hơn mũ Xuân Thu thường phục cho quan lại, mũ Xuân Thu đi với thường phục áo giao lĩnh có Bổ tử dành cho quan lại được quy định như sau:

- Hoàng tử, hoàng thân, tôn thất được phong tước thân - quận vương, thân - quốc quận - huyện - hương công, huyện và hương hầu: Đội mũ Xuân Thu sức toàn vàng.

Mặc áo giao lĩnh cổ màu trắng, được phép dùng tùy ý 1 trong 4 màu xanh, lục, lam, đen.

Bổ tử trên áo giao lĩnh là Kỳ Lân - Bạch Trạch - Sư Tử.

Thường nền vàng

- Hoàng tử, hoàng thân, tôn thất được phong tước kỳ ngoại - kỳ nội - đình hâu, trợ quốc khanh: Mũ Xuân Thu sức vàng bạc đan xen, trước và sau đều có 1 hoa bạc, các trang sức hoa, giao long đều bằng bạc.

Áo giao lĩnh cổ màu trắng, màu cũng được tùy ý như trên.

Bổ tử trên áo là Hổ.

Thường nền đỏ.

- Hoàng tử, hoàng thân, tôn thất được phong tước tá quốc - phụng quốc khanh, trợ - tá quốc úy: Mũ Xuân Thu trước 2 hoa và giao long, sau 1 hoa và 2 giao long bằng bạc.

Áo giao lĩnh cổ trắng, màu cũng được tùy ý như trên.

Bổ tử trên áo là Báo.

Thường nền đỏ.

- Hoàng tử, hoàng thân, tôn thất được phong tước phụng quốc úy, trợ - tá - phụng quốc lang: Mũ Xuân Thu trước 1 hoa 2 giao long, sau 1 hoa bạc.

Áo giao lĩnh cổ và màu như trên.

Bổ tử trên áo là Hùng (Gấu).

Thường nền đỏ.

- Công tử được phong tước đình hầu và quan võ tứ phẩm: Mũ Xuân Thu trước sau có 1 hoa vàng, còn lại các trang sức giao long và hoa đều sức bạc.

Áo giao lĩnh cổ và màu như trên.

Bổ tử trên áo là Hổ.

Thường các công tử màu lục, quan tứ phẩm màu đỏ.

- Quan võ ngũ phẩm : Mũ Xuân Thu trước 2 hoa và giao long bạc, sau 1 hoa và 2 giao long bạc.

Áo giao lĩnh cổ và màu như trên.

Bổ tử hình Báo.

Thường nền đỏ.

- Quan võ lục phẩm: Mũ Xuân Thu phía trước 1 hoa và 2 giao long bạc, sau 1 hoa bạc.

Áo giao lĩnh cổ và mùa như trên. bổ tử Hùng 9 Gấu).

Thường nền đỏ.

3.4.

Quy chế bổ phục

- Hoàng Thái tử: Áo thêu rồng 5 móng

- Hoàng tử: Rồng 4 móng

Quan Văn:

- Nhất tới Nhị phẩm: Tiên hạc

- Tam phẩm: Cẩm Kê

- Tứ phẩm: Khổng tước

- Ngũ phẩm: Vân nhạn

- Lục phẩm: Bạch nhàn

- Thất phẩm: Lộ tư

- Bát phẩm: Khê xích (Chim uyên ương đỏ)

- Cửu phẩm: Liêu thuần

Quan Võ:

- Nhất phẩm: Kỳ Lân

- Nhị phẩm: Bạch trạch

- Tam phẩm: Sư tử

- Tứ phẩm: Hổ

- Ngũ Phẩm: Báo

- Lục phẩm: Hùng (gấu)

- Thất phẩm Bưu (hổ con)

- Bát phẩm: Hải mã

- Cửu phẩm: Tê ngưu

Các cấp pháp quan Bổ tử hình Giải trãi

Các quan chưa nhập lưu (chưa vào biên chế) áo không có Bổ tử

Quy chế quan phục cho Tiến sĩ

- Đệ nhất giáp, đệ nhất danh: đội mũ Ô Sa có 1 hoa vàng phía trước, 1 hoa bạc sau, trang sức bác sơn bằng bạc, 2 cánh viền bạc.

áo như quan lục phẩm

- Đệ nhất giáp, đệ nhị danh, đệ tam danh: Mũ Ô Sa 1 hoa bạc mạ vàng phía trước, 1 hoa bạc phía sau, 2 cánh viền bạc.

Áo bào làm bằng sa, đoạn trơn (không trang trí) màu lam, màu lục; Bổ tử thêu hình mây, thường bằng sa nam, miếng Bổ tử thêu 2 bên cũng hình mây, đai bọc đồng, võng cân, hia.

- Đệ nhị giáp: Ô Sa phía trước và sau đều 1 hoa bạc, 2 cánh viền bạc

- Đệ tam giáp: Ô Sa phía trước và sau đều 1 hoa bạc, 2 cánh không viền bạc.

Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp mặc áo bào màu xanh lục may bằng đoạn Bát ti Đại Hoa, đai bọc đoạn xích vũ, 1 miếng phía trước bọc bạc mạ vàng, 2 miếng bọc bạc, đều mặt đồi mồi, 7 miếng còn lại bọc đồng, mặt sừng đen, thường may bằng sa, đoạn tản hoa màu lam.

Bổ tử trên áo nền đỏ thêu Bạch Nhàn, võng cân, hia, hốt gỗ.

Quan phục cho cử nhân và cử nhân võ

- Cử nhân văn: đội mũ Văn Tú Tài mặt trước và sau đều đính hoa bạc.

Y phục là áo giao lĩnh may bằng vải màu, võng cân, hia.

- Cử nhân võ: Đội mũ Viên đính (Chưa rõ được hình dáng).

Y phục là áo Mã Đề bằng trừu Nam Đại Hoa màu bảo lam lót vải đỏ, bổ tử tròn màu xích trử, mặt trước và sau thêu 2 chữ Võ Cử.

Học trò quốc tử giám và tôn sinh

- Học trò quốc tử giám: đội mũ Văn Tú Tài bằng la sa trước đính 1 hoa bạc.

Y phục là áo giao lĩnh may bằng sa nam lót lụa trắng, thường lụa quần màu xanh, võng cân, hia.

- Tôn sinh: Đội tứ phương bình định.

Y phục là áo giao lĩnh bằng sa hoa thật màu bảo lam lót lụa trắng, thường bằng trừu, võng cân, hia.

Phẩm cấp của bá quan ngoài được phân biệt ở Bổ tử thì còn được phân biệt ở cổ áo nữa.

Theo quy chế , cổ áo các quan từ nhất tới tam phẩm màu trắng, các cấp còn lại cổ áo trùng với màu áo quan phục mình mặc.

Hình ảnh minh họa đại triều phục quan viên từ Nhất phẩm đến Lục phẩm:

4.

Trang phục hậu phi

4.1.

Triều phục - lễ phục Hoàng thái hậu và hoàng hậu

- Hoàng Thái hậu:

+) Mũ đội: Cửu Phượng quan, thân mũ làm bằng lông mã vĩ, trùm búi tó, sức 9 hình phượng múa rồng bay, khảm 9 lạp bổn, 1 miếng vân hoa bó tóc, 1 bác sơn vàng, 12 cánh hoa bướm, 4 trang sức trâm, 2 cành hốt phía trước, 1 vòng liên đằng bọc tóc, 4 đóa hoa mai, 2 đoạn liên đằng trang sức chân tóc, 1 miếng khỏa kiều đằng sau, phô hình phượng nạm vàng một đoạn chỉ, 4 thân trâm bạch kim xâu chuỗi thùy anh, 198 hạt chân trâu cỡ nhỏ, khảm 235 hạt pha lê các loại.

Nghạch cân làm bằng đoạn Bát ti màu thiên thanh lót lĩnh đại tào màu vàng chính sắc sức 4 khuyên vàng, 1 dải thao tơ.

Mũ được phép khảm gương và xâu thêm ngọc châu bao nhiêu tùy ý thích của Hoàng thái hậu.

+) Y phục: Phượng bào bằng sa mát màu vàng chính sắc, thêu chữ Thọ ngũ sắc gia kim, hoa, sóng nước xen kẽ kết san hô, gương, lôi trừu màu hoa xích và sa mát thêu hoa.

Thường làm bằng đoạn Bát ti bóng màu hoa xích thếu phượng ổ, hoa, sóng nước xen kẽ kết gương Tây.

Viền đoạn gấm nền vàng liên đằng, lót sa Hoàng quế, nối liền áo lụa trắng.

Bít tất làm bằng lĩnh bóng màu tuyết bạch, lót trừu bóng màu hoa xích, viền cổ bít tất có 2 dây thao làm bằng trừu bóng màu hoa xích.

Hài làm bằng tơ lông vũ màu vàng chính sắc thêu phượng xen kẽ kết san hô, trân châu, gương của Tây.

- Hoàng Hậu:

+) Mũ đội: Vẫn là Cửu phượng quan với hình dáng và trang sức như của Thái hậu tuy nhiên Cửu Phượng quan của hoàng hậu không được tùy ý xâu châu ngọc và khảm gương như của Thái hậu.

+) Y phục: Phượng bào làm bằng đoạn Bát Ti bóng màu vàng chính sắc thêu phượng hoa tròn, sóng nước, lót trừu phượng hoa màu hoa xích.

Vôt áo làm bằng lĩnh bóng Lai lộ màu tuyết bạch.

Thường làm bằng đoạn Bát ti màu tuyết bạch, thêu phượng hoa tròn xen vàng, lót dải lụa cao bộ màu tuyết bạch.

Đai vàng, thân đai dùng tre thuộc bọc đoạn Bát ti bóng màu vàng chính sắc, đều sức vàng, 18 miếng vuông dẹt đều lót mặt gương, khảm hoa vàng trổ rỗng, 2 chiếc móc vàng.

Hài làm bằng tơ lông vũ màu đỏ, viền thêu phượng.

Bít tất làm bằng lĩnh năm bóng màu tuyết bạch.

4.2.

Triều phục - lễ phục Trưởng công chúa

Trưởng công chúa

+) Mũ: Đội mũ Thất phượng quan với hình dáng cơ bản gần như Cửu phượng quan, làm bằng lông mã vĩ trùm búi tọc sức vàng, 4 khỏa kiều vàng, 1 chiếc sức chân tóc, 7 hình phượng bay, 4 miếng cổ đồ, 2 đóa hoa mai, 4 hoa cúc, 7 hoa mận, 4 trâm hoa, 1 vòng trang sức quanh đỉnh đầu, 1 vòng sức quanh viền mũ, đều đính với 1 miếng tuyến khảo trổ hình phượng, 2 miếng khỏa bản, 1 bộ trâm bạch kim xâu 120 hạt giả châu khảm 230 hạt pha lê.

+) Y phục: Phượng bào may bằng đoạn bát ti bóng màu hoa xích thêu hình phượng ổ, thường may bằng đoạn Bát ti bóng màu tuyết bạch thêu hình phượng ổ ngũ sắc xen kim tuyến, đai có thân bằng tre thuộc bọc đoạn Bát ti bóng màu hoa xích, sức 18 miếng trang sức vuông dẹt bằng vàng, mặt trang trí cổ đồ, vân phượng lót bằng kính, 1 đôi tất bằng lĩnh bát ti màu tuyết bạch, 1 đôi hài bằng tơ xích vũ thêu phượng.

Công chúa

+) Mũ: Đội mũ Ngũ phượng quan gần như có trang sức và hình dáng giống Thất phượng quan nhưng chỉ có 5 hoa văn phượng vàng trên mũ.

+) Y phục: Áo phượng bào may bằng đoạn Bát ti màu hoa xích thêu hình phượng ổ ngũ sắc xen kim tuyến, đai sức vàng và bạch kim.

4.3.

Thường phục

Áo Nhật Binh được quy định là thường phục cho Hậu Phi, Công chúa

- Hoàng hậu:

+) Mũ: 2 chiếc Cửu long kim ước phát, 1 cửu phượng kim ước phát, 8 trâm phượng bằng vàng.

+) Y phục: 1 áo bào Nhật Bình làm bằng sa sợi vàng thêu 20 hình rồng phượng, loan, trĩ, 1 thường may bằng tơ Bát ti trắng thêu rồng phượng.

- Công chúa:

+) Mũ: 1 Thất phượng Kim ước phát, 12 trâm hoa.

+) Y phục: 1 áo Nhật bình may bằng sa sợi đỏ, thêu phượng ổ.

- Cung tần nhất giai:

+) Mũ: 1 chiếc Ngũ phượng Kim ước phát, 10 trâm hoa.

+) Y phục: 1 áo Nhật bình bằng sa màu đỏ thêu loan ổ, 1 thường làm bằng tơ Bát ti trắng thêu loan ổ.

- Cung tần nhị giai:

+) Mũ: 1 chiếc Ngũ phượng Kim ước phát, 10 trâm hoa.

+) Y phục: 1 áo Nhật bình bằng sa màu xích đào thêu loan ổ, 1 thường làm bằng tơ Bát ti trắng thêu loan ổ.

- Cung tần tam giai:

+) Mũ: 1 chiếc Tam phượng Kim ước phát 8 trâm hoa.

+) Y phục: Áo Nhật bình làm bằng sa màu tím chính sắc thêu phượng ổ, 1 thường làm bằng tơ Bát ti trắng thêu loan ổ.

- Cung tần tứ giai:

+) Mũ: 1 chiếc nhất Phượng kim ước, 8 trâm hoa.

+) Y phục: 1 áo Nhật bình bằng sa màu tím nhạt, 1 thường bằng tơ Bát ti trắng thêu loan.

Khăn vành dây (Gọi tắt là khăn vành) là khổ vải dài chừng 8 -10 m, rộng khoảng 30 cm, được quấn gấp nếp nhiều vòng quanh đầu có lúc lên tới 20 -30 vòng, sau này loại khăn vành này được sử dụng cả trong dân gian làm lễ phục, tới nay trong một số lễ hội có tính chất phục cổ khăn vành vẫn được dùng

Hình ảnh minh họa trang phục hoàng hậu:

Hình ảnh minh họa trang phục áo Nhật Bình và trang phục cung nữ:

5.

Trang phục dân thường

Áo dài

- Cổ áo cổ điển cao khoảng 4 đến 5 cm.Hoặc được biến tấu khá đa dạng như kiểu cổ trái tim, cổ tròn, cổ chữ U, trên cổ áo thường được đính ngọc.

- Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo.

Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông.

Từ eo, thân áo dài được xẻ làm hai tà, vị trí xẻ tà ở hai bên hông.

- Áo dài có hai tà: tà trước và tà sau.

Tà trước bằng tà sau hoặc áo tà trước ngắn hơn tà sau.

Trên tà áo trước thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.

- Tay áo được tính từ vai, may ôm sát cánh tay, có kiểu tay lỡ hoặc dài đến qua khỏi cổ tay

Quần dài 2 ống:

- Được may chấm gót chân, ống quần rộng.

Quần được may bằng vải cứng cáp, hoặc được may với vải mềm, rũ.

Màu sắc thông dụng nhất là màu trắng.

Có thể có màu đi tông với màu của áo.

Kiểu tóc:

- Nam: tóc ngắn, cắt cao, hoặc để dài.

Quan lại quy định cắt cao

- Nữ: chưa có chồng, tóc dài để xõa, đã có chồng búi tóc lại, rồi dùng vải che tóc, quấn quanh đầu

Phụ kiện:

Nam: đội khăn vành khi dự lễ nghi, bình thường có thể đội hoặc không cần đội

Nữ: có thể kết hợp với trang sức, nón lá, khăn vành

Hình ảnh minh họa trang phục dân thường:

6.

Trang phục quân đội

6.1.

Các loại trang phục

1) Từ trái qua phải: Lãnh binh - Thống chế - Phó nhất đội - Chưởng vệ

2) Từ trái qua phải: Lính long thuyền (Thủy quân) - Tiểu đội trưởng cấm binh - Lính cẩm vệ - Tiểu đội trưởng cẩm vệ

3) Từ trái qua phải: Lính bắn súng thần công - Kỵ binh hoàng gia - Lính pháo thủ

4) Từ trái qua phải: Lính cận vệ trực tiếp ở cạnh vua - Lính hầu trong cung - Lịnh thị vệ - Lính hầu đèn trong cung

6.2.

Các loại phù

Ban các loại phù hiệu bằng vàng bạc cho quan võ (Với quan văn là Ngư Đại) như một thứ để thưởng công và phân biệt đẳng cấp.

6.3.

Áo giáp

1) Mũ trụ

2) Giáp thân trên, giáp thân dưới

3) Áo bào mặc lót trong

4) Giáp bảo vệ vai

5) Giày

6.4.

Vũ khí

Trước thời kì chưa có súng, thì vũ khí chính là gươm, giáo mác, cung tên.

Sau thời kì phát minh ra thuốc nổ, súng ống thì súng ống của pháo binh thì cỡ lớn là súng đại bác, súng thần công; nhỏ là súng hỏa mai.

Tất cả đơn vị được trang bị hỏa khí như ống phun lửa, quả nổ, súng điều sang (gồm thạch cơ điều sang, thần cơ điều sang, bắc cơ điều sang), pháo (súng thần cơ, thần công thiết bác)

6.5.

Các loại lính

Cấm binh: cấm vệ quân, nhiệm vụ bảo vệ kinh thành, tử cấm thành, bảo vệ hoàng đế và hoàng tộc

Vệ binh: quân đội chính quy, thường tại ngũ, chủ yếu đóng ở kinh kỳ cùng các tỉnh thành

Cơ binh: lính mộ địa phương nên còn gọi là biền binh hay mộ binh, khi cần tới thì gọi nhưng thời bình thì về quê làm ruộng, chủ yếu là bổ sung thêm cho lực lược chính quy hay đóng ở phủ huyện.

Phép luân phiên đó gọi là "Biền binh định lệ".

Các đơn vị thì chia làm ba phiên; hai phiên cho về quê, chỉ giữ một phiên.

Hết hạn lại thay phiên ra sung vào quân dịch

6.6.

Đơn vị và cấp chỉ huy Vệ binh

Các đơn vị: Bộ binh, Thủy binh, Hải binh, Pháo binh, Tượng binh, Kỵ binh

Ngạch cấp chỉ huy: Tướng quân, Thống chế, Đề đốc, Lãnh Binh, Phó Lãnh Binh

Ngạch võ quan

(phẩm trật: quan tước - huy hiệu trên bố tử - tương đương tiếng Pháp - đơn vị chỉ huy)

- Nhất phẩm: Ngũ quân Đô Thống chưởng phủ sự, Ngũ quân Đô Thống - kỳ lân - maréchal - đạo

- Nhị phẩm: Thống chế, Đề đốc, Chưởng vệ - bạch trách - général - doanh (2.500-4.800 lính)

- Tam phẩm: Lãnh binh, Vệ úy, phó Vệ úy, Đốc binh - sư tử - colonel, commandant de la Garde impériale - vệ (500-600 lính) tiếng Pháp: bataillon

- Tứ phẩm: Quản cơ, phó Quản cơ, Hiệp quản - hổ - chef de régiment provincial - cơ (500-600 lính) régiment

- Ngũ phẩm: Cai đội báo - capitaine - đội (50 lính) compagnie

- Lục phẩm: Chánh đội trưởng suất đội - hùng - lieutenant

- Thất phẩm: Chánh đội trưởng suất thập - bưu - sergent - thập (10 lính) escouade

- Bát phẩm: Đội trưởng suất thập - hải mã - caporal - ngũ (5 lính) section

- Cửu phẩm: Thơ lại - tê ngưu - sergent-fourrier

Hình ảnh minh họa trang phục quân đội:
 
Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Kiến trúc: Kinh thành Sài Gòn


Kinh thành Sài Gòn là nơi đóng đô của đế quốc Phù Nam từ khi lập quốc từ năm 3.000 TCN đến ngày nay.

Hiện nay, Kinh thành Sài Gòn là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích cung đình Đế quốc Phù Nam được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

Kinh thành Sài Gòn được vua Lạc Tôn định đô từ năm 3.000 TCN, đến khi Lạc Hoàng Đại Đế tái thống nhất thì tiến hành khảo sát và xây dựng hoành tráng hơn, cho xứng đáng với vị thế của đế quốc.

Khởi công xây dựng từ năm 664 TCN và hoàn chỉnh vào năm 667 TCN, sau đó được xây dựng thêm và điều chỉnh từ các vị hoàng đế kế cận.

Kinh thành Sài Gòn nằm ở bờ tây sông Sài Gòn, có ranh giới như sau: phía nam giáp sông Sài Gòn, phía đông giáp sông Nhiêu Lộc, phía tây giáp sông Bến Nghé, phía bắc giáp sông Tham Lương.

Kiến trúc

Kiến trúc kinh thành Sài Gòn gồm 3 vòng thành:

Lũy thành Bán Bích: gồm 99 cửa, tường thành cao 9m, bảo vệ diện tích gần 100 km2, là khu vực buôn bán, trồng trọt, chăn nuôi và cư ngụ của thường dân.

Vòng thành này được bảo vệ bởi Cơ Binh và Vệ Binh.

Chia làm 9 doanh trại, mỗi doanh trại quản lí 10 cửa phụ, 1 cửa chính.

Mỗi doanh trại được cơ cấu gồm Bộ binh, Thủy binh, Hải binh, Pháo binh, Tượng binh, Kỵ binh.

Lũy thành Lão Cầm: gồm 30 cửa, tường thành cao 9m, bảo vệ diện tích gần 30 km2, là khu vực ở của quý tộc, hoàng tộc và quan lại.

Vòng thành này được bảo vệ bởi Cơ Binh và Vệ Binh, gồm 3 doanh trại tinh nhuệ, mỗi doanh trại quản lí 9 cửa phụ, 1 cửa chính.

Kinh thành Sài Gòn: nằm giữa 2 vòng thành Bán Bích và Lão Cầm, gồm 9 cửa, tường thành cao 9m, diện tích gần 1 km2, là nơi ở và thiết triều của hoàng đế.

Kinh thành được bảo vệ bởi Vệ Binh và Cấm Binh.

Có tất cả 9 doanh trại quản lí 9 cửa được điều phối bởi Vệ Binh, và khu vực tử cấm thành được quản lí, bảo vệ bởi Cấm Binh.

Công trình

Các công trình hoàng gia chủ yếu nằm trong vòng thành thứ 3, kinh thành Sài Gòn.

Kinh thành có 8 cửa, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Li Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiền, phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấm Chí, phía tây là cửa Tốn Thuận và cửa Đoài Duyệt.

Sau này được đổi tên các cửa: phía nam là cửa Gia Định và cửa Phiên An, phía bắc là cửa Củng Thần và cửa Vọng Thuyết, phía đông là cửa Phục Viễn và cửa Hoài Lai, phía tây là cửa Tĩnh Biên và cửa Tuyên Hóa.

Kỳ đài

Kỳ đài của Kinh thành Sài Gòn, còn gọi là Cột cờ Kinh thành Sài Gòn nằm chính giữa mặt nam của Kinh thành, thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình.

Kỳ đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ.

Đài cờ gồm ba tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau.

Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao khoảng 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m.

Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5 m.

Từ mặt đất lên tầng dưới bằng một lối đi nhỏ ở phía trái Kỳ Đài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng một cửa vòm rộng 4 m, tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng một cửa vòm rộng 2 m.

Đỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng.

Nền ba tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới.

Còn có hai chòi canh và tám khẩu đại bác.

Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30 m.

Sau đó, cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32 m.

Năm Lạc Hoàng Đại Đế lên ngôi, cột cờ bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 50 m hiện nay mới được xây dựng.

Trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ.

Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu.

Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển

Tường thành

Được bao quanh bởi bốn mặt tường thành cao 9 mét và một con sông bảo vệ rộng 52 m, sâu 6 m.

Các bức tường khác rộng 8,62 m ở chân, giảm dần xuống còn 6,66 m ở đỉnh.

Chúng vừa là tường phòng thủ vừa là tường chắn cho cung điện, được tạo thành từ một lõi đất nện, phủ bề mặt cả hai phía bằng ba lớp gạch nung đặc biệt, với các kẽ được lấp đầy vữa.

Ở bốn góc tường thành bao là bốn ngọn tháp, có phần mái phức tạp với 72 đường gờ, mô phỏng Đằng Vương Các và Hoàng Hạc Lâu.

Bốn ngọn tháp mang nhiều nét văn hóa dân gian, và là thành phần mà thường dân bên ngoài các bức tường dễ dàng nhìn thấy nhất.

Cổng thành

Có tám cổng thành chính, mỗi mặt tường thành đều có hai cổng, đầu phía nam có thì 3 cổng, công ở giữa dẫn vào tử cấm thành là Ngọ Môn.

Ngọ Môn được thiết kế với hai phần cánh nhô ra, tạo thành ba cạnh của một hình vuông, với phần cạnh khuyết hướng ra phía trước cổng.

Ngọ Môn có hai bộ phận trên và dưới, phía dưới là phần cửa.

Ngọ Môn có năm cửa.

Cửa chính giữa là một phần của con đường đế vương, một con đường rợp cờ bằng đá, tạo thành trục trung tâm của Tử Cấm Thành và cả kinh thành Sài Gòn, dẫn tất cả nhánh đường từ Trung Hoa Môn ở phía nam tới Cảnh Sơn ở phía bắc.

Hoàng đế là người duy nhất được đi bộ hoặc đi xe trên con đường đế vương, Hoàng hậu trong ngày hôn lễ và nho sinh đỗ đạt cao trong mỗi kì khoa cử là hai trường hợp ngoại lệ.

Phần trên Ngọ Môn là một lầu các rộng chín gian, sâu năm gian.

Hai bên phía trước của Ngọ Môn là Khuyết Tả Môn và Khuyết Hữu Môn.

Ngoài phần thân đài, lầu còn được tôn cao bởi một hệ thống nền cao 1,15 m cũng chạy suốt thân đài hình chữ U.

Lầu có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với chẵn 100 cây cột.

Mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hồi lang.

Mái tầng trên chia thành 9 bộ, với rất nhiều hình chim phụng trang trí ở phần bờ nóc, bờ quyết, khiến tòa lầu trông rất nhẹ nhàng, thanh thoát.

Bộ mái chính giữa của lầu lợp ngói lưu ly màu vàng, tám bộ còn lại lợp ngói lưu ly màu xanh.

Bên trong kinh thành

Bước vào Ngọ Môn là một quảng trưởng rộng lớn với năm cây cầu bắc qua dòng Kim Thủy.

Bên ngoài quảng trường là Thái Hòa Môn.

Thái Hòa Môn là cửa cung lớn nhất bên trong Tử Cấm Thành, cũng là cổng chính của phần Ngoại Đình.

Thái Hòa Môn rộng chín gian, sâu ba gian, ban đầu gọi là "Phụng Thiên Môn", sau lại đổi tên thành "Hoàng Cực Môn", sau đó lại gọi là "Thái Hòa Môn".

Ban đầu quy định, mỗi buổi sáng các quan viên đều phải đến Phụng Thiên Môn dự triều sớm, Hoàng đế cũng đích thân đến đây nhận triều bái và xử lý chính vụ, thường được gọi là "ngự môn thính chính".

Sau đó, Hoàng đế cũng từng nhận triều bái và ban thưởng yến tiệc tại Thái Hòa Môn, nhưng việc "ngự môn thính chính" được dời vào Càn Thanh Môn.

Hai bên hành lang dài nối từ Ngọ Môn đến Thái Hòa Môn, có hai cổng nhỏ hơn đối xứng nhau là Hi Hòa Môn và Hiệp Hòa Môn (.

Nằm ngay hai bên Thái Hòa Môn là Trinh Độ Môn và Chiêu Đức Môn.

Qua khỏi Thái Hòa Môn là một quảng trường rộng khác.

Một sân thượng tam cấp làm bằng đá cẩm thạch trắng, được xây dựng trên quảng trường.

Thẳng theo trục thần đạo này là Tử Cấm Thành Sài Gòn.

Tử Cấm Thành Sài Gòn được chia thành các khu vực chính sau:

- Khu vực Đại triều: dùng để thiết triều và thực hiện các nghi lễ

- Khu vực Nội các: là nơi các bộ của đế quốc thực hiện chính sự

- Khu vực Hoàng gia (Tử cấm thành): nơi sinh hoạt của hoàng đế và gia đình

- Khu vực Văn miếu: Nơi thờ các nhà triết học, quan văn lỗi lạc, là nơi tôn vinh các bậc tiến sĩ, trạng nguyên trong các kì khoa cử, là nơi giáo dục, dạy học cho các con em hoàng tộc.

- Khu vực Võ miếu: Nơi thờ các quan võ lỗi lạc, nơi tôn vinh các tướng quân kì tài trong các kì khoa cử, là nơi duyệt bình, dạy võ cho các con em hoàng tộc.

- Khu vực Tổ miếu: nơi thờ tự các bậc đế vương của đế quốc Phù Nam, gồm Triệu Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Thành Tổ Miếu và Hưng Tổ Miếu.

- Khu vực Hàn Lâm Viện: gồm Thư viện - nơi lưu trữ các sách quý, Cổ viện - nơi lưu trữ các cổ vật, Quân sự viện - nơi nghiên cứu, cải tiến các kĩ thuật quân sự, Thiên văn viện - nơi nghiên cứu các vì tinh tú và làm lịch,...

- Khu vực Trường Thọ: nơi ở của các Hoàng thái hậu hoặc Thái hoàng thái hậu.

- Khu vực Cấm quân: Nơi ở và làm việc của Cấm quân và Vệ quân.

- Khu vực Cung nữ: Nơi ở của các cung nữ.

- Khu vực Thái giám: Nơi ở của các thái giám.

- Khu vực Chùa Báo Thiên: nơi thờ Phật và làm lễ tế bái trời đất

- Khu vực Thái Bình viên: khu vực công viên tuần thú của hoàng tộc.

Khu vực Đại Triều

Ba đại điện nằm trên sân thượng này là tâm điểm của quần thể cung điện.

Từ phía nam, chúng lần lượt là Thái Hòa Điện, Trung Hòa Điện và Bảo Hòa Điện.

Ba điện này cùng với Văn Hoa Điện ở phía đông và Vũ Anh Điện ở phía tây hợp lại được xưng là "Ngoại triều".

Thái Hòa Điện thường được gọi là "Kim Loan Điện", ban đầu gọi là "Phụng Tiên Điện", sau đó đổi thành "Hoàng Cực Điện", cuối cùng thì đổi thành Thái Hòa Điện.

Trong ba đại điện, Thái Hòa Điện là điện bề thế nhất, cao hơn 30 mét so với mặt bằng quảng trường phía dưới.

Đây là trung tâm nghi lễ hoàng gia, và là công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất.

Đại điện rộng chín gian, sâu năm gian, các con số 9 và 5 tượng trưng cho uy quyền của Hoàng đế.Trần đại điện được thiết kế một tảo tỉnh phức tạp, có hình rồng cuộn và từ miệng tảo tỉnh, tỏa ra một chùm những quả cầu bằng kim loại, được gọi là "Gương Hiên Viên".

Ban đầu, nơi này được Hoàng đế chọn làm nơi thiết triều và bàn luận chính sự.

Sau đó, vì cần phải thượng triều thường xuyên, Hoàng đế chuyển nơi thiết triều đến một địa điểm ít mang tính nghi thức hơn, còn Thái Hòa Điện chỉ được sử dụng làm nơi tổ chức nghi lễ, như lễ đăng quang của Hoàng đế, công bố danh sách các tân Tiến sĩ, phái các Đại Tướng xuất chinh, ngày sinh nhật của Hoàng đế, lễ sách phong Hoàng hậu, hay thêm huy hiệu cho Thái hậu và Thái hoàng thái hậu.

Trung Hòa Điện từng có tên "Hoa Cái Điện", sau đổi tên thành "Trung Cực Điện" , cuối cùng thì đổi thành Trung Hòa Điện.

Điện có dạng hình vuông rộng ba gian, nhỏ hơn Thái Hòa Điện, được Hoàng đế dùng làm nơi chuẩn bị hoặc nghỉ ngơi trước các buổi lễ.

Bảo Hòa Điện từng có tên "Cẩn Thân Điện", sau đổi tên thành "Kiến Cực Điện", cuối cùng thì đổi thành Bảo Hòa Điện.

Điện rộng chín gian, sâu năm gian, được dùng để mở tiệc chiêu đãi vương công đại thần ngoại phiên và cũng là địa điểm tổ chức vòng thi cuối cùng của kỳ khoa cử.

Cả ba đại điện đều có ngai vàng, cái lớn nhất được đặt ở Thái Hòa Điện.

Các đoạn dốc chính giữa, dẫn lên các sân thượng từ cả hai phía bắc và nam, là các đoạn dốc nghi lễ, một phần của con đường đế vương, đặc trưng bởi các bức phù điêu tinh xảo mang tính biểu tượng.

Đoạn dốc đầu phía bắc, sau Bảo Hòa Điện, được chạm khắc từ một phiến đá dài 16,57 mét, rộng 3,07 mét và dày 1,7 mét Nó nặng khoảng 200 tấn và là tác phẩm chạm khắc lớn nhất Phù Nam.

Đoạn dốc đầu phía nam, trước Thái Hòa Điện, thậm chí còn dài hơn, nhưng được làm từ hai phiến đá ghép lại – mối nối được giấu khéo léo bằng cách sử dụng các bức phù điêu chồng lên nhau.

Người ta có thể đã vận chuyển các phiến đá bằng xe trượt băng, trên một đường băng được làm bằng nước lấy trong các giếng lưu động dọc đường đi.

Trong khu vực của Tiền Tam Điện còn có các kiến trúc (theo thứ tự từ ngoài vào trong):

Thể Nhân Các và Hoằng Nghĩa Các nằm trên hành lang dài nối giữa Thái Hòa Môn và Thái Hòa Điện, đối xứng nhau qua trục trung tâm.

Tả Dực Môn và Hữu Dực Môn nằm trên hành lang nối dài giữa Thái Hòa Môn và Thái Cực Điện, nằm giữa Thể Nhân Các (hoặc Hoằng Nghĩa Các) và Thái Hòa Điện.

Trung Tả Môn và Trung Hữu Môn nằm hai bên tương ứng của Thái Hòa Điện.

Hậu Tả Môn và Hậu Hữu Môn nằm hai bên tương ứng của Bảo Hòa Điện

Khu vực Hoàng gia

Đây là trung tâm sinh hoạt hằng ngày của vua và hoàng gia đế quốc Phù Nam.

Có các cửa sau: nam là Đại cung (Đại Cung môn) kết cấu hoàn toàn bằng gỗ, lợp ngói hoàng lưu ly; đông là cửa Hưng Khánh và cửa Đông An, về sau, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường, ở mặt này cũng mở thêm cửa Cấm Uyển; tây là cửa Gia Tường và Tây An; bắc là cửa Tường Loan và Nghi Phụng, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn phòng mở thêm cửa Văn phòng.

Bên trongbao gồm hàng chục công trình kiến trúc với quy mô lớn nhỏ khác nhau, phân chia làm nhiều khu vực.

Đại Cung môn là cửa chính vào.

Sau Đại Cung môn là một sân rộng rồi đến điện Cần Chánh, là nơi vua làm việc.

Cách bố trí, sắp đặt trong điện Cần Chánh cũng tương tự điện Thái Hòa, gian giữa đặt ngai vua, tả hữu treo bản đồ thành trì các tỉnh.

Hai bên điện Cần Chánh có nhà Tả Vu và Hữu Vu là nơi các quan ngoài chờ và sửa sang, chỉnh đốn quan phục trước khi thiết triều.

Chái bắc Tả Từ Vu là viện Cơ Mật, chái nam là phòng Nội Các, nơi đây tập trung phiến tấu của các Bộ, nha trình vua ngự lãm.

Sau lưng điện Cần Chánh trở về bắc là phần Nội Đình là khu vực ăn ở, sinh hoạt của vua và gia đình cùng những người phục vụ.

Điện Càn Thành là nơi vua ở, trước điện có cái sân rộng, ao sen và bức bình phong chắn điện Càn Thành và điện Cần Chánh.

Cung Khôn Thái nằm ở phía bắc điện Càn Thành, bao gồm điện Khôn Thái, điện Trinh Minh... là nơi ăn ở sinh hoạt của các phi tần nội cung.

Sau cung Khôn Thái là Điện Kiến Trung, Điện Kiến trung nằm ở điểm cực bắc của trục thần đạo xuyên qua trung tâm Tử Cấm thành.

Kiểu thức điện là hợp thể phong cách Âu châu gồm kiến trúc Pháp, kiến trúc Phục hưng của Ý cùng pha thêm kiến trúc cổ truyền Phù Nam.

Mặt tiền điện có trang trí những mảnh gốm sứ nhiều màu.

Trước điện là vườn cảnh, có ba cầu thang đắp rồng dẫn lên thềm điện.

Tầng chính trổ 13 cửa hiên: gian giữa 5 cửa, hai gian bên mỗi gian 3 cửa, hai góc điện mỗi bên hai cửa nữa làm nhô ra hẳn.

Tầng trên là gác, làm cùng một thể thức như tầng chính.

Trên cùng là mái ngói có hàng lan can trang trí theo phong cách Phù Nam.

Cuối cùng là lầu Minh Viễn, lầu có 9 tầng cao 30.8m, lợp ngói hoàng lưu ly, trên lầu có kính viễn vọng để hoàng đế quan sát cảnh từ xa.

Thái Bình Lâu, nơi vua đọc sách

Ngoài những công trình chính trên được sắp đặt trên một đường thẳng sau cửa Đại Cung, Tử Cấm thành còn có những cung điện, lầu tạ khác hai bên tả hữu là khu vực phục vụ việc ăn uống, sức khỏe và giải trí của vua và hoàng gia như: Thượng Thiện đường, Thái Y viện, Duyệt Thị Đường, vườn Thiệu Phương, vườn Ngự Uyển, gác Đông Các, Tu Khuê tơ lầu, điện Quang Minh (chỗ ở của Đông Cung hoàng tử), điện Trinh Minh, viện Thuận Huy, Duyệt Thị đường, lục viện...

Ngoài ra, còn có một số công trình kiến trúc khác dành cho tín ngưỡng tâm linh như chùa thờ Phật, miếu thờ trời, tinh tú

(Còn tiếp)
 
Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Văn hóa: Học hành - Thi cử


1.

Chuyện học

1.1.

Giáo dục trong cung đình

Trong cung đình việc học tập của các Hoàng tử, Hoàng thân đã được tiến hành từ rất sớm.

Thời đầu, ngay khi còn chưa lập triều nhưng hoàng tử vừa lên ngôi Đông Cung, vua cho dựng nhà Thái Học, sai văn sĩ làm Phụ đạo, thêm vào đó là 2 thị giảng, 8 Hàn lâm viện thị học, 6 Quốc tử giám thị học.

Hàng ngày 2 buổi sáng chiều giảng dạy, việc học hành, lời ăn tiếng nói của thái tử đều được báo lên cho Vua hàng tháng.

Sau này, khi Lạc Hoàng Đại Đế tái thống nhất đất nước, vừa lên ngôi đã có chiếu cho các hoàng tử , thái tử vào học tại Hữu Phương Đường, lấy các Đại học sĩ sung chức giảng quan, Bộ Lại chọn thêm 8 người có tài, siêng năng cho làm thư đồng hầu các hoàng tử, hoàng thân.

Định ra quy chế giảng dạy ở nhà học Dục Đức như sau:

- Cho phép thầy dạy được dùng roi để phạt các hoàng tử, 2 viên giáo đạo sẽ được đem roi mây để thi hành.

- Chính giữa nhà học để án sách, gian phía Tây đặt chỗ cho người giảng bài, 2 viên giáo đạo cùng ngồi một chiếu.

- Gian bên Đông đặt chỗ nghe giảng bài của các hoàng tử, phải đặt thấp hơn chiếu của giáo đạo.

- Hàng năm, trước ngày khai giảng, Khâm Thiên Giám sẽ chọn ngày báo cho Bộ Lễ mang lễ vật.

Sáng sớm hôm đó, một viên giáo đạo ăn mặc chỉnh tề làm lễ dâng rượu 3 lần, viên giáo đạo thứ 2 làm lễ 4 lễ, các Hoàng tử và các viên Giảng tập đều làm lễ 4 lễ.

Ngoài Thái tử, Hoàng tử, việc dạy dỗ cho các con em khác trong Hoàng tộc cũng được chú trọng.

Vua ra chiếu chọn lấy 60 con em nhỏ tuổi thuộc hàng Tôn thân từ 3 đời trở xuống cho vào vào nhà Thái học tu tập, gọi là "Tôn sinh", lại cấp thêm cho lương tháng và mũ áo riêng.

Bộ Lễ xin định ra Tôn học khóa trình như sau:

- Học quan dạy các Tôn sinh phải khảo xét xem các học sinh ai chăm ai lười, ai hay nghỉ, văn lý, kinh nghĩa hay dở ra sao...sau đó tâu lên.

Nếu ai được hạng Ưu thì được tăng gấp đôi lương bổng, ai hạng Bình thì giữ nguyên lương bổng, hạng Thứ bị cắt 1/3, hạng Liệt bị cắt một nửa.

- Lệ xin nghỉ học: Giỗ song thân (Cha mẹ) được nghỉ 5 ngày, giỗ tổ tiên được nghỉ 3 ngày, bị bệnh nặng nghỉ ốm 10 ngày, nếu bị nặng hơn nữa có thể gia hạn them, còn như vô cớ nghỉ học sẽ bị đánh đòn.

Năm Càng Thịnh thứ 154, triều đình lại ban cho các Tôn sinh mỗi người một bộ Tứ thư cùng giấy, nghiên, bút, mực.

Lại ra thêm quy định những người sát hạch định kỳ nếu được Ưu hạng thì ngoài được tăng lương bổng cũng được thưởng thêm bút và sách.

Không chỉ những hoàng thân quốc thích, đối tượng là con em quan lại cũng có chương trình giáo dục.

Con các quan được cho vào Quốc Tử Giám dạy được gọi là Ấm sinh, đều phải tuyển người thông minh hiếu học, qua một kỳ khảo hạch rồi được nhập học.

Việc dạy cho các Ấm sinh bắt đầu được đặt ra.

Về sau, định ra lệ chu cấp lương bổng cho Ấm sinh, người nào cha đã mất hay nghỉ thì lương vẫn như lệ cũ.

Nếu còn tại chức thì phải qua xét hạch, được hạng ưu và bình thì cấp 3 cân dầu 2 quan tiền giấy bút, chưa qua xét hạch hạng nhất và nhì vẫn được 3 cân dầu 2 quan tiền, hạng 3 được 2 cân dầu 2 quan tiền.

Còn lại gạo lương đều cấp phát như nhau theo quy định triều đình.

1.2.

Trong dân gian

Việc giáo dục trong cả nước được đặt dưới sự quản lý của Bộ Lễ, dưới đến cấp tỉnh thì quan Đốc học , cấp phủ là Giáo thụ, cấp huyện châu là Huấn đạo đều do triều đình bổ nhiệm.

Các sĩ tử học ở trường tư khá thì sẽ được đến học ở trường công của các quan Giáo thụ, Huấn đạo, Đốc học đợi khoa thi Hương.

Ra điều lệ thưởng phạt học quan các địa phương :

- Các sĩ tử trong địa phận học quan chịu trách nhiệm nếu trong 50 người trở xuống có một người đỗ Phó Bảng thì các học quan tại chức đã đủ 3 năm được thăng 1 cấp, nếu có 1 người đỗ Tiến sĩ thì được thăng 1 cấp và tăng lương thêm 1 bậc.

- Từ 60 – 100 người, có một người đỗ Phó Bảng thì tăng lương 2 bậc, 1 người đỗ Tiến sĩ thì tăng lương 3 bậc.

- Từ 600 - 1000 người, có 1 người đỗ Phó Bảng, tăng lương 1 bậc, có 1 người đỗ Tiến sĩ tăng lương 2 bậc.

- Tùy theo số người mà thưởng thêm, học trò nơi khác nhưng đến địa phương tu học mà đỗ đtạ, học quan cũng được thưởng.

- Về phạt: Nếu sĩ tử trong địa hạt đẫ được đi thi Hội mà bị hỏng thi thì học quan sở tại gồm Giáo thụ, Huấn đạo và quan Thượng ty đã tại chứ 1 năm trở lên bị phạt 3 tháng lương.

Tại chức 2 năm bị phạt 9 tháng lương, tại chức 3 năm thì 1 năm lương.

2.

Chuyện thi

Về đối tượng dự thi, cấm người:

- Đang có tang cha mẹ, tang ông bà nội (Nếu mình là cháu thừa trọng);

- Kẻ bất hiếu, bất mục loạn luân, vô đạo...

- Gia đình có người phạm tội giảo (treo cổ), chém và tội đi đày, sung quân (dù cho tội phạm đã mãn hạn bị phạt vẫn được tính).

- Thân thuộc với giặc phản nghịch, chia ra các cấp:

+) Thân thuộc với hạng trọng phạm đầu sỏ phản nghịch, thì 3 đời từ con đến chắt và tất cả những ai thuộc hàng chịu tang từ 3 năm tới 9 tháng đều bị cấm thi.

Còn với những người thuộc hang chịu tang 5 tháng và đối tượng phản loạn đã chết thì vẫn cho thi.

Tuy nhiên, thường kể cả những hạng chịu tang 5 tháng đi thi cũng không mấy người được lấy đỗ hay đỗ cao.

+) Thân thuộc với hạng thứ phạm phản nghịch, thì con cháu và người thuộc hàng chịu tang 1 năm đều bị cấm thi dù đối tượng phản loạn đã chết hay còn sống.

Hàng chắt và người chịu tang hàng đại công (9 tháng) trở xuống vẫn được thi, nếu người phản loạn đã ra hang, rồi lập công chuộc tội thì con cháu vẫn không được đi thi nhưng người chịu tang hàng 1 năm thì được đi thi.

+) Thân thuộc với người tòng phạm cam tâm theo giặc nhưng ở chức thấp hoặc không có chức vụ thì con cháu bị cấm thi, người thuộc hàng chịu tang 1 năm được thi.

Nếu người làm phản đã đầu thú, lập công chuộc tội hoặc khi người tòng phạm làm phản mà cháu còn nhỏ (6 tuổi trở xuống) thì đời cháu vẫn được đi thi.

+) Thân thuộc với hạng tòng phạm nhưng bị giặc ép buộc phải theo, không có chức tước gì thì đời con bị cấm thi nhưng cháu thì được.

Nếu tòng phạm ra đầu thú lập công chuộc tội hoặc khi làm loạn con còn nhỏ (6 tuổi trở xuống) thì con được đi thi.

+) Theo đạo Công giáo thì bản thân bị cấm thi, nếu bỏ đạo thì được đi thi.

- Con cháu người làm nghề thấp hèn như xướng ca, mõ...

Sĩ tử đi thi cũng phải làm tờ cung khai tam đại được sự xác nhận của hương chức sở tại.

Sau đó lại vượt qua thi Khảo và thi Hạch tại cấp huyện châu rồi tỉnh, sau khi đã qua được thi Khảo, hương chức sở tại phải nộp danh sách và thong tin sĩ tử cho cấp tỉnh, trong đó ngoài việc báo về lý lịch ba đời còn phải khai rõ sĩ tử này học ở đâu, với thầy nào.

Danh sách này nộp lên cấp tỉnh rồi sẽ được sao ra làm 3 bản, một bản để lưu ở tỉnh, một bản chuyển vào kinh cho Bộ Lễ làm danh sách lưu trữ lúc cần sẽ đưa lên cho Vua, một bản thì giao cho quan chức giáo dục tại địa phương.

Người đỗ đầu thi Khảo được gọi là "ông đầu xứ", những người đỗ khác được gọi là thầy khóa, ông khóa....

2.1.

Thi Hương

Đầu thời Phù Nam, hoàng đế quy định cả nước có 6 trường thi Hương đặt ở 6 trấn:

- Trường Sài Gòn

- Trường Cần Thơ

- Trường Hà Tiên

- Trường Đà Lạt

- Trường Nha Trang

- Trường Mỹ Tho

Sau đó, mở thêm 2 trường là Bảo Lộc.

Thứ 2 là Bạc Liêu.

Sau còn mở thêm trường Châu Đốc, Đồng Xoài.

Thời gian tổ chức thi Hương tại các trường cũng không giống nhau.

a) Tổ chức trường thi

- Mỗi vi trong trường thi có thể có 2 cửa.

- Trường quy không cấm sĩ tử mang giấy tới trường thi, nhưng chỉ được mang giấy trắng vào dùng làm nháp hoặc để thay quyển thi mới nếu quyển trước bị hỏng.

Ai mang giấy dù chỉ là có 1 chữ trên đó cũng bị coi như phạm trường quy, bị đuổi đi.

- Trước đó sĩ tử nộp tiền, quan trường sau đó sẽ làm quyển thi, ghi thông tin sĩ tử tới ngày thi thì phát cho thí sinh.

Sau đó, thì sĩ tử sẽ tự làm quyển thi, sau đó trước 1 tháng nộp cho quan trường để được đóng dấu, tới ngày thì nhận quyển thi, thông tin bản thân thì khi vào trường sĩ tử tự ghi lên quyển thi.

- Tại kinh thành Sài Gòn trường thi Hương sau đó lại được dùng luôn cho thi Hội, vì thế trường thi Hương tại Sài Gòn được xây cố định chắc chắn, địa điểm thì tùy thời kỳ mà thay đổi.

Về tổ chức nhân sự có sự phân công công việc chặt chẽ:

- Phần Ngoại liêm có:

+) Đội Thể sát: là các võ quan có chức vụ Cai đội và Suất đội lo an ninh và kiểm tra trong các vi.

Trong đội Thể sát còn có các lính cơ, lính lệ và thư lại.

+) Đội Mật sát: có thành phần như trên nhưng lo việc an ninh và kiểm tra tại khu vực nội trường nơi các khảo quan làm việc

+) Quan Ngự sử: chịu trách nhiệm chỉ huy 2 đội Thể, Mật sát.

Giám sát chung toàn trường thi và báo về triều thong tin khi cần.

Có 2 viên Ngự sử, 1 lo khu Ngoại liêm và Ngoại trường, một chịu trách nhiệm Nội trường.

+) Các Lại điển: là các nha lại cấp thấp làm việc giấy tờ ghi chép số lượng từ 20 tới 40 người

+) Quan Đề điệu: lấy quan Ngũ phẩm trở lên sung vào, cho thêm 4 viên Lại điển theo giúp việc.

Số lượng 2 người.

- Phần Nội liêm có:

+) Các khảo quan Sơ, Phúc: trước đó thường lấy các quan cấp Phủ, huyện sung làm chức này, sau đó triều đình thay đổi, cho lấy các Cử nhân đã đỗ đạt nhưng chưa ra làm quan hoặc đang học tại Quốc tử Giám, các quan Huấn đạo ngoài kinh và Giáo thụ các nơi.

+) Quan Giám khảo: lấy quan văn ngũ phẩm trở lên bổ vào.

+) Quan Phân khảo: lấy quan văn tứ phẩm trở lên.

+) Quan Chánh chủ khảo: lấy từ tam phẩm trở lên.

Ngày nhập trường đầu tiên các quan từ Chánh chủ khảo đều chia vị trí ngồi tịa các cổng vào trường thi.

b) Thể thức thi

Đầu thời Phù Nam thế thức thi là thi 4 trường với các mục kinh nghĩa; thơ phú; chế chiếu biểu; văn sách.

Sang tới năm Ất Mùi, ntriều đình đổi phép thi Hương và Hội.

Theo đó:

- Kỳ nhất: thi Kinh nghĩa làm bài kinh nghĩa theo thể bát cổ, đề lấy 5 bài kinh từ Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu) và 2 bài truyện từ Tứ thư.

Thí sinh phải làm ít nhất một bài kinh, một bài truyện; nếu muốn làm tất cũng được.

Bài làm tối thiểu phải trên 300 chữ.

- Kỳ thứ 2: Làm một bài thơ thể ngũ ngôn, một bài phú, hạn từ 300 chữ trở lên.

- Kỳ thứ 3: Làm bài văn sách, đề bài ra trên dưới 300 chữ, bài làm hạn từ 1600 chữ trở lên.

- Kỳ thứ 4: còn gọi là kỳ "phúc hạch", thi viết chế chiếu biểu cáo (gọi chung là thể văn tứ lục); các đời sau có khi thay bằng hình thức lấy cả thơ phú, văn sách, kinh nghĩa gộp lại cho thi, tuy nhiên đề ngắn và chấm rất dễ.

Nhìn chung, tới kỳ 4 thì việc thi chỉ còn là khảo hạch qua cho đủ thủ tục, sĩ tử đã vào tới đây thì chắc chắn đỗ Tú Tài hoặc Cử Nhân.

Dù sau này có lúc được chỉnh sửa ít nhiều, nhưng về căn bản thể thức vẫn giống như trên.

Nó được duy trì tới khi giao lưu với phương Tây đã cải cách thể thức thi như cho thêm phần viết chữ quốc ngữ, dịch tiếng Pháp...

Về lối chấm thi Hương, quan Sơ khảo khi chấm thi dùng mực son, quan Phúc khảo dùng mực màu xanh.

Kết quả thi Hương cũng được yết lên Bảng Hổ và Bảng Mai, người đỗ thi Hương (đỗ 4 trường) gọi là Cử nhân (舉人), đỗ 3 trường gọi là Tú tài (秀才) nhưng trong giấy tờ và cách xưng hô hành chính vẫn gọi Cử nhân bằng lối cũ là Cống sĩ.

Ngày yết bảng nếu tên người đỗ, lính sẽ cầm loa đi khắp các phố phường xướng danh người đỗ Cử nhân, Sĩ tử đến trường thi nghe xướng danh, lính gọi tới tên ai người đó tiến lên nhận, rồi vào trong thay áo mũ, sau đó đi vào rạp dựng ở nhà Thập đạo ngồi theo thứ tự trên dưới để dự yến tiệc dành cho Cử nhân tân khoa gọi là yến Lộc Minh (祿明).

Dự yến xong, hôm sau các Cử nhân lại mặc áo mũ chỉnh tề đến hành cung vua tại tỉnh để bái tạ ân điển.

Ai đã đỗ cử nhân thì các quan tỉnh sau đó sẽ báo về làng xã quê quán của ông Cử, ông Tú để lệnh cho họ chuẩn bị làm lễ rước, theo quy định đỗ Cử nhân cả tổng phải tổ chức đi rước, đỗ Tú tài thì xã đi rước.

Hương chức địa phương sẽ cử người ra bàn với ông Cử định ngày đón rước.

Định xong thời gian, đến ngày ấy chức sắc và dân làng sẽ mũ áo tươm tất mang theo nghi trượng, võng lọng, cờ trống đến dinh huyện đón ông Cử về làng, vừa đi vừa trống dong cờ mờ, về đến làng thì đốt pháo ăn mừng.

Rồi trong làng sẽ mở tiệc khao vọng, hát xướng linh đình mừng đỗ đạt cho ông Cử và vinh dự cho làng.

2.2.

Thi Hội

a) Tổ chức trường thi

Thi Hội định rõ danh sách các thí sinh thành 3 bảng Giáp, Ất, Bính; sau đó sao ra 3 bản một cho Bộ Lễ lưu lại, một cho Văn Thư phòng (sau này là Nội Các), một bản giao cho quan trường để lo việc thi.

Trường thi Hội chỉ có 2 vi còn lại như thi Hương.

Thi Hội năm đầu tiên vẫn theo lệ cũ là 4 trường nên các Cử nhân vẫn phải nộp giấy cho đủ 4 trường thi để đóng quyển thi, trường nhất tới 3 nộp mỗi trường 20 tờ, trường 4 nộp 30 tờ.

Sau đó, quy định thi Hội chỉ còn 3 trường, nên Cử nhân chỉ cần nộp giấy trường nhất và nhì 20 tờ, trường 3 thì 40 tờ.

Sau đó, lại quay lại lối thi 4 trường như cũ, tới năm Càng Thịnh thứ 134 thì thí sinh phải tự đóng quyển thi.

Trong quyển thi ngoài việc phải khai thông tin giống thi Hương, Cử nhân còn phải ghi thêm mình là Cử nhân khoa nào vào dòng ghi thông tin cá nhân.

Về tổ chức nhân sự cho kỳ thi:

- Quan Chủ khảo 1 người , không câu nệ phẩm bậc cao thấp.

- Quan Phó Chủ khảo 1 người, cũng như trên.

- Quan Tri cống cử 2 người, dùng quan Tham tri trong các Bộ.

- Quan Ðề điệu Chánh và Phó 2 người, dùng chức Thiêm sự các Bộ

- Quan Ðồng khảo có 6 người, dùng quan Hàn lâm tự, ngũ phẩm.

- Các quan Giám Di phong, Soạn hiệu, Giám Ðằng lục, Giám Ðối độc.

Tất cả đều lấy 1 người, lấy trong các Lang Trung và chủ sự 6 Bộ.

- Lấy các thư lại nhỏ hàng bát, cửu phẩm ở các Bộ làm người chép quyển và viết bảng.

Mỗi loại chừng 20 - 25 người.

- 2 Giám thí, Tuần sát, dùng Thị vệ nhị, tam phẩm

- Quan Giám thí Nội liêm và Tuần sát Ngoại liêm, đều lấy mỗi chức 4 người chọn trong Phó vệ úy quân Thị trung và Thị nội.

- Cuối cùng cử lấy 20 lính coi giữ hòm ấn, hòm quyển ở Thí viện và 300 biền binh tuần phòng ngoài trường thi.

b) Thể thức thi

Thể thứ thi Hội đã được chúng tôi trình bày ở phần trước, ở đây xin không nói lại.

Trong bài thi Hội và cả thi Đình sau này các Cống sĩ không xưng mình là sĩ nữa mà xưng là thần.

Việc chấm điểm thi Hội thì lúc đầu vẫn dùng lối chấm Ưu, Bình, Thứ, Liệt như trong thi Hương.

Tới năm Càng Thịnh thứ 123 mới đổi phép sang chấm điểm phân.

Cụ thể hơn thứ tự tính điểm sẽ là:

- Hạng Ưu: Từ 10 tới 7 phân điểm.

- Hạng Bình: Từ 6 tới 3 phân điểm.

- Hạng Thứ: 1,2 phân điểm.

- Hạng Liệt: Không đủ 1 phân điểm (bất cập phân).

Coi như là trượt thi Hội.

Có thể nói thi Hội thì 10 phần chỉ đỗ được nửa phần, còn đâu đều trượt cả.

Cử nhân muốn được trúng cách vào thi Đình thì không được có bất cập phân và tổng số phần điểm 4 bài thi ở 4 trường cộng lại phải trên 10.

Tuy nhiên, nếu có 1 trường bất cập phân nhưng tổng điểm vẫn hơn 10 hoặc tổng cả 4 kỳ được từ 4 tới 9 phân điểm thì được cho vào hàng Phó bảng.

Học vị Phó bảng là do đặt thêm ra chứ các thời trước chưa có, nó dành cho người tuy không xuất sắc để vào được thi Đình nhưng cũng không kém tới nỗi trượt hẳn thi Hội, vẫn đáng hưởng chút ân điển triều đình.

Và Phó Bảng thì ngoài những người điểm thấp trong thi Hội như trên còn dành cho người có điểm thấp trong thi Đình nữa.

Quy định về số điểm để được trúng cách vào thi Đình cũng có thay đổi nhất định qua các thời ví dụ năm Càng Thịnh thứ 89 định rằng tổng phân điểm từ 8 trở lên là trúng cách.

Cống sĩ đi thi Hội và sau đó là thi Đình nếu phạm trường quy cũng các lỗi khiếm tỵ, khiếm đài.... sẽ bị xử tội cực kỳ nặng.

Các Cử nhân thi Hội cũng có chế độ bổ dụng riêng:

- Quy định các Cống sĩ hỏng thi Hội nếu muốn có thể xin về nguyên quán.

Đợi một thời gian đến đợt tuyển chọn quan chức triều đình sẽ lập danh sách xem xét bổ dụng.

- Số còn lại nếu có nguyện vọng muốn thi tiếp sẽ được cho vào Quốc tử giám học.

- Tới thời Càng Thịnh 212 cũng vẫn có lệ như trên, nhưng bổ sung thêm là nếu các Cống sĩ đã vào Quốc Tử Giám học, ai tình nguyện học để đợi khoa khác thì chuẩn y, còn nếu không thì sau 3 năm triều đình cho họ vào danh sách chờ bổ nhiệm.

- Các chức mà các Cử nhân thường được bổ vào là Huấn đạo, Giáo thụ các huyện, phủ.

Sau này, đến khi khuyết các chân tri huyện, tri châu thì cũng dùng các Cử nhân bổ vào nhưng ưu tiên cho ai đã từng giữ chức Huấn đạo, Giáo thụ.

- Năm Càng Thịnh 234, định điều lệ cứ sau mỗi kỳ thi Hội các khảo quan phải lập danh sách các thí sinh trượt thi Hội, chọn ra số đó ai văn lý khá điểm cao mà xếp theo thứ tự để bổ nhiệm.

- Tới năm Càng Thịnh 286 lại ra chỉ dụ như sau:

+) Các Cử nhân tình nguyện vào Quốc Tử Giám chờ khoa sau thì miễn bổ nhiệm.

+) Cử nhân trượt thi Hội nhưng tổng điểm cao được bổ làm Giáo thụ, Huấn đạo.

+) Các Cử nhân đã trên 40 tuổi bất kể dự thi bao nhiêu kì, Cử nhân 35 tuổi trở lên đã dự qua 2 kỳ thi Hội, muốn được bổ nhiệm, nếu ở địa phương thì quan địa phương lập danh sách, nếu ở Quốc Tử Giám thì Giám quan lập, đều nộp lên cho Bộ Lại để được bổ dụng.

Nếu các Cử nhân chỉ thi Hương không thi Hội thì quy định bổ dụng không có các điều trên mà chỉ cho vào danh sách chờ bổ nhiệm. tuy nhiên, như đã nói ở trên sĩ tử xưa ai đã đỗ thi Hương rồi thì hầu như đều tiếp tục đi thi Hội chứ không dừng lại.

2.3.

Thi Đình

Thi Đình tổ chức tại sân điện trong Đại Nội Sài Gòn, thời Càng Thịnh 76 tổ chức ở sân điện Cần Chánh, thời Càng Thịnh 134 đổi sang điện Khâm Văn trong vườn Cơ Hạ, tới năm Càng Thịnh 156 thì lại đổi về điện Cần Chánh.

Các phòng hoặc lều thì được dựng sẵn tại nhà Tả Vu và Hữu Vu.

Mỗi người trúng cách được Bộ Lễ phát cho một quyển thi 30 tờ và 20 tờ giấy trắng làm nháp.

Trước ngày thi 5 hôm sĩ tử phải đến trụ sở Bộ Lễ khai kĩ lại thong tin lần nữa, rồi cung khai tam địa lên mặt quyển thi, sau đó quan Bộ Lệ niêm phong quyển thi tới ngày thi phát cho sĩ tử.

Ngày thi Đìnhdo các quan trong Khâm Thiên Giám chọn ngày lành tháng tốt rồi tâu lên Vua, hạn tối đa là phải trong vòng nửa tháng từ khi thi Hội xong.

Về tổ chức nhân sự cho thi Đình:

- 1 quan võ hàng nhị phẩm trở lên làm Giám thí

- 2 quan Độc quyển, 1 quan truyền lô đều lấy quan văn từ tam phẩm trở lên.

- 2 viên quan Duyệt quyển lấy quan văn tam tứ phẩm trở lên.

- 2 quan Tuần la kiêm Hộ bảng dùng Quản vệ của đội túc vệ.

- 2 viên Tuần sát lấy từ các Thị trung, Thị nội, Cai đội.

- 2 quan Kinh dẫn dùng quan tứ phẩm thuộc Bộ Lễ.

- 1 viên Di phong, 2 viên Thu chưởng, 1 viên Ấn quyển và Thụ quyển.

- 2 viên Điền bảng và làm nhiệm vụ cấp quyển thi, dùng quan văn tứ ngũ phẩm trở lên.

- 6 viên đảm nhiệm việc cấp quyển thi và ghi chép đều lấy các lại viên ở Nội các.

Dù đời sau có biến đỏi ít nhiều nhưng đại thể nhân sự thi Đình là vậy

Tổ chức thi Đình như sau:

- Trước ngày thi 1 ngày qaun trông coi điện sẽ sẽ mang 2 án sơn son thiết vàng ra bày, 1 cái đặt giữ chính điện, một cái đặt giữa thềm điện.

- Tới ngày thi từ canh 5 (gần 3 giờ sang) các quan Giám thí, Đội quyển đều mặc triều phục chờ sẵn ở sân điện.

- Các thí sinh trúng cách mặc áo mũ chỉnh tể đứng đợi ở Tả và Hữu Túc Môn (sau là Đại Cung Môn).

- 2 quan Bộ Lễ đứng tại cổng lần lượt đọc tên thí sinh, số lẻ vào cử trái, số chẵn cử phải.

Quan Tuần sát đứng ngay gần cửa và kiểm tả các sĩ tử rồi mới cho qua.

- Quan Kinh dẫn sau đó dẫn sĩ tử vào chờ tại nhà Tả, Hữu Vu tại sân điện Cần Chánh.

- Đến giờ thi quan Thượng bảo mang tờ chế sách đến đặt ở Hương án giữa điện.

- Các quan Giám thí, Độc quyển cùng các quan coi thi khác vòa hành lễ 5 lạy 3 vái.

- Các viên Thư tả tiến hành sao chép đề thi cho mỗi thí sinh một bản.

- Quan Bộ Lễ dẫn các thí sinh vào điện hành lễ 5 lạy 3 vái, rồi quay lại chỗ cu đứng.

- Các viên Thư tả mang quyển thi, giấy nháp và bản sao đề thi cấp cho thí sinh.

- Nhận quyển xong thí sinh theo thứ tự lui về nhà Tả - Hữu vu ngồi vào phòng có ghi tên mình bắt đầu làm bài.

- Các quan sẽ lui hết về Duyệt Thị Đường, chỉ còn lại các quan Tuần la, Tuần sát cùng lính đi kiểm tra ở hành lang Tả - Hữu Vu.

Tuy nhiên, đã vào đến thi Đình rồi thì họa chăng chính Vua bảo các sĩ tử gian lận họ mới dám làm, còn không thì chả to gan mà liều cả.

Vì gian lận thi Đình mà được phát giác ra có thể bị khép vào tội rất nặng thậm chí tử hình.

- Làm bài xong, thí sinh đem nộp quyển cho các viên Tuần la, Tuần sát rồi theo thứ tự về.

- Các quan Giám thí, Độc quyển từ nhà Duyệt Thị Đường quay lại Tả - Hữu vu nhận quyển, đem đóng dấu rọc phách, bỏ vào hòm niêm phong.

- Sáng hôm sau Vua cùng các quan ngự triều thì đem dâng lên để được chấm.

- Chấm xong, tên tuổi người đỗ sẽ được lập danh sách sao ra 2 bản, một bẩn đưa cho Bỗ Lễ để dùng vào việc xướng danh, yết bảng; bản kia lưu trong tủ hồ sơ Nội các.

Về việc chấm thi, thì vào tới thi Đình rồi thí sinh chỉ còn phải làm đúng 1 bài thi, vẫn lấy số điểm phân mà tính cao thấp:

- Đệ nhất giáp:

+) 10 phân điểm: Đỗ Trạng nguyên.

+) 9 phân điểm: đỗ Bảng nhãn.

+) 8 phân điểm: đỗ Bảng nhãn.

- Đệ nhị giáp:

+) 7 tới 6 điểm: đỗ Hoàng giáp.

+) 5 điểm trở xuống: đỗ Tiến sĩ.

+) 5 điểm trở xuống đỗ Phó bảng.

Chỉ được 1, 2 phần điểm thì trượt.

3.

Lễ truyền lô, xướng danh và ban yến

3.1.

Lễ truyền lô

Lễ truyền lô, được tổ chức tại điện Thái hòa hoặc Ngọ môn.

Nếu tổ chức tại điện Thái Hòa, thì nghi thức như sau:

- Đầu canh năm, người ta nổ một loạt pháo mừng rồi kéo cờ vàng lên kỳ đài, tiếp đó kéo một lạt cờ xí nghi lễ lên.

- Trên điện Thái Hòa thiết lễ đại triều.

Giữa gian thứ nhất bên phải điện đặt 2 án sơn son thiếp vàng.

- Ngoài cửa Ngọ môn bá quan mặc triều phục đứng theo thứ tự đứng chờ.

- Quan Thượng bảo mang danh sách Tiến sĩ tân khoa đặt lên án thứ nhất, quan Thư tả đặt bàng vàng lên án thứ 2.

- Quan Giám thí, Độc quyển dẫn các Cống sĩ vào Văn công thự lãnh mũ áo mặc và đứng chờ ngoài sân điện.

- Đến giờ làm lễ, Vua ngự giá ra điện Thái Hòa, các quan tiến vào hành lễ 5 lạy 3 vái rồi sau đó theo thứ bậc đứng sang 2 bên.

- Quan Khâm mệnh tiến vào làm lễ phục mệnh, các viên chức khác trong thi Đình cũng vào hành lễ 5 lạy 3 vái.

Các tiến sĩ ở ngoài cũng hành lễ 5 lạy 3 vái.

- Thị vệ Đại thần đến quỳ ở gian thứ nhất bên trái của điện rồi tâu xin làm lễ truyền lô.

- Lãnh được chỉ Vua ban xong thì dập đầu tạ ơn rồi đi sang bên thềm gian thứ 2 bên trái điện xướng lên : "Truyền lô".

- Quan truyền lô mang danh sách người đỗ xuống, quan Bộ Lễ xướng: "Truyền lô".

- Quan truyền lô theo danh sách độc những người đỗ, xong thì giao lại cho quan Bộ Lễ tiếp nhận.

- Các tiến sĩ đồng loạt phủ phục xuống làm lễ 5 lạy.

- Thị vệ Đại thần lại đến bền thềm gian thứ nhất bên trái tâu xin được niêm yết bảng.

- Lĩnh chỉ xong, rập đầu đứng lên.

Các Thư tả mang bảng vàng trao xuống cho quan Hộ bảng, bảng vàng được đặt lên Vân bàn tức là chiếc mâm lớn vẽ mây.

Rồi quan Hộ bảng dẫn thị vệ ,đội nhã nhạc, nghi trượng với đầy đủ cờ, tán lọng...theo thứ tự mà ra cửa Ngọ Môn.

Đem đặt lên Long đình.

- Trong điện khi vua hồi cung thì ngoài cửa Ngọ Môn người ta mang bảng đến Phu Văn lâu niêm yết trong 3 ngày, rồi giao cho Quốc Tử giám giữ.

3.2.

Lễ ban yến

- Nếu ban yến ở công đường Bộ Lễ thì sẽ dựng rạp ngoài sân công đường, gian giữa để hương án các gian còn lại để ván, kỷ dọn yến.

- Ban yến tại hoa viên như vương Thư Quang, vương Thường Mậu thì rạp dựng ở cổng vườn, cũng giăng đèn hoa bày hương án và kỳ.

- Cỗ yến cũng chia ra làm 2 hạng, hạng trên nhất là cho quan Giám thí, Độc quyển, Truyền lô...và các quan coi thi, hạng dưới là cho tiến sĩ tân khoa và quan coi thi nhỏ.

Các tiến sĩ tân khoa được ngồi mâm riêng để tỏ rõ sự trọng thị.

3.3.

Ân tứ vinh quy.

Theo lệ sau khi kết thúc buổi ban yến tại vương thượng uyển hay công đường Bộ Lễ.

Các tiến sĩ tân khoa được vào ngắm vương thượng uyển.

Tranh trong sách Kỹ thuật của người Phù Nam miêu tả cảnh Tiến sĩ được cưỡi ngựa đi chơi các phố trong kinh thành.

Tiếp đến, mỗi người được cấp một lọng đen, một hồ lô đen, cùng 4 người lính hầu quân phục trang trọng và 1 con ngựa tốt, rồi các quan dẫn các tiến sĩ cưỡi ngựa đi các phố chính trong kinh đô, lính đi trước gọi loa xướng danh.

Mấy hôm sau, chọn ngày lành tháng tốt, các tiến sĩ được dẫn vào Văn Minh Điện để dâng biểu tạ ơn lên vua.

Nhà Vua sẽ hỏi han, úy lạo các tiến sĩ.

Đến hôm khác, các Tiến sĩ lại được đưa đến Văn Miếu để làm lễ tế.

Việc Ân tứ vinh quy về quê của các tiến sĩ được quy định: mỗi người được 2 phu gánh võng, 2 người cầm biển, 1 người mang đồ, tổng cộng 5 người.

Sau đó lại chia rõ làm 2 hạng, đỗ nhất giáp tiến sĩ mới được 5 người như trên, đỗ nhị giáp chỉ được cấp 4 người hông có phu mang đồ đạc.

Còn nếu tân khoa tiến sĩ muốn tự dùng tiền riêng thêm bao nhiêu người nữa thì tùy ý.

Về nghi trượng các tân khoa tiến sĩ được ban:

- Đỗ đệ nhất giáp được ban cờ lụa Lục nam màu đỏ có thêu chữ bằng tơ vàng nêu rõ học vị đạt được.

- Đỗ đệ nhị và tam giáp cờ bằng tơ thêu chữ vải nêu học vị.

- Tất cả các tiến sĩ được ban bảng son thếp hàng chữ vàng "Ân tứ vinh quy" (恩賜榮歸).

Các tiến sĩ về đến huyện rồi thì cả làng cả tổng lại chuẩn bị lễ rước như khi đi thi Hương về.

Về bổ dụng

- Đỗ đệ nhất giáp được vào hàm Chánh lục phẩm, thuộc nghạch Hàn lâm viện hàm Trước tác.

- Đỗ đệ nhị và đệ tam giáp được bổ vào hàm Tòng lục phẩm hoặc Chánh thất phẩm, nghạch Hàn Lâm Viện hàm Tu soạn hoặc Hàn Lâm Viện hàm Biên tu.

- Từ các phẩm hàm trên các tiến sĩ sẽ được nhận chức như Tri phủ, Thự tri phủ, Đồng Tri phủ...
 
Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Sơ khởi: Lạc Tôn thống nhất đồng bằng sông Sài Gòn


Sau thời kỳ đá mới, các bộ lạc, thành bang khác quanh khu vực đồng bằng sông Sài Gòn sơ khởi cũng trỗi dậy hùng mạnh, Sài Gòn vừa phải đấu tranh lẫn hòa hoãn với các đối thủ của mình đặc biệt là bộ lạc Bài Râu phía Đông và bộ lạc Tân Lan ở phía Nam, có lúc Sài Gòn phải kết làm đồng minh với 2 dân tộc này để tránh xung đột quân sự.

1) Thường dân có vị trí xã hội nhất định

Sự ra đời của thể chế từ công xã nguyên thủy sang có giai cấp kéo theo một hậu quả là trong một thời gian ngắn kinh tế bị suy thoái, nó dẫn tới hậu quả là một mâu thuẫn lâu dài được bắt đầu.

Lúc này tại đồng bằng sông Sài Gòn tồn tại 2 giai tầng cơ bản là thường dân và quý tộc, các quý tộc có quyền lực chính trị, kiểm soát viện nguyên lão, quyền đó truyền lại cho con cháu, thường dân không có quyền can dự vào Viện nguyên lão.

Thời kỳ đầu vấn đề này hoàn toàn không có gì to tát bởi tầng lớp thường dân khi đó chưa có điều kiện kinh tế.

Tuy nhiên sau thời công xã nguyên thủy, bắt đầu phát triển tầng lớp thường dân đông lên, số lượng người khá giả, địa chủ nhỏ, thương nhân, phú nông cũng đông lên, khi đã có quyền lực nhất định về kinh tế hẳn nhiên họ tiến tới đòi quyền lợi chính trị.

Sự suy thoái kinh tế vào thời điểm nền cộng hòa công xã nguyên thủy càng khiến mâu thuẫn gay gắt hơn, khi tầng lớp thường dân cho rằng chính sự độc truyền quyền lực chính trị của các quý tộc viện nguyên lão đã dẫn tới suy thoái kinh tế.

Năm 3.500 TCN, đại diện tầng lớp thường dân gồm các địa chủ nhỏ, dân khá giả, phú nông, nghệ sĩ độc lập tuyên bố sẽ rời Sài Gòn di cư sang vùng nếu sự bất bình đẳng về chính trị vẫn còn.

Trong thời kỳ mà Sài Gòn vẫn tổ chức quân đội theo kiểu tự cấp tự túc này thì tầng lớp thường dân trung lưu có số lượng đông nhất trong quân đội, nếu họ rời đi về căn bản quân đội của Sài Gòn không còn hoặc suy yếu.

Sau nhiều tranh đấu cuối cùng tầng lớp thường dân buộc giới qúy tộc nhượng bộ, theo đó 2 ghế hộ dân quan sẽ được dành cho người có xuất thân thường dân.

Tới năm 3.449 TCN, số hộ dân quan xuất thân thường dân được tăng lên 10, được trao đặc quyền bất khả xâm phạm.

Nưm 3.471 TCN, các hộ dân quan xuất thân thường dân đồi hỏi phải có hội đồng người thường dân hoạt động bên cạnh các hội đồng qúy tộc đang tồn tại, ngoài ra họ yêu cầu công khai luật pháp và bãi bỏ quyền chỉ có các hộ dân quan quý tộc được phép diễn giả luật pháp.

Tới năm 3.450 TCN, bộ luật công khai thành văn đầu tiên của Sài Gòn được ban bố, nó được viết lên 12 chiếc bàn đá và trưng bày ở quảng trường, đây là cơ sở cho mọi luật pháp của Sài Gòn sau này.

Năm 3.421 TCN, các quan trông coi ngân khố đầu tiên được chọn ra từ người xuất thân thường dân.

Từ những năm 3.

367 TCN 1 trong 2 quan chấp chính theo quy định thì phải có 1 người là xuất thân thường dân.

Tới năm 3.287 TCN, luật Lạc Bảo được ban hành (Tên luật cũng là tên vị phán quan đề ra luật) luật này quy định cách bỏ phiếu của 1 khu vực bỏ phiếu, cách bỏ phiếu của hội đồng, thừa nhận quyền công dân và quyền lợi chính trị - khinh tế - xã hội của 1 bộ phận người bình dân.

Điều luật này về lý thuyết đã giải quyết 1 cuộc cách mạng xã hội mà ít gây đổ máu.

2) Mở rộng bờ cõi và xâm lược.

Trong thời kỳ này dù có lúc nhiễu nhương lẫn ổn định thì Sài Gòn vẫn mở rộng tầm ảnh hưởng lẫn sự bành trướng lãnh thổ của mình.

Về phía Bắc cuộc bành trước vượt qua sông Đồng Nai, chặn đầu thành phố Biển Khánh giàu có của Nại Đông, kiểm soát một mạng lưới đường giao thông lớn.

Cuộc chiến giữa Sài Gòn và Biển Khánh kéo dài hơn 40 năm, tới khi Lạc Tôn lên nắm quyền chấp chính ông đã tiến hành một cuộc chiến liên tục, thậm chí không ngừng nghỉ trong mùa thu hoạch.

Vào năm 3.396 TCN lợi dụng một đường thoát nước quân Sài Gòn bí mật lẻn vào chiếm được thành Biển Khánh.

Với thắng lợi này chỉ sau 1 đêm lãnh thổ Sài Gòn đã rộng gấp đôi và đường vào Bảo Tàu được mở ra.

Tuy nhiên vài năm sau đó Sài Gòn lại phải đối mặt với hiểm họa mới là từ một nhóm bộ tộc Lâm Ninh tiến hành chinh phạt khắp đồng bằng sông Sài Gòn.

Sài Gòn trong cuộc chiến năm 3.390 TCN đã không đủ sức chống lại những người Lâm Ninh thiện chiến và đông gấp 2 lần, trong trận Môn Chi 15.000 lính đã bị tiêu diệt gần hết.

Lần đầu tiên trong lịch sử Sài Gòn thất thủ, cư dần đầu hàng, và phần lớn tháo chạy.

Chỉ trừ đội Cấm vệ quân cùng một số nguyên lão trong đó có Lạc Tôn vẫn bám trụ quyết chống cự trên đồi Gò Cao và thật ngạc nhiên là họ cầm cự được tới khi cuộc cướp bóc và hủy diệt Sài Gòn của quân Lâm Ninh qua đi.

3) Làm chủ đồng bằng sông Sài Gòn

Quân Lâm Ninh rút đi sau hơn 30 ngày cướp bóc Sài Gòn, thành phố bị hủy hoại nặng nề, tuy nhiên Lạc Tôn đã kêu gọi cư dân Sài Gòn quay lại tái xây dựng thành phố.

Năm 3.378 TCN để đề phòng thảm họa Lâm Ninh, bức tường Lũy Bán Bích được xây dựng quanh Sài Gòn dày 3,6 m; cao 9 m; bao quanh một khu vực rộng 100 km2.

Sài Gòn an toàn trước bộ lạc Lâm Ninh và Bì Bù

Tuy vậy sau đó thì các lộn xộn với các đồng minh của Sài Gòn lại xảy ra, sau một quá trình đàm phán hòa bình nhưng thất bại chiến tranh giữa Sài Gòn và đồng minh nổ ra, kéo dài 4 năm.

Cuối cùng năm 3.338 TCN Lạc Tôn chiến thắng, tất cả các thành bang đều nằm dưới quyền cai trị của Sài Gòn nhưng vẫn được tự trị.

Sau đó một cuộc chiến tranh khác nổ ra lần này là chống lại bộ lạc Lâm Ninh kéo dài gần 5 năm năm 3.321 TCN, Sài Gòn thắng một trận lớn là trận Lâu Bang.

Năm 3.290 TCN chiến tranh Sài Gòn - Bì Bù chấm dứt với phần thắng thuộc về Sài Gòn, lãnh thổ của bộ lạc Bì Bù sát nhập vào Sài Gòn.

Tới lúc này Sài Gòn thiết lập liên hệ với các thành bang Mỹ Công ở phía Nam đồng bằng sông Sài Gòn, năm 3.280 TCN Lạc Tôn gây xung đột với thành bang Tân Lan dẫn tới chiến tranh

Thành bang này thuê quân đội vua Kiến Trọng của Đức Trí giúp mình chống lại Sài Gòn.

Quân đội của Lạc Tôn lúc đó là đội quân tinh nhuệ nổi tiếng, với voi chiến trong đoàn quân của mình, Lạc Tôn đã chiến thắng và sáp nhập Đức Trí và Tân Lan.

Sau đó Lạc Tôn đã nhanh chóng điều chỉnh chiến thuật để dánh bại đội quân dùng trường thương và làm rối loạn đội voi của Bài Râu, Thủ Căng, Bảo Tàu.

Sau đó Sài Gòn đã thôn tính thành công lãnh thổ của 3 bộ lạc trên.

Tới năm 2.982 TCN, Lạc Tôn đã gần như làm chủ hoàn toàn đồng bằng sông Sài Gòn.

Đến thời điểm này lãnh thổ của Lạc Tôn (bộ lạc Sài Gòn) đã tiếp giác lãnh thổ của Âu Mã của bộ lạc Cần Thơ.
 
Đế Quốc Phù Nam Sử Ký
Sơ khởi: Âu Mã thống nhất đồng bằng sông Cửu Long


1) Chiến tranh với Hiền Quốc lần 1 (3.264–3.241 TCN)

Hiền Quốc vốn được thành lập từ các nhà buôn từ khoảng 4.500 TCN, nó nhanh chóng vương lên thành một cường quốc, vào thời điểm những năm 3.260 TCN nó bành trướng suốt vùng duyên hải từ Bạc Sóc đến Hiền Quốc, kiểm soát gần hết đảo Phú Thủy.

Lúc này Cần Thơ còn nhỏ bé và kém giàu có hơn cả Hiền Quốc, từ những năm 3.509 TCN Hiền Quốc và Cần Thơ đã có những hiệp ước hữu hảo đầu tiên.

Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, vào năm 3.264 TCN Cần Thơ và Hiền Quốc trở mặt thành thù, chính thức gây ra chiến tranh Rạch Cấm kéo dài hơn 10 năm với nguyên nhân trực tiếp là do sự kêu gọi hỗ trợ của Hồng Nan (Tiểu quốc vùng Đồng Ruộng) nhưng nguyên nhân sâu xa thực chất là tới từ xung đột buộc phải có và cần được giải quyết giữa 2 thế lực đang lên.

Điều đó phản ánh một phần qua quyết định lạ lùng của Viện nguyên lão khi đồng ý cho Cần Thơ tham gia trợ giúp Hồng Nan.

Cũng cần nói thêm về mặt quân sự quân đội của Hiền Quốc được tổ chức dựa rất lớn trên các lực lượng lính đánh thuê, họ được trả lương theo kỳ hạn và do các tướng lĩnh mỗi đạo quân lãnh đạo.

Điểm mạnh của tổ chức quân đội kiểu này, là họ có thể tập hợp quân đội nhanh chóng, không mất công đào tạo, trang bị binh lính.

Tuy nhiên với quân đội có lượng lính đánh thuê quá đông thì lòng trung thành và tinh thần chiến đấu luôn là cả một vấn đề, lính đánh thuê dễ chạy trốn, phản bội, bất tuân lệnh, binh lính đánh thuê của Hiền Quốc lại thường chỉ nghe tướng chỉ huy đơn vị của họ, bản thân các tướng lĩnh khi chiến thắng ít được ủng hộ, thăng thưởng xứng đáng còn nếu để thua thì bị trừng phạt nặng.

Lỗ hỗng về mặt quân sự này của Hiền Quốc trong thời kỳ đầu chiến tranh Rạch Cấm lần I chưa gây ảnh hướng lớn lắm, vì Hiền Quốc có các thắng lợi bước dầu, họ cũng có lực lượng thủy quân mạnh nên dễ dàng áp đảo Cần Thơ vốn gần như xa lạ với thủy chiến thời điểm đó.

Thiếu hạm đội thuyền chiến Cần Thơ quyết định xây dựng một hạm đội, bắt chước mẫu thuyền của Hiền Quốc trừ việc được bổ sung một vũ khí mới là Ô Côn, một loại cầu lắp chông, nó sẽ giúp tàu chiến Cần Thơ móc vào thuyền địch, ở trên mặt nước thủy binh của Cần Thơ không thể mạnh bằng của Hiền Quốc nhưng bộ binh Cần Thơ thì mạnh hơn.

Chiếc cầu kéo Ô Côn giúp Cần Thơ phát huy được thế mạnh của mình, khi tàu Hiền Quốc đã bị móc vào bộ binh của Cần Thơ từ các thuyền chiến sẽ xông lên đánh xáp lá cà như trên đất liền để hạ thủy binh Hiền Quốc.

Với cải tiến này năm 3.259 TCN Cần Thơ đã giành thắng lợi trước Hiền Quốc trong thủy chiến sông Hậu.

Tuy vậy chiến sự sau đó vẫn trở nên bất lợi cho Cần Thơ khi cử quân phản công tới Cà Nâu do Âu Ba chỉ huy, sau những thắng lợi bước đầu Âu Ba bị thua tan tác vào năm 3.255 TCN trong trận U Mẫn, 12.000 lính Cần Thơ bị giết, Âu Ba bị bắt làm tù binh (Sau đó được trao trả về cho Cần Thơ).

Thảm bại năm 3.255 TCN chưa dừng ở đó khi một thời gian sau hạm đội chiến thuyền tiếp viện tới Cà Nâu của Cần Thơ lại thiệt hại nặng nề bởi 1 cơn bão.

Cần Thơ tái xây dựng một hạm đội khác và tới năm 3.241 TCN đã đánh bật quân Hiền Quốc ra khỏi đảo Hải Tân, trận đảo Hải Tân cũng là trận đánh kết thúc chiến tranh Rạch Cấm lần I.

Sau khi thất trận Hiền Quốc buộc phải bỏ vùng lãnh thổ đã chiếm được là Bạc Sóc.

Cần Thơ chiến thắng trong Chiến tranh Rạch Cấm I bằng sự gan lì, biết điều chỉnh để thích nghi và khéo léo tận dụng các đồng minh Cà Nâu, Bạc Sóc trung thành của mình.

2) Cuộc chiến hao người tốn của lần 2 với Hiền Quốc (3.218–3.201 TCN)

Sau cuộc chiến Rạch Cấm lần I, Hiền Quốc rơi vào hỗn loạn trong một thời gian do các lực lượng quân đánh thuê nổi loạn.

Năm 3.221 TCN con trai Hàn Bảo là Hàn Âu lên nắm quyền thay cha và quyết chí tiến hành một cuộc chinh phạt vào Cần Thơ (khi đó Âu Mã đang làm thủ lĩnh).

Năm 3.218 TCN Hàn Âu dẫn đầu một đội quân gồm 37 voi chiến hành quân vượt sông Hậu.

Tài năng quân sự của Hàn Âu cộng với sự lơ là cảnh giác của Âu Mã ở Cần Thơ đưa đến một loạt chiến thắng của Hiền Quốc.

Sau trận Đại Ôn năm 3.216 TCN, Cần Thơ đã ở vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", khả năng tự bảo vệ bị mất, gần như không còn gì cản nổi Hàn Âu.

Đáng ngạc nhiên là chỉ với sự hợp sức của một số thành phố liên minh như Vĩnh Tâm, Bến Đình, Sóc Côn thành Cần Thơ đã tìm cách xoay sở và đứng vững trước Hàn Âu.

Sau trận Đại Ôn dù đang thắng thế nhưng "Người biết cách giành chiến thắng nhất, Hàn Âu, cũng lại là người không biết cách tận dụng chiến thắng đó nhất".

Sau đại thắng Đại Ôn, Hàn Âu không tiến về Cần Thơ mà án binh gửi sứ giả đàm phán.

Với một sự điềm tĩnh và dũng cảm hiếm có viện nguyên lão sau đó gửi quân đội tới Sa Đẩu đánh vào hậu phương của Hàn Âu do Sao Lâm làm chỉ huy.

Sau vài trận thua ban đầu Sao Lâm đã tiến tới được Sa Đẩu vào năm 3.210 TCN, 4 năm sau đó quân đội Hiền Quốc tại Sa Đẩu lần lượt bị đánh bại hoặc rút lui, Cần Thơ chiếm Sa Đẩu chia nó thành 2 tỉnh.

Trong khi đó, Hàn Âu cùng quân chủ lực vẫn đang mắc kẹt tại Lai Vũ, Âu Mã thực hiện chính sách mà ngày nay ta gọi là "tiêu thổ kháng chiến", được đề ra bởi Âu Vũ.

Theo đó, các nông trại, làng mạc của trong khu vực Hàn Âu đóng quân hoặc sắp tiến tới đều bị phá hủy, người dân được kêu gọi hoặc cưỡng bức di dời.

Điều này khiến cho quân đội của Hàn Âu bị sa lầy vì không có nguồn tiếp viện trên lãnh thổ địch nhưng cũng làm quân Âu Mã thiệt hại nặng không kém.

Sau cùng cuộc chiến hao người tốn của này của cả Hàn Âu lẫn Âu Mã đến hồi kết vào năm 3.204 TCN, Sao Lâm vượt biển đổ bộ vào lãnh thổ của Hiền Quốc, Hàn Âu buộc phải rút về bảo vệ phần trung tâm của đế quốc.

Trong trân Hiền Quốc năm 3.202 TCN, cuối cùng người Cần Thơ đã trả được món nợ của trận Rạch Cấm trước đó 14 năm, Hàn Âu bị Sao Lâm đánh bại, các đội voi chiến của Hàn Âu bị vô hiệu hóa và tiêu diệt.

Với thật bại của Hàn Âu, Hiền Quốc chấp nhận giảng hòa, quy hàng Âu Mã.

Về phần Hàn Âu, sau khi bại trận ông mất uy tín với Hiền Quốc, dần dần bị loại khỏi vòng chính sự, sau đó bị lưu đày rồi qua đời ở Lai Vũ năm 3.181 TCN.

3) Cần Thơ mở rộng về phía Tây

Mặc dù sau này còn một cuộc chiến tranh Rạch Giá nữa với Hiền Quốc nhưng về cơ bản sau chiến tranh Rạch Cấm lần II đã đánh dâu mốc quan trọng bậc nhất trong lịch sử Cần Thơ, từ thời điểm đó phía Đông sẽ do Cần Thơ cai trị.

Phía Tây lúc này vấn đề phức tạp với Cần Thơ là vua Hàn Lâm của Tịnh Bê đang làm chủ khu vực Tây Cần Thơ.

Vào năm 3.214 TCN khi Âu Mã đang khốn đốn bởi Hàn Âu, Hàn Lâm đã liên minh với Hiền Quốc.

Năm 3.197 TCN, Âu Mã can thiệp quyết liệt hơn và đánh bại Hàm Lâm.

Tướng Trần Võ sau đó đã hứa "tự do của bộ lạc Lai Vũ" , theo đó Âu Mã cho phép các thành bang Lai Vũ được tự trị.

Năm 3.190 TCN, Âu Mã một lần nữa đánh bại và sáp nhập Cái Đề

Sau đó, Âu Mã thiết lập cảng tự do tại Cái Đề, nó nhanh chóng thành 1 trung tâm thương mại rất lớn ở Đông đồng bằng sông Cửu Long, tấp nập các nhà buôn.

Năm 3.168 TCN, Âu Mã một lần nữa đánh bại Vị Tần.

Cuối cùng vào năm 3.146 TCN, toàn bộ lãnh thổ Vị Tần cùng phần còn lại của Trà Vân sát nhập thành 1 tỉnh của Cần Thơ.

Năm 3.133 TCN, vị vua cuối cùng của Cao Lãnh qua đời đã di chúc cho vương quốc này thần phục Âu Mã, lãnh thổ Cần Thơ rộng thêm.

Năm 3.002 TCN, Âu Mã đã thống nhất toàn bộ các bộ lạc ở đồng bằng sông cửu Long từ các đảo Phú Thủy, Hải Tân, Côn Châu, từ bờ Hiền Quốc, qua Rạch Cấm, U Mẫn, Bạc Sóc, Sóc Côn, đến các tiểu quốc ở Cai Bình, Vĩnh Hiên, Mỹ Thơm.

Đến thời điểm này lãnh thổ của Âu Mã (bộ lạc Cần Thơ) đã tiếp giác lãnh thổ của Lạc Tôn của bộ lạc Sài Gòn.
 
Back
Top Bottom