Cập nhật mới

Khác Đề Hồ Truyện

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
292361007-256-k528006.jpg

Đề Hồ Truyện
Tác giả: user190057342732
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Đề Hồ Truyện là một bộ truyện "Dã Sử, Quân Sự, Kỳ Ảo" dài kỳ, gồm nhiều tập.

Hiện tôi còn vài chương nữa là hoàn thành tập một.

Bộ truyện này quay quanh cuộc sống và con đường binh nghiệp của một nhân vật tên Phạm Thân, người Quảng Nam, sống vào thế kỷ 16.

Bắt đầu từ giữa những năm chiến loạn của nước Đại Việt , dưới thời kỳ Nam - Bắc triều, chiến tranh giữa hai thế lực, Lê Trung Hưng và nhà Mạc, cho đến đầu giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh.

Qua góc nhìn của Phạm Thân, Hầu tôi đầu tiên là muốn miêu tả về cuộc sống của con người nước Việt trong thời kỳ này, sau là cảnh chiến đấu ác liệt, tình thân, tình bằng hữu, tình yêu và cả sự mưu mô, tham vọng của con người.

Trong truyện, ngoài cảnh chiến sự đánh nhau, thì tôi còn khai thác về các loại truyền thuyết dân gian, yêu ma quỷ quái, nhân vật và giai thoại lịch sử.

Nhưng nếu các bạn muốn xem truyện chưởng hay phép thuật kinh thiên động địa, thì rất tiếc là không có.

Các yếu tố kỳ ảo trong truyện, có người mê tín thì tin nhiệm màu, nhưng cũng có kẻ sĩ phu lý giải chân tướng theo hướng khác biệt.

Không để các bạn đợi lâu, ta cùng đến với Đề Hồ Truyện.

Tái Bút: Chuyện trên hư hư thực thực, thần thoại, kỳ ảo nên chẳng rõ thật được mấy phần.

Các bạn đọc thì cứ xem như giải trí.

Mọi sự tương đồng với con người, địa danh, sự việc ngoài đời thật thì chẳng qua chỉ là trùng hợp.

Đề Hồ Hầu.



vietnam​
 
Đề Hồ Truyện
Chương Một


Năm Nhâm Tý, 1552, Ải Trung dưới chân núi Tam Điệp, ngoại biên Trấn Thanh Hoa, Đại Việt (1).

Mặt trời tháng mười một lúc ẩn lúc hiện sau những tầng mây.

Xứ Thanh đang vào giữa mùa đông.

Khí trời giá lạnh, lại hay có mưa.

Cỏ cây, con người vừa trải qua một trận lụt tháng trước giờ lại tiếp tục hứng chịu một mùa đông, tuy không quá khắc nghiệt, nhưng cảnh vật không tránh khỏi đìu hiu.

Trời lạnh buốt nhưng hai nghìn binh sĩ quân Lê (2) đều đang toát mồ hôi.

Nơi họ đang đứng là một thành lũy nằm giữa một hẻm núi, chắn ngang con đường Thiên Lý hướng lên núi Tam Điệp.

Nơi này thường được gọi là ải Trung.

Đây là một trong ba cửa ải được quân Lê xây dựng.

Mục đích là bảo vệ ba con đường từ phía Bắc dãy Tam Điệp vào Thanh Hoa.

Ba ải gọi lần lượt là "Tả, Trung, Hữu".

Thành lũy này cao hơn hai trượng, dài hơn một dặm (3), được đắp bằng đất nện, lại gia cố thêm bằng đá tản ngoài bề mặt, nhìn chung rất rắn chắc.

Ngoài hai tháp canh được dựng bằng gỗ, trên bờ thành cón thiết kế thêm mười lỗ châu mai.

Dưới thành là một cổng vòm lớn.

Cách lũy đất gần hai dặm là quân Mạc với quân số gấp ba lần quân Lê.

Các binh sĩ Mạc quân với binh khí sáng choang, cờ xí ngợp trời đang dàn trận chắn ngang một khoảng đất rộng.

Xen kẽ những lá cờ đỏ với chữ "Mạc" màu trắng to tướng, là những lá cờ chữ nhật dài, màu xanh, trên thêu ba chữ đỏ "Yên Khang Hầu".

Trong trận hình quân Mạc có gần nghìn tay súng, năm trăm kỵ binh, một nghìn cung thủ, một nghìn trọng bộ binh trang bị đao lớn, giáp sắt.

Mấy nghìn còn lại là binh lính trang bị nhẹ với giáo dài, giáp độn, gọi là "khinh bộ binh".

Ngoài ra còn có bốn khẩu pháo thần công loại trung và nhiều thang bay công thành.

Quan cảnh đông đúc kèm đám khói súng bay lãng đãng, sau vài lần điểm hỏa của bốn khẩu pháo, thể hiện rất đúng với câu "người đông thế mạnh".

Pháo quân Mạc đã nã một đợt đạn thị uy.

Đạn đi xa nhưng cũng chỉ chạm vào chân thành lũy.

Bên quân Lê cũng không kém, dùng tám khẩu pháo, có phần cũ kỹ hơn, bắn trả một đợt.

Pháo đời cũ nổ thì to nhưng bắn không được xa, đạn bay chưa đến được chân quân Mạc đã đâm xuống đất.

Quân Mạc bắt đầu cười cợt, chế giễu ầm ĩ.

Ngay sau đó năm trăm kỵ binh của Mạc quân được xuất ra.

Chúng chia thành nhiều tốp chạy vào phạm vi ba trăm trượng trước lũy đất, ra trò chửi rủa khiêu khích.

Tướng trấn giữ ải Trung là một vị Quản lĩnh, hàm chánh ngũ phẩm, thuộc quân Tiền khuông (4).

Người này tuổi đã ngoài năm mươi, thân thể không to lớn nhưng rất tráng kiện.

Ông theo quân Lê từ ngày vua Lê về lại đất Thanh Hoa.

Bao năm qua, ông trải qua nhiều trận mạc, dũng cảm lập công, giết không ít giặc.

Đến khi gần năm mươi tuổi mới lên được chức Quản lĩnh.

Cách đây hai năm, ông được phủ Đô đốc tin tưởng giao trọng trách chỉ huy hơn hai nghìn binh giữ ải.

Quản lĩnh gặp địch đông không loạn, bố trí binh sĩ và phu dịch vận chuyển các món gạch đá, dầu lửa... lên lũy, đặt pháo vào các lỗ châu mai, lại cắt đặt xạ thủ ngồi thấp, nấp dưới bờ thành.

Sau ông ghé mắt qua bờ thành xem xét tình hình.

Dựa vào kinh nghiệm lão luyện ông nhận định quân Mạc tuy có phần áp đảo về số lượng nhưng chưa hẳn là muốn cướp ải.

Quân số gấp ba đã đủ để công hạ thành lũy, nhưng muốn giữ được ải thì nhiêu đây chưa đủ.

Lại thấy lửa hiệu ở hai ải khác cũng đang bốc lên cầu viện, rõ ràng là quân Mạc đã chia quân đánh ba ải.

Vị Quản lĩnh nghi ngờ quân địch rất có thể chỉ mang ý đồ dò thám thực lực các ải hoặc khả năng khác là nghi binh.

Sợ là phòng tuyến bên sông Cán sắp bị đại quân Mạc tấn công.

Vị tướng này tuy chưa từng học qua binh pháp, nhưng sau nhiều năm đánh nhau với địch, đầu đuôi cũng biết ít nhiều.

Các dự đoán của ông đều có lý, xong "binh tất yếm trá", kẻ địch khó dò, và với tình hình trước mắt, ông cũng không thể quản nhiều, trước tiên phải làm tròn nhiệm vụ giữ ải.

Các toán kỵ binh quân Mạc chạy vòng tròn trước lũy, lúc nhanh lúc chậm, diễu võ giương oai.

Nhìn ngoài thì như bỡn cợt, nhưng luôn giữ một khoảng cách, tầm một trăm năm mươi trượng, với cửa ải.

Đây là khoảng cách an toàn, tên đạn bắn không tới.

Còn pháo thì độ chính xác không cao, nên thường sẽ không đem ra bắn các đội nhóm nhỏ.

Trò này thường khiến các viên tướng trẻ, thiếu kinh nghiệm tức tối, dễ phạm sai lầm xua quân ra thành đâm chém.

Nhưng viên Quản lĩnh là người từng trải, đã không còn lạ cái trò này.

Y lệnh cho binh sĩ giữ nguyên vị trí ẩn nấp trên lũy.

Đồng thời đốt lửa hiệu cầu viện từ pháo đài Đồng Khanh cách đó chừng năm dặm.

Bất thình lình, có một tay võ úy tức mình, đứng ra khỏi chỗ nấp trên lũy, chĩa cung xuống chửi lại quân Mạc.

Ngay lúc này, một tên kỵ binh mặc trọng giáp, khoác áo choàng màu xanh, giục ngựa tách ra khỏi đám kỵ binh quân Mạc, chạy lấn vào gần cửa ải.

Tên kỵ sĩ tướng mạo hùng dũng, tuổi tác chỉ khoảng độ hai lăm.

Dưới chân y là một con ngựa chiến toàn thân trắng muốt, ngực nở, gân xương phân tách rõ ràng chắc chắn, bốn chân cứng cáp, chạy nhanh như chớp.

Thiên hạ đồn rằng, cứ một trăm con ngựa tốt thì mới chọn được một con ngựa kỳ (hay), dùng cho chiến trận, nhưng phải chọn trong năm trăm con ngựa kỳ mới lựa được một con "Bảo mã".

Tây Bắc lại có giống ngựa trắng rất nổi tiếng, tám phần con bạch mã này chính là "Bảo mã Tây Bắc".

Ngựa vừa chạy vào, người trên lưng ngựa vừa giương súng.

Thân thủ linh hoạt, hai tay không hề vì cưỡi ngựa mà bị chao đảo.

Thấy tên kỵ sĩ chạy vào, viên võ úy liền bắn tên.

Cung chiến với lực kéo sáu bảy chục cân, bắn mũi tên đi nhanh như gió.

Mũi tên dài hai mươi tấc, đầu tên hình lưỡi mác, sắc bén vô cùng, mang theo sát khí nòng đậm, ngắm thẳng đầu kỵ sĩ lao tới.

Khi chỉ còn cách mũi tên vài tấc, tên kỵ sĩ liền lắc đầu, nghiêng qua một bên.

Mũi tên quẹt một đường vào mũ trụ bằng thép, không gây ra một tổn hại nào cho tên kỵ sĩ.

Võ úy trên thành thất kinh, vội vàng rút ra mũi tên khác.

Nhưng chỉ nghe "đoàng" một tiếng giòn giã, trên áo giáp viên võ úy đã xuất hiện một lỗ đạn ngay giữa ngực.

Viên đạn phá nát những mảnh giáp, gần như đâm xuyên ra sau.

Viên võ úy trúng đạn liền ngã ngửa ra chết ngay.

Sau ba giây kinh hãi, quân Lê trên thành đồng loạt nổ súng, giương cung bắn xuống.

Nhưng cũng nhanh như lúc vào, kỵ sĩ áo xanh đã nhanh chóng rút ra, chạy vào lại đội hình kỵ binh quân Mạc.

Bỏ lại sau lưng mưa tên bão đạn của quân Lê bằng một tràng cười đắc thắng.

Sau một màn kịch tính, quân Mạc reo hò đầy phấn khích, đồng loạt hô to: "Yên Khang Hầu!

Yên Khang Hầu!".

Giờ quân Lê trên thành mới biết kỵ sĩ áo xanh kia chính là chủ tướng của đám quân Mạc trước mặt.

Yên Khang hầu vừa vào lại đội hình thì quân Mạc cũng bắt đầu tiến lên.

Sĩ khí quân Mạc lên cao liền nhân cơ hội chuẩn bị công thành.

Viên Quản Lĩnh trên thành mặt mày sa sầm hẳn lại.

Ông biết nếu quân Mạc đánh lên với số lượng áp đảo này quân Lê sẽ khó lòng trụ được tới lúc có cứu viện.

Trong đầu lo lắng, ông nghĩ lung liền nảy ra một ý.

Ông dùng giọng tức giận chửi to về phía quân Mạc:

"Hay cho con khỉ con!

Chỉ giỏi mấy trò khỉ!

Trên đất bằng, quang minh chính đại là mi không còn mạng đâu con à!"

Trò chơi chữ để chửi nhau ở thời này khá phổ biến, ai cũng biết "hầu" còn có nghĩa là khỉ.

Binh sĩ trên thành đang tức tối cũng phụ họa theo viên Quản Lĩnh, chửi xuống thành.

Kỵ sĩ áo xanh nghe thấy, liền phất tay dừng đội hình quân Mạc lại, quay mặt về phía cửa ải nói to:

"Bọn mày đừng ỷ có cái lũy bé bé mà láo toét!

Có giỏi thì cử đứa nào mạnh xuống đây đấu với bổn hầu!...Không thì chính con chó già canh cổng xuống luôn đây đấu với ta.

Ta hứa bắt sống chứ không giết!

Để xem ai lấy mạng ai!"

Chú Thích:

1.

Dãy núi Tam Điệp là dải núi cuối cùng của khối núi cao đá vôi Hòa Bình - Sơn La đâm ra gần sát biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.

Dãy núi này chia vùng đồng bằng duyên hải thành hai phần châu thổ sông Hồng và sông Mã, nên nó được xem là ranh giới giữa miền Bắc và miền Trung.

Núi Tam Điệp có giá trị như một bức tường thành thiên nhiên lợi hại ngăn cách hai vùng Ninh Bình – Thanh Hoá và án ngữ các đường thuỷ bộ từ Bắc vào Nam từ xa xưa.

2.

Lê Trung Hưng - (1533–1789) là giai đoạn tiếp theo của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê (tiếp nối nhà Lê Sơ) trong lịch sử Việt Nam.

Đây là triều đại dài nhất so với các triều đại Việt Nam với 256 năm.

Cuối triều Lê Sơ, năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Chiêu Tông lập ra nhà Mạc.

Năm 1533 cựu thần nhà Lê Sơ là Nguyễn Kim, tôn con vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh lên làm vua tại đất Ai Lao (Lào).

Đầu năm 1540, Kim đưa Vua về chiếm đất Thanh Hóa, Nghệ An, chiêu mộ được nhiều nhân sĩ, lập căn cứ chống nhà Mạc, bắt đầu chiến tranh Nam Bắc Triều.

Truyện diễn ra khi chiến tranh Nam Bắc đã kéo dài mười hai năm.

3.

Đơn vị đo lường xưa:

Trượng - 4 Mét

Thước - 40 Centimet

Tấc - 4 Centimet

Dặm - 500 Mét

4.

Quân Tiền khuông - Thời chiến tranh với nhà Mạc, quân đội nhà Lê trung hưng tổ chức theo mô hình như thời Lê Sơ.

Quân được chia làm 5 phủ và vẫn đặt chức Đô đốc phủ quân như trước, bên cạnh đó đặt dinh 5 khuông gồm: Trung khuông, Tả khuông, Hữu khuông, Tiền khuông, Hậu Khuông.
 
Đề Hồ Truyện
Chương Hai


Một câu chửi này của viên Quản lĩnh lại vô tình hóa thành cái cần câu giờ cho quân Lê trên ải.

Màn bắn hạ tay Võ úy trên thành đã khiến cho Quản lĩnh có những suy nghĩ về tính cách của vị Yên Khang hầu này.

Qua kỹ năng xạ kỵ thì Yên Khang hầu rõ là một mãnh tướng trẻ tuổi, thuộc hàng kỳ tài võ học của quân Mạc.

Nhưng người trẻ tuổi lại làm tước cao thì tám phần là người trong hoàng tộc.

Đơn thương độc mã áp sát tường thành bắn hạ quân địch, rõ thật dũng cảm, nhưng đó cũng là tuổi trẻ kiêu ngạo, khinh địch.

Tính cách như này khiến viên Quản lĩnh nghĩ đến chiêu khích tướng.

Tuy đây chỉ là phỏng đoán nhất thời, nhưng dù chỉ có một tia hy vọng thì vị tướng trấn ải này vẫn phải nắm lấy.

Để thực hiện chiêu khích tướng, người lão tướng bình thường điềm tĩnh đã nổi giận chửi tướng địch.

Một câu này của ông cũng khiến các binh sĩ dưới trướng ông bất ngờ.

May cho ông là Yên Khang hầu tự cao, nóng nảy, trúng chiêu khích tướng thật.

Với yêu cầu đấu tay đôi, quân Lê có thể kéo dài thời gian đợi cứu viện.

Hơn nữa nếu tướng lĩnh bên quân Lê thật sự hạ được Yên Khang hầu thì trận chiếm ải này sẽ phá sản.

Quản lĩnh trên thành nói to về phía quân Mạc:

"Khỉ con đợi đấy! bọn ta ra lấy cái mạng mi ngay đây!"

Giữ ải này ngoài viên Quản lĩnh cùng hai nghìn binh sĩ thì còn có vài trăm phu dịch và hai mươi hai tướng lĩnh dưới trướng.

Các tướng này gồm hai phó quản lĩnh và hai mươi võ úy, giờ thì chỉ còn mười chín.

Phó Quản lĩnh cấp bậc thấp hơn Quản lĩnh một bậc, hàm tòng ngũ phẩm, mỗi người quản một nghìn quân.

Các Võ úy là quan võ lục phẩm, mỗi người chỉ huy một trăm quân.

Dưới mỗi Võ úy là một phó Võ úy, hàm chánh thất phẩm, phụ giúp các võ úy như thuộc hạ thân tín.

Viên Quản lĩnh liền mở cuộc họp khẩn cấp với đám tướng trên thành.

Khi hỏi ai muốn ra nghênh chiến thì hai viên phó Quản lĩnh là những người xung phong đi đầu.

Nhưng trong lòng Quản lĩnh lại e ngại.

Hai người này phẩm hàm không nhỏ, nếu thắng thì không sao mà thua thì sĩ khí sẽ tổn thất rất lớn, nên không chấp thuận hai người.

Thấy thế, mười chín Võ úy còn lại liền bước ra, xin đi giết địch.

Cuối cùng, viên Quản lĩnh chọn một vị Võ úy thuộc đội kỵ binh.

Người này thân cao năm thước, thể hình cơ bắp rắn rỏi, tuổi vừa ba mươi, tên Châu Văn Kha.

Kha là người xứ Nghệ, vào quân kỵ đã mười năm, cưỡi ngựa rất thuần thục lại có thêm ngón phủ (1) đánh rất tài.

Thanh phủ của kha nặng bốn mươi cân, dài năm thước, khi vào trận giặc thì không gì cản phá được, bao nhiêu khiên đỡ, áo giáp, da thịt điều sẽ bị phá nát.

Quản lĩnh ban cho Kha một chén rượu.

Kha một hơi uống cạn, chỉnh chu lại giáp trụ, rồi cắp vũ khí leo lên ngựa.

Lần ra đấu tay đôi này, ngoài thanh phủ và gươm thường dùng, Kha còn mang theo ba mũi lao.

Cổng ải mở ra, ngựa Kha chậm rãi đi đến trước cổng thì dừng lại.

Một binh sĩ, bộ hạ của Kha, liền chạy đến dâng lên một cây điếu cày đã nhồi thuốc.

Kha cầm lấy, châm lửa hút một hơi, phả khói nghi ngút.

Hút xong, khói chưa tan thì Kha đã quăng cái ống điếu cho bộ hạ rồi thúc ngựa phi ra khỏi cổng thành.

Vừa ra vừa hét lớn:

"Ta là Võ úy Châu Văn Kha!

Thằng khỉ con mau tới nộp mạng!"

Bên phía Yên Khang hầu, trong thời gian chờ đợi đã nhàn nhã uống một chén nước chè, ăn chút bánh đậu xanh.

Thấy Kha lao ra cùng làn khói thuốc lào, lại nghe tiếng hét vô cùng khí thế, khóe môi Yên Khang hầu nhếch lên, nở một nụ cười nhạo báng.

Y liền lấy súng ra, châm lửa mồi thừng, rồi phi ngựa tới nghênh chiến.

Quân lính hai bên đều căng thẳng theo dõi trận đấu sắp xảy ra trước mắt.

Trống trận trên thành và trong quân Mạc đã bắt đầu đánh dồn, tăng thêm mấy phần kịch tính.

Hai ngựa cách nhau chừng bốn mươi trượng thì Yên Khang hầu nổ súng.

Kỹ năng cưỡi ngựa mười năm của Kha cũng không phải hạng xoàng.

Vừa thấy mồi thừng đập xuống, Kha nghiêng người xuống bên hông ngựa, một tay ôm lấy cổ ngựa để không bị ngã.

Viên đạn liền bắn hụt.

Ngựa kha vẫn lao về phía trước, khoảng cách cũng mỗi lúc một gần.

Kha leo lại lên yên ngựa, rồi liên tiếp phóng đi ba mũi lao.

Nhưng đúng là kỹ năng ném lao của Kha không tốt.

Hai mũi trượt, còn một mũi thì sượt qua mã giáp trên mình con ngựa của Yên Khang hầu.

Thật ra, Kha biết mình ném lao khả năng cao là không trúng, nhưng đây là một chiêu gây rối loạn sự di chuyển của ngựa địch, hòng câu giờ để Kha rút ngắn khoảng cách, đưa địch thủ vào tầm đánh cận chiến.

Kha tự tin với khả năng đánh phủ của mình.

Chỉ cần vào tầm, Yên Khang hầu khó lòng chống đỡ được thanh phủ của Kha.

Yên Khang hầu trên lưng bạch mã, triển khai nạp một phát đạn mới vào nòng.

Hình ảnh kỵ sĩ bắn súng ở thời này quả là không phổ biến.

Để đạt được kỹ năng như lúc này, Yên Khang hầu đã từng gây ra một sự việc huyên náo, khiến đích thân người đứng đầu nhà Mạc phải quan tâm giải quyết.

Yên Khang hầu tên thật là Mạc Hữu Anh, từ nhỏ đã học qua nhiều loại binh khí.

Cách đây chừng bảy tám năm, Hữu Anh phát hiện khả năng sát thương vô địch của súng hỏa mai nên đã dày công luyện tập.

Với tài năng thiên phú, vị hầu gia trẻ rèn luyện hai năm thì đã thành công, luyện được một thân bản lĩnh phi phàm.

Khai hỏa trong phạm vị bốn mươi trượng liền có thể bắn xuyên đồng xu.

Khi đã thạo các món hỏa khí, Hữu Anh muốn dùng phương pháp Kỵ xạ để kết hợp súng và ngựa, nâng tầm kỹ năng tác chiến của bản thân.

Nhưng súng hỏa mai nào đâu giống các món cung tiễn.

Súng thời này có trọng lượng tương đối nặng, chủ yếu dùng cho bộ binh.

Khi lên ngựa, súng nặng gây mất thăng bằng, độ chính xác bị giảm sút.

Vị hầu gia trẻ rất phiền lòng, ngày đêm chiếm thao trường ở Giảng Võ (2) tập luyện.

Trong thời đại chiến tranh, người người nhà nhà đều cho con em tập luyện các môn võ nghệ, đầu quân đi lính, ra quan làm tướng.

Điều này khiến số lượng võ sinh, tướng sĩ trong kinh tăng vọt.

Tuy các lò võ nhỏ mọc lên nhiều nhưng, không được mấy cơ sở có đủ diện tích và điều kiện cho các võ sinh tập luyện các môn xạ kỵ, trọng giáp, trận giả, đại sa bàn..., lại càng hiếm có các thứ ngựa chiến, vũ khí cao cấp.

Nên số ít các xạ trường đủ điều kiện thường rất đông đúc và luôn hết chỗ.

Tránh để các quý tộc dùng quyền thế, dành chỗ tập của các tướng sĩ, võ sinh, vua Mạc đã ra luật rằng các thân công vương tử ở trong kinh chỉ được tập luyện tại Giảng Võ, không được dành sân tập của các tướng sĩ, võ sinh trong kinh.

Mạc Hữu Anh đến Giảng Võ, cho bày đủ thứ súng ống, được làm từ nhiều nhà rèn trong nước lẫn ngoài nước, lại thử đủ thứ ngựa chiến.

Sau cho hộ vệ của phủ cha mình là Dương quốc công, đứng chặn ngoài cửa tránh người khác làm phiền.

Hành động lần này của Yên Khang hầu chính là đã dành hết chỗ tập của các vị công tử quý tộc.

Các vị này tuy bất bình, nhưng chẳng dám vào đôi co.

Hầu hết các con ông cháu cha này đều đã từng nếm qua nắm đấm của Yên Khang hầu, và biết rõ sự trâu bò của tên hầu gia trẻ trâu này.

Tức mình ,có người tự về phủ tập luyện một mình hoặc tập các món không cần thao trường.

Nhưng cũng không ít người đứng đợi với suy nghĩ là sau một hai canh giờ tên này mệt rồi nó sẽ tự về.

Ai ngờ Hữu Anh tập từ sáng sớm đến tối mịt mới về, lại còn kéo dài đã bốn hôm liền.

Mấy vị công tử này đã quá tức giận nhưng lại biết rõ dù có đánh hội đồng cũng không địch lại được tên hầu gia này.

Cả đám bèn đem chuyện này đi mắng vốn với vua Mạc Đức Nguyên (3).

Đức Nguyên tuy thương yêu đám con cháu này, nhưng sức khỏe không tốt, lại bận bịu không thôi, chẳng có thời gian để mà xử lý chuyện ở Giảng Võ.

Nhân lúc Khiêm vương Mạc Kính Điển (4) mới dẫn quân về Kinh, đang mang lễ vật vào chầu, Đức Nguyên liền thoái thác, nhờ em trai vào Giảng võ trị thằng nhóc Hữu Anh.

Khiêm vương cùng thân binh đến Giảng Võ thì thấy mười mấy công tử, thân vương nháo nhác hóng hớt ở bên ngoài.

Lại có hai tên hộ vệ của phủ Dương quốc công mặc khải giáp, mang đao sắc, đứng gác bên ngoài.

Bên trong thì liên tục nghe âm thanh súng nổ, kèm tiếng ngựa hí vang.

Vừa thấy Khiêm vương mọi người ở bên ngoài liền quỳ một gối kính chào.

Hai tên hộ vệ canh cửa cũng vội vàng vái chào rồi mở cửa mời ngài vào.

Vừa vào sân, quan cảnh hỗn loạn liền hiện ra.

Năm sáu người hầu đang bận túi bụi, chạy qua lại mang thuốc súng, đạn dược, thức ăn, nước uống...và chăm sóc cho sáu con ngựa chiến.

Tiếp đến là ba tấm phản lớn, trải chiếu, bày đủ các loại súng, bốn binh sĩ đứng kế bên thì đang nạp đạn đến đỏ tay.

Thấy vương vào, người hầu chạy tới chào, định loan báo thì ngài ngăn lại, rồi âm thầm vào xem.

Chú Thích:

1.

Phủ - Búa Rìu.

Gồm một lưỡi rìu sắc nặng tra vuông góc với cán dài.

Một cân xưa bằng 0,5 Kg.

2.

Giảng Võ - Năm 1437.

Vua Lê Thánh Tông đã cho đặt Trường thi võ ở phía tây Kinh thành, là Giảng Võ.

Con của các công, hầu, khanh, tướng đến đấy học tập hàng ngày, vậy nên Giảng Võ cũng là Nhà Võ học.

Chỗ giảng dạy, đào tạo, thao luyện tướng sĩ còn được gọi là xạ trường.

Mỗi phủ thường có một xạ trường và nhiều lò võ tư nhân, riêng Giảng Võ là xạ trường cao cấp nhất.

3.

Mạc Đức Nguyên - Mạc Hiến Tông ( ? – 1546) là vị hoàng đế thứ ba của nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1540 đến 1546.

Ông tên thật là Mạc Phúc Hải, tên khác là Mạc Đức Nguyên.

Quê quán tại tỉnh Hải Dương.

4.

Đức Nguyên là con trưởng của Mạc Thái Tông.

Ông được ông nội là Mạc Đăng Dung lập lên ngôi vào tháng 2 năm Canh Tý (1540) sau khi vua cha mất.

Ông lấy niên hiệu là Quảng Hòa.

5.

Mạc Kính Điển - (?

- 1580), tự Kinh Phủ, người huyện Bình Hà, Dương Kinh (nay thuộc tỉnh Hải Dương).

Ông là con thứ ba của Mạc Đăng Doanh (tức Vua Mạc Thái Tông), là đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc, được nhà Mạc phong tước Khiêm vương.
 
Đề Hồ Truyện
Chương Ba


Ở giữa sân tập, Yên Khang hầu Mạc Hữu Anh đang vừa cưỡi ngựa, vừa bắn súng vào các bia ngắm bằng gỗ, đặt cách xa bốn mươi trượng.

Hầu gia vừa bắn xong khẩu súng này thì liền được binh sĩ dâng lên một khẩu khác.

Chạy một con ngựa vài chục vòng rồi lại đổi qua một con khác.

Hữu Anh thử tất cả súng, rồi lại thử khả năng tình huống khai hỏa khi ngựa phi nhanh, phi chậm, nhảy cao, nghiêng người, ngã người...

Trên người Hữu Anh ướt đẫm mồ hôi, các ngón tay, mặt mũi đều đen sạm thuốc súng, nhưng ánh mắt vẫn rất quyết tâm.

Thấy cảnh này ta mới hiểu, thiên tài cũng phải khổ luyện mới đạt được thành công.

Nhìn Hữu Anh tập luyện một hồi thì Khiêm vương phát hiện ra vấn đề.

Trọng lượng súng nặng, ngựa chiến lại thường không quen tiếng súng, dễ giật mình khi súng nổ quá gần, chân ngựa sau khi giật mình thường lảo đảo.

Muốn khắc phục thì phải chỉnh lại súng và cưỡi một con bảo mã chân cứng cáp, tâm lý vững.

Khiêm vương vào cắt ngang việc luyện tập của Hữu Anh.

Đầu tiên ông trách mắng đứa cháu họ một trận vì cái tội làm càn.

Dám cho thủ hạ chặn cửa Giảng Võ, chiếm dụng sân tập của các anh em trong họ, làm kinh động đến đức thánh thượng.

Yên Khang hầu thường ngày ngang tàn, đến các quan đại thần cũng đã từng có người bị tên trẻ trâu này bật lại, nhưng khi nghe Khiêm vương la mắng thì chỉ dám im thin thít quỳ dưới đất.

La rầy xong, Khiêm vương kêu Hữu anh đứng dậy.

Ngài nói với cậu những vấn đề mình đã nhận ra.

Hữu Anh cũng cho vương xem các loại súng và ngựa cậu đã tìm mua được, nhưng chẳng cái nào đạt yêu cầu.

Vương ngẫm nghĩ một hồi rồi bày cho Hữu Anh đi thuyền bí mật tìm vào làng Vũ Môn, nổi tiếng nghề làm súng ở Hoan Châu (1), dùng vàng đặt thợ giỏi nhất làm một cây súng nhẹ hơn súng thường.

Sau đó ra Tây Bắc, tìm mua một con bảo mã của các tộc trưởng vùng cao, tốt nhất là lựa được ngựa con của ngựa đầu đàn và ngựa chiến.

Đợt đi này Khiêm vương cắt đặt năm thủ hạ đi cùng Hữu Anh.

Thời kỳ chiến tranh, đi đông người vượt biên giới thì đúng là dễ bị bại lộ, nguy hiểm, nhưng một nhóm bốn năm người, dùng thuyền nhỏ đi theo đường biển thì vẫn lọt qua được.

Đến được làng Vũ Môn, bọn Hữu Anh dò hỏi và đã tìm được một người thợ.

Người này tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã rất có tiếng tăm trong làng.

Người già trong làng công nhận anh ta chính là kỳ tài chế súng trăm năm mới gặp.

Hữu Anh bỏ nhiều vàng ra đặt súng ở chỗ người thợ trẻ.

Cậu yêu cầu súng phải nhẹ hơn bình thường một cân nhưng vẫn phải giữ được hỏa lực và tầm bắn như súng thường.

Yêu cầu khó khăn nhưng người thợ trẻ ở làng Vũ Môn quả là một kỳ tài, sau hai tháng nghiên cứu, đã thật sự chế ra được một khẩu súng đạt yêu cầu.

Các vật liệu đều chọn loại tốt nhất, nhưng quan trọng nhất chính là chất thép của nòng súng.

Người thợ trẻ này có một sự am hiểu sâu về kỹ thuật luyện kim, luôn tin tưởng bản thân có thể tạo ra được một mẻ thép vừa nhẹ lại vừa có sự chịu lực tốt.

Lúc thì tăng cao, lúc lại giảm thấp, ngọn lửa lò rèn trong suốt ba tháng chưa ngày nào tắt.

Sau nhiều mẻ thép thất bại, cuối cùng thì người thợ cũng thành công.

Nhờ các chi tiết súng được làm tỉ mỉ, không dư thừa cùng mẻ thép tốt, trọng lượng súng đã được kiểm soát tuyệt đối đúng như mong muốn của Hữu Anh.

Trả vàng xong cho làng, Hữu Anh cùng thủ hạ đêm đó đã bắt cóc luôn người thợ cùng gia đình anh ta đem về đất Bắc.

Vừa về đến Thăng Long, Hữu Anh liền đi Tây Bắc tìm ngựa.

Hai chuyến Hoan Châu và Tây Bắc, cả đi lẫn về hết thảy bảy tháng.

Yên Khang hầu trãi qua nhiều phen hung hiểm từ dưới biển đến vùng cao mới tìm được hai món bảo vật.

Hai năm sau, Yên Khang hầu ra chiến trường, liên tiếp giết được tướng địch.

Bao chiến công ấy lập nên đúng là không thể thiếu súng hay ngựa tốt.

Khẩu súng được làm bằng gỗ xoan đào cùng thép tốt.

Toàn thân súng người thợ phủ lên một lớp sơn đen tuyền óng ánh.

Còn các chốt, lẫy, chi tiết trang trí được làm hoàn toàn bằng vàng, nhìn vô cùng quý giá.

Con bạch mã của Yên Khang hầu thì như có linh tính, rất nghe lời chủ, khả năng chạy nhanh lại uyển chuyển, tính cách cũng ngông nghênh không khác gì vị hầu gia.

Sau một thời gian vào quân, danh tiếng Yên Khang hầu và hai món bảo vật ngày một nổi.

Quân Mạc đặt tên cho hai món bảo vật là súng Ô Sấm và ngựa Bạch Bá (2).

Quay lại trận đánh giữa Châu Văn Kha và Yên Khang hầu dưới chân ải Trung.

Với súng hỏa mai bắn phát một thì một lính chuyên sẽ mất gần một phút để nạp một phát đạn, nhưng trên chiến trường, chỉ cần vài giây là đủ để mất mạng.

Còn Yên Khang hầu lúc này đang ngồi trên lưng ngựa phi nước đại, nạp đạn vào súng đúng là khó hơn nhiều.

Cứ tưởng thời gian nạp đạn sẽ lâu hơn một phút, nhưng các động tác của vị hầu gia lại vô cùng chuẩn xác nhuần nhuyễn, không dư thừa bất kỳ một động tác nào.

Mới ba bốn mươi giây thì đã nạp đạn sắp xong.

Hai ngựa đuổi nhau theo hình tròn.

Ngựa đến gần, Kha liền giơ phủ đập xuống, nhưng đã tung đòn ba lần và cả ba đều hụt.

Mỗi lần thanh phủ bổ xuống, con bạch mã của Yên Khang hầu lại tăng tốc nhích lên một khoảng hoặc lách qua một bên né tránh.

Văn Kha đang điên tiết, thì ngựa Yên Khang hầu bỗng dưng chậm lại.

Kha thấy cơ hội đến thì liền giơ phủ lên bổ xuống.

Phủ này đánh ra toàn lực, Yên Khang hầu không những sẽ chết tươi mà có khi bổ được luôn cả con ngựa.

Bất thình lình ngay lúc Kha giơ phủ lên, bạch mã của Yên Khang hầu liền cua gấp bảy mười độ, chạy vọt ngang trước mũi ngựa Kha.

Kha không chần chừ liền bổ phủ xuống.

Cùng lúc đó tiếng súng lại nổ.

Khói bay mù bao trùm Kha và Yên Khang hầu.

Tiếp theo đó, ngựa Yên Khang hầu chạy ra cách Kha một đoạn thì dừng lại.

Vị hầu gia nhàn nhã lấy ống thuốc súng trên người xuống nạp đạn, trên gương mặt đã tỏ rõ một nụ cười đắc thắng.

Y biết phát súng lúc nãy ở khoảng cách gần như vậy thì không thể trượt được.

Đòn lúc nãy của Kha cũng khá nguy hiểm, cắt mất một đoạn lông đuôi của bạch mã.

Khi nãy, nếu không phải bảo mã Tây Bắc, đổi lại một con ngựa khác thì chắc chắn người ngựa đã bị bổ làm hai.

Nhưng không thể ngờ là khi Yên Khang hầu đang nạp đạn, cùng bạch mã vừa xoay lại thì phát hiện Văn Kha đã ở ngay trước mặt.

Bụng Kha bị trúng đạn, vết thương to tướng, máu chảy đầm đìa, chắc chắn là không thể nào cứu chữa.

Nhưng với ý chí kiên cường, hai mắt Kha long lên sòng sọc.

Y cưỡi ngựa phi tới, quyết tung một đòn bất ngờ đem tên hầu gia này theo xuống âm Phủ.

Không hề nao núng, Yên Khang hầu liền ném mạnh ống thuốc súng trên tay vào người Kha.

Ống thuốc đâm vào chỗ vết thương khiến Kha bị khựng lại một nhịp, nhưng Yên Khang hầu cũng chỉ cần một nhịp này.

Y thúc ngựa phi chéo tới.

Phủ Kha đang đánh xuống liền hụt vài tấc.

Nhanh như chớp Yên Khang hầu áp sát, đồng thời rút đao, chém ngang một đường.

Các hành động này diễn ra rất nhanh, nhưng lại vô cùng trơn tru.

Yên Khang hầu cưỡi ngựa chạy về đội hình quân Mạc, tiếng trống cũng dứt.

Chỉ thấy con ngựa của Kha đi chậm rãi về phía trước.

Lăn lóc trên mặt đất là đầu của viên Võ úy.

Quân Mạc điên cuồng reo hò.

Yên Khang hầu hô lớn về phía ải:

"Lính lá quân Lê thế này thì chẳng đỡ được bổn hầu mấy chiêu!...

Chó già canh cổng! còn ai thì cho ra đây, để ta cho đi luôn một thể, tránh quỷ sai chờ lâu!"

Số lượng Võ úy ở ải Tả rút xuống còn mười tám.

Viên Quản lĩnh xem qua trận này thì đã thấy rõ kỹ năng chiến đấu kiệt xuất của Yên Khang hầu, trong lòng đầy phiền não.

Ông cử Văn Kha ra trận là vì người này ngoài kỵ chiến tốt, thì sức vóc cũng rất mạnh mẽ, phù hợp để đánh nhiều đòn, kéo dài trận đấu.

Không ngờ chưa đầy nữa nén nhang thì đã thua.

Lần này, viên Quản lĩnh quay ra hỏi các Võ úy :

"Còn ai xung phong ra giết Yên Khang hầu?"

Nhưng mọi người đều e dè không dám trả lời.

Sau một màn vừa rồi, các võ úy đều đã ngấm ngầm kinh sợ sự võ dũng của tướng địch.

Thấy vậy viên Quản lĩnh rất thất vọng, thầm trách bộ hạ hèn nhát.

Đang định quay sang bàn bạc đối sách thủ thành với hai vị phó quản, thì trong hàng ngũ phó võ úy, có một người thiếu niên bước ra, quỳ xuống nói:

"Phạm Thân xin ra nghênh địch!"

Chú Thích:

1.

Hoan Châu - Xứ Nghệ, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay

2.

Ô là đen, Sấm tức tiếng súng nổ như sấm.

Bạch là trắng, Bá là một trong các tước vị vua ban cho quốc thích, công thần gồm "công, hầu, bá, tử, nam".

Do con bạch mã của Yên Khang hầu tình tình ngông nghênh giống chủ, lại được hầu gia yêu thương, nên quân lính không dám làm phật ý nó, đặt tước cho nó là bá, dưới hầu một bậc.
 
Đề Hồ Truyện
Chương Bốn


Thiếu niên tên Phạm Thân này là phó Võ úy trẻ tuổi nhất quân Lê.

Cậu năm nay chỉ mới mười sáu.

Gương mặt điển trai tuy vẫn còn nét non nớt, nhưng cơ thể qua tập luyện đã lộ cơ bắp rắn rỏi.

Ngoài ra, Thân còn nổi tiếng trong quân với sức mạnh kinh người, một mình cậu có thể nhất cả khẩu pháo hai trăm cân.

Phạm Thân là con thứ ba trong một gia đình thương nhân vùng Hoài Phô.

Quê Thân nằm bên dòng sông Thu Bồn, thuộc vùng vịnh Cửa Đại, huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam (1).

Thân là một tướng sĩ được huấn luyện ra từ xạ trường phủ Thăng Hoa.

Kỳ thi tốt nghiệp đầu xuân năm 1552, Thân thi tốt nghiệp đạt hạng nhất, phá luôn kỷ lục môn bắn cung của xạ trường, tài năng đúng là rất nổi trội.

Viên quản lĩnh thấy Thân đứng ra xin đi đánh thì trong lòng rất do dự.

Phó võ úy nhỏ tuổi này tuy mới vào quân được vài tháng, nhưng từ trước đã có chút tiếng tăm.

Trong quân ai cũng từng nghe ít nhiều về thành tích bắn cung "trăm trượng xuyên bốn tấc" của Phạm Thân.

Chỉ là viên quản lĩnh lo sợ Thân còn trẻ, từ lúc vào quân đến này vẫn chưa đánh qua trận nào, chẳng có mấy kinh nghiệm chiến trường.

Tuy Thân cũng là một dạng thiên tài và có kinh nghiệm vài năm khổ luyện, nhưng trên chiến trường mọi chuyện vô cùng hung hiểm, không từ thủ đoạn.

Chẳng may sơ sẩy là quân Lê lại mất đi một nhân tài có thể bồi dưỡng cho mai sau.

Thấy quản lĩnh do dự, Thân nói giọng kiên quyết:

"Thưa tướng quân, bộ hạ từ ngày theo binh nghiệp đến ni, luôn mong một ngày có thể giết giặc lập công, báo đền nợ nước.

Ni Yên Khang hầu giết liền hai võ úy quân ta, đã vô cùng hống hách, khinh địch...

Thuộc hạ thấy sự ngạo mạng nì cũng là điểm chí mạng của nó!...

Việc chừ cấp bách, thằng hầu nớ mà không hạ ngay đi thì sĩ khí quân ta mất hết, ải ta cũng khó giữ! ...

Xin tướng quân cho thuộc hạ ra tiếp chiến!"

Quản lĩnh suy tính rồi cuối cùng cũng bằng lòng:

"Ngươi cũng là một thiên tài trẻ tuổi, mà đã là trẻ tuổi thì cần phải tôi luyện.

Đây sẽ là trận đầu của ngươi!...

Nhớ kỹ là phải vô cùng cẩn thận, nếu địch không lại thì liền rút lui về ải!...

Được rồi, chuẩn bị đi, người cần gì nữa không?"

Mỗi tướng sĩ trong đời đâu có mấy lần cơ hội được đấu một trận tay đôi quan trọng như này.

Hạ được một vị hầu gia, quân địch liền tan, ải liền vững vàng.

Mà lập được công này cũng đồng nghĩa với quan trường rộng mở, thăng quan tiến chức.

Khi bước ra khỏi hàng, trong lòng Thân đã suy nghĩ kỹ đối sách, hạ quyết tâm nắm lấy cơ hội này.

Thân đáp:

"Thuộc hạ chỉ xin một con ngựa nhanh, càng nhanh càng tốt!"

Ngựa chiến ở miền Nam không nhiều nên ngoài kỵ binh thì chỉ có cấp võ úy trở lên mới được cấp ngựa chiến.

Những cấp thấp hơn nếu muốn có ngựa cưỡi thì thường phải tự túc.

Nhưng hầu hết ngựa chiến hay cả ngựa đua đều đã về tay triều đình, thành ra ngựa tự sắm thường là ngựa thồ, ngựa kéo.

Khi ra đi từ quê nhà, người nhà có sắm cho Thân ít trang bị.

Anh hai của Thân đã bỏ vàng ra tìm cách mua ngựa chiến cho Thân.

Nhưng tìm mãi không mua được ngựa chiến, cuối cùng đành dùng một con ngựa kéo đi cùng Thân.

Đợt lũ lụt vừa rồi con ngựa không may đã bệnh chết, nhưng nếu nó không bệnh chết thì lần này Thân vẫn phải xin mượn một con ngựa chạy nhanh.

Bởi ngựa kéo thường không nhanh mà tốc độ của ngựa chính là mấu chốt sống còn của trận này.

Khổ nổi họa vô đơn chí, con ngựa nhanh nhất ải lại chính là con ngựa của Châu Văn Kha vừa mới tử trận.

Hiện nó cùng xác Kha đã bị quân Mạc bắt.

Viên quản lĩnh quyết định cho Thân mượn tuấn mã của ông, nhưng Thân từ chối.

Ngựa của quản lĩnh là ngựa chiến thuần chủng, rất hung bạo uyển chuyển, nhưng chạy thì vẫn chưa đủ nhanh.

Lúc này người chưởng đội kỵ binh liền nhớ ra, trong chuồng vẫn còn một con ngựa chạy rất nhanh.

Nó là một con ngựa trắng, bốn chân đen.

Trên đầu nó có một vệt đen hình thoi.

Con ngựa này chạy thì nhanh, nhưng nếu tiến vào đánh giáp lá cà thì chỉ trong khoảng năm chiêu nó sẽ hoảng sợ, chạy loạn.

Vì lý do này nên nó không được đội kỵ binh tin dùng.

Nghe xong, Thân chọn ngay con ngựa này.

Sau khi xem đường đao của Yên Khang hầu, Thân cũng không tự tin cận chiến với hắn.

Trận này theo đối sách của Thân thì chỉ cần chạy nhanh.

Xong xuôi, quản lĩnh lệnh ban rượu.

Thân nhận lấy cái chén gốm đựng thứ rượu trắng hảo hạng, thơm lựng mùi lúa nếp non.

Cậu một hơi uống sạch, rồi dắt ngựa ra cửa ải.

Thân dừng lại chỉnh đốn áo giáp, vũ khí.

Ngày nhậm chức, triều đình ban cho Thân một chiếc mũ trụ và bộ áo giáp cộc tay.

Bên ngoài giáp may vảy sắt, bên trong độn vải.

Nếu đem ra so sánh thì quân Lê trang bị kém hơn quân Mạc.

Tuy áo giáp kém chất lượng, nhưng giáp vai của Thân lại là loại giáp tấm vô cùng tốt, nhìn vào chẳng ăn nhập gì với áo.

Thật ra bộ giáp vai này là vật trên một bộ giáp cấm quân.

Năm Hồng Thuận cuối cùng (2), trong cung binh biến, đại thần giết vua, chém giết kinh hoàng.

Có một cấm quân trốn thoát, mang gia quyến chạy đến tận cùng đất Quảng.

Sau người cấm quân này chết đi, các con ông vẫn luôn thờ bộ giáp như một món gia bảo.

Cha và anh hai của Thân đã tìm cách mua lại cả bộ giáp, nhưng người nhà kia nhất quyết bao tiền cũng không bán cả bộ.

Cuối cùng cha Thân chỉ có thể mua bộ giáp vai tặng cậu trước khi ra chiến trường.

Nhìn hai mảnh giáp vai, Thân bồi hồi nhớ tới gia đình.

Sau đó, Thân kiểm tra hai cây cung mình mang theo.

Một cây cung gỗ thường dùng trong quân, lực kéo nặng một trăm cân.

Còn lại là một cây cung bọc trong vải đen, hãy còn chưa lên dây.

Cây cung này, từ ngày vào quân, Thân chưa bao giờ lấy ra dùng.

Nghĩ lại thì nó chính là khởi đầu cho cuộc đời võ nghiệp của Thân.

Có người nói nó là cung thần, cũng có kẻ nói nó là cung ma.

Cây cung bí ẩn này trước đây là một vật thuộc xạ trường phủ Thăng Hoa, nhưng nó với Phạm Thân đã xảy ra chuyện gì thì ta phải quay lại thời gian vài năm về trước.

Vào năm Ất Tỵ 1545, Trấn quốc công Bùi Tá Hán phụng mệnh vua Lê Trang Tông (3), dẫn quân đi đường biển xuống phía Nam, lấy lại đất Quảng.

Đất Quảng lúc bấy giờ chính là cực Nam của Đại Việt.

Nó là giải đất hẹp, nằm ven biển, kéo dài từ từ Nam Thuận Hóa đến sát dãy Cù Mông ở Hoài Nhơn (4).

Bao năm chiến tranh Nam Bắc thì giải đất này là ít bị ảnh hưởng nhất.

Kinh tế tuy trì trệ, lâu lâu cũng có xung đột nhỏ lẻ, nhưng nhìn chung cuộc sống người dân vẫn yên ổn hơn nhiều so với phía Bắc.

Việc giành lại đất này chính là nước đi chiến lược sẽ giúp căn cứ của nhà Lê ở Thanh Hoa thoát khỏi thế "lưỡng đầu thọ địch".

Những năm trước, đã không ít lần quân Mạc tấn công vào Thanh Hoa từ phía Nghệ An đánh lên và Sơn Nam đánh xuống, đã nhiều phen khiến quân Lê lâm vào cảnh lao đao.

Nay cử Trấn quốc công đi đoạt đất Quảng Nam thì quân Mạc ở xứ Nghệ sẽ bị bao vây hai đầu, khó lòng trụ được, rất nhanh sẽ phải bỏ trấn Nghệ An mà rút lui.

Trong hai tháng trên đất Quảng, Trần quốc công với phương sách "công tâm vi thượng, công thành vi hạ" (thu phục lòng người), đã thật sự thành công thu phục được vùng đất này.

Ông nhanh chóng xuất binh bình định phiến quân còn sót lại, tập trung nhân lực xây dựng chính quyền, cắt cử quan lại vỗ về dân chúng.

Sau bảy năm, đất Quảng đã phát triển ổn định dưới sự cai trị của Trấn quốc công.

Tình hình chiến tranh Nam Bắc triều ngày càng ác liệt, vấn đề nhân lực luôn là một nổi cấp bách đối với quân đội nhà Lê.

Vì lẽ đó nên từ năm đầu tiên về đất Quảng, Trấn quốc công đã cho mở xạ trường tại hai trong ba phủ của đất Quảng, là phủ Thăng Hoa và Tư Nghĩa.

Nhưng chỉ có xạ trường phủ Tư Nghĩa là mới, còn phủ Thăng Hoa là mở lại xạ trường đã đóng của cách đó vài năm.

Năm ngày đầu tiên của mỗi tháng, xạ trường sẽ tổ chức chiêu mộ binh sĩ cho các doanh.

Thường thì binh sĩ sau khi chiêu mộ sẽ bị đều ra mặt trận ngay.

Nhưng cũng có những lúc chiến sự không gay go, cần kíp xạ thủ hoặc kỵ binh, các binh sĩ sẽ được huấn luyện từ một tới bốn tháng tại xạ trường.

Đối với các binh sĩ được bố trí ở lại đất Quảng phòng thủ, Trấn quốc công sẽ cấp cho ruộng đất trồng trọt, khi có việc binh sẽ kêu ra.

Ngoài ra xạ trường còn là sân tập luyện võ nghệ của các tướng lĩnh, con cháu quý tộc, nho sinh của trường phủ (5) tại địa phương.

Tuy nhiên, mục đích chủ yếu của xạ trường là đào tạo tướng chỉ huy cho quân đội.

Mỗi năm vào đầu xuân, xạ trường sẽ tổ chức thi xét tuyển võ sinh.

Thí sinh thi xét tuyển phải từ mười bốn tuổi trở lên, biết chữ và phải tập qua võ thuật, binh khí từ trước.

Việc này chính là ưu đãi cho con em quý tộc và hạn chế con em nhà nghèo, thường dân, những người phải làm lụng thường xuyên, không có thời gian tập luyện và điều kiện kinh tế để đi học.

Thời gian huấn luyện thường là hai năm, nhưng mỗi đầu xuân đều có kỳ thi tốt nghiệp.

Chỉ cần thí sinh đủ mười sáu tuổi, tự tin với bản lĩnh võ nghệ của mình thì liền có thể ghi danh thi tốt nghiệp, không cần đợi đến hết hai năm.

Nếu thi đỗ hạng nhất sẽ được bổ chức Võ úy, bốn hạng sau sẽ được ban chức phó Võ úy.

Năm hạng tiếp theo sẽ làm các chức thấp hơn.

Sau khi nhậm chức các võ sinh sẽ được bổ vào các doanh, rồi ra chiến trường.

Xạ trường phủ Thăng Hoa nằm ngay bên trong vịnh Cửa Đại.

Quanh vịnh này dân cư trù phú, đã không ít lần bị cướp biển vào cướp phá.

Mười năm trước, quân Mạc cho xây hai pháo đài nhỏ ngay hai bên cửa biển, lại cho đặt pháo lớn, quân lính ngày đêm canh gác.

Kể từ đó, cướp biển không còn dám vào vịnh.

Trấn Quốc Công về, cũng liền thiết lập phòng thủ ở hai pháo đài, bảo vệ dân cư vinh Cửa Đại.

Gia đình họ Phạm chính là sống trong vùng vịnh này.

Cha Phạm Thân là một thương nhân giàu có ở Hoài Phô.

Ông có hai người vợ, ba con trai và một con gái.

Từ khi các con còn nhỏ, ông đã không tiếc tiền của, thuê gia sư về giảng dạy lục nghệ: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số như con cái nhà quý tộc.

Khi các con lên tám, ông liền dùng quan hệ, tiền bạc gửi ba người con trai vào học kinh sử ở trường phủ. (Lục nghệ - Lễ giáo, m nhạc, Bắn cung, Cưỡi ngựa, Thư pháp, Toán học)
 
Đề Hồ Truyện
Chương Năm


Các học sinh trường phủ từ mười tuổi trở lên, mỗi tháng hai lần sẽ sang xạ trường tập xạ nghệ.

Đây giống như một môn thể chất cho các học sinh văn giai.

Cậu bé Phạm Thân, năm đó mười tuổi, lần đầu đến xạ trường đã bị choáng ngợp bởi sự rộng lớn và náo nhiệt của nơi này.

Xạ trường phủ Thăng Hoa được xây dựng vào năm 1475, bốn năm sau khi vua Lê Thánh Tông nam tiến, thành công sáp nhập đất Quảng vào nước Việt.

Những năm Hồng Đức (1) thịnh thế, nhân dân ấm no, kinh tế phát triển, vua cho xây dựng xạ trường phủ Thăng Hoa khá lớn.

Ngài đặt nơi này thành xạ trường duy nhất chiêu mộ binh sĩ miền Nam cho triều đình.

Xạ trường gồm một khu nhà lớn ở giữa cùng hai thao trường rộng lớn ở hai bên.

Toàn bộ thao trường đều có hàng rào gỗ được dựng lên bao bọc toàn bộ thao trường, đồng thời chia thao trường thành các khu tập luyện khác nhau.

Toàn bộ diện tích xạ trường rộng hơn một mẫu (2).

Đâu đâu cũng là binh sĩ, võ sinh đang tập luyện.

Từ gươm đao, giáo mác, súng nỏ, cung tên đến kỵ chiến, trận pháp... môn gì cũng có thể tập luyện trong cái thao trường đầy bụi đất, nắng gió, mồ hôi và nhiệt huyết này.

Thân và các học sinh được dẫn vào một khu bắn cung nhỏ ngay kế bên khu nhà ở.

Bên phía này của xạ trường gồm có khu bắn cung nhỏ và một sân tập đội hình, kỵ chiến rất lớn.

Nhưng ngay lúc này các võ sinh đều đang tập luyện bên phía ngược lại.

Các học sinh tập bắn với loại cung nhẹ, khoảng cách tương đối ngắn.

Học sinh có xuất thân quyền quý đối với môn bắn cung đều đã từng tập qua.

Nhưng khi đi theo văn ban thì chỉ xem xạ nghệ như trò tiêu khiển, không hề chuyên tâm.

Nay ra sân tập cũng không được nhuần nhuyễn.

Còn đối với con em nhà nghèo, vào được trường phủ nhờ tài học, thì từ nhỏ chỉ vùi đầu kinh sử, nên đối với môn này liền cảm thấy lạ lẫm, động tác lống ngống khiến thầy giáo phải trực tiếp chỉ dạy.

Riêng Phạm Thân, người đã yêu thích xạ nghệ từ nhỏ, thì mấy cái cung nhẹ này thật vô cùng nhàm chán, còn chẳng bằng cậu cùng mấy ông anh trong nhà tập bắn sau vườn.

Bắn được hai lượt thì tính tò mò, trẻ con ham chơi trỗi dậy.

Thân muốn sang thao trường phía bên kia xem các võ sinh tập luyện.

Nghĩ đoạn, cậu bèn giả vờ đau bụng, xin thầy cho đi ngoài.

Thầy giáo đang bận kèm cặp các học sinh, cũng không nghi ngờ liền cho phép.

Khu nhà ở giữa xạ trường là những dãy nhà nối với nhau thành hình chữ nhật, chia hai khu trước sau, khu sau lớn gấp ba lần khu trước.

Ở giữa bốn dãy nhà của mỗi khu là một khoảng sân rộng, gọi là sân trước và sân sau.

Khu nhà sau là nơi sinh hoạt của võ sinh.

Trong sân sau có hoa viên, giếng nước, bếp núc, đình nghỉ chân...

Còn khu nhà trước là nơi ở của các giáo úy, võ sư.

Sân trước khá trống trải, đặt vài bộ bàn ghế và hai kệ binh khí.

Tất cả được sắp xếp như một sân thi đấu.

Ngoài sân thi đấu thì chính giữa sân là một tòa nhà hình vuông, rộng hơn một xích, xây cao hai tầng, lợp ngói vảy, xà cột chạm khắc, nhìn trang trọng hơn hẳn các dãy nhà xung quanh.

Lúc này tất cả võ sinh cũng như võ sư đều đã ra thao trường, trong sân trước chỉ có mỗi cậu bé Phạm Thân, đang đeo cung trên lưng, đi vào.

Khi đi ngang tòa nhà ở giữa sân, thì bỗng dưng cậu nghe thấy tiếng đánh nhau phát ra từ phía tòa nhà.

Tính tò mò nổi lên, Thân tiến lại tòa nhà thì thấy cửa chính bốn cánh đóng im ỉm, nhưng cửa sổ bên hông thì đang mở một cánh.

Đến càng gần thì tiếng đánh nhau càng to.

"Quái lạ! họ đánh nhau to thế này sao không thấy võ sĩ đến can ngăn nhỉ?"

- Thân tự hỏi.

Sau một thoáng đắn đo Thân quyết định leo cửa sổ vào.

Ở bên trong tầng trệt của tòa nhà có rất nhiều kệ sách.

Bên trên chất các loại sách làm từ nhiều loại chất liệu, từ giấy, thẻ tre cho đến vải lụa, kim loại...

Thân nhìn qua vài quyển thì thấy đa phần là sách binh pháp, võ học.

Các kệ nối nhau thành bốn hàng dài chạy dọc theo căn phòng.

Hai hàng bên trái và hai hàng bên phải.

Tất cả được chia ra bởi một bộ án thư (3) đặt giữa nhà.

Trên án bày các món văn phòng tứ bảo (4), vài chồng sổ sách, một bộ ấm chén và một ngọn đèn dầu.

Mặc dù có vài cánh cửa sổ được để mở, nhưng ánh sáng vẫn khó lọt qua các kệ sách chiếu tới chỗ án thư.

Trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu, Thân giật mình phát hiện trên chiếc ghế đằng sau án thư có một người đang ngồi bất động.

Lưng người này dựa ra sau thành ghế, tay đặt ngang bụng, hơi thở đều đều.

"Xem ra là đang ngủ! thật hú hồn!"

- Thân thở phào.

Lại gần hơn, Thân nhận ra đây là một người đàn ông lớn tuổi.

Tóc ông ta đã ngả màu hoa râm.

Trên người ông mặc một chiếc áo giao lĩnh tay thụng màu lam.

Đặc biệt ông ta có một bộ râu lớn, dài đến bụng.

Bộ râu này không khác mấy hình tượng Quan Vân Trường thầy giáo Thân từng vẽ.

Lúc này Thân xác đinh được âm thanh đánh nhau phát ra từ tầng hai. m thanh tương đối lớn nhưng người đàn ông vẫn ngủ yên trên ghế.

Dường như ông không hề nghe thấy gì cả.

Sau lưng người đàn ông là một tấm bình phong.

Trên đó có viết nhiều chữ và vẽ một cảnh đánh nhau giữa hai người cưỡi ngựa.

Đằng sau bình phong chính là chiếc cầu thang nhỏ dẫn lên tầng hai.

Thân liền vòng ra sau đi lên cầu thang.

Trước mắt Thân là một gian phòng thờ.

Nơi này có một khám thờ rất lớn, đặt một tượng Phật ngồi ở trên cao, tiếp xuống dưới là rất nhiều bài vị.

Hai bên khám thờ là các kệ binh khí.

Số lượng các kệ này nhiều không kém các kệ sách ở tầng dưới.

Nhưng đặc biệt nhất chính là ở giữa phòng có một bệ gỗ, bên trên đặt một cây cung sơn son thếp vàng rất đẹp.

Khi Thân vừa bước một bước về phía cây cung, ngay lập tức cậu cảm nhận cây cung như rung lên. m thanh đánh nhau cũng liền biến mất, không gian trong căn phòng dường như đông đặc lại.

Ý thức Thân liền trở nên mờ ảo

Mọi thứ diễn ra trước mắt Thân chậm chạp vô cùng.

Những đám khói bay ra từ trong các lư trầm, những đốm lửa trên các ngọn đèn dầu, và cả các tia sáng đang hắc vào qua các khe cửa cũng như muốn dừng lại ngay khoảnh khắc ấy.

Mọi thứ đang diễn ra rất chậm, nhưng cây cung trên bệ gỗ vẫn đang rung lên từng đợt đều đặn.

Trong lúc ý thức mơ hồ, Thân tiến lại, đưa tay nắm lấy cây cung.

Chớp mắt căn phòng thờ, tòa nhà, xạ trường... tất cả đều biến mất.

Thân kinh hãi khi một cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ bỗng hiện ra trước mắt.

Lấy lại bình tĩnh, Thân nhận ra mình đang đứng trong một bãi cỏ lau bên một dòng sông lớn.

Mực nước chỗ này cao đến gần thắt lưng cậu.

Trên lưng cậu vẫn đang đeo cung tên của xạ trường, còn cây cung trên bệ gỗ thì đã biến mất.

Sau một hồi vất vả lội ra khỏi đám lau sậy cao qua đầu, Thân phát hiện ra một bình nguyên rộng lớn, xa xa nhấp nhô một dãy núi.

Đứng ở nơi không gian rộng lớn mênh mang này, trong lòng Thân dâng lên một cảm giác lạc lõng, bơ vơ vô cùng.

Đang bần thần thì cậu nghe thấy tiếng ngựa hí từ xa vọng lại.

Rất nhanh, một đám vài trăm kỵ binh cao lớn, mặc những bộ giáp kín mít từ đầu đến chân, đang cưỡi ngựa lao về phía Thân.

Những con ngựa cũng mặc khải giáp bằng kim loại trong rất nặng nề.

Mỗi kỵ sĩ mang bên mình nhiều loại vũ khí, nhưng nhiều nhất là giáo dài và cung tên.

Cả đám người này phát ra một loại sát khí nồng đậm, khiến đứa trẻ như Phạm Thân kinh hoảng, đứng chôn chân tại chỗ.

Trong đám kỵ binh, có vài người cột những lá cờ ba đuôi nheo màu lam, kích thước lớn, trên những ngọn giáo của họ.

Những lá cờ đang bay phất phới này mang một hình ảnh vô cùng lạ lẫm, Thân chưa từng thấy qua.

Nó gồm ba hình màu trắng xếp theo hàng dọc.

Trên cùng là hình một đốm lửa, ở giữa là một hình tròn và dưới cùng là hình mặt trăng lưỡi liềm nằm ngang.

Ngoài những lá cờ lớn này, cũng có vài lá cờ đuôi nheo nhỏ hơn, ở trên ghi một dòng chữ ngoằn ngoèo.

Thân cảm giác hình như cậu đã từng nhìn thấy một lần trên một món đồ gốm cổ mà cha cậu từng mang về nhà, sau một chuyến đi buôn.

Nhưng lúc này cậu làm gì còn thời gian để suy nghĩ, một trong những gã kỵ sĩ ở hàng đầu đã chuyển hướng ngựa về phía Thân.

Đoàn kỵ binh liền dừng lại ở phía xa chờ đợi.

Thân thấy rõ tên kỵ sĩ đã hạ mũi giáo nằm ngang, dùng chân thúc ngựa chạy nhanh hơn.

Dù chưa từng thấy qua tư thế tấn công của kỵ binh, nhưng nhìn mũi giáo sắc lẹm, đầy sát khí, đang tiến về phía mình ngày một gần, trong lòng Thân đã vô cùng kinh hãi.

Cậu nhận ra ý định thù địch của đối phương.

Thân liền muốn chạy trốn, nhưng đôi chân của cậu đã cứng đờ vì sợ hãi.

Lúc này, mũi giáo chỉ còn cách lòng ngực của Thân vài chục thước.

Trong ánh mắt kinh hãi của cậu đã có thể phản chiếu những vết máu khô cứng, đỏ sẫm trên lưỡi giáo thép.

Trong lúc nguy cấp này, bỗng dưng cậu bé lại bình tĩnh trở lại.

Sự sợ hãi vẫn còn đó, nhưng sâu thẳm trong trái tim lại trỗi lên một cảm giác cấp bách.

Nó liên tục thúc giục Thân phải phản kháng lại hoàn cảnh.

Khi cảm giác này xuất hiện, cũng là lúc đôi chân của Thân có thể di chuyển trở lại.

Không chần chừ, cậu liền nhảy sang một bên tránh mũi giáo.

Cú nhảy này khiến Thân ngã luôn xuống đất, nhưng cũng cứu cậu một mạng.

Tuy nhiên, mũi giáo vẫn quẹt trên bắp tay Thân một đường, rách cả áo.

Vết thương bắt đầu chảy máu nhưng thần kinh căn thằng khiến nhất thời cậu không cảm thấy cơn đau.

Cảm giác cấp bách lên đến cực độ, nó khiến trái tim cậu bé như muốn nổ tung.

Nó lấn át tất cả nổi đau và khiến Thân chỉ dồn sự tập trung vào hành động tiếp theo của tên kỵ sĩ.

Thân vừa đứng dậy vừa tháo cung tên trên lưng xuống.

Tên kỵ sĩ lúc nãy phóng ngựa nhanh, nên khi đâm hụt, con ngựa theo quán tính phải chạy thêm một đoạn rồi mới quay lại được.

Lúc hắn vừa quay lại thì cung trên tay Thân đã kéo căng đợi sẵn.

Tên kỵ sĩ vừa nhìn thấy liền hơi khựng lại, nhưng mũi tên trong tay cậu bé đã bay đi.
 
Đề Hồ Truyện
Chương Sáu


Bị hất ngã xuống đất, Thân ngơ ngác mở mắt.

Cách cậu bé hai ba trượng là cảnh tượng một người đàn ông to béo, mình mặc giáp cộc tay, lưng đeo trường đao, đang ghì đầu con ngựa của tên kỵ sĩ xuống đất.

Lúc nguy cấp vừa rồi, chính người đàn ông này đã hất ngã Thân qua một bên rồi cản con ngựa lại.

Còn tên kỵ sĩ thì đang nằm ngửa, bất động cách con ngựa một đoạn.

Đầu hắn bị một mũi tên màu đỏ sọc trắng ghim vào.

Tuy cơ thể vẫn còn ê ẩm từ cú ngã nhưng Thân vẫn cố gắng đứng dậy.

Bên kia người đàn ông đã đè được con ngựa xuống đất, nhưng nó vẫn không ngừng giãy giụa.

Thân quay qua nhìn kỹ lại tên kỵ binh thì phát hiện hắn đang hơi ngóc đầu dậy.

"Tên bắn vào đầu như vậy mà vẫn còn sống được sao!"

Thân cảm thấy hơi lo sợ, nghi vấn tên này có phải là người không, cậu vội nhặt cung tên của mình lên.

Nhưng khi nhìn kỹ lại thì, mũi tên bắn vào khe mắt trên mũ trụ của tên kỵ sĩ, đâm xuyên qua cả mặt sau của mũ trụ.

Phần đầu mũi tên lòi ra sau một đoạn khoảng bốn tấc.

Tên kỵ sĩ khi bị bắn bay ra sau, rớt xuống đất, đầu mũi tên chống xuống giữ đầu hắn cách mặt đất một đoạn.

Thành ra lúc mới nhìn Thân tưởng hắn vẫn còn sống.

Nghĩ lại, cây cung nào lại có lực bắn kinh hoàng như vậy, mà nếu có cây cung như vậy thì ai lại có thể kéo nổi.

Yêu thích xạ nghệ từ nhỏ, nay lại chứng kiến một màn bắn cung ấn tượng như vậy, trong thâm tâm Thân bắt đầu nhen nhóm một cảm giác nể phục và đam mê.

Đám lâu xậy sau lưng Thân phát ra một trường ầm thanh xào xạc.

Rất nhanh, người bắn mũi tên kia cũng từ trong bãi lau sậy cưỡi ngựa đi ra.

Người này là một chàng trai trẻ tuổi, chỉ khoảng độ hai nhăm, gương mặt chữ điền góc cạnh mạnh mẽ.

Thân người anh ta vạm vỡ, có phần cao lớn hơn người thường.

Anh ta mặc giáp, đội mũ trụ tròn có vành, trên chóp đính hai chiếc lông đuôi chim trĩ.

Sau lưng thì khoát một tấm áo choàng màu đỏ, nhìn giống một vị tướng quân.

Một cây thương gỗ đỏ, dài hơn nửa trượng được treo lơ lửng bằng một sợi dây da đeo chéo trên vai tướng quân áo đỏ.

Hai bên ngựa còn treo hai thanh gươm.

Sau yên còn có một bao tên.

Thân nhận ra đây là người đã bắn tên triệt hạ tên kỵ sĩ là do trong bao tên vẫn còn những mũi tên đỏ sọc trắng rất đặc trưng.

Kỳ lạ thay, lúc này trên tay tướng quân áo đỏ chính là cây cung sơn son thếp vàng mà Thân đã cầm lấy ở phòng thờ của xạ trường.

Lúc ở phòng thờ, đầu óc thân mụ mị không nhìn kỹ cây cung.

Giờ nhìn kỹ lại thì nó là một cây cung có màu sắc đẹp và khá lớn so với những cây cung khác.

Với kinh nghiệm bắn cung từ nhỏ, Thân đoán cây cung này phải nặng hơn hai trăm cân mới bắn bay được người kỵ sĩ, nhưng còn xuyên qua cả kim loại thì cậu thật không tưởng tượng được nó thật sự nặng đến mức nào. (1)

Dưới chân tướng quân áo đỏ là một con ngựa lông nâu, cao to.

Bề ngoài của nó hùng dũng hơn những con ngựa Thân từng thấy.

Cậu nghĩ đây chắc là giống ngựa chiến Đông Bắc có tiếng chạy rất nhanh, rất mạnh mà ông anh hai của cậu từng nhắc tới trong một lần dẫn cậu đi xem đua ngựa.

Cậu bé mười tuổi lúc này vẫn chưa biết được con ngựa cậu đang thấy chính là giống ngựa Ả Rập nổi tiếng thế giới.

Nó đã đi một chuyến hành trình rất dài, mất hơn một năm, trên con đường tơ lụa, xuyên qua nước Minh (2) để đến được đất Việt.

Trên bộ giáp của vị tướng quân và bộ cương ngựa có nhiều loại hoa văn rất đẹp.

Thân nhìn thì có chút quen thuộc, nhất là thẻ vàng hình lá bồ đề chạm rồng trên đầu ngựa.

Có lần đi chùa với mẹ Thân đã từng thấy một món đồ gốm có hình giống hệt.

Vị tướng quân vừa ra thì theo sau là rất nhiều binh lính, số lượng đến cả nghìn.

Đám quân lính này chính là vừa cùng vị tướng quân áo đỏ vượt sông.

Những chiếc thuyền đến rìa bãi lau thì dừng lại đổ quân xuống, nên toàn quân mới từ trong bãi lau đi ra.

Họ lũ lượt kéo ra khiến toàn bộ bãi lau sậy bên bờ sông không ngừng lung lây, lào xào như có cơn gió lớn.

Những binh lính này ăn mặc như quân lính bình thường ở đất Quảng với giáp da, gươm giáo, cung nỏ....

Chỉ khác là họ đội mũ bình đính gần giống chiếc mũ của thầy giáo ở trường phủ, nhưng vuông vức chứ không tròn.

Lẫn trong đám giáo dài của binh lính là những là cờ màu vàng cỡ lớn.

Trên đó Thân thấy một chữ "Trần".

Thân đã từng học qua sử nhà Trần, nhưng nhà Trần đã kết thúc hơn trăm năm về trước.

Sau Thân lại nghĩ có lẽ đây là quân của một ông hầu gia hay quốc công nào đây.

Nhưng cũng rất nhanh liền bác bỏ, do theo lễ chế thì cờ quân không được to hơn cờ quốc, mà Thân cũng không thấy là cờ nhà Lê hay Mạc nào.

Trong lòng cậu sinh ra nhiều mối nghi ngờ

"Đám người nì có khi là quân tạo phản, ý đồ "phù Trần diệt Lê" hay là quân Ngô?...

Nhưng tóc tai quần áo có vẻ không đúng." (3).

Chỉ trong chốc lát mà cậu bé mười tuổi đã chết hụt hai lần bởi đám kỵ binh lạ, tâm trạng đang rối bời thì giờ lại gặp đám quân không rõ nguồn gốc này.

Còn đang phân vân không biết là bạn hay thù thì lại nghe vị tướng áo đỏ hỏi:

"Thằng nhỏ kia! có làm sao không?

Con cái nhà ai lại đi đến nơi này?..."

Tướng quân áo choàng đỏ đang hỏi Thân, thì dường như nhận ra đều gì.

Mặt anh ta hiện lên một vẻ bất ngờ, vội hỏi:

"Mà ngươi là người... người sống.

Sao lại ở đây được?"

Nhìn qua trang phục, tóc tai thì Thân đã ngờ ngờ người này là người Việt, đến khi anh ta lên tiếng hỏi thì đích thị không phải quân Ngô rồi.

Nhưng nghe anh ta nói gì mà "người sống" làm Thân chả hiểu gì cả.

"Hay là mình chết rồi, chẳng lẽ đây là âm phủ mà mẹ cả hay nói tới!... nhưng chết rồi thì người ta kêu mình là người chết mới phải chứ?"

Với đầu óc linh hoạt, Thân phân tích nhưng vẫn đâm vào ngõ cụt.

Trong lòng cậu vô cùng phân vân, nói:

"Tôi là Phạm Thân, người Quảng Nam.

Lúc nãy có chạm phải cây cung anh đang cầm, sau chẳng biết làm thế nào thì đã thấy đứng ở ri rồi!...

Mà anh mới nói người sống là răng? có phải tôi chết rồi?"

Thân vừa dứt lời thì một tiếng tù và âm trầm phát lên từ đám kỵ binh ở phía xa.

Đám này sau khi thấy quân Trần xuất hiện thì án binh bất động, bàn bạc to nhỏ.

Giờ chúng bắt đầu thổi hiệu lệnh, dàn hàng tổ chức tấn công.

Cùng lúc đó, ở bên kia, con ngựa của tên kỵ binh cuối cùng cũng chịu khuất phục dưới hai cánh tay cơ bắp của người đàn ông to béo.

Ông ta dựng nó dậy, giao cho một binh sĩ dẫn đi, rồi mau chóng đốc thúc binh sĩ chỉnh đốn đội hình.

Tướng quân áo đỏ nói Thân trốn ra sau bãi lau, nếu có chuyện gì thì leo lên thuyền chèo đi.

Xong anh ta liền cưỡi ngựa vào đội hình quân Trần, đôn đốc binh sĩ dựng khiên phòng thủ.

Đám kỵ binh bắt đầu lao tới.

Chúng vừa đi vừa tách thành bốn nhóm.

Hai nhóm bên rìa, số lượng không lớn, phi ngựa đi rất nhanh, bỏ hai nhóm ở giữa lại phía sau.

Khi gần đến chúng đi chậm lại, giữ một khoảng cách với đội hình quân Trần, rồi vừa chạy theo vòng tròn, vừa bắn tên.

Quân Trần ở hai bên cánh liền nhận những thương vong đầu tiên.

Nhưng họ cũng đâu phải bia đất để mặc cho người ta bắn.

Những cung thủ phía trong liền bắn tên đáp trả.

Những binh sĩ ở gần những hàng đầu cũng phóng lao ra.

Vài tên kỵ binh liền trúng tên ngã ngựa.

Sau chúng liền rút lui về, vừa lui chúng vừa bắn tên ngược ra sau rất điêu luyện.

Hai nhóm kia vừa lùi một nhịp thì hai nhóm ở giữa, với quân số đông đảo hơn, liền tăng hết tốc lực đâm vào hai bên cánh của đội hình quân Trần.

Sau mỗi lần tông vào đội hình quân Trần, kỵ binh lại tìm cách nhanh chóng rút ra.

Hai nhóm kỵ binh ở giữa vừa ra thì hai nhóm bên rìa lại tiến tới, bắn cung xoay tròn quấy nhiễu.

Bốn nhóm ra vô nhịp nhàng, phối hợp rất nhuần nhuyễn.

Quân Trần dưới sự chỉ huy của tướng quân áo đỏ luôn giữ lại được đội hình sau mỗi lần bị thiết kỵ công phá.

Đội hình từ hàng ngang đã thành hình vòng cung, giáo chĩa ra ngoài như hàng rào gai.

Mỗi lần đội kỵ binh vào liền để lại xác người ngựa, và ngược lại mỗi lần như vậy quân Trần cũng mất thêm binh sĩ.

Người ngã ngựa đổ, tiếng la hét, hô hào vang vọng cả một góc trời.

Cảnh tượng máu me kinh hoàng này thật sự khiến cho Thân kinh hoàng.

Nó quá sức chịu đựng đối với một đứa trẻ mười tuổi.

Bụng Thân cảm thấy nhộn nhạo, chân thì mềm nhũn ra, cậu té bịch xuống mặt đất ẩm ướt nôn thốc nôn tháo.

Một mũi tên được bắn ra từ trong đám kỵ binh, thẳng về phía tướng quân áo đỏ.

Mũi tên quẹt vào mũ trụ của anh ta liền đổi hướng, bay vào đám lau sậy, đúng ngay chỗ Thân đang nấp.

Sự việc quá nhanh, Thân chưa kịp phản ứng thì mũi tên đã đến trước mặt.

Nhưng ngay lúc này, bỗng dưng cái cảm giác kỳ lạ khi cậu bước lên căn phòng thờ lại lập lại.

Mọi âm thanh kinh hoàng lúc nãy trong chốc lát liền im bặt.

Hành động của mọi người đều trở nên vô cùng chậm chạp.

Ngay cả mũi tên đang ở trước mặt cậu cũng đang khó nhọc nhích từng chút một trên không trung.

Thân giật mình.

Chớp mặt cậu lại đang ở trong căn phòng thờ của xạ trường.

Ngồi xổm kế bên cậu chính là ông già ngồi ngủ ở án thư.

Trên tay ông chính là cây cung của tướng quân áo đỏ.

Để ý có thể thấy ông dùng một miếng vải trắng cầm lấy cây cung, chứ không trực tiếp chạm vào.

Thân tưởng mình vừa ngủ mơ, nhưng cơ thể đau ê ẩm và vết thương ở tay đã cho cậu biết mọi chuyện vừa rồi không hẳn là mơ.

Chú Thích:

1.

Cân ở đây không phải là cân nặng của cung mà chỉ lực cần dùng để kéo dây cung.

2.

Nước Minh - Trung Quốc ngày nay.

3.

Quân Trần - là vương triều nhà Trần trong lịch sử Việt Nam.

Đây là triều đại được lưu danh với những chiến công hiển hách trong lịch sử Việt Nam.

Kéo dài từ năm 1225 đến năm 1400.

Quân Ngô - ý chỉ các triệu đại trong lịch sử Trung Quốc.

Vào thời điểm của truyện thì chính là nhà Minh (1368 - 1644).

Đây là triều đại cuối cùng do người Hán kiến lập trong lịch sử phong kiến Trung Quốc sau khi tiêu diệt nhà Nguyên (Mông Cổ).
 
Đề Hồ Truyện
Chương Bảy


Ông già râu dài vẻ mặt hơi khẩn trương, nhanh chóng đặt lại cây cung lên bệ gỗ rồi dẫn Thân xuống tầng trệt.

Khi này, Thân mới thấy rõ ông già này tuổi đã gần bảy mươi nhưng thân thể vẫn còn rất tráng kiện.

Lúc ông nắm tay Thân dẫn xuống tầng trệt, cậu nhận ra bàn tay của ông già vô cùng thô ráp, chai sạn.

Tới chỗ án thư, ông lấy ra một miếng vải băng bó vết thương ở tay Thân.

Ông xắn tay áo lên cho đỡ vướng víu làm lộ ra hai cánh tay cơ bắp gân guốc vô cùng rắn chắc.

Thân thầm nghĩ ông già này hẳn là một người luyện võ lâu năm.

Nhưng Thân cũng chỉ để ý sơ sơ thế thôi, vì tâm trạng cậu bé lúc này rối bời, chẳng khác nào đứa ăn cắp bị bắt quả tang.

Cậu nhớ lại chuyện cách đây không lâu, ở trường phủ có học sinh đi lung tung vào phòng thầy đốc học, bị thầy giáo phát hiện phạt cho năm hèo, sưng hết cả mông.

Lại nghe đồn xạ trường kỷ luật rất nghiêm, e là tội của mình chắc sẽ không đơn giản là năm hèo.

Đang suy nghĩ tới cây roi nó to thế nào thì ông già râu dài đã băng bó xong.

Ngoài lúc ở trên lầu ông có vẻ gấp gáp thì từ lúc xuống tầng trệt đến giờ ông đã trở lại dáng vẻ bình thản.

Không bộc lộ cảm xúc, ông hỏi :

"Mi là học sinh của thầy mô ở trường phủ?"

Thân liền vòng hai tay thưa:

"Dạ thưa là thầy Phó ạ!"

Ông già nghe xong thì thoáng vẻ đăm chiêu, nhưng rất nhanh vẻ đăm chiêu biến mất.

Ông hỏi:

"Thì ra là học trò của Nhật Tài! ...Thằng nhóc nớ dạo ni ra răng, có mạnh khỏe không?"

(Chi: Gì / Răng: Sao/ Rứa: Thế / Ni: Nay, Này ngược với Nớ: Đó, Kia)

Ở thời đại này, các sĩ phu ngoài tên do cha mẹ đặt thì thường tự đặt cho mình một cái tên tự, chỉ những người thân quen mới gọi tên tự của nhau.

Thầy giáo của Thân thật ra không phải tên "Phó".

Chẳng qua do ông làm chức phó Đốc học nên mọi người thường gọi là thầy Phó.

Tên thật của ông là Đặng Trí, tự là Nhật Tài.

Khi nghe ông già râu dài gọi tên tự của thầy giáo và kêu thầy là "thằng nhóc" thì hẳn ông già là trưởng bối rất thân thuộc với thầy Phó.

Thân tò mò hỏi:

"Thưa cụ, thầy con vẫn mạnh.

Ni chính thầy dẫn bọn con qua đây tập cung! ...Mà cụ có quen thầy con phải không ạ?"

"Nói ra thì nó cũng từng học của ta vài trò..."

Ông già vừa vuốt râu, vừa trả lời một cách mơ hồ.

Sau ông lấy ấm trà rót cho Thân một chén trà.

Ông kêu Thân uống, rồi ông hỏi :

"Nói ta nghe tại răng mi lại vào phòng thờ?"

Lúc này, giọng nói của ông già tăng thêm mấy phần nghiêm nghị.

Bất giác, nó khiến Thân sinh ra một cảm giác kính sợ trong lòng.

Tính tình Thân trước giờ dũng cảm, dù với cha hay thầy giáo cậu cũng chưa bao giờ có cảm giác này.

Không dám dấu diếm, Thân nuốt ngụm nước trà xuống bụng rồi liền kể hết tất cả quá trình từ lúc đi ngang qua sân trước nghe tiếng đánh nhau, đến cuộc chiến ở bãi lau...

Ông già ngồi nghe chăm chú, lâu lâu lại vuốt bộ râu dài.

Nghe xong, ông không nói gì về chuyện cây cung, chỉ đứng lên dẫn Thân về sân tập xạ nghệ của học sinh.

Thầy giáo thấy ông già dẫn Thân ra thì rất bất ngờ.

Thầy liền chắp tay khom người cúi chào ông già rất lễ độ.

Thân nghe được thầy gọi ông già là "Thầy Hợp".

Thầy Phó mới chào, còn chưa kịp hỏi chuyện gì thì cụ Hợp đã ra hiệu ngăn lại.

Sau cụ bảo Thân ra với các bạn, rồi kéo thầy Phó ra một góc xa.

Một lát sau, hai người đi vào lại sân tập.

Cụ Hợp vẫn dáng vẻ bình thản, nhưng thầy Phó thì lại rất đăm chiêu.

Thầy kêu Thân lại, bảo Thân lấy cung bắn vào tấm bia cách đó ba mươi trượng cho thầy xem.

Ở sân tập cung này, thầy giáo thường cho các học sinh tập bắn các mức từ mười đến ba mươi trượng.

Ba mươi trượng là tầm bắn hiệu quả nhất cho loại cung nhẹ, được làm bằng tre.

Tầm bắn tối đa có thể lên đến năm mươi trượng nhưng với khoảng cách xa thì lực tên cũng yếu đi nhiều.

Thân lấy cung ra, lắp tên vào.

Khi kéo cung ngắm bắn thì vết thương ở cánh tay vẫn đang đau nên tay cậu liền bị run.

Thân cố gắng cắn răng chịu đau để ổn định tay bắn, máu ở vết thương cũng rịn ra.

Thân thả tay, mũi tên bay đi trúng ngay hồng tâm.

Sự kiên trì chịu đựng này cùng thiên phú bắn tên của Thân đều đã lọt vào mắt cụ Hợp, ông hơi mỉm cười.

Xem xong ông cụ dặn dò Thân:

"Sắp tới nếu có chuyện chi lạ thì cứ đến xạ trường tìm ta.

Khi qua cửa cứ nói là học trò thầy phó!"

Dặn xong một câu này, ông cũng đi vào lại khu nhà.

Nửa canh giờ sau thì Thân cùng các học sinh khác về lại trường phủ.

Từ bữa đó, nhiều chuyện kỳ lạ cũng bắt đầu xảy ra y như lời nói của cụ Hợp.

Mới đầu, Thân thường ngủ mơ thấy cảnh tượng trận chiến ở bình nguyên hôm đó.

Mỗi lần nằm mơ Thân lại cố gắng dùng ý thức bản thân trong giấc mơ để thay đổi diễn biến, nhưng kết cục bao giờ cũng là cậu bị mũi tên lạc kia bắn trúng.

Mấy đêm liền Thân giật mình choàng tỉnh giữa đêm khuya.

Đó là ban đêm, còn ban ngày thì Thân lại hay nghe thấy âm thanh đánh nhau như hôm đi ngang qua tòa nhà ở xạ trường.

Tuy nó chỉ là những âm thanh nhỏ và nhanh chóng biến mất, nhưng lần nào nó cũng tạo ra một cảm giác thôi thúc khó hiểu.

Nó khiến Thân muốn quay lại tìm cây cung đó và được một lần bắn thử.

Càng kỳ lạ là những ngày Thân qua xạ trường tập xạ nghệ thì liền không bị hiện tượng này đeo bám.

Thân có đem chuyện này nói với thầy Phó.

Thầy rất lo lắng nhưng cũng không có cách giúp Thân.

Thân có cảm giác thầy biết chuyện gì đó nhưng mấy lần thầy định nói nhưng lại thôi.

Thời gian sau, Thân bắt đầu trốn sang xạ trường tập cung thường xuyên hơn.

Việc này giúp Thân tránh những âm thanh kia quấy rầy, dù sao đang học mà bị mất tập trung thì cũng không học được.

Hơn nữa, mỗi lần bắn cung trong thâm tâm Thân liền trỗi dậy một cảm giác hưng phấn khó tả.

Bằng một cách vô tình, hiện tượng kỳ lạ kia đã khơi dậy hoàng toàn niềm đam mê mãnh liệt trong cậu bé Phạm Thân.

Mỗi ngày vào lúc chập choạng tối, các học sinh ở trường phủ sau khi cơm nước, tắm rửa thì lục tục trở về chỗ ngủ.

Chỗ ngủ của học sinh ở trường phủ là những gian nhà dài, được dựng bằng gỗ, lợp mái tranh.

Mỗi gian nhà là nơi sinh hoạt tập thể của mười học sinh, thường là cùng độ tuổi.

Vào một buổi tối, Phạm Thân trở về gian nhà cùng các học sinh khác.

Tất cả đều leo lên sập tre, trải chiếu, chuẩn bị đi ngủ.

Nhưng thường thì một số học sinh sẽ không ngủ ngay mà nằm trò chuyện, trong đó có Thân.

Thân đang nằm kế bên nghe các bạn học nói với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, thì bỗng nhiên lời nói của các bạn học im bặt, thay vào đó là âm thanh đánh nhau nổi lên bên tai.

Đi kèm với âm thanh này như mọi khi là cảm giác thôi thúc Thân tìm đến với cây cung ma mị kia.

Có kinh nghiệm mấy lần trước, Thân cố gắng cưỡng lại, câu tin là trong chốc lát nó sẽ hết.

Nhưng không, lần này âm thanh mỗi lúc một lớn, cảm giác thôi thúc lại càng mãnh liệt, nó đã phá vỡ sự chống chế của cậu bé.

Thân không cưỡng lại được nữa liền leo xuống sập, đi ra cửa.

Thấy cậu đi ra, các bạn học vẫn nghĩ là Thân đi vệ sinh.

Nhưng đâu ai biết sau đêm đó, số phận Thân bắt đầu lao vào một lối rẽ khác.

Thân leo qua hàng rào gạch, trốn ra khỏi trường.

Với một ngọn đèn dầu, Thân lầm lũi trong đêm, đi về phía xạ trường phủ Thăng Hoa cách đó năm dặm.

Đến khuya,Thân tới được xạ trượng, âm thanh đánh nhau cũng dần nhỏ lại.

Bốn góc xạ trường đều có tháp canh, trên bậc thềm ngay trước cổng chính còn có hai người lính canh đang ngồi trò chuyện hút thuốc lào.

Thân nhớ tới lời dặn của cụ Hợp hôm trước, nhưng nghĩ lại giờ là nửa đêm, tự dưng có đứa nhỏ mười tuổi tới xạ trường đòi gặp người thì lính nào lại cho qua, chắc chắn là sẽ bị bắt lại, rất phiền phức.

Nghĩ đoạn, Thân quyết định lẻn vào.

Mấy lần trước Thân vào xạ trường có thấy một nơi trên hàng rào gỗ bị hỏng, để lộ một lỗ vừa cho đứa trẻ chui qua.

Nhưng lỗ này lại nằm ngay dưới một tháp canh.

Suy tính một lát, Thân quyết định thổi tắt ngọn đèn dầu rồi men theo hàng rào đi về phía lỗ hổng.

Gọi là đèn dầu nhưng thật ra nó chỉ là một chén gốm đựng dầu có một cọng bấc cắm vào.

Khi đến gần lỗ hổng, Thân ném chiếc đèn dầu ra xa.

Cái chén gốm vỡ toang trên mặt đất ở phía xa tạo ra một tiếng động nhỏ.

Nhưng giữa đêm khuya tĩnh mịch, âm thanh vang lên rất rõ ràng.

Nghe động, người lính trên tháp cành liền ném ngọn đuốc về hướng tiếng chén vỡ, dõi mắt quan sát.

Nhân lúc này, Thân như một con mèo liền chui vào lỗ hổng.

Sau khi đi qua các sân tập, tránh một nhóm lính canh đi tuần, thì Thân cũng đến được tòa nhà ở giữa sân trước.

Khi Thân đến đây thì âm thanh đánh nhau lúc này cũng hoàn toàn biến mất.

Trong Thân chỉ còn lại cảm giác thôi thúc mãnh liệt.

Trong sân trước không đốt đèn, cảnh vật chỉ có thể nhìn mờ mờ dựa vào ánh trăng.

Thân bước tới gần tòa nhà thì bất thình lình một cánh cửa mở ra.

Thân giật thót khi thấy bóng người đen thui ngay cửa tòa nhà.

Người nọ đốt lên một ngọn đuốc, Thân liền nhận ra cụ Hợp.

Lúc này, ông đang mặc một bộ viên lĩnh ngắn tay, thêu hình hổ vàng hai bên vai.

Toàn thân ông cụ nai nịt gọn gàng, chân đi giày đen, đầu đội nón sơn.

Trên nón viết ba chữ vàng nhưng Thân nhìn không rõ.

Bên hông ông cụ có treo một bao đựng cung, trong bao chính là cây cung sơn son thếp vàng ma quái ở phòng thờ.

Vừa nhìn thấy ông cụ cùng cây cung bước ra, cảm giác thôi thúc cũng tan biến.

Thân như vừa trút được một gánh nặng, vội vàng vòng tay chào cụ Hợp.

Trong lòng tự hỏi:

"Đêm hôm khuya khoắt, ông cụ không ngủ lại ăn mặc thế ni, không biết là định đi đâu?"

Thân vừa cúi người chào thì xung quanh xuất hiện ba người đàn ông.

Ai cũng mặc viên lĩnh màu đỏ, đội mũ đinh tự, mang binh khí như võ sĩ, tay cầm đuốc.

Họ tiến vào rất nhanh và không hề gây ra bất kỳ tiến động nào.

Trong ba người đàn ông trung niên, Thân nhận ra thầy Phó.

Ông cụ đi qua sân thi đấu ở ngay kế bên.

Thân cùng thầy Phó và hai võ sĩ cũng đi theo.Cụ Hợp ngồi trên ghế, đặt cây cung trên bàn trà, sau lưng là ba võ sĩ, còn Thân đang đứng giữa sân.

Cụ Hợp hỏi Thân:

"Đêm ni cây cung kêu hồi lâu, ta đoán đã đến lúc nó chọn người tiếp theo...

Có phải mi đến vì cây cung ni?"

"Thưa, phải ạ" - Thân thừa nhận.

"Ta phải nói cho mi biết, cây cung ni là một ma vật của người Nguyên.

Trước kia nó từng có bốn người chủ, nhưng chỉ có hai người khiển được, còn hai người khác đã bị hại cho hóa điên, kết cục không lành."

Ông cụ dừng lại một lát rồi nói tiếp.

"Nhưng nó đã chọn mi thì sợ rằng chỉ có cách phải bỏ đi thật xa may ra nó mới không theo ám được.

Còn không thì phải chịu qua thử thách, điều khiển nó thành vật của bản thân."

Thân nghe thì cũng sợ nhưng ham muốn chiếm hữu cây cung này cũng tăng lên mấy phần.

Cậu hỏi:

"Làm răng để điều khiển được nó ạ?"

"Mi phải mạnh hơn nó.

Phải có được bản lĩnh kéo cung trăm trượng thì may ra mới qua được!"

- Cụ Hợp nói giọng quả quyết.

Sau ông ôn tồn hỏi Thân:

"Đã từng nghe qua Kim Khái Môn chưa? (1)"

Thân lắc đầu, ông cụ tiếp:

"Kim Khái Môn là môn phái của chiến tranh, mở ra vào những năm chiến tranh chống giặc Minh.

Chưởng môn đầu tiên là Cương quận công Nguyễn Xí (2).

Đến thời Hồng Đức thì chia hai nhánh.

Một là Bắc Kim Khái và Nam Kim Khái.

Ta là chưởng môn của Nam Kim Khái đời thứ hai, Nguyễn Văn Hợp!"

Ông dừng lại uống một ngụm trà, rồi nói tiếp:

"Nhưng trước giờ môn phái chúng ta không truyền bá rộng, chỉ chọn người có duyên.

Đến năm ni Nam Bắc cũng chỉ còn lại mười một môn đồ...

Thời gian gần đây, ta có quan sát thì thấy mi là đứa trẻ có tài, lại có duyên với ta nên ta muốn nhận mi là đồ đệ.

Mi có bằng lòng?

"

Hơi bất ngờ, Thân liền phân vân, nhưng cậu nghĩ, nếu muốn có được cung ma thì phải mạnh lên, hiện thì chỉ có Kim Khái Môn này là một sự lựa chọn tiềm năng, lại rất kỳ bí.

Sự bí hiểm này đúng là kích thích tính tò mò của Thân.

Cuối cùng Thân cũng bằng lòng vào Kim Khái Môn.

Trước sự chứng kiến của ba vị sư huynh, đêm đó Thân làm lễ bái sư với cụ Hợp.

Từ giờ cậu là môn đệ thứ năm của Nam Kim Khái môn.

Chú Thích:

Khái - nghĩa là con hổ, con cọp.
 
Đề Hồ Truyện
Chương Tám


Kể từ đêm đó, Thân bắt đầu dành thời gian sang xạ trường học võ chỗ cụ Hợp.

Giờ Thân gọi cụ là thầy Hợp.

Mỗi ngày học sinh trường phủ thức dậy vào giữa giờ mão (1).

Sau khi vệ sinh, học trò sẽ bắt đầu dọn dẹp nhà ở, lớp học rồi dùng bữa sáng.

Đến giờ Thìn thì bắt đầu tiết học thứ nhất, kéo dài đến đầu giờ Ngọ.

Giữa giờ Ngọ học sinh dùng cơm trưa.

Sau bữa trưa, mọi người được về gian nhà nghỉ trưa.

Vào giờ mùi sẽ bắt đầu tiết học thứ hai.

Ở tiết thứ hai, ngoài tứ thư ngũ kinh, thi phú, học sinh cũng thường được xếp một môn ngoại khóa, như xạ nghệ, vẽ tranh, trồng cây...

Tiết này kết thúc vào giữa giờ Thân.

Riêng Phạm Thân thì được thầy Phó cho ngoại lệ.

Sau khi hết tiết học buổi sáng, Thân dùng cơm rồi liền chạy sang xạ trường.

Ở đây Thân không được nghỉ trưa mà tập luyện thể lực khốc liệt đến đầu giờ tuất.

Mỗi ngày, sau khi tập luyện rã rời thì lại phải chạy về trường phủ thêm một chặng.

Tập được năm tháng thì cơ thể Thân đã bắt đầu cứng cáp, dẻo dai lên nhiều.

Một buổi trưa, thầy hợp đang ngồi trong phòng sách, tầng trệt của tòa nhà ở sân trước xạ trường.

Thân thì đang tập đứng tấn ở ngoài sân.

Trên người cậu mặc độc một chiếc khố vải.

Hai chân Thân đứng trên hai chồng gạch cao.

Trên đầu đặt một chén nước.

Giữa hai chồng gạch có cắm một nén nhang.

Nhang tàn thì Thân sẽ thôi đứng tấn và tập qua động tác khác.

Khi nén nhang còn một đoạn ngắn thì Thân nghe thấy tiếng thầy Hợp kêu cậu vào.

Thân đi vào phòng sách, đến bên thư án nơi thầy ngồi.

Thầy bảo Thân lại gần, rồi bắt đầu xoa một thứ rượu thuốc màu nâu nhạt lên khắp thân thể cậu.

Thuốc này có mùi rất kỳ lạ, ngoài mùi rượu nồng đậm thì còn thoang thoảng mùi bạc hà.

Khi thoa lên da thì chuyển từ màu nâu sang màu vàng.

Thoa xong, thầy Hợp lệnh cho Thân ra sân kéo cung chín mươi cân một trăm lần.

Chín mươi cân là mức cung Thân chỉ mới tập gần đây, vẫn chưa quen.

Nhưng thầy đã lệnh thì trò phải làm.

Thân kéo đến lần thứ chín mươi thì đôi tay đã mỏi nhừ, lưng nghe ê ẩm, mồ hôi xuất ra đầy người.

Thứ thuốc thầy Hợp thoa lên người Thân lúc này cũng đã phai màu đi nhiều, nhưng khắp thân thể Thân bắt đầu xuất hiện vằn vẹn gân xanh gân đỏ.

Thân mặc kệ, cố gắng kéo mười lần cuối.

Sau khi trút hết sức lực, cậu mới miễn cưỡng hoàn thành một trăm lần kéo cung.

Thầy Hợp đi ra sân, bắt đầu sờ nắn tay, lưng và chân của cậu học trò nhỏ.

Xem xong, thầy tỏ vẻ hài lòng, nói:

"Ta đã không nhìn lầm!

Trước đây con từng tập qua xạ nghệ, cơ thể lại có thiên phú, nên mới vài tháng đã cứng cáp lên nhiều!...

Vài bữa nữa sẽ bắt đầu sang giai đoạn ngâm.

Ni ta cho nghỉ sớm, con về gọi Nhật Tài mai sang đây ta biểu!"

Thân vâng lời thầy, ra sân sau tắm rửa, mặc lại quần áo.

Quay lại sân trước thì thầy Hợp vẫn đang ngồi ở chỗ sân đấu uống trà, hút thuốc.

Thấy hãy còn sớm, Thân tiến lại hỏi thầy:

"Thưa thầy, khi nãy thầy nói về giai đoạn ngâm, vậy trò phải trải qua tất thảy mấy giai đoạn ạ?"

Thầy Hợp đáp:

"Con sẽ phải qua ba giai đoạn là Xoa, Ngâm, Kỹ!...

Xoa là giai đoạn luyện thể lực ban đầu.

Giúp cho sức khỏe dẻo dai, xương cốt cứng cáp.

Người thường thì mất một đến hai năm.

Riêng con thì đúng là đặc biệt, mới năm tháng, ta xoa thuốc lần đầu liền đã thành công! ...Sau khi xoa ta sẽ qua Ngâm.

Giai đoạn này là tăng cường tập luyện về thể lực và khí lực.

Quan trọng nhất là luyện nhịp thở.

Mỗi tháng sẽ ngâm mình trong rượu thuốc hai lần.

Việc nì sẽ rất đau khổ và kéo dài một năm!...

Vượt qua được thì ta đến Kỹ.

Kỹ là giai đoạn lớn nhất, chuyên tâm về kỹ thuật sử dụng binh khí và binh thư.

Thời gian lại vô chừng, có người học một hai năm là thành danh tướng, nhưng cũng có kẻ học cả đời không thể xuất môn!"

Thân nghe xong thì càng tò mò về Kim Khái Môn.

Cậu nói:

"Tuy trò đã là người của Kim Khái Môn, nhưng bản thân lại không biết gì về lại lịch bản môn.

Ni trời hãy còn sớm, thầy giảng cho trò với ạ!"

Đầu giờ Thân, trời về chiều, ánh mặt trời đã bớt đi sự gay gắt.

Dưới lọng che ở sân thi đấu, thầy Hợp ngồi trên ghế tựa uống trà.

Ông lấy một trái cam từ dĩa trái cây trên bàn trà bên cạnh đưa cho Thân.

Thân ngồi dưới đất lột cam, thầy Hợp thì nhàn nhã vê những bi thuốc lào cho vào điếu cày.

Lột cam xong Thân đặt lên bàn mời thầy.

Thầy lấy một nửa cho Thân.

Ông hút một hơi thuốc, nhả khói lên không, rồi bắt đầu kể về lai lịch kỳ bí của Kim Khái Môn cho cậu học trò nhỏ.

Thầy Hợp đã từng nói Kim Khái Môn được lập nên bởi Cương quốc công Nguyễn Xí.

Nhưng để có được một thiên tài quân sự, một khai quốc công thần cho nhà Lê thì không thể thiếu công lao của người anh của ông, Nghiêm quận công Nguyễn Biện (2).

Chuyện gia đình họ Nguyễn ở xứ Nghệ sớm đã trở thành truyền thuyết.

Chuyện là ở huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quảng, Trấn Nghệ An (3) có một nhà làm muối lâu đời, gia chủ lúc bấy giờ tên là Nguyễn Hợp.

Ông sinh được hai người con trai, trong đó người con thứ chính là cha của Nguyễn Xí, tên Nguyễn Hội.

Nguyễn Hội vào những năm tuổi trẻ là một doanh nhân có chí hướng muốn tự tạo dựng, mở mang sự nghiệp.

Nên vào nửa cuối thế kỷ mười bốn, ông dẫn vợ là bà Vũ Thị Hạch vào xã Thượng Xá, huyện Nghi Lộc, trấn Nghệ An, mở thêm một lò muối.

Tại đây, nhờ cần cù chịu khó, hai vợ chồng làm ăn rất phát đạt, muối nhà ông Hội bán lên đến cả các tỉnh miền cao.

Sau bà Hạch sinh được hai người con trai, sau này đều là những anh hùng của dân tộc.

Người anh tên Nguyễn Biện, người em tên Nguyễn Xí.

Đất Thượng Xá vào những năm đó hãy còn là một vùng đất hoang vu.

Ruộng tươi đất tốt ít ỏi, dân cư thưa thớt.

Lúc đầu về đây còn nhiều khó khăn, ông Hội nhận thêm việc canh giữ chùa Kim Tự, còn gọi là chùa Vàng.

Thường ngày, vào cuối giờ sửu, ông phải thức dậy đi vào chùa điểm chuông chùa.

Thời này tiếng chuông chùa chính là âm thanh báo thức cho bàn dân trong vùng.

Nghe chuông mọi người sẽ tỉnh giấc, chuẩn bị cho một ngày làm việc mới.

Một đêm nọ, trời gió, ông Hội đang nằm trên sập ngoài hiên, lim dim ngủ thì bỗng một cơn gió lạnh thổi đến làm ông lơ mơ tỉnh giấc.

Vừa mở mắt ông không khỏi giật mình khi thấy một người phụ nữ đang quỳ gối trước sập.

Người này chẳng rõ người hay ma, nhìn thế nào cũng không rõ mặt.

Bà ta cầu xin rằng:

"Sáng ngày mai, xin ngài gia ân, đừng điểm chuông chùa!

Nếu ngài vẫn điểm chuông thì mẹ con nhà thiếp sẽ bị họ giết oan!"

Câu nói vừa dứt thì ông Hội rùng mình tỉnh hẳn, lấy tay dụi mắt, thì người nọ đã không còn thấy đâu nữa.

Ông Hội cho là mình nằm chiêm bao.

Nhưng sự việc kỳ lạ này làm ông thao thức mãi không ngủ lại được.

Giờ sửu đến, trong lòng ông Hội cứ phân vân, cuối cùng ông chọn tin vào linh tính của mình.

Nghĩ chuyện này tất có uẩn khúc nên ông quyết định không vào chùa điểm chuông.

Trời sáng, ông Hội vừa mở cửa đi ra lò muối, thì ông hàng thịt ở cạnh nhà, đầu tóc rối mù chạy sang trách:

"Chết thật!

Bác làm tôi lỡ việc rồi!

Sáng nay, không nghe tiếng chuông chùa nên tôi không dậy làm thịt lợn để đưa ra chợ bán được, làm bà nhà tôi quần tôi te tua từ sáng đến giờ!"

Nói đoạn ông dừng lại thở vài hơi rồi nói tiếp :

"Mà khốn khổ, con lợn tôi mua về thả trong chuồng chiều qua, sáng nay bỗng sinh ra một đàn lợn con.

Không tin bác sang mà xem!".

Ông Hội nghĩ bụng chuyện này tất có liên quan đến người phụ nữ đêm qua.

Ông lật đật sang nhà anh hàng thịt xem, thì quả đúng con lợn nái trong chuồng đã sinh ra một đàn lợn con.

Đang xem thì ông Hội phát hiện ra một chú lợn con trông rất lạ.

Bề ngoài là một con lợn nhưng trên thân mình lại lờ mờ những đường vằn như hổ.

Ông hàng thịt thấy sự lạ lại nghĩ là điềm gở.

Ông phát hoảng liền nói với vợ đem giết nó đi.

Ông Hội liền cang ngăn, một mực xin tha mạng cho con lợn con.

Lấy trong người ra ít tiền, ông Hội xin ông hàng thịt nuôi nó thêm một thời gian, rồi sau ông sẽ mang nó về nhà nuôi.

Một thời gian sau, chú lợn con cứng cáp hơn, trên thân mình những vằn đen đã bắt đầu nổi rõ, ông Hội đã sang mang về nuôi.

Vợ chồng ông Hội nuôi lợn rất kỹ, luôn cho ăn uống kèm tắm rửa.

Hai anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Hội cũng rất thích chú lợn kỳ lạ này, thường chơi đùa.

Được chăm sóc chu đáo con lợn lớn nhanh như thổi, chỉ một thời gian sau nó trở thành một con hổ thực sự vạm vỡ.

Nhớ tới cơ duyên xưa với chuông chùa Kim Tự, ông Hội đặt tên cho nó là Kim.

Hàng ngày ông Hội dắt Kim bên mình và dạy cho nó cách canh đó (4) và canh lò nấu muối mỗi khi ông đi vắng.

Cuối tháng ba năm Ất Dậu, 1405, Có người bạn ở làng bên mời ông Hội sang ăn đám tiệc.

Trước khi đi, ông Hội dắt Kim ra đập Hạng, nơi ông đang đặt đó đơm tôm cá, rồi âu yếm vỗ vào lưng nó dặn:

"Con ở nhà canh đó và lò muối cẩn thận cho ta nhé!".

Bữa tiệc hôm ấy kéo dài đến tận khuya mới tàn, khi về đến làng ông Hội đã ngà ngà say.

Lúc này, ông bỗng dưng nảy ra ý định ra đập Hạng, thử kiểm tra xem chú hổ mà ông yêu quý có vâng lời không.

Trên bầu trời tối đen bắt đầu vần vũ đổ mưa.

Ông Hội lầm lũi vào nơi đặt đó thì thấy con hổ đang ngồi canh chừng.

Bất ngờ nó phát hiện có người, liền đề cao cảnh giác.

Lại trời tối mưa to nhìn không rõ.

Mùi rượu trên người ông Hội cùng nước mưa trên mũi đã vô hiệu hóa khứu giác của Kim.

Tưởng có kẻ gian đang muốn ăn trộm cá của chủ mình, Kim liền lao thẳng vào vồ, khiến ông Hội chết ngay tại chỗ.

Sau khi vồ chết người, con hổ mới nhận ra đó là chủ của mình.

Nó khóc, rồi ngoạm xác ông Hội đặt lên lưng, cõng vào khu Đồng Lầm, thuộc làng Mượu Nậy, bới đất an táng chủ.

Sáng hôm sau, không thấy ông Hội trở về, cũng chẳng thấy con hổ đâu.

Bà Hạch cùng gia nhân đi hỏi thăm khắp nơi.

Sau bà con làng xóm cũng bủa ra đi tìm.

Tới chiều mới phát hiện xác ông Hội đã được Kim chôn lấp sơ sài ngay tại Đồng Lầm.

Con hổ nằm canh giữ bên mộ không rời.

Dân làng và vợ con ông Hội vào đưa xác ông về chôn thì con hổ nhe răng gầm gừ, nhất quyết không cho mang xác chủ đi.

Hai anh em Nguyễn Xí mấy lần đánh lạc hướng, dụ hổ đi chỗ khác cho gia đình đưa thi hài cha đến nơi khác an táng, nhưng ban đêm hổ lại mang xác chủ về vùi lấp ở chỗ cũ.

Sau nhiều lần thất bại, gia đình đành phải để nguyên ông lại đó.

Kỳ lạ là nơi ông Hội được hổ vùi, đất cứ nổi dần lên thành một nấm mộ lớn, cỏ mọc xanh um.

Sáng sớm ngày thứ một trăm sau khi ông Hội mất, anh em Biện và Xí ra mả cha dọn dẹp.

Khi hai người chuẩn bị cúng kiến thì thấy con hổ ngậm một quyển sách rách nát đến đặt dưới chân hai người.

Con hổ quay qua dụi đầu vào mả ông Hội mấy cái, vẻ lưu luyến lắm.

Xong, nó quay lưng bỏ đi vào phía núi Riềng.

Hai anh em Biện gọi khản giọng nhưng hổ Kim không quay lại nữa.

Bốn lăm ngày sau, vì quá thương chồng, tâm trạng buồn phiền, bà Hạch lâm bệnh nặng rồi đột ngột qua đời, để lại Biện năm đó mười một tuổi và Xí thì mới lên tám.

Ông Nguyễn Hợp năm đó tuổi đã cao, sợ cũng không còn sống được mấy năm, nhưng thương hai đứa cháu côi cút.

Ông quyết định lặn lội, dẫn hai anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Xí ra trại Lam Sơn nhờ Hào trưởng Lê Khoáng, người từng có giao tình với Nguyễn Hội, cưu mang hai anh em.

Ở trại này hai anh em đã gặp Lê Lợi (5), người sau này giải phóng dân tộc, lập nhà Hậu Lê, và cũng tại đây Nguyễn Biện đã phát hiện quyển sách con hổ tặng là một cuốn kỳ thư.

Tuy cuốn sách chỉ còn nửa sau, nhưng với tài năng quân sự, Nguyễn Biện đã biên soạn lại được sáu phần, lập ra các kỹ thuật chiến đấu cùng binh pháp yếu lược.

Đây chính là tiền đề cho Nguyễn Xí hoàn thiện và lập ra Kim Khái Môn về sau.

Chú Thích:

Giờ Tý: từ 23 giờ đến 1 giờ sáng.

Giờ Sửu: từ 1 giờ đến 3 giờ sáng.

Giờ Dần: từ 3 giờ đến 5 giờ sáng.

Giờ Mão: từ 5 giờ đến 7 giờ sáng.

Giờ Thìn: từ 7 giờ đến 9 giờ sáng.

Giờ Tỵ: từ 9 giờ đến 11 giờ sáng.

Giờ Ngọ: từ 11 giờ đến 13 giờ trưa.

Giờ Mùi: từ 13 giờ đến 15 giờ chiều.

Giờ Thân: từ 15 giờ đến 17 giờ chiều.

Giờ Dậu: từ 17 giờ đến 19 giờ tối.

Giờ Tuất: từ 19 giờ đến 21 giờ tối.

Giờ Hợi: từ 21 giờ đến 23 giờ tối khuya.

Nguyễn Biện - (1394 - 1425) người làng Hải Tân, xã Thượng Xá (nay là xã Khánh Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An).

Ông là một tướng lĩnh của Lê Lợi, Anh hùng dân tộc Việt Nam, Ông được nhà Lê truy phong tước vị Thái phó Nghiêm Quận Công

Nay là huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Đó - đồ dùng để đón bắt cá, tôm, tép, thường đan bằng tre, nứa, hình ống, có hom đậy.

Lê Lợi - Lê Thái Tổ (1385 – 1433) là một nhà chính trị, nhà lãnh đạo quân sự, người đã thành lập một đội quân người Việt và lãnh đạo đội quân này chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của quân đội nhà Minh (Trung Quốc) từ năm 1418 đến lúc đánh đuổi hoàn toàn quân Minh ra khỏi Đại Việt vào năm 1428, lập ra nhà Hậu Lê.
 
Đề Hồ Truyện
Chương Chín


Nói tới đây thầy Hợp dừng lại, ăn một múi cam.

Thân ngồi dưới đất mơ màng nhớ tới một chuyện về Nghiêm quận công mà trước đây thầy Phó từng kể ở lớp học.

Vào năm Canh Thân, 1418, tức mười năm trước khi Lê Thái Tổ đánh bại quân Minh, lập ra triều đại mới.

Trong nghĩa quân có kẻ phản bội, tên Ái.

Kẻ này dẫn quân Minh đánh úp căn cứ nghĩa quân khiến Lê Lợi cùng ba quân bị vây khốn trên núi Chí Linh.

Lương thực cạn kiệt, sĩ khí sụt giảm.

Lúc đó cấp thiết nhất chính là thoát khỏi vòng vây.

Lê Lợi ra kế hỏi tướng lĩnh:

"Nay thế trận hiểm nguy, có ai dám làm như Kỷ Tín đời Hán (1), thân khoác hoàng bào mà hy sinh thay ta không?"

Trong quân có tướng hậu cần, tên Lê Lai (2) đứng lên, thưa rằng:

"Thần nay nguyện được tử trận thay cho chủ công.

Ví như sau này giành được giang sơn thì xin nghĩ đến công lao của thần, khiến cho con cháu muôn đời được nhờ quốc ân, được vậy thần chết cũng nhắm mắt."

Lê Lai là người trung dũng, tính tình cương trực, chí khí lẫm liệt, Lê Lợi thường rất yêu thích.

Nay ông xung phong vào cửa tử, trong lòng Lê Lợi rất thương cảm, chần chừ mãi không xuống lệnh.

Lê Lai chắp tay nói giọng cương quyết:

"Bây giờ nguy khốn thế này, nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, toàn quân sẽ sớm bị diệt.

Mấy năm qua sợ là hóa thành vô ích.

Nếu theo kế này của chúa công, may ra có thể thoát được.

Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì!"

Lê Lợi rơi nước mắt, ban lệnh cho Lê Lai xuất quân.

Ngoài năm trăm tử sĩ cùng hai thớt voi, thì còn có một vị tướng theo bên Lê Lai, người này chính là Nguyễn Biện.

Trước ba quân Lê Lợi khấn với trời:

"Lê Lai, Nguyễn Biện có công đổi áo, sau này khôi phục nghiệp xưa, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn!"

Vừa dứt lời, cửa trại mở ra, trống trận gióng lên dồn dập.

Lê Lai, Nguyễn Biện chắp tay chào Lê Lợi cùng chư tướng, rồi xuất quân hướng đến cửa trại giặc khiêu chiến.

Giặc cậy quân mạnh xông ra đánh.

Nguyễn Biện cưỡi ngựa, dẫn năm trăm quân cùng hai thớt voi hộ tống Lê Lai xông vào giữa trận giặc tả xung hữu đột.

Đánh ác liệt một hồi, cảm thấy không còn chống đỡ được nữa, Lê Lai hô to "Ta đây là chúa Lam Sơn!".

Giặc liền xúm lại vây bắt.

Cả trăm tên giặc Minh cuối cùng cũng cản được ngựa của Lê Lai.

Thấy thế, Nguyễn Biện liền xông vào, kéo Lê Lai lên ngựa của mình, chạy phá vòng vây.

Vừa chạy Biện vừa bắn cung.

Tên xuất đi không trượt phát nào.

Ngay lúc gần thoát thì ngựa của Biện không chạy nổi nữa, khụy té xuống đất.

Hai lần té ngựa, cơ thể Lê Lai đã đến cùng cực, không chạy nổi nữa.

Cung của Biện cũng đã gãy.

Hai người đấu lưng vào nhau đánh một trận cuối.

Để bắt được hai người võ dũng, quân minh đã bỏ xác đến vài chục tên.

Sau khi bắt được chúng liền đem Lê Lai về trại chém đầu, còn Nguyễn Biện thì bị giải về Bắc Kinh.

Sự kiện phá vòng vây này rất nổi tiếng, được lưu truyền đến mãi về sau.

Nhưng trước đây, nhiều lần Thân nghe người kể chuyện ở hàng nước hay thầy đồ làng kể lại đều không thấy sự xuất hiện của Nguyễn Biện.

Riêng chỉ có thầy Phó là nhắc đến.

Cảm thấy khó hiểu Thân đem chuyện này hỏi thầy Hợp.

Thầy Hợp uống một hớp trà rồi đáp:

"Chuyện của ông Biện thì đúng là chỉ có đám sĩ phu là biết ít nhiều!...

Nhưng lâu như rứa rồi, người ta cũng chỉ còn nhớ người cải trang Lê Lai."

Thầy ngưng lại, tay vuốt râu, mắt nhìn xa xăm như nhớ lại một sự việc xưa cũ.

Thầy nói tiếp:

"Dân gian truyền nhau "mồng một Lê Lai, mồng hai Lê Lợi" là do vào những ngày tháng cuối đời, Lê Thái Tổ có dặn lại đời sau phải làm giỗ Lê Lai trước mình một ngày.

Nhưng thật ra trong những ngày đó, ngài căn dặn lại rất nhiều việc.

Từ chuyện quân sự, ngoại bang, kinh tế đến các vấn đề thiên tai, dịch họa.

Lúc đó ngài như muốn cố xử lý sự vụ của cả nước trong thời gian ít ỏi còn lại.

Trên giường bệnh, ngài liên tục gọi các đại thần vào dặn dò.

Một hôm, ngài gọi Nguyễn Xí cùng Phạm Vấn, Lê Sát, Lê Ngân vào căn dặn chuyện quốc sự và bàn chuyện kế vị.

Vua ban chiếu chỉ cho các đại thần phò Thái tử Lê Nguyên Long lên ngôi, tức hoàng đế Lê Thái Tông (3).

Cuối cùng, ngài bảo các đại thần lui ra, riêng Nguyễn Xí thì giữ lại.

Nguyễn Xí ngồi bên long sàng (4) hầu chuyện.

Vua nhắc tới các chiến sĩ năm xưa đã hy sinh, hỏi bao năm nay chăm lo cho gia quyến họ có được trọn vẹn.

Xí đáp mọi chuyện ổn thỏa, binh sĩ đều được lưu tên.

Ai mất tích thì đều đã cố gắng kiếm tìm.

Gia quyến binh sĩ đều đã được ban tiền, cấp đất trồng trọt.

Con em các tướng chết trận đều được triều đình đào tạo trọng dụng.

Vua nghe vậy rất hài lòng.

Quân thần hai người ngồi kề bên nhau ôn lại những năm tháng tung hoành trận mạc.

Sau lại nói đến trận phá vòng vây năm Canh Thân.

Năm đó, trên núi Chí Linh, các tướng có đề ra vài kế phá vòng vây, nhưng Lê Lợi đều không chịu kế nào.

Tối đó, Nguyễn Biện xin diện kiến Lê Lợi để hiến kế phá vây:

"Bẩm chúa công, quân giặc đặt trại quanh núi, chốt chặn chủ yếu ở bốn con đường lớn vô cùng hiểm yếu.

Nghĩa quân muốn xuống núi, tất phải qua một trong bốn đường.

Thần đã do thám được quân số tại các trại có sự chênh lệch.

Một trại chính là nơi đại quân đang đóng, quân số rất lớn, nằm trên con đường ở hướng Nam.

Thần xét thấy chỉ có con đường này là đại quân ta rút lui khả thi nhất.

Ba trại phụ đóng ở nơi địa thế nhỏ hơn, quân số trên dưới ba ngàn.

Quân ta qua ba đường này sẽ dễ bị vây khốn vào nơi chật hẹp, đại quân căn bản là không nên qua.

Ngoài ra còn có năm sáu trại nhỏ rải rác xung quanh.

Các trại này có sự phối hợp điều động binh lực rất nhịp nhàng.

Trong hai lần nghĩa quân tổ chức phá vây, quân giặc hễ thấy chúa công ở nơi nào thì liền điều quân về nơi ấy đánh giết.

Trước ta cũng đã thử kế chia quân tập kích các trại, nhưng binh lực quân ta quá mỏng chưa kịp tạo lỗ hổng liền bị quân tiếp viện của địch đánh bật lại.

Nay hạ thần xin hiến kế!...

Ta cho ba người đóng giả chúa công, cùng thần đánh vào một trại phụ.

Khi quân Minh bắt đầu dồn về phía chiến sự thì đại quân của chúa công phá vòng vây đánh ra ở nơi khác.

Mấu chốt của kế này nằm ở người giả và thanh thế.

Toán quân đánh lạc hướng ở trại phụ không những thanh thế phải lớn mà giai đoạn đầu còn phải đoạt được thế thượng phong.

Phải làm cho giặc kinh sợ, tương là chúa công ra quân thật.

Như vậy chúng sẽ phải dụ được quân giặc từ trại chính sang.

Khi chúng rút ra từ trại chính, thì đại quân ta phải tức tốc đánh thẳng vào trại chính.

Vì các trại phụ binh lực ít, quân Minh luôn đề cao cảnh giác, phối hợp tiếp viện, nên ta phải đánh vào nơi chúng không ngờ đến nhất."

Lê Lợi rất hài lòng với kế này.

Ngài hỏi về việc sau khi thoát ra rồi sẽ hội quân với Biện ở đâu.

Biện thật lòng đáp:

"Toán quân đánh lạc hướng ở giai đoạn hai sẽ kéo dài thời gian càng lâu càng tốt và... chín phần là hy sinh!"

Lê Lợi nghe những lời này thì biết rõ Nguyễn Biện đang nói khéo, trận này chắc chắn mười phần là không ai thoát được.

Còn Biện sẽ ra trực tiếp chỉ huy, sợ cũng không trở về được nữa.

Không muốn mất đi ái tướng bên mình bao năm, Lê Lợi liền không muốn quyết kế này.

Lúc này có một người lẫm liệt bước vào, quỳ xuống nói:

"Bẩm chúa công, kẻ làm tôi thì phải xả thân vì chủ!..

Chúa công mà chần chừ không quyết kế này ,chỉ sợ quân thần sớm sẽ chung mạng mà diệt vong trên núi này!"

Người vừa vào chính là Lê Lai.

Nguyễn Biện cũng đến bên Lê Lai cùng quỳ xuống nói:

"Chúng thần đã bàn kế kỹ lưỡng.

Trong quân ta vóc dáng giống chúa công nhất cũng chỉ có Lê Lai.

Ngón gươm đất Hoan Châu đứng nhất là chúa công thì nhì cũng chỉ có Lê Lai!...

Nay chúng thần quyết cược một trận, dốc cả mạng cho nghĩa quân ta một con đường máu mà hồi sinh, mưu thành đại nghiệp!"

Lê Lợi thấy hai người quyết tâm thì trong lòng hiểu đây đã là cách cuối cùng.

Ông cũng không lạ cái kỳ tài của Nguyễn Biện, binh võ đã sớm thành tài.

Biện thân cận với ông đã hơn mười năm, tình thâm như ruột thịt.

Lê Lai lại là người lo hậu cần cho nghĩa quân chu đáo, thiếu Lê Lai thì ra trận như rách áo, gió thổi sau lưng.

Biết mai đây sẽ mất đi hai mãnh tướng lòng Lê Lợi đau đớn không thôi.

Hôm sau mọi việc được thông báo cho ba quân tướng sĩ.

Lê Lợi đứng ra khấn trời y như lời thầy Phó đã kể.

Nhưng khác biệt lại nằm ở quá trình chiến sự phía sau.

Nguyễn Biện cắt râu tóc Lê Lai cho giống Lê Lợi, rồi khoác áo bào của Lê Lợi lên bên ngoài áo giáp Lê Lai.

Lần ra quân này hai người dẫn theo năm trăm thân quân, hai thớt voi và năm mươi thớt ngựa.

Năm trăm quân này là kỳ binh đã được Nguyễn Biện tôi luyện từ những ngày đầu theo phương pháp trong kỳ thư.

Trang bị, vũ khí, ngựa giáp Lê Lợi đều dốc túi bỏ ra không tiếc.

Thời điểm đó lực lượng nghĩa quân còn yếu mà Lê Lợi chịu bỏ ra như vậy là đã hết lòng.

Trong tâm ngài vẫn mong hai ái tướng có được một con đường thoát.

Quân Nguyễn Biện và Lê Lai kéo đến đánh một trại phụ của địch nằm ở hướng Bắc, gần một con đường hẹp xuống núi.

Thường thì đại quân sẽ không thể đi qua được nơi này, nhưng với năm trăm binh của Biện thì không khó.

Hơn nữa, đây là trận địa Biện đã dày công chọn lựa và điều tra quân địch kỹ càng.

Theo kế, ngoài Lê Lai, Nguyễn Biện còn bố trí cho hai binh sĩ có dáng người xấp xỉ Lê Lợi mặc áo vàng.

Địch thấy có hai người mặc áo màu vàng trên lưng voi thì sẽ nghĩ đó là Lê Lợi mà xua quân ra đánh.

Biện đã điều tra qua tên chỉ huy trại này.

Hắn là một tên Việt gian, tính rất đa nghi và đã từng thấy qua Lê Lợi.

Dựa vào sự đa nghi của tên này, Biện bày ra một ổ liên hoàn kế.

Ông vừa tạo thanh thế cho giống chủ tướng xuất binh, lại vừa dùng Lê Lai có dáng vóc, võ thuật gần giống Lê Lợi.

Sau lại tiếp một chiêu kế lồng trong kế, lập hai người giả thế mạng cho Lê Lai, sau cùng mới đưa Lê Lai ra.

Với toàn bộ sự sắp xếp này vẫn cần binh lính mạnh mẽ, tinh thần quả cảm như liều chết bảo vệ chủ công, thì địch mới hoàn toàn bị lừa, tin tưởng chúa Lam Sơn đã thật sự xuất binh.

Còn nếu tướng địch gặp ba người giả mà đâm phân vân, chần chừ thì đó chính là hắn đang tự đào mồ chôn.

Trận chiến diễn ra, Nguyễn Biện dẫn hai trăm quân ra khiêu khích trước.

Hơn ngàn quân địch cậy mạnh liền ùa ra như sói đói lập công.

Đánh chưa được bao lâu thì Biện lùi quân về ba dặm, quân giặc liền đuổi theo.

Quân Biện liền rút vào đường hẹp lên núi, dựa địa hình cao đánh xuống.

Nhưng cũng ngay lúc này một trăm nghĩa quân, dẫn đầu là một thớt voi, ẩn nấp trong bìa rừng liền túa ra đánh chặn hậu quân địch.

Chiêu này đơn giản nhưng thường hiệu quả.

Tên đạn quân địch bắn như mưa như nhờ trang bị tương đối tốt với khiên dày giáo nhọn, đội hình chặt chẽ mà quân Nguyễn Biện giảm được mức thương vong xuống mức thấp nhất.

Khi đã vào đánh áp sát, mấy trăm quân của Nguyễn Biện có sức chiến đấu tốt, phối hợp tiến lui nhịp nhàng, lại đánh từ vào hai hướng, nên liền có thể giết địch như cắt cỏ.

Địch bất ngờ bị chặn hai đầu, không kịp phản ứng liền bị đánh cho lao đao, liên tục nhận thương vong.

Trong quân địch đã dần xuất hiện sự hoảng loạn, lại thấy trong đám quân mới xuất hiện có người ngồi trên lưng voi mặc áo vàng.

Sợ uy chúa Lam Sơn thì lại càng hoảng.

Chưa biết thật giả liền phát tính hiệu kêu cứu về phía trại.

Quân trong trại do đích thân tướng địch liền kéo ra.

Khoảng cách không xa nên rất nhanh quân tiếp viện của địch đã gần đến nơi.

Ngay lúc này một trăm nghĩa quân cùng một thớt voi khác từ bìa rừng xông ra đánh chắn trước mặt quân tiếp viện.

Tướng địch thấy hai người trên lưng voi đều mặc áo vàng, dáng người nhìn từ xa cũng có phần giống chúa Lam Sơn.

Nhất thời không phân biệt được liền dừng lại, Chia mấy trăm bộ binh cùng kỵ binh tiến lên đánh vào, nhất quyết phải bắt sống hai tên áo vàng.

Quân tiếp viện của địch vừa đánh vào thì trong trại địch liền có khói bốc lên nghi ngút.

Tướng địch thấy cảnh tượng thì hơi hoảng, liền cùng hai ba trăm quân quay đầu, kéo về lại trại.

Về đến nơi thì lại thấy kỵ binh tập kích.

Lúc nãy kéo quân ra chỉ để lại vài chục binh sĩ bảo vệ.

Năm mươi kỵ binh của Nguyễn Biện nhân cơ hội liền từ trong rừng chạy đường vòng đánh vào trại địch, ra sức đốt giết.

Kỵ binh thấy tướng địch dẫn binh đánh vào trại thì liền tháo chạy ra bên hông.

Rồi tiếp tục chạy vòng đến chiến địa ở đường hẹp đánh thúc vào phía sau lưng quân địch.

Vài trăm quân của tướng địch toàn là bộ binh, căn bản hai chân không chạy lại bốn chân, vừa rồi chạy liên tiếp hai vòng đâm hụt hơi, giờ đã bị kỵ binh bỏ xa.

Trong một khoảng thời gian ngắn, vài trăm quân của Nguyễn Biện lợi dụng địa hình rừng núi, ẩn nấp thực hiện ba lần bao vây quân địch.

Một ngàn quân đầu tiên của địch cuối cùng không chống cự lại được quân của Biện trên núi đánh xuống, liền liều mình, dồn sức đánh toán quân có hai thớt voi ở phía sau.

Quân Minh thương vong nặng nề, thay chất đống ở ngã vào đường hẹp.

Bốn trăm quân còn lại chật vật lắm mới rút về lại được bình địa phía trước doanh trại, hợp quân với tướng địch.

Bên nghĩa quân tuy thắng trận đầu như cũng đã mất hơn trăm tử sĩ cùng một thớt voi.

Sự thành công duy nhất của quân giặc đến lúc này chính là bắt sống được một người cải trang Lê Lợi.

Thấy tình hình không ổn, tướng địch đã hơi hoang mang, tâm lý bắt đầu chần chừ.

Trong lòng hắn lo sợ đánh thêm nữa mà chẳng may đại quân của nghĩa quân vọt ra từ đâu đó đánh tới thì có mà tan nát.

Sau lại lo nếu trong đám quân này có chúa Lam Sơn thật mà còn vượt qua được, trốn thoát thì đầu hắn cũng rơi.

Do dự, tướng địch liền thu quân vào trại.

Sau cử tốc mã đi cầu viện trại chính.

Chú Thích:

1.

Kỷ Tín ( ?- 204 TCN) là một võ tướng của Hán vương Lưu Bang.

Trong cuộc chiến Hán Sở tranh hùng, khi Lưu Bang bị Tây Sở Bá vương Hạng Vũ vây rất ngặt ở thành Huỳnh Dương, thế khó thoát, nhờ Kỷ Tín đóng giả làm Hán vương để lừa Hạng Vũ, nhờ thế Lưu Bang mới thoát nạn được.

2.

Lê Lai là một tướng lĩnh tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn.

Ông sinh ra ở huyện Lương Giang, Trấn Thanh Hoa (nay là huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa), cha tên là Lê Kiều, nối đời làm chức phụ đạo trong vùng, con lớn tên Lê Lạn, con thứ là Lê Lai.

Lê Lai được sử gia Lê Quý Đôn miêu tả trong sách Đại Việt thông sử là có tính cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt, lo việc hậu cần cho Lê Lợi rất chu đáo.

Ông được coi là một anh hùng, một tấm gương trung nghĩa với sự kiện nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam là cải trang thành Lê Lợi và bị quân Minh giết chết.

3.

Phạm Vấn, Lê Sát, Lê Ngân là những công thần khai quốc nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.

Lê Thái Tông (năm 1423 – năm 1442), tên húy Lê Nguyên Long, là vị hoàng đế thứ hai của hoàng triều Lê nước Đại Việt.

Thái Tông trị vì từ năm 1433 cho tới khi mất năm 1442, tổng cộng 9 năm.

4.

Long sàng - Giường của vua
 
Đề Hồ Truyện
Chương Mười


Thấy quân Minh rút vào trại, Nguyễn Biện cũng rút vào trong rừng chỉnh đốn, tranh thủ cho binh sĩ trị thương.

Lê Lai từ đầu đến giờ vẫn luôn nấp trong rừng cùng bốn hộ vệ.

Thấy quân Biện vào, ông liền đến hội quân, bàn kế hoạch cho trận tiếp theo.

Ở trại chính của quân Minh, tướng soái đã nhận được thư từ tốc mã.

Trong thư ghi "Chúa Lam Sơn dẫn đại quân xuất binh tấn công, âm mưu phá trại.

Nếu không mau cứu viện thì khó giữ được vòng vây."

Tướng soái đọc xong thì hơi bất ngờ, nhưng trong lòng lại bán tín bán nghi.

Thư này lời lẽ cấp bách, hỏi người đưa thư thì rõ là có tới hai chúa Lam Sơn xuất hiện và đã bắt được một người giả.

Tướng soái trầm ngâm suy xét:

"Quân Lam Sơn sử dụng người giả để đánh lạc hướng, rồi người thật nhân lúc rối loạn thoát đi.

Kế "mận chết thay đào" này cũng tầm thường thôi!...

Nay người giả đã bị bắt, thì tên còn lại hẳn là người thật.

Tình hình này, thì chắc tám phần là quân Lam Sơn đang kiếm cách phá vòng vây.

Nhưng vẫn có một khúc mắc là làm cách nào đại quân Lam Sơn lại hợp được ở đó mà không ai hay biết."

Thắc mắc này cũng là do tên tướng giữ trại phụ khi gửi thư đã không nói rõ "đại quân Lam Sơn" chỉ có quân số vài trăm.

Nếu hắn nói ra sự thật là gần ba ngàn quân Minh bị mấy trăm quân Lam Sơn đánh cho tan nát, thì không những hắn bị mất mặt mà cả chức quan cũng chẳng còn.

Nhưng tình hình nguy cấp, chúa Lam Sơn có thể chạy thoát bất cứ lúc nào, nên tướng soái quân Minh quyết định dẫn đi tám phần binh lực.

Hai phần còn lại, hơn hai nghìn quân được lệnh ở lại coi trại.

Lúc sớm, sau khi quân Nguyễn Biện và Lê Lai xuất trại được nửa canh giờ, đại quân Lam Sơn cũng nhổ trại xuống núi.

Lê Lợi cùng các tướng kéo quân đến nấp ở cánh rừng lớn nơi lưng chừng núi.

Vị trí này có thể quan sát được trại chính của quân Minh.

Nghĩ rằng đại quân Lam Sơn cũng chỉ có vài nghìn người, lại đang bị tướng soái vây đánh ở trại phụ, đám quân Minh trong trại chính đã có phần chủ quan, buông lơi cảnh giác.

Thấy tướng soái quân Minh dẫn binh đi ra từ cổng sau của trại đã mất hút, Lê Lợi biết thời cơ đã đến, lệnh Nguyễn Xí dẫn quân tinh nhuệ Thiết Đột bí mật áp sát trại địch.

Thấy quân Minh canh phòng có phần lơ là lỏng lẻo, quân Thiết Đột liền bắt lấy cơ hội, dùng nỏ hạ lính gác tại các chốt canh, cõng nhau leo rào, bí mật đột nhập mở cổng trại từ bên trong.

Cổng trại vừa mở ra, nghĩa quân liền xuất kích đánh thẳng vào trại chính quân Minh.

Khi nghĩa quân đánh vào đến nơi thì quân Minh mới hoảng hồn, hò hét nhau khẩn trương tập hợp phòng thủ.

Nhưng tất cả đã quá muộn.

Hàng ngũ chưa ngay thì nghĩa quân đã giết hạ không biết bao nhiêu quân giặc mà kể.

Tướng chỉ huy quân Minh chỉ huy đối phó không hiệu quả, chẳng mấy chốc cũng bị chém chết.

Mất đi chỉ huy, sự chống cự cuối cùng của quân Minh tan rã.

Khoảng sáu trăm tàn binh bắt đầu sợ hãi bỏ chạy.

Nhưng đang trong cơn say máu, nghĩa quân nào lại để cho chúng thoát dễ dàng.

Cung thủ bắn liền mấy loạt tên, hôm đó hơn hai nghìn quân Minh không tên nào thoát được.

Cuộc giao tranh nhanh chống chấm dứt, Lê Lợi lệnh cho mọi người thu gom vũ khí, lương thực.

Mỗi người mang theo vừa sức, không được để ảnh hưởng đến tốc độ di chuyển.

Xong, ngài lệnh đốt trại địch trước khi nghĩa quân rời đi.

Đến đây thì Lê Lợi và nghĩa quân đã thành công thoát khỏi vòng vây.

Ngược lại thì tình thế của Nguyễn Biện cùng Lê Lai bên kia đã như chỉ mành treo chuông.

Quân Minh kéo đến trại phụ, vì số lượng đông đảo không thể ở trong trại nên toàn quân không dừng bước, đi qua cổng sau ra cổng trước, dàn hàng ngang trước cửa trại.

Tướng soái thấy lạ, xung quanh ngổn ngang xác chết binh sĩ hai bên, tuyệt chẳng thấy giao tranh gì.

Nhưng nhìn qua xác chết và đám tàn quân thì rõ là quân Minh vừa nhận một thất bại.

Tướng giữ trại lúc này lấm lét kéo quân ra vái chào.

Hắn chắp tay, cúi người báo cáo tình hình.

Tướng soái hỏi quân Lam Sơn đâu thì hắn bảo đã trốn vào rừng.

Tên này vừa dứt lời thì tiếng hò hét xung phong nổi lên.

Hai trăm quân Lam Sơn, dẫn đầu là một người mặc áo bào vàng cưỡi voi, bất ngờ lao ra từ bìa rừng bên phải, nhắm tần công vào bên sườn của đội hình quân Minh.

Lần này quân Minh không còn đơn giản như trước, tướng soái bình tĩnh chỉ huy.

Đội hình vững chãi, binh sĩ dày dạng liền linh hoạt chuyển đội hình thành hình cánh cung, bao vây lấy hai trăm quân Lam Sơn.

Một động tác nhẹ nhàng liền tạo được một hàng phòng ngự chặn đứng đòn tấn công, đồng thời bao vây lấy quân Lam Sơn.

Ngay sau đó, các binh sĩ mang giáo dài ở hàng thứ hai của quân Minh lui xuống, nhường vị trí cho đội súng hỏa mai.

Đây là những cây súng dạng ống dài bằng đồng, người bắn một tay kẹp súng một tay dùng mồi lửa điểm hỏa.

Loạt đạn đầu nổ ra, hàng đầu tiên của quân Lam Sơn liền ngã xuống gần hết.

Tiếng nổ cũng khiến cho con voi sợ hãi, chùn bước.

Tiếp đến là cung tên bắn lia lịa vào quân Lam Sơn.

Thương vong bước đầu đã nặng nề, buộc quân Lam Sơn phải thu lại một cụm, nấp sau những tấm khiên dày, dùng cung nỏ bắn trả lại một cách yếu ớt.

Thấy tình hình bất lợi, chỉ cần một loạt đạn nữa là những tấm khiên kia cũng hết tác dụng, Nguyễn Biện ngay lập tức xuất ra cùng số quân còn lại, nhắm bên sườn còn lại của quân Minh mà tấn công.

Nhưng sự chênh lệch lực lượng lúc này là quá lớn.

Các cách đánh linh hoạt của Biện trong tình hình này đã không còn mấy tác dụng.

Quân số quân Minh chia hai cành vẫn dư sức ngăn cản và tiêu diệt quân của Biện.

Đám quân Lam Sơn bên kia đã không còn chống đỡ được nữa.

Liều mạng lần cuối, binh sĩ cải trang Lê Lợi thúc voi đâm thẳng vào đám quân trước mặt.

Voi điên cuồng lao lên thì loạt đạn thứ hai nổ ra, bắn chết voi và làm người cải trang ngã xuống đất trọng thương.

Quân Minh liền dùng trường mâu móc người nọ, kéo vào bắt sống.

Loạt đạn thứ hai cũng phá nát những tấm khiên gỗ, khiến gần trăm binh sĩ Lam Sơn trở thành bia bắn cho ngàn mũi tên.

Đám quân này tới đây là hết.

Ở bên cánh này, Nguyễn Biện liên tục thúc giục binh sĩ áp sát.

Chỉ cần áp sát thì các thứ vũ khí tầm xa sẽ giảm đi hiệu quả.

Biện lệnh năm mươi thớt ngựa tiên phong.

Năm mươi kỵ sĩ lập đội hình đâm vào quân Minh.

Tuy là thương vong tám phần nhưng đã mở một khe hở đủ để bộ binh Lam Sơn chui vào chém giết.

Đòn thí mạng này thật đã khiến tình hình có chút thay đổi.

Quân Lam Sơn cùng Nguyễn Biện đã chớp lấy cơ hội áp sát và gây rối loạn đội hình quân Minh bên cánh trái.

Quân Minh ở cánh trái đang lâm vào hỗn chiến với quân Lam Sơn, xạ thủ bên cánh phải sợ bắn trúng đồng đội nên liền không dám bắn nữa.

Tuy nhiên, lúc này một binh sĩ Lam Sơn phải đấu tớ năm sáu tên địch thì thật không thể trụ lâu.

Tướng soái quân Minh thấy Nguyễn Biện tả xung hữu đột thật dũng mãnh nên cũng muốn dụ hàng, y liền nói tên thông dịch loan báo:

"Chúa Lam Sơn ta đã bắt ở đây, tướng giặc mau đầu hàng!

Ta tha cho khỏi chết!"

Y vừa dứt lời thì Lê Lai cùng bốn hộ vệ từ bia rừng bên phải phi ngựa ra, rút gươm trường đánh vào trận hỗn chiến.

Nhưng không được bao lâu thì ngựa của Lê Lai bị trúng móc trường mâu làm cho ông ngã xuống đất.

Nguyễn Biện thấy Lê Lai bị ngã thì cũng không nán lại nữa, liền phi ngựa vọt qua kéo Lê Lai lên ngựa vọt ra khỏi hỗn chiến, chạy về núi.

Tướng giữ trại lúc này nhìn thấy Lê Lai có hình dáng, võ thuật giống hệt Lê Lợi mà y đã gặp trước đây thì vội chỉ theo, la lên "đó mới đúng là Chúa Lam Sơn!".

Lúc đến, tướng soái quân Minh chưa kịp tính sổ vụ báo cáo láo của tên tướng giữ trại, lúc nãy hắn lại quả quyết người té từ trên voi xuống là Lê Lợi, giờ lại lòi ra thêm một Chúa Lam Sơn, thì trong lòng tướng soái đã vô cùng tức giận.

Y dùng roi ngựa quất một phát vào mặt tướng giữ trại, rồi cùng vài trăm kỵ binh lập tức đuổi theo.

Tướng soái biết nếu lần này chúa Lam Sơn chạy thoát về núi thì việc vây hãm nơi này sẽ còn phải kéo dài.

Cơ hội này y không muốn để vụt mất.

Quân Minh muốn bắt sống Lê Lợi xử trảm công khai nhằm dập tắt ngọn lửa khởi nghĩa trong lòng dân chúng mà Lê Lợi đã đốt lên.

Có lệnh bắt sống, kỵ binh quân Minh không bắn cung, tập trung tốc độ đuổi theo hai người Biện, Lai.

Tướng soái quân Minh cũng đang hăng máu, chạy ngay hàng thứ nhì của đội kỵ binh.

Ngựa Nguyễn Biện đang chở một lúc hai người nên tốc độ bị ảnh hưởng rất nhiều.

Quân Minh càng đuổi càng gần.

Khi ngựa chở Nguyễn Biện và Lê Lai chỉ còn cách hàng đầu của kỵ binh quân Minh tầm sáu trượng thì Lê Lai bất ngờ cúi người qua một bên.

Nguyễn Biện ngay lập tức xoay người, đối mặt với quân Minh, bắn đi một mũi tên.

Động tác mau lẹ, dồn hết sức lực, tên đi nhanh như sét.

Kỵ binh ở hàng đầu thấy cung bắn về phía tướng soái thì liền nhích ngựa qua, dùng thân mình đỡ lấy mũi tên.

Nhưng hắn đã chậm, mũi tên bay vụt qua bên tai hắn rồi đâm vào ngực trái tướng soái.

May cho tướng soái là áo giáp chất lượng tốt, nên mũi tên đâm vào chỉ phá vỡ vài mảnh giáp rồi gãy nát văng ra.

Nhưng lực dư chấn của mũi tên này chẳng khác gì bị chùy đập.

Tướng soái đau nhói bên ngực, người ngã ra sau, không thể hô hấp.

Nhưng may cho y vì đây chỉ là chấn thương nhẹ, vài nhịp thở sau hắn thở hắt ra như sống lại.

Tuy nhiên cánh tay trái tạm thời không cử động được.

Sự cố này đã khiến cho quân Minh hơi khựng lại, khoảng cách liền cách xa.

Nhưng "anh hùng đa nạn", con ngựa của Biện không chịu nổi nữa, bất ngờ sùi bọt mép, ngã khụy.

Đến đây thì ta đã rõ kết cục của hai người qua lời kể của thầy Phó.

Nguyễn Xí cùng vua Lê Thái Tổ ôn lại chuyện này mà nước mắt lưng tròng.

Bi thương trong lòng vua muốn uống rượu cùng Nguyễn Xí, tế hương linh hai vị anh hùng.

Thái giám ngăn cản, với lý do bệnh tình Vua không được uống rượu thì mày rồng liền nổi giận.

Vua nói:

"Mấy vạn quân Minh ta không sợ lại đi sợ bệnh tật vớ vẩn à! ... cứ dọn tiệc ra đây, ta cùng Huyện Hầu hôm nay phải say một bữa cùng hương linh hai vị ái tướng của ta!"

Người hầu dọn lên hai bàn tiệc nhỏ trên tấm phản lớn, nhưng vua không chịu, lệnh cho thái giám đặt một cái bàn tròn giữa phản, chuẩn bị bốn bộ chén đũa, bốn ly rượu, một bình rượu Kẻ Diên và một lò đất nướng chả tôm.

Rượu Kẻ Diên là rượu nổi tiếng của xứ Thuận Hóa, cùng tên với ngôi chợ lâu đời ở phủ Triệu Phong (1).

Xưa Lê Lai lo hậu cần thường xuyên đi buôn, tìm nhu yếu phẩm cho nghĩa quân.

Thứ ông thích nhất chính là rượu Kẻ Diên, lần nào ghé chợ này ông đều mua về.

Sau nhiều người trong nghĩa quân uống lâu thành thích thứ rượu này.

Chả tôm là món đặc sản Thanh Hoa, món yêu thích của Nguyễn Biện.

Những năm thiếu niên, Lê Lợi, Nguyễn Biện, Nguyễn Xí sống chung, lâu lâu ba người được cha Lê Lợi thưởng tiền thì liền ra quán rượu làm một bữa chả tôm thật to.

Nay Lê Lợi yêu cầu hai món này cũng là vì vậy.

Vua và Xí ngồi đối diện nhau, cùng nướng chả trên lò, bồi hồi nhớ ngày bé.

Hai miếng đầu vua đều gắp đặt vào hai chén không người.

Chén tạc chén thù một hồi thì vua đã say, cơ thể mệt mỏi, lệnh cho Xí ra về.

Trong cơn say ngài nói chữ được chữ mất:

"

Sau này ta...hic... về trời...

Nguyễn ...

Lai ấy là phải làm giỗ... trước ta một...hic...ngày!"

Nói xong ngài vào nghỉ.

Sử quan nghe đoạn này thì vội chép lại, nhưng cho là vua nhầm họ của Lê Lai thành họ Nguyễn nên chỉ viết mỗi Lê Lai.

Thầy Hợp kể xong thì trời đã chạng vạng tối.

Thân ngồi dưới đất nghe kể chuyện mà quên cả thời gian.

Chú Thích:

Chợ Kẻ Diên - ngày nay là chợ Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
 
Back
Top Bottom