Cập nhật mới

Đô Thị  Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
459,324
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
361,707
AP1GczOjGvTSnS-OK5SvmnY4yTFMIK8gJfiuO4hCHwnWmN8d6fr9DHX22G2HEVdFKmSTd6JqAhGpsr5S6lrUkOsAb5pb80RFo4aO7lIzaw8wzoPUKPkkqYciH51VTqIvy7GshcRVjQ3LZRLWZXxPn6ywKTeU=w215-h322-s-no-gm

Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Tác giả: Thiên Đường Phóng Trục Giả
Thể loại: Đô Thị, Linh Dị, Đam Mỹ, Trinh Thám, Khác, Phương Tây
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

Thám tử tư (nhân vật phụ) vô tình lạc vào một thị trấn nhỏ kỳ lạ ở Bắc Âu.

Người dân trong thị trấn gặp ác mộng tập thể, sau đó từng người mất tích.

Cơn bão hiếm gặp trong vòng trăm năm sắp nhấn chìm toàn bộ thị trấn, thám tử phát hiện ra bí mật đang ẩn giấu dưới vùng biển sâu thẳm.

Thần linh say ngủ trong hang động cổ xưa sắp mở mắt.

Thám tử (đốt thuốc lá): Sau đó tôi nhận ra, tôi đã làm người mai mốt cho hai tà thần không thể miêu tả.

Thám tử (tinh thần suy sụp): Chính tôi đã đưa hai tà thần vào xã hội con người.

Thám tử (tang thương): Khi già rồi, tôi phát hiện bọn họ còn đang du lịch vòng quanh thế giới.

Thám tử (thanh thản): Thôi bỏ đi, dù sao vẫn còn điều tra viên đời tiếp theo.

.

Ghi chú: Hình thức tuyển tập, câu chuyện đầu tiên cần có tình tiết để giới thiệu nhân vật chính, nên người ra trận trước là nhân vật phụ, góc nhìn của người khác, thế giới giả tưởng, phong cách kỳ quái, lấy cảm hứng từ Cthulhu, sẽ không dùng tên nhân vật trong thần thoại Cthulhu.

.

Tags: Suy luận, huyền bí, phiêu lưu mạo hiểm, nhiều góc nhìn, Cthulhu

Nhân vật chính: Gymir, Johnson

Nhân vật phụ: John và các thám tử khác

Tóm tắt trong một câu: Chặng hành trình xem người ta yêu đương của thám tử

Chủ đề: Cứu vớt chính mình từ dưới vực sâu



Cảnh báo: Đọc truyện này cần kiên nhẫn. Nhân vật chính không phải con người nên đừng phán xét theo tiêu chuẩn của con người.​
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 1: Phần 1 : Đá Ngầm Quái Quỷ Năm 1925, thị trấn Đá Ngầm Đen


<b>Chương 1</b>

<b>Mắc Cạn</b>

Phải nói rằng, con người một khi rời khỏi gia đình, bước lên hành trình mới, rất dễ gặp phải những sự cố khó lường giữa đường.

Năm 1925, John Doe bước lên con thuyền mang tên Gió Tây.

*

Mây đen giăng đầy, mưa gió điên cuồng.

Mặt biển như một tờ giấy trong tay đứa bé nghịch ngợm, bị gấp theo ý thích, thỉnh thoảng lại đảo một cái chín mươi độ. Bầu trời và mặt biển như mất đi ranh giới, trộn lẫn vào nhau, những cơn sóng cao vài mét và mưa lớn chiếm lĩnh tất cả mọi nơi mà mắt người thấy được.

“Bánh lái bên trái!” Thuyền trưởng sức cùng lực kiệt, thét lên.

Thế như giọng nói của ông ta không truyền được vào tai những người trên boong thuyền. Sấm chớp xé rách bầu trời, cột buồm chính của con thuyền đã gãy, một nửa cháy đen, phần còn lại cũng đã bốc cháy, nhưng rồi được ơn mưa dập tắt. Ánh sáng biến mất, mấy chữ “tàu Gió Tây” trên mạn thuyền một lần nữa bị sóng biển cắn nuốt.

“Chúa ơi!” Một thủy thủ tuyệt vọng nhắm mắt lại.

Mất đi cột buồm chính, có lẽ họ không còn cách nào để vượt qua cơn sóng lớn kế tiếp.

“Thần Biển đang nổi giận, là thần Biển!” Một thủy thủ già khác rõ ràng có đức tin không giống người kia đang túm chặt lấy dây buồm, mặt đầy vẻ hoảng sợ: “Biển băng mùa này chưa bao giờ có bão lớn như vậy… thần Biển…”

Cột buồm ngã xuống đập thủng một lỗ lớn trên boong thuyền. Trong khoang thuyền, một người đàn ông trông có vẻ là hành khách nhanh nhẹn chui xuống dưới gầm giường, may mắn không bị gỗ vụn vỡ tung tóe “từ trên đầu” c*m v** người.

Thế nhưng anh đã phải trả giá cho lựa chọn này ngay một giây sau đó, cả con thuyền bị sóng nhấc lên thật cao rồi rơi thẳng xuống, đầu của người đàn ông đập mạnh vào ván giường, làm anh ta ngất đi. Tay của anh gác lên hành lý của mình, trên vali có khắc tên của chủ nhân nó.

“John Doe”.

Lúc này, thân thuyền thình lình chấn động. Sóng lớn vô tình nuốt chửng nó. Ba giây sau, tàu Gió Tây lắc lư qua lại, gian nan vượt qua ngọn sóng.

Nước mưa, nước biển chảy xuống qua cái lỗ bị cột buồm đập thủng vào trong khoang thuyền, nước đọng lại khiến John bị sặc tỉnh dậy. Anh khó khăn vùng vẫy một lúc, bò ra khỏi gầm giường.

Chờ đã, hình như thuyền không lắc nữa.

Nguy to! Thuyền sắp chìm?

John không màng đến cái đầu nặng như chì, vội vàng giẫm lên ván giường, cố gắng bám lên lỗ thủng trên trần nhà tìm cách bò ra ngoài. Sức cánh tay anh rất lớn, chân đạp vào vách thuyền, nhanh chóng trèo lên boong thuyền.

“Khụ khụ.”

John kiệt sức mở mắt ra, lảo đảo rồi đứng vững được. Anh mừng rỡ nhận ra xung quanh không còn là biển khơi vô tận nữa. Anh không cảm nhận được sức nổi của nước biển và sức kéo xoắn ốc sinh ra khi con thuyền đang chìm.

Mưa vẫn rơi.

Giọt mưa rất lớn, đập lên da đau buốt.

Gió đang dịu dần, sóng biển cũng đang bình lặng trở lại.

Các thủy thủ, lái chính và thuyền trưởng cả người ướt đẫm đứng ngây ra trên boong thuyền, ngơ ngác pha lẫn với kinh sợ, ngẩng đầu nhìn trời.

Rất tự nhiên, John cũng ngẩng lên nhìn theo…

Mây đen đã tan biến không còn dấu vết gì, một vầng trăng lưỡi liềm cong cong sáng rực treo ở chân trời.

Trăng non.

Giữa cơn bão làm sao có thể thấy trăng? Trừ khi vừa rồi trời không mưa, mà là do một cái ống nước khổng lồ trút xuống đầu họ?

Thế giới tưởng chừng chia thành hai nửa, một bên là đêm trăng thanh gió mát, bên còn lại mưa như trút nước.

Ánh trăng xuyên qua đường phân cách vô hình, nhẹ nhàng rắc những tia sáng nhạt nhòa như sương. Mỗi gương mặt đều toát ra một màu trắng bệch kỳ dị.

“…Sao kìa.” Chẳng biết là thủy thủ nào cố nén nỗi kinh hoàng, thì thào.

Những ngôi sao này càng thêm quỷ dị, vì chúng nó đang di động chậm chạp bằng tốc độ mà mắt người có thể thấy được, mà hình dạng của chúng lại không khớp với bất cứ bản đồ sao theo mùa nào.

“Chắc chắn đã lệch khỏi tuyến đường rồi, cuối cùng chúng ta đang ở đâu?”

“Không, nước đang tràn vào!”

Tiếng kêu gào hoàng hốt vang lên, mọi người hoàn hồn, vội vàng đi sửa mạn thuyền đã rách nát. Sau cơn hoảng loạn, lỗ thủng chẳng những không thể lấp được, mà ván thuyền xung quanh dường như cũng xảy ra vấn đề, từng dòng nước nhỏ liên tục tràn vào thuyền.

“Thuyền sắp chìm!”

Boong thuyền rối tung lên, John chạy được hai bước thì giật mình nhìn về phía vùng biển phía sau tàu Gió Tây.

Đằng sau tấm màn dệt từ cơn mưa dữ dội, một con thuyền buồm ba cột sơn đen ánh đỏ từ đầu đến đuôi đang lặng lẽ di chuyển về phía này. Cánh buồm rách nát, thân thuyền có vài lỗ thủng to tướng. Mức độ bị tàn phá của nó nghiêm trọng hơn tàu Gió Tây rất nhiều, thế nhưng nó di chuyển trên mặt biển như thể một cánh én lướt trên mặt nước, nhẹ nhàng linh hoạt, để lại một vệt nước nhàn nhạt.

Thuyền buồm đen ngày càng đến gần.

Sương mù chợt trở nên dày hơn, cơn mưa như trút nước hình như bốc hơi thành sương mù chỉ trong thoáng chốc, quấn lấy con người như cái kém tằm chắc chắn.

Bây giờ không còn gió, không còn mưa, chỉ có tiếng sóng biển vỗ lên mạn thuyền rào rào.

…Không đúng, thủy thủ đâu?

Sương mù quá dày đặc che khuất tầm nhìn, John vội tiến lên vài bước, nhưng boong thuyền trống rỗng. Anh không thấy bất cứ ai, cũng không nghe thấy tiếng la hét kinh hoàng vẫn còn cách đây không lâu. Cứ như chỉ còn lại một mình anh trên tàu Gió Tây.

Một bóng dáng khổng lồ dần xuất hiện trong sương. Sau đó, thuyền buồm đen rời khỏi màn sương, lộ ra diện mạo thật của nó.

Nó rất cũ, dường như đã trôi dạt trên biển vài chục năm. Phía dưới mạn thuyền kết đầy những sò và ốc, cùng với tảo. Mỏ neo treo cao thì đầy những vết rỉ sét loang lổ, quấn quanh là thứ tảo biển gì đó màu đen.

“Ầm.”

Thuyền buồm đen đụng vào mạn thuyền Gió Tây. Âm thanh không quá lớn, nhưng nặng nề… Dù vậy, có thứ gì đó bị đánh thức.

Con thuyền buồm đen quái dị bắt đầu “thở”.

Thân thuyền đang nhấp nhô, phập phồng, thậm chí đang phát ra tiếng kẽo kẹt. Cả con thuyền chậm rãi biến hình, vặn vẹo, sau đó bung ra. Những tấm gỗ mục nát bị hất tung, từng sợi dây thừng đen lạ lùng bò ra từ lỗ thủng trên thân thuyền, bò qua bò lại trên thuyền buồm đen như thể chúng có sinh mệnh.

Dây thừng lúc nhúc trườn quanh, như rắn. Khi chúng dừng lại, trông như thể tạo thành một thứ chữ viết xưa cũ, xiên vẹo nào đó.

John cứng đờ người. Anh không thể chớp mắt, không thể quay đầu đi.

Những đường nét biến dạng méo mó xuất hiện trong não anh. Sương mù bất thình lình dâng lên, che khuất tầm mắt anh. Anh lảo đảo lao về phía bên kia của boong thuyền, giữa đường vấp ngã.

Trước khi hoàn toàn bất tỉnh, John cảm thấy hình như mình đang phát ra tiếng thét kinh hoàng.

*

John bị đánh thức bởi cơn đau đầu dữ dội.

Phổi của anh như bị thiêu đốt, cổ họng tưởng chừng bị trút đầy cát vào, mùi tanh của nước biển vờn quanh mũi. Anh có cảm tưởng ai đó đang ra sức đập vào bụng và ngực mình. Sau đó anh giống hệt một cái hũ bị thủng, trút nước biển ào ào ra.

“Rắn, rắn màu đen…”

John mơ màng rì rầm.

Người bên cạnh thấy lạ, hỏi: “Anh ta đang nói gì?”

“Không hiểu, hình như là tiếng Anh? Con thuyền gặp nạn đến từ nước Anh.”

“Mau gọi người đến, sóng biển lại đẩy thêm một người vào, còn sống!”

John cố mở mắt ra. Anh nhìn thấy một tấm ván thuyền to đang ngâm trong nước biển bên chân mình, hình như vừa rồi anh đã ôm chặt cái thứ này. Tấm ván này tình cờ lại là phần có ba chữ “tàu Gió Tây”.

Bờ biển ở đây đầy những đá ngầm cao thấp khác nhau. Mặt trời treo trên cao, giống một cái đèn chất lượng thấp treo trên nóc nhà nghèo nàn, không ngừng lắc lư trước mắt John, lúc sáng lúc tắt.

Lắc lư lắc lư, anh nhanh chóng mất ý thức, chìm vào bóng tối.

*

Khi John tỉnh lại lần nữa, trước mắt anh vẫn là cái bóng đèn tròn tệ hại đang lắc lư.

Anh nằm trên giường mất ba phút, mới dám chắc nó thật sự là một cái đèn.

Đây là một căn phòng rộng rãi nhưng khá thấp, giống nhà kho, trên trần nhà có lẽ là cầu thang hoặc hành lang, vì có người đang đi qua đi lại trên đó, và bóng đèn thì lắc theo nhịp bước.

“Tỉnh rồi à?”

Một bóng dáng cao to xuất hiện ở cửa, mặt đầy râu quai nón màu nâu pha xám, cái trán trơn bóng, tay cần một cái thùng gỗ chứa vài con cá đang vùng vẫy.

“Bác sĩ nói hôm nay cậu sẽ tỉnh lại, tốt, dậy đi thôi! Cậu đã nằm đó một ngày một đêm, chắc là đói lắm rồi.”

Người đàn ông râu quai nón đi một đôi ủng cao su ống cao, khi nhìn John trong phòng thì phải cúi người mới để lộ mặt ra được. Khi ông ta đứng thẳng lên, khung cửa chỉ tới ngực.

Tất nhiên đây không phải là nhà của người khổng lồ, chẳng qua là trần nhà quá thấp.

Bệnh viện trong ấn tượng của John phải là có chữ thập, y tá mặc đồ nữ tu, những bức tường xám đen và người bệnh ở giường bên đang r*n r* đau đớn, chứ không chất đầy những củ cải, bắp cải, và khô cá muối.

“…Đây là quần áo, đồ cũ của cậu giống hệt như rong biển lấy từ bụng cá ấy, đã nhăn nheo lại còn tanh rình nữa, không mặc được đâu.”

Người râu quai nón nói tiếng Anh rất nặng khẩu âm địa phương, John nghe cũng mất sức, anh chỉ có thể lắp bắp nói bằng tiếng bản địa: “Cảm ơn, con thuyền tôi đi chìm rồi, phải không?”

“Đúng, chúng tôi vớt được cậu trên bờ biển, giống vớt con cá lớn mắc cạn đấy… Cảm ơn trời đất! Cậu biết nói tiếng của chúng tôi!” Người kia thở phào.

“Trên quầy ở ngoài có súp rau củ và bánh mì nướng.” Ông ta bỏ lại một câu, rồi xách thùng nước đi mất.

John cố hết sức mặc quần áo vào, cúi đầu mò mẫn ra cửa, nhìn thử mới hiểu “quầy” có nghĩa là gì.

Nơi này là một quán rượu. Đi qua hành lang chất đầy những thùng rượu gỗ lớn, bên ngoài là quầy.

Một cái nồi đồng chứa đầy nước treo trên giá sắt ở chỗ bếp lửa, cạnh đó là một nồi súp rau củ nóng còn đang bốc khói, vài cái bánh mì đã nướng xong đặt cả trên giá.

John cúi đầu nhìn chồng chén gỗ, đĩa gỗ, môi lớn đã rửa sạch xếp thành chồng, cùng với dao cắt bánh mì, cảm thấy chủ quán rượu kia chắc là muốn anh tự làm.

“Xin chào.”

Thanh âm bất thình lình vang lên, khiến John suýt chút nữa thì cắt vào tay mình. Anh quay đầu lại, phát hiện ở nơi tối tăm mà bếp lửa không chiếu đến có một người đang ngồi. Nếu y không chủ động lên tiếng chào hỏi, có lẽ anh còn khôn nhận ra ở đó có người.

Người nọ đẩy cốc rượu thiếc trước mặt ra. Ngón tay y dài, tinh tế. Nhìn là biết không phải người lao động chân tay.

“Ta là bác sĩ Johnson, rất vui khi thấy tinh thần của anh khá tốt.”

Người nọ đứng lên, bước về trước một bước, đến phạm vi lửa trong lò chiếu sáng. Diện mạo của y cũng hiện ra.

Áo khoác dài màu đen, ghi lê ngắn cắt may vừa vặn, gương mặt anh tuấn nhưng tái trắng. Đừng nói là ở một quán rượu cũ kỹ thế này, dù là quán cà phê tại Luân Đôn cũng sẽ không ai nỡ trách móc quý ông đây ăn mặc không đúng mực. Tay phải của bác sĩ Johnson đang cầm một cái đồng hồ quả quýt bằng vàng, nối với dây xích mảnh khuất sau túi áo sơ mi.

“Anh tỉnh lại sớm hơn nửa giờ so với dự kiến của ta, ta đang định ăn xong bữa tối mới đến xem tình hình của anh.” Vị bác sĩ này rất trẻ, có lẽ chỉ khoảng hai mươi tuổi, mái tóc đen hơi xoăn chải chuốt gọn gàng. Y có đôi mắt xanh lam nhạt, đeo chiếc kính một mắt, nụ cười trên môi nhưng đôi mắt không chút cảm xúc.

Đây không phải là loại người mà John thích giao thiệp. Nhưng vào thời điểm này, bất cứ một ai đó tuân theo lễ nghi xã hội và chịu trao đổi vẫn tốt hơn là người Iceland. Nếu không, có lẽ anh còn không biết phải cảm ơn thế nào, chứ đừng mong đến việc hỏi thăm tình hình.

Bây giờ John chẳng có đến một đồng penny, anh cố nhịn cơn đói, chủ động chìa tay ra: “Chào ngài, bác sĩ Johnson, có thể gọi tôi là John. Ngài là người Anh sao?”

“Phải, ta mở một phòng khám trong thị trấn.”

Bác sĩ Johnson không bắt tay John. Y thản nhiên quay người đi, cắt hai lát bánh mì, rồi đưa cái đĩa cho John.

“Anh nên bổ sung thể lực.”

John đành nhận cái đĩa, rồi tự múc cho mình một chén súp rau củ.

“Xin lỗi, phòng khám của ta quá nhỏ… Ngày hôm qua có bảy người được vớt lên, anh là người duy nhất không có vết thương nào rõ ràng, cũng không bị sốt cao liên tục, nên ta đã nhờ lão Jack chủ quán rượu chăm sóc anh giùm.”

Bác sĩ Johnson ngồi xuống cái ghế bên cạnh, giải thích nguyên nhân vì sao John lại nằm trong nhà kho, sau đó nhìn anh ăn. Sau vài phút im lặng, y bất ngờ hỏi: “Các anh đã gặp cái gì trên biển?”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 2


<b>Chương 2</b>

<b>Xin Chào</b>

John chộp lấy chiếc bánh mì, tốc độ nhai lại khá chậm, anh cúi đầu húp súp rau củ, trông như thể đã đói ngấu rồi.

Khi đặt chén xuống, trên mặt John chỉ còn lại sự tức giận và sợ hãi.

“Cơn bão chết tiệt, đến quá bất ngờ! Tôi chưa bao giờ gặp phải một cơn bão dữ dội như vậy… Con thuyền giòn rụm như một chiếc bánh quy Giáng sinh bán trong cửa hàng, dễ dàng bị lật trên biển, và vỡ thành nhiều mảnh. Tôi thực sự không nên ham rẻ và nhanh, đón một chiếc thuyền đánh cá cải tiến như tàu Gió Tây.”

“Tàu Gió Tây?”

“Vâng, tên của con tàu đó.” Ngón tay John khẽ nhúc nhích, anh ngạc nhiên nhìn bác sĩ Johnson: “Các vị không báo cảnh sát sao? Ý tôi là cảnh sát thị trấn này hay người canh gác ngoài cảng ấy?”

Một con tàu gặp bão rồi chìm, đây không phải là chuyện nhỏ.

Quy trình bình thường phải như John đã đề cập, cảnh sát tuần tra nhận được tin tức sẽ nhanh chóng đến đây hỏi thăm tình hình cụ thể sau đó đăng tin lên báo chí, ban quản lý cảng và nghề cá sẽ xác nhận và thông báo cho chủ tàu, đồng thời gửi lời chia buồn tới gia đình đau khổ của thủy thủ và hành khách.

Bác sĩ Johnson tháo kính một mắt ra, cho vào chiếc hộp đồi mồi mang theo bên mình. Đôi mắt xanh của y hiện lên vẻ lạnh lùng lạ thường dưới ánh đèn vàng mờ ảo.

Sau đó y mỉm cười, cảm giác khó chịu biến mất trong nháy mắt, nhanh đến mức người ta phải nghi ngờ đó là ảo ảnh, rõ ràng trước mặt chỉ có một bác sĩ đang lo lắng cho tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

“Chính là cơn bão mà anh nhắc đến, bây giờ đường xá và cầu bên ngoài thị trấn đã bị cuốn trôi, có lẽ viên cảnh sát trong thị trấn đã gửi điện tín, không rõ tình hình cụ thể, tôi ở phòng khám cả ngày… Tình trạng những người được cứu dưới biển lên rất tồi tệ, họ sốt cao, mê sảng, bất tỉnh và liên tục lẩm bẩm gì đó về trăng non.”

Bác sĩ Johnson vừa nói vừa quan sát John.

John tình cờ lộ vẻ mặt ngạc nhiên: “Trăng non? Điều này có nghĩa là gì?”

“Ta không biết.” Nụ cười trên mặt bác sĩ Johnson biến mất, y thở dài nói: “Thật ra khi được cứu, anh cũng mê sảng, nhưng nội dung những gì anh nói lại khác với họ.”

“Vậy à?”

John nhướng cao một bên chân mày, trông như rất sốc.

Bác sĩ Johnson nhìn anh, chậm rãi gật đầu: “Anh nhắc đến rắn.”

Cửa quán rượu bỗng bị một cơn gió mạnh thổi tung, đập vào tường đánh rầm. Bóng đèn chập chờn, ngọn lửa trong lò dường như bị gió lạnh hút hết sự sống, dần dần nhỏ đi.

Cơn ớn lạnh lan theo bắp chân lên trên, John cảm thấy đầu mình lại bắt đầu đau. Thật ra là từ khi tỉnh dậy, đầu anh đã rất khó chịu, mọi thứ nhìn thấy đều có bóng chồng, đây là triệu chứng thường gặp của chấn động não.

Nhưng bây giờ bóng chồng… đã trở thành ảo ảnh?

Quán rượu cũ ấm áp dễ chịu bị bóng tối vô hình xâm chiếm, tạo thành những vòng xoáy đen tối trước mặt, lò sưởi vốn đang cháy hừng hực bị hút vào vòng xoáy, ánh lửa càng lúc càng yếu đi.

John siết chặt miếng bánh mì trong tay, vai và lưng căng cứng. Anh liều mạng chống cự ý muốn nhảy bật lên, tránh đi những vòng xoáy kỳ quái này… Làm sao gió lạnh gây ra được hiệu quả như vậy? Chắc chắn chỉ là ảo ảnh thôi!

Sao anh lại bị ảo giác?

Vầng trăng non sáng rỡ lại xuất hiện trước mắt John, cùng với con tàu ma đang từ từ tiến đến trong làn sương mù dày đặc, rồi đột nhiên tan rã…

Cơn đau đầu đột nhiên trở nên dữ dội hơn, như thể đầu anh sắp nổ tung.

Ngay khi John sắp bất tỉnh, những vòng xoáy bóng tối đột nhiên rút đi nhanh như thủy triều.

Chủ quán râu quai nón sải bước ra khỏi bếp, dùng một tay nâng tấm cửa lên rồi đóng sầm một cái, cửa lại về vị trí ban đầu. Căn phòng lại sáng sủa trở lại. Chủ quán rượu bỏ thêm vài thanh củi vào lò sưởi.

John thả lỏng cánh tay căng cứng của mình, ôm trán nói: “Xin lỗi, đầu tôi hơi nhức.”

Trước mắt anh vẫn còn bóng chồng, nhìn vụn bánh mì trên đĩa nhảy cha cha cha là biết, vụn bánh mì bình thường có nhảy lung tung được không?

“Ăn xong thì đi nghỉ đi.” Chủ quán rượu đi tới, trực tiếp dọn luôn đĩa và tô canh.

“Xin lỗi, bác sĩ…”

John vô thức ngẩng đầu lên, chuẩn bị chào tạm biệt bác sĩ Johnson đang ngồi bên phải anh, rồi sững người.

Không có ai xung quanh.

Quán rượu trống rỗng.

Bác sĩ Johnson tuy còn trẻ nhưng trông không giống một người tay chân nhanh nhẹn cho lắm. Sàn quán rượu này đã cũ lắm rồi, khi dẫm lên sẽ kêu cót két, trừ khi mở cửa sổ trèo ra ngoài, nếu không sẽ chẳng thể biến mất không dấu vết.

Điều này thật phi logic!

Ánh mắt của John nhanh chóng lướt qua sàn nhà và cửa sổ. Anh đột ngột đứng dậy, bước đến chiếc bàn nơi bác sĩ Johnson đã ngồi uống rượu. Quả thực có một chiếc ly thiếc rỗng trên bàn, bên trong còn sót lại một ít chất lỏng. Anh cúi đầu cẩn thận ngửi, đó là bia lúa mạch đen, mùi giống như mùi thùng rượu chất đống bên ngoài phòng chứa đồ.

“Không, cậu không được uống rượu.”

Chủ quán rượu hiểu lầm ý John khi anh cầm một ly rượu rỗng đi tới, ông ta vẫy tay thật mạnh ra hiệu cho John đừng nghĩ tới chuyện đó. Các thủy thủ thích uống thật nhiều sau khi lên bờ, bởi vì uống một ly để ăn mừng sau khi thoát chết cũng đáng mà.

John không giải thích mình là hành khách chứ không phải thủy thủ, anh đặt ly rượu lên quầy gỗ, ngập ngừng gọi thử: “Lão Jack?”

“Sao cậu biết tên của tôi?” Chủ quán rượu thắc mắc.

Đây là cái tên John vừa nghe được từ bác sĩ Johnson, trước khi anh kịp thở phào nhẹ nhõm, chủ quán rượu mặt đầy những râu quai nón đã cau mày nói: “Bác sĩ Abel bảo cậu phải ở lại đây, không được chạy lung tung.”

John quay phắt đầu lại: “Abel? Thị trấn các ông có mấy bác sĩ?”

“Chỉ có một, sao thế?” Chủ quán rượu không vui, hỏi ngược lại.

John nặng nề ngồi xuống chiếc ghế đẩu trước quầy gỗ, vùi mặt vào lòng bàn tay. Mãi đến lúc này, anh mới nghe thấy tiếng mưa rơi bên ngoài quán rượu.

John im lặng đứng dậy, bước vào phòng chứa đồ.

“Người Anh thật kỳ lạ.” Chủ quán rượu càu nhàu, cúi đầu lau ly rượu.

***

John nằm ngửa trên giường.

Bây giờ, anh là một người nước ngoài bị đắm tàu. Không một xu dính túi, không có giấy tờ tùy thân, mất hết hành lý, kể cả súng.

Tất nhiên John còn nhớ vầng trăng non anh nhìn thấy trên biển và con tàu ma trong sương mù dày đặc, nhưng anh không nói ra. Ít nhất là anh sẽ không kể cho một người lạ những gì mình nhìn thấy theo cách đơn giản như vậy.

Lý do rất đơn giản, nếu bị bác sĩ cho là có vấn đề về tâm thần bởi vì nhất quyết cho rằng mình đã nhìn thấy những thứ không tồn tại thì anh sẽ bị c**ng b*c đưa vào viện điều dưỡng.

Những viện điều dưỡng này rất phổ biến ở châu Âu, còn được gọi là nhà thương điên. Những người được gửi đến đó, đặc biệt là người nghèo, rất có thể trở thành nạn nhân của “nghiên cứu y học”.

Trong một thời gian dài, cộng đồng y tế Châu Âu đã nghiên cứu về bệnh tâm thần nhằm nỗ lực đạt được những bước đột phá lớn. Họ tin rằng có điều gì đó không ổn đang diễn ra trong đầu bệnh nhân, chỉ cần loại bỏ một số phần não có thể khiến bệnh nhân đang phát điên bình tĩnh trở lại.

Mặc dù những ca phẫu thuật này được ca ngợi trên báo chí, nhưng John đã từng gặp những bệnh nhân như thế này. Họ ch** n**c miếng, mắt đờ đẫn, thậm chí mất khả năng phân biệt và chỉ có thể nằm trên giường. Họ quả thực đã “bình tĩnh lại”, nhưng họ cũng đã đánh mất tư cách làm người.

Vì vậy, việc John giấu đi những gì mình nhìn thấy trên biển chỉ là một thói quen khôn ngoan, xét cho cùng thì sẽ không ai tin vào câu nói ngớ ngẩn về việc thấy trăng trong cơn bão, hoặc thấy những con rắn kỳ lạ chui ra từ con tàu ma.

Nhưng bây giờ, điều thậm chí còn kỳ lạ hơn đã xảy ra.

Bác sĩ Johnson bí ẩn và kỳ quái kia biến mất trong gió lạnh và bóng tối.

“… Không phải ảo giác.”

John thì thầm với mình.

Ảo giác không thật đến thế.

***

Trưa ngày hôm sau, mưa tạnh.

Chủ quán rượu gõ cửa phòng chứa đồ, đánh thức John.

“Cảnh sát trưởng Alson đang đợi cậu.”

Nói xong, ông ta lấy hai cái bắp cải trong kho ra rồi đi ra ngoài. Cứ như thể ông ta tới để lấy đồ, còn đánh thức John là thuận tiện.

John xoa xoa trán, một đêm trôi qua, triệu chứng nhìn thấy bóng chồng của anh đã khá hơn rất nhiều. Nếu không có căn phòng chứa đồ tràn ngập mùi rau trái và củ cải, cùng với chiếc giường đơn giản thô kệch này, người ta thậm chí còn cảm thấy vụ đắm tàu và cơn bão chỉ là ác mộng.

John dẫm chân lên nền nhà kêu cọt kẹt, đi ra ngoài kho, vị trí của tất cả các món đồ trong quán rượu nhanh chóng hiện lên trong đầu anh như một bản phác thảo. Bức phác họa quán rượu vào ban ngày này rõ ràng hơn.

Bản phác thảo ban đêm trước đó vẫn chưa được thay thế, vì trên đó có một người… Bác sĩ Johnson với mái tóc đen và đôi mắt xanh lam, đeo kính một mắt, quanh người đầy những vòng xoáy của bóng đen, trông như một con quỷ hoặc là một bóng ma.

John nhắm mắt lại, vứt đoạn ký ức ấy sang một bên, rồi nhìn người đàn ông ngồi cạnh quầy gỗ quán rượu với ánh mắt khiêm tốn pha chút sợ sệt.

Người đàn ông đeo bao da bên hông, mang theo hai khẩu súng, trên mép là hai hàng râu xám vểnh ra buồn cười, thân hình hơi mập mạp, bộ đồng phục cảnh sát siết chặt cái bụng phệ của ông ta.

“Xin chào, cảnh sát trưởng, tôi là…”

Cảnh sát trưởng Alson mất kiên nhẫn, ngắt lời John: “Nghe đây, tôi biết thủy thủ các cậu có vài thói quen xấu khi lên bờ, uống rượu, cờ bạc, trộm cắp hoặc chơi gái, tôi hy vọng cậu biết điều, cho đến khi rời khỏi thị trấn này!”

“Cảnh sát trưởng, tôi không phải thủy thủ. Tôi chỉ đáp tàu Gió Tây đi thăm người thân ở Iceland, trên đường gặp bão vậy thôi.”

Cảnh sát trưởng Alson nhìn chằm chằm vào John, như đang kiểm tra xem anh có nói dối hay không.

John giả vờ như không để ý rồi nói tiếp: “Tôi mong có thể liên lạc với gia đình tôi càng sớm càng tốt. Tôi bị mất hành lý, và còn phải liên hệ với ngân hàng để cấp lệnh chuyển tiền mới trước khi có thể tiếp tục chuyến đi.”

Cảnh sát trưởng nói với giọng điệu cứng ngắc: “Cầu và đường dẫn ra bên ngoài đã bị lũ cuốn trôi. Muốn gửi điện thì chỉ có thể đến bưu điện, nhưng dãy nhà bên kia ngập nước cao ngang đầu người, không có người đi làm nên phải đợi thêm hai ngày nữa.”

“Ở đây không có điện thoại à?” John vội vàng hỏi.

“Không, chỗ chúng tôi chỉ là một thị trấn nhỏ.” Lúc này chủ quán rượu đặt một tô đậu hầm lên quầy, nhìn John rồi nói: “Mưa lớn gây ra quá nhiều phiền phức cho chúng tôi. Cảnh sát trưởng Alson đã hai ngày không chợp mắt rồi đấy.”

Cảnh sát trưởng Alson cầm thìa múc đậu, sốt ruột nói: “Người nước ngoài, hy vọng cậu đừng gây thêm phiền toái cho tôi…”

Ông ta chưa kịp nói hết câu thì cánh cửa gỗ quán rượu ngã xuống đất đánh rầm một cái.

Đồng tử của John co lại.

Cảnh tượng tương tự này khiến anh nhớ lại chuyện xảy ra tối qua.

Nhưng người chạy vào từ cửa lại là một người đánh cá xa lạ.

Mặt tràn anh ta đầy vẻ hoảng sợ, ngũ quan hơi vặn vẹo, giọng nói cao và chói tai, cách hai con phố cũng có thể nghe thấy tiếng kêu la của anh ta…

“Nguy rồi, tảng đá ngầm đó! Đá ngầm quái quỷ nhô lên khỏi đáy biển rồi!”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Vào những năm 1930, phẫu thuật cắt thùy não được phát minh, nhưng trước đó cũng đã có những ca phẫu thuật tương tự được thực hiện. (Không khuyến khích đọc thử thông tin này, sẽ mất ngủ)</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 3


<b>Chương 3</b>

<b>Thị Trấn</b>

Cảnh sát trưởng sa sầm mặt, theo ngư dân kia ra khỏi quán rượu.

Đĩa ăn bị nghiêng đi, những hạt đậu hầm còn sót lại lăn trên quầy gỗ.

Chủ quán rượu không dọn dẹp, ông ta như hóa thành tượng đá. Từ lúc nghe thấy mấy chữ “Đá ngầm quái quỷ”, ông ta vẫn bất động, duy trì vẻ mặt sợ hãi cho đến khi một cơn gió lạnh buốt từ ngoài cửa thổi vào.

Chủ quán rượu rùng mình thật mạnh, vớ lấy giẻ lau tay rồi sải bước ra khỏi quầy, chộp lấy chiếc áo mưa nhựa treo trên tường rồi chạy ra ngoài.

“Khoan đã.”

John vội lên tiếng.

Lúc này chủ quán rượu mới nhớ ra còn có một người trong nhà, lông mày ông ta cau lại, hiển nhiên là vì không yên tâm khi để một người xa lạ ở trong quán rượu.

John vội nói: “Tôi muốn đến thăm bác sĩ Abel, hoặc người đánh cá đã cứu tôi ngày hôm qua cũng được, tôi muốn tìm mấy thứ đồ dạt vào bờ, trong đó có thể có đồ đạc cá nhân của tôi.”

Chủ quán rượu cộc cằn nói: “Về trước khi trời tối.”

Ông ta nhặt một đôi ủng đi mưa bằng cao su ở ngoài cửa ném cho John, đồng thời lấy từ trong bếp ra một tấm vải nỉ màu đen giống như tạp dề, ụp lên là gần như che kín đầu John.

“Trùm vào!”

Thái độ của chủ quán rượu tưởng chừng như khắc nghiệt, nhưng thực chất là vì sợ John bị gió lạnh thổi rồi ngã bệnh.

John hiểu được phong cách giao tiếp xã hội thờ ơ và “thô lỗ” của người Bắc Âu, nên anh ôm lấy đống đồ rồi cảm ơn chân thành.

Ngược lại, chủ quán rượu lại hơi mất tự nhiên trước sự “hiểu biết” của người nước ngoài này.

“…Phòng khám của bác sĩ Abel nằm trên sườn đồi phía sau thị trấn. Rất dễ tìm, ngay cạnh nhà thờ.”

Chủ quán rượu nhìn John vội vàng mặc quần áo và đi giày cao su vào, xong mới nhặt tấm ván cửa lên nhét vào khung cửa, rồi khóa cửa lại, nói tiếp: “Tôi khuyên cậu nên đi tìm bác sĩ Abel, ông ấy sẽ cho cậu biết hôm qua ai đã tìm thấy cậu ngoài bãi biển.”

Nói xong, chủ quán rượu sải bước bỏ đi dọc theo con phố.

John đứng yên tại chỗ.

Bây giờ trước mắt anh có hai con đường, một là làm theo lời khuyên đi tìm bác sĩ Abel, hai là đi theo chủ quán rượu ra bờ biển để xem “Đá ngầm quái quỷ” vừa nhô lên khỏi đáy biển.

Thực ra hai sự lựa chọn này không hề mâu thuẫn nhau, John có thể theo chủ quán rượu trước, rồi tìm bác sĩ.

Nhưng mà…

John không ở đây để phá án, không có khách hàng hay tờ chi phiếu ngân hàng nào theo sau buộc anh phải làm rõ những điều bất thường này. Mặc dù vụ đắm tàu này rất kỳ lạ, và sự xuất hiện của bác sĩ Johnson đêm qua còn kỳ lạ hơn, nhưng John có thể ngửi thấy mùi nguy hiểm.

Một bầu không khí rùng rợn.

Trước đây, John đã dựa vào trực giác nhạy bén này để tránh mấy vụ ủy thác khó khăn, tránh khỏi vận xui kéo anh vào vòng xoáy rắc rối.

Thậm chí còn có một đồng nghiệp nhận ủy thác mà John từ chối, rồi biến mất một cách bí ẩn ba tháng sau đó, vẫn chưa rõ anh ta còn sống hay đã chết. Dù sao, ngôi nhà mà người đồng nghiệp thuê đã nhanh chóng bị chủ nhà thu hồi, người thân, bạn bè của anh ta cũng không bao giờ gặp lại người này nữa. Mà đó là ở Luân Đôn, một trong những thành phố thịnh vượng nhất thế giới.

Còn nơi này thì sao? Một thị trấn biển chỉ có mỗi một bác sĩ?

John xoa xoa cái trán đang nhức nhối của mình, nhanh chóng bắt đầu vạch ra mục tiêu và kế hoạch.

“Đầu tiên phải đi tìm người có địa vị trong thị trấn này, có thể là mục sư hoặc bác sĩ. Có lẽ sẽ dễ nói chuyện với họ hơn thị trưởng và cảnh sát trưởng. Sau đó nhờ người này viết thư xác nhận rằng mình bị đắm tàu, như vậy có thể đến bến cảng hoặc bưu điện của các thị trấn khác để gửi điện tín. Cuối cùng, tìm cách thu thập vật tư, thăm dò tình hình xung quanh thị trấn và rời khỏi đây càng sớm càng tốt.”

John cảm thấy khó khăn tập trung ở bước cuối cùng, cả bác sĩ Johnson và cảnh sát trưởng Alson đều nhắc đến việc cầu đường bên ngoài thị trấn đã bị lũ cuốn trôi. Lẽ nào anh phải mượn một chiếc thuyền đánh cá rồi chèo ra khỏi đây? Không, không, lần sau anh nhất định phải tới một cảng lớn, tìm được một con tàu đủ lớn.

Lạch cạnh.

Suy nghĩ bị gián đoạn, John nhìn lên.

Một cơn gió mạnh thổi tung tấm biển ở lối vào quán rượu lên. Đó là một tấm biển có hình thùng rượu được treo bằng một sợi dây sắt mảnh, một dòng chữ bao quanh thùng.

“Quán rượu lão Jack”.

Biển hiệu bị gió thổi tung lên kêu lạch cạch, một chiếc lá vàng bị ngấm nước mưa vốn dĩ mắc kẹt sau biển hiệu, đã bị gió thổi bay lên trời, bay về phía bắc.

John nhìn về hướng đó, tình cờ nhìn thấy mấy tòa nhà trên sườn đồi cao cao. Một trong số đó là nhà thờ, với tường bên ngoài màu trắng xám và cây thánh giá màu đen dựng đứng trên chóp.

***

Bầu trời xám xịt, tuy không mưa nhưng âm u đáng sợ.

Sườn đồi trơ trọi, khắp nơi là những tảng đá màu nâu xám, chỉ có vài ngọn cỏ dại mọc thưa thớt trong những khe hở. Bây giờ tất cả cỏ dại đều đã héo rũ, một lớp sương trắng mỏng kết trên lá của chúng.

Sương trắng trải dài theo sườn đón gió của ngọn đồi, đến con đường rải sỏi trước nhà thờ.

Trên con đường rải sỏi đơn sơ này, một đôi giày da bóng kiểu Anh được đóng rất tinh xảo xuất hiện không đúng lúc, chủ nhân của nó mặc một chiếc áo choàng du lịch dài màu xám, trên tay cầm một chiếc dù đen. Tán dù che đi khuôn mặt của người đó.

Y cất những bước ung dung không vội vã, tiến về phía nhà thờ. Sương trắng lặng lẽ lan theo bước chân y, leo lên bức tường ngoài trắng xám của nhà thờ.

Nhà thờ không cao lắm, tường ngoài đã loang lổ bong tróc từ lâu, lộ ra những tảng đá nâu đen bên dưới lớp sơn, bị sương trắng bao phủ, chúng lại bừng lên một loại sinh khí mới khi thời gian quay ngược.

Gió thổi từ biển dần mạnh hơn.

Một chiếc lá vàng, chính là chiếc bay ra từ đằng sau biển hiệu quán rượu, lượn phấp phới đến đây rồi rơi thẳng xuống tán dù đen.

Tán dù hơi nghiêng, để lộ khuôn mặt điển trai có thể gây ấn tượng sâu sắc với bất cứ ai.

Nếu John có ở đây, anh sẽ nhận ra ngay đây chính là “Bác sĩ Johnson” mà anh gặp ở quán rượu tối qua.

Johnson bước vào nhà thờ.

***

Trên đường phố của thị trấn.

John quấn chặt tấm vải nỉ màu đen của chủ quán rượu đưa cho. Lạ thật, vừa rồi lúc ra ngoài trời không lạnh lắm. Mặc dù đây là Iceland nhưng nhiệt độ không nên thấp như thế này, phải nhớ rằng bây giờ đang là tháng 9.

John vội vã đi tiếp, đồng thời quan sát tình hình xung quanh.

Khắp nơi trong thị trấn đều có nước đọng, nhà cửa cũ kỹ, cửa hàng cơ bản đều đóng cửa. Ở những khu vực lân cận sườn đồi, do địa hình cao hơn nên nước sâu nhất chỉ đến tầm bắp chân, nước rất đục và lạnh buốt xương.

Đường phố không có một bóng người. Nhiều lần, John nhận thấy có ai đó đang nhìn trộm mình từ phía sau tấm rèm. Khi anh nhìn sang, người trốn trong nhà cũng không hề trốn tránh, mà cứ thế nhìn chằm chằm vào anh.

“…”

Thật kỳ lạ.

Theo hiểu biết của John về người dân Iceland, họ không quan tâm bạn là ai, bạn đến từ đâu, gặp một người lạ cũng giống như nhìn thấy không khí. Tuy không chào đón người ngoài nhưng cũng không có thái độ thù địch quá đáng, tất nhiên, ngoại trừ cảnh sát trưởng chịu trách nhiệm về an ninh công cộng.

Hành vi trốn trong nhà và nhìn trộm như thế này rất kỳ quái. Thông thường, họ hoàn toàn không có hứng thú với người lạ.

John vừa đi vừa nghĩ.

Những ánh nhìn đó dán chặt vào anh, anh có thể phân biệt được cảm xúc nghi ngờ, cảnh giác và dò xét trên khuôn mặt của họ. Anh như một vị khách không mời mà đến vào thời điểm không thích hợp, thu hút sự chú ý cũng như không hài lòng của chủ nhân.

Vì chúng không phải là những ánh nhìn ác ý nên John chỉ có thể cố gắng lờ đi.

Thị trấn này trước đây có vẻ rất sôi động, có đủ loại cửa hàng, cùng rất nhiều nhà kho. Đường phố cũng đủ rộng để hai chiếc xe ngựa đi cạnh nhau, điều hiếm thấy ở một thị trấn cùng loại.

Không khí nhộn nhịp, sôi động đã trở thành dĩ vãng, những cửa hàng đối diện mặt phố hoặc bị bỏ hoang hoặc chuyển thành nhà ở, những ô cửa kính vốn có nay được đóng đầy những ván gỗ, biển hiệu trước cửa cũng đã được tháo bỏ, để lại chỉ là một cái cột trống hoác.

John đột nhiên quay đầu, lội qua nước, đến trước cửa một cửa hàng vẫn mở cửa.

Có một tấm áp phích viết tay dán trên cửa kính: “Bánh thịt chiên ngon nhất thị trấn Đá Ngầm Đen, số lượng có hạn.”

John không đói, trong túi cũng không có tiền, điều khiến anh chú ý là dòng chữ trên tấm áp phích.

Thị trấn Đá Ngầm Đen.

Sắc mặt của John xấu hẳn đi. Anh vội vã tiến về phía trước, tập trung vào các biển báo và áp phích được viết. Tuy nhiên, một nửa số cửa hàng trong thị trấn không có tên mà chỉ treo biển hiệu hình thùng rượu, bánh mì, kéo, búa trước cửa để chỉ phạm vi kinh doanh của mình, nửa còn lại thì có tên, nhưng không có tên thị trấn trên đó.

Chạy một lúc lâu, John cuối cùng nhìn thấy một tấm biển lớn bằng sắt trước cửa một nhà kho cũ, trên đó ghi rõ: “Ủy ban thương mại thủy sản thị trấn Đá Ngầm Đen”.

John nhìn chằm chằm vào tấm biển, như thể nghi ngờ chính đôi mắt của mình. Anh hít một hơi thật sâu, vô thức thò tay vào túi, muốn châm một điếu thuốc, nhưng lại chẳng sờ thấy gì.

Trong túi áo khoác ban đầu của John có một hộp thuốc lá, một con dao, một đoạn dây thép và một bức thư do khách hàng viết cho ông Cornell.

Người nhận thư này sống ở thị trấn Đá Ngầm Đen.

Đúng vậy, nơi John muốn đến ngay từ đầu chính là thị trấn nhỏ khó tìm thấy trên bản đồ này. Vậy mà anh lại không phát hiện ra, cho đến bây giờ. Bởi vì từ khi anh tỉnh lại, không có ai nhắc tới chuyện này.

Lão Jack chủ rượu rượu cũng không có ý định tự giới thiệu, ông ta đã hứa với bác sĩ Abel sẽ chăm sóc John, và chỉ chăm sóc chứ không có ý định tán gẫu với anh. Cảnh sát trưởng Alson cũng không phải là người hiếu khách, ông ta sẽ không giới thiệu phong tục tập quán địa phương cho John, mà chỉ cảnh báo người ngoài hãy biết thân biết phận.

Về phần vị khách bí ẩn, bác sĩ Johnson kia… Thôi đừng nhắc đến.

“Không thể nào, mình không cảm thấy nguy hiểm gì khi nhận ủy thác mà.”

John đau đầu.

Phải chăng Iceland ở quá xa, trực giác báo động của anh không còn linh nghiệm khi nhận ủy thác ở Luân Đôn?

Tàu Gió Tây ban đầu dự định dừng ở cảng lớn cách thị trấn Đá Ngầm Đen khoảng 50 hải lý, John sẽ phải đi một chuyến xe ngựa công cộng khác để đến được thị trấn ven biển hẻo lánh này. Kết quả là cơn bão đã xé toạc cả con tàu, và John bị sóng biển đưa thẳng về bến cuối?

John: “…”

Tiết kiệm được tiền vé xe ngựa công cộng, nhưng lại bị mất hết hành lý và suýt chết đuối trên biển.

Hoàn toàn không đáng!

Và cái nơi này hoàn toàn không phải là một thị trấn bình thường, từ vị khách bí ẩn trong quán rượu tối qua cho đến không khí kỳ lạ ở thị trấn hôm nay, và cả Đá ngầm quái quỷ trong miệng của những ngư dân, tất cả đều khiến người ta lạnh sống lưng.

Lẽ nào phải từ bỏ vụ ủy thác này?

John đau đớn nghĩ, không được, anh cần tiền.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Lưu ý: hải lý, một đơn vị khoảng cách, ở đây là khoảng chín mươi km, nhưng khoảng cách đường biển khác khoảng cách đất liền</i>

<i>……</i>

<i>John đau khổ: Tôi khó khăn, tôi nghèo quá</i>

<i>………</i>

<i>Ba ảo tưởng của thám tử tư</i><i>Tất cả đều là tình cờ</i><i>Tôi vẫn còn cơ hội</i><i>Tôi không xui xẻo thế đâu</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 4


<b>Chương 4</b>

<b>Mục sư Cornell</b>

John là một thám tử tư, đến từ Luân Đôn.

Có quá nhiều thám tử ở Luân Đôn, đặc biệt là trong mười năm trở lại đây.

Chỉ cần là một thám tử nước Anh chính hiệu, ai cũng mong có thể thuê được một căn nhà cho riêng mình ở Luân Đôn, miệng ngậm tẩu thuốc và tiếp đón những vị khách đến tìm trước lò sưởi ấm áp.

Nhưng trên thực tế, tất cả đều phải chạy loanh quanh trên đường phố, ngõ hẻm trong thời tiết mưa gió của Luân Đôn, cạnh tranh với đồng nghiệp, và hầu như không đủ sống.

John không ngoại lệ.

Thu nhập của anh đã rất thê thảm trong sáu tháng qua, và nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài, anh có thể không trả được tiền thuê nhà vào cuối năm.

Vì vậy, khi có khách hàng ủy thác một chuyến đi khứ hồi giữa nước Anh và Iceland trong vòng 40 ngày, John ngay lập tức bị thu hút bởi số tiền trên tấm séc.

Anh cũng đã tiến hành nghiên cứu cẩn thận trước khi nhận lời.

Đây là một vụ án tranh chấp quyền thừa kế, khi John tiếp nhận, bối cảnh của sự việc quá rõ ràng.

Thân chủ của anh bị vu khống là con ngoài giá thú, giấy chứng nhận rửa tội và ngày sinh của ông ta bị nghi ngờ nên cần vị mục sư thực hiện lễ rửa tội năm đó ra làm chứng. Tòa cho rằng mục sư đã quá lớn tuổi nên không cần phải đích thân ra hầu tòa, chỉ cần viết một bức thư tay và đóng dấu là được.

Vấn đề nằm ở chỗ vị mục sư này đã rời Anh từ 40 năm trước, và sống tại thị trấn Đá Ngầm Đen ở Iceland, hầu hết mọi người đều chưa từng nghe đến tên địa danh này.

John đã dựa vào danh tiếng trước đây và khả năng nói tiếng Iceland của mình để thành công chiếm được lòng tin của khách hàng.

Vụ ủy thác này có hai khó khăn, thứ nhất là John phải quay lại Luân Đôn trước khi vụ tranh chấp tài sản được xét xử, thứ hai là bên kia có thể thuê thám tử khác cản trở John và đánh cắp bức thư. Bởi vì nếu không có bức thư quan trọng này, khách hàng của John có thể mất quyền thừa kế, đồng thời anh sẽ không nhận được khoản thanh toán cuối cùng cho vụ ủy thác này.

John cần khoản tiền này tiền.

Quan trọng hơn tiền bạc là uy tín và sự công nhận năng lực.

Quyền thừa kế là vấn đề lớn trong giới thượng lưu và trung lưu ở Anh, nếu làm hỏng bét mọi chuyện thì cơ bản sẽ bị loại khỏi ngành thám tử, vì sẽ không còn ai tìm anh làm việc nữa.

Đây là vấn đề nan giải mà John phải đối mặt trong lúc này.

Để rời thị trấn Đá Ngầm Đen, trước tiên anh phải lấy được lá thư viết tay của mục sư Cornell. John chỉ biết hy vọng lão mục sư già này còn giữ chức vụ mục sư trong nhà thờ, như vậy anh có thể đến thẳng nhà thờ để tìm người.

Đúng vậy, mọi chuyện còn chưa đi đến bước tồi tệ nhất.

John vẫn còn thời gian!

Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong kế hoạch, chẳng hạn như từ bỏ việc tìm kiếm bác sĩ Abel và trực tiếp nhờ mục sư Cornell viết cho anh một lá thư chứng minh tàu Gió Tây bị đắm, cộng thêm lá thư khách hàng cần, thế là hai việc được kết hợp thành một một cách hoàn hảo, sau đó anh có thể rời khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen.

John xốc lại tinh thần, tăng tốc độ.

Diện tích thị trấn Đá Ngầm Đen không lớn, đi được vài phút, John leo lên sườn đồi. Gió biển lạnh buốt khiến anh cảm thấy khó chịu khắp người, mũi cũng lạnh đến nỗi cứng đơ.

Mặt đất phủ một lớp sương trắng dày, thậm chí còn lan đến cây thánh giá đen trên đỉnh nhà thờ.

Điều này thật kỳ lạ.

John cúi đầu quan sát, vẻ mặt nặng nề.

Đêm qua trời mưa, hôm nay thời tiết cũng không đẹp đẽ gì, theo lý mà nói, mặt đất khó có thể đóng băng.

Và sương giá này vẫn còn nguyên, chưa có ai từng dẫm lên… Sương giá thường hình thành vào đêm khuya hoặc sáng sớm… Làm sao điều này có thể xảy ra? Giờ đã trưa rồi, lẽ nào cả buổi sáng không có ai đi qua con đường này?

“A! Mục sư Cornell!”

Một tiếng hét chói tai phát ra từ nhà thờ.

John cảm thấy tim mình như bị trì xuống.

Anh nhìn thấy một nữ tu loạng choạng chạy ra khỏi nhà thờ, trượt phải sương trắng trước cửa, nữ tu chưa kịp đứng dậy, đã vội hét về phía một căn nhà phía sau nhà thờ: “Bác sĩ Abel! Cứu với!”

“Có chuyện gì thế?” John gấp gáp hỏi.

Nữ tu liếc nhìn John thì nhận ra anh là một người xa lạ, cơ thể cô lập tức co lại trong vô thức, vẻ mặt càng sợ hãi hơn, cô hoảng sợ hét gọi bác sĩ Abel.

Rõ ràng đã có chuyện gì đó xảy ra bên trong nhà thờ. Cần bác sĩ, nghĩa là tình hình có thể rất nghiêm trọng.

John không kịp nghĩ nhiều, anh lao vào nhà thờ.

Sương muối ở khắp mọi nơi. Tường nhà, trần nhà, chậu đựng nước thánh, ghế ngồi và bàn thờ phía trước. Nó dày đến nỗi có cảm giác như tuyết rơi trong nhà.

Nhà nguyện vắng tanh, sự việc có thể xảy ra ở phòng dành cho giáo sĩ ở phía sau.

John men theo vệt sương trắng chạy vào trong, vừa liếc một cái đã thấy ngay cuối hành lang có một cánh cửa mở, khung cửa như bị chôn vùi trong băng tuyết, không còn nhìn ra màu sắc ban đầu của bức tường nữa.

Trong phòng có một lò sưởi, nhưng lửa đã tắt từ lâu, củi đã phủ đầy sương giá. Những đồ nội thất khác càng không cần phải nói, căn phòng chỉ còn lại một màu trắng kinh khủng.

Một ông già mặc áo mục sư màu đen nằm trên thảm, lông mày và tóc đều phủ đầy băng, đồng tử trắng toát, mắt người sống không thể có màu này. Vẻ mặt của ông già méo mó đến cực độ, như thể đã nhìn thấy điều gì đó đáng sợ, còn chính lão thì như bị đóng băng.

John đột nhiên nhìn thấy một bức ảnh trên mặt đất. Bức ảnh không hề bị sương bao phủ, nó nằm ở đó, hoàn toàn không hợp lý giữa một căn phòng thế này.

“Đây là…”

John giật mình hít một hơi thật mạnh.

Đó là một bức ảnh cũ đã ố vàng, phông nền là một trang viên, trong ảnh có hai người, một người mặc quần áo mục sư.

Mặt sau của bức ảnh có dòng chữ viết bằng mực đen “Trang viên Brandon, năm 1872.”

Brandon là họ của khách hàng trong vụ tranh chấp tài sản này. Đây là bức ảnh của cha của khách hàng, ông Brandon lớn và ông Cornell.

Cái gì? Tại sao John biết, làm thế nào anh nhận ra mục sư Cornell hồi còn trẻ?

Vì bức ảnh này được anh mang từ Luân Đôn đến đây!

Nhìn những vết xước ở mặt sau và những vết rách nhỏ ở các cạnh đi! John thề bằng trí nhớ của mình rằng đây là chính là bức ảnh đó!

Do chính khách hàng đưa tận tay cho John. Nếu muốn mời ông Cornell làm chứng, đương nhiên phải đưa ra thứ gì đó đáng tin cậy để một ông già nhớ lại những gì đã xảy ra cách đây hàng chục năm.

John lo sẽ làm mất bức ảnh này, vì vậy đã giữ nó trong túi áo sơ mi. Anh đặt bức thư tay của khách hàng, ông Brandon, vào túi áo khoác, đồng thời bọc bức ảnh và lá thư bằng một lớp vải dầu chống thấm.

Giờ thì tàu Gió Tây bị cơn bão xé nát, John bị sóng biển cuốn vào bờ, được ngư dân cứu lên, không biết đồ đạc tùy thân của anh đã đi đâu. Ban đầu anh muốn tìm bác sĩ Abel để hỏi thăm, nhưng lại tìm ra bức ảnh trước khi gặp ông ta.

Bức ảnh xuất hiện tại hiện trường một vụ án kỳ lạ.

Còn lá thư đâu?

John vội vã tìm kiếm trong phòng. Nhưng ngoại trừ bức ảnh đó, mọi thứ khác đều bị đóng băng.

Trên bàn làm việc có một chồng thư từ và tài liệu, John đang tìm cách phân biệt nó là gì thì từ hành lang vang lên tiếng bước chân lộn xộn, cùng với giọng nói hoảng hốt của nữ tu:

“…Tôi cảm thấy rất lạnh. Khi bước ra khỏi phòng cầu nguyện, tôi nhìn thấy sương giá kỳ lạ này. Tôi sợ quá nên đi tìm mục sư Cornell… Đúng, đi được mấy bước, tôi bước tới phòng nghỉ của ông ấy thì thấy cửa mở, mục sư Cornell đang nằm trên sàn, ông ấy, ông ấy… trông tệ quá, Chúa ơi!”

John vội giấu bức ảnh vào trong áo, rồi đứng thẳng lên và hơi cúi đầu chào bác sĩ Abel đang bước tới trước cửa.

Bác sĩ Abel dáng người thấp bé nhưng thân hình cường tráng, trông khoảng năm mươi tuổi, tóc đã bạc, cổ đeo một chiếc ống nghe, trên tay là một hộp thuốc.

“Bác sĩ, đây là…” Nữ tu nhìn chằm chằm vào John, trông có vẻ lo lắng.

“Ồ, đây là người được cứu từ biển hai ngày trước, cậu ta không bị gãy xương hay bị sốt, tôi bèn nhờ lão Jack ở quán rượu chăm sóc cậu ta.”

Bác sĩ Abel cũng gật đầu với John rồi nhanh chóng vào phòng kiểm tra tình trạng của mục sư.

“Ôi Chúa ơi.” Bác sĩ Abel vội vàng đến thử hơi thở của mục sư già rồi cúi xuống nghe nhịp tim.

Chỉ bằng một hành động đơn giản như vậy, thân thể cứng ngắc của mục sư đột nhiên sống dậy sau khi tiếp xúc với nhiệt độ cao, lòng trắng trong mắt biến mất, lộ ra một đôi mắt đầy kinh hãi, lão đẩy văng cả người bác sĩ Abel, hét lên thảm thiết:

“Hắn tới rồi!”

John đỡ được Bác sĩ Abel, rồi quay sang lôi kéo mục sư phát điên.

Nữ tu hét lên tên mục sư Cornell một cách kinh hãi.

Mục sư Cornell già nua vặn vẹo gương mặt, mạnh đến đáng ngạc nhiên, John và bác sĩ Abel mỗi người một bên ra sức kéo, nhưng mục sư vẫn còn sức lao ra khỏi cửa.

“Chạy đi! Hắn tới rồi! Hắn tới rồi!” Tiếng hét cao gần như vỡ ra, tràn ngập nỗi sợ hãi vô tận.

Mục sư choáng váng, không biết cách rẽ, cứ chạy thẳng một mạch, chuẩn bị lao đầu vào tường.

Nữ tu thấy không xong, chỉ biết ôm chân mục sư từ phía sau.

Ba người cùng nhau hợp lực, mục sư Cornell lảo đảo hai cái, thở hổn hển rồi ngã xuống hành lang.

“Nhanh! Đè ông ấy lại!”

Bác sĩ Abel chạy đi nhặt hộp thuốc, tìm ống tiêm và lọ thuốc rồi chạy thật nhanh về. Sau một mũi morphine, cơn hỗn loạn cuối cùng cũng lắng xuống.

Ánh mắt của mục sư già mông lung, miệng còn đang lặp đi lặp lại câu nói đó: “Hắn tới rồi, hắn tới thật rồi…”

“Hắn là ai?” John không nhịn được hỏi.

Nữ tu và bác sĩ Abel cũng muốn hỏi câu này, thế là ba người nhìn chằm chằm vào mục sư.

Khóe miệng mục sư già đột nhiên cong lên, nở nụ cười quái dị: “Johnson.”

John giật mình, trực giác báo động đang điên cuồng gào thét trong đầu anh.

Bác sĩ Abel bên cạnh đầy nghi ngờ “Johnson? Đây là ai? Ở thị trấn Đá Ngầm Đen không có người này.”

Nữ tu cũng lắc đầu, hiển nhiên cô cũng chưa từng nghe đến cái tên này.

“Chúng ta phải trói mục sư Cornell vào giường bằng dây thôi, sau khi ông ấy tỉnh dậy, chắc chắn ông ấy sẽ phát điên nữa.” Bác sĩ Abel quay đầu ra hiệu cho John giúp đỡ.

John vẫn đang nhìn mục sư già, bỗng nhiên phản ứng lại, nói ngay: “Ở đây toàn là sương giá, không dọn dẹp sạch sẽ thì không ở được, có đưa sang phòng khám không?”

“Phòng khám không còn giường trống.” Bác sĩ Abel đau đầu nói.

Nữ tu sĩ quá bất an trước chuỗi sự kiện này, cô lẩm bẩm một cách lo lắng: “Nơi này không bình thường, bác sĩ, không bình thường chút nào. Nhà thờ không thể chống lại được bước đi của ác quỷ nữa rồi, nhất định là ác quỷ, nếu không sao có thể xảy ra chuyện này?”

“Ác quỷ.” Mục sư già chợt mở to mắt với vẻ sợ hãi: “Con tàu ma tới, hắn tới! Hắn tới báo thù!”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i><i>Tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes vẫn đang được xuất bản nhiều kỳ và rất được yêu thích.</i><i>Trước khi phát minh ra thuốc an thần, thuốc giảm đau, người ta toàn dùng morphin</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 5


<b>Chương 5</b>

<b>Thực lực của thám tử</b>

Bác sĩ không tìm ra được nguyên nhân khiến mục sư Cornell đột ngột nổi điên.

Có lẽ kiến thức y học hiện nay của nhân loại có thể suy ra từ nhiều khía cạnh rằng do sức khỏe kém, vị mục sư này bị suy giảm trí não dẫn đến phát sinh bệnh tâm thần, nhưng điều này không thể giải thích được sương trắng trong nhà thờ đã hình thành như thế nào.

“Đó là một hiện tượng thời tiết hiếm gặp.”

Bác sĩ Abel là một người ủng hộ trung thành của phái khoa học, ông ta vừa bận phát thuốc vừa giải thích quan điểm của mình: “Tôi nghe nói ở những vùng gần vòng Bắc Cực, việc cả làng bị băng tuyết bao phủ trong một đêm là chuyện rất bình thường… Tại sao phòng khám ở ngay bên cạnh lại ổn? Ồ, đó có thể là một luồng không khí, nhiệt độ ở trung tâm của nó rất thấp, tôi nghĩ nó có thể là một thứ hình cầu, lăn trên tường, đồ đạc và các vật thể khác như một quả cầu sét, và tất cả những nơi nó đi qua sẽ đóng băng.”

Nữ tu nắm chặt chiếc vòng tay thánh giá nhỏ, miệng đọc Kinh Thánh, sau đó rắc muối, rửa tường và sàn nhà bằng nước thánh, vì cô nghĩ rằng làm vậy có thể xua đuổi tà ma.

“Chắc chắn là ác quỷ.” Nữ tu khẳng định, bằng chứng là sương trắng đang tan rất nhanh.

Bác sĩ Abel: “…”

Sương giá, băng và tuyết sẽ tan chảy nếu tiếp xúc với các hạt muối.

Quan điểm của phái khoa học và phái thần học không thể thống nhất, bác sĩ Abel vô thức đi tìm người nước ngoài kia, tuy mới quen nhau chưa lâu nhưng bác sĩ cảm thấy người này rất khác thường.

John đang đứng giữa nhà nguyện, tay cầm kính lúp và cẩn thận quan sát lớp sương giá trên sàn nhà.

Bác sĩ Abel nhìn qua thì thấy chiếc kính lúp trông quen quen, hình như là của mục sư già.

“Xin lỗi, tôi lấy nó trên bàn, dùng xong tôi sẽ trả lại.” John không muốn bị buộc tội là kẻ trộm.

Nguyên nhân chính là vì kính lúp của mục sư già rất tinh xảo, tay cầm dát vàng, trên khung có khắc một vòng tròn những ký hiệu và chữ cái lạ, không rõ ý nghĩa. Nếu đây không phải là kính lúp, thoạt nhìn sẽ tưởng đó là đồ cổ.

Thứ này cũng đã bị đóng băng, nhưng John vẫn có thể cạy nó ra nguyên vẹn nhờ công thức nước thánh và muối trừ tà của nữ tu.

“Cậu đang nghiên cứu quỹ đạo của những quả cầu tuyết đóng băng phải không?” Bác sĩ Abel hỏi.

“Gì cơ?”

John không hiểu.

Bác sĩ Abel nhắc lại nguồn cảm hứng của mình từ quả cầu sét, đồng thời tuyên bố mình sẽ viết một bài luận về khám phá mới này và đăng nó trên một tạp chí khoa học Châu Âu.

John thấy vẻ mặt nhiệt tình của bác sĩ, quyết định không cắt ngang bài diễn thuyết của ông.

John cúi đầu tiếp tục quan sát sương trắng. Trong đầu anh hiện lên một bản đồ cấu trúc nhà thờ. Trên tấm bản đồ này, các khu vực có sương giá dày hơn được đánh dấu, khi được kết nối với nhau, có thể nhìn thấy một quỹ tích rõ ràng.

“… Nguồn gốc của nó là từ một người có lối đi giống chúng ta.”

Vì vậy, sương dày hơn ở sàn và các bức tường sát mặt đất, và mỏng nhất ở phía trần nhà.

“Nó, hay nói đúng hơn là hắn đi qua nhà nguyện phía trước, đi vào cửa hông đến hành lang… đứng trước cửa phòng nghỉ của mục sư Cornell, rồi đặt tay lên cửa? Không, giống như tuyên bố rằng mình đã đến, để cái lạnh thấm vào phòng qua khe hở trên cửa.”

John gần như có thể tưởng tượng…

Mục sư già đang xử lý tài liệu trên bàn, tay trái cầm kính lúp, tay phải cầm bút, chợt cảm thấy cơn lạnh thấu xương, lão rùng mình, kéo chiếc áo khoác trên lưng ghế lên rồi dụi mắt, phát hiện ra rằng ngọn lửa trong lò sưởi đã tắt.

Mục sư già bối rối đứng dậy, đi về phía cửa chuẩn bị gọi nữ tu, hỏi xem ngoài trời có tuyết không.

Kết quả là, đi được nửa đường, lão thấy sương trắng lan nhanh trên tường.

Vì sàn nhà trải thảm dày nên lúc đầu không thấy rõ, mục sư già cũng không kịp nhận ra.

Lúc mục sư nhận thấy tình hình khác thường, mở miệng muốn hét lên thì cửa lặng lẽ mở ra.

Người đó đang đứng ngay trước cửa.

Ăn mặc như một quý ông nước Anh truyền thống, có thể đội thêm một chiếc mũ chóp đen và mặc áo choàng, một sợi dây xích treo đồng hồ vàng mảnh mai lấp ló dưới lớp áo, đường nét khuôn mặt điển trai và lạnh lùng trông như một bức tượng được chạm khắc bởi một lưỡi dao băng.

Những bóng đen xoắn lại bao bọc quanh y, cơn gió mang đến cái lạnh thấu xương, những cơn lốc đen vô hình bắt đầu lan tràn trong hành lang và cả căn phòng.

Mục sư kinh hãi, bắt đầu la hét.

Nhưng không ai có thể nghe thấy âm thanh đó, hoặc là lão hoàn toàn không thể phát ra tiếng, bởi vì nữ tu ở một phòng khác trong hành lang không nghe được bất cứ tiếng động nào.

Sau đó, sau đó mục sư đã nói gì?

Ai đã cầm bức ảnh đó trước khi nó bị ném xuống đất?

Ảnh không bị đóng băng, chắc chắn không phải mục sư.

… Những ngón tay thon dài và nhợt nhạt giơ bức ảnh lên, lắc lư trước mắt mục sư Cornell. Vị khách bí ẩn giống như sứ giả của tử thần từ địa ngục, y đang tìm kiếm vị mục sư già này, có lẽ là trong nhiều năm rồi.

Hình ảnh bị gián đoạn, vì không thể tưởng tượng được nữa.

John ấn vào cái trán đau nhức của mình.

Đây không phải là ảo ảnh hay tưởng tượng. Mọi thứ đều có bằng chứng cụ thể (vị trí ghế trong phòng nghỉ, hướng ngã của mục sư già), và trải nghiệm cá nhân của John trong quán rượu.

John không ngờ rằng lần thứ hai anh nghe thấy cái tên Johnson đó là từ miệng của mục sư Cornell.

Thật không may, anh không thể lấy thêm manh mối nào nữa, chỉ có một vài từ nghe tưởng chừng như quan trọng (lượng thông tin quá lớn).

<i>Hắn tới rồi, báo thù, </i>còn có<i> con tàu ma… </i>Hiển nhiên mục sư Cornell biết Johnson, ít nhất lão đã từng gặp Johnson trên biển, nếu không thì đã không nhắc đến con tàu ma.

John nghĩ đến chiếc thuyền buồm màu đen trong sương mù dày đặc, trước mắt anh là một cảnh tượng kỳ lạ, trong đó con tàu vô cớ tan rã, vô số bóng đen hình sợi dài mảnh b*n r* tứ phía.

“Ôi.”

John cau mày đau đớn, anh không thể nhớ lại cảnh tượng đó. Ngay khi nghĩ đến nó, cơn đau đầu của anh đột nhiên trở nên dữ dội hơn, bóng chồng sẽ xuất hiện trước mắt. Di chứng của chấn động não có nặng nề đến vậy không?

John đang loạng choạng bám vào tường, lúc này một khuôn mặt người mờ ảo xuất hiện, các đường nét trên khuôn mặt không ở đúng vị trí, trông rất quái dị và đáng sợ.

“Thưa anh? Anh không sao chứ, này anh?”

Được rồi, âm thanh vẫn bình thường, John nhắm mắt lại.

Khi anh mở mắt ra lần nữa, khung cảnh trở lại bình thường, anh nhìn thấy nữ tu với vẻ mặt lo lắng.

“Tôi không sao, chỉ là… tôi chưa ăn gì.” John ôm bụng, kiếm đại một cái cớ cho mình.

Sau khi cho mục sư già uống thuốc, bác sĩ Abel nghe thấy tiếng kêu của nữ tu liền chạy tới, trên tay vẫn cầm ống nghe.

John tê hết cả da đầu, sợ bác sĩ phát hiện mình có vấn đề tâm thần, nhưng anh không thể trực tiếp từ chối lòng tốt của ông ta.

“Không sao đâu, cho tôi một mẩu bánh mì là được.” John đã cố gắng hết sức để tỏ ra mình rất khỏe.

Bác sĩ Abel nghe tim phổi cho anh xong cũng không phát hiện có vấn đề gì, cảm thấy choáng váng, không đứng vững thì có thể là vì đói, John quả thực khỏe mạnh và có sức hơn những người đàn ông trưởng thành bình thường nhiều. Sáu người còn lại đang sốt cao nằm trên phòng khám đều có thể chứng minh điểm này, trong số những người trên thuyền, chỉ có John là đang nhảy nhót tung tăng.

“Lão Jack không nấu bữa sáng và bữa trưa à?” Bác sĩ Abel ngạc nhiên hỏi.

“Tôi ngủ thẳng đến trưa, sau đó xảy ra chuyện.”

John nghĩ đây là cơ hội tốt để thăm dò, thế là anh kể lại câu chuyện về cuộc gặp gỡ của mình với cảnh sát trưởng Alson, cũng như việc Alson và chủ quán rượu biến sắc rồi chạy ra ngoài khi nghe nhắc đến Đá ngầm quái quỷ như thế nào.

Bộp.

Nữ tu không nắm chặt nổi cây thánh giá trong tay, nó rơi xuống đất. Sắc mặt cô tái nhợt, đôi môi run rẩy.

Vẻ mặt của bác sĩ Abel cũng xấu đi, ông ta gượng cười: “Đá ngầm trồi lên từ dưới đáy biển? Đó có thể là hoạt động của núi lửa, một hiện tượng hiếm gặp nhưng không phải là chưa từng xảy ra. Tôi đọc trên một tạp chí học thuật rằng chuyện như thế này đã từng xảy ra ở Đại Tây Dương.”

Nữ tu nhặt thánh giá lên, không nói gì mà đi tới trước bàn thờ cầu nguyện, rồi đứng dậy tiếp tục lau chùi nhà thờ bằng muối và nước thánh.

Bác sĩ Abel chỉ có thể để lại lọ thuốc, nói với bóng lưng của nữ tu: “Nếu mục sư Cornell tỉnh lại, hãy báo ngay cho tôi.”

Nói xong ông ta xách hộp thuốc lên, ra hiệu cho John đi theo mình đến phòng khám gần đó.

“Tôi vẫn còn một ít khoai tây nướng còn thừa từ bữa trưa, nhân tiện, cậu là…”

“Xin cứ gọi tôi là John, tôi là một thám tử, đến từ Luân Đôn.”

“Thám tử?”

“Phải, một khách hàng của tôi gặp chút rắc rối, ông ta đã viết thư cho mục sư Cornell để nhờ giúp đỡ.”

John chọn nói ra sự thật, vì anh cần người giúp mình chứng minh vụ đắm tàu, hơn nữa sự quan tâm quá mức của anh đối với mục sư già cũng sẽ khơi dậy sự nghi ngờ của người khác, để tạo điều kiện thuận lợi cho mình, anh chỉ đơn giản tiết lộ một số nội dung ủy thác, biết đâu có thể hỏi thăm được điều gì đó.

Quả nhiên, Bác sĩ Abel hỏi ngay: “Khách hàng của cậu cũng là người đam mê thần học hay nhà thám hiểm phải không?”

“Thần học…à, cũng có liên quan đến thần học, nhưng còn nhà thám hiểm là như thế nào?”

John cố tình dùng những từ ngữ mơ hồ, ngày sinh được viết trên giấy chứng nhận rửa tội, rửa tội có liên quan gì đến thần học không? Có, nên đó không phải là lời nói dối!

“Ồ, tôi nghe nói hồi còn trẻ, mục sư Cornell đã cùng đoàn thám hiểm lên tàu đi khắp vùng Đại Tây Dương và biển băng, mục sư Cornell là người rất hiểu biết, tôi rất kính trọng ông ấy.” Bác sĩ Abel nghiêm túc trả lời: “Ông ấy là một người đáng kính, những mục sư khác không muốn truyền đạo ở nơi xa xôi này trong thời gian dài đâu, nhưng ông ấy đã sống ở đây hàng chục năm.”

John gật đầu, rồi làm như vô tình hỏi: “Tôi đi bộ một mạch từ quán rượu lên đây, thấy không khí ở thị trấn rất lạ.”

“Cái này à…” Bác sĩ Abel tỏ ra do dự.

“Cái này có liên quan đến Đá ngầm quái quỷ sao? Xin lỗi, tôi thấy mọi người rất quan tâm, tôi nghĩ chắc là có cách giải thích khác ngoài núi lửa phun trào?” John giả vờ tò mò hỏi, lúc này ưu điểm của nghề mà anh tiết lộ mới được thể hiện, một thám tử sẽ không bao giờ buông bỏ nghi ngờ trước mắt.

Bác sĩ Abel hít một hơi thật sâu rồi cười khổ: “Truyền thuyết kể rằng cách đây nhiều năm, một tảng đá ngầm khổng lồ bất ngờ nhô lên từ đáy biển gần thị trấn Đá Ngầm Đen, mưa lớn nhấn chìm thị trấn, rất nhiều người mất tích… Nghe đồn đây là cơn thịnh nộ của thần Biển, thần Biển đang ngủ ở vịnh gần đó, nếu có người đánh thức thần Biển, tai họa sẽ lại ập đến. Bây giờ tất cả mọi người đều hoảng sợ, bởi vì tình huống giống như trong truyền thuyết, đầu tiên là mưa lớn suốt ba ngày, sau đó là Đá ngầm quái quỷ, tiếp theo nếu có người mất tích, mọi người sẽ càng hoảng sợ hơn.”

Bác sĩ Abel rõ ràng không muốn nói về Đá ngầm quái quỷ, vội vàng chuyển sang chủ đề khác, hỏi John: “Tôi còn tưởng cậu sẽ tò mò về <i>báo thù</i> và <i>con tàu ma</i> mà mục sư Cornell nói đến chứ.”

“Ông Cornell đang có vấn đề về tâm thần, có triệu chứng mê sảng phải không?” John tỏ ra mình tin vào khoa học hơn cả bác sĩ Abel, anh nói thẳng: “Bệnh nhân bị ảo giác và nhìn thấy những điều kỳ lạ là điều bình thường mà.”

Bác sĩ Abel: “…”

Hàm ý của vị thám tử này là những cư dân khác của thị trấn Đá Ngầm Đen đều không bình thường.

Không thể nào cả thị trấn đều bị bệnh tâm thần, nói nhảm và cư xử bất thường chứ? Ừm, về mặt logic thì hợp lý, không có sơ hở. Ánh mắt bác sĩ Abel sáng lập lòe, sau đó chủ đề chuyển sang bệnh tâm thần.

Sau khi ông ta quay đi, John quan sát bác sĩ này. John chắc chắn rằng bác sĩ Abel biết “con tàu ma”, ít nhất là ông ta từng nghe mục sư Cornell nhắc đến, nếu không ông ta sẽ không dùng nó để thăm dò anh.

Bác sĩ Abel nói, mục sư già là người đáng kính. Vậy tại sao một vị mục sư đáng kính lại “bị báo thù”?

Bản thân mục sư Cornell cũng biết sự thật, khi lão nổi điên không nói “hắn đến đây để hại người, hắn đến đây để giết tôi”, mà lại nói “hắn đến trả thù”. Mối quan hệ nhân quả trong này quá rõ ràng. Chỉ khi đã “làm điều gì đó” thì mới sợ bị Johnson tìm đến.

Tuy nhiên, con tàu ma với Johnson và Đá ngầm quái quỷ với thần Biển có lẽ là hai sự kiện không liên quan đến nhau.

Vì mục sư già sợ Johnson trả thù nên mới trốn tránh ở nơi mà kẻ thù chưa từng xuất hiện. Rất có thể mục sư già cảm thấy thần Biển đang ngủ say có thể “che mắt” con tàu ma, không cho Johnson “nhìn thấy” thị trấn này, nên lão chạy đến thị trấn Đá Ngầm Đen để ẩn náu.

Kết quả là không biết vì sự số gì mà hai sự kiện này cùng nhau bộc phát?

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i><i>Thám tử không thể có IQ thấp, thấp thì làm sao phát hiện ra sự thật?</i><i>Thám tử phải có năng lực cao, không cao thì làm sao sống sót đến phút cuối cùng?</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 6


<b>Chương 6</b>

<b>Cảnh khốn khó</b>

Phòng khám của bác sĩ Abel là một tòa nhà hai tầng. Cùng chất liệu là đá màu nâu xám, nhưng có diện tích nhỏ hơn nhiều so với nhà thờ.

John thấy sáu người khác sống sót sau vụ đắm tàu ở đây, trợ lý của bác sĩ Abel đang cho họ uống thuốc. Anh bước tới và cẩn thận phân biệt khuôn mặt của họ, tìm thấy thuyền trưởng, lái chính, hai thủy thủ và hai hành khách của tàu Gió Tây.

Tất cả họ đều bị sốt cao, hôn mê bất tỉnh.

Vì lo lắng họ sẽ vùng vẫy trong tình trạng hôn mê rồi đè lên những chỗ bị gãy, bác sĩ Abel còn trói chân hoặc tay của họ.

Tệ nhất có lẽ là thuyền trưởng, toàn thân ông ta bị trói chặt bằng dây, nửa dựa trên giường chứ không nằm được, nghe nói là do gãy hai cái xương sườn, nếu cử động chỗ thì xương gãy có thể làm tổn thương nội tạng.

“Họ thế nào rồi?”

“Không ổn.” Bác sĩ Abel thở dài: “Viêm phổi rất nặng, đây là triệu chứng thường gặp ở những người bị đuối nước. Ngoài ra, vết thương trên cơ thể họ đã ngấm nước biển, đang hoại tử, tôi đã nạo phần thịt thối ra ngoài, giờ chỉ có thể trông chờ vào sự phù hộ của Chúa.”

Vừa nói, bác sĩ vừa nhìn John với ánh mắt kỳ lạ. Dù cũng bị rơi xuống biển, nhưng người đàn ông này may mắn đến mức vô lý, anh không hề bị thương ngoài da, trông chẳng giống như ở cùng một chiếc thuyền với những người kia.

John: “…” Có những điều không cần phải nói, chỉ cần nhìn vào mắt là có thể nhận ra. Nhưng anh không thể giải thích chuyện này, đành phải giả vờ như không biết.

John nhờ bác sĩ Abel viết một lá thư chứng minh rằng anh đã được cứu khỏi một vụ đắm tàu.

Vốn dĩ anh định nhờ mục sư Cornell, nhưng bây giờ mục sư già…

“Tình trạng của mục sư thế nào rồi? Thuốc sẽ có tác dụng trong bao nhiêu ngày?”

“Cơn bệnh đột ngột này có thể sẽ khỏi ngay sau khi người ta tỉnh dậy, hoặc có thể không bao giờ khỏi.” Bác sĩ Abel tiếc nuối nói. Thấy John trông rất tệ, ông ta tiện đường an ủi: “Nhưng tôi nghĩ có rất nhiều hy vọng bình phục, suy cho cùng, sức khỏe của mục sư Cornell vẫn luôn tốt mà.”

Đúng là như vậy, John thầm nghĩ.

Theo hồ sơ của Giáo hội, năm nay mục sư Cornell đã 76 tuổi. Người điên tuy rằng rất mạnh, nhưng mục sư già vừa rồi đã đầy ngã bác sĩ chỉ bằng một tay, cần ba người hợp sức mới có thể đè lão xuống, thể lực và tiềm lực này thật sự dữ dội đấy.

“Mong mục sư sớm bình phục”.

John cảm thấy đau đầu khi nghĩ về nhiệm vụ của mình. Vì anh biết mục sư già không bị bệnh tâm thần. Johnson tới lần thứ nhất, thì sẽ tới lần thứ hai, không còn trông cậy vào mục sư già được nữa.

Nhưng không sao cả, John đã có kế hoạch B. Anh phải tìm cơ hội xem kỹ các tài liệu và thư từ trong phòng của mục sư Cornell, sau đó bắt chước chữ viết tay của ông ta, làm giả một bức thư là xong. Điều quan trọng nhất để làm giả loại thư tay này là con dấu, tiếp theo là chữ viết tay. Con dấu đang ở trong phòng làm việc, vừa rồi John đã nhìn thấy vị trí của nó.

Tất nhiên, việc làm giả thư từ là phạm pháp, nhưng vì khách hàng dám trực tiếp yêu cầu thám tử đến gặp mục sư Cornell, điều đó có nghĩa là giấy chứng nhận rửa tội không có vấn đề gì, ít nhất mục sư Cornell sẽ không phủ nhận, nên John bây giờ chỉ là… tùy cơ ứng biến.

John xoa trán, cảm ơn trợ lý của bác sĩ đã bưng đồ ăn tới.

“Có bao nhiêu người trên tàu của cậu?” Bác sĩ Abel vừa hỏi vừa viết thư về vụ đắm tàu.

“Chỉ có ba hành khách, thủy thủ cộng thêm thuyền trưởng, tổng cộng có bảy người, không tìm được thì… có thể gặp nạn rồi.”

John nói bằng giọng nặng nề, vừa nhét một miếng khoai tây nướng vào miệng, anh liền phát hiện ánh sáng trong phòng làm việc đang mờ dần.

Anh lập tức đi tới cửa sổ. Bầu trời bị mây đen che phủ hoàn toàn, chỉ trong một thời gian ngắn, trời tối đến mức người ta thậm chí không thể nhìn thấy ngón tay của mình.

“Tệ quá, chủ quán rượu bảo tôi phải về trước khi trời tối, bây giờ là ba giờ chiều rồi.” John tự nhủ.

Chẳng mấy chốc John đã mất đi hứng thú tự giễu mình, bởi vì đứng bên cửa sổ phòng khám, anh có thể nhìn thấy rõ ràng sự thay đổi của mặt biển bên dưới. Nước biển như nồi súp đang sôi, sóng cuồn cuộn không ngừng.

Ba cột khói đen xám từ từ “bốc lên”, khiến người ta nghi ngờ có một con tàu hơi nước ẩn dưới đáy biển đang xả làn khói dày đặc thông qua ống khói của nó. Khói đen rất dễ thấy, nhìn từ xa trông như được nối liền với những đám mây đen treo thấp trên bầu trời.

“Đúng là núi lửa thật rồi!”

Cảm nhận được điều bất thường, bác sĩ Abel cũng đến bên cửa sổ nhìn quanh, rồi tái mặt vì sợ hãi. Ông ta vội vàng gọi tên trợ lý, gọi người thu dọn hành lý.

“Trong phòng khám vẫn còn bệnh nhân.” John nhắc nhở.

“Không kịp nữa đâu.” Bác sĩ Abel toát mồ hôi hột: “Chúng ta không thể khiêng nổi nhiều người như vậy. Nếu núi lửa phun trào, cả thị trấn sẽ không thể trốn thoát. Ngay cả những ngôi nhà trên sườn đồi cũng sẽ bị dung nham và đá vụn phun trào phá hủy.”

John chạy xuống theo bác sĩ, nhắc nhở: “Cầu và đường dẫn ra ngoài thị trấn Đá Ngầm Đen đã bị lũ cuốn trôi rồi.”

“Đi được bao nhiêu hay bấy nhiêu, tôi biết một con đường mòn trên núi.” Bác sĩ Abel hốt hoảng nhét tài sản, giấy tờ vào vali.

Lúc này nữ tu đột nhiên chạy vào: “Bác sĩ, không xong rồi, mục sư Cornell tỉnh lại, giật đứt dây rồi chạy như điên xuống núi.”

“Cái gì?”

Bác sĩ bàng hoàng, ông ta đã dùng biện pháp mạnh để khống chế bệnh nhân tâm thần, vậy mà mục sư vẫn có thể thoát ra được? Nhưng lúc này không có thời gian đuổi theo, bác sĩ Abel vội vàng bảo nữ tu ra xem bên ngoài có chuyện gì.

John vẫn còn nhớ tới con dấu và thư của mục sư già, tình thế cấp bách, anh chỉ có thể làm trộm một lần.

Vài phút sau, John mang theo một xấp thư được bọc kín (để làm giả và so sánh) cùng với con dấu, vội vã theo bác sĩ Abel đang xách một chiếc vali ra ngoài.

“Nữ tu đâu?”

“Cô ấy không chịu đi, đang cầu nguyện.”

“Trợ lý của ông đâu?”

“Cậu ấy nhất quyết đòi về nhà gặp bà nội.” Bác sĩ Abel không ngoái lại, chạy thẳng về phía trước.

John liếc nhìn những người đang nằm trong phòng phòng khám, lòng do dự, nhưng anh cũng biết lúc này do dự đồng nghĩa với cái chết, nên anh nhanh chóng cởi trói cho họ, để ít nhất họ có thể chạy được khi thảm họa xảy ra. Mặc dù họ đều bất tỉnh, vết thương của họ sẽ trở nên trầm trọng hơn nếu cử động, nhưng nếu lỡ như vậy thì sao?

John hành động rất nhanh, khi anh chạy ra ngoài, vẫn có thể nhìn thấy bóng lưng của bác sĩ Abel.

Mặt đất rung chuyển ầm ầm, mây đen xám xịt lóe lên một màu đỏ sậm kỳ dị. Một cơn gió biển thổi qua, mùi lưu huỳnh nồng nặc gắt mũi. Một vết nứt đột nhiên xuất hiện trên đường phố và tiếp tục mở rộng.

Bác sĩ Abel bị trượt chân, ngã xuống vũng nước đọng, cả người đầy bùn.

Người trong nhà cũng chạy ra ngoài, thị trấn trở nên hỗn loạn. Có người hét lớn tên người thân của mình, người khác khóc vì sợ hãi.

Nước đọng trên đường chảy vào các vết nứt, nhưng không thể lấp đầy được. Các vết nứt vẫn đang bốc khói. Những loại khí đó rõ ràng là độc hại, người hít chúng vào đều thấy chóng mặt.

“Đi thôi! Đừng lãng phí thời gian, đi nhanh lên!” Cảnh sát trưởng Alson một tay ôm một đứa bé đang khóc, tay kia đỡ một bà già, hét lên bằng hết sức mình.

Khi John chạy đến cửa quán rượu, anh nhìn thấy lão Jack.

“Cuối cùng cậu cũng quay lại.” Chủ quán rượu không mang theo hành lý gì, ông ta xách theo một túi khoai tây và cá khô, thấy hai tay John trống không, bèn dứt khoát nhét cho anh một túi rồi quay người đi về vác thêm một túi bắp cải.

Vết nứt trên mặt đất càng ngày càng lớn, lúc đầu chỉ có một chân lọt vào, nhưng hiện tại đủ cho một người rơi vào.

RẦM!

Một tiếng động lớn vang lên, John vội vàng quay lại, phát hiện đám bụi khổng lồ bao trùm khu vực gần bờ biển.

“Nhà sập xuống đất, đừng nhìn nữa.” Chủ quán rượu thúc giục, quan trọng là phải trốn thoát. Tuy nhiên, ông ta vẫn nhất quyết mang theo đồ ăn khi chạy trốn.

“Hù… ùng ục…phụp phụp…”

Những âm thanh kỳ lạ phát ra từ sâu trong vết nứt.

John biết đây có thể là chuyển động của dung nham núi lửa, cũng có thể là âm thanh của đá nổ tung do nhiệt độ cao, nhưng âm thanh đó thực sự rất đáng sợ, nghe như tiếng một con quái thú khổng lồ đang thở, hơi thở của nó dần dần trở nên nặng nề hơn.

Nó đang thức dậy.

Nó đang vươn vai.

ẦM ẦM!

Xa xa, một dãy nhà khác đổ sập, không ai dám quay đầu lại, tất cả cùng chạy nhanh hơn.

Bóng chồng lại xuất hiện trước mắt John. Anh không biết là do ảnh hưởng của tiếng động lạ hay do khí độc từ lòng đất bốc lên. Ù tai, nhịp tim tăng lên, bước đi trở nên nặng nề và chậm chạp.

Không biết đã chạy bao lâu, tiếng ù ù bên tai đột nhiên dừng lại, John cảm thấy mình như bị điếc, anh không nghe thấy gì. Đúng lúc anh đang kinh ngạc, một tiếng ngân nga trầm trầm truyền tới.

Như sương mù trôi trên biển.

Giống như một ốc đảo mùa xuân gặp phải trong sa mạc.

Âm thanh này tuyệt diệu đến mức không thể tưởng tượng nổi, khiến cho tất cả lỗ chân lông của người ta mở ra, họ vô thức lần theo dấu vết của nó.

“Không đúng!”

John đập mạnh vào trán để ngăn mình bị mất ý thức.

Anh phát hiện mọi người đều đã ngừng cử động, quay đầu lại và đứng ngây người. Cảnh tượng này vừa kỳ quái vừa đáng sợ, tất cả mọi người, nam nữ già trẻ đều đứng cứng đờ tại chỗ như mất hồn.

Bác sĩ Abel cầm vali trên tay, chủ quán rượu vác bắp cải, cảnh sát trưởng Alson đỡ một bà già… Họ quay đầu về cùng một hướng, rồi từ từ quay cả người lại, đi về hướng đó như thể đang mộng du.

“Tỉnh lại!” John chộp lấy chủ quán rượu, dùng củ khoai tây đập vào đầu ông ta.

Chủ quán rượu rùng mình một cái rồi bừng tỉnh, sau đó bàng hoàng khi nhìn thấy cảnh tượng xung quanh.

John lại đi đánh bác sĩ, chủ quán rượu cũng vội vàng dùng bắp cải đập cảnh sát trưởng. Số người tỉnh táo dần dần tăng lên, nhưng vẫn có nhiều người mộng du đi ngược trở lại.

Bà lão bên cạnh cảnh sát trưởng Alson hoảng sợ hét lên: “Siren… đây là tiếng hát của Siren, không được đi, nếu đi sẽ không bao giờ trở lại!”

Lúc này, một bóng người xuất hiện ở cuối đường, chặn trước mặt những người bị mộng du.

Diện chiếc áo choàng lữ hành màu xám và đội chiếc mũ nhung đen, trông y như thể vừa xuống xe ngựa, chuẩn bị bước vào nhà hát opera ở Luân Đôn.

Là Johnson!

Tim John đập thình thịch.

Nhưng sau khi Johnson xuất hiện, một cơn gió lạnh cuốn theo những bông tuyết ập đến, khiến người bị mộng du tỉnh giấc vì lạnh.

“Chuyện gì thế?”

“Hình như tôi nghe thấy tiếng hát?”

Johnson bước nhanh đến, vượt qua những người vẫn còn bối rối.

“Anh là ai?” Cảnh sát trưởng Alson hỏi theo bản năng, ánh mắt đầy vẻ cảnh giác.

“Rời khỏi nơi này, có chuyện gì sau này lại nói.” Johnson trả lời ngắn gọn. Giọng nói của y rất bình tĩnh, rất đáng tin cậy, khiến mọi người vô tình tuân theo mệnh lệnh của y.

John lặng lẽ tránh xa y.

Johnson liếc nhìn anh nhưng không nói gì.

John nghi ngờ rằng tên này không phải là con người, nhưng vào thời điểm quan trọng này, rõ ràng y đã cứu được hầu hết người dân thị trấn, anh không thể đưa ra bất kỳ lời chất vấn nào.

Chẳng mấy chốc, mọi người chạy ra khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen, đối mặt với những sườn núi lầy lội và nước đọng.

“Sắp rồi, đi về phía trước, tìm thuyền chèo qua, hoặc vượt qua sườn núi…”

Giọng bác sĩ Abel đột ngột ngừng lại.

Phía trước hiện ra một cái rãnh không đáy, nó như một con rắn uốn lượn ngoằn ngoèo, rộng hơn ba mươi thước Anh và vẫn đang mở rộng, đồng thời kéo dài ra xa, chia cắt hoàn toàn thị trấn Đá Ngầm Đen với thế giới bên ngoài.

Chạy thẳng một đường đến đây, tưởng chừng có thể trốn thoát, kết quả lại chứng kiến cảnh tượng này, rất nhiều người đã gục ngã.

Họ ôm đầu, gục xuống đất và khóc lóc.

John đạp xuống đất vài lần, nói với bác sĩ Abel còn đang choáng váng: “Cơn chấn động hình như đã dừng lại, núi lửa phun trào có giống như một chú chim con chui ra khỏi vỏ không, gây náo động rồi nằm nghỉ nửa tiếng trước khi phun trào trở lại?”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i><i>Tất nhiên đó không phải núi… không đơn thuần là núi lửa đâu.</i><i>Penicillin được phát hiện vào năm 1928, nó là loại kháng sinh xuất hiện sớm nhất.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 7


<b>Chương 7</b>

<b>Người không thể được nhìn thấy</b>

Lúc đó là bốn giờ chiều, bầu trời tối như màn đêm. Mùi lưu huỳnh trong không khí ngày càng nhạt dần. Những âm thanh kỳ lạ phát ra từ các vết nứt trên mặt đất cũng biến mất.

Mọi người không thể biết đây là sự yên tĩnh trước khi thảm họa bắt đầu, hay thảm họa đã kết thúc.

“Có lẽ ngọn núi lửa này… vẫn chưa đến lúc phun trào.” Bác sĩ Abel lắp bắp..

Sau đó ông ta thực sự nghĩ ra một lời giải thích khoa học hợp lý, và tự tin trở lại.

“Đúng vậy, trước khi núi lửa hoàn toàn phun trào, sẽ xuất hiện một số hiện tượng dị thường, sức ép của địa tầng sẽ tìm ra một số điểm yếu, sau đó xuất hiện vết nứt, lỗ phun khí và những thứ tương tự. Quá trình này kéo dài từ khoảng ba ngày đến một tuần, tôi đã đọc về nó trên các tạp chí khoa học.”

John thầm nghĩ, những tạp chí khoa học này cũng khá thú vị, nhưng sau khi đăng ký, chúng có thực sự được gửi đến một bưu điện xa xôi như ở thị trấn Đá Ngầm Đen của Iceland không?

Nhưng lúc này không phải lúc bàn luận khoa học, John hỏi: “Thị trấn Đá Ngầm Đen chỉ có một lối ra duy nhất này sao?”

Lòng tin của bác sĩ Abel biến mất trong nháy mắt, ông ta tái mặt nói: “Đây là một mũi đất, ba mặt đều là biển bao bọc. Ngoại trừ đường biển, đây là con đường duy nhất.”

John suy nghĩ một lúc, tìm một hòn đá khá lớn, ném thẳng xuống cái rãnh sâu phía trước.

“Khoan đã!”

Bác sĩ Abel sợ hãi đưa tay ra ngăn cản, nhưng chậm một bước. Vẻ mặt ông ta đầy sợ hãi, như thể lo lắng John sẽ đánh thức con quái vật đang ngủ say dưới lòng đất.

“Có chỗ đệm.” John nhắc nhở.

Khi khe núi sâu hình thành, ngọn núi gần đó sụp đổ, đất lở cuốn theo những cái cây thấp xuống dưới khe núi. Thứ bùn nhão này có tính kết dính rất mạnh, thậm chí còn cuốn theo đá tảng chuyển động trong lòng nó.

Lúc này, một âm thanh trầm đục truyền đến từ trong rãnh sâu bên dưới.

John cầm lấy một cành cây, vạch vài vết trên bùn rồi dùng đế giày lau sạch nó, thở dài: “Độ sâu ít nhất là 46 feet*, bây giờ xây cầu rất nguy hiểm, rãnh này có thể sẽ rộng hơn và sâu hơn, chỉ có thể chờ xem ngày mai.”

<i>* Số ít là Foot, là một đơn vị đo chiều dài, có thể khác nhau theo từng hệ thống, nhưng đều khoảng từ một phần tư đến một phần ba của mét. Đơn vị foot sử dụng phổ biến nhất ngày nay là foot quốc tế.</i>

Bác sĩ Abel giận dữ nói: “Cậu quá liều lĩnh, lực đập của viên đá có thể phá hủy sự cân bằng mong manh hiện nay, khiến magma phun trào.”

“Ông vừa mới nói, không có con đường nào khác.” John nhắc nhở: “Chúng ta bị chôn chân ở chỗ này rồi.”

Khi nào núi lửa phun trào có quan trọng không? Dù sao cũng không thể chạy thoát. Hơn nữa, đây không phải là miệng núi lửa, tốc độ phun trào cũng không cao lắm nên có thể sẽ giảm bớt áp lực địa tầng.

Bác sĩ Abel kiên quyết khẳng định: “Phải có cách nào đó. Nếu không được, chúng ta sẽ chế tạo khinh khí cầu.”

John: “…” Anh đã đánh giá thấp bác sĩ.

Khinh khí cầu thực sự là một ý tưởng hay, nhưng việc chế tạo nó đòi hỏi công nghệ và thời gian, còn số lượng người trên khinh khí cầu thì có hạn.

John đang định nêu ra điểm này thì chợt nhìn thấy bóng cây thấp thoáng đằng xa, và người đang đứng đó.

Johnson.

Tên này còn chưa đi!

Lý trí bảo John đừng đến gần kẻ nguy hiểm này. Nhưng câu đố đang ở ngay trước mắt, như thể một bữa ăn ngon được đặt dưới mũi một người vô gia cư… Giả vờ như không nhìn thấy nó thực sự rất khó.

Mục sư Cornell, Johnson, con tàu ma… Mối liên hệ ở đây là gì?

Tại sao Johnson lại xuất hiện để cứu những người dân thị trấn bị tiếng hát mê hoặc, rồi lại biến mất trong hỗn loạn sau khi giải cứu họ? Lẽ nào Johnson không biết rằng đứng đây trong bộ quần áo của mình cũng nổi bật như trộn một viên ngọc vào giữa những viên sỏi?

John chưa kịp tìm ra câu trả lời thì bác sĩ Abel đã sáp lại đó.

“Xin chào ngài, tôi là bác sĩ Abel của thị trấn, ngài đến từ bên ngoài à?”

Hỏi hay lắm! Cầu đường bị nước lũ cuốn trôi mấy ngày nay, nếu Johnson là người ngoài thì làm sao mà vào được đây?

John lặng lẽ nhích lại gần, định nghe lén cuộc trò chuyện của họ.

Johnson đưa tay nâng vành mũ lên, rồi hơi cúi đầu xuống (so với y, bác sĩ Abel lùn quá), nói nói giọng đều đều: “Tôi đến bằng tàu cách đây vài ngày.”

“Vậy sao?” Bác sĩ Abel có vẻ bối rối, ngập ngừng hỏi: “Đó chắc hẳn là một con tàu rất lớn và rất tốt!”

“Không, đó là một con tàu rất lâu đời, rất cũ kỹ.”

Johnson bình tĩnh trả lời, nhưng John lại toát mồ hôi lạnh. Nếu Johnson nói đến con tàu ma thì quả thực nó đã rất cũ, giống như một con tàu Tây Ban Nha từ hai trăm năm trước.

“À, tôi nói mà! Nếu có một con tàu như thế cập bến thì làm sao mà tôi chưa từng nghe đến được!” Bác sĩ Abel vẫn không từ bỏ thăm dò: “Thật khó tưởng tượng một quý ông như ngài đây lại bước chân lên một con tàu đánh cá cũ kỹ, mùi trên đó không dễ chịu chút nào.”

“Gần thị trấn Đá Ngầm Đen chỉ có thuyền đánh cá nhỏ mới cập bến được, phải không?” Johnson hỏi lại.

Y hơi nhướng mày, khi quay đầu lại, đường nét khuôn mặt lộ ra vẻ lạnh băng, trong suốt như một khối thạch anh được chạm khắc.

John cuối cùng đã nhận ra vấn đề lớn nhất của Johnson.

Trông y không giống người sống chút nào!

Nước da nhợt nhạt, giọng nói cũng như ánh mắt đều không ấm áp.

Nhất là khi nhiệt độ đã giảm mạnh như hiện nay, bác sĩ Abel khi nói chuyện sẽ phà ra hơi ấm, tức là có một làn sương trắng thoát ra, nhưng Johnson thì không!

John không nhịn được khoanh tay lại, anh cảm thấy lạnh hơn rồi.

Bên đó, bác sĩ Abel vẫn chưa nhận ra vấn đề, ông ta tiếp tục hỏi: “Vậy ngài đến thị trấn Đá Ngầm Đen là để…”

“Đến thăm mục sư Cornell.”

“Hả?”

Bác sĩ thầm nghĩ, sao lại là mục sư Cornell nữa. Đầu tiên là một thám tử, sau đó là một người dường như có địa vị rất cao. Chuyện này có liên quan đến quá khứ của mục sư già không?

Bởi vì bác sĩ Abel không tin vào giả thuyết con tàu ma và ác quỷ xâm chiếm nhà thờ, nên ông ta không ngờ rằng Johnson đã “gặp” mục sư già rồi. Ông ta tiếc nuối nói rằng mục sư Cornell đã già, hôm nay đột nhiên đổ bệnh nên có thể không tiếp khách được.

John: “…”

Mục sư già giằng ra khỏi dây trói, chẳng biết đã chạy đi đâu. Lão còn sống hay không thì khó nói.

Bác sĩ Abel bắt chuyện một cách tích cực, chắc hẳn là vì ông ta tưởng Johnson là một quý tộc có tước vị, hoặc một thương nhân quyền lực. Gặp được một người như vậy bị mắc kẹt ở thị trấn Đá Ngầm Đen tất nhiên cũng giống như tìm được cọng rơm cứu mạng, ai cũng sẽ tưởng rằng người kia sẽ có người hầu ứng cứu bên ngoài, biết đâu sẽ có cách rời khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen.

Ý tưởng hay, nhưng sai đối tượng. Con tàu ma kia không đời nào được sử dụng làm phương tiện trốn thoát.

John nghiến răng ôm đầu lại, không, anh hoàn toàn không thể nhớ được con tàu đó, nếu không đầu anh sẽ đau đến nỗi tưởng như sắp vỡ ra.

“…thị trấn Đá Ngầm Đen không có khách sạn, mấy ngày nay ngài ở nhà thị trưởng à?” Bác sĩ Abel kiên trì hỏi tiếp.

“Không phải.”

Lần này Johnson chỉ nói một từ, rồi ngừng nói, đi về phía John.

John thấy da đầu tê hết cả đi. Anh vô thức muốn tránh né, nhưng trong đầu anh biết rằng nếu kẻ bí ẩn trước mặt này muốn tìm người thì chạy cũng vô ích.

Johnson nhấc vành mũ lên, vì đây là phép lịch sự, rồi đọc chính xác cái tên John viết trên vali của mình ở tàu Gió Tây:

“Chúng ta từng gặp mặt, John Doe.”

“Ủa?” Bác sĩ Abel lần đầu tiên nghe thấy tên đầy đủ của John, trông ông ta như thể vừa nghe nhầm điều gì đó.

Johnson nhạy bén quay sang nhìn ông ta.

Bác sĩ cảm thấy toàn thân ớn lạnh, bất giác rùng mình, rồi ánh mắt ông ta rơi trên quần áo của Johnson, phát hiện mưa không để lại dấu vết gì trên đó.

“Tôi nói rồi, cứ gọi tôi là John, bác sĩ Johnson.” John nở một nụ cười giả tạo, cố tình nhấn mạnh cách phát âm tên của mình.

Bác sĩ Abel đang suy nghĩ loại vải nào có khả năng chống thấm nước tốt như vậy thì nghe thấy lời của John, ông ta vô thức ngẩng đầu lên, mừng rỡ nói: “Thì ra ngài cũng là một bác sĩ… A!”

Vẻ mặt mừng rỡ lập tức cứng đờ, Abel nhớ ra mình đã nghe thấy cái tên “Johnson” ở đâu. Có thể tên chỉ là trùng hợp, nhưng một Johnson đang muốn đến thăm mục sư Cornell… vậy thì…

Tiếng hét của bác sĩ Abel đã thu hút sự chú ý của những người bên cạnh.

Chủ quán rượu nghi hoặc hỏi: “Các người làm sao đấy? Từ nãy tới giờ toàn nói mấy câu kỳ lạ, bác sĩ Abel còn chạy vào rừng để nói chuyện với một cây thông?”

Đồng tử của John co lại, anh nhìn Johnson mặt mày vô cảm, rồi nhìn sang chủ quán rượu bên cạnh.

Không ai khác có thể nhìn thấy Johnson à?

Không đúng! Trước đó, khi Johnson cứu người dân thị trấn, y còn thúc giục mọi người rời đi càng sớm càng tốt, cảnh sát trưởng Alson đã hỏi y là ai.

John ngay lập tức tìm kiếm cảnh sát trưởng Alson trong đám đông.

Bác sĩ Abel giờ mới sợ hãi thật sự, ông ta run rẩy đưa tay ra, chỉ vào Johnson.

“Có chuyện gì thế?” Cảnh sát trưởng Alson sải bước tới, phớt lờ sự hiện diện của Johnson.

Johnson rõ ràng đang đứng đó, cảnh sát trưởng Alson đi vòng quanh y, nhưng ông ta lại tưởng mình vẫn đang đi trên một đường thẳng.

Bác sĩ Abel trông có vẻ kinh hoàng.

“Cảnh sát trưởng, chúng tôi nhìn thấy một người lạ.” John nói bằng giọng khô khốc.

“Cậu là người lạ duy nhất ở đây!”

Cảnh sát trưởng Alson rất không vui, tai họa xảy ra quá đột ngột, mặc dù không có người chết, nhưng tất cả mọi người đều bị mắc kẹt ở đây, không thể tiến lên hay rút lui. Có người đã đề nghị quay trở lại thị trấn, nhưng thị trưởng không đồng ý, còn có người kiên quyết nói thần Biển tỉnh dậy rồi. Tất cả đang cãi cọ ồn ào, rồi đột nhiên tiếng hét của bác sĩ Abel vang lên khiến mọi người giật mình, còn tưởng rằng có một con quái vật nào đó xuất hiện.

Chủ quán rượu tiến tới hòa giải: “Có thể bác sĩ căng thẳng quá, mọi người đều rất mệt rồi, mưa càng lúc càng nặng hạt, nhanh đưa ra quyết định thôi!”

Cảnh sát trưởng Alson đầy vẻ hung dữ nhìn John.

John không bỏ cuộc, hỏi: “Khi tiếng hát bắt đầu, có người đã cứu mọi người. Cảnh sát trưởng Alson thực sự không thể nhớ được sao?”

Cảnh sát trưởng cau mày, sau đó tựa hồ có chút bối rối, nhưng rồi nhanh chóng khôi phục vẻ mặt thờ ơ: “Được rồi, tôi biết là cậu và lão Jack đã cứu mọi người, không cần nhắc lại nữa.”

Cảnh sát trưởng Alson nói xong liền bỏ đi, để lại một bác sĩ đang run rẩy và John lạnh cả người.

Johnson ở đây, nhưng những người khác không nhìn thấy y, còn quên mất y.

John cứng ngắc quay cổ, nhìn vị khách bí ẩn vẫn luôn đang im lặng đứng đó.

Bác sĩ Abel chợt lẩm bẩm một mình: “… Có thể nhìn thấy những điều khác thường là một khả năng thiên phú. Không phải ai cũng có, nhưng mọi người đều có cơ hội nhìn trộm những bí mật của thế giới này. Khi bạn tiếp xúc với <i>sự tồn tại huyền bí</i>, nó sẽ mở ra cánh cửa cho bạn.”

“Bác sĩ, anh đang nói cái gì vậy?” Lão Jack chủ quán rượu xách một túi bắp cải, rất bối rối.

“Là bút ký của mục sư Cornell, ông ấy viết trong đó như vậy.” Ánh mắt bác sĩ Abel đờ đẫn.

John bừng tỉnh, đúng vậy! Anh gặp con tàu ma trên biển, bác sĩ Abel nhìn thấy sương trắng trong nhà thờ, rồi còn tiếp xúc với mục sư Cornell, vậy nên họ vẫn có thể nhìn thấy Johnson?

Vừa rồi khi họ đang chạy trốn, người dân thị trấn đã nghe thấy tiếng hát rất tuyệt vời, nhưng tiếng hát đó có vấn đề nên họ tạm thời có thể nhìn thấy Johnson, nghe thấy giọng nói của y. Một khi thoát khỏi ảnh hưởng của tiếng hát, thì sẽ quên đi?

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Càng tiếp xúc nhiều thì tác động càng lớn, khi đạt đến một mức độ nhất định thì ký ức không thể xóa được.</i>

<i>Chào mừng đến với thế giới phi khoa học.</i>

<i>……</i>

<i>PS: trong tiểu thuyết Cthulhu có một họa sĩ bị sốt cao, nói lảm nhảm suốt một tuần, sau khi tỉnh dậy thì không sao cả chuyện gì xảy ra, đồng thời cũng không nhớ mình đã nói gì.</i>

<i>Xét rằng nếu dòng thời gian là thời đại Internet, việc che giấu hoàn toàn những sự việc bí ẩn sẽ khá khó khăn, thà để lại đường sống sót cho những người qua đường không liên quan đi, mất trí nhớ nào.</i>

……

<i>Ngoài lề:</i>

<i>Johnson vẫn đứng bên đường như thường lệ, nghĩ rằng thám tử thận trọng đó chắc chắn sẽ không chủ động bắt chuyện với mình.</i>

<i>Đột nhiên bác sĩ Abel bước tới, ném ra một loạt câu hỏi.</i>

<i>Johnson:…</i>

<i>Johnson không muốn nói chuyện với ông đâu, nếu ông cứ hỏi, ông thực sự sẽ không thể quay lại thế giới khoa học đâu nha bác sĩ.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 8


<b>Chương 8</b>

<b>Tìm kiếm manh mối</b>

“Cuốn bút ký đó đang ở đâu?”

John vội hỏi.

Không phải anh không tin lời kể của bác sĩ Abel, mà do vị bác sĩ khăng khăng tin vào khoa học này có thể chỉ coi một số câu “hữu ích” như là thơ ca hay đồng dao của trẻ con khi đọc bút ký, và không để ý lắm, có lẽ ông ta không thể nhớ ra hết mọi thứ ngay bây giờ được.

John kéo bác sĩ đi, đưa ông ta vào bìa rừng, cách xa Johnson.

“Hãy nghĩ kỹ lại xem, mục sư Cornell đã đặt nó ở đâu?”

John nhận ra đây là cơ hội tốt để tìm ra sự thật.

Mấu chốt của vấn đề nằm ở mục sư già!

Tại sao mục sư già biết con tàu ma, sao lại sợ bị Johnson tìm thấy, huyền thoại thần Biển của thị trấn Đá Ngầm Đen có nghĩa là gì… Biết đâu tất cả những bí ẩn này có thể được giải mã!

“Mục sư Cornell đã viết đoạn văn này, hẳn ông ấy đã tiếp xúc với <i>sự kiện huyền bí</i>, hiểu rõ nó hơn tôi và ông.” John tỏ ra nghiêm túc.

Phần còn lại, anh không cần nói thì bác sĩ Abel cũng có thể nghĩ tới.

Họ bị mắc kẹt ở đây với một người vô hình bên cạnh.

Nếu hỏi trực tiếp Johnson, đó là “tiếp xúc với người huyền bí”, tình trạng của họ sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn, đồng thời sẽ xuất hiện một loạt triệu chứng của bệnh tâm thần, bao gồm ảo giác thính giác và ảo giác thị giác. Muốn thoát khỏi cảnh khốn cùng này, thoát khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen, thì phải lấy thông tin từ một con đường khác.

Cuốn bút ký của mục sư già rất quan trọng!

“Tôi… cậu để tôi nhớ đã.”

Bác sĩ Abel mặt mày ngơ ngác, không biết là vì cú sốc quá lớn nên mất đi lòng tin đối với khoa học, hay là quá sợ hãi trước tình huống kỳ quái này.

Mưa hắt vào trên mặt John vừa buốt vừa lạnh, tầm nhìn cũng trở nên mơ hồ.

Ở phía xa, cảnh sát trưởng Alson đang hét lớn, mong mọi người bình tĩnh, đồng tâm hiệp lực để thoát khỏi tình thế khó khăn. Những người phản đối tỏ ra thờ ơ, còn những người sợ hãi thì bụm mặt khóc lóc.

“Bóng ma” không giống người sống kia thì đứng đó, lặng lẽ nhìn tất cả. Đội một chiếc mũ chóp màu đen, mặc áo choàng và mặc áo khoác cắt may từ chất liệu đắt tiền, đôi giày da bóng được chế tác tinh xảo không hề dính một vết bùn nào.

Hệt như những người được gọi là quý ông đi xe ngựa bốn bánh, tay cầm gậy trang trí bằng đá quý và bước đi trên những bậc thang trải thảm của nhà hát lớn. Từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, họ sẽ không bao giờ đặt chân đến những con đường bẩn thỉu của Luân Đôn.

Đúng vậy, tên này có thể chỉ đang thưởng thức một vở kịch.

Vở diễn mang tên thị trấn Đá Ngầm Đen, kể lại câu chuyện về sự sống, cái chết và những vui buồn của trần gian.

Chết tiệt, ai lại muốn biểu diễn miễn phí trên sân khấu? Hay mạo hiểm mạng sống của mình để biểu diễn?

John lau nước mưa trên mặt thật mạnh, quả quyết nói: “Chúng ta trở về đi, mục sư Cornell bỏ chạy, bút ký của ông ấy nhất định vẫn còn trong nhà thờ, ông có thể vừa đi vừa nghĩ.”

“Sao cơ?”

Bác sĩ Abel bàng hoàng, họ đã trốn thoát được đến đây, và giờ lại muốn quay lại nhà thờ?

John hỏi: “Vậy ông định ở lại đây làm gì? Không qua được rãnh sâu, lại không có đường, chỉ đứng đó tắm mưa?”

“Thế nhưng…” Bác sĩ ôm lấy vali của mình, vẻ mặt khiếp sợ.

John kéo ông ta đứng dậy, ra hiệu về phía Johnson: “Hay là ông muốn ở lại đây để bị kẻ đó theo dõi?”

Bác sĩ Abel vùng vẫy một lúc, John chưa kịp kéo tiếp thì ông ta đã chủ động bỏ chạy.

“Bác sĩ? John?” Chủ quán rượu nhìn họ chạy đi, mặt đầy vẻ bối rối.

Có điều, theo thói quen của người Bắc Âu, họ không quan tâm nhiều đến chuyện của người khác, nên chủ quán rượu chỉ lưỡng lự vài giây chứ không đuổi theo.

Hơn nữa, có vài người dân thị trấn cũng lặng lẽ quay trở lại. Dẫu sao thì, khi chạy trốn không phải ai cũng mang theo thức ăn, bây giờ họ vừa lạnh vừa đói, lại không có lều để che mưa.

“…Mọi người đừng hoảng sợ, nếu muốn quay lại thu dọn đồ đạc thì phải làm càng nhanh càng tốt, Ngày mai chúng ta sẽ tìm cách tìm một nơi hẹp hơn, xây một cây cầu bắc qua đó!” Cảnh sát trưởng Alson hét lớn.

Johnson nhìn theo bóng lưng của John và bác sĩ Abel, nhưng không đi theo họ.

***

Thị trấn đã thay đổi một phần, nước đọng đã biến mất, nhưng những vết nứt vẫn còn trên khắp các đường phố. Có những khe nứt sâu không thấy đáy, vài cái khác thì nông và hẹp đến mức ngay cả một bàn chân cũng không thể lọt xuống.

Mặc dù vậy, John vẫn đi vòng qua những vết nứt này, cho dù khoảng cách có hẹp đến đâu, anh cũng sẽ không giẫm lên nó, thà đi thêm vài bước nữa.

Bác sĩ Abel cẩn thận hơn John, ông ta nhìn chằm chằm vào vết nứt, như thể sợ chúng đột nhiên mở miệng nuốt chửng người đi ngang qua. Sau khi quan điểm khoa học sụp đổ, thế giới trong mắt ông ta đã thay đổi hoàn toàn. Lúc nào ông ta cũng cảm thấy có những con quái vật ẩn náu trong bóng tối, những thứ tưởng chừng như bình thường sẽ đột nhiên lộ ra bộ mặt thật dữ tợn.

Thấy bác sĩ lo lắng đến độ sắp sụp đổ đến nơi, John chỉ có thể nhắc nhở: “Bác sĩ Abel, đi theo sau lưng tôi.”

“À, được.”

Bác sĩ lau mồ hôi lạnh trên trán, nhịn không được hỏi: “Cậu không sợ sao?”

“Sợ cũng vô ích thôi.” John thấy bác sĩ đang nhìn quanh nên nói thêm: “Tên đó không theo chúng ta.”

Bác sĩ Abel gật đầu lia lịa, thả lỏng một chút, vừa ôm vali vừa cẩn thận nói: “…Có lẽ nào chúng ta đã hít phải khí độc thải ra từ vụ phun trào núi lửa, nên bị ảo giác? Trên thực tế, không có người đàn ông nào tự xưng là Johnson, rất đẹp trai và trông rất nổi bật?”

John: “…”

Hóa ra vị bác sĩ này vẫn chưa từ bỏ khoa học.

“Nếu như nghĩ như vậy có thể khiến ông dễ chịu hơn, vậy tôi đồng ý đây chỉ là ảo giác.” John nói một cách uyển chuyển. Là người Anh, anh thường không nói chuyện thẳng thắn như vậy.

Bác sĩ Abel không ngu ngốc, ông ta có thể nghe ra được suy nghĩ thực sự của John.

“Ôi, sao chuyện này lại xảy ra chứ?” Vẻ mặt chán nản bác sĩ, ông ta lẩm bẩm câu này như thể bị thần kinh.

Nói mấy lần nhưng không thấy John trả lời, bác sĩ Abel lại quay sang lẩm bẩm: “Đáng lẽ tôi phải nghĩ đến sớm hơn, khi hắn ta trả lời rằng đã đến bằng tàu…”

“Nghĩa là sao?”

John cẩn thận tránh vết nứt trong khi xác định phương hướng. Trời quá tối, mưa ngày càng nặng hạt.

“…Tôi từng kể cho cậu nghe rồi, thị trấn Đá Ngầm Đen xưa kia từng bị nước biển nhấn chìm, nước mới rút được phân nửa thôi. Vùng nước ngoài khơi bây giờ, hồi xưa là khu vực cảng của thị trấn, có rất nhiều ngôi nhà bị nhấn chìm bên dưới.” Bác sĩ Abel nghiêm túc giải thích: “Nước chỉ sâu từ 4 đến 5 mét, thuyền lớn không vào được, bờ biển lại có nhiều đá ngầm, nếu không cẩn thận, thuyền đánh cá sẽ va vào đá và chìm. Dù có đổi sang thuyền nhỏ neo đậu ngoài khơi thì cũng khó có thể vượt qua an toàn nếu không có ngư dân thông thạo đường thủy dẫn đường.”

Thì ra là vậy, John hiểu ra rồi, chẳng trách dù anh hứa sẽ trả thêm tiền khi lên tàu, thuyền trưởng tàu Gió Tây vẫn không chịu đi thêm một dặm nữa để đưa anh đến thị trấn Đá Ngầm Đen.

Bác sĩ Abel oán trách: “Ở đây chúng tôi không thích nói chuyện, chỉ trừ khi uống rượu, nên dù có một quý ông với vẻ ngoài khác thường như vậy đến thị trấn Đá Ngầm Đen, trên thuyền đánh cá thì tin tức cũng sẽ lan truyền rất chậm. Tôi tưởng dạo này mình bận quá, cả ngày vùi đầu trong phòng khám chăm sóc bệnh nhân nên không nghe nói đến.”

Trước đây John đã cảm thấy bác sĩ này nói nhiều, rất giỏi ăn nói, trông chẳng giống người địa phương chút nào.

Bác sĩ Abel có lẽ cũng nhận thấy sự nghi ngờ của John và lúng túng giải thích: “Tôi là bác sĩ, bệnh nhân không muốn nói chuyện nên tôi chỉ có thể hỏi nhiều thôi. Nếu gặp nhau trên đường mà tôi không chủ động chào hỏi, cũng không quan sát, hỏi han họ hoặc người thân họ sau khi uống thuốc thì tình trạng bệnh thuyên giảm, làm sao tôi có thể hiểu được tình trạng của bệnh nhân?”

John: “…”

John chợt phát hiện ra một điểm đáng nghi: “Ông có quan hệ thân thiết với mục sư Cornell lắm sao? Có thể đọc bút ký riêng của ông ấy nữa à?”

“Ồ, ông ấy là một người rất hiểu biết và đáng kính. Tôi thường mượn sách của ông ấy, ông ấy có nhiều tạp chí khoa học mà tôi chưa từng đọc bao giờ. Bưu điện chỗ chúng tôi chỉ có thể đặt mua báo, chuyển phát còn trễ nữa ấy chứ…”

John không chờ bác sĩ nói hết đã ngắt lời: “Ông đọc trộm bút ký của mục sư?”

“Không, không phải!” Bác sĩ Abel phủ nhận theo bản năng, sau đó chán nản hỏi: “Làm sao cậu biết?”

John bình tĩnh phân tích: “Trừ khi mục sư Cornell muốn làm hại ông, bằng không ông ta sẽ không cho ông đọc thứ nguy hiểm như vậy.”

Tiếp xúc với sự kiện huyền bí rồi sẽ thấy những thứ kỳ lạ.

Chưa nói đến nhân phẩm của mục sư Cornell như thế nào, nhưng mục sư già này chắc chắn không muốn một người đầy tò mò và có hứng thú với thế giới bên ngoài tiếp xúc với những thứ này, điều này sẽ mang lại mang lại rủi ro cho cuộc sống bình yên của lão.

Tất nhiên, tốt hơn hết là đừng nói thẳng ra như vậy.

Bác sĩ Abel nói với vẻ mặt áy náy: “Quả thực là tôi đã đọc lén bút ký. Có lẽ mục sư Cornell đã giấu nó rất kỹ, chỉ có một lần đặt nó lên bàn mà không kịp cất đi… Đoạn về <i>sự tồn tại huyền bí</i> được viết ngay ở trang đầu nên tôi rất ấn tượng, nhưng chưa đọc được vài trang thì mục sư Cornell đã về, tôi vội đặt bút ký về chỗ, sau đó thì không còn thấy cuốn bút ký nữa.”

“Ông không đoán được bút ký nằm ở đâu à?”

“Có, đại khái biết nó ở đâu.” Bác sĩ lưỡng lự vài giây rồi nói: “Phía sau giá sách có một cái két sắt, nhưng chúng ta không biết mật mã.”

Trong khi nói chuyện, họ đã chạy đến dưới sườn đồi.

Đi theo con đường rải sỏi vào nhà thờ, bên trong tối om không có chút ánh sáng nào. Điều này không bình thường, bàn thờ và giếng nước thánh phải được thắp nến quanh năm.

“Nguy rồi!”

Bác sĩ Abel hét gọi tên nữ tu, nhưng trong nhà thờ không có tiếng trả lời.

Trong khi bác sĩ còn đang do dự thì John đã lao vào.

“Ở đây có đèn pin.” Bác sĩ Abel mở vali lấy dụng cụ chiếu sáng ra.

Nhờ vào luồng sáng mờ nhạt này, John nhìn thấy nữ tu nằm cạnh bàn thờ, tay chân vùng vẫy liên tục, đầu cô lắc lư từ bên này sang bên kia, như thể đang gặp ác mộng. Dù bác sĩ Abel có gọi hay lay cô thế nào thì nữ tu cũng không thể tỉnh lại.

“Có chuyện gì thế?” Bác sĩ hoảng hốt hỏi.

“Cô ấy cũng đã tiếp xúc với tồn tại huyền bí, giống như chúng ta vậy.” John nhắc nhở.

Về mặt lý thuyết, ba người họ là nhóm dễ gặp rắc rối nhất ở thị trấn Đá Ngầm Đen.

John chiếu đèn pin lên tường và trần nhà thờ để kiểm tra những dấu vết khả nghi, nhưng lần này anh không tìm thấy gì.

“… Là thần Biển.”

“Cái gì?”

John quay đầu lại, thấy khuôn mặt nhợt nhạt của bác sĩ Abel dưới ánh đèn pin.

Bác sĩ run rẩy nói: “Con tàu ma là thật, vậy thì… thần Biển cũng có thật. Tương truyền, khi thần Biển sắp thức giấc, nước biển sẽ giống như đang sôi trào, một khối đá ngầm khổng lồ trồi lên từ đáy biển, mưa lớn sẽ nhấn chìm thị trấn, con người sẽ rơi vào ác mộng, rồi bị tiếng hát của Siren quyến rũ và dẫn dắt đi trong giấc ngủ, từ đó không bao giờ trở lại nữa.”

“Sao chỗ các ông vừa có thần Biển vừa có Siren nữa?”

“Siren là hóa thân của thần Biển, không ai biết nó trông như thế nào, ai nhìn thấy nó đều chết cả.” Bác sĩ Abel nắm lấy tóc mình thật chặt.

John cau mày nói: “Trước tiên tìm bút ký, sau đó chúng ta sẽ tìm hiểu về cái gọi là thần Biển, tốt nhất là làm cho thần Biển đụng độ với Johnson!”

Làm thế nào để chạy thoát khỏi miệng hai con thú hung dữ?

Tất nhiên là làm cho hai kẻ đó đánh nhau!

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>John: Cố nhịn, đừng nhìn y, đừng nói chuyện với y.</i>

<i>Bác sĩ: Được, biết rồi.</i>

<i>John: Chết tiệt, tên này đang xem kịch.</i>

<i>Johnson rảnh rỗi đứng bên đường: ?</i>

<i>John: Làm cho họ đánh lộn đi!</i>

<i>Johnson: ?</i>

<i>Tác giả: Anh ta muốn giới thiệu một người yêu cho ngươi đó.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 9


<b>Chương 9</b>

<b>Ác mộng</b>

John đã dễ dàng tìm được két sắt ở ngăn bí mật phía sau giá sách.

Bác sĩ Abel giúp cầm đèn pin, miệng liên tục lẩm bẩm mấy con số và từ ngữ.

“…Tôi nghĩ mật khẩu có thể là ngày sinh nhật. Không, không, nó quá đơn giản. Có thể đó là một con số được mã hóa từ chữ <i>sự tồn tại huyền bí</i> theo một quy tắc nào đó.”

John lắc đầu, cắt ngang dòng suy nghĩ của bác sĩ Abel: “Cho tôi mượn ống nghe của ông.”

“Hả?” Bác sĩ Abel đực mặt ra.

“Mau lên, không cần mật khẩu, loại két sắt kiểu cũ này rất dễ mở.” John thúc giục.

Bác sĩ moi chiếc ống nghe trong vali ra. John cầm lấy rồi áp đầu ống nghe vào két sắt, đồng thời từ từ xoay nút và lắng nghe những âm thanh bên trong. Khoảng ba phút sau, có tiếng “cạch” giòn giã từ khe cắm bên trong két, cửa két mở ra.

“Chuyện… chuyện gì đang xảy ra vậy?” Bác sĩ Abel trợn mắt sửng sốt, vẻ mặt như thể thế giới quan đã tan nát. Trước ngày hôm nay, ông ta chưa bao giờ tưởng tượng rằng công cụ chẩn đoán bệnh mà mình dùng cũng có thể dùng để mở khóa.

John muốn giải thích đây không phải là dụng cụ phá khóa mà là dụng cụ phụ trợ, tuy nhiên nhìn vẻ mặt suy sụp của bác sĩ, tốt hơn hết là đừng nói thêm gì làm ông ta sốc hơn.

“Đây chỉ là thủ thuật nhỏ thôi, bác sĩ không cần dùng đến đâu, được rồi, chúng ta cùng xem bên trong có gì nào.” John lấy đèn pin chiếu vào két.

Đồ đạc trong đó được sắp xếp ngay ngắn, John xem qua chúng, tìm thấy một số chứng khoán Hà Lan và Tây Ban Nha, một hộp đựng tiền cổ và một cuốn sổ bút ký bìa màu xám.

“Là cái này.” Bác sĩ Abel xác nhận.

Cuốn bút ký đã cũ, bìa da có dấu hiệu sờn rách rõ ràng. Khi mở ra, nửa phía sau có dấu vết bị phồng lên do ngâm nước, chữ viết hơi nhòe và mờ.

John lướt qua sơ sài, không đọc kỹ mà nhanh chóng cất cuốn bút ký đi, đóng két lại.

“Về phòng khám, đừng ở đây quá lâu.”

“Hả?” Bác sĩ không hiểu, sao không xem ở đây luôn?

John giải thích: “Ở đây không an toàn, Johnson đã từng tới đây vào ban ngày. Tuy không hiểu về <i>sức mạnh huyền bí</i>, nhưng tôi nghĩ <i>thần Biển</i> nhất định có thể cảm nhận được dấu vết mà sức mạnh này để lại, chỉ cần nó tỉnh dậy, rất có thể sẽ đến đây kiểm tra. Vì vậy khả năng xảy ra chuyện gì đó nếu chúng ta ở lại đây là rất cao.”

“…Vậy thì hãy nhanh chóng rời khỏi đây thôi!”

Bác sĩ Abel chạy như bay. Chạy được nửa đường, ông ta chợt nhận thấy nhà thờ sáng trưng, khác hẳn với bóng tối đáng sợ khi họ bước vào.

“Ánh trăng?” Bác sĩ bối rối nghĩ, trăng sáng thế sao? Ông ta sống ở thị trấn Đá Ngầm Đen đã nhiều năm, nhưng chưa bao giờ được nhìn thấy thứ ánh trăng sáng như ánh đèn điện này.

“Nguy rồi!”

John chợt phát hiện nữ tu đã biến mất. Họ đã chuyển nữ tu đang ngủ say lên chiếc ghế dài trong nhà thờ, nhưng bây giờ nó trống rỗng.

John kéo bác sĩ vào bóng tối cạnh tường, rồi thận trọng nhìn ra ngoài cửa sổ.

Quả nhiên, trên bầu trời đêm có vầng trăng non, ánh trăng bàng bạc bao phủ mặt đất như một tấm lụa.

John nhìn thấy nữ tu đang bước đi loạng choạng, trước mặt cô là bốn bóng người với dáng đi kỳ lạ.

“Những người còn sống sót trên tàu Gió Tây.”

John cảm thấy hối hận khi nghĩ đến việc mình đã cởi trói cho những người này. Khi đó, anh không hề biết rằng mọi chuyện sẽ phát triển như thế này.

“Bọn họ cũng tiếp xúc với tồn tại huyền bí?” Bác sĩ ngơ ngác hỏi, nếu không sao lại dính đạn thế này?

Chẳng bao lâu bác sĩ lại nhớ lại lời nói huyên thuyên của những người này khi cơn sốt vẫn dai dẳng.

Tàu, bão tố, trăng non…

Răng bác sĩ Abel va vào nhau cành cạch, ông ta run run hỏi: “Tàu Gió Tây gặp thần Biển ở ngoài biển sao?”

“Tôi không biết, chúng tôi chỉ nhìn thấy mặt trăng kì lạ này trong cơn bão.” John hạ giọng, anh đang nghĩ về con tàu ma.

Có vẻ như hôm đó tàu Gió Tây đã gặp phải hai sự kiện huyền bí trên biển, một là trăng non, một là con tàu ma.

“Này, sao chỉ có bốn người?” Bác sĩ Abel nhìn những bóng người mộng du đó, thắc mắc.

“Thuyền trưởng không có trong đó, hình như người còn lại bị gãy chân…”

Giọng nói của John đột ngột dừng lại, vì anh nhìn thấy một bóng người khác đang bò một cách khó khăn trên đường mòn.

Những người không thể đi được đang bò.

Khiến người ta phải rùng mình.

Sắc mặt bác sĩ Abel tái nhợt, ông ta đang định nói gì đó thì ý thức đột nhiên mơ hồ.

John phát hiện nửa người bác sĩ bị ánh trăng chiếu sáng, anh biến sắc, vội vàng kéo ông ta vào trong hành lang.

Nhưng đã quá muộn, John nghe thấy tiếng hát du dương từ xa vọng lại, mí mắt anh càng lúc càng trĩu nặng, hai tay không còn sức lực.

John ngã xuống đất.

***

John biết mình đang nằm mơ.

Anh đang đứng trên một bãi biển, nhưng nước biển lại có màu đỏ.

Dường như có thứ gì đó đang lăn lộn trong nước, nhưng nước đục quá, anh không nhìn rõ được gì.

Sau đó nước bắt đầu sôi lên, tảng đá ngầm màu đen khổng lồ từ từ nhô lên từ đáy biển.

Tảng đá này không có gì đặc biệt, nó giống như đá ngầm thông thường, có màu đen tuyền, có nhiều lỗ thủng và bị nước biển ăn mòn nghiêm trọng. Tuy nhiên, không có gì bám trên đá, cũng không thấy dấu vết của sò ốc hay rong biển.

Ngoài ra, nó quá lớn.

Trong giấc mơ, đá ngầm có độ cao gần bằng bầu trời đầy sao, cả vùng biển đều bị bóng của nó bao phủ.

Vầng trăng bạc nhô lên từ đáy biển, đá ngầm bắt đầu rung chuyển dữ dội, những khối đá vụn không ngừng bong ra, rồi những âm thanh khủng khiếp vang lên tràn ngập cả giấc mơ.

John đau đớn khom người, cố hết sức bịt tai lại nhưng âm thanh vẫn vang lên liên tục.

Dường như vô số người đang khóc lóc, la hét và vùng vẫy.

Đó là âm thanh từ địa ngục.

John không thể nghe rõ những giọng nói này đang nói gì, anh chỉ có thể nghe thấy nỗi đau vô tận ẩn chứa trong đó. Ý thức của anh bị cuốn vào, trong đầu chỉ còn lại nỗi sợ hãi nguyên thủy nhất. Anh chỉ có thể phát ra những tiếng r*n r* vô nghĩa.

Cảm xúc sợ hãi và đau đớn này mạnh mẽ vô cùng, dường như nó có thể xóa sạch bộ não con người ngay lập tức.

Cho đến khi một cơn ớn lạnh làm John cứng người.

Cơn ác mộng rút đi như thủy triều.

***

John tỉnh dậy vì lạnh. Anh phát hiện trên mặt và tay có một tầng sương trắng, chân bị mắc kẹt trong vũng nước đóng băng, gần như không thể rút ra được.

Johnson đứng cạnh lan can, cầm một chiếc dù màu đen. Những hạt mưa dày và tán dù che phủ, hoàn toàn không nhìn thấy được khuôn mặt của y.

Đây không phải là nhà thờ, John thấy mình đang đứng trên bệ cầu tàu. Cách đó không xa là biển, sóng biển nối tiếp nhau xô vào bờ. Trước mặt John có mấy người, họ trông rất giống John, chân họ bị đông cứng và không thể di chuyển.

John đếm thử thì thấy hai hành khách của tàu Gió Tây đều ở đó, thuyền trưởng và thủy thủ đều biến mất, cả nữ tu cũng vậy. Bác sĩ Abel cuộn tròn người, bị đông cứng trong vũng nước gần anh nhất.

Dường như bọn họ bị ánh trăng ảnh hưởng, tất cả đều rơi vào ác mộng, sau đó đờ đẫn đi về phía biển, và Johnson lại cứu bọn họ.

“…”

John liếc nhìn Johnson với vẻ mặt phức tạp. Lý trí nói cho John biết, anh không thể nói chuyện với người này, càng tiếp xúc nhiều, anh sẽ càng nguy hiểm. Nhưng có quá nhiều bí ẩn, lại có quá ít thông tin và manh mối.

“Tại sao?”

John đột nhiên lên tiếng, anh không hiểu tại sao Johnson lại muốn cứu người? Mà y chỉ cứu được anh và bác sĩ Abel, những người khác thì sao?

Johnson nhận thấy John đang nói chuyện với mình, y hơi nâng dù lên, để lộ đôi mắt xanh lam nhạt.

“Vật tế sẽ tăng sức mạnh của nó, giúp nó thức tỉnh.”

“Vật tế?” Đồng tử của John co lại.

Cho nên không phải là cứu người, chỉ là không muốn “góp sức cho giặc”. Nhưng vẫn còn một vài người mất tích ở đây.

“Họ bị mê hoặc quá sâu, không cứu được nữa.” Johnson tựa hồ chú ý tới thắc mắc của John, bèn chủ động giải thích: “Tất cả mọi chuyện đều có nguyên nhân, ta nhìn thấy anh đang tìm kiếm.”

John vô thức ôm chặt lấy cuốn bút ký trong túi.

Johnson phớt lờ ánh mắt cảnh giác của John, vẻ mặt ung dung, bình tĩnh như thể đang nói về thời tiết: “Đêm qua, sức mạnh của nó bao trùm toàn bộ thị trấn Đá Ngầm Đen, sau đó sẽ ngày càng mạnh lên. Dưới ảnh hưởng của sức mạnh này, người dân trong trấn sẽ dần rơi vào ác mộng, rồi lần lượt bước xuống biển. Bây giờ không ai có thể rời khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen.”

“Nó là ai?”

“Là thần Biển mà người dân thị trấn Đá Ngầm Đen hay nói đến, Đá ngầm quái quỷ.”

Thái độ của Johnson rất tốt, hỏi gì trả lời nấy. Chính thái độ này càng khiến John cảnh giác hơn.

“Không ai có thể rời khỏi… kể cả ngài?” John đột nhiên ném ra một câu hỏi sắc bén.

“Kể cả ta.” Vẻ mặt của Johnson không thay đổi.

John chưa bao giờ gặp khó khăn khi phân tích biểu cảm của một người như lúc này, theo lý mà nói, động tác theo thói quen và sự thay đổi biểu cảm trên khuôn mặt sẽ bộc lộ suy nghĩ bên trong của một người, nhưng Johnson không có những biểu cảm dư thừa nào.

Lúc này, bác sĩ cũng tỉnh dậy, ông ta hét lên một tiếng, cắt đứt dòng suy nghĩ của John.

Khi John hoàn hồn, anh thấy Johnson đang cầm dù rời đi.

“Khoan đã!”

Trong đầu John vẫn còn rất nhiều câu hỏi.

Nhưng Johnson không hề quay đầu lại, y giống như một bóng ma, lặng lẽ biến mất vào bóng tối của những ngôi nhà bên đường.

“…Tôi chết chưa?” Bác sĩ Abel sợ hãi ôm đầu, hắt hơi vì lạnh.

“Người chết không thể hắt hơi.”

“Đủ rồi, cậu John, tôi không thể chịu nổi sự hài hước của người Anh các cậu đâu.” Bác sĩ Abel vùng vẫy một cách khó khăn, cuối cùng vẫn phải chờ John đá vỡ lớp băng rồi đến giúp, bác sĩ mới thoát được khỏi vũng nước đóng băng.

“Chuyện gì đã xảy ra vậy? Chúng ta bị Siren mê hoặc rồi sao?” Bác sĩ sợ hãi hỏi.

“Đúng vậy.” John nhớ lại cơn ác mộng đó, vừa hỏi về giấc mơ của bác sĩ vừa cứu những người khác.

Quả nhiên, bác sĩ Abel cũng nhìn thấy nước biển đỏ, Đá ngầm quái quỷ, và những âm thanh than khóc kinh hoàng.

“Chuyện là…”

“Sao cơ?” John ngẩng đầu lên.

Bác sĩ Abel có vẻ khó xử, sau đó ấp a ấp úng nói: “Tôi không nghĩ đó là ác mộng, là săn cá voi!”

John vô cùng kinh ngạc. Anh biết về cái này, mặc dù truyền thống săn bắt cá voi có từ rất sớm và cũng rất xa xưa, nhưng trong khoảng một trăm năm trở lại đây, con người mới săn bắt cá voi một cách điên cuồng.

John chưa bao giờ tận mắt chứng kiến cảnh săn bắt cá voi, nên khi bước vào cơn ác mộng, anh cũng không nghĩ tới điều đó.

Bác sĩ Abel nói một cách khó khăn: “Trước đây tôi cũng tò mò về truyền thuyết thần Biển của thị trấn Đá Ngầm Đen, từng tìm đọc tài liệu về nó. Tôi được biết, trước khi bị nước biển nhấn chìm, thị trấn Đá Ngầm Đen trở nên thịnh vượng và sầm uất nhờ nghề săn bắt cá voi, ban đầu ngư dân ở đây chỉ săn cá voi trong vịnh, sau này các đội tàu châu Âu đến chiêu mộ số lượng lớn thủy thủ, giao dịch dầu cá voi* và tấm sừng hàm**. Một trận mưa lớn và lũ lụt xảy ra bảy mươi năm trước đã nhấn chìm một nửa thị trấn, g**t ch*t nhiều người, cảng biển tốt đẹp ban đầu đã không còn, tàu thuyền không thể cập bến, thị trấn Đá Ngầm Đen không bao giờ săn được cá voi nữa. Thế nên tôi luôn cho rằng huyền thoại thần Biển là lời đồn thổi do cha ông chúng tôi lan truyền vì sợ thiên tai…”

<i>* Dầu cá voi: là loại dầu thu được từ mỡ của cá voi.</i>

<i>** Tấm sừng hàm: là một hệ thống lọc thức ăn bên trong miệng của cá voi tấm sừng hàm. Để sử dụng tấm sừng hàm, trước tiên cá voi mở miệng dưới nước để hút nước. Sau đó, cá voi đẩy nước ra ngoài và các động vật như nhuyễn thể được lọc bởi tấm sừng hàm, trở thành nguồn thức ăn cho cá voi.</i>

“Vật tế.” John chợt lên tiếng.

Bác sĩ Abel sửng sốt một lúc, rồi nhận ra John đã lấy bút ký của mục sư già ra, lật thật nhanh, cuối cùng dừng lại ở một trang có ghi chú thị trấn Đá Ngầm Đen.

“Máu và cái chết sẽ đánh thức những thứ đang ngủ yên. Chúng được gọi là thần vào thời cổ đại. Chúng ta không nên tàn sát trên biển, ít nhất là không được tiến hành ở cùng một nơi. Thần sẽ tưởng đó là vật hiến tế do con người dâng lên, rồi xuất hiện và nuốt chửng tất cả những vật tế dính máu.”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Trước khi các giếng dầu được thăm dò, trước khi đèn điện và nguồn điện được nghiên cứu ra, trong nền văn minh của xã hội phương Tây lúc bấy giờ, sản xuất và đời sống của con người không thể tách rời khỏi ngành đánh bắt cá voi.</i>

<i>Muốn làm đồ da, muốn chiếu sáng, muốn luyện thép, muốn máy móc trong nhà máy vận hành thì dầu cá voi là thứ không thể thiếu.</i>

<i>Vì vậy sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, ngành săn bắt cá voi bùng nổ, đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ 19.</i>

<i>Với sự suy giảm mạnh của quần thể cá voi, sự ra đời của điện và việc đào giếng dầu, nghề này mới dần biến mất.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 10


<b>Chương 10</b>

<b>Thần Biển</b>

Mặt trời lặn chiếu xuống mặt biển đỏ rực.

Xác cá voi trôi nổi trên biển, người ta dùng lao móc có dây thừng để kéo chúng lên tàu.

Cuộc giết chóc sắp kết thúc, tiếng r*n r* cũng biến mất, chỉ còn lại tiếng của nồi hơi, cùng tiếng cười vui vẻ của thủy thủ đoàn và ngư dân.

Săn cá voi có rủi ro, nhưng theo quan điểm của họ thì tất cả đều đáng giá, thậm chí có thể nói cuộc sống chưa bao giờ tốt đến thế. Trong nhà có thêm đồ nội thất, quần áo và đồ chơi mới cho lũ trẻ, thuốc lá Mỹ và rượu whisky Scotland mua từ trạm mậu dịch… Nghĩ đến những điều tươi đẹp ấy, không khí vui tươi càng thêm nồng nhiệt.

Họ hô khẩu hiệu, làm việc cật lực để kéo con mồi sắp biến thành của cải.

Không ai biết, cũng không ai có thể tưởng tượng được rằng tất cả những điều này lại giống với nghi lễ hiến tế từ xa xưa.

Không khí vui vẻ và cuồng nhiệt.

Đàn tế nhuộm đầy máu tươi, cái xác vừa chết đi.

Thần không bao giờ xuất hiện chỉ sau một lần hiến tế, chúng ngủ yên dưới biển sâu, ở một không gian khác mà con người không thể đặt chân tới.

Số lượng vật tế quá ít hoặc quy mô quá nhỏ, tiếng kêu của vật tế khi chết cũng không đủ bi thảm thì sẽ không có cách nào lọt vào tai nó. Vì vậy chờ đợi nó xuất hiện là một quá trình lâu dài, việc giết chóc có thể kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm.

Lúc này, mặt trời dần chìm xuống dưới đường chân trời, vầng trăng bạc nhô lên.

Con người không chú ý.

Gió nổi lên, mặt biển bắt đầu nhấp nhô.

Họ nhảy xuống biển, kéo xác cá voi lên thuyền. Dòng nước đỏ thẫm tràn vào thân tàu, dính trên người các thuyền viên.

Không ai để ý tới bởi vì cuộc săn bắt này đã lặp đi lặp lại nhiều lần, rất phổ biến cũng rất bình thường, thời tiết trên biển vốn khó lường, chỉ cần cập bến trước khi bão ập đến sẽ không bị thiệt hại gì.

Mặt trăng bạc biến mất, mây đen tụ lại, bầu trời chuyển sang màu đỏ sẫm kỳ lạ.

Những cột khói xám đen xông lên mặt biển, nước biển rung chuyển dữ dội, trời đất quay cuồng, con tàu săn cá voi lắc lư như một món đồ chơi bị chơi đùa trong bồn tắm, không ngừng có người bị ném xuống biển.

Dưới đáy biển vang lên tiếng ầm ầm đáng sợ, một tảng đá ngầm màu đen khổng lồ trồi lên trên mặt biển.

Những mảnh đá vụn bong ra từ trên Đá ngầm quái quỷ tựa như còn sống, nhanh chóng lan ra trên mặt biển, tạo thành một cái bóng khổng lồ.

Trong chốc lát, nó “nuốt chửng” tất cả sự sống trên biển, bao gồm cả thuyền săn cá voi và các đàn cá gần đó.

Cái bóng tiếp tục mở rộng, tiến về phía đường bờ biển.

Đằng trước bóng đen, mây giông ầm ầm hướng về thị trấn, như người hầu đang mở đường.

Các nhà kho bị cuốn trôi, khu buôn bán trên cảng biến thành đại dương bao la.

Xác cá voi bị chặt rời nổi lên, xưởng sản xuất dầu cá voi bị nước lũ cuốn thành đống đổ nát, con người vùng vẫy bám vào những tấm ván gỗ cố gắng hết sức để leo lên vùng đất cao hơn nhưng bóng đen đã đến.

Bầu trời đỏ thẫm bao trùm thị trấn.

Khoảnh khắc con người nhìn thấy cái bóng kinh hoàng trôi từ biển vào, họ lập tức hét lên, ôm lấy đầu, rơi xuống nước.

Người ở xa hơn bị thủng màng nhĩ, hai mắt chảy máu và la hét điên cuồng.





“Tỉnh dậy, John!”

“Cậu ta không chịu được đâu, bác sĩ Abel, cho cậu ta một mũi morphine đi.”

“Cố gắng lên!”

Tầm nhìn của John mờ mịt, các khối màu sắc thay đổi và lắc lư. Anh thở hổn hển, tim đập nhanh như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

Không biết trải qua bao lâu, cuối cùng John cũng cảm nhận được sự tồn tại của “cơ thể mình”. Người anh đầy mồ hôi lạnh, tay chân bị trói chặt vào giường bằng dây trói. Trên chiếc bàn bên cạnh có một ngọn nến đang cháy, cảnh sát trưởng Alson đang ngồi đó với vẻ mặt mệt mỏi.

Ông ta đang cầm một chiếc tẩu thuốc kiểu cũ trên tay, hốc mắt trũng sâu.

“Cậu tỉnh rồi.”

“Có chuyện gì vậy?” John thấy giọng mình khàn khàn. Anh nhớ mình đang đọc bút ký của mục sư già trong phòng khám của bác sĩ, hình như vô tình ngủ quên?

Cuốn bút ký này rất quan trọng, John muốn biết thêm về lịch sử của thị trấn Đá Ngầm Đen, cũng như nguồn gốc của Johnson.

Bút ký của mục sư Cornell được viết rất lộn xộn, có một vài trải nghiệm phiêu lưu, ghi lại một số địa điểm trên thế giới có truyền thuyết kỳ lạ. Mục sư già đã từng đến Hy Lạp, Ai Cập, Úc. Lão đã ghi lại rất nhiều chữ viết trên di tích và tranh tường trong bút ký, cũng như rất nhiều bức vẽ bậy lộn xộn… Hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa của chúng, phần còn lại là những bài thơ nghe như châm ngôn.

Thị trấn Đá Ngầm Đen được nhắc đến trong bút ký, ghi rằng tai họa ở đây bắt nguồn từ một vị “thần cổ xưa” đang ngủ say ở vùng biển gần đó, rất có thể đó là thần Biển Gymir được nhắc đến trong thần thoại Bắc Âu, mặc dù là thần của biển sâu, nhưng theo ghi chép thì hắn sống ở thế giới loài người, ở vùng biển gần đảo Thrace. Mũi đất của thị trấn Đá Ngầm Đen nằm ngay trong phạm vi này.

Cái tên Gymir trong thần thoại Bắc Âu có nghĩa là “nuốt chửng”.

Thảm họa xảy ra ở thị trấn Đá Ngầm Đen bảy mươi năm trước rất kỳ quái.

Sau khi nước lũ rút đi, một số người dân cố gắng trục vớt hàng hóa ngập dưới nước vì tham lam, nhưng dưới đáy biển chỉ còn đống đổ nát và bùn đen. Máy móc, dầu cá voi đã đóng gói và xác người đều biến mất. Thuyền săn cá voi cũng đã biến mất, không còn một mảnh vụn nào, như thể tất cả đã biến thành bùn.

Điều này rất bất thường, nước biển vẫn chảy nhưng các cảng biển gần đó chưa từng phát hiện ra thứ gì bị nước biển cuốn trôi sau thảm họa tại thị trấn Đá Ngầm Đen.

Những người sống sót ở thị trấn Đá Ngầm Đen không phải là ngư dân, họ sống ở ven thị trấn trên vùng đất cao. Sau khi lũ rút, ai nấy đều sốt cao và nói nhảm, sau khi tỉnh dậy không nhớ chuyện gì đã xảy ra, nhưng đôi khi nhìn thấy mặt trăng sẽ sợ hãi mà không thể giải thích được, thậm chí phát điên.

Hiện tượng này thu hút sự quan tâm của các học giả huyền bí học.

Vụ lũ lụt ở thị trấn Đá Ngầm Đen rất nổi tiếng trong lĩnh vực của các nhà thám hiểm và học giả huyền bí học, trong mấy chục năm qua, rất nhiều người tìm đến đây. Sau đó, họ phát hiện ra rằng nhiều “vật phẩm huyền bí” sẽ mất tác dụng ở thị trấn Đá Ngầm Đen, trở nên tầm thường, không lấy lại được khả năng độc đáo cho đến khi rời khỏi thị trấn.

Các học giả huyền bí học tin rằng rất có thể thị trấn này đã được thần cổ xưa đánh dấu là “đàn tế”, vì sự trùng hợp ngẫu nhiên của hoạt động săn bắt cá voi gây ra sự thật khủng khiếp này… Cá voi là loài sinh vật có khả năng giao tiếp, chúng cũng phát ra tiếng kêu thảm thiết như con người, đối với thần, không có sự khác biệt giữa con người và cá voi.

Con người ta dâng lễ vật không biết mệt mỏi, đánh thức thần cổ xưa. Sau khi nuốt chửng hết vật tế có dính máu, thần nằm xuống nghỉ ngơi tại chỗ. Bảy mươi năm đối với con người là một khoảng thời gian dài, nhưng đối với thần, có thể chỉ là một giấc ngủ ngắn.

Nếu có người đi săn cá voi ở vùng biển gần đó lần nữa, máu sẽ đánh thức thần Biển đang chợp mắt, những sự sống xuất hiện ở “đàn tế” sẽ được mặc định là “vật tế” theo quán tính, nên thị trấn Đá Ngầm Đen rất nguy hiểm. Các học giả huyền bí học cũng đề nghị thuyền săn cá voi nên tránh xa thị trấn Đá Ngầm Đen.

Đề nghị này được thúc đẩy suôn sẻ, bởi sau khi “hiến tế thành công và thần linh nhận vật tế”, đàn cá voi lần lượt tránh xa khỏi nơi này, không có lợi ích, thuyền săn cá voi sẽ không đến nữa. Thị trấn Đá Ngầm Đen suy tàn, nhưng thị trấn Đá Ngầm Đen cũng được bình yên. Đồng thời, do bị đánh bắt quá mức nên số lượng cá voi ở biển ngày càng ít đi.

Mục sư Cornell ghi vào đoạn cuối của bút ký rằng, thị trấn Đá Ngầm Đen có thể trở thành nơi an toàn nhất trên thế giới, nơi có thể che mắt tất cả “tồn tại huyền bí khác”, thần Biển cũng sẽ không dễ dàng thức tỉnh.

Khi John đọc đoạn văn này, bác sĩ Abel tình cờ hét lên ở bên ngoài rằng đã tìm thấy xác của mục sư Cornell.

Khi John đứng dậy, anh đột nhiên cảm thấy choáng váng, mọi thứ trước mặt đều quay cuồng, chỉ còn lại cuốn bút ký nằm lặng lẽ trên giường, John chợt nhận ra sai lầm của mình… Cuốn bút ký này cũng là tồn tại huyền bí, người bình thường đọc nó thì không sao, có thể chỉ coi nó là thần thoại hoặc tiểu thuyết giả tưởng, nhưng đối với John, nó như một quả cân tăng trọng lượng khiến cán cân nghiêng hẳn về một phía, khay cân nặng nề rơi xuống chạm đáy.

Anh mất hẳn ý thức.

“Cậu đã hôn mê bốn ngày, cơn sốt vẫn dai dẳng, và liên tục gặp ác mộng.” Cảnh sát trưởng Alson nhìn John qua làn khói thuốc lá.

John ôm trán, cảm thấy rất đau đớn mỗi khi nhớ đến nội dung giấc mơ.

Nhưng khung cảnh trong mơ rất rõ ràng, rõ ràng hơn lần trước rất nhiều, thậm chí anh còn nhận ra những âm thanh đáng sợ vang lên khắp nơi trong cơn ác mộng là của những người bị biển “nuốt chửng”, cùng với những con cá voi chết trong đau đớn, cho nên âm thanh mới phức tạp và kỳ lạ như vậy.

Kỳ lạ nhất là có tiếng của thuyền trưởng và thủy thủ tàu Gió Tây.

Vị thần Biển này cứ như một chiếc máy ghi âm, ghi lại những tiếng than khóc cuối cùng của tất cả những linh hồn đã mất mạng trên biển, rồi phát lại hết một lượt.

“Tôi suýt chết, phải không?” John hỏi thật khó khăn. Cảm giác xuống địa ngục rồi chạy trở lại rất chân thực.

Cảnh sát trưởng Alson đặt tẩu thuốc xuống, vẻ mặt ông ta khá quái dị, giống như tức giận, lại giống như hối hận.

“Nhiều người mất tích, thảm họa đã bắt đầu trong thị trấn kể từ khi đám người bị đắm tàu các cậu bị cuốn vào bờ! Các người đã làm cái quái gì vậy?”

Bác sĩ Abel từ đâu lao ra, ngăn cản cảnh sát trưởng Alson túm lấy cổ áo John.

“Tôi nói với anh rồi mà, cảnh sát trưởng! Thần Biển đã tỉnh lại, những người mất tích đó bị mê hoặc nhảy xuống biển, không liên quan gì đến John cả!” Bác sĩ Abel trông cũng rất hốc hác, dưới mắt có hai quầng thâm lớn, cánh tay phải bị thương được quấn băng gạc.

Chủ quán rượu cũng đến can ngăn, cuối cùng thuyết phục được cảnh sát trưởng Alson rời đi.

“Xin lỗi, chuyện này rất phức tạp…” Bác sĩ Abel ủ rũ ngồi bên giường John, bắt đầu cởi trói cho anh.

“Bút ký đâu?” John vội hỏi.

Bác sĩ Abel lập tức vỗ ngực, cho John xem thứ gì đó được gói trong giấy dầu.

“Ông đọc rồi sao?” John nhìn chằm chằm bác sĩ.

“Không, lúc đó cậu rất đáng sợ, toàn thân co giật, chỉ vào bút ký ra sức lắc đầu… cho nên tôi không dám mở ra.” Bác sĩ Abel rất nhát gan vào những thời điểm quan trọng, nhưng điều này có thể cứu mạng ông ta.

“Tôi nhớ trước khi hôn mê, ông nói đã tìm được thi thể mục sư già?”

“Phải, cơ thể bị đông cứng thành một tảng băng lớn, vẻ mặt sợ hãi, như là chết vì sợ.” Bác sĩ thấp giọng lẩm bẩm, nhìn là biết do Johnson chứ không phải thần Biển.

Bác sĩ Abel thở dài nói: “Thi thể được đặt trong nhà thờ, có quan tài mà mục sư già đã chuẩn bị cho mình ngay từ những năm đầu, những người mất tích khác có thể sẽ không tìm được.”

“Có bao nhiêu người mất tích?” John nhớ Johnson đã nói, càng có nhiều vật tế chết, thần Biển sẽ thức tỉnh càng nhanh.

“Không thể tính toán được, tôi đã yêu cầu mọi người di chuyển đến nhà thờ và thay nhau ngủ để tránh gặp ác mộng, nhưng nhiều người không muốn rời khỏi nhà, họ đóng kín cửa và cửa sổ trong nhà, không ai biết… họ còn sống hay không.”

“Tôi nhớ cảnh sát trưởng Alson đã nói phải xây một cây cầu, sau đó thì sao?”

“Không dựng lên được, cây lớn đã bị chặt không làm sao đưa sang bên kia được, ngay cả ném dây sang bên kia rãnh sâu cũng vậy, chỉ bay được nửa đường là rơi thẳng xuống.”

Bác sĩ Abel cười khổ rồi giơ cánh tay bị thương lên cho John xem: “Tôi cũng đã chế tạo một khinh khí cầu, một chiếc khinh khí cầu thô sơ, sau đó tôi nhìn thấy một cảnh tượng kinh hoàng từ trên trời cao.”

Thị trấn bốn bề tối tăm, dường như bị bao phủ bởi một chiếc túi vải đen, hay như thể một gã khổng lồ đã dùng tay xé thị trấn Đá Ngầm Đen ra khỏi đất liền rồi nhét vào một cái ngăn kéo độc lập.

“…Johnson nói đúng, thị trấn Đá Ngầm Đen đã trở thành nơi đi săn của thần Biển, không ai có thể trốn thoát.”

“Ông gặp kẻ đó rồi sao?” John cau mày.

“Ừ, hắn chỉ xuất hiện một lần thôi.” Bác sĩ Abel giơ ngón trỏ lên nói: “Tôi không dám nói chuyện với hắn, và hắn cũng không vào phòng khám.”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Trên thực tế, đảo Thrace nơi thần Biển sinh sống dường như không tồn tại, tôi chưa tìm ra, tôi sẽ coi như hòn đảo đó có tồn tại, thị trấn Đá Ngầm Đen chắc cũng ở gần đó thôi.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 11


<b>Chương 11</b>

<b>Phát hiện</b>

Ăn xong một tô súp bắp cải, cuối cùng John cũng lấy lại được chút sức lực.

Tay và chân của anh vẫn còn những vết bầm tím xanh đậm do bị trói, rất đau đớn.

Dù sao đi nữa, cuối cùng anh vẫn giữ được tính mạng.

“Có chuyện gì đó không ổn.” John nói rất nặng nề.

“Cậu đang nói phương diện nào?” Bác sĩ Abel có vẻ bối rối. Nói cái gì không ổn chứ, mấy ngày nay cái gì cũng không ổn hết, lời thám tử nói thật khó hiểu.

John hỏi: “Nếu một con chuột lẻn vào nhà và đánh thức ông, ông sẽ phản ứng thế nào?”

Không cần suy nghĩ, bác sĩ liền trả lời: “Tôi phải tìm cách đánh chết nó, hoặc đuổi nó ra ngoài!”

John hỏi tiếp: “Có khi nào ông lười di chuyển vì chăn quá nặng, phòng quá lạnh… hay vì bất cứ lý do quỷ quái gì khác không?

“Không thể nào!”

Lần này người giành trả lời là lão Jack chủ quán rượu.

Lão Jack ngồi bên kia bàn, đã nghe bác sĩ kể hết đầu đuôi câu chuyện, ông ta không theo phái khoa học gì đó, mà rất tin vào truyền thuyết thần Biển, cho nên lập tức xác theo bắp cải khoai tây và cá khô đến phòng khám, mấy ngày nay còn giúp chăm sóc John đang hôn mê. Món súp trên tay John bây giờ chính là do ông ta mới nấu xong.

“Nếu thần Biển bị đánh thức bởi sự xâm nhập của Johnson, thì rõ ràng phải giải quyết vấn đề ngay lập tức, nhưng thần Biển có vẻ không vội vàng.” John khoanh tay phân tích.

Vẻ mặt của bác sĩ Abel có chút kỳ quái. Bác sĩ vẫn chưa quên cái ngày cả thị trấn đang chạy trốn để thoát thân, John đã miêu tả sự thức tỉnh của thần Biển như một chú gà con đang phá vỏ.

Thần Biển mà nằm nướng trên giường, chuyện này… nhất định không ổn!

“Có lẽ vì Johnson đã nhắc nhở chúng ta, rất nhiều người cảnh giác, dù ở nhà cũng khóa cửa, cửa sổ, gặp ác mộng cũng không có cách ra ngoài nhảy xuống biển?” Bác sĩ đưa ra một ý kiến.

Chủ quán rượu liền phản bác: “Không đúng, thị trưởng và gia đình ông ấy đều mất tích. Cảnh sát trưởng Alson cũng đi điều tra, cửa được mở từ bên trong, có nghĩa là họ biết mở cửa khi mộng du.”

Lão Jack một hơi báo cả loạt cái tên, nói rằng những người này đều mất tích, bình thường họ đều rất thông minh lanh lợi.

“Không, bốn ngày trước tôi đã không còn gặp những người mà anh nhắc đến.” Bác sĩ Abel đột nhiên cau mày nói. Ngày hôm đó khi cả thị trấn cùng bỏ chạy, ông ta cũng không nhìn thấy những người này, có lẽ bọn họ đã bị đất đá đập chết trong trận động đất, hoặc là rơi xuống khe nứt chết rồi.

“Làm sao có thể, họ là nhóm người đầu tiên biến mất.” Lão Jack vừa nói xong đã thấy bác sĩ Abel và John quay đầu lại nhìn chằm chằm vào mình.

“Cái gì là nhóm mất tích đầu tiên, họ biến mất khi nào?”

“Vào ngày đầu tiên cơn bão ập đến, ngoài cầu và đường, những ngôi nhà ven biển cũng bị sập, khi cảnh sát trưởng Alson đi cứu người thì phát hiện một số ngư dân sống ở đó đã mất tích… Sau đó mọi người tìm kiếm xung quanh, tình cờ gặp những nạn nhân bị sóng cuốn trôi trên bãi biển… Nếu không mưa lớn như vậy thì ai mà rảnh chạy ra bờ biển chứ!”

Lời nói của chủ quán rượu khiến John chìm vào suy nghĩ.

Bác sĩ nóng lòng hỏi: “Những người này từ đó đến nay chưa từng xuất hiện lại?”

“Nói chung là tôi không thấy.” Chủ quán rượu dường như lại nhớ ra điều gì đó, nói tiếp: “Nhưng bọn người đó luôn lén lút, có mấy lần tôi thấy bọn họ chuyển mấy thùng hàng gần cảng vào lúc sáng sớm.”

Bác sĩ hoàn toàn không hiểu gì cả, thị trấn Đá Ngầm Đen suy tàn lâu rồi, ở đây không có thương lái hay đội tàu nào cả, chở hàng gì vậy?

“Buôn lậu?” John đột nhiên lên tiếng.

Cả phòng im lặng.

“Ở đây có bản đồ không?” John ngước lên hỏi.

Bác sĩ Abel lập tức đi tìm trong ngăn kéo: “Có, nhưng nó khá cũ rồi.”

John trải bản đồ lên bàn, chỉ vào một khu vực biển không được đánh dấu gần mũi đất của thị trấn Đá Ngầm Đen, nói: “Ở đây chắc có một hòn đảo hoang .”

Không phải đảo nào cũng có tên trên bản đồ hàng hải, nhiều đảo nhỏ không được đánh dấu trên bản đồ, chỉ những ngư dân và thủy thủ quen thuộc với các tuyến đường vận chuyển gần đó mới biết.

Bác sĩ vẫn ngơ ngác, chủ quán rượu suy nghĩ kỹ một lúc rồi gật đầu xác nhận: “Tôi nghĩ tôi đã nghe nói, hòn đảo này không lớn, chỉ toàn đá trơ trọi, không có nước ngọt cũng không có thảm thực vật.”

“Tôi thấy trong bút ký của mục sư Cornell có vẽ bản đồ hàng hải gần thị trấn Đá Ngầm Đen.” John gõ mạnh ngón tay lên bản đồ, mặt bàn phát ra âm thanh, như thể phối hợp với giọng điệu nghiêm túc của anh: “Các hòn đảo được khoanh tròn màu đỏ, chú thích bên cạnh là <i>Foresier</i>.”

Trong thần thoại Bắc Âu, thần Biển Gymir sống ở đảo Thrace, tại một nơi gọi là Foresier.

Quê hương của thần Biển, có thể là “đàn tế đời trước”.

“Nhưng việc này thì có liên quan gì tới việc buôn lậu?”

“Tôi nghe lén thuyền viên trên tàu Gió Tây nói chuyện, vì thuế nặng nên nhiều giao dịch hàng hóa không còn được thực hiện tại cảng nữa, bởi vì phải đóng phí quản lý cảng ngay khi tàu cập cảng, sau đó đóng thuế theo trọng lượng và số lượng hàng hóa vận chuyển khỏi tàu, nếu mua hàng thì khi tàu rời cảng còn phải đóng thêm một khoản thuế nữa dựa trên số thùng và loại hàng hóa. Vì vậy, để trốn thuế, cũng để lừa dối chủ tàu, họ đã dùng thuyền để buôn lậu.”

John chỉ vào bản đồ hàng hải, hai người còn lại nhanh chóng nghĩ ra.

Nếu hàng không xuống tàu, hai bên thỏa thuận giá tại thương cảng rồi chèo thuyền ra đảo hoang giao dịch thì có thể trốn thuế. Không những có thể tiết kiệm được nhiều tiền đóng thuế mà thuyền trưởng và thủy thủ còn có thể lợi dụng công việc của của mình để buôn hàng cấm.

“Vậy… những ngư dân mất tích đó đã ra đảo hoang vào ban đêm để làm việc cho thuyền buôn lậu à?” Bác sĩ bàng hoàng hỏi.

“Không, những tàu đó có thủy thủ riêng, tôi sợ là có người xây cứ điểm trên hoang đảo đó để tạo điều kiện thuận lợi cho tàu buôn lậu, dù sao khi hai chiếc thuyền đã thống nhất cùng nhau ra hoang đảo giao dịch, mà còn ở trên biển, khó tránh khỏi chuyện thanh toán lẫn nhau, nhất định phải có bên thứ ba.”

John ngẩng đầu lên, nhìn chủ quán rượu và bác sĩ đang sửng sốt rồi nói nhỏ: “Là thị trưởng.”

Bác sĩ lắp bắp: “Tôi không hiểu, chuyện này có liên quan gì đến thần Biển…”

John vừa ấn trán vừa nói: “Đơn giản lắm, vào cái đêm tàu Gió Tây bị bão cuốn đi, chắc hẳn đã xảy ra chuyện gì đó trên đảo hoang là căn cứ buôn lậu kia! Mùa này không thể nào có bão như vậy được, và tôi chắc chắn hàng của tàu Gió Tây vẫn ổn, trước khi lên tàu tôi đã tìm hiểu, chỉ là thuốc lá và rượu rum. Hơn nữa, dù có chở dầu cá voi, thì những năm gần đây có rất nhiều tàu thuyền buôn bán trên biển, thần Biển sẽ không dễ dàng bị đánh thức như vậy.”

Nếu thần cổ xưa trong bút ký của mục sư dễ tỉnh giấc thì thế giới đã diệt vong từ lâu rồi.

“Còn nữa… nếu tàu Gió Tây đánh thức thần Biển, ông nghĩ chúng tôi còn may mắn được sóng biển cuốn vào bờ không? Chẳng phải sẽ bị thần Biển nuốt chửng luôn sao?”

Lời giải thích duy nhất là vầng trăng bạc mà họ nhìn thấy chỉ là tàn dư sức mạnh của thần Biển chứ không nhằm vào tàu Gió Tây. Sau đó, họ mới gặp con tàu ma, xét theo trình tự thời gian thì con tàu ma không phải là nguyên nhân chính khiến thần Biển thức dậy, John thầm nghĩ trong lòng.

Bác sĩ Abel cũng bừng tỉnh.

“Vậy…” Vẻ mặt bác sĩ hơi vặn vẹo.

Theo bút ký của mục sư già và cơn ác mộng, tiếp theo là máu tươi và giết chóc?

“Thần Biển mới thức tỉnh bảy mươi năm trước, nên điều kiện đánh thức nó có lẽ dễ dàng đạt được hơn…so với việc săn bắt cá voi.” John đan các ngón tay vào nhau, như thể anh đang chứng kiến điều đó bằng chính mắt mình, nói với giọng điệu đã phát hiện ra sự thực của một thám tử: “Ở hoang đảo có thể đã xảy ra nhiều hơn một vụ xung đột buôn lậu, không biết là mấy năm hay mười mấy năm trước, như tóm lại là đêm đó đã nổ ra một cuộc xung đột quy mô lớn.”

Máu nhuộm đỏ đá ngầm trên đảo hoang.

Thi thể chắc chắn đã bị ném xuống biển.

Nơi đó là Foresier, được cho là nơi thần Biển từng cư ngụ.

Vào thời xa xưa, con người tổ chức lễ tế, dâng vật tế tại đây.

Ai bảo thần Biển chỉ được có một đàn tế? Sau khi bị đánh thức, theo bản năng ăn sạch đĩa cơm cũ, rồi từ từ ngáp một cái, rồi ăn đến đĩa khác?

Bác sĩ Abel đột nhiên lắc đầu lia lịa, muốn xua đi hình ảnh con quái vật khổng lồ nằm sấp nhìn vào đĩa ăn, ông ta vội vàng hỏi: “Vậy chúng ta nên làm gì đây?”

“Đương nhiên là vứt hết vật tế dính máu ra ngoài! Nếu thần Biển lấy đi vật tế đó thì nó sẽ tiếp tục ngủ.” John ấn lòng bàn tay xuống bàn, quả quyết nói.

Không có gì để ăn, ra khỏi giường làm gì nữa!

***

Trận mưa lớn sắp làm ngập toàn bộ thị trấn, nước ngập đến thắt lưng.

Hai người đang lê bước qua vùng nước đọng.

“Nhà thị trưởng ở ngay phía trước.” Bác sĩ Abel vừa lớn tiếng nói vừa ấn chặt cổ áo mưa.

Gió thổi mạnh, mưa tạt vào mặt, lúc nói chuyện có ảo giác như đang chết đuối.

Bác sĩ Abel bị sặc mấy cái liền, khó nhọc leo lên mái hiên cao hơn, chưa kịp nghĩ ra cách nào thì John đã khéo léo cạy mở cửa sổ nhảy vào nhà.

Bác sĩ: “…”

Đây có thể là kỹ năng của thám tử nhỉ!

Ngôi nhà này có tổng cộng hai tầng, vì tầng một đã bị nước ngập nên dù tầng hai tạm thời chưa bị ngập cũng đã bị ngấm cái ẩm ướt và lạnh lẽo, gió mạnh khiến đồ đạc trong nhà lăn khắp nơi.

John đợi bác sĩ bò vào, rồi đóng ngay cửa sổ lại.

“Vật tế thần Biển mà cậu nói là gì? Thị trưởng và gia đình ông ta đã biến mất, chúng tôi không tìm thấy bất kỳ manh mối nào, chẳng biết còn ai khác trong thị trấn có tham gia buôn lậu không nữa.” Bác sĩ bật đèn pin soi sáng căn phòng.

John kiểm tra xung quanh một lượt, rồi mắt anh dừng lại ở chai rượu trong tủ.

Bác sĩ lau nước mưa trên mặt và tóc, sau đó cũng để ý đến tủ rượu sang trọng, kinh ngạc bước tới nhìn.

“Giá của những chai rượu này đủ để mua một con tàu.”

John quay người đi xuống cầu thang, lội qua nước và mò mẫm, sau đó dường như bật lên một thứ gì đó, làm nước chảy ồ ạt vào một căn phòng bí mật.

“Đèn pin!” John xòe tay ở phía dưới ra hiệu cho bác sĩ ném dụng cụ chiếu sáng xuống.

Bác sĩ Abel nổi lòng tò mò, tự mình mò mẫm xuống.

Ánh sáng yếu ớt chiếu vào căn phòng tối, ánh vàng tỏa sáng lấp lánh.

“Đây, đây là…”

“Vàng ròng.”

Một đống vàng thỏi và đồng vàng đặt trên bàn trong phòng bí mật.

John cũng tìm thấy một chiếc két sắt lớn bên tường. Lần này, Abel chủ động đưa ống nghe ra, không cần anh phải nhắc nhở.

Sau khi mở két, bên trong chứa đầy tiền mặt, tiền giấy, chứng khoán, chủ yếu là bảng Anh và đồng franc.

Bác sĩ Abel kinh ngạc choáng váng, bắt đầu tự hỏi liệu mình có thực sự sống ở thị trấn này hay không. Người dân địa phương hiếm khi nói chuyện riêng tư, khi đi trên đường nhìn thấy người khác cư xử kỳ lạ, họ sẽ không tò mò hỏi thăm hay điều tra cái gì, thậm chí còn cố ý không chào hỏi. Cảm giác xa cách này khiến bác sĩ Abel lúc này cảm thấy rất vô cùng phức tạp.

“Đây là sổ sách kế toán, ông đưa cho cảnh sát trưởng Alson đi.”

“Hở? Chúng ta không đến phá án chứ?” Bác sĩ ôm sổ kế toán, cẩn thận không để nó bị ướt.

John lắc đầu: “Không, chúng ta đến đây để tìm hàng giấu trong nhà thị trưởng, loại hàng tạm giữ trong tay chờ bán giá cao. Nếu tôi đoán đúng thì đó là những thùng dầu cá voi đã tinh chế rồi…”

John đột ngột quay lại, chiếu đèn pin về phía cửa.

Một bóng người lặng lẽ đứng đó.

Bác sĩ sợ đến nỗi suýt vấp phải cầu thang, lòng nghĩ Johnson thực sự là một hồn ma.

“Anh đã tìm thấy nơi này.” Johnson cởi mũ ra, vẻ mặt cuối cùng cũng thay đổi, dường như y rất ngạc nhiên.

“Ngài theo dõi chúng tôi.”

Johnson bình tĩnh trả lời: “Không, ta đang đợi một điều tra viên tìm kiếm manh mối, ta biết quá ít về thị trấn Đá Ngầm Đen, cũng không biết vật tế thu hút Gymir được giấu ở đâu, mấy ngày nay ta đã đi khắp thị trấn, cũng đã đến ngôi nhà này, nhưng…”

“Nhưng ngài không có phát hiện ra khóa bí mật, cũng không hiểu thiết kế của nó.” John khẳng định.

Johnson không tức giận, còn thẳng thắn nói: “Ta thật sự không hiểu những thứ này, ai tìm được vật tế không quan trọng, quan trọng là con đường rời khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen.”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 12


<b>Chương 12</b>

<b>Đưa lên tận cửa</b>

Trong căn nhà tối tăm và lạnh lẽo, cơn mưa lớn đang cọ rửa lớp kính.

Không khí nặng nề. Đứng trong làn nước ngập đến đầu gối, bác sĩ Abel cảm thấy ớn lạnh toàn thân.

Ánh đèn pin bộc lộ nỗi sợ hãi bên trong ông ta, vì chùm sáng cứ lắc lư từ bên này sang bên kia.

John: “…”

Bác sĩ Abel cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng đột nhiên nhìn thấy bóng của Johnson phản chiếu trên mặt nước có phần kỳ lạ.

Cái bóng rất tối, tối một cách bất thường, như thể nó có thể hấp thụ toàn bộ ánh sáng xung quanh. Đây không phải là bóng người bình thường được phản chiếu dưới ánh sáng, mà là thứ gì đó trái ngược các định lý khoa học. Nếu nhìn thẳng vào cái bóng, sẽ thấy có thứ gì đó đang chuyển động trong bóng đen, giống như một cơn lốc vô hình.

“Đừng nhìn!”

Lời nhắc nhở của John đã chậm một bước, vẻ mặt bác sĩ vặn vẹo và sợ hãi.

Tõm.

Chiếc đèn pin rơi xuống nước, bác sĩ Abel lảo đảo, ôm đầu tựa vào lan can cầu thang.

John chạy tới thì thấy đôi mắt bác sĩ trợn trắng, miệng lẩm bẩm không ngừng, dường như còn muốn đập đầu vào tường.

John chỉ có thể đè ông ta xuống đất, ngay lúc anh đang cân nhắc có nên đánh bác sĩ bất tỉnh hay không, ông ta đã co giật hai lần và ngất đi.

Đầu John đầy mồ hôi, anh chật vật đứng dậy, tức giận nhìn Johnson. Trực tiếp hạ gục cộng sự của anh, vậy có nghĩa là gì?

Trong tình huống này, Johnson cảm thấy cần phải giải thích: “Ta không làm gì cả, điều ảnh hưởng tới ông ta là nỗi sợ hãi trong lòng, vị bác sĩ này không phải là người thích hợp để tiếp xúc với sự kiện huyền bí.”

“Bởi vì ngươi giết mục sư Cornell rồi đột nhiên xuất hiện ở đây, sao ông ấy có thể không sợ hãi?” John nghĩ đến mục sư, lửa giận trong lòng càng thêm mạnh mẽ. Một nhiệm vụ rất đơn giản lại trở thành như ngày hôm nay, sao không tức giận cho được?

Johnson dừng lại vài giây, như thể đang quan sát cảm xúc của John… hóa ra cơn giận có thể thay thế nỗi sợ hãi, chống lại tác hại từ tồn tại huyền bí.

Y bình tĩnh nói: “Ta chỉ trả lại cho mục sư Cornell cho số phận mà lão đáng phải nhận được.”

“Số phận gì?” John không khỏi nhíu mày.

Tuy thám tử không tin vào khoa học một cách chắc chắn như bác sĩ, nhưng anh cũng rất phản cảm với những lời lẽ ma quái. Trong quá trình điều tra, John đã chứng kiến rất nhiều trường hợp như vậy, có người đến gặp thầy bói, dùng quả cầu pha lê để tìm người và đồ thất lạc trước, sau khi không có kết quả, họ chuyển sang thám tử, làm chậm trễ thời gian tìm kiếm tốt nhất.

Số phận là một từ khiến người ta nghe mà buồn nôn.

“Ngài muốn nói với tôi rằng số phận của mục sư Cornell là sẽ chết trong một vụ tai nạn và phát điên?” John mỉa mai hỏi.

“Không, chính lão là người đã chọn cách chết, vào năm mươi năm trước, ngày lão tìm thấy con tàu ma…” Ánh mắt Johnson rất xa xăm, y nhẹ nhàng nói: “Tất cả mọi chuyện đều có nguyên nhân.”

Đây là lần thứ hai Johnson nói câu này. Lần trước chính là ám chỉ thám tử phải truy tìm quá khứ của thị trấn Đá Ngầm Đen và manh mối về vật tế.

Đáng tiếc là John không muốn biết về mối quan hệ trong quá khứ giữa mục sư Cornell và con tàu ma. Không ai trả phí để anh điều tra sự thật!

Còn về phần bức thư có chữ ký của mục sư Cornell, John đã quyết định tự mình làm giả nó. Không cần biết mục sư là người tốt hay người xấu, những gì lão làm lúc đó đều không liên quan gì đến John. Anh chỉ cần giải quyết sớm và về nhà sớm!

John khiêng bác sĩ Abel lên, đặt ông ta trên một chiếc giường ở tầng hai.

Khi trở lại tầng một, John đã bình tĩnh lại, anh xác nhận tình hình hiện tại với Johnson:

“Nguyên nhân đánh thức thần Biển lần này là do tàu buôn lậu tham gia vào cuộc giao tranh quy mô lớn trên hoang đảo tên là Foresier? Giờ đây người trên đảo đều đã chết, thần Biển thức giấc và hướng sự chú ý về thị trấn Đá Ngầm Đen. Theo nội dung bút ký của mục sư già, chỉ cần vật tế <i>có dính máu</i> được dâng lên thì thần Biển sẽ không dọn sạch toàn bộ đàn tế?”

“Đúng vậy.”

“Những người mất tích trong thị trấn là do tiếp xúc với ngài hay do tham gia vào vụ buôn lậu?” Câu hỏi của John rất sắc bén.

Nữ tu đó rõ ràng không phải là kẻ buôn lậu, nếu không mục sư Cornell chắc chắn đã cảm nhận được “nguy cơ”. Mục sư đã già, tê liệt trước sự “an toàn” của thị trấn Đá Ngầm Đen, nhưng lão không ngu. Nếu lão để ý tới hành vi của bọn buôn lậu, lại biết Foresier là nơi nào… e rằng lão sẽ lập tức thu dọn đồ đạc bỏ chạy khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen, tìm nơi ẩn náu an toàn tiếp theo.

“…Có nhiều nguyên nhân. Ngoài việc tiếp xúc với sự kiện huyền bí, tổ tiên của nữ tu chính là người còn sống sót sau thảm họa thị trấn Đá Ngầm Đen, và vẫn sống ở đây. Chắc hẳn thuyền viên tàu Gió Tây đã từng đến đảo đó, tham gia cuộc chiến của bọn buôn lậu lúc trước.”

Sau khi nghe Johnson giải thích, John thở phào nhẹ nhõm. Chắc chắn không phải nói dối, hai hành khách của tàu Gió Tây đã được cứu, và vẫn còn sống.

Ngay cả huyền bí học cũng đề cao tính logic, đó là điều tốt. Thám tử sợ nhất là những kẻ điên giết người bừa bãi, John sợ hành vi của thần Biển là phi logic. Lỡ như thần Biển tự nhiên nổi cơn, sau khi nuốt hết vật tế vẫn chưa hài lòng, trực tiếp quét sạch toàn bộ thị trấn Đá Ngầm Đen thì sao?

“Nếu tôi đoán không lầm, thị trưởng sẽ giấu hàng buôn lậu trong những nhà kho bỏ hoang, còn những thứ đắt tiền thì cất trong phòng bí mật hoặc dưới hầm nhà ông ta.” John vào lại phòng bí mật, tìm tòi một cách cẩn thận.

“Ta đã đến tầng hầm của ngôi nhà này, không có những thứ đó.”

Johnson vừa nói xong liền nghe thấy tiếng máy móc lạch cạch, John mở bức tường cạnh phòng bí mật.

Johnson trầm mặc trong nửa phút, sau đó hỏi: “Làm sao phát hiện ra được?”

“Diện tích căn nhà không phù hợp với diện tích thực được sử dụng, tầng hai dài hơn dưới này một đoạn, nghĩa là khu vực bị ẩn giấu, cho nên trong phòng bí mật này nhất định phải có một cánh cửa thứ hai.” John phát hiện đèn pin đã bị ngâm nước, không thể sử dụng được, nên anh đành phải mò mẫm di chuyển một thùng hàng ra ngoài trong bóng tối.

Đây là loại thùng phuy kín, bên ngoài còn bọc một lớp giấy dầu, rất chắc chắn. Qua ánh sáng yếu ớt bên ngoài ngôi nhà, John nhìn thấy vết máu khô trên chiếc hộp. Rõ ràng nguồn gốc lô hàng này không “sạch”.

John định tìm thứ gì đó để cạy mở thùng ra kiểm tra thì bị Johnson ngăn lại.

“Là dầu cá voi , ta nghe thấy được.”

John: “…”

Không phải bình thường thì nói là “ngửi thấy” sao? Dù thật ra thì cũng chẳng thể ngửi được, vì dầu cá voi được đóng gói trong lọ kín, bảo quản tốt, cái mũi nào có thể ngửi được?

Nhưng nói “nghe thấy”, cái này…

Cảm giác rùng rợn trong cơn ác mộng lại ập đến. Những tiếng r*n r* đau đớn đó giống như những tiếng kêu phát ra từ sâu dưới lòng đất, lặp đi lặp lại, vang vọng không ngừng.

John lắc đầu, cố thoát khỏi ảo giác thính giác.

Cố lên, chỉ cần rời khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen thì mọi vận rủi sẽ tan biến!

“Chuyển tất cả những thứ này ra ngoài?”

John đếm số thùng, tổng cộng có bảy thùng. Nước bên ngoài sâu đến nỗi việc dời đống hàng này từ đây tới bến tàu trở thành là một nhiệm vụ bất khả thi.

Lúc này, Johnson đứng ở cửa rốt cục cũng hành động, dường như y vẫy tay một cái, một chiếc thuyền nhỏ đột nhiên nổi lên từ mặt nước. Một chiếc thuyền được đóng thô sơ. Nó được làm từ ván gỗ và đồ nội thất cũ, có hình dạng hơi kỳ lạ.

“Nếu không muốn phát điên, ta đề nghị anh đừng nghiên cứu làm sao để những thứ này hợp lại thành một chiếc thuyền mà không bị vỡ vụn.” Johnson kịp thời nhắc nhở.

Giọng điệu của y nhẹ nhàng, dịu dàng nhưng luôn khiến người nghe tê cả da đầu.

Kiểu người có thể toát ra “mùi nguy hiểm” từ khoảng cách rất xa như thế này, nếu gặp trên đường phố Luân Đôn, có lẽ John sẽ đút tay vào túi, siết chặt lấy súng và đi đường vòng thật xa.

Một kẻ nguy hiểm đủ để khiến bạn sẵn sàng nhường ra cả con đường, và trèo lên mái nhà để trốn tránh.

John không hiểu tại sao những người như mục sư Cornell lại gọi thứ kiến thức mô tả và nghiên cứu những sự tồn tại này là “huyền bí học”, không phải nên gọi “nguy hiểm học” hay “sinh tồn học” sao?

John giữ im lặng, chuyển hàng.

Trên thuyền chất bảy thùng hàng, chiếc thuyền kỳ quái hơi chìm xuống, nhưng vẫn vững vàng nổi trên mặt nước.

“Đưa chúng ra bờ biển bằng thuyền, chúng sẽ tự động trôi đến Đá ngầm quái quỷ, hãy nhớ phải là trước khi trăng bạc mọc lên lần nữa. Anh cũng có thể không đi, để người khác thế chỗ, nhưng dù có trốn đi đâu cũng vô ích, một khi đàn tế đóng lại, tất cả mọi người sẽ bị thần Biển theo dõi.”

Johnson nói xong liền biến mất.

John: “…” Bị thần Biển theo dõi là gì? Nghe có vẻ không được ổn lắm.

Tất nhiên John không muốn mạo hiểm, nhưng ở đây chẳng có ai khác cả.

Bác sĩ vẫn còn hôn mê, cảnh sát trưởng Alson không tin anh chút nào, hơn nữa bây giờ quay lại tìm cảnh sát trưởng và chủ quán rượu thì rất mất thời gian.

Trước khi vầng trăng bạc lại mọc lên, chiếc thuyền chở vật tế nhuốm máu này phải được đẩy xuống biển. Chắc là để qua mặt thần Biển, cho nó nằm đó ăn vật tế, sau đó thấy trong đàn tế không còn gì đáng ăn, nên không thèm dậy nữa.

John tìm thấy một cây gậy cricket, dùng nó làm mái chèo để chèo thuyền về phía bờ biển.

***

John đến khu vực gần bến tàu thì phát hiện nơi đó đã bị ngập hoàn toàn, chỉ còn nóc nhà nhô lên khỏi mặt nước như những tảng đá ngầm.

Càng đi xa, màu nước càng trở nên kỳ lạ. Không có cát bùn đục ngầu, mà có màu xanh lam đậm, thăm thẳm và êm đềm.

John đang định nhảy khỏi thuyền thì bất ngờ cảm thấy con thuyền quái dị rung chuyển dữ dội và biến mất không dấu vết, bỏ lại anh và đống thùng dưới nước.

John nhìn quanh, quả nhiên đã tìm thấy một chiếc thuyền đánh cá ở vị trí ban đầu là bến tàu. Mấy cái thùng nổi trong nước, không quá khó để di chuyển. Và John mơ hồ cảm thấy có một lực nào đó kéo đống thùng về phía biển, xem ra Johnson không hề nói dối anh, vật tế sẽ bị thần Biển kéo đi.

John vất vả chất bảy thùng hàng lên thuyền, cởi dây cột thuyền đánh cá.

Đầu tiên chiếc thuyền đánh cá từ từ trôi ngược ra sau theo dòng nước, sau khi trôi dạt một lúc, nó vô cớ “bay” đi, lướt trên mặt biển như một mũi tên nhọn rồi biến mất trong màn mưa.

Thế giới đột nhiên trở nên yên tĩnh trong giây lát, mọi âm thanh đều biến mất.

Ngay khi John nghĩ đó là ảo ảnh, tai anh lại một lần nữa bắt được âm thanh của sóng biển, mưa và sự va chạm của đồ vật.

Điểm khác biệt duy nhất là mây đen trên bầu trời dường như đã tan đi một chút, một tia sáng chiếu xuống mặt biển.

Cơn mưa lớn bắt đầu tạnh dần. Nước biển rút đi với tốc độ có thể nhìn thấy bằng mắt thường, để lộ những đường phố, nhà cửa vốn đã bị ngập trong nước.

Mặt John tái nhợt, không có vẻ vui mừng, trực giác cảnh báo trong đầu anh đang điên cuồng gào thét. Anh quay người chạy về hướng nhà thờ, vì địa hình ở đó tương đối cao… Anh chạy bằng tốc độ nhanh nhất có thể trong đời, chỉ trong nửa phút, phổi anh như muốn nổ tung và hai chân rảo bước điên cuồng.

Một âm thanh ầm ầm đáng sợ truyền đến từ phía sau, khi John quay lại, anh chỉ kịp nhìn thấy một bức tường trắng khủng khiếp.

Đó là một con sóng khổng lồ cao hơn tất cả những ngôi nhà trong thị trấn.

Sóng thần đang đến.

John không còn sức để chống cự, dễ dàng bị sóng biển cuốn trôi. Anh nghe thấy nhiều âm thanh khủng khiếp trộn lẫn với nhau, tiếng r*n r* trong tuyệt vọng.

Nhấp nhô lên xuống, ý thức bị vứt bỏ, không hề đau đớn và tuyệt vọng, bởi mọi thứ diễn ra quá nhanh.

***

“Khục khục.”

John nằm trên mặt đất, gắng sức nôn ra nước biển. Anh miễn cưỡng mở mắt ra thì chợt nhìn thấy một tảng đá ngầm khổng lồ hiện ra trước mặt.

Xung quanh anh là người nằm lung tung, John nhìn thấy bác sĩ Abel, lão Jack và cảnh sát trưởng Alson. Tất cả trông như những con cá mắc cạn, bị đóng băng trong nhiều tư thế vùng vẫy và chiến đấu khác nhau. Cảnh tượng này rất kỳ quái, bởi vì có người mở to mắt, vẻ mặt sợ hãi.

John bò về phía trước vài bước, nhìn thấy vài người dân thị trấn mà anh không nhận ra, cho đến khi bắt gặp một người phụ nữ mặc quần áo nữ tu và cầm một cây thánh giá. Nữ tu cuộn tròn người, chỉ có mặt hướng lên trên.

“Tỉnh dậy đi.” John cố gắng đánh thức cô dậy.

Nữ tu không phản ứng, nhưng vẫn còn sống, còn thở.

Cạnh đó, nửa người bên trái của thuyền trưởng tàu Gió Tây chôn dưới bùn đen, trông như một con cá bị phơi khô.

John vô cùng kinh hãi, vì trước mặt anh có những xác chết như thế này, cháy đen và teo tóp.

Đây là nơi nào?

Thị trấn Đá Ngầm Đen đều bị tiêu diệt?

Sóng thần tàn phá thị trấn Đá Ngầm Đen? Nhưng họ vẫn sống sót?

Vậy có được tính là sống sót không?

Lòng John đầy nghi ngờ, anh bất ngờ nghe thấy tiếng đá vụn lăn xuống.

John lập tức nhắm mắt lại, không hề tò mò chút nào, anh quyết tâm không nhìn tảng đá ngầm khổng lồ kia.

“… Phù… Soạt… Soạt soạt…”

Những âm thanh kỳ lạ văng vẳng bên tai, đầu óc John choáng váng rồi nhói đau, anh cố chịu đựng cảm giác khó chịu, không phát ra bất kỳ âm thanh nào.

Sau đó John cảm thấy có gì đó đang theo dõi mình.

Cảm giác toàn thân run rẩy và không thể cử động vì sợ hãi đã đến!

Đây là ánh mắt của thần Biển?

John cảm giác như mình đột nhiên lơ lửng trên không, một lực vô hình kéo anh từ mặt đất lên không trung, sau đó tất cả những thứ anh giấu trong túi đều loạt soạt lăn ra.

Bút ký của mục sư Cornell, một tập thư được niêm phong của mục sư, một tấm ảnh của mục sư Cornell…

John nhắm mắt lại, anh không biết chuyện gì đang xảy ra, chỉ cảm thấy đầu mình sắp vỡ ra, sau đó bất tỉnh.

Bộp.

John ngã thẳng xuống cát như một cái bao tải.

Bức ảnh từ từ bay lên, sau đó một cảnh tượng hư ảo xuất hiện.

Những đường màu bạc phác thảo căn phòng của mục sư Cornell… Mục sư già hoảng hồn khi nhìn thấy sương trắng trên tường và trần nhà, cửa đột nhiên mở ra, một người đàn ông đội mũ chóp, mặc áo choàng xuất hiện ở cửa, tay cầm tấm ảnh đó.

Trong toàn bộ khung cảnh hư ảo chỉ có bức ảnh này là thật.

Mục sư già kinh hãi ngã xuống. Người đàn ông ném bức ảnh xuống mặt đất đã đóng băng rồi quay người rời đi, cái bóng và vòng xoáy đen tối sau lưng đan xen thành một cảnh tượng mờ ảo, đôi mắt xanh lam nhạt thờ ơ nhìn về căn phòng lần cuối cùng.

Ảo ảnh biến mất.

“…”

Đá ngầm quái quỷ im lặng.

Không biết qua bao lâu, sức mạnh huyền bí còn sót lại trong bức ảnh lại được kích hoạt.

Ảo ảnh hình thành từ những đường màu bạc xuất hiện lần thứ hai, chiếu lại.

Sau đó là lần thứ ba.

Lần thứ tư…

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Được rồi tôi thừa nhận tôi đang viết cảnh xem mắt kệch cỡm.</i>

<i>Độc giả: Cái này mà cô gọi là xem mắt?</i>

<i>Tác giả: Mang theo hình ảnh, chiếu một đoạn video ngắn, được người khác giới thiệu, vậy sao không phải là xem mắt?</i>

<i>John: Còn logic thì sao? Logic thì sao?</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 13


<b>Chương 13</b>

<b>Gymir</b>

Bầu trời tối tăm lóe ánh sáng đỏ, những đám mây cuồn cuộn.

Johnson đứng trên cây thánh giá trên nóc nhà thờ, chiếc áo khoác đen phần phật trong gió mạnh. Y không đội mũ, chiếc áo choàng lữ hành dùng để ngụy trang đã biến mất, đôi mắt xanh nhạt trong suốt, lạnh lùng và vô hồn.

Nếu John nhìn thấy cảnh này, anh sẽ nói rằng kẻ này lại không tôn trọng sự sống, và xem sự sống chết bi thảm như xem một vở kịch.

Thực ra Johnson không hề cố ý đứng ở vị trí này.

Nước biển đã nhấn chìm toàn bộ thị trấn, ngay cả ngọn tháp của nhà thờ cũng chìm trong nước, giữa đại dương bao la chỉ còn cây thánh giá màu đen này nhô lên, nhìn thoáng qua, khung cảnh này hoang tàn, khủng khiếp và thêm phần thần bí, kỳ dị.

Nhưng Johnson lại không cảm nhận được những thứ đó, y đứng đây thuần túy là bởi vì ngoại trừ nơi này không có chỗ nào khác để đứng.

Johnson tỏ ra bình tĩnh, vì mọi việc diễn ra đúng như y mong đợi.

Người dân thị trấn Đá Ngầm Đen chưa chết.

Trận sóng thần này nhìn có vẻ dữ dội và đáng sợ nhưng thực chất nó chỉ gây lũ lụt. Sức mạnh của những con sóng khổng lồ biến mất ngay sau khi đổ bộ vào bờ, nước biển “càn quét” cả thị trấn, lúc này thần Biển hẳn đang “nhìn xuống” vật tế của mình.

Johnson khẽ cười một tiếng.

Vật tế là gì, đó là sự hiểu lầm của con người.

Những tồn tại huyền bí xa xưa quả thực sẽ không từ chối những vật tế được đưa đến tận cửa nhà mình, nhưng máu thịt này không thể lấp đầy bụng, chúng không xem máu thịt là thức ăn. Những nghi lễ tế lễ sôi động đó chỉ như tiếng ruồi muỗi liên tục bay vo ve quanh tai. Thái độ của thần đối với vật tế đã dính máu là gì? Tiềm thức bảo rằng hãy loại bỏ những tiếng khóc than r*n r* đó đi.

Ở góc độ của con người, quá trình này giống như việc “chấp nhận” một vật tế, ăn rất ngon miệng, hài lòng rồi càn quét đàn tế ngay tại chỗ, và lại chìm vào giấc ngủ sâu. Sau khi dọn dẹp mấy con bọ nhỏ trong phòng, căn phòng này trông có vẻ dễ chịu và thích hợp để ngủ hơn những nơi khác?

Xét về kết quả thì “kiến thức huyền bí học” của con người không có gì sai trái: Hiến tế bằng máu và tiếng than khóc có thể đánh thức thần cổ xưa, dâng lên vật tế vấy máu xoa dịu cơn giận của thần cổ xưa, chỉ cần không tiếp tục làm trò ngu xuẩn, thần cổ xưa sẽ không hoàn toàn thức tỉnh.

Vì vậy thần Biển sẽ g**t ch*t những thứ ồn ào đó. Trong khi nửa tỉnh nửa mê, giữ nguyên tư thế nằm, và xem xét thứ gì đang quấy rầy giấc ngủ của mình.

Johnson tin rằng thần Biển sẽ không tấn công bừa bãi, vì y biết rằng thám tử đã nhặt bức ảnh đó, và giữ nó bên mình.

Sức mạnh còn sót lại trên bức ảnh đó thuộc về Johnson.

Thần Biển sẽ miễn cưỡng tập trung tinh thần, đọc qua “lá thư của đồng loại”, nên sẽ không có chuyện không thèm mở mắt đọc mà trực tiếp ngấu nghiến người dân thị trấn Đá Ngầm Đen và John.

Một bức ảnh là một lá thư. Chỉ cần kích hoạt sức mạnh trên đó là có thể nhìn thấy chủ nhân ban đầu của sức mạnh, đây là một lá thư giải thích khá ổn.

Johnson không cố ý đột nhập vào lãnh địa khép kín nơi thần Biển đang ngủ yên, y chỉ muốn tìm một con người, kẻ đó đang xảo quyệt ẩn náu trong thị trấn Đá Ngầm Đen.

Thần Biển Gymir không hề nóng tính, mà thuộc kiểu tồn tại huyền bí hoàn toàn không muốn cử động chút nào. Ít nhất trong trí nhớ của Johnson thì không có nhiều truyền thuyết về nó, vị thần cổ xưa không thể miêu tả này vẫn luôn ngủ yên trong hang động xưa cũ của nó.

Vì vậy, chỉ cần không chủ động x*m ph*m l*nh th* của thần Biển, không gây phiền phức thì thần Biển sẽ không để ý đến những đồng loại “đi ngang qua”. Bất kể đồng loại này mạnh mẽ, hay yếu ớt. Miễn là không làm phiền giấc ngủ của nó.

Johnson nhìn mặt biển xa xa, toàn bộ lãnh địa bao trùm quanh thị trấn Đá Ngầm Đen hiện lên trong mắt y… Nó giống như một quả cầu trong suốt được bọc trong một lớp lưới đen. Thị trấn, vách đá và biển tạo thành một quả cầu pha lê tuyệt đẹp, giờ đây phần dưới của quả cầu pha lê đã bị nước biển nhấn chìm, chỉ còn lại bầu trời đầy những đám mây đen.

Ầm ầm.

Âm thanh kỳ lạ và ồn ào phát ra từ đáy biển. Những cột khói xám đen bốc lên, nối liền với bầu trời. Phần đế của quả cầu pha lê rung chuyển dữ dội.

Đúng vậy, Đá ngầm quái quỷ được nhìn thấy khi đứng trên bãi biển của thị trấn Đá Ngầm Đen thực chất chỉ là hình ảnh phóng chiếu chứ không phải thật sự tồn tại.

Thực thể của nó thật ra là đáy biển, thân thể của thần cổ xưa đã hòa làm một với nham thạch từ lâu, khi nó nửa tỉnh nửa mê, đáy biển sẽ rung chuyển dữ dội, nham thạch cũng liên tục bong ra.

Magma bên dưới lớp vỏ trái đất cung cấp nguồn nhiệt ấm áp, như một chiếc túi da chứa đầy nước nóng, áp vào cơ thể thần cổ xưa, khiến giấc mơ trở nên yên bình và tuyệt diệu.

Khi thần cổ xưa di chuyển cơ thể, các lỗ thông hơi nóng vốn bị chặn ngay lập tức phun ra khí độc từ sâu trong vỏ trái đất, magma cuộn trào. Những khí này tạo thành một vùng mây màu đỏ nhanh chóng lan ra khắp quả cầu pha lê.

Là người bị mắc kẹt trong quả cầu pha lê, Johnson chỉ có thể đứng ở nơi cao, im lặng quan sát những hiện tượng dị thường này.

Đôi mắt của y có thể nhìn xuyên qua tấm màn ngụy trang, nhìn thẳng vào sự thật.

Thần Biển, Gymir có nghĩa là “nuốt chửng tất cả” trong truyền thuyết xa xưa.

Cơ thể khổng lồ được hợp lại từ những mảnh đá màu đỏ và đen tuyền không theo quy luật, không có đầu hoặc tứ chi, cũng không có bề mặt hoàn chỉnh và nhẵn nhụi.

Nếu che đi toàn bộ và chỉ để lộ một phần nhỏ, có thể nhìn thấy bóng dáng của vài loài thú dữ. Tưởng như nhiều sinh vật từng xuất hiện trên trái đất đã hóa thạch và rồi hợp nhất với nhau: Nửa cái đầu có răng nanh của hổ răng kiếm mọc ở phía sau đầu của voi ma m*t, đầu của loài cá da phiến trở thành tấm giáp ngực của khủng long bạo chúa.

Hỗn loạn, vô trật tự, kh*ng b*.

Toàn bộ cơ thể được bao quanh bởi những vết nứt chảy dung nham, khí cực độc liên tục thoát ra từ các khe hở trong nham thạch, mang theo mùi lưu huỳnh gay mũi.

Johnson bắt đầu cảm thấy bất an, chuyện này không giống như y nghĩ.

Động tĩnh quá lớn.

Thần Biển trông không có vẻ như sẵn sàng quay lại giấc ngủ sau khi đọc thư, chấp nhận lời giải thích và dọn dẹp những con bọ ồn ào.

Quả cầu pha lê rung chuyển dữ dội, đáy biển như muốn nổ tung, không khí tràn ngập mùi lưu huỳnh gay mũi.

Đây là dấu hiệu cho thấy thần Biển sắp thức tỉnh hoàn toàn.

Khu vực này không thể chịu nổi sức mạnh của núi lửa phun trào, sẽ sụp đổ trong chốc lát, đồng thời thảm họa sẽ lan rộng đến các khu vực và vùng biển gần thị trấn Đá Ngầm Đen, nó sẽ là một thảm họa vô cùng kinh hoàng.

Sóng thần thậm chí sẽ vượt qua đại dương bao la, đến lục địa phía bên kia của châu Âu, phá hủy hoàn toàn các thị trấn ven biển rồi nuốt chửng chúng.

Thần Biển đang nổi giận sao?

Không, không có thứ cảm xúc này.

Johnson rơi vào trạng thái bối rối sâu sắc, y không phát hiện ra sự “tức giận”, “bực mình”, cũng không cảm thấy bị một sức mạnh nào đó “xua đuổi”, vậy thần Biển đang làm gì? Thức dậy chào hỏi đồng loại à?

Khí thế này trông như muốn đập đồng loại thành cái bánh hơn!

Đúng vậy, giữa cảm giác bị đè ép đáng sợ này, Johnson thấy không gian xung quanh mình như bị đóng băng lại. Nếu người đứng đây là con người thì xương cốt bây giờ đã nát thành bùn rồi.

Cây thánh giá trên nóc nhà thờ phát ra tiếng cọt kẹt khó chịu, mái nhà xuất hiện những vết nứt, rõ ràng là tòa nhà không thể chịu được áp lực nữa.

Một vật thể giống như dây leo màu đen đột nhiên xuất hiện dưới chân Johnson, quấn quanh cây thánh giá. Những dây leo này phủ đầy gai nhọn, chuyển động như đang sống. Phần nóc nhà bị nứt gần như ngay lập tức được gia cố, đồng thời nhiệt độ giảm mạnh, sương giá nhanh chóng lan rộng và đóng băng toàn bộ tòa nhà, chống lại sự xâm lấn của sóng biển.

Sau đó, một nhà thờ màu trắng quấn đầy dây gai đột nhiên xuất hiện trong quả cầu pha lê, nó phát sáng trong nước biển, đẹp đẽ và nổi bật. Ngước nhìn qua làn nước cuồn cuộn, hình bóng người đàn ông đứng trên cây thánh giá thoáng mờ đi.

Ào ạt.

Nước biển rút nhanh chóng, chỉ trong nháy mắt, toàn bộ nhà thờ đã nổi lên trên mặt nước.

Johnson: “…” Y gần như sắp từ bỏ hình dạng con người, trở về với thực thể.

Johnson tưởng thần Biển muốn đánh nhau thật! Sao lại bỏ chạy rồi?

Johnson bối rối vô cùng, y không hiểu Gymir muốn làm gì.

Đá ngầm quái quỷ tiếp tục biến đổi, nhưng lần này chuyển động chậm hơn rất nhiều.

Hình như thần Biển không có ý định phá hủy quả cầu pha lê khép kín này? Lo lắng sức mạnh va chạm nhau sẽ phá vỡ lãnh địa? Nếu đã thức dậy, để lộ thực thể mà không định đánh nhau, tức là muốn nói chuyện?

Johnson nhìn chằm chằm đáy biển, nhanh chóng xác nhận phỏng đoán này.

Bởi vì thực thể của thần Biển lại im lặng, bao trùm lên ngọn núi lửa sắp phun trào, một phần sức mạnh đã thoát ra và nhanh chóng phác họa nên thứ gì đó.

Đây là hóa thân.

Thần cổ xưa có thân hình khổng lồ, bất cứ cử động nào cũng sẽ gây ra tai họa rất lớn, con người đối mặt với thực thể của thần cổ xưa sẽ chết ngay lập tức. Thần cổ xưa và đồng loại cũng dễ xảy ra xung đột khi gặp nhau, vậy nên thần cổ xưa đều có hóa thân, chỉ mang một phần sức mạnh.

Điều này rất phổ biến.

Ngay cả dáng vẻ của bản thân Johnson bây giờ cũng là một hóa thân, tất nhiên không phải là bộ mặt thật của y.

Johnson không hiểu tại sao thần Biển lại muốn nói chuyện với mình, nhưng tình huống trước mắt đã quá rõ ràng, phương pháp dùng một lá thư để qua mắt, làm cho thần Biển bỏ qua việc y xông vào lãnh địa của nó đã thất bại.

Johnson rất khó xử.

Dù là thần cổ xưa hay tồn tại huyền bí nào khác thì về cơ bản đều không có giao lưu gì với nhau. Chúng không ưa thích việc giao tiếp như con người, ngay cả khi ở trên cùng một hành tinh, chúng cũng không có hứng thú làm quen với những người hàng xóm của mình.

Điều này khiến cho Johnson thiếu kinh nghiệm, y nên nói chuyện với thần Biển như thế nào? Y nên có thái độ thế nào? Y không có chút ký ức nào cả! Điều này khác với các cuộc trò chuyện của con người!

Khi Johnson do dự, luồng sức mạnh dưới đáy biển đã hoàn toàn được chắp nối lại, nhưng lại bị sức mạnh thần Biển quấn lấy, tạm thời chưa nhìn ra được hình dáng cụ thể của nó.

Nó có thể là hóa thân gì? Johnson suy ngẫm.

Trong thần thoại Bắc Âu, thần biển sâu Gymir là một người khổng lồ với mái tóc dài màu trắng, móng vuốt mảnh mai nhưng có thể dễ dàng cầm giữ một con tàu trên biển, hay là một vị vua với thân hình hùng vĩ, điển trai, điều khiển gió và sóng biển. Ngoài ra còn có hình tượng cá voi khổng lồ được dát vàng và trang sức, cái bóng cao lớn mặc áo choàng đen…

Các hóa thân khác nhau thể hiện những khía cạnh khác nhau trong tính cách của thần cổ xưa. Vậy nên về lý thuyết, hoàn toàn có thể gặp một hóa thân không biết nói và chỉ muốn đánh nhau.

Johnson thầm cảnh giác, lặng lẽ đề phòng.

Nước lũ ở thị trấn Đá Ngầm Đen đã rút hoàn toàn, để lộ một mảng lớn nhà cửa, đường phố, cầu cảng bị bùn bao phủ.

Những đám mây đen tan đi, mặt trăng bạc mọc lên.

Nước biển trở nên cực kỳ tĩnh lặng, ánh trăng bạc chiếu xuống mặt biển xanh thẫm như một tấm màn che, soi sáng một bóng người thấp thoáng trên Đá ngầm quái quỷ.

Mái tóc dài xoăn màu đỏ rực ướt đẫm, rũ trên bờ vai trắng mịn, nước biển không ngừng chảy trên bề mặt cơ thể, làn da như sa-tanh bạc, bóng loáng dưới ánh trăng, đôi mắt sáng như vàng ròng, như ngọn lửa đang thiêu đốt.

Cổ tay và vùng eo tr*n tr** được bao phủ bởi một lớp vây mỏng trong mờ. Cánh tay mảnh khảnh và mạnh mẽ, những ngón tay đặt trên đá ngầm có móng nhọn như những con dao pha lê vát mỏng.

Những chiếc vảy màu đỏ kéo dài từ thắt lưng xuống, tỏa ra ánh sáng vàng kim lạ lùng, như dấu vết của dung nham đang chảy xuôi.

Đuôi cá rất dài, một nửa ngâm trong nước biển, thu hút sự chú ý của của người nhìn, khiến người ta tham lam lướt đi theo vòng eo thon gọn đến ngực, không tự chủ được mà dừng lại ở hai điểm đỏ tươi, trên xương quai xanh và quanh cổ, và trên những chiếc vây mỏng được ánh trăng nhuộm thành màu bạc.

Những ngón tay thon dài nhẹ nhàng lướt qua cằm, móng tay sắc nhọn trong suốt trông như món trang sức pha lê lạnh lẽo, đặt trên khuôn mặt xinh đẹp khó có thể miêu tả bằng lời đó.

Khi bị đôi mắt vàng đó nhìn vào, trí óc và tâm hồn con người sẽ hoàn toàn tan nát, trở thành một thân xác không còn sự sống.

Nó nhảy từ đá ngầm xuống biển.

Người cá nhô lên khỏi mặt biển, hơi ngẩng đầu lên nhìn Johnson trên đỉnh nhà thờ.

Johnson thất thần.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Thần Biển: Nằm trên giường xem xong bức ảnh.</i>

<i>Thần Biển: Lục lục tìm tìm mặc quần áo.</i>

<i>Trên đây là quá trình thức dậy và đi xem mắt của một tên lười biếng chỉ biết trốn trong nhà.</i>

<i>………</i>

<i>Một chiếc giường hoàn hảo cần có thảm điện (magma) để tạo cảm giác thoải mái khi ngủ.</i>

<i>Johnson: Tại sao ác quỷ lại có mùi lưu huỳnh, chẳng lẽ dưới địa ngục đều là ao dung nham? Không phải, do mọi người đều thích ngủ trên thảm điện, đánh giá rất cao.</i>

<i>Tác giả: À, quảng cáo sai rồi, năm 1925 không có thảm điện.</i>

<i>……</i>

<i>Nhắc lại, Gymir là công. Mọi vẻ đẹp đều là vỏ bọc để dụ dỗ con mồi.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 14


<b>Chương 14</b>

<b>Thất vọng</b>

Tách.

Một giọt nước chảy dọc theo ngón tay của Johnson, rơi xuống biển.

Sương giá đang tan.

Johnson chợt hoàn hồn, phát hiện mình đã bị mê hoặc. Đây là một việc rất nguy hiểm, thần cổ xưa chưa bao giờ lương thiện, y đã bất cẩn, lẽ ra không nên lơ là cảnh giác chỉ vì thần Biển đã ngủ say từ rất lâu rồi.

Nước biển lặng lẽ dâng lên mái nhà thờ.

Quả cầu pha lê lại biến thành đại dương bao la, chỉ để lại một con dốc nhỏ và một cây thánh giá màu đen.

Người cá với mái tóc đỏ rực như lửa đang bơi lội quanh “hòn đảo đơn côi”, đuôi cá tạo thành những gợn sóng nước duyên dáng, những chiếc vảy màu đỏ vàng vô cùng nổi bật giữa làn nước biển.

Đáng tiếc, trong mắt Johnson, đây là một thợ săn đang tiếp cận con mồi.

Con mồi đã bị mắc kẹt trong khu vực nhỏ này.

Ào ạt.

Người cá nổi lên mặt nước.

Những giọt nước đua nhau chảy xuống từ tóc và mặt, làm bốc lên một lớp sương mù mờ ảo. Đôi mắt vàng kim long lanh tựa như hũ mật ong nguyên chất, màu sắc hấp dẫn, trong trẻo và tươi sáng. Đuôi cá khẽ đung đưa, thân thể dựa vào mép mái nhà nghiêng nghiêng, tựa như tò mò hoặc đang quan sát Johnson.

Mặc dù truyền thuyết của con người đã nhắc đến sinh vật này vô số lần, nhưng không có ngôn ngữ hay hình ảnh nào có thể miêu tả được một Siren hoàn chỉnh. Từng đường nét trên cơ thể đều hoàn hảo, biểu cảm có vẻ ngây thơ nhưng cũng rất tàn nhẫn, và con mồi mà nó nhắm tới sẽ sẵn sàng dâng lên máu thịt và linh hồn của mình.

Đây là hóa thân hoàn hảo của một thợ săn mồi!

Johnson cảnh giác, những chiếc răng sắc nhọn trên những sợi dây leo màu đen giữa các ngón tay y mọc ra nhiều hơn.

Người cá nhẹ nhàng dùng ngón tay có vây mỏng xoa xoa đôi môi đỏ thắm của mình, đâu đó trong thần thái khi ngẩng đầu lên toát ra d*c v*ng sâu xa.

Johnson: “…”

Đúng vậy, Gymir muốn ăn y.

Mặc dù Johnson cảm thấy mình không ngon chút nào, ăn thực thể vào sẽ bị mắc xương, nhưng trong mắt thần cổ xưa thì chưa chắc đã vậy.

Không cần phải nói thêm gì nữa, chạy thôi.

Phải chạy.

Nhiệt độ giảm mạnh ngay lập tức, sương giá điên cuồng lan tràn, bao phủ mọi thứ xung quanh.

Một lớp băng mỏng nhanh chóng hình thành trên mặt nước biển, chỉ có người cá là không bị ảnh hưởng.

Gymir vô thức nắm lấy sợi dây leo màu đen đang bò lên người mình, dây leo co giật như thể đang sợ hãi, rồi chỉ đơn giản gọn gàng “đứt” mất.

Rơi vào tay địch, bị Johnson cắt đứt.

Phần trên của quả cầu pha lê vốn không bị nước biển nhấn chìm giờ đây đã bị bao phủ bởi băng và sương mù dày đặc.

Vô số xúc tu đen như dây leo đang vùng vẫy, tấn công khu vực khép kín này.

Người cá phát hiện ra ý định của Johnson, lập tức phá vỡ lớp băng mỏng, sóng biển dâng cao, khuấy động những con sóng khổng lồ cao hàng chục, thậm chí hàng trăm mét, xua tan sương mù dày đặc và băng giá.

Nhà thờ cũng chìm trong nước, sắp sụp đổ trong cơn bão dữ dội.

Ánh trăng bạc biến mất, tiếng hát tuyệt diệu vang lên giữa sóng biển.

Con người không thể hiểu được lời hát này, họ chỉ có thể cảm thấy ý thức của mình dần dần trôi nổi, như xuyên qua những đám mây, có làn gió ấm áp dễ chịu vuốt qua má, hoặc như nửa chìm nửa nổi trong nước biển, không có bất kỳ ràng buộc nào, thân xác yếu đuối và bất lực, tâm hồn tìm thấy niềm vui tột đỉnh.

“Đến đây, đến đây… Ta ban cho ngươi tất cả.”

Những nốt nhạc này mang sức mạnh huyền bí, giống như sợi dây kéo con rối, bám vào từng dây thần kinh truyền tải kh*** c*m.

Một sự cám dỗ không thể cưỡng lại được.

Cơ thể sẽ lao về nơi phát ra tiếng hát, trái với ý muốn của lý trí.

Johnson đang vùng vẫy. Y không yếu ớt như con người, nhưng Siren này quá mạnh mẽ, ảo ảnh do sức mạnh tạo ra đang kéo ý thức của y xuống.

Mặt biển êm đềm dưới ánh trăng bạc, Siren ngồi trên đá ngầm chờ đợi con tàu đi lạc. Với nụ cười nguy hiểm và quyến rũ trên môi, mỗi bài hát đều bộc lộ tình yêu sâu sắc. Cho dù biết đây là một cái bẫy, cũng khó có thể ngăn cản ý chí chìm đắm vào.

Bởi tình yêu mà nó đang thổ lộ quá trong sáng, vượt qua mọi hiện thực trên thế giới, mà sức mạnh của nó thì quá đáng sợ, có khả năng cướp đi linh hồn và ý chí, Johnson không hề nghi ngờ số phận con mồi rơi vào tay Siren sẽ ra sao. Vào thời điểm bị xé nát, có lẽ vẫn còn đắm chìm trong tiếng hát không thực kia.

Johnson đau đớn co giật, y sắp không thể chống cự được nữa.

Tiếng hát mà người dân thị trấn Đá Ngầm Đen từng nghe trước đây thậm chí còn chưa bằng một phần ngàn sức mạnh của ảo ảnh trước mặt.

Thần Biển thật xảo quyệt!

Johnson không sợ đánh nhau, dù không đánh lại cũng có thể bỏ chạy, ai ngờ đối thủ lựa chọn hóa thân Siren. Nó cho phép con người cảm nhận rõ ràng quá trình trái tim, khối óc, linh hồn và cơ thể dần dần đắm chìm, cuối cùng mất đi ý thức và trôi nổi trên biển, mặc người tàn sát.

Johnson cảm thấy mình dần dần yếu đi, y không cổ xưa và mạnh mẽ như thần Biển Gymir, lại bị giới hạn bởi không gian lãnh địa này. Trong mơ màng, y nhìn thấy một vệt đỏ rực đang tiến đến gần.

Người cá bơi đến bên cạnh Johnson, khéo léo tránh khỏi những dây leo màu đen bất lực rũ xuống, ôm lấy khuôn mặt tái nhợt tuấn tú của Johnson, hơi cúi đầu xuống.

Phía dưới họ là nhà thờ dưới nước giăng đầy những gai góc và dây leo.

Đuôi cá vung lên, cây thánh giá màu đen lập tức đổ xuống, từ từ chìm xuống.

Rầm!

Chấn động phát ra từ sâu trong nhà thờ, quan tài của mục sư Cornell bất ngờ vỡ tung, biến thành bột.

Một luồng sức mạnh tích trữ lao ra, khuấy động một cột nước trên mặt biển.

Johnson bất thình lình mở mắt.

Với một tiếng động lớn hơn, cột nước biến thành những gai băng đáng sợ, quả cầu pha lê bị Johnson phá nát bằng sức mạnh bộc phát.

Với đôi tay trống rỗng, người cá giận dữ xua đi đống đổ nát của nhà thờ, đôi mắt vàng rực như ngọn lửa.

Bóng dáng của Johnson biến mất.

Một vòng xoáy đen như mực, bao quanh là vô số bóng đen kỳ dị đan xen vào nhau, nó đang khuấy động nước biển, nhanh đến mức biến thành một vệt đen kéo dài.

Nếu nhìn từ trên cao xuống biển, vẫn có thể thấy một dòng nước màu đỏ vàng đang đuổi theo nó với tốc độ cực kỳ nhanh.

Gió và sóng dữ dội dường như đang di chuyển ra biển cùng với chuyển động của kẻ chạy trốn và kẻ truy đuổi.

Mây đen bị rẽ ra, tia nắng đã tắt từ lâu lại chiếu xuống thị trấn Đá Ngầm Đen.

Ranh giới của thị trấn, nơi bị bao phủ bởi mưa lớn và bóng tối trong nhiều ngày, đã trở nên rõ ràng.

Một chiếc xe ngựa công cộng dừng cách rãnh sâu ngoài thị trấn Đá Ngầm Đen không xa. Người đánh xe nhìn dòng lũ xối xả bao phủ thị trấn Đá Ngầm Đen phía trước rút đi, để lộ thị trấn hoang tàn mà không dám tin vào mắt mình.

“Chuyện gì vậy, mưa đã tạnh? Đã tìm được đường đến thị trấn Đá Ngầm Đen chưa?” Những người khác trên xe hỏi.

“Thị trấn Đá Ngầm Đen… thị trấn Đá Ngầm Đen vừa bị sóng thần ập đến?” Người đánh xe lắp bắp: “Rồi sóng thần lại rời đi.”

“Cái gì?”

Mọi người kinh ngạc bước ra khỏi xe, rồi há hốc miệng trước cơn sóng lớn cứ lùi lại một mét thì lại thấp xuống một chút.

Cảnh tượng đại hồng thủy trong kinh Sáng thế là như thế nào? Đây có phải là phép lạ của Đức Chúa Trời không?

***

John được nhân viên cứu hộ từ thị trấn bên cạnh kéo ra khỏi bùn.

Trước khi bị sóng thần cuốn trôi, mọi người đều ẩn náu ở những nơi khác nhau, nhưng sau khi lũ rút, họ đều nằm trên bãi biển trước bến tàu như những con cá mắc cạn, một nửa hoặc gần hết cơ thể chìm trong cát và bùn, không thể di chuyển.

Nhưng mọi người trên bãi biển vẫn còn sống.

Thị trưởng biến mất, một số ngư dân biến mất, không tìm thấy thi thể nào.

Chiếc quan tài ban đầu chứa mục sư Cornell đã biến mất, người ta nghi ngờ rằng nó đã bị sóng biển cuốn đi.

Nhà thờ bị hư hỏng hoàn toàn, một đầu thánh giá bị lún sâu trong bùn, đầu còn lại đâm qua cửa sổ tầng hai của phòng khám rồi kẹt ở đó.

Thị trấn Đá Ngầm Đen không còn một ngôi nhà hoàn chỉnh, nếu không bị sập thì cũng đổ nát. Bên trong nhà cũng trong tình trạng tồi tệ, nhiều đồ đạc đã bị nước lũ cuốn trôi, ngoại trừ một số đồ đạc cố định trên sàn nhà thì hầu như không còn lại gì.

Người dân thị trấn Đá Ngầm Đen giống như những con khỉ vừa tắm bùn, đứng ngơ ngác trên đường phố đổ nát.

“Nơi này đã xảy ra những gì?”

“Mưa lớn, lũ lụt, trốn đi…”

Cảnh sát trưởng Alson nói như bị mộng du.

“Đá ngầm quái quỷ!”

Một trong những người dân thị trấn hét lên kinh hãi, như thể họ vừa tỉnh dậy sau một cơn ác mộng. Có người ôm đầu ngã xuống đất, trong khi những người khác kêu cứu.

John và chủ quán rượu dìu đỡ nhau, tìm ra bác sĩ Abel đang tự đập đầu vào tường. Rất may trên tường có lớp bùn dày nên bác sĩ không chết, mà chỉ ngất đi.

“Bác sĩ!”

Bác sĩ Abel uể oải mở mắt ra, nhìn thấy khuôn mặt của John, liền hỏi với vẻ mặt xa lạ: “Cậu là ai?”

Sau đó ông ta nhìn đám người điên cuồng trên đường, vẻ mặt càng thêm bối rối.

“Tôi đang ở đâu?”

John buông tay ra, anh không biết mình đang thất vọng hay vui mừng. Không nhớ là điều tốt, đồng nghĩa với việc thoát khỏi ảnh hưởng của tồn tại huyền bí. Nhìn thấy vẻ mặt đau đớn của người dân thị trấn được thay thế bằng sự hoang mang, John biết rằng sự việc thần Biển thức tỉnh đã bị lãng quên, trở thành một bí ẩn khác.

“Đợi đã, tôi nhớ cậu là người sống sót sau vụ đắm tàu Gió Tây, cậu đã bình phục chưa?”

Bác sĩ Abel đột nhiên lên tiếng, sau đó nhìn đống hỗn độn xung quanh, như nghĩ ra điều gì đó, ông ta hưng phấn nói: “Cơn bão này thật khủng khiếp! Chúng ta đã sống sót như thế nào? Tôi hình như đã làm một chiếc khinh khí cầu, đúng, tôi ngồi trên khinh khí cầu, cột mọi người lại với nhau bằng dây thừng, cho nên chúng ta không bị sóng biển cuốn đi! Tuyệt vời, tôi đã tạo ra kỳ tích sống sót sau cơn sóng thần, tôi sẽ gửi nó lên tạp chí khoa học! Nó sẽ gây chấn động thế giới!”

“Nói bậy!” Mặt nữ tu đỏ bừng, cô khàn giọng hét lên: “Là Chúa bảo vệ chúng ta!”

John: “…”

Khoa học và thần học đều khá tốt, nhưng huyền bí học thì tốt hơn hết là nên quên nó đi.

John vô thức sờ vào trong áo mình, nhưng trống rỗng. Bút ký của mục sư Cornell bị mất, tập thư không còn, cũng như con dấu và tấm ảnh của mục sư!

John nhất thời bất lực.

Không hoàn thành được vụ ủy thác.

Tuy nhiên, thị trấn đã hứng chịu một trận sóng thần, đây thực sự có thể xem như nguyên nhân dẫn đến nhiệm vụ thất bại, nó sẽ không ảnh hưởng đến danh dự của thám tử, nhưng anh sẽ không giải quyết được vấn đề tiền thuê nhà.

Còn vấn đề tranh chấp thừa kế liên quan đến khách hàng, ông Brandon, chỉ có thể hy vọng luật sư sẽ làm việc chăm chỉ, dù sao thì John cũng đã bất lực.

“Cậu có sao không?”

Chủ quán rượu thấy thám tử đột nhiên ngồi phịch xuống đất, vẻ mặt như thể đã mất đi ý nghĩa cuộc sống.

“Không có gì, tôi chỉ cảm thấy mọi thứ đều quá không chân thực.” Ánh mắt John trống rỗng, sau đó tựa hồ nhớ tới cái gì, anh nhìn chằm chằm lão Jack: “Ông có nhớ mục sư Cornell đã chết như thế nào không?”

“Ông ấy ngã bệnh vào ngày đầu tiên của cơn bão.” Chủ quán rượu suy nghĩ một lúc rồi nói không chút do dự: “Ông ấy đã quá già, qua đời sau ba ngày lâm bệnh nặng. Chúng tôi cũng đã tổ chức lễ tang cho ông ấy tại nhà thờ, nơi có địa hình tương đối cao, sau đó là trận sóng thần đến… bác sĩ đã cứu chúng tôi bằng khinh khí cầu.”

Tốt lắm, việc trốn trong nhà thờ thay nhau ngủ đã trở thành tình trạng cả thị trấn sợ lũ lụt, và tụ tập tại nhà thờ để cầu nguyện cho mục sư đã khuất.

Rất logic và hoàn hảo.

John không khỏi thắc mắc, đây là sự che giấu và sức mạnh của huyền bí học, hay là do con người rất giỏi tự lừa dối bản thân?

Dù sao thì anh cũng sẽ không bao giờ đến cái nơi chết tiệt này nữa.

John ngồi trong bùn, nhìn lên mặt trời trên bầu trời.

Xung quanh anh, người ta ngơ ngác đi lại, tìm kiếm người thân của mình.

Bác sĩ Abel và nữ tu đang cãi nhau, chủ quán rượu thì đào được bắp cải từ dưới bùn.

Những người cứu hộ ở xa hét lớn: “Biển không có đá ngầm, cũng không có đá ngầm mang mùi lưu huỳnh và trông giống quái vật như người dân thị trấn nói!”
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 15: Phần 2: Bướm Xám Năm 1927, Luân Đôn


<b>Chương 15</b>

<b>Thành phố sương mù</b>

Năm 1927, Luân Đôn.

Sương mù là bóng ma lang thang trên đường phố của thành phố này, những ngọn đèn khí đốt tạo ra ánh sáng mờ ảo.

Những ngôi nhà hai bên đường im lìm trong sương mù, thấp thoáng không rõ trông như từng con quái vật, ánh đèn chiếu sáng trong các ngôi nhà là đôi mắt của chúng đang quan sát thế giới.

“Dừng… tránh ra!”

Một chiếc xe ngựa chạm khắc tối màu lao nhanh suýt tông vào một đứa trẻ đang bán báo, người đánh xe mặc áo khoác ngắn màu đen, tức giận thò đầu ra cho nó một roi.

Đứa bé rất lanh lợi, vừa chạy vừa giữ chặt túi đựng đầy báo.

Sau đó trước mắt bỗng tối đen, thằng bé bán báo đụng phải một người đàn ông trên phố. Sương mù che khuất khuôn mặt người đàn ông, khi cậu bé ngẩng đầu lên, nó chỉ có thể nhìn thấy cổ áo khoác đen dựng đứng.

“Xin lỗi, thưa ông!” Thằng bé bán báo sợ hãi lùi lại một bước. Hôm nay trời lạnh thật, thằng bé nghĩ thầm, quần áo của quý ông này lạnh đến nỗi có cảm giác như sắp đóng băng. Sợ bị đánh, nó rụt cổ lại, chuẩn bị sẵn sàng để bỏ chạy.

Lúc này, một bàn tay đeo găng tay da màu nâu vươn ra trước mặt nó, trên đó có hai đồng xu.

“Một tờ The Times.”

“Vâng thưa ông.” Mắt thằng bé sáng lên, nó nhanh chóng nhận lấy đồng xu. Vì hôm nay sương mù quá dày, bán báo ven đường chẳng được bao nhiêu, nó đánh liều hỏi: “Ông có cần The Daily Telegraph không? Chỉ với một penny thôi, ông có thể xem thêm tin tức, bao gồm cả cuộc phỏng vấn mới nhất về vụ tranh chấp quyền thừa kế của gia tộc Brandon!”

Người đàn ông không nói gì, lấy ra một đồng xu khác.

Thằng bé vui vẻ nhận tiền, rút từ trong túi ra một tờ báo khác vẫn còn mùi mực.

Người đàn ông mở tờ báo ra, ánh sáng mờ mờ ở đây dường như không có ảnh hưởng gì tới y.

Thằng bé bán báo vừa quay đầu lại vừa bước đi, nhưng sương mù dày quá, nó không thể nhìn thấy gì chỉ sau vài bước.

“Ủa?” Nó chợt cúi đầu nhìn tiền trong tay mình, vẻ mặt mờ mịt.

“Sao trong tay mình lại có ba penny? Vừa rồi bán được bao nhiêu tờ báo rồi?” Thằng bé suy nghĩ rất lâu, nhưng chỉ nhớ rằng mình suýt bị tông khi đang băng qua đường, còn đồng xu đó từ đâu ra thì chịu, có lẽ vừa nhặt được.

Trong túi vẫn còn rất nhiều báo buổi sáng chưa bán được, không có thời gian để ngồi yên, thằng bé nhét mấy đồng xu vào túi, cao giọng rao: “Bằng chứng mới trong vụ tranh chấp quyền thừa kế của gia tộc Brandon đây, mau đến xem nào, The Daily Telegraph có ghi lại đầy đủ về vụ án, mỗi tờ chỉ tốn một penny!”

Mặt trời dần dần nhô lên, sương mù tan đi một chút, xe ngựa trên đường phố ngày càng nhiều.

Một cỗ xe ngựa bốn bánh rung chuông đồng dừng lại trên đường.

Người đánh xe nhìn thấy một quý ông đội mũ chóp, mặc áo khoác đứng bên đường, ông ta hơi kinh ngạc, bởi vì những người như vậy thường có người hầu riêng, nếu buổi sáng muốn ra ngoài, người hầu sẽ gọi xe ngựa đến trước cửa nhà. Còn những chiếc xe ngựa công cộng đông đúc và bẩn thỉu thì hoàn toàn không nằm trong suy nghĩ của họ, sao lại có người đứng đợi trên đường?

“Thưa ông, ông có cần xe ngựa không?” Người đánh xe lên tiếng mời khách.

Người đàn ông đang cầm một tờ báo trên tay, như đang đọc nó, y ngẩng đầu lên khi nghe thấy âm thanh. Đôi mắt xanh nhạt ánh lên vẻ nghi hoặc, như thể đang dò xét người đánh xe ngựa.

Đúng lúc người đánh xe cảm thấy hối hận thì người đàn ông nọ cất tờ báo đi, bước đến cạnh xe ngựa.

“Quảng trường Trafalgar, phố Charing Cross.” Y không hỏi giá mà lên xe luôn.

Người đánh xe có hơi bất an, ông ta cảm thấy quý ông này chắc chắn có địa vị cao, mà ánh mắt lại đáng sợ. “Được thưa ông. Đường rất xa, ông có thể nghỉ ngơi trên xe ngựa một lát.”

Chiếc xe lắc lư chạy qua đường lớn phố nhỏ của Luân Đôn.

Đèn khí đốt đã tắt, trên đường có thêm nhiều người đi bộ. Mọi người bước ra khỏi lớp sương mù dày, rồi vội vàng biến mất trong sương mù.

Thành phố này thật đặc biệt… nó có mùi đặc biệt… Nhưng qua cửa sổ xe, không thể nhìn thấy gì nhiều, mùi của tồn tại huyền bí ẩn hiện trong sương mù.

Người đánh xe đột nhiên nghe thấy hành khách của mình gõ vào thành xe, vội vàng tập trung tinh thần chuẩn bị nghe lệnh.

“Trên đường vừa đi qua có thứ gì không?”

Giọng nói của y nhẹ nhàng và điềm tĩnh, mỗi từ ngữ đều nghiêm cẩn, thể hiện sự giáo dục tốt.

Người đánh xe đã ngầm chắc chắn rằng quý ông này có địa vị khác thường, đồng thời cung kính trả lời: “Đó là Hoa viên của phu nhân Dutt, một salon* rất có tiếng ở Luân Đôn.”

<i>* Salon: là một hình thức tụ họp giao lưu, tập trung nhiều người do chủ nhà tổ chức. Salon lần đầu tiên xuất hiện ở Ý vào thế kỷ 16, sau đó phát triển mạnh mẽ ở Pháp trong suốt thế kỷ 17 và 18. Salon là một nơi quan trọng để trao đổi ý tưởng. Nói chung nó là nơi người ta tập trung lại để giao lưu học tập, chứ không phải salon theo nghĩa thời nay.</i>

Gọi là salon, thực chất là kỹ viện cao cấp. Giống như những câu lạc bộ khác ở Luân Đôn, khách cần có người giới thiệu mới được vào. Còn tầng lớp như người đánh xe ngựa thì chỉ có thể lảng vảng quanh cửa vài lần.

“Ông đã đến Hoa viên của phu nhân Dutt chưa? Khung cảnh ban đêm khác với ban ngày, hôm nay sương mù dày quá, rất khó nhận ra…”

Người đánh xe chưa kịp nói xong thì một tiếng hét xuyên thấu từ ngoài đường truyền đến. Sau đó có một loạt tiếng động lớn như có ai đó đang chạy, nhưng không thể nhìn rõ.

Tút, tút… Ai đó đã thổi còi cảnh sát.

Lúc này xe ngựa đã đi qua con đường này, người đánh xe muốn hóng chuyện nhưng lại không có cách nào quay đầu lại.

“Trời ạ, xảy ra chuyện rồi.” Người đánh xe thấp giọng nói: “Có thể là cướp, cũng có thể là giết người.”

“Giết người?”

“Đúng, ở đây trước kia từng xảy ra một vụ án cướp của giết người, xảy ra vào lúc sáng sớm sương mù dày đặc nhất, lúc phát hiện thì thi thể đã cứng ngắc.” Người đánh xe nói xong, thấy hành khách của mình không phản ứng nên lập tức lúng túng giải thích: “Xem đấy, tôi không nên nói những điều làm người ta mất vui như thế, Hoa viên của phu nhân Dutt thật sự rất tốt đấy, có danh tiếng tốt ở Luân Đôn.”

Người đàn ông trong xe vẫn không trả lời, hình như đang ngủ.

Nửa tiếng sau, đã đến phố Charing Cross.

Người đánh xe đang định hỏi số nhà cụ thể thì một chiếc găng tay da màu nâu thò ra khỏi thùng xe với bốn shilling trên đó. Người đánh xe nhận tiền, lén đánh giá vị khách kia.

Người nọ không đợi ông ta thả thang ra, mà nhảy thẳng xuống khỏi xe ngựa. Cổ áo khoác nhung dày lật lên, dáng người cao lớn, tay cầm một cây gậy batoong gỗ trăn có gắn một viên Sapphire trên đầu. Y có chiếc mũi cao, vẻ ngoài điển trai và đôi mắt xanh lam nhạt rất đặc biệt.

“Bánh sau của cỗ xe nên được sửa chữa.” Người đàn ông để lại một câu, rồi bước vào màn sương mù dày đặc.

Người đánh xe rùng mình một cái, phát hiện mình đang đứng sững sờ phía sau xe ngựa.

“Này, anh đang làm gì vậy?” Một chiếc xe ngựa khác đi ngang qua, người đánh xe trên đó thò đầu ra chào.

“Bánh xe của tôi bị hư rồi.”

Người đánh xe trả lời, ông ta nhìn kỹ bánh xe thì phát hiện quả thật có một phần bị lỏng ra, cần phải nhanh chóng sửa chữa, nếu không có thể xảy ra tai nạn bất cứ lúc nào.

“Kỳ lạ, bánh xe bị lỏng kiểu này rất khó phát hiện, làm sao mình biết bánh xe có vấn đề? Mình đưa khách đến phố Charing Cross sao?” Người đánh xe rơi vào tình trạng bối rối, nghi ngờ rằng hôm nay mình vẫn chưa tỉnh táo.

Người đàn ông cầm gậy batoong nạm sapphire đã bước vào phố Charing Cross. Y không dừng lại quá lâu trước những cửa hàng sang trọng, mà đi bộ thẳng đến những con hẻm chật hẹp phía sau các cửa hàng. Con đường dần trở nên kém gọn gàng hơn, nước đọng và vết bẩn xuất hiện trên mặt đường.

Trước cửa một khu chung cư cũ, một người phụ nữ xách giỏ đang tranh cãi với người buôn vải mà hoàn toàn không nhìn thấy có người đang đến gần mình.

“Chưa đến chín giờ đấy!”

Một cái đầu thò ra từ tầng ba của chung cư với mái tóc rối bù, người này dường như muốn nhắc nhở những người bên dưới đừng làm phiền người khác, nhưng vừa liếc xuống đã thấy ngay người đàn ông đội mũ chóp đen đang bước đi rất nhanh.

Cư dân: “…”

Anh bất lực nhìn người đàn ông có đôi mắt xanh nhạt đột nhiên ngẩng đầu lên, sau đó đưa tay nâng vành mũ ra hiệu cho anh.

***

“Chết tiệt, đây là Luân Đôn!”

John nhảy lùi ra khỏi bậu cửa sổ, đi loanh quanh trong phòng. Anh nghe thấy tiếng cầu thang kêu cọt kẹt, có người lên lầu. Nhưng anh cá rằng không ai có thể nghe hay nhìn thấy vị khách thần bí này.

“…Việc này không hợp lý tí nào. Chẳng phải chuyện thị trấn Đá Ngầm Đen đã kết thúc từ lâu rồi sao?” John ôm đầu và lẩm bẩm một mình.

Đã hai năm kể từ khi anh trở về thị trấn Đá Ngầm Đen, sau khi vụ ủy thác thất bại, John cuối cùng cũng không giải quyết được vấn đề tiền thuê nhà vào cuối năm, đành phải từ bỏ căn nhà riêng và tiếp tục nhận ủy thác dưới tên của một đồng nghiệp khác. Anh thường sống ở đây, trong một khu chung cư cũ.

Ngoài mức sống giảm mạnh, chất lượng nhiệm vụ mà anh nhận được cũng giảm sút. Suy cho cùng, không ai tin vào một thám tử thậm chí còn không có nơi ở riêng, phải treo tên ở văn phòng của người khác. Khách hàng trở thành những thương nhân keo kiệt, giáo viên nghèo, nhân viên đánh máy, nhân viên trong các công ty… Dù sao đi nữa, miễn là phí ủy thác khác tốt thì sẽ không đến lượt John.

Không ngờ, trước khi viễn cảnh sa sút của cuộc sống chạm đến đáy, cơn ác mộng từ hai năm trước lại xuất hiện?

Cánh cửa bị gõ hai lần. Không nhẹ cũng không mạnh, rất lịch sự.

John chẳng muốn mở cửa, mà chỉ muốn nhảy thẳng ra khỏi bệ cửa sổ, anh biết một lối thoát an toàn tuyệt đối. Nhưng đối với một số tồn tại huyền bí, chạy cũng vô ích, trốn cũng không được, bây giờ y đã tìm đến cửa rồi, chỉ có thể chịu đựng.

John mở cửa.

“Xin chào, bác sĩ Johnson.” John gọi danh xưng được sử dụng khi họ gặp nhau lần đầu, cố nặn ra một nụ cười gượng gạo.

“Xin chào, ta không phải bác sĩ, anh đã biết.”

Johnson bỏ mũ ra, nhìn quanh phòng. Phòng khách rất nhỏ, có lò sưởi, bàn ăn, một chồng báo và sách, không còn chỗ cho bất cứ thứ gì khác.

Johnson bước tới ghế ngồi xuống, nhìn thám tử đóng cửa lại với vẻ mặt cảnh giác. Tay phải của thám tử vẫn còn đút trong túi quần ngủ, Johnson đoán trong đó có giấu một khẩu súng.

“Cẩn thận cướp cò.” Johnson chân thành nhắc nhở.

John: “…”

Johnson đan hai tay lại, nói chậm rãi: “Ta hiểu cảm giác này, nhìn thấy người mình không muốn gặp, tự hỏi liệu người đó có theo dõi mình không, cứ mãi đuổi theo mình hay không, đúng là rất chán nản.”

“Sao trông ngài có vẻ từng trải thế?” John thắc mắc. Anh phát hiện Johnson dường như bị nghẹn, có biểu hiện kỳ lạ.

Johnson nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, lấy ra một túi tiền nhung màu tím từ trong áo khoác, đặt lên bàn. Sợi dây cột túi đã lỏng ra, có thể thấy rõ bên trong chứa đầy tiền vàng, túi này có khoảng bốn mươi đồng guinea, đây là thu nhập một năm của nhân viên đánh máy.

“Thù lao cho anh vì đã tìm thấy dầu cá voi ở thị trấn Đá Ngầm Đen.” Johnson móc ra một viên hồng ngọc tinh khiết đã được mài giũa sáng bóng từ trong túi: “Đây là tiền đặt cọc, ta còn có một nhiệm vụ khác cần nhờ anh.”

John: “…”

Lòng anh muốn từ chối, nhưng mắt lại không khỏi bị hấp dẫn bởi đá quý và tiền vàng.

“Thú vị đấy, một tồn tại như ngài còn cần tôi giúp gì nữa?” John ngồi đối diện bàn, nhạy bén chỉ ra mấu chốt của vấn đề.

“Bình thường thì không, nhưng ta đã rước về một rắc rối, để không thu hút sự chú ý của nó rồi bị nó phát hiện, hiện tại ta không thể sử dụng sức mạnh của mình.” Johnson nhìn John như thể đang nhìn vào một công cụ vô cùng hữu ích và tiện lợi: “Và anh quả thực là một thám tử rất có năng lực.”

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Những chú thích hoàn toàn vô ích, có thể bỏ qua:</i>

<i>1 bảng Anh = 20 shilling, 1 shilling = 12 penny</i>

<i>Tiền kim loại, 1 bảng Anh = 1 sovereign, còn có một loại tiền vàng gọi là guinea, đắt hơn một chút, giá trị là 21 shilling</i>

<i>Ngoài ra còn có một loại đồng xu, nửa sovereign, tức là nửa bảng Anh, nếu thấy “cho nửa sovereign làm thù lao” trong tiểu thuyết phương Tây, đừng nghĩ nó có nghĩa là xé tờ tiền làm đôi, cũng không bẻ đôi đồng xu, nó chỉ là một loại mệnh giá.</i>

<i>Vào thời điểm đó, 1 bảng Anh có giá khoảng 1.000 nhân dân tệ ngày nay.</i>

<i>Vì vậy, nếu bạn nghĩ kỹ thì, wow, Johnson đã bỏ ra 12,5 để mua hai tờ báo, đắt quá. Đây đã là một tờ báo rẻ tiền sau khi thuế tri thức nước Anh được bãi bỏ vào năm 1855. Trước đó, mua một tờ báo có thể có giá 30.</i>

<i>Ngày nay bạn mua tờ The Times ở ven đường bên Anh, giá khoảng 1 bảng Anh đến 1,5 bảng Anh, nếu quy đổi ra sẽ có giá 8 tệ đến 13 tệ, chưa tính đến sức mua và mức thu nhập, chỉ tính giá cả.</i>

<i>—</i>

<i>Ngoài lề:</i>

<i>Johnson: Thành phố này có gì đó không ổn.</i>

<i>Johnson: Đứng bên đường mà cứ luôn bị nhìn thấy.</i>

<i>Johnson: Buộc phải trả tiền (thật ra không phải) để mua báo + đi xe ngựa</i>

<i>—</i>

<i>Người dịch:</i>

<i>Mò mãi mới ra cái quỷ “sovereign”: nó là đồng vàng nha quý vị, giá trị bằng 1 bảng Anh và có một tí xíu vàng trong nó.</i>

<i>Anh John thực sự l</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 16


<b>Chương 16</b>

<b>Tranh chấp thừa kế</b>

John cảm thấy sau khi Johnson xuất hiện là mình ớn lạnh toàn thân.

Nhưng vì phí ủy thác, anh lại không thể đuổi Johnson ra ngoài, đành phải bỏ thêm mấy khúc gỗ vào lò sưởi để lửa cháy mạnh hơn.

“Mặc dù rất vui khi nghe ngài khẳng định khả năng của mình, nhưng tôi không muốn động đến những tồn tại huyền bí nữa đâu.” John nhấn mạnh, anh không muốn phát điên.

“Việc này không liên quan gì tới tồn tại huyền bí.” Johnson tùy ý thả viên đá quý xuống đống tiền vàng, ánh lửa trong lò sưởi khiến chúng tỏa ra vầng hào quang rực rỡ.

Đôi mắt của John dõi theo vầng hào quang tuyệt đẹp này.

A, thật bi thảm, sự nghèo đói hành hạ tâm hồn anh, buộc anh phải phục vụ cho quỷ dữ… John yếu ớt dựa vào ghế, rút điếu thuốc ra, quẹt diêm rồi châm lửa.

Rít một hơi thuốc thật sâu, John nở một nụ cười xã giao chuẩn mực: “Xin mời nói, thưa ngài Johnson, thám tử luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác giải quyết những vấn đề mà họ không giỏi xử lý.”

Johnson lấy tờ báo y mua trước đó ra, đặt nó lên bàn.

“Việc ta muốn ủy thác kỳ thực có liên quan đến anh… hay nói đúng hơn là đã từng có liên quan.”

Trang mà Johnson mở ra là bản tóm tắt của The Daily Telegraph về một số ngày ra tòa và kết quả của vụ tranh chấp tài sản của gia tộc Brandon, trang này còn có một bức ảnh đen trắng chụp ở lối vào tòa án.

Vụ tranh chấp tài sản thừa kế này đã diễn ra được hai năm. Người đàn ông tỏ vẻ thiếu kiên nhẫn trong ảnh chính là nhân vật chính của vụ việc. Một gã xui xẻo đã bốn mươi tám tuổi rồi mà còn bị họ hàng nghi ngờ là con ngoài giá thú, đồng thời nghi ngờ quyền thừa kế của gã.

Gã cũng là khách hàng cũ của John.

John vội vàng đến thị trấn Đá Ngầm Đen ở Iceland, muốn tìm mục sư Cornell lấy giấy chứng nhận viết tay, để chứng minh nghi thức rửa tội cho ông Brandon này. Kết quả là anh gặp phải sự kiện huyền bí ở thị trấn Đá Ngầm Đen, cuối cùng thị trấn bị sóng thần tàn phá, mục sư Cornell cũng chết, John chỉ có thể tay trắng trở về nước Anh.

Sự nghiệp thám tử của John rơi xuống đáy vì sự cố này. Mặc dù trong mắt người ngoài, sóng thần là một thảm họa thiên nhiên, sức người không thể làm gì được, nhưng sự thật là John đã không hoàn thành nhiệm vụ lấy được tài liệu quan trọng để chứng minh.

Thậm chí, có người còn cho rằng, ông Brandon đã vướng vào tranh chấp thừa kế suốt hai năm qua là vì không kịp nhận được giấy chứng nhận có chữ ký của mục sư Cornell. Sẽ ra sao nếu thám tử được ông Brandon ủy thác hành động nhanh hơn, rời khỏi thị trấn Đá Ngầm Đen trước khi thảm họa thiên nhiên xảy ra?

Vì vậy, trong mô tả của các tờ báo lá cải Luân Đôn, chính vì ông Brandon keo kiệt đã thuê một thám tử dở hơi, gửi lòng tin sai chỗ, nên vụ kiện mới bị kéo vào vũng lầy. Dù không ai biết tên của thám tử này, nhưng điều đó không ngăn cản các phóng viên và nhà phê bình chế nhạo anh ta.

Khuôn mặt của John tối sầm khi đọc được những lời châm biếm cay đắng trên tờ The Daily Telegraph.

Nếu có người khác ngồi trước mặt anh, anh sẽ bảo họ cút ra khỏi căn hộ ngay lập tức.

“Ta rất tiếc, về ảnh hưởng bất lợi mà cái chết của mục sư Cornell gây ra cho anh.” Johnson làm một động tác xin lỗi, nhưng John lại cảm thấy biểu hiện này chỉ là chiếu lệ cho qua.

Johnson nói tiếp: “Vì vậy ta mang đến một khoản phí ủy thác khá khả quan, kèm theo tiền bồi thường. ”

Y lại đặt một túi tiền lên bàn, trong đó cũng có bốn mươi đồng vàng.

John: “…”

“Ta nghĩ anh đã lấy lại bình tĩnh, sẵn lòng nghe về yêu cầu của ta.” Johnson chỉ vào bức ảnh trên báo và nghiêm túc nói: “Ta hy vọng vụ kiện này kết thúc với sự thất bại của Brandon.”

“Cái gì?”

John sửng sốt, cười lớn: “Ngài đang nói cái gì vậy? Tôi chỉ là một thám tử, một thám tử tồi thậm chí còn không có nhà riêng! Tôi không phải là thẩm phán, tôi không thể tác động đến suy nghĩ của bồi thẩm đoàn. Việc này không nằm trong phạm vi công việc của tôi.”

Johnson đợi anh nói xong mới bình tĩnh nói tiếp: “Không, anh có thể thu thập chứng cứ, đi theo Brandon, tìm ra chứng cứ chống lại gã.”

John phản bác: “Các họ hàng của gia tộc Brandon đã làm việc này từ lâu, họ cũng thuê thám tử, nhưng bằng chứng tìm được không đủ xác thực, nên vụ kiện phải hoãn lại đến hôm nay. Ông Brandon là người thông thạo luật, rất có năng lực và không dễ đối phó.”

“Những thám tử kia kém hơn anh rất nhiều.” Johnson trả lời.

Vẻ mặt John phức tạp, tuy lời khen rất hay, nhưng lời khen từ miệng của tồn tại huyền bí lại khiến anh thấy rùng rợn.

“Chỉ là ngài chưa từng gặp nhiều thám tử thôi…”

“Không, ta đã nhìn thấy năng lực của anh ở thị trấn Đá Ngầm Đen. Điều quan trọng nhất là ta biết thân phận thực sự của ông Brandon này.” Johnson hơi nghiêng người về phía trước, giọng nói trầm và mạnh mẽ: “Gã không phải là người thừa kế của gia tộc Brandon, thậm chí còn không phải là con ngoài giá thú, gã là con trai của mục sư Cornell. Hồi đó có người đã dùng đứa trẻ này làm kẻ mạo danh để thay thế đứa con mà gia tộc Brandon nuôi dưỡng ở quê.”

John kinh hãi nhìn Johnson, rồi đọc báo. Thám tử bất ngờ chộp lấy tờ báo và đọc lại nội dung.

Người đầu tiên khởi kiện là cháu trai của Brandon Lớn.

Ông ta cho rằng ông Brandon không có đôi mắt xanh đặc trưng của gia tộc, mà lại có mắt nâu, dù phu nhân của Brandon Lớn cũng có mắt nâu, nhưng ông Brandon trông hoàn toàn khác biệt với những họ hàng của mình. Đặc biệt là phu nhân của Brandon Lớn về quê nghỉ dưỡng khi còn sống, ông Brandon sinh ra ở quê, được đưa về Luân Đôn khi lên 6 tuổi.

Bởi vì ly hôn gần như là điều không thể, lựa chọn duy nhất là ly thân nên việc về quê nghỉ dưỡng thực chất đồng nghĩa với việc mối quan hệ vợ chồng hoàn toàn tan vỡ. Trong tình huống đó, về cơ bản hai vợ chồng không thể có thêm một đứa con nữa.

Các nhà phê bình báo chí còn cho rằng ông Brandon có thể là con của một hầu gái, chứ không thể là kết quả của việc phu nhân Brandon Lớn ngoại tình, vì Brandon Lớn đã nhận gã về.

Ông Brandon, người bị nghi là con ngoài giá thú của hầu gái, đã rất may mắn vì sức khỏe của Brandon Lớn suy sụp nhanh chóng và qua đời vì bệnh tâm thần ngay sau đó. Rồi khi Brandon hai mươi tám tuổi thì anh trai gã cũng qua đời. Là con trai thứ hai, Brandon được thừa kế tài sản và công việc kinh doanh của gia đình.

Gia tộc Brandon là hậu duệ của một gia đình quý tộc. Brandon Lớn là con trai thứ ba của một hầu tước, làm giàu từ nghề vận tải biển, trước đây họ hàng của ông ta giàu có hơn, họ không quan tâm đến đất đai, tài sản mà thương nhân này mua. Giờ thì cuộc sống của nhiều quý tộc rất eo hẹp, thế là mọi chuyện bùng nổ.

Như John đã nói, khách hàng cũ của anh là một nhân vật ghê gớm.

Mặc dù vụ kiện kéo dài hai năm nhưng trong khoảng thời gian này, một thành viên của gia tộc Brandon lên cơn đau tim, một người bị cướp g**t ch*t, và một người khác chết trong một cuộc đấu tay đôi do ghen tuông.

Nhìn bề ngoài, những cái chết này không liên quan gì đến ông Brandon. Ngoại trừ một vụ cướp đó ra, hàng năm có rất nhiều người già chết vì bệnh tim và người trẻ chết trong các trận đấu tay đôi, khó có thể đếm được.

Mặc dù John có nghi ngờ, nhưng anh cũng rất muốn thoát khỏi nhiệm vụ trước đây và cũng lo lắng rằng ông Brandon độc ác này sẽ gây rắc rối cho mình, thế nên anh cố tình tránh xa những điều này, thường trốn khắp nơi.

Giờ đây những thông tin này lần lượt được sắp xếp trong đầu anh, cộng với sự thật mang tính bùng nổ mà anh có được ngày hôm nay, Brandon Lớn được chẩn đoán có vấn đề về tâm thần trước khi qua đời, công ty vận tải biển của Brandon Lớn, bức ảnh của mục sư Cornell và Brandon Lớn, bức ảnh đã mất trong vụ chìm tàu Gió Tây, trả thù, con tàu ma…

Cuối cùng, ánh mắt của John dừng lại trên khuôn mặt của Johnson.

Anh đột nhiên đứng dậy, nói với giọng không thể tin được: “Ngài là đứa trẻ đó, đứa trẻ bị mục sư Cornell đánh tráo!”

Bức ảnh đen trắng và rất cũ nên John không biết mắt của Brandon Lớn có màu gì, trên mặt Brandon Lớn cũng có râu, giờ nhìn kỹ lại thì đường nét khuôn mặt đó quả thực có phần giống Johnson.

Sau khi trở về từ thị trấn Đá Ngầm Đen, báo chí đăng tin tranh chấp quyền thừa kế suốt hai năm, John đã nhìn thấy một số thành viên của gia tộc Brandon và có ấn tượng sâu sắc, nên anh có thể đưa ra kết luận suôn sẻ.

Johnson không hề giống những người này, mặc dù có đường nét khuôn mặt tương đồng. Bọn họ có vẻ đẹp trai và lịch lãm, mặc quần áo đắt tiền và hành động như những quý ông, ấn tượng mà họ tạo ra cho mọi người hoặc là kiêu ngạo và u ám, hoặc là phù phiếm và nóng nảy. So với Johnson, họ vụng về như đống thủy tinh đặt trước một viên đá quý.

“Nhưng, không thể nào… ngài là…” John cảm giác như đầu mình sắp nổ tung.

Johnson là một tồn tại huyền bí, với sức mạnh kỳ lạ và khó lường, sao y có thể là một con người?

Nhưng khi nói đến việc “trả thù”, John đã tận mắt chứng kiến sức mạnh của thần Biển, anh biết rằng việc tồn tại huyền bí có thù hận với con người là điều không thể, con người không có tư cách căm thù thần cổ xưa.

Trong bút ký của mục sư Cornell, tồn tại huyền bí được chia làm hai loại.

Một trong số đó là thần cổ xưa, những chúa tể trong quá khứ, chúng mạnh mẽ và khủng khiếp, nhưng đều đã chìm vào giấc ngủ sâu, tốt nhất đừng chọc giận chúng.

Còn lại là tồn tại huyền bí vừa ra đời không lâu, nói một cách tương đối thì có thể là cách đây hàng chục năm hoặc hàng trăm năm, chỉ cần sử dụng đúng phương pháp là có thể đối chọi lại với ô nhiễm tinh thần của chúng, sức mạnh của chúng có thể được lợi dụng, đáng để con người nghiên cứu.

John không đọc kỹ nội dung phía sau, bút ký cũng đã bị mất trong trận sóng thần cách đây hai năm, nhưng thông tin này quá đủ rồi.

Mục sư Cornell không muốn cướp tài sản của gia tộc Brandon. Mục sư già nhắm tới đứa trẻ sinh ra ở quê, vậy thì đứa trẻ này nhất định có gì đó không bình thường. Thậm chí, mục sư già và cha của đứa trẻ, Brandon Lớn, cũng có thể là đồng lõa!

Mục sư Cornell bỏ trốn quá vội vàng, nên Brandon Lớn đã mang đứa trẻ từ quê về, muốn giữ nó làm con tin. Kết quả là, trước khi tìm được mục sư, Brandon Lớn bỗng lâm bệnh, mà còn là bệnh tâm thần, ông ta không kịp nói cho ai biết sự thật.

Khách hàng của John dám viết thư cho mục sư Cornell vì gã tin chắc rằng mục sư sẽ giúp đỡ mình, thậm chí có thể giúp gã làm chứng trước tòa…

Những kết luận trên lần lượt tuôn ra khiến John choáng váng.

“Cái quái gì vậy? Mục sư Cornell đã làm cái gì? Lẽ nào ông ta đã tìm ra con tàu ma, dùng một đứa trẻ đặc biệt làm trung gian, lên kế hoạch đánh cắp sức mạnh của một tồn tại huyền bí?” John nhìn chằm chằm vào Johnson.

Không khí trong phòng thật quái dị, chỉ có ngọn lửa lặng lẽ cháy trong lò sưởi.

Vẻ mặt Johnson không thay đổi, y giơ tay lên vỗ nhẹ nhàng: “Trước đây ta đã nói, anh là một thám tử xuất sắc, chỉ cần có manh mối đặt ở trước mặt, anh sẽ kết nối được hết thảy, tìm ra chân tướng.”

John nói với vẻ hơi suy sụp: “Ngài muốn tôi tiết lộ sự thật năm đó? Tôi sợ quan tòa sẽ không tin có huyền bí học, cũng không tin có một mục sư đáng kính đã hiến tế cho tà thần với sự đồng ý ngầm của cha đứa bé.”

“Không phải hiến tế.” Johnson sửa lời anh một cách nghiêm túc: “Họ tìm cách thay thế thần, họ phát hiện một tồn tại huyền bí đang ở giai đoạn mấu chốt nhất, chỉ thiếu tâm trí, nên họ tìm kiếm một môi giới, để tồn tại huyền bí hòa nhập với một đối tượng có thể điều khiển được.”

“Và sau đó họ thất bại?”

“Đúng vậy, ngay cả tồn tại huyền bí khiêm tốn nhất, một tồn tại huyền bí chưa trưởng thành, cũng không phải là sự tồn tại mà con người có thể tưởng tượng được.”

Khi Johnson nói điều này, vẻ mặt của y rất bình tĩnh, như thể không liên quan gì đến y.

“Mọi người đều phát điên khi tận mắt nhìn thấy bản thể của con tàu ma, chỉ có mục sư Cornell và Brandon Lớn trốn trong khoang thuyền sống sót nhờ vào một số bùa chú bí ẩn. Ta không phải đứa trẻ đó, ta chỉ có ký ức và cảm xúc của nó, ta đã tìm kiếm mục sư Cornell suốt bốn mươi năm.”

Nếu thần Biển không bị đánh thức bởi cuộc tàn sát của bọn buôn lậu trên đảo hoang Foresier ngày ấy…

Nếu hôm đó tàu Gió Tây mà John đang đi không tình cờ đi ngang qua, bị cơn bão cuốn vào lãnh địa của tồn tại huyền bí, đụng phải con tàu ma…

Thì Johnson hẳn đã không tìm thấy bức thư do kẻ mạo danh Brandon viết cho mục sư Cornell trong hành lý và đồ đạc tùy thân của John, đồng thời tìm thấy bức ảnh.

Johnson cảm thấy hơi mất tự nhiên khi nghĩ đến Gymir.

John đã nhầm lẫn sự thay đổi tinh tế trong biểu cảm này, nghĩ rằng Johnson rất để tâm đến kẻ mạo danh.

“Được rồi, ngài muốn tên này thất bại thảm hại, mất đi tất cả? Ngài đang trông cậy vào cuốn nhật ký Brandon Lớn để lại hoặc là một thứ quỷ quái nào đó mà ai biết được là cái gì?” John vẫn hơi khó hiểu hỏi: “Xin lỗi, nhưng ngài không thể đứng ra thừa kế tài sản được.”

“Brandon Lớn còn một đứa con gái.”

Johnson lấy trong túi ra một nắm ngọc lục bảo khác, nhấn mạnh: “Một người phụ nữ vừa lấy chồng ba năm đã phải ở góa, nếu cô ta chịu từ bỏ đám họ hàng khắc nghiệt và số tài sản ít ỏi đến tội nghiệp của người chồng đã chết, cùng con cái đổi về họ Brandon, thì cô ta sẽ có đủ tư cách để thừa kế tài sản của gia đình Brandon Lớn hơn bất kỳ người họ hàng nào khác.”

“Nhưng bà ta…”

John vô thức vặn lại, rồi đột nhiên nghĩ tới điều gì đó. Chỉ hai năm trước, nước Anh đã đưa ra luật thừa kế mới, phụ nữ cũng có thể trở thành người thừa kế tài sản.

“Ta không quan tâm đến tiền bạc của nhà Brandon, tiền tài của con người không có ý nghĩa gì với ta, nhưng ta không muốn những thứ này rơi vào tay tên Cornell đó. Có lẽ ta có thể giết gã một cách dễ dàng, khiến gã phát điên, nhưng điều đó sẽ rất nhàm chán, gã nên đánh mất mọi thứ trong lúc tỉnh táo.”

Johnson đặt mười mấy viên ngọc lục bảo lớn nhỏ lên đống tiền vàng, để chúng tạo thêm vầng hào quang tuyệt đẹp cho căn hộ chật hẹp và tồi tàn này.

Johnson đứng dậy, đội mũ và gật đầu lịch sự với John đang choáng váng: “Nếu anh không sẵn lòng nhận lời ủy thác của <i>ác quỷ</i>, hãy coi đó như việc đi tìm công lý cho một đứa trẻ chỉ sống được sáu năm nhưng đã phải chịu quá nhiều bất hạnh. Anh có thể tìm ra điểm đột phá từ cái chết của người con trai cả của Brandon Lớn cách đây hai mươi năm, đó cũng là một tội ác ẩn giấu phải không? Tạm biệt.”

Cánh cửa được đóng lại.

Chỉ còn lại John đang choáng váng cùng những đồng tiền vàng và đá quý phủ đầy trên bàn.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Thám tử: Mẹ kiếp, sao cho nhiều quá vậy.</i>

<i>………</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 17


<b>Chương 17</b>

<b>Xế chiều</b>

John hoàn hồn, nhanh chóng đi đến cửa sổ nhìn xung quanh, đường phố vắng tanh, không còn bóng dáng của Johnson.

Cạch.

Cửa sổ đóng lại, tiếng thở dài của thám tử vẫn thoáng vang lên.

Giống như việc một chủ tàu bất ngờ nhận được một đơn hàng lớn trước khi tàu ra khơi, muốn nhận nhưng lại lo ngại rủi ro.

Johnson đứng trong bóng tối của ngôi nhà, dùng mái hiên để ẩn mình. Kỳ thật y có thể trực tiếp biến mất tại chỗ, nhưng lúc này Johnson không muốn dùng sức mạnh của mình.

Johnson cẩn thận lắng nghe những âm thanh trong nhà, thính giác của y vượt xa con người. Y nghe thấy tiếng ghế được kéo ra, tiếng bước chân rời khỏi cửa sổ, tiếng loạt soạt khi John đang lật báo, tiếng sàn sạt khi anh tìm cuốn sổ để ghi lại những thông tin hữu ích.

Johnson rời khỏi cái bóng của điểm mù này, đi dọc theo con hẻm hẹp sang một con đường khác đông người hơn.

Những người phụ nữ xách giỏ cười nói rôm rả, họ có thể là vợ của nhân viên công ty nào đó, hoặc có thể là hầu gái của các gia đình trung lưu. Bây giờ là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong ngày của họ, nhân cơ hội đi chợ mua đồ ăn, họ trao đổi những điều thú vị về cuộc sống, nghe những câu chuyện phiếm.

Không ai nhìn thấy Johnson, nhìn thấy một quý ông ăn mặc vô cùng bắt mắt đi ngang qua.

Đột nhiên, một cánh cửa bên đường mở ra, người thợ giặt bước ra đẩy một chiếc xe gỗ nặng chở quần áo đã giặt và ủi.

“Túi quần áo này được giao đến nhà ông Motta ở số 24, năm túi này ở căn hộ bên đường…”

Những người thợ giặt mặc những chiếc váy quây bạc màu tụ tập ở đó để chờ công việc hôm nay.

Một cô bé gầy gò cố gắng chen vào nhiều lần, nhưng bị những người phụ nữ cao lớn và khỏe mạnh đẩy sang một bên. Trông nó chỉ trên dưới 10 tuổi, tóc và mặt đều ngả vàng, các ngón tay đều bị tê cóng.

“Ủa?”

Cô bé ngạc nhiên quay đầu lại, nhìn người đàn ông mặc áo khoác nhung dày cầm gậy batoong khảm sapphire.

Johnson chú ý đến ánh mắt của nó, vẻ mặt hơi thay đổi khi quay đầu lại.

Quần áo của nó toàn những mảnh vá, nhưng đường khâu đều đặn và khéo léo khiến nó trông như hoa văn trên váy. Trên khuôn mặt gầy gò vàng vọt của cô bé hiện lên vẻ kinh ngạc và sợ hãi, hiển nhiên là nó rất tò mò về việc Johnson xuất hiện trong con hẻm này. Cơ thể nó khẽ run lên, không biết là do lạnh hay là do tiếp xúc với ánh mắt lạnh băng của Johnson.

Johnson nhìn thấy một con bướm màu trắng xám đậu trên trán cô bé, những sợi chỉ màu tím sẫm đan xen khắp cơ thể nó.

Con người không thể nhìn thấy những thứ này, bản thân cô bé cũng không biết. Đây là sự ô nhiễm. Những xúc tu sức mạnh của một tồn tại huyền bí nào đó. Cô bé đã bị ô nhiễm, cơ thể nó đã xuất hiện những biến đổi.

Johnson: “…”

“Eileen, em đang làm gì thế?” Người bạn của cô bé nhận thấy nó đang ngơ ngác nhìn ra đường, bèn vội thúc giục.

“Chị không thấy ở đó…”

“Ở đó thì sao?”

Cô bé tên Eileen cuối cùng cũng nhận ra rằng xung quanh không ai có thể nhìn thấy Johnson, nó sợ hãi như một con thỏ, nhanh chóng nhảy vào góc đường rồi không dám thò đầu ra.

“Eileen em không khỏe sao? Chị đã nói rồi, đừng chơi với những kẻ lập dị đó, đừng tin là bất cứ dị giáo nào có thể bảo vệ em, rất nguy hiểm. Những kẻ đó chỉ muốn lừa tiền, hoặc bắt cóc những cô gái trẻ như em rồi bán cho những nơi bẩn thỉu…”

“Tôi thấy họ vẽ những con bướm trên tường.”

“Người ta nói nếu nhận được sự phù hộ của thần linh thì sẽ lột xác… Nghe đi, toàn là chuyện vớ vẩn. Cầu Chúa phù hộ, đám tín đồ dị giáo này nên bị thiêu chết.”

Johnson lắng nghe cẩn thận những lời bàn tán này.

Y không đi tìm Eileen đang ẩn náu, cũng không cố gắng truy tìm bản thể của tồn tại huyền bí này thông qua các xúc tu sức mạnh của nó, mà bước thẳng ra khỏi con phố.

***

Một con bướm xám đậu trên vai cô bé.

Đôi cánh của nó rắc bột vảy* trong suốt xuống, tất cả đều được hấp thụ vào cơ thể cô bé.

<i>* Xuất phát từ loài côn trùng thuộc Bộ Cánh vảy (danh pháp khoa học: Lepidoptera), gồm bướm (bướm ngày, bươm bướm) và ngài (bướm đêm). Các loài cánh vẩy có hơn ba đặc điểm thừa hưởng đặc trưng. Nổi bật hơn cả là lớp vảy phủ khắp thân mình, cánh và vòi.</i>

***

Đây chính là tồn tại huyền bí ẩn mình trong làn sương mù dày đặc của thành phố Luân Đôn?

Johnson vừa đi vừa nghĩ.

Đánh giá từ sức mạnh, nó dường như là một vị thần mới. Ý thức của nó còn chưa phát triển đầy đủ, không biết cách che giấu, cũng không biết cách nhận biết mùi đồng loại. Nhưng nó có tín đồ, còn có những người đang phát triển tín ngưỡng một cách nghiêm túc.

Tà thần hoàn toàn không cần tín ngưỡng, dù là tồn tại huyền bí mới ra đời hay thần cổ xưa.

Vậy câu trả lời chính xác là có ai đó đã phát hiện ra sự tồn tại của Bướm Xám, đồng thời thông qua nghi lễ hay một vài ký tự huyền bí nào đó để mượn sức mạnh huyền bí của Bướm Xám.

Đối với tín đồ, phép lạ là có thật.

Cái giá là chịu bị ô nhiễm từ tà thần.

Có điều… Sự ô nhiễm này hơi kỳ quái.

Johnson dùng ngón tay cái tay phải xoa viên sapphire trên đầu cây gậy batoong, cảm thấy tò mò.

“Không, ta không thể đến gần các loại đồng khác được.” Johnson tự nhủ.

Sức mạnh của vị chúa tể xa xưa là không thể tưởng tượng được, Johnson cũng không biết phạm vi năng lực của thần cổ xưa rộng đến mức nào, y chỉ có thể chạy trốn, làm mọi cách để che giấu bản thân.

Nhiều lúc Johnson có cảm giác như Gymir cách mình không còn xa nữa.

Là con mồi, đó là thời điểm nguy hiểm nhất là khi không thể nhìn thấy thợ săn. Bởi vì không biết đối phương đang ẩn nấp chuẩn bị phục kích hay đã từ bỏ cuộc đi săn.

***

Bốn giờ chiều, mặt trời đã đánh mất sức mạnh của nó. Sương mù như bóng ma đi rồi lại về, trôi lững lờ rồi tụ lại trên đường phố từ mọi hướng, chuẩn bị bắt đầu một lễ hội thâu đêm mới.

Ở một góc nào đó trong thành phố này, một đứa bé bán báo chạy đến hàng bánh mì với cái túi rỗng. Nó hy vọng có thể bắt kịp thời gian giảm giá của người bán bánh mì, để với số tiền mua bánh mì kém chất lượng, nó có thể mua được bánh từ bột mì hết hạn mềm hơn.

Những ngón tay của nó đỏ bừng vì lạnh, đút vào túi, vuốt qua bề mặt trơn nhẵn của những đồng xu. Hôm nay buôn bán tệ quá, sau khi trả lại số báo chưa bán được, nó chỉ còn lại năm penny.

Thằng bé bán báo đã ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng từ tiệm bánh mì, mặt nó cũng rất tự nhiên hiện lên sự mong đợi, sau đó nó cứng đờ tại chỗ như hóa đá.

Không chỉ nó, tất cả mọi người trên đường đều ngừng di chuyển.

Người đang gây gổ trừng mắt nhìn nhau một cách giận dữ, nét mặt hay ánh mắt đều không thay đổi; độ cong của bờm con ngựa kéo xe ngựa công cộng bốn bánh không hề thay đổi, một vó bước ra thậm chí còn dừng lại giữa không trung.

Một kẻ quái dị mặc áo choàng đen đột nhiên xuất hiện trước mặt thằng bé bán báo.

Chiếc áo choàng rất lớn, trông hắn như một nhà chiêm tinh Gypsi**, loại người bí ẩn che kín mình từ chân đến tóc.

<i>** Cũng là Người Romani/Digan.</i>

“…Là ngươi.”

Cách phát âm lạ, nhả chữ không rõ ràng. Rõ ràng là âm sắc rất hay nhưng nghe có vẻ không giống đang nói tiếng Anh.

Nói cách khác, người đàn ông Gypsi bí ẩn này đã dùng thực lực của mình để biến tiếng Anh thành một ngôn ngữ xa lạ chưa được biết đến.

Nếu lắng nghe cẩn thận giọng nói này, ý thức sẽ dần mất đi…

Người Gypsi đưa tay ra từ trong áo choàng, trong lòng bàn tay có ba đồng penny.

“Đây là tiền lẻ ngươi thối cho một người khác, ngươi lấy những đồng xu này từ ai?”

Người Gypsi nói với giọng rất nghiêm túc, dường như hắn hiếm khi tiếp xúc với những nghề này, mọi sự việc và mọi người đều mới mẻ. Ngay cả việc lưu hành tiền xu cũng được hắn nói bằng giọng nghiêm trang trịnh trọng, như tòa án đang tuyên án.

Hắn cũng tạo ra hiệu ứng bóng tối lạ thường, không thể nhìn thấy khuôn mặt hắn từ mọi góc độ.

Mặc dù có lòng bàn tay thò ra khỏi áo choàng, nhưng không thể phân biệt được màu da. Bởi vì lòng bàn tay ban đầu duỗi ra chỉ là một vật tròn màu đen không có ngón tay nào cả. Sau đó người Gypsi dường như nhớ ra điều gì đó, chậm rãi biến thành hình dạng lòng bàn tay tiêu chuẩn của con người. Toàn màu đen, không có sự phân biệt giữa móng tay và ngón tay, giống như hắn đang đeo một chiếc găng tay lụa mỏng màu đen.

Ba đồng xu nằm trên trên găng tay phát ra ánh sáng yếu ớt khi đến gần thằng bé bán báo.

“Thì ra chính là ngươi, em ấy đã đã lấy… hai tờ báo từ tay ngươi?” Người Gypsi lẩm bẩm.

Thằng bé bán báo như một bức tượng đá, không phản ứng.

Người Gypsi thản nhiên tung những đồng xu lên, chúng biến mất, hai tờ báo xuất hiện trên tay hắn. The Daily Telegraph và The Times. Bức ảnh đen trắng có tiêu đề thu hút sự chú ý của người Gypsi, hắn đọc báo một cách cẩn thận, như thể đang nghiên cứu một đề tài khoa học cao siêu nào đó.

Người Gypsi bước vài bước rồi biến mất tại chỗ.

Mọi thứ trở lại bình thường, không ai nhận ra rằng thời gian đã dừng lại.

Tiếng chuông đồng của xe ngựa công cộng tiếp tục vang lên, thằng bé bán báo siết chặt những đồng xu trong túi chạy đến tiệm bánh mì.

***

Sương mù ngày càng dày, sau khi đèn khí đốt được thắp lên, không khí trong thành phố càng trở nên tồi tệ hơn, mắt thường có thể nhìn thấy một lớp tro đen.

Nhưng đây là thời điểm bận rộn nhất, những chiếc xe ngựa chạy trên đường đưa các quý ông quý bà đáng kính đến các câu lạc bộ và những vũ hội lộng lẫy.

“Nhanh lên.” Ai đó lớn tiếng thúc giục người đánh xe.

“Xin lỗi thưa ông. Hôm nay sương mù dày quá, ngựa không thể chạy nhanh, sẽ rất nguy hiểm.”

Người đánh xe ngựa thuê cẩn thận trả lời, ông ta mới sửa bánh sau vào trưa hôm nay nên không dám đi quá nhanh.

“Đến đâu rồi?” Hành khách thò đầu ra nhìn nhà cửa chìm trong sương mù, cố xác định vị trí của hiện tại.

Người đánh xe báo tên phố, hành khách buồn bực nói: “Quên đi, không đến câu lạc bộ bài bridge nữa, tôi không muốn lãng phí nửa tiếng trên đường, quẹo vào Hoa viên của phu nhân Dutt ở góc đường tiếp theo.”

Người đánh xe ngơ ngác, sao ông ta lại cảm thấy hình như Hoa viên của phu nhân Dutt có chuyện? Lạ thật, hôm nay ông ta chưa đi qua đó!

Người đánh xe quyết định không nhắc tới, hôm nay ông ta bận sửa bánh xe, sửa xong thì đến tối phải lo tìm cơ hội tốt để kiếm tiền, không có thời gian dừng lại ở quảng trường nói chuyện với đồng nghiệp, thế là ông ta không biết chuyện gì mới lạ đã xảy ra ở Luân Đôn hôm nay.

Xe nhanh chóng tới hoa viên nổi tiếng ở Luân Đôn, điều đáng ngạc nhiên là có vài chiếc xe ngựa khác chặn ngang ngã tư.

“Lại sao nữa?” Hành khách rất giận dữ hỏi.

“Hình như có chuyện rồi thưa ông.”

Hòa viên của phu nhân Dutt chỉ từ chối tiếp khách vào một số ngày nhất định, còn hôm nay hiển nhiên không phải là ngày nghỉ. Những người đến mua vui đều bị chặn lại ngay bên ngoài.

“Xảy ra chuyện gì? Phu nhân Dutt đâu? Tôi muốn nghe lời giải thích của chính bà ấy!” Một người đàn ông có ria mép tức giận nói.

Đối diện ông ta là một cảnh sát tuần tra đang giải thích điều gì đó.

Từ trong màn sương, người Gypsi mặc áo choàng đen thật lớn chậm rãi bước ra.

Hắn vẫn cầm tờ báo trên tay nhưng đã lật từ trang nhất tin tức sang chuyên mục thể thao về đua ngựa.

Hắn đột nhiên ngẩng đầu lên, cả con phố chìm trong im lặng chết chóc, tựa như ánh mắt của Medusa vừa lướt qua mọi người ở đây.

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Gymir: Vùi đầu học tập…</i>

<i>Mở khóa hóa thân số 2, Tiểu Hắc, khụ, là chúa tể bóng đêm.</i>

<i>Kỹ năng: dừng thời gian, theo dõi dấu vết.</i>

<i>—</i>

<i>Người dịch:</i>

<i>Ten ten ten tèn, anh công đuổi tới nơi rồi, kỹ năng siêu ngầu, siêu nhiều luôn.</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 18


<b>Chương 18</b>

<b>Theo dõi</b>

Con phố biến thành bảo tàng tượng sáp.

Mọi người giữ nét mặt sống động, dừng lại trong giây phút đó. Cảnh này thật kỳ diệu, có thể thấy nhiều chi tiết nhỏ mà bình thường không để ý.

Cảnh sát tuần tra chặn một người đàn ông ria mép có địa vị cao, miệng giải thích nhưng ánh mắt lại lộ vẻ thiếu kiên nhẫn.

Người đàn ông có ria mép tỏ ra ngạo mạn, vì coi thường cảnh sát tuần tra nên mắt không hề dừng lại ở người đối diện, cũng không để ý đến “sự châm chọc của kẻ thấp kém”. Ông ta đang đi trên một chiếc xe ngựa riêng, do một người hầu đánh xe.

Người hầu liếc nhìn viên cảnh sát tuần tra, nhận thấy anh ta có sự “thiếu tôn trọng” đối với chủ nhân của mình, bèn liền cúi người về phía trước, chuẩn bị mách lẻo với chủ nhân.

Hoa viên của phu nhân Dutt là một ngôi nhà rất đẹp, nhưng bây giờ không khí rất kỳ lạ, chỉ có sảnh tầng một là có đèn. Qua tấm kính, có thể nhìn thấy một nhóm phụ nữ với vẻ mặt sợ hãi. Xung quanh nhà có người canh gác, đặc biệt là ở cửa ra vào và cửa sổ, họ không được phép rời đi.

Hiển nhiên là có chuyện gì đó cực kỳ bất thường đã xảy ra ở đây, nên nó bị phong tỏa.

Người Gypsi khoác áo choàng cũng bị ngôi nhà này thu hút, hắn cất tờ báo, duỗi những ngón tay đen thui của mình ra, nắm hờ trong không trung.

Sương mù bao phủ khu vườn lập tức bắt đầu thay đổi, tạo thành một thứ gì đó giống như một bức màn chiếu phim, khung cảnh hiện ra như một tấm gương. Thế giới chết chóc cũng thay đổi theo những cái bóng đó, những âm thanh rõ ràng vang lên.

“Cứu với, mau tới đây! Bác sĩ, chúng tôi cần bác sĩ ở đây!”

Một bộ phim bắt đầu được trình chiếu phía trên Hoa viên của phu nhân Dutt:

Một nhóm phụ nữ mặc váy lót, tóc rối bù đang kinh hoàng chạy trên hành lang. Cửa mở rộng, trong phòng có một người đàn ông không mặc gì nằm trên sàn, úp mặt trên một vũng máu đã khô cứng, còn trên giường là một cái kén lớn, tơ trắng xám quấn trên cột giường tấm màn.

Cái kén trong suốt, bên trong có một hình người đang cuộn tròn, ôm đầu gối.

Một người phụ nữ.

Bột vảy màu tím lơ lửng trong phòng, khiến cho khung cảnh kinh hoàng này có vẻ được nhuộm thêm sắc màu mộng mơ.

Có người định vào kiểm tra, nhưng đi được vài bước thì bất tỉnh ngãn huỵch xuống, một đám người chen chúc ở cửa. Tiếng la hét ngày càng lớn, sau đó là tiếng còi cảnh sát vang lên.

Đây có lẽ là những gì đã xảy ra sáng nay. Ngôi nhà bị một loại sức mạnh huyền bí nào đó xâm chiếm.

Tách.

Ảo ảnh biến mất.

Thực chất, nội dung của “phim ngắn” chưa chiếu xong, nhưng nó đã bị bóng đen trong áo choàng đánh tan. Người Gypsi giống như một khán giả khó tính chỉ dừng bước để xem phần đầu của vở kịch mới, nhưng rồi nhanh chóng mất hứng thú, quay đi không chút do dự. Hắn không đến gần ngôi nhà mà đi qua những bức tượng sáp với vẻ mặt khác nhau, về phía ngã tư có đèn khí đốt.

Một chiếc xe ngựa cho thuê dừng ở đó, người đánh xe thò đầu về phía trước, như muốn nhìn rõ chuyện gì đang xảy ra trong hoa viên. Hành khách trên xe nghiêng người dựa vào cửa sổ, nhướng mày nhìn cảnh sát tuần tra và người đàn ông có bộ ria mép trước mặt, trông như đang xem một vở kịch hay.

Bóng đen lướt qua đèn khí đốt.

Bốn đồng bạc bay ra khỏi túi người đánh xe, đáp xuống lòng bàn tay màu đen. Người Gypsi thử xác định mệnh giá của đồng xu.

Shilling và penny có kích thước khác nhau, màu sắc cũng khác.

Giá xe ngựa cho thuê ở Luân Đôn là cố định, trong phạm vi trung tâm thành phố là 1 shilling, sau đó giá sẽ tăng thêm 6 penny mỗi dặm Anh. Vì việc tính toán quãng đường quá rắc rối nên người Luân Đôn thường nhớ khoảng cách giữa các công trình kiến trúc tiêu biểu. Nghe có vẻ dễ dàng, nhưng đối với người ngoài thì lại rất rắc rối.

Soạt.

Tờ báo biến mất, thay vào đó, trên tay người Gypsi có thêm một tấm bản đồ Luân Đôn.

Trên đó có đủ loại đường nét và ghi chú phức tạp khiến người ta choáng váng, nhưng người Gypsi không hề bị ảnh hưởng chút nào, dường như hắn có thể dễ dàng tìm ra manh mối mình muốn từ nó, mặc dù trước ngày hôm nay, hắn chưa từng nhìn thấy tấm bản đồ này.

Đồng xu phát ra ánh sáng dìu dịu.

“… Em ấy trả bốn shilling tiền xe.” Người Gypsi tự nhủ.

Sau đó hắn liếc nhìn hành khách trên xe ngựa, hình như thấy anh chàng này chướng mắt nên đưa tay kéo luôn anh ta xuống. Nhẹ nhàng và nhanh chóng, dễ dàng như hái một quả táo từ trên cây.

Sau đó người Gypsi lên xe, tiếp tục nghiên cứu bản đồ với bốn đồng xu.

Về phần người hành khách kia, anh ta đang tựa vào bánh xe, vẻ mặt vẫn còn giữ nguyên sự hả hê khi chứng kiến trò hề của ai đó, trông hết sức buồn cười.

“Chuyến đi rất dài lắm, em ấy vẫn luôn ngồi trên xe?”

Người đàn ông mặc áo choàng đen ngồi trên ghế xe ngựa cứng ngắc, quay người nhìn về phía cửa sổ, từ từ duỗi thẳng người, như muốn cảm nhận cảm giác nghỉ ngơi trong xe ngựa là như thế nào.

Sau đó một cảnh tượng kỳ lạ xảy ra, chiếc áo choàng càng lúc càng lớn, giống như cục bột đột nhiên lên men và nở ra, đầu tiên lấp đầy các ghế ngồi, sau đó lan ra cả chiếc xe.

“…”

Có lẽ nhận ra rằng đây không phải là cách đi xe ngựa đúng đắn, hoặc việc ngồi trên xe ngựa thực sự không thú vị, chiếc áo choàng nhanh chóng co lại, trở về hình dạng con người.

Những đồng tiền tỏa sáng lấp lánh, như đang dẫn đường.

Người Gypsi nhảy xuống khỏi xe ngựa, mang theo bản đồ và đồng xu đi sâu vào màn sương dày.

“Ơ?”

Đầu hành khách đập mạnh vào bánh xe, anh ta lập tức đau đớn hét lên.

“Thưa ông?” Người đánh xe giật mình, thầm nghĩ dù có thò đầu ra xem trò vui cũng không cần vội vàng như vậy, ngã xuống rồi kia kìa.

“Sao tôi lại ở đây?” Hành khách tỏ vẻ khó hiểu, nhìn lại bánh xe và chiếc áo khoác đầy bụi bẩn của mình, anh ta cảm thấy mất mặt, sợ bị người quen nhìn thấy, vội vàng quay người leo lên xe. Anh ta không dám tiếp tục xem trò vui nữa, vội vàng thúc giục người đánh xe: “Đưa tôi về nơi tôi lên xe hôm nay!”

Người đánh xe tiếc nuối liếc nhìn cuộc tranh cãi ở phía xa, quyết định ngày mai phải tìm hiểu xem ở đây xảy ra chuyện gì.

Sau khi xe đổi hướng và lên đường, người đánh xe cảm thấy tiếng đồng xu leng keng trong túi không đúng lắm, hôm nay ông ta không đi được mấy chuyến, hiển nhiên là kiếm được ít tiền hơn. Ông ta vội vàng sờ túi, phần lớn tiền xe phải trả cho hãng xe, nếu mất tiền thì sẽ là chuyện lớn. Người đánh xe đếm đi đếm lại, phát hiện thiếu bốn shilling, lo lắng đến nỗi mồ hôi đầm đìa.

Cỗ xe chạy càng lúc càng chậm, lúc này túi của người đánh xe bỗng nặng trĩu, dường như có vật gì vừa rơi vào. Ông ta vô thức sờ thử, bốn shilling mà vừa rồi tìm mãi không thấy đã hiện ra.

“…”

Người đánh xe chợt nhớ ra sáng nay hình như mình đã chở một vị khách, nhận bốn shilling, sau đó không sao nhớ được dáng vẻ của khách, rồi bánh xe bị hư, đến tối bắt đầu chạy xe thì lại gặp chuyện kỳ lạ, nhưng tiền có thể biến mất rồi quay về nữa à?

Người đánh xe run rẩy, ông ta thầm quyết định chở xong vị khách này thì về nhà ngay lập tức, ngày mai đến nhà thờ cầu nguyện!

***

Người Gypsi đứng ở nơi Johnson đã xuống xe.

Phố Charing Cross, dãy cửa hàng tỏa ra ánh đèn ấm áp.

Bầu không khí ở thành phố này vẩn đục, phức tạp, như một mê cung.

Nó lớn gấp nhiều lần khu định cư lớn nhất của con người trong ký ức của thần cổ xưa, đồng thời nó cũng trộn lẫn thêm nhiều mùi vị mà thần cổ xưa chưa từng ngửi thấy trước đây, có khói đen từ các nhà máy và khói bụi từ đèn khí đốt, nước thải từ các nhà máy dệt và nhà máy giấy, còn có rượu, thuốc lá, nước hoa…

Ba loại cuối cùng có mùi thơm tuyệt vời đối với con người, nhưng trong cảm nhận của thần cổ xưa, chúng chỉ là thứ mùi phức tạp xác của các loài thực vật khác nhau trộn lẫn rồi lên men.

Thành thật mà nói, nó rất sáng tạo. Chúng cho phép con người tỏa ra những mùi hương khác nhau, làm tăng thêm niềm vui khi quan sát.

Con người đi lại trong những thành phố phức tạp và chật hẹp như mê cung (theo góc nhìn của thần cổ xưa). Cũng giống như con người quan sát tổ kiến trong tự nhiên, những con côn trùng nhỏ bé này có cấu trúc xã hội hoàn chỉnh, có thể giao tiếp, phân công lao động và hợp tác, được phân chia thành kẻ thống trị và những người lao động.

Những con côn trùng ở tầng lớp thấp sẽ có mùi nguyên thủy và tuổi thọ ngắn, chúng cố gắng hết sức để cung phụng cho đồng loại ở tầng cao hơn của tổ kiến, cho đến khi chết đi. Những con kiến thượng lưu thoải mái hưởng thụ thì thích thú thêm vào mình những mùi hương lên men để thể hiện địa vị khác biệt, địa vị càng cao thì càng có nhiều chất phụ gia tạo mùi. Tổ kiến cũng đang làm việc chăm chỉ để tạo ra những thứ có mùi này, lũ kiến thì điên cuồng theo đuổi chúng.

Trong bóng tối bị sương mù bao phủ, ánh mắt người Gypsi lướt qua một gã đàn ông say rượu ở một góc hẻm.

Đó là loại rượu tệ nhất, thứ có thể g**t ch*t con người nếu uống quá nhiều. Quần áo của gã đàn ông bẩn thỉu rách rưới, thân hình gầy gò, nếu thể chất của một người bình thường là 50 thì tên này chắc chỉ có 10, hắn là loại vô dụng và yếu đuối trong loài kiến. Dù nghèo khó, yếu đuối, bất tài nhưng vẫn phải chìm đắm trong rượu chè.

Có lẽ con người sinh ra đã không thể cưỡng lại được chất tạo mùi!

Người Gypsi ngẫm nghĩ rồi tiếp tục nhìn vào bản đồ.

Tổ kiến này cũng khá phức tạp đấy. Ngoài cấu trúc nhiều lớp trên mặt đất, nhiều con đường cũng được mở ra dưới lòng đất.

Phố Charing Cross nằm ở khu vực thịnh vượng nhất thành phố, có quá nhiều con đường để đi lại, cũng quá nhiều người.

Mùi còn lưu lại trên bốn đồng tiền kia chỉ có thể dẫn đường đến đây.

“Hử?”

Người Gypsi quay đầu lại, hắn lại ngửi thấy mùi của con bướm đó. Thành phố này là tổ bướm? Sau khi đánh giá độ mạnh yếu của luồng khí này, người Gypsi lại cúi đầu tiếp tục nghiên cứu bản đồ. Yếu đến mức có thể bỏ qua.

Bóng đen trong áo choàng đi xuyên qua màn sương, những nơi hắn đi qua rơi vào im lặng chết chóc, sau đó trở lại bình thường.

Nếu ai đó đứng từ trên không trung của Luân Đôn nhìn xuống sẽ phát hiện ra hiện tượng kinh hoàng này, biết rằng có thứ gì đó khủng khiếp đang đi lại trên đường phố của thành phố này.

Người Gypsi đang bước đi thì bỗng cơ thể phình to, biến thành một cái bóng, như một con dơi đen khổng lồ bay sát mái hiên. Nó di chuyển rất nhanh, trong nháy mắt đã đi qua nhiều con phố và ngõ hẻm, rồi lặng lẽ đáp xuống trước cửa sổ tầng ba của một chung cư tồi tàn.

Các cửa sổ được che bằng những tấm rèm dày, trên kính có những vết bẩn cũ, thông thường, người phía bên kia đường sẽ không thể nhìn thấy được những gì bên trong khe hở trên tấm rèm, nhưng…

Cái bóng co lại thành kích thước của một trái bóng cao su, lơ lửng giữa không trung.

Người trong nhà đang ngồi ở bàn viết cái gì đó, dưới chân anh có rất nhiều tờ báo cũ chất đống, vài mảnh giấy và tin tức cắt rời được ghim trên tường, nối với nhau bằng những đường nét lộn xộn.

Trên bàn còn có một chiếc hộp gỗ, nắp hộp đang mở, bên trong là một đống tiền vàng và đá quý xếp chồng lên nhau.

Quả cầu bóng đen: “…”

Mất ba penny để mua một tờ báo, bốn shilling để đi xe ngựa.

Vậy nên ngươi là ai?

Tại sao em ấy lại cho ngươi nhiều tiền như vậy?

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>
 
Đá Dữ - Thiên Đường Phóng Trục Giả
Chương 19


<b>Chương 19</b>

<b>Thêm liên hệ</b>

Tiếng củi cháy lép bép trong lò sưởi biến mất.

Cây bút máy trong tay thám tử vừa nhấc lên, giọt mực trên đầu bút đông cứng lại ở đó, mãi không rơi xuống.

Khoảnh khắc bị hóa thân của vị thần cổ xưa nào đó quan sát qua cửa sổ, dòng thời gian ngừng trôi.

Căn hộ cũ kỹ này không có đèn điện, trên bàn có một chân nến kiểu cổ đang cắm năm cây nến, bóng của John được ánh nến rọi hắt xuống thảm.

Mọi thứ đều dừng lại.

Ánh lửa không nhảy nhót, cái bóng cũng không được chuyển động.

Nhưng có một bóng đen dài và mảnh xuất hiện ở mép thảm, càng lúc càng lớn.

Chốt cửa sổ từ từ nâng lên dù không có ai chạm vào, phát ra tiếng cạch cạch, như thể nó đang rất nóng lòng muốn được thoát khỏi sự trói buộc.

Kẽo kẹt.

Cửa sổ bị đẩy mở.

Người Gypsi khoác áo choàng bước vào phòng.

Hắn nhìn John hồi lâu, chỉ thấy được con người này có ý chí thật kiên cường, sẽ không dễ dàng phát điên ngay cả khi tiếp xúc với tồn tại huyền bí.

Về việc thần cổ xưa đã từng gặp người này thì… câu hỏi đó giống như hỏi con kiến này và con kiến kia có gì khác nhau. Mặc dù là một con kiến khá mạnh, nhưng hắn thực sự không có ấn tượng gì.

Trên người John có mùi thuốc lá nồng nặc, đây là loại thuốc lá điếu rẻ tiền, chất lượng rất trung bình. Thám tử ngồi trong căn hộ đọc qua tất cả các tờ báo cũ, so sánh từng thông tin, tin tức mình thu thập được với các thành viên trong gia tộc Brandon, trong đó có tình hình hoạt động của công ty Vận tải biển Brandon, thông tin giao dịch đăng trên các báo trong mấy năm qua. Anh thậm chí không ra ngoài ăn trưa, mà làm việc đến sáu giờ tối, giờ đây căn phòng ngập trong mùi khói thuốc lá ngột ngạt.

Con kiến mạnh khỏe có mùi này… ừm, không quen biết, chưa ngửi bao giờ (John không có thuốc lá để hút khi ở thị trấn Đá Ngầm Đen).

Gymir vươn một tay ra, bốc những đồng tiền vàng trong hộp lên. Tiền vàng và đá quý lóe sáng lấp lánh.

Em ấy tự tay đưa cho con người này.

Sương mù lan ra trong phòng, chẳng mấy chốc một hình bóng xuất hiện bên cạnh bàn.

Y có khuôn mặt tuấn tú nhưng u sầu, vẻ mặt điềm tĩnh, đôi mắt xanh lam bình thản lạnh băng. Y đang nhìn người đối diện, đưa tay ném một túi tiền vàng lên bàn, sau đó nhặt viên hồng ngọc được mài giũa hoàn hảo lên bằng những ngón tay trắng nhợt của mình. Y bí ẩn và khó đoán hơn thành phố chìm trong sương mù buổi hoàng hôn này, y được bao quanh bởi một cảm giác mơ màng và cô đơn không chân thực.

Gymir nhìn chằm chằm vào ảo ảnh của Johnson.

Những viên đá quý này có giá trị rất lớn, chúng đã được Johnson cất giữ từ rất lâu. Không giống như những đồng xu của con người, đá quý dính nhiều sức mạnh huyền bí hơn, nên thần cổ xưa có thể nhìn thấy ảo ảnh nhờ dấu vết còn sót lại trên chúng.

Loại ảo ảnh này không liên quan đến bản thể, không có xúc tu sức mạnh và không có âm thanh. Gymir không biết Johnson đang nói gì, hắn chỉ thấy Johnson mở hai tờ báo ra, sau đó đặt những đồng tiền vàng và một nắm ngọc lục bảo xuống, cuối cùng đeo găng tay và đội mũ chóp đen lên, rồi đứng dậy đi ra ngoài.

“…”

Nhanh quá, không thấy rõ gì cả.

Chiếu lại lần nữa.

Gymir đưa tay xách John lên, đặt anh xuống tấm thảm, chiếm lấy chiếc ghế nơi John đang ngồi một cách thô bạo.

Khi ảo ảnh được chiếu lại, trông như Johnson đang nói chuyện với Gymir. Sau khi toàn bộ quá trình đưa tiền vàng và đá quý được chiếu xong, Gymir nhìn bóng lưng Johnson rời đi, thở dài tiếc nuối.

Lần này hắn không lựa chọn chiếu lại, mà cúi đầu nhìn xuống thám tử dưới bàn.

Con người không nên nhìn thấy tồn tại huyền bí, không nên có quan hệ với tồn tại huyền bí. Điều này sẽ dẫn đến sự kết thúc sớm của sự sống vốn đã mong manh của con người.

Gymir đã đuổi theo Johnson được hai năm, hắn hiểu được một phần tính cách của Johnson.

Johnson còn trẻ (không ngủ), ham chơi (thích hoạt động), và trân trọng đồ chơi (sẽ cố gắng tránh cái chết của con người và động vật).

Khi Johnson gặp con người “nhìn thấy” mình, y sẽ chọn cách kết thúc “cuộc chạm trán” một cách nhanh chóng, phương pháp bao gồm nhưng không giới hạn ở việc mua báo, bắt xe ngựa, giúp khiêng thùng, hỏi đường, v.v. Y sẽ không nói quá nhiều, thậm chí nói xong thì đi ngay, sau đó những người này không nhớ nổi mặt Johnson.

Bởi vì những điều như thế này xảy ra hàng ngày, và rất phổ biến, đến mức bộ não con người sẽ định kỳ xóa những ký ức này. Johnson đã tận dụng điều này.

Nhược điểm là nếu trao đổi đồ vật với con người sẽ tạo ra mối liên hệ. Vì vậy, Johnson sẽ trả tiền. Vào thời điểm nhận tiền, trong tâm trí con người tự nhiên nghĩ rằng mọi việc đã xong: và “mối liên hệ” cũng kết thúc.

Đây là một nghi lễ đơn giản dựa trên truyền thống “lấy vật đổi vật” của con người từ xa xưa. Khi nghi lễ hoàn thành, những con người này sẽ không còn bị ảnh hưởng bởi tồn tại huyền bí nữa.

Vì vậy để duy trì nghi lễ mong manh này, Gymir sẽ “trả lại” số tiền sau khi hoàn thành việc theo dõi.

Nếu không, “giao dịch” của Johnson với những người này sẽ không được xác lập, và Johnson sẽ sớm cảm nhận được có một sức mạnh huyền bí khác đang phá bỏ “nghi lễ thỏa thuận” nhằm truy lùng mình. Gymir dám chắc rằng nếu hắn làm điều này, Johnson nhất định sẽ phát hiện ra và rời khỏi Luân Đôn hoặc thậm chí rời khỏi Quần đảo Anh*, biến mất không dấu vết.

* <i>Tiếng Anh: British Isles, là một nhóm các đảo ngoài khơi bờ biển tây bắc châu Âu lục địa gồm có đảo Anh và đảo Ireland cùng trên sáu nghìn đảo nhỏ khác.</i>

Vì vậy, bây giờ có một vấn đề. Johnson “chủ động” đến tìm con người này, đưa cho anh ta một số tiền lớn, nói chuyện rất lâu, rốt cuộc đây là loại “giao dịch” gì vậy?

Gymir thực sự bối rối, nghĩ mãi không ra.

Dù thế nào đi nữa, cách hành xử của Johnson đã khiến John nổi bật lên hẳn giữa đám đông “người qua đường”, khiến Gymir có cái nhìn khác về John. Con người này có một bí mật, một bí mật liên quan đến Johnson!

Ánh mắt của Gymir rơi trên hộp đá quý và tiền vàng kia.

Bóng đen vặn vẹo rồi nhòe đi, như hình ảnh phản chiếu trong nước, dần dần mờ nhạt.

Biến đổi hóa thân.

Chiếc áo choàng được thay đổi đầu tiên, từ phong cách đặc biệt không thể nhìn thấy khuôn mặt từ bất kỳ góc độ nào, chuyển thành một chiếc áo choàng bình thường. Vài sợi tóc xoăn màu đỏ thẫm trượt ra ngoài, chiếc áo choàng mỏng được hất ra sau: hình dáng “con người” lộ ra trọn vẹn. Một chiếc quần dài rộng màu đỏ ánh vàng làm từ chất liệu không rõ là gì, áo khoác ngắn bằng lụa mỏng màu trắng, vùng ngực thấp thoáng lộ ra, cổ đeo ngọc trai. Phần th*n d*** không phải đuôi cá, không có vây ở cổ tay, không có màng giữa các ngón tay, chỉ còn những móng tay trong suốt và sắc nhọn.

Chiếc áo choàng và mái tóc dài vẫn che gần hết khuôn mặt, chỉ có thể nhìn thấy quai hàm cong duyên dáng, chiếc cổ thon gọn trắng ngần. Quả táo Adam trượt nhẹ.

“…”

Lời thì thầm của không miêu tả khiến ngọn lửa trong phòng bỗng đen thẫm đi, tất cả nến vụt tắt.

Những bức tường, ngôi nhà và mọi đồ vật đều đang lặp lại âm thanh khủng khiếp này.

Tách.

Ngọn lửa lại sáng lên.

Gymir nhìn xuống chân mình, có vẻ hơi không được quen lắm. Đôi chân trần giẫm lên thảm lập tức có thêm một đôi bốt mũi nhọn thêu chỉ vàng. Bây giờ hắn không còn giống người Gypsi nữa, mà giống một mỹ nhân Ả Rập hơn.

Mất đi hiệu quả thời gian ngừng trôi của hóa thân bóng đen, John cũng tỉnh dậy. Anh bối rối phát hiện mình đang nằm trên thảm, cửa sổ mở, mà trên chiếc ghế anh vừa ngồi có một người đang lặng lẽ ngồi.

John đột nhiên nhảy bật dậy, anh còn chưa quên rằng trong phòng anh có một hộp đá quý và tiền vàng.

Nói ra thì thật đáng buồn, anh phải bảo quản thật kỹ khối tài sản quan trọng này, nhưng căn hộ cho thuê cũ kỹ lại không có két sắt, cũng chẳng có nơi để cất giấu đồ đạc.

Dưới gầm giường? Đầy mạng nhện và bụi bặm.

Đằng sau kệ sách? Ngôi nhà này nhỏ, không có kệ sách.

John dự định ngày mai sẽ đến ngân hàng để định giá và ký gửi số đá quý, sau đó đổi một nửa số tiền vàng lấy séc, nửa còn lại có thể dùng để hối lộ người hầu của gia đình Brandon và thu thập thông tin tình báo. Đây là kinh nghiệm mà Johnson cho anh, trước một đồng tiền vàng sáng ngời, ai có thể từ chối?

Kết quả là có sự cố đxảy ra trước khi kế hoạch được thực hiện?

John nhanh chóng chộp lấy khẩu súng giấu dưới gầm bàn, mở chốt an toàn rồi đứng dậy nhắm thẳng vào vị khách không mời mà đến.

Trong phòng chỉ có ánh lửa của lò sưởi, làn khói trắng tỏa ra từ năm ngọn nến bay theo gió lạnh, sương mù từ ngoài cửa sổ cũng ùa vào, quấn lấy bên hông người đàn ông, huyền bí và kỳ quái.

John không có cách nào nhìn rõ mặt đối phương, vì vậy anh ngập ngừng tiến lên một bước, không nói nên lời khi phát hiện ra người này thực ra đang mặc một chiếc áo choàng có mũ trùm đầu kỳ lạ. Áo choàng không che toàn thân, nhưng mũ trùm đầu che kín nửa khuôn mặt, mép mũ có hơn chục chiếc tua rua màu đỏ ánh kim, chúng cứ lay động làm cản trở tầm nhìn.

Cái tên này không phải sợ lạnh sao? John nghĩ theo bản năng khi nhìn thấy lớp quần áo mỏng manh dưới áo choàng.

Ban đầu John tưởng đây là một mỹ nhân Ả Rập, dù không thấy rõ mặt nhưng tư thế thoải mái và khí chất thần bí khiến người ta liên tưởng như vậy, tuy nhiên sau khi nhìn kỹ hơn, anh mới phát hiện ra vẻ đẹp đó là thật, nhưng người thì không phải nữ giới.

Bóng tối che khuất tầm nhìn rất tốt, đồng thời cũng làm suy yếu tác dụng mê hoặc tâm trí con người. John nhìn lại bàn tay phải của đối phương đang đặt trên bàn, những móng tay trong suốt dài nửa inch, mỏng nhưng sắc bén, hệt như vũ khí giết người.

“Anh là ai?”

John không khỏi liếc nhìn chiếc hộp trên bàn, cũng như những mẩu tin tức và thông tin về gia tộc Brandon dán trên tường. Trực giác trong lòng anh đang gào thét như điên. Anh cố hết sức tránh nhìn vào tay đối phương mà tập trung ánh mắt lên mũ trùm đầu của cái áo choàng, nơi hoàn toàn không thể nhìn thấy khuôn mặt.

“Ngồi.”

Giọng nói tuyệt diệu, cách phát âm lạ lùng, nghe như một thứ tiếng Anh đặc biệt.

John đang suy nghĩ thì đột nhiên cảm thấy chóng mặt, anh đứng không vững. Vũ khí trong tay rơi xuống thảm, anh kinh hãi phát hiện mình không thể kiểm soát được cơ thể, vụng về kéo ghế ra ngồi xuống như con rối.

John dùng ý chí mãnh liệt ngăn mình nói ra họ tên đầy đủ, nhưng đoạn sau thì không khống chế được, John nghe chính mình thao thao bất tuyệt tự giới thiệu.

“Tôi là John… Jo… Tôi là thám tử, thám tử là nghề tìm tài sản thất lạc cho người khác và điều tra tình báo, số lượng cảnh sát ở Scotland Yard Luân Đôn có hạn, hiệu quả phá án cũng thấp. Họ không quan tâm đến những vụ án nhỏ, không thể giữ bí mật của người ủy thác, vì vậy thám tử…”

<i>** Scotland Yard (tên chính thức: New Scotland Yard, mặc dù không có Old Scotland Yard) là một cách nói hoán dụ để chỉ trụ sở Sở Cảnh sát Thủ đô, có trách nhiệm giữ trật tự cho phần lớn Luân Đôn. Cái tên này bắt nguồn từ vị trí của trụ sở Cảnh sát Thủ đô trước đây tại số 4 Whitehall Place, có cổng sau quay ra phố Great Scotland Yard. Cổng Scotland Yard đã trở thành cổng công cộng để vào sở cảnh sát; qua thời gian tên phố được gọi thay cho sở Cảnh sát Thủ đô.</i>

John đổ mồ hôi đầm đìa, anh đang vùng vẫy.

Thần tha cho con kiến, vì sợ John sẽ chết.

John gục xuống bàn, thở hổn hển.

Trước khi kịp đứng dậy, anh đã nhìn thấy một viên ngọc màu xanh lam và trong suốt xuất hiện trước mặt. Màu xanh trong vắt như ảo ảnh, tựa như một giọt nước mắt được lấy từ biển cả.

John đờ đẫn nhìn Gymir ném viên đá quý vào hộp, thản nhiên như ném tiền lẻ cho người đánh giày vào chiếc hộp sắt trên đường.

“Ta muốn ủy thác ngươi tìm ý trung nhân của ta, ta gặp em ấy trong giấc mơ.”

John: “…” Nói lại lần nữa coi?

Thứ có vẻ như là tồn tại huyền bí, cuốn theo đống sương mù không thể miêu tả, nửa đêm tới cửa tìm ý trung nhân?

Chưa tỉnh ngủ phải không!

——————–

<i>Tác giả nói thế này:</i>

<i>Gymir không ở trạng thái người cá, giá trị mê hoặc chỉ bằng một phần mười, giá trị khiến người ta phát điên cũng giảm xuống. Có thể chống cự nếu ý chí bạn vượt quá 70, ý chí của thám tử là khoảng 90, và… tiếp tục tăng lên nữa. Cũng giống như có người sẽ gục ngã khi bị k*ch th*ch, cũng có người trở nên mạnh mẽ hơn khi bị k*ch th*ch, John là người như vậy.</i>

<i>………</i>

<i>Ngoài lề:</i>

<i>Nếu Gymir che giấu sự đặc biệt của mình, cải trang thành một nhà chiêm tinh Gypsi đến gõ cửa.</i>

<i>Nhà chiêm tinh: Ta muốn ủy thác ngươi tìm ý trung nhân của ta, ta gặp em ấy trong giấc mơ.</i>

<i>Thám tử: Tại sao ngươi không nhìn vào quả cầu pha lê của mình?</i>

<i>Nếu bạn không hiểu, chúng ta có thể diễn đạt lại. Sự vô lý của câu nói này tương tự như [đạo sĩ nửa đêm gọi 110 (số điện thoại cảnh sát), nói rằng nhà ông ta bị ma ám, xin cảnh sát đến miếu để cứu mình].</i>

<i>………</i>

<i>Người dịch: Muốn đổi tên cái truyện này thành “Johnson và anh người yêu già như trái đất của anh ta” ghê.</i>
 
Back
Top Bottom