Cập nhật mới

Khác Cô Thành Bế - Milan Lady

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
247004980-256-k732907.jpg

Cô Thành Bế - Milan Lady
Tác giả: daohoa8899
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

"Ta thích nhìn công chúa rạng rỡ rộ cười, phục dịch nàng thôi cũng đủ khiến lòng ta sung sướng muôn phần.

Ở nơi u tối lạnh lẽo này, nàng là nguồn sáng duy nhất của lòng ta, còn sáng hơn cả mảnh trăng thượng huyền treo trên kia."

Sống trong nhung lụa gấm hoa, được đế vương cưng chiều cũng chẳng cách nào mở được cánh cổng đóng chặt của tòa thành cô độc.

Trên bước đường đời, dù yêu hay hận cũng đều không phải chỉ cần một lòng là đạt được.

"Hoài Cát, chúng ta đều bị vây hãm trong đây rồi."

Câu nói đùa thuở thơ bé đã trở thành lời sấm.

Một bức tường thành, chia lìa đôi ngả.

Tiếng đồng hồ nước văng vẳng xa xôi chẳng thể đập vỡ được lời thề ước: "Nếu nàng là bông sen, vậy ta sẽ là gợn sóng vờn dưới hoa lá, năm năm tháng tháng, theo nhịp gió đuổi mưa bay mà dạt về."

Bóng hình trên gối đầu, dáng ảnh dưới lần áo, đến cùng lại hóa cơn ác mộng mùa xuân.

Cầm bức tranh cuộn của câu chuyện khi xưa, bước ra khỏi nơi sân sâu đương độ thắm sắc, khóa nỗi lưu luyến hồng trần vào khoảng không quên lãng.

Chỉ mong kiếp sau sẽ nhặt được bông hoa điền nàng đánh rơi trên cánh đồng.



ngontinh​
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Giới thiệu


Tựa gốc: Cô thành bế / 孤城闭

Tác giả: Milan Lady / 米兰Lady

Người dịch: Cụt

Nguồn: https://le4fevrier.wordpress.com/co-thanh-be-milan-lady/

Mình re-up truyện lên đây với mục đích đọc offline dễ dàng, hoàn toàn phi lợi nhuận.

Xin các bạn hãy vào trang web gốc để ủng hộ dịch giả.

Truyện đã được chuyển thể thành phim năm 2020 (đổi tên thành Thanh Bình Nhạc).

Giới thiệu:

Tuyết trên thềm, trăng trước đình, hãy còn chập chờn nơi đáy mộng.

Yến tan tác, người bặt thinh, chẳng buồn ngoảnh trông xuân năm nào.

Vốn là một thiếu niên tài tuấn, qua lại giữa nhân sĩ danh thần, nhân sinh tưởng chừng như nước chảy rào rào, như xuân xa um tùm, chàng lại chẳng chạy thoát được vòng xoáy vận mệnh cuốn vào vực sâu.

Lưu ly dễ vỡ (*), cửa cấm nặng nề đóng lại, ngăn cách với trần duyên.

May còn có nàng, cùng thưởng nến bạc trăng thu, cùng vượt giá lạnh cung khuyết, thấm thoắt đã mười năm.

"Ta thích nhìn công chúa rạng rỡ rộ cười, phục dịch nàng thôi cũng đủ khiến lòng ta sung sướng muôn phần.

Ở nơi u tối lạnh lẽo này, nàng là nguồn sáng duy nhất của lòng ta, còn sáng hơn cả mảnh trăng thượng huyền treo trên kia."

Sống trong nhung lụa gấm hoa, được đế vương cưng chiều cũng chẳng cách nào mở được cánh cổng đóng chặt của tòa thành cô độc.

Trên bước đường đời, dù yêu hay hận cũng đều không phải chỉ cần một lòng là đạt được.

"Hoài Cát, chúng ta đều bị vây hãm trong đây rồi."

Câu nói đùa thuở thơ bé đã trở thành lời sấm.

Một bức tường thành, chia lìa đôi ngả.

Tiếng đồng hồ nước văng vẳng xa xôi chẳng thể đập vỡ được lời thề ước: "Nếu nàng là bông sen, vậy ta sẽ là gợn sóng vờn dưới hoa lá, năm năm tháng tháng, theo nhịp gió đuổi mưa bay mà dạt về."

Bóng hình trên gối đầu, dáng ảnh dưới lần áo, đến cùng lại hóa cơn ác mộng mùa xuân.

Cầm bức tranh cuộn của câu chuyện khi xưa, bước ra khỏi nơi sân sâu đương độ thắm sắc, khóa nỗi lưu luyến hồng trần vào khoảng không quên lãng.

Chỉ mong kiếp sau sẽ nhặt được chiếc trâm hoa nàng đánh rơi trên cánh đồng.

(*) Lưu ly là loại thạch anh nhân tạo, độ cứng tuy cao nhưng rất giòn, được người xưa tôn là của quý, nhưng dễ vỡ.

Cụm từ "lưu ly dễ vỡ" ở đây lấy từ câu thơ: "Mạch thượng hoa khai hoãn hoãn lạc, lưu ly dịch toái nhân không lão. (tạm dịch: Hoa nở trên đồng từ từ rụng, lưu ly dễ vỡ người cũng già.)", không rõ tác giả và xuất xứ, ý rằng những điều mà ta hết mực yêu quý thường rất dễ đánh mất, không thể nào giữ được cả đời, con người cũng sẽ từ từ già đi trong quá trình ấy, sau thường dùng để cảm khái thế sự vô thường, năm tháng như thoi đưa.

[Tại đây có đăng tải GIF hoặc video.

Hãy cập nhật ứng dụng ngay bây giờ để hiển thị.]
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Dẫn


Ta tự mình đánh xe cho nàng, vun vút lao đi trong màn mưa đêm đất Đông Kinh.

"Tới chưa?"

Thỉnh thoảng, lời nàng hỏi lại vọng từ trong xe ra.

Tiếng nàng nức nở đeo bám quấn lấy cả con đường, thứ tiếng mơ hồ ấy là điều duy nhất ta có thể phân biệt được giữa muôn trùng hỗn loạn.

"Sắp rồi, sắp rồi..."

Ta đáp, vung roi quất con trâu duy nhất kéo xe.

Con vật trước nay vẫn luôn thủng thỉnh nước kiệu vứt bỏ thói quen một bước ba than của nó, hoảng sợ tung vó, bánh xe gắn với hai càng bên dưới xe lộc cộc nghiến lên mặt đường ngút ngàn hoang vắng.

Phố xá phồn hoa ban ngày chợt phai sắc thành những mảng tường loang lổ tối màu, khóe mắt ta theo gió vọng xa, chúng ta hẳn đã đi được một quãng đường rất dài.

Mưa giăng không dứt cùng nỗi bi thương lòng nàng đập lên người ta, thấm ướt xiêm áo ta, cảm giác ẩm thấp ồ ạt ùa vào, đến đáy lòng cũng bị rét mướt nhuốm đẫm.

Nghe tiếng nàng khóc làm ta lo lắng không yên, song, ta chẳng dám ngoái lại, chỉ liên tiếp gia roi, hi vọng tốc độ có thể dẫn chúng ta vượt qua khốn cảnh lúc này ngay tức thì.

Từ lúc nào mà con đường từng qua lại không biết bao nhiêu lần lại trở nên đằng đẵng đến thế?

Như phải dài bằng số đường ta đi cả nửa đời vậy.

Nàng khóc suốt.

"Vẫn chưa tới sao?"

Nàng lại thút thít hỏi.

Ta há miệng, lại chẳng thốt lên được một chữ nào.

Trong sát na ấy, ta chỉ cảm thấy mình chưa bao giờ yếu đuối bất lực như lúc này, rồi lại bi ai nhận ra, kỳ thực ta cũng chẳng dám chắc rằng mình có thể chở được nàng đến bờ bên kia của bóng tối mịt mùng đêm nay.

Băng qua thêm mấy khu phố nữa, vất vả mãi chúng ta mới chạy được lên đường lớn bên ngoài Tây Hoa Môn.

Vén đi lớp lớp mưa mù, hoàng thành nguy nga từ từ trở nên rõ nét, dưới mái hiên phủ ngói lưu ly treo mấy dãy đèn lồng, trên bức tường đan xen gạch đá chạm khắc hình rồng phượng cuốn mây, đây chính là đích đến chúng ta đi chuyến này.

Tây Hoa Môn đã sớm đóng cửa, cấm vệ giữ cửa thấy xe ta có xu thế tới gần, lập tức quát: "Người phương nào mà to gan thế hả, dám đánh xe tới gần cửa hoàng thành!"

Ta hơi do dự rồi dừng xe lại, bấy giờ mới quay đầu ra sau, định xin nàng chờ một lúc để ta lên thông báo trước, đã thấy nàng tự vén rèm đi ra, xuống xe rồi lập tức chạy ào về phía cửa hoàng thành.

Nỗi bi thương cực độ đã khiến nàng ban nãy quên cả chỉnh lí trang dung, vẫn nguyên bộ dáng khi chúng ta rời khỏi dinh thự, mái tóc dài xõa xượi, vạt áo hơi lộn xộn, không choàng khăn cũng chẳng khoác gấm, tấm áo ngoài dở thời trái mùa kia cũng là ta lúc ấy phủ vội thêm cho nàng.

Nàng cứ thế để mặc mình khóc lóc chạy về phía Tây Hoa Môn, chưa lại được gần đã bị hai cấm vệ đón đầu ngăn lại, một người bắt lấy một cánh tay nàng, phẫn nộ gầm lên định đuổi nàng đi, mà nàng lại cũng càng thêm điên cuồng, không biết lấy đâu ra sức lực, vùng thoát khỏi sự kìm kẹp của hai người hai bên, rảo bước chạy vội tới trước Tây Hoa Môn.

Nàng vươn hai bàn tay nhỏ bé, ra sức vỗ lên cửa cung đóng chặt, cất giọng nghẹn ngào gọi: "Cha, mẹ, mở cửa!

Cho con về..."

Hai tay cấm vệ nháo nhào, tới tấp xua đuổi nàng.

Nàng bị hai gã cấm vệ cao lớn kéo đi, tay vẫn gắng hết sức với ra trước, muốn chạm tới cửa cung lạnh lẽo sơn đỏ đinh vàng.

Nàng không ngừng gọi cha mẹ, có cơn sấm dằn xuống, tiếng mưa gió nghe như khản đặc, tiếng nàng kêu khóc yếu ớt xuyên qua đó, thê lương không gì sánh bằng.

Cấm vệ kéo nàng ra ngoài mấy chục bước rồi dừng lại, ném phịch nàng xuống đất, thấy nàng còn định đứng lên chạy về, một trong hai nổi giận, chặn đứng nàng, mắng: "Mụ điên ở đâu ra mà dám dương oai chốn này!", nói đoạn xoay ngược cái kích cầm trong tay, vung lên thật cao, đòn roi chỉ chực giáng xuống người nàng.

Gã không hạ đòn được, bởi ta giữ lấy cổ tay gã từ phía sau.

Cấm vệ quay đầu nhìn, ngay sau đó giận dữ quát hỏi: "Ngươi là ai!"

Ta không đáp, ánh mắt lướt qua vai cấm vệ, nhìn nàng lồm cồm trên mặt đất.

Nàng nằm nhoài, nước mắt ròng ròng bất lực, sắc mặt trắng bệch, thân mình gầy gò náu dưới tấm áo bào nhạt màu rộng thùng thình, hệt như một vệt trăng mỏng có thể biến mất bất cứ lúc nào.

Cấm vệ càng thêm tức tối rút phắt tay ra, quay sang đánh ta, lần này lại bị đồng bạn gã gọi dừng.

"Gượm đã!

Tôi biết y!"

Tay cấm vệ còn lại nói, quan sát ta thêm một lượt từ trên xuống dưới rồi mới hạ giọng khẳng định với gã cầm kích: "Y là trung quý nhân Lương Hoài Cát, trước đây từng ra vào cung mấy lần."

Gã cầm kích sững người rồi ngoảnh lại nhìn người con gái vừa bị họ đẩy ngã, ấp úng hỏi: "Vậy, tiểu nương tử đây là..."

Ta bước lại đỡ nàng dậy, xác nhận nàng không bị thương tích gì rồi mới quay sang nhìn cấm vệ, trả lời câu hỏi của gã.

"Duyện quốc công chúa", ta nói.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 1: Bờ thu dung nở (*) đôi nhạn bay


(*) Nguyên văn cụm này là "Thu phố dung tân (Phù dung nở bên bờ sông thu)", cũng là tên một bức tranh lụa cổ hiện đang được cất giữ ở Viện Bảo tàng Cố cung Đài Bắc, theo các chuyên gia khảo cứu thì là tác phẩm của họa sĩ Thôi Bạch thời Bắc Tống.

1.

Cửa cấm

Hậu quả mở cửa cung giữa đêm vô cùng nghiêm trọng, ta đã sớm biết điều đó từ lúc mới vào cung.

Năm ấy ta tám tuổi, bị người trong họ nghĩ cách đưa vào cung làm tiểu hoàng môn (*).

Trước đó, cha ta qua đời, mẹ tái giá với người khác, trong họ cũng không ai muốn nhận nuôi ta, bởi vậy nên đối với ta, đây là chuyện chẳng còn cách nào.

(*) Cấp bậc nhỏ nhất của hoạn quan.

Ta học lễ nghi quy chế cung đình cùng ba, bốn mươi đứa trẻ đồng thời vào cung khác, đến những đoạn quan trọng, nội thị điện đầu (*) phụ trách dạy bọn ta, tên Lương Toàn, sẽ mời quan chủ quản các ty trong hai tỉnh nội thị (**) tới giảng giải cụ thể cho bọn ta.

(*) Một chức quan cửu phẩm của hoạn quan.

(**) Thời Tống, nội thị/hoạn quan được chia thành hai cơ quan Nhập nội nội thị tỉnh và Nội thị tỉnh, phần sau sẽ có giải thích cặn kẽ.

"Đến khi trời tối, mọi lối ra vào hoàng thành đều phải đóng cửa, trước khi mặt trời mọc, tuyệt đối không thể tự tiện mở ra."

Nói câu này là quan chủ quản Nội đông môn, tên Trương Mậu Tắc.

Ra vào cung đa số đều phải đi qua Nội đông môn, làm chủ quản ở Nội đông môn tức là quản lý người và vật xuất nhập cung cấm, là một chức vụ khá quan trọng đối với hoạn quan.

Khi đó, thầy chỉ mới hơn hai mươi, không mấy ai có thể nhậm chức này ở cái tuổi ấy, thần sắc thầy thanh bạch, không tự cao tự đại, giọng điệu cũng rất ôn hòa.

Ta còn để ý thấy, trong số các nội thần (*) tới giảng bài hôm ấy, màu áo thầy mặc là tối cũ nhất, như thể đã bận rất nhiều năm, song vẫn được giặt giũ sạch sẽ.

(*) Chỉ quan viên, thái giám, hộ vệ phục vụ hoàng đế trong cung.

"Nếu ai quả thực có việc quan trọng, phải mở cửa cung ban đêm thì phải có mặc sắc ngư phù (*)."

Trương Mậu Tắc tiếp tục giải thích các thủ tục kế: "Người nhận sắc chỉ phải ghi lại thời gian, căn nguyên cặn kẽ của sự việc, tên cửa cần mở và nhân số, thân phận của những người cùng ra vào theo mình trước rồi đưa tới Trung thư môn hạ (**).

Từ đại tướng quân giữ cửa trở xuống, các thủ thần liên quan sau khi xem xong phải tới nội các bẩm tấu, quan gia ngự phê cho rồi mới có thể mời nội thần giữ chìa khóa cửa cung đến mở cửa."

(*) Mặc sắc là sắc chỉ do hoàng đế tự tay viết, không đóng ấn triều đình mà trực tiếp hạ lệnh.

(**) Tên cơ quan hành chính tối cao do các quan đứng đầu Môn hạ tỉnh, Trung thư tỉnh và Thượng thư tỉnh đồng quản lý.

Đô tri (*) Nhập nội nội thị tỉnh đều biết, ở trong cung, Nhậm Thủ Trung quyền cao chức trọng, vốn không cần tới giảng bài, nhưng đúng lúc ấy lại tiện đường qua đây, bèn vào xem, nghe Trương Mậu Tắc nói xong đoạn này thì gật đầu, quét mắt nhìn bọn ta một lượt rồi nói: "Các ngươi nghe cho thật kỹ, lúc mở cửa cung cũng có điều phải chú trọng đấy."

(*) Tên một chức quan hoạn quan, ở Nội thị tỉnh, tả ban đô tri và hữu ban đô tri là chức quan cao nhất, Nhập nội nội thị tỉnh thì lên trên còn có đô đô tri.

Ta nín thở dỏng tai lên nghe Trương Mậu Tắc giảng tiếp: "Trước khi mở cửa, thủ thần các cửa phải đối chiếu nghiệm xét ngư phù bằng đồng với các nội thần giữ chìa khóa."

Trương Mậu Tắc giơ một cặp ngư phù lên cho đám bọn ta đang chia nhóm ngồi trước mặt thầy xem: "Phù tiết đồng có khắc hình cá và tên cổng thành, mỗi ngư phù đồng đều được chia ra làm hai nửa trái phải, thủ thần các cửa và nội thần giữ chìa khóa mỗi bên giữ một.

Trong lúc đợi mở cửa, quan, ty giữ cửa phải chuẩn bị xong xuôi cấm vệ thủ cửa, trong ngoài cửa mỗi bên hai đội, đốt đuốc lấy sáng, thủ thần, nội thần cẩn thận nghiệm xét ngư phù, bảo đảm không có gì sai nhỡ rồi mới được mở cửa.

Dẫu ngư phù có khớp mà thủ thần nội thần chưa nghiệm đã mở cửa, hoặc nghiệm không khớp nhưng vẫn mở, hoặc người không nhận mặc sắc lại tự tiện mở cửa, đều phải chịu luật hình trừng phạt nghiêm khắc."

"Đã nhớ rõ cả chưa?"

Nhậm Thủ Trung chen lời hỏi.

Bọn ta đều cúi người thưa dạ, ông ta chỉ vào tiểu hoàng môn ngồi hàng đầu cách ông ta gần nhất, ra lệnh: "Ngươi, thuật lại xem."

Đứa bé đó lại hơi đần ra, đứng nghĩ hồi lâu mới lắp bắp nói được hai ba câu, giữa chừng còn có sai sót.

Nhậm Thủ Trung cốc đầu nó, tức giận mắng: "Có mấy câu thế thôi mà cũng không nhớ được thì vào cung làm ăn thế nào?

Tương lai trong các ngươi khó tránh khỏi sẽ có vài đứa nhận nhiệm vụ giữ chìa khóa cửa cung, xảy ra sai sót là rơi đầu chết chắc!"

Trương Mậu Tắc đứng bên bổ sung: "Nếu để người ra vào không đúng cách thức luật lệ, nhẹ thì tù đày, nặng thì treo cổ."

Đám tiểu hoàng môn nghe mà kinh hãi, trái phải nhìn nhau, thầm líu lưỡi.

"Ngươi ra ngoài sân, quỳ xuống mà ngẫm, miễn ăn bữa tối."

Nhậm Thủ Trung xử phạt đứa bé kia, lại nhìn những đứa khác, cuối cùng chọn trúng ta: "Ngươi đã nhớ hết chưa?"

Ta đứng lên khom người, mạch lạc trả lời ông ta, thuật lại nguyên văn lời Trương Mậu Tắc: "Đến khi trời tối, mọi lối ra vào hoàng thành đều phải đóng cửa, trước khi mặt trời mọc, tuyệt đối không thể tự tiện mở ra.

Người nếu quả thực có việc quan trọng, phải mở cửa cung ban đêm, đều phải có mặc sắc ngư phù...

Nếu để người ra vào không đúng cách thức luật lệ, nhẹ thì tù đày, nặng thì treo cổ."

Không sai một chữ, nội thần các ty từ Trương Mậu Tắc trở xuống đều gật đầu mỉm cười.

Nhậm Thủ Trung cũng rất hài lòng, hiền hòa hỏi ta: "Nhà ngươi tên gì?"

"Lương Nguyên Hanh."

Ta đáp, lại bổ sung: "Nguyên Hanh trong Nguyên Hanh Lợi Trinh (*) ạ."

(*) Đây là lời quẻ của quẻ Càn trong Kinh dịch, được coi là bốn tính chất cơ bản của quẻ Càn, thường được hiểu theo nghĩa rộng là bốn mùa: Nguyên (元) – mùa xuân, Hanh (亨) – mùa hạ, Lợi (利) – mùa thu, Trinh (贞) – mùa đông; về mặt sự đời, Nguyên Hanh Lợi Trinh lần lượt đại diện cho nhân, lễ, nghĩa, chính.

Hiển nhiên, lời ta nói chẳng khác nào vẽ rắn thêm chân, vừa ra khỏi cửa miệng đã khiến người người biến sắc.

Nhậm Thủ Trung bước hai bước tới trước mặt ta, quạt cho ta hai cái tát đầu: "Nhãi ranh xằng bậy to gan, ngươi không biết tị húy à?"

Bấy giờ ta mới láng máng nhớ ra, trước đây lúc giải thích cho ta về cái tên của ta, cha ta cũng từng dặn dò rằng không được nhắc tới chữ "Trinh" trong đó với người khác, bởi kim thượng tên húy là "Trinh (祯)", thế nên "Trinh (贞)" cũng phải tị húy (*).

(*) Chữ Trinh (祯) này có nghĩa là cát tường, chữ Trinh (贞) này có nghĩa là trung trinh, hai chữ đồng âm Hán [zhēn].

Ta nhất thời ngớ ra, không biết phải ứng đối ra sao, chỉ lặng lẽ cụp mắt đứng đó.

Nhậm Thủ Trung bảo kẻ dưới: "Dẫn nó xuống nhốt lại, đợi ta xin chỉ thị của quan gia rồi xử phạt sau."

Ta ở trong một gian phòng nhỏ tối hai, ba ngày, nằm ngẩn ngơ, cơ hồ không ăn cơm, nhiều lần trong cơn mê ngủ, ta tưởng là mình sắp chết rồi.

Cuối cùng cũng có người mở cửa, ánh sáng đã lâu không thấy tràn vào như thủy triều, đâm mắt ta đau nhói.

Một lần nữa mở mắt, ta trông thấy gương mặt hiền hòa của thầy Lương Toàn.

Đại khái là vì ta cùng họ với thầy nên thầy vẫn luôn rất tốt với ta.

"Đi thôi."

Thầy nói.

Thấy ta không còn sức nhấc chân, ấy vậy mà thầy lại ngồi xổm xuống, tự mình cõng ta ra ngoài.

Ta không sao nén được nước mắt nhỏ xuống cổ thầy, thầy tiếp tục bước đi điềm nhiên như không, cũng không an ủi gì ta, chỉ nói: "

Sau này phải cẩn thận.

Nếu là phạm húy ở bên ngoài thì còn có thể che giấu được, nhưng trong cung thì khác, hơi chút sai lầm thôi cũng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Là Trương tiên sinh khẩn cầu hoàng hậu nói giúp cho ngươi trước mặt quan gia, con nên nhớ lấy việc này..."

Đương nhiên là ta sẽ nhớ kĩ rồi.

Sau buổi giảng bài kế tiếp của Trương Mậu Tắc, ta bám theo thầy ra ngoài, chạy tới trước mặt thầy quỳ xuống, khấu đầu tạ ơn cứu mạng.

Thầy chỉ cười khẽ, nói: "Tên thằng nhóc nhà cậu quá dễ gợi đến chữ phạm húy, vẫn nên đổi một cái tên khác cho thỏa đáng thì hơn."

Ta đồng ý, kính nhờ thầy đổi tên cho mình.

Thầy thoáng trầm ngâm rồi bảo: "Hoài Cát, sau này cậu cứ lấy tên là Lương Hoài Cát đi."

Ta nghiêm túc cảm ơn thầy.

Thầy lại nói: "Có phải cậu từng đi học không?"

Ta đáp: "Trước đây từng học vài chữ với cha ở nhà ạ."

Ông gật đầu, lại dụng tâm quan sát ta thêm một lượt rồi mới xoay người rời đi.

2.

Nội thị

Qua nửa năm, sau khi đã làm quen với lễ nghi trong cung, bọn ta được phân đến các ty của hai tỉnh nội thị học nội dung mới.

Nội thần Đại Tống chia ra làm hai tỉnh: Nhập nội nội thị tỉnh và Nội thị tỉnh.

Nhập nội nội thị tỉnh hầu hạ trong cung cấm, quản lý sự vụ hậu cung, còn gọi là Hậu tỉnh, Bắc ty; Nội thị tỉnh phụ trách việc phục dịch nội triều (*) và làm tạp dịch quét tước lau dọn trong cung, còn gọi là Tiền tỉnh, Nam ban.

(*) Nội triều chỉ nơi nghỉ ngơi và xử lý chính sự của thiên tử và chư hầu thời cổ đại.

Ta được phân về Hàn lâm thư nghệ cục thuộc Nội thị tỉnh quản hạt.

Bởi về sau phải quản lý việc sách vở nghệ thuật nên có nội thần hiểu nhiều biết rộng rành chuyện bút nghiên giảng bài cho bọn ta, ngoài những công việc tạp dịch vẩy nước quét nhà mà tiểu hoàng môn bắt buộc phải làm, tất cả số thời gian còn lại của ta đều dành vào việc đọc thi thư và nghiên cứu luyện tập các thể chữ triện, lệ, hành, thảo, chương thảo, phi bạch.

Ta thích bầu không khí bình yên trong thư viện và cuộc sống tĩnh lặng này, song Trương Thừa Chiếu thì không, thường ngày hắn vẫn hay oán thán luôn miệng.

Trương Thừa Chiếu là đồng bạn của ta ở Hàn lâm thư nghệ cục, hắn nhỏ hơn ta hai tháng, nhưng vào cung sớm hơn ta một năm, rất thích tự cho là tiền bối trước mặt các cung nhân mới vào, thường chủ động lấy giọng dạy bảo kể chuyện trong cung cho chúng ta.

Những người khác rất phản cảm dáng điệu đó của hắn, riêng ta không nhiều lời, lần nào cũng yên lặng lắng nghe, bởi thế mà về sau chúng ta thành bạn thân.

Hắn một lòng muốn chuyển sang Nhập nội nội thị tỉnh, cũng qua lời hắn kể, ta mới biết địa vị hai tỉnh nội thị thì ra chẳng hề giống nhau chút nào.

Một ngày nọ, hai đứa bọn ta nhận lệnh mang sách vở sao chép của thư nghệ cục sang Trung thư môn hạ, bởi tướng công (*) đòi gấp nên bọn ta chạy cả một đường, đương chạy qua một khúc rẽ thì vô ý va phải hai nội thị khác từ phía bên kia đi tới, hai người đó đều cao hơn bọn ta, chỉ lảo đảo hai bước, còn bọn ta thì ngã lăn ra đất, sách vở cũng rơi lả tả.

(*) Ở đây chỉ tể tướng.

"Lũ ranh con, không có mắt hả?"

Hai người kia tức giận mắng bọn ta.

Ta không để ý tới họ, chỉ vội vã thu nhặt sách vở, kiểm tra xem có bị bẩn hỏng gì không.

Trương Thừa Chiếu nghe mắng nổi nóng, đứng lên định nạt lại, nào ngờ vừa thấy rõ trang phục của họ đã lập tức hết cáu, trái lại còn nở nụ cười giả lả: "Là bọn tôi không cẩn thận, cản đường hai vị ca ca, mong ca ca thứ cho.

Đáng đánh, đáng đánh!"

Nói đoạn tự tát mình một cái, lại khom người lia lịa cười nói xin lỗi, hai người kia nguýt bọn ta một cái rõ dài rồi đủng đỉnh rời đi.

Ta lấy làm khó hiểu, hỏi: "Sao cậu phải khiêm tốn với chúng thế?"

Trương Thừa Chiếu vừa tay đấm chân đá với bóng lưng hai người kia, vừa hung tợn ngầm nhổ toẹt một bãi nước bọt, lúc này mới đáp: "Thứ nhất, chúng là nội thị hoàng môn có phẩm giai; thứ hai, chúng là nội thị hoàng môn của Nhập nội nội thị tỉnh."

Ta biết bọn ta hiện giờ chỉ là tiểu hoàng môn chưa có phẩm cấp, nội thị hoàng môn cao hơn chúng ta một bậc, nhưng không rõ vì sao nội thị hoàng môn của Nhập nội nội thị tỉnh lại đáng để tôn kính đặc biệt như thế.

"Họ là người hầu hạ quan gia, nương nương và công chúa chứ sao!

Thở bừa ra chút phong thanh trước mặt các chủ tử thôi là chúng ta có khả năng đã chẳng còn quả ngọt mà ăn nữa rồi."

Trương Thừa Chiếu rầu rĩ: "Năm đó tại tôi lười biếng, học tập lễ nghi không chú tâm nên mới không được phân vào Nhập nội nội thị tỉnh."

Trên đường trở về từ Trung thư môn hạ, Trương Thừa Chiếu giải thích cặn kẽ từng nơi quan trọng trong Nhập nội nội thị tỉnh cho ta: "Họ có thể trực tiếp vào tẩm điện của quan gia hoặc hoàng hậu, hầu hạ các nương nương và công chúa thì khỏi phải nói, thảy đều chọn từ Hậu tỉnh cả.

Ngoài ra, các ty Hậu tỉnh cũng đều không đơn giản: Ngự dược viện quản lý tra cứu y thư bài thuốc, soạn phối thuốc thang để tiến vua và phục vụ trong cung cấm, là ty được tôn trọng nhất trong cung, không phải nội thần có công thì không thể nhậm chức 'lĩnh ngự dược viện (*)' đâu; Nội đông môn ty, chưởng quản người và vật xuất nhập cung cấm, không những có thể hạn chế việc đi lại mà nếu phát hiện ra ai mang theo vật gì khả nghi thì còn có thể trực tiếp đệ trình lên Hoàng thành ty xử lý hoặc bẩm báo Trung thư môn hạ, có họ giám thị, đến quan gia cũng chẳng dám tùy tiện thưởng ai tài vật gì; Hợp đồng bằng do ty, quản lý vật lưu hành trong cung cấm, cung cấp ghi chép, phàm là vật đặc chỉ ban thưởng đều phải lên danh sách tên gọi và số lượng, giao cho ty quản lý kho ngự lấy ra, quan gia ban thưởng cái gì cũng phải qua tay họ thực hiện, ai dám đắc tội chứ?

Long đồ, Vu xương, Bảo văn các, quản lý cất giữ tác phẩm của tổ tông, bản đồ cương vực, sổ hộ tịch và vật báu cát tường, đều là những thứ cực kỳ quý giá, nội thần nhậm chức ở đó tất nhiên cũng mang thân phận khác biệt rồi."

(*) Tức chức quan chấp chưởng Ngự dược viện.

"Không phải nội thị tỉnh cũng làm việc cho quan gia à?

Vì lẽ gì mà cứ nhất định phải phân cao thấp giữa hai tỉnh?"

Ta hỏi hắn.

"Đã khác nhau thì tất nhiên là có cao thấp rồi!"

Trương Thừa Chiếu so sánh: "Lại nhìn lại công việc của các ty Tiền tỉnh mà xem: Quản câu vãng lai quốc tin sở, quản lý việc sứ thần Khiết Đan cống nạp, tuy rằng ngày thường nhàn hạ song chẳng có quan hệ gì với người trong cung nên cũng không ai nịnh bợ; quan chủ quản Hậu uyển, cai quản chăm nom vườn tược, ao hồ, điện đài trong cung, phòng khi quan gia nương nương nổi hứng dạo chơi, nhậm chức nơi đó thực ra chỉ rặt một đám thợ làm vườn; Chế tạo sở, phụ trách chế tạo đồ đạc dùng trong cung và lễ đón dâu hoàng tộc, đều là việc nặng cả; Quân đầu dẫn kiến ty, trông coi việc giữ gìn các tiện điện (*), chư quân vào cung bái kiến, tương đương với làm dẫn đường; Hàn lâm viện của chúng ta quản lý bốn cục thiên văn, thư nghệ, đồ họa, y quan, phụ trách các việc quan sát hiện tượng thiên văn, bút nghiên, hội họa, y dược, tuy có khá hơn chút, nhưng thư pháp của chúng ta dẫu có tốt mấy thì giỏi lắm cũng chỉ ở thư viện làm chút việc sao chép hầu đám đãi chiếu (**) mà thôi, đến cái mép nội cung cũng chẳng rờ được đến..."

(*) Những gian điện khác ngoài chính điện đều được gọi là tiện điện, là nơi hoàng đế nghỉ ngơi ăn uống tiêu khiển.

(**) Thời Tống, đây là danh xưng để gọi kẻ sĩ và nghệ thuật gia ở Hàn lâm viện.

Ta lặng thinh, lại nghe hắn thở dài thườn thượt: "Vả lại, bổng lộc của người trong hai tỉnh cũng khác nhau.

Chỉ tính chức cung phụng quan mà cả hai tỉnh đều có thôi nhé, cung phụng quan Tiền tỉnh chúng ta lương tháng mười ngàn, xuân, đông mỗi mùa năm xếp lụa, đông thêm hai mươi lạng bông, Hậu tỉnh thì mười hai ngàn, xuân năm xếp lụa, đông bảy xếp, bông mười ba lạng...

So ra kém hơn hẳn Hậu tỉnh còn gì, người Tiền tỉnh mà được bổ dụng vào đó thì lại chẳng là lên chức à, bình thường, người được bổ dụng ai cũng mặt mày hớn hở cả...

Cậu nhìn đám quan Hậu tỉnh ăn mặc mà xem, ai nấy đều vẻ vang ra trò..."

"Cũng không hẳn," Ta nghĩ đến một người: "Trương tiên sinh chủ quản Nội đông môn ăn mặc cũng mộc mạc thôi mà."

Trương Thừa Chiếu nhất thời nghẹn lời, vò đầu ngẫm nghĩ rồi nói: "Biết đâu ông ấy sống đạm bạc là để chắt chiu tiền của."

Nghe ta nhắc đến, hắn lại chợt nổi cơn tò mò, hỏi ta: "Cậu biết không?

Nghe nói là Trương tiên sinh đề nghị phân cậu tới Hàn lâm viện đấy.

Lạ ghê, không phải ông ấy tốt với cậu lắm à?

Tên cậu cũng là ông ấy đặt mà sao ông ấy lại không cho cậu sang Hậu tỉnh nhỉ?"

Ta mỉm cười, nói: "Chắc là cảm thấy nơi này hợp với tôi hơn.

Bản thân tôi cũng nghĩ vậy."

Hắn khinh thường lắc đầu, ánh mắt nhìn ta rõ ràng là nói "Trẻ con không dạy được".

Lại qua một năm, bọn ta đồng thời thừa ân bổ dựng làm nội thị hoàng môn.

Làm nội thị rồi, Trương Thừa Chiếu lại càng nghiêm túc hơn với việc cố gắng tấn chức, ngày nào cũng bấm đầu ngón tay nhẩm đếm những cấp bậc phải trải qua để đạt tới nội thị cực phẩm tính từ phẩm giai hiện tại: "Nội thị hoàng môn, nội thị cao ban, nội thị cao phẩm, nội thị điện đầu, nội tây đầu cung phụng quan, nội đông đầu cung phụng quan, áp ban, phó đô tri, đô tri, đô đô tri...

Lưỡng tỉnh đô đô tri..."

Mỗi lần nói đến "lưỡng tỉnh đô đô tri", hắn đều nở nụ cười cầm lòng không đậu như thấy chức quan nội thị cực phẩm này đang vẫy tay với hắn vậy, làm ta nhìn cũng phải cười theo.

Có lần ta hỏi hắn: "Lưỡng tỉnh đô đô tri có gì mà cậu muốn làm đến thế?"

"Có nhiều tiền chứ gì nữa!"

Hắn đáp ngay không cần nghĩ, "Lưỡng tỉnh đô đô tri một tháng ít nhất cũng được lĩnh năm chục ngàn đó, gấp năm mươi lần lương hai ta kia mà."

Ta không hiểu vì sao hắn phải cố chấp chuyện tiền nong như vậy: "Bọn mình cần nhiều tiền thế làm gì đâu?

Chẳng mua được ruộng cũng chẳng lấy được vợ, càng không có con cháu để mà giao phó."

Câu này lại đâm ra khiến hắn ngẩn người, một lát sau hắn mới nói: "Không nói đến tiền, làm lưỡng tỉnh đô đô tri, ngoài quan gia và nương nương ra thì cũng chẳng ai dám đánh mắng tôi nữa, chỉ có tôi đánh mắng người khác...

Chúng ta cực nhọc làm việc trong cung như vậy, dù sao cũng phải có gì đó để mà mưu cầu chứ?

Không phải là muốn tấn chức thì còn biết mưu cầu gì đây?"

Lần này đổi lại là ta im lặng.

Ta khi đó dường như mỗi ngày đều chỉ sống bình thản mà vô vị như thế, không có mục tiêu, không có hi vọng.

3.

Thôi Bạch

Năm mười hai tuổi, ta được điều vào Hàn lâm họa viện nhậm chức.

Phẩm cấp không thay đổi, chỉ là công việc chủ yếu đổi thành hầu hạ các đãi chiếu bên họa viện vẽ tranh và nghe quan chủ quản họa viện sai khiến.

Đám nội thị Thư nghệ cục đều rất lấy làm thương cảm cho ta, nói rằng đây thực ra là bị giáng chức, họa viện vốn thấp hơn thư viện một bậc.

Ta cũng biết rằng địa vị của người bên thư họa viện không cao, tuy quan viên tứ phẩm ngũ phẩm trong viện cũng có thể mặc áo đỏ áo tím như các quan văn bình thường nhưng lại không có bội ngư (*).

Trong mắt người đời, đãi chiếu thư họa viện bị quy là "vào bằng nghệ thuật", mức độ tôn trọng được dành cho cũng có giới hạn.

Mà người của họa viện so ra thì còn kém thư viện một bậc, mỗi lần chúng đãi chiếu lập đội đều lấy thư viện dẫn đầu, họa viện xếp sau, chỉ đỡ hơn cầm, kỳ, ngọc, bách công viện đôi chút.

(*) Tín phù ra vào hoàng thành, lên triều diện thánh của quan viên từ ngũ phẩm trở lên, chiếu theo cấp bậc quan viên mà phân biệt làm bằng vàng, bạc, đồng, tạo thành hình cá chép, gọi là ngư phù, khắc những thông tin cơ bản như họ tên quan viên, chức quan, đựng trong túi đeo bên hông, là ký hiệu cho địa vị và thân phận của quan viên. (chú thích của tác giả)

Đãi chiếu chính thức còn vậy thì nội thị trong viện lẽ tự nhiên cũng theo đó mà bị phân chia đẳng cấp trong mắt mọi người.

Cùng là nội thị hoàng môn nhưng cầm viện không bằng họa viện, họa viện cũng không bằng thư viện.

Quan tổng quản của Hàn lâm thư họa cục khi ấy là nhập nội phó đô tri Nhậm Thủ Trung, sau đó, Trương Thừa Chiếu đã kiến nghị ta: "Cậu đi xin Trương tiên sinh đi, xin ông ấy nói vài câu với hoàng hậu, để hoàng hậu mệnh Nhậm đô tri giữ cậu lại thư viện cho."

Ta chẳng ừ hử gì.

Hắn lại nháy mắt mấy cái với ta, cười nói: "Đi đi, không sao đâu, Trương tiên sinh là tâm phúc của hoàng hậu, một khi ông ấy đã có lời thì cậu cũng không cần phải đi họa viện nữa rồi."

Ta lắc đầu với hắn, gạt bỏ kiến nghị này.

Cũng không phải là ta nghi ngờ sự thật rằng Trương tiên sinh rất được hoàng hậu tán thưởng và tín nhiệm, mà là ta biết rõ rằng, ỷ vào sự coi trọng của hoàng hậu với mình để yêu cầu chuyện ngoài bổn phận không phải là tác phong của thầy, lần trước mở miệng cứu ta chỉ là tình huống cực kỳ ngẫu nhiên, ta không muốn khiến thầy phá lệ lần nữa.

Ta chưa bao giờ tham vọng xa vời, cũng không muốn chứng kiến ai vì cớ tại ta mà cầu xin người khác điều gì.

Họa sư họa viện chia thành năm bậc: họa học chính, đãi chiếu, nghệ học, chỉ hầu, nghệ nhân; người chưa có phẩm cấp thì gọi chung là họa học sinh.

Các tác phẩm tranh vẽ của họ đều là để cung ứng cho cung đình, lấy làm ngự dụng, hoặc giả họ sẽ phụng chỉ đến các chùa miếu đạo quan vẽ tranh.

Đó là nơi còn yên tĩnh hơn thư viện.

Cứ mỗi mười ngày đều phải mang tranh họa cất trong gác mật ra cho các họa sư đánh giá mô phỏng, hôm ấy sẽ hơi mệt, song những ngày khác thì không có bao nhiêu sự vụ, đa số thời gian ta chỉ cần đứng hầu bên cạnh, nghe quan viên họa viện dạy học hoặc xem các họa sư vẽ tranh là được.

Trong số các họa sư, ta thích xem tranh của họa học sinh Thôi Bạch nhất.

Gã là người Hào Lương, năm đó tuổi chừng hăm mấy, dung mạo sáng sủa thanh tú, tính tình cởi mở, không màng danh lợi, hành sự phóng túng ngông cuồng, thường độc lai độc vãng, hay bị quan viên họa viện lườm nguýt, nhưng tranh gã luôn ẩn chứa một luồng linh khí hiếm thấy so với tranh cung đình phổ thông, đó cũng là cái mà ta cực kỳ thưởng thức.

Một ngày cuối thu, trong đình họa viện xào xạc lá rụng, gã một thân một mình vẽ tại chỗ hai con quạ đậu trên cây, ta yên lặng đứng xem đằng sau gã, khi đặt bút xuống tạm nghỉ, trong lúc vô tình quay đầu, gã phát hiện ra ta, cười cười, hỏi: "Trung quý nhân (*) cũng mê đan thanh (**) chăng?"

(*) Về xưng hô của hoạn quan, hoạn quan thời Tống không gọi là thái giám mà thường gọi là nội thị, nội thần, hoạn giả, trung quan, người Tống không gọi họ là "công công" mà thường gọi họ theo chức quan, "trung quý nhân" là cách gọi tôn kính của người ngoài cung đối với hoạn quan. (chú thích của tác giả)

(**) Đan chỉ đan sa (chu sa), thanh chỉ thanh hoạch, là hai loại khoáng vật chế tạo nên thuốc màu.

Hội họa cổ Trung Hoa thường dùng hai màu đỏ xanh nên đan thanh trở thành một cách gọi khác của môn nghệ thuật này.

Ta lùi ra sau một bước, cúi người đáp: "Hoài Cát mạo phạm, quấy rầy nhã hứng của Thôi công tử."

"Chuyện đó thì không," Thôi Bạch tủm tỉm, nói, "Tôi chỉ tò mò không biết, vì sao trung quý nhân không đi xem chư đãi chiếu họa viện vẽ tranh mà mỗi lần đều để ý tới chuyết tác như thế."

Ta ngẫm nghĩ rồi đáp: "Còn nhớ ngày Hoài Cát mới vào họa viện, thấy chúng họa học sinh đều đang theo họa học chính vẽ phỏng tranh hoa điểu của Hoàng Cư Thái, duy có công tử là ngoại lệ, một mực nghiêng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, vẽ chim chóc trên cành cây trong đình."

Thôi Bạch xua tay cười: "Tranh hoa điểu của Hoàng thị tinh vi tráng lệ, đời này tôi học chẳng nổi nên dứt khoát tự mình nguệch ngoạc đấy thôi."

Ta cũng mỉm cười, nói: "Thôi công tử đặt bút là thành cấu tứ, không vay mượn quy chuẩn mà cong thẳng vuông tròn vẫn đúng độ chuẩn mực.

Hoài Cát đó giờ vẫn hằng bội phục sâu sắc."

"Trung quý nhân khen lầm."

Nói đoạn, Thôi Bạch một lần nữa chầm chậm nâng bút lên, trước khi hạ bút chợt hỏi ta: "Lẽ nào trong họa viện này còn có người cong thẳng vuông tròn nằm ngoài chuẩn mực ư?"

Tất nhiên là có.

Nhưng ta chỉ cười hờ hững, không đáp lời.

Chừng như bản thân cũng có đáp án, Thôi Bạch không truy hỏi nữa, ngậm một nét cười ngang tàng, xoay người tiếp tục vẽ tranh, trước trán rủ xuống vài sợi tóc chưa bao giờ chịu vào nếp, theo động tác đưa bút mà đôi lúc lại phất phơ bên sườn mặt gã, song ánh mắt gã trước sau vẫn chăm chú đậu lên bức tranh, không chút để ý.

Nhờ thế mà hai ta dần trở nên quen thân, thi thoảng gặp nhau trò chuyện về thư họa, gã nhìn ra ta có hứng thú với đan thanh, chủ động đề nghị dạy ta, ta tất nhiên là vô cùng vui vẻ, bèn theo gã học vẽ vào những lúc cả hai đều rảnh rỗi.

Một hôm, gã dạy ta vẽ chim núi rừng xuân bằng thủ pháp không xương, họa học chính họa viện đi ngang qua phòng vẽ bọn ta dùng, thấy người vung bút vẽ tranh là ta, không khỏi kinh ngạc, bèn vào xem thử.

Ta tức khắc thu bút, thi lễ với y như thường ngày.

Y không đáp lại, đi thẳng tới cạnh ta, nghiêm túc xem tranh ta vẽ.

Từ thuở lập quốc đến nay, phong cách hội họa cung đình Hoàng thị của hai cha con Hoàng Thuyên và Hoàng Cư Thái vẫn luôn giữ ngôi độc tôn trong Hàn lâm họa viện quốc triều, vẽ hoa trúc lông vũ phải dùng bút than nháp trước rồi lấy chỉ mực cực nhỏ phác họa đường nét, tiếp đó trùng trùng tô màu, hình vẽ tinh xảo tráng lệ, tôn chỉ rực rỡ đậm màu.

Mà giờ đây, họa học chính thấy tranh ta vẽ màu sắc thanh nhã, trong đó, chim núi không được phác họa hoàn toàn bằng chỉ mực, chi tiết sợi lông vũ phần đa là dùng những màu mực đậm nhạt khác nhau điểm xuyết thêm chấm đỏ mà thành, khác hẳn tranh cung đình Hoàng thị được họa viện coi là chuẩn mực, tức thì mặt sa sầm, lạnh lùng hỏi Thôi Bạch: "Anh dạy cậu ấy vẽ thế này?"

Thôi Bạch gật đầu, ung dung đáp: "Họa chim muông vị tất phải vẽ phác đắp màu, thỉnh thoảng pha lối không xương tô điểm bằng mực đạm cũng có cái thú hoang dã riêng. (*)"

(*) Vẽ phác đắp màu (双钩填彩) là phép vẽ phác họa đường nét trước rồi mới tô màu, họa sĩ Hoàng Thuyên thời Ngũ Đại là một họa sĩ tiêu biểu cho bút pháp này, tương phản với phép vẽ không xương (没骨) là trực tiếp dùng thuốc màu hoặc mực để vẽ sự vật mà không có "xương bút", tức dùng chỉ mực phác khung, tiêu biểu cho phép vẽ này có họa sĩ Từ Hi cùng thời với Hoàng Thuyên.

Họa học chính thình lình đập bàn, cao giọng: "Anh làm thế là dạy hư học sinh!"

Thôi Bạch không nao núng, chỉ nghiêm trang cúi người với y, cụp mắt đứng đó.

Họa học chính nén giận, quay sang nói với ta: "Nếu trung quý nhân muốn học vẽ, trong họa viện tự có đãi chiếu, có thể thỉnh giáo học nghệ, mới bắt đầu học phải thận trọng mà chọn lấy thầy tài, chớ để bị hạng nắm cày không thạo dẫn lên đường lầm."

Ta cũng khom lưng tỏ vẻ thụ giáo.

Họa học chính hung dữ trừng Thôi Bạch thêm một cái rồi mới phất tay áo ra cửa.

Đợi y đi xa rồi, Thôi Bạch nghiêng đầu nhìn ta, giả đò nghiêm mặt, nói: "Mời trung quý nhân chọn thầy tài khác cho, chớ theo cái hạng nắm cày không thạo tôi đây mà lạc phải đường lầm."

Câu trả lời của ta là: "Nếu lối Thôi công tử dẫn tôi theo là đường lầm thì đời này tôi nguyện không đi chính đạo nữa."

Bọn ta nhìn nhau cười, từ đó về sau càng thêm thân thiết.

Theo lời đề nghị của gã, chúng ta không còn xưng hô khách khí với nhau nữa, gã gọi thẳng tên ta mà ta cũng gọi gã bằng tự "Tử Tây" của gã.

Họa học chính càng lúc càng tỏ ra chán ghét Thôi Bạch, nhiều lần bàn luận với đồng liêu về phẩm hạnh và họa kỹ của gã, thường có ý chê bai.

Thôi Bạch cũng liên tiếp bị họa viện chèn ép, mỗi lần so tài, tranh của gã đều bị bình xét hạng kém, chưa lần nào có cơ hội được trình lên ngự lãm.

Thôi Bạch không bận tâm, vẫn chuyện ta ta làm mà vẽ tranh theo phong cách của mình, cũng chẳng để bụng lời giảng dạy của quan viên họa viện.

Mỗi bữa dạy học, gã đều không vắng mặt thì cũng đến trễ, góp được cái thân ngồi trong sảnh cũng chẳng nghiêm túc nghe bài, thường xuyên dõi mắt qua cửa sổ mà ngắm cảnh bên ngoài, thả hồn rong chơi, hoặc là dứt khoát gục xuống bàn ngủ, đợi đến lúc quan viên họa viện giảng xong mới vươn vai ngáp dài, thong thả đứng dậy, nghênh ngang rời đi trước cái nhìn hầm hầm của quan viên.

Một lần nọ gặp đúng tiết dạy của họa học chính, chủ đề là nghệ thuật tranh thủy mặc, lý thuyết giảng xong rồi, họa học chính lấy bản phác nền đã chuẩn bị từ trước ra, múa bút điểm màu tại chỗ, vẽ nên một bức sen thu thủy mặc, nét mực vừa khô sơ là treo ngay lên vách cho các họa học sinh bình phẩm.

Quả tình cũng là một tác phẩm đặc sắc, bông sen thu trong tranh phong tư thanh nhã, tuy là tranh thủy mặc, song lại vẽ đài sen và lá sen phản chiếu đón sóng, thể hiện được ý mây trôi mang mưa.

Chúng họa học sinh tất nhiên là khen ngợi không ngớt, ngay sau đó sôi nổi nhấc bút, bắt đầu phỏng theo.

Họa học chính vuốt râu, quét mắt nhìn mọi người, dương dương tự đắc.

Chẳng ngờ tròng mắt đảo qua, phát hiện ra Thôi Bạch không để ý mảy may, ngồi một góc mãi tít dãy cuối, bộ dáng lại còn là gục bàn ngủ vùi.

Họa học chính lập tức tắt ngấm nụ cười, sầm mặt gọi: "Thôi Bạch!"

Thôi Bạch như đã say giấc nồng, chẳng có vẻ gì là định tỉnh.

Họa học chính lại nghiêm giọng gọi, gã vẫn không một phản ứng, ta thấy cục diện dần ngả theo hướng xấu hổ, bèn lại gần gã, cúi người gọi khẽ: "Tử Tây."

Bấy giờ gã mới cau mày, chậm rãi nhập nhèm mở mắt, dòm ta trước rồi mơ màng nhìn chòng chọc họa học chính một hồi, mãi sau mới rộ cười hỏi: "Đại nhân giảng bài xong rồi?"

"Xong rồi," Họa học chính nuốt giận lạnh nhạt cất lời, "Nhưng xem ra nói khô khan quá, khó vào nổi tai của quý ngài, thành ra lại hoá tác dụng thôi miên."

Thôi Bạch cười mỉm, nói: "Nào có, lúc đại nhân giảng bài tôi vẫn nghe mà, chỉ là sau đó đại nhân vẽ tranh, bọn học sinh đều chen lên quan sát, tôi cách có hơi xa, mắt thấy chen không nổi nên mới quyết định ngủ một chốc, đợi đại nhân vẽ xong lại tỉ mỉ thưởng thức sau."

"Thật không?"

Họa học chính liếc xéo gã rồi không thèm nhìn nữa, chắp tay đứng ngó bầu trời xanh bên ngoài cửa sổ, bảo: "Vậy theo cái nhìn của anh, bức họa của kẻ hèn này vẽ ra sao?"

Thôi Bạch vẫn ngồi đó, biếng nhác dựa ghế, nghiêng đầu đánh giá bức sen thu trên vách tường đối diện một khắc rồi gật gù: "Đẹp lắm đẹp lắm...

Chỉ là ở đâu đó có hơi thiếu nét."

Họa học chính sao khỏi hiếu kỳ, hỏi lại ngay: "Chỗ nào?"

Thôi Bạch nhếch miệng: "Chỗ này."

Đương nói, tay nhặt một chiếc bút đã nhúng mực lên, bỗng ném phắt về phía tranh vẽ, đến lúc gã dứt lời, bút đã chạm đến tranh, quét một nét mực xéo dưới một phiến lá sen thu.

Hành động của gã quá mức đột ngột, chúng họa học sinh la lên thất thanh, quay đầu nhìn Thôi Bạch, lại đồng thời chuyển qua nhìn họa học chính, thăm dò sắc mặt y.

Họa học chính tức đến nghẹn lời, ngón tay trỏ vào Thôi Bạch run run: "Ngươi, ngươi..."

"Ối!

Học sinh nhất thời sơ suất, lấy nhầm cái bút có mực, đại nhân thứ tội."

Thôi Bạch vừa cáo lỗi vừa giở tay áo đứng lên, cất bước đi tới trước mặt họa học chính, một lần nữa tao nhã khom người tạ lỗi.

Sắc mặt họa học chính thoắt xanh thoắt trắng, phẫn nộ xoay người, giơ tay lên muốn giật bức họa treo trên vách xuống, chắc là định xé tan trút giận.

Thôi Bạch lại đưa tay đi cản, cười nói: "Đại nhân bớt giận.

Tranh này xuất sắc là vậy, chỉ vì một nét mà xé đi thì tiếc quá.

Học sinh đã phạm lỗi tất sẽ nghĩ cách bổ cứu."

Một họa học sinh nghe vậy xen lời: "Tranh đã bị mực làm nhơ thì bổ cứu thế nào?"

Thôi Bạch treo ngay ngắn lại tranh, cẩn thận nhìn thêm một lượt rồi nói: "Tranh đã dính vết nhơ, đại nhân cũng không muốn giữ nữa thì hẳn cũng sẽ không để ý tôi lại thêm vài nét bút đâu chứ?"

Cũng không đợi họa học chính cho phép, liền thong dong lựa lấy một cây bút trên bàn y, chấm nước mực trong nghiên, tay trái đặt sau lưng, tay phải vận bút, từ nét mực nhơ kia, hoặc điểm, dắt, lia, phẩy, hoặc xoay, chếch, xiên, kéo, giữa chừng pha mực, chốc lát sau, một con ngỗng trắng cong gáy cúi đầu rỉa lông xuất hiện đầy sinh động dưới phiến lá sen, nét bút nhơ được gã vẽ thành mỏ ngỗng, bút pháp tự nhiên, nhìn không ra dấu tích cố ý tu sửa.

Vẽ xong, Thôi Bạch đặt bút xuống lùi ra sau, cười mỉm mời họa học chính góp ý.

Mọi người chú tâm nhìn lại, thấy gã tuy chỉ vẽ một con ngỗng song lại bao hàm đủ năm màu thủy mặc tiêu, nùng, trọng, đạm, thanh (*), dung hòa êm ái, sống động mà không lộn xộn, kỹ thuật dùng mực dường như còn trên cơ họa học chính.

Tư thế con ngỗng nhã nhặn thanh thoát, có cảm giác như phá giấy mà ra, so ra, bông sen thu họa học chính vẽ mới rồi chợt mất đi thần thái, trở nên khô khan dại đờ.

(*) Năm màu mực pha trong nghệ thuật tranh thủy mặc Trung Hoa cổ, chi tiết xem cuối trang.

Hơn nữa, trước khi vẽ gã không hề có bản phác nền, cứ thế thả bút hoạ ra, hiển nhiên lại thắng họa học chính thêm một nước.

Có người không cầm được mở miệng trầm trồ, kêu thành tiếng rồi mới nhớ đến họa học chính, vội vàng ngậm miệng, nhưng trong mắt vẫn toát lên vẻ khâm phục.

Họa học chính cũng tiến lên xem xét, nín thinh thẫn thờ vuốt râu một lúc lâu rồi mới lườm sang Thôi Bạch, bình: "Dùng mực tạm được, nhưng thêm một con ngỗng vào đây làm không gian tranh đột ngột trở nên chật chội, mà lưu bạch (*) bên dưới thì lại quá nhiều, hỏng mất bố cục."

(*) Một thủ pháp thường được dùng trong sáng tác nghệ thuật Trung Hoa, chỉ việc cố ý khéo léo để lại một khoảng trống trong tác phẩm, giữ làm không gian tưởng tượng.

"Phải ạ phải ạ," Thôi Bạch tức thì hùa theo, thoải mái nhìn họa học chính, cười nói: "Tôi cũng thấy vị trí con ngỗng này đứng (*) quá cao, hạ xuống mấy phân thì vừa vặn."

(*) Ở đây họ Thôi chơi chữ, nguyên văn: "这呆鹅所处之位过高", chữ "呆" vừa có nghĩa là ngu ngốc, vừa có nghĩa là dừng chân/nán lại.

Nhìn vẻ mặt gã vậy, mọi người đều biết lời gã nói có ý chế nhạo họa học chính, đều có xu thế không nhịn được cười.

Ngực họa học chính phập phồng dữ dội, tưởng chừng như có thể ngất xỉu bất cứ lúc nào, có lẽ do không tiện nổi giận trước mặt chúng họa học sinh nên cuối cùng chỉ phất mạnh tay áo, chỉ ra ngoài cửa, lệnh Thôi Bạch: "Ra ngoài!"

Thôi Bạch không mất lễ nghi cúi thấp người thi lễ với hoạ học chính rồi ra khỏi cửa, nét cười ung dung trên bờ môi không giảm, bước đi đến là tiêu sái tự nhiên.

Ta hơi dịch bước, dõi nhìn gã đi xa.

Niềm vui mà hành vi ngông cuồng của gã đem lại không địch nổi tiếc nuối trong lòng, ta lờ mờ cảm thấy, ngày gã rời khỏi họa viện chẳng còn bao xa.

Năm màu mực pha trong nghệ thuật tranh thủy mặc Trung Hoa cổ:

Tiêu (cháy khét): bỏ nước mực đã mài nhuyễn vào nghiên, để bay hơi nửa ngày, mực tiêu dùng để vẽ những phần đậm màu nổi hình nổi khối.

Mực tiêu là phần đen đặc riêng biệt trong cả bức tranh, đen mà bóng sáng.Nùng (nồng đậm): độ đen của mực nùng gần với mực tiêu, nhưng trong mực nùng có pha thêm chút nước nên không tạo hiệu ứng bóng sáng như mực tiêu.Trọng (trầm đục): Mực trọng đối lập với khái niệm mực đạm.

Lượng nước pha vào mực trọng nhiều hơn mực nùng nên nhạt hơn nhưng so với mực đạm thì đen hơn.Đạm (nhạt loãng): Pha thêm nhiều nước hơn vào mực, tạo thành màu xám tro thì gọi là mực đạm.Thanh (trong vắt): Màu mực ở đây chỉ còn lại vẻn vẹn chút bóng dáng xám nhạt, chuyên dùng để thể hiện những hình tượng mơ hồ như sương sớm khói chiều.

4.

Trung cung

Chừng một tháng sau, họa viện đột nhiên nhận được giáo chỉ của hoàng hậu, sai tuyển chọn một tập tranh người vật tả thực của các quan viên và họa học sinh họa viện, trình lên hoàng hậu tại Nhu Nghi Điện.

Mặt trời sắp lặn, chúng đãi chiếu và họa học chính không dám chậm trễ, vội vàng lựa lấy những tác phẩm vừa lòng nhất, dự định đưa tới tẩm điện của hoàng hậu.

Hôm ấy vốn chẳng có việc gì, các nội thị khác của họa viện đã về phòng nghỉ ngơi, chỉ còn mình ta nán lại trực, giáo chỉ tới quá đột ngột, thành ra sau hơn một năm nhậm chức ở họa viện, lần đầu tiên ta nhận được nhiệm vụ mang tranh cuộn vào hậu cung, nếu là ngày thường thì hãy còn chưa tới phiên ta làm việc này.

Đây cũng là lần đầu tiên trong mấy năm qua kể từ khi vào cung, ta có cơ hội đi từ ngoài hoàng thành vào trong nội cung nơi đế hậu và tần phi ở.

Hàn lâm họa viện nằm bên ngoài Hữu Dịch Môn phía tây nam hoàng thành, dưới sự dẫn đường của nhập nội nội thị truyền chỉ cho điện hoàng hậu, ta bưng tranh cuộn, cất bước từ đó, băng qua Hữu Dịch Môn, Hữu Trường Khánh Môn, Hữu Gia Túc Môn, Hữu Ngân Đài Môn, lần lượt đi qua Môn hạ tỉnh, Xu mật viện, Môn hạ hậu tỉnh, Quốc sử viện, lại qua Hoàng Nghi Môn, vượt cổng Thùy Củng vào cung, vòng qua Thùy Củng Điện và Phúc Ninh Điện, bấy giờ mới đến được nơi ở của hoàng hậu, Nhu Nghi Điện.

Khi đó trời đã xâm xẩm tối, hoàng hậu lại không ở trong điện.

Thị nữ Nhu Nghi Điện nói, hoàng hậu đã sang Phúc Ninh Điện gặp quan gia, chẳng biết lúc nào trở về.

Ta nhờ nhập nội nội thị mang tranh cuộn vào trong điện, vì phải tận mặt phục lệnh hoàng hậu nên cũng không dám tự tiện rời đi, bèn đứng ngoài điện đợi.

Đợi suốt hai canh giờ, rốt cuộc hoàng hậu cũng trở về.

Ta quỳ xuống hành lễ, thấy ta lạ mặt, bà thoáng dừng bước, thị nữ giới thiệu với bà, bà mới nhớ ra, gật đầu, vào điện không bao lâu thì sai người truyền ta vào.

Hoàng hậu Tào thị bận thường phục trung cung quốc triều với ống tay áo dài rộng đỏ thắm, ngồi ngay ngắn trong điện, bên trong ống tay và cổ áo rực rỡ thấp thoáng để lộ viền mép lớp áo đơn bằng vải sa màu đỏ vàng, đường nét lần váy dài đỏ thẫm rủ xuống phẳng phiu mềm mại, không một nếp nhăn dư thừa, tấm gấm khoác nền trắng vân vàng lẳng lặng chất thành nếp gấp dưới mặt đất, tôn lên tư thái trang nhã an hòa của bà.

Một lần nữa hành lễ với bà, nhân lúc đứng thẳng dậy, ta lướt mắt qua mặt bà.

Hành vi vượt quá bổn phận này xuất phát từ lòng hiếu kỳ của ta đối với dung nhan vị quốc mẫu, đồng thời cũng cẩn thận khống chế thời gian cho thật ngắn để không bị người khác phát giác.

Bà nước da tựa ngọc, sắc mày nhạt nhòa, khí chất cao nhã, lúc này đang rũ mi như suy tư điều gì, vầng trán cũng ẩn hiện vẻ ưu sầu.

Nội thần trong điện đã hoàn tất việc treo tranh cuộn, hoàng hậu thong dong đứng dậy, chậm rãi dời bước xem xét từng bức.

Một lúc lâu sau, xem xong tất thảy rồi, bà không bình luận gì, chỉ xoay người hỏi ta: "Các tác phẩm tả thực xuất sắc nhất của họa viện gần đây đều ở trong này?"

Ta bẩm dạ.

Bà lại xem thêm một lúc, như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi: "Trong này có tranh của họa học sinh Thôi Bạch không?"

Ta thưa rằng không, bà liền mỉm cười: "Ta cũng nghĩ là không có.

Nghe nói họa kỹ hắn vụng về, không biết tiến thủ, lại ngạo mạn ngông cuồng, thậm chí còn chẳng để quan viên họa viện vào mắt...

Vậy cũng lạ quá, người tồi tệ thế chẳng hay đã thi được vào Hàn lâm họa viện như thế nào?"

Ta hơi do dự, nhưng vẫn bẩm đúng thực tế cho bà biết: "Từ khi quốc triều mở họa viện đến nay, không ai là không tôn sùng phong cách hội họa của cha con Hoàng Thuyên, Hoàng Cư Thái, mỗi buổi tranh tài so nghệ đều coi quy cách Hoàng thị là thước đo ưu khuyết.

Căn cơ của Thôi Bạch rất tốt, luận về nét vẽ tinh xảo thì tuyệt không làm khó được y, thế nên thi vào họa viện khá thuận lợi.

Nhưng tính y bay bổng không màng danh lợi, có vẻ như không tán thưởng phong cách hoa lệ của nhà họ Hoàng cho lắm, ngược lại yêu thích Từ Hi Dã Dật (*) hơn, thường ngày rất thích vẽ vật thực, gặp cảnh hợp ý là ghi lại ngay, có thể sao chép hình thái vật, đâu đó mang phong thái còn sót lại của Từ Hi.

Sau khi vào họa viện, vẽ hoa trúc lông vũ không phải lúc nào cũng dùng vẽ phác đắp màu mà còn thường xuyên tham khảo bút pháp không xương của Từ Hi hoặc Từ Sùng Tự, trong một bức họa đồng thời tồn tại cả bút ý phóng khoáng lẫn công phu nghiêm cẩn, điểm màu lại thanh nhã, độc đáo vượt trội, mang cái thú hoang dã riêng.

Nhưng khi so tài, phong cách vẽ này không được các quan viên họa viện tán thành nên tác phẩm của Thôi công tử lần nào lần nấy đều bị coi thường, rất khó gặt hái được khen ngợi."

(*) Một trong hai trường phái hội họa lớn thời Ngũ Đại, lấy họa sĩ Từ Hi làm đại biểu với lối vẽ phóng khoáng hoang dã, mộc mạc tự nhiên, còn được gọi là trường phái Nam Đường, khác với lối vẽ cung đình hoa lệ của phái Tây Thục Hoàng Thuyên.

Hoàng hậu gật đầu, lại hỏi: "Hắn biết rõ phong cách không được ưa chuộng mà vẫn kiên trì vẽ tranh như vậy?"

Ta đáp: "Vâng.

Y đã định đoạt việc gì thì sẽ không dễ dàng bị người khác ảnh hưởng mà thay đổi."

Hoàng hậu cười nhạt: "Cũng là một kẻ gàn bướng.

Nhưng hắn thi vào họa viện cũng chẳng dễ dàng gì, liều lĩnh như vậy không sợ bị trục xuất đi sao?"

Trong lòng ta biết hẳn là đã có người nói lời không hay về Thôi Bạch trước mặt hoàng hậu, lưỡng lự không rõ có nên cùng bà bàn đến tâm thái của Thôi Bạch hay không, song, giọng nói điềm đạm của hoàng hậu đã làm ta rất có hảo cảm với bà, vả lại bà vẫn luôn hòa nhã nhìn ta, đợi ta trả lời, điều này cho ta dũng khí thẳng thắn đáp: "Thi vào họa viện là nguyện vọng của phụ thân Thôi công tử, bởi vậy y mới tuân lời mà đi, nhưng hạn chế chỉ học thuần phong cách Hoàng thị trong họa viện lại đi ngược với chí hướng của y...

Tính y cũng không hợp với tác phong của họa viện, bị trục xuất cũng không khiến y sợ hãi."

Hoàng hậu trầm ngâm đôi chốc rồi mệnh lệnh: "Hai ngày nữa mang một số tác phẩm của Thôi Bạch tới đây."

Ta lập tức lĩnh chỉ, bà lại quan sát ta, hỏi: "Ngươi bao tuổi rồi, cũng từng học vẽ à?"

Ta khom người trả lời: "Thần năm nay mười ba, cũng chưa bao giờ học vẽ ạ, chỉ từng nguệch ngoạc mấy đường dưới sự chỉ bảo của Thôi công từ mà thôi."

"Ngươi...tên gì?"

Bà hỏi tiếp.

"Bẩm, Lương Hoài Cát."

Ta đáp, lần này không giải thích thêm bất cứ điều gì về tên mình nữa.

"Ồ, ta có biết ngươi."

Hoàng hậu hé cười: "Ngươi vốn tên là Lương Nguyên Hanh phải không?

Tên bây giờ là do Bình Phủ đổi."

Bình Phủ là tên tự của Trương tiên sinh chưởng quản Nội đông môn.

Hoàng hậu gọi thầy như vậy làm ta hơi ngạc nhiên, ngay sau đó vô hình trung lại nảy sinh chút mừng rỡ.

Ta coi Trương tiên sinh như thầy như cha, tuy mấy năm nay chúng ta không có nhiều cơ hội gặp mặt, song trước sau ta vẫn ôm niềm cảm kích kính yêu vô tận với thầy.

Hoàng hậu nhắc đến chuyện đổi tên cũng gợi cho ta lập tức nhớ ra ân trạch bà từng ban cho, bèn trịnh trọng quỳ xuống, khấu tạ ơn bà cứu mạng năm đó.

Bà hiền hòa kêu ta bình thân, còn thưởng cho ta vài cây bút râu chuột và mực thơm Tân An.

Ta cơ hồ được sủng ái mà sinh lo sợ, bởi thứ bà thưởng cho ta không phải là lụa là vải vóc như vẫn thường ban thưởng cho nội thị mà là bút mực thượng đẳng dùng vào việc thư họa.

Bà xem lại đống tranh cuộn kia thêm bận nữa, chọn ra vài bức hỏi ta tác giả, sai người nhất nhất lưu lại rồi bảo ta mang những bức còn lại về.

Ta tuân lệnh lui xuống, ra khỏi Nhu Nghi Điện dưới sự dẫn đường của nhập nội nội thị, nhập nội nội thị chỉ đường quay về cho ta rồi đóng cửa trở gót.

Y và ta đều đánh giá cao khả năng nhận đường của ta, ta lại một mực suy nghĩ chuyện vừa rồi, lơ đãng đi hồi lâu mới chợt hoảng hốt phát hiện ra thân đang ở chốn hoàn toàn xa lạ, ta đã bị lạc giữa đêm trong chín lớp cung điện này.

Ta dừng lại, mù mịt nhìn xung quanh, bốn bề lặng ngắt không một tiếng động, không một bóng người, chỉ có hồ nước trước mặt đang gợn lên những vệt sóng sáng loáng dưới ánh trăng, bóng liễu bên bờ đung đưa, phất phơ trong gió như những sợi tơ, nhìn mà lòng ta nổi cơn lạnh lẽo.

Ta ngờ ngợ nghĩ đây hẳn là Hậu uyển tây bắc hoàng thành, bèn ngửa đầu nhìn trời, chiếu theo phương vị ngôi sao phân biệt phương hướng, tìm được cửa ra hướng nam, vội vã rảo bước hướng theo phía đó.

Vừa đi tới dưới hàng hiên cửa nam thì chợt thấy bên thân nhoáng lên một cái bóng từ ngoài cửa đi vào, ta cả kinh, quay đầu lại nhìn, chỉ thấy bóng dáng ấy nhỏ bé xinh xắn, dường như là một cô bé không lớn, chạy về phía Dao Tân Trì ở Hậu uyển trong gió đêm hiu hắt, trên người chỉ mặc một chiếc áo đơn trắng thuần và váy dài cùng màu, mái tóc dài buông xõa tới eo, gặp ánh trăng phát ra ánh lam trầm.

Nàng xách váy chạy băng băng, giữa vạt váy tung bay có thể thấy nàng không đi vớ, ắt là chạy chân trần.

Chi tiết này khiến ta ý thức được nàng là người chứ không phải ma quỷ, nỗi sợ hãi ban đầu nhờ thế mà nhòa đi, ta lặng lẽ quay trở lại, nấp trong rừng cây bên hồ, xem xem nàng định làm gì.

Nàng quỳ gối cạnh một tảng đá bên bờ, ba vái chín lạy với ánh trăng.

Từ góc nhìn của ta có thể trông ra sườn mặt nàng, chỉ thấy nàng chừng bảy, tám tuổi, dung mạo xinh tươi, ngũ quan đẹp đẽ.

Bái lạy xong, nàng ngửa đầu nhìn trời, chau mày khóc nức, giọt châu trên mặt trong vắt như sương mai: "Cha ốm rồi, Huy Nhu không cách nào giúp cha thoát khỏi đau đớn, nhưng khẩn cầu trời cao rủ lòng thương xót cho Huy Nhu lấy thân thay cha gánh cơn bệnh tật, chịu gấp bội hết thảy đau ốm nơi cha.

Chỉ mong thần linh thành toàn cho lời thỉnh cầu của con, nếu có thể giúp cha khỏe mạnh như trước, Huy Nhu dẫu có mất mạng cũng cam lòng..."

Nàng vừa khóc vừa kể lể, lặp đi lặp lại hướng trời bày tỏ quyết tâm nguyện lấy thân thay cha, ta lặng im dõi xem, cũng buồn lây.

Tình cảnh này làm ta nhớ lại vài chuyện khi xưa.

Sức khỏe cha ta vốn yếu kém, sau lại mắc thêm bệnh nặng, thường xuyên ngày đêm ho hen, mỗi đêm đi ngủ ta đều có thể nghe thấy tiếng ông ho vọng sang từ cách vách.

Khi đó còn nhỏ chưa hiểu chuyện, luôn cảm thấy thứ tạp âm này đáng ghét vô cùng, cứ lần nào bị ồn ào quấy rầy không ngủ yên được là lại mơ hồ nghĩ, nếu có một ngày ông chịu yên lặng thì thật tốt biết bao.

Rốt cuộc cũng có một đêm như vậy, ta cuối cùng cũng không phải nghe tiếng ông ho nữa.

Đêm đó ta ngủ rất ngon.

Hôm sau tỉnh lại, vừa mở mắt đã trông thấy khuôn mặt đờ đẫn tái nhợt của mẫu thân, bà nhìn ta trân trân, chết lặng nói với ta: "Tiểu Nguyên, cha con đi rồi."

Thì ra trời sập là như thế, mọi thứ đều thay đổi.

Kể từ đó tới nay, cứ nhớ đến mình khi ấy đã thờ ơ với bệnh tình của phụ thân ra sao là ta lại hối hận khôn cùng, nếu thời gian có thể quay ngược về, ta nhất định cũng sẽ như cô bé trước mặt này, chân trần xin trời, thành tâm cầu khẩn, hi vọng mình có thể lấy thân thay cha.

Ta nghĩ đến thất thần.

Trên đầu có chiếc lá bị gió thổi rụng, phất qua mặt ta, ta hơi giật mình, tay run lên, một cuộn tranh rơi xuống đất.

Nghe thấy động tĩnh, cô bé cảnh giác quay đầu lại.

Ta nhặt cuộn tranh, hiện thân dưới ánh nhìn lom lom của nàng, mắt đối mắt với nàng, nhất thời đều không cất tiếng nào.

Ta không biết nàng là ai.

Phi tần trong cung có truyền thống thu nhận con nhà thanh bạch làm con gái nuôi, cũng có người sai nhập nội nội thị tìm người môi giới mua bé gái bần hàn vào cung làm đầy tớ, huống hồ còn có cung nữ bồi dưỡng từ nhỏ ở Thượng thư nội tỉnh, trong cung có không ít những cô bé cỡ tuổi nàng, ngoài nghe được nàng tên Huy Nhu ra, ta không rõ thân phận của nàng, chỉ cảm thấy không biết phải bắt chuyện với nàng ra sao, dù rằng ta rất muốn nói nàng hay, ta chân thành mong cha nàng sớm ngày khỏi bệnh.

"Ngươi là ai?"

Nàng hỏi.

Ta đang định trả lời thì thấy ngoài cửa nam Hậu uyển có người xách đèn lồng đi vào.

Huy Nhu trông đến, lập tức xoay người chạy hướng sang một cửa khác, chắc hẳn không muốn người tới phát hiện ra mình.

Nàng chạy đi lại kinh động tới người kia.

Đó là một cô gái trẻ tuổi mang dáng vẻ một nội nhân (*), cũng theo sát xách đèn lồng đuổi theo, miệng cao giọng hô: "Ai?

Đứng lại!"

(*) Một cách gọi khác của nữ quan trong cung.

Ta được bóng tối dưới tán cây che phủ nên cô gái không để ý tới.

Ta xem bóng hình hai người họ biến mất ở đầu đông Hậu uyển rồi mới đi theo hướng sao chỉ, một lần nữa tìm đường về chỗ ở.

5.

Huy Nhu

Hai ngày sau, ta vâng mệnh hoàng hậu, mang vài cuộn tranh Thôi Bạch vẽ tới Nhu Nghi Điện thỉnh bà xem.

Hoàng hậu đang nói chuyện phiếm cùng đô tri Nhập nội nội thị tỉnh Trương Duy Cát, thấy ta mang tranh đến, bèn sai người mở ra, cùng bình phẩm với Trương Duy Cát.

Những bức họa này được ta dày công chọn lựa, chủ đề đa dạng, có hoa trúc lông vũ, ấu sen vịt nhạn, cũng có quỷ thần Phật Đạo, đều là sở trường của Thôi Bạch.

Trương Duy Cát ngắm mà mắt mày nhuốm đẫm ý cười, xem chừng rất thưởng thức, hoàng hậu hỏi ý kiến của y, y thận trọng đáp: "Tranh người này vẽ ý tưởng khá mới lạ."

Hoàng hậu tạm thời không có lời nào, lại xem xét tỉ mỉ thêm lần nữa, cuối cùng, ánh mắt đậu lên một bức hoa sen đôi cò, khóe miệng khẽ nhếch, bảo ta: "Hoài Cát, ngươi nói không sai, Thôi Bạch khéo vẽ vật thực, nếu bàn về sao chép hình thái vật thì quả thực họa viện không mấy ai có thể vượt được hắn."

Ta mỉm cười cụp mắt cúi đầu.

Trương Duy Cát thấy hoàng hậu nhìn kỹ bức tranh đôi cò hồi lâu, cũng tới gần xem lại, muốn biết kỳ diệu chốn nào.

Hoàng hậu nghiêng đầu hỏi y: "Đô tri cảm thấy bức họa này thế nào?"

Bức tranh này vẽ một cặp cò nghịch nước trên hồ sen, một con bơi từ phải qua trái, muốn vồ lấy đóa sen hồng trước mắt, một con khác từ trên không liệng xuống, cần cổ dài cong rụt, hai chân duỗi thẳng ra sau.

Trương Duy Cát chăm chú phẩm họa kĩ càng rồi đáp: "Cò trắng trong tranh tư thế linh động, đuôi cánh dày mềm, như có thể chạm tới...

Đích thật là tác phẩm hiếm có."

"Không chỉ có thế," hoàng hậu chỉ vào cổ cò trắng, nói: "Cò trắng khi bay tất sẽ cong cổ thu sức, thậm chí nửa cổ dưới còn vòng thành hình túi.

Trước đây ta cũng từng xem tranh cò trắng người khác vẽ, thường vẽ nhầm thành dáng bay của chim hạc, cổ và chân phân biệt duỗi thẳng ra hai hướng trước sau.

Mà Thôi Bạch thì không nhỡ nhầm, có thể thấy hắn xem vật vẽ thực đúng là đã tốn không ít tâm tư."

Ta và Trương Duy Cát nghe vậy đều ghé lại xem bức tranh này, quả nhiên trông thấy con cò trắng bay trong họa cong cổ thu sức, gần như thành hình cái túi, bất giác kinh hãi thán phục.

Trương Duy Cát tức thì ngợi khen: "Nương nương thánh minh.

Thôi Bạch có thể được nương nương tán thưởng cũng thật có phúc!"

Hoàng hậu lại lắc đầu, thở dài: "Nhưng tài năng tính tình hắn thế mà tiếp tục giữ lại họa viện thì lại thành trói buộc gò bó hắn...

Có một số người trời sinh đã không hợp bước vào hoàng thành."

"Thu tranh lại đi, về sau cất vào bí phủ (*)."

Bà chỉ thị ta: "Còn về Thôi Bạch, ta sẽ bảo quan chủ quản bên họa viện phê chuẩn cho hắn rời đi."

(*) Thời cổ, nơi cất giữ sách vở bí mật trong cung gọi là bí phủ.

Sự tán thưởng bà dành cho Thôi Bạch từng cho ta phút chốc ảo giác, cho là nhờ vậy bà sẽ giữ gã lại, thế nên bà đột nhiên đổi lời kết thúc làm ta rất kinh ngạc, nhưng ngay sau đó cũng không thể không thừa nhận rằng điều này quả thực là một quyết định mà cả quan viên họa viện lẫn Thôi Bạch đều hài lòng.

Ta bội phục bà.

Cung nhân cuộn tranh lại, chuẩn bị đưa ta mang về.

Ta đứng nghiêm chờ đợi, chợt nghe ngoài điện vọng vào tiếng ầm ĩ, có nữ tử đang kêu khóc bên ngoài: "Hoàng hậu, mẹ con ta bị hãm hại, ngài không muốn đứng ra trừng trị kẻ gian thì thôi, dựa vào đâu mà đến quan gia cũng không cho ta gặp?"

Trương Duy Cát nhíu mày, định rảo bước ra xem, lại bị hoàng hậu ngăn lại, bà lệnh cung nhân: "Cho cô ta vào đi."

Rất nhanh sau đó, một người phụ nữ búi tóc lỏng lẻo chạy vào điện, quỳ rạp xuống trước mặt hoàng hậu, chìa đứa trẻ ôm trong lòng ra cho hoàng hậu xem, thút thít nói: "Ấu Ngộ đã ốm đến vậy rồi mà hoàng hậu vẫn không chịu để quan gia gặp mặt ư?"

Có lẽ do lo lắng cho bệnh tình của đứa bé, hai mắt người phụ nữ sưng đỏ vì khóc, mặt mày tiều tụy, song vẫn nhìn ra được dung mạo ả diễm lệ, nếu trang điểm thỏa đáng thì ắt là tuyệt sắc.

Ả ôm một bé gái ba, bốn tuổi, lúc này đang nhắm nghiền hai mắt, nặng nề hít thở, khuôn mặt nhỏ đỏ rực màu ốm bệnh, như sốt cao không hạ.

Hoàng hậu ôn hòa nói: "Ta đã sai thái y chẩn bệnh kỹ càng cho Ấu Ngộ, Trương mỹ nhân không nên mang nó ra ngoài, gặp lạnh nữa thì không hay.

Mấy ngày nay quan gia cần phải tĩnh dưỡng, trước đó đã hạ lệnh không gặp tần ngự (*)."

(*) Thời Tống, lấy bậc tam phẩm cửu tần làm vạch phân chia, thị thiếp của vua từ tần trở lên thì gọi chung là tần phi, từ tần trở xuống thì gọi chung là tần ngự.

Trương mỹ nhân lại lắc đầu: "Hoàng hậu cũng không phải không biết, bệnh con bé là do bị trù ếm, thái y chỉ chữa được ngọn khó trị tận gốc, muốn Ấu Ngộ khỏi hẳn, nhất định phải xử phạt kẻ tiểu nhân đã hãm hại nó.

Thiếp biết hoàng hậu chẳng để tâm việc nhỏ bậc này, không dám đem ra phiền nhiễu hoàng hậu, nhưng vì sao thiếp cầu kiến quan gia mà hoàng hậu cũng không cho?"

Ta từng nghe người khác nhắc qua, vị nương tử được kim thượng sủng ái nhất là mỹ nhân Trương thị, chắc hẳn chính là vị trước mắt đây.

Ả hiện giờ lời lẽ phách lối, hung hăng hống hách, đúng thật cái dáng được sủng ái mà lấy làm kiêu căng, ấy vậy nhưng hoàng hậu cũng chẳng nổi giận, chỉ thản nhiên đáp: "Mỹ nhân lo nghĩ quá rồi.

Hôm nay thời tiết thất thường, Ấu Ngộ chẳng qua chỉ lỡ trúng phong hàn, uống thuốc vào sẽ khỏe lại thôi, không can hệ gì đến người khác."

"Không can hệ gì đến người khác?"

Trương mỹ nhân cười khẩy, vung tay quẳng một vật xuống đất: "Thứ này là hôm qua lục soát được dưới tảng đá trong Hậu uyển, thiếp đã sai người bẩm báo với hoàng hậu mà hoàng hậu vẫn nói là không can hệ đến người khác ư?"

Một con rối bằng vải, trên thân có chữ viết, vài cây kim sáng loáng đâm sâu vào ngực bụng nó.

Đây là thuật vu cổ bị nghiêm cấm xưa nay trong cung đình.

Thấy Trương mỹ nhân đột nhiên ném con rối này ra, cung nhân trong điện đều lộ vẻ kinh hoàng.

Hoàng hậu buông mắt nhìn con rối, không nói gì, vẻ mặt như thường.

Lại nghe Trương mỹ nhân nói: "Đêm hôm trước, nội nhân Phùng thị đã chính mắt thấy Huy Nhu hướng trăng khấn vái bên bờ hồ Hậu uyển, trùng hợp làm sao, hôm qua lại có người tìm được thứ này dưới tảng đá lớn ven hồ.

Phùng thị đã bẩm tấu rõ ràng với hoàng hậu, cớ chi hoàng hậu không lý tới?

Ban nãy ta tự mình đi hỏi Huy Nhu, nó cũng đã thẳng thắn thú nhận chuyện đêm trước đi Hậu uyển rồi!"

Huy Nhu?

Cái tên này mang đến cho ta niềm kinh ngạc còn lớn hơn cả cảm giác khi trông thấy con rối hình người.

Ta nhớ lại một lượt lời Trương mỹ nhân nói, mau chóng hiểu ra ý ả là Huy Nhu – cô bé cầu xin dưới trăng kia – đêm trước ra Hậu uyển là để thực hiện thuật vu cổ, trù ếm con gái ả Ấu Ngộ.

Ta do dự, không biết với thân phận thấp hèn của mình, có nên tự ý tham dự vào cuộc nói chuyện giữa hai vị cung quyến tôn quý này, nói ra những gì mình thấy hay không.

Hoàng hậu trầm ngâm, không bày tỏ thái độ gì, chúng cung nhân cũng nín thở im lặng, chỉ có tiếng bi thương giận dữ đòi nghiêm khắc trừng phạt Huy Nhu của Trương mỹ nhân là vang vọng trong điện: "Nhân chứng vật chứng đều đủ cả, sao hoàng hậu còn chưa hạ lệnh trừng trị, dẹp yên cung cấm?"

Cuối cùng, nỗi lo lắng Huy Nhu phải đối mặt với tai họa đã vượt lên trên suy nghĩ cho tình trạng của bản thân, bóng dáng mảnh mai và đôi lời rưng rưng của cô bé bơm dũng khí cho ta.

Ta hơi dịch bước ra khỏi hàng, khom người với hoàng hậu: "Nương nương, thần có chuyện này muốn xin được kiểm chứng với Trương nương tử."

Ta đột nhiên chen lời vào khiến hoàng hậu và mọi người trong điện có phần kinh ngạc, nhưng hoàng hậu vẫn gật đầu, cho phép ta nói.

Ta quay người sang phía Trương mỹ nhân, hành lễ xong xuôi rồi cúi đầu hỏi: "Xin hỏi Trương nương tử, vị cô nương ngài nói đến tên là Huy Nhu ạ?"

Trương mỹ nhân chưa kịp trả lời, Trương Duy Cát đã cất giọng quát: "Láo xược..."

Hoàng hậu giơ tay lên cản y lại, hiền hòa ra hiệu cho ta tiếp tục.

Trương mỹ nhân lạnh lùng ngó ta, nụ cười cổ quái trên môi như có thâm ý: "Đúng vậy, con bé đó tên Huy Nhu."

Ta hỏi lại ả: "Phùng nội nhân thấy cô ấy khấn vái trăng ven hồ Hậu uyển là vào giờ tý đêm trước?"

Trương mỹ nhân ngẫm nghĩ rồi đáp phải.

Ta lại xoay người, nói với hoàng hậu: "Đêm trước thần đưa tranh vào Nhu Nghi Điện, lúc rời đi đêm đã khuya, bởi không rõ đường đi nội cung nên lạc vào Hậu uyển, vô tình bắt gặp một tiểu cô nương áo trắng chân trần cầu khấn trước trăng, tự xưng là Huy Nhu...

Trước đó thần có loáng thoáng nghe thấy tiếng trống canh, hẳn là vào giờ tý."

"Ồ?"

Hoàng hậu hỏi, "Lúc nó cầu khấn đã nói gì?"

Ta đúng thực tế bẩm lại: "Cô ấy nói phụ thân bị ốm, bởi vậy liên tục xin trời, nguyện lấy thân thay cha."

Hoàng hậu hé cười mỏng nhạt: "Không phải là hành vu trù ếm người khác?"

Ta lắc đầu, khẳng định chắc nịch: "Không ạ.

Vì bị người nhìn thấy nên sau khi cầu khấn, Huy Nhu lập tức rời khỏi Hậu uyển, thần không hề nghe thấy cô ấy trù ếm người khác."

Lại liếc con rối hình người Trương mỹ nhân ném trên mặt đất, bổ sung, "Cũng không thấy cô ấy mang theo vật này đi, hẳn cũng không phải là cô ấy đặt dưới tảng đá."

"Nói năng xằng bậy!"

Trương mỹ nhân vừa tạm nén được giận lại bị lời ta nói kích thích, "Không phải nó thì là ai?

Còn ai khác lo lắng bị Ấu Ngộ san mất sủng ái của quan gia như nó chứ?"

Suy nghĩ trong đầu ta bị câu hỏi của ả phá rối, lúc này mới mơ hồ cảm giác được rằng thân phận của Huy Nhu không đơn giản như ta tưởng tượng trước đây.

"Ngươi rõ ràng là bị sai sử nên mới bất chấp thiên uy, dám bày trò kiểm chứng!"

Trương mỹ nhân ép từng bước về phía ta, đưa tay lên, đầu ngón tay dài nhọn như muốn đâm thẳng vào mặt ta, rồi lại cười gằn sâu xa, ánh mắt làm như vô tình cố ý đảo sang hoàng hậu: "Nói, là ai sai sử ngươi?

Là Huy Nhu hay còn có người khác?"

Khí thế hừng hực của ả làm ta hơi co quắp, lùi ra sau hai bước, nhưng vẫn kiên trì nói: "Thần không dám vọng ngôn, nói ra đều là lời thật."

Một cú bạt tai rơi xuống má ta như chớp giật, âm thanh trong nháy mắt đó còn bén nhọn hơn cả giọng ả.

Ả thu tay về, ôm chặt con gái, cao ngạo giương cằm với ta, cười khinh miệt: "Giờ thì sao?

Có còn là lời thật nữa không?"

Ta thờ ơ cúi đầu.

Ta sống trong cung mấy năm nay cũng đã chẳng còn lạ gì với những màn làm nhục tương tự.

Làm thế nào để lặng lẽ không dấu vết hóa giải cảm giác nhục nhã tức giận vào những thời điểm thế này là một phần trong những gì chúng ta được dạy bảo.

Về nhịn nhục, ta vẫn chưa tu luyện được đến trình độ cao nhất, chủ tử đánh má trái, ta không sao chúm chím mà dâng nốt má phải lên cho nổi, nhưng ít nhất cũng có thể duy trì được vẻ mặt bình tĩnh, tư thái trầm lặng.

"Đủ rồi."

Hoàng hậu mở miệng, "Động thủ với nội thần là cô đang tự hạ thấp thân phận của mình đấy."

Trương mỹ nhân nhếch mép vẻ coi khinh.

Hoàng hậu liếc nhìn ta rồi bảo Trương mỹ nhân: "Cậu ta là nội thần Lương Hoài Cát của Tiền tỉnh, hôm trước vào cung lần đầu, đến khuê danh của Phúc Khang công chúa còn chẳng biết, sao có thể chịu ai sai khiến?"

Phúc Khang công chúa, trưởng nữ của kim thượng, nữ tử tôn quý nhất trong cung ngoài hoàng hậu ra.

Chút nghi hoặc trong lòng nhân vậy mà tiêu tan, thay vào đó là mờ mịt ngỡ ngàng.

Lời hoàng hậu như gió, bỗng chốc thổi bay bóng hình trắng ngần của bé gái nhân gian ra khỏi ký ức ta, thổi nàng bay lên tận chín tầng trời xanh xa vời vợi.

Hồi thần lại, ta quỳ rạp xuống đất, xin hoàng hậu thứ cho tội không biết tị húy.

Trương mỹ nhân đứng bên cạnh vẫn cười lạnh như cũ, nghiến răng: "Hay cho một vở hát xướng diễn trò!"

Hoàng hậu nói người không biết không có tội, bảo ta bình thân, lại phân phó Trương Duy Cát: "Mời Phúc Khang công chúa lại đây."

Lát sau, vang tiếng ngọc bội leng keng, ngoài điện có hai người phụ nữ trưởng thành bước vội vào.

Hai người đều vấn cao tóc, bận áo bào vạt cân ống tay hẹp, chất liệu tinh xảo, một người vải sa xanh quận Tiêu, một người sa Tương Châu họa tiết chìm hình hoa mẫu đơn, khác hẳn cung nữ nội nhân bình thường, hẳn là thuộc tần ngự.

Hai người vội vàng thi lễ với hoàng hậu rồi gấp gáp cùng nhau biện giải cho Phúc Khang công chúa, đều nói việc này không phải do công chúa gây ra.

Trong đó, vẻ mặt người mặc áo sa xanh âu lo đau lòng hơn cả, thi lễ xong quỳ hoài không dậy, rưng rưng lặp đi lặp lại: "Huy Nhu còn nhỏ, nào hiểu được những thứ vu cổ này!

Huống hồ nó vẫn hằng thương yêu em gái, tuyệt đối không thể làm ra chuyện như thế.

Kính mong hoàng hậu làm chủ, trả lại trong sạch cho con bé."

Hoàng hậu sai người đỡ bà dậy, ôn tồn khuyên bà: "Miêu chiêu dung đã tin tưởng Huy Nhu thì đừng nên lo lắng."

Rồi đánh mắt bảo tùy tùng, "Ban tọa cho Trương mỹ nhân, Miêu chiêu dung, Du tiệp dư."

Hai vị nương tử tới sau cũng là sủng phi của kim thượng, đều từng sinh hoàng tử hoàng nữ nên ta cũng có nghe qua danh hiệu.

Miêu chiêu dung là con gái của nhũ mẫu kim thượng, mẹ đẻ của Phúc Khang công chúa, quan hệ rất thân thiết với Du tiệp dư.

Đáng tiếc là hoàng tử do Du tiệp dư và Miêu chiêu dung sinh ra đều lần lượt chết yểu, đến nay kim thượng vẫn không có người nối dõi, đến các tiểu công chúa cũng liên tiếp qua đời, hiện giờ dưới gối quan gia chỉ có hai con gái: trưởng nữ Phúc Khang công chúa và hoàng nữ thứ tám do Trương mỹ nhân sinh hạ, tên Ấu Ngộ, hiệu Bảo Từ Sùng Hữu Đại Sư.

Vẻ ưu sầu trên mặt Miêu chiêu dung dịu đi, lần lượt ngồi xuống cùng Du tiệp dư, Trương mỹ nhân nghe nội nhân khuyên nhủ cũng miễn cưỡng nhập tọa, nhưng dáng vẻ vẫn không cam lòng thỏa hiệp, mắt nhìn Miêu chiêu dung, cười khẩy.

Đúng lúc này, nội thị vào báo Phúc Khang công chúa đến, công chúa theo sau chậm rãi đi vào, hai mắt đỏ hoe, còn vương ngấn lệ, nhưng xiêm y chỉnh tề, tóc búi trái đào gọn gàng ngay ngắn, dưới cái nhìn chăm chú của mọi người, lông mi hơi rũ, song đầu không cúi thấp, đặc biệt là khi đi qua trước mặt Trương mỹ nhân, nàng thậm chí còn hơi ngẩng mặt, cằm và cổ tạo thành một góc giương lên, mắt nhìn thẳng tắp, thần sắc lạnh lùng.

Đi tới trước mặt hoàng hậu, công chúa trịnh trọng nâng tay ngang mày, hành đại lễ bái lạy hoàng hậu, lại nhún người nói vạn phúc với mẫu thân và Du tiệp dư, sau đó thõng tay đứng thẳng, không bày tỏ bất kỳ ý gì với Trương mỹ nhân, hoàn toàn như nhìn không thấy.

Hoàng hậu mỉm cười bảo nàng: "Huy Nhu, bái kiến Trương mỹ nhân đi."

Công chúa khe khẽ đáp dạ, song vẫn không nhúc nhích, không chút ý định hành lễ.

Trương mỹ nhân liếc xéo nàng, lạnh nhạt kháy: "Thôi khỏi, cũng chẳng phải lần đầu tiên...

Thấp kém như ta đây vốn cũng nhận không nổi lễ của công chúa."

Công chúa nghe Trương mỹ nhân nói xong, vẫn không có phản ứng gì, hoàng hậu mở lời hỏi nàng: "Huy Nhu, đêm hôm trước con có tới Hậu uyển không?"

Nàng gật đầu thừa nhận: "Có ạ."

"Tới đó làm gì?"

Công chúa do dự, nhất thời không đáp.

Hoàng hậu hỏi lại lần nữa, nàng lặng im chốc lát rồi mới lên tiếng, nhưng là một câu hỏi nhỏ: "Cha...đã khỏe hơn chưa ạ?"

Hoàng hậu dời sang nhìn Trương Duy Cát, mắt lộ vẻ trấn an.

Trương Duy Cát cười khom người, chắc là tỏ ý câu công chúa hỏi ngầm khớp với lời chứng của ta, có thể chứng minh nàng trong sạch.

Hoàng hậu bèn hòa ái hỏi lại công chúa: "Con ra Hậu uyển là để xin trăng, cầu phúc cho cha?"

Công chúa ngạc nhiên, bật thốt: "Sao nương nương biết?"

Hoàng tử và hoàng nữ quốc triều gọi phụ hoàng là "cha" như gia đình thứ dân, gọi mẹ cả là "nương nương", mẹ đẻ đứng hàng tần ngự thì gọi "tỷ tỷ".

Ngoài Trương mỹ nhân ra, người trong điện ban nãy có nghe được lời ta nói đều mỉm cười.

Trương Duy Cát giải thích lại một lượt nguyên do khi trước, Miêu chiêu dung nghe thấy, đưa mắt nhìn ta tỏ vẻ cảm kích, Du tiệp dư cũng thở phào, cùng Miêu chiêu dung nhìn nhau cười.

Trương mỹ nhân không kiềm chế được, lại đứng dậy, trỏ vào con rối trên mặt đất lớn tiếng hỏi công chúa: "Con rối hình người đâm kim này phải giải thích ra sao?

Tại sao lại vừa vặn xuất hiện ngay sau khi cô đi Hậu uyển?"

Công chúa nhíu mày, hơi nghiêng mặt đi, không thèm lý tới.

Trương mỹ nhân lại không chịu thôi, dứt khoát nhặt con rối lên, chìa thẳng ra trước mặt công chúa: "Thường nghe công chúa dám làm dám chịu, sao bây giờ lại không nói tiếng nào?"

Công chúa mím môi, trước sau vẫn coi ả là người vô hình.

Trương mỹ nhân tiếp tục ép sát truy vấn, hoàng hậu thấy thế bèn khuyên công chúa: "Nếu việc này không liên quan tới con thì con giải thích đôi câu với Trương mỹ nhân đi."

Công chúa cắn môi cụp mắt, hồi lâu sau mới phun ra bốn chữ: "Con không biết làm."

"Không biết làm?"

Giọng hoàng hậu dịu dàng, muốn dẫn dắt nàng giải thích nhiều hơn, "Không biết làm gì?"

Lần này, công chúa không chịu nói thêm nữa.

Miêu chiêu dung xem mà nóng ruột, ngồi một bên liên miên khuyên nàng trả lời, công chúa vẫn không hé răng.

Hoàng hậu không nói gì, Trương mỹ nhân đầy mặt giận dữ, Miêu chiêu dung khuyên nhủ chốc lát, thấy người trong điện đều không mở miệng, tiếng mình khuyên bảo thành ra nổi bật hẳn lên, vội im bặt.

Trong điện lại chìm vào một trận trầm mặc bứt rứt.

Cuối cùng, người đánh vỡ sự im lặng này chẳng ngờ lại là ta.

"Nương nương, công chúa đã trả lời rồi."

Khi câu này vang lên, thực ra bản thân ta cũng kinh ngạc như những người còn lại: Một tiểu nội thị không đáng nhắc tới lại tự ý xen lời thảo luận nghi án hậu cung những hai lần, dũng khí lấy đâu ra?

Nhưng dù sao cũng đã mở miệng rồi, ta chỉ có thể kiên trì nói cho bằng hết: "Khi xưa Triệu Phi Yến tố Ban tiệp dư trù ếm, Hán Thành Đế tra vấn tiệp dư, tiệp dư đáp rằng 'Thiếp nghe nói, sống chết có số, nghèo sang do trời.

Người ở hiền còn chẳng rõ phúc phận, làm chuyện sai quấy vọng cầu chi?

Quỷ thần có linh thiêng, ắt sẽ không nghe lời xin xỏ hại người; nếu không linh thì trù ếm phỏng có ích gì?

Thiếp nghĩ còn chẳng nghĩ đến.' Thần cả gan đoán, ban nãy công chúa nói 'Con không biết làm' cũng cùng ý với câu 'Nghĩ còn chẳng nghĩ đến' của Ban tiệp dư."

Ta nói xong, cảm giác được công chúa dời mắt chăm chú nhìn mình, tầm mắt ta và nàng chạm nhau trong khoảnh khắc, chỉ thấy ánh mắt nàng long lanh, nổi lên một tầng ý cười nhàn nhạt, hai má ta thoắt nóng lên, cúi đầu thật thấp.

Mọi người nhất thời đều không nói gì.

Một chốc sau mới nghe Du tiệp dư cười khen: "Tiểu hoàng môn lanh lợi lắm, nói rất có lý, hẳn là như vậy."

Hoàng hậu gật đầu mỉm cười, Miêu chiêu dung và Trương Duy Cát cũng nhìn ta vẻ ôn hòa, chỉ duy Trương mỹ nhân là càng thêm căm tức, chòng chọc ngó ta trách mắng: "Ngươi so ta với Triệu Phi Yến?"

Ta sửng sốt, ban đầu chỉ muốn biện giải thay công chúa Phúc Khang nên mới viện dẫn chuyện Ban tiệp dư, vốn không có ý so sánh Trương mỹ nhân với Triệu Phi Yến, nhưng giờ xem ra, khó mà thanh minh được.

May mà đúng lúc này, một tin tức nội thần gian ngoài truyền vào đã cứu ta: "Quan gia tỉnh lại rồi, cho vời Phúc Khang công chúa!"

Cung quyến trong điện nhao nhao đứng dậy, hoàng hậu dắt tay Phúc Khang công chúa, nói: "Đi thôi, đi gặp cha con."

Hai người lập tức rời điện, Miêu chiêu dung và Du tiệp dư cũng bám sát theo sau.

Trương mỹ nhân ngớ ra rồi cũng vội vàng ôm con gái đuổi theo.

Những người còn lại trong điện dần tản đi, ta nán tại chỗ hồi lâu, thấy không ai lý gì tới mình nữa mới ra khỏi điện, theo đường cũ trở về họa viện.

6.

Thu Hòa

Mấy ngày sau đó, cuộc sống ở họa viện vẫn sóng êm gió lặng như thế, cũng không thấy nội cung có tin tức gì trọng đại truyền ra.

Ta nhịn không được hỏi thăm đồng bạn nhỏ tuổi được điều vào Nhập nội nội thị tỉnh, họ nói với ta, quan gia long thể đang dần hồi phục, nghe nói Phúc Khang công chúa bái trăng cầu khấn, nguyện lấy thân thay cha khi ông bệnh ốm nên vô cùng cảm động, từ đó càng yêu thương công chúa hơn.

Trương mỹ nhân tuy kiêu ngạo với người khác, song trước mặt quan gia thì lại rất biết đường xem mặt đoán ý, giờ thấy ông coi công chúa là con gái yêu, chẳng tiện nhắc lại chuyện vu cổ, hơn nữa bệnh tình của Ấu Ngộ đã có chuyển biến tốt đẹp, ả cũng tạm thời thôi kiếm chuyện với công chúa.

Ngày Thôi Bạch rời họa viện, ta tiễn gã tới cửa cung.

Trước khi đi, gã dẫn ta tới chỗ yên tĩnh, lấy một quyển trục ra đưa cho ta bằng cả hai tay, hỏi: "Hoài Cát có thể thay ta tặng bức 'Thu phố dung tân đồ' này cho một người bạn chăng?"

Ta không chút suy nghĩ nhận lời, nhận tranh rồi mới cảm thấy kinh ngạc: Thì ra trong cung này, Tử Tây còn có bạn bè khác.

Mở ra xem, chỉ thấy gã vẽ mép nước bờ thu, hoa sen gãy nửa, phù dung nở rộ, đôi ba con chim chìa vôi lướt nước đậu giữa hoa lá, trong đó có một cặp nhạn thu kết đôi, một con nghển cổ về phía bên phải, một con giương cánh hướng sang bên trái, nối nhau bay liệng.

Cảnh vật sống động có hồn, màu sắc thanh đạm nhã nhặn.

Ta không khỏi tán tụng, hỏi gã muốn tặng người nào.

Gã cười xán lạn, nói: "Năm trước quan gia từng lệnh cho người họa viện cùng vẽ một cuốn hành lạc đồ, chuẩn bị xong bản phác nền rồi quan gia lại không hài lòng, nói: 'Kiểu dáng nhà cửa không tệ, nhưng phục sức cung nhân bên trong thì không hợp thời', bèn phái nữ quan nội nhân Thượng phục cục và Sức ty tới giảng giải cho bọn tôi nghe về đặc điểm phục sức trong cung, cũng biểu diễn cách vấn tóc cho bọn tôi xem.

Nội nhân chải đầu chia hai người một tổ, người này vấn tóc thêm mũ cho người kia.

Trong đó có một tiểu cô nương mười hai, mười ba tuổi, dung mạo khả ái có duyên, chẳng biết tại sao mà vừa chải tóc vừa rơi lệ.

Tôi lấy làm lạ, hỏi em nguyên do, em nói: 'Sáng nay, con chìa vôi trắng em nuôi chết mất rồi', giọng nói mềm nhẹ làm tôi thấy mà thương.

Sau đó tôi hứa với em rằng ngày mai sẽ tặng em một con chim không bao giờ chết.

Đêm đó vẽ ngay một con chìa vôi, hôm sau đưa cho em.

Em rất mừng rỡ, cảm ơn rối rít.

Nước da em trắng trong, khi ấy đôi gò má hây hây đỏ, lan rộng đến cả sống mũi cũng đượm một màu son thơ ngây, tựa phù dung sớm thu, rạng rỡ khôn xiết.

Tôi bèn cười hỏi em: 'Cô nương dùng son gì vậy?

Kiểu trang điểm này có tên chăng?' Em lại thẹn thùng không đáp, tôi cũng không truy hỏi nữa, chỉ xin em ngày sau tiếp tục trang điểm màu sắc này, tôi muốn họa em vào hành lạc đồ.

Mấy ngày kế, em thực sự trang điểm y vậy, mãi cho đến khi tôi vẽ xong."

Ta gật đầu: "Thượng phục cục và Sức ty phụ trách cao dầu tắm gội dưỡng da, khăn lược, y phục, trang sức, trang điểm hẳn cũng là một phần trong chức trách."

Thôi Bạch cười, nói: "Nhưng về sau tôi mới biết, má hồng nơi em không phải do vẽ mà ra...

Ngày cuối cùng nội nhân Thượng phục cục đến Họa viện, em vắng mặt.

Tôi hỏi đồng bạn em, họ cho tôi hay da em tuy trắng nõn, khác với người thường, song vô cùng nhạy cảm, thời tiết thay đổi hoặc ăn uống không hợp là sẽ xuất hiện hiện tượng mặt đỏ.

Hôm tôi hỏi em về kiểu trang điểm, trước đó em đi chải đầu cho Miêu chiêu dung, Miêu chiêu dung tiện tay thưởng cho em một quả lựu bóc dở.

Em vốn không ăn được đồ chua nóng, nhưng ngại thể diện chiêu dung nên đành phải ăn, sau đó hai gò má liền ửng hồng như thoa son."

Ta hiểu được phần nào: "Mấy ngày kế đó là cô ấy cố ý ăn đồ chua nóng để duy trì má hồng cho huynh vẽ?"

Thôi Bạch gật đầu, thở dài: "Kết quả là khí nóng ứ đọng, khiến em khó chịu toàn thân, cuối cùng đổ bệnh.

Từ đó về sau tôi không còn thấy em nữa.

Tôi cứ áy náy mãi chuyện này, đến hôm nay thì vẽ bức tranh, muốn tặng cho em bày tỏ ân hận."

Ta bèn hỏi họ tên cô nương này, Thôi Bạch nói: "Em họ Đổng, tôi nghe các nội nhân khác gọi em là 'Thu Hòa'."

Ta một lần nữa hứa hẹn nhất định sẽ tặng tranh tận tay.

Bởi đã rất thân với gã nên thuận miệng nói đùa: "Vừa nãy thấy huynh lấy trục tranh ra tôi còn tưởng là tranh này tặng tôi kia đấy."

Thôi Bạch cười to: "Sao tôi dám làm lơ trung quý nhân!

Vốn định lựa một bức đặc sắc biếu cậu, tiếc rằng xem tới xem lui mà chẳng chọn được bức nào ra hồn.

Nhưng tôi nhất định sẽ chú ý việc này, ngày khác sẽ vẽ một bức thật đẹp tặng cậu."

Thôi Bạch đi rồi, ta lập tức đến Thượng phục cục tìm Đổng nội nhân, nhưng khi ấy cô không có mặt ở đó.

Thượng phục cục giống các cục Thượng dược, Thượng uấn, Thượng liễn, đều nằm phía đông bắc cung thành, cách Nội thị tỉnh không xa.

Sau đó ta lại đi mấy bận, song đều không tìm được cô.

Nghe các nội nhân khác nói, Đổng nội nhân tâm tư ý nhị, tài nghệ rất khá nên tần ngự trong cung đều thích mời cô đến chải đầu, thường dây dưa mãi đến tận tối mịt mới về.

Ta tuy là nội thị nhưng đêm tối đi tìm một cung nữ cũng không hay, thay người ngoài cung tặng tranh cuốn lại dễ gây hiềm nghi trao nhận vụng trộm, cũng không tiện để lại tranh trục nhờ nội nhân chuyển hộ, việc này đành tạm thời bỏ ngỏ.

Một ngày nọ, hầu hạ trong họa viện xong, ta quay về chỗ ở ở Nội thị tỉnh, lúc đi tới cửa hông thông giữa Nội thị tỉnh, Thượng thư nội tỉnh và nơi hoàng đế phê duyệt tấu chương thì thấy đằng trước có một tiểu hoàng môn tuổi tầm tầm ta, một tay ôm một hộp gấm, tay kia ấn bụng, khom người từ từ dựa tường ngồi xổm xuống, vẻ mặt đau đớn chịu không thấu.

Ta vội đi tới, hỏi hắn khó chịu chỗ nào, hắn nói bụng đau như xoắn, sợ là bệnh đường ruột phát tác.

Ta định dìu hắn đi Thượng dược cục, hắn lại cuống quít xua tay, nói: "Đại lý bình sự mới nhậm chức, trực giảng Quốc tử giám (*) Tư Mã Quang tài đức có tiếng nên quan gia vời y vượt cấp vào cung đàm luận, hôm nay sau khi nghe y giảng bài ở Di Anh Các, long nhan cả mừng, ban thưởng cho y một cái đèn lưu ly.

Ý chỉ ban thưởng giao cho Hợp đồng bằng do ty xét duyệt mất một lúc lâu, đến mãi vừa rồi tôi mới lấy được đèn lưu ly từ trong kho ngự ra.

Hiện giờ quan gia đã trở về Phúc Ninh Điện, Tư Mã tiên sinh hãy còn chờ ở Di Anh Các, tôi vốn định đi nhanh đưa cho y, không biết làm sao lại đột ngột phát bệnh...

Huynh có thể mang đèn lưu ly qua đó giúp tôi không?

Thượng dược cục ngay gần đây, tự tôi đi từ từ qua đó là được."

(*) Đại lý bình sự là chức quan phụ trách xử án, trực giảng là chức quan hỗ trợ giảng dạy nghiên cứu ở Quốc tử giám.

Ta hơi do dự, hắn lại thúc giục không ngừng, dáng điệu sốt ruột, cuối cùng ta đồng ý, nhận lấy hộp gấm, chuyển hướng đi Di Anh Các.

Trong gác có một vị tiên sinh gầy gò đang thẳng lưng ngay ngắn ngồi chờ.

Gương mặt rất trẻ, hẳn còn chưa tới tuổi thành gia lập thất, nhưng thần sắc nghiêm túc, già giặn từng trải.

Thấy ta đi tới, y ngước mắt nhìn ta, hai mắt sáng ngời có thần.

Ta ngập ngừng gọi khẽ "Tư Mã tiên sinh", thấy y gật đầu mới yên lòng đến gần, khom người dâng hộp gấm cho y.

Y xoay người về phía Phúc Ninh Điện, bái tạ đúng nghi thức rồi mới tiếp nhận, chậm rãi mở hộp gấm ra.

Trong chớp mắt khi nắp hộp mở ra, y bỗng giật mình.

Ta thấy thần sắc y khác thường, bèn thò đầu ngó vào hộp, thình lình như bị sét đánh, ngây người tại chỗ, luống cuống không biết làm sao.

Đèn lưu ly trong hộp sắc men trong vắt, rực rỡ óng ánh, song, đã nứt thành hai nửa.

Trong đầu phút chốc trống không, tiếp đó ùa vào vô vàn ý nghĩ lộn xộn rối rắm: Không phải ta, không phải ta, suốt dọc đường ta bưng hộp gấm rất vững, chưa từng đánh rơi...

Ban nãy lại quên không hỏi tên tiểu hoàng môn kia...

Tìm được hắn cũng vô dụng, ta căn bản không thể chứng minh đèn lưu ly vỡ trước khi giao cho ta...

Đúng lúc này, cửa gác bỗng bật mở, vài nội thị đi vào, người cuối cùng tiến tới là phó đô tri Nhập nội nội thị tỉnh Nhậm Thủ Trung.

Nhậm Thủ Trung chắp hai tay sau lưng, chậm rãi bước đến cạnh ta.

"Ranh con giỏi lắm, làm vỡ vật báu ngự tứ của quan gia..."

Ông ta sầm mặt nói, chợt nghiêng đầu, đánh mắt ra hiệu cho nội thị đi theo, lập tức có người tiến lên ấn ta quỳ xuống mặt đất.

Nhậm Thủ Trung lại khom người với Tư Mã Quang, nói: "Theo lệ trong cung, nội thị làm hỏng vật ngự tứ đại thần sẽ để tùy đại thần xử trí.

Thằng nhóc này cần đánh hay đuổi, tiên sinh phân phó một câu là được."

Ta hoàn toàn không cách nào biện giải.

Cảm giác như trở về lần bị nhốt trong phòng tối khi còn bé, tầm mắt nhạt nhòa, suy nghĩ phai mờ, không khí hít vào tràn ngập hơi thở chết chóc, ta cúi đầu đờ đẫn nhìn trân trân ánh tà dương hắt từ cửa sổ, chẳng rõ còn có thể thấy ánh mặt trời ngày mai hay không.

Đợi hồi lâu, cuối cùng, có tiếng nói vang lên.

"Thả cậu ta ra đi."

Tư Mã Quang bảo.

"Gì cơ?"

Nhậm Thủ Trung sững sờ, ngờ rằng mình nghe lầm.

"Thả cậu ta ra."

Tư Mã Quang lặp lại, giọng thêm phần rõ ràng, ngữ khí bình tĩnh khác thường.

Nhậm Thủ Trung nhíu mày, vẫn không sao tin được: "Cứ thế thả nó đi?

Làm hỏng vật ngự tứ, có xử tội chết cũng chẳng quá đáng."

"Vật thưởng ngoạn há lại quý hơn mạng người."

Tư Mã Quang bình thản nói, "Vị trung quý nhân này hãy còn nhỏ tuổi, vô ý đánh rơi làm vỡ đèn lưu ly cũng không coi là tội nặng."

Nhậm Thủ Trung lấy làm khó xử: "Nhưng, quan gia..."

"Nếu quan gia hỏi đến, xin hãy đáp bằng hai câu này."

Tư Mã Quang thoáng dừng lại rồi nói: "Cầm ngọc tước (*) chớ nên vung vẩy, trong lễ nghi dẫu nghe là vậy; mây ráng chiều chóng tản dễ tan, sự đã rồi khoan thứ đi thôi."

(*) Tước là cốc uống rượu ba chân thời cổ.

Đại lý bình sự là chức quan sơ đẳng trong kinh thành, chỉ đứng hàng bát phẩm, đối với thủ lĩnh nội thị Nhậm Thủ Trung đã nhìn quen đại thần tể chấp (*) mà nói, e rằng căn bản chẳng đáng để vào mắt.

Giọng Tư Mã tiên sinh bình thản, sắc mặt cử chỉ nhũn nhặn, cũng không ỷ thế hiếp người, song dăm ba câu ít ỏi lại có sức mạnh kỳ diệu, nghe vào chỉ cảm thấy lời đã nói ra không dung kháng cự.

(*) Danh từ gọi chung tể tướng và quan chấp chính – những chức quan quan trọng đứng đầu triều đình.

Nhậm Thủ Trung quan sát Tư Mã Quang dăm bảy lượt, mấy phen muốn nói lại thôi, cuối cùng hậm hực rút đi.

Trong gác chỉ còn lại ta và Tư Mã tiên sinh, ta rưng rưng vái dài: "Ơn cứu mạng của Tư Mã tiên sinh, Hoài Cát cảm kích khôn xiết, trọn đời khắc ghi."

Hai tay y đỡ ta dậy, mỉm cười: "Không cần phải vậy...

Có điều sau này phải cẩn thận hơn."

Ta gật đầu: "Hoài Cát xin ghi nhớ lời tiên sinh dạy bảo."

"Hoài Cát?"

Y trầm ngâm, ngay sau đó hỏi, "Cậu là trung quý nhân Lương Hoài Cát của Hàn lâm thư nghệ cục?"

"Phải ạ, tôi từng làm việc ở thư nghệ cục mấy năm, sau được điều sang Hàn lâm họa viện."

Ta trả lời, lại kinh ngạc nói, "Sao tiên sinh biết..."

"Ta nghe Tôn Chi Hàn tiên sinh nhắc đến."

Y đáp, ánh mắt nhìn ta càng thêm hiền hòa.

Mùa đông năm đó ta vẫn còn nhậm chức ở Hàn lâm thư nghê cục, một trong số các công việc là sao chép lại tấu sớ của chư thần trước kia, đưa cho Bí các (*) chỉnh lý cất kho lưu trữ.

Gián quan Tôn Phủ (tự Chi Hàn) vì trời đổ tuyết đỏ, trong nước lại gặp họa động đất nên từng dâng sớ tâu vua, chỉ thẳng rằng Trương mỹ nhân chịu sủng ái mà phóng túng bừa bãi, gây họa lại ỷ được che chở, coi thường cách biệt địa vị trưởng thứ, dùng vật lạm quyền, dẫn đến thiên biến cảnh báo.

(*) Bí các là nơi lưu trữ bản gốc thư tịch của Sử quán, Chiêu văn quán, Tập hiền viện và tranh cổ, thiếp tranh thư pháp cung đình.

Trong sớ, ông trích dẫn lời tể tướng Trương Hành Thành can gián Đường Cao Tông tránh xa nữ sắc tiểu nhân trong "Đường thư": "Khủng nữ yết dụng sự, đại thần âm mưu, nghi chế vu vị ấm." (*), nhất thời viết nhầm chữ Yết (谒) thành chữ Át (遏), lúc ta sao chép phát hiện ra, lén lút sửa lại chữ này, về sau Bí thư tỉnh thẩm tra lại nguyên văn và bản sao, thấy bị sửa đổi, hỏi ý kiến Tôn Phủ, Tôn tiên sinh liền xưng "hổ thẹn", thừa nhận là mình lỡ bút, đối với việc ta tự tiện chủ trương sửa chữ ông viết không chỉ không cho là ngang ngược mà còn rất đỗi tán dương, đề cập với không ít người.

(*) Câu này có nghĩa là "E nữ nhân nắm quyền, đại thần mưu toan, cần phải hạn chế, không thể bao che."

"Trung quý nhân từng đọc 'Đường thư'?"

Tư Mã tiên sinh hỏi ta, giọng ẩn chứa ý tán thưởng.

Ta hơi do dự rồi cúi đầu đáp: "Lúc Giả tướng công biên sửa thư tịch trong Tư thiện đường có giảng kinh sử tử tập (*) cho nội thị Hàn lâm viện, tôi từng đi dự thính, mượn đọc một hai bộ sách mà chư thần thường nhắc đến khi dâng sớ..."

(*) Cách phân loại nội dung sách vở thời xưa: kinh là kinh thư tức tác phẩm kinh điển của nho gia, sử là lịch sử, tử là chư tử tức sáng tác của các trường phái học thuật thời Tiên Tần, tập là văn tập tức thi từ tổng hợp.

Tư thiện đường là nơi hoàng tử quốc triều học bài, tể tướng Giả Xương Triều trong lúc biên soạn thư tịch Tư thiện đường từng triệu tập một số văn thần giảng bài cho nội thị Hàn lâm viện, muốn để họ tham dự vào công tác biên sách.

Nhưng sau đó gián quan Ngô Dục dâng tấu phản đối, nói hành động này là "giảng dạy nội thị", dễ gây ra họa thiến hoạn tham gia vào việc triều chính, kim thượng bèn cho dừng khóa dạy nội thị.

Kể từ đó, nên bồi dưỡng nội thị thành nho sinh, văn nhân vui thú đọc sách hay để họ giữ nguyên trạng thái làm đầy tớ nhà thiên tử dốt đặc cán mai vẫn luôn là một đề tài gây tranh luận giữa hai phái trong triều.

Nghe ta nhắc lại chuyện này, nụ cười Tư Mã tiên sinh hơi sững, im lặng chốc lát mới nói: "Sách không cần đọc nhiều.

Nhiệm vụ chủ yếu của hoạn giả là hầu hạ thiên gia, chữ biết dăm ba, đủ để cung ứng trong cung đình là được rồi."

Ta gật đầu đáp phải.

Y nhìn ta chăm chú, lại hỏi: "Cậu bao tuổi rồi?"

"Năm nay mười bốn ạ."

Ta trả lời.

Y tỏ vẻ cảm khái, khẽ gật đầu, than: "Đáng tiếc."

Ta đương nhiên biết "Đáng tiếc" là có ý gì.

Nếu không phải ta đã tịnh thân làm nội thị thì y chắc chắn sẽ khuyên ta đọc nhiều sách, sau này làm rường cột quốc gia, đáng tiếc, khi ta bước chân vào cửa cung cũng là lúc cuộc đời định sẵn, vô vọng với nước nhà.

Ta nghĩ Nhậm Thủ Trung hẳn là đã bẩm tấu với quan gia, nhưng chưa thấy quan gia hạ lệnh trừng phạt ta cái gì, Nội thị tỉnh chỉ trừ của ta ba tháng bổng lộc coi là khiển trách, điều này đối với ta gần như không chút ảnh hưởng, bởi ta ở trong cung đã nhiều năm, về cơ bản chẳng có chỗ đâu mà dùng đến tiền.

Bổng lộc mấy năm nay dành dụm được cũng không ít, có đôi khi ta sẽ ngẩn người ngồi đực trước tráp tiền đầy ắp, hồi tưởng kiếp sống ngày trước và tương lai, cảm thấy mình căn bản là trắng tay, nghèo đến mức chỉ còn mỗi tiền.

Ta kể chuyện đèn lưu ly với bạn thân Trương Thừa Chiếu.

Trương Thừa Chiếu đó giờ vẫn làm việc ở thư nghệ cục, nghe tận tai thấy tận mắt nên hiểu khá tường tận tính khí các vị đại thần, nghe xong tấm tắc than: "Cũng may cậu gặp được Tư Mã Quang, người này từ nhỏ đã biết đập vò cứu người (*), có tiếng người tốt, nếu gặp phải cái loại ba gai như Ngô Dục thì không chết cũng rớt một lớp da.

Lần trước ông ta lại tranh chấp với Giả tướng công trên triều, hai người ầm ĩ gay gắt lắm, chỉ thiếu điều xắn tay áo lên nhào vào đánh nhau.

Làm quan gia sốt ruột đến độ ba phen mấy bận định xuống khỏi ngai ngự đi khuyên giải, sau lại bị Nhậm đô tri ngăn cản..."

(*) Đây là một tích về Tư Mã Quang, rằng khi ông còn nhỏ, chơi cùng một đám trẻ con trong đình, một đứa bé trèo lên trên lu lớn, trượt chân rơi vào lu bị nước ngập đầu, những đứa trẻ khác đều chạy mất, chỉ có Tư Mã Quang cầm đá đập lu, nước chảy ra, đứa bé mới sống được.

Nói đến đây, hắn chợt nhướng mày, ý thức được một vấn đề: "Cậu vừa kể là, Tư Mã tiên sinh vừa mở hộp ra, Nhậm đô tri đã dẫn người vào?"

Ta đáp phải, cũng mơ hồ cảm thấy chỗ này có gì đó không đúng.

"Làm gì có chuyện trùng hợp như vậy!

Nhậm đô tri cũng có phải áp ban Di Anh Các mà ở đó cả ngày đâu, nhưng vì sao hai người vừa phát hiện ra đèn lưu ly bị vỡ, ông ấy đã dẫn người đến bắt cậu rồi?

Rõ ràng là có người gài bẫy cậu."

Ta lặng thinh, Trương Thừa Chiếu lại hỏi: "Có phải gần đây cậu đắc tội với ai không?"

Có ư?

Nghĩ tới nghĩ lui, có thể gọi là đắc tội cũng chỉ có Trương mỹ nhân.

Ta kể việc Phúc Khang công chúa ra, Trương Thừa Chiếu kinh hãi trợn tròn hai mắt: "Cậu làm Trương mỹ nhân bẽ mặt, còn so sánh bà ta với Triệu Phi Yến?

Trong cung ai mà chẳng biết bà ta là một vị chủ tử có thù tất báo!"

Ta nói: "Tôi đã thấy tình hình khi đó như thế, không nói sự thật ra, chẳng lẽ lại để mặc Trương mỹ nhân đổ oan cho công chúa?"

Trương Thừa Chiếu thở dài: "Công chúa là ái nữ của quan gia, chưa kể chuyện không phải do cô ấy làm, dù cho cô ấy có hại Trương mỹ nhân thật thì cậu nói xem quan gia có thể thế nào với cô ấy?

Chủ tử tranh đấu tới lui, thua thiệt luôn là kẻ dưới, những tình huống như vậy cậu cứ im lặng đi."

Ta cụp mắt thụ giáo, cũng không phản bác, chỉ nói: "Tôi không nghĩ được nhiều vậy."

Trương Thừa Thiếu nhìn ta bất đắc dĩ, vẻ mặt thương hại: "Hèn chi cậu ở trong cung càng lăn lộn càng hỏng việc."

Ý hắn chỉ việc ta bị "giáng chức" từ thư viện xuống họa viện, đồng thời khẳng định ta về sau sẽ còn bị chèn ép, nhưng kết quả tiếp đó lại khiến hắn giật mình: Một tháng sau, ta được điều đến ban nội thị Xu mật viện, làm công tác chỉnh lý và chuyển giao công văn.

Xu mật viện nằm ở phía tây nam cung thành, cùng với Trung thư môn hạ và Tam ty, là những cơ quan trung ương quan trọng nhất, Trung thư chủ dân, Xu mật viện chủ binh, Tam ty chủ tài vật, làm việc chữ nghĩa cho các trọng thần triều đình ở những nơi ấy gần như là nguyện vọng của tất thảy nội thị biết chữ trong Hàn lâm viện, thế nên lần điều chuyển này chẳng khác nào là ta được thăng chức.

Sau nữa ta được biết, là Tư Mã Quang tiên sinh đề bạt ta với phó sứ Xu mật viện Bàng Tịch mà y quen biết, nói Xu mật viện chủ trì sự vụ quân cơ trọng yếu, chữ nghĩa càng không thể có sai lầm, mà bản lĩnh của ta thì không tệ, đủ để đảm nhiệm công việc tương quan.

Do đó, ta càng thêm dạt dào cảm kích Tư Mã tiên sinh, lòng biết ơn và sùng bái y duy trì suốt rất nhiều năm, dẫu cho về sau có một ngày, y phê bình ta trước mặt hoàng đế là "tội ác như núi, đáng chịu cực hình", ta vẫn chẳng mảy may hận y.

7.

Hòa thân

Một lần nữa nghe người ta nhắc đến Phúc Khang công chúa là ở Xu mật viện.

Cuối xuân năm này, binh mã Khiết Đan áp sát biên cảnh, quốc chủ sai tuyên huy nam viện sứ Tiêu Anh và hàn lâm học sĩ Lưu Lục Phù đến triều kiến truyền tin, muốn đòi của Đại Tống hai châu Doanh, Mạc "đất quan nam".

Hai châu Doanh, Mạc là một phần của mười sáu châu Yên Vân, năm đó bị "vua bù nhìn" Thạch Kính Đường cắt nhường cho Khiết Đan, đến thời Chu Thế Tông thì giành lại, quốc triều tiếp quản đến nay.

Nhiều năm qua Khiết Đan luôn muốn bắt Đại Tống "trả lại" hai châu, sau, vua Minh Chân Tông xứ Thiền Uyên chấp nhận cống nạp, Khiết Đan liền từ bỏ ý định đòi đất, nhưng nay nhắc lại chuyện xưa, giọng điệu sứ thần mang tư thế nhất định phải thành.

Chư thần bàn bạc trên triều, không đồng ý cắt đất, quyết định mượn hòa thân để giảng hòa với Khiết Đan, lấy mối kết duyên giữa nữ nhân tôn thất Đại Tống và hoàng trưởng tử Khiết Đan Gia Luật Hồng làm tiền đề hóa giải chuyện đòi đất.

Nữ nhân tôn thất được chọn là con gái của Tín Cảnh Hi Giản vương Doãn Ninh.

Quan gia phái tri chế cáo (*) Phú Bật tiếp đãi, Giả Xương Triều làm bạn, nghênh sứ thần Khiết Đan tới sứ quán cùng nhau hòa đàm.

(*) Chức quan thuộc Hàn lâm viện, chuyên soạn thảo chiếu lệnh.

Sứ thần Khiết Đan vốn cũng có ý hòa thân, nhưng vừa nghe kim thượng phong nữ nhân tôn thất làm công chúa gả cho Lương vương, Tiêu Anh tức thì tỏ vẻ không vui: "Không phải hoàng đế Đại Tống có con gái ruột sao?

Nghe nói Phúc Khang công chúa xinh đẹp tuyệt trần, thần dân nước tôi vô cùng ngưỡng mộ."

Phú Bật giải thích rằng con gái hoàng đế còn nhỏ tuổi, chuyện thành hôn phải đợi thêm chục năm nữa.

Lưu Lục Phù cười, nói: "Lương vương cũng chỉ mới mười tuổi, niên kỷ tương xứng với Phúc Khang công chúa, chờ thêm mười năm cũng không hề gì.

Đã là hòa thân thì đương nhiên phải là trai gái ruột thịt của hoàng đế hai nước mới biểu hiện được thân tình nồng hậu.

Lương vương là hoàng trưởng tử nước tôi, hoàng đế quý quốc lại chỉ gả nữ nhân tôn thất, lẽ nào là chê xứ tôi nước nhỏ dân yếu, sánh không đặng?"

Phú Bật và Giả Xương Triều tấu rõ việc này, kim thượng lập tức khước từ, bất kể thế nào cũng không chịu đưa công chúa Phúc Khang đi hòa thân.

Bèn cử Phú Bật đi sứ Khiết Đan, gặp mặt đàm luận với quốc chủ, đồng ý tăng cống nạp hằng năm, nhưng nhất định từ chối việc hòa thân của công chúa.

Phú Bật cũng bằng lòng, nói; "Chúa ưu thần nhục.

Thần đi chuyến này ngoài việc cống nạp, quyết không hứa xằng một chuyện gì."

Trước ngày khởi hành, kim thượng phong Phú Bật làm lễ bộ viên ngoại lang, xu mật trực học sĩ, ông lại không nhận.

Sau khi tan triều, Phú Bật đến Xu mật viện bàn bạc chi tiết việc đi sứ và nội dung hòa đàm cùng chư thần.

Nghị sự tất, mọi người xuất cung, ông vẫn nán lại viện, lao tâm khổ tứ nghĩ sách lược ứng đối.

Chợt có nội thị Hậu tỉnh mang bút mực quý tới, đều là vật báu trong kho ngự, nói là quan gia đặc biệt ban thưởng cho Phú Bật.

Vừa vặn khi ấy là ta trực trong viện, Phú Bật bái tạ xong sai ta nhận lấy vật ngự tứ, rồi lại im lặng ngồi xuống, nhăn mày trầm tư.

Ta đã biết được đại khái diễn biến sự việc, qua đôi câu nghe thấy lúc hầu hạ chư đại thần Xu mật viện và một phần công văn phải sao chép, ta hiểu Phú Bật phiền muộn điều gì.

Giờ đây nhìn vật báu trong tay, một ý nghĩ lóe lên trong lòng, bèn lựa thỏi mực trong đồ ngự tứ ra, xếp lên chỗ dễ thấy nhất rồi mới bưng qua đặt lên bàn con cạnh Phú Bật.

Những năm gần đây, theo lệ trong cung, mực thưởng cho chư thần là mực Lý Hấp Châu.

Lý thị ở Hấp Châu là thế gia sản xuất mực, mực cứng như ngọc, hoa văn rõ ràng, thớ dày vân sánh, sáng bóng như sơn, nổi tiếng thiên hạ, được liệt vào cống phẩm.

Mực Lý ban cho đại thần đều được đặt trong tráp gỗ tử đàn, trên tráp chạm trổ tinh xảo, có dấu ấn của kho ngự.

Nhưng hiện giờ ban cho Phú Bật lại không phải mực Lý mà là mực Vương Địch đất Tây Lạc đựng trong túi da báo.

Đặt đồ vật xuống phát ra chút động tĩnh, Phú Bật nghiêng đầu nhìn, cũng nhận ra chỗ khác thường, bèn nhặt một thỏi mực Vương Địch lên xem.

"Bây giờ mực Lý không còn là cống phẩm nữa à?"

Ông hỏi ta.

Ta biết nguyên do trong đó, bèn nhất nhất nói ra: "Mực Lý vẫn là cống phẩm, nhưng năm nay gỗ tử đàn thiếu thốn, không thể làm tráp, Lý thị xin đổi sang tráp quế, quan gia không cho, nói mực thưởng cho đại thần theo lệ đều đựng bằng gỗ tử đàn, nếu đổi sang tráp quế, chỉ sợ quần thần có công sẽ hoài nghi bị cắt giảm, nên dứt khoát không lấy.

Mực Vương Địch Tây Lạc chỉ dùng cao hươu hun khói, thơm mùi long xạ, cũng là mực tốt hiếm có, lại dùng túi báo ngàn vàng để đựng, vì lẽ đó quan gia ra lệnh năm nay đổi ngự thưởng thành mực Vương Địch."

Phú Bật nói: "Người đời đa phần thích mực Lý, nếu vì tráp mà bỏ, há chẳng phải lấy gùi bỏ ngọc?"

Ta đáp: "Hoài Cát cả gan xin được hỏi học sĩ câu này, mực Lý Hấp Châu là loại mực đại nhân thích nhất ạ?"

Phú Bật cười: "Cái đó thì không!

Riêng ta chuộng mực Sài Tuần Đông Dao."

"Chính thế," Ta tiếp lời, "Mực Lý tuy tốt, song cũng chẳng phải không thay thế được, có người ưa mực Vương Địch Tây Lạc hơn, cũng có người thích dùng mực Sài Tuần Đông Dao, mực Thịnh thị Tuyên Châu, hay mực Trần thị Đông Sơn.

Ưa chuộng vật gì là tùy tính từng người, nhưng nói đến ngự tứ ngự thưởng, người đời đều thích hỏi mực Lý, tráp tử đàn lại càng đặc biệt được coi trọng, lấy ra là biết vật ngự tứ, nếu ban thưởng mực Lý mà không phối với tráp tử đàn, tất sẽ có người vô cớ hoài nghi, chẳng bằng đổi sang mực nhà khác."

"Không sai, không sai, đồng liêu trong triều tuy thích hỏi mực Lý, nhưng nhiều người không dùng, ngược lại, tráp tử đàn thì không ai không thích."

Phú Bật gật gù, rất là tán thành, "Có người còn từng bông đùa, chẳng bằng xin quan gia chỉ thưởng tráp tử đàn cho chúng ta, cái khác thưởng bằng tiền bạc, để chúng ta tự mua loại mực mình thích bỏ vào..."

Ông cười vui vẻ, tâm trạng tốt lên, ta cũng nhẹ nhàng cười theo, không nói thêm nữa.

Lát sau, ông tắt cười, lại như đột nhiên nghĩ đến điều gì, vỗ bàn reo: "Đúng thế, đúng thế, sao trước đây lại không nghĩ ra nhỉ?"

Ông đứng dậy, trịnh trọng xá ta một vái: "Đa tạ trung quý nhân nhắc nhở."

Sau đó ông đi sứ Khiết Đan, nói với quốc chủ, hoàng tử công chúa chưa chắc đã hợp tính, kết hôn dễ nảy sinh tranh chấp, tình vợ chồng khó bề bền chặt, ký thác vào chuyện hòa thân chẳng phải kế vững chắc, về sau dễ sinh biến số, chẳng bằng tăng lượng vàng gấm.

Huống hồ, chuyện xưa nam triều gả trưởng công chúa, của cải tiễn đưa chỉ mới mười vạn xâu, dù là hoàng đế gả con gái ruột cũng sẽ chẳng vượt qua mức này, lợi lộc kém xa việc cống nạp.

Quốc chủ Khiết Đan vốn cũng mong muốn lấy được nhiều vàng gấm, nghe nói của cải tiễn đưa công chúa không quá mười vạn, lập tức đồng ý kiến nghị tăng thêm mười vạn hai lượng bạc, mười vạn xếp lụa.

Vì vậy, hai nước cùng sai sứ thần một lần nữa thực hiện minh ước, không nhắc đến chuyện hòa thân và cắt đất nữa.

Phú Bật đi sứ trở về chừng hơn tháng, một người phụ nữ tuổi chừng băm mấy, tự xưng là nhũ mẫu Hàn thị của Phúc Khang công chúa, ôn hòa nói với ta: "Phú học sĩ không làm nhục sứ mệnh, quan gia rất đỗi vui mừng, khen ngợi đại nhân hết lời, đại nhân lại đề cập với quan gia việc được con gợi ý.

Sau, quan gia nói với hoàng hậu và Miêu chiêu dung, hoàng hậu cũng rất tán thưởng con, nhưng lại nói: 'Thằng bé này thông minh, nếu ở lại Xu mật viện dài lâu, chỉ sợ đài gián (*) có lời chê trách, không bằng điều vào Hậu tỉnh.' Miêu chiêu dung bèn xin hoàng hậu cho con tới hầu hạ Phúc Khang công chúa, nói con từng hai lần giúp công chúa thoát khỏi khốn cảnh, cũng là có duyên.

Vậy nên hoàng hậu bảo ta tới hỏi ý kiến con, con bằng lòng thì điều con vào...

Con trai, con có bằng lòng không?"

(*) Triều đình thời Tống thiết lập chế độ gián quan và ngự sử, thường gọi là đài gián, ngự sử phụ trách thu thập ý kiến dân gian; gián quan nghị luận chỗ hay chỗ dở của những ý kiến này đối với triều đình cho hoàng đế tham khảo, có lúc còn có thể uốn nắn sai lầm của hoàng đế; cơ quan phụ trách đài gián là Gián viện.

Ta đồng ý, không do dự gì nhiều.

Không lâu sau đó, ta chính thức được điều vào Nhập nội nội thị tỉnh, thăng chức một bậc, trở thành nội thị cao ban, thuộc quyền Miêu chiêu dung, hầu hạ Phúc Khang công chúa.

Chỗ ở của ta cũng dời từ Tiền tỉnh vào nội cung.

Ngày chuyển nhà, Trương Thừa Chiếu đến tiễn ta, nắm tay ta bịn rịn lưu luyến, dặn đi dặn lại: "Phú quý rồi xin chớ tương vong."
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 2: Ngày ấy gặp mặt đã để tâm


1.

Xóc tiền

Phúc Khang công chúa sống cùng Miêu chiêu dung trong Nghi Phượng Các.

Lần đầu tiên ta đi vào, công chúa đang chơi xóc tiền cùng ba cô bé xấp xỉ tuổi nàng quanh bàn ngọc trong sảnh, đồng tiền quăng vãi vang tiếng leng keng, ánh mắt các tiểu cô nương nhìn theo lên xuống, nói cười rôm rả.

Hàn thị lĩnh ta vào thấy họ chơi đương vui, bèn ra hiệu ta đừng quấy rầy, khẽ khàng dẫn ta đứng sang một bên, lại đánh mắt về phía ba cô bé bên cạnh công chúa, nhỏ giọng giới thiệu: "Vị lớn tuổi nhất ngồi đối diện công chúa là Phạm cô nương, con gái nuôi của hoàng hậu.

Hai vị còn lại là con gái nuôi của Trương mỹ nhân, bên trái là Chu cô nương, bên phải là Từ cô nương.

Họ đều là bạn chơi của công chúa."

Ta cẩn thận ghi nhớ rồi lại nhìn sang công chúa, lúc này đang đến lượt nàng xóc tiền, nàng hí hửng gom những đồng tiền lại, nắm chặt trong lòng bàn tay, hớn hở đề nghị bạn chơi: "Lượt này chúng ta cược thêm ba đồng đi!"

Miêu chiêu dung đứng xem nghe thấy phì cười: "Ở đây thua nhiều nhất là con đó, còn dám thêm tiền cược."

"Lần này chắc chắn sẽ không thua."

Công chúa bừng bừng tự tin, luôn miệng giục bạn chơi đặt tiền.

Phạm cô nương cười bảo: "Được thôi, ba đồng thì ba đồng, công chúa không được khóc nhè đâu đấy."

Nói rồi đặt ngay ba đồng tiền lên bàn, Chu cô nương và Từ cô nương cũng lần lượt đặt tiền cược, đều cười nói: "Lại sắp thắng công chúa thêm một ván to rồi, ngài cho bọn tôi biết ngại với chứ?"

Xóc tiền là trò chơi khuê phòng phổ biến của con gái Đại Tống.

Người chơi mỗi lượt nắm bốn, năm đồng tiền trong tay, lòng bàn tay hướng lên trên, ngón cái và ngón trỏ kẹp một đồng tiền, những đồng còn lại đặt trong lòng bàn tay xóc, điều chỉnh góc độ vị trí rồi tung đồng tiền kẹp giữa ngón tay lên, lật mu bàn tay thả những đồng tiền còn lại ra, tiếp được đồng tiền rơi xuống rồi thì tung lên lần thứ hai, lần này trong lúc tiền rơi, phải nhanh chóng lật đảo những đồng trên mặt đất, có thể lặp đi lặp lại động tác điều chỉnh thứ tự các mặt sấp ngửa của đồng tiền, giữa chừng phải gom các đồng tiền vào một chỗ mà một tay có thể che hết lại được, ném cú cuối cùng, tay lập tức phải lật lên, đè đồng tiền tung lên xuống, làm tất cả các đồng tiền đều bị che dưới bàn tay, sau đó mời đồng bạn đoán số lượng đồng tiền sấp ngửa, phân thắng thua bằng kết quả đúng sai.

Then chốt là ở chỗ động tác ngón tay cần linh hoạt, tốc độ gảy đồng tiền phải nhanh, khiến đồng bạn hoa mắt dẫn đến phán đoán sai lệch.

Trong bốn người, công chúa xem chừng nhỏ tuổi nhất, nghe khẩu khí người bên cạnh, có vẻ như đã thua quen, song lúc này, đối mặt với sự ngờ vực của mẫu thân và bạn chơi, nàng lại không tức giận, cũng chẳng phản bác, chỉ cười tủm tỉm nói "Chờ coi" rồi xóc tiền trong tay, bắt đầu ván chơi.

Mọi người chăm chú nhìn, thấy động tác ném, gảy của nàng đều qua quít tầm tầm, tốc độ cũng không nhanh, dần cười rộ: "Cứ tưởng công chúa có tuyệt chiêu gì chứ..."

"Xong!"

Công chúa bỗng hô khẽ một tiếng, ném cú cuối cùng, sau khi đè đồng tiền xuống, hai tay đồng thời che lên trên đồng tiền, động tác quá mạnh làm thân mình cũng đổ về trước như bổ nhào qua, hoàn toàn phá hủy tư thế ngồi tao nhã mới rồi.

Mọi người bật cười, trong sảnh tiếng cười vang vọng.

Công chúa cũng không tức, vẫn đè chặt đồng tiền, nhìn các bạn chơi, nghiêm túc thúc giục: "Mau đoán đi!"

"Ôi, nãy chỉ mải cười, cú cuối cùng không kịp nhìn kỹ."

Phạm cô nương cười nói, "Hình như là hai ngửa ba sấp?"

Chu cô nương tiếp lời, đoán: "Là ba ngửa hai sấp."

Từ cô nương lại nghĩ khác: "Nhất định là có bốn ngửa, có mỗi đồng cuối cùng là tôi thấy không rõ."

"Vậy rốt cuộc là gì?"

Công chúa truy vấn.

Từ cô nương ngẫm nghĩ rồi đáp: "Tôi đoán là bốn ngửa một sấp đi."

Hai mắt công chúa rực sáng, khóe miệng khẽ nhếch thành một nụ cười đắc ý có phần kiềm chế, nhưng không công bố kết quả ngay mà quay đầu lại nhìn mọi người trong sảnh: "Các ngươi thì sao?

Đoán trúng có thưởng."

Mọi người cũng mỉm cười thuận thế phỏng đoán, có người cùng đáp án với ba cô nương, cũng có người nói bốn sấp một ngửa hoặc ngửa hết sấp hết, cơ hồ đoán mọi kết quả có thể xuất hiện.

Ta một mực không lên tiếng, nhưng sau cùng ánh mắt nàng lại đậu lên người ta.

"A, Hoài Cát," nàng bất ngờ gọi tên ta, giọng rất đỗi tự nhiên, như thể hai ta đã quen biết từ lâu, "Huynh tới rồi!"

Ta tiến lên vài bước, bái kiến công chúa đồng thời vấn an ba vị cô nương.

"Bình thân bình thân."

Công chúa cười chúm chím, đây là lần đầu tiên ta nghe quý nhân trong cung nói hai chữ cứng nhẳng đó nghe khoan khoái như vậy, "Hoài Cát, huynh cũng đoán đi."

Ta cũng không nhìn kỹ được động tác gảy tiền cuối cùng của nàng nên không có khái niệm rõ ràng gì về những đồng tiền sấp ngửa dưới bàn tay nàng, nhưng để ý thấy hai tay nàng che tiền lúc này không đặt song song ngang hàng mà là tay này phủ lên tay kia, mu bàn tay bên trên hơi khum khum.

Thế nên, ta ra một đáp án khác với mọi người: "Thần không biết cụ thể số đồng tiền sấp ngửa ra sao, chỉ biết trong đó có một đồng chắc chắn không sấp cũng không ngửa."

"Ô," nàng ngạc nhiên hỏi, "Sao huynh biết?"

Nàng buông tay ra, giữa hổ khẩu bàn tay bên dưới kẹp một đồng tiền đứng thẳng, không sấp cũng không ngửa.

Ta mỉm cười đáp: "Thần cũng đoán ạ."

Nàng không hỏi tiếp nữa, cười hoan hỉ xòe tay với các cô nương: "Mấy người đoán sai cả rồi, đưa tiền đây!"

Miêu chiêu dung cố ý quở nàng: "Nào có cái lý kẹp tiền giữa hai tay thế chứ!

Con phá quy tắc thì đã đành, còn không biết ngại đòi tiền các cô nương."

Phạm cô nương cũng hùa theo: "Đúng vậy, tiền này không đưa công chúa được."

Nói đoạn làm bộ muốn lấy lại tiền cược, công chúa quýnh lên, nhào qua thò hai tay hết tóm lại quơ, vừa cướp tiền vừa cười: "Bỏ xuống bỏ xuống!

Tất cả là của ta!"

Mọi người cũng chỉ trêu chọc nàng, cuối cùng đều để nàng vơ hết tiền vào tay.

Công chúa gom đống tiền lại trước mặt mình, vô cùng hài lòng ngắm nghía gật gù, sau đó quay sang nói với ta: "Hoài Cát, số tiền này thưởng cho huynh."

Ta cụp mắt: "Vừa rồi thần chỉ đoán trúng một đồng, không trúng được hết, không nên được thưởng tiền."

Nàng ngẫm nghĩ rồi đồng tình: "Cũng phải."

đoạn đẩy tiền về phía đồng bạn, cười: "Vậy mấy người chia nhau đi, ta không chơi nữa." ngay sau đó đứng lên, tung tăng chạy lại gần ta, "Huynh đi theo ta, ta có lời muốn hỏi huynh."

Nói rồi tự ra ngoài trước, ta còn chưa cất bước đã có bốn, năm nội nhân định theo gót, công chúa dừng chân quay đầu lại, ra lệnh cho họ: "Không ai được di chuyển!

Chỉ Hoài Cát theo ta."

Đám cung nhân nhìn nhau, công chúa chẳng buồn để ý, xoay người kéo tay ta: "Đi thôi."

Ta hơi xấu hổ, muốn rụt tay về, lại sợ làm vậy với nàng là thất lễ.

Còn đang do dự, đã bị nàng kéo ra khỏi cửa gác.

Nàng kéo ta ra tới tận bờ Dao Tân Trì ở Hậu uyển mới dừng lại, hai con ngươi trong vắt, tò mò hỏi ta: "Ban tiệp dư là ai?"

Câu hỏi đột ngột này làm ta ngớ ra mất một chốc mới ý thức được là có liên quan tới khi trước ta biện giải cho nàng, không khỏi rộ cười: "Chuyện thuyền quyên hiền đức công chúa từng nghe không có người này à?"

"Không có."

Nàng lắc đầu, "Sau đó ta có hỏi tỷ tỷ nhưng bà cũng không rõ.

Hỏi nương nương, nương nương lại nói cả đời này ta cũng sẽ không gặp phải tình huống như Ban tiệp dư, thế nên không cần phải biết.

Cuối cùng ta hỏi cha, cha hỏi ngược lại ta: 'Hôm qua kể chuyện Ngụy quốc đại trưởng công chúa (*) cho con nghe đã nhớ được chưa?

Viết lại cho cha xem trước đã.'"

Ngụy quốc đại trưởng công chúa là con gái vua Thái Tông, cô ruột của kim thượng, bà trẻ của Phúc Khang công chúa, hiền lương thục đức, chưa từng thấy có bất kỳ chỉ trích nào về bà, là chuẩn mực nữ tử quốc triều mà các văn thần thường hay tán tụng, những câu chuyện miêu tả bà hiếu thuận, hiền hòa, minh đức, nhân từ ra sao theo đó cũng vô cùng phong phú như một lẽ tất yếu.

(*) Thời Đường, Tống, Minh, cô ruột của Hoàng đế phong là Đại trưởng công chúa, chị em gái của Hoàng đế phong là Trưởng công chúa còn con gái Hoàng đế thì phong là Công chúa; phong hiệu của các công chúa cũng thường xuất hiện tên các tiểu quốc thời cổ, việc gia phong quốc hiệu như vậy cũng được xem là cao hơn các phong hiệu khác.

"Thế công chúa có viết không?"

Ta hỏi.

Chẳng ngờ nàng lại đáp rất quả quyết: "Có chứ."

Thấy đáp án hiển nhiên nằm ngoài dự liệu của ta, nàng cười đắc ý: "Ta viết có mấy chữ thôi: Ngụy quốc đại trưởng công chúa rất tốt, cực tốt, vô cùng tốt."

Ta không nói gì, gian nan đè nén dục vọng muốn cười xuống dưới lễ nghi đại nội.

Nàng chạy lên ngồi xuống bậc thang cầu bạch ngọc bên hồ để ánh mắt có thể ngang tầm với ta, lại giục: "Mau kể chuyện Ban tiệp dư cho ta nghe đi."

Ta lưỡng lự đôi lát, cuối cùng vẫn chậm rãi kể cho nàng một vài chuyện về Ban tiếp dư, về tài đức của bà, chuyện bà từ chối ngồi ngự liễn cùng vua, chuyện bà bị thất sủng, về hai bài thơ "Oán ca hành" và "Trường Tín Cung oán", cũng đề cập chút ít đến Triệu Phi Yến.

"Thì ra là vậy," Nghe xong, nàng suy tư gật đầu, lại bỗng như bừng tỉnh đại ngộ: "Huynh nói Trương nương tử là Triệu Phi Yến thật không sai!"

Ta cả kinh, lại không biết phải giải thích thế nào với nàng về chỗ không thích đáng ở đây, chỉ đành nhỏ giọng nói: "Công chúa, cẩn trọng ngôn từ."

Nàng cười toe, không bưng miệng, lộ ra hàm răng như ngọc, đều tăm tắp, nom rất đáng yêu.

Khác hẳn những cung nữ mà thỉnh thoảng ta được tiếp xúc, lễ nghi giáo hóa dường như chẳng để lại bao nhiêu dấu tích nơi nàng, yên bình ngồi giữa phù dung Thái Dịch liễu Vị Ương (*), nàng hưởng thụ tự do được thoải mái thể hiện hỉ nộ ái ố.

(*) "Thái Dịch phù dung Vị Ương liễu" vốn là một câu thơ trong "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị kể về mối tình giữa Đường Huyền Tông và Dương Quý phi, Thái Dịch và Vị Ương là tên hồ và cung trong cung Hán, ở đây chỉ cung cấm nói chung.

"Hoài Cát, huynh kể chuyện cả buổi thế có khát không?"

Thình lình, công chúa hỏi.

"Thần không khát...

Công chúa muốn uống nước ạ?"

Ta lập tức đứng thẳng dậy, định quay về lấy nước.

"Đừng đi đừng đi!"

Nàng vội ngăn ta lại, "Tội gì chúng ta phải tự lấy."

Ta nhìn trái nhìn phải, thấy chung quanh cũng không có ai khác.

Nàng đá lông nheo với ta, miệng vẫn cong cong song chừng như có thâm ý khác.

Ta còn đang suy đoán ý nàng, nàng đã đứng dậy xoay người chạy lên cầu, chạy đến giữa cầu rồi, lại bày tư thế muốn trèo qua lan can.

Ta lập tức đi qua muốn cản nàng, nào ngờ trong nháy mắt, có ba, bốn người như chui lên từ đất bằng, xông tới kéo nàng rời khỏi lan can trước ta.

Sau đó không ngừng có người chạy đến, người cầm quần áo người mang khăn lược, người lấy quà bánh, người bưng hoa quả tươi...

Tất nhiên, không thể thiếu liêu tử (*) bưng ấm nước chung trà.

(*) Thời Tống, tôi tớ lo việc trà bánh được gọi là "liêu tử".

Thì ra đây chính là cảnh tượng khi công chúa ra ngoài.

Trước đó họ nấp ở nơi công chúa không nhìn thấy.

Công chúa đứng vững lại, thong dong xoay người, nhướng mày chỉ vào trà nước rồi cười với ta.

Lần này, thần sắc có phần cô quạnh bất đắc dĩ.

2.

Kim thượng

Ngày kế, ta gặp được nội nhân ty sức (*) Đổng Thu Hòa ở Nghi Phượng Các.

(*) Ty sức là nơi phụ trách trang sức và dầu cao dưỡng nhan trong cung, đồng thời cũng dùng để gọi nữ quan chủ quản cơ quan này.

Cô tới trang điểm cho Miêu chiêu dung.

Hôm ấy, mới sáng tinh mơ, Miêu chiêu dung còn chưa thức giấc, cô đã đứng chờ trong sân gác.

Cung nhân cũ trong gác gọi tên cô, mời cô vào, cô chỉ cười duyên, nhẹ nhàng nói: "Tôi đợi thêm chốc nữa."

Thân bận áo xanh cổ tròn, chân đi hài, eo thắt đai lưng đỏ, đầu đội miện khăn mềm bằng vải sa đen không điểm thúy, Thu Hòa ăn mặc đúng lối nữ quan bình thường nhất, khuôn mặt trắng nõn để mộc không phấn son, chỉ đính bên tóc mai đôi hoa cài bằng ngọc trắng hình trăng non.

Vóc dáng cô mảnh khảnh yểu điệu, tay bưng hộp tráp đứng bên cây trúc tía.

Cành sương nhánh tuyết, khói mỏng cảnh mờ, nắng sớm đầu đông dát lên hình ảnh này một lớp màu khiến cảnh tượng như trong một bức tranh truyền thần vẽ bằng mực đạm.

Đợi đến khi Miêu chiêu dung ngủ dậy, ta đón Thu Hòa vào, vì có người khác bên cạnh nên ta không kịp thuật chuyện Thôi Bạch với cô.

Cô chải đầu cho Miêu chiêu dung xong, cài thêm một chiếc miện ngọc tấm lòng xanh, Miêu chiêu dung soi gương ngắm nghía, sắc mặt thích thú, hỏi cô: "Miện này có tên không?"

Thu Hòa gật đầu, đáp: "Tên là Cúc Hương Quỳnh ạ."

"Tên hay lắm."

Miêu chiêu dung nói, "Cái miện này màu sắc mộc mạc, cũng không to, giản dị tinh xảo, không giống loại Trương nương tử hay đội, cứ phải dài rộng hai ba thước mới chịu, cô ả đội không chê mệt kể cũng siêu."

Thu Hoà mỉm cười, không tiếp lời, chỉ tỉ mỉ cân nhắc dung nhan chiêu dung trong gương, kiến nghị: "Màu sắc xiêm y và mũ miện của Miêu nương tử hôm nay đều mộc mạc cả, có thể điểm thêm một bông hoa thắm sắc lên ấn đường."

Miêu chiêu dung đồng ý, cô bèn lấy từ trong tráp ra một miếng hoa bột mỏng hình tường vi, nhẹ nhàng dán lên giữa hai hàng lông mày của chiêu dung, lại lấy bút trang điểm tô màu phết nhũ vàng lên.

Tráp vừa mở ra, cả buồng tức thì thơm nức.

Công chúa ngửi thấy, chạy tới nhón một miếng nghịch chơi: "Hoa bột này thơm quá."

Miêu chiêu dung cũng hỏi: "Mùi nịnh mũi đấy, làm bằng gì vậy?"

Thu Hòa đáp: "Dùng cam tùng, đàn hương, linh lăng, đinh hương mỗi hương một lượng, hoắc hương diệp, hoàng đan, bạch chỉ, hương mặc, hồi hương mỗi loại hai chỉ (*), nghiền vụn, hòa với mật, rót vào khuôn hình hoa tường vi, đợi khô rồi lấy ra, bôi thêm một lớp não xạ là được."

(*) Đơn vị trọng lượng, mười chỉ bằng một lượng (một lượng bằng 50gr).

Công chúa xen lời: "Thu Hòa, cái này chị tự điều chế ra à?"

"Vâng."

Thu Hòa trả lời, lại bổ sung, "Thiếp đã dùng thử rồi, không hại da đâu ạ."

Công chúa tới bên cô, nhấc tay áo cô lên nhìn vào trong, Thu Hòa thẹn thùng rụt tay về, hỏi: "Công chúa nhìn gì vậy?"

Công chúa nói: "Mỗi lần chị cho các nương tử dùng gì cũng đều tự thử trước, mà da chị thì vừa mỏng vừa nhạy cảm, lần trước thử mỡ thơm cho Du nương tử, cổ tay đỏ ửng sưng vù, mấy ngày sau mới tiêu, ta muốn xem xem lần này có bị sưng nữa không."

Miêu chiêu dung nghe vậy cũng ân cần hỏi thăm: "Có lại làm tổn thương da ngươi không?"

"Không ạ, không ạ."

Thu Hoa kéo tay áo che cổ tay đi, nói: "Thật sự không bị.

Lần này thử một lần là đã được ngay, cũng không có hiện tượng sưng đỏ."

Trong khoảnh khắc cô nói vậy, công chúa đã thấy rõ được rồi nên cũng không hỏi lại nữa, thân thiết dắt tay Thu Hòa, bảo: "Lát nữa chị nán lại đi, chờ ta học xong, chúng ta cùng chơi xóc tiền."

Miêu chiêu dung thấy cô phân vân, cũng khuyên: "Hai ngày nay mình mẩy Du nương tử không khỏe lắm, hẳn cũng chẳng có tâm trạng đâu mà ăn diện, lát nữa ta sẽ sai người qua chỗ em ấy xin phép, hôm nay ngươi cứ ở lại đây đi."

Cuối cùng, Thu Hòa bằng lòng, Miêu chiêu dung bèn cử người sang chỗ Du tiệp dư.

Một chốc sau, thượng cung (*) giảng bài cho công chúa tới, công chúa dời gót sang thư phòng, lại lệnh ta và Thu Hòa theo hầu.

(*) Một chức nữ quan thuộc Thượng cung cục.

Hôm ấy thượng cung dạy "Nữ tắc" và "Quốc sử", công chúa nghe mà lơ đễnh, thần sắc Thu Hòa thì lại rất chuyên tâm, hiển nhiên cô nghe nội dung rất thấu đáo.

Giờ học kết thúc, công chúa lập tức dắt Thu Hòa chạy về sảnh, lại bắt đầu chơi xóc tiền, nhưng mới ngồi được một khắc thì nghe nội thị tiến vào báo quan gia giá lâm, đã ở ngoài cửa gác.

Mọi người trong gác đều đứng dậy, chia thành hai hàng trái phải nghênh tiếp quan gia.

Đây là lần đầu tiên ta nhìn thấy kim thượng ở khoảng cách gần, trước đây chỉ từng thấy chút bóng dáng ngài ngồi trên ngai ngự cao vời trong những buổi lễ cúng tế lớn và cáo sóc (*), sách phong, khoác áo bào vải sa đỏ thẫm, đội mão thông thiên, thêm phương tâm khúc lĩnh bằng la trắng (**), ngồi nghiêm chỉnh, ngôn từ thận trọng, để lại cho ta ấn tượng mờ nhạt tựa như tất thảy chân dung các vị hoàng đế.

(*) Buổi lễ vua và chư hầu đi Thái miếu nghe báo cáo và quyết định chính sự mồng một hằng tháng.

(**) Một món trang sức làm bằng vải la (vải dệt thưa) màu trắng, đeo lên cổ áo triều phục thời Tống, trên tròn dưới vuông, hình dáng như chuỗi ngọc, là đặc điểm nổi bật nhất của triều phục triều đại này.

Ngài lúc này khoảng băm tư, băm lăm tuổi, bữa nay ăn bận rất tùy ý, mặc áo dài ống tay rộng màu trắng, cổ áo, vạt áo đều viền đen trang trí, đi ủng thâm, đầu buộc khăn Đường (*), eo đeo dây lưng ngũ sắc, bên ngoài khoác áo hạc (**), mặt mày đoan chính hòa nhã, thần thái cử chỉ nhã nhặn thanh lịch tựa danh sĩ văn nhân.

(*) Một loại mũ đội ngày thường của hoàng đế đời Đường, về sau kẻ sĩ cũng rất hay đội lọai mũ này.

(**) Loại áo khoác ngoài thời cổ, nhìn giống bộ lông hạc nên gọi là áo hạc (鹤氅).

Kim thượng lững thững đi từ Hậu uyển lại, vừa vào trong gác đã hô bình thân rồi luôn miệng kêu khát, sai bưng nước lên khẩn cấp.

Miêu chiêu dung tự mình dâng nước, kim thượng nhận lấy, uống liền mấy chén.

Công chúa thấy thế ngạc nhiên hỏi: "Ban nãy ra ngoài sao cha không mang nước theo?

Để ra nông nỗi giờ khát thế này?"

Kim thượng hỏi: "Ta quay đầu nhìn mấy bận mà chẳng thấy liêu tử theo hầu.

Lúc ấy có mặt Nhậm đô tri ở đó, ta mà hỏi tới thể nào hắn cũng chuyện bé xé ra to, tức khắc bắt người trị tội, nên ta dứt khoát nhịn khát quay về."

Cung phụng quan Vương Chiêu Minh vào cùng kim thượng vội tự trách: "Thần thấy quan gia liên tiếp nhìn mà lại không hiểu ý quan gia, quả thực đáng chết, xin quan gia trách phạt."

Kim thượng cười, xua tay: "Ngươi cũng chẳng phải ta, ta không nói sao người biết được?

Chuyện này đừng nhắc lại nữa, về sau cũng đừng nói với Thủ Trung, tránh cho liêu tử bị phạt."

Miêu chiêu dung nghe vậy cười: "Quan gia lúc nào cũng vậy.

Chiêu Minh từng kể với thiếp, có bữa sáng sớm, quan gia bảo hắn, đêm ngủ không được, thấy đói, rất muốn ăn dê nướng.

Chiêu Minh hỏi sao không hạ chỉ yêu cầu, quan gia lại bảo 'Nghe nói người trong cung yêu cầu cái gì, truyền ra ngoài cung, mọi người sẽ đua nhau bắt chước, trở thành nếp sống một thời.

Ta lo mình mà mở miệng đòi dê nướng, người trong nước từ rày đêm nào cũng mổ dê số lượng lớn làm bữa khuya mất, vậy thì hại vật hại của lắm.' Ôi, xử sự nhân từ, thương xót sinh linh cố nhiên là tốt, nhưng vì thế mà cam nguyện nhịn khát chịu đói, làm hoàng đế làm đến nước này cũng thật là hiếm thấy."

Kim thượng mỉm cười: "Thân cư nhà đế vương, nhất cử nhất động đều có tác dụng làm gương cho thiên hạ, mọi việc đều phải nghĩ cẩn thận, nhất định không được hành động bừa bãi theo ham muốn nhất thời.

Có chút việc nho nhỏ tưởng chừng như không gây tổn hại gì, người thường làm thì được nhưng chúng ta mà làm thì kết quả thường sẽ khó bề thu dọn."

Nói đoạn, hỏi công chúa: "Huy Như, đã nhớ lời này chưa?"

Công chúa gật mạnh đầu, kim thượng cười, dời mắt nhìn chiêu dung, để ý thấy bông hoa giữa cặp chân mày bà, bèn thuận miệng khen: "Hoa bột hôm nay được đấy, vẽ rất tinh tế, hương cũng không tục."

Miêu chiêu dung cười: "Thiếp cũng nói vậy...

Là món Thu Hòa mới chế ra."

"Ồ, Thu Hòa..."

Kim thượng đưa mắt qua Thu Hòa đứng hầu một bên, tỉ mỉ đánh giá một hồi rồi lại hỏi công chúa: "Huy Nhu, cổ tay Thu Hòa có vết đỏ mới nào nữa không?"

Công chúa đáp: "Con xem rồi, không có."

"Đi xem lại sau tai nó xem," Kim thượng nhìn Thu Hòa chăm chú, ánh mắt điềm đạm, "Chắc chắn lần này nó thử ở đó."

Công chúa đi qua kiểm tra thật, ngay sau đó cười nói: "Cha nói đúng ghê, sau tai phải Thu Hòa có một vết đỏ to bằng móng tay."

Thu Hòa cuống lên, hơi lùi ra sau, cúi đầu thật sâu, lúng túng thưa: "Quan gia, Thu Hòa không có ý..."

"Không cần giải thích, ta hiểu."

Kim thượng nói, "Những hương liệu này cần nhiều thành phần, hiếm khi điều chế một lần là thành ngay, làm ngươi bận nào cũng phải thử đi thử lại...

Có điều, bây giờ ngươi cũng có vài đứa dưới quyền rồi, cớ gì vẫn thử lên người mình thế?"

Thu Hòa khẽ đáp: "Các em ấy còn nhỏ quá, dùng hương liệu chung quy vẫn không tốt."

Kim thượng nghe vậy cười rộ: "Bản thân ngươi cũng mới bao lớn...

Tròn mười bốn chưa?"

Thu Hòa hơi lưỡng lự, song cũng chỉ có thể trả lời đúng sự thật: "Còn thiếu hai tháng nữa ạ."

Kim thượng gật đầu, nói: "Chốc nữa ta sẽ bảo Sở thượng phục (*) điều hai nội nhân mười sáu, mười bảy sang cho ngươi sai sử, thử hương thử thuốc cứ bảo chúng nó làm là được."

(*) Thượng phục là chức nữ quan quản lý áo mũ của hoàng đế.

Thu Hòa bái tạ, nhưng vẫn chưa thuận thế tiếp nhận: "Thu Hòa tạ ân điển quan gia.

Chỉ là, da Thu Hòa không tốt, nhạy cảm với thuốc hương nên cũng thích hợp làm người thử thuốc nhất.

Thuốc hương mà đến Thu Hòa cũng dùng được ắt sẽ không làm tổn thương đến da dẻ chư vị nương tử.

Nếu đổi lại là người khác thử thuốc, lỡ mà da họ khỏe hơn nương tử, một số độc tính của thuốc hương không thể hiện trên người họ, để các nương tử dùng há chẳng phải rất không ổn sao?

Kính xin quan gia thu lại mệnh lệnh đã ban, việc thử thuốc cứ giao cho Thu Hòa đi thôi."

Kim thượng thở dài, quay sang nói với Miêu chiêu dung: "Phải làm sao mới thỏa đáng đây?

Chúng ta muốn giúp nó cũng không giúp được."

Miêu chiêu dung cười ngó Thu Hòa: "Con bé này, xem ra phải nhờ quan gia chuyển ngươi sang Thượng phục cục mới được."

Thu Hòa vội xua tay: "Không, không, thiếp không có ý đó..."

Kim thượng và Miêu chiêu dung nhìn nhau cười, cũng không tiếp tục chủ đề này nữa, đổi sang chuyện khác: "Mau đứng lên đi.

Ta thấy trên bàn có đồng tiền, mới rồi ngươi chơi xóc tiền cùng Huy Nhu phải không?

Chơi tiếp đi."

Thu Hòa một lần nữa tạ ơn quan gia, đứng dậy trở về bàn, công chúa cũng đi qua, lại bắt đầu xóc tiền cùng cô.

Tay Thu Hòa rất khéo léo, động tác nhã nhặn êm ái.

Công chúa tung tiền luôn rào rào ồn ã, cô lại khác, mỗi lần ném, tung, tiếp đồng tiền tiếng đều giòn tan mà không chói tai, bàn tay xinh xắn bay múa như hồ điệp, đồng tiền nặng trịch dưới tác động tay cô thế mà cũng mang vẻ mềm mại của lá rụng, lên xuống theo thế tay cô, bay lượn xoay tròn trên dưới, khiến chuỗi động tác trùng lặp đơn điệu trở nên đẹp mắt cực kỳ.

Kim thượng ngồi một bên đưa mắt ngó khắp, thi thoảng tán gẫu dăm câu với Miêu chiêu dung, ánh mắt chung quy vẫn khoan thai quay trở lại trên hai cô bé đang chơi xóc tiền, khóe miệng ngậm cười, trong mắt đong đầy thương yêu.

Hôm ấy, ngài cũng đã chú ý tới kẻ lạ mặt là ta, nghe Miêu chiêu dung giới thiệu, ngài nhanh chóng nhớ ra chuyện Phú Bật đi sứ.

"Hoài Cát à, cái tên này không tệ."

Ngài tươi cười hỏi ta, "Là tên gốc của ngươi hay sau khi vào cung đổi lại?"

"Vào cung rồi đổi ạ," Ta trả lời, lại bổ sung, "Tên này là Trương Bình Phủ tiên sinh đặt cho thần."

"Mậu Tắc?"

Giọng kim thượng hơi khác thường, sau đó là một khoảng lặng ngắn ngủi song đủ để ta nhận ra.

Ta thầm thấp thỏm trong bụng, không biết mình đáp sai chỗ nào, nhưng vẻ mặt kim thượng mau chóng khôi phục như thường, ôn hòa bảo: "Đã tới đây rồi thì khỏi quan tâm tới chuyện bên lề, kết giao với người ngoài gác của Miêu chiêu dung ít thôi, chuyên tâm hầu hạ công chúa là được."

Ta vâng lời, ngài cho ta lui, không nói thêm gì nữa.

Quá trưa, Thu Hoà muốn cáo từ, lại bị mấy thị nữ của Miêu chiêu dung níu kéo, nhao nhao đòi cô dạy cho kiểu tóc mới, Thu Hoà dạy đầy đủ từng kiểu cho họ, thêm một buổi nữa hao phí trôi qua.

Miêu chiêu dung giữ cô lại gác dùng bữa tối, đợi đến lúc cuối cùng cô cũng có thể quay trở lại chỗ ở thì trời đã tối mịt.

Ta chủ động xin lệnh tiễn cô ra cửa, mau mắn về phòng lấy "Thu phố dung tân đồ" của Thôi Bạch đút vào tay áo rồi xách đèn lồng dẫn cô rời đi.

Ra khỏi cửa cung viện tần phi, ngó quanh thấy không người, ta mới lấy cuộn tranh ra, nói cô hay việc Thôi Bạch phó thác lúc rời họa viện.

Cô nhận lấy tranh cuộn, nở nụ cười thật nhẹ, trong mắt lệ đã rưng rưng.

"Thôi công từ....còn quay lại chăng?"

Cô thầm thì hỏi ta.

Ta cảm nhận được mùi sầu bi trong giọng nói nhè nhẹ âm rung của cô, điều này khiến ta hơi luống cuống, để không làm cô thất vọng, ta đành đáp: "Chắc là...có."

Cô miễn cưỡng nặn cười, cảm ơn ta rồi vội vã cáo biệt, ôm chặt cuộn tranh rời đi, vừa xoay người, tay phải đã đưa lên, hẳn là đang lau lệ.

Sau ngày đó, Thu Hòa vẫn thường xuyên đến Nghi Phượng Các, cũng hay tới chỗ Du tiệp dư, thỉnh thoảng hoàng hậu cũng sẽ gọi cô qua.

Bận bịu suốt ngày như vậy, trời còn chưa sáng đã vào cung, lại thường đến mãi tối khuya mới về, hèn chi trước đây không lần nào tìm được cô.

Một hôm nọ, lại dừng chân ở Phượng Nghi Các đến tận khuya, vẫn là ta tiễn cô ra khỏi nội cung.

Khi ấy trông cô có vẻ mệt mỏi vô cùng, mặt tái xanh, bước đi cũng hơi lảo đảo, ta hỏi cô có muốn nghỉ chút hẵng đi không, cô nói mình không sao, liên tục giục ta trở về.

Sau cùng ta dừng bước, song vẫn không yên tâm, một mực dõi mắt theo cô.

Cô đi tới trước Hoàng Nghi Môn, rốt cuộc không gắng gượng được nữa, người nhũn ra, ngã lăn xuống đất.

Ta chạy vội tới, thấy cô ý thức mơ hồ, chung quanh lại không có bóng dáng nội nhân nào, bèn bế cô lên, định đưa cô đến Thượng dược cục.

Đó là một chặng đường khá xa.

Giữa chừng đi ngang qua Nội đông môn ty, đúng lúc chạm mặt Trương Mậu Tắc tiên sinh từ trong đi ra.

Thầy trông thấy hai người bọn ta, tương đối kinh ngạc, hỏi duyên cớ, sau đó đưa hai ngón tay thăm mạch cho Thu Hòa, lát sau nói: "Không có gì đáng ngại.

Cậu bế con bé đi Thượng dược cục thì cực quá, không bằng vào đây, ta châm cứu cho nó, hẳn là sẽ khỏi nhanh thôi."

Dẫn bọn ta vào nhà ngang trong Nội đông môn ty, thầy lấy một hộp kim châm cứu ra, cắm mấy kim lên đầu và cổ Thu Hòa, không bao lâu sau, sắc mặt Thu Hòa dần dịu xuống.

Trương tiên sinh hòa nhã bảo cô đừng khẩn trương, tiếp tục châm kim, đợi một nén nhang cháy hết mới rút ra.

Sắc mặt Thu Hòa đã khá hơn nhiều, uốn gối thi lễ cảm tạ, Trương tiên sinh nói: "Đổng nội nhân chớ nên đa lễ.

Cô chỉ là mệt nhọc quá độ, ngủ không đủ nên mới có triệu chứng như thế.

Về sau cần chú ý nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe."

Thư Hòa cúi đầu thưa dạ, Trương tiên sinh lại nói: "Nghe Sở thượng phục nói, ban đêm về Thượng phục cục rồi cô còn phải điều chế đồ trang điểm, dạy dỗ các cung nhân nhỏ hơn, như vậy thì nghỉ ngơi có được bao lâu.

Ngày mai ta sẽ tâu với hoàng hậu, xin bà cho cô chỉ phải làm việc trong hậu cung nửa ngày."

Thu Hòa rưng rưng bái tạ, Trương tiên sinh tránh đi không nhận, bảo ta đưa cô về chỗ ở.

Đưa Thu Hòa về rồi, ta lại quay vào Nội đông môn ty, Trương tiên sinh hãy còn đang khử trùng rửa kim, chưa rời đi.

Ta cảm tạ thầy, thầy mỉm cười: "Một cái nhấc tay mà thôi, huống hồ cũng chẳng phải châm cứu cho cậu, hà tất cảm tạ ta."

Ta xấu hổ cúi đầu cười, hỏi thầy: "Tiên sinh từng học y thuật ạ?"

"Thuở thiếu thời ta từng làm việc ở Ngự dược viện."

Thầy qua loa đáp, quan sát trang phục của ta rồi lại ngậm cười: "Không tệ, tiến giai rồi.

Chúc mừng.

Mấy đứa bé cùng vào cung với cậu chẳng mấy ai có tiền đồ bằng cậu đâu."

Ta cảm ơn thầy, do dự hồi lâu, lại hỏi: "Cơ mà, đối với chúng ta mà nói, cứ tiến giai thăng chức là có tiền đồ ạ?"

Thầy khẽ cau mày: "Thằng nhóc nhà cậu nghĩ gì đấy hả?"

Nhưng trong giọng thầy cũng không có ý trách cứ, hơn nữa còn gần như dò hỏi ôn hòa, ta bèn đánh bạo hỏi thầy câu hỏi ta đã suy tư bấy lâu: "Tiến giai thăng chức chính là mục đích của chúng ta sau khi vào cung sao?

Thăng chức như vậy để làm gì?"

Thầy ngẩn người, tạm thời không có câu trả lời, ta liền hỏi tiếp: "Hiện giờ tiên sinh đã là nội tây đầu cung phụng quan, chấp chưởng Nội đông môn, quản lý người vật xuất nhập và truyền gửi công văn cơ mật trong ngoài cung, là quan to trong các hoạn giả, nhưng thầy vẫn ăn bận giản dị, ẩm thực đạm bạc như xưa, đối xử với mọi người cũng hòa ái khoan hậu, không hề lấy việc đánh chửi kẻ dưới làm vui như những người quyền cao chức trọng khác, vậy niềm vui của thầy nằm tại đâu?

Thầy có tâm nguyện chăng?

Tâm nguyện lớn nhất của thầy là gì?"

Thầy trầm ngâm hồi lâu, sau cùng nói: "Câu hỏi của cậu, có thể tương lai sẽ có một ngày ta cho cậu đáp án.

Nhưng bây giờ, cậu chỉ cần hoàn thành cho tốt việc quan gia và Miêu nương tử bảo cậu làm, những cái khác đừng suy nghĩ nhiều."

3.

Chuyện đêm

"Ca ca."

Con ngươi trong vắt không nhuốm chút bụi trần, công chúa hàm chứa mong đợi gọi ta như vậy.

Ta không kịp phòng ngừa, bị đánh cho tan tác.

Nàng đang năn nỉ ta làm văn thay mình, viết bài theo đầu đề cha nàng ra, luận về "Quân tử sở tính, nhân nghĩa lễ trí căn vu tâm (*)".

(*) Lời Mạnh Tử, dịch nghĩa: Bản tính của quân tử là nhân, nghĩa, lễ, trí cắm rễ trong tâm.

Nàng là cô bé thông minh nhất ta từng gặp, song không có kiên nhẫn đọc kinh thư Nho gia, mà kim thượng thì lại rất chú trọng chuyện đèn sách bài vở của nàng, thường xuyên tới kiểm tra đốc thúc, ra một đống bài tập mệnh nàng hoàn thành, thoạt tiên chỉ là sao chép kinh thư kiêm luyện chữ, về sau lại yêu cầu cả ngâm thơ viết văn.

Có lần, ta thấy nội dung nàng phải sao nhiều quá, nàng viết rất cực nhọc, bèn nhân lúc không ai bên cạnh, lặng lẽ viết thay nàng vài tờ.

Công việc bắt chước nét chữ người khác sao chép văn chương chẳng phải việc gì khó với ta, công chúa sướng rơn, kể từ đó, cứ khi nào bài tập hơi nhiều, nàng lại tới nhờ ta viết hộ.

Ta viết thay nàng hai, ba lần rồi không chịu viết nữa, giải thích đi giải thích lại với nàng rằng cái hay của bút nghiên và cái diệu của văn chương mình nghiên cứu không sâu, lĩnh ngộ không thấu.

Nàng bảo đã biết, rồi lại nói chỉ nốt lần này thôi, không có lần sau, kì kèo mãi tới khi ta nhận lời, nhưng rất nhanh lại đến lần sau.

Lần này còn thuần túy là làm văn hộ.

Cuối cùng ta hạ quyết tâm, ngó lơ lời nài nỉ của nàng, bất kể thế nào cũng không bằng lòng.

Hai mắt nàng chớp chớp, sai kẻ hầu đi lấy trà, trong thư phòng chỉ còn lại nàng và ta, nàng sáp lại, hai tay nắm lấy tay áo ta, thỏ thẻ gọi: "Ca ca."

Tim ta như bị ngón tay nàng cào khẽ, chợt co rúm.

Nàng hài lòng thưởng thức vẻ mặt cơ hồ là hốt hoảng của ta, sau đó buông mi giấu ý cười, kéo ống tay áo ta lắc lắc, lại ra chiều cầu xin: "Ca ca, viết giúp ta lần này được không?

Ta cam đoan đây thật sự là lần cuối.

Trước bữa tối mà chưa viết xong cha sẽ mắng ta mất."

Ta có thể nói gì đây?

Ở cái tình cảnh này, nàng có bảo ta đi chết ta cũng vui lòng nhận lệnh.

Ta im lặng ngồi xuống, nàng hớn hở nhảy nhót tưng bừng như một con tước nhỏ đạp nước, bày giấy Trừng Tâm Đường Hấp Châu, mài mực Đình Khuê trong nghiên Long Hương Đoan Khê cho ta, lại tự tay đưa cho ta một cây bút tam phó họ Gia Cát Tuyên Thành, cuối cùng tự dời một cái đôn màu tím nâu tới, trèo lên ngồi quỳ, khuỷu tay chống trên mặt bàn, cười tủm tỉm ngoẹo đầu xem ta viết chữ, thi thoảng còn khen hay khen đẹp. (*)

(*) Trừng Tâm Đường ở Hấp Châu là nơi sản xuất giấy chất lượng bậc nhất nước Nam Đường thời Ngũ Đại; mực Đình Khuê loại mực do quan mực Nam Đường Lý Đình Khuê làm ra, được tôn là đệ nhất thời Tống; tam phó là tên loại bút lông thỏ do họ Gia Cát ở Tuyên Châu chế tạo, nổi danh thời Đường Tống.

Từ đấy, tiếng "ca ca" này trở thành lời nguyền ta không thể phá giải.

Công chúa thích dùng nó để bắt ta cúi đầu tuân mệnh, nhưng đôi lúc cũng sẽ bâng quơ gọi ta như vậy, không vì bất kỳ mục đích gì.

Thỉnh thoảng, trước mặt người ngoài, nàng cũng gọi "ca ca", mới đầu chúng cung nhân cả kinh thất sắc, nói tôn ti khác biệt, khuyên nàng sửa miệng, nhưng Miêu chiêu dung thì lại chẳng để tâm, nói: "Năm xưa khi quan gia còn ở Đông cung, cũng thích gọi nội thị Chu Hoài Chính hầu mình là ca ca đó.

Có hề chi, thể hiện thân tình với hạ thần mà thôi."

"Công chúa không có huynh trưởng, Thập Tam Đoàn Luyện, con nuôi của quan gia, cũng đã xuất cung ra ngoài ở, công chúa ít nhiều cũng cảm thấy cô quạnh."

Ấy là Hàn thị nói với ta thế.

Kim thượng không có con trai, từng nhận con trai thứ mười ba của Nhữ Nam quận vương Doãn Nhượng vào cung làm con nuôi, ban tên Tông Thực, phong làm Nhạc Châu đoàn luyện sứ, người trong cung thường gọi là "Thập Tam Đoàn Luyện".

Sau, Miêu chiêu dung sinh hạ hoàng tử Dự vương Hân, kim thượng bèn mệnh Tông Thực quay trở về đất phong, sau nữa, hoàng tử chết non, kim thượng cũng không cho vời Tông Thực hồi cung.

"Lúc Thập Tam Đoàn Luyện ở trong cung, công chúa gọi cậu ấy là ca ca.

Con với Thập Tam Đoàn Luyện tuổi tác xấp xỉ, công chúa thấy thân thiết bội phần nên mới gọi con như thế."

Hàn thị nói đi rồi lại nói lại, "Có điều, thân phận chúng ta thấp kém, được quý nhân tôn xưng là phải giảm thọ.

Lúc quan gia làm hoàng thái tử, Chu Hoài Chính là nhập nội phó đô tri chủ quản sự vụ Đông cung, thường theo hầu quan gia, quan gia bèn gọi đùa ông ta là ca ca.

Có một lần, Chu Hoài Chính thấy quan gia luyện chữ, tiến lên xin quan gia ban thưởng cho mình một bức ngự thư, quan gia nhất thời nổi hứng, viết vài chữ to cho ông ta – 'Chu gia ca ca trảm trảm'.

Vốn chỉ là một câu bông lơn, không ngờ mấy năm sau, Chu Hoài Chính bí mật bàn bạc với người ta, muốn mưu sát tướng công Đinh Vị, mời Khấu Chuẩn lên làm tể tướng, tôn Chân Tông hoàng đế làm thái thượng hoàng, truyền ngôi cho thái tử cũng tức quan gia ngày nay.

Mưu kế không thành, cuối cùng Chu Hoài Chính bị chém đầu.

Quan gia có thể nói là một lời thành sấm.

Cũng có người nói, Chu Hoài Chính được quan gia tôn xưng nên chẳng biết úy kị, sớm muộn cũng bị trời phạt."

Ta hiểu ngụ ý của bà, sau đó từng ngỏ ý với công chúa, mong nàng đừng gọi mình như vậy nữa, nàng lại chẳng màng đến, vẫn muốn gọi là gọi, ta cũng không nhiều lời nữa, thậm chí còn le lói chút may mắn vì nàng thích sao làm vậy, bởi mỗi lần nghe nàng gọi ca ca, ta đều cảm nhận được một hơi ấm bí ẩn.

Công chúa nghe thượng cung giảng bài lúc nào cũng đòi ta theo hầu dự thính, sau giờ học, có gì không hiểu sẽ hỏi ta, việc học của ta cũng nhân phương thức đặc biệt này mà tiếp tục.

Một đêm nọ, ta chong đèn đọc sách, chợt nghe có người khe khẽ gõ cửa bên ngoài.

Vốn tưởng là cung nhân giục ta đi ngủ, mở cửa ra xem, lại phát hiện ra là công chúa.

Là thừa dịp nội nhân hầu hạ nàng thiếp đi chạy ra ngoài đây mà, nàng chỉ mặc quần áo lót trong, chân bọc tất trắng, nhưng không đi giày, giữa đêm đông giá rét thế này.

Ta cả kinh, hỏi nàng: "Sao công chúa lại ra đây giờ này?"

Nàng cười: "Ta đói, huynh có gì ăn không?"

Không đợi ta trả lời, nàng đã tót vào phòng ta, tò mò quan sát chung quanh.

Ta cấp tốc tìm quần áo mùa đông mới nhất ra khoác lên người nàng, nhưng việc có nên giữ nàng lại đây hay không làm ta khá khó xử.

Ta đã thăng tới nhập nội cao ban, có cho mình một phòng ngủ riêng.

Đêm khuya ở chung một phòng với công chúa bất kể thế nào cũng là rất rất không ổn.

Ta tận hết sức khuyên nàng trở về, nói chỗ mình cũng không có quà bánh, trở về đánh thức các nội nhân dậy thì muốn ăn gì mà chẳng được.

Nàng lại nói: "Cha vẫn thường dạy phải biết thông cảm cho người dưới, đừng làm phiền họ thái quá.

Ta đánh thức họ dậy, họ ắt sẽ phải vất vả chạy đến Ngự thiện cục truyền lệnh, ta đây chẳng phải là làm trái lời dạy của cha hay sao?

Ban đầu ta nghĩ, đói thì đói vậy, noi gương cha nhịn chút là qua thôi, ai ngờ trong bụng cứ như có chim chóc réo cục cục liên hồi, không chịu cho ta yên.

Thế nên ta mới đành lặng lẽ chạy ra tìm huynh."

Ta hỏi nàng sao không dùng bánh trái trong phòng nàng, nàng đáp ăn ngấy rồi.

Ta dở khóc dở cười, định hỏi sao nàng biết chỗ ta sẽ có cái nàng muốn ăn, song lại đổi ý, biết nàng thế nào cũng biên ra được lí do tự cho là hợp lý, bèn kìm xuống không nhắc đến, lấy hai củ khoai sọ be bé trên bàn tới, hỏi nàng: "Công chúa ăn cái này không?"

Đó là khoai sọ Lĩnh Nam, to hơn quả táo xanh chút xíu.

Thân làm nội thị, thường ngày phải ngủ muộn hơn chủ tử, Ngự thiện cục sẽ chuẩn bị chút bánh trái cho chúng ta, khi còn ở nhà ta hay ăn khoai sọ nên chọn món này lót dạ ban đêm.

Nàng không biết thứ này, hỏi ta là cái gì.

Ta bất giác lấy làm bất ngờ, bởi thường ngày nàng ăn đều là sơn hào hải vị đã được chế biến tinh vi, có ăn khoai sọ cũng là ăn bánh khoai sọ tinh chế hoặc là canh hầm, loại còn nguyên vỏ này nàng chưa thấy bao giờ.

Ta nói cho nàng biết tên củ khoai, bảo đây là thứ duy nhất có thể ăn được ở chỗ ta, nàng vui vẻ bằng lòng nếm thử, ta bèn ôm đệm trải xuống thềm hè trước cửa, mời nàng ra ngoài ngồi đằng ấy, lại lấy chăn bọc kín nàng tránh cho nàng khỏi bị cóng, kế đó ngồi xuống bên cạnh nàng, bắt đầu bóc khoai cho nàng.

Bóc xong một củ, ta đưa cho nàng, thấy nàng bị ta bọc kín như cái bánh ú khổng lồ, toàn thân chỉ cử động được mỗi đầu, lúc này đang mở to hai mắt, con ngươi đen láy chuyển động, ngó ta rồi lại ngó củ khoai sọ trên tay ta.

Ta không cầm được nghiêng đầu, hoà nụ cười đương độ hé rộ tan vào bóng đêm khôn cùng.

Công chúa ngọ nguậy muốn thò tay ra khỏi chăn đón lấy, ta sợ nàng vì thế mà cảm lạnh, vội vàng đưa khoai tới bên miệng nàng, nàng cúi đầu nhấm từng miếng nhỏ, nom như chim mổ thóc vậy.

Nàng nhanh chóng ăn hết một củ, khen món ăn đơn giản nhất trần đời này là mỹ vị, ta bèn bóc tiếp cho nàng, nàng ngồi im một bên xem.

Dưới mái hiên trong cung không đốt đèn vào ban đêm, song vầng trăng ngời ngời, chiếu lên người hai ta hắt xuống thành hai cái bóng giao chồng lên nhau.

Vốn cả hai đều không nói gì, nhưng cũng không cảm thấy ngượng nghịu chút nào.

Tầng không bắt đầu lơ thơ tuyết bay, trên người ta lúc này đang bận y phục màu xanh sẫm, trong đầu thoáng vụt qua một ý nghĩ, vươn tay áo ra ngoài, hứng lấy vài hạt tuyết nhỏ vụn, mỉm cười hỏi công chúa: "Công chúa có biết hoa tuyết có mấy góc cánh không?"

Nàng đáp ngay: "Sáu góc!"

Ta nói chưa chắc, chìa tay áo ra trước mặt nàng cho nàng tự đếm.

Nàng nhìn nhìn, hô lên một tiếng kinh ngạc, rút phắt tay ra khỏi cái kén bông bao bọc mình, bắt lấy ống tay áo dính hoa tuyết của ta, đầu ngón tay còn lại khẽ chọc chọc trên đó, miệng lẩm nhẩm: "Một, hai, ba, bốn, năm..."

"Có cái năm góc này."

Nàng kết luận, lại mải miết đếm thêm lần nữa, lát sau khoái chá phát hiện ra: "Còn có ba góc, bốn góc nữa!"

Ta cười không nói, dắt chăn bưng kín tay nàng, lại đút cho nàng ăn khoai sọ.

Hoa tuyết tan làm tay áo xanh sẫm của ta lốm đốm chấm ướt, ta cũng không thấy lạnh, dầu cho giờ này tiết trời đã rét buốt.

Ta thích nhìn công chúa rạng rỡ rộ cười, phục dịch nàng thôi cũng đủ khiến lòng ta sung sướng muôn phần.

Ở nơi u tối lạnh lẽo này, nàng là nguồn sáng duy nhất của lòng ta, còn sáng hơn cả mảnh trăng thượng huyền treo trên kia.

"Hoài Cát," Công chúa đột nhiên hỏi ta, "Tại sao huynh lại vào cung?"

Ta ngẩn ra, không biết phải nói thế nào để nàng hiểu tình cảnh phức tạp trong nhà ta, sau cùng chỉ giản lược một câu: "Vì nhà thần nghèo."

"Nghèo là gì?"

Nàng nghi hoặc hỏi.

Ta mới ý thức được trong bài học của nàng đến nay còn chưa giải thích cặn kẽ khái niệm thế nào là nghèo túng.

Thoạt tiên, ta cho nàng một đáp án bộc trực nhất: "Là không có nhiều tiền."

"Ta cũng không có nhiều tiền mà!"

Công chúa cảm thán, "Mỗi ngày tỷ tỷ chỉ cho ta mười hai đồng, ta xóc tiền thua hết bà cũng không cho thêm nữa, ta có thắng cũng thưởng lại cả cho những người chơi chung, cuối cùng vẫn trắng tay, vậy có phải là ta rất nghèo không?"

"À, không phải..."

Ta bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc xem nên giải thích từ này ra sao, "Nghèo có nghĩa là ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, có khi đến cơm còn chẳng có mà ăn, chỉ có thể ngày ngày gặm khoai sọ..."

"Nhưng khoai sọ ngon mà..."

Công chúa lấy làm khó hiểu, ngắt lời ta, "

Sau này ta muốn ăn khoai sọ mỗi ngày."

Hiển nhiên là ban nãy lấy sai ví dụ rồi.

Ta im lặng.

Trước nay chưa từng ngờ được giải thích một từ lại có thể khó khăn đến vậy.

Cân nhắc một hồi, ta nói với nàng thế này: "Có một số thứ công chúa có, thậm chí có rất nhiều, nhưng người khác thì không có, mà họ lại rất cần, vậy tức là họ nghèo hơn công chúa.

Tỷ như công chúa có rất nhiều xiêm y đẹp đẽ nhưng đám a hoàn của công chúa thì không, như vậy có thể nói là họ nghèo hơn công chúa."

Có lẽ ví dụ này vẫn chưa đủ thỏa đáng, nhưng trừ cái đó ra, tạm thời ta không nghĩ ra được còn thứ gì khác nàng từng thấy và cảm nhận được để có thể lấy giải thích cho nàng.

Từ khi ra đời tới nay, nàng đều sống trong nhung lụa chốn hoàng cung, chưa từng chứng kiến cảnh có liên quan tới bần cùng chân chính, không thể biết được thế nào là áo rách quần manh hay người chết đói la liệt khắp đất.

Nàng nghĩ ngợi xong bảo: "Hình như ta cũng hơi hơi hiểu...

Nói như vậy là người khác có rất nhiều xiêm y, rất nhiều khoai sọ nhưng nhà huynh thì không có nhiều xiêm y như vậy cho huynh mặc, cũng không có nhiều khoai sọ như vậy cho huynh ăn, thế nên chỉ có thể đưa huynh vào cung?"

Ta cười khổ: "Coi là thế đi."

"Thế thì ta hiểu rồi!"

Nàng phấn khích tuyên bố, lại tiếp tục nói với ta điều nàng tâm đắc: "Thu Hòa nghèo hơn ta, bởi ta có rất nhiều thời gian để chơi nhưng chị ấy thì phải làm việc cả ngày, gần như không có thì giờ cho riêng mình; Phạm cô nương, Chu cô nương và Từ cô nương cũng nghèo hơn ta, bởi ta có mẫu thân bên người còn mẹ ruột họ thì ở ngoài cung; Du nương tử nghèo hơn tỷ tỷ ta, bởi tỷ tỷ có danh hiệu chiêu dung mà bà ấy không có, chỉ là tiệp dư, thế nên tiền tiêu hằng tháng và lệ thưởng lễ tết đều không nhiều bằng tỷ tỷ...

Mà tính vậy thì Trương nương tử nghèo hơn nương nương rất nhiều, bởi nương nương có danh vị hoàng hậu còn bà ta thì không.

Lần trước bà ta muốn dựng lọng đỏ dùng cho xe liễn của hoàng hậu lên xe mình, tăng thêm số vệ binh bằng với định mức của hoàng hậu, kết quả bị các đại thần mắng suýt chết..."

Nói đến đây nàng không nhịn được phì cười, ngay sau đó lại ủ rũ: "Cơ mà, cha lại rất hay đến gác của Trương nương tử, bình thường chỉ có mồng một và ngày rằm hằng tháng mới đi Nhu Nghi Điện của nương nương, thế lại thành ra nương nương nghèo hơn Trương nương tử rồi."

Ta khó mà xen lời vào đề tài này được, chỉ có thể giữ im lặng, công chúa cũng không có vẻ gì là muốn ta mở miệng, tự mình nói tiếp: "Cha thì sao?

Nhất định cha cũng có cái nghèo của ông...

À, đúng rồi, đám đại thần thường ngày phê bình ông hầu như đều có con trai, ông lại không có..."

Ta lại càng không thể phát biểu ý kiến.

Sau cùng, rốt cuộc nàng cũng nhắc tới mình: "Thực ra ta cũng rất nghèo, mắt ta nghèo...

Bọn a hoàn hầu hạ ta tuy không có nhiều xiêm y như ta nhưng trước đây họ từng nhìn thấy rất nhiều điều thú vị ở ngoài cung, kể cho ta nghe, ta cũng không biết...

Ngoài hoàng cung ra, ta chỉ từng tới bốn lâm viên Nghi Xuân, Ngọc Tân, Thụy Thánh, Quỳnh Lâm và hồ Kim Minh, trước nay chưa từng đi dạo chợ đêm chợ ngói (*), cũng không biết tiệm trà quán rượu trông ra làm sao...

Ta rất muốn đến chợ đêm Châu Kiều nếm sủi cảo lề đường với thịt chồn cáo hoang trước lầu hoa, cũng muốn đến Chu Tước Môn xem lòng dê chiên cấp và viên lạnh băng tuyết, muốn đi cả viện Thiêu Trư ở chùa Tướng Quốc xem tay hòa thượng bán thịt lợn nướng kia nữa..." (**)

(*) Chợ ngói thời cổ đại giống như trung tâm thương mại nghệ thuật của chúng ta bây giờ vậy.

(**) Những món này đều thực sự được ghi chép trong "Đông Kinh mộng hoa lục" của Mạnh Nguyên Lão, là một cuốn bút ký tản văn về phong tục nhân tình đô thành Biện Kinh thời Bắc Tống, lòng dê chiên cấp là món lòng dê được nấu lâm thời khi khách gọi, chiên ở đây không phải rán bằng dầu mà là nấu nước, còn viên lạnh băng tuyết là món đậu tương rang, bỏ vỏ, đánh nhuyễn với đường cát, thêm nước nặn thành viên nhỏ, ngâm trong nước đá.

Mấy câu đầu nàng nói nghe rất buồn rầu, nhưng câu cuối cùng lại khiến ta bật cười.

Viện Thiêu Chu chùa Tướng Quốc có một nhà sư pháp hiệu Huệ Minh, phá thanh quy giới luật, mở một cửa tiệm bán thịt lợn, nghe nói hương vị rất ngon, trong đó nổi trội nhất là món thịt lợn nướng, nức tiếng gần xa, thành thử người đời giờ toàn gọi viện Thiêu Chu là "viện Thiêu Trư".

Đáng lý cung quyến cũng có cơ hội tới chùa Tướng Quốc dâng hương, chỉ là muốn gặp vị hòa thượng ăn mặn kia quả thực có hơi khó.

"Có gì đáng cười!"

Công chúa cau mày, rất chi là bất mãn, "Lẽ nào huynh vào cung rồi còn có thể muốn ra ngoài là ra, muốn gặp ai là gặp người đó?"

Câu này thì đúng là ta hết lời đáp trả.

Từ sau khi vào cung, ta chưa từng ra ngoài lại lần nào, phố phường chợ ngói, khói lửa nhân gian trong trí nhớ ta đã phai nhạt theo năm tháng.

"Ôi," Công chúa thở dài, phiền muộn khôn xiết, "Hoài Cát, chúng ta đều bị vây hãm trong đây rồi."

4.

Bóng mây

Sang xuân, bệnh tình con gái Trương mỹ nhân Ấu Ngộ trở nặng, đến tháng Tư, thái y tỏ ý hết đường xoay chuyển.

Kim thượng lòng nóng như lửa đốt, thoạt đầu gia phong Ấu Ngộ làm Đặng quốc công chúa, qua vài ngày lại phong làm Tề quốc trưởng công chúa, trên hàng công chúa Phúc Khang.

Song xung hỉ như vậy rồi vẫn chẳng thể xua bệnh trừ tai, không bao lâu sau, tin dữ truyền khắp trong ngoài: Tề quốc trưởng công chúa hoăng.

Vừa hay tin, Phúc Khang công chúa đã bật khóc.

Nàng tuy căm ghét Trương mỹ nhân nhưng không hề có địch ý gì với con gái và con nuôi của ả, thậm chí còn rất thích chơi với họ, em gái còn thơ đã qua đời, nàng thật lòng muôn phần thương tiếc.

Nàng khóc không thành tiếng mà nói với ta: "Ta muốn đi xem Ấu Ngộ."

Ta do dự, nhớ đến sự kiện vu cổ khi trước.

Nàng hiểu nhiên nhìn ra được ta nghĩ gì.

"Ca ca," Lần này, nàng gọi ta như vậy với giọng vô cùng nghiêm túc, "Ta chưa từng trù ếm Ấu Ngộ."

Ta gật đầu, hé một nụ cười ôn hòa với nàng: "Thần biết."

Thế nhưng Trương mỹ nhân chưa chắc đã biết.

Lúc ta chuyển cáo nguyện vọng của công chúa đến Miêu chiêu dung, xin chỉ thị của bà, chiêu dung cũng thở dài: "Huy Nhu mà đi lúc này chẳng phải là đâm đầu vào mũi dao của Trương nương tử ư?"

Bà ngầm ủy thác Vương Chiêu Minh hỏi ý kim thượng, kim thượng mệnh công chúa hôm sau hẵng đi, đồng thời mặc áo gai đưa tiễn Ấu Ngộ.

Trẻ nhỏ mất khi chưa đầy tám tuổi được quy là chết non không để tang, người nhà vốn không cần mặc tang phục.

Quan gia yêu cầu hoàng trưởng nữ mặc áo gai vì ấu nữ, kỳ thực không hợp với lễ nghi, khiến tang lễ của Ấu Ngộ trở nên quá trang trọng, cũng có phần thiệt thòi cho Phúc Khang công chúa, nhưng công chúa chẳng oán thán nửa lời, hôm sau quả thật mặc áo gai đến lễ tế.

Trong Tường Loan Các của Trương mỹ nhân vấn vít khói xanh, một nhóm tăng nhân ngồi thành hàng tụng kinh, Trương mỹ nhân coi giữ trước linh cữu Ấu Ngộ, hẳn là do trước đó khóc quá nhiều nên lúc này hai mắt sưng đỏ, thần sắc dại đờ, không chút sức sống.

Kim thượng ngồi bên cạnh ả, thỉnh thoảng an ủi đôi câu, song đến bản thân cũng không cầm được liên tục lau nước mắt.

Lúc Trương mỹ nhân thấy Miêu chiêu dung và Phúc Khang công chúa, bỗng như tỉnh lại, nhếch miệng cười lạnh giá: "Lần thứ ba rồi, các người còn chưa hài lòng sao?"

Ta theo công chúa đi vào, nghe lời này nhất thời chưa hiểu, còn đang nghĩ ngợi, ánh mắt sắc nhọn của Trương mỹ nhân đã đâm thẳng về phía mẹ con Miêu chiêu dung: "Cảnh Thọ chết, Bảo Hòa cũng chết, giờ đến Ấu Ngộ các người cũng không buông tha!

Ta biết các người hận ta, vậy cứ xin quan gia giết ta đi là được rồi, vì sao lại hại con gái ta?"

Cảnh Thọ công chúa và Bảo Hòa công chúa là hoàng nữ thứ ba và thứ tư do Trương mỹ nhân sinh hạ, năm xưa cũng lần lượt chết non.

Nghe ý Trương mỹ nhân có vẻ như là nghi ngờ cả ba đứa con gái của mình đều chết oan chết uổng.

Lại có việc con rối trước đó, ả liền đổ hết giận dữ lên đầu công chúa và Miêu chiêu dung.

Ả càng nói càng căm phẫn, đứng dậy xông về phía công chúa.

Kim thượng vội vàng rời chỗ kéo ả lại.

Công chúa ứa nước mắt, lắc đầu nguầy nguậy, thanh minh: "Ta chưa từng hại Ấu Ngộ, ta chưa từng hại một muội muội nào..."

Trương mỹ nhân hoàn toàn bỏ ngoài tai lời nàng biện bạch.

Sự xuất hiện của công chúa cho ả lý do để phun trào lửa giận, ả tiếp tục khóc mắng, nguyền rủa người được cho là hại con gái ả, mắng một hồi lại dâng ngập bi thương, quay người tựa vào kim thượng, bắt đầu hồi tưởng lại từng chuyện từng chuyện trước khi ba đứa con gái lâm chung.

Theo lời tâm sự liên miên, nét mặt ả từ từ dịu lại, ngữ điệu cũng êm ái dần lên: "...

Ấu Ngộ rất ngoan, sợ thiếp đau lòng, lúc khó chịu nhất cũng không rên đau, thấy thiếp rơi lệ còn vươn tay lau cho thiếp, nói: 'Tỷ tỷ đừng khóc, hoa bột sẽ rơi mất'...

Về sau đến thở cũng không thở được, mặt mũi đỏ rực mà còn cố gắng cười với thiếp...

Thiếp cứ ôm nó mãi, ôm nó mãi, mặt nó áp lên ngực thiếp, tay còn nắm mép áo thiếp, thân mình lại càng lúc càng lạnh..."

Kim thượng ôm ả, khẽ nghiêng người, đưa lưng về phía bọn ta, bọn ta tạm thời không thấy được vẻ mặt ngài, nhưng thấy hai vai ngài hơi run run, ắt là đang cố nén tiếng đau buồn.

Câu sau cuối của Trương mỹ nhân ta nghe mà cũng rớm lệ.

Bỏ đi vỏ bọc ngông cuồng bên ngoài, ả lúc này cũng chỉ là một người mẹ sầu khổ.

Công chúa lau nước mắt, tiến lên trước, định châm hương bái lạy, Trương mỹ nhân lại lạnh lùng buông lời: "Mời công chúa về cho, ta nghĩ hiện giờ Ấu Ngộ cũng không muốn thấy cô."

Công chúa lại gần ả hai bước, ngẩng mặt nhìn ả, mang theo vẻ thành khẩn chưa bao giờ dành cho Trương mỹ nhân: "Trương nương tử, ta..."

Hẳn là nàng muốn giải thích điều gì đó với Trương mỹ nhân, nhưng Trương mỹ nhân lập tức ngắt lời nàng, không chút lưu tình hạ lệnh đuổi khách: "Ra ngoài!"

Công chúa rưng rưng nhìn kim thượng: "Cha..."

Kim thượng thở dài, phất tay: "Con về đi."

Công chúa không chịu đi, nghẹn ngào: "Cha, cha nghe con nói..."

"Cút ra ngoài!"

Trương mỹ nhân nổi giận trở lại, nhìn chòng chọc áo gai công chúa mặc, mát mẻ: "Tang phục thì chưa chắc là mặc để giả mù sa mưa.

Cô cho rằng mặc mười lớp áo sô là có thể chuộc lại tội lỗi của cô, đổi được Ấu Ngộ trở về sao?"

Ả nói vậy làm khơi dậy cơn nóng máu trong công chúa, nàng đứng thẳng dậy, nhíu mày lạnh nhạt nói: "Ta chưa từng làm chuyện bà nói, không có lỗi gì để chuộc hết."

"Đủ rồi, Huy Nhu!"

Kim thượng hốt nhiên cao giọng quát, "Ra ngoài, đi ra ngay!"

Công chúa sững sờ nhìn phụ thân, thấy thần sắc ngài nghiêm nghị, không chút bóng dáng từ ái thường ngày, nàng buông mi, hai hàng lệ rơi xuống, xoay người chạy vụt ra ngoài.

Ta, Hàn thị và các cung nhân thuộc Nghi Phượng Các nối đuôi chạy theo, đuổi tới bên ngoài Tường Loan Các, công chúa dừng bước quay đầu, gầm lên: "Tất cả đứng lại!

Ai theo ta chém đầu!"

Mọi người bất đắc dĩ dừng chân, công chúa lại tiếp tục cất bước chạy về phía trước.

Hàn thị giật giật ống tay áo ta, hất cằm ra hiệu về phía bóng lưng công chúa, ta hiểu ý thị, nhanh chóng đuổi theo.

Hậu cung cũng chỉ có chừng đó, nàng chạy tới chạy lui, cuối cùng vẫn là chạy tới Hậu uyển, dựa vào một hòn giả sơn ngồi xuống, buông tiếng khóc nức.

Ta biết nàng rất tủi thân, giờ khóc được là tốt nên cũng không đi an ủi nàng, chỉ yên lặng trông coi sau lưng nàng.

Nàng rất nhanh phát hiện ra, lại đứng lên chạy sang chỗ khác ngồi, khóc tiếp.

Ta lại theo qua, nàng cũng biết, lần này chỉ ngước mắt trừng ta, không đổi chỗ nữa.

Nàng khóc hồi lâu, đúng kiểu trẻ con không kiêng dè gì tới dung mạo, nước mắt chan chứa, lại không mang khăn tay, bèn kéo tay áo lên lau, chẳng mấy chốc tay áo đã ướt sũng phân nửa.

Thấy nàng còn định lau nước mũi, ta đi tới trước mặt nàng, khom lưng đưa ống tay áo sạch sẽ của mình vào tầm mắt nàng.

Nàng nhìn nhìn, cũng không khách khí, kéo ống tay áo ta hỉ mũi.

Lau mũi thản nhiên thế làm ta không khỏi buồn cười.

Nàng "hừ" một tiếng, con mắt đen láy trừng thẳng ta, hỏi: "Huynh làm gì theo ta như cái bóng thế?"

"...

Thần không như cái bóng."

Ta trả lời nàng như vậy, không suy xét bao lâu, "Thần là cái bóng của công chúa.

Công chúa ở đâu thì thần ở đó."

Nàng im lặng nhìn ta chằm chằm một lúc trước rồi ngửa đầu nhìn trời, hai mắt chợt sáng ngời, nhảy cẫng lên chạy tới một chỗ trống không có bóng râm cây cối, khép chân đứng thẳng, hai tay cũng buông thõng bên người, ngẩng lên nhìn ta, cố gắng duy trì tư thế bất động, gọi: "Huynh xem mặt đất đi!"

Trước sau nàng nắng vàng rực rỡ, không có lấy một vụn bóng.

Thì ra hiện giờ mặt trời đã lên cao, vừa vặn đương chính ngọ, nàng thu người đứng thẳng như vậy tất nhiên là gần như nhìn không thấy bóng.

"Bóng ở đâu nào?

Hoài Cát ở đâu nào?"

Nàng cười hỏi.

Ta mỉm cười với nàng, không đáp.

"Dốt quá!"

Nàng kết luận về ta, ngay sau đó nói với ta đáp án mà nàng cho là thích hợp, "Huynh có thể đáp thế này: 'Bóng nằm dưới chân công chúa, Hoài Cát trong lòng công chúa'."

Nàng cười hồn nhiên dưới ánh mặt trời, không để ý đến cơn kinh hãi phủ trùm ta khi đó.

Ta nghĩ nàng căn bản không nhìn ra ý ám muội trong câu nói này, chẳng qua chỉ trần thuật như một sự thật, như đám mây trôi trên khói sóng, như tơ liễu bay trong tường cung.

Đưa công chúa trở lại Nghi Phượng Các, buổi chiều nàng trở về phòng nghỉ, Miêu chiêu dung vời ta lại sảnh, hỏi ta chi tiết khoảng thời gian công chúa ra Hậu uyển, ta thuật lại một số, chuyện "cái bóng" tất nhiên là lược đi không đề cập tới.

Khi ấy Du tiệp dư cũng có mặt, nghe xong than thở: "Lần này đúng là thiệt thòi cho công chúa quá...

Miêu tỷ tỷ, chị cũng hiền quá rồi, đổi lại là em, bị Trương nương tử mắng oan như thế chỉ sợ chẳng nhịn nổi, thể nào cũng phải vặc lại cô ả một câu: 'Cô nghi ta, ta chưa nghi cô thì thôi!

Từ lúc cô được sủng ái, sao trẻ con ra đời trong cung không đứa nào lớn lên được thế?'"

Miêu chiêu dung cười, nói: "Cô ả nổi điên chẳng lẽ ta lại đi chấp?

Nói đi cũng phải nói lại, cô ả cũng đáng thương mà, sinh được ba đứa con gái mất mất cả ba, tâm trạng không tốt là đương nhiên, chúng ta tạm thời cứ nhịn đi, tội gì cãi cọ với cô ả lúc này."

"Tâm trạng không tốt thì có thể cắn người bậy bạ?"

Du tiệp dư không nghĩ vậy, lại bảo: "Lúc Sùng Khánh nhà em chết, em có nghĩ gì đến chuyện há mồm nói xằng là nó bị hại chết đâu."

Sùng Khánh công chúa là hoàng thứ nữ do Du tiệp dư sinh hạ, cũng chết non khi còn bé.

Miêu chiêu dung nghe vậy ủ ê: "Còn không phải à, lúc Tối Hưng Lai hoăng, ta khóc nẫu cả ruột nhưng cũng chẳng nghi ngờ là người ngoài ra tay hiểm độc..."

Tối Hưng Lai là nhũ danh của hoàng tử Dự vương Hân.

Lúc Miêu chiêu dung sinh hoàng tử, kim thượng từng mơ thấy thần nhân cho ba chữ "Tối Hưng Lai", bèn lấy đó làm nhũ danh cho hoàng tử.

Dự vương tư chất sáng láng, kim thượng yêu thương vô cùng, đáng tiếc chưa đến nửa năm đã mất, kim thượng và Miêu chiêu dung đau buồn không thôi, đến nay vẫn nhớ mãi không quên.

Nhắc tới con trai, Miêu chiêu dung rầu rầu muốn rơi lệ, Du tiệp dư vội vàng cười nói: "Đang yên đang lành, em nói mấy cái này làm gì thế không biết?

Lại đâm làm tỷ tỷ buồn."

Miêu chiêu dung thở dài: "Không phải lỗi của em.

Chị em ta đồng bệnh tương liên, nói gì cũng đều thấu hiểu được nhau, không cần phải giải thích."

Du tiệp dư đáp phải, cảm thán: "Cùng là người hầu hạ quan gia mà sao chênh lệch quá?

Chủ nhân trong cung càn quấy được như cô ả ngoài đằng ấy ra cũng chẳng còn ai khác.

Em chỉ không rõ, bên quan gia có tiểu thư khuê các hiền thục thông tuệ, cũng có gái rượu nhà lành thùy mị nết na, mà sao cứ đi sủng một đào kép xuất thân lụn bại như thế?

Ừ thì cô ả cũng xinh đẹp đấy, nhưng có đẹp được lên trời đâu?"

Ta từng nghe người ta kể về thân thế Trương mỹ nhân.

Phụ thân ả tên Trương Nghiêu Phong, thi đậu tiến sĩ nhưng mất sớm, mẫu thân ả gửi con nhờ anh họ Trương Nghiêu Phong là Trương Nghiêu Tá nuôi nấng.

Sau, Trương Nghiêu Tá phải đi đất Thục nhậm chức, lấy cớ đường sá xa xôi, không chịu mang mấy đứa cháu mồ côi cha theo cùng.

Mẫu thân Trương mỹ nhân lại mưu sinh không nổi, rơi vào đường cùng bán con gái cho nhà Ngụy quốc đại trưởng công chúa làm vũ nữ, mình thì tái giá đổi sang họ Kiển, sinh thêm một đứa con trai.

Đại trưởng công chúa đưa Trương mỹ nhân vào cung, nạp tiến Tiên thiều bộ.

Khi đó Trương mỹ nhân tuổi còn quá nhỏ, cung nhân Giả thị trông thấy yêu mến, bèn nhận làm con gái nuôi dưỡng.

Trương mỹ nhân múa hát mấy năm, mãi đến khi gặp được kim thượng ở cung của Chương Huệ thái hậu.

Hiện giờ được sủng ái, kim thượng và ả đều không nhắc đến khoảng thời gian khi xưa làm đào kép nữa, công bố với bên ngoài ả là con gái nuôi của Thẩm tiệp dư đời tiên đế, nhưng người trong cung đương nhiên sẽ không quên, thường ngầm gọi ả là "đào kép xuất thân lụn bại".

"Em vào cung muộn hơn ta nên chuyện sớm hơn có thể không biết, trong đây có duyên cớ cả đó. » Miêu chiêu dung giải thích với Du tiệp dư nguyên nhân Trương thị đắc sủng, "Có lần cô ả múa cho Chương Huệ thái hậu xem, thái hậu cảm thấy cô ả tính tình khả ái, bèn giữ lại bên người.

Thuở nhỏ quan gia được Chương Huệ thái hậu nuôi nấng, rất hiếu thuận với bà, sau thành niên cũng không quên sớm chiều thăm hỏi.

Trương nương tử khi đó còn nhỏ tuổi, không lớn hơn Huy Nhu bây giờ bao nhiêu, một ngày nọ phát hiện ra con thỏ trắng mình nuôi chết mất, cổ họng có thương tích, nửa thân đẫm máu, cô ả khóc chết đi sống lại, sau đó có người nói với cô ả, thỏ có thể là bị chuột cắn chết, đúng lúc đó có con chuột chạy qua bên chân cô ả, cô ả vừa thấy đã nổi giận, xách váy chạy khắp đất, nhất định phải giết bằng được con chuột.

Vừa vặn quan gia đi vào, trông thấy cảnh này, kể từ đó liền để ý đến cô ả, đợi cô ả lớn hơn chút là nạp về."

Du tiệp dư bừng tỉnh đại ngộ, cười: "Hóa ra quan gia thích tính khí đó của ả."

Miêu chiêu dung cũng cười: "Có lẽ trong mắt hoàng thượng, đó là tính khí thật mà ít cung nữ nào trong cung có...

Về sau lại có người nói với Trương nương tử, thực ra con thỏ là bị tiểu cô nương ghen ghét cô ả giết.

Chuyện chẳng biết thật giả thế nào, có điều từ đó trở đi, bệnh đa nghi đâm rễ trong Trương nương tử, gặp chỗ nào không thuận ý là hoài nghi có người hại mình.

Giờ con gái qua đời, cô ả không ngờ vực mới là lạ đó."

Dư tiệp dư nghĩ ngợi, lại nói: "Nhưng lúc trước ả lại tìm ra con rối ở Hậu uyển thật..." lời còn chưa dứt đã vội vã đổi lời: "Ả ngông cuồng như vậy, trong cung thiếu gì người oán hận ả.

Gặp phải chuyện này suy cho cùng vẫn là do chính ả không biết điều."

Miêu chiêu dung lắc đầu, thở dài: "Ai mà biết được..."

Lúc này, chiêu dung lại chú ý tới ta, bèn phân phó: "Vừa rồi quan gia sai người đến hỏi công chúa đã khá hơn chưa, ngươi đi sang gác Trương nương tử bẩm báo quan gia đi."

Ta gật đầu ưng thuận.

Du tiệp dư thấy lúc họ tán gẫu chuyện Trương mỹ nhân, ta một mực đứng hầu bên cạnh, cố ý mỉm cười dặn dò: "Nhưng mà đừng nhắc với người ngoài lời ta với Miêu chiêu dung nói đấy."

Ta còn chưa đáp lời, Miêu chiêu dung đã mở miệng trước với tiệp dư: "Chuyện này thì em yên tâm.

Đừng nhìn thằng bé nó còn nhỏ, so với rất nhiều cung nhân cũ còn thận trọng hơn đấy.

Lại một lòng một dạ hầu hạ Huy Nhu, ta mới coi nó là người một nhà."

Ta lại đi tới Tường Loan Các, Trương mỹ nhân không còn trong viện nữa, hẳn là khóc lâu nên đã được người đỡ vào nghỉ ngơi rồi.

Nhác thấy ta, kim thượng lập tức vẫy tay gọi ta lại gần, tỉ mỉ hỏi tình hình của công chúa, dáng vẻ rất quan tâm.

Lúc này, một đám nội thị xếp thành hàng đi vào, trong tay đều bưng vải la tím.

Kim thượng quay về phía tăng sư làm lễ cúng trong viện, nói: "Chúng tăng mỗi người một súc la tím."

Làm lễ cúng trong cung, lệ thưởng cho chúng tăng có quy chế riêng, la tím không nằm trong đó, tất là kim thượng ban ân đặc biệt thưởng cho.

Chúng tăng nhân sôi nổi tạ ơn.

Chẳng ngờ kim thượng lại đổi giọng, nghiêm túc dặn họ: "Sắp tới các ngươi ra khỏi cung từ Đông Hoa Môn, cần phải lưu ý, giấu la tím vào ngực, đừng để người bên Nội đông môn ty trông thấy, bằng không đài gián sẽ có lời."

Chúng tăng ứng lời, không khỏi nhìn nhau tỏ vẻ kinh ngạc.

Cung nhân hai bên tất nhiên là biết xưa nay kim thượng vẫn luôn e sợ gián quan, nghe nói vậy đều có phần buồn cười, song liếc trộm qua, phát hiện ra sắc mặt kim thượng không ổn, nét cười tức thì bị hù cho bay biến.

Ban đầu nói với chúng tăng, vẻ mặt ngài hãy còn rất ôn hòa, nhưng lúc đề cập tới "người bên Nội đông môn ty", ánh mắt lại nghiêm lại.

Dứt lời, trên mặt vẫn lạnh tanh như kết sương giá.

Nghe đến "Nội đông môn ty", ta lập tức nghĩ đến Trương Mậu Tắc tiên sinh.

Liên hệ với lần trước ngài im lặng lúc ta đề cập đến thầy trước mặt ngài, ta thầm dậy lên chút hoài nghi, Trương tiên sinh khiến quan gia không vui không phải là do thầy quản lý người vật xuất nhập cung cấm, thấy quan gia ban thưởng cho ai nhiều thêm tài vật gì là đi nói ngay với gián quan đấy chứ?

Nội đông môn ty rất gần Trung thư môn hạ và các tòa gác khác, cực kỳ dễ dàng trong việc liên lạc với ngoại thần.

Nhưng ngẫm lại, kim thượng cũng không phải người thường hay tùy ý đặc cách ban thưởng thêm, Trương tiên sinh hẳn cũng không vì chuyện này mà khiến hoàng đế không vui.

Thế thì mối ngờ vực của ta có vẻ ấu trĩ quá.

Nhưng quan gia đúng là không thích Trương tiên sinh thật thì là cớ làm sao?

Mải nghĩ, nghe không thấy kim thượng gọi mình, mãi đến khi ngài hơi cất cao giọng gọi tên ta, ta mới bừng tỉnh, đứng nghiêm đợi lệnh.

"Đi, đi Nghi Phượng Các, ta qua thăm Huy Nhu xem."

Ngài nói.

5.

Mơ ủ

Trở lại gác, hai nương tử hãy còn đang ở trong uống trà, thấy kim thượng tới, vội vàng đứng dậy nghênh đón.

Kim thượng hỏi tình hình công chúa, Miêu chiêu dung đáp: "Ban nãy đi ngủ trưa, giờ đã tỉnh lại rồi, nhưng vẫn nằm dí trên giường không chịu dậy."

Công chúa còn nhỏ tuổi, kim thượng trước nay vẫn gần gũi với nàng, chưa kiêng tránh gì nhiều, nghe chiêu dung nói vậy bèn tiện tay cầm một đĩa mơ ủ, món mứt kẹo thơm dịp Đoan Ngọ mà Ngự thiện cục mới dâng lên, nói: "Để ta đi nói chuyện với nó."

Chiêu dung bằng lòng, gọi ta và một tiểu thị nữ tên là Gia Khánh Tử đi hầu hạ bên cửa phòng công chúa.

"Gia Khánh tử" vốn dùng để chỉ loại mận sinh trưởng trong phường Gia Khánh ở Lạc Dương thời Đường, có tiếng là thơm ngọt nên được gọi là Gia Khánh lý (*), truyền tới quốc triều, Gia Khánh tử trở thành mỹ danh của món mứt mận.

Công chúa có bốn tiểu thị nữ chừng bảy tám tuổi, tên toàn do công chúa ban tặng, thảy đều đặt theo món ăn yêu thích, ba người còn lại lần lượt gọi là Tiếu Diệp Nhi, Vận Quả Nhi và Hương Duyên Tử (**).

(*) Lý (李) là quả mận.

(**) Tiếu diệp nhi là một món dùng bột chiên và mật đường tạo thành hình mặt cười, vận quả nhi là một loại kẹo mạch nha bọc mật đường, còn hương duyên tử thì là mứt làm từ quả thanh yên.

Gia Khánh Tử là người mới tới năm nay, lần đầu vào gác đúng lúc công chúa đang ăn cháo, Hàn thị thỉnh công chúa ban tên cho cô bé, công chúa ngó nó rồi hỏi nó họ gì, cô bé đáp là Khương.

Vừa hay trong miệng công chúa đang nhai một miếng gừng lạt cước tử (*), nghe vậy tức thì hớn hở: "Vậy tên ngươi gọi là Lạt Cước Tử đi!"

(*) Lạt cước tử là món dưa cay muối từ rau cải và các loại gia vị cay, trong đó có gừng (gừng tiếng Hán gọi là khương).

Miêu chiêu dung nghe xong tức cười phản đối: "Nó lấy tên thế thật thì về sau biết ra ngoài gặp người khác thế nào?"

Công chúa cũng không khăng khăng, nói: "Vậy để con nghĩ lại."

Ta thấy ánh mắt nàng rà soát khắp các món ăn trên bàn, toàn là rau diếp, đậu phụ vừng, chao gừng, củ cải cay, dưa chuột cải cay, đu đủ sống ngâm nước, cuối cùng lại liếc về phía bánh bao thịt lươn, lo nàng lại lấy cho tiểu cô nương người ta một cái tên kinh hãi thế tục, bèn mượn cơ hội đổi ly đĩa trống, đặt một đĩa Gia Khánh tử trước mặt nàng.

Quả nhiên đã kích thích cảm hứng cho nàng: "Ngươi lấy tên là Gia Khánh Tử đi, ta thích ăn món này lắm đó."

Công chúa thích ăn mứt kẹo ngọt, nhưng dạo này đương lúc thay răng nên Miêu chiêu dung rất ít khi cho nàng ăn, nay kim thượng mang mơ ủ theo là để dỗ nàng vui.

Công chúa nằm trên giường, hiển nhiên là đã tỉnh, nghe phụ thân vào phòng lập tức xoay người vào trong giả bộ ngủ.

Kim thượng ngồi xuống đầu giường nàng, đưa mơ ủ tới dưới mũi nàng, cười gọi: "Huy Nhu, xem cha mang gì đến cho con này."

Công chúa vẫn không nhúc nhích, cũng không đáp lời.

Kim thượng bèn nói: "Là mơ ủ Đoan Ngọ mới làm xong đó, mật đang chảy từ trong vỏ mơ ra này, không ăn để lâu sẽ mất ngon mất."

Mơ ủ là mứt kẹo thơm mùa này.

Trước Đoan Ngọ, người đô thành sẽ bào xương bồ, gừng tươi, quả hạnh, mận và tía tô thành sợi, ngâm với mật đường, nhồi vào vỏ mơ chế thành, hương thơm dịu, vị chua ngọt, trước giờ vẫn luôn là món khoái khẩu của công chúa, huống hồ mỗi năm chỉ có mỗi một dịp tết Đoan Ngọ mà Miêu nương tử lại chẳng chịu cho ăn nhiều, thế nên lúc này trên tay kim thượng quả thật là một sự cám dỗ khổng lồ đối với nàng.

Công chúa khẽ động vai, trong lòng nhất định là đang khổ sở đấu tranh, nhưng sau cùng vẫn trụ vững, không phản ứng.

Kim thượng thở dài, lẩm bẩm như tự nhủ "Ngủ say ghê cơ...", ngay sau đó gọi Gia Khánh Tử qua, đưa đĩa mứt trong tay cho nó, bảo: "Thưởng mơ ủ cho ngươi đấy, ngươi ăn một mình hay chia cho bọn Tiếu Diệp Nhi đều được."

Gia Khánh Tử mừng rơn, nhận lấy rồi mới nhớ ra phải hành lễ tạ ơn, kim thượng cười khoát tay: "Thôi thôi, mau đi ăn đi."

Lại nhìn sang công chúa, thấy nàng vẫn không có ý định mở mắt, kim thượng bèn đứng dậy, miệng nói: "Công chúa còn ngủ thì ta về trước vậy."

Vừa nói vừa lẹ làng đi vào trong một bên màn che, nấp ở đó.

Công chúa hồi lâu không nghe thấy động tĩnh, hơi xoay người lại, mắt phải hé ra một cái khe, không thấy kim thượng đâu thì mở bừng hai mắt ngồi dậy, xác nhận phụ thân không ở trước mắt rồi, vén phắt chăn nhảy xuống, giày cũng không xỏ cứ thế chạy tới cạnh cửa thò đầu nhìn ra ngoài.

Vẫn chẳng thấy bóng dáng kim thượng, nàng quay sang hỏi ta: "Cha đi rồi?"

Ta mỉm cười cúi đầu.

"Ôi..."

Nàng cho ấy là ta gật đầu, ánh mắt lập tức xám xịt, thất vọng hết sức.

Bấy giờ kim thượng cười to đi ra, công chúa trông thấy, hét lên một tiếng kinh hãi, nhanh chóng chạy về, nhảy lên giường kéo chăn bưng kín đầu, chỉ thấy dưới chăn hơi run run, cũng không biết công chúa là đang khóc hay đang cười.

Kim thượng đi tới kéo mạnh góc chăn ra, công chúa bị buộc phải lộ mặt, song hai mắt vẫn nhắm nghiền, miệng cũng mím thật chặt, tỏ vẻ không muốn nói chuyện với phụ thân.

"Ừ, không cười, nhất định không được cười," Kim thượng giấu nụ cười đi, nói với công chúa, "Nếu không sẽ lộ chỗ răng khuyết ra mất."

Công chúa không nhịn thêm được nữa, cười phì một tiếng, cuối cùng cũng mở mắt, nhìn kim thượng phản bác: "Cha lúc còn bé mới khuyết răng ấy!"

Kim thượng cười, hỏi nàng: "Không giận cha nữa?"

"Ưm..."

Công chúa lưỡng lự, đáp rằng, "Con phải nghĩ đã..."

"Ha ha," kim thượng gạt tóc trên trán công chúa, dịu dàng nói: "Hôm nay Huy Nhu không sai.

Cha nói con có hơi lớn tiếng, nhưng tuyệt không phải là mắng con.

Bát muội con không còn, Trương nương tử khó chịu trong lòng, rất dễ giận chó đánh mèo, nàng nói không muốn thấy con thì con cứ tạm thời theo ý nàng mà về trước đã.

Người ở vào lúc mất đi người chí thân tựa như khi đổ bệnh nặng vậy, gặp chút chuyện không thuận lòng là không chịu nổi, vào những lúc thế này, nàng sẽ không chịu nghe con giải thích, con nói nhiều thêm bất kỳ câu gì cũng đều có thể khiến nàng khó chịu hơn, thế nên tốt nhất là đừng làm trái ý nàng, tránh đi là hơn cả."

Công chúa liền hỏi: "Bà ấy đã không muốn thấy con thì sao cha còn bảo con mặc áo gai qua đó?"

Kim thượng cười cười bất đắc dĩ, bảo: "Thân cư nhà đế vương, nhất cử nhất động đều sẽ bị người đời để ý.

Chuyện hiếu hỉ người thường có thể giấu hỉ nộ ái ố sâu trong lòng, không nhất thiết phải biểu lộ ra, nhưng chúng ta thì không được, chúng ta phải thuận theo ý thần dân mà buồn mà vui, còn phải thể hiện cái buồn vui ấy ra cho thiên hạ thấy.

Bất kể Trương nương tử có muốn thấy con hay không, con đều phải đến lễ tế, mặc áo gai, bày tỏ sâu sắc niềm tiếc thương của hoàng trưởng nữ dành cho ấu muội cho thần dân thấy.

Trương nương tử tuy nói không muốn gặp con nhưng nếu con không đi, nàng sẽ càng nghi ngờ chuyện lúc trước, nói con chột dạ hoặc hổ thẹn.

Vả lại, bản thân con cũng muốn đi mà, không phải à?"

Công chúa gật đầu, chán nản nói: "Vâng, Ấu Ngộ qua đời, con cũng rất đau xót..." lại nhìn phụ thân, vươn tay lên xoa mặt ngài, công chúa hỏi: "Cha đã khá hơn chút nào chưa ạ?

Mấy ngày nay quầng mắt thâm hết cả lại rồi."

Kim thượng than: "Cha vẫn ổn.

Người thương tâm nhất là Trương nương tử ấy, khóc bã cả người, thì ra trong mắt con người ta có thể tích trữ nhiều nước mắt đến thế...

Cho nên sắp tới con đừng chọc tức nàng, nàng có nói con lời gì khó nghe cũng nhịn tạm đấy đã, giận quá thì hít sâu một hơi, ngẫm xem nếu như con là nàng, có phải cũng sẽ như vậy không.

Nghĩ nhiều rồi khắc sẽ không tức giận nữa."

Công chúa đồng ý, lại bỗng hỏi phụ thân: "Cha, bình thường đám quan lại phê bình cha cũng không thấy cha tức giận, có phải là cũng hít sâu, suy ngẫm rồi nhịn xuống như thế này không?"

Kim thượng sửng sốt, chợt cười ngỏn ngoẻn: "Đúng vậy đúng vậy, bình thường đều là vậy...

Có điều, cũng có lúc nhịn không được, vẫn thấy giận tím mặt, chỉ hận không thể đâm đầu vào cột rồng."

Công chúa nghe thế cũng bật cười thành tiếng.

Kim thượng vuốt vuốt mũi nàng, hỏi: "Giờ đã hết giận chưa?"

Công chúa cười ngồi quỳ dậy, ôm cổ phụ thân, ghé vào tai ngài nói thật rõ ràng: "Cha, thực ra con đã hết giận cha từ sớm rồi, vừa nãy chỉ là ngại nói chuyện với cha...

Dẫu cha có mắng con thật cũng không sao...

Cha mắng con, con sẽ buồn, nhưng nếu mắng con rồi cha sẽ dễ chịu hơn phần nào, vậy con bằng lòng bị cha mắng...

Nếu giữa cha và con nhất định phải có một người buồn khổ, hãy để con làm người ấy đi."

Mấy câu này làm kim thượng cảm động khôn xiết, không khỏi ôm ghì lấy công chúa, nói với nàng: "Cha sẽ không để Huy Nhu buồn khổ...

Con là con gái ngoan của cha, con muốn gì cha sẽ cho con cái đó, miễn là cha cho được..."

"Thế...con muốn mơ ủ!

Cái này cha chắc chắn cho được."

Công chúa hớn hở ra mặt, tiện thể đề yêu cầu, "Một đĩa không đủ, ít nhất phải hai đĩa!"

Kim thượng lắc đầu cười, lập tức sai ta đi lấy hai đĩa qua đây.

Công chúa đón lấy một đĩa mơ ủ từ tay ta, ôm trong lòng nhấm nhấp từng quả, thỉnh thoảng lại ngước mắt nhìn phụ thân, thấy ngài trước sau vẫn mỉm cười xem mình, bèn cất tiếng: "Cha, con muốn xin cha đồng ý một việc."

"Ồ, gì nào?"

"

Sau này lúc con tức giận, cha lại mang thức ăn ngon qua đây nữa nhé, nếu thấy con không đếm xỉa hoặc nói không muốn, cha nhất định đừng từ bỏ, nhất định phải gắng đút cho con ăn."

6.

Thiếp thơ

Đoan Ngọ hằng năm, chư văn thần sẽ dâng vào cung những câu thơ mới sáng tác như khi lập xuân để cung nhân dán ở tẩm điện của đế hậu và cửa gác của các phu nhân, bài từ xuân được gọi là thiếp xuân tiến vua hoặc chỉ đơn giản là thiếp xuân, bài từ Đoan Ngọ thì gọi là thiếp Đoan Ngọ.

Ba ngày trước Đoan Ngọ, Tào hoàng hậu bày thiếp của chư thần ở Nhu Nghi Điện, cho mời tần ngự hậu cung và công chúa tới tham quan bình phẩm, đồng thời phân chia ban thưởng cho mọi người.

Công chúa xem một lượt rồi cười hỏi hoàng hậu: "Nương nương cảm thấy thiếp của ai hay nhất?"

Hoàng hậu khẽ buông mi, ánh mắt như đang thở dài: "Năm nay không có của Phạm tướng công và Tô Tử Mỹ, đương nhiên là Âu Dương Tu chiếm ngôi độc tôn rồi."

Hai người vắng mặt bà nhắc đến là nguyên tham tri chính sự (*) Phạm Trọng Yêm và nguyên giám Tiến tấu viện, Đại lý bình sự, Tập hiền hiệu lý (**) Tô Thuấn Khâm, hai người này đều là bậc thầy thi từ tài hoa.

Trong những năm Khánh Lịch, Phạm Trọng Yêm và rất tích cực thúc đẩy cải cách triều chính, cũng làm gia tăng cạnh tranh giữa các đảng phái trong triều, sau lần lượt bị giáng chức điều ra ngoài cùng những đại thần ủng hộ tân chính bao gồm Đỗ Diễn, Hàn Kỳ, Phú Bật.

Tô Thuấn Khâm vốn được Phạm Trọng Yêm tiến cử, tuy không phải trọng thần chấp chính nhưng tuổi còn trẻ đã có thể lừng danh thiên hạ tài thi văn, chủ trì sự vụ Tiến tấu viện, bị bọn quyền quý chèn ép.

Mùa thu năm ngoái, Tiến tấu viện cử hành tế bái từ đường thần linh, Tô Thuấn Khâm theo tiền lệ dùng tiền bán giấy cũ của Tiến tấu viện mở tiệc thết đãi khách khứa, kết quả bị phe cánh Ngự sử trung thừa Vương Củng Thần quy cho tội biển thủ, cuối cùng gặp họa xóa tên biếm trích.

(*) Tức chức phó tể tướng.

(**) Tiến tấu viện có thể hiểu như văn phòng chính phủ của triều đình cổ đại, giám tức điều hành, giám sát; Đại lý bình sự là chức quan xử án; Tập hiền hiệu lý là chức quan hiệu đính, chỉnh lý kinh thư, sáng tác học thuật ở Tập hiền điện.

Thiếp Đoan Ngọ trước mắt tất nhiên chẳng thiếu gì công phu tinh xảo, nhưng nội dung đa phần đều là văn chương nịnh hót, ca tụng công đức, thiếu Phạm tướng công và Tô Tử Mỹ là thiếu hẳn tứ thơ ngầm ý khuyên can.

Xem hết một lượt từng tấm, quả thực Long đồ các trực học sĩ, hữu chính ngôn Âu Dương Tu là xuất chúng nhất.

Y ngang hàng với Thái Tương, Dư Tĩnh, Vương Tố, là một trong tứ đại gián quan được kim thượng trọng dụng.

"Âu Dương Tu?

Con biết y."

Công chúa chỉ vào một trong số các tấm thiếp, nói, "Con cũng nhận được chữ của y.

Lúc trước lập xuân, cha cầm một tấm thiếp xuân tiến vua đọc đi đọc lại, rất yêu thích, bèn hỏi người bên cạnh là ai viết, được hay tác giả là Âu Dương Tu, cha lập tức sai người bảo đi lấy toàn bộ thiếp xuân chia cho các lầu gác trong cung do y viết, tỉ mỉ xem từng tấm, còn bảo con học thuộc, nói bài nào bài nấy đều có chủ đề rõ ràng, đưa bút không quên khuyên nhủ, xứng đáng là bề tôi giữa tùy tùng."

Hoàng hậu mỉm cười gật đầu, dõi mắt nhìn tấm thiếp công chúa chỉ, lại cầm lên xem kỹ, tỏ vẻ cảm khái.

Ta đứng sau lưng bà phóng mắt nhìn qua, chỉ thấy tấm thiếp là viết cho gác của hoàng đế, thơ rằng: "Sở nghe gièm pha trục Khuất Nguyên, chung thân chầu vua đà khôn nhẽ.

Nguyện nhân bánh ú thành tập tục, chứng giám xảo ngôn chúa cả ngờ." (*)

(*) Tết Đoan Ngọ có một tích liên quan đến nhà thơ, nhà chính trị Khuất Nguyên thời Chiến quốc, ông bị gian thần hãm hại, Sở vương nghe lời gièm pha mà ghét bỏ ông, đày ra Giang Nam, ông thất chí, lại gặp cảnh quân Tần giày xéo nước mình, lòng đau như cắt, sau khi viết tác phẩm cuối cùng "Hoài sa" thì ôm đá nhảy xuống sông tự tử, dân chúng địa phương biết tin lập tức chèo thuyền đi cứu, song đến thi thể ông cũng không vớt được, dân chúng lại sợ tôm cá dưới sông rỉa xác ông, bèn nhao nhao thả cơm nắm vào sông, tránh cho tôm cá làm hư hại thi thể Khuất Nguyên, sau trở thành tập tục ăn bánh ú vào tết Đoan Ngọ.

Công chúa thấy hoàng hậu cứ để ý tấm thiếp này mãi, không khỏi hiếu kỳ, hỏi bà: "Nương nương, bài thơ này có chỗ nào diệu ạ?"

"À, không có gì.

Thiếp này viết chữ rất khá nên ta nhìn nhiều chút thôi."

Hoàng hậu không giải thích cặn kẽ cho công chúa hiểu, nhẹ nhàng buông tấm thiếp, lại hòa ái hỏi công chúa: "Huy Nhu, con thích bài nào?"

"Câu này thể nào về cha cũng sẽ hỏi con, con phải chọn một bài thật ngắn, thật dễ thuộc trước mới được."

Công chúa cười chỉ vào bài từ Âu Dương Tu viết cho gác hoàng hậu, đọc: "Tiêu phòng (*) thừa ơn nặng, Nhu Nghi gương cung tần.

Nay tằm nhả tơ kén, kéo chỉ nối mệnh xa."

(*) Cung thất của hậu phi thường trộn tiêu vào bùn trát vách tường nên tiêu phòng có ý chỉ hậu phi.

Đọc xong lại tự nhặt lấy một tấm khác, đưa cho Miêu chiêu dung, hỏi: "Tỷ tỷ xem bài này có hay không?"

Bài thơ này viết cho lầu gác của phu nhân: "Bồng bềnh non tiên khói sông Ngân, quạt lụa đưa gió hương lục huệ.

Cửa cấm nào hay hơi nóng bức, đài ngọc gác vàng thủy tinh cung."

Miêu chiêu dung cũng khen hay, cười bảo: "Đọc bài này mà mát rượi cả người, chẳng cần phải uống nước đá nữa."

Hoàng hậu thuận thế ban thưởng bức thiếp cho bà, lại tiếp tục chia thiếp thưởng cho chúng phi.

Trương mỹ nhân mấy nay vẫn ủ dột không vui, hoàng hậu cũng không hỏi nhiều, tự lựa mấy tấm sai người mang sang cho ả.

Người cuối cùng lĩnh thiếp là hai mỹ nhân lạ mặt.

Miêu chiêu dung không biết là ai, bèn hỏi hoàng hậu: "Hai vị nương tử này mới vào cung gần đây ạ?"

Hoàng hậu đáp: "Phải.

Họ là do Kỳ quốc công Vương Đức dâng lên, mong có thể hầu hạ quan gia dài lâu, vì quan gia khai chi tán diệp.

Quan gia đã nhận về bên người, chỉ còn đợi nghị định danh vị."

Miêu chiêu dung tiến lên, kéo tay hai vị tiểu nương tử cẩn thận ngắm nghía, khen ngợi không ngớt, lại hỏi tên họ, đồng thời tháo hai sợi dây hợp hoan ngũ sắc Đoan Ngọ (*) trên cổ tay xuống đeo cho họ.

Hai mỹ nhân từ chối, Miêu chiêu dung cười, bảo: "Đáng lý lần đầu gặp gỡ hai vị muội muội, phải chuẩn bị lễ hậu mới đúng, nhưng hôm nay vô tình gặp mặt, không kịp chuẩn bị gì, đành lấy sợi dây hợp hoan này tặng các em cầu chút cát lợi.

Muội muội không nhận ắt là chướng mắt chút quà mọn này của ta rồi."

(*) Người cổ đại đến tết Đoan Ngọ sẽ đeo một sợi dây ngũ sắc lên cổ tay hoặc cổ chân, gọi là dây hợp hoan, với mong muốn khẩn cầu chiến tranh và dịch bệnh không xảy ra (hợp hoan có nghĩa là đoàn tụ)

Hai mỹ nhân bèn nhận lấy dây hợp hoan.

Chúng phu nhân chứng kiến cũng sôi nổi đi qua tặng lễ gặp mặt cho hai người.

Hai vị tiểu nương tử nhận mà vừa mừng vừa lo, ngó quanh rồi lại phấn khởi hẳn lên, sắc mặt hoan hỉ.

Chẳng ngờ bên này chị chị em em chuyện trò đương vui, bên kia lại thấy nội thị thân cận của kim thượng Vương Chiêu Minh vội vội vàng vàng đi từ Sùng Chính Điện sang, bẩm: "Quan gia vừa mới phân phó, ban cho hai nữ nhân Vương Đức dâng lên mỗi người ba trăm quan tiền, lập tức xuất cung qua Nội đông môn, không được chậm trễ."

Mọi người trong điện đều vô cùng kinh ngạc.

Hoàng hậu cũng rất bất ngờ, hỏi: "Sao quan gia lại truyền khẩu dụ thế?"

Vương Chiêu Minh đáp: "Tri gián viện Vương Tố biết chuyện Vương Đức dâng nữ nhân, hôm nay gặp vua can gián, nhất định đòi quan gia trả tiểu nương tử nhà họ Vương về.

Quan gia nói hai nữ tử ấy theo bên hầu hạ đã rất gần gũi, lại thử hỏi dò Vương Tố có thể để mình giữ họ lại không.

Vương Tố nghiêm mặt đáp: 'Chính vì sợ bệ hạ gần gũi với họ nên thần mới phải lên tiếng.' Quan gia không nói gì thêm nữa, gọi thần tới mệnh thần mau chóng đi truyền khẩu dụ, muốn hai tiểu nương tử phải lập tức rời cung.

Lời còn chưa dứt, quan gia đã rơi nước mắt."

Chúng phu nhân nghe xong đánh mắt nhìn nhau, ít nhiều đều có vẻ hả hê.

Hoàng hậu vẫn y như xưa nay, lúc trầm mặc nhìn không ra tâm trạng, lát sau mới nói: "Quan gia thấy gián thần nói có lý cũng đâu nhất thiết phải hạ lệnh gấp như thế.

Cớ sao không cho nhập cung trước rồi từ từ phái họ ra sau?"

Vương Chiêu Minh đáp: "Vương Tố cũng bẩm quan gia như vậy, nhưng quan gia lại nói, ngài tuy là hoàng đế nhưng về mặt tình cảm thì không khác gì dân.

Nếu cho nhập cung trước, gặp cảnh các tiểu nương tử khóc lóc không muốn rời đi, chỉ sợ mình không đành lòng đuổi họ ra ngoài nữa."

Hoàng hậu nhếch miệng cười, nói: "Được, đã biết."

Hai mỹ nhân vừa nghe đã tự biết đường cung cấm đứt đoạn, sắp bị đuổi ra khỏi cung, lập tức òa khóc, liên tục dập đầu xin hoàng hậu khai ân giữ họ lại.

Vương Chiêu Minh thấy vậy thúc giục: "Xin hoàng hậu sớm đưa họ ra khỏi cung, Quan gia còn đang giữ Vương Tố ở Sùng Chính Điện chờ tin, thần thấy họ đi rồi mới có thể quay về phục mệnh."

Hoàng hậu gật đầu, cho gọi Nhậm Thủ Trung.

Nhậm đô tri không cần hoàng hậu phải mở miệng lần nữa, đã sớm ra lệnh sai người kéo hai mỹ nhân ra ngoài.

Một lúc sau, Trương tiên sinh của Nội đông môn ty bảo nội thị đến báo lại, nói hai nữ nhân đã xuất cung, sau đó Vương Chiêu Minh trở về Sùng Chính Điện báo cáo.

Mọi người đợi thêm một lát, thấy kim thượng chậm rãi trở về, thần sắc buồn bã, trong mắt còn vương ngấn lệ.

7.

Ty sức

Tết Đoan Ngọ mồng năm tháng năm còn được gọi là "tết Dục Lan Lệnh", từ ngày mồng một đến trước Đoan Ngọ một ngày, trên đường phố Đông Kinh nơi nơi đều bán đào, liễu, hoa hướng dương, lá hương bồ và ngải phật đạo, đến Đoan Ngọ, nhà nhà trải ra trước cửa cùng bánh ú, bột nếp viên ngũ sắc và trà rượu để cúng bái thần phật, lại bện lá ngải thành hình người hoặc hình hổ, đóng lên cửa để trấn tà trừ ác, bách tính nhân dân tặng rượu lẫn nhau.

Trong cung cũng vậy.

Trên cửa các lầu gác đều treo người ngải hổ ngài, lại cắt tơi tía tô, xương bồ, đu đủ ra trộn với nhau làm thuốc hương, đựng vào tráp màu mai đỏ, được quy là vật cúng thần tết Đoan Ngọ như hoa ngải trăm sợi, trống bạc, quạt tranh tinh xảo, mứt kẹo thơm, bánh ú và dưa trắng.

Ngoài ra, nội ty còn lấy xương bồ hoặc thông thảo khắc thành hình thiên sư ngự hổ đặt trong cung, treo xương bồ nhuộm ngũ sắc hai bên, lại khắc hình trăm trùng lên đó rồi lấy quỳ, lựu, lá ngải và hoa đùm lấy, rực rỡ năm màu, rất giống buộc hoa đăng cảnh núi tết Nguyên Tiêu.

Đại nội hôm ấy náo nhiệt vô cùng.

Nội thị đổi sang áo lót vải la và áo bào sa mùa hạ, cung nga đầu đội miện hoa muôn màu muôn vẻ, tay bưng chỉ màu bách tầm (*), hoa bằng vàng điêu khắc tinh xảo, trống bạc, vận quả mật đường, bánh ú, túi đựng kinh bùa ống kết từ ngọc ngũ sắc mà đế hậu thưởng cho các gác, tể chấp và tôn thất.

Trong Hậu uyển, hướng dương quả lựu khoe sắc, dành dành ganh ngải toả hương, tôn thất hoàng thân đánh cầu bắn liễu, còn có cung quyến chơi ném hũ đấu cỏ (**), cảnh tượng rất đỗi thái bình.

(*) Bách tầm, còn được gọi là dây nối mệnh, là một món đồ cát tường của tết Đoan Ngọ, được làm từ năm màu chỉ khác nhau, treo ở cửa hoặc đeo lên người để tránh tai phòng bệnh, phù hộ an khang, tăng thọ thêm tuổi (gần giống với dây hợp hoan ở phần trước nhưng tớ không tìm thấy tài liệu nào nói cả hai là một); trong bài từ viết cho gác hoàng hậu của Âu Dương Tu ở phần trước cũng đã nhắc tới loại dây này.

(**) Bắn liễu là trò đặt bồ câu vào một cái hồ lô, treo lên cây liễu, giương cung bắn trúng hồ lô, bồ câu bay ra, lấy độ cao bồ câu bay lên để phân thắng thua; ném hũ là trò ném thẻ vào bình rượu; đấu cỏ là trò lồng hai nhánh cỏ giao nhau rồi hai người kéo hai đầu xem nhánh nào đứt trước.

Ngày ấy, ta làm quen được với Thập Tam Đoàn Luyện Triệu Tông Thực.

Cậu là một thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi, trầm tĩnh ôn hòa, hơi rụt rè, gặp trưởng bối cũng không nói nhiều, bình thường đều hỏi câu nào đáp câu đó, ở trước mặt hoàng hậu cũng rất câu nệ, có vẻ như hơi sợ bà, gặp Miêu chiêu dung thì khá hơn, bởi khi còn nhỏ ở trong cung, cậu thường hay được Miêu chiêu dung chăm sóc.

Công chúa rất thích cậu, vừa gặp đã liến thoắng "Thập tam ca", chạy qua hỏi han tíu tít, cậu trông thấy công chúa cũng rất vui vẻ, lời nói nhiều lên và thoải mái hơn hẳn.

Đại khái là vì yêu ai yêu cả đường đi nên Thập Tam Đoàn Luyện tỏ ra rất thân thiện với những người theo hầu công chúa.

Buổi chiều, cậu chơi một trò tên là "gõ viên" cùng với vài vị con cháu tôn thất, đếm tới đếm lui thấy còn thiếu một người, bèn ngó sang ta khi đó đang đứng hầu một bên, bảo: "Ngươi qua đây chơi với chúng ta đi."

Ta hơi hoảng, thưa mình không biết chơi, cậu lại chẳng để bụng, kéo ta vào sân, nói: "Ta dạy ngươi."

Mãi gần đây gõ viên mới trở nên rầm rộ ở kinh thành, lúc chơi phải vẽ một sân bóng lên một khoảnh đất rộng rãi nhấp nhô không bằng phẳng trước, từ lỗ bóng cách ra một khoảng chừng vài chục đến một trăm bước, lại đào thêm một số lượng lỗ bóng nhất định, người tham gia lần lượt lấy đầu một gậy gỗ hình muôi đánh vào quả bóng mã não to cỡ quả trứng gà, phe nào đánh nhiều bóng vào lỗ nhất phe đó thắng.

Ban đầu, ta không thạo cách chơi, không phải chọn sai gậy đánh bóng thì cũng là động tác góc độ không đúng, đánh bóng khi xa khi gần, song thế nào cũng không trúng lỗ.

Thập Tam Đoàn Luyện rất có kiên nhẫn, chậm rãi giảng giải, thậm chí còn nắm tay dạy ta, cuối cùng, ta dần dần chơi được đúng cách, có thể miễn cưỡng ứng chiến.

Hôm đó, trong số nữ tử hoàng thân vào cung có một người con gái nuôi khác của hoàng hậu, chắt của danh tướng quốc triều Cao Quỳnh, con gái chị ruột hoàng hậu, tên Thao Thao.

Khi còn nhỏ, Cao cô nương được hoàng hậu chọn vào cung, nuôi dạy cùng Thập Tam Đoàn Luyện nơi cửa cấm.

Khi ấy, người trong cung đều gọi Thập Tam Đoàn Luyện là "Quan gia nhi", gọi Cao cô nương là "Hoàng hậu nữ".

Bởi hai người cùng tuổi, lại hợp tính nhau nên đế hậu đều có ý tác hợp cho họ.

Kim thượng thường trỏ vào Cao cô nương trêu Thập Tam Đoàn Luyện rằng: "Lấy hoàng hậu nữ về làm dâu cho con nhé?"

Về sau, Dự vương ra đời, Thập Tam Đoàn Luyện bị trả về dinh Nhữ Nam quận vương, Cao cô nương kế đó cũng xuất cung về nhà, hoàng hậu mới nhận nuôi Phạm cô nương.

Lúc Thập Tam Đoàn Luyện chơi gõ viên với ta, Cao cô nương ngồi một bên xem cùng công chúa, ánh mắt trước sau đều đặt lên Thập Tam Đoàn Luyện.

Có đôi lần Thập Tam Đoàn Luyện cũng sẽ lặng lẽ nhìn cô, nếu bốn mắt chạm nhau, họ sẽ tức khắc vội vã quay đầu né tránh như đột nhiên phải bỏng, mặt hơi ửng đỏ, khóe miệng lại cùng khe khẽ nhếch lên.

Theo lệ thường, hoàng đế không lên triều vào Đoan Ngọ, kim thượng vốn cũng ở Hậu uyển trò chuyện cùng hoàng thân, chợt nghe nội thị truyền báo có vài vị gián quan cầu kiến, nói rằng có chuyện quan trọng muốn bẩm tấu.

Kim thượng dầu không vui song vẫn thay áo bào đỏ thêu rồng vàng, khăn chít đầu chân bằng, thắt đai đỏ và khuyên ngọc vàng sừng tê, y phục chỉnh tề đi tới Thùy Củng Điện tiếp kiến họ.

Chuyến này đi đã lâu mà chưa thấy quay về, trời dần tối, sắp đến giờ mở tiệc, hoàng hậu bèn gọi vài tần ngự trẻ tuổi, mệnh họ đến điện Phúc Ninh, tẩm điện của kim thượng, chờ, nếu gặp quan gia trở về thay y phục thì lập tức đón sang Hậu uyển nhập tiệc.

Công chúa nghe hoàng hậu phân phó vậy bèn tự xin chỉ thị, muốn đi Phúc Ninh Điện đợi phụ thân, hoàng hậu cũng bằng lòng, để nàng đi cùng các nương tử.

Ta đi theo công chúa.

Chờ ở Phúc Ninh Điện một lúc mới thấy kim thượng rảo bước quay về, trán lấm tấm mồ hôi, vừa đi vừa sai tiểu hoàng môn trong điện: "Mau mời Lý ty sức qua đây."

Thuộc Thượng phục cục có bốn ty: ty bảo, ty y, ty sức, ty ỷ, mỗi ty gồm hai nữ quan chủ quản.

Trong hai nữ quan chủ quản ty sức có một vị họ Lý, rất giỏi dùng thuật đạo dẫn (*) chải tóc, dung mạo cũng hơn người, được xưng tụng là "Sơ đầu phu nhân", thường chải đầu cho quan gia, rất được kim thượng tin yêu.

(*) Ở đây là một phương pháp mát-xa da đầu với ngón tay.

Nhận lệnh tuyên triệu của quan gia, Lý ty sức tới rất nhanh, gỡ tóc chải đầu cho ngài.

Tần ngự chia hai hàng tả hữu đứng đợi, công chúa cũng ở trong đó xem.

Giữa chừng, công chúa hỏi kim thượng: "Sao cha lại phải chải đầu lúc này ạ?"

Kim thượng thở dài: "Mới nãy mấy tay gián quan cứ giảng đạo lý với ta mãi, ta muốn chóng rời đi, bèn cười nói với họ: 'Ý các khanh trẫm đã biết, để sau lễ tết lại bàn.' Không ngờ vừa xoay người, còn chưa cất bước, tay áo đã bị một quan kéo lại, luôn miệng kêu: 'Bệ hạ nhất định phải nghe xong lời can của chúng thần đã...' Ta muốn rút tay áo ra mà hắn không chịu buông, ta đành trở lại ngồi, nghe họ nói tiếp, trong đó lại còn có một tay mùi mồ hôi rất nặng, trời mùa này thì nóng, hun ta nhức đầu nóng tai, da đầu ngứa ngáy, nên phải chải đầu mới tỉnh táo lại được."

Chúng tần ngự nghe xong đều bật cười, sôi nổi hỏi: "Thế họ can gián chuyện gì mà nói dai nói dài, nói hết cả buổi như vậy ạ?"

Kim thượng không đáp, chỉ nói: "Cũng không có gì, các ngươi không cần biết."

Có vị nương tử tinh mắt, thấy trong tay áo kim thượng có tấu chương, bèn thừa dịp ngài không phòng bị, thoắt cái rút ra, cười: "Lời họ nói ắt là viết cả trong đây rồi, quan gia ban thưởng cho bọn thiếp xem đi thôi."

Những nương tử còn lại cũng nhào lên tranh cướp tấu chương, cười đùa ầm ĩ, đều muốn là người mở ra xem trước tiên.

Kim thượng mới đầu muốn ngăn lại, song hãy còn đang chải đầu, tóc nằm trong tay Lý ty sức, không thể động đậy, đành bất đắc dĩ lắc đầu thở dài.

Mấy vị nương tử tranh tới tranh lui, ai cũng không xem được đầu tiên, Cuối cùng, vị rút tấu chương cao giọng nói: "Được rồi được rồi, đừng ai tranh nữa, chúng ta mời công chúa tuyên đọc, mọi người cùng nghe thôi."

Tất cả đều thấy ý kiến này không tệ, bèn giao tấu chương cho công chúa.

Công chúa nhận lấy mở ra, cân nhắc từng chữ rồi bắt đầu đọc: "Thần nghe nói vì tai họa diễn ra liên tiếp, bệ hạ đã hạ chiếu sắc, mong cầu lời phải ngay..."

Kim thượng cười khổ: "Họ nói năm nay mưa nhiều thành họa, gần đây trong nước lại có động đất, là trừng phạt do âm thịnh...

Con trực tiếp đọc mấy dòng cuối đi."

Công chúa gật đầu, nhảy cóc qua đoạn giữa, đọc mấy câu quan trọng nhất đằng sau: "Trong cung thất, chúng nữ ngự lẽ nào lại chẳng dư thừa, khác chi bị cầm giữ?

Lựa người vô dụng mà thả ra ngoài, đặng tiêu trừ biến loạn âm thịnh."

Câu này vừa nói ra, tần ngự trong điện tức thì nín thinh, hiển nhiên là không ngờ được chuyện đài gián luận bàn lại có liên quan đến mình.

Nỗi bất an dâng lên trong mắt, họ đều lén ngó kim thượng vẻ dò xét, chỉ sợ có gì không thỏa đáng là mình sẽ lập tức trở thành "người vô dụng" trong tấu chương.

Kim thượng cũng im lặng, chẳng hé răng câu nào an ủi họ.

Ánh mắt công chúa qua lại giữa phụ thân và tần ngự, có phần hiếu kỳ lại có phần ngây thơ, dáng vẻ gắng sức suy tư khiến nàng nom đáng yêu khôn tả.

Một chốc sau, một tiếng cười khẽ phá tan khoảng lặng này: "Quan gia trục xuất bớt vài tên quan lại ăn nói quàng xiên này đi chẳng phải là lỗ tai được thanh tịnh rồi sao?"

Lời này phát ra từ miệng Lý ty sức.

Dưới ánh mắt chăm chú đầy kinh ngạc của chúng nữ nhân, thị vẫn thoải mái vén tóc cho hoàng đế, thong thả nói: "Nhà giàu trong kinh bây giờ, trong tay có vài xâu tiền là nạp thêm mấy phòng vợ lẽ ngay, thiên tử có mấy tần ngự, bọn ngoại thần há có quyền xía vào?

Lưỡng phủ lưỡng chế (*), nhà nào mà chẳng có ca cơ vũ kỹ, quan chức chỉ hơi vừa ý một cái là đi đâu cũng vơ hết về.

Quan gia có mỗi một, hai người, chúng đã kêu âm thịnh phải giảm đi, ngược lại chỉ mình chúng là được chơi bời trăng hoa!"

(*) Chỉ hai cơ quan đầu não của triều đình nhà Tống là Trung thư và Xu mật viện, một bên chủ văn, một bên chủ võ.

Nghe thị nói vậy, chúng tần ngự cũng có người muốn hùa theo, nhưng đều biết quan gia xưa nay vẫn luôn đối xử tử tế với gián quan, giọng điệu Lý ty sức lại chỉ thẳng vào chư thần, nên không dám tùy tiện mở miệng, ai nấy cẩn thận quan sát sắc mặt kim thượng.

Lý ty sức không cảm nhận được khác thường, thêm khăn chít đầu cho quan gia, đứng sau lưng ngài, đôi mắt phượng lười biếng liếc nhìn khuôn mặt sáng sủa của kim thượng trong gương, lại hỏi: "Quan gia muốn làm theo lời họ thật ạ?"

Kim thượng cất tiếng: "Đài gián đã nói vậy, sao dám không làm."

Lý ty sức vừa cười vừa điềm nhiên thu dọn tráp đồ, nói: "Nếu quả thực phải cắt giảm cung nhân, xin hãy bắt đầu từ thần đây."

Đương nhiên không phải là thị muốn ra khỏi cung thật, nói vậy chỉ là tự phụ được quan gia sủng ái, tận lực miệt thị ý kiến của đài gián mà thôi.

Kim thượng nghe vậy bỗng đứng phắt dậy, lạnh mặt hạ lệnh: "Mời ty cung lệnh mang cung tịch tới Hậu uyển cho ta (*)."

(*) Ty cung lệnh là chức hoạn quan quản lý sự vụ hành chính trong cung; cung tịch là danh sách hộ tịch cung nữ trong cung.

Dứt lời phất tay áo vào trong thay y phục, để lại một đám tần ngự ngơ ngác nhìn nhau.

Đợi mọi người ra Hậu uyển rồi, hoàng hậu hạ lệnh mở tiệc, kim thượng lại ra hiệu tạm thời để sau, bảo ty cung lệnh đứng đầu Thượng thư nội tỉnh dâng danh sách cung tịch lên, đích thân ngự bút chọn lọc, gạch bỏ.

Hồi lâu sau, hạ chỉ: "Ba mươi người từ ty sức Lý thị trở xuống tất thảy thả ra khỏi cung."

Ý chỉ hạ rồi, hoàng hậu lại mời kim thượng nhập tọa, kim thượng không ưng thuận, chỉ hỏi: "Họ đã xuất cung chưa?"

Hoàng hậu thở dài, xoay sang lệnh cho Nhậm Thủ Trung lập tức phái ba mươi người xuất cung.

Mãi đến khi Nội đông môn ty trở về bẩm báo cung nhân bị chỉ danh đều đã rời cung, kim thượng mới chịu nhập tiệc dùng bữa.

Trải qua biến cố này, nói cười trên bàn hơi cứng lại, không ai dám hỏi han gì ngay khi ấy.

Đối mặt với tôn thất hoàng thân ngồi đầy bàn, kim thượng chỉ mỉm cười nhẹ nhàng, hỏi thăm từng vị trưởng bối trọng vọng, cũng thường xuyên tán gẫu với đám trẻ con, đồng thời có hoàng hậu ngồi bên dẫn dắt câu chuyện, bầu không khí mới sôi nổi lại được.

Trong lúc đó, hoàng hậu sai người mang một số lễ vật ngoài định mức lên, chia ra thưởng thêm cho người trong tiệc rượu, trong đó có vài hộc trân châu phiên thương do Quảng Châu dâng cống, trắng thuần óng ánh, hình dáng tròn trịa, châu ở các hộc kích cỡ khác nhau, trông theo trình tự, lần lượt tăng lớn, nhưng trong mỗi hộc thì đều như vắt tranh.

Mọi người tấm tắc khen, mấy vị tần ngự cầm lòng không đậu nâng trân châu lên ngắm nghía thưởng thức, quyến luyến không rời.

Tâm trạng Trương mỹ nhân rầu rĩ, uể oải nằm trong gác đã mười mấy ngày, tối nay tới cũng chỉ là là miễn cưỡng, sắc da trắng nhợt, dung nhan tiều tụy, đi đường cứ run run rẩy rẩy, rất có dáng vẻ Tây Thi bưng ngực.

Nhưng lúc này trông thấy trân châu, con ngươi vốn như vũng nước tù cũng gợn lên một tầng rung động, nhẹ nhàng đi tới, gót sen lưu luyến, nấn ná mãi bên hộc châu.

Thấy ánh châu ngọc rọi sáng gương mặt hốc hác của ả, kim thượng như có phần thương cảm, tức khắc tuyên bố: "Mấy hộc châu này thưởng hết cho Trương mỹ nhân."

Sau cùng tiệc tan, tôn thất hoàng thân đã rời đi cả, chỉ còn lại công chúa và vài tần ngự thân cận, bấy giờ hoàng hậu mới hỏi kim thượng: "Sơ đầu phu nhân là người quan gia yêu mến, cớ sao quan gia lại gạch tên cô ấy đầu tiên, lệnh cô ấy xuất cung?"

Kim thượng đáp: "Người này khuyên ta cự gián, há lại giữ bên mình."

Hoàng hậu cười hờ hững, hơi cúi người: "Bệ hạ thánh minh."

Chư tần ngự cũng hùa theo tán tụng, duy Miêu chiêu dung sau đó cười nói: "Nhưng bây giờ đuổi Sơ đầu phu nhân đi rồi, ty sức trống mất một chức chỉ là chuyện nhỏ, song lại phải làm phiền hoàng hậu hao tâm tổn trí nghĩ xem nên thay ai chải đầu cho quan gia rồi."

Du tiệp dư hỏi: "Không phải Thượng phục cục còn có Trần ty sức à?"

Miêu chiêu dung xòe tay: "Trần ty sức chế tạo trang sức thì đẹp đấy, đáng tiếc là không biết thuật đạo dẫn, chải tóc cũng không đẹp."

"Con bé chải đầu cho thiếp cũng được lắm," Trương mỹ nhân đó giờ vẫn im lặng chợt chen lời: "Biết thuật đạo dẫn, chải tóc đẹp, tay chân lanh lẹ, chải tóc xong cũng không bị gãy rụng nhiều."

Cố ý vô tình liếc về phía quan gia, Trương mỹ nhân bổ sung thêm: "Chính là con bé Hứa Tịnh Nô quan gia từng gặp đó ạ, năm nay mười sáu rồi."

"Thiếp cũng có một người muốn đề cử với quan gia," Du tiệp dư mỉm cười với kim thượng, lại xoay sang nói với hoàng hậu: "Nhưng vẫn cần hoàng hậu định đoạt.

Nội nhân ty sức Cố Thải Nhi, mười tám tuổi.

Gần đây con bé này hay chải đầu cho thiếp, tay nghề khỏi phải bàn, quan trọng nhất là nhân phẩm tốt, rất chững chạc, lời nói hành sự tuyệt không ngả ngớn như Sơ đầu phu nhân.

Người hầu hạ bên cạnh quan gia, ngoại hình hơn người tất nhiên là rất tốt, nhưng chỉ sợ có sắc mà không có đức."

"Ha."

Trương mỹ nhân cười nhạo, lạnh lùng lườm tiệp dư tỏ vẻ rất coi thường.

Miêu chiêu dung phe phẩy quạt tròn, lúc này mới điềm đạm lên tiếng: "Thiếp cũng nghĩ đến một người.

Tâm tư ý nhị, tài nghệ xuất sắc, làm người lại càng ổn thỏa, quan gia và hoàng hậu đều nhận biết."

Hoàng hậu nhanh chóng hiểu ý bà: "Thu Hòa?"

"Chính nó đấy ạ."

Miêu chiêu dung cầm quạt tròn khom người với hoàng hậu, nói: "Thu Hòa tuy còn nhỏ tuổi nhưng tinh thông thuật đạo dẫn, sáng sớm để nó chải đầu cho một lần là cả ngày tươi tỉnh sảng khoái, chải đầu cho thiếp lại thường xuyên nảy ý tưởng mới lạ, kiểu tóc búi vấn độc đáo khác biệt.

Còn con người nó thế nào thì quan gia và hoàng hậu đều đã chứng kiến, thiếp không nói nhiều nữa."

Hoàng hậu không tỏ vẻ gì, quay sang kim thượng, hỏi ngài: "Ý quan gia thế nào?"

Kim thượng trầm ngâm, cuối cùng quyết định: "Bảo ba người này chuẩn bị đi, hai tháng tới tiếp tục chải đầu cho các nương tử.

Đến hôm thất tịch, ta xem ai chải đầu cho nương tử đẹp nhất sẽ thăng người đó lên chức ty sức, chọn làm Sơ đầu phu nhân."

8.

Trộm cháu

Từ sau lần trước xem thiếp Đoan Ngọ của chư thần, ta vẫn thường suy nghĩ muốn đi đọc một lượt, chọn ra những câu thơ hay trong đó, sao lại học thuộc lòng, nhưng sự vụ sau lễ tết rất phức tạp, mãi đến cuối tháng Sáu mới dành được thời gian quay lại Thư nghệ cục tìm Trương Thừa Chiếu, nhờ hắn lấy cho thiếp Đoan Ngọ lưu trữ ở thư viện.

Hắn nhanh chóng tìm cho ta, còn cùng ta sao chép.

Lúc chép, ta thuận miệng hỏi hắn: "Dạo này Âu Dương học sĩ có tác phẩm nào mới không?"

"Âu Dương Tu?"

Trương Thừa Chiếu nói, "Bài văn mới nhất của y không phải là bản tấu chương lên tiếng cho Đỗ Diễn, Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm à?

Viết ra có khác nào chọc tổ ong vò vẽ không cơ chứ, rước lấy một đống phiền toái, chẳng những mũ ô sa khó bảo toàn mà có giữ được cái đầu trên cổ hay không cũng khó nói, phỏng chừng gần đây chẳng còn tâm tư gì mà ngâm thơ viết từ nữa rồi."

Ta giật mình: "Đoan Ngọ không phải hãy còn yên ổn à?

Sao lại nói như vậy?"

"Sao á?

Kể ra, chuyện này có đến mấy mối duyên cớ kia, để tôi nói từng cái cho cậu nghe."

Trương Thừa Chiếu bắt đầu thuật lại tường tận chuyện của Âu Dương Tu với ta.

Thì ra hồi tháng Năm, Âu Dương Tu từng dâng sớ luận về việc không nên bãi chức mấy người Đỗ Diễn, Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm, Phú Bật, tâu "Bốn vị này có thể nói là hiền tài chí công, thường ngày nhàn rỗi khen nhau không ngớt, nghị sự vì nước tranh luận không ngơi, mà chẳng vì vụ lợi.

Xét theo đó, thần thấy bốn vị Đỗ Diễn quả thật là 'trung thần có chỗ bất hòa' mà sử Hán nhắc đến, bọn tiểu nhân gièm pha đó là kết đảng, có thể nói rặt lời vu vạ...

Một khi bãi chức, là cho bầy tà bên trong được dịp ăn mừng, cho di rợ bên ngoài có cớ mở tiệc, bởi vậy thần lấy làm tiếc thay cho bệ hạ."

Công nhiên gọi phe phái đại thần phản đối Khánh Lịch tân chính là "tiểu nhân", "bầy tà", vừa hay hiện nay những người này lại là chính giả, bởi vậy đã gieo mầm tai họa đầu tiên cho những chuyện ngày sau.

Em rể Âu Dương Tu tên Trương Quy Chính mất sớm, không có con trai, chỉ có con gái do vợ trước sinh hạ.

Em gái Âu Dương Tu dắt cô gái này về nhà mẹ đẻ, nuôi nấng nhờ vào sự hỗ trợ của Âu Dương Tu.

Khi ấy, cô gái này lên bảy, đến tuổi cập kê, Âu Dương Tu gả cháu gái cho con trai một người anh trong họ, tên Âu Dương Thịnh.

Nhưng năm, sáu năm sau khi xuất giá, Trương thị lại tư thông với nô bộc Trần Gián trong nhà, không bao lâu sau khi chuyện xảy ra thì bị Tả Quân tuần viện (*) phủ Khai Phong thẩm vấn.

(*) Quân tuần viện là cơ quan phụ trách các sự tình liên quan đến bạo động, tranh đấu, cướp bóc và thẩm vấn án kiện hình sự, chia ra làm hai phân viện tả hữu.

Quyền tri phủ sự (*) Dương Nhật Nghiêm khi xưa coi giữ Ích Châu từng bị Âu Dương Tu dâng sớ tố tham ô phóng túng, Dương đã sẵn ghi hận trong lòng, chỉ chực tìm thời cơ trả thù, sai quan coi ngục mạnh tay khảo vấn Trương thị, dụ ả nhắc đến Âu Dương Tu.

Dương thị sợ tội, vì muốn bảo vệ mình mà khai ra rất nhiều chuyện với Âu Dương Tu lúc còn chưa lấy chồng, trong đó có không ít chi tiết không đứng đắn.

(*) Chức quan xử lý việc xử án, bắt trộm và quản lý thuế má lao dịch ở phủ Khai Phong.

Dương Nhật Nghiêm dựa theo đó báo cáo lên trên, gián quan Tiền Minh Dật ngay sau đấy đã dâng sớ vạch tội Âu Dương Tu, nói y tư thông với cháu gái ngoại, lại lừa gạt chiếm đoạt gia tài của cô gái mồ côi này.

Quân tuần phán quan Tô Quý phụng mệnh tái thẩm, cảm thấy lời Trương thị nói chưa chắc đã là thật, đại khái cũng bởi có lòng tôn kính Âu Dương Tu, bèn không tra lại chi tiết, chỉ truy xét vụ án Trương thị tư thông với Trần Gián.

Cách thức xử lý như vậy đã khiến đại thần tể chấp nổi giận, lệnh Thái thường bác sĩ (*) Tô An Thế phúc thẩm vụ án, muốn nhân đây diệt trừ Âu Dương Tu.

(*) Chức quan quản lý việc lễ nghi tông miếu.

"Âu Dương Tu có vụng trộm với cháu gái ngoại thật không?"

Ta hỏi Trương Thừa Chiếu, cảm thấy việc này quá mức khó tin, "Lời khai của Trương thị thật kỳ quặc.

Nói là vì muốn tự bảo vệ, nhưng tội thông dâm với cậu to hơn tư thông với nô bộc trong nhà nhiều, nói ra chẳng những không thể gỡ tội cho mình mà ngược lại tội còn nặng hơn.

Không phải là bị bức cung ép nhận đấy chứ?"

"Những người bảo vệ Âu Dương Tu cũng nói như vậy, nhưng mà..."

Trương Thừa Chiếu đứng vụt dậy, nói, "Cậu chờ chút, tôi lấy bài từ này cho cậu xem."

Hắn lục một chồng sách vở, cuối cùng rút ra một tờ giấy đầu đề ghi "Vọng Giang Nam", đưa tới trước mặt ta.

Ta giở ra xem, thấy từ viết: "Liễu Giang Nam, lá nhỏ bóng chưa râm, mảnh mai sợi tơ ai nỡ bẻ, oanh xót cành non tránh không ngâm, đợi đến ngày xuân thâm.

Tuổi mười bốn, nhàn ôm tỳ bà gảy, trên sảnh xóc tiền dưới sảnh trốn, ngày ấy gặp mặt đã để tâm, huống gì đến hôm nay. (*)"

(*) Bản dịch có tham khảo bản dịch thơ của Yến Lan trong sách "Từ Tống", NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm 1992, chỉnh sửa để khớp với tình tiết truyện.

Trương Thừa Chiếu giải thích cho ta: "Đây là sáng tác cũ của Âu Dương Tu.

Sau khi chuyện cháu gái ngoại truyền ra, lại bị Tiền Hiệp, người trong họ của Tiền Minh Dật, lật ra chỉ vào bài từ này, cười: 'Trương thị đến nhà họ Âu Dương năm bảy tuổi, chính là lúc con gái học chơi xóc tiền.'"

"Tiền Minh Dật, Tiền Hiệp..."

Ta lại thấy có điểm khác thường, "Hai người họ họ Tiền, có phải là hậu duệ của Ngô Việt Vương Tiền Thục không?"

Trương Thừa Chiếu gật đầu: "Phải.

Lúc Âu Dương Tu biên sửa "Sử Ngũ Đại", nghe nói đã phê rất nhiều lời chê bai Ngô Việt Vương, hậu duệ nhà họ Tiền sớm đã bất mãn vì chuyện này rồi."

Ta nghĩ ngợi, lại hỏi: "'Vọng Giang Nam' thực sự do y viết?

Y thừa nhận là sáng tác cũ của y?"

Trương Thừa Chiếu đáp: "Không thừa nhận, nhưng cũng không phủ nhận, nên tính là ngầm thừa nhận thôi."

Ta không tiếp lời, xem đi xem lại bài từ trong tay, ánh mắt quanh quẩn mãi trên mấy câu: Trên sảnh xóc tiền dưới sảnh trốn, ngày ấy gặp mặt đã để tâm, huống gì đến hôm nay...

Trong lòng ta rung lên, nhớ khi mới vào gác công chúa, nàng cũng đang xóc tiền.

Vốn tưởng rằng chỉ là một cái liếc thoáng lơ đãng, nhưng dung mạo cử chỉ hồn nhiên xinh xắn của nàng như đã tạc vào lòng ta, đến nỗi bây giờ cứ mỗi lần nhìn thấy hai chữ "xóc tiền", cái đầu tiên xuất hiện trong đầu chính là dáng vẻ nàng nói cười êm ả.

"Có lẽ giữa Âu Dương học sĩ và Trương thị chỉ là có tình mà không có gian mà thôi."

Ta thở dài.

"Có tình không có gian?"

Trương Thừa Chiếu cao giọng lặp lại, ngữ điệu mang một cảm giác hưng phấn khó có thể gọi tên, cười nhạo ta: "Nói cho cùng, chúng ta chỉ là loại tiểu hoàng môn không biết mùi nữ nhân, cậu biết được thế nào là tình, thế nào là gian cơ à?"

Ta nhất thời như bị vả cho hai cái thẳng mặt, nóng rát, cụp mắt xuống, không đáp trả câu nào.

Thấy thế, Trương Thừa Chiếu vỗ tay phá ra cười: "Cứ tưởng cậu vào Nội tỉnh trải đời rồi, được các nương tử dạy dỗ, đáng ra phải tiến bộ lên không ít mới phải, không ngờ da mặt bây giờ vẫn mỏng y như xưa."

Ta gượng cười, chỉ mong dẫn dắt chủ đề rời khỏi mình: "Vậy quan gia thì sao?

Ngài có cái nhìn thế nào về chuyện Âu Dương Tu?"

"Nghe các học sĩ nói, quan gia cũng rất tức giận.

Vốn ngài rất thưởng thức tài hoa của Âu Dương Tu, trọng dụng y làm gián quan đã đành, còn đặc biệt dặn bọn tôi Âu Dương học sĩ có tác phẩm nào mới, bất kể có thuộc nội chế hay không, đều phải tìm ra trình lên cho ngài.

Giờ xảy ra việc này, quan gia đương nhiên không tránh được phẫn nộ.

Nghe nói lúc trên triều vừa nghe tới, sắc mặt quan gia lập tức sầm xuống, hồi lâu không nói tiếng nào."

Nói đến đây, Trương Thừa Chiếu hỏi ngược lại ta: "Cậu có không ít cơ hội gặp quan gia mà lại không thấy ngài nhắc tới à?"

Ta xòe tay: "Tôi là người phục dịch công chúa, chuyện như thế sao quan gia đề cập với công chúa được."

"Vậy cũng không nói với các nương tử?"

Trương Thừa Chiếu lại chợt nổi hứng, "Cậu có nghe nói Trương nương tử có khả năng cũng bỏ đá xuống giếng vụ Âu Dương Tu này không?"

"Trương nương tử?"

Ta ngạc nhiên, "Chắc là không đâu.

Sau chuyện Sơ đầu phu nhân, hoàng hậu còn đặc biệt nhắc nhở chúng phu nhân chớ dính đến chính sự, vả lại Trương nương tử và Âu Dương Tư hình như cũng đâu có hiềm khích gì?"

Trương Thừa Chiếu cười khà khà, hỏi ta: "Cậu còn nhớ năm đó lúc Trương nương tử sinh bát công chúa, Âu Dương Tu từng dâng sớ, đề là 'Luận việc cần tiến hành cắt giảm ân sủng dành cho mỹ nhân Trương thị' không?"

Được hắn nhắc nhở, ta mới nhớ ra quả thật có chuyện này.

Năm đó bát công chúa Ấu Ngộ ra đời, quan gia lệnh Tả tàng khố lấy tám ngàn xếp lăng la.

Gặp trúng đợt giá rét, thợ nhuộm Nhiễm viện vì hoàn thành hoàng mệnh, không thể không đập băng lấy nước giữa cái lạnh buốt xương ngày tuyết lớn, nhuộm lụa cung ứng.

Âu Dương Tu biết rồi lập tức dâng sớ, chẳng những lên án việc này mà còn đề cập tới chuyện thân thích nhà Trương mỹ nhân được hưởng quá nhiều ơn trạch, cho rằng đây là "việc làm nhơ Thánh đức", "khó tránh bị trời phạt", hi vọng quan gia ngăn chặn sai lầm, sớm ngày cắt giảm.

Với bản tính của Trương mỹ nhân, canh cánh chuyện này cũng không phải không có khả năng.

Ta hỏi Trương Thừa Chiếu: "Tuy đúng là vậy, nhưng Trương nương tử thân tại hậu cung, muốn nhúng tay vào việc này tất sẽ làm quan gia nghi kị, ả còn cách nào can thiệp nữa chứ?"

"Cậu không biết à," Trương thừa chiếu ra hiệu về phía Trung thư môn hạ, "Giả tướng công nhận mẹ nuôi của Trương nương tử làm cô cô."

Mẹ nuôi của Trương mỹ nhân tên là Giả Thành, cũng ở trong cung, ỷ mỹ nhân đắc sủng lên ngôi cao mà cáo mượn oai hùm, ngôn hành vô cùng phách lối, người trong cung gọi là "Giả bà bà".

Tể tướng Giả Xương Triều cùng họ với mụ, bèn nhận mụ làm cô cô, thường xuyên qua lại.

Ta có biết việc này, chỉ là không liên hệ với chuyện của Âu Dương Tu.

"Trương nương tử muốn làm chút chuyện bé tí teo thế cần gì phải tự mình ra tay, báo với Giả tướng công một tiếng thông qua Giả bà bà là được."

Trương Thừa Chiếu nói, "Lần này Giả tướng công ra tay với Âu Dương Tu tàn nhẫn như vậy, chắc gì đã không có bàn tay Trương nương tử nhúng vào?

Nghe nói hiện giờ Giả tướng công đang thỉnh cầu quan gia phái Vương Chiêu Minh và Tô An Thế cùng thẩm tra vụ án của Âu Dương Tu, cái này chỉ sợ cũng là Trương nương tử nghĩ ra."

Vương Chiêu Minh?

Ta thầm lấy làm cảm thán, Âu Dương học sĩ đúng là họa vô đơn chí, trước kia làm người chính trực, đắc tội với không ít người, giờ đây rơi vào khốn cảnh, những kẻ tẩm ngẩm tầm ngầm bỏ đá xuống giếng lập tức từng người trồi lên mặt nước.

Trước đây, Âu Dương Tu nhậm chức Hà Bắc đô chuyển vận án sát sứ, kim thượng có ý định sai Vương Chiêu Minh đi cùng, đồng giám sát việc vận chuyển đường thủy ở Hà Bắc, Âu Dương Tu lại kiên quyết cự tuyệt, nói quan thần phục mệnh đi sứ xưa nay không có lệ nội thị đồng hành, "Thần cảm thấy vô cùng sỉ nhục".

Kim thượng chấp thuận lời thỉnh cầu của y, không để Vương Chiêu Minh đi cùng nữa.

Đối với Vương Chiêu Minh mà nói, đây hiển nhiên là chuyện rất lúng túng, hiện giờ Giả Xương Triều yêu cầu phái y đi thẩm án, rõ ràng là muốn cho y cơ hội lấy việc công trả thù việc tư, khiến Âu Dương Tu vạn kiếp bất phục.

Ta hỏi Trương Thừa Chiếu: "Liệu quan gia có để Vương tiên sinh đi không nhỉ?"

Trương Thừa Chiếu cười: "Cậu hỏi tôi?

Tôi còn đang muốn hỏi cậu đây này!

Nhìn xem, cậu làm nhập nội cao ban kiểu gì thế?

Chuyện Hậu tỉnh của mình cũng chẳng biết, còn chạy ra Tiền tỉnh hỏi tôi!"

Ta cười xấu hổ, phát hiện ra mình quả thật biết những chuyện này rất muộn màng.

Trong cung biến động bất ngờ, ta lại phản ứng chậm chạp, thế mà mơ mơ hồ hồ lại làm được đến nhập nội cao ban, cũng coi như số mệnh kỳ lạ.

Chép xong thiếp Đoan Ngọ, ta chào tạm biệt Trương Thừa Chiếu, chuẩn bị về Nghi Phượng Các, hắn khăng khăng đòi tiễn ta, đưa ta tới tận Nội đông môn.

Từ sau khi ta được điều sang Hậu tỉnh, mỗi lần tới gặp hắn đều cảm thấy thái độ hắn với mình còn thân thiết hơn cả trong quá khứ, mang một cảm giác ân cần tế nhị.

Ta không khỏi nghĩ, hắn đích thực là một người rất thích hợp sinh tồn trong cung.

Bọn ta vô tình gặp được Giả bà bà vừa mới nhắc tới ở gần Nội đông môn ty.

Khi đó, mụ vừa từ bên ngoài trở về, xuống kiệu trước Nội đông môn, tiểu hoàng môn theo đuôi mụ đi qua dìu đỡ, lúc vén rèm có hơi lỗ mãng, tay vô ý đụng tới cái miện nặng trịch trên đầu Giả bà bà, ngay lập tức bị mụ giáng cho một cái tát tai dữ dội: "Thằng vô lại chết giẫm này!

Té ra mẹ bay lúc sinh bay không gói kỹ tay nên mới đẻ ra cái móng lợn ti tiện động kinh này đây đúng không!"

Tiểu hoàng môn không dám cãi lại, lập tức quỳ xuống tạ tội.

Giả bà bà hãy còn chưa nguôi giận, vừa sa sả chửi mắng, vừa thò bàn tay nuôi móng dài hai tấc đi nhéo tai tiểu hoàng môn.

Tiểu hoàng môn đau đến duỗi cổ nhíu mày, nhe răng trợn mắt, nhưng vẫn gắng hết sức cười, nói: "Là tiểu nhân không đúng, bà bà cho phép tiểu nhân vả miệng thôi, chớ nên để làm gãy móng tay bà bà."

Hắn vừa ngẩng đầu lên, ta đã ngẩn người, nhận ra hắn chính là tên tiểu hoàng môn khi trước đã nhờ ta đưa giúp đèn lưu ly.

Rốt cuộc Giả bà bà cũng buông tay, tiểu hoàng môn tiếp tục quỳ tại chỗ, bắt đầu tát từng cái từng cái lên mặt mình.

Giả bà bà chẳng buồn đếm xỉa đến hắn, tự mình đi vào nội cung, giữa đường đi ngang qua ta, liếc ta một cái.

Ta hơi khom người với mụ, mụ điềm nhiên cười cười, cất tiếng chào: "Ô, Lương cao ban đó à...

Thay mặt lão thân thỉnh an Phúc Khang công chúa với nhé."

Mụ uốn éo thân mình cồng kềnh, nghênh ngang bước đi.

Đợi mụ đi xa rồi, ta tới cạnh tiểu hoàng môn vẫn đang quỳ dưới đất vả miệng, nói: "Bà ấy đi rồi, cậu trở về đi."

Hắn ngẩng đầu xem ta, tức thì kinh hãi thất sắc, đứng dậy chạy biến như một làn khói.

Trương Thừa Chiếu thấy thế bèn hỏi ta nguyên nhân, ta nói cho hắn biết người này chính là tên đưa đèn lưu ly cho ta, Trương Thừa Chiếu than: "May mà bây giờ cậu theo được chủ tử tốt.

Cậu có công chúa che chở, công chúa có quan gia che chở, chúng mới chịu bỏ qua cho cậu...

Nể tình huynh đệ hai ta, sau này trong gác công chúa mà có việc mọn gì, cậu tiến cử cho tôi vào với.

Ở Tiền tỉnh lâu quá thật sự là đến phát chán rồi."
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 3: Không dưng lỡ dở tại gió đông


1.

Miện hoa

Sự kiện được gọi là Âu Dương Tu "trộm cháu" bị coi thành một vụ diễm tình bê bối, dần dần truyền vào trong cung, trở thành đề tài trà dư tửu hậu giết thời gian của trăm ngàn cung quyến.

Có lần, Miêu chiêu dung nổi hứng nhắc đến với kim thượng, hỏi ngài có định cho Vương Chiêu Minh đi thẩm án không, chẳng ngờ sắc mặt kim thượng tức khắc đổi ngoặt, thu lại nụ cười, ngó lơ không đáp, sau đó Miêu chiêu dung không dám hỏi lại nữa.

Ta lưu ý theo dõi, song không nghe ngóng thêm được sự tình có tiến triển gì tiếp sau, nghĩ hẳn là kim thượng hãy còn đang do dự.

Thất tịch đã cận kề, chư nương tử đề cử ty sức với kim thượng càng thêm chú tâm vào tóc tai mũ miện.

Nữ tử quốc triều đều chuộng đội miện hoa, búi tóc ngày thường khá đơn giản nhưng mũ miện tô điểm thì nhất định phải thật lộng lẫy bắt mắt, nhất là vào các dịp lễ tết, hoa cài bao giờ cũng thêm thắt tơ vàng tuyết liễu, châu ngọc đầy đầu đọ sắc khoe hương.

Có một hôm, Du tiệp dư đến đúng lúc Thu Hòa vừa trang điểm xong cho Miêu chiêu dung.

Tiệp dư quan sát chiêu dung một lượt rồi cười nói: "Tỷ tỷ thứ cho em nói thẳng, Thu Hòa chải tóc thì đẹp thật đấy, nhưng mà mũ miện phối cùng đơn giản quá, trang điểm chẳng khiến người ta thấy lóa mắt gì cả."

Miêu chiêu dung cũng nhìn mũ miện trên đầu Du tiệp dư, than: "Ta đang phát rầu ra đây, chẳng biết nên lấy châu báu gì làm miện nữa.

Ta thấy châu trên miện hoa của em tuy không tệ, nhưng nếu ai kia bên Tường Loan Các mà dùng châu quan gia ban cho thì chỉ sợ bao nhiêu nổi trội cũng bị cô ả cướp sạch mất thôi."

Du tiệp dư nói: "Ôi đừng nói nữa.

Bữa trước sau khi quan gia ban châu cho ả, tần ngự trong cung đều nhờ người bên Nội ty (*) ra ngoài mua cả, hoàng thân hào phú trong kinh trông thấy cũng tranh nhau đi mua, kết quả chỉ trong một tháng giá châu ngọc đã tăng lên gấp mười.

Mấy viên vớ vẩn trên đầu em đây mua cũng mất đứt tám trăm xâu tiền rồi."

(*) Tên gọi chung của các cơ quan Đông môn ty, Hợp đồng bằng do ty, Quân đầu dẫn kiến ty thuộc Nội thị tỉnh thời Tống.

Miêu chiêu dung lấy quạt lụa che miệng, kinh ngạc: "Tám trăm xâu?

Điên hết rồi đấy à!"

"Giá cả bây giờ nó thế đấy."

Du tiệp dư bĩu môi, lại nói: "Nếu tám trăm xâu mà mua được hàng tốt thì cũng thôi, đáng tiếc là dẫu có trả giá cao, chất lượng hạt châu mua về thế nào cũng vẫn không bằng được ai kia, đến hôm thất tịch biết lấy gì mà so với ả?"

Miêu chiêu dung cúi đầu trầm ngâm, lát sau nói với tiệp dư: "So châu so ngọc chỉ sợ không ăn thua được với đằng ấy, chẳng bằng chúng ta tìm sang cái khác có khi lại hay hơn, phỉ thúy, đồi mồi, ngà voi gì đó, nhờ riêng bên Nội ty tìm loại thượng hạng mà mua, đến lúc đó làm thành miện đội ra ngoài, chưa chắc đã thua miện châu của ả."

Du tiệp dư gật đầu: "Tỷ tỷ nói có lý.

Lần này tốn thêm chút tiền cũng chẳng sao, đã mua thì phải lựa cái tốt nhất, nhất định không thể để thua ai kia được, bằng không chúng ta chỉ còn nước trơ mắt nhìn ả xếp một con hồ ly tinh vào bên quan gia thôi."

Miêu chiêu dung cũng cho là như thế, mỉm cười quay sang hỏi Thu Hòa: "Thu Hòa, theo ý ngươi, lấy châu báu gì làm miện thì tôn sắc được cho ta?

Phỉ thúy có ổn không?"

Thu Hòa không đáp, chau mày cúi đầu, quỳ sụp xuống trước mặt chiêu dung, nói: "Mong nương tử nghĩ lại, chớ tìm mua châu báu đắt đỏ làm đồ trang sức."

Miêu chiêu dung kinh ngạc: "Tại sao?

Ngươi đứng lên đi đã, từ từ nói."

Thu Hòa vẫn quỳ đó, thưa: "Người trong kinh từ nhà giàu phú hào đến bình dân trên phố ai ai cũng coi cái trong cung truy tầm là trào lưu nhất thời.

Hễ nghe cung quyến muốn tìm mua cái gì là tranh nhau hùa theo, làm vật giá tăng vọt.

Trương nương tử thích ăn quất Giang Tây, dân gian nghe thấy, quất tức thì tăng giá, nghe nói hiện giờ giá một cân món ấy đã bằng tiền mua tám cân thịt dê rồi (*).

Nếu Miêu nương tử lại ra giá cao tìm mua châu báu thì bất kể là phỉ thúy, đồi mồi hay ngà voi cũng sẽ đều giá cả tăng vọt, trên trái ý vua, dưới hại dân sinh, tuyệt đối không thể được, mong nương tử thu hồi mệnh lệnh đã ban."

(*) Một cân tàu bằng nửa cân ta.

Miêu chiêu dung ngẫm nghĩ đôi chốc rồi cười nói với Du tiệp dư: "Lời con bé này cũng có chỗ có lý.

Quan gia luôn muốn chúng ta tiết kiệm, nếu biết chúng ta vung tiền trả giá cao chỉ để mua trang sức chỉ e sẽ không vui."

Du tiệp dư không có dị nghị gì, song lại nhíu mày: "Nhưng hôm thất tịch, Trương nương tử ắt sẽ dùng trân châu phiên thương làm trang sức, chúng ta dẫu có tìm được món nào giá cả phải chăng nhất thì so với ả thế nào cũng khó tránh khỏi có chỗ thua kém."

Thu Hòa đáp: "Trận so tài hôm thất tịch là để chọn người khéo tài chải đầu, chư vị nương tử vị tất phải dùng trang sức đắt giá.

Kiểu tóc của quan gia khác với các nương tử, không cần cài hoa thêm miện.

Thu Hòa cho rằng đến khi đó chải đầu thật kỹ lưỡng cho nương tử là được, còn mũ miện xét đến cùng cũng chỉ là vật trang sức, chọn ít hoa lụa, thậm chí là hoa tươi đương thời là đã được rồi, quý báu lắm chi cho thành giọng khách át giọng chủ."

Hai vị nương tử nghe mà gật gù liên tục.

Du tiệp dư tự mình đưa tay đỡ Thu Hòa dậy, lại cười: "Cô bé ngoan, may mà có ngươi nhắc nhở.

Ngươi nói những lời này cũng chẳng đề phòng ta, có thể thấy trong lòng rất thẳng thắn vô tư."

Thu Hòa bái tạ rồi lại lúng túng không biết phải ứng đối ra sao.

Miêu chiêu dung bên cạnh thì cười nói: "Chúng ta đều là người một nhà, người ai tiến cử làm Sơ đầu phu nhân cũng đều như nhau cả, phòng em làm gì chứ?"

Ngày kế, Miêu chiêu dung bảo Thu Hòa vấn cho một kiểu tóc không thêm mũ miện không độn tóc giả, Thu Hòa cầm gương lăng hoa (*) đứng sau lưng bà để bà có thể nhìn được cả đằng trước đằng sau.

Chiêu dung vẫn chưa yên tâm, gọi ta lại, bảo: "Ngươi là bé trai, qua xem giúp ta xem kiểu tóc này có ổn không?"

(*) Loại gương đồng nhỏ cầm tay thời xưa, thường có hình lục giác, mặt sau khắc hình hoa củ ấu (lăng hoa).

Tiếng "bé trai" bà lơ đãng gọi khiến lòng ta như được sưởi ấm, mũi lại hơi cay cay.

Ta dụng tâm tỉ mỉ xem xét búi tóc của bà, cúi người nói: "Kiểu tóc này khá sáng tạo, chưa từng thấy trong cung có ai chải giống vậy, quan gia trông thấy ắt sẽ khen đẹp ạ."

Chiêu dung thoáng do dự, hỏi lại: "Không đội miện liệu quan gia có vừa mắt chăng?"

Ta đáp: "Thần cho rằng Đổng nội nhân nói có lý, quan gia muốn chọn người khéo tài chải đầu, không phải người khéo tài làm miện hoa, bởi vậy nên không cần phải tốn quá nhiều công sức vào mũ miện, để Đổng nội nhân chải một kiểu tóc thỏa đáng là được."

Miêu chiêu soi gương thêm lượt nữa, chợt cười: "Vậy được, ta nghe các ngươi lần này.

Cơ mà không thêm miện thì trang điểm mặt nhất định phải thật tinh xảo mới được."

Ta không đệm lời, chỉ nói: "Quan gia ưa chải đầu bằng thuật đạo dẫn là bởi thủ pháp này có thể xoa bóp da đầu, đả thông kinh lạc, cường thân kiện thể.

Trận so tài đêm thất tịch mà chỉ xem tóc miện ra sao thôi thì không thể nhìn ra thuật đạo dẫn của các nội nhân ai cao tay hơn ai, thế nên mấy ngày nay phiền nương tử khi chải đầu đừng ngại đả thông kinh lạc thường xuyên hơn, nghỉ ngơi điều dưỡng cẩn thận hơn, hôm thất tịch chỉ trang điểm nhã nhặn thôi, quan gia thấy nương tử khí sắc tốt tự nhiên sẽ biết là nhờ công hiệu thuật đạo dẫn của Đổng nội nhân."

Đến ngày thất tịch, kim thượng dẫn cung quyến ngự giá Quỳnh Lâm Uyển bên Kim Minh Trì.

Quỳnh Lâm Uyển nằm trên con đường cái thông tới Thuận Thiên Môn, mặt bắc đối diện với Kim Minh Trì.

Hai bên con đường dẫn từ cổng lớn vào trồng toàn những loài tùng bách hiếm lạ, bên trong ẩn chứa vườn cây đủ loại như vườn lựu, vườn anh đào, mỗi vườn một tòa đình tạ.

Thái Bình Hưng Quốc năm thứ nhất, hoàng đế sai ba vạn năm ngàn binh sĩ đào Kim Minh Trì, dẫn nước từ sông Kim Thủy đổ vào.

Trong hồ có ba cây cầu, lan can sơn đỏ, trụ cầu khắc hình nhạn xếp hàng đỡ bên dưới, ở giữa gồ lên, dáng tựa cầu vồng, một đầu cầu nối với khối kiến trúc năm tòa điện tương liên nằm giữa hồ.

Vào mùa hoa hằng năm, nơi đây liễu rủ cầu hồng, hoa vây thuyền phượng, ngát hương êm dịu, hoa thơm phương nam đất Mân, Quảng và Lưỡng Chiết như tố hinh, nhài, loa kèn, thụy hương, hàm tiếu, xạ hương đua nở, lại thêm cả mẫu đơn Mai Đình, cảnh đẹp thật khó lòng đếm xuể.

Tiết hoa triêu (*) năm nay, quan gia sầu lo chuyện triều chính, bát công chúa lại đổ bệnh đau ốm, nên chẳng có tâm tư đâu mà ngự giá vườn hồ.

Mãi đến thất tịch, nghe nói mẫu đơn thu tiết mang từ chùa Thái Bình Hưng Quốc về Quỳnh Lâm Uyển trồng đã nở hoa, mới lâm thời quyết định di giá tới dạo chơi thưởng ngắm, đồng thời lựa chọn ty sức mới tại đây.

(*) Tiết hoa triêu trong âm lịch là ngày trăm hoa đua nở, vào khoảng 12-15 tháng 2 âm lịch.

Kim thượng dắt hoàng hậu và công chúa vào chính điện giữa Kim Minh Trì trước.

Trong điện đặt long sàng sơn son thếp vàng, bình phong rồng vờn mây nước giữa sông xanh, hai mé mỗi bên bày hơn mười chậu mẫu đơn các loại dời từ Quỳnh Lâm Uyển vào, muôn hồng nghìn tía, phồn hoa tựa gấm, đua nhau khoe sắc.

Lát sau, xe liễn của chư tần ngự đến nơi, chúng nương tử ai nấy trang phục lộng lẫy, lần lượt vào trong.

Trong số những nương tử tham gia so kiểu tóc, Du tiệp dư là người tiến vào đầu tiên, chỉ thấy bà vấn tóc kiểu triều thiên (*), hai búi tóc song song với trán, hơi ngả ra sau, bên trên điểm thêm chiếc miện tròn bằng la lụa, la lụa quấn lấy nhau hợp thành hình cánh hoa, chia làm bốn, năm đóa, viền cánh hoa đỏ thẫm, màu sắc nhạt dần vào tâm, ở giữa gần như là trắng nhạt.

Miện rộng chừng nửa thước, cao tầm năm, sáu tấc, không dùng đến bất kỳ món châu ngọc nào song vẫn mang cảm giác diễm lệ long trọng.

Kim thượng trông thấy gật đầu, mỉm cười: "Cái miện này của nương tử được đấy."

Du tiệp dư ngoảnh lại nhìn nội nhân phía sau, vui vẻ nói: "Đây là do Thải Nhi làm cho thần thiếp đấy ạ."

Nội nhân Cố Thải Nhi bước lên bái kiến quan gia.

Nhan sắc thị tầm tầm, không có điểm nào đặc biệt tươi đẹp, nhưng đối đáp trầm tĩnh, ngôn hành tương đối quy củ.

Kim thượng khen thị thêm hai câu rồi ban tọa cho Du tiệp dư, lặng lẽ đợi hai vị nương tử còn lại tới.

Ngay sau đó là Miêu chiêu dung vào điện.

Bà tiếp thu kiến nghị của Thu Hòa và ta, chải một búi tóc nom như nụ hoa ngọc lan, tóc xanh xoay tròn, sáng sủa bóng loáng, không đội miện, gần như chỉ điểm tô bằng một quả cầu hoa nho nhỏ làm từ hoa lá cây hòe bên sườn mái đầu, trang điểm mặt cũng mộc mạc, gương mặt trắng trẻo láng mịn, không thêm hoa điền (*), đôi gò má chỉ thoa chút phấn hồng, phơn phớt ửng đỏ như có như không, nhìn rất tao nhã thanh thoát.

(*) Hình vẽ hoa trang điểm trên trán hay ấn đường của phụ nữ thời xưa gọi là hoa điền, khác với hoa bột (xuất hiện ở chương trước) là làm bằng bột (như tò he) hoặc cao dẻo dán nổi lên.

Chúng tần ngự thấy bà không đội miện đều rất đỗi kinh ngạc, cùng quay sang nhìn quan gia, chờ ngài bày tỏ thái độ.

Kim thượng ngắm nghía hồi lâu, cuối cùng cười mỉm khen: "Kiểu tóc này chải đẹp lắm, khí sắc chiêu dung hôm nay cũng tươi tắn, nhìn như quay về thời con gái mười lăm, mười sáu vậy."

Miêu chiêu dung mừng rỡ bội phần, vội gọi Thu Hòa qua, song song bái tạ.

Bởi thế mà mọi người càng thêm hiếu kỳ về lối trang điểm của Trương mỹ nhân, đều cùng nghển cổ phóng mắt ra ngoài điện, đợi ả tiến đến.

Trương mỹ nhân rề rà hồi lâu mới chịu đi vào.

Đợi đến khi bóng dáng xuất hiện trong điện rồi, tất cả mọi người đều lấy làm kinh hãi.

Miện châu ả đội trên đầu rộng tới năm tấc, cao hơn một thước, lấy sa màu làm đế, la dệt từ tơ sống làm lá, trong phiến lá lớn gấp hai, ba mươi lớp lá nhỏ, bên trên lại dựng thêm phiến nữa như lầu gác, mỗi phiến lá đều dùng chỉ vàng đính trân châu phiên thương trắng như tuyết lên, số lượng tăng dần theo độ lớn của phiến lá, trên đỉnh miện là một viên to như mắt rồng.

Nhưng điều làm mọi người kinh ngạc nhất lại không phải là chiếc miện xa xỉ này mà là tấm áo gấm khoác ngoài màu son thêu hoa thêu phượng.

Trong khi trung cung hôm nay thì đội miện trăng mây sợi vàng, trước sau thêm trâm rồng bạch ngọc cùng áo ngoài sắc đào.

Cứ mỗi dịp lễ lạt cỗ tiệc, trước khi ra cửa, tần ngự đều sẽ cử người đi trước hỏi thăm xem hôm đó hoàng hậu dùng phục sức màu gì để tránh cùng màu.

Mà nay Trương mỹ nhân lại công nhiên chọn mặc áo ngoài son thắm, thật là hành vi vô lễ vượt quyền.

Dưới cái nhìn chăm chú của mọi người, Trương mỹ nhân ung dung thản nhiên đi vào điện, lạnh nhạt liếc hoàng hậu rồi uyển chuyển hạ bái, không chút nào cảm thấy hổ thẹn.

Hoàng hậu cũng chẳng tức giận, ngồi ngay ngắn nhận một xá của ả rồi khẽ cười: "Cái miện của Trương nương tử tinh xảo thật đấy, tên là gì vậy?"

Trương mỹ nhân kiêu ngạo đáp: "Tên là miện Quần Phương."

Dứt lời, làn thu thủy lúng liếng đánh sóng sang kim thượng như lẳng lặng đợi ngài khen.

Kim thượng chăm chú nhìn ả, thần sắc tỉnh bơ.

Lát sau từ từ giơ tay lên, lấy tay áo che mặt, nói: "Khắp đầu lia chia những trắng là trắng, chẳng biết kiêng kị gì cả."

Hiển nhiên tất cả mọi người đều không ngờ đến kết quả này, Trương mỹ nhân nhất thời ngây phỗng.

Muôn vàn cặp mắt trừng trừng đổ về phía ả mà kim thượng thì lại chẳng liếc lấy một cái, ả không khỏi cúi đầu, hai má đỏ phừng như thể màu áo trên thân nhuốm lên tận mặt.

"Quan gia thứ tội..."

Ả khẽ giọng, "Cho phép thần thiếp cáo lui sang thiên điện đổi miện."

"Đi đi."

Kim thượng gật đầu, bổ sung một câu, "Nhân tiên thay cả xiêm y đi...

Màu này hôm nay không hợp với nàng."

Trương mỹ nhân ưng thuận, lùi ra sau mấy bước rồi xoay người rảo chân rời khỏi đại điện.

Nội nhân Hứa Tĩnh Nô chải đầu cho ả đứng sau lưng theo ả hạ bái, vẻ mặt vốn rất tự tin, hẳn định đợi mỹ nhân giới thiệu là đi ra tạ thiên ân, vậy mà lại xảy ra biến cố thế này.

Dung nhan Tĩnh Nô đẹp đẽ, kim thượng lại chỉ liếc ả một cái, không hề có ý đối thoại với ả, làm ả luống cuống khôn kể, không biết nên lui đi hay ở lại.

Lúng túng quỳ đó một lúc, cuối cùng không nhịn được đứng lên, ngay ngáy chạy ra ngoài đuổi theo Trương mỹ nhân.

Miêu chiêu dung và Du tiệp dư đưa mắt nhìn nhau từ xa, khóe mắt đuôi mày đều hớn hở vui mừng.

Trong tần ngự có người lấy quạt che mặt, có người khẽ nghiêng mặt hướng ra ngoài điện, có người hạ giọng ho khan, những động tác mờ ám này đều là để che giấu ý cười đè nén không đặng.

Sau đó, kim thượng tán gẫu cùng hoàng hậu và chúng phu nhân, trò chuyện đôi câu tản mạn về mẫu đơn.

Đợi trong chốc lát, rốt cuộc cũng thấy Trương mỹ nhân một lần nữa trở vào, lần này đã đổi áo ngoài, miện châu cũng gỡ bỏ, chỉ vấn một búi tóc bàn phúc (*) đơn giản.

Có lẽ là hàm đôi phần giận dỗi nên trên tóc không thêm bất kỳ phụ kiện gì, mặt mày bí xị, hạ bái xong không nói một câu nào.

(*) Không tìm được tư liệu ảnh nào minh họa cho kiểu búi tóc này, hiểu nôm na là búi tóc tròn.

Kim thượng cười: "Trương nương tử vấn tóc thế này đẹp đấy, cài thêm đóa hoa lại càng hay."

Nói đoạn đi tới một cây mẫu đơn tím ngàn cánh "diệp đế tử", tự tay hái một đóa xuống, cài lên tóc Trương nương tử.

Chư nương tử cùng khen đẹp, bấy giờ sắc mặt Trương nương tử mới nguôi ngoai phần nào.

Du tiệp dư thấy bầu không khí chuyển biến tốt đẹp, cũng có can đảm mở miệng bông đùa: "Ai cũng bảo quan gia bất công, quả nhiên, có đóa hoa đẹp là cho Trương nương tử hết cả!"

Kim thượng cười nói: "Nàng đội miện hoa to như vậy rồi, cho nàng hoa biết cài đi đâu?"

Du tiệp dư nghe thế, ngay trước mặt mọi người gỡ miện khỏi tóc ném cho Cố Thải Nhi rồi xòe tay: "Thiếp cũng không có miện rồi này."

Kim thượng lắc đầu cười, đi hái một đóa "đảo vựng đàn tâm" cài lên đầu cho bà: "Hoa này viền rìa đậm màu, vào gần đài hoa lại nhạt trắng, đàn hương thấm tận tâm, có phải rất giống miện của nàng không?"

Tiếp đó lại chọn một đóa "tiềm khê phi" thay cho quả cầu hoa hòe trên đầu Miêu chiêu dung, nói: "Hoa này ánh lên mặt tôn sắc hơn."

Chúng tần ngự còn lại thấy thế đều tụ qua xin quan gia thưởng hoa, quan gia nhận lời từng người, cài cho mỗi người một đóa hoa.

Cuối cùng, đi tới bên cây mẫu đơn ngụy tử ngàn cánh nở rộ nhất, tỉ mỉ chọn một đóa thật đẹp rồi quay trở lại ngự tọa, cài lên miện hoàng hậu đó giờ vẫn mỉm cười ngồi tại chỗ.

Công chúa thấy thích, cũng kéo tay áo phụ thân đòi cài hoa, kim thượng bèn nắm tay nàng dắt xuống, hái một đóa "diêu hoàng".

Công chúa hãy còn là bé gái búi tóc quả đào, mái đầu không cài được đóa hoa to như thế, bèn cầm trong tay thưởng thức.

Cảnh tượng trong điện vui vẻ hòa thuận, hoàng hậu lựa đúng thời khắc này hỏi quan gia chuyện ty sức: "Quan gia đã chọn được ty sức mới chưa ạ?"

Lời vừa ra khỏi miệng, tiếng cười nói mới rồi tức khắc tiêu tan, mọi người đều nín thở lẳng lặng đợi đáp án của kim thượng.

"Chọn được rồi."

Kim thượng nói, tầm nhìn đảo quanh ba khuôn mặt của Đổng Thu Hòa, Cố Thải Nhi và Hứa Tĩnh Nô khiếp nhược trốn sau lưng Trương mỹ nhân.

"Kể từ ngày hôm nay, phong nội nhân..."

Ánh mắt kim thượng thoáng dừng lại trên mặt Thu Hòa song cuối cùng vẫn lướt qua, chuyển sang một người khác, "Cố thị của Thượng phục cục làm ty sức, quản lý việc khăn lược cho trẫm."

Đáp án được công bố không chỉ khiến quá nửa số người trong điện kinh ngạc mà đến Cố Thải Nhi cũng ngây người không phản ứng lại được.

Nghe lời kim thượng bình về tóc miện của các vị nương tử, hẳn nên là Thu Hòa trúng tuyển mới phải, huống hồ dung mạo Thu Hòa còn vượt xa Thải Nhi.

Tuy nhiên, vẻ mặt Thu Hòa nãy giờ vẫn luôn có vẻ căng thẳng lúc này lại từ từ dịu xuống, thở phào một hơi như trút được gánh nặng.

Lác đác dần dần có người khen hay khen phải, chúc mừng Cố Thải Nhi, bấy giờ Thải Nhi mới tạ ơn đáp lễ.

Hoàng hậu hỏi vì sao kim thượng quyết định Cố thị là người chiến thắng, ngài chỉ đáp đơn giản rằng: "Thải Nhi làm miện dùng nguyên liệu giản dị song không mất quý khí thiên gia, kiểu tóc cũng chải rất tốt."

2.

Thất tịch

Sau đó, đế hậu cùng chúng cung quyến dời bước sang Quỳnh Lâm Uyển ngắm hoa thu đương mùa, hoàng hôn buông xuống thì lên Bảo Tân Lâu trong Kim Minh Trì mở tiệc.

Những bữa tiệc tư trong cung thế này, theo lệ thường tần ngự sẽ tự bỏ tiền ra chuẩn bị vài món ăn dâng quan gia thưởng thức.

Món chính được dâng lên hôm nay là hai mươi tám con cua mới vận chuyển từ Giang Nam tới kinh thành, gạch đầy béo ngậy, hấp lên óng ánh màu son vàng, đặt trong đĩa sứ trắng nom vô cùng bắt mắt.

Nào ngờ kim thượng trông thấy lại nhíu mày, gọi Nhậm Thủ Trung lại, hỏi: "Trong kinh mùa này mà có món ấy à?

Giá cả bên ngoài bao nhiêu?"

Nhậm Thủ Trung khom người bẩm: "Một ngàn đồng một con ạ...

Đây là chút tâm ý của các nương tử, trước lễ đã đặc biệt dặn Ngự thiện cục tìm đến dâng cho quan gia."

Kim thượng sầm mặt không vui, nhìn quanh chúng tần ngự, hỏi: "Chỉ một đũa này thôi mà tiêu phí mất hai mươi tám ngàn?"

Chúng tần ngự im phăng phắc không dám ứng đối.

Kim thượng gác đũa, không ăn.

Hoàng hậu thấy thế bèn lệnh nội thị dọn xuống, bấy giờ quan gia mới bằng lòng dùng bữa.

Đế hậu ngồi trên ngự tọa chính giữa điện, tần ngự phân chia lần lượt ngồi hai bên, ghế của công chúa đặt bên cạnh kim thượng, tuy cách ngài gần nhất song cũng không liền kề, ở giữa cách một khoảng chừng năm, sáu thước.

Nhân lúc các nương tử đang chăm chú xem múa hát hầu tiệc, công chúa khom lưng cúi đầu, thò người về phía phụ thân, nho nhỏ gọi khẽ: "Cha..."

Kim thượng thấy cái vẻ thần bí này của nàng, không khỏi rộ cười, cũng nghiêng về nàng, thấp giọng: "Sao thế?"

Công chúa nói tiếp bằng tiếng thì thầm của mình: "Con biết vì sao cha không ăn cua."

"Ồ?"

Kim thượng cố ý nhướng mày, hỏi: "Vì sao nào?"

"Chốc nữa con sẽ nói cho cha biết."

Công chúa nhoẻn cười, nhanh chóng ngồi thẳng lại rồi quay đầu bảo ta đang đứng hầu hạ đằng sau: "Hoài Cát, bóc cho ta củ ấu."

Sau bữa tiệc, có nội thị vào bẩm báo đã dựng xong lầu gấm khất xảo (*) trước thủy điện (**), kim thượng bèn dắt công chúa, cũng dẫn theo cả con gái nuôi của hoàng hậu và Trương nương tử đi trước.

(*) Khất xảo là tục làm lễ cúng cầu khấn Chức Nữ giúp cho khéo tay canh gửi, thêu thùa vào buổi tối ngày thất tịch.

(**) Trong kiến trúc Trung Hoa cổ, cung điện xây kề sát mép nước được gọi là thủy điện.

Lúc xuống lầu, kim thượng nhắc lại tới lời công chúa nói trên tiệc, công chúa trả lời: "Cha không ăn cua không phải là vì cua không ngon mà là vì cảm thấy quá đắt.

Nếu ăn, truyền ra ngoài cung, cua năm nay có thể còn đắt hơn.

Giống như khi cha chê miện của Trương nương tử vậy, thực ra không phải là miện không đẹp mà là hạt châu trên đó quá đắt..."

"Được rồi được rồi..."

Kim thượng mỉm cười ngắt lời nàng, "Tự hiểu trong lòng là được, không cần phải nói ra."

Công chúa cười gật đầu, lại nói: "Con gái có chuyện này muốn hỏi cha, mong cha trả lời thật lòng."

Kim thượng cho phép nàng nói, công chúa bèn hỏi: "Thải Nhi, Tĩnh Nô và Thu Hòa hôm nay, ai là người chải tóc cho nương tử đẹp nhất ạ?"

Kim thượng đang định mở miệng thì công chúa lại cản ngài, nghiêm túc nhấn mạnh: "Cha nhất định phải nói thật đấy."

Kim thượng cười nụ, quay đầu nhìn ra sau, thấy chỉ có Vương Chiêu Minh và ta theo gót, những người còn lại hãy còn cách một khoảng xa, bèn cúi người thì thầm lời thật với công chúa: "Thu Hòa."

Công chúa dẩu miệng, ra chiều bất mãn: "Vậy tại sao cha không cho Thu Hòa làm ty sức?

Nương nương, tỷ tỷ và con đều thích Thu Hòa cả, lẽ nào cha không thích chị ấy?"

"Ừm...

Thích."

Kim thượng cười cười, vẫn nắm tay công chúa chậm rãi bước đi, ngữ điệu điềm đạm thong dong, "Nhưng, Huy Nhu, chúng ta càng thích ai thì lại càng không thể để người khác nhìn ra mình thích người đó.

Thể hiện lòng yêu thích với nó chẳng khác nào đẩy nó lên đầu sóng ngọn gió, khiến nó trở thành mục tiêu công kích, minh thương ám tiễn sẽ nối đuôi nhau đâm tới, cuối cùng thành ra làm hại nó."

Công chúa cau mày suy tư, lại hỏi: "Cha e nội nhân bên Thượng phục cục sẽ ghen ghét Thu Hòa?"

"Ha ha," Kim thượng khẽ xoa đầu nàng, "Có lẽ." thoáng dừng lại rồi nói tiếp: "Con phải nhớ lấy câu này đấy.

Thực sự thích ai thì đừng đối xử với người đó quá tốt, đừng khiến người khác phát hiện ra, thậm chí, cũng đừng để bản thân người ấy cảm nhận được mình thích họ nhường nào..."

"Ồ..."

Công chúa cái hiểu cái không, ngẫm nghĩ một hồi, cuối cùng vẫn hỏi ra: "Vì sao lại không được cho người ấy biết ạ?"

Kim thượng cười khẽ lắc đầu, giữ kín như bưng: "Chốc nữa cha sẽ nói cho con biết."

Đêm thất tịch, đa số quý tộc trong kinh thường sẽ dùng gỗ chạm khắc và gấm màu kết thành một tòa lầu màu sắc dựng trong sân, gọi là "lầu gấm khất xảo".

Bên trên bày hoa quả, rượu thịt, bút nghiên, kim chỉ và tượng đất "Ma Hát Lạc" trong hình hài trẻ con mặc quần áo sặc sỡ (*), bé trai làm thơ ngâm vịnh, bé gái luồn kim se chỉ, dâng hương bái lạy, gọi là "khất xảo".

(*) "Ma Hát Lạc" là phiên âm tiếng Hán tên con trai của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni, hình tượng vốn là mình người đầu rắn, sau khi truyền vào Trung Hoa thì thành đứa trẻ khả ái, trở thành loại tượng đất cúng Ngưu Lang Chức Nữ vào ngày thất tịch.

Kim thượng sai kết lầu hoa trước thủy điện.

Dưới mái hiên treo cao đèn lồng, trên bầu trời ngân hà rực sáng, thu thủy trong hồ gợn sóng lăn tăn, lại có vịt nhạn, uyên ương, rùa cá, hoa sen đúc bằng sáp ong do cung nhân chế tạo, đều được tô màu viền vàng, sau khi châm lửa bấc đèn trên đỉnh thì thả xuống hồ nước cho trôi nổi, gọi là "thủy thượng phiêu", tương đối với trăng sao khắp trời mà tôn sắc lẫn nhau.

Công chúa chọn lấy vài con thủy thượng phiêu, lại nhặt Ma Hát Lạc lên nghịch, chê xiêm y con gái trong đó không đẹp, liền quay sang nói với chúng bạn nữ: "Chúng ta đổi quần áo khác cho Ma Hát Lạc đi, xem xem ai làm đẹp nhất."

Đám bạn nữ bằng lòng, mỗi người lấy một Ma Hát Lạc rồi nhao nhao lấy khăn tay, hoa lụa và mọi miếng vải có thể dùng ra làm phục sức cho tượng đất.

Công chúa thì sai người hái một đóa sen trong hồ, tự mình ngắt mấy cánh hoa xuống, đùm thành một vòng quanh eo bức tượng bé gái, dùng tơ buộc lại, giơ lên cho mọi người xem.

Hoàng hậu và mấy vị tần ngự bên cạnh đều khen nàng sáng tạo.

Đợi đến lúc khất xảo, công chúa cầm cây kim bảy lỗ, chẳng mất bao lâu đã luồn chỉ xong xuôi.

Chúng phu nhân lại khen nàng, song nàng khoát tay ngăn lại, nói thẳng: "Lỗ to như mắt đồng tiền vậy á, có muốn không luồn được cũng khó."

Người nghe đều phì cười.

Kim dùng để khất xảo đều là hàng đặc chế, không phải kim may khâu bình thường.

Thân kim dẹt, có bảy cái lỗ, nhưng lỗ kim rất to, lúc khất xảo cần phải luồn chỉ theo thứ tự xuyên qua bảy cái lỗ, tuy nhiên việc này đối với một bé gái tám, chín tuổi chẳng có gì là khó cả.

Đợi các cô bé xuyên kim xong, công chúa dẫn người dâng hương bái lạy trước lầu gấm.

Nghi thức kết thúc, nàng vẫn còn chưa thỏa mãn, hỏi hoàng hậu: "Nương nương, thế này là hết việc để làm rồi ạ?"

Hoàng hậu cười: "Hồi xưa khi ta ở nhà mẹ đẻ thì còn chơi một trò chơi.

Cầu nguyện trước rồi dựng thẳng một đồng tiền lên, dùng ngón tay búng, làm nó xoay vòng.

Đợi đến lúc đổ xuống, nếu mặt ngửa hướng lên trời thì tâm nguyện này sẽ được đạt thành."

Công chúa nghe xong lập tức đòi thử, hoàng hậu bèn sai người chia cho công chúa và các cô bé vài đồng tiền.

Chẳng ngờ công chúa vừa thử lần đầu đã trúng ngay mặt sấp.

Nàng luôn miệng: "Lần này không tính!" rồi thử lại, nhưng liên tiếp ba lần vẫn không có lấy một lần mặt ngửa.

Người đứng xem đều cảm thấy không lành, tuy trên mặt vẫn treo nét cười song đều có vài phần gượng gạo.

Công chúa lại không có vẻ gì là không vui, chợt đứng bật dậy, chạy tới trước một chiếc đèn ngàn nhánh, lấy một cây nến xuống, nhỏ vài giọt sáp nến lên mặt sấp của một đồng xu, sau đó áp vào với mặt sấp của một xu khác, dán hai xu lại như vậy, trái phải đều là mặt ngửa rồi.

Nàng đắc ý thử lại bằng đồng tiền này.

Đầu ngón tay búng một cái, đồng tiền dày cộp vụng về xoay tròn, sau cùng đứng im rồi vẫn duy trì trạng thái dựng thẳng, không đổ xuống.

Miêu chiêu dung thấy vậy cười: "Thế này thì phải tính là gì?"

Hoàng hậu trông đến cũng cười: "Trùng hợp ghê, năm ta mười tám cũng từng ra kết quả như vậy...

Cơ mà đồng tiền đó chỉ có một xu thôi."

Mọi người hiếu kỳ hỏi: "Thế tâm nguyện của hoàng hậu khi đó là gì vậy?

Có đạt thành không?"

Hoàng hậu lại không nói thêm gì nữa, im lặng cúi đầu, nhưng khóe miệng thì hơi nhếch lên.

Miêu chiêu dung tỉnh ngộ: "Cô nương mười tám thì có thể có tâm nguyện gì khác chứ?

Đương nhiên là mong ước được gả cho lang quân như ý rồi."

Chúng nương tử bấy giờ mới hiểu ra, đều tủm tỉm cười nhìn hoàng hậu, chỉ duy công chúa là vẫn ngây ngô hỏi: "Sau đó thì sao ạ?"

"Sau đó..."

Kim thượng bỗng cất lời, ánh mắt dịu dàng đậu lên hoàng hậu, he hé rộ cười, "Không bao lâu sau thì ta hạ chỉ, triệu nương nương con vào cung."

"Thì ra là thế."

Công chúa vỗ tay hớn hở: "Vậy đây là dấu hiệu tốt rồi."

Các nương tử cũng hoan hỉ khen phải.

Hoàng hậu cười e ấp, đầu càng cúi xuống thấp hơn, không dám nhìn sang quan gia nữa.

Năm nay bà hăm chín, song dáng vẻ ráng hồng nhuộm má này lại y như thiếu nữ khuê phòng, thùy mị nhu mì khác hẳn hình tượng trung cung bình tĩnh hờ hững, nghiêm cẩn hàm uy ta chứng kiến năm xưa.

"Huy Nhu," Đúng lúc này, kim thượng gọi công chúa, dẫn sự chú ý của đám đông quay trở lại nàng, "Đã là dấu hiệu tốt thì con nói nghe xem con cầu nguyện gì đi."

"Á!"

Công chúa trợn tròn mắt kêu lên, tiếp đó trề môi, rất chi là ảo não: "Ban nãy con quên khuấy mất chuyện cầu nguyện rồi."

Kim thượng bảo công chúa cầu nguyện thử thêm lần nữa, Miêu chiêu dung lại nói: "Nó hồ đồ lỗ mãng như thế, thử tiếp chẳng biết sẽ lại đẻ ra chiêu trò gian trá gì, không bằng đổi sang chơi trò khác đi thôi."

Chiêu dung đại khái là lo công chúa lại thử ra điềm không lành.

Kim thượng nghe vậy gật đầu đồng ý, công chúa thì rầu rĩ không thôi: "Nhưng trò nào chơi được cũng đều chơi cả rồi, còn làm cái gì khác được đâu?"

Ta nhìn cặp đồng xu nàng vẫn đang cầm trong tay, chợt nhớ tới câu "Trên sảnh nghịch tiền dưới sảnh trốn" của Âu Dương Tu, trong lòng phút chốc hiện lên một ý niệm mơ hồ.

"Công chúa," Ta cúi người kiến nghị với nàng, "Hay là cho vời Đổng nội nhân lại đây cùng chơi xóc tiền vậy?"

Hai mắt công chúa sáng ngời, cười nói: "Được đấy, dạo này chị ấy cứ mải miết chuẩn bị chuyện chải đầu suốt, rất lâu rồi chưa chơi xóc tiền với ta...

Mau gọi chị ấy qua đây đi."

Ta ứng lời, tự mình đi tìm Thu Hòa.

Khi ấy Thu Hòa đang đứng một mình cạnh lan can bên hông thủy điện, đăm đăm nhìn nụ sen khép kín trong nước, ánh mắt lúng liếng ngậm một nét cười be bé.

Chẳng biết dòng chảy ngoài lan can chất chứa niềm vui dào dạt nhường nào, chở tâm hồn cô thoát ly cung khuyết du đãng nơi xa, mà ta gọi mãi đến tiếng thứ ba, cô mới giật mình quay lại.

Như bị ta dòm ra bí mật gì, cô ngượng ngùng rũ mi, nghe ta chuyển cáo xong lập tức vội vàng chạy tới bên công chúa.

Lúc đó đêm khuya sương dày, kim thượng lệnh các nương tử quay trở lại Quỳnh Lâm Uyển nghỉ ngơi trước rồi dẫn hoàng hậu, Miêu chiêu dung, công chúa và vài vị cô nương vào điện, sai người chuẩn bị bàn ngọc bên dưới ngự tọa cho các cô bé chơi xóc tiền.

Lần này công chúa muốn chia tổ chơi, nàng cùng tổ với Thu Hòa, tổ còn lại là Phạm cô nương và Chu cô nương, cộng thành tích của hai người mỗi tổ lại làm kết quả cuối cùng.

Hai vị cô nương không chịu, nói Thu Hòa chơi giỏi nhất, ai cùng nhóm với cô thể nào chẳng thắng.

Công chúa cũng thản nhiên thừa nhận: "Ta chính là muốn thắng đó.

Thường ngày lúc nào cũng là hai người thắng, hôm nay ăn tết, hai người dầu gì cũng phải nhường ta một bữa, cho ta hòa lại một ván sảng khoái đi chứ!"

Các cô nương nghe nàng nói vậy cũng bèn cười đồng ý, bốn cô gái mỗi người một phương, bắt đầu xóc tiền.

Tiếng xóc tiền vui tai như gõ chuông, hòa vào tiếng nói cười của các cô nương.

Xóc tiền đẹp nhất tất nhiên vẫn là Thu Hòa.

Động tác mỗi lượt tung bắt đều tựa nước chảy mây trôi, đến đối thủ cũng phải trầm trồ khen ngợi.

Ta biết cô chắc chắn là vai chính của cuộc chơi này, chắc chắn giành được sự quan tâm đặc biệt của người xem.

Ta lặng lẽ ngó kim thượng, thấy ngài quả thực chú ý tới Thu Hòa hơn cả, kể cả khi đồng tiền không nằm trong tay cô, cô chỉ ngay ngắn ngồi yên, tầm mắt ngài cũng chưa từng rời đi.

Người để ý đến chi tiết này không chỉ có mình ta.

Nhạc sư của Giáo phường (*) ẩn mình sau mành che trong điện, tấu nhạc trợ hứng, đàn xong một khúc, có nội thị đi qua hỏi hoàng hậu tiếp theo nên chơi khúc nào, chỉ nghe hoàng hậu chỉ thị: "'Vọng Giang Nam'."

(*) Cơ quan quản lý âm nhạc ca múa thời xưa.

Ta không khỏi đưa mắt về phía bà, chẳng ngờ bà cũng đang nhìn ta, ánh mắt chạm nhau, bà ung dung mỉm cười, ta cúi đầu khom lưng, chỉ cảm thấy dụng tâm của mình đã bị bà soi thấu.

Kim thượng trước sau vẫn chỉ xem Thu Hòa, tựa hồ hoàn toàn không để ý tới tên khúc nhạc hoàng hậu vừa nói, mãi đến khi tiếng đàn vang lên, ngài mới từ từ phát giác, hơi ngồi thẳng dậy, nét cười thoải mái phai nhạt, hẳn là đã nhớ tới vụ Âu Dương Tu.

Điệu nhạc trong trẻo êm tai, vấn vít liên miên, tấu liên tục sang lượt thứ hai.

Ta thầm ngâm nga bài từ của Âu Dương Tu theo tiếng nhạc, đương khi ngâm tới câu cuối "Huống gì đến hôm nay" thì chợt nghe kim thượng mở miệng: "Chiêu Minh."

Vương Chiêu Minh lập tức ứng tiếng, đứng nghiêm nghe lệnh.

"Ngươi đi tra vụ án của Âu Dương Tu đi."

Kim thượng nói, buông một tiếng thở dài rồi lại bổ sung: "Điều tra cho cẩn thận vào, đừng xử oan cho ai."

Vương Chiêu Minh đánh cái rùng mình, hẳn đã hiểu được ý của kim thượng, vội quỳ xuống tiếp chỉ, trịnh trọng nói: "Thần chắc chắn sẽ điều tra kĩ càng, không dám làm nhục mệnh vua."

Trận xóc tiền đêm nay tất nhiên là công chúa và Thu Hòa toàn thắng.

Phạm cô nương và Chu cô nương muốn ra tiền thưởng đưa nàng, nàng lại không nhận, nói: "Cha sẽ cho ta tiền thưởng, hai người không cần phải đưa."

Kim thượng nghe vậy cười: "Chắc gì cha đã cho con.

Bữa nay tuy thắng nhưng cũng có phải nhờ công con đâu."

Công chúa thuận thế xin công cho Thu Hòa: "Đúng vậy, tất cả là nhờ có Thu Hòa con mới thắng được.

Cha thưởng cho chị ấy hậu hĩnh vào nhé."

Kim thượng gật đầu, hiền từ hỏi Thu Hòa: "Thu Hòa, ngươi muốn gì nào?"

Thu Hòa chỉ cúi đầu xua tay, thưa: "Công chúa bằng lòng hạ mình chơi với nô tì, Thu Hòa đã tốt số lắm rồi, sao dám tranh công xin thưởng."

"Ngươi chơi với nó có khác nào làm thầy dạy nó đâu, có công lý nào lại không được nhận lộc."

Kim thượng nói rồi, không nghe Thu Hòa chối từ nữa mà quay sang hoàng hậu, cười hỏi: "Chúng ta nên thưởng gì cho nó đây nhỉ?"

Hoàng hậu cũng cười: "Con bé làm thầy công chúa luôn tận tâm tận sức, thần thiếp nhất thời cũng không nghĩ ra được nên thưởng cái gì, chỉ sợ thứ ban cho nó lại chẳng thích.

Không bằng quan gia để nó đề tâm nguyện của mình ra đi, quan gia thấy khả dĩ thì giúp nó thực hiện, vậy có được không?"

Kim thượng không ngớt lời bảo được, hỏi Thu Hòa có tâm nguyện gì, Thu Hòa do dự, sau cùng nhỏ giọng nói: "Tạm thời thiếp không nghĩ ra..."

"Vậy hôm nay ta cho ngươi một câu chấp thuận này," quan gia nói, "Ngày sau ngươi nghĩ ra rồi thì nói cho ta biết, miễn là ta làm được, nhất định sẽ giúp ngươi đạt thành tâm nguyện."

Thu Hòa nâng tay ngang trán, trịnh trọng hạ bái tái ơn.

Một lần nữa đứng dậy, trong mắt lấp lánh chớp sáng, vẻ mặt điềm tĩnh thoáng để lộ chút mừng vui khiêm nhường.

Ta đoán cô nhất định là có tâm nguyện, bởi nhận được lời chấp thuận của hoàng đế mà tương lai bắt đầu le lói một tia sáng.

Chứng kiến kết quả này, ta rất vui lòng.

Cuộc đời có hi vọng thật vui vẻ biết bao, ngày sau của cô hẳn sẽ được hạnh phúc.

Sang tháng Tám, vụ án Âu Dương Tu cuối cùng cũng có kết quả.

Trải qua Tô An Thế và Vương Chiêu Minh thẩm tra đưa ra kết luận rồi cùng tể chấp thương nghị, kim thượng hạ chỉ giáng Âu Dương Tu xuống làm tri chế cáo, biếm đi Trù Châu.

Đồng thời cũng hàng Tô An Thế xuống làm điện trung thừa (*), giám sát thuế muối Thái Châu, trục Vương Chiêu Minh ra khỏi kinh đi giám sát thuế rượu huyện Thọ Xuân.

(*) Chức quan thuộc Điện trung tỉnh, chăm nom sinh hoạt của hoàng đế.

Không bao lâu sau, chuyện thẩm án truyền vào trong cung: Vương Chiêu Minh vào nhà ngục phủ Khai Phong, thấy công văn tra xét của Tô An Thế bản nào bản nấy đều buộc tội Âu Dương Tu loạn luân trộm cháu, tức thì ngạc nhiên: "Chiêu Minh hầu hạ bên quan gia đã mấy ngày không thấy quan gia nhắc nhỏm gì đến Âu Dương Tu.

Giờ tra án lại toàn lựa ý theo tể tướng thế này, mai sau quan gia mà không vui, tính mạng Chiêu Minh tất khó bảo toàn."

Tô An Thế nói chuyện này là thật, kim thượng hẳn sẽ không trách tội, Vương Chiêu Minh lại hỏi y Âu Dương Tu đã nhận tội chưa, Tô An Thế đáp: "Hắn kháng cự không nhận tội, không bằng trui rèn."

Cái gọi là "trui rèn" tức nghiêm hình tra khảo, ép người nhận tội.

Vương Chiêu Minh lắc đầu quầy quậy, nghiêm nghị nói: "Quan gia bảo tôi đến giám sát tra án là muốn tôi xử lý cho phải nhẽ, công bằng hết sức có thể.

'Trui rèn'?

Nói gì vậy chứ!"

Tô An Thế nghe mà sợ hãi, không dám bàn tới "trộm cháu" nữa, nhưng lại hặc Âu Dương Tu dùng tiền của Trương thị mua ruộng đất lập hộ.

Kim thượng lập tức lấy tội danh này kết án Âu Dương Tu.

Đám người Giả Xương Triều tất nhiên là bất mãn, tiếc rằng ý vua đã quyết, không cách nào sửa đổi, bèn lấy cớ Tô An Thế, Vương Chiêu Minh thẩm án không tận tâm, khăng khăng đòi kim thượng nghiêm phạt hai người này.

Cuối cùng kim thượng thỏa hiệp, ra quyết định như đã kể phía trên.

Ngày Vương Chiêu Minh xuất cung, ta đứng trong Tây Hoa Môn dõi mắt tiễn y.

Khom lưng hầu hạ đã nhiều năm, lưng y không còn thẳng lên được nữa, cứ thế cong gù chậm rãi bước ra ngoài, đi được mấy bước lại quay đầu lại, thi thoảng đưa tay áo lên lau nước mắt, buồn thảm khôn xiết.

Đợi đến khi y ra khỏi cửa, ngay sau đó cửa cấm nặng nề từ từ khép lại, ta mới nhớ ra đã đến giờ đóng kín cửa cung.

Ngẩng đầu lên trời, trông thấy mây vần xua ráng, quạ đêm bay ngang.

Nhìn vậy hồi lâu, tâm trạng cũng theo vầng tà dương đỏ sẫm trầm xuống.

3.

Quan Âm

Năm Thu Hòa mười lăm tuổi, hoàng hậu thăng cô làm nội nhân khăn lược Trung cung ty, chuyên chăm lo việc trang điểm chải chuốt cho hoàng hậu.

Trước đó, Miêu chiêu dung từng kể chuyện Thu Hòa khuyên nhủ bà chớ mua châu báu với hoàng hậu, hoàng hậu cảm thán: "Ta chỉ biết nó thích đọc quốc sử, lại chẳng ngờ nó còn biết bận tâm đến dân sinh.

Nữ tử có kiến thức như nó trong lục cung thật hiếm lắm thay."

Rồi nảy ra ý định thăng chức.

"Tương lai con bé Thu Hòa khẳng định là có tiền đồ lắm đây."

Miêu chiêu dung kết luận như vậy.

Công chúa nghe thế, hỏi mẫu thân: "Ý tỷ tỷ là sau này Thu Hòa có thể thay thế Sở thượng phục, tiếp nhận sự vụ Thượng phục cục ạ?"

Miêu chiêu dung chỉ cười, không đáp phải hay chăng.

Ta mơ hồ đoán được Miêu chiêu dung nói "có tiền đồ" là ý làm sao, nhưng lại cảm giác đó chưa chắc đã là nguyện vọng của Thu Hòa.

Sau lần đưa cô về chỗ ở, cô cũng đối đãi với ta như tay chân, thân thiết hơn rồi, lời nói với ta cũng nhiều thêm, những lần sau cô tới Nghi Phượng Các đều vẫn là ta tiễn cô ra ngoài.

Ngày biết cô chuyển sang trung cung, mọi người trong Nghi Phượng Các chúc mừng cô, cô chỉ cười nụ, cũng không có vẻ gì là đặc biệt vui mừng.

Ta tiễn cô ra cửa, cô lại như có tâm sự, cúi đầu, đạp hoa bước đi dưới hàng tán hòe dọc con đường men theo thành cung, một lúc lâu sau mới lừng chần chừ dừng gót, quay đầu hỏi ta: "Hoài Cát, huynh có tâm nguyện gì không?"

Ta ngẩn người, thoáng lặng thinh rồi đáp: "Nhìn công chúa lớn lên không sầu không lo...

Nếu như điều này có thể tính là tâm nguyện."

Có lẽ đáp án này nằm ngoài dự liệu của cô, cô nhìn tôi trân trân hồi lâu, sau cùng nở nụ cười dịu dàng: "Đương nhiên, huynh có thể mãi mãi hầu hạ công chúa mà."

Thấy cô nhắc tới tâm nguyện, ta nhớ tới lời chấp thuận của kim thượng, bèn hỏi Thu Hòa: "Vậy tâm nguyện của cô là gì?"

"Sau thất tịch năm ngoái, rất nhiều người từng hỏi tôi câu đó, đó giờ tôi vẫn chưa trả lời."

Thu Hòa mỉm cười nhạt nhòa.

Ta tức khắc cảm thấy mình nhiều chuyện, việc gì phải hỏi cô chuyện riêng tư như thế.

Chẳng ngờ cô lại chịu nói cho ta: "Nhưng với huynh thì tôi có thể nói ra...

Xuất cung, một ngày nào đó, tôi sẽ thỉnh cầu quan gia cho tôi được xuất cung."

Ngỡ ngàng, ta hỏi cô: "Cô không thích ở lại trong cung?

Vậy vì sao không nói với quan gia ngay?"

Thu Hòa không đáp, lặng im đứng trong màn gió thổi hòe rơi thành mưa hoa.

Lát sau, cô ngẩng đầu, mắt híp hờ, xuyên qua tán cây hoa mọc thành chùm trông lên trời xanh vạn dặm, một tầng cánh hoa trăng trắng vàng vàng tuôn rời từ chiếc miện sa màu của cô bay xuống.

Tôi thấy vẻ mặt cô chăm chú, cũng ngẩng lên xem, chỉ thấy có đàn nhạn xếp thành hàng bay ngang qua thành cung.

"Hoài Cát, Thôi công tử...còn ở trong kinh chăng?"

Cô ngập ngừng hỏi, dứt lời lập tức cúi đầu cụp mắt, mặt đỏ bừng.

Ta nhất thời hiểu ra, nguyện vọng của cô có liên quan tới Thôi Bạch.

Ta thành thật nói với cô, kể từ khi được điều vào Hậu tỉnh, ta rất ít có cơ hội liên lạc với người bên Họa viện, thật sự không biết tình hình Thôi Bạch gần đây thế nào, cô lại hỏi ta có thể hỏi thăm không.

Ta nhận lời, hỏi cô: "Cô có lời gì muốn chuyển cho huynh ấy không?"

Cô vô thức xoắn một góc tay áo, giọng nhỏ như muỗi kêu: "Bức tranh lần trước huynh ấy vẽ tặng tôi...

Thu phố dung tân đồ ấy...

Chim nhạn trong đó...

Xin hãy hỏi huynh ấy giúp tôi...

Chim nhạn đó..."

Trông dáng vẻ cô thế này, lại nhớ lại chi tiết trong Thu phố dung tân đồ, ta mới vỡ lẽ, nhạn được coi là loài chim biểu trưng cho lòng dạ, một chồng một vợ, sánh đôi trọn đời, chung thân không tái hôn.

Trong "Nghi lễ – Sĩ hôn lễ" viết: "Sắp lễ cưới gả, chọn nhạn trao tay" lấy ý đôi lứa kiên trinh, cầu cho âm dương hài hòa, thuận vợ thuận chồng, bởi vậy nên tục lệ hôn nhân trong nước đều lấy nhạn làm tín vật.

Trong bức vẽ của Thôi Bạch có đôi nhạn, với cái tính phóng khoáng cởi mở đó của gã, tặng tranh này cho Thu Họa chưa chắc đã không có ý ám chỉ hôn ước, hay chí ít thì cũng biểu lộ mình có ý với cô.

Thôi Bạch tướng mạo anh tuấn, phong thái rất có khí chất tài tử, con gái đương xuân cảm mến gã chẳng có gì là lạ.

Nay xem thái độ của Thu Hòa, hiển nhiên đã rễ tình đâm sâu, hỏi thăm hành tung Thôi Bạch thế này hẳn là muốn tìm gã hỏi rõ tâm ý, nếu gã thật có lòng cầu thân thì cô có thể tự xin xuất cung, thành đôi với gã.

Nghĩ thông tầng ý này rồi, ta lập tức nói với Thu Hòa: "Để tôi tìm người hỏi xem, có tin tức chắc chắn sẽ nói ngay với cô."

Ta đến Họa viện, tra được địa chỉ trong kinh Thôi Bạch ghi lại trước đây rồi nhờ Trương Thừa Chiếu tìm nội thị Tiền tỉnh có thể ra ngoài cung mua đồ đi hỏi thăm hộ, đáng tiếc là sau đó, tin tức Trương Thừa Chiếu hồi báo cũng chẳng đẹp lành gì: Thôi Bạch đã sớm rời kinh, nói là muốn chu du sông núi nổi danh khắp thiên hạ để vẽ tranh tả thực, không ai biết bao giờ gã mới về.

Ta chuyển cáo kết quả cho Thu Hòa, cô đương nhiên rất là thất vọng, ta bèn vội vàng hứa hẹn với cô, Thôi Bạch trở về sẽ liên lạc ngay với gã, Thu Hòa luôn miệng nói không sao, "Bây giờ ở lại cung cũng tốt, tôi rất thích hí hoáy mấy thứ hoa phấn hương liệu này, xuất cung rồi biết đi đâu tìm được nhiều vậy?"

Đây cũng không phải là mượn cớ, có thể nhìn ra Thu Hòa thật sự yêu thích công việc ở ty sức, cái chúng ta cảm thấy lôi thôi không thú vị, cô lại có thể tự lấy làm vui.

Điều này cũng khiến sự chờ đợi của cô trở nên không quá đằng đẵng và buồn tẻ, ta lạc quan nghĩ thế.

Trước cứ ở trong cung làm việc cô muốn làm thêm mấy năm, sau hẵng rời khỏi hoàng thành, lấy chồng như ý, giúp chồng dạy con mà sống hết quãng đời còn lại, cô gái thiện lương như Thu Hòa hẳn nên có nhân sinh hoàn mỹ như vậy.

Khánh Lịch năm thứ bảy, Thập Tam Đoàn Luyện và Cao Thao Cao cô nương đến tuổi đôi tám, kim thượng và hoàng hậu trong lúc trò chuyện nhắc đến lời bông đùa về hôn ước giữa hai người khi còn nhỏ, nghĩ đến bản thân không con, rất là cảm khái, bèn đề xuất quan gia thay Thập Tam, hoàng hậu thay Thao Thao chủ hôn, cưới gả lẫn nhau.

Bởi thế, người trong cung bắt đầu chuẩn bị cho sự kiện đại hỉ "Thiên tử cưới vợ, hoàng hậu gả con" này.

Cao cô nương chưa làm lễ cập kê song hôn sự đã được thương nghị ổn thỏa, bèn quyết định làm lễ trước tiết hàn thực năm nay một ngày.

Hôm ấy, hoàng hậu dẫn cung tần nghi trượng đích thân tới phủ họ Cao xem lễ, công chúa vốn cũng muốn theo, tiếc rằng lại bị cảm lạnh ngay trước đấy, đành phải ở lại trong gác dưỡng bệnh, không có việc gì làm, rất ư phiền muộn.

Sau giờ ngọ, cung nhân trong gác lấy bột táo làm bánh theo phong tục, dùng cành liễu xâu thành chuỗi, cắm lên bậu cửa, công chúa trông thấy cũng muốn đi cắm, song bị Miêu chiêu dung quát ngưng, công chúa lại rầu rĩ nằm xuống, nom đến là đáng thương.

Hàn thị kiến nghị Miêu chiêu dung mời Phạm cô nương qua chơi cùng công chúa, Miêu chiêu dung nói hôm nay hoàng hậu đi xem lễ cập kê của Cao cô nương, Phạm cô nương hẳn cũng đi theo bà rồi, Hàn thị lại khoát tay thưa: "Thần nghe nói mấy ngày nay Phạm cô nương thân thể không tiện, không thể đi xem lễ."

Miêu chiêu dung nghe vậy nhíu mày: "Quý thủy (*)?"

(*) Từ cổ Đông y, chỉ lần đầu tiên phụ nữ đến kinh nguyệt.

Hàn thị bẩm phải, Miêu chiêu dung hơi ngạc nhiên: "Nó còn chưa lớn mà..."

Hàn thị cười nói: "Nương tử ngày ngày gặp mặt nên cảm thấy chưa lớn đấy thôi, kỳ thực Phạm cô nương lớn hơn công chúa bốn tuổi, năm nay đã mười bốn rồi."

"Ôi, thấm thoắt mấy cô bé này đã lớn hết cả, xem ra chúng ta cũng già rồi."

Miêu chiêu dung cảm thán rồi gọi ta lại phân phó: "Ngươi đi hỏi Phạm cô nương xem nó có bằng lòng qua đây trò chuyện với công chúa không."

Ta lĩnh mệnh, lập tức đến trung cung tìm Phạm cô nương.

Hôm ấy, vì hoàng hậu ra ngoài nên rất nhiều người theo hầu, cung nhân ở lại trông coi Nhu Nghi Điện không có bao nhiêu, tòa điện vắng lặng hẳn.

Ta đi vào gác của Phạm cô nương, lại chẳng thấy cô đâu, thị nữ của cô chỉ ta ra chính điện Nhu Nghi Điện, nói cô đang thêm thuốc hương ở đó, ta bèn đi sang chính điện.

Trước chính điện đến bóng dáng một nội thị gác cửa cũng không có, ta lờ mờ cảm thấy có phần không ổn, nhưng vẫn chậm rãi đi vào.

Trong điện dường như cũng chẳng có ai.

Màn gấm rủ xuống, bốn vách không một tiếng động, cái nhìn thấy trước tiên là cặp tượng nghê vàng ngồi kèm hai bên sập ngự thất bảo, hai con thú đều cao hơn trượng, trong mõm thú tràn ra vài sợi khói màu phỉ thúy, hương khói nồng nàn.

Bắt đầu từ ngày hàn thực, trong kinh sẽ phải dừng lửa ba ngày, hôm nay là lần cuối cùng đốt hương trước tiết nên hiển nhiên lượng dùng nhiều hơn hẳn so với thường ngày.

Ngoài cặp tượng thú vàng ra, xà ngang trang trí trong điện cũng buông rủ hai dàn cầu hương chạm rỗng mạ vàng mạ bạc, điêu khắc tinh xảo, ở giữa có thể mở ra đóng vào, bên trong đựng thuốc hương, phần dưới quả cầu đốt than củi.

Quả cầu được treo lên bằng xích bạc mảnh, rủ kín một lớp trước hai mé màn gấm, lấp lánh lóe sáng, tựa bức rèm che.

Hương thơm ấm cúng không dấu vết tỏa ra từ trong quả cầu hương mạ vàng mạ bạc, là hương Lăng Thủy thượng phẩm, hương hoa bách hợp yêu kiều, vấn vít uốn lượn trong không gian tĩnh lặng.

Ta từng tới Nhu Nghi Điện rất nhiều lần song chưa lần nào thể hội bầu không khí kỳ dị như vậy, thành ra như trúng tà, chầm chậm dịch bước tại nơi hương nồng dày đặc này, lặng lẽ tiếp tục tiến vào.

Bỗng, màn che bên trái rung lên, vài quả cầu hương va vào nhau, phát ra những tiếng chuông nhỏ vụn, nghe réo rắt như tiếng nhạc ngân.

Ta thoáng đổi hướng về phía phát ra âm thanh, thò đầu lại xem.

Bên trong bức rèm cầu bạc mờ mờ ảo ảo, thấp thoáng hai bóng người, ta chăm chú trông xem, nhận ra thân hình của Phạm cô nương trước tiên.

Một tay cô bưng tráp đựng thuốc hương, tay còn lại cầm thìa bạc, bên cạnh là một quả cầu hương để mở chờ cô thêm hương vào.

Song lúc này, cô không rảnh để làm việc ấy.

Một người đàn ông đang ôm nhẹ lấy eo cô, cúi đầu hôn cô.

Tiếng chuông bạc mới rồi hẳn là do sự việc đột phát này gây nên, thình lình xảy ra khi Phạm cô nương đang dùng thìa thêm hương, thế nên cô gần như vẫn giữ nguyên động tác trước đó.

Thoạt đầu, người đàn ông kia chỉ mổ từng cái khe khẽ lên môi cô, cơ thể Phạm cô nương run run, đại khái là bị giật mình, nhưng cuối cùng cũng không đẩy người đó ra, thế là người đàn ông bắt đầu hôn sâu hơn.

Họ ẩn mình sau màn che, nghiêng người về phía ta, vị trí ta đứng cách họ một khoảng không ngắn, trước đó ta lại không phát ra bất kỳ tiếng động nào nên họ vẫn chưa ý thức được sự tồn tại của ta.

Cảnh tượng này làm ta kinh hoàng quá đỗi, giờ phút này chỉ muốn mau chóng thoát đi.

Ta chưa từng chứng kiến chuyện nam nữ bậc này, huống hồ...huống hồ là bọn họ.

Đế tránh bị họ phát hiện, ta từ từ lùi ra sau, lẳng lặng dời bước, lại sợ họ nghe được tiếng tim đập bất an của mình.

Vất vả mãi mới kề được tới cạnh cửa, lúc này mới xoay phắt người ra ngoài, hốt hoảng chạy đi.

Vừa chạy tới ngoài cửa sân chính điện thì chợt thấy đằng trước có lọng sa dẫn đường, quạt thêu che chắn hai bên, hai hàng cung nhân quây quanh một cỗ xe liễn nghênh hướng trước mặt, ngờ ngợ là nghi trượng trung cung.

Ta càng muốn rảo bước nhanh hơn, chẳng ngờ vừa quay đi đã nghe thấy có người quát: "To gan!

Hoàng hậu giá đáo mà không bái kiến!"

Ta đành dừng lại, quay mặt về phía hoàng hậu hành lễ đúng nghi thức.

Lúc đó, hoàng hậu đang nói chuyện phiếm với ty cung lệnh theo cùng hầu hạ, thấy ta hành động thất lễ cũng không tỏ vẻ gì, vẫn tươi cười như cũ, bước từ trên liễn xuống, hỏi: "Hoài Cát, làm gì mà cuống quít thế?

Chạy về à?"

Ta vô thức đáp dạ rồi lại thấy không đúng, vội vàng đổi miệng nói không phải, nhất thời không nghĩ ra được nên giải thích thế nào, mặt nóng lan ra tận mang tai, mồ hôi như mưa.

Hoàng hậu thấy vậy cũng nhận ra có điều khác thường, nhìn ta chằm chằm, hỏi: "Ngươi đi từ Nhu Nghi Điện ra?"

Ta gật đầu thưa dạ, hoàng hậu hỏi tiếp: "Ai ở trong đó?"

Ta lưỡng lự một thoáng rồi mới nói: "Bẩm, là Phạm cô nương."

"Quan Âm?"

Hoàng hậu hỏi.

"Quan Âm" là nhũ danh của Phạm cô nương.

Ta một lần nữa đáp dạ, không dám nhiều lời thêm một chữ nào.

Hoàng hậu im lặng.

Một hồi lâu sau mới lại cất tiếng: "Còn ai khác ở trong nữa?"

Ta không thưa gì, dẫu biết rõ rằng không trả lời câu hỏi của hoàng hậu là đại bất kính, nhưng cũng chẳng dám mở miệng tiếp.

Ấy nhưng hoàng hậu đã đoán được: "Quan gia?"

Ta cúi đầu thật sâu.

Ta không rõ vẻ mặt của hoàng hậu ra sao, cái ta nhận biết được chỉ có một góc xiêm áo bà đọng nơi khóe mắt.

Người chung quanh cũng hoàn toàn bặt thinh, thời gian như đông cứng lại, chỉ ngoài chim chóc đậu trên cây hòe ven lối trong cung là vẫn đang hót giọng lảnh lót.

Có giọt nước nhỏ xuống mặt đất trước mặt hoàng hậu.

Trời mưa đó ư?

Ta còn đang suy nghĩ, đã thấy gấu váy hoàng hậu khẽ xoay tròn, tung bay rời khỏi tầm mắt ta.

"Nghe nói, hoa ở Hậu uyển, đang nở, rất..."

Hoàng hậu vừa đi ra ngoài vừa nói, giọng điệu vẫn vững vàng, chỉ có điều ngắt quãng hơi nhiều.

Ty cung lệnh vội bắt kịp, tiếp lời: "Phải ạ, hoa đào hoa mận, kim nga ngọc tu đều đã nở rồi, nương nương không ngại thì đi xem xem."

Hai hàng cung nhân trầm lặng từng người từng người đi ngang qua trước mắt ta, theo sau hoàng hậu về phía Hậu uyển.

Cuối cùng, có một người dừng lại trước mặt ta.

Ta ngẩng lên, trông thấy đôi mắt rưng rưng của Thu Hòa.

"Hoài Cát," Cô khẽ nói với ta, "Mau đi tìm Trương Mậu Tắc tiên sinh đi, mời ông ấy tới Hậu uyển."

Ta đáp ứng.

Thu Hòa lau khóe mắt rồi rảo bước bắt kịp đội ngũ tùy tùng của hoàng hậu.

Ta đổi hướng chạy Nội Đông Môn ty.

Trước khi rời đi, liếc mắt nhìn vết tích giọt nước đã thấm vào gạch trên mặt đất, lại ngẩng đầu nhìn lên trời...

Trời quang trong vắt, không một dấu hiệu nào là muốn mưa.

Tìm được Trương tiên sinh rồi, ta kể lại sự việc xảy ra cho thầy nghe một cách vắn tắt nhất có thể, lúc đề cập tới chuyện ở Nhu Nghi Điện chỉ nói có một câu "Quan gia và Phạm cô nương ở trong điện" mà thầy đã tỏ tường hết thảy, không đợi ta nói xong đã lập tức giương tay áo đứng lên, sải bước về phía Hậu uyển.

Ta hơi ngần ngừ, cuối cùng vẫn đi theo thầy.

Đến nơi, thấy hoàng hậu đang quanh quẩn giữa bóng hoa, tầm nhìn đong đưa trên hoa lá, song ánh mắt trống rỗng, hiển nhiên là nhìn hoa cỏ khắp khu vườn này mà như không thấy.

Trương tiên sinh tiến lại bên bà, cúi người gọi nhỏ: "Nương nương."

"Ồ, Bình Phủ..."

Hoàng hậu thấy là thầy, giọng hơi run lên.

Điều này làm ta chợt nhớ tới công chúa.

Có đôi lần nàng chịu tủi ở chỗ Miêu chiêu dung cũng thường hờn dỗi không nói lời nào, nhưng nếu ta qua khuyên nàng, nàng sẽ nghẹn ngào gọi tên ta, sau đó nức nở khóc một trận.

"Nương nương, loại lúa người dẫn lục cung dâng cho quan gia trồng tháng Giêng đầu xuân đã ra mạ non rồi, sao không đến Quan Giá Điện xem thử?"

Trương tiên sinh đề nghị, ngữ ý mềm mỏng.

Hoàng hậu đưa mắt nhìn thầy ngơ ngác, lát sau rốt cuộc cũng cười khẽ: "Được, đi Quan Giá Điện xem xem."

Trong một góc Hậu uyển có xây Quan Giá Điện, tháng Giêng hằng năm, hoàng hậu sẽ dẫn tần ngự lục cung lựa lấy chín loại hạt giống ngũ cốc dâng cho hoàng đế, tiếp đó hoàng đế sẽ đích thân cày cấy làm lễ tịch điền bên dưới Quan Giá Điện, đợi đến lúc ra mạ là có thể lên đây thưởng ngắm.

Hoàng hậu chầm chậm leo lên Quan Giá Điện, ta không đi theo nữa, chỉ yên lặng đứng ở một góc ruộng, nhìn bà từ xa.

Vườn tược có người chăm nom chuyên trách, mạ lúc này xanh tốt um tùm, sinh trưởng rất khả quan, nếu ngắm từ trên điện xuống, cảnh mạ non sinh sôi nảy nở nhất định là y hệt lời vị quan theo hầu nói, "Bờ ruộng dậy cỏ thơm, đất đồng xanh lúa mới", ta nghĩ, hoàng hậu xem rồi trong lòng ít nhiều cũng dễ chịu hơn vài phần.

Hoàng hậu đứng yên giữa đại điện, xiêm áo đẹp đẽ, xanh biếc đỏ thắm, ngọc trắng làm bội.

Bà nhìn xuống mạ xanh um tùm dưới chân, thần thái dần khôi phục như thường, vẫn là vẻ đoan trang bình tĩnh ấy.

Gió nhẹ lướt qua, thổi phồng tay áo xanh thẫm của bà, bà hơi ngẩng mặt lên, mười hai đóa hoa trang sức đính trên chiếc miện Cửu Long Tứ Phượng rung lên nhè nhẹ.

Nhắm mắt lại, bà nở hé một nụ cười điềm đạm bình thản.

Mà Trương tiên sinh thì một mực nép mình bên cột trụ mái hiên phía sau bà, yên tĩnh nhìn bà chăm chú suốt một khoảng thời gian dài, không nói cũng bất động.

Thầy mặc áo bào đen, nhìn qua tưởng chừng như chỉ là một cái bóng cao lớn.

4.

Cầu mưa

Chỉ trong nửa ngày, chuyện Phạm cô nương đã truyền khắp lục cung.

Trước đây, con gái nuôi trong cung có không ít người được kim thượng nạp lấy, nhưng đó đều là con nuôi của hậu phi tiên đế, trong lứa vãn bối, theo lời đồn trong cung, Phạm cô nương là người đầu tiên "được vua sủng hạnh", thế nên chư nương tử hỏi thăm tin tức lẫn nhau, đều đang đợi xem hoàng hậu xử lý thế nào.

Sau khi trở về từ Quan Giá Điện, hoàng hậu đã khôi phục lại trạng thái hỉ nộ không biểu lộ thường nhật của quốc mẫu, xử lý sự vụ hậu cung đâu ra đấy như cũ, tiếp đó miêu tả cảnh tượng lễ cập kê của Cao cô nương cho kim thượng nghe trong buổi dạ tiệc, lại nhắc tới Phạm cô nương như không có việc gì xảy ra, nói Phạm cô nương đã lớn mà bà lại không nỡ thả con gái nuôi xuất cung, nên xin kim thượng giữ Phạm cô nương lại bên người để hai mẹ con khỏi lo sầu vì biệt ly.

Nói điềm tĩnh thản nhiên như thế làm kim thượng cũng không khỏi cảm thấy mất tự nhiên, nhưng cuối cùng vẫn biết thời biết thế mà "nghe lời cầu thỉnh".

Hoàng hậu bèn lựa một gác khác phân cho Phạm cô nương ở, điều không ít cung nhân sang đó hầu hạ rồi bàn bạc các công việc liên quan với ty cung lệnh và thượng cung, chọn ngày lành đợi kim thượng chính thức gia phong.

Lục cung xôn xao, bàn tán sôi nổi, nguyên do dính dáng tới chuyện này trải qua đủ kiểu suy diễn mà đẻ ra muôn vàn phiên bản, trong đó có một phiên bản là, hoàng hậu nhận nuôi Phạm cô nương vốn là để dùng cô phân chia sủng ái với Trương mỹ nhân, Phạm cô nương "quyến rũ" kim thượng cũng là mưu kế của hoàng hậu.

Rất nhiều người nghe nói ta từng chứng kiến chút chuyện trong Nhu Nghi Điện, đều hào hứng chạy tới hỏi ta, ta lặng im không đáp, họ lại muốn ta chí ít cũng miêu tả lại sắc mặt hoàng hậu khi biết việc này, hỏi ta lúc đó bà có đắc ý hay không.

Ta không trả lời bất kỳ ai, kể cả với Miêu chiêu dung cũng chỉ nói "Không hề nhìn thấy".

Chuyện này có nằm trong dự liệu của hoàng hậu hay không thì ta cũng không rõ, điều duy nhất có thể khẳng định là, giọt nước kia không phải trời đổ mưa.

Nhưng ta sẽ không đề cập đến chi tiết này với người khác, ta nghĩ hoàng hậu bây giờ cũng chẳng buồn biện giải hay chứng minh điều gì với ai.

Còn chưa gia phong, kim thượng đã thường xuyên tới gác Phạm cô nương, về danh vị của cô, người trong cung cũng có rất nhiều suy đoán.

Kim thượng nạp tần ngự thông thường ban đầu đều gia phong ngự thị, coi trọng hơn chút thì đồng thời phong thêm là huyện quân hoặc quận quân, không nằm trong hàng mệnh phụ ngũ phẩm, về sau sẽ từ từ thăng lên.

Tuy nhiên hiện giờ trong cung đang đồn rằng Phạm cô nương là con nhà thanh bạch, lại là con gái nuôi của hoàng hậu, thế nên đế hậu đều có ý phong cô phẩm cấp cao hơn, có khả năng ngay từ đầu đã phong cô làm tài tử hoặc quý nhân, thậm chí còn có thể là tứ phẩm mỹ nhân.

Lúc nhắc tới việc này, quá nửa các nương tử đều mở cờ trong bụng, cơ hồ nhìn nhận rất lạc quan, nguyên nhân cũng chẳng khó đoán, họ đều đang chờ xem mỹ nhân mới áp đảo mỹ nhân cũ.

Trương mỹ nhân bị những lời đồn này làm cho đứng ngồi không yên, thường xuyên chầu chực ở hậu điện triều đình chờ kim thượng, có mấy lần kim thượng không nhịn được nói thẳng, muốn ả đừng tới nữa.

Tin tức truyền ra, lại trở thành trò cười cho lục cung.

Nghĩ, ắt hẳn Trương mỹ nhân vẫn chưa từ bỏ ý định tìm kiếm đối sách.

Mấy ngày nay người trong gác ả bận rộn vô cùng, chốc chốc lại bắt gặp Giả bà bà hoặc hoạn giả trong gác ả ra vào trong ngoài thành cung, mặt mày sầm sì, bước chân vội vã.

"Cô ả lại muốn đi tìm Giả tướng công thương lượng đây mà."

Miêu chiêu dung ngầm bình luận thế, "Nhưng lần này quan gia nạp tân sủng là đề nghị của hoàng hậu, xuất thân của Phạm Quan Âm lại tốt, Giả tướng công dẫu có dâng tấu can gián, quan gia cũng có lý do cự tuyệt, không để ý tới."

Lời bà vốn không sai, nhưng đại hạn kéo dài từ năm ngoái đến năm nay lại khiến chuyện này xảy ra biến số.

Làm vua ai cũng sợ thiên tai, cứ khi nào gặp phải tai ách là lại có đại thần dâng sớ yêu cầu hoàng đế tự xét lại bản thân, phê bình ngài cầm quyền trị nước không ổn thỏa nên mới gây ra thiên biến.

Đã sang tháng Ba mà trời vẫn không mưa, quan gia vì chuyện này mà sầu lo khôn xiết, chẳng những tránh trong chính điện (*), giảm bớt bữa ăn mà còn liên tiếp cầu mưa trong cung, thực thi đủ loại thuật cầu mưa, thậm chí còn dẫn cung nhân và hoạn quan đốt hương trên tay (**) cầu khấn, song trước sau vẫn chẳng thấy trời giáng cho trận mưa giải hạn.

(*) Chính điện chỉ gian điện nằm chính giữa cung điện hoặc miếu thờ, vào thời cổ, khi đất nước gặp thiên tai họa nạn, vua sẽ tránh rời khỏi chính điện, lấy ý tự trách bản thân để tiêu tai trừ họa.

(**) Đặt hương lên cánh tay đốt cúng bái thần phật để tỏ ý hết sức chân thành.

Tể tướng Giả Xương Triều dâng tấu can gián vào chính lúc này, nói trong cung quá nhiều phụ nữ, xin thả bớt cung nhân xuất cung để dẹp yên tai ách.

Kim thượng cũng bằng lòng, hồi cung rồi lại sai lấy cung tịch, chọn ra vài người không thân cận lắm định thả cho xuất cung.

Hôm ấy trong cung vẫn thực hiện nghi lễ cầu mưa, kim thượng như thường lệ tự viết sớ cúng, lúc nhấc bút, Trương mỹ nhân chợt tiến lên nói: "Thần thiếp nghe nói sớ cúng nên viết bằng máu của người cầu khấn mới bày tỏ được thành ý.

Nhiều năm nay thiếp vẫn luôn được nhận sự quan tâm sâu sắc của bệ hạ mà không cần báo đáp, hôm nay cầu mưa, xin bệ hạ cứ lấy máu thần thiếp mà dùng, coi như thành toàn cho tâm nguyện phân ưu cùng ngài của thần thiếp."

Lời còn chưa dứt đã lấy một con dao găm ra, rạch một nhát lên cánh tay trái của mình.

Thấy máu tươi dầm dề, kim thượng cả kinh, bắt lấy cánh tay ả bịt miệng vết thương lại, gọi người đến băng bó.

Trương mỹ nhân lại nhẹ nhàng đẩy ngài ra, khăng khăng đòi người lấy chén tới, nhỏ máu vào rồi mới chịu băng bó thương tích.

Kim thượng cảm động vô cùng, an ủi ngợi khen không ngớt, Trương mỹ nhân chỉ cười, nói: "Có thể phân ưu cho bệ hạ, chút máu thịt này thần thiếp nào có tiếc gì."

Rồi nhu mì giục ngài mau viết sớ cúng.

Bước cuối cùng của nghi lễ hôm đó là gọi cung nhân được lệnh xuất cung tới, bày tỏ thành ý kim thượng chấp thuận lời can gián cắt giảm cung nữ.

Đợi đến lúc thượng cung điểm danh từng người, để những người cung nhân này đi qua hành lễ bái biệt xong, Trương mỹ nhân lại run rẩy đứng lên, hạ bái kim thượng rồi nói: "Đại hạn lần này kéo dài hiếm thấy, nếu những cung nhân thả đi chỉ là mấy kẻ có cũng được chẳng có cũng xong thì khó mà thể hiện được thành ý cầu mưa của bệ hạ và lục cung.

Con gái nuôi Từ thị của thần thiếp trước nay vẫn luôn là đứa bé thần thiếp yêu thương tha thiết, song hiện giờ trời giáng tai ách, thần thiếp nguyện dứt bỏ tình mẹ con, thả cho Từ thị xuất cung, chỉ mong có thể dùng điều này làm cảm động trời xanh, cầu được mưa xuống, tiêu tai cho ngài."

Ả vừa nói xong, lại có hai vị nương tử thường ngày vẫn qua lại thân thiết với ả cũng bước ra khỏi hàng hạ bái, ngỏ lời nguyện cho con gái nuôi của mình xuất cung.

Kim thượng trầm ngâm, hồi lâu không cất lời.

Chúng tần ngự có con gái nuôi còn lại có mặt tại buổi lễ đều như đứng đống lửa như ngồi đống than, một lát sau, lại có nương tử quỳ xuống tán thành, ngay sau đó cả đám người lục tục quỳ xuống hết cả, đều bày tỏ mình bằng lòng thả con gái nuôi.

Trong đó khẳng định có hơn nửa vốn không có ý định này, nhưng tình hình như vậy mà không tỏ thái độ theo đám đông thì mình lại thành ra có vẻ không chịu hi sinh chút gì, chẳng khác nào không trung quân ái quốc.

Trương mỹ nhân thấy vậy cười cười, vỗ ngực nói với kim thượng, hơi thở có phần hổn hển: "Chúc mừng bệ hạ, bây giờ lục cung đã đồng lòng nguyện thả cho con gái nuôi xuất cung, trời cao tất cảm nhận được, chắc chắn sẽ sớm giáng mưa giải hạn."

Nói đoạn, khoan thai quay sang hoàng hậu, nhẹ giọng hỏi: "Hoàng hậu, thần thiếp nói đúng chứ?"

Hoàng hậu không đáp, chỉ xoay người về phía kim thượng, khom lưng nói: "Bệ hạ, hiện giờ thần thiếp chỉ có một đứa con gái nuôi duy nhất trong cung, đi hay ở là do bệ hạ làm chủ."

Kim thượng im lặng chắp tay nhìn trời, vẻ mặt nặng nề.

Một hồi lâu sau mới nói: "Để ngày mai trẫm thương nghị với tể tướng rồi quyết định sau."

Kết quả thương nghị với Giả tướng công hoàn toàn có thể suy ra được.

Dưới sự tán thành cực lực thậm chí là cổ động của Giả Xương Triều, kim thượng hạ chỉ thả con gái nuôi Phạm thị và Từ thị của hoàng hậu và Trương mỹ nhân cùng mười thiếu nữ khác xuất cung.

Bầu không khí lễ bái biệt sau cùng thê lương khôn tả, mấy cặp mẹ con ôm nhau khóc không thành tiếng.

Phạm cô nương hành lễ trước kim thượng xong, lại chạy sang nhào vào dưới chân hoàng hậu, phủ phục bái lạy mà nức nở: "Nương nương, con sai rồi..."

Hoàng hậu kéo cô dậy, lau nước mắt cho cô, nghĩ đi nghĩ lại, muốn nói lại thôi, cuối cùng chỉ buông một tiếng thở dài, rưng rưng ôm cô vào lòng.

Lúc đến lượt Từ cô nương hành lễ thì xảy ra chút việc ngoài ý muốn.

Thoạt đầu cô ngơ ngẩn quỳ xuống, Giả bà bà thấy cô không có động tác gì tiếp bèn nhắc nhở cô bái biệt kim thượng, nào ngờ cô đột nhiên kích động, xoay người lê gối mấy bước, túm lấy vạt váy Trương mỹ nhân, gào khóc: "Sao tỷ tỷ lại muốn đuổi con ra ngoài?"

Trương mỹ nhân sợ hết hồn, phản ứng lại được rồi thì ra chiều bi thương nói: "Tỷ tỷ cũng không nỡ bỏ con, nhưng nếu cứ luyến tiếc mãi không thả người thân thiết xuất cung thì mưa giải hạn..."

"Không phải!

Tỷ tỷ căn bản là không thích con!"

Từ cô nương không hề muốn nghe ả nói, vừa khóc vừa kể lể, "Người tỷ tỷ thích nhất chỉ có Ấu Ngộ...

Kể từ khi tỷ tỷ sinh ra nó, gần như chẳng bao giờ nhìn đến con...

Con nghĩ, nếu Ấu Ngộ không còn, tỷ tỷ hẳn sẽ tốt với con hơn chút ít, nhưng tỷ tỷ vốn chẳng có ý định gặp con, đối xử với Chu muội muội còn tốt hơn với con..."

"Ấu Ngộ..."

Trương mỹ nhân như bị cái tên này đâm cho một nhát, khẽ lẩm bẩm hai chữ này, thình lình vươn cả hai tay tóm chặt cánh tay Từ cô nương, cơ hồ bóp nghiến lấy cô, mắt bắn ra tia sáng dữ dằn: "Là ngươi, thì ra là ngươi..."

Từ cô nương bị đau hét ầm lên, ra sức giãy giụa.

Giả bà bà thấy tình thế không ổn, vội đi qua tách họ ra, siết chặt Từ cô nương vào lòng mình, vừa lấy tay bịt miệng cô vừa lấp liếm: "Con bé nó đau lòng quá, đầu óc không được tỉnh táo cho lắm, tạm thời miễn lễ đi thôi."

Rồi liên tiếp nháy mắt với Trương mỹ nhân.

Trương mỹ nhân ngớ ra, dần tỉnh táo lại, nhếch một nụ cười nhạt nhòa, dịu giọng nói với Từ cô nương: "Con bé ngốc này, tỷ tỷ không thích con thì còn thích ai?

Con tạm về trước đi, ngày sau tỷ tỷ lại đi thăm con."

Giả bà bà được Trương mỹ nhân ra dấu, nửa ôm nửa kéo Từ cô nương ra ngoài, Từ cô nương vùng vẫy lắc đầu, khuôn miệng bị bưng phát ra những tiếng "Ô ô", song không bật ra được chữ nào, nước mắt ồ ạt chảy xuống theo kẽ hở ngón tay Giả bà bà.

So ra, nhóm Phạm cô nương rời đi yên bình hơn hẳn, không ai phản kháng, chỉ ai ôm mặt người nấy mà khóc ròng.

Họ ngồi xe ra khỏi cửa cung, một hàng hơn mười xe liễn, khói bụi mù mịt, tiếng khóc đau thương uốn lượn vấn vít, cứ thế một đường chạy ra hoàng thành.

Dõi nhìn họ càng lúc càng xa, ta chợt nhớ tới, nữ tử trong cung rời khỏi hoàng thành đều là vừa đi vừa khóc.

Hoặc giả, hẳn vẫn có ngoại lệ.

Ta nghĩ.

Như Thu Hòa chẳng hạn, tương lai khi cô xuất cung, hẳn là sẽ mừng vui khấp khởi, bởi cuộc sống mà cô mong đợi tựa như một bức họa cuộn tròn, đến lúc ấy mời từ từ mở ra trước mặt cô, bên trong ẩn chứa biết bao nhiêu ngày lành cảnh đẹp, chuyện vui hoan lạc đang đợi cô tỉ mỉ hưởng thụ.

Hay như công chúa vậy, nàng sinh ra ở trong cung, chẳng biết quãng đời còn lại liệu có ngày nào kim thượng sẽ chọn một phò mã đô úy cho nàng, mặt mày rạng rỡ tiễn nàng xuất cung hay chăng...

Kẻ sĩ đương triều thiếu gì người thông tuệ thanh cao, hoàng đế thân cư triều đình, ngày ngày chứng kiến, không khỏi có lúc gặp được người tài tuấn, sau này kén rể cho cô con gái độc nhất, chẳng hay sẽ chọn nhân vật siêu quần xuất chúng nhường nào...

Ngày công chúa xuất giá, trong lòng nhất định cũng sẽ rất hoan hỉ...

Ta đưa mắt về phương xa, nghĩ đến thất thần, không để ý có người tới gần, mãi đến khi cô thò tay huơ huơ mấy cái trước mặt ta, ta mới phản ứng lại, tập trung nhìn kỹ, hóa ra là Thu Hòa.

"Huynh nghĩ gì mà ngẩn người ra thế?"

Cô mỉm cười hỏi, vì ban nãy khóc cho Phạm cô nương nên hiện giờ hốc mắt vẫn còn hoe đỏ, "Sao lại thở dài?"

"Hả?"

Ta sững sờ hỏi ngược lại, "Tôi có thở dài à?"

Nhóm Phạm cô nương rời cung đã mấy ngày mà không thấy có mưa rơi, kim thượng trong cơn giận dữ đã biếm Giả Xương Triều xuống làm Võ Thắng tiết độ sứ, điều đi phủ Đại Danh kiêm chức Hà Bắc an phủ sứ, nhân cách chức đuổi ra khỏi kinh thành.

Một ngày trước khi tuyên bố bãi tướng, Giả bà bà vất vả bôn ba hết ra thành lại vào cung, cuối cùng chẳng được tác dụng gì, ngược lại còn bị người chú ý đến trận bận rộn này của mụ moi ra tình tiết vụ bãi tướng Giả Xương Triều.

Thì ra, sau khi thả cung nhân xuất cung, kim thượng chờ không đến cơn mưa giải hạn, bèn ngầm tìm đài quan Lý Giản bàn bạc, Lý Giản nói: "Bệ hạ gần như đã thử tất cả phương pháp cầu mưa, duy chỉ có 'sách miễn tam công' trong sách thiên tai thời Hán là chưa từng thử."

Vì chuyện Phạm Quan Âm, kim thượng vốn đã sinh lòng căm tức Giả Xương Triều, nghe xong lời ấy, ý định bãi tướng trong đầu lại càng thêm mãnh liệt, bèn hỏi thêm ý kiến ngự sử trung thừa Cao Nhược Nột, Cao Nhược Nột cũng thẳng thắn: "Âm dương bất hòa là tại tể tướng."

Gián thần Hồng Phạm tán đồng, lại đề cập chuyện Giả Xương Triều nhiều lần khắc khẩu với Ngô Dục trên triều, nói: "Đại thần không nghiêm, mưa sao đúng thời."

Kim thượng đập bàn, lập tức sai toả viện thảo chiếu, mệnh Hàn lâm học sĩ viện viết lệnh bãi tướng.

Hàn lâm học sĩ viện lúc gặp việc cơ mật trọng đại như soạn thảo chiếu thư sẽ phải đóng cửa viện, cắt đứt qua lại với bên ngoài trước để ngừa làm lộ bí mật, gọi là "toả viện".

Giả bà bà vốn mua chuộc vài nội thị hầu hạ bên hoàng đế, khi ấy nội thị thấy kim thượng cho gọi chư thần thảo luận việc Giả Xương Triều đã lập tức thông báo với Giả bà bà.

Giả bà bà và Trương mỹ nhân hết sức lo lắng, định liên lạc với bộ hạ Giả thị, nhưng giờ đó đã tan triều, những thần tử này đều đã rời cung.

Giả bà bà bèn tìm cớ muốn ra ngoài cung, chẳng ngờ bị Trương Mậu Tắc tiên sinh cản lại, nói trời đã tối, xuất cung bây giờ không thể về kịp trước khi đóng cửa, cho nên tuyệt đối không thể đi ra.

Giả bà bà phẫn nộ quay về, sau lại chạy đến trước cửa Hàn lâm học sĩ viện canh chừng, rồi lại bị thị vệ giữ cửa đuổi về.

Khó khăn lắm mới đợi được đến lúc trời sáng, lại đi Học sĩ viện, chỉ thấy cửa viện mở ra, học sĩ thừa chỉ giương cao chiếu lệnh ngênh ngang đi qua trước cái nhìn trân trân của mụ, vào Thủy Củng Điện diện thánh.

Chừng nửa canh giờ sau, Giả Xương Triều đã bị bãi tướng ủ rũ cúi đầu từ trong điện đi ra...

Mà ngay sau khi ông ta bãi tướng, mưa lập tức tí tách rơi liền mấy ngày.

Chư vị nương tử miêu tả chuyện này sinh động như thật, người nghe thường đều cười to, chỉ duy công chúa nghe xong là mong manh hỏi: "Phạm tỷ tỷ còn quay lại chứ ạ?"

Miêu chiêu dung không đáp, gọi Gia Khánh Tử và Tiếu Diệp Nhi lại, bảo họ hầu công chúa ra sân chơi xích đu.

"Đã lấy danh cầu mưa mà đưa đi thì sao trở lại được?"

Công chúa đi rồi, Miêu chiêu dung mới nói, là nói với mấy nương tử ngồi xung quanh.

Du tiệp dư cũng than: "Kể ra con bé Quan Âm này cũng đáng thương thật đấy, nữ nhân từng hầu hạ quan gia ai dám cưới chứ?

Sau này chỉ còn nước làm ni cô thôi."

"Lại chẳng à."

Miêu chiêu dung thờ ơ khều khều cành hoa cắm trong chiếc bình bên người, "Có khác nào cây đào đang yên đang lành, xuân nay mới nở được bông thứ nhất đã bị người ta chặt xuống làm củi đâu."

5.

Tào lang

Ngày cưới của Cao cô nương ngày càng kề cận, chuyện cưới xin của công chúa theo đó cũng trở thành đề tài tán gẫu của người trong cung.

Năm nay nàng lên mười, đã tới lúc có thể bàn việc hôn nhân.

Nhiều ngày nay, các nương tử tới gác Miêu chiêu dung sau khi trò chuyện dăm câu về nghi trượng hồi môn của Cao cô nương hầu như đều sẽ đề cập tới công chúa, hỏi Miêu chiêu dung: "Quan gia định chọn công tử nhà nào làm phò mã?"

Miêu chiêu dung chỉ lắc đầu: "Ta cũng đang muốn biết đây, nhưng ai mà đoán được quan gia nghĩ thế nào chứ?

Dù sao cũng chẳng trông mong được ngài chọn một trạng nguyên."

Tục lệ quốc triều khác với thời Tùy Đường, hôn nhân không hỏi công huân, kẻ sĩ kết thông gia với dân thường đã dần trở thành phong tục.

Bởi triều đình coi trọng kẻ sĩ nên quan viên trong triều đều là thư sinh.

Rất nhiều quyền thần khanh tướng vốn xuất thân hàn vi, song có thể nương khoa cử mà leo lên hàng đại thần phụ chính thanh cao sang quý, thế nên từ thế gia vọng tộc tới thân sĩ phú hào đều thích kén tiến sĩ làm rể.

Thậm chí mỗi bận yết bảng khóa thi, nhà có con gái đến tuổi còn thường xuyên canh trực dưới bảng, cả thành tranh đoạt lang quân áo xanh (*).

(*) Nguyên văn: 绿衣郎 (lục y lang), chỉ thanh niên khoa bảng tài hoa anh tuấn.

Tể chấp trong triều mà có con gái thường cũng hay kén rể từ nhóm tiến sĩ trẻ tuổi, thậm chí là gả con cho trạng nguyên, chẳng hạn như tiền tham tri chính sự Tiết Khuê đã lần lượt gả hai cô con gái cho Vương Củng Thần thi đỗ trạng nguyên, mà vị con rể còn lại của ông thì chính là Âu Dương Tu đăng khoa cùng năm với Vương Củng Thần.

Tuy nhiên, hoàng đế thì lại không thể chọn trạng nguyên tiến sĩ làm rể.

Bởi xưa nay ngoại thích tham dự vào chính sự quá nhiều thường sẽ dẫn đến hỏng loạn, gia pháp tổ tông quốc triều rất nghiêm khắc với ngoại thích, không trao thực quyền cho ngoại thích, chỉ nuôi dưỡng bằng bổng lộc tước vị cao, không để họ có cơ hội lộng quyền độc tài.

Nếu trước khi thông gia với hoàng gia tôn thất mà trong nhà ngoại thích đã có sẵn người làm quan nắm giữ thực quyền thì thông thường cũng phải tiến hành miễn chức rồi nhận chức suông.

Trạng nguyên tiến sĩ là người được tuyển để làm đại thần chấp chính trong tương lai, đương nhiên là không thể kết thông gia với hoàng thất.

Kim thượng đối mặt với thanh niên tài tuấn khắp triều cũng từng cười nói với hậu phi: "Ai cũng bảo con gái hoàng đế không phải lo chuyện cưới xin, ta thấy cũng chưa chắc.

Ta mà có ý định chọn lang quân áo xanh nào làm phò mã, hắn ắt sẽ thà chết không chịu, đài gián cũng sẽ mắng ta phá hủy tiền đồ người ta."

Hiện giờ hoàng thất cưới vợ gả con đa phần là kén từ những "hộ suy cũ" mà Chương Hiến Minh Túc hoàng thái hậu Lưu thị đời tiên đế đã chỉ thị, tức những thế gia có tổ tiên vốn là công thần khai quốc song đời sau không còn làm công khanh đại phu nữa, hoặc giả, hậu nhân ba đời của khanh tướng áo vải không xuất thân từ danh môn cũng được, nhưng điều kiện tiên quyết đều là trong tộc không có ai ngồi ở ngôi cao trong triều đình đương thời.

Đương nhiên, dẫu cho phạm vi tuyển chọn phò mã có thu nhỏ đến những hộ suy cũ và nhà khanh tướng áo vải thì thiếu niên ưu tú có khả năng sánh đôi cùng công chúa cũng chẳng phải là không có.

Có một lần, Miêu chiêu dung mở miệng dò xét ý kén rể của kim thượng, kim thượng nói thế này: "Đợi Thập Tam hồi cung phục diện bái môn, ngoại thích vào cung chúc mừng, ta sẽ cho nàng gặp một người."

Sau hôn lễ, chàng rể quay lại nhà nàng dâu, bái lạy bố mẹ vợ được gọi là "bái môn", nếu đi ngay ngày kế sau hôn lễ thì gọi là "phục diện bái môn".

Cao cô nương lấy chồng với thân phận "con gái hoàng hậu", dùng một nửa nghi trượng công chúa, về nhà chồng từ trong cung, thế nên sang ngày kế Thập Tam Đoàn Luyện sẽ hồi cung phục diện bái môn, mà hôm ấy tôn thất ngoại thích đều sẽ vào cung ăn mừng.

Nghe ý của kim thượng, có vẻ như sẽ chọn phò mã trong số ngoại thích.

Sau đó, Miêu chiêu dung thuật lại câu trả lời của kim thượng cho Du tiệp dư nghe, tiệp dư cười: "Không phải quan gia chỉ đại công tử nhà Tào lang đấy chứ?

Em nghe hoàng hậu nói hôm đó Tào lang sẽ dẫn hai công tử nhà ông ấy vào cung, trong đó đại công tử bằng tuổi công chúa, tài mạo cũng tương xứng."

Miêu chiêu dung mừng rỡ khôn xiết, chắp hai tay niệm: "A di đà phật, nếu là công tử Tào lang thì tốt quá rồi!"

"Tào lang" chỉ cháu trai Tào Bân – công thần khai quốc Đại Tống –, em trai hoàng hậu, tên là Tào Dật.

Ông là người điềm đạm, thông hiểu âm luật, thiện cờ vây giỏi cung tiễn, thơ văn bút nghiên đều vô cùng tinh thông.

Hơn nữa, tướng mạo ông rất đẹp.

Khí chất hoàng hậu như lan chi nơi thâm cốc, ngụ chốn không người vẫn ngát hương, nhưng nếu chỉ bàn về gương mặt thôi thì lại chẳng khiến người ta cảm thấy choáng ngợp, mà vẻ đẹp của Tào Dật thì không ai có thể ngó lơ cho đặng.

Nước da ông trắng trẻo, tóc màu đen tím kỳ lạ, mơ hồ có ánh đỏ, được tôn là người cõi tiên.

Tuy dung nhan thanh tú song lại chẳng hề yếu đuối, thân thủ ông khi cưỡi ngựa bắn cung múa kiếm đều rất nhanh nhẹn, phóng thái tiêu sái nhàn tản mà khí phách.

Từ thuở thiếu thời, ông đã ra vào cung cấm các dịp lễ tết cỗ tiệc khá thường xuyên, tần ngự cung nhân trông thấy đều rất vui mừng, tranh nhau vén mành ngắm Tào lang.

Lần đầu ta chứng kiến cảnh sôi nổi ấy đã từng nghĩ, mỹ nhân được viết trong chương "Dung chỉ" cuốn "Thế thuyết tân ngữ" cũng chỉ đến thế này là cùng.

Ông mang danh là người tộc hoàng hậu nhưng không hề ngạo mạn kiêu căng, hai mắt trong suốt, lại như chẳng màng đến giang sơn bốn bể.

Nghe nói lần đầu kim thượng trò chuyện với ông, phát hiện ra ông thích đọc Lão Trang, chỉ tính ngôn từ thôi đã tĩnh lặng tự nhiên, vô vi chính trị (*), thế nên kim thượng rất thích, ban thưởng khá nhiều, ông cũng chẳng lấy làm kinh hãi hay mừng rỡ, chỉ chắp tay tạ ơn.

Bởi vậy, kim thượng thường hay khen ông với người khác, nói: "Tào lang tính tình tốt, phong độ đẹp, tương lai có thể vào triều làm sử quan."

(*) Chủ trương chính trị cơ bản của Đạo gia, Lão Tử và Trang Tử đều có quan điểm như vậy, nôm na đại khái thì cũng gần gần như áp dụng "lấy tĩnh chế động" vào đạo trị quốc.

Tào Dật vừa đến tuổi nhi lập, dưới gối có hai con trai, con trưởng tên Bình, con thứ tên Dụ.

Tào Bình năm nay vừa tròn mười tuổi, tuy còn nhỏ song văn tài võ nghệ đã mang nhiều âm hưởng của cha, thích đọc sách sử, chữ viết rất đẹp, thiện tài cung tiễn, buổi tối tắt đèn giương cung vẫn có thể bắn trúng, trong cung nghe nói không ít, thế nên Miêu chiêu dung rất đỗi vui mừng, mong chờ kén cậu làm rể.

Đầu hạ năm ấy, Thập Tam Đoàn Luyện và Cao cô nương phụng chỉ thành hôn.

Đã là "con trai quan gia" cưới "con gái hoàng hậu" thì tất nhiên là rầm rộ hơn bao giờ hết, dân chúng Đông Kinh ào hết ra đường, hàng ngàn hàng vạn người đổ xô đi xem kiệu liễn nghi trượng.

Ngày kế, Thập Tam Đoàn Luyện dẫn nàng dâu hồi cung phục diện bái môn, tôn thất ngoại thích cũng ai dắt gia quyến nhà người đó vào cung ăn mừng.

Hoàng hậu ngồi trong thủy tạ ở Hậu uyển tiếp kiến ngoại thích, trước ngự tọa buông bức mành châu, mẹ con Miêu chiêu dung ngồi sau mành bên cạnh hoàng hậu.

Bởi có câu kén rể của kim thượng nên ta để ý đến cha con Tào Dật nhiều hơn cả.

Tuy Tào Dật là em trai ruột của hoàng hậu, song hoàng hậu cũng không đối xử gì đặc biệt với ông, vẫn cách một bức mành châu, khoảng cách giữa hai người chừng ngoài hai trượng, lời nói cũng chẳng phải hỏi han ân cần.

Hoàng hậu hỏi, Tào Dật đứng bên ngoài trả lời, thái độ ông nhã nhặn, giọng không lớn nhưng nhấn chữ rõ ràng, người trong ngoài mành đều có thể nghe thấy.

Tào Bình và Tào Dụ đi theo cha, bởi hai cậu con trai còn nhỏ nên hoàng hậu gọi họ vào trong mành, ôn hòa hỏi chuyện bài vở đèn sách, hai cậu đối đáp ung dung, ngôn hành rất có khí chất thế gia.

Miêu chiêu dung một mực quan tâm tới hai vị tiểu công tử, đợi hoàng hậu hỏi xong lại gọi họ tới bên mình, ngắm nghía trái phải, niềm vui thích nhuốm lên đuôi mày, mệnh nội nhân lấy quà tặng đã chuẩn bị từ trước ra đưa cho họ, nhưng bị hoàng hậu cản lại.

Hoàng hậu cười mỉm: "Hai đứa nó là bé trai, cả ngày chạy nhảy nghịch ngợm, cho bọn nó đeo mấy thứ khóa vàng mặt ngọc này chỉ e sẽ bị đánh hỏng, cho hai đứa nó mấy cái kẹo ăn là được rồi."

Ngày sau đó sai người dâng quà thưởng cho hai cháu trai – thực sự là kẹo, hai chiếc kẹo đường sữa hình sư tử, quà này so với trẻ con nhà khác ít ỏi hơn nhiều.

Chiêu dung lại tỉ mỉ hỏi sinh nhật của hai cậu con trai, thấy Tào Bình lớn hơn công chúa hai tháng, bèn bảo công chúa gọi cậu là ca ca.

Công chúa gật đầu, gọi "ca ca", Tào Bình tức thì cúi người thi lễ, trong miệng rất cẩn thận gọi nàng "công chúa".

Công chúa cười cười, lại gọi Tào Dụ là "Tào đệ đệ", Tào Dụ lanh lợi lập tức gọi nàng là "công chúa tỷ tỷ".

Người nghe đều cười, bầu không khí vô cùng hòa thuận, một khắc ấy, ta vốn tưởng rằng nhân duyên công chúa đã được xác định mỹ mãn.

Thập Tam Đoàn Luyện và Cao cô nương bái lạy kim thượng ở tiền điện xong thì qua đây, hoàng hậu giữ họ lại thủy tạ trò chuyện, thấy vẫn còn cách giờ mở tiệc chút thời gian, mà trong số các nội thị theo hầu chung quanh, ta là người gần tuổi với hai vị tiểu công tử nhất, bèn bảo ta dẫn họ vào vườn chơi, giải lao đôi chốc.

Hôm ấy, sân chơi các trò bắn liễu, đánh cầu, gõ viên trong Hậu uyển đều đã được chuẩn bị xong xuôi cho tôn thất quý thích tiêu khiển.

Cờ màu tung bay trong sân gõ viên, hai vị tiểu công tử dừng chân ngó nhìn.

Ta thấy họ có vẻ có hứng thú, bèn gọi người mang vài bộ gậy bóng cao thấp không đồng đều tới cho họ tự chọn rồi vào sân gõ viên.

Thoạt đầu họ chưa chia tổ thi đấu, chỉ tùy ý vung gậy gõ viên, ta lặng lẽ quan sát, phát hiện ra kỹ thuật của họ rất thuần thục, hiển nhiên là thường xuyên chơi trò này.

Lát sau, họ dần cảm thấy không thú vị, bèn hỏi ta có biết chơi không.

Hai năm qua ta đã lục tục chơi kha khá lần, đáp biết, họ liền kiến nghị ta vào sân chia tổ thi đấu với họ.

Ta thấy trong sân chỉ có ba người chúng ta, bèn nói: "Nếu muốn thi đấu thì ít nhất còn cần một người nữa."

"Để ta!"

Đúng lúc này, chợt nghe ngoài sân có người cất tiếng, ta ngoảnh lại nhìn, phát hiện là công chúa.

Nàng không đợi bọn ta trả lời đã chạy vào trong sân, đứng bên cạnh ta, cười với hai công tử họ Tào: "Tào ca ca và Tào đệ đệ một tổ, ta và Hoài Cát một tổ."

Tào Bình hơi do dự, Tào Dụ còn nhỏ tuổi nên không lo nghĩ gì nhiều mà vỗ tay reo hay: "Hóa ra công chúa tỷ tỷ cũng biết chơi gõ viên!"

Công chúa cười với cậu rất tự tin, như thể đã nắm chắc tất cả trong lòng bàn tay, rồi nói với ta: "Chọn gậy bóng cho ta."

Ta nhỏ giọng hỏi nàng: "Công chúa biết chơi trò này?"

Nàng cũng thầm thì: "Huynh có thể dạy ta mà."

Lúc nàng đang dạt dào hứng thú với chuyện gì thì rất khó có thể khuyên nàng từ bỏ.

Lại nghĩ, tuy hai vị công tử họ Tào là con trai nhưng dù sao vẫn còn rất nhỏ tuổi, vả lại chơi trò này không có tiếp xúc thân thể, con gái trong cung thi thoảng cũng chơi, thế nên cuối cùng ta vẫn bằng lòng, đi chọn gậy bóng đưa cho nàng.

Chia tổ thi đấu, nếu một tổ trong ba lượt đánh có thể đánh bóng vào lỗ bóng tương ứng thì được tính là một quả, cuối cùng căn cứ theo số quả vào của mỗi tổ để phân thắng bại.

Biểu hiện ban đầu của công chúa tất nhiên là thảm không nỡ nhìn, gậy đánh xuống căn bản không chạm được tới bóng mà ngược lại, cây cỏ vô tội bên cạnh thì bị xúc mất cả mảng to.

Về sau, tuy đã đánh được tới cầu nhưng nàng mở mắt to hết cỡ cũng chẳng tìm được chỗ cầu rơi đằng trước, bởi vì cầu rơi ra phía sau nàng...

Tình hình như vậy, thi đấu tất nhiên là không cách nào triển khai, thế là ba người chúng ta cùng xúm lại bên nàng, ai nấy đều mở miệng dạy nàng kỹ thuật cơ bản, từ dáng đứng, dáng cầm gậy cho đến động tác vung gậy và góc độ tiếp xúc bề mặt khi đánh bóng, uốn nắn từng cái một.

Cũng may khả năng lĩnh ngộ của công chúa hãy còn được tính là không tệ, chẳng bao lâu sau, đánh bóng đã dần ra dáng hơn.

Vươn cánh tay ra trước, gậy bóng hướng lên trên vai phải, vung xuống, mặt gậy bóng va thẳng vào một bên bóng mã não, sau khi đánh bật bóng ra, gậy bóng thuận thế hất lên, từ phía trên bên trái thu ra sau đầu, phác ra một hình cung lưu loát...

Sau khi làm đúng mọi động tác, công chúa đánh ra một cú hoàn mỹ, quả bóng mã não vút đi như sao băng, rơi vào gần lỗ bóng xa xa.

Chúng ta cùng reo hò khen hay, công chúa sướng rơn, hớn hở chạy qua, một lần nữa dùng tư thế mới rồi vung gậy, động tác nhanh nhẹn tới nỗi ta chẳng kịp nhắc nàng rằng vì bóng cách lỗ rất gần nên lần này căn bản không cần vung gậy, chỉ cần đổi cây gậy khác đẩy vào...

Kết quả, gậy vung ra, quả bóng mã não lại bay vút lên, lướt qua lỗ bóng, phi thẳng ra ngoài sân.

Ta thấy không ổn, nhìn chỗ quả bóng rơi xuống, hẳn là một lối đi cho người qua lại.

Có vẻ như công chúa cũng nhận ra điều ấy, vội chạy về phía đó, ta cũng lập tức đuổi theo kiểm tra.

Nàng chạy tới mép sân trước, nơi đó là một gò đất nhỏ, nàng dừng bước, đứng trên sườn gò nhìn xuống lối đi ngoài sân, như nhìn thấy cái gì, đứng yên bất động.

Ta xách gậy bóng rảo bước qua, dừng lại sau lưng nàng, tầm mắt mau chóng đảo xuống, quả nhiên trông thấy một người dường như bị bóng đánh trúng, đang xoa trán ngơ ngác nhìn lên.

Đó là một thiếu niên tuổi chừng mười ba, mười bốn, vóc dáng không cao nhưng rất cường tráng, gương mặt chất phác như trẻ con nhà nông, da hơi ngăm, hai má đỏ bừng, cặp môi hơi dày lúc này đang mở hờ, ngây ngẩn nhìn chằm chằm công chúa một hồi lâu rồi dời mắt sang ta.

Ta tạm thời chưa đoán ra được thân phận của hắn.

Dáng vẻ hắn khác hẳn kiểu con cái thế gia như hai công tử họ Tào, nhưng trên người lại bận áo bào vải lĩnh đắt tiền in hoa văn hình đứa bé leo trèo, hơn nữa còn vào cung hôm nay, tựa hồ cũng thuộc ngoại thích.

"Công tử, mới rồi quả bóng kia có làm ngài bị thương không?"

Ta hỏi hắn.

Hắn như kiếm chút thì giờ suy nghĩ lời ta, xoa xoa trán thêm mấy cái rồi mới chỉ chỉ mặt đất bên cạnh, lúng túng nói: "Bóng rơi xuống đây rồi bắn lên, đụng vào đầu ta...

Không sao, không sao..."

"Bỏ tay xuống cho ta xem," Công chúa mở miệng, giọng hơi mang ý ra lệnh, "Có chảy máu không? »

Thiếu niên kia lắc đầu, ngoan ngoãn bỏ tay xuống, công chúa rướn người xem xét, yên lòng: "Còn may, chỉ hơi đỏ chút thôi."

Thấy ta cũng thở phào, công chúa không kiêng dè chút nào, cười trỏ vào thiếu niên: "Huynh xem hắn có giống một con thỏ ngốc không."

Bấy giờ ta mới để ý thấy trên đầu thiếu niên kia đội một cái mũ trùm bằng vải bông, bên trên dựng thẳng hai cái cánh nom như khăn chít đầu triều thiên, nhưng bởi làm bằng vải nên trông khá là dày rộng nặng nề, quả thật nom có vài phần giống tai thỏ.

Ta không tiếp lời công chúa mà cúi đầu giải thích sơ lược tình hình gõ viên ban nãy với thiếu niên, cũng thay mặt công chúa xin lỗi, song hắn tựa hồ cũng chẳng mấy quan tâm tới nội dung ta nói, trái lại có vẻ rất hứng thú với gậy bóng trong tay ta, nhìn chăm chú hồi lâu.

Ánh mắt ấy chăm chú tới mức làm ta cũng không khỏi cụp mắt xuống nhìn cây gậy.

Phần dưới gậy bóng cong thành hình móc câu, nhìn tổng thể khá giống một cái muôi cán dài, trên gậy đính đồ trang trí bằng vàng dọc theo thân, trên chóp điểm một món trang sức bằng ngọc, rất bắt mắt.

Thiếu niên kia lẳng lặng quan sát hai anh em họ Tào và ta mấy lượt, lại nhìn sang công chúa, do dự.

Hắn đứng ngay đầu gió lùa, bị gió thổi hồi lâu, không kìm được hắt hơi một cái, bắn ra chút nước mũi xanh xanh, hắn lập tức giơ tay bịt mũi, dùng mu bàn tay lau nước mũi đi.

Công chúa khẽ nhíu mày.

Đúng lúc này, có nội thị hớt hải chạy tới, nói với thiếu niên: "Lý công tử, thì ra cậu ở đây!

Lý phu nhân đang tìm cậu khắp nơi, muốn dẫn cậu đi gặp hoàng hậu và Miêu nương tử..."

Thiếu niên "à" một tiếng rồi bị nội thị dẫn đi, hãy còn lưu luyến không thôi, đi một bước lại ngoảnh đầu lại.

Công chúa xoay người, nói với bọn ta: "Đừng để ý tới hắn nữa, chúng ta chơi bóng tiếp đi."

Tào Bình rất có phong độ, hoàn toàn bỏ qua lạc thú vui chơi của mình, một lòng dạy công chúa gõ viên, bởi vậy tâm trạng của công chúa rất tốt, cho đến tận lúc tiệc tối khai màn, còn liên tiếp quay về phía Tào Bình, cười chúm chím.

Nhưng lúc này, vẻ mặt Miêu chiêu dung lại khác hẳn ban ngày, thần sắc ảm đạm, mặc cho trên tiệc ca múa thanh bình, linh đình ăn uống, bà vẫn chẳng mảy may hé một nét cười, một mực cúi đầu, cũng không có lòng dạ nào nhìn đến công tử Tào thị.

Tiệc tan trở lại Nghi Phượng Các, Miêu chiêu dung bảo nội nhân đưa công chúa trở về phòng, bản thân thì bần thần ngồi trong sảnh.

Hàn thị thấy sắc mặt bà không bình thường, bèn dè dặt hỏi: "Nương tử vì sao không vui ạ?"

Nghe thấy câu này, nước mắt Miêu chiêu dung lập tức tuôn ra như nước vỡ đê: "Ta còn có thể vui được ư?

Quan gia muốn gả công chúa cho nhà tay cậu bán vàng mã!"

Ta đứng bên cạnh nghe thấy cũng sửng sốt khôn tả, hoàn toàn không ngờ kết quả sẽ như vậy.

"Tay cậu bán vàng mã" là chỉ Lý Dụng Hòa, em trai mẹ đẻ kim thượng, Chương Ý hoàng thái hậu Lý thị.

Kim thượng là do Chương Hiến Minh Túc hoàng thái hậu Lưu thị và Chương Huệ hoàng thái hậu Dương thị nuôi nấng, song mẹ đẻ thì lại là thị nữ Lý thị của Lưu thái hậu.

Năm đó khi Lưu thái hậu là tần ngự của vua Chân Tông, được sủng ái nhất lục cung song mãi mà chẳng có con.

Có lần Chân Tông ngẫu nhiên tới chỗ Lưu thị, thấy Lý thị thanh tú xinh đẹp, nước da trắng nõn, bèn lệnh cho thị tẩm, Lý thị nhờ vậy mang thai, sinh hạ hoàng tử.

Lưu thị ôm con Lý thị về nuôi nấng, tuyên bố với bên ngoài là mình sinh, Lý thị cũng chẳng giành giật danh phận, lặng lẽ đứng giữa tần ngự, ngậm miệng giữ kín bí mật này, cho đến khi lâm chung cũng chẳng nhận biết kim thượng.

Lúc Lý thị bệnh tình nguy kịch, Lưu thái hậu đã gợi ý kim thượng phong hiệu làm Thần phi.

Năm Lý thị vào cung, em trai Lý Dụng Hòa mới bảy tuổi, về sau trưởng thành sống trong cảnh nghèo khó, lấy nghề in tiền vàng mã làm nghiệp ở kinh sư, đó là một trong những nghề thấp kém bị người đời khinh bỉ.

Sau nữa, Lưu thái hậu phái người xuống dân gian tìm ông ta, thưởng cho ông ta một chức quan nhỏ.

Đến tận khi Lưu thái hậu qua đời, Yến vương mới nói cho kim thượng hay chân tướng về mẹ ruột.

Kim thượng buồn bã ủ rũ mất mấy ngày không lên triều, trong cơn bi thương tự trách đã truy tôn Lý thị làm hoàng thái hậu, đồng thời ban thưởng hậu hĩnh cho Lý Dụng Hòa, nhờ đó mà ông ta thăng quan tiến tước.

Hiện giờ, quan hàm Lý Dụng Hòa đang là Chương Tín tiết độ sứ, đồng bình chương sự (*), tuy chỉ là chức hão, không có thực quyền, song bổng lộc và đãi ngộ nhận được thì không thua tể tướng, đủ để thấy kim thượng đối đãi với Lý thị hậu đến nhường nào, chiếm vị trí bậc nhất trong ngoại thích.

(*) Là chức quan nắm giữ hai tỉnh Trung thư và Môn hạ (trung tâm xử lý chính vụ) trên danh nghĩa, thực tế là do tể tướng quản lý.

Tuy nhiên, sự cao quý của ngự tứ vẫn chẳng hề thăng cấp cho địa vị của Lý quốc cữu trong lòng cung nhân.

Rất nhiều người khi bàn riêng về ông ta vẫn sẽ gọi ông là kẻ bán vàng mã, mỗi lần nói đến chuyện ông "đột nhiên phú quý" đều dùng giọng khinh bỉ.

Ông và phu nhân vào cung thường có một vài lời nói cử chỉ không phù hợp, rất hay bị cung nhân chê trách.

"Hôm nay quan gia lệnh Lý quốc cữu và phu nhân mang nhị công tử nhà ông ta tới, dẫn vào trong mành gặp hoàng hậu và ta."

Miêu chiêu dung vừa lau nước mắt vừa bực bội nói với Hàn thị, "Thằng bé đó mười ba tuổi, trông ngớ nga ngớ ngẩn.

Hoàng hậu hỏi nó hiện giờ đang đọc sách gì, nó đáp 'Thiên tự văn' trước, ngẫm nghĩ một lát rồi lại bảo đang xem 'Hiếu kinh'.

Nói năng chậm rì rì, quan gia nghe xong lại yêu thích, còn khen nó 'ứng đối ung dung', hết ban tọa cho nó lại thưởng nó đồ ăn, nó quỳ xuống bái tạ, quan gia lại khen nó hiểu chuyện, bảo nó 'cử chỉ đáng xem'.

Ta thấy trên trán nó sưng đỏ một vết, hỏi xảy ra chuyện gì, nó nói là lúc tản bộ trong Hậu uyển đâm phải cây hòe..."

Hàn thị nghe xong ngạc nhiên thốt: "Đi đường cũng đâm vào cây được?

Thằng bé này thật đúng là ngốc nghếch."

Miêu chiêu dung càng thêm ấm ức, kể tiếp: "Quan gia bảo nó lui đi rồi hỏi ta thấy Lý Vĩ thế nào, ta nghĩ, thằng bé nó ngây ngô như vậy mà còn lớn được đến tuổi này cũng chẳng dễ dàng, nên nói vài lời tốt đẹp thì hơn, bèn cười với quan gia khen nó mấy câu, nào ngờ quan lại mừng rỡ nói: 'Nàng cũng thích nó à.

Vậy thì vừa khéo, ta đang định chọn nó làm phò mã, gả Huy Nhu cho nó đây.'"

Hàn thị lắc đầu thở dài: "Trời ạ, quan gia ngàn chọn vạn chọn, cuối cùng lại đi chọn người gia thế người ngợm như thế...

Hoàng hậu cũng có ý này?"

Miêu chiêu dung đáp: "Ban đầu ta còn tưởng là quan gia nói đùa, hỏi đi hỏi lại ngài, ngài lại nghiêm nghị xác thực có ý đó.

Khoảnh khắc ấy, đến hoàng hậu cũng phải ngẩn người.

Ta nghĩ chị ấy cũng không quá bằng lòng, nhưng xem quan gia nghiêm túc thế, ai dám hó hé thêm câu nào nữa?"

Thoáng dừng lại, chiêu dung lại bắt đầu nghẹn ngào, "Ta nghe chuyện này mà trong lòng bức bối quá thể, trên tiệc lại hết lần này tới lần khác nghe thấy tiếng phu nhân Lý quốc cữu khoác lác ba hoa, hớn ha hớn hở khoe với Tào phu nhân nhà mẹ đẻ mình năm nay làm ăn kiếm được bao nhiêu tiền.

Tào phu nhân hàm dưỡng tốt nên chỉ mỉm cười.

Cơ mà, trời ơi là trời, cứ nghĩ tới phu nhân quốc cữu là bà thông gia tương lai của ta, ta thực sự chỉ muốn đập đầu đầu tự tử ngay trên điện cho rồi!"

Hàn thị cũng thở vắn than dài, rơi lệ cùng Miêu chiêu dung, lát sau, lại tràn ngập hi vọng nói: "Có lẽ quan gia chỉ nhất thời nổi hứng nói vậy thôi, đợi mấy ngày tới khôi phục lại tinh thần sẽ không nhắc lại chuyện này nữa."

Có thể, qua mấy ngày nữa sẽ không ai nhắc lại chuyện này.

Ta cũng hi vọng như vậy.

Lý Vĩ tuyệt đối không xứng đôi với công chúa.

Ta có kết luận này không phải là vì xem thường dòng dõi Lý thị.

Qua lời Miêu chiêu dung, có thể đoán được Lý Vĩ là cậu thiếu niên bị bóng mã não của công chúa đánh trúng kia, họ không thích hợp, sớm đã biểu hiện ở cái chau mày thoáng qua của công chúa.

Bởi vậy nên, hiện giờ chỉ có thể hi vọng đây chẳng qua là câu bông lơn nhất thời của kim thượng.

Thế nhưng, ngày bính tử (*) tháng Năm năm ấy, cái bọn ta đợi được lại là ý chỉ của kim thượng: phong đông đầu cung phụng quan Lý Vĩ làm tả vệ tướng quân, phò mã đô úy, kén làm rể hiền cho Phúc Khang công chúa.

(*) Bính là một can trong can chi, đứng thứ mười ba nên ngày bính tử là ngày mười ba trong tháng.

Phản ứng của cung nhân đúng như dự liệu.

"Bọn họ cười thầm nói, sau này trong hậu cung mà làm lễ cúng thì khỏi cần phải sai người đi mua vàng mã nữa rồi, nhà Lý phò mã khắc sẽ cung ứng."

Có lần Miêu chiêu dung khóc lóc kể với kim thượng, "Thiếp không nghĩ ra nổi vì sao quan gia lại chọn cậu con rể này, trong khi đại công tử nhà Tà lang tài mạo song toàn, tuổi tác lại tương xứng với công chúa..."

Khi đó kim thượng tự bày một ván cờ, đương ngồi một mình xem xét, nghe Miêu chiêu dung nói vậy, ngài dùng hai ngón tay kẹp một quân cờ lên, chầm chậm hạ xuống bàn cờ.

"Nàng nhất định muốn ngoại thích trong thiên hạ đều phải mang họ Tào à?"

Ngài dửng dưng buông lời.

6.

Điền từ

Trước đây, mỗi lần kim thượng trực tiếp tuyên bố ý chỉ gì mà không qua thương nghị cùng chư thần, thế nào cũng sẽ có người phản đối.

Chúng thần thường sẽ chia ra làm hai phái, một phái tán thành, một phái phản đối.

Cũng có tình huống khác – hai phái cùng phản đối.

Tuy nhiên, trong vấn đề chọn phò mã này, thái độ của chư thần lại bất ngờ nhất trí chưa từng có, hầu như tất cả mọi người đều dứt khoát tỏ vẻ bệ hạ anh minh, đã ra quyết định chính xác nhất.

Đám gián thần trước kia quen thói dâng sớ chỉ trích kim thượng bước đi sai lầm cũng nhao nhao viết tấu ca ngợi, nói bệ hạ chọn Lý Vĩ kết duyên cùng công chúa, tôn vinh nhà cậu, là đền đáp công ơn dưỡng dục của hoàng thái hậu, "Thiên hạ nghe thấy, không ai là không thương cảm, bảo nhau phải biết làm tròn chữ hiếu".

Bởi vậy mà thái độ của kim thượng đối với mối hôn sự này càng thêm kiên định, không cho hậu cung xía vào, nhưng, có lẽ là để trấn an chiêu dung, ngài nâng bà lên làm vị thục nghi chính nhị phẩm thứ ba, không bao lâu sau, còn thăng chị em tốt Du tiệp dư của bà lên làm sung nghi.

Công chúa đương nhiên đã biết phụ thân đã chọn xong phò mã cho mình, nhưng trước mặt nàng, mọi người sẽ không nói đến khuyết điểm của Lý Vĩ, ta cũng không cho nàng hay Lý Vĩ chính là "con thỏ ngốc" nàng gặp ngày ấy.

Hơn nữa, bấy giờ nàng còn chưa hiểu rõ lắm khái niệm hôn nhân, tựa hồ cảm thấy phò mã chỉ là người quản lý sự vụ trong dinh thự ngoài cung của nàng về sau.

Thế nên, "Tỷ tỷ, lúc con ra ngoài, người có thể xuất cung sống cùng con không?"

Nàng hỏi mẫu thân, đây là vấn đề nàng quan tâm nhất.

Miêu thục nghi buồn rầu nói: "Không được.

Tỷ tỷ là nương tử của cha con, không thể ra sống ngoài cung."

Thấy công chúa thất vọng hết sức, bà lại mỉm cười ôm công chúa vào lòng, an ủi: "Cơ mà, vú nuôi và bọn Gia Khánh Tử, Tiếu Diệp Nhi của con đều có thể theo con ra ngoài, cuộc sống của con sẽ không có thay đổi gì quá lớn."

"Hoài Cát cũng có thể đi theo con chứ ạ?"

Công chúa hỏi.

Miêu thục nghi sửng sốt, nhưng ngay sau đó lại cười: "Ừ, đương nhiên, Hoài Cát đương nhiên là có thể theo con rồi."

Công chúa yên lòng hí hửng, tựa vào lòng mẫu thân ngẫm nghĩ chốc lát, hỏi tiếp: "Thế con còn được ở lại bên tỷ tỷ bao lâu ạ?"

Miêu thục nghi cũng không biết chắc câu trả lời cho câu hỏi này: "Cái này phải xem ý cha con thế nào...

Đợi đến khi con lớn lên đã."

Công chúa lại hỏi: "Bao tuổi thì được coi là lớn ạ?"

Miêu thục nghi đáp: "Chừng mười lăm, mười sáu."

"Vậy đến năm con mười lăm mười sáu nhất định phải ra ngoài ngay ạ?"

"Không nhất định, nếu cha con bằng lòng giữ con thì có thể ở lại thêm một khoảng thời gian nữa."

Miêu thục nghi vuốt ve hai má con gái, thở dài: "Nhưng mà muộn nhất không thể quá hai mươi...

Qua hai mươi là bỏ lỡ hôn kỳ, thành gái lỡ thì rồi."

"Hai mươi..."

Công chúa tính số thời gian mình còn có thể ở lại bên mẫu thân, kết luận làm nàng hài lòng nở nụ cười: "Vậy còn mười năm nữa, dài lắm, từng ấy thời gian cũng đủ để con sống lại thêm lần nữa kia mà."

Thời gian lâu dần, ít nhiều cũng có vài lời đàm tiếu về phò mã truyền vào tai nàng, thỉnh thoảng, nàng cũng hơi sầu lo.

"Nghe nói dung mạo Lý Vĩ không đẹp, còn rất ngốc nữa."

Nàng nói với ta.

Nhắc đến phò mã đô úy phụ thân chọn cho mình, nàng vẫn luôn gọi thẳng tên không chút kiêng kỵ, "Mười ba tuổi rồi mà vẫn còn đang học 'Thiên tự văn', ngốc chết đi được!"

Ta hi vọng nàng nghĩ tích cực hơn: "Phò mã bây giờ chắc chắn đã học sang rất nhiều sách vở khác nữa rồi."

Nàng tỏ vẻ tương lai không dung chứa lạc quan: "Cứ coi như hắn đã hì hục thuộc xong 'Thiên tự văn' rồi đi, hãy còn cả đống kinh thư Khổng Mạnh đang chờ hắn gặm đấy.

Đầu óc hắn như thế, nói sao cũng phải học mất hai, ba mươi năm!"

Lật giở mấy quyển văn chương thi tập ta tìm về cho nàng xem, lướt mắt qua những câu tuyệt cú của các đại danh sĩ đương triều Án Thù, Phạm Trọng Yêm, Âu Dương Tu, Tô Thuấn Khâm, Mai Nghiêu Thần trong sách, nàng thở dài rất ư phiền muộn: "Chỉ tính kinh thư thôi đã đủ làm hắn chật vật rồi, khẳng định là chẳng có thời gian mà học đến thi phú...

Chắc chắn là không thể ngâm thơ điền từ với ta được rồi."

Ta không khỏi bật cười.

Nàng nói câu cuối vô cùng nghiêm túc mà vào tai ta thì quả tình là rất khôi hài.

Nàng biết nguyên nhân ta cười, trừng ta: "Huynh cười ta không biết ngâm thơ điền từ đúng không?"

"Nào có," Ta đáp trái lương tâm, "Công chúa thi từ song tuyệt."

Đoán chừng vẻ mặt ta không được thành khẩn cho lắm, nàng quyết tâm tỷ thí với ta: "Huynh ra đề cho ta đi, ta làm ngay bây giờ cho huynh xem."

Ta thấy nàng hứng thú dạt dào, cũng bèn tuân mệnh, chọn một tên điệu đơn giản cho nàng: "Vậy mời công chúa viết một bài 'Ức Giang Nam' nhé (*).

Không cần phải viết cả bài, thần làm câu đầu tiên, công chúa đối tiếp hai, ba câu là được."

(*) Tên điệu là tên quy cách của từ, quy cách từ khác với luật thơ, thơ có bốn kiểu quy cách mà từ thì có tổng cộng hơn một ngàn kiểu (gọi là từ phổ), để cho dễ nhớ, người ta đặt tên cho những quy cách này, thường là theo bài từ kinh điển đại diện cho kiểu quy cách; "Ức Giang Nam" là "Nhớ Giang Nam", lấy tên theo .

Các bản dịch thi từ trong truyện sẽ không hoàn toàn đúng luật bằng trắc, xin hãy thông cảm cho con dịch giả ngôn ngữ nghèo nàn, thơ thẩn không tinh này.

Nàng gật đầu bằng lòng.

Ta thấy nàng lúc này đang mặc một chiếc áo đơn bằng la nhẹ màu hồng, bèn tùy ý ngẩng đầu xướng: "Áo đơn mỏng...

Câu tiếp theo công chúa có thể tự chọn vần chân (*)."

(*) Vân chân là vần ở cuối câu thơ.

"Áo đơn mỏng..."

Nàng rì rầm nhắc lại, sau đó bấm ngón tay đếm đếm gì đó, lúc lúc lại nhìn lên trên, miệng lẩm bẩm.

Ta trông mà lấy làm lạ, bèn hỏi nàng: "Công chúa đang đếm gì đấy?"

"Đừng quấy rầy!"

Công chúa bất mãn ta cắt đứt mạch suy nghĩ của mình, "Ta đang kiểm tra bằng trắc câu dưới."

Thời gian chờ đợi rất dài, ta nhàn đến không biết làm gì khác, chỉ đành ngồi xuống, bắt đầu nấu nước châm trà.

"Có rồi!"

Lúc nước trong ấm bạc nổi chuỗi bong bóng mắt cá đầu tiên, nàng rốt cuộc cũng nghĩ ra một câu: "Tay áo ôm chăn lạnh...

Áo đơn mỏng, tay áo ôm chăn lạnh...

Thế nào?"

Ấm bạc rung lên, tiếng nghe như mưa gió thoảng qua.

Ta vừa nhấc ấm ra để nướng chén, làm nóng chén trà, vừa trả lời đúng sự thật: "Chỉ là niêm luật không tệ mà thôi."

"Chỉ không tệ mà thôi?"

Ánh mắt nàng tối xuống.

Ngẫm nghĩ đôi chốc, vẫn khăng khăng đòi ta phải khen nàng, "Huynh thường nói với ta làm thi từ phải phát ra từ cảm xúc, ta phát ra từ cảm xúc thật mà.

Hai câu này là ta chỉ buổi đêm lạnh lẽo lần trước hai ta trò chuyện dưới mái hiên, ta chỉ mặc áo trong, lạnh đến ôm chăn..."

Ta bỏ vụn trà xay vào trong chén, nghe nàng nhắc tới chuyện cũ, trong lòng rung động, động tác thoáng khựng lại, ngữ điệu nói với nàng mềm dịu hơn đôi chút: "Được rồi, câu này rất hay."

Nàng cười hí hửng: "Câu tiếp theo ta cũng nghĩ xong rồi...

Gác ngọc cột gió thơm quyến luyến.

Huynh đối tiếp câu này đi."

Ta rót nước nóng vào chén, đặt ấm lại lò đun trà rồi ước lượng vừa đủ lượng trà vụn, trong lúc đó nhớ đến mảnh trăng thượng huyền, nghĩ ra một câu: "Trăng bạc vờn sương bóng nao nao."

Dứt lời, kiến nghị công chúa: "Câu cuối cùng chỉ có năm chữ, công chúa đối đi."

Nàng cũng ưng thuận, cụp mi trầm ngâm.

Rất nhanh sau đó, hơi nước bốc lên từ ấm đun, chuỗi bong bóng mắt cá bắn tung tóe, chính lúc này, nàng một lần nữa mở to mắt nhìn ta chằm chằm, tủm tỉm cười muốn mở miệng.

Ta nhanh chóng dậy lên cảm giác hoài nghi sâu sắc với câu nàng sắp đối, chặn lời nàng nói trước: "Công chúa nghĩ ra thật rồi à?

Câu cuối mặc dù ngắn nhưng lại là nét bút vẽ rồng điểm mắt của 'Ức Giang Nam', nhất định phải lời ít ý đủ mới được."

Nàng gật đầu lia lịa: "Đủ mà, đủ lắm luôn.

Câu này của ta hoàn toàn có thể khái quát trọn tinh hoa đêm đó.

So với câu này thì mấy câu trước chỉ toàn là nói nhảm."

Ta nhấc ấm cầm lấy chổi đánh, chuẩn bị rót nước đánh tan vụn trà, nghe nàng nói thế bèn thuận miệng đáp: "Nếu đã vậy, thần xin dỏng tai lắng nghe."

"Gác ngọc cột gió thơm quyến luyến, trăng bạc vờn sương bóng nao nao..."

Thoạt tiên nàng lặp lại hai câu trước lấy ngữ cảm, tiếp đó dương dương đắc ý công bố nét bút vẽ rồng điểm mắt sau cùng của mình: "Dưới hiên khoai sọ tròn!"

Tay run lên, nước rót từ ấm vãi ra đôi giọt, ta buồn cười, dứt khoát buông trà cụ, phá ra cười.

Thấy ta phản ứng vậy, nàng dẩu miệng nhíu mày vẻ giận dỗi, đập bàn mắng: "To gan!

Huynh dám cười nhạo công chúa?

Hôm đó ta nhớ nhất là khoai sọ, viết vào từ có gì không đúng!"

Ta cười hồi lâu rồi mới miễn cưỡng nín xuống, đứng lên khom lưng xá công chúa, làm bộ nghiêm túc, nói: "Thần không dám cười nhạo công chúa, chẳng qua là cảm thấy khoai sọ không được tròn cho lắm thôi ạ."

"Không phải là để gieo vần sao..."

Nàng giải thích, hãy còn đang cần mẫn suy nghĩ, "Hay là ta đổi chữ khác...

Còn chữ nào phối được với khoai sọ nhỉ?"

Nàng nhìn ta, cẩn thận thăm dò, "Ngọt? ...

Mặn? ...

Chua?"

Cưỡng ép mình kiềm chế ý cười chỉ chực trào lên, ta nghiêm trang đáp: "Bẩm công chúa, nếu khoai sọ tròn và khoai sọ chua không thể gộp chung thì thần thà bỏ khoai sọ chua lấy khoai sọ tròn còn hơn."

Công chúa mừng rơn: "Ta đã bảo rồi mà, hạ bút thành văn là tốt nhất."

Tuy rằng cơ hồ muốn bất tỉnh, song ta vẫn gắng hết sức cầm cự, cúi người nói với nàng: "Thần còn một chuyện nữa muốn khởi bẩm, mong công chúa chuẩn tấu."

Nàng rất chi là hào phóng vung tay: "Nói đi."

"Thần...muốn cười..."

Ba chữ vừa bật ra, ta đã ngồi sụp xuống, dựa bàn cười sằng sặc.

Nàng như phát cáu, nhào tới đánh ta, nhưng chỉ đập mấy cái không nhẹ không nặng rồi chính mình cũng không nhịn được phì cười, kéo ống tay áo ta che mặt, cười khúc khích không ngừng.

Mỗi ngày đều nhìn nàng nói cười rạng ngời như thế, chỉ cảm giác thời gian bịn rịn, năm tháng tươi đẹp, cuộc sống không biết buồn lo này như có thể kéo dài đến vô tận.

Đôi lúc ta cũng sẽ nghĩ tới chuyện nàng đã lập hôn ước, nghĩ tới ngày nàng xuất giá có khả năng sẽ là điểm kết cho cuộc sống tốt đẹp này, nhưng khi ấy ta cũng như nàng, cảm thấy mười năm dài đằng đãng, dài như thể ngày đó sẽ không bao giờ đến.

7.

Phi bạch

Kể từ khi công chúa đính hôn, mỗi dịp lễ tết, ngoài lệ thưởng trong cung ra, Miêu thục nghi và nhà Lý quốc cữu còn muốn tặng quà qua lại lẫn nhau.

Cuối năm Khánh Lịch thứ bảy, Miêu thục nghi thấy ta đã lớn, lại là người cung phụng bên công chúa, bèn giao nhiệm vụ đưa quà đến nhà phò mã vào mồng một Tết cho ta.

Tuy đã có duyên gặp mặt một lần, song phò mã Lý Vĩ thấy ta cũng không nói năng gì nhiều, vẫn rất im lặng.

Quốc cữu không khỏe, nghỉ ngơi trong nhà, nhưng quốc cữu phu nhân Dương thị thì lại khá nhiệt tình, sai người rót trà cho ta, bản thân thì ngồi xuống đối diện ta hỏi ngắn han dài, sau khi quan sát ta hồi lâu, lại cười nói: "Lương cao ban thật đúng là nhân tài, nếu không nói ra, ai mà nhìn ra được là một tiểu hoàng môn chứ?"

Ta dở khóc dở cười, chỉ có thể coi như bà đang khen mình, nán lại đôi chốc rồi đứng dậy cáo từ, vội vã rời khỏi phủ họ Lý.

Thấy sắc trời còn sớm, ta bèn dò theo địa chỉ hỏi được lần trước của Thôi Bạch, đi tìm.

Vốn không trông mong có thể tìm được gã, định bụng ghi nhớ vị trí nơi ở của gã rồi sau này có cơ hội thì quay lại sau, chẳng ngờ vừa mới tới trước cổng, cổng đã đột ngột mở ra từ bên trong, một người sải bước đi ra, áo bào rộng tay áo dài, đầu chít khăn, chính là Thôi Bạch.

Chúng ta bất ngờ gặp lại, đều mừng vui khôn xiết.

Gã vội mời ta vào, hai bên hàn huyên mấy câu, rồi gã lại lấy tác phẩm vẽ gần đây ra, trải từng bức cho ta xem, nói: "Mấy năm nay gửi gắm tình cảm vào non nước, cũng có điều tâm đắc, nếu không phải tiêu hết lộ phí thì chỉ e lúc này còn chưa về nhà."

Ta nghĩ đến chuyện Thu Hòa, lo rằng Thôi Bạch đã có gia đình, bèn cố ý hỏi thăm: "Tử Tây du ngoạn thiên hạ, chị dâu một mình ở lại trông nhà hay đi cùng huynh?"

Thôi Bạch cười to: "Nhà tôi làm gì có chị dâu nào, chỉ có một trúc phu nhân thôi!"

Ta nghe vậy cúi đầu cười.

Trúc phu nhân là dụng cụ giường chiếu mùa hè, lấy trúc xanh tước nhỏ hoặc cả đoạn trúc làm thành, thường có hình trụ tròn, dùng để ôm ngủ lấy mát.

Thôi Bạch nói vậy chứng tỏ chưa thành gia.

"Tôi đã sớm có ý định đi khắp thiên hạ, thời gian mấy năm nay đều tiêu tốn hết trên đường, mãi gần đây mới quay về nên đến nay vẫn chưa lấy vợ."

Ngay sau đó, Thôi Bạch giải thích.

Ta lại hỏi gã đã có hôn ước chưa, gã nói chưa, ta lập tức yên lòng, đề cập tới Thu Hòa, hỏi gã trước đây tặng Thu phố dung tân đồ cho Thu Hòa có phải là có ý với cô.

Thôi Bạch cũng thản nhiên thừa nhận: "Trước kia tặng em bức họa ấy thật sự là để tỏ ý mến thương.

Nhưng về sau nghĩ lại, lại cảm thấy hành động này thật lỗ mãng.

Tôi chỉ là hạng áo vải quần đay, chẳng có gia thế dòng dõi quyền cao lộc hậu gì tương xứng, em lại thân tại thâm cung, vốn không dám mong mỏi kết duyên kiếp này, chỉ mong em không vì ý "trao nhạn" mà cảm thấy tôi mạo phạm, để bức tranh kia được làm bạn bên em, đối với tôi đã đủ mãn nguyện rồi."

Ta thuật lại chi tiết cho gã nghe chuyện Thu Hòa được đế hậu sủng ái, lấy được một lời chấp thuận của kim thượng rồi hỏi Thôi Bạch có muốn lấy cô làm vợ không, Thôi Bạch mừng rỡ không thôi, "Nếu Đổng cô nương không chê tôi khuyết thiếu công danh, nhà tranh thanh bần thì sau khi em xuất cung, tôi nhất định sẽ tam môi lục sính đón em vào cửa."

Ta mỉm cười nói Thu Hòa không hề xét nét vật ngoại thân, Thôi Bạch càng thêm hoan hỉ, lấy bút mực ra, lập tức thảo thiếp ướm lời chuẩn bị trước khi ăn hỏi cưới vợ, viết tên húy ba đời và ngày sinh tháng đẻ của mình vào, ủy thác ta chuyển cho Thu Hòa.

Trở lại cung, ta nhanh chóng đi tìm Thu Hòa, chuyển cáo câu trả lời của Thôi Bạch, đưa thiếp ướm lời cho cô.

Thu Hòa cười rạng rỡ, liên thanh cảm ơn, lại chợt lo lắng: "Nhưng mà, cứ đột ngột nói với quan gia tôi muốn xuất cung như vậy, ngài sẽ bằng lòng sao?"

Ta nghĩ ngợi, kiến nghị cô nói với hoàng hậu trước: "Cô hầu hạ bên hoàng hậu đã lâu, bà cũng rất thích cô, nhất định sẽ suy nghĩ cho cô.

Cô hãy thương lượng với bà, xin bà nói với quan gia."

Thu Hòa làm theo.

Hai hôm sau, cô tới tìm ta, bước chân khoan khoái, thần thái sáng láng, hiển nhiên sự tình tiến triển rất thuận lợi.

"Tôi thử thăm dò nói với hoàng hậu rằng tôi muốn xuất cung," Cô đỏ mặt nói với ta, "Bà vô cùng kinh ngạc, nói tôi còn quá nhỏ tuổi, có phải trong nhà xảy ra chuyện gì nên mới vội vã trở về không.

Tôi đáp không phải, sau đó bà lập tức đoán ra, bình lui mọi người, hỏi tôi có phải là...có ý trung nhân..."

"Cô thừa nhận?"

Ta hỏi cô, nếu chẳng phải thấy tâm trạng cô hiện giờ rất tốt thì hẳn đã lo lắng hậu quả thay cô rồi.

Không cần nghe cô trả lời đã suy ra được, cô chưa từng biết nói dối, sớm muộn gì cũng thừa nhận.

Thu Hòa thỏ thẻ: "Tôi chỉ cúi đầu thôi, xấu hổ đến độ hận không thể chui xuống đất.

Hoàng hậu an ủi tôi, nói không sao, có chuyện gì thì nói cho bà biết, bà sẽ gắng hết sức giúp tôi.

Tôi bèn đứt quãng nói chút ít, thì ra bà cũng biết Thôi Bạch, vừa nghe đến đã cả cười, nói: 'Ấy quả thật người tài hoa, kể cũng xứng đôi với ngươi'."

Đáy lòng ta vẫn có phần thấp thỏm: "Biết cô có qua lại với Tử Tây, hoàng hậu có nói gì thêm không?"

Thu Hòa lắc đầu, kể tiếp: "Sau nữa, bà im lặng một lúc lâu, chẳng biết là nghĩ gì.

Tiếp đó, lúc nhìn tới tôi lần nữa thì mỉm cười, nói: 'Thế gian hiếm có nhất là vừa trong lòng có nhau vừa tâm không khúc mắc.

Ngươi là đứa bé ngoan, ta sẽ thành toàn cho ngươi.'"

Nghe xong, ta thở phào nhẹ nhõm thay cô: "Đã nói thế thì có nghĩa bà đồng ý cho cô xuất cung rồi?"

"Đồng ý, chỉ là không phải bây giờ."

Thu Hòa nói, "Hoàng hậu bảo vì tôi còn chưa đến tuổi cung nữ xuất cung, trong nhà lại không có đại sự gì, nếu bây giờ chỉ cho mỗi mình tôi xuất cung sẽ là phá quy định, trong cung tất có lời đồn đãi.

Không bằng đợi đến tiết Càn Nguyên (*) sang năm, quan gia vốn định cho một nhóm cung nhân nữa xuất cung nhân dịp ấy, bà sẽ giải thích rõ với quan gia trước đó, nhắc lại với ngài lời chấp thuận khi xưa, xin ngài xếp tên tôi vào danh sách những người rời cung."

(*) Tiết Càn Nguyên chỉ sinh nhật của hoàng đế đương triều, không cố định.

Tiết Càn Nguyên tức ngày mười bốn tháng Tư, sinh nhật của kim thượng, cách thời điểm hiện tại không đến năm tháng.

Năm nay đã sắp qua hết, hơn nữa ngày này hẳn là không có gì đáng lo ngại.

Ta chúc mừng Thu Hòa, cảm thấy hôn sự của cô đã đâu vào đấy, ta cũng nhẹ nhõm sung sướng như vơi bớt nỗi lòng, điều cần làm bây giờ chỉ là thừa dịp đưa quà tết Nguyên Tiêu đến nhà phò mã truyền tin cho Thôi Bạch thôi.

"Hoài Cát, ngoài cung trông như thế nào?"

Thu Hòa bỗng ngậm cười hỏi ta, lại nói: "Năm bốn tuổi tôi đã vào cung, ngoài những lúc rời cung đi tới mấy lâm viên, xem được vài cảnh tường đỏ cây xanh sau mành che xe liễn ra, tôi hoàn toàn không biết thành thị hiệu buôn Đông Kinh rốt cuộc trông như thế nào."

Ta nhất thời không biết nên bắt đầu kể từ đâu, cũng không muốn nói cô biết chuyến ra ngoài cung của ta trước đó kỳ thực chẳng khác nào mộng du.

Những cảnh phố phường dân tục, nhân gian phồn hoa ấy tựa một cuộn tranh trường thiên, ta nhìn trong mắt mà cảm giác linh hồn mình du đãng bên ngoài như không cách nào dung nhập được vào đó nữa.

"Xuất cung rồi cô tự đi xem là được mà."

Cuối cùng, ta trả lời như vậy, "

Sau này có Tử Tây ở bên cô, cô muốn đi đâu cũng chẳng khó khăn."

Tết Nguyên Tiêu mười lăm tháng Giêng hằng năm, buổi tối ở Đông Kinh luôn đặc biệt náo nhiệt, vua Thái Tông từng hạ chiếu đốt đèn năm đêm trước sau lễ tết, đến giờ, thời gian đốt đèn đã vượt xa năm đêm, từ đầu tháng Giêng, chợ đèn hoa ngoài Đông Hoa Môn đã bắt đầu chuẩn bị, đèn hoa lớn nhỏ đạt đến mấy trăm loại.

Cảnh tượng tráng lệ nhất chợ đèn hoa là ở trước Tuyên Đức Lâu, nơi đó sẽ xếp núi đèn màu cỡ lớn, thân núi trang hoàng bằng tranh chuyện thần tiên, tạo rối gỗ hình thần tiên, thần thú, ngón tay có thể bắn ra năm tia nước, cánh tay cũng có thể cử động, lúc thắp sáng đèn màu, sắc vàng xanh hai mé trái phải sẽ chiếu rọi lẫn nhau, sáng rực lộng lẫy, quang cảnh lung linh.

Hai bên tả hữu cửa thành mỗi bên sẽ buộc cỏ thành hình rồng, lấy bạt xanh lồng vào, bên trong xếp dày mấy vạn ngọn đèn, uốn lượn theo thân rồng, lúc ánh đèn giao nhau trông như cặp rồng cùng bay.

Đèn rồng khổng lồ và các loại đèn hoa khác nhiều không đêm xuể, du khách ngựa xe như nước, chẳng thể ngơi chân.

Hôm Nguyên Tiêu, kim thượng dẫn cung quyến ngự giá Tuyên Đức Lâu xem đèn, trong cung bày nến phượng đèn rồng, sáng lòa như tranh, kỳ vĩ muôn vẻ, tưởng chừng như ánh đèn ngoài cung lan đến tận đây.

Khánh Lịch năm thứ tám là năm nhuận, nhuận tháng Giêng.

Lúc xem đèn tháng Giêng, kim thượng rất hứng khởi, muốn chăng đèn trong cung vào mười lăm tháng Giêng nhuận, tái hiện thịnh cảnh Nguyên Tiêu, bèn nhắc đến với chúng cung quyến trong một buổi tiệc rượu đầu tháng.

Trương mỹ nhân là người khen hay trước tiên, các nương tử cũng biểu hiện tán thành, đến công chúa cũng vỗ tay cười nói: "Được ạ được ạ, đèn hoa tháng trước con còn xem chưa đủ!"

Hoàng hậu lại nghiêm nghị đứng dậy, xá kim thượng rồi nói: "Nguyên Tiêu vốn là ngày lễ mỗi năm một lần, vốn không cần ăn mừng đến hai lần trong một năm, hơn nữa mỗi lần chăng đèn, chi phí đều rất lớn, làm một lần nữa quả thật là quá phô trương.

Bệ hạ thường dạy bọn thần thiếp chi tiêu chớ nên hoang phí, nếu chuyện chăng đèn truyền ra ngoài cung, trên làm dưới theo, hao tài tốn của, há chẳng phải đi ngược lại thánh ý của bệ hạ?

Vậy nên thần thiếp cả gan kính xin bệ hạ thu hồi mệnh lệnh đã ban ra."

Nụ cười của kim thượng tức thì như bị mấy lời ít ỏi của hoàng hậu đông lạnh, thần sắc có phần cứng đờ, trầm mặc hồi lâu mới mỉm cười lần nữa, hai tay đỡ hoàng hậu lên, nói: "Đa tạ hoàng hậu thẳng thắn can gián.

Ý nghĩ này của trẫm quả thực thiếu cân nhắc, việc chăng đèn đừng nhắc lại nữa."

Đến ngày mười lăm tháng Giêng nhuận, trong cung quả nhiên không đặc biệt ăn mừng vui chơi gì, kim thượng chỉ cho vời hoàng hậu, công chúa và vài vị tần ngự thân cận vào Phúc Ninh Điện, bình phẩm tập phi bạch do đãi chiếu Thư viện Lý Đường Khanh soạn.

Phi bạch là một trong tám thể thư pháp, do nhà thư pháp Thái Ung sáng tạo nên, là sở trường của cha con Vương Hi Chi và Tiêu Tử Vân, rất thịnh hành trong triều đại này, đường nét bút họa dẹt, ở giữa xen lẫn những tia trắng bạc, như mái tóc hoa tiêu, thế bút bay bổng.

Muốn viết thể phi bạch phải dùng bút khô mực, trong quá trình viết cần khống chế nghiêm ngặt lực độ, mực phân bố quá thưa hoặc quá dày đều là hỏng, mà trong bút họa, nét chấm là khó thực hiện nhất.

Công chúa trố mắt: "Thì ra chữ phi bạch có thể có nhiều cách viết như vậy!

Nét chấm trong phi bạch mô phỏng hình dáng vật, ba trăm nét chấm y viết ở đây có thể nói là bao hàm hết đủ kiểu hình vật rồi."

Kim thượng mỉm cười không nói, lệnh lấy bút mực, lập tức nhấc bút tự tay viết một chữ "Thanh (清)", vẫn là thể phi bạch, rắn rỏi hồn hậu, ba nét chấm trong đó lại nằm ngoài ba trăm nét của Lý Đường Khanh, người đứng xem không khỏi trầm trồ

Viết xong chữ này, kim thượng chưa đặt bút xuống ngay mà hai ngón kép bút, đưa cho hoàng hậu, trong mắt ẩn chứa ý mời.

Hoàng hậu vui lòng nhận lấy, nhúng mực đề bút, viết một chữ "Tịnh (净)" phía sau chữ "Thanh", nét mảnh thế hùng, hai nét chấm lại có sự khác biệt.

Mọi người thán phục, nhất tề khen hay, kim thượng lại không lên tiếng, mỉm cười đi ra sau hoàng hậu, hơi cúi người, tay phải nắm lấy tay cầm bút của hoàng hậu, dẫn bà đưa cổ tay, gò má hai người giữa chừng khe khẽ chạm nhau, đợi đến lúc người đứng xem lấy lại tinh thần, giữa hai nét chấm của chữ "Tịnh" trên giấy đã thêm một chấm nữa.

Nét chấm này tư thế chao liệng, vượt lên hẳn năm nét chấm trước đó.

Chấm xong nét bút này, kim thượng chưa buông tay ra ngay, nắm chặt lấy tay hoàng hậu, nghiêng đầu dịu dàng nhìn bà.

Hoàng hậu cũng quay về phía ngài, vợ chồng nhìn nhau cười.

Ta chưa bao giờ thấy kim thượng có thần sắc như khi chăm chú nhìn hoàng hậu giờ khắc này.

Trong ấn tượng của ta, ngài cũng chưa từng dùng ánh mắt đó nhìn những tần ngự như Miêu thục nghi.

Hai chữ "dịu dàng" thực ra hoàn toàn không đủ để hình dung trạng thái ấy, ngài và hoàng hậu nhìn nhau, ánh mắt trong vắt, đáy mắt sáng rực, dường như đôi bên có thể dò đường vào tận đáy lòng nhau, nụ cười kia lại ăn ý đến thế, tựa hồ bao nhiêu thâm ý đều chẳng nằm trong lời.

Ngay sau đó nhớ tới lời công chúa nói về hoàng hậu buổi chuyện đêm năm trước, ta không khỏi nghĩ, kỳ thực hoàng hậu chưa chắc đã "nghèo" như vậy.

Song ngay sau đó nghĩ đến việc trước đó kim thượng nạp Phạm cô nương, cùng với lời ngài phản vấn Miêu nương tử "Nàng nhất định muốn ngoại thích trong thiên hạ đều phải mang họ Tào à", ta lại có phần hồ đồ, không thể hiểu nổi thái độ của ngài đối với hoàng hậu rốt cuộc là sao.

Hình như hoàng hậu trước nay đều chưa từng giành được thịnh sủng, thậm chí người kim thượng muốn lập làm hoàng hậu ban đầu cũng không phải bà, trong cung, điều này cũng chẳng phải bí mật.

Hoàng hậu Quách thị, nguyên phối của kim thượng là do Chương Hiến thái hậu chọn lập, kim thượng cũng chẳng mấy yêu mến.

Khi đó kim thượng chuyên sủng một vị mỹ nhân họ Trương khác, sau khi Trương thị chết thì sủng ái hai mỹ nhân Thượng, Dương, Quách hậu phẫn uất, nhiều lần tranh chấp với hai mỹ nhân.

Một lần nọ, Thượng mỹ nhân có lời chống đối hoàng hậu ngay trước mặt kim thượng, hoàng hậu giận dữ, xông lên bạt tai mỹ nhân, kim thượng che cho mỹ nhân, Quách hoàng hậu không kịp thu tay, vô ý đánh lầm lên cổ kim thượng.

Lúc ấy Chương Hiến thái hậu đã băng hà, kim thượng chẳng kiêng dè gì nữa, tức thì nổi giận phế hậu, hạ chỉ giáng Quách thị làm Tịnh phi, bắt làm đạo sĩ, pháp hiệu Ngọc Kinh Xung Diệu tiên sư, ban tên Thanh Ngộ, ra sống ngoài cung.

Quần thần phản đối kim thượng chọn người trong số tần ngự hiện hữu lập hậu, nói lấy thiếp làm thê là đảo ngược trưởng thứ, tuyệt đối không được.

Không lâu sau khi phế hậu, kim thượng ra chiếu tuyển cháu gái Tào Bân vào cung, song chưa phong hậu ngay.

Khi ấy kim thượng để ý tới một mỹ nhân tuyệt sắc, là con gái họ Trần buôn trà ở Thọ Châu, nhưng chư thần liên tiếp dâng sớ, không cho kim thượng "lấy kẻ thấp kém lập trung cung".

Phụ thân cô gái họ Trần có hiệu "tử thành", "tử thành sứ" vốn là tên chức quan thị vệ ở nha môn.

Diêm Sĩ Lương, quan chủ quản Ngự dược viện khi đó cầu kiến kim thượng, hỏi ngài có biết tử thành sứ là chức quan gì không, kim thượng đáp không biết, Diêm Sĩ Lương bèn nói: "Tử thành sứ là tên quan nô bộc nhà đại thần.

Nếu bệ hạ nạp con gái nô bộc làm hậu, chẳng phải thẹn với công khanh đại phu ư?"

Kim thượng tỉnh ngộ, lệnh con gái họ Trần xuất cung, sau cùng lập con gái thế gia Tào thị làm hậu.

"Phi bạch của hoàng hậu là vào cung rồi mới luyện," Sau buổi hôm ấy, Miêu thục nghi nói cho ta biết thế, "Ngẫu nhiên có cơ hội hầu hạ quan gia viết chữ, chị ấy sẽ mở to hai mắt yên lặng xem, trở lại gác mình rồi thì tập đi tập lại cả ngày lẫn đêm.

Có hôm quan gia đi qua chỗ chị ấy, thấy chị ấy đang múa bút luyện phi bạch trong phòng, chữ viết cũng hào sảng dễ thương, quan gia nhất thời nổi hứng, tay nắm tay dạy chị ấy.

Mấy ngày sau thì hạ chỉ lập chị ấy làm hoàng hậu."

Tình ý của đế hậu nảy sinh từ phi bạch, bởi vậy nên trong mắt kim thượng, điểm rung động lòng người nhất ở hoàng hậu được thể hiện trong lúc viết chữ.

Ba ngày sau đó, kim thượng đều qua đêm ở Phúc Ninh Điện.

Nghe tin này, ta vậy mà lại có phần vui vẻ.

Kim thượng bằng lòng tiếp nhận lời can gián của hoàng hậu, lại ngày càng gần gũi với hoàng hậu hơn, như vậy tương lai khi hoàng hậu đề cập tới việc Thu Hòa xuất cung, hẳn ngài sẽ không cự tuyệt.

Trước tết Nguyên Tiêu, ta chuyển cáo cho Thôi Bạch câu trả lời của hoàng hậu, xem tình hình trước mắt, hết thảy đều nước chảy thành sông, tựa hồ tất cả mọi chuyện đều đang tiến triển theo phương hướng hoàn mỹ nhất đã dự tính.

Nhưng chẳng biết tại sao, lúc còn đang nghĩ thế, trái tim bỗng nảy lên "thình thịch" vài cái mà chẳng mảy may có lấy một lý do
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 4: Nước Thương Lang trong giặt khăn đầu


1.

Cung loạn

Nửa đêm hôm ấy, ta choàng tỉnh, hoảng sợ ngồi dậy, chỉ cảm thấy trống ngực đập dồn, xao động bất an như lúc ban ngày.

Còn đang suy ngẫm xem có khi nào là bởi mơ thấy ác mộng gì không thì một trận âm thanh hỗn loạn bất thường đã như thủy triều trào vào qua cửa sổ.

Trận âm thanh nghe lao xao loạt xoạt, như dùng siêu đồng đun nước, sôi chẳng ra sôi.

Cẩn thận phân biệt thì có thể chia động tĩnh này ra làm mấy lớp, có tiếng nhiều người ồn ào phương xa, cũng có tiếng bước chân sầm sập ngoài tường, thỉnh thoảng còn xen lẫn tiếng vó ngựa phi nước đại...

Tiếng vó ngựa?

Ta nhất thời cảnh giác.

Đây là hậu cung, ngày thường đến xe kiệu còn chẳng được vào, giục ngựa băng qua lại càng bị cấm ngặt.

Ta nhanh chóng khoác áo rời giường, vừa đội khăn chít đầu đeo đai lưng da, vừa mở cửa ra khỏi phòng, chạy thẳng tới cửa gác, mở hé, ngó ra ngoài.

Phía đông Phúc Ninh Điện có ánh lửa lay động, còn có tiếng người gào la, động tĩnh tạp nham bòng bong rối loạn, khoảng cách quá xa, nghe không được rõ lắm, mà trước mặt ta thì thi thoảng lại có hoạn giả bận những màu áo khác nhau đi ngang qua, đều xách đao cầm gậy, trong đó có cả hoạn quan đương quyền cưỡi ngựa, vội vã phóng về phía Phúc Ninh Điện.

Ngẫu nhiên nghe được dăm câu đối thoại của hai, ba người, hình như là nói "Hoàng hậu triệu gấp đô tri lưỡng tỉnh" gì đó.

Đằng sau ta cũng lục tục có người từ trong gác chạy ra sân, đến Miêu thục nghi cũng dắt công chúa đang ngái ngủ đi ra, trắng bệch mặt hỏi ta đã xảy ra chuyện gì.

Ta xòe tay đáp không biết, đề cử quan (*) Nghi Phượng Các Vương Vụ Tư lập tức bước gấp tới cạnh cửa, tự mình thò đầu ra nhìn.

(*) Thời Bắc Tống, đây là tên chức quan chủ quản một sự vụ chuyên biệt, ở đây thì là quản lý sự vụ và nhân sự trong Nghi Phượng Các.

Đúng lúc này, một cận thị (*) Phúc Ninh Điện chạy vụt tới, dọc đường kêu to: "Hoàng hậu truyền khẩu dụ: Chư nương tử đóng gác chớ ra, hoạn giả trong gác lấy khí giới bảo vệ xung quanh, không được tự tiện mở cửa gác!"

(*) Tức nội thị thân cận hầu vua.

Vương Vụ Tư nghe vậy cấp tốc lệnh nội thị trong gác tìm khí giới có thể dùng canh phòng trong sân, lại sai ta dẫn hai tiểu hoàng môn đi sang Phúc Ninh Điện: "Thứ nhất thám thính tin tức, thứ hai...

Nếu có biến cố thì phải tham gia bảo vệ quanh tẩm điện của quan gia, ra sức hộ đế hậu chu toàn."

Ta đáp ứng, dẫn tiểu hoàng môn chạy tới Phúc Ninh Điện, cánh cửa Nghi Phượng Các đóng lại, tức thì khép kín.

Vừa chạy đến trước Phúc Ninh Điện thì gặp được Trương Mậu Tắc tiên sinh đã chạy tới nơi.

Thầy nghiêng người xuống ngựa, mau chóng vào điện.

Ta lập tức rảo bước bắt kịp, hỏi thầy: "Trương tiên sinh, xảy ra chuyện gì thế ạ?"

Vẻ mặt thầy nghiêm trọng, chân không dừng bước, vừa đi vừa trả lời đơn giản: "Một vài thân tòng quan Sùng Chính Điện vượt Diên Hòa Điện vào cung, hiện đang ở sau Phúc Ninh Điện."

Thân tòng quan làm việc ở các khu vực hoàng đế xử lý chính sự, thuộc về cấm vệ, không phải nội thị, thế nên không thể vào trong cung cấm, huống hồ là ban đêm.

Nghe ý có vẻ như là thân tòng quan làm phản, muốn mưu đồ bất chính.

Diên Hòa Điện nằm ở phía bắc Phúc Ninh Điện, tức đằng sau tẩm điện của kim thượng, nói như vậy, bọn giặc này hiện giờ chỉ cách đế hậu một bức tường.

"Có bao nhiêu người?"

Ta hỏi Trương tiên sinh.

Thầy đáp: "Vẫn chưa biết."

Ta theo thầy vào điện, thấy đế hậu đang ngồi trên ngự tọa, đều đã ăn mặc chỉnh tề, riêng hoàng hậu thì chưa đội miện, chỉ vấn sơ một búi tóc, kiểu dáng tuy đơn giản song vẫn không rối một sợi.

Nhóm đô tri và áp ban chạy đến đầu tiên có vài người đang đứng trong điện, một số khác thì ở ngoài điện quan sát, đại khái là bởi không biết số lượng bọn giặc nên tạm thời không dám manh động, chỉ thủ chặt hai bên cửa hậu thông vào Diên Hòa Điện, theo dõi gắt gao.

Hoàng hậu thấy Trương tiên sinh đi vào, chân mày vốn đang nhíu chặt thoáng giãn ra một chớp mắt, lập tức ra lệnh khóa chặt cửa viện đại điện, sau đó nhìn Trương tiên sinh, môi mấp máy, đang định nói gì với thầy thì chợt nghe sau điện vang lên tiếng con gái kêu thảm thiết, giọng tột độ thê lương.

Kim thượng nghe thấy, sắc mặt thay đổi.

Âm thanh đó không ngừng truyền vào, kêu đau khóc thảm, tiếng sau dữ dội hơn tiếng trước, kim thượng lập tức quay sang hỏi cận thị Hà Thừa Dụng đứng bên cạnh: "Giặc bắt đầu đả thương người rồi?"

Hà Thừa Dụng ra ngoài điện xem xét rồi quay về bẩm: "Quan gia đừng lo lắng, đó chỉ là cung nhân trong gác gần đây đánh con gái nuôi của mình mà thôi."

Hoàng hậu tức thì đập bàn, phẫn nộ khiển trách: "Giặc đã đang giết người trong cung rồi mà ngươi còn dám mở miệng vọng ngôn ở đây, dối vua khi quân!"

Hà Thừa Dụng sợ hãi, lập tức quỳ xuống tạ tội.

Hoàng hậu không để ý tới hắn nữa mà phân phó Trương tiên sinh: "Bình Phủ, ngươi dẫn người tìm vài thùng chứa, đổ đầy nước mang lại đây, càng nhiều càng tốt."

Trương tiên sinh cũng không hỏi nguyên nhân, lập tức nghe lệnh, ra hiệu bảo ta theo thầy ra ngoài, lại lệnh người hầu đằng sau đi theo, còn hiệu triệu mọi người ngoài điện tìm thùng đổ đầy nước mang tới, đặt từng thùng bên tường dưới hiên.

Ta thấy sau điện không ngừng bập bùng ánh lửa đỏ, chợt hiểu ra, hoàng hậu sợ giặc phóng hỏa.

Quả nhiên, một lát sau, giặc không tìm được cửa điện để vào liền bắt đầu đốt phá, châm lửa rèm trướng dưới mái cong giữa Diên Hòa Điện và Phúc Ninh Điện, ngọn lửa lan ra, cháy tới mép ngoài điện Phúc Ninh, may mà chư hoạn giả đã sớm có chuẩn bị, đồng thời hắt nước từ trong tường ra ngoài, nhanh chóng dập tắt đốm lửa xung quanh.

Dập lửa xong, trong ngoài đại điện mù mịt hơi khói, mọi người nối nhau bôn tẩu giải quyết hậu quả, ngoài cửa chính đại điện lại như có đám người khác tới, gõ mạnh cửa, góp thêm một hồi ầm ĩ.

Người trong điện nhìn nhau biến sắc, chỉ nghi là giặc đi vòng tới ngoài cửa chính, đúng lúc này, ngoài cửa vọng vào tiếng hô gọi yêu kiều: "Quan gia, là thần thiếp, xin hãy mở cửa!"

Ai nấy đều nghe ra được là giọng của Trương mỹ nhân.

Thần sắc kim thượng dịu xuống, lập tức sai người mở cửa cho ả vào.

Trương mỹ nhân dẫn theo một đám hoạn giả vào, vào điện rồi ào lên, nhào vào dưới đầu gối quan gia, khóc nói: "Thần thiếp hộ giá tới chậm, xin quan gia thứ tội."

Kim thượng đỡ ả lên bằng cả hai tay, dịu dàng hỏi ả: "Nàng tới làm gì?

Ở đây nguy hiểm, không phải hoàng hậu đã bảo các nàng đóng gác chớ ra sao?"

Trương mỹ nhân mắt hàm lệ nóng, đáp giọng tha thiết: "Quan gia thân trong hiểm cảnh, thần thiếp sao dám đóng gác sống trộm?

Quan gia gặp nạn, thần thiếp quyết không làm ngơ bỏ mặc, chỉ cầu sống chết có nhau, xin quan gia cho thiếp được ở bên hầu hạ."

Nghe được lời này, kim thượng rất lấy làm cảm khái, nâng tay áo lau nước mắt cho Trương mỹ nhân, lại để ả ngồi xuống bên cạnh, một trái một phải cùng hoàng hậu, chẳng khác nào ngang hàng.

Trương mỹ nhân đánh mắt liếc hoàng hậu, ra chiều tự đắc, lại lệnh hoạn giả mình dẫn tới bảo vệ ngoài điện.

Hoàng hậu cũng chẳng so đo, chỉ hỏi Nhậm Thủ Trung đứng gần đó: "Giặc không tới tiến đánh cửa chính, chứng tỏ nhân số cũng không nhiều.

Điều vài nội thị vòng ra sau điện đối phó với giặc liệu có được chăng?"

Vẻ mặt Nhậm Thủ Trung khó xử, đáp: "Nhưng bây giờ nội thị trong Phúc Ninh Điện cùng lắm chỉ chừng mười người, giặc là thân tòng quan, trong tay có binh khí, nếu nhân số chúng đông thì chỉ sợ..."

"Nương nương," Trương tiên sinh bước lên ngay lúc này, nói, "Thần nguyện ra trước."

Hoàng hậu chẳng đáp được hay chớ, sắc mặt thê lương, khẽ nhếch khóe miệng với thầy, nhưng nét tối tăm này chỉ vụt lướt trong sát na, bà ngồi thẳng trở lại, sai thị nữ bên người mang một cái kéo đến, tự tay cầm lấy rồi giương lên, quay sang nội thị trong điện, nghiêm túc nói: "Ai sẵn lòng ra trước bắt giặc thì qua đây để ta cắt một đoạn tóc nhận biết.

Ngày mai bình xét thưởng công sẽ dùng đoạn tóc này của các ngươi làm chứng."

Đám nội thị nhìn nhau, hãy còn hơi do dự.

Ta yên lặng đi tới, quỳ xuống trước mặt hoàng hậu, cúi đầu gỡ khăn chít đầu xuống.

Sau một trận bặt thinh ngắn ngủi, hoàng hậu cởi dây buộc tóc của ta ra, cắt lấy một lọn tóc.

Hai tiểu hoàng môn đi theo ta cũng lần lượt bước lại quỳ xuống, xin hoàng hậu cắt tóc, hoạn giả noi theo càng lúc càng nhiều, cuối cùng, gần như mọi nội thị trai tráng trong điện đều tỏ chí.

Hoàng hậu lại nhìn sang Trương tiên sinh, nói với những nội thị đã cắt tóc: "Các ngươi hãy theo Trương Mậu Tắc, tất cả đều nghe y sai khiến."

Mọi người đồng thanh ưng thuận, Trương tiên sinh bái biệt hoàng hậu, lĩnh người ra, đi tới cạnh cửa lại xoay người hỏi hoàng hậu: "Đám giặc ấy có cần bắt sống không ạ?"

Hoàng hậu nói: "Nếu chúng khoanh tay chịu trói thì giữ mạng, nếu chống cự, giết bất luận tội!"

Kim thượng nghe đến bốn chữ "giết bất luận tội", không khỏi có phần cả kinh, nghiêng đầu nhìn bà.

Hoàng hậu mím nhẹ môi, ánh mắt lạnh lẽo, thái độ kiên quyết.

Thần sắc ấy ta nhìn cũng thầm rùng mình trong bụng.

Thường ngày trông thấy hoàng hậu, chỉ cảm thấy bà hiền từ hòa ái, thanh cao tao nhã, chân chính là trang đệ nhất sắc tài quốc gia (*).

Mà giờ xem hành vi thái độ thế này, lại nghĩ đến xuất thân tướng môn của bà, chỉ huy ra lệnh mang vẻ thong dong trấn tĩnh của tướng soái, cũng có phần lạnh lùng quyết tuyệt của người trên chiến trường.

(*) Câu này lấy từ bài thiên Quốc phong trong Kinh thi, bản dịch của Tạ Quang Phát.

Trương tiên sinh phân một nhóm người vòng qua Di Anh Điện đằng sau Sùng Chính Điện và Diên Hòa Điện trước, bảo vệ cửa ra, rồi dẫn chúng ta tới một bên cửa hông Diên Hòa Điện, nghe ngóng một lát không thấy trong cửa có động tĩnh gì, bèn sai người lên tường xem xét, báo cáo trở về nói cũng không trông thấy bọn giặc, lúc này mới cẩn thận mở cửa ra.

Ngoài cửa trong sân quả nhiên không có bóng giặc, chỉ có một cung nhân bị chém đứt nửa cánh tay ngất trên mặt đất.

Trương tiên sinh bảo người khiêng cung nhân đi, lại đánh mắt ra dấu về phía Diên Hòa Điện, nói: "Giặc có khả năng đang trốn trong đó."

Cửa sổ và cửa chính Diên Hòa Điện đóng chặt, thoạt nhìn bên trong tối đen như mực, cũng không nghe thấy có tiếng động gì, song, bầu không khí đồng thời cũng rất kỳ dị, như bóng gió ám chỉ trong đó đầy rẫy mối nguy, phảng phất một mùi vị rùng rợn khó tả.

Mọi người dừng chân, không tiến thêm nữa.

Trương tiên sinh cụp mắt trầm ngâm, ngẫm nghĩ rồi hỏi một nội thị thuộc Phúc Ninh Điện: "Pháo hoa tạo khói dùng để kết núi đèn màu trước Phúc Ninh Điện tháng trước bây giờ có còn không?"

Nội thị trả lời: "Hẳn là vẫn còn, để tôi đi tìm."

Anh ta mau chóng tìm về một lượng lớn pháo hoa.

Trương tiên sinh chia cho mấy thuộc hạ, lệnh họ bí mật đi tới dưới cửa sổ Diên Hòa Điện, đốt pháo hoa, đâm thủng vải che cửa sổ, ném pháo hoa bốc khói mù mịt vào trong nhà.

Rất nhanh sau đó, bên trong truyền ra tiếng chửi mắng và ho sặc thưa thớt.

Trương tiên sinh nghe tiếng thở phảo: "Cũng không có bao nhiêu người." rồi xách đao sải bước qua, tung chân đạp mở cửa.

Chuyện tiếp đó thực chất cũng chẳng thể gọi là một trận ác chiến.

Kể cũng thật nực cười, giặc bên trong ấy vậy mà lại chỉ có bốn người, toàn thân nồng nặc mùi rượu như uống say.

Bởi Trương tiên sinh một mình đi vào trước nên bị chúng đột ngột vây công, vai trái trúng một kích của giặc.

Cũng may chúng ta nối gót theo ngay sau, nhân số lại nhiều hơn hẳn chúng nên cục diện giằng co hỗn loạn chẳng duy trì được bao lâu.

Cuối cùng, chỉ có một tên giặc nhân loạn trốn thoát, ba người còn lại đều bị mấy vị hoạn giả cầm đao giết ngay tại chỗ.

Giữa chừng Trương tiên sinh không phải là không cao giọng nhắc nhở phải giữ lại một người sống, nhưng khi đó tâm trạng mọi người đều rất căng thẳng, như thể trong khoảnh khắc chợt có cơ hội phát tiết, bắt được giặc là đâm đầu vào ra sức đánh giết nên cũng bỏ ngoài tai lời Trương tiên sinh nói, cuối cùng, thi thể ba người kia máu me be bét, thương tích đầy mình.

Sau đó, chúng hoạn giả phân biệt hồi tưởng kĩ càng, nhận ra ba người bị đánh chết này là thân tòng quan Nhan Tú, Quách Quỳ, Tôn Lợi của Sùng Chính Điện, còn kẻ bỏ trốn kia thì tên là Vương Thắng.

Trương tiên sinh sai người tìm hết vật mang trên người ba kẻ này ra, đem về chuyển dâng đế hậu.

Trong những vật phẩm này có một chiếc yếm của phụ nữ, đường nét may thêu rất tinh xảo, không giống hàng trên phố, trong đó còn giấu một bức thư.

Hoàng hậu mở ra đọc, kìm nén không nổi cơn giận dữ, tức khắc quát gọi tên một thị nữ: "Song Ngọc!"

Cô gái tên Song Ngọc kia vốn là nội nhân thân cận hầu hạ hoàng hậu, lúc này sắc mặt đã sớm tái mét, nhũn người quỳ rạp xuống, phủ phục dưới chân hoàng hậu khóc: "Nương nương tha mạng, nô tì không biết gì hết..."

"Thư này là do ngươi viết, còn hẹn giặc ngày nào giờ nào gặp mặt ở đâu."

Hoàng hậu ném bức thư kia xuống trước mặt cô ả, lạnh nhạt nói: "Ngươi ngầm qua lại với hắn lâu rồi phải không?

Không biết gì hết thật à?"

Song Ngọc liều mạng lắc đầu, đáp: "Nô tì thật sự không biết gì hết...

Nô tì đáng chết, năm trước ngẫu nhiên đi ngang qua Sùng Chính Điện, chạm mặt Nhan Tú, nhất thời hồ đồ, bị hắn dụ dỗ...

Nhưng nô tì quả thật không nghĩ được hôm nay hắn vì sao lại gây nên chuyện như thế...

Nô tì thực sự không biết..."

"Ngươi đúng là đáng chết thật," Giọng điệu hoàng hậu lúc này dần có xu hướng hòa hoãn, nhưng lời nói ra thì tuyệt không mềm mỏng, "Dù cho ngươi không biết chuyện Nhan Tú mưu đồ phản nghịch thì tư thông với cấm vệ cũng đã là trọng tội, đáng chém theo cung quy."

Song Ngọc hoảng sợ, dập đầu với hoàng hậu chảy cả máu đầu, thỉnh cầu hoàng hậu khoan thứ.

Hoàng hậu chỉ nghiêm nghị ngồi ngay ngắn, mắt nhìn thẳng ra phía trước, hoàn toàn không cụp xuống nhìn ả.

Trương mỹ nhân ngồi xem một bên cười khẽ: "Song Ngọc, hoàng hậu không dễ mềm lòng như quan gia đâu, dập đầu cũng vô dụng."

Câu này đã nhắc nhở Song Ngọc, ả vội vàng quay sang kim thượng, luôn miệng cầu xin ngài tha mạng.

Kim thượng thấy ả khóc như mưa dập hoa lê, có phần không đành lòng, bèn bảo hoàng hậu: "Nể tình nó hầu hạ nàng đã nhiều năm, tạm thời tha cho nó lần này đi thôi."

Hoàng hậu không đáp, đứng dậy vào phòng trong, lát sau quay lại, đã đổi sang áo gấm hoa lệ, đội miện Cửu Long Tứ Phượng, trang điểm theo lối triều hội trang nghiêm, hạ bái kim thượng: "Nội nhân Song Ngọc tư thông với thị vệ, dâm loạn cung cấm, theo luật phải chém.

Xin bệ hạ cho phép thần thiếp hành quyết Viên thị đúng cung quy."

Kim thượng nói: "Dẫu là vậy, song luật lệ chung quy là do con người định ra, cũng có thể di dịch biến báo.

Song Ngọc vốn là người thận trọng, vào cung nhiều năm chưa từng nghe có tai tiếng gì, nay chỉ nhất thời hồ đồ mới phạm phải tội này.

Không bằng đổi sang phạt trượng trên triều, thế đã đủ để khiển trách rồi."

Hoàng hậu xua tay nói không thể: "Như vậy sao thanh trừng được cung đình."

Kim thượng gượng nở nụ cười, đứng dậy đi đỡ bà, nỗ lực ôn tồn khuyên giải: "Hoàng hậu mời ngồi, việc này còn phải bàn bạc kỹ hơn..."

Hoàng hậu không để ngài chạm vào, hơi lui ra sau tránh đi, cúi người thưa: "Tội của Viên thị đã được minh xác, chẳng có gì oan khuất, mà nay biết bao cặp mắt còn đang trừng trừng, đều đã chứng kiến tường tận, nếu bệ hạ tha thứ cho nó, mở ra tiền lệ, về sau sẽ rất khó quản chế người trong lục cung.

Mong bệ hạ lấy đại cục làm trọng, quả quyết dứt khoát, hạ lệnh ban chết."

Song Ngọc nghe đến "ban chết", càng thêm đau thương, lê gối vài bước kéo vạt áo kim thượng, run lẩy bẩy vừa khóc vừa khẩn cầu: "Bệ hạ làm ơn cứu nô tì..."

Kim thượng thở dài, lại mời hoàng hậu ngồi xuống, muốn từ từ bàn lại với bà.

Hoàng hậu kiên trì đứng nghiêm trước mặt kim thượng, không ngồi xuống cũng chẳng cất lời.

Kim thượng không khỏi nổi nóng, chỉ vào Song Ngọc, lạnh lùng lườm hoàng hậu, nói: "Nó hầu hạ nàng ngần ấy năm, nàng nuôi con chó con mèo bấy lâu cũng phải có chút tình cảm chứ?

Vì sao không chịu khoan dung với nó mà quyết tuyệt bậc này?"

Hoàng hậu thoáng khom lưng, nhấn rõ từng chữ: "Bệ hạ, chính bởi nó ở bên thần thiếp đã lâu mà còn gây ra chuyện như thế nên thần thiếp mới càng không thể tha thứ cho nó."

Kim thượng im lặng, hoàng hậu cũng không nói gì nữa, một ngồi một đứng, đôi bên cứ thế giằng co trong trầm mặc.

Người ngoài đương nhiên không dám chen miệng vào, sau cùng, đến Song Ngọc cũng không dám khóc nữa, chỉ quỳ gối thừ người trước mặt kim thượng.

Người trong điện bặt tiếng nín thinh như những con rối trên núi đèn màu sau tết Nguyên Tiêu, không hé răng cũng chẳng nhúc nhích.

Chẳng biết giằng co suốt một hay hai canh giờ, mãi đến khi bình minh ló rạng, nắng sớm từng bước rải ánh sáng vào trong đại điện, Hà Thừa Dụng mới khẽ khàng ghé lại bên cạnh kim thượng, khom người nhắc nhở: "Bệ hạ, đã đến giờ lâm triều."

Kim thượng chầm chậm đứng lên, cuối cùng thỏa hiệp với hoàng hậu: "Được thôi, Song Ngọc mặc nàng xử trí."

Dứt lời phất tay áo đi ra, đến triều phục cũng chẳng buồn đổi, cứ thế đi sang điện xử lý chính sự.

Hoàng hậu xoay người cung tiễn, đợi đến lúc không còn trông thấy bóng dáng kim thượng nữa thì quay sang Nhậm Thủ Trung ra lệnh: "Kéo Song Ngọc xuống, xử chém ở Đông Viên."

2.

Mạch ngầm

Ý chỉ cuối cùng hoàng hậu hạ trong ngày hôm ấy là lệnh Hoàng thành ty phụ trách bảo vệ quanh cung thành tiếp tục truy tìm Vương Thắng trốn chạy, lần này bà nhấn mạnh: "Nhất định phải bắt sống, cần giữ lại tội phạm lấy lời khai."

Trở lại Nghi Phượng Các phục mệnh, không tránh được bị mọi người trong gác vây lấy vặn hỏi, muốn ta kể lại chi tiết chuyện ban đêm.

Đợi đến lúc rốt cuộc cũng không còn ai hỏi nữa thì đã là gần trưa, nhớ đến thương thế của Trương tiên sinh, ta không chờ đến giờ dâng bữa đã đi trước thăm thầy.

Vai thầy đã được băng bó cẩn thận, không nằm nghỉ mà đứng trước cửa sổ dõi mắt ra ngoài, chân mày như nhuốm nỗi ưu sầu.

Thấy ta đi vào, thầy mới ngồi xuống trò chuyện cùng ta.

Ta hỏi thăm thương thế thầy, thầy chỉ thản nhiên tóm lược bằng một câu "Không có gì đáng ngại", cũng không nhắc đến vụ việc ban đêm, nhàn tản hỏi ta tình hình gần đây, giữa chừng chốc chốc lại nhìn ra ngoài như chờ đợi điều gì.

Tán gẫu được một khắc, một nội thị hoàng môn vội vã tiến tới, ta ngờ ngợ nhận ra hắn là hoạn giả trực hầu trên triều đình.

Hắn liếc ta, lại nhìn Trương tiên sinh tỏ ý dò hỏi, dáng vẻ hết sức trù trừ.

Ta biết hắn có chuyện quan trọng cần nói với Trương tiên sinh, bèn tránh sang một góc xa xa, bấy giờ hắn mới khẽ giọng thì thầm với Trương tiên sinh.

Trương tiên sinh im lặng lắng nghe, không tỏ mừng giận, đợi nội thị dứt lời mới mở miệng hỏi: "Học sĩ bạo trực ở Hàn uyển mấy ngày nay là ai?"

Hàn uyển chính là Hàn lâm học sĩ viện.

Quốc triều có chế độ hàn lâm học sĩ túc trực, cho phép học sĩ trực đêm ở Hàn uyển, phòng khi đột ngột nhận nhiệm vụ thảo chiếu, trực liền mấy hôm thì gọi là "bạo trực".

Nội thị báo tên người bạo trực mấy ngày nay: "Trương Phương Bình."

Trương tiên sinh gật đầu: "Đã biết."

Nội thị bái biệt lui đi.

Trương tiên sinh trầm tư một chốc rồi ngước mắt nhìn ta, nói cho ta hay: "Quan gia kể với phụ thần (*) chuyện đêm qua, rơi lệ lã chã."

(*) Hạ thần phụ tá, chỉ tể tướng và các trọng thần.

Ta cả kinh, thoáng dậy lên dự cảm không lành: "Chuyện hoàng hậu làm trái thánh ý ạ?"

"Quan gia chưa nói gì đến việc này," Trương tiên sinh nói, "Ngài cảm thán chuyện đã căn dặn các nương tử đóng gác chớ ra mà Trương mỹ nhân lại xông thẳng lên hộ giá, khen ngợi Trương mỹ nhân hết lời."

"Phụ thần phản ứng thế nào?"

Ta lập tức hỏi.

"Phần lớn phụ thần đều rơi lệ theo, chỉ có đồng bình chương sự Trần Chấp Trung là tuyệt không đổi sắc.

Xu mật sứ Hạ Tủng thuận thế đề xướng tôn vinh Trương mỹ nhân, thăng phân vị, mà xu mật phó sứ Lương Thích thì lại nói việc cấp bách hiện giờ là mau chóng tra việc cấm vệ trực đêm mưu đồ làm phản, chuyện khen thưởng để sau hẵng bàn."

Trương tiên sinh bình tĩnh thuật lại nội dung vừa mới nghe được cho ta, "Còn chuyện trong cung đêm qua, Hạ Tủng thỉnh cầu quan gia lệnh cho ngự sử và hoạn quan tra thẩm trong cung, tham tri chính sự Đinh Độ thì nói cấm vệ trực đêm có biến là chuyện liên quan đến xã tắc, khăng khăng xin giao cho Ngự sử đài thẩm lý, tra rõ toàn bộ vây cách chủ mưu tòng phạm trong ngoài hoàng cung.

Hai người tranh luận từ sáng đến trưa, cuối cùng quan gia tiếp nhận ý kiến của Hạ Tủng."

Ngự sử và hoạn quan tra thẩm trong cung đa phần được thực hiện khi có cung nhân phạm tội, còn Ngự sử đài thẩm lý thì thường là những án kiện nan giải trọng đại mà Đại lý tự khó có thể phán quyết và thừa lệnh thi hành những buổi hành hình quan trọng.

Trương tiên sinh nói xong, không tỏ thái độ về sự tình ngay, ta nghĩ thầy đang chờ ta nói ra quan điểm của mình, bèn dò xét lên tiếng: "Có vẻ như ý Hạ Tủng chỉ chủ mưu là người trong cung, Đinh Độ lại cho rằng chuyện liên quan đến ngoại thần, bởi vậy nên..."

Trương tiên sinh không nói gì, lẳng lặng nhìn ta một lúc lâu rồi nói: "Hoài Cát, cậu có thể làm chút chuyện cho ta được không?"

"Đương nhiên ạ."

Ta đáp, không chút nghĩ ngợi.

"Trong gác các cậu sắp tới có tiểu hoàng môn nào thi hắc nghĩa không?"

Thầy hỏi ta.

Hắc nghĩa vốn là một hạng mục của kỳ khoa cử, đòi hỏi sĩ tử thi viết luận về kinh thư.

Quốc triều quy định, tiểu hoàng môn tròn mười hai tuổi nếu muốn thăng lên chức vị từ nội thị hoàng môn trở lên thì trước tiên phải thi hắc nghĩa.

Ta đáp có, Trương tiên sinh bèn đứng dậy, đi tới trước kệ sách, lấy một quyển "Hán thư" ra, lật tới một trang đưa cho ta: "Cậu tìm một tiểu hoàng môn hiểu chuyện, bảo nó mang mấy quyển kinh thư cùng cuốn "Hán thư" đi Hàn uyển tìm học sĩ Trương Phương Bình, thỉnh giáo y vài vấn đề trong kinh thư trước rồi lật tới trang này, tìm đại một từ hỏi tiếp."

Ta nhận lấy xem, thấy trang đó là một chương trong "Hán thư – Ngoại thích truyện", kể chuyện Phùng tiệp dư lấy thân cản gấu cho Hán Nguyên Đế: Nguyên Đế dẫn chúng tần giá đáo rào hổ xem đấu thú, giữa chừng có con gấu nhảy khỏi rào, leo qua chuồng muốn trèo lên điện, nhào về phía ngự tọa.

Nhóm quý nhân Phó chiêu nghi đều kinh hãi la hét bỏ chạy, chỉ duy Phùng tiệp dư xông về phía trước, chặn đứng gấu.

Sau khi võ sĩ tới giết gấu, Nguyên Đế hỏi tiệp dư: "Mãnh thú lại đây, người người đều hoảng sợ trốn tránh, vì sao nàng lại đi lên lấy thân cản gấu?"

Phùng tiệp dư đáp: "Mãnh thú vồ người thì phải dùng người để ngăn cản.

Thiếp sợ gấu xông tới ngự tọa, xâm phạm bệ hạ nên tình nguyện lấy thân cản gấu."

Nguyên Đế cảm thán, từ đó về sau vô cùng kính trọng tiệp dư.

Thoạt đầu, ta không rõ vì sao Trương tiên sinh lại muốn lật trang này cho Trương học sĩ xem, chăm chú nhìn chương truyện suy ngẫm một hồi, để ý đến câu cuối cùng: "Mùa hạ sang năm, phong con trai Phùng tiệp dư làm Thành Tín vương, tôn tiệp dư làm chiêu nghi."

Mới chợt vỡ lẽ, tuy Phùng tiệp dư liều mình hộ vua nhưng sau đó, hoàng đế lại chẳng khen thưởng gì bà, về sau bà được tôn làm chiêu nghi là bởi con trai được phong vương.

Vì vậy, ta cả gan hỏi Trương tiên sinh: "Tiên sinh lo lắng quan gia thăng vị đột ngột cho Trương mỹ nhân?"

Trương tiên sinh cười nhạt: "Nếu chỉ vậy thôi thì chẳng phải quá tệ, chỉ sợ có người mượn chuyện ướm lời...

Nhưng tình hình còn lại còn chưa có tiến triển rõ ràng, hiện giờ chúng ta tạm thời làm việc này trước đã, kế đó quan sát rồi lại tính sau."

Ta gật đầu đồng ý.

Trong lòng hơi hoảng hốt, rồi lại lờ mờ cảm thấy vui vẻ, vì Trương tiên sinh giao phó chuyện này cho ta chứng tỏ là tương đối tín nhiệm ta.

Cuối cùng, ta không kìm được hỏi thầy: "Sao tiên sinh lại bằng lòng nói với tôi việc này?"

Thầy đáp: "Ngày đó, thấy cậu vội vội vàng vàng chạy tới nói cho ta biết chuyện Phạm cô nương, ta liền biết cậu rất quan tâm tới hoàng hậu."

Ta cúi đầu, hơi thẹn thùng, cất sách đi rồi cáo từ thầy.

Trước khi đi vô tình phát hiện ra chiếc áo bào nhuốm máu đã được giặt sạch sẽ, lúc này đang phơi trong sân, nhận ra đó chính là tấm áo cũ thầy mặc rất nhiều lần, đêm qua bị giặc đâm rách, dính máu mà thầy vẫn không vứt, bèn tò mò hỏi thầy: "Tiên sinh, lúc mới vào cung tôi từng trông thấy thầy mặc áo này, thầy giữ đến tận giờ đã được bao năm rồi?"

"Mười ba năm năm tháng lẻ hai ngày."

Thầy trả lời chuẩn xác lạ thường.

Ta kinh ngạc nhớ lấy con số chính xác này.

Về rồi, giở niên phổ trong cung ra tra, tính ra thời điểm thầy nhận được tấm áo là ngày mười bảy tháng Chín năm Cảnh Hữu thứ nhất, đó là ngày kim thượng hạ chiếu lập hoàng hậu Tào thị, nói vậy, chiếc áo này là hoàng hậu đưa cho thầy lúc ban thưởng cung nhân nội thị theo lệ.

Hai ngày sau, binh vệ Hoàng thành ty bắt được Vương Thắng ở chòi gác tây bắc trong thành, mà quan chủ quản Hoàng thành ty, nhập nội phó đô tri Dương Hoài Mẫn lại bất chấp ý chỉ bắt giặc chớ giết của hoàng hậu, lệnh cho chúng binh vệ phanh thây Vương Thắng tại chỗ.

Bởi bốn tên giặc đều đã bỏ mình, không có chứng cứ, mấy tay ngự sử và hoạn quan nhận lệnh tra xét án này không tra ra được chủ mưu, bèn kết luận là tội của các hoạn quan chủ quản Hoàng thành ty phụ trách cấm vệ trực đêm trong cung.

Chủ quản Hoàng thành ty vốn có hai vị, một là Dương Hoài Mẫn, hai là Dương Cảnh Tông.

Đêm giặc xông vào, Dương Hoài Mẫn là người túc trực, tội vốn tăng một bậc, nhưng quái lạ ở chỗ, đám Dương Cảnh Tông và hoàng thành sứ, nhập nội phó đô tri Đặng Bảo Cát đều bị cách chức đuổi khỏi kinh còn Dương Hoài Mẫn thì tuy bị giáng chức nhưng vẫn được giữ lại trong cung, tiếp tục đảm nhiệm chức nội sứ (*).

(*) Cung đình thời cổ còn được gọi là "đại nội", "nội phủ", "nội đình" nên hoạn quan, thái giám hầu hạ trong cung cũng được gọi là "nội sự" hay "nội giám".

Các nương tử lén bàn tán việc này, quy kết nguyên nhân là do họ thờ chủ khác nhau, Dương Hoài Mẫn ngày thường hay theo đuôi phục tùng, cống hiến sức lực cho Trương mỹ nhân, còn Dương Cảnh Tông và Đặng Bảo Cát thì lại thân với trung cung.

Có lần ta còn nghe thấy Vương Vụ Tư bẩm báo tin dò la được cho Miêu nương tử, nói Dương Hoài Mẫn vốn qua lại thân thiết với Hạ Tủng, Hạ Tủng đã sớm sắp xếp thỏa đáng cho y, dạy y ứng đối ra sao, lúc Cố ngự sử thẩm vấn hoàn toàn không bắt được một bằng chứng khác thường nào.

Hạ Tủng lại nói đêm đó là Dương Hoài Mẫn phát hiện ra biến cố trước tiên, cần xử lý khoan hồng.

Thành thử, tội của Dương Hoài Mẫn nhẹ hơn những người khác.

Đương nhiên, kết quả này cũng không thể thuyết phục được tất thảy đại thần.

Ngự sử trung thừa Ngư Chu Tuần, thị ngự sử tri tạp sự (*) Trương Biện và ngự sử Hà Đàm đồng thời dâng tấu tố cáo Dương Hoài Mẫn, yêu cầu kim thượng xử phạt biếm chức, thẳng thắn khiển trách Dương Hoài Mẫn dung túng thuộc hạ giết giặc, mưu đồ diệt khẩu, tội nhẹ ấy là không làm tròn chức trách.

Lại hặc Dương Hoài Mẫn khi chuyện xảy ra lại đang ngủ đằng trong, tội nặng ấy là bỏ bê cương vị, mà nay bọn Đặng Bảo Cát đã theo lệ ra ngoài nhậm chức, Dương Hoài Mẫn lại một mình được giữ trong kinh, "Hình phạt nặng nhẹ bị đảo ngược, trong ngoài nghe thấy đều lấy làm bất bình".

(*) Chức quan tổng quản công việc vụn vặt ở Ngự sử đài, do ngự sử có thâm niên đảm nhiệm.

Hà Đàm còn bóng gió với kim thượng chuyện Hạ Tủng bao che cho Dương Hoài Mẫn: "Lại e người từng kết giao ngầm nghĩ cách cứu viện, nói xằng Hoài Mẫn có công, không thể bãi miễn như nhau.

Kính mong trừ bỏ ngoại lệ không chính đáng, đồng loạt biếm ra ngoài nhậm chức, thực thi công lý."

Cuối cùng, kim thượng tiếp nhận lời can gián, hàng Dương Hoài Mẫn xuống văn tư sứ (*), Hạ Châu thứ sử, cách chức điều khỏi kinh.

(*) Một chức võ quan thời Tống, đa phần không nhận trách nhiệm gì cụ thể, thường là chức suông trong lúc đợi điều chuyển của võ quan.

Hoàng hậu làm đúng như những gì đã hứa hẹn ban đầu, luận công ban thưởng cho các hoạn giả tham gia bắt giặc, hoặc thưởng tài vật hoặc thăng chức, đến ta cũng được thăng thành nội thị cao phẩm, điều này đối với một nội thị mười bảy tuổi mà nói là một ân ngộ khó đắc.

Song, Trương tiên sinh vào nhà bắt giặc đầu tiên thì lại chậm chạp mãi chưa truyền ra kết luận ban thưởng.

Ta lưu tâm hỏi thăm, đáp án nhận được chẳng ngờ lại là hoàng hậu không dám tự mình làm chủ mà hỏi ý kim thượng, kim thượng hờ hững nói: "Thăng hoạn giả lên chức vị trên cung phụng quan, cần phải bàn bạc với tể chấp."

Chắc hẳn kim thượng chẳng hứng thú gì với việc thảo luận chuyện này với tể chấp nên vẫn trì hoãn suốt từ đó đến giờ.

Có điều, mối quan tâm của Trương tiên sinh hiện nay lại không phải chuyện này.

Kể từ khi thầy bị thương, mỗi ngày ta đều đi thăm thầy, thấy nơi thầy ở thường xuyên có nội thị ngự tiền ra vào, hẳn đều là để thông báo tin tức liên quan tới hoàng hậu cho thầy.

Chuyện "Hán thư" thầy giao phó ta đã sớm hoàn thành thỏa đáng.

Tiểu hoàng môn ta sai đi làm nói, Trương Phương Bình quả nhiên nhìn chằm chằm trang kể về Phùng tiệp dư hồi lâu.

Ta báo kết quả này cho Trương tiên sinh, thầy chỉ gật đầu, mấy ngày nay cũng không bảo ta làm thêm gì nữa.

Một buổi chiều nọ, ta lại đi thăm Trương tiên sinh, thấy thầy đi từ chỗ trú ra, không biết định đi đâu, dáng vẻ vội vã, thần sắc âu lo, rất khác trước đây.

Ta kinh ngạc gọi thầy, thầy gật đầu, song không có ý dừng lại.

Chính lúc này có hoạn giả từ trong cung chạy tới, gọi thầy lại truyền khẩu dụ, quan gia triệu thầy vào thuật lại chi tiết chuyện bắt giặc cho ngự sử tra xét vụ án để luận công ban thưởng.

Trương tiên sinh ngừng chân, nói với hoạn giả truyền dụ: "Ý chỉ của quan gia Mậu Tắc không dám trái.

Nhưng hiện giờ mặc thường phục thế này mà đi gặp ngự sử thì là cử chỉ thất lễ, mời tiên sinh về trước, cho phép ta vào trong thay y phục, chốc nữa sẽ tự tới."

Hoạn giả ngậm cười nhìn thầy, như đã có chuẩn bị từ trước: "Ngự sử đợi đã lâu, nếu không thấy tôi dẫn Trương tiên sinh về, chỉ e sẽ oán tôi thất trách.

Tiên sinh cứ đi thay y phục đi, tôi sẽ chờ ở đây.

Mong tiên sinh thông cảm, chớ để ngự sử chờ lâu."

Trương tiên sinh bất đắc dĩ bằng lòng, chuyển sang nháy mắt với ta, ra hiệu ta theo thầy, ta bèn theo lại.

Vào đến phòng, thầy lập tức hạ giọng nói với ta: "Đại sự không ổn.

Đồng tri gián viện (*) Vương Chí dâng sợ nói giặc có quan hệ với cung nhân gác hoàng hậu, cội nguồn cung loạn có lẽ là từ đó mà ra.

Y xin kim thượng truy cứu việc này, e rằng muốn giật dây kim thượng hạ chiếu lệnh nhà ngục trui rèn, làm lung lay trung cung."

(*) Chức quan thứ phẩm trong Gián viện.

Ta cả kinh, không biết nói gì cho phải, cuối cùng chỉ bật ra được một câu hỏi: "Vương Chí là ai ạ?"

"Tay sai của Hạ Tủng, cũng có qua lại với Giả bà bà."

Trương tiên sinh trả lời, hỏi ngược lại ta: "Cậu có nhận ra được thủ tướng (*) Trần Chấp Trung và ngự sử Hà Đàm không?"

(*) Ở đây dùng để chỉ tể tướng, ý là người chấp chưởng đầu não trung ương.

Ta gật đầu: "Từng trông thấy từ xa ở các buổi lễ trong cung ạ."

Trương tiên sinh nhanh chóng tìm một cuộn giấy đưa cho ta, dặn dò: "Kim thượng bí mật cho triệu Hạ Tủng, Vương Chí, hiện đang nghị sự ở Di Anh Các, nếu có gì bất trắc, hạ lệnh tỏa viện thảo chiếu cũng có khả năng.

Đây là chiếu thư phế hậu ta sao lại sau khi kim thượng phế Quách hậu, cậu cầm lấy, đi tới Trung thư môn hạ đợi, hôm nay Hà ngự sử và Trần tướng công bàn bạc chuyện cấm vệ trực đêm hoàng thành ở đó, tầm gần xế chiều họ tất sẽ ra, đến lúc đó cậu chạy tới, giả bộ vấp ngã, làm rơi chiếu thư để mở trên mặt đất cho họ thấy.

Họ có hỏi thì cậu trả lời là Hạ xu tướng (*) bảo cậu tìm đưa cho y."

(*) Vào thời Đường – Tống, đây là cách gọi người giữ chức xu mật sứ kiêm tể tướng.

Lần đầu tiên đối mặt với việc chế tạo lời nói dối liên quan đến chính trị, ta trợn mắt há hốc.

Trương tiên sinh thấy thế lại như sinh lòng áy náy, vỗ vai ta nói, "Xin lỗi, nhờ làm chuyện như vậy...

Nhưng nếu cậu nói thẳng chuyện hoàng hậu với họ thì đối với cậu hay hoàng hậu đều không tốt như nhau."

"Vậy, vậy vì sao phải nói, Hạ xu tướng..."

Ta lắp bắp hỏi.

"Trần tướng công và Hà ngự sử đều không ưa thái độ làm người của Hạ Tủng."

Trước khi thay y phục ra cửa, Trương tiên sinh chỉ đáp đúng câu này.

Ta theo lời hành sự, canh trước Trung thư môn hạ đợi được Trần Chấp Trung và Hà Đàm, lại không ngờ đi ra cùng họ còn có xu mật phó sứ Lương Thích, thành thử có hơi do dự, nhưng ngay sau đó lại nhớ ra Trương tiên sinh từng kể Lương Thích kiến nghị tạm hoãn chuyện tôn vinh Trương mỹ nhân, vả lại theo truyền thống của quốc triều, xu mật sứ và xu mật phó sứ thông thường đều bất hòa, bèn theo đúng kế hoạch chạy tới, cố tình làm bộ vấp ngã, chiếu thư trong tay tuột mất mở ra, quả nhiên gây được sự chú ý của họ.

Họ chậm rãi bước đến vây bên chiếu thư, cụp mắt xuống nhìn, đều tỏ ra kinh ngạc.

Trần Chấp Trung lập tức hỏi ta: "Ngươi mang tờ công văn cũ này đi làm gì?

Định đi đâu?"

Ta cúi đầu đáp: "Là Hạ xu tướng muốn kiểm tra, lệnh tôi tìm từ Sử quán (*) ra, chốc nữa đưa cho ông ấy."

(*) Cơ quan soạn sử thời xưa.

Ba người nhìn nhau, tạm thời cùng im lặng, mà khoảnh khắc khi họ trao đổi ánh mắt đã khiến ta cảm nhận được rằng ta không làm nhục sứ mệnh.

"Hiện giờ Hạ xu tướng đang ở đâu?"

Sau nữa, Trần Chấp Trung hỏi.

Ta báo với ông: "Diện thánh ở Di Anh Các ạ."

Ta nghĩ câu này đã đầy đủ thông tin, bèn nhanh chóng đứng lên, nhặt lại công văn, vội vã chạy ra khỏi tầm mắt họ.

Sau đó, ta núp gần Di Anh Các, thấy Hạ Tủng, Vương Chí đi ra, lại như mong muốn thấy Trần Chấp Trung, Hà Đàm và Lương Thích đến cầu kiến kim thượng, lần lượt tiến vào.

Ta trở lại Nghi Phượng Các, song đến cùng vẫn ăn ngủ không yên, bèn một lần nữa tìm cớ ra ngoài.

Lúc đi ngang qua Nhu Nghi Điện, chợt nghe Thu Hòa gọi ta từ phía sau: "Hoài Cát, muộn thế này rồi mà huynh định đi đâu?"

Ta dừng lại, ngoảnh đầu nhìn cô, cô vốn đang cười yêu kiều lại bị dọa cho hết hồn: "Làm sao thế?

Sao sắc mặt huynh xấu vậy?"

Ta lưỡng lự, cuối cùng vẫn sơ lược kể lại cho cô nghe chuyện hôm nay, nhắc nhở cô nếu xảy ra chuyện gì lớn thì phải theo sát hầu hạ hoàng hậu.

Thu Hòa ngơ ngác, hồi lâu sau mới phản ứng lại, lệ rơi như châu rớt: "Sao lại có thể như thế..."

Ta muốn an ủi cô, lại cảm thấy không thốt lên nổi, một lúc sau mới nói: "Đừng khóc, để hoàng hậu nhìn thấy lại không hay.

Cô trở về đi, tôi đi hỏi thăm tiếp xem.

Có tướng công tiến gián, chuyện hẳn không đến mức hết đường vãn hồi."

Lại tới gần Di Anh Các, thấy bên trong vẫn đèn đuốc sáng trưng, chứng tỏ quân thần còn đang thảo luận chuyện hoàng hậu.

Bèn đi đến chỗ Trương tiên sinh, đợi một hồi lâu mới thấy thầy trở về.

Nhác thấy ta, thầy hỏi ngay: "Cho họ nhìn thấy chưa?"

Ta gật đầu, thuật lại một lượt chuyện diễn ra.

Nghe đến ba người vào Di Anh Các, thầy mới tựa như thở phào, dẫn ta vào ngồi chờ tin tức.

Thoạt tiên, chúng ta ngồi trơ ở đấy, im lặng không nói chuyện, lát sau, ta thử hỏi dò Trương tiên sinh: "Vì sao Hạ Tủng lại muốn làm lung lay trung cung?"

"Trước đây cậu từng nghe chuyện Hạ Tủng bao giờ chưa?"

Thầy hỏi.

Ta đáp đúng sự thật: "Chỉ từng nghe nói đầu ông ta trị giá hai xu."

Nghe vậy, Trương tiên sinh không khỏi bật cười, ta cũng cười theo, bầu không khí nhờ thế mới thoải mái hơn phần nào.

Thì ra Hạ Tủng từng thống lĩnh quân đội chinh phạt phương tây, lúc mới tới biên thùy tràn ngập chí khí lắm, muốn nhanh chóng giết Nguyên Hạo diệt Hạ quốc, bèn dán cáo thị treo thưởng trên cửa ải: "Ai lấy được đầu Nguyên Hạo, thưởng năm trăm vạn xâu, phong tước Tây Bình vương."

Nguyên Hạo nghe nói việc này, bèn sai người vào biên thành bán mành cói, giả bộ làm rơi, trên một mặt mành cói lại đính cáo thị của Nguyên Hạo.

Người Tống trong thành mở ra xem, chỉ thấy trong đó viết: "Ai lấy được đầu Hạ Tủng, thưởng hai xu."

Hạ Tủng biết được, vội vàng giấu cáo thị của Nguyên Hạo đi, tiếc rằng chuyện này đã sớm truyền khắp, biến thành trò cười cho người trong nước, trong cung cũng thường có người kể lại.

"Hạ Tủng viết bài từ Không đàm Lương Châu khúc, cũng chẳng tài hoa trác việt gì, lại còn hay đố kị người tài."

Trương tiên sinh kể lại chi tiết nguyên do chuyện này, "Mấy năm trước, Phạm Trọng Yêm Phạm tướng công dẫn một nhóm hiền thần danh sĩ tiến hành cải cách tân chính, Hạ Tủng khi đó vốn đã được kim thượng bổ nhiệm làm xu mật sứ, nhưng gặp phải đài gián vạch tội, tố y nham hiểm gian giảo, trong chiến sự với Hạ thì hèn nhát cẩu thả, kim thượng bèn đổi ông ta đi trông coi Bác Châu.

Những gián quan này đa số thuộc phái tân chính, Hạ Tủng ghi hận trong lòng, xui khiến nội thần Lam Nguyên Chấn dâng sớ gièm pha lên kim thượng, chỉ Phạm Trọng Yêm, Âu Dương Tu, Dư Tĩnh, Doãn Thù kết bè kết đảng, dìu dắt lẫn nhau.

Song kim thượng chẳng mấy để ý tới, ông ta bèn bày keo mới, hãm hại đại thần tân chính.

Khi đó Quốc Tử Giám trực giảng (**) Thạch Giới viết thiên 'Khánh Lịch thánh đức tụng', gọi việc kim thượng đề bạt các đại thần tân chính kim thượng là 'vời chúng hiền', lại cho việc Hạ Tủng không có duyên với chức xu mật sứ là 'đuổi đại gian'.

Do đó Hạ Tủng tất nhiên căm thù Thạch Giới, ông ta hãm hại đại thần tân chính chính là xuống tay từ Thạch Giới đầu tiên."

(**) Chức quan phụ trợ bác sĩ truyền thụ kinh học (bác sĩ ở đây chỉ người đạt học vị cấp bậc cao nhất, giống như tiến sĩ thời nay vậy).

"Thạch Giới?"

Ta từng nghe đến cái tên này, có hiểu biết sơ sơ, "Nghe nói ông ấy qua lại thư từ với Phú Bật, viết nháp chiếu phế lập?"

Trương tiên sinh thở dài: "Tất nhiên là giả rồi.

Khánh Lịch năm thứ tư, Hạ Tủng xúi một tỳ nữ tinh thông viết lách trong nhà bắt chước nét chữ của Thạch Giới, bóp méo thư Thạch Giới gửi Phú Bật, đổi 'noi gương Y, Chu' thành "noi gương Y, Hoắc".

Y chỉ Y Doãn, Chu chỉ Chu Công, vốn đều là hiền thần phò tá thiên tử, nhưng bị ông ta thay đổi, Chu Công biến thành Hoắc Quang, đây chính là quyền thần từng phế lập quốc vương.

Sau đó, ông ta còn làm giả một bản nháp chiếu thư phế đế, nói là Thạch Giới viết cho Phú Bật, cố ý truyền ra ngoài, cũng sai người tấu với kim thượng."

Điều này hiển nhiên là chuyện người làm vua kiêng kỵ nhất.

Ta bắt đầu hiểu vì sao về sau kim thượng không còn ủng hộ đại thần tân chính như lúc mới đầu nữa.

"Thực ra kim thượng cũng không tin Phú Bật làm việc này, nhưng khó tránh khỏi để lại chút lấn cấn trong lòng."

Trương tiên sinh nói tiếp, "Kể từ đó, không chỉ Phú Bật mà đến Phạm Trọng Yêm thấy thế cũng chẳng dám yên lòng trên triều, đều tự xin rời kinh ra ngoài nhậm chức.

Thạch Giới bị giáng chức thành Bộc Châu thông phán (*), chưa đi nhậm chức đã qua đời.

Không bao lâu sau, bọn Vương Củng Thần lại mượn việc Tiến tấu viện của Tô Thuấn Khâm để bỏ tù trui rèn, biếm một loạt hiền tuấn quán các (**) ủng hộ tân chính, cũng mượn việc này ảnh hưởng đến nhạc phụ Tô Thuấn Khâm, tể tướng Đỗ Diễn, khiến ông ấy bị bãi tướng.

Hàn Kỳ dâng sớ lên tiếng cho Phú Bật cũng bị bãi chức xu mật phó sứ.

Sau nữa, đến các gián quan Âu Dương Tu, Thái Tương, Tôn Phủ cũng bị người ta vin cớ, lần lượt điều ra ngoài, tân chính đến đó không thực hiện tiếp được nữa.

Năm ngoái, Hạ Tủng rốt cuộc cũng được toại nguyện, trở về làm xu mật sứ."

(*) Một chức quan ở châu phủ, chưởng quản các việc vận chuyển lương thực, đất đai, thủy lợi và tố tụng, có trách nhiệm giám sát quan lại châu phủ.

(**) Cách gọi chung các cơ quan Chiêu văn quán, Sử quán, Tập hiền viện và Bí các, Long đồ các.

Nghe Trương tiên sinh kể lại chuyện xưa, ta mới hiểu được tường tận về Khánh Lịch tân chính.

Trước chỉ cảm thấy các đại thần tân chính tài hoa xuất chúng, giỏi giang hơn người, dẫu con đường làm quan có chìm nổi khiến người ta phải thở dài tiếc nuối, song cũng chỉ là chút sầu não đơn thuần khi đọc văn thơ của họ, lại chẳng ngờ đằng sau bài từ tuyệt diệu ngâm gió vịnh trăng của những tài tử này cất giấu câu chuyện bè phái giao tranh tàn sát khốc liệt đến thế.

Nhưng ta vẫn chưa nhận ra được mấu chốt trong đó ngay: "Nhưng mà, Hạ Tủng chĩa mũi giáo vào trung cung thì liên quan gì đến chuyện này?"

"Cậu không nhìn ra à?"

Trương tiên sinh chỉ điểm, "Trung cung rất tán đồng với các đại thần tân chính."

Ta lập tức nghĩ đến chuyện Âu Dương Tu, trong lòng tỉnh ngộ, có điều hãy còn nghi vấn: "Nhưng hoàng hậu thường ngày cũng đâu vọng ngôn nghị luận chính sự, Hạ Tủng ở bên ngoài sao biết được?"

"Cứ phải nghị luận mới có thể nhìn ra thái độ của người?"

Trương tiên sinh nói, "Nhất cử nhất động của người đều bị kẻ khác chú ý, bình thường xem nhiều thiếp xuân của ai bao nhiêu lần đều sẽ nhanh chóng bị truyền ra ngoài cung."

Suy nghĩ một thoáng, Trương tiên sinh lại nói cho ta biết: "Người đọc thơ Tô Thuấn Khâm, bình từ Âu Dương Tu, thưởng chữ Thái Tương, nghe nói Phạm Trọng Yêm viết 'Nhạc Dương lâu ký' lập tức sai người tìm về cho mình xem...

Huống hồ, tiểu thư nhà Đỗ tướng công Đỗ Diễn về sau trở thành phu nhân Tô Thuấn Khâm còn là bạn thân chốn khuê phòng của người khi chưa xuất giá."

3.

Tâm nguyện

Liên hệ toàn bộ tiền căn hậu quả sự việc này, ta không khỏi cảm thán: "Vốn tưởng rằng hành động của Hạ Tủng chỉ là ngấm ngầm phụ trợ Trương mỹ nhân, giành lấy công ủng hộ, lại chẳng ngờ nguyên nhân trong đó phức tạp đến vậy."

"Phế lập trung cung là chuyện liên quan đến xã tắc, trước nay chưa từng chỉ là chuyện nhà đế vương..."

Trương tiên sinh chầm chậm giở chiếu thư phế hậu ta trả lại thầy, hỏi ta: "Cậu có biết Quách hậu vì sao mà bị phế không?"

Ta đáp theo kết luận của người trong cung: "Bởi bà ấy tranh sủng với tần ngự."

Trương tiên sinh xua tay: "Xúc phạm long nhan do tranh sủng chỉ là giọt nước tràn ly.

Theo lệ của quốc triều, nếu chuyện liên quan đến trung cung thì quyết sách của hoàng đế phải trải qua bàn bạc với tể chấp trước.

Tể chấp mà không đồng ý thì hoàng đế rất khó tự ý chủ trương."

Đây là lần đầu tiên ta ý thức được rằng sự kiện phế hậu đã nghe quá nhiều lần này còn có bối cảnh sâu hơn: "Nói vậy, là Lữ tướng công..."

"Đúng thế, bà ấy đắc tội với tể tướng đương thời Lữ Di Giản."

Trương tiên sinh kể lại chuyện cũ khi xưa, "Minh Đạo năm thứ hai, Chương Hiến thái hậu hoăng, sau mười một năm ròng rã bà buông rèm chấp chính, kim thượng mới được đích thân xử lý chính sự.

Sau đó kim thượng thương nghị với Lữ Di Giản, muốn trục xuất toàn bộ bộ hạ của thái hậu, Lữ Di Giản cũng bày mưu cho ngài, đồng thời liệt kê danh sách những đại thần cần bãi miễn.

Kim thượng về lại trong cung, nói việc này với Quách hoàng hậu, Quách hậu phản vấn ngài: 'Lẽ nào Di Giản thì không phò tá thái hậu?

Chỉ có điều ông ta linh hoạt, giỏi ứng biến, biết phải cư xử thế trước cả thái hậu lẫn quan gia, thế nên mới chu toàn được vậy thôi.' Kim thượng bèn quyết định bãi miễn cả Lữ Di Giản.

Hôm sau, Lữ Di Giảng nghe nội thần tuyên bố quan viên bị cách chức trên triều, đột nhiên nghe thấy tên mình cũng bị xướng lên, vô cùng kinh hãi, lại không biết nguyên nhân làm sao.

Ông ta sẵn có qua lại với nhập nội đô tri Diêm Văn Ứng, nghe Diêm Văn Ứng giải đáp lý do, kể từ đó bất mãn với Quách hậu.

Qua gần nửa năm, kim thượng khôi phục tướng vị cho ông ta.

Sau nữa, kim thượng vì việc của Thượng mỹ nhân mà phàn nàn với ông ta hoàng hậu nặng tâm đố kị, ông ta và Diêm Văn Ứng thuận thế nói vài câu lửa cháy đổ thêm dầu, Quách hậu liền bị phế...

Bây giờ tình huống của Hạ Tủng cũng tương tự Lữ Di Giản, có một trung cung tán đồng với các đại thần tân chính bên cạnh quân vương, ông ta khó mà không lo lắng cho được, huống hồ ông ta còn câu kết với Dương Hoài Mẫn, có khi Dương Hoài Mẫn từng bịa đặt gì đó về trung cung trước mặt ông ta cũng chưa biết chừng...

Mặt khác, nghe đứa bé phục vụ trong Xu mật viện nói, sau hôm dẹp giặc, quan viên Xu mật viện nhắc tới việc hoàng hậu đêm trước gặp nguy không loạn, chỉ huy bình tĩnh, mọi người đều có ý khen ngợi, chỉ duy Hạ Tủng cười ruồi, nói: 'Trung cung có phong độ buông rèm của Chương Hiến quá nhỉ.'"

Ta nghe ra ngụ ý câu này: "Ông ta chẳng những sợ hoàng hậu góp lời tham gia vào chính sự bây giờ mà còn sợ trong tương lai, bà sẽ học Chương Hiến buông rèm chấp chính, trọng dụng đại thần tân chính?"

Trương tiên sinh liếc ta, nói: "Cẩn thận cái mồm đấy...

Quan gia bây giờ thánh thể an khang."

Ta cả kinh, vội cúi đầu nín bặt.

Trương tiên sinh lại bảo: "Lời cậu vừa nói, rằng Hạ Tủng có ý âm thầm trợ giúp Trương mỹ nhân, đúng là cũng có nguyên nhân này.

Trương mỹ nhân lôi kéo Hạ Tủng và Vương Chí thông qua Giả bà bà, biếu tặng họ rất nhiều thứ, mà bản tính hai người Hạ, Vương thì tham lam, còn kiêng dè trung cung, bởi vậy nên hai phe ăn rơ bắt mối với nhau."

Ta hồi tưởng lại sự kiện đã qua, càng nghĩ càng thấy kinh hãi: "Sau khi dẹp giặc, Hạ Tủng kiên quyết phản đối để Ngự sử đài thẩm lý án này bên ngoài, mà Dương Hoài Mẫn thì lại giết tên giặc cuối cùng diệt khẩu...

Cũng có thể, ba tên bị giết trước vào đêm hôm đó cũng là do ông ta bày mưu...

Lẽ nào sự kiện này căn bản là một tay Hạ Tủng một tay trù tính?"

"Ông ta đúng là có động cơ này."

Trương tiên sinh nói, "Thậm chí con bé thị nữ trong gác hoàng hậu cũng có thể là ông ta kêu giặc đi dụ dỗ để có lý do xử án làm lung lay trung cung...

Theo ta thấy, khi đó hoàng hậu đã ý thức được là bị người hãm hại nên mới khăng khăng muốn giết Song Ngọc, bằng không, nữ tử có thể dễ dàng bị dụ dỗ ý chí vốn bạc nhược, dưới thủ đoạn trui rèn thì lời khai gì mà chẳng nói ra được?"

"Thì ra là thế..."

Nghi vấn đã có giải thích hợp lý, nhờ đó ta mới rút ra được chút đầu mối từ vụ án rối loạn này.

Trương tiên sinh rầu rầu thở dài, lại nói: "Nhưng đây cũng chỉ là phán đoán của ta mà thôi, khổ ở chỗ chẳng có chứng cớ mà trình lên quan gia."

"Kim thượng thánh minh, chuyện sửa án cho Âu Dương Tu ai ai cũng nhìn rõ được cả, chắc chắn sẽ không xử oan hoàng hậu, vả lại, còn có nhóm Trần tướng công lên tiếng cho trung cung nữa..."

Ta muốn xua bớt phiền muộn cho Trương tiên sinh, nhưng nhắc tới Trần Chấp Trung, lại bỗng nảy ra một thắc mắc, "Cơ mà, tại sao tiên sinh lại cho rằng Trần tướng công chắc chắn sẽ lên tiếng cho hoàng hậu?

Theo tôi được biết, ông ấy cũng không thuộc phái tân chính."

"Đương nhiên, ông ấy phản đối tân chính."

Trương tiên sinh đáp, "Tuy nhiên, ông ấy còn ghét Hạ Tủng hơn."

Thầy tiếp tục giải thích thắc mắc cho ta: "Lúc Hạ Tủng coi giữ Tây cương, kim thượng bổ nhiệm Trần Chấp Trung làm kinh lược an phủ chiêu thảo sứ (*), mà tư tưởng của Trần Chấp Trung và Hạ Tủng lại không hợp nhau, sau cùng như nước với lửa, hai bên đều tự dâng tấu lên triều đình xin từ chức.

Trước đây kim thượng triệu Hạ Tủng về vốn là định phong làm tể tướng, ngang hàng với Trần Chấp Trung, nhưng chúng gián quan và ngự sử đều nói hai người họ vốn có hiềm khích xưa nay, không thể cho làm cộng sự, bấy giờ mới chuyển ông ta sang làm xu mật sứ.

Thế nên, Hạ Tủng mà muốn thay trung cung, Trần Chấp Trung ắt sẽ không ngồi yên bỏ mặc."

(*) Chức kinh lược an phủ sứ (tổng quản lý quân dân) kiêm chiêu thảo sứ (trấn áp bạo loạn và chiêu hàng, đánh dẹp quân phản loạn).

Ta cũng nghĩ đến ngay, Trần Chấp Trung tuy phản đối tân chính nhưng trước nay vẫn luôn thanh liêm tự trọng, ông không vừa mắt Hạ Tủng cũng là điều dễ hiểu.

Trước đây còn từng nghe kim thượng khen với công chúa là Trần Chấp Trung trung thành, không mượn việc công làm việc tư, kể rằng con rể ông xin ông kiếm cho chức quan, ông trả lời: "Chức quan là của quốc gia, không phải đồ trong lồng trong tráp nơi buồng ngủ, sao có thể tùy ý cho con rể mình!"

Kim thượng rất tán thưởng chuyện ấy, bởi vậy nên tuy gián quan nhiều lần góp lời nói Trần Chấp Trung văn dốt võ nát, không có tài làm tể tướng, nhưng kim thượng vẫn kiên trì cho ông tướng vị, ngược lại, nói với chúng thần rằng: "Chấp Trung sẽ không lừa dối trẫm."

Nếu ông tiến gián, kim thượng tất sẽ suy xét cẩn trọng.

Liên tưởng tới Hà Đàm, ta thuận thế truy vấn Trương tiên sinh: "Vậy Hà ngự sử thì sao ạ?

Y thì có va chạm gì với Hạ Tủng?"

"Y thì không phải là có ân oán cá nhân gì với Hạ Tủng, mà là tính vốn chính trực dám nói, lại từng biện giải thay Thạch Giới."

Trương tiên sinh lại kể sang chuyện Hà Đàm: "Năm ngoái, Hạ Tủng muốn tiến một bước mưa hại Phú Bật, bèn tấu lời gièm pha, Thạch Giới khi ấy còn chưa chết thật mà nghe lời Phú Bật chỉ điểm giả chết, âm thầm đi Khiết Đan âm mưu khởi binh, Phú Bật chính là nội ứng, sau đó còn kiến nghị mở quan tài Thạch Giới nghiệm chứng.

Lúc đó đài gián cũng không dám nói gì thêm, còn Hà Đàm thì cực lực biện giải thay Thạch Giới trước kim thượng, cũng chỉ trích Hạ Tủng dụng tâm hiểm ác...

Với cả, lần này xem y đánh giá việc Dương Hoài Mẫn, ta nghĩ lòng y như gương sáng, nhất định biết phải quấy trong này, cho nên mới dám gửi gắm hi vọng vào y."

"Còn Trương học sĩ nữa..."

Ta hỏi lại.

Trương tiên sinh mỉm cười: "Năm đó cậu làm học trò ta cũng không thấy siêng năng học hỏi như bây giờ."

Thấy ta xấu hổ, thầy không đùa thêm nữa, tiếp tục giải thích: "Năm ấy, ban đầu Trương Phương Bình cũng tán thành tiến hành tân chính, chỉ là tham dự không sâu nên mới toàn thân trở ra.

Y cũng là người ủng hộ trung cung tiềm ẩn, nếu kim thượng quyết định tỏa viện thảo chiếu, bất kể là phế lập trung cung hay tôn vinh Trương mỹ nhân, y tất đều sẽ tiến gián."

Lại một lần nữa được thụ giáo Trương tiên sinh sau rất nhiều năm, ta nghe mà gật đầu lia lịa, nhịn không được hỏi tiếp: "Lương Thích thì sao ạ?

Sao y cũng không đồng tình với nghị quyết của Hạ Tủng?"

Trương tiên sinh không trực tiếp đáp ngay mà hỏi ngược lại ta: "Ta hỏi cậu, trước đó ta không hề dặn cậu cho cả Lương Thích xem chiếu thư, vì sao lúc y ở đấy cậu cũng mở chiếu thư ra?"

Ta thuật lại suy nghĩ khi ấy cho thầy nghe: "Tôi nghe người ta nói, trước nay trong quốc triều, xu mật sứ và xu mật phó sứ thường không hòa hợp, chẳng hạn như Khấu Chuẩn và Vương Tư Tông hay Vương Khâm Nhược và Mã Tri Tiết triều Chân Tông vậy, bây giờ hẳn cũng..."

Trương tiên sinh gật đầu, nói: "Cậu đã biết rồi thì cần gì phải hỏi ta?"

Ta đầu tiên là sửng sốt, ngay sau đó cùng thầy nhìn nhau cười.

Hoàng đế quốc triều luôn chú trọng cân bằng quyền lợi, đề phòng tể chấp lưỡng phủ chuyên quyền, thông thường, chức vị thứ yếu trong lưỡng phủ sẽ không để bè cách tể chấp đảm nhiệm, bởi vậy nên tể tướng đồng bình chương sự và phó tướng tham tri chính sự, xu mật sứ và xu mật phó sứ thường thuộc hai phái khác nhau trong triều.

Kết quả cuối cùng của đêm nay hoàn toàn không ảnh hưởng tới tâm trạng tốt đẹp của hai ta trong khoảnh khắc này.

Lát sau, có nội thị từ Di Anh Các tới, thông báo với Trương tiên sinh: "Trần tướng công, Lương xu mật và Hà ngự sử vừa mới rời khỏi Di Anh Các, trời đã khuya, cửa cung đã đóng, không tiện xuất cung nên đêm nay ở tại Hàn uyển.

Mời Trương tiên sinh ghi lại vào sổ sách Nội Đông Môn ty."

Trương tiên sinh đồng ý, rồi hỏi một câu làm như bâng quơ: "Họ đi Hàn uyển là cần tỏa viện à?"

Nội thị đáp: "Không phải, chỉ là qua đêm ở Hàn uyển mà thôi, cũng không thảo chiếu."

Sáng sớm hôm sau, Thu Hòa tới tìm ta, ngẩn ngơ ưu sầu, hai mắt hãy còn vương dấu lệ, nhưng khóe miệng lại chúm chím rộ cười.

"Hoài Cát, vừa rồi tôi đến Phúc Ninh Điện cầu kiến quan gia..."

Cô nói, "Ngài nói với tôi, thực ra ngài cũng chưa từng nghĩ đến chuyện thay trung cung."

Nhận được đáp án minh xác này, ta tất nhiên là mừng rỡ, song chú ý tới vẻ mặt lạ lùng của Thu Hòa, cảm thấy hoài nghi sâu sắc cách cô thăm dò được lời thật của quan gia, bèn hỏi cô: "Cô hỏi ngài như thế nào?

Sao ngài lại thẳng thắn nói như vậy?"

Thu Hòa gắng duy trì nụ cười, chậm rãi nói cho ta biết: "Tôi nhắc tới lời chấp thuận năm đó với ngài, xin ngài thực hiện nguyện vọng của tôi.

Ngài hỏi là cái gì, tôi nói, nguyện vọng của tôi chính là nhìn hoàng hậu làm bạn bên quan gia dài lâu."

"Ôi..."

Ta khó mà hình dung được tâm trạng lúc này.

Tuy hoàn toàn có thể lý giải thiện ý của cô, cũng cho rằng cô đã có một lựa chọn thỏa đáng, song vẫn không khỏi tiếc hận thay cô, "Nguyện vọng của cô thì sao?

Cô cứ thế từ bỏ nguyện vọng chân chính của mình như vậy?"

Cô lắc đầu, rầu rĩ: "Nói sau đi...

Để tôi nghĩ đã, đừng hỏi nữa..."

Cô xoay người đi ra ngoài, bước chân nhẹ bẫng, dáng vẻ mất hồn mất vía.

Đi tới cạnh cửa, như nhớ tới điều gì, lại quay đầu lại, nói giọng lưỡng lự: "Sau đó, quan gia bảo tôi chuyển cáo Trương tiên sinh một câu, tôi không biết có nên chuyển không nữa."

"Ồ, là gì thế?"

"Ngài nói: Gửi lời tới Trương tiên sinh, bôn ba mấy ngày nay, vất vả rồi."

Thu Hòa thuật lại, bổ sung thêm: "Lúc ngài nói câu này, vẻ mặt rất bình thản, không giống như đang tức giận, nhưng cũng không có ý cười."

Hiện giờ, rốt cuộc ta cũng hiểu rõ vì sao kim thượng không thích Trương tiên sinh.

Do dự mãi, cuối cùng vẫn thay mặt Thu Hòa chuyển cáo câu này cho thầy.

Mà Trương tiên sinh thì lại rất bình tĩnh, không hề có vẻ sợ hãi của người bình thường khi nghe quân vương cảnh cáo, chỉ thong dong đáp lại ba chữ: "Tạ quan gia."

Thấy ta ngạc nhiên, thầy khẽ nhếch miệng: "Có phải cảm thấy mặt ta rất dày, nghe thế mà không đi quỳ lạy tạ tội không?"

Ta khó mà trả lời được, chỉ xua tay.

Trong bụng rất ư bội phục thầy còn có thể trấn tĩnh được vậy, nếu đổi lại là người khác, nghe kim thượng bảo thế, há còn dám yên tâm ở lại cung?

Thầy yên lặng nhìn ta hồi lâu, thình lình hỏi ta một câu như chẳng liên quan: "Quách hậu chết như thế nào, cậu có biết không?"

"Bệnh chết."

Ta đáp, ngẫm nghĩ rồi lại bổ sung một tin đồn từng nghe trước đây: "Cũng nghe nói là bị Diêm Văn Ứng hạ độc chết."

Trương tiên sinh lắc đầu: "Bà ấy bị chôn sống."

Đây hẳn là chuyện làm ta khiếp sợ nhất trong số những gì nghe được mấy ngày qua, nhất thời không mảy may phản ứng được gì, chỉ quên sạch lễ nghi sững sờ nhìn Trương tiên sinh trân trân.

"Đối với kim thượng, phế hậu vốn xuất phát từ cơn giận dữ nhất thời, sau đó ngài cũng từng hối hận."

Trương tiên sinh nói với ta, "Có một lần, ngài dạo chơi Hậu uyển, trông thấy cỗ kiệu Quách hậu từng dùng, nhất thời có ý nhớ nhung người cũ, cảm thấy sầu não, bèn điền một bài từ, sai tiểu hoàng môn đến cung Dao Hoa Quách hậu ở, ban từ cho bà.

Quách hậu theo vần đáp lại, lời lẽ vô cùng đau thương.

Kim thượng xem mà buồn bã, lại phái người đi, hứa hẹn sẽ triệu bà hồi cung.

Lữ Di Giản và Diêm Văn Ứng nghe vậy đều rất sợ hãi, lo rằng Quách hậu sẽ trả thù.

Mà lúc ấy, Quách Hậu ngẫu nhiên bị cảm lạnh, Diêm Văn Ứng bèn dẫn thái y tới khám, không biết làm sao mà bệnh càng chữa càng nặng.

Không được mấy ngày, Diêm Văn Ứng tuyên bố thuốc và châm cứu không hữu hiệu, Tịnh phi bệnh chết."

Những điều này ta đã được nghe người ta kể từ trước, bèn hỏi Trương tiên sinh: "Không phải là Diêm Văn Ứng hạ độc vào thuốc hại chết như người trong cung đồn ạ?"

Trương tiên sinh đáp: "Có hạ độc, nhưng là độc mạn tính, chỉ làm bệnh tình Quách hậu nặng thêm, trong một khoảng thời gian ngắn sẽ không chết ngay.

Có lẽ hắn cảm thấy nếu hạ thuốc mạnh độc chết, bệnh trạng sẽ quá rõ ràng.

Khi đó kim thượng làm lễ trai giới ở ngoại thành phía nam, sắp trở về.

Diêm Văn Ứng sợ ngài về rồi sẽ tới thăm Quách hậu, bèn cưỡng ép khâm liệm bỏ bà vào quan tài trong tình huống Quách hậu còn chưa tắt thở."

Ta tưởng tượng cảm nhận của Quách hậu khi đó, không rét mà run, chuyển sang hỏi thầy: "Sao tiên sinh biết việc này?"

Trương tiên sinh trả lời: "Khi đó ta làm việc ở Ngự dược viện, có một hôm phụng mệnh đi đưa thuốc cho Quách hậu, đến nơi, thấy trong sân bày quan tài, đám cung nhân nội thị thì đang khóc lóc trước linh cữu.

Diêm Văn Ứng lau nước mắt đi qua nói với ta, đêm qua Quách hậu đã qua đời.

Thấy ta phân vân, hắn liền sai người mở quan tài cho ta nghiệm xét.

Đương nhiên, lúc này Quách Hậu đã được liệm xong, tư thế như đang ngủ yên bình thường, nhưng lại nhíu mày nhăn trán như thể chịu không xiết đau đớn.

Ánh mắt ta vô tình lướt qua nắp quan tài họ nhấc lên, trông thấy bên trên có mấy vết móng tay...

Ta nhất thời sinh nghi, bèn mượn cớ thuốc thang quý giá đã đưa đến, không tiện mang trở về, không bằng bỏ vào quan tài chôn cùng, sau đó nhân cơ hội đặt thuốc thoáng vén ống tay áo Quách hậu lên, phát hiện ra ngón tay bà ứ máu tím bầm, da móng tay hư hại, nghĩ hẳn là cào trầy trong lúc ra sức giãy giụa bên trong..."

"Đừng nói nữa."

Trong lòng khó có thể chấp nhận được thảm trạng khi ấy, ta không nhịn được ngắt thẳng lời Trương tiên sinh.

Trương tiên sinh lập tức lặng thinh.

Một chốc sau, ta hỏi lại: "Tiên sinh đã xem ngón tay của Quách hậu sau khi chết mà về sau lại không bị Diêm Văn Ứng hãm hại ạ?"

"Ta đoán hắn đúng là có ý định ấy.

Có điều, rất nhanh sau đó hắn tự thân khó bảo toàn, không rảnh xử trí ta."

Trương tiên sinh đáp, "Tuy hắn nói Quách hậu chết bệnh nhưng trong cung trong triều ai cũng nghi ngờ, rồi rộ lên tin đồn hắn hạ độc.

Có gián quan xin kim thượng nghiệm xét trạng huống sinh hoạt hằng ngày của Quách hậu, điều tra việc này, nhưng kim thượng tuy bi thương song lại không đồng ý lời tấu xin của gián quan, chỉ phân phó mai táng Quách hậu theo lễ nghi hoàng hậu.

Diêm Văn Ứng từng lớn tiếng quát mắng y quan trong lúc kim thượng cử hành tế bái ở thái miếu trước khi trai giới, gián quan thấy kim thượng không muốn truy tra nguyên nhân cái chết của Quách hậu, bèn mượn chuyện đó vạch tội hắn.

Vì vậy, kim thượng điều Diêm Văn Ứng ra khỏi kinh.

Sau đó không lâu, Diêm Văn Ứng chết ở Lĩnh Nam."

"Thế thầy có nói lại việc này với quan gia không?"

Ta hỏi.

"Không.

Ngài đã không muốn truy cứu thì hà tất ta phải nhiều chuyện.

Ngài tự có nguyên nhân của mình, chúng ta cũng không cần phải đi phỏng đoán thánh ý nữa."

Trương tiên sinh đáp, lại dời mắt về phía trung cung, ánh mắt nghiêm cẩn, "Nhưng kể từ đó, hễ chạm tới bức chiếu thư phế hậu này, ta đều sẽ nhắc nhở bản thân, tuyệt đối không thể để chuyện này xảy ra với hoàng hậu ngày nay."

"Cho nên," Một lần nữa nhìn sang ta, thầy bình thản nói, "Chịu chút lạnh nhạt có tính là gì.

Miễn là ta còn ở trong cung, còn một hơi thở, ta sẽ làm chuyện ta cần làm."

Ta rất muốn hỏi thầy, nếu thật sự vì vậy mà làm kim thượng tức giận thì chẳng phải sẽ có nguy cơ bị trục xuất khỏi cung sao?

Nhưng cuối cùng vẫn không hỏi.

Lại nghĩ, nhiều năm như vậy, kim thượng mặc dù không thích thầy nhưng đồng thời vẫn luôn khoan dung nhẫn nhịn, chứng tỏ giữa họ hẳn là có một sự ăn ý nào đó.

4.

Lấy bỏ

Kim thượng không phế hậu, tất cả là nhờ có Trần Chấp Trung, Hà Đàm, Lương Thích can gián, ấy là kiến giải được lưu truyền sau đó.

Nghe nói, đêm ấy quân thần bàn luận tỉ mỉ về chuyện trong gác hoàng hậu, Hà Đàm khuyên can: "Trung cung nhân ái thông tuệ, trong ngoài đều kính phục.

Lời rằng cung loạn bắt nguồn từ gác hoàng hậu, cần trui rèn xét xử trung cung, là mưu kế của kẻ gian, có ý đồ hãm hại trung cung, toan tính không an phận.

Bệ hạ không thể không suy xét kỹ càng."

Kim thượng hỏi ý kiến Trần Chấp Trung, Trần tướng công cũng nói không thể thẩm vấn tra xét trung cung, lập luận còn rất đanh thép.

Kim thượng hỏi đi hỏi lại làm Lương Thích đứng một bên không kìm được nói thẳng: "Bệ hạ phế hậu một lần là đủ rồi, há lại có thể thêm lần nữa?"

Giọng điệu y sắc bén, tiếng truyền rõ khắp trong ngoài Di Anh Các, người nghe đều biến sắc.

Kim thượng im lặng, sau đó gác chuyện xét xử lại không đề cập tới nữa.

Mọi người thấy ngài tiếp nhận lời can gián, bấy giờ mới xin cáo lui.

Kim thượng chỉ giữ lại Lương Thích, cam kết riêng với y: "Trẫm chỉ muốn tăng thêm lễ phi cho Trương mỹ nhân, vốn không có ý khác, khanh có thể an tâm."

Đêm đó ba người đi Hàn uyển, gặp được học sĩ bạo trực Trương Phương Bình, thuật lại chuyện này rồi đề cập tới câu "tăng thêm lễ phi" của kim thượng, Trương Phương Bình lập tức nói không được, nỗ lực khuyên Trần Chấp Trung: "Phùng tiệp dư triều Hán lấy thân cản mãnh thú cũng đâu có thấy Nguyên Đế bởi vậy mà tôn vinh bà.

Huống hồ hoàng hậu có công mà lại tôn vinh tần ngự, xưa nay nào có nhẽ ấy.

Nếu tướng công đồng ý thăng Trương mỹ nhân lên làm phi, tương lai người trong thiên hạ bàn đến chuyện này ắt sẽ quy hết tội lỗi cho tướng công."

Trong lòng Trần Chấp Trung cũng cho là như thế.

Sau đó kim thượng nhắc lại về việc tôn vinh Trương mỹ nhân, ông chỉ im lặng không đáp.

Bởi thế nên trong tháng này, trong cung không hề nghe thấy tin tức Trương mỹ nhân tấn vị, song ý chỉ về Trương tiên sinh thì rốt cuộc cũng hạ xuống: "Nội tây đầu cung phụng quan, chủ quản Nội Đông Môn Trương Mậu Tắc lên chức lĩnh ngự dược viện."

Lĩnh ngự dược viện, đối với hoạn quan mà nói, là một chức vị rất quan trọng và cao quý.

Ngự dược viện là phòng thuốc ngự dụng trong cung, là ty cục quan viên trọng yếu nhất cung đình, phụ trách tra cứu y dược sách thuốc, phối chế thuốc men và quản lý dược vật tiến vua.

Thuốc thang hoàng đế sử dụng đều do Ngự dược viện điều chế dâng lên, trách nhiệm to lớn, bởi vậy nên hoạn quan đảm nhiệm chức lĩnh ngự dược viên đều không phải nhân vật tầm thường, triều đình quy định, nội thần vào cung từ ba mươi năm trở lên, trong vòng mười năm không lên chức đồng thời có nhiều công trạng mới có thể đắc cử.

Hơn nữa, cái quan chủ quản giữ chức lĩnh ngự dược viện quản lý không hề chỉ là chuyện y dược mà còn kiêm nhiệm vụ tùy tùng phụ giúp hoàng đế khi ra ngoài cử hành lễ nghi, khảo thí cử nhân, truyền tuyên chiếu lệnh và phụng mệnh đi sứ làm nhiệm vụ giám sát.

Mặt khác, còn có thể hầu hạ bên cạnh hoặc trong góc điện lúc hoàng đế lên triều, tùy thời cung hoàng đế triệu hoán.

Nội thần đảm nhiệm chức này được coi là thân tín thân cận của hoàng đế, công việc này cũng cung cấp đầy đủ cho họ cơ hội thăng tiến lên cao hơn.

Rất nhiều áp ban, đô tri, thậm chí là lưỡng tỉnh đô đô tri đều từng đảm nhiệm chức vụ này.

Bởi vậy nên ta rất bất ngờ với lần thăng chức này của Trương tiên sinh, dẫu cho thầy phù hợp với cả ba điều kiện đắc cử chức quan chủ quản ngự dược viện.

Tự mình suy đoán, e rằng đây cũng chẳng phải chủ ý của kim thượng, hẳn là quyết định của Trần Chấp Trung hoặc mấy người Lương Thích.

Song, cũng chỉ là suy đoán mà thôi.

Tuy nhiên, tin lên chức nằm ngoài dự đoán của mọi người nhất lại đến từ Thu Hòa.

Sau khi kim thượng và trung cung bàn bạc đã lệnh cho ty sức Cố Thải Nhi tạm thời chấp chưởng Ngự phục cục, tiếp quản công việc của Sở thượng phục hiện đang bệnh tật quấn thân, còn Thu Hòa thì được thăng lên làm ty sức, trở thành sơ đầu phu nhân tân nhậm kế nhiệm Cố Thải Nhi.

"Chuyện này là quyết định của quan gia và cô ngày đó, đúng không?"

Ta hỏi Thu Hòa.

Đương nhiên cô biết "ngày đó" là ngày nào, ảm đạm gật đầu.

Như vậy, ngày xuất cung của cô càng trở nên xa xôi không ngày hẹn ước.

Ta thầm thở dài, thật sự tiếc nuối cho cô và Thôi Bạch, "Cô có vui lòng không?"

Cô ngước lên nhìn ta, hai mắt trống rỗng: "Tôi cũng không nói rõ được...

Ngày đó, tôi lấy nguyện vọng ra giá, cầu ngài để hoàng hậu làm bạn lâu dài bên mình, cuối cùng ngài nói như vậy, xem như là đáp ứng rồi đi...

Sau đó, ngài thở dài, bất đắc dĩ cười, nói: 'Sao đến ngươi cũng bôn tẩu vì nàng thế?

Quanh ta đã sẵn chỉ toàn người của nàng.' Tôi cúi đầu không dám tiếp lời, ngài còn nói: 'Trước đây mỗi lần ta xuất hành, bên trái là Dương Cảnh Tông, bên phải là Đặng Bảo Cát, đi chưa được mấy bước, trước mặt lại thấp thoáng bóng dáng Trương Mậu Tắc...

Hễ ta làm việc gì, bất kể lớn nhỏ, nàng đều biết...

Ta bị nàng vây hãm trong đây rồi.'"

Ta bị nàng vây hãm trong đây rồi?

Ta hơi trợn mắt – Câu này nghe rất quen tai.

"'Ngươi cũng là người của nàng à?' Quan gia hỏi tôi."

Thu Hòa kể tiếp, "Ngài nói chuyện với tôi hòa nhã đến thế, giọng điệu dịu dàng như gió tháng Tư, chẳng biết tại sao mà nghe vào lòng tôi lại rất khó chịu...

Thấy tôi không đáp, ngài còn nói: 'Ngươi có thể đến bên ta không?

Cho ta khỏi nên nỗi quá đỗi cô đơn.'"

"Gì cơ?"

Ta nhíu mày hỏi, "Ngài nói cô đơn?"

"Nếu tôi không nghe lầm thì ngài nói như vậy."

Thu Hòa dường như hơi hoang mang, nhưng giọng lại chắc nịch, "Khi đó tôi cũng ngờ rằng mình nghe lầm, ngẩng đầu nhìn ngài, thấy ngài dõi mắt ra ngoài cửa sổ, nhưng trong mắt trống rỗng, giống như không nhìn thấy bất kỳ cái gì, nơi chân mày còn phảng phất ưu thương...

Tôi nghĩ không thông, bật thốt hỏi ngài: 'Cô đơn?

Thật ư?

Nhiều nương tử bên cạnh như vậy mà quan gia còn có thể cô đơn?'"

Nếu là ta, ta cũng sẽ hỏi như thế.

Ta không che giấu sự hiếu kỳ của mình: "Ngài trả lời thế nào?"

"Ngài như hồi thần lại trong nháy mắt, cười với tôi, nhẹ nhàng đáp: 'Giả đó.' Tôi lại cúi đầu im lặng, đúng lúc ấy ngài nghiêng người qua, nói bên tai tôi..."

Sắc mặt Thu Hòa như thoáng phớt sắc son, giọng càng nói càng nhỏ đi, "Ngài nói: 'Đây chẳng qua chỉ là cái cớ ta vất vả mãi mới nghĩ ra được để ngươi khỏi phải bôi phấn son thuốc hương lên da nữa mà thôi.'"

Ta tức khắc nhớ tới lần đầu tiên diện kiến kim thượng ở Nghi Phượng Các, tới sự quan tâm để ý của ngài đối với Thu Hòa, mơ hồ hiểu được nỗi hoang mang của cô.

Kể cả khi không thích nam tử như thế thì sự quan tâm chu đáo nhường vậy vẫn là điều nữ nhi thế gian khó mà chống cự nổi, cự tuyệt lời ngỏ ý của người đó khi ấy chắc chắn là chuyện rất khó khăn.

"Tôi rất muốn từ chối, nhưng..."

Thu Hòa lưỡng lự, không sao miêu tả được chính xác tâm trạng lúc đó.

"Tôi hiểu, không cần nói nhiều đâu."

Ta ôn hòa, tiếp tục hỏi cô, "Thế, hoàng hậu có biết quyết định của cô không?"

Thu Hòa gật đầu: "Quan gia đề cập chuyện điều tôi qua với bà.

Sau đó bà có hỏi riêng tôi có bằng lòng hay không, nói nếu tôi không muốn, bà sẽ thả tôi xuất cung đúng tiết Càn Nguyên như đã ước định.

Cơ mà, sao có thể chứ?

Làm như thế, quan gia tất sẽ truy vấn nguyên nhân...

Tôi sợ ngài và các đại thần biết trong gác hoàng hậu ngoài Song Ngọc còn có cung nhân khác từng...qua lại với người ngoài."

Đúng là cũng phải suy xét điều này.

Họ mà biết việc ấy, tình thế phát triển sẽ càng hỏng bét hơn.

Ta có thể đoán được câu trả lời cô đáp lại hoàng hậu: "Cô nói với hoàng hậu mình đổi ý rồi?"

"Phải," Thu Hòa cười sầu thảm, "Tôi nói với bà, là tự tôi muốn làm sơ đầu phu nhân, không muốn xuất cung sống cuộc sống cực khổ."

Trọng thần tiến gián ra sức bảo vệ hoàng hậu bắt đầu triển khai phản kích Hạ Tủng, kết quả cuối cùng của sự kiện cung loạn là Hạ Tủng bị bãi chức xu mật sứ, biếm đi Nam Phủ.

Tháng Tư năm ấy, ngự sử Hà Đàm dâng sớ tố cáo Hạ Tủng, chỉ thẳng ông ta "bản tính gian tà, tham vọng xa xỉ, học vấn không uyên bác, hành xử giả mà gàn, a dua nịnh hót như tiểu nhân, khuyết thiếu cương trực làm đại thần, phò vua mà coi thường khí tiết quân vương, gặp dưới mà không biết noi gương cầu học..."

Lại đề cập tới việc thường ngày ông ta câu kết với nội thần Dương Hoài Mẫn, bao che cho y vụ cung loạn, nói hiện giờ Dương Hoài Mẫn đã bị trục xuất mà Hạ Tủng lại vẫn được giữ lại kinh sư, còn ngồi ở vị trí cao, "lòng người trong ngoài đều kích động".

Khẩn cầu kim thượng ruồng bỏ Hạ Tủng, "Trên vì sách lược xã tắc, dưới để yên lòng thần dân."

Y dự đoán được Hạ Tủng có khả năng sẽ lại lấy chuyện "bè đảng" mà kim thượng kiêng kỵ ra làm văn ngụy biện, bèn đi trước một bước giải thích rành mạch trong sớ: "Thần đoán Hạ Tủng biết thần dâng tấu, hẳn sẽ nói thần vu khống, kết bè kết đảng.

Nhưng Tủng rõ ràng từng có tội, sao có thể nói là bịa đặt vu hãm; thần xưa nay không nương nhờ ai, dựa vào đâu mà gọi là kết đảng?

Nếu Tủng vẫn che giấu khuyết điểm, thần thỉnh cầu gặp mặt đối chất với người vô tội, kính mong thánh minh soi xét lòng thành."

Kế tiếp y, lại có nhiều vị ngôn quan (*) khác dâng sớ đánh giá Hạ Tủng gian tà.

Khéo thay, đúng lúc đó kinh sư lại xảy ra hiện tượng động đất, thế là kim thượng cho gọi hàn lâm học sĩ Trương Phương Bình đến ngự tiện điện giữa đêm, nói với y: "Hạ Tủng gian tà nên mới có thiên biến như vậy.

Thỉnh học sĩ thảo chiếu thay trẫm, điều ông ta rời kinh."

(*) Ngôn quan, hay ngôn giả, là chỉ quan viên phụ trách giám sát và dâng sớ can gián.

Trương Phương Bình cả mừng, xin được soạn lời phản luận, muốn thẳng thắn trách tội Hạ Tủng trong chiếu thư.

Kim thượng ngẫm nghĩ, cuối cùng thở dài: "Vẫn nên giữ chút mặt mũi cho ông ta đi thôi, lấy lý do 'cân đối nhàn cực' mà thảo chiếu, đừng nhắc đến lỗi lầm của ông ta."

Tuy đã giữ mặt mũi cho Hạ Tủng nhưng Hạ Tủng vẫn ôm hi vọng, mang tội không đi, dâng sớ xin được ở lại kinh sư.

Hà Đàm lập tức nổi giận, một lần nữa dâng tấu: "Triều đình vời lui đại thần, ân lễ vốn cực kỳ dày hậu, đáp lễ Tủng như thế đã là vinh sủng hết mực, cớ sao lại càng thêm không biết liêm sỉ, mạo muội trần thuật thỉnh cầu?

Huống hồ Tủng gian tà xảo trá, có tiếng đã lâu trong thiên hạ, bệ hạ nổi danh là vị vua quyết đoán, bãi miễn quan viên xu mật trọng yếu, thần tử trong ngoài triều đình không ai là không vui mừng, bởi vậy càng không thể cho ông ta tùy tiện lưu lại triều đình.

Khổng Tử gọi đó là phường gian nịnh, giữ lại phò vua tất sẽ gây hại đến chính sự.

Ông ta có quỳ sấp cầu xin cũng chẳng thay đổi được mệnh lệnh, nên sai người thúc giục mau chóng đi nhậm chức thì hơn."

"Sau nữa, kim thượng triệu kiến Hà Đàm ở tiện điện Nội Đông Môn, Hà Đàm cực lực biện luận, thái độ dữ dội, tỏ vẻ việc này không có chỗ thương lượng."

Trương tiên sinh thu hồi bản sao lưu trữ tấu sớ trong tay ta, nói với ta, "Kim thượng bèn cười nhạo y: 'Thời cổ có kẻ tiến gián vỡ đầu, khanh có làm được thế không?' Hà Đám đáp: 'Quân vương thời cổ không tiếp nhận thần tử tiến gián, thế nên mới có đại thần vì tiến gián mà vỡ đầu; nay bệ hạ bằng lòng nghe tiến gián, thần sao dám giành tiếng thơm về mình mà quy lỗi cho quân phụ!'"

Nghe đến đó, ta không khỏi bật cười: "Y nói câu này hay lắm, vừa tránh được uy hiếp vỡ đầu, lại đệ bậc thang cho kim thượng tiếp nhận gián ngôn."

Trương tiên sinh cũng cười: "Đúng vậy, kim thượng nghe xong vui vẻ nạp gián, không thay đổi mệnh lệnh khi trước, kiên quyết điều Hạ Tủng đi Hà Nam."

Có một chuyện, mấy ngày nay ta vẫn hay suy tư, bèn nhân tiện đem ra thỉnh giáo Trương tiên sinh: "Tiên sinh, có phải kim thượng cũng nhìn thấu Hạ Tủng dụng tâm hiểm ác hãm hại trung cung không, lần này điều đi, nhìn bên ngoài thì là kim thượng bị ngôn giả bức bách, nhưng thực chất là ngài thuận thế mượn cớ đó trừng phạt Hạ Tủng?

Bằng không ngài cũng có thể kiên trì giữ ông ta lại sử dụng như với Trần tướng công mà."

Trương tiên sinh không trả lời minh xác, chỉ nói: "Cậu không nghe ngài nói 'Hạ Tủng gian tà' à?

Ai đúng ai sai, ai gạt được ai, bất quá là xem ngài lấy bỏ thế nào mà thôi."

5.

Tiểu Tống

Trước tiết đoan ngọ, ta kiếm cơ hội ra ngoài cung đi tìm Thôi Bạch, nói cho gã biết chuyện Thu Hòa.

Đối với ta, đây là một nhiệm vụ còn khó gấp mấy lần kỳ thi hắc nghĩa năm xưa.

Ban đầu là ta cho gã hi vọng, bây giờ lại tự mình nói với gã hi vọng đã tiêu tan, điều này làm ta xấu hổ vô cùng.

Ấp a ấp úng tóm tắt những gì đã xảy ra cho gã, ấy là còn chưa đề cập tới chuyện kim thượng có vài phần xem trọng Thu Hòa, thế mà đã khiến ta không dám ngẩng đầu lên nhìn gã suốt một hồi lâu.

"Không sao," Trái lại, là Thôi Bạch an ủi ta, "Cậu vẫn luôn tận tâm tận lực giúp tôi, chuyện có không thành thì cũng chẳng phải lỗi của cậu.

Là tôi phúc cạn, mỹ quyến tựa hoa như Đổng cô nương vốn đã chẳng dễ cầu."

Ta chỉ mong thời gian có thể cho mối nhân duyên này một khả năng nối tiếp: "Hay là, chờ thêm ít nữa, đợi quan gia quên chuyện tháng nhuận rồi, hoàng hậu lại có thể xin ngài thả Đổng cô nương xuất cung."

Thôi Bạch cười khẽ, nói: "Hoài Cát, nói thật, từ khi cầu hôn tới nay, tôi vẫn thường lo sợ bất an, chỉ cảm thấy niềm vui như của trời giáng, lại tiến triển quá mức thuận lợi, chẳng giống số mệnh nghèo túng cùng đường xưa nay vẫn vậy của tôi chút nào.

Huống hồ, em ở thâm cung đã quen với cuộc sống yên ổn cơm ngon áo đẹp, không buồn không lo, khác nào tiên nữ cung trời, sau này lấy tôi, chỉ có thể quanh năm suốt tháng ở bên một kẻ ngớ ngẩn biết mỗi đan thanh, sầu lo chuyện củi gạo dầu muối, dẫu em không hờn oán thì tôi cũng khó yên lòng.

Bây giờ em đã được tấn chức, ắt sẽ có tiền đồ tốt hơn, tội gì tôi lại liên lụy em."

Ta muốn nói vài câu khuyên giải, song trước nay đó vốn không phải sở trường của ta, cân nhắc chốc lát, chỉ mở miệng một câu: "Đổng cô nương hoàn toàn không nghĩ như vậy."

"Tôi biết."

Thôi Bạch nói, ánh mắt đậu lên một bức non xa khói nước treo trên vách, lát sau, chậm rãi ngâm: "Chàng Lưu đã hận Bồng Sơn cách, đây cách Bồng sơn mấy vạn trùng."

Đây là hai câu thơ hàn lâm học sĩ đương triều Tống Kỳ mượn từ Lý Thương Ẩn, đổi đi một chữ điền vào bài "Giá cô thiên" (*).

Tống Kỳ, tự Tử Kinh, đăng khoa cùng năm với người anh trai Tống Tường.

Năm đó nếu chiếu theo tấu chương của Lễ bộ thì đáng ra là Tống Kỳ đứng nhất, Tống Tường đứng ba, nhưng Chương Hiến thái hậu lại không muốn để tên em lên trước tên anh, bèn cất nhắc Tống Tường làm trạng nguyên, còn Tống Kỳ thì đặt xuống hạng mười.

Hiện nay, cả hai anh em đều làm quan trong triều, người đời gọi Tống Tường là "Đại Tống" còn Tống Kỳ là "Tiểu Tống".

Tống Tường thông hiểu điển tích, thanh liêm nghiêm nghị, Tống Kỳ chữ nghĩa hơn anh nhưng ham yến ẩm, mê phong nguyệt, xưa nay hào sảng phóng túng, bài "Giá cô thiên" này chính là ghi lại một lần diễm ngộ của y.

Hôm ấy Tống Kỳ thúc ngựa trên phố Phồn Đài trong kinh, vừa vặn gặp trúng hoàng hậu dẫn cung nhân đến chùa Tướng Quốc dâng hương trở về.

Tiểu Tống dắt ngựa tránh sang một bên phố, xe liễn lọng sa uốn lượn đi qua, giữa chừng, lúc một xe đi ngang qua trước mặt y, có nội nhân từ trong xe vén rèm, đôi làn thu thủy trong trẻo liếc tới mặt y, cười nói với đồng bạn: "Tiểu Tống kìa!"

Dứt lời bức rèm lại rủ xuống, xe liễn lộc cộc chạy không ngừng nghỉ về phía cung thành.

Tuy chỉ nhìn thoáng qua, song Tống Kỳ đã nhớ được dung nhan ngọc ngà, giọng nói véo von của nội nhân ấy, trở về nhà lập tức nhấc bút viết nên "Giá cô thiên": "Xe chạm yên hoa gặp giữa đường, trong rèm tiếng ai đứt can trường.

Thân chẳng chắp cánh khôn bay bổng, ăn ý được chăng một điểm thông.

Vàng cất ốc, ngọc xây lồng, xe như nước chảy ngựa như rồng.

Chàng Lưu đã hận Bồng Sơn cách, đây cách Bồng Sơn mấy vạn trùng."

Bài từ được truyền xướng rất rộng, thậm chí còn vào cả trong cung.

Kim thượng nghe đến, bèn hỏi chiếc xe nội nhân ấy ngồi hôm đó là xe thứ mấy, là ai gọi Tiểu Tống.

Cuối cùng, một nội nhân sợ sệt đứng ra quỳ xuống, nói trước đây khi hầu hạ trên tiệc từng thấy quan gia tuyên hàn lâm học sĩ vào, nội thần xung quanh nhìn nhau thì thào: "Tiểu Tống kìa."

Về sau ngẫu nhiên gặp được trong xe, nhất thời nổi hứng nên gọi một tiếng.

Sau đó kim thượng gọi Tống Kỳ đến, kể lại chuyện này giọng ung dung.

Tống Kỳ hoảng hốt cáo tội, kim thượng lại cười nói: "Trong từ ngươi hận Bồng Sơn xa, trẫm thì thấy Bồng Sơn này cũng chẳng xa ngươi lắm đâu."

Ngay sau đó ban nội nhân kia cho y.

(*) Hai câu gốc trong bài thơ "Vô đề" của Lý Thương Ẩn là "Chàng Lưu đã hận Bồng Sơn cách, đây cách Bồng sơn một vạn trùng.", "Giá cô thiên" đổi "một" thành "mấy".

Việc này cũng giống như chuyện "đề thơ lá đỏ (*)" hiếm ai biết đến, trở thành giai thoại trong cung ngoài thành thi nhau truyền tụng.

Giữa nội nhân xuân thì trong cung và văn thần danh sĩ ngoài cung vốn thường nảy sinh mối quan hệ vi diệu ngưỡng mộ lẫn nhau, được câu chuyện này lửa cháy thêm dầu cổ động, cũng cho họ gợi ý dăm mối lương duyên có thể kết thành, vậy nhưng...

(*) Tương truyền vào thời Đường, vô số cung nữ phòng không gối chiếc trọn đời đã viết thơ lên lá đỏ, ném vào suối nước trong cung, gửi gắm nỗi lòng, tình cảm u uẩn.

"Bồng Sơn cũng chẳng phải cách ai cũng không xa."

Cái kết viên mãn của giai thoại chẳng ảnh hưởng gì tới nhận xét của Thôi Bạch, gã rất tỉnh táo nói một câu như thế.

Ta nghĩ có lẽ gã đã lờ mờ nhận ra tình ý kim thượng dành cho Thu Hòa qua đôi câu vài lời mà ta đã cố xóa nhòa đi.

Hạ Tủng tuy đã rời kinh nhưng gián quan Vương Chí thì vẫn còn trong triều.

Tháng Chín năm ấy, y lại nhắc tới việc Trương mỹ nhân "có công hộ giá" với kim thượng, nói nên thăng vị cho Trương mỹ nhân để chứng tỏ kim thượng thưởng phạt phân minh.

Bản thân kim thượng cũng có ý đó, tiếc là quần thần phản đối, lại cần có sự đồng ý của hoàng hậu, nhất thời khó mà hạ chỉ được, không ngờ cuối cùng chính hoàng hậu lại buông miệng, nói với kim thượng trước mặt tất cả mọi người trong bữa tiệc mừng tết trùng cửu: "Trương mỹ nhân phụng dưỡng quan gia đã nhiều năm, từng sinh hạ ba công chúa mà cấp bậc phân vị lại thấp nhỏ, đã lâu chưa được thăng.

Nay đã có công, thăng vị làm phi cũng chẳng quá đáng, coi như bệ hạ tỏ ý an ủi khen thưởng."

Kim thượng im lặng nhìn hoàng hậu chằm chằm, mà thái độ của hoàng hậu thì vẫn bình thản, trong mắt không một gợn sóng.

Mọi người nín thở theo dõi, một lúc sau mới nghe kim thượng lên tiếng: "Ngày ấy bọn giặc gây loạn, tất cả đều nhờ hoàng hậu chỉ huy điều hành hộ vệ, nếu muốn khen thưởng thì theo lý hẳn phải khen hoàng hậu trước tiên."

Ngồi bên cây hoa cúc đàn tâm mộc hương cánh trắng, hoàng hậu khẽ nhếch miệng, nụ cười trong nhẹ như hoa thu: "Tạ bệ hạ quan tâm, thần thiếp thân là quốc mẫu, danh vị tột đỉnh, không thể tăng thêm được nữa.

Huống hồ bệ hạ cưới thần thiếp làm vợ, thần thiếp vốn không cần báo đáp, làm việc vì bệ hạ là trách nhiệm bổn phận, sao dám tranh công xin thưởng."

Vì vậy, tháng Mười năm ấy, kim thượng thăng mỹ nhân Trương thị lên thành quý phi, cũng quyết định ngày làm lễ sắc phong cho ả.

Hàn lâm học sĩ nhận lệnh viết cáo sắc phong phi cho Trương mỹ nhân chính là "Tiểu Tống" Tống Kỳ chữ nghĩa hoa lệ.

Trước đây, quốc triều chưa từng thịnh hành việc làm lễ sắc phong cho tần ngự tấn vị làm phi, bổ nhiệm phi thì phát sắc, phi từ chối thì thôi lễ sắc.

Bởi quy mô lễ sắc phong long trọng, hao tổn quá nhiều nhân lực tài lực, tần ngự quốc triều đều biết đạo khiêm nhường, cũng không thích lấy đó huênh hoang rước cung nhân và chư thần phê bình chỉ trích, bởi vậy đều từ chối không làm.

Có lẽ Tống Kỳ cho rằng vị quý phi mới phong này nghiễm nhiên cũng sẽ nghĩ như thế nên không theo thể thức lễ sắc phong mà nghe các môn sứ (*) tuyên đọc chiếu thư phong phi trước rồi nhận lệnh viết cáo sắc, gửi sang trung thư, ba tỉnh tiếp nhận, chuyển cho Quan cáo viện (**) đóng ấn rồi mới trình lên quý phi, thay vì không đợi nghe chiếu thư phong phi trước khi cử hành lễ sắc phong mà viết cáo sắc luôn, không gửi sang trung thư mà tự mình trực tiếp đi lấy ấn của Quan cáo viện dùng, đóng ấn rồi lập tức đưa cho quý phi.

(*) Chức quan quản lý việc lễ nghi.

(**) Cơ quan quản lý việc bổ nhiệm, phong tặng quan lại.

Hiển nhiên, y đã phạm sai lầm.

Không phải phi tử nào cũng không muốn làm lễ sắc phong.

Trương mỹ nhân muốn làm lễ thấy cáo sắc quan trọng này chẳng khác nào địa chủ nhà quê nạp tiểu thiếp mới, đơn giản tùy tiện đưa vào từ cửa sau, không khỏi giận tím mặt, ném cáo sắc xuống đất nhất quyết không chịu, lại khóc lóc tìm kim thượng kể tội Tiểu Tống lười biếng láo lếu với mình, nhằng nhẵng dây dưa cho đến khi kim thượng bằng lòng giáng chức Tống Kỳ điều đi Hứa Châu.

Chi tiết chuyện Tiểu Tống bị giáng chức truyền ra, trong ngoài ai nấy đều cảm thán, còn Trương thị thì bắt đầu cuộc sống quý phi ngạo nghễ của ả trong tiếng ca thán dậy đất này.

Đối với chuyện Trương thị đột ngột tấn vị, chúng nương tử trong cung tất nhiên đều tấm tắc bảo lạ.

Mọi người đều đoán rằng ả sớm muộn gì cũng sẽ lên bậc phi, nhưng không ngờ lại từ mỹ nhân tứ phẩm lên thẳng quý phi nhất phẩm.

Quý phi đứng đầu bốn phi, địa vị kế ngay sau hoàng hậu, suốt nhiều năm nay kim thượng vẫn luôn để trống vị trí bốn phi, chư nương tử tối đa chỉ thăng được đến nhị phẩm, hiện giờ lại tấn vị như thế cho Trương thị khiến danh vị của rất nhiều tần ngự đứng trên Trương thị lâu năm như Miêu thục nghi, mẹ đẻ của Phúc Khang công chúa và Du sung nghi, mẹ đẻ của hoàng trưởng tử chết non, chớp mắt đã tụt xuống dưới ả.

Dưới cơn bất mãn, các nương tử càng quan tâm hơn tới nội tình thăng vị của Trương quý phi, không bao lâu sau đã có người thám thính được, kể từ khi Hạ Tủng rời kinh, quan hệ giữa Trương thị và Vương Chí càng thêm khăng khít, tiền bạc ngầm ban cho Vương Chí lên đến con số hàng vạn.

Chuyện thăng vị thành công, Trương thị dương dương đắc ý, thậm chí lúc nhắc đến Vương Chí với người khác còn công nhiên nói: "Gián quan nhà ta đó."

Vụ bê bối hối lộ quan viên trong triều này truyền khắp lục cung, cuối cùng chẳng ai là không biết, chắc hẳn cũng đã từng truyền ngược vào tai Trương quý phi, nhưng ả cũng không cho là nhục, trái lại còn thỉnh cầu kim thượng cho Vương Chí bưng chiếu sắc phong cho ả trong lễ sắc phong như cố ý khiêu khích ra oai với chư nương tử.

Lễ sắc phong của hậu phi phải có quan viên bưng chiếu, kim thượng bèn giao việc này cho Trung thư tỉnh thảo luận, quan viên Trung thư vốn chẳng ưa mến gì Vương Chí, bèn tấu rằng theo nghi thức, chức vị vị quan bưng chiếu nhất định phải trên đãi chế (*), Vương Chí không có tư cách này.

Kim thượng chuyển cáo lời Trung thư cho Trương quý phi, Trương quý phi lại nhân cơ hội xin kim thượng thăng quan cho Vương Chí, kim thượng cũng đồng ý, thăng Vương Chí lên làm đãi chế Thiên chương các (**), lệnh y bưng chiếu cho quý phi trong lễ sắc phong.

(*) Chức quan cố vấn chính sự thuộc Trung thư, Môn hạ tỉnh.

(**) Tên tàng thư các trong cung Tống.

Song đồng thời, ngài cũng thăng Hà Đàm lên làm lễ bộ viên ngoại lang, kiêm thị ngự sử tri tạp sự, lại nói rõ nguyên nhân với Hà Đàm ngay trên triều: "Khanh không a dua quyền thế nên vượt cấp bổ nhiệm khanh."

Có lẽ là để bồi thường cho hoàng hậu, kim thượng lục tục thăng quan tấn tước cho rất nhiều ngoại thích hậu tộc, ban thưởng cho họ bổng lộc dày hậu, Hà Đàm nhân việc này tiến gián, nói tước thưởng triều đình vốn là để ban cho hạ thần cần cù vất vả, không có công tích thì thưởng theo lệ năm.

Nay vô cớ thăng tước hậu tộc là thăng quan vượt cấp, e rằng ngoại thích sẽ đua nhau bấu víu, ôm lòng dị vọng.

Kim thượng đáp: "Ngoại thích không có công lao nhưng hoàng hậu có đức hạnh, đây là dời ân sang thân tộc."

Quan hệ của đế hậu cũng là tiêu điểm chú ý của người trong lục cung.

Sau sự kiện cung loạn, kim thượng và trung cung chưa từng qua đêm cùng nhau, song, vào ngày cử hành lễ sắc phong cho Trương quý phi lại có một số dấu hiệu nhỏ khiến chư nương tử nảy sinh rất nhiều phỏng đoán về tình hình gần đây của họ.

Sáng sớm hôm ấy, đế hậu ai rời giường nấy ở Phúc Ninh Điện và Nhu Nghi Điện, lúc xuất hiện trước mọi người, quầng mắt đều thâm xanh, mí mắt hơi sưng, dẫu hoàng hậu đã dùng son phấn che đi nhưng vẫn có thể soi ra chút bất thường.

Lúc đế hậu dẫn Trương quý phi qua Tử Thần Điện tiếp nhận quần thần chúc tụng, chuyện xảy ra ở Nhu Nghi Điện đêm qua đã được coi như một tin đồn thú vị, bắt đầu lặng lẽ truyền lưu tại hậu cung.

Theo những gì cung nhân Nhu Nghi Điện tiết lộ, sau canh ba đêm qua, kim thượng sai cận thị sang Nhu Nghi Điện truyền lệnh tuyên triệu hoàng hậu.

Khi ấy, hoàng hậu đã đi ngủ, nghe nói việc này, bèn khoác áo đứng dậy đi tới bên cửa tẩm điện, nhưng không mở cửa, chỉ hỏi nội thị Phúc Ninh Điện qua khe cửa: "Quan gia tuyên triệu là có việc gì?"

Nội thị trả lời: "Quan gia nửa đêm tỉnh lại, ngồi một mình uống rượu, bất giác uống cạn, bèn sai thần tới hỏi điện hoàng hậu có rượu chăng, có thể mang một ít sang không."

Hoàng hậu không phụng mệnh, chỉ nói: "Trong này có rượu ta cũng không dám mang sang cho quan gia.

Đêm đã khuya, bẩm với quan gia mời ngài đi nghỉ lại cho."

Dứt lời đuổi nội thị về, đến mở cửa gặp mặt cũng không chịu.

Công chúa im im nghe chuyện này, buổi tối cung quyến dự tiệc ở Thái Bình Lâu, công chúa mới đem ra hỏi thẳng phụ thân: "Đêm qua cha muốn uống rượu đáng ra nên hỏi người Ngự thiện, Ty nhưỡng mà lấy, muộn vậy rồi sao cứ phải truyền lệnh tuyên triệu nương nương mang qua?"

Bọn cung nhân cười trộm, hoàng hậu ngồi nghiêm chỉnh như không nghe thấy, mà vẻ mặt kim thượng thì có phần lúng túng, ho khan hai tiếng thâm thấp, nghĩ nghĩ rồi mới đáp: "Đêm đã khuya, không tiện làm phiền nhiều người..."

Công chúa truy vấn: "Cứ coi như không muốn làm phiền hạ nhân thì trong cung nhiều nương tử như vậy, trong gác đều trữ không ít rượu, sao cha lại chỉ hỏi nương nương vốn ngày thường cũng không hay uống rượu?"

Kim thượng nhất thời cứng họng, Trương quý phi thấy thế, tiếp lấy chủ đề: "Nhà mẹ đẻ thần thiếp vừa đưa tới vài hũ rượu Dương Cao thượng hạng, lần sau nếu quan gia muốn uống cứ sai người tới lấy là được."

Kim thượng chưa đáp, công chúa đã mở miệng trước, nói với Trương quý phi: "Ai mà chẳng biết trong gác Trương nương tử nhiều rượu?

Cha không hỏi bà tất nhiên là có cái lý không cần của cha rồi."

Trương quý phi giậm chân vẻ giận dữ, như có ý muốn giễu cợt vặc lại, song liếc mắt thấy kim thượng đang quan sát phản ứng của mình, bèn dằn cơn tức xuống, miễn cưỡng cười nói: "Công chúa nói phải."

Trong mắt các nương tử, chuyện nửa đêm tuyên triệu trung cung là tin tức kim thượng muốn biểu thị hữu hảo với hoàng hậu, lấy cớ mượn rượu không đến nỗi mất mặt, tiếc rằng hoàng hậu lại chẳng thuận thế tiếp thu.

"Nhìn mắt thế kia, cả hai người họ hẳn là chưa ngủ suốt một đêm."

Ngày kế, Du sung nghi sang Nghi Phượng Các tán gẫu với Miêu thục nghi, "Tình hình này có khác gì vợ chồng son giận dỗi nhau không, thật là, tội gì phải thế!"

Miêu thục nghi mỉm cười: "Ngoài mặt họ vẫn tương kính như tân, nhưng chút kỳ cục đó mười mấy năm qua vẫn luôn ở đấy.

Có lúc đến ta cũng nhìn không thấu."

Công chúa nghe thấy họ bàn tán, thò sát lại muốn nghe kỹ hơn, bị Miêu thục nghi dí trán: "Con bé này, dạ tiệc hôm qua ngây ngây ngốc ngốc hỏi bậy hỏi bạ cha con làm gì, làm ông ấy hơn nửa ngày chẳng xuống được đài!"

Công chúa dẩu môi: "Con mới không ngốc!

Con thấy Trương nương tử kiêu ngạo nên mới cố ý nói vậy cho bà ta nghe đó!"

6.

Thương Lang

Kể từ đó, thái độ của hoàng hậu với kim thượng luôn duy trì trong kính cẩn khách khí, tôn trọng xa cách.

Thường ngày, bà siêng năng xử lý sự vụ hậu cung, ân uy song song thực thi, bởi vậy được cung cấm kính nể, không xảy ra thêm loạn gì nữa, duy Trương quý phi là thường xuyên cố ý khiêu khích, yêu cầu mang rất nhiều thứ xa hoa vào Ninh Hoa Điện.

Chỗ ở của phi thiếp xưng "điện" đã là tiếm quyền, mà ả còn liên tục lướt qua hoàng hậu, tự mình ra lệnh cho lưỡng tỉnh lục cục, thế nên mọi chi phí ăn tiêu của Ninh Hoa Điện đều vượt quá trung cung.

Song bên hoàng hậu vẫn ung dung, không chỗ nào không khoan thứ, mặc cho Trương quý phi vô lễ cỡ nào cũng không tức giận.

Mãi đến tháng Mười hai năm ấy, ta mới lại lần nữa trông thấy thần sắc bi thương hiện lên nơi chân mày hoàng hậu, nhưng cũng chẳng phải vì việc của Trương thị.

Xế chiều hôm đó, như thường lệ, công chúa đến Nhu Nghi Điện vấn an buổi tối, ta theo hầu đồng hành, vào trong điện, thấy hoàng hậu đang ngồi một mình xem một cuộn giấy trên bàn, lúc quay sang nhìn chúng ta, trong mắt long lanh, loang loáng ánh lệ.

Công chúa kinh hãi, quên cả hành lễ, rảo bước qua lo lắng hỏi: "Nương nương, sao vậy ạ?"

Hoàng hậu lau nước mắt rồi cười nhợt nhạt, kéo công chúa ngồi xuống bên mình, im lặng ôm lấy nàng, một hồi lâu sau mới nói: "Phu quân một người bạn thân của nương nương qua đời tháng trước...

Phu quân em ấy bị oan mà chết, em ấy vẫn còn trẻ, mấy đứa con đều chưa lớn..."

"Bị oan mà chết?"

Công chúa ngạc nhiên, "Thế nương nương nói oan tình ấy với cha đi, xin cha giải tội cho y."

Hoàng hậu rầu rầu cười, chỉ ôm chặt công chúa, không tiếp lời.

Có lẽ ý thức được trong đây tự có chỗ khó, công chúa cụp mi xuống, cũng hơi ủ ê.

Tựa vào lòng hoàng hậu, dời mắt sang cuộn giấy trên bàn, nàng lại hỏi: "Đây là thư bà ấy gửi cho nương nương ạ?

Chữ đẹp quá."

Đó thực ra không giống một bức thư, kích thước trang giấy và thể chữ đều lớn hơn thư từ bình thường.

Ta cách xa nên không nhìn rõ được cụ thể là viết gì, chỉ cảm thấy chữ trong đó ngang dọc xiên cong, móc vòng uốn lượn, là viết theo lối thảo, khá có khí thế.

Hoàng hậu không đáp đúng chăng, chỉ hỏi công chúa: "Con nhận ra được đây là chữ ai không?"

Công chúa tỉ mỉ xem rồi nói: "Chữ này viết giống nhành hoa mới mọc, rất xinh đẹp, nhưng lại khác những thiếp chữ cha cho con xem...

Chẳng dễ đoán chút nào."

"Người này không khoe khoang bút nghiên, nhưng người đời lại tranh nhau lưu truyền từng mẩu thiếp vụn của y, bí phủ thì lại không trữ bao nhiêu, khó trách con không nhận ra."

Hoàng hậu hiền hòa nói với công chúa, lại đưa mắt sang ta, bảo: "Hoài Cát, ngươi từng làm việc ở Thư nghệ cục, cũng tới xem thử đi."

Ta tuân mệnh lại gần, cúi đầu nhìn, thấy trên đó viết một bài "Thủy điệu ca đầu":

"Lưa thưa mưa Thái Hồ, phủ mờ Động Đình San.

Đâu bóng ngư long, mây mù buông kín mờ không gian.

Ngẫm sự Trương Hàn Phạm Lãi, bỗng thuyền nhẹ khua gấp nhịp, vệt sóng đã vội tan.

Chiều tà giông bão nổi, quanh co đường gian nan.

Chí trượng phu, đương buổi thịnh, thẹn cảnh nhàn.

Tuổi xanh cớ gì khốn đốn, tóc hoa ngả sắc tàn.

Toan buông câu đầm vắng, lại lo chim âu ngờ, chẳng màng tựa .

Khua chèo qua lau sậy, lặng ngắm con sóng lan." (*)

Ta từng gặp thể chữ này, ý ẩn trong bài từ này cũng phù hợp với tình cảnh của người ta đoán.

Nhìn chung quanh trái phải, thấy chỉ có hai, ba cung nhân thân cận của hoàng hậu, lúc này mới dám mở miệng: "Chữ này như hoa nở trong rừng, trăng trên sông Hoài, hẳn là đến từ ngòi bút Tô Tử Mỹ khi say."

(*) Đây là bài từ "Thương Lang Đình" của Tô Thuấn Khâm, "Thủy điệu ca đầu" là tên điệu; .

Hoàng hậu đáp phải, nói với ta: "Tháng trước y viết nên bài từ này, không bao lâu sau thì bệnh chết ở Tô Châu."

"Tô Tử Mỹ?

Là y chết?"

Công chúa cực kỳ bất ngờ.

Hoàng hậu gật đầu, buồn bã nói, "Ngẫm lại thật khiến người ta tiếc than, trên đời này chẳng còn cái người ngựa béo áo da (*), Hán thư nhắm rượu ấy nữa rồi..."

(*) Ngựa béo áo da (怒马轻裘) tức mặc áo da ấm cưỡi ngựa béo tốt, hình dung hào phóng xa hoa.

Trong câu này có một điển cố.

Tô Thuấn Khâm nổi danh có tài làm thơ, nhạc phụ y Đỗ Diễn thì có tiếng làm chính trị, danh khanh đương thời đều thích giao du với họ, tựa như người Tấn tán tụng Nhạc Quảng Vệ Giới vậy, miêu tả cặp cha vợ con rể này là "băng thanh ngọc nhuận", "ông tế giai mỹ (*)".

Nghe nói khi còn trẻ, Thuấn Khâm sống ở nhà Đồ Diễn, mỗi đêm đều một mình uống một đấu rượu, lại không cần đồ nhắm.

Đỗ Diễn nghe vậy không tin, sai người đi xem, người nọ trở về nói, Thuấn Khâm vừa xem "Hán thư" vừa uống rượu, xem tới chỗ đặc sắc thì vỗ bàn tán thán, độc thoại bình luận đôi lời rồi nhân đó uống một chén.

Đỗ Diễn nghe xong cười bảo: "Có món nhắm rượu như thế thì một đấu cũng chẳng đủ."

Về sau, Hán thư nhắm rượu trở thành một giai thoại lưu truyền rộng rãi khắp thiên hạ của Tô Thuấn Khâm.

(*) Dịch nghĩa là cha vợ con rể đều tuyệt vời.

Tô Thuấn Khâm mất sớm khiến công chúa rất lấy làm khó hiểu, nói với hoàng hậu: "Con nghe cha nói quan lại được điều ra ngoài đều sống tiêu dao lắm cơ mà, du sơn ngoạn thủy khắp chốn rồi đề thơ soạn văn này nọ, nào là 'Nhạc Dương Lâu ký', nào là 'Túy Ông Đình ký', nào là 'Thương Lang Đình ký', được người trong thiên hạ thi nhau ca tụng, làm giấy cũng lên giá ào ào...

Tô Tử Mỹ không phải là đi Tô Châu xây Thương Lang Đình à?

Sao lại chết sớm như vậy?

Ngày ngày vui vầy với cá chim chẳng lẽ còn không vui?"

Hoàng hậu hỏi nàng: "Huy Nhu, con có biết lâm viên y xây tại sao lại lấy tên là 'Thương Lang' không?"

Công chúa ngẫm nghĩ, cuối cùng vẫn lắc đầu: "Có quan hệ với câu từ nào trong điển tịch ạ?"

Đúng lúc này, chợt nghe thấy có người đi từ ngoài điện vào, vừa đi vừa ngâm nga đáp lại: "Nước Thương Lang trong a, thì ta giặt khăn đầu; Nước Thương Lang đục a, thì ta rửa chân vào (*)."

(*) Đây là một bài đồng dao cổ, tên là "Thương Lang ca", bản dịch của Đào Duy Anh.

Chúng ta quay đầu nhìn, phát hiện ra chính là kim thượng, bèn cùng nhau đứng nghiêm hành lễ.

Ngài ngâm câu thơ "Thương Lang ca", hẳn là đã nghe thấy cuộc đối thoại của chúng ta trước đó.

Không ai truyền báo nên bọn ta đều không biết ngài tới gần, cũng không biết ngài nghe được bao nhiêu, ta có phần lo lắng, khẽ đưa mắt liếc thoáng hoàng hậu, thấy bà hơi lộ vẻ chần chừ, song vẫn không bỏ bài từ trên bàn xuống.

Kim thượng đi thẳng tới bên bàn ngồi xuống, cầm lấy di từ của Tô Thuấn Khâm xem thật tỉ mỉ, xem xong cũng không có vẻ gì là tức giận, chỉ thở dài nói: "Thuấn Khâm quy ẩn vùng sông nước, hi vọng có thể khoáng đạt như ông chài khua chèo (*), lấy đá suối mà biểu đạt tâm tưởng, uống chén rượu mà cất cao tiếng hát, sống yên vui với đời đạm bạc.

Nhưng bài từ này lại vẫn nhắc đến 'Chí trượng phu, tại nghiệp lớn, thẹn rỗi nhàn', có thể thấy cuối cùng vẫn không buông xuôi được."

(*) Điển cố "Ngư phủ" của Khuất Nguyên.

Hoàng hậu đứng bên cạnh kim thượng, duy trì chút khoảng cách nhất định, ánh mắt lặng lẽ đáp xuống mặt đất trước chân, đáp: "Y lấy Thương Lang Đình để biểu thị với người trong thiên hạ mình tự biết tiến thoái mà sống yên vui với đời đạm bạc, được khai sáng mà lĩnh ngộ, mỉm cười trước muôn kiếp sầu đau, nhưng cuối cùng vẫn thà lấy cái chết để bộc lộ tiếng lòng: Sao lại đem cái tiết sáng ngời mà vùi vào bụi bặm của đời (*)."

(*) Câu này cũng trích trong tích "Ngư phủ" của Khuất Nguyên, ; trong tích, sau khi khuyên giải Khuất Nguyên, ông chài đã xướng bài "Thương Lang ca" bên trên.

Kim thượng trầm mặc một hồi lâu thật lâu, sau đó cất lời như giải thích với hoàng hậu: "Năm đó tuy tước tịch y làm thứ dân, nói không bao giờ phục chức lại nữa, nhưng về sau...

Trong văn giao xá (*) miễn xá cho tội nhân năm nay, ta có bỏ thêm một mục: Người bị hặc tội biển thủ nếu tự thấy tội mình nhẹ hơn tuyên phán, cho phép đến Hình bộ cáo oan.

Tiếc rằng ngôn giả lại phản đối, nói sắc chỉ giao xá trước nay không có mục này, đây là cố tình bênh vực Tô Thuấn Khâm, hoàng đế không thể phá luật chỉ bằng vài câu...

Hai tháng trước, ta hạ chỉ một lần nữa đề bạt Tô Thuấn Khâm làm Hồ Châu trưởng sứ, muốn cho y nhậm chức bên ngoài trước rồi từ từ triệu về trong kinh, tránh cho đài gián nhiều lời, không ngờ y lại kiêu ngạo như vậy, có chết cũng không nhậm chức."

(*) Đại lễ tế tự đế vương cử hành khi miễn xá cho tội phạm.

Công chúa nghe đến đó, nhịn không được nhỏ giọng lẩm bẩm: "Giữ chức nơi non xanh nước biếc thì có gì mà không tốt, lẽ nào cứ nhất định phải trở về kinh cãi nhau với mấy lão già quan lại mới là vừa lòng à?"

Ta kéo tay áo nàng, ngầm ra hiệu nói chuyện lúc này là không thỏa đáng, nàng bĩu môi với ta tỏ ý bất mãn, nhưng cũng không nói thêm gì nữa.

Hoàng hậu khom người với kim thượng, điềm đạm đáp: "Thuấn Khâm chưa chắc đã cố tình không đi nhậm chức, có lẽ số trời vốn vậy, chẳng thể làm trái.

Bệ hạ thánh minh, Thuấn Khâm dưới suối vàng biết được, cũng sẽ hiểu bệ hạ khoan dung nhân từ mà cảm động rơi lệ."

Kim thượng không nói gì, cẩn thận đọc bài "Thủy điệu ca đầu", lại hỏi hoàng hậu: "Đây là Đỗ phu nhân chuyển cho nàng?

Có thư từ gì kèm theo không?"

Hoàng hậu đáp: "Em ấy sai người giao bài từ này cho em trai thiếp, sau đó vợ em trai thiếp mang vào cung đưa cho thiếp, trừ cái này ra, cũng không có thư từ gì khác.

Người nhận ủy thác từng hỏi em ấy có thư gì muốn chuyển lên trên không, em ấy nói: 'Chỉ bài từ bày tỏ cõi lòng này là đủ.

Chồng tôi khi còn sống chịu oan khuất, chết rồi có thể vẫn hàm oan.'"

Kim thượng lắng nghe, ánh mắt dao động trên bút tích Tô Thuấn Khâm, suy xét một hồi, ra một quyết định: "

Sau này con trai trưởng Thuấn Khâm đến tuổi, ta sẽ bổ ấm (*) một chức quan cho nó.

Ngoài trợ cấp tiền bạc theo lệ thì ban thưởng thêm cho Đỗ phu nhân ít tiền."

(*) Chế độ bổ quan cho con cháu nhà cha ông có công.

Hoàng hậu xua tay: "Em trai thiếp từng sai người biếu tiền cho em ấy, em ấy từ chối không lấy, nói trình biếu từ không phải là để mong được rủ lòng thương mà cầu tiền tài, chỉ hi vọng quan gia bằng lòng ghé mắt, thương tiếc nhiều hơn cho những văn thần bị điều ra ngoài như Phạm tướng công, Phú Ngạn Quốc, Hàn Trĩ Khuê và Âu Dương Viễn Thúc, về sau an táng cho Tử Mỹ, nếu còn có thể khắc những lời họ dành tặng cho y lên mộ thì cả đời này em ấy cũng không còn mong muốn gì khác nữa."

Kim thượng không đáp được hay chăng, chỉ yên lặng cuộn di từ lại, cầm lấy đứng dậy rời đi.

Đó là lần đầu tiên ta thấy hoàng hậu bàn về thần tử trước mặt kim thượng, không khỏi lo lắng cho bà.

Công khai thể hiện mình tán đồng các đại thần tân chính như vậy, một vị hoàng đế luôn phản cảm hậu cung dính dáng đến chính trị trông thấy chẳng biết sẽ có cảm tưởng thế nào, huống hồ những đại thần ấy đều là ngài tự mình hạ chỉ cách chức đuổi khỏi kinh.

Nhưng kết quả lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của ta.

Năm kế đổi niên hiệu thành "Hoàng Hựu", kim thượng đầu tiên là gia phong tri Thanh Châu (*) Phú Bật có công cứu tế Thanh Châu làm lễ bộ thị lang, tiếp đó gia phong tri Định Châu Hàn Kỳ làm tư chính điện đại học sĩ cùng Phú Bật, sau nữa lại lấy lý do "ban ân cho cựu thần chấp chính", thăng quan tấn tước cho các quan tể chấp đã thay đổi chức vị bao gồm cả đại thần Khách Lịch tân chính, thăng tri Hàng Châu Phạm Trọng Yêm làm lễ bộ thị lang, Đỗ Diễn đã về hưu làm thái tử thái bảo (**).

Nhất thời gây xôn xao dư luận, đài gián nhao nhao nêu ý kiến, nhưng kim thượng ngó lơ, chỉ nói đây là triều đình sủng ái niệm nhớ cựu thần nên đặc biệt cải quan, chớ coi là thông lệ.

(*) Tri Thanh Châu tức chức quan tri châu đứng đầu Thanh Châu, tương tự với tri Định Châu, tri Hàng Châu, vv.

(**) Chức quan thấp nhất trong hàng tam công, gồm: thái sư, thái phó, thái bảo, có trách nhiệm dạy học cho con vua.

Tiếng gián quan phản đối ào ào thông qua nội thị triều đình truyền vào trong cung, cuối cùng, ngay cả những nương tử thường ngày không hay thảo luận chính sự cũng xì xào bàn tán: "Quan gia muốn vời đại thần tân phái trở về đấy à?"

Tin tức này chắc chắn lại làm Trương quý phi và Giả bà bà đứng ngồi không yên, người trong Ninh Hoa Điện một lần nữa bận rộn lu bù.

Mà quan hệ giữa kim thượng và trung cung thì lại càng ngày càng như sắc trời sáng trong ngoài cửa sổ, dần tan băng ấm áp trở lại, ngoài những bận gặp mặt theo lễ tiết, số lần hai người thăm viếng lẫn nhau cũng bắt đầu từng bước tăng lên.

Có một ngày, ta đi ngang qua tiểu điện Nội Đông Môn, nhớ tới lời Trương tiên sinh kể rằng Hà Đàm đã trả lời câu kim thượng cật vấn "tiến gián vỡ đầu" ở đây, bỗng nghĩ, hoàng hậu không giấu di từ của Tô Thuấn Khâm khỏi mắt kim thượng có lẽ cũng là ôm lòng tiến gián vỡ đầu.

May mà bà cũng thu được kết quả mỹ mãn như Hà Đàm, trình lời tiến gián uyển chuyển mà hữu hiệu, khiến kim thượng chẳng những "tán thưởng tiếp nhận" mà thái độ đối với bà cũng tốt hơn trước đây.

Nghĩ ngợi miên man, trong lòng lại nảy sinh một ý niệm kỳ quái: Thái độ của kim thượng đối với đại thần tân chính sao có vẻ giông giống với trung cung vậy nhỉ.

Quốc cữu Lý Dụng Hòa có bệnh trong người, cuối năm Khánh Lịch thứ tám, bệnh tình trở nặng, kim thượng từng đích thân tới dinh thự của ông thăm, còn thăng quan tấn tước cho ông, nhưng bệnh của quốc cữu vẫn không khỏi hẳn, lúc tốt lúc xấu.

Mùa xuân năm Hoàng Hựu thứ nhất, Miêu thục nghi nghe nói quốc cữu lại không khỏe, bèn tự mình chuẩn bị vài món thuốc bổ, sai ta đưa đi.

Khí sắc quốc cữu ngày ấy rất kém, ho hen liên tục đến hơi cũng chẳng kịp lấy mà thở.

Ta thấy tình trạng không tốt, vội về cung mời thái y đến xem bệnh cho quốc cữu.

Trong khoảng thời gian bắt mạch trị liệu, ta một mực đứng hầu bên cạnh, sợ có gì không ổn, không dám tự tiện rời đi.

Đợi đến khi bệnh tình quốc cữu đã dần ổn định, sắc mặt chuyển biến tốt đẹp, ta mới phát hiện ra không còn sớm nữa, đã qua giờ đóng cửa cung.

Không thể làm gì khác, ta đành chấp nhận lời kiến nghị của phu nhân quốc cữu Dương thị, nghỉ lại phủ họ Lý, bao giờ trời sáng thì về sau.

Bà nhiệt tình chuẩn bị phòng khách cho ta, nhưng ta không có lòng dạ nào mà ngủ yên.

Đây là lần đầu tiên ta qua đêm bên ngoài kể từ khi vào cung, ngập lòng thấp thỏm, chỉ mong chong chóng trở về.

Cửa cung đến canh tư thì mở, vừa qua canh ba ta đã dậy, rửa mặt rồi lập tức vội vàng chạy về phía cung thành.

Tuyên Đức Lâu, cửa chính đại nội có năm cửa tò vò, cửa nào cửa nấy đều sơn đỏ đinh vàng, gạch đá trên vách xếp thành vằn hoa, chạm khắc hình rồng phượng vờn mây.

Canh tư hằng ngày, các cửa mở rộng cho bách quan vào cung dự buổi triều sớm, quan viên kinh thành đa số cưỡi ngựa đến, cố đô có bài ca dao "Đến canh tư, ngựa tung vó, quan lên triều".

Bách quan vào cung thành cần xếp theo thứ tự chức quan bậc quan.

Bởi canh tư trời còn chưa sáng nên quan viên dưới bậc tể chấp đều dùng giấy trắng dán thành đèn xếp, lấy gậy dài giương trước ngựa, đồng thời viết tên vị quan bên ngoài đèn.

Trước khi vào thành, quan viên sẽ theo thứ tự tập hợp quanh cửa cung, trăm ngàn ngọn đèn trước đầu ngựa lập lòe như Ngân Hà, cảnh tượng này được gọi là "hỏa thành".

Ngoài hoàng thành còn xây một "viện chầu" cho thân vương phò mã và trọng thần triều đình đến sớm nghỉ ngơi.

Hôm nay là mồng một, trong cung có đại triều hội, quan viên trong kinh đều phải vào cung, nhưng hiện giờ, hiển nhiên là ta tới quá sớm, cửa cung còn chưa mở, cũng chưa thấy rầm rộ hỏa thành, viện chầu cũng vắng ngắt, chỉ thấy trước cửa cung có một ngọn đèn duy nhất, một vị quan ngồi trên ngựa trắng đang lặng im chờ đợi dưới xà trang trí nóc điêu khắc Tuyên Đức Lâu.

Ta lại gần y đôi bước, thấy y bận áo lạnh xanh sẫm cản gió bụi, y phục bên trong đều màu đỏ, thêm phương tâm khúc lĩnh bằng la trắng, đeo kiếm bạc vòng bạc, chân đi tất lụa trắng, giày da đen, là triều phục của quan viên tứ phẩm.

Y vốn quay mặt về phía cửa cung, dường như cảm giác được ta đến gần, y chầm chậm quay đầu, dưới chiếc mão tam lương cài trâm sừng tê giác hiển lộ một khuôn mặt tuấn tú.

Y cũng chẳng phải quá trẻ trung, ước chừng khoảng tuổi băm, nhưng ngoại hình thanh tú nổi trội, ghìm cương ngựa đứng trước lầu kề bên cạnh lầu chính, trong cảnh nền lan can thắm đỏ, mặc gió đêm se lạnh thổi tung ống tay áo dài rộng của y, nơi chân mày ẩn hiện vẻ lịch lãm, thanh cao thoát tục như tiên giáng trần.

Ta ở trong cung chỉ hay gặp đại thần tể chấp, quan viên từ tam phẩm trở xuống biết không bao nhiêu nên không rõ y là ai, có điều, nếu đã chạm mắt nhau thì cũng chẳng dám bỏ quên lễ nghĩa, lập tức xá dài làm lễ với y.

Sau đó hai bên đều im lặng.

Còn đang phỏng đoán thân phận của y thì thấy ngọn đèn xếp treo trước đầu ngựa y thong thả đung đưa, bắt đầu quay về phía ta, ta định thần nhìn kỹ, trợn mắt há hốc.

Trên đó viết quan hàm và tên y – Lễ bộ thị lang, tri Doanh Châu: Vương Củng Thần.

Cái tên này, nếu nhắc đến vào năm năm trước, người nghe chắc chắn sẽ hỏi: "Là chàng trạng nguyên mười chín tuổi đã thi đỗ ấy hả?"

Nhưng năm năm sau, vào ngày hôm nay, lời thuyết minh về nó đã thay đổi, phản ứng đầu tiên của mọi người – tỷ như ta – là: "Là cái tên tiểu nhân hãm hại Tô Tử Mỹ ấy hả?"

Trước sự kiện Tiến tấu viện, Vương Củng Thần là điển hình sĩ tử hàn môn khổ học thi thư, gây dựng nên một thân thanh cao đáng quý, thường được người ta đề cập tới với giọng thưởng thức và ngưỡng mộ.

Y mất cha từ khi còn nhỏ, được người mẹ góa bụa vất vả nuôi dạy thành người, bên dưới còn vài người em, gia cảnh vô cùng bần hàn.

Cũng may y lanh lợi hiếu học, Thiên Thánh năm thứ tám đỗ tiến sĩ, còn đứng thứ nhất, khi đó y mới chỉ mười chín, là trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong lịch sử quốc triều.

Kim thượng bổ nhiệm y làm trạng nguyên, y lại từ chối không nhận ngay trên điện, nói y đã từng làm đề bài thi đình cách đó không lâu, không phải phát huy ngay tại trường thi, nên không dám ỷ vào đó mà đoạt danh hiệu trạng nguyên.

Kim thượng nghe xong, khen ngợi y trung thực hết mực, khăng khăng giữ y làm trạng nguyên, nhiều năm sau đó rất ưu ái y.

Hoạn lộ của y vốn cũng thuận buồm xuôi gió, cơ hồ là kiểu mà tất thảy kẻ sĩ đều tha thiết ước ao: Mười chín tuổi thi đỗ, hai mươi tám tuổi làm tri chế cáo, ba mươi tuổi làm hàn lâm học sĩ, những chức quan "lưỡng chế" mà kẻ sĩ cho rằng có khả năng thể hiện rõ rệt nhất thân phận và vinh quang của văn sĩ, vừa tới ngưỡng nhi lập y đã bắt được hết vào tay.

Ba mươi mốt tuổi nhậm chức trưởng đài ngự sử đài – ngự sử trung thừa, nếu không có vụ án Tô Thuấn Khâm thì y hẳn sẽ còn tiếp tục một bước lên mây.

Đáng tiếc, về sau tuy y loại bỏ được Tô Thuấn Khâm cùng một nhóm đông đảo những tài tuấn quán các đương thời khác, đồng thời khiến Đỗ Diễn bãi tướng, nhưng cũng vì vậy mà bị mọi người phê bình xem thường, đại khái kim thượng cũng có cái nhìn khác với y nên mượn cớ điều y ra ngoài làm tri Trịnh Châu, tiếp đó dời sang hai châu Thiền, Doanh.

Mấy năm nay y mãi vẫn chưa được hồi kinh, hôm nay mặc dù tới tham gia triều hội, nhưng quan hàm chưa đổi, hẳn chỉ là về kinh báo cáo công tác.

Nghe nói sau khi y cách chức biếm được Tô Thuấn Khâm và danh sĩ quán các thành công, từng mừng rỡ ra mặt nói: "Ta nhấc tay một cái mà bắt trọn cả lưới."

Trước đây chỉ nghe đến tên mà chưa lần nào trông thấy y, bởi y làm những chuyện chẳng mấy vẻ vang gì này nên trong tưởng tượng của ta, ngoại hình của y hẳn không khác gì Hạ Tủng, trong mắt ngập ngụa tửu sắc và lệ khí, thậm chí là như Vương Chí, đầu hoẵng mắt chuột, thần sắc hèn mọn.

Mà nay, thực sự khó mà có thể liên hệ sĩ phu thanh cao tao nhã trước mắt này với câu "nhấc tay một cái bắt trọn cả lưới" đắc ý vênh váo kia.

Nhưng cái tên này vẫn làm phai nhạt chút ngưỡng mộ nảy sinh một cách tự nhiên khi mới trông thấy phong thái dung nhan của y, ta lặng lẽ lùi ra sau, tránh thật xa, chia ra với y mỗi người đứng một bên cửa cung, tiếp tục chờ đợi.

Sau đó không ngừng có quan lại lên triều giục ngựa đến, trước khi xếp hàng theo thứ tự, họ thường túm năm tụm ba cùng nhau hàn huyên dăm lời, chỉ không đàm đạo với một mình Vương Củng Thần, đến người đi qua tỏ ý thăm hỏi với y cũng chẳng có mấy.

Ta yên lặng quan sát hồi lâu, mãi mới thấy có người lại gần cười nói mấy câu với y, để tâm nhận mặt, phát hiện ra chính là Vương Chí.

Đèn xếp tụ tập trước cửa cung càng lúc càng nhiều, như đom đóm bay lượn, như dòng sáng sông Ngân.

Bốn tiếng trống canh vang lên, bách quan đều đã xếp hàng xong xuôi rồi, mấy vị tể tướng chấp chính bấy giờ mới khoan thai dắt ngựa tới.

Đợi tể chấp dẫn ngựa đến trước cửa chính, hỏa thành tắt nến, cửa cấm mở ra, bách quan lại theo thứ tự chức quan cao thấp mà lần lượt vào cung thành.

Ta đứng đợi bên cạnh, bách quan vào thành hết rồi mới có thể đi qua.

Trong lúc rảnh rỗi, ánh mắt vẫn thường xuyên dừng lại trên người Vương Củng Thần.

Rốt cuộc cũng đến lượt y cất bước, y dắt ngựa đi lên, đằng sau lại có một tay quan tứ phẩm cưỡi con ngựa màu mận chín rảo bước tới cướp đường y.

Hai con ngựa xô vào nhau, con ngựa của Vương Củng Thần loạng choạng, cơ hồ xóc y ngã xuống đất.

Y kéo cương, vất vả lắm mới ổn định được ngựa, nhưng hốt triều (*) cắm bên hông lại tuột ra, rơi xuống dưới con ngựa.

(*) Thẻ vào chầu của quan lại bằng ngọc, ngà voi hoặc tre.

Ta nghĩ tay quan tứ phẩm kia hẳn là cố ý, bởi gã chỉ hơi quay đầu, cười với Vương Củng Thần: "Xin lỗi." rồi thản nhiên bỏ đi.

Vương Củng Thần ghìm ngựa dừng bước, trầm mặc đứng tại chỗ.

Người chung quanh đều đang nhìn y, một số người vừa nghiêng đầu xem vừa lướt qua bên cạnh y, một số khác dứt khoát dừng lại, thong dong chờ xem y xuống ngựa nhặt hốt như thế nào.

Không ai có động tác hay câu lời gì giúp y hóa giải cục diện lúng túng này.

Mà y thì chỉ im lặng cụp mắt, như bị đông cứng tức thời, bất động hồi lâu.

Ta biết đối với y, lúc này có xuống ngựa nhặt hốt hay không cũng đều là việc khó khăn.

Có hơi đồng cảm cho tình cảnh của y bây giờ, bèn đi tới, nhặt hốt dưới ngựa y lên, đưa cho y bằng cả hai tay.

Y kinh ngạc nhìn ta, thoáng lộ vẻ xúc động, cũng dùng cả hai tay nhận lấy, mỉm cười: "Đa tạ trung quý nhân."

Ta cười đáp lại: "Một cái nhấc tay mà thôi, thị lang không cần để tâm."

Y lại khẽ cúi người xuống: "Xin hỏi tôn tính đại danh trung quý nhân?"

Ta nói: "Tiện danh của tiểu nhân không dám làm bẩn tai thị lang."

Sau đó ta lùi ra sau tránh, mời y đi lên trước.

Y cũng không hỏi thêm nữa, chắp tay với ta tỏ ý từ biệt rồi nhanh chóng khôi phục lại thần thái khi trước, thong dong giục ngựa vào thành trước sự chú mục của mọi người.

Mặc cho đám người phía sau xì xào bàn tán ra sao, y cũng chẳng hề ngoảnh lại xem lấy một lần.

7.

Đồng hao

Mùa xuân năm ấy, trong Nghi Phượng Các có nội thị hoàng môn bị bệnh chuyển ra, Miêu thục nghi muốn bảo Hậu tỉnh bù cho một người, ta nghĩ tới lời nhờ vả của Trương Thừa Chiếu, bèn đề cử với bà, rất nhanh sau đó, Trương Thừa Chiếu được điều từ Tiền tỉnh vào.

Có lần, ta đề cập đến Vương Củng Thần với Trương Thừa Chiếu, hỏi hắn Vương thị lang về kinh báo cáo công tác à, Trương Thừa Chiếu trả lời: "Y thủ biên cương ở Doanh Châu có chút ít công lao nên quan gia gọi y về, tăng thêm quan hàm hàn lâm thị độc học sĩ và Long Đồ Các học sĩ (*).

Đến giờ vẫn chưa bảo y về Doanh Châu, xem ý có vẻ như muốn giữ y làm quan kinh thành, nhưng trong triều có không ít người phản đối."

(*) Hàn lâm thị độc học sĩ là chức quan hầu đọc sách sử, giảng giải kinh nghĩa, ứng đối cố vấn cho hoàng đế; Long Đồ Các là nơi lưu trữ ngự thư, sách cổ, tranh vẽ, vật biểu tượng điềm lành của Tống Thái Tông và gia phả, danh sách tôn thất của hoàng tộc, Long Đồ Các học sĩ là một chức quan suông, phong như một danh hiệu vinh dự.

Ta nhớ tới tình cảnh y chịu bách quan lạnh nhạt trong hỏa thành hôm đó, bèn hỏi Trương Thừa Chiếu: "Các đại thần tân phái bị y hặc hồi trước không phải còn chưa về kinh sao?

Theo lý, hiện giờ trong triều, người phản đối tân chính hẳn chiếm đa số mới phải, sao chính họ cũng xa lánh Vương Củng Thần vậy?"

Trương Thừa Chiếu đáp: "Ai bảo y gió chiều nào theo chiều ấy?

Khi còn trẻ y được Lữ Di Giản dìu dắt rất nhiều, vốn là đi theo Lữ tướng công, Lữ tướng công bãi tướng rồi, y lại thường xuyên qua lại với những đại thần thúc đẩy tân chính.

Lần đầu tiên quan gia muốn bổ nhiệm Hạ Tủng làm xu mật sứ, y đã suất lĩnh ngự sử đài và gián quan cùng nhau liều mình tiến gián.

Quan gia nghe đến phát phiền, xoay người định đi, kết quả bị Vương Củng Thần quỳ dưới đất níu lấy vạt áo sau, sống chết không cho ngài đi.

Quan gia bất đắc dĩ, đành phải tiếp nhận lời can gián của họ.

Thế nên, tuy cuối cùng Vương Củng Thần trở mặt triệt để với đại thần tân chính, ra tay tàn nhẫn với nhóm Tô Thuấn Khâm, nhưng dư đảng của Hạ Tủng cũng không muốn thấy y, đắc tội với cả hai phái trong triều như vậy thì lại chẳng là đắc tội với tất cả mọi người.

Y bị điều ra ngoài rồi quay lại kinh báo cáo công tác, tân đảng cựu đảng đều không vừa mắt y, một vài người hùa đỏ húc trắng (*) cũng giỡn cợt theo, bị xa lánh là đúng thôi."

(*) Nguyên văn: 跟红顶白, là một thành ngữ của vùng Quảng Đông, "hùa đỏ" là lấy lòng người đắc thế, "húc trắng" là công kích người thất thế.

Ta có một thắc mắc nghĩ mãi không thông ở đây: "Tại sao Vương Củng Thần lại trở mặt triệt để với đại thần tân chính?

Tôi nghe nói, y và Âu Dương Tu là anh em đồng hao kia mà, sao đến chút quan hệ thân thích ấy cũng mặc kệ, đối chọi quyết liệt đến vậy?"

"Ha ha, chính cái tay Âu Dương Tu này đã bức điên y đấy!"

Trương Thừa Chiếu vẫn hay dò la được chút chuyện tư ít ai biết đến của đại thần, nghe ta nói đến anh em đồng hao, càng thêm hào hứng, "Vương Củng Thần và Âu Dương Tu quen biết nhau trước cả khi mỗi người cưới một cô con gái nhà họ Tiết, quan hệ của hai người trước đó còn cực kỳ tốt nữa kia, cùng đi thi, có cơm cùng ăn, có áo cùng mặc.

Tài văn chương của Âu Dương Tu xuất chúng hơn, lần khoa cử ấy, mấy kỳ thi trước kỳ thi đình như quốc tử bổ giám sinh, thi hương, thi hội đều đứng thứ nhất, bởi vậy nên rất tự tin, quyết tâm phải giành danh hiệu trạng nguyên cho bằng được.

Thi đình về xong, Âu Dương Tu đi may cho mình bộ áo mới, định mặc sau khi được xướng danh, kết quả lại bị Vương Củng Thần ở cùng lấy ra mặc trước.

Phỏng chừng y cũng chẳng cố ý, còn cười nói với Âu Dương Tu: 'Mặc cái áo này của huynh đỗ trạng nguyên chắc, cho tôi mặc ké chút đi.' Nào ngờ hôm sau xướng danh, người đỗ trạng nguyên lại thật sự là Vương Củng Thần mặc áo mới chứ không phải Âu Dương Tu.

Kể từ đó hai người tuy không nhắc nhỏm gì tới câu bông đùa về bộ áo mới nhưng chỉ sợ ít nhiều đều không mấy dễ chịu."

Qua văn chương thi từ của hai người mấy năm nay, có thể thấy quả tình là Âu Dương Tu hơn xa Vương Củng Thần, bởi vậy nên vụ thi đình và lỡ mất dịp may làm trạng nguyên, lại có câu bông đùa về bộ áo mới trước đó, Âu Dương Tu hẳn khó tránh khỏi có phần lấn cấn.

Ta thầm thở dài, lại nghe Trương Thừa Chiếu kể: "Vương Củng Thần thừa nhận với quan gia trước đây từng làm đề bài thi đình, tuy quan gia không tước danh hiệu trạng nguyên của y nhưng Âu Dương Tu nhất định là không phục.

Hơn nữa, Vương Củng Thần lấy trước được đề thi thế nào, nhiều năm nay cũng có rất nhiều kiến giải, một trong số đó là quan viên muốn lôi kéo Vương Củng Thần, kiểu như Lữ Di Giản, tiết lộ cho y.

Sau nữa, Vương Củng Thật đúng là nương nhờ Lữ Di Giản thật, Âu Dương Tu ắt càng thêm xem thường y.

Về sau, Phạm Trọng Yêm chấp chính, Âu Dương Tu lập tức bén gót theo đuôi, càng xa lánh Vương Củng Thần hơn."

Nghĩ đến mối quan hệ thông gia kia, ta hỏi tiếp Trương Thừa Chiếu: "Họ đều cưới con gái của Tiết Khuê, ngày thường qua lại gần gũi, dẫu có hiềm khích thì cũng phải hòa hoãn được chút ít chứ?"

"Không có đâu, chẳng những không hòa hoãn mà còn càng căng thẳng hơn kia!"

Trương Thừa Chiếu lắc đầu quầy quậy, cười bảo: "Âu Dương Tu cưới tứ tiểu thư nhà Tiết Khuê.

Vương Củng Thần trước cưới tam tiểu thư, không được mấy năm thì vị phu nhân này qua đời, nhà họ Tiết quý trọng Vương Củng Thần là nhân tài, không nỡ để y sang làm rể nhà khác, bèn gả ngũ tiểu thư cho y tái giá.

Âu Dương Tu lập tức làm ngay bài thơ 'chúc': 'Con rể cũ thành con rể mới, chồng dì nhớn làm chồng dì bé.' Bài thơ này nhanh chóng truyền ra, khiến thiên hạ đều biết Vương Củng Thần cưới em vợ.

Về sau lại có một lần, Âu Dương Tu sang nhà bạn thân Lưu Thưởng làm khách, cũng mời Vương Củng Thần cùng đi.

Lưu Thưởng kể một chuyện tiếu lâm ngay trước mặt khách khứa quanh phòng: Trước đây có một lão học giả dạy trẻ em học bài, học đến câu 'Thoái thực tự công, uy di uy di' trong Kinh Thi, nhấn mạnh nhắc học sinh là 'Nhớ lấy, chữ 蛇 này phải đọc là di.' Hôm sau, cậu học trò xem ăn mày nghịch rắn trên đường đi học, bất giác quên mất thời gian, muộn lắm rồi mới đến học quán.

Lão học giả truy hỏi nguyên do, cậu học trò đáp, 'Ban nãy trên đường con thấy có người nghịch rắn nên dừng chân quan sát, thấy hắn nghịch con rắn lớn rồi lại nghịch con rắn bé, nên nhỡ giờ lên lớp.'... (*)"

Chữ "rắn" trong câu cuối cùng Trương Thừa Chiếu đều phát âm là "di", kể đến đây, tự hắn không nhịn được cười trước, cười sằng sặc đến gập cả bụng.

(*) "Thoái thực tự công, uy di uy di (退食自公, 委蛇委蛇)" nằm trong bài , chữ "蛇" có hai âm đọc, một là "xà" tức con rắn, hai là "di" trong "uy di" có nghĩa ung dung tự đắc, đồng thời, chữ "di" ấy cũng đồng âm với chữ "di" (dì) tức chị em gái của vợ.

Ta có thể tưởng tượng được tâm trạng của Vương Củng Thần lúc nghe chuyện tiếu lâm này.

Dầu chỉ mới có duyên gặp mặt một lần, song ta đã cảm nhận được tính y trời sinh hướng nội nhạy cảm, nỗi nhục khom lưng nhặt hốt y còn chẳng thể chấp nhận thì sao chịu được bị người đời lấy chuyện khuê môn của mình ra làm trò cười.

"Ớ?

Chuyện buồn cười thế kia mà, sao cậu không cười?"

Trương Thừa Chiếu ngạc nhiên hỏi ta.

Ta cười cười với hắn cho phải phép, không đáp mà hỏi tiếp: "Lúc đó Âu Dương Tu có cười không? »

"Cười chứ," Trương Thừa Chiếu nói, "Khách khứa cả phòng đều cười, sao y lại không cười!

Cũng vì cái cười này mà Vương Củng Thần sinh lòng oán hận y, nói không chừng còn cảm thấy là Âu Dương Tu cố ý dẫn mình đi cho mọi người cười nhạo.

Sau đó tiến hành tân chính, Âu Dương Tu làm gián quan, nhiều lần dâng sớ lên quan gia tố giác tiểu nhân trong triều, thậm chí còn công kích quan viên Ngự sử đài, nói đài quan 'đa phần không phải kỳ tài, chẳng ai có thể gọi là giả (*)'.

Nếu nói không một ai xứng chức thì tất nhiên cũng bao gồm Vương Củng Thần khi đó đang làm ngự sử trung thừa.

Mấy năm ấy, có không ít người trong đám bạn bè giỏi chữ nghĩa của Âu Dương Tu và y đem chuyện văn vẻ của Vương Củng Thần ra nói, ngoài sáng trong tối chế nhạo y là trạng nguyên có tiếng mà không có miếng, Âu Dương Tu lại công khai ngay trong tấu sớ như vậy, chọc Vương Củng Thần nổi giận, hạ quyết tâm đối đầu với các đại thần tân phái.

Sau chuyện hặc biếm, y cười nói câu 'nhấc tay một cái bắt trọn cả lưới' có lẽ là cảm thấy oán hận nhiều năm bỗng chốc xả ra được hết, y không vui mừng sao cho được?

Cái một lưới bắt trọn này không chỉ là tài tuấn quán các ủng hộ tân chính mà còn là đám bạn vẫn thường lấy văn vẻ ra kích thích y của Âu Dương Tu...

Năm sau, trước khi xảy ra vụ Âu Dương Tu trộm cháu, y đã chỉ thị thuộc hạ khi xưa Lưu Nguyên Du buộc tội Âu Dương Tu, tố y phụ xướng với kẻ sĩ quán các, ngầm kết bè phái.

Giờ nghĩ lại, e là vụ cháu gái ngoại cũng có tay y âm thầm nhúng vào."

(*) Chữ "giả" này ý là người làm việc chuyên về một lĩnh vực nào đó, hoặc theo một chủ nghĩa nào đó, kiểu như "giả" trong "học giả" vậy.

"Thế Tô Tử Mỹ thì sao?"

Ta lại hỏi, "Tuy có thể là trong khoảng thời gian y chủ trì sự vụ Tiến tấu viện từng có ý kiến xâm phạm đến Ngự sử đài nhưng hình như chưa công kích cá nhân Vương Củng Thần bao giờ mà.

Hiện giờ mọi người đều nói Vương Củng Thần hặc Tô Thuấn Khâm chủ yếu là để khiến Đỗ Diễn bãi tướng, nhưng nếu không có thù tư thì sao Vương Củng Thần lại bất mãn với quyết định tước tịch Tô Thuấn Khâm, hạ xuống làm thứ dân của kim thượng, khăng khăng thỉnh cầu kim thượng giết y đi?"

Trương Thừa Chiếu gật đầu: "Đúng vậy, tôi cũng thấy kỳ lạ đây!

Thực ra quan hệ của họ trước đây cũng không tệ, kết bạn đã nhiều năm.

Năm đó Tô Thuấn Khâm vào quán các làm tập hiền hiệu lý, còn là Vương Củng Thần bàn với Phạm Trọng Yêm, cùng nhau tiến cử kia mà...

Tô Thuấn Khâm hình như cũng chưa từng nói câu gì mỉa mai Vương Củng Thần, nhưng Vương Củng Thần lại nhất định khai đao với y..."

Hắn nghĩ ngợi, bỗng nghiêng người sáp lại gần ta, cười bảo: "Có lần tôi đến Hàn uyển có việc, thấy các học sĩ túm tụm với nhau ngồi tán gẫu, đang nói đến chuyện Vương Củng Thần hại Tô Thuấn Khâm, có học sĩ nói: 'Hắn ác với Tô Tử Mỹ như vậy không phải là vì Tử Mỹ có thù giết cha cướp vợ với hắn đấy chứ?' Mọi người nghe xong đều cười ha hả."

Ta không tiếp lời hắn.

Nhớ đến phong thái của Vương Củng Thần, chỉ cảm thấy tiếc hận xiết bao: Người tướng mạo thanh nhã thoát tục nhường vậy mà lại sa vào khuyết điểm hành động theo cảm tính, không nghĩ thoáng ra được, cuối cùng nên nỗi bị mọi người phê bình xem thường.

Đối mặt với tình cảnh hôm nay, chẳng biết y có từng hối hận vì ý nghĩ sai một ly đi một dặm ban đầu ấy không.

Ngày mười lăm tháng Hai là tiết hoa triêu.

Theo đề nghị của Trương mỹ nhân, kim thượng mệnh hoàng hậu dẫn chúng cung quyến tới Nghi Xuân Uyển ngắm hoa, cũng mời cả mệnh phụ bên ngoài cùng đi, buổi trưa ban tiệc ở trong vườn.

Trong bữa tiệc hôm đó, Trương quý phi tỏ ra rất quan tâm tới một vị phu nhân nhà quan viên thần sắc cô quạnh, thui thủi lặng lẽ, đặc biệt sai nội thị bên người qua thăm hỏi phu nhân, sau tiệc đi ngắm hoa, lại mời phu nhân kia đồng hành, còn tự tay hái một nhành hoa thụy hương xuống, cài lên miện phu nhân, vui vẻ hòa nhã trò chuyện với thị, vẻ mặt điềm đạm thân thiện quả thật làm vị phu nhân kia vừa mừng vừa lo.

Mấy vị cáo mệnh phu nhân nhà mẹ đẻ Trương quý phi vào cung khá thường xuyên nên ta nhận ra được, nhưng vị phu nhân hôm nay thì rất lạ mặt.

Quý phi đãi khách nhiệt tình hiếm có như thế làm ta cảm thấy quá mức kỳ dị, bèn bảo Trương Thừa Chiếu đi hỏi thăm thân phận của vị phu nhân kia.

Hắn nhanh chóng có được đáp án: "Đó là Tiết phu nhân nhà Vương Củng Thần."

Ta đã hiểu dụng ý của Trương quý phi.

Không lâu sau, trong cung đã xảy ra một việc xác nhận phỏng đoán của ta từ một góc độ khác.

Hôm đó công chúa nói muốn ăn mơ mà Nghi Phượng Các lại hết mất, Trương Thừa Chiếu bèn tự mình xin lệnh đến Ngự thiện cục lấy.

Mãi lâu sau mới về, dâng mơ lên xong tức thì lấy tay áo lau khóe mắt.

Công chúa kinh ngạc: "Sao ngươi lại khóc?"

Trương Thừa Chiếu nghe vậy, quỳ xuống đánh "phịch" một tiếng trước mặt công chúa, khóc lóc: "Thần vô dụng, ra ngoài bị người ta ức hiếp, làm mất thể diện của công chúa."

Công chúa liền hỏi hắn: "Ai ức hiếp ngươi?"

Trương Thừa Chiếu đáp: "Ban nãy thần lấy mơ từ Ngự thiện cục về, đi qua Nội Đông Môn, thấy đằng trước có mấy tên tiểu hoàng môn đẩy một cái xe chặn trước cửa, đi chậm rì rì.

Thần lo công chúa đợi lâu, bèn hòa nhã nói với họ: 'Các vị có thể đi nhanh hơn chút được không, hoặc là cho tôi đi trước với.' Ai ngờ họ như ăn phải thuốc nổ, quay phắt lại mắng thần vài câu.

Thần còn muốn nói lý với họ nên bảo: 'Tôi đi làm việc theo lệnh Phúc Khang công chúa, công chúa còn đang chờ tôi về phục mệnh, xin các vị châm chước nhường cho.' Vậy mà họ lại la lối: 'Bọn ta làm việc cho Trương quý phi đây.

Công chúa thì làm sao?

Công chúa to hơn được quý phi chắc?

Lại nói, quý phi còn là mẹ công chúa đấy!'"

Công chúa nghe thế, nhất thời nổi sùng: "Láo xược!

Chúng dám nói thế thật?"

Trương Thừa Chiếu gật đầu như gà mổ thóc: "Dạ, dạ, đúng là nói thế.

Thần nghe xong cũng phát tức, đi tranh luận phải quấy với họ, nói, đến Miêu thục nghi công chúa cũng chỉ gọi tỷ tỷ, Trương quý phi lấy đâu ra cái phúc mà dám xưng là mẹ công chúa.

Họ nói không lại thần, còn muốn đánh thần, thần nóng nảy gạt tay một cái, không cẩn thận đụng một cái rương trên xe đổ xuống.

Đúng lúc đó Giả bà bà từ trong cung đi ra, vừa vặn bắt gặp, tức khắc ba máu sáu cơn nổi hết lên, đùng đùng bạt tai thần mười mấy cái, mắng: 'Đựng trong đây là bảo bối đến trong cung cũng chẳng có, làm vỡ mười cái mạng ti tiện nhà bay cũng chẳng đền nổi đâu!'"

"Cái gì?

Mụ ta còn dám đánh ngươi?"

Công chúa nhíu mày, cả giận, "Con mụ mập ú này càng ngày càng đáng ghét rồi."

"Lại chẳng ạ!"

Trương Thừa Chiếu khóc lóc kể lể, "Thần chịu chút uất ức cũng không sao, nhưng thấy chúng miệt thị công chúa như vậy, thật sự không nuốt nổi cục giận này.

Hôm nay chúng dám đánh thần, ngày mai chẳng biết sẽ còn thế nào với công chúa..."

Công chúa bị câu này của hắn kích thích, tức thì đập bàn, đang định nói gì thì ta cản nàng lại, nói: "Công chúa, tạm thời nhịn xuống đã, ngẫm lại lời quan gia dạy người đi."

Nàng sửng sốt: "Cái gì?"

Ta nhắc nhở nàng: "Hít sâu."

Công chúa không khỏi phì cười, cơn giận nguôi đi phần nào.

Ta quay lại nói với Trương Thừa Chiếu: "Bọn chúng tuy ngang ngược, nhưng chắc gì cậu đã không sai?

Hẳn cậu thấy chúng chỉ là tiểu hoàng môn, quát mắng ra lệnh chúng nhường đường nên mới chọc bọn chúng bất mãn."

Trương Thừa Chiếu ngượng ngùng trong chớp mắt, còn muốn ngụy biện thêm, ta giơ tay ra hiệu hắn ngậm miệng, nói: "Tôi xin Miêu nương tử điều cậu qua đây không phải là muốn cậu gây chuyện thị phi cho công chúa.

Hậu cung khác với những nơi khác, một chút chuyện nhỏ thôi cũng có thể gây náo loạn không cách nào thu dọn được.

Cậu mà không biết bơn bớt lại, mưu toan mượn thanh thế công chúa huênh hoang tứ tung thì chẳng bằng đến từ đâu trở lại nơi đó đi."

Đây là lần đầu tiên ta dùng giọng nghiêm nghị như vậy nói chuyện với hắn.

Hắn sững sờ hồi lâu rồi mới quay sang công chúa, cầu khẩn: "Công chúa..."

Lúc này công chúa tựa hồ cũng hiểu ra, làm bộ hít sâu rồi cười với Trương Thừa Chiếu: "Cha bảo ta lúc tức giận thì hít sâu, nghĩ lại thêm vài lượt.

Hiện giờ ta nghĩ thông suốt rồi, không tức nữa."

Trương Thừa Chiếu rất thất vọng, cũng chẳng khóc nữa, nhìn công chúa, lại đưa mắt sang ta, chợt mở miệng: "Thực ra là tôi nhớ tới chuyện Trương nương tử và Giả bà bà hãm hại cậu năm đó nên mới nuốt không trôi cục giận này.

Chúng ta đều khổ cực làm việc cho công chúa, dựa vào đâu cũng bị họ đánh tới mắng lui dồn vào chỗ chết như thế chứ!"

Công chúa nghe câu này, mắt lại mở to: "Ngươi nói cái gì?

Trương nương tử và Giả bà bà từng hãm hại Hoài Cát?"

Trương Thừa Chiếu lập tức đáp dạ vang dội, ta muốn chặn hắn lại, nhưng công chúa lại bắt ta im miệng, lệnh Trương Thừa Chiếu nói hết, thế là hắn chẳng màng ta ngăn cản, một năm một mười kể lại toàn bộ chuyện đèn lưu ly năm đó cho công chúa nghe.

Công chúa nghe rất yên lặng, không tức giận gì rõ ràng, cụp mắt suy tư trong khoảnh khắc, bỗng truy vấn Trương Thừa Chiếu chuyện hôm nay: "Giả bà bà nói trong cái rương ngươi đụng đổ là bảo bối trong cung cũng không có, ngươi có biết là cái gì không?"

Trương Thừa Chiếu trả lời: "Sau đó mụ ta có mở ra kiểm tra, là một bình hoa lớn sắc men màu đỏ nâu."

"Men màu đỏ nâu?"

Công chúa ngẫm nghĩ, nói: "Lẽ nào là đồ sứ đỏ Định Châu?

Nghe nói đồ sứ lò Định rất ít món có màu đỏ, nung không dễ, màu sắc nhạt đậm cũng rất khó khống chế, bởi vậy nên rất đắt giá.

Cha không muốn trong cung dùng đồ quá xa xỉ nên đã hạ lệnh không cho phép Định Châu tiến cống đồ sứ đỏ.

Bình hoa này của Trương nương tử là từ đâu ra?"

Trương Thừa Chiếu nói: "Xem chừng là từ ngoài cung chuyển vào...

Có lẽ là ông bác Trương Nghiêu Tá tìm về lấy lòng bà ấy."

Công chúa không nói gì, tròng mắt thong thả chuyển động quan sát xung quanh, một lát sau, cười phân phó Trương Thừa Chiếu: "Ngươi ra Hậu uyển hái cho ta một bó hoa lê, sau đó tìm một bình sứ thô màu trắng cắm hoa vào."

Trương Thừa Chiếu ngây người: "Dùng bình sứ thô màu trắng ấy ạ?"

"Ừ."

Công chúa nói: "Bình hoa càng xấu càng tốt...

Tốt nhất là có chỗ nứt vỡ, không có thì người đập ra một chỗ."

Trương Thừa Chiếu nhanh chóng đi hái hoa lê, nhưng tìm bình hoa phù hợp với điều kiện của công chúa thì khá phí công.

Cuối cùng chạy ra ngoài, tìm được trong phòng một đầu bếp nữ, đập ra vết nứt công chúa cần rồi hí ha hí hửng cắm hoa lê vào dâng cho công chúa.

Công chúa đặt bình hoa này ở chỗ dễ thấy nhất trong gác, thế nên kim thượng bước vào là phát hiện ra ngay.

"Hoa lê nở đẹp đấy, có điều bình lại không xứng."

Kim thượng nhận xét, "Hoa và bình đều màu trắng, nhưng cũng không cùng một sắc điệu, hoa màu trắng tuyết càng làm bình trông có vẻ nhọ nhem, lại còn có vết nứt, nom rõ gai mắt.

Mau đổi cái khác đi."

"Con gái làm gì có bình hoa nào nữa đâu mà đổi!"

Công chúa hậm hực trả lời, "Rõ ràng cha có bình sứ đỏ Định Châu mà không cho con."

Kim thượng ngạc nhiên: "Cha làm gì có bình sứ đỏ Định Châu?

Con thường đi Phúc Ninh Điện, chẳng lẽ từng trông thấy ở đó?"

"Phúc Ninh Điện thì không có, nhưng Ninh Hoa Điện có!"

Công chúa kéo tay áo phụ thân, sẵng giọng, "Cha bất công, ban bình sứ đỏ Định Châu cho Trương nương tử mà không cho con, con đương nhiên buộc lòng phải tìm đại một cái bình xấu nứt để cắm hoa rồi."

Kim thượng nhíu mày: "Ninh Hoa Điện có đồ sứ đỏ Định Châu?"

Công chúa gật đầu: "Vâng, rất nhiều người từng nhìn thấy rồi."

Kim thượng đứng bật dậy, cất bước ra cửa.

Công chúa đuổi theo, đợi đến khi không thấy bóng dáng phụ thân đâu nữa thì quay lại nhìn ta, nhí nhảnh lè lưỡi với ta.

Hôm sau, tất cả mọi người trong cung đều hay tin kim thượng nổi cơn thịnh nộ đập đồ sứ đỏ Định Châu trong gác quý phi.

Nghe nói kim thượng vừa vào gác quý phi trong Ninh Hoa Điện đã đưa mắt nhìn khắp nơi như tìm kiếm thứ gì.

Sau trông thấy bình sứ đỏ Trương quý phi vừa bày ra, hỏi ả lấy từ đâu ra, Trương quý phi trả lời là Vương Củng Thần hiến tặng, kim thượng giận dữ, mắng ả: "Ta từng nhắc nàng chớ có nhận quà biếu của quan lại, sao nàng không nghe!"

Dứt lời lập tức nhấc búa đập nát bình hoa.

Trương quý phi sợ đến hoa dung thất sắc, quỳ rạp xuống tạ tội, kim thượng cứ mặc ả quỳ thế, mãi sau mới cho đứng lên.

"Ta không ngờ cha lại tức giận vậy."

Sau đó, công chúa nói với ta, "Thực ra ta chỉ muốn khiến cha mắng Trương nương tử xa xỉ sẽ làm người trong cung học theo, không cho bà ta dùng bình hoa đó nữa, làm bà ta khó chịu một hồi, cũng trút giận cho huynh."

Ta nhặt một sợi tơ phất phơ bám trên chân mày nàng ra: "Công chúa không cần làm việc này cho thần.

Sự việc đèn lưu ly qua đã rất lâu rồi, huống hồ lúc ấy cũng không gây nên ảnh hưởng gì xấu tới thần."

Công chúa xua tay: "Cơ mà, cứ nghĩ tới bà ta ức hiếp huynh như thế, ta lại tức anh ách, tức hơn cả lúc bà ta ức hiếp ta nữa."

Nói đoạn, công chúa nắm lấy tay ta, nghiêm túc nói, "

Sau này có ai ức hiếp huynh, nhất định phải nói cho ta biết đấy.

Ta biết huynh biết hít sâu, nhưng ta cứ muốn bảo vệ huynh cơ."

8.

Triều báo

Ba ngày sau, Trương Thừa Chiếu đưa một tờ triều báo tới trước mặt ta, phấn chấn ra mặt nói với ta: "Quan gia đuổi Vương Củng Thần về Doanh Châu rồi."

Triều báo là quyển tập tin tức do Tiến tấu viện biên tập, ghi lại chiếu chỉ gần đây, cuộc sống hằng ngày của hoàng đế, bổ nhiệm bãi miễn chức vụ của quan lại, tấu chương chiến báo của bá quan văn võ, sau khi được Xu mật viện xét duyệt, Tiến tấu viện sẽ sao chép rồi truyền báo cho thiên hạ và quan viên chư ty sở trong triều xem.

Ta mở phần của ngày hôm nay ra đọc, nhìn thấy tin thứ nhất được đăng về ngày hôm qua là: "Lễ bộ thị lang, hàn lâm thị độc học sĩ, Long Đồ Các học sĩ Vương Củng Thần rời kinh, tiếp tục giữ chức tri Doanh Châu kiêm Cao Dương Quan lộ an phủ sứ (*)."

(*) An phủ sứ là chức quan phụ trách quân vụ trị an các lộ binh mã địa phương, do tri châu, tri phủ địa phương đó kiêm nhiệm.

Điều này cũng nằm trong dự liệu của ta.

Nếu kim thượng đã biết việc y dâng đồ sứ đỏ Định Châu biếu Trương quý phi thì dưới cơn thịnh nộ tất sẽ không giữ y lại làm quan kinh thành.

Quả thật đáng tiếc, thực ra y không hề có vẻ gì là giống một nịnh thần.

Ta cảm thán trong lòng.

Có lẽ trong tình huống tứ cố vô thân, thấy Trương quý phi chủ động giao hảo nên mới có qua có lại, huống hồ chắc chắn y biết chuyện trước đây sẽ để lại ấn tượng thế nào cho trung cung nên lấy một phần lễ hậu biểu lộ lòng mình hướng về chủ nhân hậu cung, tiếc là làm quá lộ liễu, phạm vào điều tối kỵ của kim thượng.

Tin tức trong triều báo vô cùng giản lược, tấu chương cũng chỉ lấy vài câu trọng yếu.

Xem tiếp xuống, phần lớn là người nào bãi chức, người nào điều ra ngoài, người nào vào cung trả lời chất vấn, hơi đặc biệt hơn chút thì có tin tức về thi đình: "Kim thượng chọn ngày mồng ba tháng Ba thi tiến sĩ do Lễ bộ tấu danh (*) tại Sùng Chính Điện."

Bên dưới liệt kê danh sách mười tiến sĩ đứng đầu do Lễ bộ tấu danh.

(*) Trước kỳ thi đình, Lễ bộ đệ trình danh sách tiến sĩ muốn trúng tuyển lên cho hoàng đế xét duyệt thì gọi là "tấu danh".

Trương Thừa Chiếu thò đầu lại, vừa xem triều báo vừa quan sát sắc mặt ta, một lát sau, nói: "Triều báo bây giờ càng ngày càng không ra sao, chuyện gì cũng vắn tắt, chẳng chi tiết gì cả.

Nếu Tô Thuấn Khâm mà còn ở Tiến tấu viện, biên về vụ Vương Củng Thần rời kinh này nhất định sẽ viết thêm chuyện kim thượng tức giận đập đồ sứ đỏ Định Châu bên dưới.

Phần tiến sĩ Lễ bộ tấu danh này quá nửa cũng sẽ thêm dăm câu giới thiệu kèm theo..."

Câu này hắn nói không sai.

Năm đó Tô Thuấn Khâm chủ biên triều báo, đối với những sự kiện trọng đại đều tự thuật rất tường tận, ngôn ngữ ngắn gọn nhưng lại có thể giải thích đầy đủ tiền căn hậu quả, có lúc thậm chí còn thêm bình luận đằng sau, có điều, cũng bởi vậy mà bị tố là nghị luận xằng bậy trong triều báo, sau đó trên trình hoàng đế, dưới truyền tứ phương, biến thành tội vượt cấp, cũng có nghĩa mưu đồ đại diện quân chủ.

Cuối cùng kim thượng lệnh Trung thư môn hạ và Xu mật viện định ra hình thức triều báo, Tiến tấu viện không được sửa đổi lung tung, thành thử triều báo trở nên đơn giản như bây giờ.

Mà một trong số những nguyên nhân khiến Tô Thuấn Khâm bị mưu hại xóa tên, cưỡng chế đình chỉ công tác, rơi vào tình cảnh "vĩnh viễn không thể phục hồi", cũng là vì khi y chủ trì công tác triều báo, tin tức tuyển chọn và nội dung tấu chương đều có khuynh hướng nghiêng về phái tân chính, do đó đắc tội không ít người.

Ta gác tờ báo sang một bên, hỏi Trương Thừa Chiếu: "Sao cậu lấy được triều báo hôm nay?"

Hắn cười hềnh hệch: "Hôm nay tôi có việc đi tìm một người anh em hầu hạ bên Tiến tấu viện, thấy hắn đang chỉnh lý triều báo, chuẩn bị gửi đến các ty.

Tôi liếc thấy bên trong có tin về Vương Củng Thần, nghĩ cậu nhất định sẽ có hứng thú nên thuận tay lấy một tờ."

Ta không kìm được bật cười, nhưng vẫn không quên nhắc nhở hắn: "Say này đừng tùy tiện lấy thế, bây giờ chúng ta làm việc trong hậu cung, bị người khác biết là xem triều báo cũng không hay."

Hắn khoát tay: "Cậu yên tâm đi, thân thủ của tôi làm sao mà bị người khác phát hiện được?

Chỉ cần cậu không nói..."

Lời còn chưa dứt, lại nghe một người đột ngột đẩy cửa vào, cất cao giọng cười: "Ta phát hiện được đấy!"

Chúng ta đều cả kinh, cũng may ngay sau đó phát hiện ra là công chúa.

Nàng đi tới trước mặt ta, chìa tay đòi triều báo: "Cho ta xem với, bằng không ta sẽ nói cho người khác biết."

Ta đành phải đưa báo cho nàng.

Nàng cụp mắt đọc, lập tức nhìn thấy tin về Vương Củng Thần trước tiên.

Xem xong, nàng hỏi ta vẻ nghi hoặc: "Tay Vương Củng Thần này có phải người tốt không?

Cha từng kể ta nghe chuyện y xin từ chối danh hiệu trạng nguyên, khen y trung thực không ngớt, nhưng y tặng Trương nương tử bình hoa đắt giá như vậy lại không giống việc quan tốt sẽ làm..."

Lòng người thói đời trong đôi mắt trong veo của nàng bây giờ chỉ có hai màu đen trắng, đối với sĩ phu trong triều, nàng cũng chỉ biết chia làm "quan tốt" và "quan xấu".

Thế nên câu hỏi của nàng làm ta hơi do dự, nhất thời khó mà tìm được cách nào giải đáp cho thích hợp.

Trương Thừa Chiếu lại mở miệng trước: "Công chúa, nghe nói hai ngày nay quan gia bảo người học thuộc 'Nhạc Dương Lâu ký' và 'Túy Ông Đình ký'?"

"Phải đó," Công chúa đáp rất chi buồn rầu, "Thật sự khó thuộc lắm lắm.

Ta học một ngày, chừng như đã nhớ rồi, nhưng vừa hơi buồn ngủ một cái là phát hiện ra 'Nhạc Dương Lâu ký' trong đầu ta chỉ còn đúng một câu 'Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ'.

'Túy Ông Đình ký' còn thảm hơn, chỉ nhớ mỗi Thái thú vui đến vui đi, còn sao lại vui thì nghĩ thế nào cũng không ra...

Cha còn bắt ta ngày mai phải đọc thuộc cho cha nghe, làm sao bây giờ?

Ta chỉ muốn đâm đầu vào tường cho rồi!"

Trương Thừa Chiếu khom người lắng nghe, không ngừng ra chiều thông cảm, nhưng lời nói sau đó đối với công chúa quả thực chẳng khác nào uy hiếp: "Công chúa bảo trọng, việc học thuộc không thể để chồng chất lên được, bằng không ngày mai sao học thuộc tiếp được 'Thương Lang Đình ký' đây?"

Công chúa kinh hãi: "Còn phải thuộc 'Thương Lang Đình ký' nữa?"

Trương Thừa Chiếu đáp: "Đúng ạ, thần suy ra được cách quan gia chọn bài cho công chúa học thuộc là như thế nào rồi."

Công chúa vội vàng truy vấn: "Như thế nào?"

Trương Thừa Chiếu chỉ vào tên Vương Củng Thần: "Tay Vương Củng Thần này hại ai, quan gia sẽ bắt người thuộc bài của người đó."

Công chúa ngạc nhiên, Trương Thừa Chiếu lại tiếp tục giải thích: "Năm đó Vương Củng Thần vạch tội Đằng Tông Lượng, bạn của Phạm Trọng Yêm, nói ông ấy tham ô tiền công sứ, khiến ông ấy bị giáng chức đi coi giữ Tam Lăng Quận, giày tới vò lui, cuối cùng cách chức cả Phạm Trọng Yêm đi Đặng Châu.

Năm sau, Đằng Tông Lượng xây xong Nhạc Dương Lâu, đặc biệt mời Phạm Trọng Yêm viết 'Nhạc Dương Lâu ký'.

Sau đó Vương Củng Thần lại xúi giục thuộc hạ và bè cánh hặc Âu Dương Tu, một lần không được, lại làm lần hai, cuối cùng biếm y đến Trừ Châu, kết quả Âu Dương Tu viết 'Túy Ông Đình ký' ở đó...

Thế nên kế tiếp, quan gia nhất định sẽ bảo công chúa học thuộc 'Thương Lang Đình ký', bởi Tô Thuấn Khâm chạy đến Tô Châu viết nên bài này, toàn bộ cũng do Vương Củng Thần ban tặng."

Công chúa nghe xong, thở dài một tiếng: "Tay Vương Củng Thần này đáng ghét thật."

Trương Thừa Chiếu lập tức gật đầu đáp: "Quả thật đáng ghét.

Nếu y không gây ra lắm chuyện vậy thì bây giờ công chúa nào phải học thuộc mấy bài này đâu?

Thế nên công chúa hẳn đã rõ y là quan tốt hay quan xấu rồi chứ?"

Công chúa cười nói: "Hại ta học lắm bài văn vậy, đương nhiên là quan xấu rồi!"

Lý do này làm ta nghe cũng không nhịn được cười, nhưng vẫn nói rõ với công chúa: "Công chúa, đại thần xấu hay tốt không thể dùng số bài người phải thuộc ít hay nhiều để phân chia được, người thiện hay ác cũng không phải chỉ cần một hai chuyện là có thể phán định.

Huống chi người ác cũng có thể làm vài việc tốt trong đời, mà người tốt đời này cũng khó đảm bảo chưa từng làm chuyện gì hồ đồ gây thương tổn cho người khác.

Vương Củng Thần chăm học, trung thực, đó đều là cái tốt của y, trước đây từng có vài chuyện được người ta coi là chiến tích, xin từ chối danh hiệu trạng nguyên và níu vạt áo hoàng đế tiến gián thậm chí còn được lưu truyền thành giai thoại, nhưng về sau lại công kích đại thần tân phái, nhất là vụ việc Tiến tấu viện, y làm rất quá đáng, là tranh đấu bè phái, cũng là để xả giận tư, hại rất nhiều danh sĩ quán các, hiện tại và tương lai đều sẽ có rất nhiều người mắng y vì lẽ đó."

Công chúa tò mò hỏi ta: "Thỉnh thoảng nghe người ta nói tới vụ việc Tiến tấu viện, nhưng ta vẫn không biết rốt cuộc là xảy ra chuyện gì.

Vương Củng Thần hại đám Tô Thuấn Khâm như thế nào?"

"Trước kia thần hầu hạ ở Tiền tỉnh, thường nghe văn thần nghị luận nên biết rất rõ chân tướng chuyện này!"

Trương Thừa Chiếu không đợi ta trả lời, tức thì cao hứng bừng bừng nói với công chúa.

Công chúa cũng thuận thế bảo hắn: "Vậy ngươi kể đi."

Trương Thừa Chiếu liền thuật từ đầu: "Năm đó Phạm tướng công thu hút sĩ tử tài tuấn một thời, tụ tập ở quán các...

Công chúa biết quán các có chức năng gì không?"

Công chúa đáp: "Quán các chính là Sử quán, Chiêu văn quán, Tập hiền viện và Bí các, người làm việc trong đó phụ trách biên sử, soạn sách và quản lý thư tịch văn hiến các loại, có đôi khi cũng sẽ giảng giải kinh nghĩa cho cha."

"Không chỉ có vậy," Trường Thừa Chiếu giải thích, "Quán các còn kiêm trách nhiệm dạy bảo học trò, là nơi triều đình trữ nhân tài đợi bổ nhiệm.

Người nhậm chức ở quán thường mấy năm sau đều sẽ làm việc ở lưỡng chế, làm tri chế cáo, trung thư môn khách hoặc hàn lâm học sĩ, có thể thăng lên nữa, còn có thể vào nhị phủ, làm tể tướng hoặc xu mật sứ.

Cũng chính bởi vậy nên con đường vào quán các vô cùng gian nan.

Bình thường sẽ lấy năm người đỗ đầu tiến sĩ, điều sang nơi khác làm quan mấy năm trước, ba cái tên đứng đầu hết một nhiệm kỳ sẽ được gọi về, đứng thứ tư thứ năm thì hai nhiệm kỳ, trở lại kinh thành, trải qua trọng thần triều đình tiến cử, lại qua hoàng đế hạ chỉ triệu thí (*), thi xong một trận, qua cửa rồi mới có thể vào quán các nhậm chức.

Đương nhiên, ngoài những cái này ra còn có người vào được nhờ thưởng công hoặc đặc ân, nhưng văn sĩ lễ quyến bản triều, quan gia coi trọng nhất là khoa cử, hiện giờ không có xuất thân tiến sĩ thì không thể lên được chức cao, thế nên người trong quán các cũng chia đẳng cấp, người xuất thân tiến sĩ, lại trải qua triệu thí tự cho là mình cao hơn, thường kiêu ngạo hơn những người nhậm chức nhờ đặc ân."

(*) Một phương thức tuyển chọn quan lại thời phong kiến, là hoàng đế gọi đến phỏng vấn trực tiếp.

Công chúa mỉm cười: "Đám Tô Thuấn Khâm nhất định là tiến sĩ đỗ đạt đúng không?"

Trương Thừa Chiếu gật đầu, kể tiếp: "Phải ạ.

Tô Thuấn Khâm vốn là con nhà tướng môn thế gia, ông nội y Tô Dịch Giản là trạng nguyên thời Thái Tông, làm quan tới chức phó tướng tham tri chính sự, cha y Tô Kỳ làm quan tới Công bộ lang trung, mà ông ngoại y Vương Đán thì là tể tướng triều Chân Tông.

Y vốn được ké cha bổ ấm một chức quan huyện úy, nhưng y coi rẻ chức quan này nhỏ nhoi, từ chức, tham gia tiến cử, đỗ tiến sĩ.

Sau lại được Phạm Trọng Yêm tiến cử, tham gia triệu thí giành được chức quan trong quán các, ngoài tập hiền hiệu lý ra thì còn làm giám tiến tấu viện.

Sau khi vào quán các, bạn bè y kết giao đa số đều cùng một dạng, là người đỗ đạt có tài có tiếng.

Những người này đều ủng hộ quốc sách của Phạm tướng công, tuy là đảng quân tử nhưng đã quen thói cuồng ngạo, chỉ điểm giang sơn, nhìn quyền quý bằng nửa con mắt, lại thường trào phúng quan viên Ngự sử đài văn dốt võ nát, càng ngày càng chọc giận Vương Củng Thần bất hòa với Phạm tướng công và Đỗ tướng công.

Vả lại quán các còn là nơi trữ nhân tài, những kẻ sĩ đối đầu với y hôm nay rất có thể sẽ là trọng thần triều đình mai sau, thế nên y một mực muốn cách chức danh sĩ quán các trục xuất khỏi kinh, nhưng khổ nỗi chưa kiếm được đối sách, mãi cho đến khi Tiến tấu viện mở hội tế thần mùa thu..."

"Là cái lễ tế thần người kinh đô mở vào hai mùa xuân thu mỗi năm ấy hả?"

Công chúa hỏi.

Trương Thừa Chiếu thưa: "Vâng.

Người kinh đô mở tiệc tụ hội nhân dịp đó đã thành tập tục.

Khi ấy, Tô Thuấn Khâm theo lệ cũ của Tiến tấu viện bán chút giấy cũ, lại tự mình bỏ ra một vạn đồng, chuẩn bị mở tiệc chiêu đãi đám bạn bè danh sĩ quán các kia..."

"Chỉ mời những người đỗ đạt thôi à?"

Công chúa cười hỏi.

"Đúng ạ."

Trương Thừa Chiếu thuận thế nịnh nọt, "Công chúa thông minh thật đấy, đoán cái nào trúng ngay cái đó!

Lúc ấy có một thái tử xá nhân (*), tên là Lý Định, cũng muốn tham gia vào hội tế thần của Tiến tấu viện, nhưng bị Tô Thuấn Khâm từ chối, còn cười bảo y: 'Trên mâm cỗ đã chẳng có man la tất giáp thì lý nào lại có ghế cho quốc xá ngu bỉ?', man la tất giáp là món bánh kẹp thịt dê lợn của người Phồn; quốc xá ngu bỉ chỉ bác sĩ Quốc tử giám, Thái tử trung xá, ngu bộ, bỉ bộ viên ngoại là những chức quan dùng để bổ ấm cho con em quan lớn.

Ngụ ý là yến hội của bọn ta chỉ mời tao nhân mặc khách, cái ngữ con em quan lớn người ngợm chẳng khác gì món bánh kẹp thịt tạp nham của dân Phồn như ngươi miễn tham gia."

(*) Là chức quan theo hầu làm bạn với thái tử, người được bổ nhiệm thường chọn từ con em thế gia vọng tộc, thuộc Thái tử trung xá.

Công chúa cười to: "So sánh người ta với bánh kẹp thịt của người Phồn, Lý Định còn biết giấu mặt mũi đi đâu...

Y nuốt không trôi cục tức này, nhất định sẽ trả thù."

Trương Thừa Chiếu vỗ tay: "Lại chẳng à!

Lý Định ghi hận trong lòng, tuy không tham gia hội tế thần nhưng lại cài tai mắt nằm vùng trong yến hội.

Đám danh sĩ quán các này cũng không cẩn thận, uống đến ngà ngà rồi, sử quán kiểm thảo (*) Vương Thù sai người cho gọi hai nữ kỹ vào ngồi chung mua vui, điện trung thừa, tập hiền hiệu lý Vương Ích Nhu càng thêm hăng hái, ngẫu hứng làm bài 'Ngạo ca', trong thơ có hai câu: 'Say nằm Bắc Cực khiến vua dìu, Chu Công Khổng Tử lùa làm nô.'"

(*) Chức quan chưởng quản việc biên soạn sách sử.

Công chúa nghe xong nổi giận đùng đùng, mắng: "Muốn sai khiến hoàng đế đi dìu y?

Hoang đường!"

Trương Thừa Chiếu lập tức tự vả mình một cái, nói: "Thần nhất thời vô ý, kể thẳng quá, xin công chúa thứ tội."

Công chúa nghe câu này còn tức thì hoàn toàn có thể tưởng tượng ra tâm trạng của kim thượng khi nghe.

Ta bèn cúi người, khuyên công chúa: "Đây chỉ là lời thiếu niên ngông cuồng của Vương Ích Nhu, vốn không phải cố ý."

Cũng may công chúa nóng lòng nghe tiếp diễn biến về sau nên không tính toán gì nhiều, xua tay nói: "Quên đi, dù sao sau đó y cũng nhận trái đắng rồi.

Thừa Chiếu kể tiếp đi."

Trương Thừa Chiếu tuân mệnh, lại nói: "Tai mắt Lý Định nghe được câu ấy lập tức đi ra nói cho y.

Lý Định tìm ngay tới Vương Củng Thần, thuận lại việc này.

Vương Củng Thần nhanh chóng vào cung diện thánh, tố cáo chuyện Tiến tấu viện.

Quan gia giận dữ, lập tức lệnh Hoàng thành ty tróc nã người tham gia yến hội.

Khi đó trên đường phố Biện Kinh toàn là nội thị tay cầm binh khí, cưỡi ngựa phi phóng đi bắt người, thần dân không biết xảy ra chuyện gì, cả thành ầm ĩ nháo nhào, tiếng hô to gọi nhỏ đến trong cung cũng nghe thấy được."

"Bắt được toàn bộ?"

Công chúa tròn mắt hỏi.

"Tất nhiên rồi ạ," Trương Thừa Chiếu hớn hở, "Đám kẻ sĩ quán các đó đều là thư sinh, sao có thể phản kháng!

Chỉ một loáng đã bắt tất vào tù.

Sau đó Vương Củng Thần suất lĩnh Ngự sử đài hặc Tô Thuấn Khâm tội biển thủ, Vương Ích Nhu tội phỉ báng Chu Khổng, đám Vương Thù và kỹ nữ ngồi chung, yêu cầu quan gia trừng trị từng người, thậm chí còn thỉnh quan gia tru diệt Tô Thuấn Khâm và Vương Ích Nhu.

Mà Hàn Kỳ thì ra sức can gián, nói từ khi bệ hạ lên ngôi tới nay chưa từng làm chuyện tru diệt sĩ phu, một khi lỗ mãng, người nghe thấy ắt sẽ kinh hãi."

Công chúa gật đầu: "Họ tuy có hơi ngông cuồng càn rỡ nhưng cũng không đến nỗi phải rơi đầu."

Trương Thừa Chiếu nói: "Công chúa thật không hổ là con gái hoàng đế, nghĩ giống y hệt quan gia.

Sau nữa, quan gia gạch tên giáng Tô Thuấn Khâm xuống làm thứ dân, các danh sĩ còn lại đều bị giáng chức điều ra ngoài, quán các nhất thời vắng tanh, trong một khoảng thời gian dài có muốn soạn sách, biên sử, giảng kinh cũng không tìm được ai thích hợp, triều báo cũng ngừng ra rất lâu.

Bởi nhất thời không tìm được nhiều người siêu quần xuất chúng như vậy trong tiến sĩ để bổ sung vào quán các nên quan gia lại nảy ra ý định muốn trị cái tật ngả ngớn của bọn tài sĩ, bè cánh Vương Củng Thần bèn nhận ý chỉ, đề cử vài tay chất phác khuyết thiếu tài cán vào..."

Hai mắt công chúa chợt sáng bừng, hỏi: "Tay Dương An Quốc kia cũng được bổ sung vào khoảng thời gian ấy?"

Trương Thừa Chiếu cười gật đầu: "Đúng ạ, đúng ạ, cái tay dở hơi ấy được bổ sung vào quán các chính lúc đó."

Ta nghe đến tên Dương An Quốc cũng muốn phì cười.

Người này tài sơ học thiển, ngôn hành thô bỉ, mỗi lần giảng đọc kinh nghĩa cho kim thượng, lời nói đều lẫn tạp từ ngữ dân gian quê mùa, thế nên quan thần phụng dưỡng trong cung cứ thấy gã có cử chỉ gì là phì ra cười trước.

Có một hôm, gã giảng giải "Một ống cơm một bầu uống" cho kim thượng, miệng chỉ toàn tiếng địa phương: "Nhan Hồi nghèo rớt mồng tơi, trong nhà chỉ có một tô kê ăn, một hồ nước uống."

Một lần khác, giảng tới câu "Chủ động tặng bó tu, ta bảo ban không từ" trong "Luận ngữ", tu là thịt khô, mười miếng thành một bó.

Người xưa gặp nhau tất sẽ mang vật làm lễ ra mắt, bó tu là cái lễ ít ỏi nhất.

Câu này vốn là "Kể từ lúc lấy bó tu làm lễ mọn cầu thầy, ta chưa bao giờ không chỉ bảo dạy dỗ."

Kim thượng nghe vậy mỉm cười.

Hôm sau ban thưởng rộng rãi cho ngôn quan, những người khác đều thành khẩn từ chối không dám nhận, duy chỉ có Dương An Quốc là thản nhiên nhận lấy.

Việc này đã sớm truyền thành trò cười trong cung, đến kim thượng khi giảng "Luận ngữ" cho công chúa cũng từng ngậm cười nhắc tới.

"Kẻ nực cười trong đây không chỉ có mỗi Dương An Quốc thôi đâu," Trương Thừa Chiếu lại nói, "Trong quán các còn có một Bành Thừa cũng là tay thần kỳ lắm đó!

Sau khi vào Tiến tấu viện, hàn lâm học sĩ thiếu một vị trí, quan gia muốn chọn từ đám văn thần trong quán các bổ sung vào, thực sự không tìm được ai đủ tốt, bèn chọn Bành Thừa lớn tuổi nhất.

Sau đó ông ta thảo chiếu lệnh cho quan gia, câu cú từ ngữ còn buồn cười hơn nữa kia.

Có lần một nguyên soái thủ giữ biên ải xin được vào triều yết kiến, quan gia gọi Bàng Thừa đến, nói với ông ta ý của mình, bảo ông ta thảo chiếu phúc đáp, sau đó Bành Thừa viết vào chiếu đáp rằng: 'Chờ đến bận hiu hiu thì tà tà mà đi'."

Công chúa lấy làm khó hiểu, nhăn mày hỏi ta: "Câu nghe tối nghĩa thế, ý là gì vậy?

Hoài Cát, huynh hiểu không?"

Ta mỉm cười: "Thần cũng chỉ có thể suy đoán.

Có lẽ ông ấy muốn nói, đợi bao giờ trời lạnh thì được phép khởi hành."

Trương Thừa Chiếu cười nói: "Chính là ý đó đấy.

Lời gốc của quan gia là: 'Đợi khi nào vào thu mát mẻ, ông hẵng về.' Chiếu thư này truyền ra làm vài hàn lâm học sĩ ngã lăn ra cười.

Bành Thừa còn rất chuộng dùng kiểu câu này.

Sau nữa thì đến vụ đại thần Điền Huống – tri Thành Đô Phủ, khi ấy Tây Thục gặp phải họa mất mùa, Điền Huống vừa vào Kiếm Môn Quan hiểm trở đã lập tức mở kho thóc cứu tế, sau đó dâng tấu chịu tội, Bành Thừa lại viết chiếu phúc đáp: 'Mới qua hiểm lởm nhởm đã đổ nỗi bùi ngùi', lại thành chuyện hài một thời.

Năm nay Bành Thừa bị bệnh chết, đồng liêu của ông ta Vương Kỳ viết ai điếu cho ông ta, còn nhịn không được giễu ông ta một câu, viết trong ai điếu: 'Nhất là câu hiu hiu, đố ai nối gió nổi.'"

Công chúa tựa vào bàn cười một lúc, mới nói: "Thì ra mấy năm nay trong hàn lâm học sĩ cũng trộn lẫn một đám ô hợp đến vậy.

Xét đến cùng, cũng là lỗi của Vương Củng Thần."

Cũng chính vì chuyện này mà Vương Củng Thần càng bị tài tử danh sĩ trong thiên hạ chỉ trích.

Quốc triều rất coi trọng kẻ sĩ có học vấn văn chương, xét thấy trong quán các triều Chân Tông có không ít người học thức nông cạn, kim thượng còn đặc biệt chỉ thị: "Chức quan quán các là dành cho kẻ sĩ biết chữ nghĩa danh xứng với thực."

để nâng cao điều kiện vào quán các, có một thời người được tuyển chọn đều là tinh anh thiên hạ, thế nên nhân tài bản triều xuất hiện lớp lớp, rất nhiều đại thần đã sẵn có tiếng làm chính trị lại còn nổi danh tài văn chương, đủ để lưu danh thiên cổ, trở thành danh thần quốc gia.

Mà vụ việc Tiến tấu viện dẫn đến thay đổi nguyên tắc chọn kẻ sĩ vào quán các, tuy tăng thêm người chất phác cẩn trọng nhưng đồng thời cũng rất thiếu năng lực, cứ hễ giảng kinh là chỉ biết giải thích đúng từ ngữ trong sách cổ, còn có những kẻ như Dương An Quốc và Bành Thừa trà trộn trong đó, cứ thế mãi thể nào cũng sẽ gây bất lợi cho giang sơn xã tắc.

Nhưng những lời này ta chỉ nghĩ trong lòng vậy thôi chứ không nói với công chúa, Nàng trò chuyện cười đùa cùng Trương Thừa Chiếu một hồi, chợt lại hỏi: "Nhưng vì sao cái tay Vương Củng Thần này lại có quyền lực to lớn vậy, muốn hại ai là hại người đó?"

"Bởi khi đó, y là ngự sử trung thừa, chính là chức quan phụ trách giám sát bách quan đó ạ."

Trương Thừa Chiếu trả lời, "Chức quyền của Ngự sử đài là duy trì trật tự bách quan, chỉnh đốn kỷ cương, khuyên nhủ hoàng đế, tham nghị triều chính và thẩm lý hình ngục.

Triều đình còn có quy định, trong một trăm ngày mà ngự sử không chỉ trích được tình hình chính trị đương thời nào, lập tức biếm ra ngoài làm quan.

Cho dù Vương Củng Thần không có thù riêng với quan khác thì y cũng phải tìm cho ra người mà vạch tội, thế nên đang yên đang lành nhất định đừng đắc tội với ngự sử...

Nói đến quy định trăm ngày này, trong triều còn có một chuyện hài khác: Ngự sử tiền nhiệm Vương Bình sắp tròn trăm ngày mà vẫn chưa nói được chuyện gì, đồng liêu đều rất kinh ngạc, nhưng ngẫm nghĩ rồi lại bảo: 'Có thể là Vương ngự sử đang đợi thời cơ phát ra, đã có lời ắt phải là đại sự.' Một ngày nọ, rốt cuộc cũng nghe nói y dâng trát (*) vách tội, cả đám vội báo cho nhau, cùng lặng lẽ tìm trát của ông ta, kính cẩn đọc mà học tập, chỉ thấy ông ta chỉ trích chuyện trong ngự thiện có sợi tóc.

Trong bài chỉ trích ông ta còn viết thế này: 'Trang dung nghiêm kính nhường nao, chợt thấy bóng hình xoăn cuộn.'"

(*) Tên một loại công văn quan lại phong kiến dùng để tâu lên cấp trên hoặc thông báo cho cấp dưới.

Vừa nói dứt lời, Trương Thừa Chiếu đã tự cười bò ra trước, công chúa chưa hiểu được hoàn toàn, vừa ăn mơ vừa hỏi ta: "Câu chỉ trích đó của ông ta là có ý gì?"

Ta tủm tỉm đáp: "Ý ông ấy là, hoàng đế đang chuẩn bị dùng bữa, ngự dung nghiêm túc trang trọng cỡ nào, không ngờ bỗng thấy một sợi tóc yên bình cuộn mình trong đĩa."

Công chúa tức khắc há miệng ra cười, bất cẩn bị miếng mơ chưa nuốt xuống làm sặc, ho suyễn một tràng.

Ta đang định đi qua chiếu cố, Trương Thừa Chiếu đã giành trước vỗ lưng cho nàng, còn bưng trà đưa nước.

Công chúa thở hổn hển, nói: "Trước đây người trong quán các nói đài quan không xứng chức, hóa ra cũng chẳng phải chỉ trích vô lý!"

Trương Thừa Chiếu tiếp lời: "Đúng thế đó!

Nếu không phải quả thực đài quan có chỗ thiếu sót thì Âu Dương Tu và bạn bè quán các của y đã chẳng đem chuyện ấy ra nói hết lần này tới lần khác làm gì."

Công chúa lại cười bảo: "Lại nói, chuyện Vân nương chăm nom cũng không khác Vương ngự sử mấy.

Ta mà ăn cơm không ngoan, bà ấy sẽ nêu lời tố cáo với tỷ tỷ ta.

Đợi chút nữa, ta cũng bảo cha phong bà ấy làm ngự sử."

Vân nương chính là nhũ mẫu Hàn thị của nàng.

Tiếp đó nàng liên tưởng ngay sang Miêu thục nghi, nói: "Tỷ tỷ cũng thế, bà mà cảm thấy ta không nghe lời bà, sẽ tố cáo ta với cha hoặc nương nương...

Nhưng mà chức quan của bà cao hơn Vân nương, phong bà làm ngự sử trung thừa đi."

Ta nghe vậy cúi đầu cười, công chúa nhìn ta, cố ý ra vẻ nghiêm túc: "Huynh cười cái gì?

Huynh cũng hay làm chuyện xấu, có lúc ta không muốn viết chữ đọc sách, huynh cũng sẽ đi mách với tỷ tỷ ta...

Có thể coi là một thị ngự sử tri tạp sự."

Ta thu lại nụ cười, kính cẩn lễ phép khom người với nàng, nói: "Công chúa, thứ cho thần nói thẳng.

Thần thiết nghĩ, công chúa phong thần làm hàn lâm học sĩ sẽ thỏa đáng hơn."

"Vì sao?"

Công chúa hỏi.

Ta đáp: "Bởi vì thần phải sẵn sàng ứng đối với yêu cầu của công chúa bất cứ lúc nào, giảng giải kinh nghĩa cho công chúa, còn phải ngày ngày túc trực, thỉnh thoảng tuân mệnh thay công chúa nghĩ văn chương thi từ 'thảo chiếu'."

"Bộp" một tiếng nho nhỏ, là công chúa ném một quả mơ vào giữa hai hàng lông mày ta.

"Huynh lại giễu cợt ta!"

Nàng sẵng giọng, nhưng vẻ phẫn nộ giả bộ thoáng qua ấy nhanh chóng biến mất trong nụ cười má lúm ngay kế đó.

Ta xoa xoa ấn đường, chỉ cười.

Nàng chăm chú nhìn ta một chốc, bỗng bảo: "Cơ mà, Hoài Cát, huynh học tốt như vậy, nếu không vào cung, năm nay huynh mười tám, cũng có thể đi thi trạng nguyên rồi nhỉ?

Nếu đỗ tiến sĩ, muốn làm hàn lâm học sĩ quả thực cũng chẳng khó."

Nụ cười của ta tan biến, trong lòng cảm xúc lẫn lộn, không phân rõ được là vui hay buồn.

Công chúa lại mở tờ triều báo ra, xem danh sách tiến sĩ tấu danh bên trên, mỉm cười nói: "Nhưng nếu như vậy, ta cũng sẽ không quen biết huynh, e rằng chỉ có thể trèo lên Thái Thanh Lâu nhìn huynh từ xa trong lúc cha triệu kiến tiến sĩ tân khoa ở Tập Anh Điện, nghĩ thầm trong bụng: 'Anh chàng trạng nguyên này nom ưa nhìn ghê.' mà thôi."
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 5: Một khúc thần tiên Ngư gia ngạo


1.

Trạng nguyên

Cảnh tượng công chúa tưởng tượng đã thực sự diễn ra vào tháng Ba, đương nhiên, chàng trạng nguyên ưa nhìn ấy không phải là ta.

Vài ngày sau kỳ thi đình ở Sùng Chính Điện, kim thượng ngự Tập Anh Điện, kết quả cuối cùng của lần tiến cử này được tuyên bố xướng danh ở đó.

Theo lệ, khi ấy, nữ tử hậu cung có thể theo hoàng hậu lên Thái Thanh Lâu kề bên Tập Anh Điện, chiêm ngưỡng phong thái tiến sĩ tân khoa.

Hôm đó, trên Thái Thanh Lâu giăng một bức rèm châu tơ màu, ngự tọa của hoàng hậu đặt mé đông lầu, công chúa ngồi bên cạnh bà, cung quyến theo thứ tự ngồi đằng sau họ, chỉ riêng Trương quý phi là bày mưu kêu nội thị tùy tùng đặt một chỗ ngồi khác ở mé tây, rèm tơ quạt thêu, màu sắc và hình thức đều gần với của hoàng hậu, nhìn từ dưới lầu lên, tựa như hai cung ngang hàng.

Tham gia nghi thức xướng danh lần này ước chừng có bốn, năm trăm sĩ tử, chia làm hai nhóm tiến vào, lục tục dừng bước đứng nghiêm trên Tập Anh Điện, đều mặc áo bào trắng muốt, dưới ánh nắng rực rỡ ban ngày, áo mũ trước mắt trắng như tuyết.

Đến giờ xướng danh, tiếng nhạc lễ ngưng, sĩ tử và người xem đều nín thở, chờ hoàng đế trong điện mở niêm phong danh sách, công bố tên tiến sĩ.

Chốc lát sau, tên trạng nguyên do kim thượng đích thân tuyên đọc qua tiếng sáu bảy vệ sĩ đồng thanh hô truyền, vang vọng trong ngoài đại điện: "Tiến sĩ đứng nhất – Phùng Kinh đất Giang Hạ."

Trong hàng ngũ sĩ tử rộ lên một làn sóng xôn xao nho nhỏ, tiếp đó, một sĩ tử trẻ tuổi từ trong đi ra, không nhanh không chậm cất bước tiến vào giữa điện, dáng dấp thanh tú, tư thái thong dong.

Phần lớn cung tần trên Thái Thanh Lâu đều cầm lòng không đậu, nhao nhao nghiêng người về phía trước quan sát chàng trạng nguyên tân khoa này, tiếc rằng khoảng cách hơi xa, ngay sau đó chàng ta lại đi vào Tập Anh Điện nên dung mạo cụ thể thế nào chúng cung tần chẳng kịp nhìn rõ, không kìm được hỏi thăm lẫn nhau: "Cô có thấy rõ trạng nguyên trông ra sao không?"

Đúng lúc này, nội điện thừa chế Bùi Tương đứng hầu bên hoàng hậu cười, nói: "Dung nhan tướng mạo vị trạng nguyên này có thể nói là xuất chúng nhất trong số các trạng nguyên từ trước tới nay của quốc triều đấy ạ."

Bùi Tương là một trong những hoạn giả tài hoa nhất bản triều.

Cha nuôi y, nội thị Bùi Dũ triều Chân Tông, giỏi tài ngâm vịnh, có thi danh, bản thân Bùi Tương cũng thích đọc sách, lại được Bùi Dũ dốc lòng bồi dưỡng nên tài văn chương từ thuở thiếu thời đã có thể sánh ngang với tiến sĩ, hiện đang làm việc ở Bí các, phụ trách hiệu đính sách vở, chức vụ gần như y hệt một văn thần.

Trong những năm Minh Đạo, kim thượng ngự ở tiện điện, thử tài thi phú của tiến sĩ, nhất thời nổi hứng, lệnh Bùi Tương khi ấy đang phục dịch bên cạnh làm bài.

Bùi Tương vui vẻ lĩnh mệnh, vung tay làm ngay.

Sau khi đọc thi phú của y, kim thượng cảm thán tán thưởng, người chung quanh cũng rung động theo.

Kể từ đó, phàm là thi đình, kim thượng đều sẽ lệnh cho Bùi Tương ở bên hầu hạ, thi thoảng kiểm tra bài thi của tiến sĩ thay mình, truyền báo nội dung bài thi.

Thế nên tình hình tiến sĩ tân khoa ra sao, Bùi Tương cũng khá am tường.

Y nói câu này đã kích thích nên một trận hô reo vui cười trong nhóm nữ tử, ai nấy đều hai mắt sáng rỡ, càng thêm tò mò.

Miêu thục nghi lớn lên trong cung từ nhỏ, từng xem mấy khóa tiến sĩ, nghe vậy cất tiếng hỏi Bùi Tương: "So với Vương trạng nguyên mười chín năm trước thì thế nào?"

Ý bà chỉ Vương Củng Thần, ngày nay cách lúc y thi đỗ năm Thiên Thánh thứ tám đã được mười chín năm.

Bùi Tương đáp: "Khi ấy Vương thị lang mới chỉ mười chín tuổi, tuy rằng khôi ngô song hãy còn gầy gò non nớt, tựa một cây trúc xanh.

Vị trạng nguyên khóa này hơn thị lang năm đó vài tuổi, phong thái thanh mà không bần, đứng trong chúng sĩ tử lóa mắt như cây đường đệ nở hoa vậy."

Hoàng hậu nghe xong mỉm cười: "Bùi thừa chế thư họa song tuyệt, tả người nghe cũng như vẽ tranh ấy."

"Hoàng hậu quá lời..."

Bùi Tương ngậm cười cúi người: "Thần chỉ thành thật trả lời câu hỏi của Miêu nương tử mà thôi...

Tài học của Phùng trạng nguyên cũng vô cùng xuất chúng, thi hương, thi hội trước khi thi đình đều đứng thứ nhất, cộng thêm kết quả xướng danh hôm nay thì chân chính là đỗ tam nguyên rồi."

Trạng nguyên đỗ tam nguyên trong lịch sử quốc triều chỉ có bốn người.

Nghe y nói vậy, chúng nữ tử đều chẳng để tâm gì đến những tiến sĩ xướng danh sau đó nữa, vây lấy Bùi Tương hỏi miết về trạng nguyên.

Hỏi hết một lượt từ quê quán, tuổi tác, xuất thân đến nội dung thi phú thi đình rồi, một nội nhân bạo gan thắc mắc một câu giòn giã: "Trạng nguyên đã có gia thất hay chăng?"

Mọi người cười phá lên, làm ty cung lệnh cả kinh vội ra hiệu: "Im lặng!

Bị sĩ tử nghe thấy còn ra thể thống gì."

Chư nương tử và nội nhân miễn cưỡng kìm ngưng tiếng cười, vừa trêu ghẹo nội nhân đặt câu hỏi, đồng thời cũng nhướng mày cong miệng ngó Bùi Tương, chờ y trả lời.

Mà đáp án của Bùi Tương cũng không làm họ thất vọng: "Mấy năm trước Phùng trạng nguyên từng cưới một nương tử, nhưng vị nương tử này mất sớm, từ đó đến nay vẫn chưa lấy vợ."

"Ồ..."

Chúng nội nhân rộ tiếng, nghe như thở phào nhẹ nhõm.

Công chúa thấy vậy không khỏi phì cười, thì thầm với ta: "Người ta có gia thất hay chăng thì liên can chi tới họ?

Họ cũng có lấy được người ta đâu, sao phải quan tâm vậy chứ?"

Ta cười không đáp.

Ngày thường chung đụng với đám nội nhân đã lâu, có thể láng máng đoán được tâm tư họ.

Họ tuy tự biết mình không thể kết duyên cùng trạng nguyên, nhưng đối mặt với một nam tử vừa lòng đẹp mắt vẫn sẽ luôn hi vọng chàng gắng hết sức duy trì trạng thái độc thân, cho họ thêm không gian mơ mộng.

Năm cái tên đỗ đầu sau khi được kim thượng đích thân tháo niêm phong công bố lại trải qua lần lượt từng nhóm hoạn giả xướng danh, đợi đến khi xướng xong tên người thứ năm, kẻ sĩ vào điện cầm sắc thư vàng tươi, hạ bái một lần nữa xong, trên điện lại vang lên tiếng truyền: "Ban thưởng bào, hốt cho tiến sĩ."

Nghi thức ban thưởng áo lục, triều hốt cho tiến sĩ tiến hành dưới hai dãy nhà hông bên ngoài Tập Anh Điện.

Năm người lấy trạng nguyên dẫn đầu ra cửa điện, khoác một tấm áo lụa màu vàng nhạt dưới sự giúp đỡ của hoạn giả trước rồi lấy công phục bằng la màu xanh lục, đai lưng vàng nhạt, nhận triều hốt trắng.

Sau đó, vài trăm kẻ sĩ nối tiếp đi qua, tranh nhau lấy bào hốt trên hành lang, không buồn cởi áo trắng ra mà trực tiếp tròng luôn áo lục vào.

Cảnh tượng loạn cào cào, làm mất ráo cái vẻ thong dong của năm người đỗ đầu, nhóm cung tần chứng kiến lại cười vang một trận.

Đợi kẻ sĩ khoác áo buộc đai xong xuôi, hoạn giả dẫn họ lên điện tạ ơn.

Một chốc sau, lại thấy trạng nguyên dẫn chúng tiến sĩ đi ra, theo hoạn giả tới trước Thái Thanh Lâu, hành lễ với hoàng hậu.

Hoạn giả dẫn họ tới nơi rồi không có chỉ thị gì thêm, ta liếc thoáng qua mé tây nơi Trương quý phi ngồi, trong khoảnh khắc từng ngờ rằng trạng nguyên sẽ không phân biệt được vị trí của hoàng hậu, bởi nghi trượng rèm màu hai bên khác biệt quá ít, người chưa quen với nghi chế trong cung chưa chắc đã phân rõ được.

Song trạng nguyên Phùng Kinh chỉ bình thản đưa mắt liếc lên lầu một cái rồi lập tức chuyển sang mé đông, dẫn người hạ bái.

Miêu thục nghi đại khái cũng nghĩ như ta, thấy chàng phân biệt được vị trí của hoàng hậu thì cười nói: "Chàng trạng nguyên này có mắt đấy."

Bùi Tương mỉm cười: "Nếu đến đông tây đích thứ còn chẳng biết phân biệt thì uổng cho cái danh trạng nguyên quá rồi."

Hoàng hậu cười mỉm ra hiệu bảo người hầu truyền dụ miễn lễ, lại phân phó đi lấy bánh trà Long Phượng và tiền hào ban thưởng cho trạng nguyên và chúng tiến sĩ, đồng thời lấy trà Thất Bảo (*) ban thưởng cho quan khảo thí, tri cống cử (**), hàn lâm học sĩ Triệu Tư.

(*) Trà Long Phượng là trà cống thời Bắc Tống, do Bắc Uyển Kiến An chuyên sản xuất phục vụ cho hoàng gia; bởi trên bánh trà có dấu hình long phượng nên gọi là trà Long Phượng; trà Thất Bảo là loại trà điều chế từ lá trà và bảy loại gia vị tính ngọt, là thức uống quý dùng trong cung đình triều Tống.

(**) Là vị quan đặc mệnh quản lý việc thi cử và tiến cử, thường do đại thần có danh vọng trong triều đảm nhiệm.

Tiến sĩ lễ xong, từng người lui xuống, nhưng trạng nguyên Phùng Kinh thì vẫn đứng tại chỗ, đợi những người còn lại tản đi cả rồi mới đứng dậy, bái lạy hoàng hậu thêm lần nữa, bình thân rồi lùi ra sau mấy bước, bấy giờ mới xoay người đi.

Trong khoảng thời gian ấy, nhóm nội nhân phía sau rèm châu đều chen lên lan can xem, hai mắt hàm tình, má đỏ hây hây, thấy trạng nguyên rời đi đều tỏ vẻ thất vọng mất mát.

Công chúa nhỏ người, trước đó ít nhiều cũng có phần dè dặt nên không chen lên xem, lúc này thấy trạng nguyên sắp đi mới quýnh lên, nghiêng người về phía lan can, lấy cán ngọc chiếc quạt lụa trong tay vén bức rèm che lên ngó trạng nguyên.

Đại khái do luống cuống quá đỗi, tay nàng khẽ run, chiếc quạt lụa tuột mất, tà tà rơi xuống, lượn mấy vòng trên không trung, lại bị gió thổi ra trước, đáp đất bên chân Phùng Kinh.

Phùng Kinh dừng bước, quay đầu ngước lên lầu, truy tìm quỹ đạo bay xuống của chiếc quạt lụa.

Khóe miệng chàng ngậm cười, đứng im một thoáng, hiến cho người trên lầu một khung cảnh chi tiết tỉ mỉ hệt như tranh vẽ.

So với trạng nguyên Vương Củng Thần mười chín năm trước, vẻ đẹp của Phùng Kinh có độ ấm hơn hẳn.

Dáng vẻ người trước thanh cao lạnh lùng như bước ra từ ánh trăng, mà nụ cười người sau thì hòa nhã trong trẻo, chứa đựng sự tự tin bình thản mà chàng có, bộ áo trong vàng ngoài lục được mắt mày tinh xảo và phong thái tiêu sái của chàng trao cho cái chất hoa lệ có thể khiến người xem liên tưởng đến một vài hình ảnh vui tươi xán lạn, chẳng hạn như cơn mưa hoa hạnh dương liễu trên cánh đồng hay vó ngựa phấn chấn trong gió xuân lồng lộng.

Lúc chiếc quạt rơi xuống, công chúa hơi hãi hùng, rụt tay về sau, song chung quy lòng hiếu kỳ chưa thỏa, lại đưa tay đẩy hai chuỗi châu ra, ánh mắt khéo léo khẽ khàng đậu lên gương mặt đẹp đẽ của chàng trai dưới lầu.

Phùng Kinh hơi ngửa đầu, tầm mắt chuyển tới chỗ rèm châu rung rinh trên Thái Thanh Lâu, nụ cười dịu dàng nhuốm chút vẻ lười nhác, mắt híp hờ, chẳng biết là đang né tránh ánh mặt trời vàng óng hay đang hưởng thụ sự săn sóc của nó.

Bốn mắt chạm nhau, công chúa như bị phỏng, lập tức buông tay, thả bức rèm che giấu đi khuôn mặt vừa lộ nửa của mình.

Động tác vội vàng ấy lại làm dậy lên một trận khúc khích của cung tần, nàng cũng chẳng thanh minh hay phản bác điều gì như mọi ngày.

Phùng Kinh dưới lầu cười tủm tỉm nhặt quạt lụa lên, cúi đầu ngắm nghía.

Một tay cầm cán quạt, một tay vuốt ve mặt quạt, như muốn xóa đi cái bóng trên mặt quạt do chiếc mão tầng kép (*) sa đen và dải tua trên đầu chàng in lên.

(*) Một loại mũ, hay đúng hơn là kiểu đội mũ của kẻ sĩ thời Đường – Tống, bên trên khăn chít đầu (tức mũ cánh chuồn) lại đội thêm một chiếc mão nữa.

Trên lầu, công chúa im lặng dõi thẳng mắt ra phía trước, bức rèm thủy tinh đung đưa đón lấy sắc nắng xuân, lung linh phát sáng, rọi lên mặt nàng từng vệt màu trong suốt ngất ngây, mà đôi má nàng thì phơn phớt ửng hồng trong thứ ánh sáng lay động hờ hững ấy.

Hoàng hậu sai nội nhân xuống dưới, kéo vạt váy hành lễ với Phùng Kính, xin lấy quạt lụa về.

Phùng Kinh khom người, hai tay nâng quạt lên ngang mày, giao chiếc quạt cho nội nhân rồi quay sang thi lễ với hoàng hậu, từ từ lui đi.

Nội nhân lên tới lầu, đưa quạt cho công chúa, công chúa không nhận, lùi ra sau một bước, nói: "Người ngoài chạm vào rồi, ta không cần nữa."

Du sung nghi nghe vậy cười bảo: "Chao, từ bao giờ mà công chúa bắt đầu để ý nam nữ thụ thụ bất thân thế?"

Mọi người nương lời phá lên cười.

Công chúa vừa thẹn vừa cuống, thấp giọng: "Mặc kệ các người!" rồi kéo lấy tay ta, "Hoài Cát, chúng ta đi."

Dắt ta chạy ào xuống lầu trốn vào Hậu uyển.

Ta vừa đi vừa cẩn thận quan sát nàng, thấy hai mắt nàng long lanh, nét mặt hãy còn vương sắc đào.

Đây là lần đầu tiên nàng chân chính ý thức được vẻ đẹp của nam tử, nhỉ.

Ta phiền muộn nghĩ.

Chuyện đánh rơi quạt này mà là ở thời Đường thì có lẽ sẽ trở thành một giai thoại – Khi ấy, trạng nguyên có thể cưới công chúa.

Dời mắt lên bàn tay mà nàng đang nắm của ta, nghĩ đến cây quạt vì bị Phùng Kinh chạm vào mà bị nàng vứt bỏ, một ý niệm vốn mơ hồ lúc này lại hiện lên rõ mồn một trong đầu: Nàng không hề để ý có tiếp xúc tay chân với ta cố nhiên là không coi ta thành người ngoài, nhưng, quan trọng hơn cả, cũng không coi ta là một người con trai.

Ta ngửa mặt hít lấy một hơi thật sâu bầu không khí thấm đẫm hương hoa cỏ tháng Ba, cố sức trợn to hai mắt, không để công chúa nhìn thấy hốc mắt mình ẩm ướt.

Nàng có cử chỉ thân mật với ta mà lại khiến ta khó chịu như thế, đây là lần đầu tiên.

Sau khi nghi thức xướng danh kết thúc, hoàng đế theo lệ sẽ ban thưởng rượu thịt cho tiến sĩ, còn ban thưởng cho trạng nguyên tuấn mã roi tơ, tiếp đó chọn ra bảy cấm vệ từ Kim ngô ty (*), hai người dẫn trước, hộ tống trạng nguyên trở về Kỳ tập sở nơi tiến sĩ tân khoa tụ hội.

Chạng vạng cùng ngày, đế hậu dẫn cung quyến dự tiệc rượu ở Thăng Bình Lâu.

(*) Tức cấm vệ quân.

Đế hậu vừa lên lầu, còn chưa mở tiệc đã có nội thị tiến vào, bẩm báo kim thượng vụ việc trạng nguyên gặp phải: "Quan gia, mới nãy có cấm vệ bên ngoài Đông Hoa Môn báo cáo rằng trạng nguyên vừa ra khỏi cửa thì bị một đám nô bộc nhà phú hào cưỡi ngựa xúm lấy, chẳng nói chẳng rằng vây quanh trạng nguyên, cưỡng chế thay đổi tuyến đường, cũng không biết là đưa trạng nguyên đi đâu."

Kim thượng trợn mắt: "Ban ngày ban mặt mà dám công nhiên bắt cóc trạng nguyên ngoài cửa cung, đâu ra cái lý ấy!

Có biết là nô bộc nhà ai không?"

Nội thị ngập ngừng không đáp, Trương quý phi bên cạnh lại mất tự nhiên ho khẽ một tiếng, cúi người thưa với kim thượng: "Quan gia, đợt trước bác trai thần thiếp từng phái người nói với thần thiếp, bởi tán thưởng phong thái của Phùng trạng nguyên nên muốn mời chàng ta tới nhà chơi.

Đám nô bộc này chắc là của nhà bác ấy.

Tuy nô bộc có hơi lỗ mãng nhưng bác thiếp mời hoàn toàn là có ý tốt, tiệc xong nhất định sẽ tiễn chàng ta về tử tế, xin quan gia chớ lo lắng cho trạng nguyên."

"Bác trai" Trương quý phi nói đến chính là ông bác họ Trương Nghiêu Tá của ả, coi như là người có huyết thống gần nhất với ả trong gia tộc đằng cha.

Mấy năm nay Trương quý phi được sủng ái, đã nhiều lần xin thưởng cầu ơn, giúp cho đường làm quan của Trương Nghiêu Tá thuận lợi trôi chảy, giữa tháng Ba vừa mới nhặt được chức tam ty sứ, chưởng quản tài vụ tài chính, làm quan viên trong triều lấm lét lườm nguýt.

Trương Nghiêu Tá cậy nhờ được thế lực cung thất, rất lấy làm kiêu căng đắc ý, hiện giờ cưỡng chế mời trạng nguyên tới phủ tất nhiên không chỉ đơn giản là để nâng cốc đàm đạo.

Kim thượng hiển nhiên cũng hiểu rõ, hơi trầm ngâm rồi hỏi lại quý phi: "Em họ nhà nàng vẫn còn mấy cô là khuê nữ nhỉ?"

Trương quý phi cười lấy lòng: "Quan gia nói phải, còn bốn đứa chưa lấy chồng ạ."

Kim thượng hé cười nhàn nhạt, nhấp rượu trong ly, không nói gì thêm nữa.

Trương quý phi cẩn thận quan sát sắc mặt ngài, dò xét thỉnh cầu: "Quan gia, nếu trạng nguyên đã dự tiệc nhà bác thần thiếp rồi thì có thể ban thưởng chút rượu ngự cho chàng ta, biểu thị đặc ân không?"

Kim thượng liếc ả, cười như không cười: "Cũng chẳng phải là không thể."

Trương quý phi mừng húm, vội gọi nội thị chọn kỹ rượu ngự món ngon, đưa tới dinh thự Trương Nghiêu Tá.

Chúng tần ngự yên lặng coi xem, cũng không nói gì nhiều, tiệc xong mới tụ lại một chỗ trò chuyện riêng, rất khinh bỉ hành vi của Trương Nghiêu Tá, nói ông ta chắc chắn là muốn cậy thế bức hôn trạng nguyên, vừa mưu rể hiền cho con gái vừa muốn mượn hơi vị quý nhân trong triều tương lai này, biến chàng trở thành cánh chim của quý phi.

Công chúa nghe được bập bõm đôi câu, cũng rất lo lắng, len lén hỏi ta: "Phùng trạng nguyên liệu có bằng lòng không?"

Nhớ tới cảnh trạng nguyên yết kiến trung cung ban ngày, ta không do dự nhiều, cho nàng một đáp án xác định: "Không đâu ạ."

Hôm sau, tin tức truyền đến đã chứng minh cho dự đoán của ta.

Từ sáng sớm, phu nhân Trương Nghiêu Tá đã vào cung gặp Trương quý phi, theo lời người trông thấy bà ta, sắc mặt bà ta lúc đó sầm sì bí xị, lạnh lẽo băng sương.

Chuyện bà ta khóc lóc kể lể với quý phi rằng trạng nguyên khước từ hôn sự nhanh chóng truyền ra ngoài thông qua các cung nhân Ninh Hoa Điện, lược bỏ những lời lẽ thêm mắm dặm muối của Trương phu nhân thì việc xảy ra hẳn là thế này: Nô bộc nhà họ Trương vây kéo Phùng Kinh tới được dinh thự Trương Nghiêu Tá rồi, Trương Nghiêu Tá và Vương Chí tươi cười niềm nở ra đón, mời chàng vào bàn, lại nhờ Vương Chí làm mai cầu hôn, xin Phùng Kinh cưới con gái Trương Nghiêu Tá.

Trương Nghiêu Tá thậm chí còn mang đai vàng vua ban trước đây ra, sai người ép buộc đeo lên hông trạng nguyên, nói: "Thánh thượng cũng có ý chỉ hôn."

Qua một lúc, nội thị trong cung mang rượu quý món ngon tới như xác nhận câu "chỉ hôn", nhưng Phùng Kinh vẫn không gật đầu bằng lòng.

Trương Nghiêu Tá chờ đến sốt ruột, dứt khoát bày hết trác hộc đồ đạc xa hoa chuẩn bị cho con gái ra, chỉ cho Phùng Kinh xem.

Phùng Kinh chỉ cười chứ chẳng xem kỹ, cởi đai vàng xuống trả lại cho Trương Nghiêu Tá, nói: "Việc hôn nhân cần nghe lệnh cha mẹ.

Hiện bà cụ tôi không có ở đây, Kinh không dám tư định chung thân, mong Trương ty sứ rộng lượng thứ cho."

Trương Nghiêu Tá nói không sao, chỉ cần sai người về quê Phùng Kinh xin phép lão phu nhân là được, Phùng Kinh lại cười đáp: "Hôm trước bà cụ tôi bảo người truyền tin, nói đã bàn bạc thỏa đáng cho Kinh một mối hôn sự.

Kinh không dám trái lời phụ mẫu, xin Trương ty sứ chọn lấy vọng tộc khác, đừng để kẻ hàn vi quê mùa Kinh đây làm lỡ tuổi hoa của quý tiểu thư."

Trương Nghiêu Tá hỏi người Phùng mẫu kết thân là con gái nhà ai, Phùng Kinh nói mình cũng không rõ.

Trương Nghiêu Tá biết là chàng cố ý cự tuyệt, song cũng chẳng thể làm thế nào, cuối cùng đành thả chàng về.

Mấy ngày sau, kim thượng rất nhanh dùng một tờ chiếu lệnh bày tỏ thái độ thật sự của mình với chuyện này: Điều Thiên Chương Các đãi chế, lại bộ lang trung Vương chí làm tri Hồng Châu.

Chuyện khước từ hôn sự càng khiến tiếng thơm của trạng nguyên Phùng Kinh lan xa hơn, nghe nói đến bách tính ngoài cung nghe kể cũng tán tụng không ngớt, rất nhiều thế gia hào phú nhờ bà mối ngày ngày đến trước cửa chỗ Phùng Kinh trọ cầu kiến, mà chàng thì mỗi lần ra ngoài đều sẽ bị vài quả tú cầu đập trúng quan phục, làm kim thượng không thể không tăng thêm vệ binh bảo hộ chàng.

Sau đó không lâu, ta và công chúa đã được tận mắt chứng kiến cảnh toàn thành rầm rộ theo đuổi trạng nguyên bên Kim Minh Trì.

Hôm ấy, Ngụy quốc đại trưởng công chúa, bà trẻ của công chúa, vô ý trượt chân trong lúc tắm rửa, bị thương cánh tay phải.

Con trai bà sai người đến báo, kim thượng hay tin lập tức lệnh hoàng hậu dẫn công chúa và Miêu thục nghi đến phủ đại trưởng công chúa thăm hỏi, ta cùng đi với công chúa.

Ngụy quốc đại trưởng công chúa hiền lương thục đức, xưa nay đối đãi với hạ nhân luôn khoan hậu nhân từ.

Thấy nội thị kim thượng phái tới trách mắng người hầu phụng dưỡng mình không chu toàn, lập tức nói với hoàng hậu: "Ta đã sáu mươi hai rồi, già cả sức yếu, đi lại không tiện, vô ý trượt chân vốn cũng chẳng phải lỗi của tùy tùng.

Xin quan gia và hoàng hậu chớ trách phạt chúng nó."

Hoàng hậu bèn bảo nội thị thôi nhiếc móc người hầu, không truy cứu trách nhiệm của họ nữa.

Đại trưởng công chúa gọi công chúa qua, hỏi tình hình gần đây, lại ôn tồn dặn dò nàng tương lai phải đối xử tử tế với phò mã và người nhà, hiếu thuận với cha mẹ chồng, kính yêu phu quân.

Công chúa nhất nhất ưng thuận, nhưng sắc mặt cũng chẳng quá nghiêm túc, như không mấy để tâm.

Rời khỏi phủ đại trưởng công chúa về cung, công chúa ngồi chung xe kiệu với hoàng hậu, ta cưỡi ngựa kèm bên, xe liễn của Miêu thục nghi thì theo phía sau.

Vừa đi tới Kim Minh Trì thì thấy đường cái trước mặt đông nghịt đầu người, nhốn nháo nhộn nhịp, ngựa xe như nước, xe kiệu của hoàng hậu bị chặn đứng ở đó, không đi tiếp được nữa.

Hoàng hậu sai cận thị lên trước tìm hiểu.

Một chốc sau, cận thị trở về, bẩm: "Hôm nay Quỳnh Lâm Uyển mở tiệc tin mừng, tiệc tan trạng nguyên và chúng tiến sĩ đi ra, người kinh đô chờ bên ngoài vườn đổ xô chiêm ngưỡng phong thái, cũng có không ít hào phú phái xe kén rể đến, làm đoạn đường trước Kim Minh Trì tắc nghẽn hết cả."

Sau hôm xướng danh mỗi khóa tiến sĩ mấy ngày, hoàng đế đều sẽ thưởng "tiệc tin mừng" ở Quỳnh Lâm Uyển, chiêu đãi tiến sĩ tân khoa, đồng thời cử nội thị và một số quan viên đi tiếp đãi.

Mà ngày ấy, người kinh đô hay tin cũng lập tức hành động, canh trên đường quan sát.

Ai trong nhà còn con gái chờ gả thường sẽ chuẩn bị ngựa xe qua, thấy có tiến sĩ trẻ tuổi là tiến lên bắt chuyện mời chào ngay, thậm chí còn thẳng tay kéo luôn vào xe mang về nhà cầu hôn, loại xe này thành ra được gọi là xe kén rể.

Trước kia, cung quyến xuất hành luôn là tiêu điểm chú ý của du khách, nhất là xe kiệu của hoàng hậu, lúc đi trên đường, thần dân tuy rằng cung kính dạt sang hai bên tránh nhưng vẫn sẽ không nhịn được ngẩng đầu ngước mắt dò xem, mặc dù rất khó thấy được dung nhan quốc mẫu, nhưng nhìn rõ được nghi trượng xa giá cũng là chuyện họ rất mong đợi.

Nhưng tình hình hôm nay khác hẳn mọi khi, người trên đường không lập tức tách ra ngay, cũng không để ý đến nghi trượng của hoàng hậu, mà ai nấy đều kiễng chân phóng mắt ra trước xe kiệu như đang chờ ngóng điều gì.

Nội thị mở đường chẳng lấy gì làm dễ dàng, xa giá di chuyển khó khăn, lúc đi lúc dừng mất một hồi lâu.

Sau nữa, nghe thấy phía trước vang lên tiếng quát la, du khách dần bị gạt sang hai bên, rốt cuộc cũng nhường ra được con đường.

Vài tay cấm vệ khoái hành từ đối diện đi tới, trong tay cầm chiếu chỉ sắc vàng bổ nhiệm trạng nguyên của hoàng đế, đằng sau là cờ phướn vàng chói lộn xộn, nhiều đến mấy trăm lá, trên mỗi lá đều có câu từ, phấp phới theo chiều gió.

Lướt qua đám đông vây xem nhiều như mây trời, chỉ thấy trạng nguyên Phùng Kinh chậm rãi giục ngựa, vẫn mặc bộ áo trong vàng ngoài lục, đầu đội mão tầng kép vuông vắn bằng sa đen, hai bên buông thõng cặp dải tua tơ tím dài quá cằm, tôn lên dung nhan tựa ngọc của chàng.

Phùng Kinh trông thấy kiệu phượng của hoàng hậu, lập tức xuống ngựa, đi bộ lại gần, trịnh trọng bái lạy trước kiệu.

Hai nội nhân theo hầu nhẹ nhàng vén rèm thêu kiệu phượng, để hoàng hậu cách lớp rèm dày có thể nhìn rõ được cảnh tượng trước mặt.

Đưa mắt nhìn Phùng Kinh, lại dời sang những tiến sĩ còn lại đồng hành cùng chàng, hoàng hậu ôn hòa hỏi: "Trạng nguyên lang, hoa thượng uyển trên cài trâm của ngươi đâu rồi?"

Hoa cài trên trâm ghim khăn chít đầu được gọi là cài trâm.

Trong tiệc tin mừng của tiến sĩ tân khoa, hoàng đế sẽ sai trung sứ ban thưởng hoa thượng uyển cho tiến sĩ cài lên trâm trở về.

Hiện giờ tiệc tin mừng đã tan, trên trâm các lang quân áo xanh đều có hoa thượng uyển, chỉ mình Phùng Kinh là mũ mão trống không.

Phùng Kinh cúi đầu thưa: "Ban nãy trên tòa lầu bên đường có người ném chút đồ vặt xuống, đụng trúng mão thần, làm rơi hoa thượng uyển trên trâm..."

"Ồ?"

Hoàng hậu kinh ngạc, "Còn có người dám ném đồ vào trạng nguyên nữa kia à?"

Đúng lúc này, có gã nội thị quát la dọn đường cho trạng nguyên tiến lên quỳ xuống, cười tủm tỉm giải thích với hoàng hậu: "Bẩm nương nương, rơi trúng mão trạng nguyên lang là tú cầu của một vị cô nương trên tòa lầu phía sau ném xuống.

Hoa thượng uyển bị tú cầu đánh rơi còn chưa kịp chạm đất đã bị người vây xem tranh nhau cướp mất rồi ạ."

Ta ngước mắt, thấy trên lầu gác hai bên đường quả thực có rất nhiều nhà dinh sang quý giăng màn màu, chắc hẳn đám con gái đương thì đang náu mình trong đó ngắm nhìn trạng nguyên lang, cả ngày hôm nay chẳng biết Phùng Kinh đã bị bao nhiêu quả tú cầu đập trúng rồi nữa.

"Trạng nguyên lang thật lắm phong lưu."

Hoàng hậu không khỏi cười rộ, sau đó phân phó nội nhân bên cạnh hái một đóa mẫu đơn dưới hiên xe kiệu xuống, tặng cho trạng nguyên cài lên trâm.

Xe kiệu hoàng hậu sử dụng có mái hiên khá rộng, hoa văn toàn hình rồng, trong tháng Ba, tùy theo phong tục dịp lễ thanh minh, hàn thực hoặc hoa triêu của Biện Kinh mà lấy dương liễu đan xen hoa trang trí trên đỉnh, rủ xuống bốn góc thành màn.

Hoa đang dùng vào thời điểm hiện tại đều được hái mới trong ngự uyển hôm nay, tuy đã qua nửa ngày song hãy còn tươi thắm.

Mẫu đơn rủ xuống dưới hiên là loài cánh kép ngàn cánh, sắc tím cánh dày tầng tầng lớp lớp, còn được gọi là "bình đầu tử".

Nội nhân hái một đoá xuống cài lên sườn mão tầng kép cho Phùng Kinh, Phùng Kinh mỉm cười, bái lạy tạ ơn hoàng hậu.

Hoàng hậu hiền hòa bảo chàng bình thân, đợi chàng tránh sang một bên rồi mệnh lệnh khởi giá hồi cung.

Rèm thêu rủ xuống, xe kiệu lăn bánh, mà công chúa vẫn còn len lén vén màn che một bên cửa sổ, tròn mắt nhìn Phùng Kinh, khóe miệng he hé một độ cong sống động.

Chừng như nhận ra công chúa có duyên nửa mặt với mình, Phùng Kinh mỉm cười, hơi cúi người với nàng, phong độ vẫn tao nhã hoàn mỹ như trước.

Trở lại cung, hoàng hậu dẫn công chúa và Miêu thục nghi đến Phúc Ninh Điện phục mệnh kim thượng trước.

Nói xong chuyện của Ngụy quốc đại trưởng công chúa rồi, hoàng hậu lại đề cập tới Phùng Kinh, kể lại toàn bộ tình huống vạn người tranh giành chiêm ngưỡng trạng nguyên, tú cầu đụng rớt hoa thượng uyển.

Kim thượng nghe được phá ra cười, lắc đầu liên tục, nói: "Dạo phố một chuyến thôi đã gây ra bao nhiêu chuyện thế rồi, sau này không thể chọn anh tú tài nào khôi ngô như thế làm trạng nguyên nữa."

Lời thì nói vậy, nhưng khóe mắt bờ môi ngài vẫn nhuốm đẫm ý cười, như đang cố ý phàn nàn với người ngoài về những khuyết điểm không thể coi là khuyết điểm của đứa bé ưu tú nhà mình, giọng điệu mang vẻ cưng chiều của bậc làm cha mẹ.

Đại khái là liên tưởng đến phò mã Lý Vĩ, Miêu thục nghi ra chiều cảm khái, nhìn kim thượng, cất lời nửa thật nửa giả: "Quan gia cũng biết là Phùng trạng nguyên không tệ kia à?

Chàng ta mà gặp được hoàng đế triều Đường thì quá nửa đã được phong làm phò mã rồi."

Kim thượng cười cười, cũng trả lời nửa giả nửa thật: "Ta cũng muốn phong hắn làm phò mã lắm, nhưng lấy đâu ra đứa con gái thứ hai?

Kể cả có, bản lĩnh giành lang quân áo xanh về làm con rể của ta cũng chẳng đọ được với thần dân trong kinh, nhất là mấy lão già trong triều ấy, thực sự tranh không nổi với bọn họ mà!"

Công chúa im lặng ngồi nghe, không xen lời nào, có lẽ đó là sự thẹn thùng thiếu nữ được Phùng Kinh đánh thức.

Trở lại Nghi Phượng Các, nàng yên tĩnh ngồi trên xích đu cúi đầu nghĩ ngợi thật lâu, bỗng thở dài thườn thượt, hỏi ta: "Tên Lý Vĩ kia có đúng là vừa đần vừa xấu thật không?"

2.

Thanh ca (*)

(*) Từ này vừa có nghĩa là hát không có nhạc cụ đệm kèm, hay người mình gọi là hát chay, vừa có nghĩa là tiếng ca trong trẻo thanh thoát.

Ta không trực tiếp trả lời câu hỏi của công chúa, chỉ nói: "Nghe nói gần đây phò mã khổ học thi thư, khá có thành tựu."

Những năm nay, Miêu thục nghi luôn rất cảnh giác đề phòng công chúa gặp mặt Lý Vĩ, mỗi lần Lý Vĩ vào cung, nhất định sẽ không cho công chúa đến nơi hắn xuất hiện.

Hoàng Hựu năm thứ hai, quốc cữu Lý Dụng Hòa bệnh không qua khỏi, kim thượng có ý bảo công chúa theo Lý Vĩ tới nhà họ Lý cúng tế, Miêu thục nghi kiên quyết phản đối, nói công chúa chưa xuất giá đã sang nhà chồng sẽ chỉ khiến người đời chê trách, sau cùng rốt cuộc cũng xin được kim thượng thu hồi mệnh lệnh đã ban, chỉ bắt công chúa mặc áo tang trong cung.

Miêu thục nghi khổ tâm trăm bề, chỉ mong công chúa không phải thất vọng vì phò mã không xứng đôi quá sớm.

Sau nữa, bà thậm chí còn hạ lệnh cấm cung nhân trong gác không được đề cập đến phò mã Lý Vĩ trước mặt công chúa.

"Sao nương tử phải khổ vậy chứ?"

Hàn thị từng khuyên bà, "Hiện giờ không cho công chúa biết phò mã ra sao thì tương lai lúc gả xuống đột ngột gặp mặt, chẳng phải sẽ càng khó chịu hơn sao?"

Miêu thục nghi buồn bã: "Kéo dài được ngày nào hay ngày ấy thôi.

Trước khi gả xuống không biết còn sống được mấy năm vô tư thoải mái, nếu giờ đã biết ngay, về sau công chúa nghĩ đến Lý Vĩ như vậy ắt sẽ phiền muộn, tuổi còn nhỏ mà mặt mày đã sầu thảm thì chẳng biết sẽ còn khó chịu đến nhường nào."

Ta không dám luận xằng câu này Miêu thục nghi nói có chính xác hay không, có điều, mỗi bận bị công chúa hỏi, ta cũng quen thói trả lời theo hướng tích cực, không nhắc nhỏm gì đến khuyết điểm của phò mã.

Sau khi Phùng Kinh đỗ trạng nguyên, theo lệ được điều ra ngoài một năm làm giám thừa thông phán quân phủ (*) Kinh Nam.

Nhiệm kỳ một năm thực ra là rất ngắn, đây là đặc ân dành cho người đỗ đầu tiến sĩ, các tiến sĩ còn lại đều phải làm nhiệm kỳ ba năm.

Nhưng một năm này đối với công chúa hiển nhiên là dài đằng đẵng, trong quãng thời gian ấy, nàng chẳng còn cơ hội hé rèm ngó trộm chàng lang quân đẹp mắt ấy từ xa nữa.

Đương nhiên, nàng không thường xuyên biểu lộ tình cảm dành cho Phùng Kinh, nhưng có đôi lúc, nàng sẽ nhìn bức rèm che đăm đăm một hồi lâu, thi thoảng lại thở dài sầu muộn.

(*) Giám thừa là chức quan giám sát ở một cơ quan nào đó, ở đây hẳn là quân khí giám thừa – quản lý vật dụng binh khí dùng trong quân đội; quân phủ là kho lương phục vụ cho quân đội.

Tết nguyên tiêu Hoàng Hựu năm thứ hai, trong cung có vài câu đố đèn lấy tên của đại thần để đố, trong đó có câu "Đi khắp thiên nhai gặp đế kỳ".

Công chúa trông thấy, hai mắt sáng rực, lập tức trỏ vào reo: "Là Phùng Kinh!" (*)

(*) Họ Phùng (冯) của Phùng Kinh đồng âm với Phùng trong "tương phùng (相逢)" có nghĩa là gặp gỡ; Chữ Kinh trong tên Phùng Kinh ghép với chữ Kỳ thành "kinh kỳ" tức nơi vua đóng đô.

Lời buột khỏi miệng, nàng biết ngay không ổn, im bặt liếc ta một cái, đỏ bừng mặt thẹn thùng.

Ta gỡ tờ câu đố trên đèn lồng xuống, đưa cho tiểu hoàng môn bên cạnh, sai cậu ta đi lấy quà trúng thưởng cho công chúa, lại nói với nàng như không có chuyện gì xảy ra: "Chúc mừng công chúa, đoán đúng rồi."

Nàng gặp lại Phùng Kinh vào mồng một Tết năm Hoàng Hựu thứ ba, lúc triều đình tổ chức đại triều hội.

Ngày ấy hoàng đế ngự tại Đại Khánh Điện, tiếp kiến quan lại các châu vào kinh bẩm tấu và sứ thần các nước.

Nơi tiến hành triều hội rất rộng lớn, có bốn gã võ sĩ đứng ở bốn góc điện, gọi là "trấn điện tướng quân", điện đình bày xa giá nghi trượng, văn võ bá quan đều triều phục mũ mão chỉnh tề đứng ở trong ngoài điện theo phẩm cấp, quan lại chư châu cầm vật hiến địa phương vào tấu, mà sứ thần các nước Khiết Đan, Hạ quốc, Cao Ly, Nam Phồn, Hồi Hột, Vu Điền, Chân Tịch, Đại Lý, Đại Thạch cũng đều mang cống phẩm theo nhóm vào điện chầu mừng.

Công chúa lấy lý do muốn nhìn đám sứ thần "râu dài mũi cao, tướng mạo quái dị" ngoại quốc, cầu được kim thượng cho phép nàng núp sau bình phong ngự tọa xem trộm nghi thức triều đình, mà ta thì biết mục đích thực sự của nàng là để xem Phùng Kinh nhậm chức bên ngoài trở về.

Sau khi Phùng Kinh trở về đã thông qua kỳ triệu thí vào được quán các, chức quan hiện tại là trực Tập hiền viện, phẩm cấp còn chưa đủ để đứng chầu trong điện, thế nên công chúa chỉ có thể nhìn chàng một thoáng ngắn ngủi khi chàng theo các quan viên quán các vào điện chầu mừng.

Áo bào la đỏ, diềm lụa đen, phương nội tâm lĩnh trắng, triều phục của Phùng Kinh không khác gì kẻ sĩ quán các chung quanh, nhưng trong nhóm vào chầu này lại vẫn chói lọi như kỳ lân phượng hoàng.

Công chúa không hề thất vọng, lúc trở lại trong cung còn lấp ló hé cười.

Nhưng nụ cười của nàng nhanh chóng tắt ngấm trong bữa tiệc cung đình tối đó.

Chầu mừng xong, hoàng đế ban thưởng cỗ rượu ở đại điện, còn hoàng hậu thì thết đãi mệnh phụ vào cung chúc tụng cùng ngày tại tiện điện Hậu uyển.

Trước khi mở tiệc, nội ngoại mệnh phụ sẽ theo thứ tự lần lượt ra khỏi hàng bái lạy hoàng hậu, trong đó có một vị phu nhân tuổi còn rất trẻ, dung mạo cử chỉ nhã nhặn, xem dáng dấp phỏng chừng chưa quá hai mươi, lại chưa từng vào cung trước đây, hoàng hậu thấy nàng lần đầu đã để ý, trong yến hội còn liên tục ngoái nhìn, nội thị đô tri đứng hầu Trương Duy Cát phát hiện ra, bèn khom người thuyết minh: "Đó là phu nhân Phú thị mới cưới của trực Tập hiền viện."

Ta lập tức nhìn sang công chúa, thấy thần sắc hoan hỉ ban nãy của nàng đã bị câu này xóa sạch trong chớp mắt, vẻ mặt dần xám xịt.

Hoàng hậu nghe Trương Duy Cát nói rồi, càng để tâm hơn, bảo y mời Phú phu nhân tới trước ngự tọa, hỏi: "Phu nhân có phải con gái Phú thị lang?"

Phú phu nhân cúi đầu thừa nhận mình là con gái Phú Bật, hoàng hậu cười hiền: "Hèn chi ta cứ thấy phu nhân quen mắt, hóa ra là giống Án phu nhân."

Phu nhân Phú Bật là con gái của tể tướng tiền triều Án Thù, trước đây từng vào cung mấy lần, thế nên hoàng hậu nói vậy ý là vợ con Phú Bật bề ngoài giống nhau.

Tần ngự hai bên nghe xong đều quay sang ngó Phú phu nhân, cười hỏi nàng năm nay bao tuổi, thành hôn với Phùng Kinh khi nào, Phú phu nhân đỏ mặt nhất nhất trả lời, chư phu nhân lại sôi nổi chúc mừng nàng, chỉ duy Trương quý phi ngồi một bên hờ hững chen miệng: "Bảo sao gần đây không nghe nói Phùng học sĩ đi đâu xem mắt hộ ai nữa, chắc là bị Phú phu nhân quản chặt rồi."

Trương quý phi ám chỉ một chuyện thú vị lưu truyền trong triều vào năm ngoái, trực Tập hiền viện Tổ Vô Trạch tướng mạo xấu xí, hơn bốn mươi rồi vẫn chưa lấy được vợ, sau lại nhìn trúng một cô gái xinh đẹp họ Từ, liền nhờ bà mai hỏi cưới, nhưng Từ cô nương khăng khăng đòi phải thấy mặt Tổ Vô Trạch trước rồi mới cho câu trả lời.

Tổ Vô Trạch tự biết Từ cô nương mà thấy mặt mình ắt sẽ không đồng ý hôn sự, bèn năn nỉ đồng liêu Phùng Kinh vừa vào quán các đi xem mắt hộ.

Phùng Kinh chấp nhận lời nhờ vả của y, thong dong tiêu sái giương roi thúc ngựa lướt qua cửa nhà Từ cô nương, Từ cô nương vừa thoáng trông đã động lòng cảm mến.

Bà mối của Tổ Vô Trạch chỉ vào bóng dáng Phùng Kinh nói với cô: "Đấy chính là Tổ học sĩ."

Từ cô nương mừng rỡ khôn xiết, lập tức đồng ý hôn sự.

Nào ngờ cưới xong phát hiện ra tân lang hàng không đúng mẫu, Từ cô nương nổi giận, lập tức viết "thư bỏ chồng" vứt cho Tổ Vô Trạch, sau đó thu dọn tư trang về nhà mẹ đẻ.

Trương quý phi nhắc đến việc này tất nhiên là không có ý tốt, nhưng chư phu nhân nghe vào đa số đều không nhịn được phì cười, làm Phú phu nhân lúng túng cúi gằm mặt, không biết phải làm sao cho phải.

Du sung nghi thấy thế, khoan thai liếc Trương quý phi rồi cười nói với Phú phu nhân: "Đi xem mắt hộ cũng không sao, đừng để bị người ta kéo đi ép duyên là được."

Sắc mặt Trương quý phi sa sầm, ánh mắt sắc nhọn đâm thẳng vào Du sung nghi, mà Du sung nghi thì giả vờ không cảm giác được, bình tĩnh chỉnh trang hoa cài bên tóc mai.

Lúc này, hoàng hậu cất lời bảo chư phu nhân: "Phú phu nhân còn trẻ, lại là lần đầu tiên vào cung, không quen nghe các ngươi trêu ghẹo, sau này cũng đừng nói nữa."

Chư phu nhân cúi người thưa dạ.

Hoàng hậu lại mỉm cười nhìn Phú phu nhân: "Có điều, phu nhân về rồi cũng phải khuyên Phùng học sĩ, về sau đừng đi xem mắt thay nữa.

Tuy xuất phát điểm của chàng ta nguyên có ý tốt, muốn giúp đồng liêu kết thành lương duyên, nhưng đối với tiểu nương tử nhà người ta mà nói thì đây là hành động cố ý lừa gạt làm lỡ chuyện chung thân, chẳng khác nào ỷ đẹp hành hung."

Ỷ đẹp hành hung?

Cách nói này cũng thật độc đáo.

Ta lại liếc công chúa, thấy nàng ngơ ngác ngẩn người, đại khái cũng đang suy nghĩ lời hoàng hậu nói.

Phú phu nhân cúi người ưng thuận, hoàng hậu bảo nàng nhập tọa, tiếp tục xem tiệc rượu.

Công chúa thình lình đứng bật dậy, đi ra ngoài.

Ta theo gót như thường lệ, ra đến ngoài điện, nàng quay đầu trừng ta, giọng giận dữ: "Ta muốn đi thay y phục, không được phép theo ta!"

Trong mắt nàng đã rưng rưng lệ, chỉ chực tràn mi.

Ta im lặng dừng bước.

Nàng nâng tay áo lau lệ, nhanh chóng chạy khỏi tầm mắt ta.

Ta trở lại trong điện.

Bên trong vẫn là ca múa thái bình, xiêm y hoa lệ, lúc này hầu chuyện hoàng hậu đang là mấy vị phu nhân ngoại thích.

Hoàng hậu hỏi thăm phu nhân Lý Dụng Hòa Dương thị tình hình gần đây của Lý Vĩ rồi hỏi sang em dâu mình, phu nhân Tào Dật Trương thị: "Đã lâu không thấy anh em hai đứa, chúng nó vẫn khỏe chứ?"

Trương phu nhân cười đáp: "Vẫn bình thường ạ, học qua loa vài trang sách, bắn lung tung mấy mũi tên, chẳng có tiền đồ gì.

Nhờ phúc của nương nương và hoàng ân bao la của quan gia, mấy ngày trước cho thằng lớn nhậm chức cung phụng quan, hôm nay phu quân cũng đưa cả thằng lớn vào cung bái lạy tạ ơn đấy ạ."

Hoàng hậu lộ vẻ vui mừng: "Thằng lớn cũng tới à, sao không bảo nó đến đây gặp ta?"

Trương phu nhân nói: "Thần thiếp cũng muốn dẫn nó sang đây bái tạ nương nương, chỉ là nó giờ đã mười bốn, không phải lớn nhưng cũng chẳng còn nhỏ nữa, không tiện vào diện kiến chư vị phu nhân.

Ban nãy thần thiếp có bảo nó bao giờ nghi thức chầu mừng kết thúc thì tới chờ dưới hàng hiên tiện điện Hậu uyển, đợi tiệc tan, nương nương tuyên triệu rồi vào."

Hoàng hậu cười: "Em sắp xếp như vậy cố nhiên thỏa đáng, chỉ là để thằng lớn đợi bên ngoài thế, chẳng phải bắt nó chịu đói à?" nói đoạn quay sang bảo Trương Duy Cát sai người mang chút đồ ăn ra cho Tào Bình.

Hoàng hậu tiếp tục ôn hòa thăm hỏi phu nhân trọng thần và ngoại thích, nhưng ta đã chẳng còn lòng dạ nào mà nghe tiếp, chỉ nhìn chằm chằm giá đèn ngàn nhánh, thầm đếm số lần ngọn lửa nhấp nháy trong bụng, dùng cách này tính toán thời gian công chúa rời đi.

Mà nàng mãi vẫn không về.

Cuối cùng, ta từ bỏ chờ đợi, gọi hai tiểu cung nữ, đứng dậy ra cửa đi tìm nàng.

Cung nữ tìm khắp các phòng buồng lân cận mà không thấy công chúa ở trong.

Ta không khỏi lo lắng, lập tức trở về Nghi Phượng Các tìm, cũng chẳng gặp đến bóng dáng nàng.

Tức thì cuống lên, rảo bước bôn tẩu giữa các điện gác đại nội, một lòng chỉ mong tìm được nàng về.

Qua một lúc lâu, đèn hoa đã treo cao trong cung, ánh sáng núi đèn rực rỡ huy hoàng, mà vẫn không thấy tung tích công chúa đâu.

Cuối cùng ta đi ra Hậu uyển, ủ rũ ngồi bên Tân Dao Trì, đờ đẫn nhìn chòng chọc bóng ngược của núi đèn chiếu trên mặt nước.

Chính lúc đó, chợt thấy nước hồ gợn sóng, một con thuyền nhỏ chèo từ giữa sen nổi liễu rủ ra, dấy lên những làn sóng nhè nhẹ xô vỡ hình bóng đèn hoa kim bích trong nước, thong thả đẩy chiếc thuyền bơi vào giữa hồ.

Trên thuyền có hai người.

Ngồi ở đầu thuyền là một thiếu nữ, chiếm cứ đuôi thuyền là một thiếu niên.

Cậu thiếu niên nhàn nhã khua chèo, vừa chầm chậm tát nước, vừa cất giọng hát ca: "Ngày lại qua ngày, trống êm ả.

Thời gian giục giã, người lại già.

Vui chẳng bao xa cảnh đẹp quá.

Cất tiếng ca.

Một khúc thần tiên Ngư gia ngạo."

Xướng tới đây, cậu thiếu niên hơi cúi người, nhấc một chiếc đèn hoa sen cung nhân thả trên mặt nước lên, mỉm cười đưa cho thiếu nữ trước mặt, rồi lại tiếp nối câu hát bên trên: "Nước xanh thăm thẳm trời biêng biếc.

Nhân sinh được mấy ngày xuân tiết.

Túy lúy cười to đừng để tiếc.

Cần phải biết.

Vạn sự thế gian mãi liên miên." (*)

(*) Bài từ "Họa cổ thanh trung hôn hựu hiểu" theo điệu Ngư gia ngạo của Án Thù.

Dưới ánh trăng, sương lắng sóng xanh trải mênh mang, thiếu niên một mình ôm mái chèo, tiếng thanh ca khi mờ khi tỏ, tuổi độ chừng mười bốn mười lăm, song đã rõ mày kiếm mắt sáng, dáng dấp phong lưu tràn sinh lực.

Mà thiếu nữ thì nhìn cậu chăm chăm, ngoại trừ lúc nhận chiếc đèn hoa, nàng một mực yên tĩnh ngồi đó, không mở miệng câu nào.

Lúc bóng đèn theo gợn sóng lay ánh lên mặt nàng, có thể trông thấy dưới mắt nàng đọng vệt lệ loang loáng.

Ta lặng lẽ đứng dậy, đi tới dưới hàng liễu ven bờ, đợi thiếu niên chèo thuyền lại gần bờ rồi thì cúi người với thiếu nữ, giọng nhẹ nhàng: "Công chúa, phải về thôi."

Công chúa đứng dậy.

Thiếu niên nhanh nhẹn nhảy lên bờ, buộc chặt thuyền, lại chìa tay cho công chúa tỏ ý muốn đỡ nàng lên.

Gần như đồng thời, ta cũng chìa tay về phía nàng.

Nàng thoáng do dự, cuối cùng vẫn chọn để ta dìu.

Công chúa lên bờ rồi, ta xá thiếu niên kia một lạy, nói: "Đa tạ Tào công tử."

3.

Hội bắn

Ta không hỏi chi tiết nàng gặp gỡ Tào Bình ra sao, nàng cũng không kể cho ta, trên đường trở về Nghi Phượng Các, hai người chúng ta kẻ trước người sau trầm mặc bước đi, cách nhau gần như vậy mà lại xa đến thế, vào tới cửa gác rồi cũng không có lấy nửa câu đối thoại.

Ta hoàn toàn có thể tưởng tượng được khúc thanh ca của Tào Bình đã để lại ấn tượng thế nào cho nàng, thế nên khi nghe nàng nằn nì kim thượng cho nàng đi xem sứ giả Khiết Đan bắn cung ở nam ngự uyển, ta không cảm thấy kỳ quái một chút nào.

Vào nguyên đán hằng năm, sứ giả Khiết Đan sẽ tiến cung, triều kiến xong xuôi, hôm sau sẽ đến Đại Tướng Quốc Tự, ngày thứ ba thì tới nam ngự uyển Ngọc Tân Viên bắn cung, triều đình sẽ chọn vài võ thần thiện tài cung tiễn tiếp bắn rồi thưởng cỗ rượu tại chỗ.

Bởi hậu tộc Tào thị vốn là tướng môn nên con cháu trong tộc đều giỏi cưỡi ngựa bắn cung, quan lại tiếp bắn thường chọn từ Tào thị, mấy năm gần đây, nhiệm vụ này đã liên tiếp được giao cho Tào Dật hoặc em trai Tào Giai.

Tào Bình đã lớn, lại cũng tinh thông kỵ xạ, sớm muộn rồi cũng đảm nhiệm chức vụ tiếp bắn này.

Chuyến này công chúa xin đi nam ngự uyển hẳn là do Tào Bình từng nói với nàng, mồng ba cậu sẽ theo cha.

Kim thượng chịu không nổi nàng mè nheo nài nỉ, miễn cưỡng đồng ý, nhưng lệnh nàng chỉ được phép xem trên lầu gác cạnh sân bắn cung, không được xuất hiện trong ngoài sân bắn, tránh cho người ngoài nhìn thấy.

Ngọc Tân Viên nằm bên ngoài Nam Huân Môn, xây vào thời Hậu Chu, sau được hoàng đế quốc triều tu sửa, đến nay quy mô hoành tráng, ngoài sân bắn cung dài năm trăm trượng, rộng ba trăm trượng ra, trong vườn còn cất trăm đình ngàn tạ, ở giữa có hồ nước, rừng cây rậm rì, hoa thơm khắp lối, lại có một "Dưỡng tượng sở", bên trong nuôi đến mấy chục con voi cùng các loài chim thú quý hiểm khác, bởi vậy nên bình thường công chúa cũng rất hay tới đây thăm thú.

Đến ngày hội bắn, mới sáng tinh mơ công chúa đã lập tức đi Ngọc Tân Viên, lên lầu gác cạnh sân bắn ngồi chờ sau mành che từ sớm.

Lát sau, sứ giả Khiết Đan và quan thần tiếp bắn Đại Tống lần lượt vào sân, người dẫn đầu tiếp bắn là Tào Dật, theo sau ông là một thiếu niên đầu chít khăn xanh, bận áo bó nền trắng viền xanh, lưng thắt đai, đi ủng đen, công chúa vừa trông thấy đã lập tức dựa sát lại gần mành châu – đó chính là Tào Bình.

Sứ giả Khiết Đan đầu đội kim quan, đuôi mão dài nhọn, nom như lá sen, mặc áo bào tím bó sát người, đeo đai đính điệp tiệp (*) vàng.

Tào Dật thì vấn khăn chít đầu, mặc áo bó, đi giày gấm, thắt đai lưng chỉ bạc.

Dung nhan trắng trẻo thanh tú, ánh mắt ôn hòa điềm đạm, làm bộ trang phục bắn cung ông mặc cũng toát lên vẻ tao nhã chẳng khác gì y quan văn sĩ.

(*) Điệp tiệp là những cái móc bằng ngọc, vàng, kim loại gắn trên đai lưng để treo những món đồ nhỏ.

Một lúc sau, hai nhóm nội thị đi trước dẫn đường, Thập Tam Đoàn Luyện Triệu Tông Thực theo sau vào sân, làm chủ trì thay mặt kim thượng, lên đài chủ tọa trong sân quan chiến.

Sứ giả và Tào Dật mỗi bên dẫn người hành lễ với đài cao rồi bái lạy lẫn nhau, Thập Tam Đoàn Luyện lệnh nội thần tuyên đọc ý chỉ của hoàng đế, ban cung tên rượu ngự, sứ giả Khiết Đan trụ chân trái, quỳ chân phải, hai tay đỡ vai phải bái tạ.

Thần tử hai nước đối ẩm rượu ngự, nhạc lễ vang lên, hơn mười người đội kiểm tên Đại Tống bận áo tím, chít khăn đầu, sắp hàng đứng trước ụ bắn, thực hiện nghi thức rồi chia ra canh giữ hai bên, yên lặng đợi sứ giả bắn tên.

Có mười ụ bắn, mặt bia màu đỏ, vẽ hình sườn mặt đầu hổ bằng mực đen, lấy mắt hổ làm hồng tâm.

Sứ giả Khiết Đan theo lệ bắn bằng nỏ.

Một gã Khiết Đan đội khăn chít đầu không cánh, mặc áo gấm bước lên mở đầu, đạp mở khung nỏ, múa vòng lắp tên, tự mình ngắm bia bắn trước, thấy ngay ngắn rồi mới nhường lại cho sứ giả.

Sứ giả chỉ liếc thoáng qua, lập tức bắn tên, đâm trúng tâm bia.

Người xem vỗ tay khen hay, sau đó cùng nhìn sang Tào Dật, chờ ông ứng đối.

Bản triều bắn tên dùng cung.

Tào Dật ung dung tiến lên, giương cung cài tên, cơ hồi không chút ngơi nghỉ, mũi tên lao vút đi như tia chớp, đâm thẳng vào mắt hổ.

Đội kiểm tên đồng thanh reo hò, người Tống vây xem mừng rỡ khôn xiết, tán tụng không ngớt, trống trận rộn tiếng dồn dập, vang dậy hoan hỉ.

Sứ giả Khiết Đan cũng vỗ tay khen ngợi, Tào Dật cúi người cảm tạ, không chút kiêu ngạo.

Sau đó, sứ giả tủm tỉm nói với ông điều gì, còn trỏ tay vào tùy tùng sau người, như có vài đề xuất.

Khoảng cách quá xa, công chúa không nghe được họ đối thoại đâm ra sốt ruột, bảo ta: "Hoài Cát, huynh xuống dưới nghe xem họ nói gì, lát nữa lên kể lại cho ta biết với."

Ta nhận lời, dặn Trương Thừa Chiếu và chúng thị nữ hầu hạ công chúa cẩn thận rồi xuống lầu đi về phía sân bắn.

Lúc tới được bên sân thì đã có một thanh niên người Khiết Đan bước ra từ đám tùy tùng đi theo sứ hầu, thân hình cao lớn, phong thái hiên ngang, tay xách cánh cung khắc hoa văn, tư thế như chuẩn bị bắn bia.

Sứ thần chăm chăm nhìn Tào Dật, như đang đợi câu trả lời của ông, mà Tào Dật thì trầm ngâm, chưa bày tỏ thái độ gì.

Ta hỏi một nội thần đứng xem tình hình hiện giờ, hắn đáp: "Sứ giả Khiết Đan nói hội bắn mỗi năm chỉ diễn ra một lần, đều do đại sứ, phó sứ và quan lại tiếp bắn Đại Tống phát tên, mấy năm nay chỉ có mỗi vài gương mặt thân quen này, chẳng bằng năm nay sửa đổi một chút, nghe nói thiếu niên Đại Tống lắm người thiện xạ, hay là đổi hết sang cho lứa hậu sinh trẻ tuổi đọ sức so tài.

Ông ta tự chọn một người trong hậu tộc Khiết Đan, tên là Tiêu Khởi, coi bộ là một tay thần tiễn.

Thay người thì cũng chẳng sao, nhưng ông ta lại chỉ đích danh muốn Thập Tam Đoàn Luyện ứng chiến..."

Thập Tam Đoàn Luyện thường ngày vui thú đọc sách, thỉnh thoảng có chơi trò chơi cũng chỉ loanh quanh trong đánh cờ gõ viên, không am hiểu cưỡi ngựa bắn cung.

E rằng sứ giả Khiết Đan đã nghe nói từ trước, nói vậy, quá nửa là cố ý gây khó dễ, mưu đồ khiêu khích.

Thấy Tào Dật không tiếp nhận kiến nghị, sứ giả lại thi lễ với Thập Tam Đoàn Luyện trên đài cao, một lần nữa mời cậu xuống sân ứng chiến.

Thập Tam Đoàn Luyện cau mày, xem chừng chẳng mấy tình nguyện, vẫn chưa đáp lời.

Tiêu Khởi trong sân chờ đến mất kiên nhẫn, dùng tiếng Khiết Đan cao giọng nói câu gì với người nước mình, người Khiết Đan xung quanh nghe rồi cười ồ lên.

Người Tống nhìn nhau, đều muốn biết gã nói gì, sau cùng, một tay thông dịch viên Đại Tống nhỏ giọng nói cho mọi người hay: "Hắn nói Thập Tam Đoàn Luyện chẳng những không biết bắn cung mà đến gắng gượng ứng chiến cũng không có gan."

Lời còn chưa dứt, chợt nghe trong đội ngũ tiếp bắn Đại Tống có người cất giọng dõng dạc nói vài câu, cũng dùng tiếng Khiết Đan.

Ta cũng như mọi người đều kinh ngạc đưa mắt nhìn kỹ lại, phát hiện ra người lên tiếng là Tào Bình đang từ từ đi vào trong sân.

Thông dịch viên mừng rơn, vội dịch lại cho mọi người: "Tào công tử nói, bữa nay Thập Tam Đoàn Luyện là người chủ trì hội bắn, mặc trường bào ống tay rộng, không tiện bắn cung, mà tài nghệ kỵ xạ của cậu ấy phần nhiều là do Thập Tam Đoàn Luyện chỉ điểm, cũng coi như học trò của Thập Tam Đoàn Luyện, nên xin được ứng chiến thay thầy."

Sứ giả Khiết Đan còn đang do dự, Tào Bình lại nói thêm vài câu, người phiên dịch tiếp tục chuyển ngữ: "Cậu ấy nói Tiêu Khởi là người trong hậu tộc Khiết Đan, mình thì là cháu trai hoàng hậu Đại Tống, đứng ra tiếp bắn hẳn không bôi nhọ sứ giả Khiết Đan.

Trận này mà thua thì mời Thập Tam Đoàn Luyện thay y phục ứng chiến sau cũng không muộn."

Đã nói đến thế rồi, sứ giả Khiết Đan cũng không tiện cự tuyệt, bèn gật đầu đồng ý.

Tào Bình tiến lên chào Tiêu Khởi, mời gã bắn trước, Tiêu Khởi lại bảo: "Cậu đã biết kỵ xạ, vậy chúng ta từng người cưỡi ngựa bắn liễu đi."

Tào Bình không dị nghị gì, quay đầu lại phân phó người theo hầu chuẩn bị sân bãi, đồng thời dắt hỏa xích mã của mình tới.

Đội kiểm tên nhanh chóng treo hai hàng cành liễu trong sân theo quy tắc, bên trên buộc khăn lụa làm dấu, bên dưới tước một đoạn vỏ cây để lộ sắc trắng, coi là hồng tâm.

Phân thắng thua trong bắn liễu, kết quả chia ra làm ba cấp: phóng ngựa bắn cành liễu bằng tên mũi ngang không lông vũ, bắn đứt cành liễu, lại dùng tay bắt được, thúc ngựa rời đi là đứng nhất; đứt mà không bắt được là hạng hai; bắn trúng cành liễu mà không đứt và bắn không trúng đều xếp chót.

Tào Bình vẫn như cũ mời Tiêu Khởi lên trước.

Tiêu Khởi cũng chẳng khách khí, lên ngựa rồi lắp cung ngắm bắn, gần như đồng thời khi tên rời khỏi cung, chân gã thúc vào bụng ngựa, lao vọt đi như chớp giật, vươn tay chụp lấy trước lúc cành liễu rơi xuống đất, bắt được rồi giơ lên cho mọi người xem.

Chuỗi động tác này được hoàn thành vô cùng nhuần nhuyễn lưu loát, xem ra, Tào Bình dẫu có bắt được cành liễu cũng chỉ là hòa nhau, thế nên người Khiết Đan ai nấy đều hí hửng, vẻ mặt người Tống thì hơi nặng nề.

Tào Bình dắt ngựa tiến lên trước, điềm tĩnh giương cung, ngắm đích, bắn tên, thúc ngựa, cuối cùng cũng vững vàng tiếp được cành liễu trong tay, thoạt trông động tác có phần tương tự Tiêu Khởi.

Tiếng người Tống hoan hô như sấm rền, nhao nhao chúc mừng hai cha con Tào thị.

Sau cùng, sứ giả cũng đi qua, cười gượng nói với Tào Dật: "Thân thủ Tào công tử thật tốt quá.

Ván này Đại Tống thắng rồi."

Tiêu Khởi lấy làm không phục, cao giọng hỏi bằng tiếng Hán: "Chúng tôi đều bắt được cành liễu, chỉ có thể nói là hòa nhau, sao có thể là Đại Tống thắng?"

Sứ thần quay đầu lại, lạnh lùng đáp: "Anh không nhìn ra lúc Tào công tử giương cung là dùng tay trái sao?"

Tiêu Khởi sửng sốt, song vẫn chưa chịu nhận thua, lầu bầu: "Lỡ cậu ta khác mọi người, vốn thuận tay trái thì sao?"

Tào Bình nghe vậy mỉ cười, nói: "Vậy tôi đổi tay phải bắn lại lần nữa nhé?"

Tiêu Khởi khua tay: "Thôi thôi, chúng ta tỷ thí thêm một ván, bịt mắt bắn ụ, được không?"

Bịt mắt bắn ụ thuộc hạng tuyệt kỹ, không phải xạ thủ bậc thần tuyệt không thể làm được.

Người Tống nghe vậy đều lo lắng nhìn Tào Bình, cậu cũng chẳng chùn chân, vui vẻ ứng chiến: "Được thôi, ván này so vậy đi."

Lần này, Tiêu Khởi chuẩn bị rất cẩn thận, tỉ mỉ chọn cung tên, đi tới chỗ giương cung, đầu tiên là ngắm thử ba lượt rồi mới bảo người lấy khăn đen bịt hai mắt lại, chậm rãi kéo căng dây cung, mũi tên bắn ra, quả thực bắn trúng tâm bia.

Dường như lại là phe Khiết Đan chiếm được tiên cơ.

Tào Bình chậm rãi bước vào chỗ giương cung trong tràng reo hò khen ngợi Tiêu Khởi.

Chuyện liên quan đến vinh nhục Đại Tống, người đứng xem tất nhiều đều đổ mồ hôi thay cậu, song vẻ mặt cậu vẫn rất bình tĩnh, nhìn không ra chút nào là khẩn trương.

Xách cung đứng vững, cậu ra hiệu bảo người hầu bịt hai mắt cho mình, đến ngắm thử trước cũng lược bỏ.

Người Khiết Đan ồ lên xôn xao, càng nhìn cậu chăm chú hơn, xem cậu phát huy thế nào.

Thoạt tiên cằm hơi ngước lên, mặc cho gió mát quất vào mặt, đoạn cuối khăn bịt mắt sau đầu cậu tung bay phần phật về phía sau, cậu sừng sững đứng nơi trăm con mắt đổ về, trầm mặc bất động hồi lâu.

Sau, như nghe được trong tiếng gió có nhịp phách khiến lòng người rộn ràng, khóe miệng cậu dần nhoẻn một nụ cười.

Đương lúc người đứng xem bị nụ cười của cậu làm cho hoang mang, cậu bỗng giơ tay giương cung, kéo căng trong chớp mắt, lấy thế sét đánh không kịp bưng tai phát vụt mũi tên.

Ngoài dự liệu của mọi người, mũi tên ấy cách xa bia bắn, đâm vút lên trời.

Chắc hẳn trong sát na, tất cả mọi người đều tưởng cậu thất thủ.

Nhưng, cũng chỉ là trong sát na mà thôi.

Trên không trung rất nhanh vọng xuống tiếng một con chim rú lên thảm thiết, tiếp đó, có vật gì rơi vào sân bắn.

Người thuộc đội kiểm tên cấp tốc chạy đi, giơ vật kia lên thật cao – đó là một con nhạn, một con nhạn đang bay bị mũi tên của Tào Bình xé toạc bầu không bắn trúng.

Sau một thoáng im lặng, trong ngoài sân một lần nữa vang rền trống nhạc, ầm ầm mừng rỡ.

Vẻ mặt người Khiết Đan còn vương nét khiếp sợ, mà người Tống thì vỗ tay hoan hô, sôi nổi chúc mừng cha con họ Tào.

Tào Bình tháo khăn bịt mắt xuống, cười mỉm chắp tay với Tiêu Khởi mặt mũi sa sầm: "Cảm tạ đã nhường."

Tiêu Khởi xì một tiếng, nói: "Lúc trước chúng ta có nói là bắn chim trên trời à?"

"Không sai, là khuyển tử phá luật."

Tào Dật mở miệng, nói với với người Khiết Đan, "Vốn là bắn hồng tâm ụ bia, nó lại bắn sang chỗ khác, vậy tức chưa trúng, là thua.

Bữa nay bắn cung, Đại Tống Khiết Đan hiện thời mỗi bên thắng một ván, hòa nhau."

Thập Tam Đoàn Luyện chấp nhận cách nói này của ông, cười khen Tiêu Khởi vài câu khách khí rồi thay mặt hoàng đế thưởng cho Tiêu Khởi và Tào Bình chút châu báu trang trí cho đai yên, yên ngựa bạc và dụng cụ bạc vàng.

Tiêu Khởi nguôi bớt phần nào giận dữ, cùng Tào Bình tiến lên tạ ơn.

Lúc Tào Bình rời sân thay y phục, nội thần trong Ngọc Tân Viên đều tụ tập hai bên lối đi hoan hô chúc mừng cậu, ta nghe ra trong đó có giọng reo quen thuộc của một cô gái, theo tiếng nhìn qua, thấy công chúa đứng ở nơi ít người đằng trước, thân mặc áo bào của tiểu hoàng môn, mái tóc dài cũng buộc kín trong khăn chít đầu, nom giống một cậu nội thị mặt mày thanh tú.

Ta lập tức rảo bước tới cạnh nàng, khẽ kéo ống tay áo nàng.

Nàng quay đầu liếc ta một cái, nụ cười không giảm, chẳng mảy may có ý rời đi, cũng không ra hiệu bày tỏ gì nhiều với ta, quay đầu lại nhìn Tào Bình đang từ từ đi về phía mình như trước.

Dung mạo Tào Bình khá giống phụ thân, nhưng trên trán lại nhiều thêm mấy phần anh khí tràn trề chỉ có ở trai trẻ.

Lúc này cậu đang mỉm cười đi về phía trước, cử chỉ nhàn hạ phóng khoáng, cũng không làm mất khí độ đoan trang tao nhã của công tử thế gia, song lúc đi ngang qua bên cạnh công chúa lại bỗng giở tính trẻ con, nghiêng đầu trợn mắt le lưỡi với nàng.

Công chúa cũng không chịu kém cạnh, lập tức phồng má, ngón tay đẩy chóp mũi lên, đáp trả cậu một cái mũi heo.

Sau đó, hai người nhìn nhau cười.

Giữa chừng Tào Bình không hề dừng bước, nhướng mày với công chúa xong, đi thẳng vào gác điện thay y phục.

Công chúa nhìn theo cậu, nét mặt còn nguyên vẻ vui mừng.

Theo lệ, sau bắn cung là thưởng cỗ rượu trong Ngọc Tân Viên, Thập Tam Đoàn Luyện và nhóm Tào Dật tiếp khách.

Công chúa nói buổi chiều muốn đi Dưỡng tượng sở xem chim thú quý hiếm, bèn ở lại trên lầu một mình ăn trưa.

Đồ ăn Ngự thiện cục dâng lên nàng chỉ nếm hai miếng liền chê khó ăn, nằng nặc đòi ta phải tự mình đến phòng bếp phân phó đầu bếp làm món nàng thích.

Ta đành phải tuân mệnh rời đi, trước khi đi liếc thấy nàng hãy còn đang mặc áo bào tiểu hoàng môn trên người, chút nghi ngờ vụt chớp, nhưng chung quy vẫn không hỏi ra, chỉ bảo nàng: "Công chúa, nên đổi y phục đi thôi."

Nàng gật đầu ưng thuận: "Đổi ngay đây...

Huynh đi mau đi."

Dự cảm của ta đã đúng: Khi ta trở về, công chúa đã không còn trên lầu.

Ta hỏi thị nữ trong gác, họ lúng túng nói công chúa đã dẫn Trương Thừa Chiếu ra ngoài, mặt khác không cho bất kỳ kẻ nào khác theo.

Ta ra ngoài tìm, vừa xuống tới dưới lầu thì thấy Trương Thừa Chiếu ngâm nga quay về.

Chạm mặt ta, hắn cả kinh, cúi đầu muốn chạy, bị ta cao giọng quát bắt đứng lại.

Ta hỏi hắn công chúa đang ở đâu.

Đại khái là thần sắc giọng điệu ta nghiêm khắc quá chừng, ánh mắt hắn thậm chí còn lấp lóe vẻ hoảng sợ, không lần lữa bao lâu đã khai ra vị trí hiện tại của công chúa.

"Ở cùng Tào công tử?"

Ta hỏi.

Hắn co quắp cúi đầu.

Ta đẩy hắn ra, sải bước hướng tới chỗ trong lời hắn.

4.

Mai đỏ

Bên bờ sông Mẫn, bướm mai dập dờn, thiếu niên cởi tấm áo choàng lông cò trắng xuống, khoác lên vai thiếu nữ.

"Đừng để bị lạnh."

Cậu cười nói.

Bên trong cậu mặc chiếc áo bào kép tay rộng màu đỏ hoa mai, viền áo bằng gấm sắc son thiên thảo, lúc cử động, trong cổ áo, dưới ống tay lấp ló lớp áo đơn bằng sa trắng.

Sắc điệu vốn diễm lệ, song dung nhan cậu ngời ngời xán lạn, thần thái cởi mở phóng khoáng, tưởng chừng như ẩn chứa ánh sáng nhật nguyệt, hòa quyện cùng màu sắc rực rỡ này ấy nhưng tuyệt không khiến người ta có cảm giác lẫn mùi son phấn bên trong.

Thiếu nữ nghiêng đầu cười đáp ứng, choàng tấm áo lông cò đan dệt tinh vi kia lên, toàn thân trắng muốt thanh nhã, chỉ duy có hai gò má là hây hây bừng đỏ, như mặc gió xuân thổi sắc hồng muôn cánh mai chung quanh nhuốm lên gương mặt.

Ấy là cảnh tượng ta trông thấy lúc tìm được công chúa và Tào Bình bên bờ sông Mẫn trong Ngọc Tân Viên.

Họ đưa lưng về phía ta, vai kề vai ngồi trên lối gỗ con đê, trước mặt là dòng nước xanh biếc, sau lưng là mai đỏ vạn cội.

Mai đỏ hé nhụy vốn là cảnh sắc vô song chốn Ngọc Tân đầu xuân.

Loài mai này trong đỏ có tím, hoa dày như hạnh, hương thơm cũng từa tựa mùi hạnh, nguyên có xuất xứ từ Cô Tô, sau được Án Thù mang giống lên kinh thành trồng, nay trong đô chỉ có ở tất thảy ba nơi, cây trồng trong Ngọc Tân Viên được người phương Nam chăm sóc nên nở đẹp nhất.

Tiết trời năm nay ấm lên quá sớm, vừa chớm tháng Giêng, hai bên bờ sông sắc xuân đã dập dìu, mây vờn bóng liễu non vàng, gió lướt mai đỏ tuyết trắng, cộng thêm đôi trai gái thanh tân như ngọc tạc phấn điểm đặt mình vào trong, cảnh tượng càng thêm tươi đẹp tựa một bức đan thanh kỳ công.

Lo lắng và chút tức giận vô hình trước đó lúc này lẳng lặng phai nhạt, ta dừng bước, lặng lẽ đứng dưới bóng cây cách họ không xa phía sau, cũng không lên tiếng quấy rầy họ.

Họ đang chuyên tâm chuyện trò vui vẻ, hoàn toàn không hay biết ta đã đến.

Tào Bình đại khái cũng chạy từ yến hội ra, bưng theo một mâm thức ăn, giờ đang đặt bên người.

Cậu lựa một khúc sườn nướng đưa cho công chúa: "Công chúa nếm thử món này đi.

Đây là thịt tỳ ly Khiết Đan, rất hiếm thấy trong kinh đó."

Công chúa không đón lấy ngay mà cúi đầu ngửi ngửi trước, sau đó nói: "Mùi hơi gây."

"Tỳ ly này nuôi bằng sữa dê."

Tào Bình giải thích, lại khuyên nàng, "Thực ra mùi gây không nặng lắm đâu, công chúa nếm thử một miếng đi, béo ngậy thơm lắm."

Cậu đưa khúc sườn tới bên miệng công chúa, công chúa cau mày cắn một miếng, vừa nhai mấy cái đã rộ ngay nụ cười: "Thơm thật đó."

Bèn đón lấy, nhanh chóng gặm sạch thịt trên khúc xương.

Tào Bình lại đưa cho nàng một nắm cơm: "Đây là cơm nấu bằng tủy cừu trắng và gạo nếp Ngự thiện cục làm theo kiểu Khiết Đan."

Công chúa nói nắm cơm to quá, Tào Bình bèn bẻ ra chia với nàng, đợi công chúa ăn xong, lại lấy một thức gì đó nom như thịt khô chìa tới: "Đây là thịt ngỗng trời khô người Khiết Đan săn bằng hải đông thanh (*), cũng giống như thịt tỳ ly, là đồ sứ giả Khiết Đan mang đến cống nạp chuyến này."

(*) Loài chim ưng được xưng là "thần của muôn ưng" ở vùng Mạc Bắc Trung Quốc.

Công chúa lại bắt đầu thưởng thức thịt ngỗng trời khô.

Giữa chừng Tào Bình rót một chén sữa dê cho nàng, nàng không còn tay để tiếp, bèn dứt khoát cúi đầu uống cái chén trong tay Tào Bình.

Uống xong lại tập trung vào nhai gặm, dáng vẻ hết sức say sưa nồng nhiệt.

Tào Bình ngắm nàng một lúc, chợt quay đầu về phía khói sóng biếc xanh bật cười.

Công chúa nuốt miếng ăn trong miệng, lấy làm ngạc nhiên: "Sao thế?"

Tào Bình cười nói: "Tối hôm trước thần mời công chúa ăn bánh, công chúa không chịu ăn, thần còn tưởng công chúa không ham thú ăn uống..."

Công chúa xấu hổ đỏ bừng cả tai, bỏ nửa miếng thịt ngỗng trời còn lại xuống, nhỏ giọng: "Ta không ăn nữa."

"Công chúa đừng để bụng, không phải thần cười người đâu."

Tào Bình thu lại nụ cười, ôn hòa giải thích với nàng, "Thần thấy công chúa thích ăn đồ thần mang đến cho người nên rất vui...

Có lần thần mang đồ ăn ngon về cho đám thị nữ trong nhà, họ rõ ràng rất thích mà trước mặt thần lại cứ giả bộ sức ăn như mèo, chỉ nhấm nhấm cắn một hai xíu, thần nhìn mà phát ghét lên được."

Cậu lại gắp một miếng cá cho công chúa, công chúa vẫn không chịu tiếp, cậu bèn đút miếng cá vào miệng mình, nhai nhai hai cái rồi nuốt xuống, lại nhặt vài món khác bỏ cả miếng lớn vào miệng ăn, tiếp đó nói với công chúa: "Xem này, thần đã ăn nhiều hơn công chúa rồi, nếu thần còn cười công chúa thì công chúa cứ cười ngược lại thần là được."

Công chúa nghe vậy nhoẻn cười, bấy giờ mới đón lấy miếng cá cậu một lần nữa đưa tới.

Họ tiếp tục thưởng thức mỹ thực Khiết Đan, thi thoảng lại cười đùa dăm câu, tiếng cười rộ lên kinh động đến đám chim trĩ gà lôi trắng phau sống ven sông, khiến chúng nhao nhao ngoái đầu ngó họ, rồi túm năm tụm ba dang cánh bay lên, cảnh tượng làm họ nhìn mà thích thú, càng thêm tíu tít nói cười liên miên.

Ta nhếch nhếch khóe miệng, cũng muốn cười theo họ, song chung quy chẳng thể cười lên được.

Trước mắt rõ ràng là cả vườn cảnh xuân, ta lại như cô độc lạc giữa gió xuân, mặc nó thổi đáy lòng hoang hoải.

Cuối cùng, ta vẫn không tiến lên quấy rầy công chúa mà yên lặng lui về con đường trước vườn mai, thấy có người tới thì lại gần tán gẫu, nương đó dắt hướng họ rời đi để họ khỏi phát hiện ra người đang ngồi bên đê là Tào Bình và công chúa.

Qua chừng một canh giờ, họ mới đứng dậy rời đi.

Ta tránh vào nơi kín đáo, dõi mắt nhìn họ chia tay nhau trở về, sau đó chậm rãi quay lại lầu gác công chúa ngự.

"Hoài Cát, huynh vừa đi đâu vậy?"

Nhác thấy ta, công chúa hỏi liền, trong giọng nói nhút nhát mang vẻ ân cần, cũng bao hàm chút thấp thỏm không yên, như sợ ta dò hỏi hay trách cứ.

Chắc là Trương Thừa Chiếu đã nói gì đó với nàng.

Giờ nàng như đã coi ta thành người nhà giám thị nàng.

Ý nghĩ này khiến lòng ta đượm vị đắng chát, nhưng ta vẫn cố gắng không để nó hiện lên thành sắc thành hình.

"Thần vào vườn tìm công chúa, nhưng không tìm thấy, đi mệt bèn vào đình trong vườn lê nghỉ chân chốc lát, bất giác ngủ mất, nãy mới tỉnh dậy, nghĩ hẳn công chúa đã về rồi nên lập tức quay lại đây."

Ta đáp lại nàng bằng một lời nói dối không có ác ý.

"À," Công chúa thở phào một hơi, rồi ấp úng biện minh: "Ta đi xem voi...

Một mình...

Xem xong voi thì đi xem con nghê nước Thiên Trúc...

Còn có tê giác...

Với lại dê thần..."

Nàng tựa hồ không quen nói dối trước mặt ta, giọng càng nói càng nhỏ, mặt cũng không cầm được đỏ lên.

Ta mỉm cười với nàng, dùng vẻ mặt dịu dàng trấn an nàng: "Phải, sao thần lại không nghĩ ra nhỉ?

Vốn công chúa đã nói từ trước là muốn đi xem voi rồi mà."

5.

Quất xuân

Tuy Trương Thừa Chiếu sống chết không chịu thừa nhận nhưng ta vẫn có thể khẳng định để công chúa mặc y phục tiểu hoàng môn chạy ra ngoài là ý tưởng của hắn.

Hắn nhanh chóng được công chúa tín nhiệm nhờ vào khả năng nhìn mặt đoán ý, lựa lời xúi giục công chúa thích sao làm vậy.

Ta từng kéo riêng hắn ra trách cứ, không tự chủ được càng lúc càng nặng giọng, sau cùng nghe thấy hắn buông một tiếng thở dài: "Khi còn bé bị đám nội thị hoàng môn cao hơn tôi một cấp mắng nhiếc, tôi mới ý thức được thế nào là quan hơn một bậc đè chết người.

Vốn tưởng chúng ta là anh em, cậu không giống họ..."

Ta ngẩn người, dần nhớ lại chuyện hắn bảo vệ ta bận ta bị ức hiếp hồi còn nhỏ, liền im lặng.

Hắn lại nhắc đến công chúa: "Công chúa mặc y phục tiểu hoàng môn ra ngoài chơi bất quá chỉ là chuyện cỏn con ngẫu nhiên mới diễn ra một lần.

Hơn nữa còn hành sự cẩn thận, không ai phát hiện ra.

Dẫu có bị phát hiện thì công chúa cũng chẳng chạy ra ngoài cung, cùng lắm chỉ bị quan gia nương nương nói dăm lời, có thể gây nên phiền toái bao lớn chứ?

Quan gia thương công chúa như vậy, chớ nói công chúa chỉ đi loanh quanh trong cung viện, người có nhất thời nổi hứng, phóng hỏa đốt cung, quan gia ắt cũng chẳng thực sự trách phạt người...

Ấy gọi là tình ruột thịt đó!

Trương quý phi được sủng ái ư?

Nhưng hành sự chỉ cần xảy ra chút ít sai lầm thôi là quan gia mặt mày sa sầm, bắt bà ta quỳ xuống tạ tội liền.

Ngẫm lại công chúa mà xem, cậu có từng thấy quan gia thật sự nổi giận với người bao giờ chưa?

Công chúa bị thương cái ngón út thôi quan gia cũng xót ruột cả nửa ngày kia mà..."

Ta không muốn nghe hắn lý lẽ chày cối, ngắt lời: "Chuyện không đơn giản chỉ là công chúa chạy loanh quanh trong cung như cậu nói.

Cậu để công chúa cải trang đi gặp người ngoài như thế, lỡ bị ai biết, nhất là đài gián, sẽ đem lại phiền phức cỡ nào cho người và quan gia đây?

Huống hồ, công chúa còn là nữ tử đã đính hôn..."

"Ôi, đã nói bao lần rồi, có phải tôi bắt công chúa cải trang đâu."

Trương Thừa Chiếu rất là cẩn thận tiếp tục lảng tránh tội danh xúi giục công chúa, "Cậu cũng đâu phải không biết, công chúa mà muốn làm gì thì mười con trâu kéo cũng chẳng lại.

Hơn nữa, công chúa chỉ muốn gặp vài người thuận mắt trước khi xuất giá thôi mà, việc gì cậu cứ phải ngăn cản mãi thế?

Ngẫm lại vị phò mã của chúng ta đi, quả đúng là khó coi còn gì, công chúa xuất giá rồi nhất định sẽ cười không nổi, sao không cho người sống cuộc sống hiện giờ thích chí hơn?"

Câu cuối cùng làm ta cứng họng hồi lâu, mãi sau mới nói: "Công chúa quá thẳng tính, tiếp xúc nhiều với Tào công tử rồi chỉ e chuyện về sau khó mà xử lý được."

Trương Thừa Chiếu khoát tay: "Không sao đâu, hai đứa trẻ gặp nhau giữa thanh thiên bạch nhật thì có thể gây ra được đại loạn gì?

Chẳng lẽ ý cậu là họ có bản lĩnh bỏ trốn?"

Thấy ta không đáp, hắn chợt nhếch một nụ cười khác thường, hạ giọng xuống thật thấp, cúi người nghiêng đầu nhìn ta chòng chọc, hỏi dò: "Tôi biết rồi, cậu hầu hạ công chúa nhiều năm, bỗng thấy công chúa gần gũi với người khác nên trong lòng sinh chút khó chịu chứ gì..."

Ta đứng bật dậy, mím chặt môi, lạnh lùng lườm hắn.

Hắn bị dọa cho im bặt, cúi đầu không dám tiếp tục nhìn ta.

Đã ghét Trương Thừa Chiếu suy đoán mập mờ, lại hận mình nghe câu này phản ứng quá dữ dội, ta phất tay áo bỏ đi, không sao nén được muôn nỗi ưu tư cuồn cuộn trong lồng ngực, rảo bước đi lung tung không mục đích trong cung, tưởng như muốn cất bước chạy điên cuồng.

Sau, hồi thần lại được là vì nghe thấy tiếng công chúa: "Hoài Cát, Hoài Cát, sao huynh lại ở đây?"

Câu hỏi của nàng làm mớ suy nghĩ đang trong trạng thái vẩn đục của ta lắng lại.

Ta nhận ra mình đang đứng trước Phúc Ninh Điện, công chúa thì đi về phía ta, trên mặt treo nụ cười trong vắt, không đợi ta trả lời đã chìa cho ta xem chiếc tráp con tinh xảo nàng cầm trong tay: "Huynh đoán xem đây là cái gì?"

Ta hít lấy một hơi thật sâu, cố sức điều chỉnh sao cho vẻ mặt mình không quá cứng nhắc rồi nhẹ giọng đáp: "Xem chừng trong tráp đựng một thỏi mực cổ."

"Đúng vậy!

Là mực Lý Siêu cha vừa ban cho ta đó!"

Công chúa cười cười sáp lại gần ta, "Chìa tay ra đây."

Ta không hiểu nàng định làm gì, nhưng vẫn nghe lời nàng vươn tay ra.

Nàng đặt thỏi mực cổ Nam Đường vào lòng bàn tay ta, nói: "Thưởng cho huynh đấy."

Ta không khỏi cả kinh.

Mực cổ quý giá như vậy trong cung chẳng còn dự trữ bao nhiêu, công chúa ắt hẳn đã phải hao hết miệng lưỡi mới có thể xin được kim thượng đồng ý ban cho mình, vậy mà nàng lại tùy tiện thưởng lại cho ta thế này.

Động não đôi chút, ta đoán ra được mấu chốt trong đây: "Công chúa lại muốn thần làm gì phải không?"

"Không hề nhé, ta hoàn toàn không muốn huynh làm gì cho ta hết!"

Công chúa tức khắc phủ nhận, song lời tiếp theo nàng mở miệng đã khiến ta biết rõ mình đoán không sai.

"Cơ mà, ca ca," Nàng mỉm cười dè dặt, nói với ta bằng giọng thương lượng, "Hôm lập xuân, ta muốn đi Tiên Nông Đàn xem quất xuân..."

"Quất xuân" vốn là một nghi thức cổ xưa, đắp tượng trâu đất để xua khí lạnh, tỏ ý tiễn giá rét đón hơi ấm, khuyến khích canh nông cho một năm được mùa.

Đây là nghi thức long trọng nhất của quốc triều.

Một ngày trước lập xuân, phủ Khai Phong sẽ dâng tượng trâu xuân bằng đất sét và phu phen, dụng cụ cày cấy vào cung, trong cung nghênh đón bằng trống nhạc.

Ngày lập xuân, tể chấp dẫn quan lại, thân vương, hoàng thân quốc thích vào chúc mừng, tụ tập trước Tiên Nông Đàn ngoài Quan Giá Điện, lần lượt từng người cầm roi lụa màu quất trâu xuân ba lượt tỏ ý khuyến khích canh nông, tự cổ gọi là "quất xuân".

Hôm ấy, ngoại thích có quan hàm cũng sẽ tham gia nghi thức, khẳng định là công chúa muốn mượn cơ hội này gặp lại Tào Bình.

Đó là đại điển nam tử tụ họp, cung quyến không thể tham gia, công chúa nói vậy quá nửa là muốn xin ta cho phép nàng cải trang một lần nữa đi xem.

Nàng năn nỉ ta suốt mấy ngày, thành khẩn thề thốt đảm bảo tuyệt đối sẽ không để người khác phát hiện, "Ngày đó ta có thể mặc áo màu đeo mặt nạ quỷ như các tiểu hoàng môn khác mà, có mặt nạ che mặt thì ai biết được ta là công chúa đâu?"

Sau đó, ta hỏi nàng: "Công chúa cần gì phải xin thần cho phép?

Như lần trước ấy, lẳng lặng gạt thần ra ngoài, thần cũng có cách nào can thiệp được đâu."

"Thì...

Ta sẽ không như thế nữa mà."

Nàng hơi xấu hổ cúi đầu, nói: "Ta sợ huynh biết sẽ không vui..."

Chớp mắt cảm động khi nghe lời này đã hóa thành lý do ta chấp thuận thỉnh cầu của nàng.

Hôm ấy, nàng quả thực mặc áo bông ngũ sắc, đeo mặt nạ quỷ toét miệng cười to, cải trang thành tiểu hoàng môn đón trâu đất đi xem nghi thức quất xuân.

Ta có thể đứng ngoài xem như mọi người, song từ đầu đến cuối đều phải cố hết sức đi theo nàng.

Có điều, nàng không gặp được Tào Bình như mong muốn.

Sau một hồi lâu nàng nhìn quanh nhìn quất, ta đi qua nói cho nàng biết tin tức vừa nghe ngóng được: "Hôm nay sứ giả Khiết Đan rời kinh về nước, Tào công tử theo quốc cữu ra ngoài thành tiễn, không tham gia lễ quất xuân."

Tuy cách một lớp mặt nạ, song ta vẫn cảm nhận được nàng thất vọng nặng nề.

Nàng đứng đó ngẩn ngơ chốc lát, lẩm bẩm: "Ta có nói là muốn gặp huynh ấy đâu."

Sau đó tiếp tục đưa mắt xem mọi người quất trâu xuân.

Trâu xuân bằng đất sét cao bốn thước, dài tám thước, tượng trưng cho bốn mùa tám tiết; đuôi dài một thước hai tấc, tượng trưng cho mười hai tháng.

Trên thân trâu còn vẽ hoa văn biểu đồ thời giờ bốn mùa tám tiết, hai bên trái phải gắn cày bừa làm nông.

Roi màu quất xuân còn được gọi là roi xuân, dùng tơ ngũ sắc quấn thành, mỗi vị quan cầm hay cái, lần lượt quất trâu xuân theo thứ tự phẩm cấp rồi mới tề tụ cúng tế dâng hương, nghi thức sau cùng là đập nát trâu xuân, mọi người tranh đoạt trâu đất, giành được đầu trâu được coi là điềm đại cát, ấy gọi là "đoạt xuân".

Xem lễ lúc này đa số đều là người có tuổi có địa vị, bởi vậy nên phần đoạt xuân sau đó chỉ toàn con cháu quan lại và hoàng thân quốc thích còn trẻ tham gia, người đứng tuổi chỉ đứng xem mà thôi.

Tới lễ đoạt xuân, dưới ban tế trâu xuân đã tụ tập đông đảo những thanh niên nóng lòng muốn thử sức, ai nấy đều lom lom nhìn trâu xuân xoa tay, chỉ đợi chủ trì phát lệnh.

Đúng lúc ấy, có một cậu trai mười bảy, mười tám, bận áo đơn màu mai đỏ thình lình bật sức, liều mình chen từ phía sau đoàn người lên hàng nhất sát dưới ban tế.

Hành động đột ngột này làm dậy lên cơn bất mãn của những người bị chen ra, họ cùng quay sang nhốn nháo xô đẩy hắn, mà hắn thì dang hai tay gắng gượng chống đỡ, quyết không chịu nhường, mặt đỏ gay, thở phì phò, hai mắt chòng chọc nhìn thẳng vào đầu trâu.

Ta trông rõ được khuôn mặt hắn rồi, tức thì thầm cảm thấy không ổn – đó là phò mã Lý Vĩ.

Đã lâu không gặp, ngoại hình hắn không có thay đổi gì quá lớn, chỉ cao hơn một chút, cũng mập lên một chút, nom càng thêm chắc nịch, có đám con cháu tôn thất ngoại thích chung quanh làm nền, không khỏi toát lên vài phần thô bạo.

Đang định khuyên công chúa trở về thì nàng cũng đã để ý tới Lý Vĩ.

Màu sắc chiếc áo bào Lý Vĩ bận trên người kích thích nàng phẫn nộ: "Người xấu xí da đen thế kia mà cũng dám mặc màu mai đỏ, đúng là cái thứ bắt chước mù quáng!"

Ta thầm tức cười.

Nghi thức quất xuân khác với những đại điển bình thường, bầu không khí rất thoải mái, không yêu cầu tất thảy quan lại đều phải mặc triều phục, con cháu hoàng thân quốc thích trẻ tuổi có thể chọn mặc xiêm y tươi sáng.

Có lẽ Lý Vĩ chỉ trùng hợp chọn màu đỏ hoa mai mà thôi chứ hôm hội bắn hắn nào đâu có mặt, chưa chắc đã là bắt chước Tào Bình.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, hiệu quả hắn mặc màu áo này quả tình chênh lệch Tào công tử quá xa, công chúa vì thế mà giận chó đánh mèo cũng là điều dễ hiểu.

Quan sát Lý Vĩ một lúc, công chúa bỗng lẩm bẩm: "Tên này trông quen quen, ta từng gặp ở đâu rồi thì phải..."

Sợ nàng nhận ra đây chính là "con thỏ ngốc" từng để lại ấn tượng không tốt cho nàng, ta lập tức bảo nàng: "Công chúa, không còn sớm nữa, chúng ta về thôi, nếu không Miêu nương tử lại đòi đi khắp nơi tìm người."

Đôi mắt trong suốt để lộ dưới tấm mặt nạ của nàng lúc này đang nhìn chằm chằm vào Lý Vĩ, mang chút vẻ nghiền ngẫm mà suy tư, nàng từ chối lời đề nghị của ta: "Đợi đã, ta muốn xem thêm chốc nữa."

Ta không thể làm gì khác, đành cầu mong Lý Vĩ sẽ không để lộ thân phận trong hoạt động sau đó.

Thế nhưng, biểu hiện của hắn thực sự quá nổi bật.

Trâu xuân bị đập nát rồi, chủ trì vừa phát lệnh, hắn đã xông thẳng về phía đầu trâu, chặn trái húc phải, xô ngã mấy người, cuối cùng cũng tiếp cận được đầu trâu, cũng chẳng suy nghĩ gì nhiều mà vọt người bổ nhào lên trước, đè đầu trâu xuống dưới thân, vòng tay ôm chặt.

Kể từ đó, những người đến sau bất kể ép buộc lôi kéo thế nào hắn cũng quyết không buông tay, để thủ vững chiến lợi phẩm, mặc cho người khác giẫm đạp lên tay áo vạt áo ra sao, hắn cũng không chịu đứng lên lúc này.

Trước đó, đầu trâu đã bị một tay nhanh nhẹn chạm tới, vốn đã cầm được cả hai tay rồi, không ngờ lại bị hắn bổ nhào một cú ngay mặt như thế, người nọ bị đánh bật ngã lộn ra sau, đứng lên rồi, mặt mũi sửng cồ như muốn chửi mắng.

Ta nhìn kỹ, nhận ra người này là Trương Hi Phủ, em họ Trương quý phi, con trai Trương Nghiêu Tá.

Chính lúc ấy Lý Vĩ ngẩng đầu lên, Trương Hi Phủ vừa thấy là hắn, chợt nhoẻn cười: "Hóa ra là Lý phò mã.

Bảo sao, đã xuất hết sức in vàng mã ra thì chúng tôi sao dám tranh với ngài?"

Câu này nói lên rất dõng dạc, người trên ban tế nghe thấy cười ầm lên, đều từ bỏ tranh đầu trâu với Lý Vĩ, ai nấy nhặt lấy một miếng đất sét trâu xuân rồi sôi nổi tản đi.

Lý Vĩ thấy xung quanh không còn ai, bấy giờ mới từ từ đứng dậy, vẫn ôm khư khư cái đầu trâu, nơm nớp nhìn bốn phía như sợ hãy còn người đến tranh cướp với mình.

Tệ hơn là dáng vẻ hắn bây giờ quả thật thảm không nỡ nhìn: Áo bào màu mai đỏ bị đạp cho nhăn nhúm, in đầy dấu chân; khăn chít đầu bị đụng rơi xuống đất, đã sớm bị mọi người giẫm bẹp; tóc tai bù xù, mặt mũi lấm lem bùn đất, trán còn có vết va chạm chảy máu...

Ta quay sang công chúa, không biết nên nói gì với nàng.

Mà trong suốt khoảng thời gian đó, nàng vẫn đứng im quan sát như một bức tượng băng rét buốt, đến con ngươi cũng không chuyển động lấy mảy may.

Lát sau, nàng mới từ từ cất lời: "Ta nhớ ra rồi, hắn là con thỏ ngốc."

Ta lay lay vai nàng, muốn đưa nàng đi: "Công chúa..."

Nàng khẽ giãy ra, hỏi ta: "Hắn chính là Lý Vĩ?"

Ta không cách nào giấu giếm nàng được nữa, buộc lòng gật đầu.

Nàng cúi đầu, hai giọt nước mắt tuôn ra, lướt qua gương mặt hớn hở rực rỡ sắc màu của chiếc mặt nạ, không tiếng động rơi xuống đất.

6.

Phò mã

"Thiên hạ có biết bao nhiêu đấng nam nhi tốt đẹp mà sao cha lại cứ phải chọn phò mã cho con là một kẻ ngu đần tối dạ chứ?"

Công chúa khóc nức nở trước mặt Miêu thục nghi.

Miêu thục nghi nhất thời luống cuống, không kịp hỏi kỹ nàng thế nào mà lại trông thấy Lý Vĩ, cũng chẳng còn lòng dạ mà trách phạt đám tùy tùng bọn ta, sững người trong thoáng chốc rồi ôm chầm lấy con gái, rơi lệ cùng nàng, oán giận than: "Ai bảo cha con coi con như châu báu đây?

Lúc Chương Ý thái hậu còn sống, ngài chưa từng gọi bà một tiếng mẫu thân, sau biết chân tướng rồi thì cũng đã muộn, âm dương đôi ngả cách biệt trời đất, ngài không sao báo hiếu thái hậu được nữa, đành phải dốc cạn khả năng bồi thường cho nhà họ cậu.

Quan to tước quý đã phong, vàng bạc châu báu cũng thưởng, còn thấy chưa đủ, bảo bối quý giá nhất ngài có thể cho cũng chỉ còn có con mà thôi.

Ngài muốn mượn cái danh con gái thiên tử của con để hạ giáng, biến nhà cậu thành gia tộc sang quý nhất thiên hạ."

"Nếu con thật là châu báu thì cũng đành thôi, mặc cha tặng ai cũng không oán hờn, bởi chẳng có mắt cũng chẳng có tâm, không phân biệt được xấu đẹp, cũng không biết thế nào là tài đức ngu muội."

Công chúa thút thít: "Nhưng ai bảo con sinh ra lại là con người có tri có giác...

Con muốn đi nói cho cha biết, con không thích con thỏ ngốc Lý Vĩ, không muốn hắn làm phò mã."

Miêu thục nghi xua tay khuyên công chúa: "Chớ đi tranh cãi với cha con, vô dụng thôi, chuyện này đã quyết định bao năm nay rồi, khi đó còn chẳng ai lay chuyển được ngài huống chi là hiện tại.

Con mà đi gào khóc cự tuyệt hôn sự với ngài, ắt ngài sẽ cảm thấy con khinh thường nhà họ Lý, đại bất kính với Chương Ý thái hậu.

Mấy ngày nay trong triều lắm sự vụ, cha con vốn đã phiền lòng, con tuyệt đối không thể đề cập đến việc này với ngài, chỉ tổ chọc ngài càng bực mình thêm thôi."

"Vậy chẳng phải là hết cách sao?"

Công chúa vùi mình vào lòng mẹ, nước mắt giàn giụa thấm đẫm một mảng vạt áo Miêu thục nghi, "Con không muốn nửa đời sau ngày nào cũng phải nhìn khuôn mặt đen đúa kia đâu."

Miêu thục nghi thở dài rầu rĩ, vừa lấy khăn lụa lau nước mắt cho công chúa, vừa dịu dàng an ủi nàng: "Còn sáu năm nữa con mới đến hai mươi, chờ xem đã, biết đâu trong khoảng thời gian này lại xảy ra chuyện gì giúp cho con khỏi phải lấy nó, cũng chưa biết chừng."

Đúng lúc này, đề cử quan Vương Vụ Tư tiến vào điện, cuộc nói chuyện giữa hai người tạm thời gián đoạn.

"Lý đô úy sai người mang lễ vật tới tặng công chúa ạ."

Vương Vụ Tư cúi người bẩm báo.

Tiểu hoàng môn đi đằng sau y bưng cao một cái khay bước lên hai bước, trên khay đắp một tấm khăn gấm, bên trong nhô lên một vật thể cao ngất, trông hình dáng đó, ta mơ hồ đoán được vật ấy là cái gì.

Được Miêu thục nghi cho phép, Vương Vụ Tư vén khăn gấm ra, một chiếc đầu trâu bằng đất sét hiện ra trước mắt mọi người.

"Đây là đầu trâu Lý đô úy giành được ở lễ đoạt xuân hôm nay, đặc biệt sai người mang vào trong cung, chúc công chúa bình an mạnh khỏe, vạn sự như ý."

Công chúa và Miêu thục nghi nhìn nhau không nói gì.

Lát sau, công chúa bảo Vương Vụ Tư: "Ném đi."

Vương Vụ Tư sửng sốt, không biết phải ứng đối ra sao.

Công chúa lặp lại, gằn từng tiếng: "Ném cái đầu trâu này đi."

Vương Vụ Tư cúi đầu thưa dạ, song vẫn không tuân mệnh hành động.

Lúc này, Miêu thục nghi mở lời: "Lý Vĩ tặng vật này tới cũng là xuất phát từ hảo tâm, công chúa không thích cũng không nên chà đạp, chẳng bằng biếu lại cho quan gia, ngài nhất định sẽ rất vui lòng nhận."

Vì vậy, đầu trâu cứ thế được giải quyết.

Qua biểu hiện của kim thượng lần công chúa gặp phụ thân kế tiếp, có thể thấy Miêu thục nghi đoán không sai, lễ vật này quả thực rất được lòng ngài, không ngớt khen Lý Vĩ có lòng, cũng khen công chúa hiểu chuyện, thời thời khắc khắc đều biết nghĩ đến cha.

Công chúa nghe lời mẫu thân, tạm thời không thể hiện sự bất mãn của bản thân với kim thượng trong chuyện hôn sự, song vì thế mà sa sút mất mấy ngày, hoàn toàn không tìm lại được trạng thái hoạt bát trước đây, thường ngồi một mình thẫn thờ, có lúc còn lặng yên gạt lệ, chẳng biết là do nghĩ đến tên phò mã nàng ghét hay là bởi vận mệnh đã định nàng không có duyên với Tào Bình.

Người làm nàng cười trở lại là Trương Thừa Chiếu.

Ngày ấy ta thấy công chúa vẫn ủ ê như trước, bèn kiến nghị nàng ra vườn cây trong gác ngắm mai vàng trăm cánh mới nở.

Ta khuyên nhủ mấy lượt, nàng mới chịu uể oải đứng dậy, Trương Thừa Chiếu vội đi trước dẫn đường, cùng ta theo nàng ra ngoài.

Mai vàng trăm cánh còn được gọi là mai hoàng hương hoặc thiên diệp hương, hoa nhỏ cánh dày, tâm hoa vàng nhạt, cánh hoa đếm được phải đến hai mươi có dư, tuy không sánh kịp mai đỏ diễm lệ nhưng lại có ưu điểm riêng là có mùi thơm, nương gió hiu hiu lùa vào trong gác, thấm tận ruột gan.

Hương thơm này tựa hồ vực dậy được cho công chúa chút ít tinh thần, nàng đứng dưới nhà hông cung điện, tựa người vào cột trụ hàng hiên, dáng vẻ tĩnh lặng, mắt hơi cụp xuống, xem thị nữ Gia Khánh Tử và Vận Quả Nhi cắt hoa cắm bình trong vườn.

Nàng đi lại không phát ra âm thanh, cũng không lên tiếng.

Hai thị nữ cắt nhành mai xong hãy còn đương tán gẫu hăng say, không nhận ra là công chúa đến nên vẫn ríu rít chuyện trò.

Gia Khánh Tử nói: "Tôi từng lén chạy ra đại điện xem Lý phò mã, nói thật chứ, ngoại hình anh ta kém xa các học sĩ, mặc triều phục vào rồi cũng chẳng ra dáng quan thần gì cả."

Vận Quả Nhi nói: "Anh ta vốn cũng có phải quan đâu, anh ta không cần phụ trách nhiệm vụ như những quan viên khác, chỉ cần lĩnh bổng lộc là được rồi."

Gia Khánh Tử thắc mắc: "Phò mã đô úy không phải là quan tòng ngũ phẩm à?

Đã có chức danh thì dù sao cũng phải phụ trách cái gì đó chứ?"

Vận Quả Nhi cười: "Phò mã đô úy chỉ là cái chức suông thôi, quan gia sẽ không cho anh ta can thiệp vào triều chính, nếu nói phụ trách cái gì ấy à...

Chính là phụ trách làm phu quân công chúa chứ còn gì nữa!"

Công chúa nghe đến đây, ánh mắt tức khắc tối sầm.

Ta ho khẽ một tiếng, hai thị nữ quay đầu lại thấy là bọn ta liền cả kinh, vội đi qua thỉnh an công chúa, một mực cúi gằm đầu, không dám nhìn nàng.

Công chúa lạnh lùng, không nói lời nào.

Trương Thừa Chiếu thấy thế, bước lên khiển trách hai cô bé: "Bàn luận vớ vẩn gì sau lưng công chúa đấy hả?

Lại còn ăn nói quàng xiên...

Phò mã đô úy là phu quân công chúa hồi nào!"

Công chúa nghe hắn nói vậy, hơi quay đầu ngó hắn: "Thế phò mã đô úy là làm gì?"

Trương Thừa Chiếu khom người với công chúa, trả lời vang dội: "Bẩm công chúa, từ 'đô úy' trong phò mã đô úy thực ra có ý là 'quản lý phủ công chúa', chính là giúp công chúa trông nhà coi sân, mà 'phò mã' nghĩa gốc vốn là con ngựa đi ngoài càng xe, nay chỉ đánh xe cho công chúa, hầu công chúa xuất hành, hoặc là làm chân chạy việc ngược xuôi cho công chúa.

Nói chung, phò mã đô úy là quan thần trong nhà hầu hạ công chúa có phẩm cấp hơi cao chút ít, nghe lệnh công chúa sai sử, gọi thì tới, đuổi thì đi đó ạ."

Gia Khánh Tử và Vận Quả Nhi nghe mà buồn cười, lặng lẽ giơ tay áo lên che miệng khúc khích, công chúa tựa hồ cũng rất hài lòng với giải thích này, cũng cười theo.

Trương Thừa Chiếu thấy công chúa phản ứng vậy, càng thêm bạo gan, nói tiếp: "Công chúa hạ giáng cũng không giống con gái dân gian xuất giá.

Dân nữ xuất giá phải bái kiến cha mẹ chồng, về sau phải cẩn thận phụng dưỡng họ, hiếu thuận với họ hơn cả với cha mẹ ruột, nói không chừng còn phải bị anh trai chị dâu, chú em bà cô bên chồng bắt nạt.

Nhưng công chúa hạ giáng thì lại chẳng phải để làm vợ phò mã.

Thế nào là 'hạ giáng'?

Chính là công chúa như tiên nữ cung trời giáng trần hạ phàm, được nhà phò mã thỉnh về cung phụng.

Công chúa vào cửa nhà phò mã, vai vế cả nhà họ đều phải rớt xuống một bậc, công chúa không cần phụng dưỡng cha mẹ phò mã như cha mẹ chồng, cứ coi họ như anh trai chị dâu là được, cũng không cần phải bái lạy họ, ngược lại, là công chúa ngồi trong sảnh đường buông rèm, để cha mẹ chồng bái kiến bên ngoài.

Anh trai chị dâu, chú em bà cô bên chồng lại càng khỏi phải nói, chẳng khác nào cháu trai cháu gái của công chúa, lúc họ thỉnh an công chúa, công chúa mà vui vẻ thì cười với họ một nụ, không vui thì chẳng cần đánh mắt liếc họ làm gì..."

Ta nhíu mày trừng Trương Thừa Chiếu, ra hiệu bảo hắn câm miệng, bấy giờ hắn mới chịu ngậm mồm thôi huyên thuyên.

Công chúa thì lại nghe đến dạt dào hứng thú, hỏi: "Thật vậy á?

Sao cha chưa từng nói với ta?"

Trương Thừa Chiếu nói: "Không gì thật hơn luôn ấy ạ, thể chế lễ nghi quốc triều đã quy định, 'Nhà cưới con vua, theo lệ tự hàng một bậc vai vế mà cư xử'.

Quan gia không nói với công chúa chắc là bởi cảm thấy còn chưa đến lúc đó thôi...

Dù sao cũng còn những mấy năm, vẫn sớm lắm mà!"

Nghe Trương Thừa Chiếu nói xong, tâm trạng công chúa dần dần chuyển tốt, như một lần nữa ném hôn ước với phò mã ra sau đầu, tiếp tục hưởng thụ tháng ngày thiếu nữ khoái hoạt trước khi xuất giá của mình.

Ta nghĩ bản thân nàng thực ra cũng hiểu rõ ý nghĩa của phò mã đô úy không phải là quan thần trong nhà công chúa, hiện tại nàng cũng đã đến tuổi có hứng thú tìm hiểu về bí ẩn hôn nhân, ta thậm chí còn từng nghe thấy nàng nghiêm túc thảo luận với thị nữ về mối quan hệ giữa được sủng ái và "thị tẩm" của tần ngự khi đi ngang qua trước cửa sổ phòng nàng, nhưng bây giờ, hiển nhiên nàng rất sẵn lòng núp trong lời thuyết minh hạ thấp ý nghĩa phò mã của Trương Thừa Chiếu, gắng hết sức xem nhẹ vai trò chân chính mà Lý Vĩ sẽ đảm nhiệm trong tương lai.

Dù sao, chấp nhận một người mình không thích làm "quản lý phủ công chúa" cũng dễ dàng hơn chấp nhận hắn làm trượng phu mình nhiều.

7.

Gấm Thục

Tết nguyên tiêu năm nay, kim thượng dẫn hậu phi công chúa giá lâm Tuyên Đức Lâu ngắm đèn.

Giống như năm ngoái, vẫn là trên lầu đèn rồng nến phượng, dưới lầu rực rỡ đuốc hoa, nhưng lúc Trương quý phi xuất hiện bên ngự tọa, gấm vóc ả khoác trên thân lại khiến những đèn hoa vốn đủ sức tranh sáng cùng trăng sao này phải ảm đạm thất sắc.

Trương quý phi bận váy dài tay rộng, cổ áo la đào tươi thắm, điểm thêm khăn choàng, đeo hoa tai ngọc, những món này không khác gì khi trước, khác là ở tấm bào gấm ả khoác bên ngoài.

Tấm áo này được may từ một loại gấm hoa hiếm có, mềm mại lả lướt, rất gợi hình gợi dáng, nền màu đỏ tím, mặt vải lấy chỉ vàng thêu hình đèn lồng, bên trong tròng hoa văn sen nở.

Cả tấm gấm hoa lộng lẫy mỹ lệ, chói lòa lóa mắt dưới ánh đèn soi, khiến người ta không thể nhìn gần.

Quốc triều tôn sùng lối sống tiết kiệm giản dị, Chân Tông từng hạ chiếu cấm kéo vàng xe chỉ may xiêm áo, cũng không cho lấy vàng làm trang sức.

Hiện nay lệnh cấm tuy đã được nới lòng, nhưng kể cả ở trong cung cũng rất ít ai dùng chỉ vàng gấm dệt may y phục.

Chúng tần ngự luôn để ý tới phục sức của nhau, thấy Trương quý phi ăn mặc như vậy đều lấy làm hiếu kỳ, rất nhiều nương tử trẻ tuổi chạy qua ngắm nghía, miệng tán tụng không dứt, thậm chí còn đưa tay vuốt ve, mắt lộ vẻ ao ước hâm mộ.

Miêu thục nghi và Du sung nghi tuy không tiến lên quan sát, song cũng nghiêng đầu xem liền mấy lần, sau nữa, Du sung nghi không nhịn được hỏi Thu Hòa đi cùng: "Áo bào Trương nương tử mặc may bằng chất liệu gì đấy?

Hoa văn trông lạ quá."

Thu Hòa đáp: "Hình như là gấm đèn lồng đất Thục ạ...

Thiếp cũng chỉ nghe Sở thượng phục nhắc đến chứ trước nay chưa có duyên chiêm ngưỡng tận mắt bao giờ, không biết đoán có sai không."

Trương quý phi nghe thấy, rất lấy làm đắc ý, nói với Thu Hòa: "Đổng ty sức quả nhiên hiểu nhiều biết rộng, đây chính là gấm đèn lồng."

Thu Hòa cười nhẹ, khẽ cúi người với ả, không tiếp lời.

Kim thượng vốn chỉ im lặng coi xem, nghe Trương quý phi nói vậy mới hỏi ả: "Gấm đèn lồng không phải đồ trong cung, nàng có được từ đâu?"

Trương quý phi quay người về phía ngài, đổi phắt sang vẻ cụp mắt hiền ngoan, nhỏ nhẹ trả lời: "Gấm này do Văn Ngạn Bác sai người dệt nên khi còn là tri Thành Đô, sau ông ấy hồi kinh, phu nhân ông mới biếu nô tì ít thước."

Hai năm trước, thiên tai liên tiếp xảy ra, đê vỡ dân chạy, tể tướng Trần Chấp Trung bị diễn quan buộc tội không ra được quyết sách nào rõ ràng, chỉ biết trông chờ vào thuật sĩ bói toán, sau đó Trần Chấp Trung lấy cớ chân đau, từ chức bãi tướng, ra ngoài làm tri Trần Châu.

Tể tướng hiện nay chính là "Đại Tống" Tống Tường và Văn Ngạn Bác từng có công bình định.

Văn Ngạn Bác là bạn cũ của cha Trương quý phi, điều này trong cung ai ai cũng biết.

Phụ thân Trương quý phi Trương Nghiêu Phong từng là môn khách của Văn Ký, cha Văn Ngạn Bác, mấy năm nay Trương quý phi ra sức lôi kéo triều thần, muốn giành được sự phò trợ của sĩ phu, bèn nhân quan hệ này qua lại thế giao với Văn Ngạn Bác, nhận Văn Ngạn Bác làm bác trai, cũng thường xuyên liên lạc với phu nhân ông, tiết lộ tin tức trong triều cho bà ta, lấy đó giúp Văn Ngạn Bác tấn chức.

Làm tri Thành Đô được vài năm, Văn Ngạn Bác về triều, không bao lâu sau thì tham gia chính sự.

Sau, giáo đồ Di Lặc Vương Tắc dấy binh tạo phản ở Bối Châu, kim thượng vì chuyện Bối Châu gần sát kinh thành mà lo âu sâu sắc, một ngày nọ nói với hậu phi trong cung: "Đại thần chấp chính trong triều không ai chịu đứng ra phân ưu vì nước, hôm nào cũng lên điện diện thánh mà chẳng có ý diệt giặc bình định gì cả."

Trương quý phi lập tức sai Giả bà bà xuất cung thuật lại lời này cho Văn Ngạn Bác.

Ngày kế, Văn Ngạn Bác lên điện lập tức xin lệnh đi Bối Châu phá địch, kim thượng mặt rồng cả mừng, bổ nhiệm ông làm thống quân, suất lĩnh trọng binh vây công Vương Tắc.

Sau nữa, quả nhiên bắt được giặc bình được loạn, kim thượng bèn luận công ban thưởng, phong Văn Ngạn Bác làm tể tướng.

"Nàng và nhà họ Văn cứ như người một nhà thật ấy nhỉ, có cái gì tốt cũng không quên giữ lại cho nhau."

Kim thượng cười như không cười bảo quý phi.

Trương quý phi chẳng có vẻ gì là căng thẳng, mỉm cười đáp lại: "Văn tướng công tuy là bạn cố tri của phụ thân thần thiếp, nhưng cũng là trọng thần quốc gia, thần thiếp sao thể sai phái được ông ấy?

Tất thảy của thần thiếp đều thuộc về bệ hạ.

Văn tướng công bảo phu nhân biếu quà này cho thiếp, ngoài sáng là để thần thiếp may xiêm y, nhưng thực chất là dâng đặc sản đất Thục hiến tặng bệ hạ, tỏ lòng trung quân.

Lại nói, thần thiếp nhận được gấm đèn lồng là ơn phước bệ hạ ban tặng.

Thần thiếp cảm động khôn chừng, chẳng có gì để báo đáp, chỉ có thể bái tạ mà thôi."

Dứt lời uyển chuyển hạ bái kim thượng.

Kim thượng cũng đứng yên nhận lấy rồi đỡ ả bình thân, cười với ả, ôn hòa căn dặn: "Tấm áo này tuy đẹp nhưng thêu hoa chỉ vàng quá mức xa xỉ.

Mặc hôm nay thôi, về sau đừng mặc nữa."

Trương quý phi luôn miệng vâng dạ, lại liếc một vòng chúng tần ngự đang đợi xem ả bị kim thượng trách cứ, sóng mắt dập dềnh, đến là hả hê.

Tuy kim thượng lệnh ả về sau không được mặc áo gấm đèn lồng nữa, nhưng điều ấy cũng chẳng ảnh hưởng đến tâm trạng phô bày bộ cánh mới của ả hiện giờ.

Sau đó không ngừng nhẹ dời gót sen, đi qua đi lại trên lầu gác Tuyên Đức Môn, có một chốc bỗng dừng lại bên cạnh Miêu thục nghi, nghiêng đầu ngó váy dài Miêu thục nghi bận, chậm rãi nhả lời: "Đóa hoa thêu trên váy Miêu thục nghi nhìn độc đáo ghê."

Thêu trên váy bà là mấy đóa sen ngàn cánh.

Miêu thục nghi hiểu ý ả, bèn cười đáp: "Thiếp không biết hôm nay quý phi mặc áo bào có hoa văn hoa sen, chọn y phục không cẩn thận, có phần quá bổn phận, mong quý phi thứ tội.

Sau này trước khi ra cửa thiếp nhất định sẽ nghe ngóng cẩn thận, không để tái phạm sai lầm như hôm nay nữa."

Trương quý phi vờ vịt cười nói: "Ta chỉ khen mẫu hoa của Miêu tỷ tỷ đẹp thôi, không có ý gì khác, tỷ tỷ chớ hiểu lầm."

Vừa nói vừa chậm rãi bỏ đi, chuyển sang một chỗ ít người, tựa lan can nhàn nhã ngắm đèn màu kết núi, ngựa xe nườm nượp dưới lầu.

Ả thị uy với Miêu nương tử như thế hiển nhiên đã chọc công chúa bất mãn.

Công chúa gườm gườm nguýt quý phi một hồi rồi gọi Trương Thừa Chiếu lại, bảo hắn cúi đầu, ghé tai hắn nói mấy câu.

Trương Thừa Chiếu nghe rồi che miệng cười khì, lập tức gật đầu, rón rén lùi ra sau xuống lầu.

Ta nhỏ giọng hỏi công chúa bảo hắn đi làm gì, công chúa đáp: "Ta hơi lạnh, bảo hắn đi lấy áo choàng."

Đương nhiên, đây chắc chắn không phải lời thật, hai mắt nàng không giấu nổi ý cười.

Nhưng ta không truy vấn, dẫu sao, rất nhanh thôi là ta biết được đáp án rồi.

Mấy quả pháo bông được gọi là "chuồn chuồn lửa" thình lình bay phụt lên từ dưới Tuyên Đức Lâu, liên tiếp lao vào góc nghỉ chân của Trương quý phi.

Trương quý phi cả kinh ré lên, lùi ra sau tránh né, nhưng vẫn bị hai đốm lửa bắn lên người.

Kết quả là lớp gấm đèn lồng thêu chỉ tơ vàng cháy ra hai lỗ thủng ngay trên vai áo, khá là dễ thấy.

Trong khoảng thời gian ấy, công chúa tỏ ra rất ư vô tội, thậm chí còn rú hét theo Trương quý phi khi ả tránh chuồn chuồn lửa, bản thân cũng ôm đầu che mặt chạy tới chạy lui làm bộ né núp, liên tục la lên: "Á, á, sợ quá!"

Cuối cùng, trông thấy được dáng vẻ Trương quý phi hãi chưa dứt cơn, ôm ngực nhìn chằm chằm hai lỗ thủng trên gấm đèn lồng, nàng dừng lại, xoay lưng về phía mọi người, tựa trán lên ngực ta, nín tiếng cười gập cả eo.

8.

Tựa tiên

Giữa tháng Ba, ngoài cung truyền vào tin tức Ngụy quốc đại trưởng công chúa bệnh tình nguy kịch.

Ngụy quốc đại trưởng công chúa là con gái thứ tám của vua Thái Tông, cũng là người duy nhất còn tại thế trong số huynh đệ tỷ muội của vua Chân Tông, luôn được kim thượng kính mến.

Bà tuy là hoàng nữ cao quý, song lại hiền thục cung kiệm như nhân vật trong "Liệt nữ truyện", sau khi hạ giáng cho phò mã Lý Tuân Húc thì hiếu thuận với cha mẹ chồng, tôn trọng phu quân, đối xử với tỳ thiếp của phò mã cũng rất tử tế, coi con vợ lẽ như con mình.

Sau, phò mã Lý Tuân Húc tư thông với nhũ mẫu của đại trưởng công chúa, sau khi chuyện xảy ra, có ngôn quan kiến nghị phải nghiêm trị phò mã, thậm chí là tước tính mạng y.

Chân Tông lưỡng lự, bèn gọi đại trưởng công chúa đến, hỏi dò trước: "Ta có chuyện này muốn nói với muội, nhưng lại sợ..."

Còn chưa nói hết, đại trưởng công chúa đã kinh sợ hiểu ra, hỏi ngay: "Lý Tuân Húc không sao chứ ạ?", vừa nói vừa giàn giụa nước mắt, khóc ngã xuống đất.

Chân Tông bèn tha thứ cho Lý Tuân Úc, chỉ giáng y xuống làm Quân Châu đoàn luyện phó sứ.

Sau khi phò mã qua đời, đại trưởng công chúa không mặc xiêm y hoa lệ, cài trâm lộng lẫy nữa, thường ngày một lòng nuôi nấng con cái phò mã, dạy họ phải tuân thủ trung nghĩa, bởi vậy nên từ hoàng đế đến sĩ phu trong triều đều khen bà hiền đức, kim thượng còn lấy bà làm thí dụ mỗi bận dạy bảo công chúa giữ gìn phép tắc, tránh thói kiêu căng, tương lai cần tận đạo nữ tắc, kính trọng phu quân, trở thành mẫu mực nữ tử của thiên hạ.

Lần này, vừa nghe tình trạng bệnh của bà, kim thượng tức khắc sai chủ quản Ngự dược viện Trương Mậu Tắc dẫn thái y đến phủ đại trưởng công chúa khám bệnh, từ hoàng hậu, quý phi, công chúa trở xuống đều tới dinh bà chờ hỏi, vào thăm theo lễ người nhà, hoàng hậu tự mình bưng trà thuốc cho đại trưởng công chúa, thái độ cung kính như con trai con dâu bà vậy.

Thái y trở về tấu bệnh tình đại trưởng công chúa không ổn, kim thượng lập tức ngự giá đến phủ đại trưởng công chúa.

Đại trưởng công chúa bấy giờ ốm nặng, đã không thể nhìn thấy gì nữa, kim thượng đau buồn, rưng rưng ghé lại giường hôn lên mắt bà, người chung quanh thấy vậy đều rơm rớm ứa lệ.

Tiếp đó, kim thượng quay sang con cháu đại trưởng công chúa, hỏi họ có nguyện vọng gì chăng, ý muốn nhân đây thăng quan tấn tước, đại trưởng công chúa nằm trên giường lại khuyên răn con trai: "Há lại có chuyện mượn bệnh mẫu thân đòi quan gia ban thưởng?"

Sau, kim thượng thưởng ba ngàn lượng bạch kim, bà cũng kiên quyết từ chối không nhận.

Sau khi hồi cung, kim thượng hạ lệnh chiêu mộ lương y thiên hạ, hứa hẹn nếu trị khỏi được cho đại trưởng công chúa sẽ lập tức phong quan.

Đồng thời ban cho phủ đại trưởng công chữ ngự thư chữ vàng: "Đại Bi Thiên Thủ Nhãn Bồ Tát", còn lệnh công chúa tự tay sao chép trăm cuốn kinh thư cầu phúc cho bà...

Nhưng những việc làm ấy đều không thể kéo dài sinh mệnh cho đại trưởng công chúa.

Vài ngày sau, Ngụy quốc đại trưởng công chúa hoăng, kim thượng đích thân tới dinh bà khóc tế, ngừng lên triều năm ngày, truy phong bà làm Tề quốc đại trưởng công chúa, nghị bàn định thụy hiệu là "Hiến Mục".

Để tỏ lòng tiếc thương, kim thượng thậm chí còn hạ chiếu không ăn mừng tiết càn nguyên, tể thần đều phản đối, nói không mừng ngày sinh của thánh thượng là không may mắn, kim thượng nghe đó mới thôi khăng khăng.

Do đại trưởng công chúa qua đời, tiết càn nguyên tháng Tư cũng chẳng còn náo nhiệt được như năm ngoái, tuy trình tự lễ nghi vẫn y hệt, nhưng thần sắc hoàng đế ảm đạm, những người khác cũng không thể tươi cười vui vẻ như trước đây.

Lễ mừng thiên tử giáng thế, theo lệ, tể thần suất lĩnh bá quan văn võ xếp đội tới dưới Tử Thần Điện, bái lạy chúc mừng, sau đó, tể thần nâng chung vào điện kính hoàng đế vạn thọ.

Lễ xong, hoàng đế ban thưởng canh trà cho bách quan, sau đó di giá vào trong cung, lúc này hoàng hậu đã dẫn chúng mệnh phụ kính cẩn chờ đợi trong ngoài Phúc Ninh Điện.

Hoàng đế vào điện rồi, mệnh phụ sẽ bái lạy chúc mừng, phu nhân tể thần cũng có vinh dự được nâng chung vào điện chúc thọ hoàng đế, rồi buộc khăn la hồng đính tua vàng lên cánh tay thiên tử, tỏ ý chúc phúc.

Sau đó, chúng phu nhân một lần nữa hạ bái rồi rời đi, tiệc rượu bày ở hành lang mé trái điện, tiếp sau nhạc lễ vang lên, tiệc ngự khai cỗ.

Hôm ấy, vị phu nhân tể thần thực hiện lễ nâng chung là phu nhân của Văn Ngạn Bác.

Nâng chung chúc mừng xong, có nội thần dâng khăn la hồng đính tua vàng lên, phu nhân Văn Ngạn Bác nhận lấy, theo nghi thức buộc lên cánh tay kim thượng.

Đợi bà buộc chắc rồi, kim thượng bất ngờ hỏi một câu: "Khăn la này là gấm đèn lồng?"

Thoạt tiên, Văn phu nhân sửng sốt, kế tiếp mặt đỏ tía tai, cúi người nói: "Thần thiếp sợ hãi..."

Kim thượng mỉm cười, giọng hòa nhã: "Không sao, mời phu nhân vào chỗ."

Văn phu nhân bái tạ, cúi đầu lui ra.

Sau là mở tiệc, qua mỗi tuần rượu đều có ca múa đàn sáo và tạp kịch (*) từ khúc trợ hứng, nhưng kim thượng xem mà chẳng dậy nổi hứng thú, nghiêng đầu nói với hoàng hậu: "Hiến Mục công chúa quy tiên chưa được bao lâu, nghe mấy màn vũ khúc của giáo phường cứ cảm thấy đinh tai nhức óc."

(*) Tạp kịch là một kiểu hài kịch thời Tống – Nguyên, phát triển thành hí khúc, mỗi vở có bốn màn, đôi lúc giữa các màn còn có phần đệm, mỗi màn dùng lời thoại và bắc khúc cùng vần cùng điệu, chủ yếu lưu hành ở Đại đô tức Bắc Kinh ngày nay.

Hoàng hậu kiến nghị: "Hay là tạm dừng hợp tấu, chỉ lệnh một, hai người thổi sáo tiêu thôi ạ, như vậy vừa có tiếng nhạc mà cũng không đến mức đinh tai nhức óc."

"Sáo tiêu à..."

Kim thượng trầm ngâm, lại như nhớ đến điều gì, nét mặt ngài dần hé nở một nụ cười nhàn nhạt, "Nhớ có một năm vào tiết càn nguyên, Tào lang cũng từng dùng sáo rồng thổi 'Thanh bình nhạc' trên điện, Đỗ cô nương lấy không hầu hòa theo.

Tiếng sáo trầm bổng réo rắt như trúc trong gió, không hầu kỳ ảo thanh thoát như nước sông băng, tiếng hai loại đàn lúc phân lúc hợp, giao quện ăn ý, êm tai vô cùng, dư âm như hãy còn văng vẳng bên tai vậy."

Hoàng hậu cũng mỉm cười: "Khi đó em trai thần thiếp mới chỉ là thiếu niên mười mấy, giờ đã chẳng tiện lên điện diễn tấu hiến dâng bệ hạ nữa rồi.

Huống hồ, nơi này cũng khó mà tìm được một Đỗ cô nương..."

Kim thượng gật đầu, giọng rầu rầu: "Phải, giờ nghĩ lại cũng chỉ có thể cảm thán rằng lẽ ra khúc ấy nên hiện thế mà thôi."

Như thường lệ, công chúa ngồi gần bên đế hậu, nghe đến tên Tào Bình, hai mắt nàng như nước bích hồ dưới nắng xuân chiếu rọi, lấp lánh xán lạn, lúng liếng rạng rỡ.

Lúc này đang vô cùng quan tâm đến vẻ mặt của kim thượng, nàng nhìn ngài chằm chằm không chớp mắt lấy một cái, chờ đợi phản ứng của ngài.

Kim thượng cũng khá hứng thú với kiến nghị này, bèn hỏi hoàng hậu: "Cậu Bình hôm nay cũng vào cung à?"

Hoàng hậu đáp: "Dạ, hiện đang theo phụ thân nó dự tiệc dưới Tử Thần Điện."

Kim thượng lập tức bảo Nhậm Thủ Trung đứng hầu bên mình sai người đi mời Tào Bình, nghĩ ngợi rồi lại hỏi Trương Duy Cát: "Nữ tử trong giáo phường ai giỏi không hầu nhất?"

Trương Duy Cát thưa: "Tài nghệ không hầu của tiên thiều phó sứ (*) Lư Dĩnh Nương nghe được lắm ạ."

(*) Tên một chức nữ quan bát phẩm làm việc cho dàn nhạc cung đình.

Kim thượng bèn sai người bày không hầu lên điện, tuyên Lư Dĩnh Nương vào để lát nữa hợp tấu cùng Tào Bình.

Chốc sau, có nội thần dời không hầu của giáo phường vào một góc đại điện, không hầu cao chừng ba thước, hình dạng như chiếc lược gỗ bán nguyệt, sơn đen khắc hoa thếp vàng làm trang trí, căng hai mươi lăm dây, phía dưới có bục ngồi.

Lư Dĩnh Nương và Tào Bình lần lượt vào điện, thi lễ với đế hậu, sau khi lĩnh mệnh tấu "Thanh bình nhạc", hai người lui sang một bên, nhỏ giọng thảo luận chi tiết phối hợp hòa tấu, sau đó ai vào vị trí nấy.

Lư Dĩnh Nương quỳ ra sau không hầu, cúi đầu cụp mi, giao tay chuẩn bị gảy dây, còn Tào Bình thì nhận lấy cây sáo rồng tám lỗ ngự tứ, cầm trong một tay mỉm cười đứng tại giữa điện, chưa thổi ngay mà yên lặng đợi không hầu cất tiếng.

Sau một thoáng tĩnh lặng, mười ngón tay Lư Dĩnh Nương thoắt múa, một chuỗi tiếng nhạc như những viên ngọc va chạm lẫn nhau, như dòng suối chảy trên ngọn đồi tuyết tức thì vang lên, "Thanh bình nhạc" là từ khúc đã được giáo phường tấu diễn rất nhiều lần bằng khèn và tỳ bà, lúc này được diễn dịch qua không hầu, rót vào tai nghe xuất trần đến lạ, tựa tiếng trời trên mây.

Tào Bình đợi cô tấu hết một đoạn mới từ từ đưa sáo lên bên môi.

Không hầu tạm dừng âm, một giai điệu êm ái như gió nhẹ hiu hiu vút lên, nối tiếp du dương bay vào thinh không nơi đại điện, tựa một tia hơi nước xông hương mỏng manh toát ra từ mõm tượng thú vàng, tiếng nhạc như mang theo hơi thở hoa cỏ buổi tinh mơ, yên ả khoan khoái mà triền miên dai dẳng, bảng lảng uốn lượn, dụng tâm nghe kĩ sẽ cảm thấy tâm tư cũng theo đó bay bổng trong mây.

Tấu đơn hoàn tất, hai người bắt đầu hợp tấu, tiếng sáo và không hầu giao pha quấn quít, lại tựa phù dung mướt sương, lan thơm đón gió, người nghe đều nín thở yên tĩnh lắng nghe, khi thì như chạm tới gió thoảng mưa bụi, chốc lại như đứng dưới trăng lạnh mờ tỏ.

Hơn nữa, không chỉ có tiếng nhạc làm rung động lòng người, hai nhân vật tấu nhạc cũng quá đỗi tươi đẹp.

Phong tư của Tào Bình thì khỏi phải bàn nhiều, Lư Dĩnh Nương cũng chỉ tầm đôi tám, dáng dấp yểu điệu, mày tựa núi xa, mắt hàm thu thủy.

Trong lúc thổi sáo, Tào Bình đã nhiều lần liếc cô giữa những đoạn ngắt nghỉ, mà cô cũng từng trộm ngó Tào Bình, đến lúc ánh mắt chạm nhau, một nét son hồng phớt hờ đôi má.

Có điều, cảnh tượng này lại khiến công chúa không vui, sau cùng, nàng dứt khoát quay đi không xem Tào Bình nữa, cụp mắt mím môi, giận dỗi ra mặt.

Tấu xong một khúc, kim thượng khen: "Cậu Bình còn nhỏ tuổi mà đã học được quá nửa tuyệt kỹ cha mình rồi, tấu cùng Dĩnh Nương khúc này khá lắm, nghe ra có chút ý tứ núi trống mây ngưng."

Chúng tần ngự đều hùa theo tán thưởng, chỉ duy công chúa không nói câu nào.

Giữa chừng Tào Bình nhìn nàng mấy lần như đợi nàng đánh mắt ra hiệu, song nàng một mực mặt lạnh ngồi thẳng, mắt dõi ra trước, quật cường không chịu liếc cậu mảy may.

Mấy ngày liền sau đó đều không nghe thấy nàng nhắc đến cái tên Tào Bình hay những chuyện liên quan nữa, mãi cho đến một ngày, nàng dạo chơi tới bên Dao Tân Trì, ngẩn ngơ đưa mắt nhìn liễu khói xa xa, một lúc lâu sau, bỗng xoay phắt lại nói với ta: "Ta muốn học không hầu."
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 6: Gác châu không người hè đằng đẵng


1.

Ngự sử

Ta chuyển cáo mong muốn của công chúa với Miêu thục nghi, nghe xong, bà cười: "Nó mà chịu học tử tế ấy à?

Chắc chắn là nhăng nhít được hai ngày rồi lại vứt ra sau đầu, chẳng động đến nữa cho mà xem."

Nói thì nói vậy nhưng bà vẫn đề cập việc này với hoàng hậu, hoàng hậu bèn sai người chọn nhạc sư thiện tấu không hầu dạy cho công chúa.

Kết quả hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Miêu thục nghi, kể từ khi bắt đầu học đàn, không ngày nào công chúa không tập, còn coi đó là chuyện quan trọng nhất, cơ hồ dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi cho không hầu, thế nên chỉ mấy tháng sau, nàng đã có thể đàn rất ra dáng.

Thoạt đầu, công chúa không nhạy cảm lắm với chuẩn âm, có lần nàng một mình luyện tập, ta đứng bên cạnh nhắc sơ rằng có mấy dây hình như chỉnh chưa đúng, nàng bèn chỉnh từng chút một, bảo ta nghe giúp mình.

Sau, mỗi lần luyện tập đều đòi ta xác nhận chuẩn âm trước, để thuận tiện hơn, ta tìm một cây sáo, học thang âm cơ bản, lúc nàng chỉnh dây thì thổi âm tương ứng cho nàng tham khảo.

Công chúa rất hài lòng với cách dạy âm này, lại hào hứng kiến nghị ta học thổi sáo, tương lai đệm nhạc cho mình.

Ta biết nàng rất mong đợi một ngày có thể hợp tấu cùng Tào Bình, trước đó có thể sẽ lấy ta làm đối tượng luyện tập.

Đối với ta, dự tính ấy cũng chẳng lấy gì làm khoái chá, song vẫn tiếp nhận đề nghị của nàng, học sáo với nhạc sư.

Chỉ cần nàng vui là được.

Kim thượng rất hứng thú với chuyện công chúa học không hầu, ba phen mấy bận muốn xem công chúa diễn tấu mà công chúa mãi chưa chịu bằng lòng, đang luyện tập mà kim thượng đột ngột giá đáo, nàng cũng sẽ lập tức ngừng lại, không cho phụ thân nghe tiếng đàn không thuần thục của mình.

"Đợi con gái đàn kha khá bùi tai rồi sẽ mời cha tới nghe."

Nàng nói với kim thượng.

Tháng Tám năm Hoàng Hựu thứ ba, vào sinh nhật Miêu thục nghi, dưới sự yêu cầu của mẫu thân, rốt cuộc nàng cũng lấy đủ dũng khí, chuẩn bị diễn tấu không hầu dâng phụ thân sau bữa tiệc trưa ở Nghi Phượng Các.

Nhưng hôm ấy, đợi mãi đến chính ngọ mà vẫn chưa thấy kim thượng giá lâm.

Mấy nương tử tới đây chúc thọ Miêu thục nghi chờ lâu đều nhìn nhau, tràn ngập nghi hoặc.

Cuối cùng, Du sung nghi không nhịn được nói ra: "Không phải là tan triều xong lại bị Ninh Hoa Điện mời đi rồi đấy chứ?"

Miêu thục nghi cười gượng: "Hôm qua quan gia đã bằng lòng tới xem công chúa đàn không hầu...

Dẫu không cho ta mặt mũi thì chuyện của con gái ngài vẫn sẽ để ý."

Mặc dù nói vậy, song có vẻ bà cũng chẳng quá chắc chắn, sau cùng vẫn kêu Trương Thừa Chiếu, bảo hắn đi Thùy Củng Điện nơi kim thượng lên triều hôm nay xem thử.

Chốc sau, Trương Thừa Chiếu trở về, nói quan gia vẫn đang nghị sự cùng quần thần trong điện.

Miêu thục nghi thở phào, cười với chư nương tử: "Chẳng biết đám quan lại này lại không cho quan gia làm việc gì đây, nấn ná lâu quá thể."

Trương Thừa Chiếu bẩm tiếp: "Thần thấy Trương quý phi sai một tiểu hoàng môn đợi sau bình phong trong Thùy Củng Điện, liệu rằng việc nghị sự hôm nay có liên quan tới nhà mẹ đẻ của quý phi."

Chư nương tử tức khắc trao đổi ánh mắt.

"Chẳng lẽ cô ả lại xúi bẩy quan gia thăng quan cho bác trai mình, làm hại quan gia hôm nay lên điện cũng bị Bao Chửng phun nước bọt đầy mặt?"

Chư nương tử nghe thấy đều phì cười.

Kể từ bận trước bác trai Trương quý phi Trương Nghiêu Tá được bổ nhiệm làm tam ty sứ, chấp chưởng quyền hành tài chính, chư thần rất bất mãn, ngôn quan đã nhiều lần dâng sớ vì chuyện này.

Tháng Tám năm ngoái, thị ngự sử tri tạp sự Hà Đàm lấy lí do phụng dưỡng mẹ già, tự xin ra ngoài tri Hán Châu.

Trước khi đi đã dâng sớ vạch tội Trương Nghiêu Tá, nói ông ta đột ngột được sủng dụng chỉ là bởi có thân thích ở hậu cung chứ chẳng phải có năng lực thực sự.

Tam ty sứ quyền cao chức trọng, thăng lên nữa chính là cương vị tể chấp nhị phủ.

Hà Đàm chỉ ra, bổ nhiệm Trương Nghiêu Tá làm tam ty sứ đã là tham gia vào chính sự, nếu vào nhị phủ ắt khó dẹp yên thiên hạ phê bình.

Cuối cùng, y khuyên kim thượng lấy xã tắc làm trọng, nên đối đãi với Trương Nghiêu Tá như với Lý Dụng Hòa, chỉ lấy phú quý không mượn thực quyền, chớ vì sủng ái một người mà mất lòng thiên hạ.

Kim thượng bèn nảy ra ý định bãi chức tam ty sứ của Trương Nghiêu Tá, Trương quý phi dò được ý ngài, liền một lần nữa xin chức cho bác trai, muốn kim thượng phong Trương Nghiêu Tá làm tuyên huy sứ.

Tuyên huy sứ cũng là một chức quan cực kỳ quan trọng, dưới xu mật sứ, trên xu mật phó sứ, tổng quản chư ty đại nội, ba ban điện tiền và danh tịch nội thị, cùng các sự vụ bổ nhiệm điều chuyển, tố giác vạch tội.

Ngoài ra, các nghi lễ cúng tế, triều hội, tiệc rượu cùng chi phí sử dụng cho những dịp này và vật phẩm tiến cống trong ngoài cũng do Tuyên huy viện kiểm tra.

Đó là một vị trí đáng kính bổng lộc cao, hơn nữa còn có thể mượn cơ hội tổng quản nội chư ty can thiệp vào sự vụ trong cung, bởi nguyên nhân ấy nên Trương quý phi mới ra sức khuyên kim thượng phong bác trai ả làm tuyên huy sứ.

Sau, kim thượng rốt cuộc bằng lòng.

Ngày tuyên chiếu điều quan, Trương quý phi tiễn ngài tới tận trước cửa đại điện, xoa lưng ngài dặn đi dặn lại: "Quan gia đừng quên chuyện tuyên huy sứ hôm nay đấy nhé."

Kim thượng cũng luôn miệng đáp lời, lên điện tuyên bố bãi chức tam ty sứ của Trương Nghiêu Tá, đổi sang phong ông ta làm tuyên huy nam viện sứ, hoài khang tiết độ sứ, cảnh linh cung sứ và đồng quần mục chế trí sứ.

Không ngờ vừa hạ chỉ đã làm dậy lên một hồi sóng to gió lớn.

Rất nhiều quan viên tỏ ý phản đối trên điện, kim thượng bỏ ngoài tai.

Sau khi bãi triều, ngự sử trung thừa Vương Cử Chính giữ bách quan chư ty lên triều trước đó lại đi gặp mặt can gián hoàng đế, cũng suất lĩnh tất thảy quan viên Ngự sử đài và gián quan Gián viện lên điện khuyên can.

Trước nay chư ty luôn luân phiên lên điện nghị sự, không phải ai cũng đến mỗi ngày, chuyến này đài gián liên hiệp lên điện khuyên can tập thể là việc trăm năm khó gặp.

Kim thượng đã sẵn bực dọc mà Vương Cử Chính, Bao Chửng, điện trung thị ngự sử Trương Trạch Hành, điện trung thị ngự sử lý hành Đường Giới và gián quan Trần Húc, Ngô Khuê còn thay nhau tiến lên, cao giọng khuyên ngài thu hồi mệnh lệnh đã ban, tư thái không đạt được mục đích nhất định sẽ không thôi.

Trong đó, lời lẽ của Bao Chửng là quyết liệt nhất, mắng thẳng Trương Nghiêu Tá "không biết xấu hổ, là vết nhơ của triều đình, quỷ sứ giữa ban ngày", rồi đem đạo lý ra thuyết phục kim thượng: "Chức tước phong thưởng là dành cho quan lại thiên hạ, không thích hợp thăng tấn cho thân thích hậu cung, kẻ xoàng xĩnh tầm thường lại được ân sủng hậu sẽ khiến trung thần nghĩa sĩ lạnh lòng nản chí."

Ông nói một hơi liền tù tì mấy trăm lời, cảm xúc kích động, vừa nói vừa tiến tới trước ngự tọa, nước bọt văng thẳng lên mặt hoàng đế.

Kim thượng không tiện tránh né, trước mặt bao người mà giơ tay áo lên che cũng không hay, buộc lòng nhẫn nhịn.

Vất vả chờ đến khi ông nói xong mới đập bàn, vứt xuống một câu: "Về sau đài gián lên điện phải báo trung thư xin ý chỉ trước." rồi lạnh mặt rời đi.

Trương quý phi đã sai tiểu hoàng môn canh chừng sau điện từ trước nên biết chuyện Bao Chửng mạo phạm can gián, vội ra nghênh kim thượng bái lạy tạ tội.

Bấy giờ kim thượng mới giơ tay áo lau mặt, trách cứ ả: "Ban nãy Bao Chửng xông lên trước nói, phun nước bọt vào thẳng mặt ta.

Nàng chỉ biết đòi mỗi tuyên huy sứ, tuyên huy sứ, chẳng lẽ lại không biết Bao Chửng là ngự sử sao?"

Câu ấy ra khỏi miệng lại thành danh ngôn truyền khắp thiên hạ.

Sau đó, kim thượng tuyên bố bãi chức tuyên huy nam viện sứ và cảnh linh cung sứ của Trương Nghiêu Tá, đồng thời bổ sung thêm một ví dụ chứng minh cho mỹ danh chịu nghe can gián của ngài.

Ngoài ra, việc này cũng tăng thêm trò cười cho chư nương tử mỗi bữa nhắc đến Trương quý phi.

Nhưng giờ khắc này trong Nghi Phượng Các, hai câu tiếp theo Trương Thừa Chiếu bẩm lại khiến nụ cười của chư nương tử cứng lại trong nháy mắt: "Nói không chừng Du nương tử đoán trúng thật đó ạ.

Vừa rồi thần tới Thùy Củng Điện, lúc tới gần bình phong đại điện có nghe thấy đại thần trên điện liên tục nhắc đến 'tuyên huy nam viện sứ', hình như cũng có ai đó nói Trương Nghiêu Tá thế này thế kia, có thể quan gia lại đang lần nữa cân nhắc điều chuyển Trương Nghiêu Tá làm tuyên huy sứ."

2.

Triều can

Miêu thục nghi kinh ngạc, hỏi Trương Thừa Chiếu: "Chuyện tuyên huy sứ bận trước đã ầm ĩ vậy rồi mà sao quan gia lại nhắc lại vậy?"

Trương Thừa Chiếu đánh mắt hướng Ninh Hoa Điện, nói: "Ắt là có người ghé tai ngài thổi gió thôi ạ."

Miêu thục nghi hỏi lại: "Lần này toàn bộ quan viên đài viện có còn lên điện phản đối nữa không?"

Trương Thừa Chiếu xua tay: "Thần cũng muốn giúp nương tử xem, tiếc rằng vào đại điện từ cửa sau, mới tới gần bình phong đã bị nội thị điện đầu trông chừng ở đấy quát ra...

Nhưng tiểu hoàng môn Trương quý phi phái đi lại đứng đó..."

Miêu thục nghi ngẫm nghĩ rồi bảo công chúa: "Huy Nhu, con dẫn Hoài Cát với Thừa Chiếu sang Thùy Củng Điện, đợi cha con bãi triều thì đón ngài qua đây."

Công chúa ưng thuận, gọi ta cùng ra ngoài.

Miêu thục nghi nháy mắt với Trương Thừa Chiếu, Trương Thừa Chiếu ngầm lĩnh hội gật đầu, khom người lui đi.

Ra tới sân rồi hãy còn nghe đằng sau có vị nương tử oán thán: "Lần này đừng có để ả được như ý thật đấy chứ.

Bác trai ả mà làm tuyên huy sứ thì sau này chẳng phải chúng ta đến chọn ai sai bảo, điều chuyển ai đi cũng phải xem sắc mặt ả sao?"

Trước sau Thùy Củng Điện đều có cửa, sau ngự tọa có tường chắn, hai bên đặt bình phong, hoàng đế và nội thị trong điện ra vào cung cấm từ cửa sau.

Công chúa dẫn ta và Trương Thừa Chiếu tới bên một bình phong đợi, nội thị điện đầu đứng trực thấy là công chúa nên không tiện ngăn cản, ngược lại, công chúa trông thấy tiểu hoàng môn của Trương quý phi canh tại đây, bất giác nổi xung, thấp giọng nạt: "Ngươi ở đây làm gì?

Muốn dò la chính sự trong triều phỏng?"

Tiểu hoàng môn sợ hãi, đến nói cũng chẳng dám cất lời, vội vã lui ra ngoài.

Đúng lúc này, chợt nghe trên điện có người cao giọng: "Bệ hạ!

Trương Nghiêu Tá bãi chức tuyên huy sứ mới hơn nửa năm lại vẫn ngồi yên trong kinh sư vốn đã bị người người chỉ trỏ, nay bệ hạ phục chức tuyên huy sứ cho ông ta, miệng tiếng thiên hạ sôi trào, nhiếc móc thêm nặng, thực thi theo lệnh ắt sẽ tổn hại đến thánh đức.

Nếu bệ hạ không chấp nhận lời thỉnh cầu tận trung ái quốc của thần, nhất định phải lạm thưởng cái lễ kẻ cắp này cho Nghiêu Tá, thần lập tức cầu xin bệ hạ biếm thần ra khỏi kinh, lấy đó cảnh cáo những kẻ chính trực xuẩn ngốc không biết thế nào là kiêng kị."

Y cao giọng nói lời này rất có khí thế hạ mình đòi vua.

Công chúa nghe được sáp ngay lại gần bình phong, xuyên qua khe hở ngó vào trong, lát sau quay đầu nói với bọn ta: "Người đó là ai vậy?

Còn bỏ mũ ô sa xuống thật luôn kìa."

Ta và Trương Thừa Chiếu cũng nhìn thử, thấy người nọ tuổi ngoài bốn mươi, mặc phục sức ngự sử trung thừa, chắc hẳn chính là Vương Cử Chính.

Lúc này, y đang quỳ trong điện, đã bỏ mũ ô sa ra, giơ cao khỏi đầu, nhắm mắt cúi mặt, yên lặng đợi kim thượng tỏ thái độ.

Mà kim thượng thì vẫn duy trì ngữ điệu ôn hòa, trấn an y: "Trẫm biết khanh hiền đức chính trực, nhưng có lời can gián thì thong thả mà nói là được rồi, hà tất phải như vậy.

Chuyện của Nghiêu Tá ban nãy trẫm đã giải thích đi giải thích lại rồi, lần này tuy bổ nhiệm ông ta chức tuyên huy nam viện sứ, song đồng thời cũng điều ông ta ra ngoài tri Hà Dương, coi như tuyên huy sứ tại ngoại, chẳng qua chỉ là thêm cái chức khen thưởng cho công trạng của ông ta mà thôi, ra ngoài làm tri rồi cũng đâu thể can thiệp được vào sự vụ trong cung hay trong triều, các khanh có thể an tâm."

Ngài vừa dứt câu, lại có một quan viên đứng dậy, cầm hốt khom người, nghiêm mặt: "Bệ hạ, chức vụ tuyên huy gần với nhị phủ, bất kể nội ngoại.

Trương Nghiêu Tá cậy ân sủng dày nặng, lấy cách thức xúc phạm tổ tông mưu toan thứ chẳng thuộc về mình, nhiều lần xin chức cầu thưởng với bệ hạ.

Nếu làm tuyên huy sứ tại ngoại, nay có ra ngoài lĩnh trấn thì tương lai tất cũng sẽ cầu được về triều hòng đảm đương chức vụ bản viện, ấy là trọng trách ngang ngửa sứ tướng, bệ hạ không thể không cân nhắc thật kỹ."

Người này mặc công phục màu lục, hiển nhiên phẩm cấp không cao, tuổi cũng không lớn, xem chừng là một quan viên nhỏ thuộc Ngự sử đài.

Vừa rồi Trương Thừa Chiếu đã nhỏ giọng giới thiệu Vương Cử Chính với công chúa, giờ công chúa hỏi sang tay quan viên áo lục này, Trương Thừa Chiếu lại cũng không biết, bèn quay người thỉnh giáo nội thị điện đầu đứng một bên.

Nội thị điện đầu thoáng chần chừ, cuối cùng vẫn đáp: "Đó là điện trung thị ngự sử lý hành Đường Giới."

Công chúa quan sát quan viên trên điện một lượt, lại hỏi: "Bao Chửng là vị nào?"

Nội thị điện đầu đáp: "Hiện tại Ngự sử đài không xin được ý chỉ của hoàng đế thông qua trung thư thì không thể toàn đài lên điện, chỉ có thể luân phiên theo ngày, nên Bao Chửng không lên điện cùng được ạ."

Kim thượng trầm ngâm đôi chốc, sau đó trả lời Đường Giới: "Lần này dời chức, trẫm có bàn bạc trước với trung thư, tể chấp cũng thấy không phải là không thể."

Đường Giới lập tức bước lên một bước, nói: "Trương Nghiêu Tá cậy có ân sủng cá nhân, càng ngày càng càng lấn lướt, nhậm chức vụ hiện tại đã là thái quá, nếu không ghìm xuống thì chỉ e về sau quốc triều cũng sẽ xảy ra họa Dương phi.

Nếu dời chức là ý của tể chấp thì rất có khả năng họ không đếm xỉa tới tầm quan trọng của cơ nghiệp tổ tông, a dua chiều theo để củng cố ân sủng, đáng lý nên luận tội khiển trách."

Thấy kim thượng nhất thời chưa đáp lời, Đường Giới lấy từ trong tay áo ra một cuốn tấu chương, hai tay dâng lên, nói: "Trước đó chúng thần có vào trình bày với trung thư, xin được toàn đài lên điện, tể thần Văn Ngạn Bác không cho phép.

Thần tự xin cách chức điều ra ngoài, Ngạn Bác cũng không báo lên trên.

Che đậy tai thánh như vậy là để cầu bo bo giữ mình, đủ thấy ông ta có bao nhiêu gian nịnh.

Thần soạn lấy trát này, mời bệ hạ ghé mắt."

Kim thượng ra hiệu bảo Trương Mậu Tắc hầu hạ bên người đi xuống nhận trát.

Trương Mậu Tắc chuyển tới cho kim thượng, kim thượng mở ra xem, chợt nổi cơn thịnh nộ ném trát xuống đất, không đọc kỹ lại nữa.

Đường Giới không chút sợ hãi, tự đi lên nhặt trát, mở ra dõng dạc đọc: "Văn Ngạn Bác chuyên quyền, công tư bất phân minh, kết bè kết cánh với phường gian tà, trong khoảng thời gian tri Ích Châu đã biếu gấm hiếm điểm vàng vào gạ gẫm cung thất, nhờ đó mà được đề bạt chấp chính; sau đến Ân Châu dẹp giặc, thành công bắt hội với Minh Hạo, kế đó lên chức tể tướng; gian mưu đón hùa, công khai trọng dụng Nghiêu Tá, âm thầm cấu kết quý phi, hãm hại bệ hạ mang tiếng thiên vị hậu cung, thực tế là lo liệu kế sách cho mình..."

Kim thượng cao giọng quát ngừng, Đường Giới lại chẳng lý đến, một mạch đọc tiếp: "Kể từ khi Ngạn Bác một mình nắm giữ chính sách triều đình, các chức vụ được bổ nhiệm đa phần đều không qua bàn bạc tập thể, ân thưởng ban ra đều dính dáng đến hối lộ.

Các chức vị quan trọng từ tam ty, khai phủ, gián quan, pháp tự, lưỡng chế, tam quán, chư ty, đều từ môn hạ của ông ta mà ra, tiến cử lẫn nhau, cậy nhờ thanh thế, lấy xuất thân mà làm mình làm mẩy, khiến người khác không dám ý kiến về lỗi lầm của mình..."

Kim thượng một lần nữa đập bàn quát: "Câm miệng!"

Đường Giới vẫn làm như không nghe thấy, tiếp tục đọc từng câu rõ ràng: "Thần khẩn cầu khiển trách bãi chức Ngạn Bác, lấy Phú Bật thay thế.

Thần và Bật vốn không quen biết, tuyệt không phải nâng đỡ tư nhân..."

"Lý hành" ý là thực tập, trung điện thị ngự sử lý hành tư cách thấp mỏng, luận phẩm cấp thì còn chẳng bằng tòng thất phẩm trung điện thị ngự sử.

Phẩm cấp của Đường Giới thấp đến vậy mà lại chẳng sợ thiên uy, công nhiên chọc tức hoàng đế, biểu hiện thẳng thắn làm người trên điện trố mắt kinh hãi, ngay cả nhóm nội thị trong điện đã quen với ngôn hành kỳ quặc của đài gián cũng không kìm được hiếu kỳ, từng người tụ tập lại đằng này, tranh nhau dòm trộm vào trong điện.

Mà kim thượng thì đã tức đến độ hai bàn tay đặt trên bàn cũng run lên bần bật, chợt vung tay áo, trỏ thẳng vào Đường Giới, mắng: "Cái hạng đài quan tép riu nhà ngươi mãi một năm trước mới được điều từ nơi khác bổ sung vào kinh thành, ấy vậy mà lại dám tùy tiện làm xằng, công kích đại thần, gào rống trên điện, không sợ bị giáng chức đi lưu đày hả?"

Đường Giới không chút sợ sệt, ngẩng cao đầu chậm rãi đọc xong mấy câu cuối, thong dong gấp trát lại, rồi mới trả lời kim thượng: "Thần trung nghĩa công phẫn, dẫu cho tương lai có phải chịu hình vạc dầu cũng sẽ không tránh né, sao dám từ chối trách phạt biếm trục?"

Kim thượng lập tức gọi mấy vị tể tướng chấp chính ra khỏi hàng, mắt nhìn Đường Giới, nói với họ: "Đường Giới luận chuyện khác trẫm còn có thể tha thứ, nhưng giờ lại bảo Ngạn Bác nhờ có quý phi nên mới được chấp chính, nói cái gì vậy!"

Đường Giới không đợi tể chấp lên tiếng đã chỉ tay thẳng vào một vị bận áo bào tím, đeo đai vàng, buộc kim ngư trong đó, nói: "Ngạn Bác nên tự kiểm điểm lại đi, nếu lời ta nói là thật thì mời tự động giải thích với chúa thượng, không được khi quân dối vua!"

Vị đại thần ấy chính là Văn Ngạn Bác.

Dung mạo ông trang nghiêm, mặt ngăm đen, trước kia cũng rất nổi danh làm chính trị, quả thật không giống phường tiểu nhân gian nịnh.

Lúc này bị Đường Giới chỉ trích, không ứng tiếng ngay, chỉ cầm hốt cúi người bái tạ kim thượng.

Xu mật phó sứ Lương Thích nhìn không được bèn mở miệng quát Đường Giới: "Trên triều há lại có thể mặc ngươi hồ ngôn loạn ngữ!

Lẽ nào chức tể tướng phải được ngự sử nhà ngươi tiến cử mới có thể làm?

Còn không mau xuống điện ngẫm lại đi!"

Đường Giới vẫn kiên trì đứng trên điện không đi, trái lại còn quay đầu hùng hổ vặc trả Lương Thích: "Ta có nói thẳng phạm thượng thì ý cũng vốn là tận trung với nước.

Mà đám tiểu nhân các người thì chân chính cùng một giuộc với Ngạn Bác, cấu kết hành gian, hùa ý đế vương để cầu sủng.

Nếu thánh đức bị tổn hại, quốc gia xảy ra biến cố, ông có gánh vác được tội danh bậc ấy không?"

Công chúa xem mà líu lưỡi, thì thầm với ta: "Bây giờ chắc cha đang muốn đâm đầu vào cột rồng lắm đây."

Đúng lúc này, chỉ nghe trên điện vang dội một tiếng giòn giã, bọn ta không khỏi kinh ngạc, vội quay đầu lại xem – hóa ra là kim thượng hất cái giá bút bằng sứ men xanh đặt trên bàn trước mặt xuống.

"Người đâu," Ngài trấn tĩnh lại khỏi cơn thịnh nộ, giọng lạnh lùng: "Lôi Đường Giới xuống, điệu về Ngự sử đài xét tội."

Hai gã cấm vệ hầu ngoài điện ứng tiếng đi vào, tới cạnh Đường Giới, định kèm hai bên lôi y ra ngoài.

Đường Giới vung ống tay áo né ra, cười khẩy rồi tự xoay người sải bước ra khỏi cửa.

Vương Cử Chính trong điện như còn muốn biện giải thay y, song vừa mở miệng gọi "Bệ hạ" đã bị kim thượng giơ tay bảo ngừng, ra lệnh: "Ngươi cũng ra ngoài đi!"

Vương Cử Chính im lặng, đặt ô sa trong tay xuống đất, bái lạy rồi lui ra.

Văn Ngạn Bác đợi hai người đi rồi, lại xá kim thượng một lạy, nói: "Đài quan có nói gì cũng là chức trách của họ, mong bệ hạ rộng lượng với Đường Giới và Vương Cử Chính, chớ vì chuyện này mà thêm tội cho họ."

Kim thượng không bằng lòng, nhìn trái phải nói: "Trung thư xá nhân trực hôm nay là ai?

Mau gọi đến thảo chiếu cho trẫm: biếm trung điện thị ngự sử lý hành Đường Giới làm Xuân Châu biệt giá (*)."

(*) Chức quan phụ tá cho thứ sử một châu.

Xuân Châu thuộc Lĩnh Nam, là vùng đất khỉ ho cò gáy, quan viên bị trục xuất tới đó nhiều người đã chết trong thời gian nhậm chức.

Thái độ kim thượng lúc này rất kiên quyết, giận khó mà lường, quần thần cũng không giám xía vào can gián nữa.

Một lát sau, quan viên biên soạn ghi chép hằng ngày ghi lại ngôn hành của quân thần ngồi trong một góc đại điện gác cây bút trong tay xuống, đứng dậy, chậm rãi đi vào giữa điện.

Người này dáng cao râu đẹp, cử chỉ trang nhã, ta vừa nhìn đã nhận ra y là Thái Tương từng gặp nhiều năm trước.

Sau mấy năm bị điều ra ngoài vì làn sóng tân chính, y cũng giống như đa phần danh sĩ quán các bị trục xuất trong vụ án Tiến tấu viện trước đây, lại được vời về triều.

"Bệ hạ," Thái Tương khom người thưa, "Đường Giới quả thực bộc trực ngông cuồng, ngôn hành hôm nay quá mức vô lễ.

Nhưng dung nạp lời can gián tận tâm của thần tử là thịnh đức của đế vương.

Bệ hạ vẫn luôn chịu nghe can gián, đối tốt với ngôn quan, vậy nên thần cả gan xin bệ hạ nương tay tha tội cho Đường Giới, xử trí nhẹ nhàng."

Kim thượng cũng không muốn nhiều lời nữa, buông câu "Bãi triều" rồi đứng dậy vào trong.

Công chúa lập tức lùi lại, đứng ngoài cửa sau Thùy Củng Điện, đợi kim thượng ra ngoài thì tiến lên hành lễ vấn an nghênh đón.

Kim thượng thấy nàng, nhíu mày hỏi: "Sao con lại ở đây?"

Công chúa mỉm cười đáp: "Cha quên rồi ạ?

Hôm nay cha đã nói là sẽ đi Nghi Phượng Các xem con gái tấu không hầu."

"À," Kim thượng nhớ ra, nhưng vẻ mặt chỉ toàn là mệt mỏi, "Có thể dời sang hôm khác được không?

Cha rất mệt."

Công chúa hơi thất vọng, nhưng vẫn gật đầu ưng thuận: "Vậy cha về nghỉ ngơi trước đi ạ.

Khi nào muốn nghe thì lại bảo con gái."

Kim thượng gật đầu, rảo bước đi về phía Phúc Ninh Điện.

Công chúa nhìn theo ngài, bỗng lại cất tiếng gọi "Cha".

Kim thượng ngoái đầu: "Còn chuyện gì nữa?"

Công chúa lấy tay xoa ngực, khéo cười duyên dáng: "Hít sâu."

Kim thượng sửng sốt, chợt hiểu ra, nhìn con gái, sau cùng trên mặt cũng hé ra nụ cười.

3.

Tuyệt cú

Lần này, lời can gián của đài quan không có hiệu quả, kim thượng vẫn giữ nguyên chức tuyên huy nam viện sứ tại ngoại của Trương Nghiêu Tá, có điều, đồng thời cũng điều y đi tri Hà Dương, do đó ảnh hưởng của Trương thị với triều đình và trong cung cũng bị giới hạn, chư nương tử tuy bất mãn song cũng chẳng lắm lời oán thán như ngày trước.

Bởi nhóm ngự sử trung thừa Vương Cử Chính liên tục dâng sớ phản đối, nói hình phạt đối với Đường Giới quá nặng, nên kim thượng đã đổi địa điểm điều chức Đường Giới từ Xuân Châu sang Anh Châu khá hơn đôi chút.

Trung tuần tháng Mười, ta lại nghe được một tin tức khác qua Trương Thừa Chiếu: Kim thượng lệnh Trương Mậu Tắc hộ tống Đường Giới đi Anh Châu.

Ta rất ngạc nhiên, lập tức đi tìm Trương tiên sinh.

Khi ấy thầy đang thu dọn hành trang, cũng xác nhận tin tức này.

"Sao quan gia lại hạ lệnh như vậy ạ?"

Ta hỏi Trương tiên sinh, "Cách chức điều chuyển thần tử cũng đâu có lệ cử trung sứ hộ tống."

Trương tiên sinh nói với ta: "Điều kiện của Anh Châu tuy không tệ như Xuân Châu nhưng cũng nằm ở Lĩnh Nam, quan gia lo Đường Giới không quen thủy thổ, chết mất trên đường nên lệnh ta hộ tống dọc đường, để tâm chăm sóc, để y bình an nhậm chức."

Điều ta quan tâm hơn cả lúc này là Trương tiên sinh.

Lĩnh Nam non nước vời vợi, người đời đều sợ khí hậu chốn ấy, tuy mang danh là hộ tống nhưng nguy hiểm Trương tiên sinh phải đối mặt cũng chẳng kém gì Đường Giới.

Trong lòng có ngàn lời vạn chữ, cuối cùng lại chỉ hóa thành một câu vô cùng giản đơn: "Tiên sinh gắng bảo trọng."

Thầy hiểu thấu lòng ta, mỉm cười: "Đừng lo lắng.

Người làm nội thần đã hơn ba mươi năm như ta đây không cao quý thế đâu."

Đường Giới và Trương tiên sinh khởi hành chưa được mấy ngày thì kim thượng lại hạ một chiếu lệnh khác nằm ngoài dự đoán của mọi người: Bãi chức tể thần Văn Ngạn Bác xuống làm lại bộ thượng thư, quan văn điện đại học sĩ, tri Hứa Châu.

Có người nói đây là Văn Ngạn Bác vì chuyện gấm đèn lồng mà không dám ngồi yên tướng vị, tự mình xin từ, kim thượng thuận thế bằng lòng; cũng có người nói đây là quyết định kim thượng có ngay khi cách chức điều chuyển Đường Giới, song phương tranh chấp đều bãi chức, biểu thị công bằng.

Bất kể thế nào, hiệu quả cũng không tệ, dẹp yên ý kiến của chư thần về việc tể thần kết giao với hậu cung, người đời đều khen bệ hạ anh minh.

Một ngày nọ, ta theo công chúa đến Phúc Ninh Điện gặp kim thượng, khi ấy hoàng hậu cũng có mặt, đang cụp mắt cùng ngài thưởng thức một bức họa trên bàn.

Hành lễ xong, công chúa bừng bừng hứng thú đi qua xem, vừa thấy đã trố mắt: "Là Đường Giới!"

Ta lại gần đôi chút, đưa mắt nom, phát hiện ra trong bức họa đúng thật là chân dung Đường Giới.

"Huy Nhu cũng biết hắn?"

Kim thượng hỏi.

"À, không ạ."

Công chúa nhanh chóng chối bay, chỉ vào dòng chữ trên cuộn tranh: "Trên tranh viết tên y này."

Kim thượng cười, nói với hoàng hậu: "Đãi chiếu chọn vẽ lần này không tệ, nghe nói mới chỉ trông thấy Đường Giới được hai lần mà vẫn vẽ được tương đối giống."

Công chúa tò mò hỏi phụ thân: "Cha sai người vẽ chân dung Đường Giới là định treo ở Thiên Chương Các ạ?

Nhưng nghe nói chức quan y rất nhỏ mà..."

Trong Thiên Chương Các có treo tranh chân dung của lịch đại danh thần quốc triều, song phẩm cấp chức vị của Đường Giới rõ ràng là không đủ tư cách được chọn.

Kim thượng cười không đáp, gọi một cận thị qua, nhìn tranh chân dung Đường Giới, phân phó: "Đưa tranh này đến Ninh Hoa Điện, bảo quý phi treo trong gác."

Ta đứng một bên nghe, trên mặt tuy không biểu lộ bất kỳ cảm xúc gì nhưng trong bụng cũng thầm lấy làm khó hiểu, cơ hồ hoài nghi ngày ấy trên điện không hề diễn ra những gì đã thấy, cảnh tượng hoàng đế giận dữ quở mắng Đường Giới chỉ là ảo giác.

Mà sau đó, hoàng hậu mỉm cười, bày tỏ chút ý kiến của mình về Đường Giới với kim thượng: "Bệ hạ anh minh nhân hậu, quý trọng ngôn quan, tuy hỏi tội Đường Giới vô lễ phạm thượng nhưng vẫn tán thưởng sự trung thực của hắn, đã vẽ tranh cho hắn còn đặc biệt cử trung sứ hộ tống, dốc sức bảo vệ hắn chu toàn.

Nhưng quan viên đài gián biếm truất trước nay không có cái lệ ấy.

Một mai Đường Giới bệnh chết trên đường vì sương giá, bốn bể bao la, chân tướng trong đây lại chẳng thể báo rõ từng nhà, lỡ như tin báo tử truyền tới, thần dân nghĩ đến Đường Giới khi chết có người bệ hạ phái theo ở bên, chỉ e có kẻ sẽ lấy đó mà ngờ vực xằng bậy, phỉ báng triều đình khắp thiên hạ, hoặc làm tổn hại đến danh dự của bệ hạ."

Kim thượng ngẫm ngợi đôi lát rồi cười: "Cũng có hai thần tử nói vậy với ta.

Nếu hoàng hậu cũng nghĩ thế thì có thể thấy mối lo này quả thực có lý."

Ngài nhanh chóng hạ chỉ, sai người đuổi theo gọi Trương Mậu Tắc giữa đường trở về.

Mà sau đó, Đường Giới cũng bình an đến nơi nhậm chức, nhậm chức được xấp xỉ một tháng, kim thượng lại dời y sang làm Kim Châu đoàn luyện phó sứ, giám sát thuế rượu Sâm Châu, cho y triệt để rời khỏi Lĩnh Nam.

Tết nguyên tiêu năm Hoàng Hựu thứ tư, bầu không khí trong cung có phần khác với những năm trước.

Kim thượng triệu nội thần Đặng Bảo Cát bị biếm truất khỏi kinh trong sự kiện cung loạn năm Khánh Lịch thứ tám về, tuy chưa lập tức khôi phục chức vị nhập nội phó đô tri cho y ngay nhưng đã có vài lời vỗ về y, hứa hẹn ngày sau sẽ tiến hành thăng chức.

Đặng Bảo Cát vốn là lão nội thần triều Chân Tông, tính tình hiền hậu, quan hệ với người trong cung khá tốt, là bạn tốt của nhóm Trương Duy Cát, Trương Mậu Tắc và Bùi Tương, mà một người bạn cũ khác của y, nội thần Tôn Khả Cửu đã về hưu sau khi hay tin cũng từ ngoài cung chạy về gặp y.

Bữa tiệc trưa tết nguyên tiêu, kim thượng đặc biệt ban tọa cho mấy vị lão nội thần, tiệc xong lại thưởng canh trà, giữ lại nói chuyện phiếm.

Vì Đặng Bảo Cát trước đây từng nhậm chức Dĩnh Châu binh mã kiềm hạt, mà hai năm trước Âu Dương Tu lại chuyển sang tri Dĩnh Châu, hai người có nhiều qua lại, nên kim thượng liên tiếp hỏi y chuyện của Âu Dương Tu.

Đặng Bảo Cát nhất nhất trả lời, còn sai người mang bút mực tới, viết lại một vài bài thơ Âu Dương Tu sáng tác gần đây mà y nhớ được trình cho kim thượng xem.

Kim thượng xem xong tán thưởng hết lời, lại gọi công chúa qua, bảo nàng lưu tâm đọc phẩm.

Chủ đề chuyện trò sau đó liền tập trung vào thi từ.

Ngoài Bùi Tương ra, Tôn Khả Cửu cũng là một nội thần phong nhã thiện ngâm vịnh, có thi danh.

Khác với những hoạn quan thường thấy nhất trong cung, tính ông điềm đạm, không hứng thú với việc luồn cúi và tấn chức, mới qua năm mươi đã xin về hưu.

Nay xuất cung ra ngoài ở đã xây được nhà cửa, bắc phòng có vườn cây, nam thành có biệt thự.

Được ngày đẹp trời thì đánh xe con chở rượu, cuộc sống an nhàn thanh thản.

Đọc xong thơ Âu Dương Tu sáng tác, kim thượng cười nói với Tôn Khả Cửu: "Nghe nói sau khi xuất cung, Tôn ông thường ngâm xướng cùng danh sĩ, có thể ban ít tân tác cho thưởng thức chăng?"

Tôn Khả Cửu vội thưa "Không dám", lại nói: "Hôm nay vào cung, thần có đi một lượt trong cung, xem thiếp xuân trước cửa chư các.

Xem rồi thực sự hổ thẹn, thơ các học sĩ viết quả thật chữ nào chữ nấy đều là châu ngọc, tần suất câu hay cao hơn hẳn mấy năm trước.

Mấy bài thơ thần làm ẩu bây giờ cũng bị dọa cho chạy về hết rồi."

Bùi Tương nghe vậy cười nói: "Tôn tiên sinh khiêm tốn quá rồi.

Có điều thiếp xuân năm nay quả thực rất hay, đều nhờ có quan gia khai ân, triệu nhiều văn thần điều ra ngoài mấy năm trước về, thế nên lượng câu hay thiếp xuân cũng tăng lên đáng kể."

Tôn Khả Cửu thuận thế cảm thán hoàng ân mênh mông, kim thượng vuốt râu cười mỉm, nói: "Nịnh hót thì miễn đi.

Tôn ông khó có dịp vào cung, hôm nay viết một bức thiếp xuân tặng trẫm xem nào."

Tôn Khả Cửu ngẫm ngợi, lại nhìn Bùi Hành, con nuôi Bùi Tương, đứng sau lưng, đáp: "Quan gia đã có lệnh, thần tất nhiên không dám làm trái.

Xem cảnh tượng hôm nay quả thực cũng có một vế, nhưng vế sau thế nào thì chưa nghĩ ra.

Nghe nói A Hành được Sở Lão dốc lòng dạy dỗ, làm thơ cũng rất khá, không bằng nhờ cậu tiếp cho ta hai câu này."

Sở Lão là tên tự của Bùi Tương.

Bùi Tương nghe xong lắc đầu liên tục, nói: "A Hành nào biết thơ thẩn gì đâu, ngày thường buông ẩu dăm câu bất quá cũng chỉ là thơ con cóc mà thôi."

Kim thượng lại rất có hứng thú với kiến nghị của Tôn Khả Cửu, lập tức lệnh Bùi Hành liên cú với ông.

Bùi Hành mới chỉ là một thiếu niên mười lăm, tính tình thẳng thắn, cũng không chối từ, hào sảng gật đầu ưng thuận, nói với Tôn Khả Cửu: "Mời tiên sinh làm vế đầu ạ."

Tôn Khả Cửu cười nhấc bút, viết hai câu lên giấy: "Cò trắng bay về quanh Tử Thần, khèn reo trống dậy hương rượu thuần."

"Cò trắng bay về" mượn điển cố trong "Kinh thi – Chu tụng", ý rằng quân tử vào chầu, lấy lễ nghênh đón, dùng ở đây có ý ca tụng hoàng đế đối đãi thiện lành với hiền thần.

Kim thượng xem rồi gật đầu khen.

Tôn Khả Cửu bèn đưa bút vào tay Bùi Hành, Bùi Hành thoáng trầm ngâm rồi vung bút thành câu.

Công chúa canh bên cạnh, vừa xem vừa bám theo từng chữ đọc vế sau thành tiếng: "Gấm đèn lồng sang ai còn biếu, phấn hồng trong cung nhớ nịnh thần."

4.

Hoàng tôn

Giọng công chúa không lớn, nhưng cũng đủ để người chung quanh đều nghe rõ cả.

Liền ngay sau đó là một hồi thinh lặng vi diệu.

Nụ cười trên khóe môi người vây xem làm thơ hãy còn giữ nguyên, lại tạm thời không có bất kỳ lời lẽ gì, ai nấy đều vô tình cố ý, trong sáng ngoài tối lướt mắt về phía Trương quý phi ngồi hầu bên kim thượng.

Trương quý phi khẳng định cũng đã nghe thấy câu thơ của Bùi Hành.

Nếu là trước đây, đối với tiểu hoàng môn mạo phạm ả, ả có thể sẽ mở miệng nhiếc mắng, có thể sẽ ra hiệu cho nội thị bên người trách phạt thay mình, nhưng lúc này đây, đối mặt với tràng trào phúng ngay mặt chưa từng có này, bất ngờ thay, trong nhất thời ả lại không có bất kỳ hành động gì với Bùi Hành.

Sau cái lườm lạnh lùng ban tặng cho cậu bé, ả bắt đầu lẳng lặng nhìn chằm chằm vào kim thượng, thay thế khiếu nại và thỉnh cầu của mình bằng sự trầm mặc.

Vậy nhưng kim thượng lại chẳng nhìn đến ả.

Hoặc giả là có nhìn, nhưng chỉ dùng con mắt trong lòng.

Ngài không giận không bực, điềm tĩnh thản nhiên, ánh mắt chậm rãi dời từ tờ giấy viết thơ lên mặt Bùi Hành, sắc mặt như được hai con mắt trắng đen rõ ràng của cậu thiếu niên rọi sáng.

Sau cùng, khóe miệng ngài nhếch lên, nở hé một nụ cười ấm áp tựa nắng sưởi.

"Thơ hay."

Ngài nói.

Ngài thật sự vui vẻ nhận lấy câu thơ của Bùi Hành, thậm chí lúc Bùi Tương thay mặt con nuôi đứng ra thỉnh tội, mới nói được mấy chữ ngài đã ngăn lại, tiếp đó sai người lấy vài món đồ lặt vặt ban cho Bùi Hành và Tôn Khả Cửu.

Nhóm nội thần khi trước thầm nơm nớp cho Bùi Hành đều thở phào nhẹ nhõm.

Theo nụ cười hé rạng trên mặt kim thượng, công chúa cũng hí hửng vui lây, tự mình bày giấy bảo Bùi Hành viết cho một bộ thiếp xuân nữa.

Mọi người bao gồm cả kim thượng công nhiên khuếch tán bầu không khí hòa thuận vui vẻ bao phủ khắp nơi đây, đều coi Trương quý phi như người vô hình.

Ả tái mét mặt ngồi lặng trong phút chốc, cuối cùng phất tay áo đánh đổ ly rượu trước mặt cắt ngang tiếng cười trong điện, sau đó đứng lên trước cái nhìn chăm chú của mọi người, chẳng buồn thi lễ xin lui mà cứ thế thờ ơ ra ngoài.

Kim thượng cũng không nói gì, chỉ bảo người thu dọn sạch sẽ mảnh ly vỡ, một lần nữa cười với Bùi Hành đang cầm bút nghiêng đầu ngó mình, ôn hòa phân phó: "Viết tiếp đi."

Câu thơ của Bùi Hành nhanh chóng lưu truyền ra ngoài cung, rất được sĩ phu tán thưởng, trong kinh cũng có người chuyển bài thơ này thành ca dao truyền xướng, không bao lâu sau truyền ngược vào cung.

Thấy kim thượng công khai tỏ ý khoan dung với câu thơ này, cung nhân cũng chẳng kiêng dè gì nữa, thế là nhất thời, trong cung ngập tràn tiếng ca "Gấm đèn lồng sang ai còn biếu, phấn hồng trong cung nhớ nịnh thần".

Cuối cùng lại là hoàng hậu hạ lệnh cấm bài hát ấy.

"Văn Ngạn Bác làm chính trị có nhiều chỗ rất đáng khen ngợi, vả lại, nghe nói gấm đèn lồng là do phu nhân ông ấy tự làm chủ biếu quý phi, bản thân ông ấy trước đó cũng không biết.

Hai câu thơ này viết quá đáng rồi."

Sau, bà nói vậy, từ đó không cho phép người trong cung hát bài ca này nữa.

Trương quý phi chẳng vì thế mà nhận lấy ân tình của bà, vẫn thường xuyên có cử chỉ mạo phạm hoàng hậu như cũ.

Mà sau sự việc gấm đèn lồng, đối mặt với thái độ không thể dò đoán của kim thượng, ả có vẻ càng thêm lo được lo mất.

Đại khái là do sợ hãi thất sủng, ngay từ năm Hoàng Hựu thứ hai, ả đã xin kim thượng nạp em gái thứ tám của mình, phong làm Thanh Hà quận quân, nhưng cô em gái này ít nói trầm lặng nên cũng chẳng được sủng ái là bao, vì vậy, đến năm Hoàng Hựu thứ tư, ả lại đưa Chu cô nương, con gái nuôi vừa tới tuổi cập kê của mình, đến trước mặt kim thượng.

Chu cô nương thiện lương thuần khiết, lại là người kim thượng tận mắt trông coi lớn lên nên rất được kim thượng quan tâm, thụ phong làm An Định quận quân.

Tuy nhiên sau đó, tâm trạng Trương quý phi lại trở nên vô cùng bất ổn, kim thượng không gặp Chu cô nương mấy ngày, ả sẽ kiến nghị ngài đi thăm cô nhiều hơn, mà một khi kim thượng thật sự lâm hạnh cô, ả lại thường xuyên nổi sùng vô cớ, đôi lúc còn đánh chửi hạ nhân, thậm chí vin cớ mắng mỏ Chu cô nương.

Ngày ngày sầu lo như vậy, trạng thái cáu kỉnh cũng từng bước phá hủy sức khỏe của ả, mới tròn ba mươi đã bách bệnh quấn thân, mặt mày tiều tụy.

Hai năm sau, niên hiệu đổi thành "Chí Hòa".

Mồng bảy tháng Giêng hằng năm, con gái nuôi của hoàng hậu, Kinh Triệu quận quân Cao cô nương đều mang con cái của mình và Thập Tam Đoàn Luyện vào cung thăm hoàng hậu, năm nay cũng không ngoại lệ, vào cung từ sáng sớm, tụ họp với hoàng hậu cả một ngày.

Cao cô nương đã sinh hạ được hai con trai hai con gái, trong đó, hai vị công tử đều lần lượt được kim thượng ban tên là Trọng Châm và Trọng Minh, một cậu bảy tuổi, một cậu năm tuổi, cực kỳ kháu khỉnh, đường nét mặt mày na ná Thập Tam Đoàn Luyện hơn, công chúa yêu mến vô cùng, mỗi lần họ vào cung, công chúa đều chơi với họ thật lâu.

Dung mạo hai đứa bé này có đôi chỗ giống nhau, song tính cách lại hoàn toàn khác hẳn.

Mỗi lần vào cung, cậu bé Trọng Minh đều ngoan ngoãn ngồi bên hoàng hậu, hoặc để mặc các nương tử tranh nhau bế tới bế lui, chưa bao giờ khóc quấy, cũng rất yên tĩnh.

Còn Trọng Châm thì hoạt bát hơn nhiều, luôn sục sạo khắp nơi tìm đồ có thể nghịch chơi, một khắc cũng không chịu ngồi yên, lại rất ghét có ai bế mình, từ lúc mới học bước đi đã vậy, nương tử nào mà bế cậu, bất kể là ai, cậu cũng đều giãy xuống, nhất định đòi tự đi bằng được.

Lần này, một đĩa mứt quả lại bộc lộ sự khác nhau trong tính cách của hai người.

Trong điện, hoàng hậu ban cho họ mỗi cậu một đĩa mứt quả, đủ loại lê khô, táo dẻo, đào lát, mận đen, mộc qua Cát Uyển, lê núi, hoa hồng, còn kèm theo vài cục kẹo sữa, kẹo sư tử và kẹo ong Tây Xuyên.

Công chúa nhìn thấy, bèn cố ý cười chìa tay với Trọng Minh trong lòng hoàng hậu: "Trọng Minh, đem kẹo của con cho cô cô được không?"

Khi ấy, Trọng Minh đang nhón một viên mận đen chuẩn bị bỏ vào miệng, thấy công chúa nói vậy, lập tức đưa mận đen cho nàng.

Công chúa nhận lấy, ăn thật.

Trọng Minh trông thế lại nhặt một viên mứt quả khác cho nàng, sau còn thấy không đủ, dứt khoát nhào lên bàn, đẩy cả đĩa tới trước mặt công chúa.

"Cho cô hết à?"

Công chúa chỉ vào mứt quả hỏi.

Trọng Minh gật đầu, nhoẻn cười với cô cô.

Cậu sở hữu một đôi mắt dịu dàng êm ái tựa hồ nước mùa thu.

Công chúa cười xoa xoa hai má Trọng Minh, lựa lấy một miếng đào lát cho cậu ăn, sau đó lại quay sang trêu anh trai cậu: "Trọng Châm, mứt quả của con cũng cho cô cô được không?"

Kết quả là bị cự tuyệt thảm thiết.

Dừng tháo tách một quả cầu hương mạ bạc vàng bên màn gấm, Trọng Châm quay đầu, nhìn nàng chằm chằm nói thẳng: "Không phải Trọng Minh đã cho cô cô rồi ạ?"

"Chưa có đủ," Công chúa cười, "Khi còn bé cô cô không được ăn mứt quả, thế nên bây giờ muốn ăn bù lại thật nhiều."

"Vì sao không được ăn ạ?

Cô cô là công chúa, muốn ăn bao nhiêu mà chẳng được."

Trọng Châm hỏi.

Công chúa đáp: "Bởi vì ông ông không cho cô cô ăn."

"Sao ông ông lại không cho ạ?"

"Bởi vì hồi đó cô cô đang thay răng, ông sợ cô ăn mứt quả sẽ ảnh hưởng đến răng mọc."

"Ồ, vậy con cũng không thể cho cô cô ăn được."

Trọng Châm kiên định tỏ rõ thái độ của mình đến là nghiêm túc, "Ăn nhiều mứt quả răng sẽ bị đen, cô cô là con gái, răng đen xấu lắm, con không cho cô cô được đâu."

Câu này nói ra, người xem trong điện đều phì cười.

Công chúa cũng cười như nắc nẻ, vẫy tay với Trọng Châm: "Thằng quỷ con này!

Mau qua đây cho cô cô đét hai tay con."

Miêu thục nghi nghe vậy tự làm bộ đét công chúa một cái trước, cười mắng: "Còn không biết ngại à, con gái con đứa mười bảy tuổi rồi còn tranh mứt kẹo với cháu nhỏ!"

Trong khoảng thời gian ấy, liên tục có nương tử đến thỉnh an hoàng hậu, thấy mẹ con Cao cô nương ở đây đều rất vui mừng, sôi nổi nán lại tán gẫu với họ.

Kim thượng bãi triều xong cũng qua, cùng hoàng hậu ngậm kẹo đùa cháu, hưởng thụ hạnh phúc gia đình, nhìn hết sức hân hoan.

Trương quý phi một mực không xuất hiện, mãi đến gần trưa mới lững thững đi đến.

Hoàng hậu trông thấy cũng ban tọa cho ả, bảo cháu trai cháu gái bái kiến Trương quý phi.

Đám trẻ đúng mực thi lễ, miệng chào "Trương nương tử".

Kim thượng nghe vậy bèn bảo họ: "Đều là người một nhà cả, đừng xa cách thế, sau này cứ gọi Trương nương tử là 'tiểu nương nương' đi."

Trẻ con trong kinh gọi bà nội là "nương nương", đó cũng là xưng hô của con cái Cao cô nương với hoàng hậu.

Hoàng hậu nghe kim thượng nói liền đánh mắt ra hiệu về phía Trương quý phi, bảo Trọng Minh trong lòng gọi ả trước.

Trọng Minh hơi lưỡng lự, cuối cùng vẫn theo ý đế hậu gọi: "Tiểu nương nương ạ."

Trương quý phi mỉm cười, lại ngó về phía Trọng Châm bên kia như chờ đợi.

Trọng Châm cũng đang nhìn Trương quý phi, ánh mắt hai người chạm nhau, cậu tức thì mở miệng, giọng vang dội, nhưng vẫn gọi là: "Trương nương tử."

Nụ cười của Trương quý phi phai nhạt, kim thượng cũng nhíu mày.

Cao cô nương khẽ kéo tay áo Trọng Châm, nhỏ giọng sửa đúng: "Là tiểu nương nương."

Trọng Châm lại xua tay, cao giọng nói với kim thượng: "Trong cung này, Trọng Châm chỉ có một ông ông, đương nhiên cũng chỉ có một nương nương.

Thiên hạ không có 'tiểu hoàng hậu', Trọng Châm cũng không có 'tiểu nương nương'."

5.

Đường mình

Câu này không thể nghi ngờ đã khơi dậy một trận sóng dữ không nhỏ, nhưng trong tình huống đế hậu chưa biến sắc mặt, như thường lệ, nó đã lẳng lặng biến mất trong đáy lòng mọi người.

Kim thượng không bắt Trọng Châm gọi Trương quý phi nữa, ngài im lặng, vẻ mặt lại vẫn dịu dàng.

Cao cô nương biết điều kéo hai cô con gái trước đó đang chơi dây với Thu Hòa một bên qua, thủ thỉ dặn dò vào tai họ, hai tiểu cô nương bèn tiến lên hành lễ với Trương quý phi, đồng thanh: "Tiểu nương nương vạn phúc."

Trương quý phi thấy vậy, nét mặt cứng đờ ban đầu mới giãn ra, cười như có như không, hờ hững phun ra một chữ: "Ngoan."

Sau đó, ả chậm rãi đứng dậy, cúi đầu với hoàng hậu, nói: "Hoàng hậu, mười ngày nữa là sinh nhật mẫu thân thần thiếp, thần thiếp muốn đi chùa Tướng Quốc ngày mai dâng hương cầu phúc cho mẹ, mong hoàng hậu ân chuẩn."

Hoàng hậu hòa nhã nói: "Quý phi hành hiếu với mẫu thân tất nhiên là chẳng có gì không ổn, chốc nữa ta sẽ lệnh Ty dư chuẩn bị ngựa xe cho cô, sáng mai là có thể xuất hành."

"Tạ ơn hoàng hậu."

Trương quý phi đáp, nhưng ánh mắt ả nhìn hoàng hậu lại rất lạnh nhạt, khiến người ta chẳng cảm nhận được chút biết ơn nào.

Kế tiếp, ả lại đưa ra một yêu cầu: "Quạt lọng lông vũ nghi trượng trên xe liễn của thần thiếp đều đã cũ, đặc biệt là lọng xanh nhất phẩm, bạc màu cũ kỹ nhất, ngày mai xuất hành mà dùng nó sẽ chỉ dẫn tới bị người đi đường xoi mói, tổn hại đến uy nghiêm hoàng gia.

Thế nên, thần thiếp muốn mượn lọng đỏ trên xe liễn hoàng hậu dùng một bữa, mong hoàng hậu cũng khai ân cho phép."

Nghi trượng xe kiệu của hậu phi có quy chế, lọng đỏ chỉ hoàng hậu mới có thể dùng, lời Trương quý phi là một yêu cầu vô lễ xấc xược.

Hơn nữa, đó cũng chẳng phải chủ đề gì mới.

Trước đây ả đã từng thỉnh cầu kim thượng cho phép ả dùng lọng đỏ, kim thượng lệnh quần thần thảo luận quyết định, kết quả gặp phải sự phản đối của gần như tất cả mọi người, cuối cùng chỉ cho phép ả dùng lọng xanh.

Rành rành đã có kết luận, ả lại nhắc lại chuyện cũ ở đây, rất có dáng vẻ ngang nhiên khiêu khích hoàng hậu.

"Lọng đỏ?"

Hoàng hậu trầm ngâm, nhìn kim thượng, cất lời hỏi ngài: "Quan gia thấy thế nào?"

Chẳng đợi kim thượng mở miệng, Trương quý phi đã giành trước trả lời thay ngài: "Hôm qua thần thiếp đã hỏi quan gia, quan gia bảo thần thiếp tới hỏi hoàng hậu, nói hoàng hậu cho phép là được."

Hoàng hậu lại đưa mắt sang kim thượng, không thấy kim thượng phủ nhận, bèn ra quyết định.

Gọi Trương Duy Cát qua, bà phân phó: "Lát nữa ngươi đi nói với Ty dư, ngày mai dựng lọng đỏ cho xe ngựa của Trương nương tử."

Trương Duy Cát lộ vẻ khó xử: "Nương nương..."

Hoàng hậu mỉm cười, gật đầu với y như khích lệ.

Những người còn lại lẳng lặng quan sát, cũng không dám nói xằng câu nào.

Chẳng ngờ cuối cùng lại là Trọng Châm bày tỏ dị nghị.

"Ông ông," cậu hỏi kim thượng, "Bất kỳ ai cũng được dùng lọng đỏ ạ?"

Kim thượng nhất thời không đáp, Trọng Châm nói tiếp: "Lần trước thần theo nương nương đi Kim Minh Trì, thấy lọng đỏ trên xe bà rất đẹp, bèn hỏi cô cô vì sao không dùng lọng màu này, kết quả bị cô mắng, nói lọng đỏ chỉ hoàng hậu mới được dùng...

Cô cô nói sai rồi ạ?"

Mọi người nín thinh đợi kim thượng trả lời, công chúa thì lặng lẽ đá lông nheo với Trọng Châm giữa bầu không khí trầm mặc ấy, nhoẻn cười khen ngợi.

"Công chúa nói không sai."

Rốt cuộc kim thượng cũng tỏ thái độ, quay sang Trương quý phi, lại bảo: "Điều mục lễ nghi văn vật quốc gia có trật tự trên dưới, nàng công nhiên giương lọng đỏ xuất hành, quan viên ngoài triều tất sẽ không tha, chỉ rước lấy miệng tiếng thiên hạ mà thôi.

Nàng nhận hảo ý của hoàng hậu là được rồi, ngày mai xuất hành vẫn dùng lọng xanh."

Cận thị bên cạnh hoàng hậu từ Trương Duy Cát trở xuống nghe vậy đều bái tạ kim thượng: "Bệ hạ thánh minh."

Công chúa nom vẻ mặt Trương quý phi lúc này, suýt nữa bật cười.

Ta hợp thời đưa một chung trà mới gọi qua, nàng nhận lấy, dùng tay áo che mặt làm bộ uống, nhưng hai vai run rẩy đã để lộ cảm xúc hiện giờ của nàng, cuối cùng châm lên lửa giận của Trương quý phi.

"Quan gia," Trương quý phi hơi lên giọng, chất vấn kim thượng trước mặt mọi người: "Tại sao ngài cứ hết lần này đến lần khác để người ta sỉ nhục ta như thế?

Bây giờ, từ con gái, cháu trai, tỳ thiếp của ngài đến tiểu hoàng môn hèn mọn nhất trong cung, ai cũng có thể lấy ta ra giễu cợt mua vui, ta đã trở thành trò cười lớn nhất trong cái cung này rồi!"

Kim thượng không tiếp lời chủ đề của ả, chỉ ôn hòa nói: "Gần đầy sức khỏe nàng không tốt, có phải thấy mệt rồi không?

Về sớm nghỉ ngơi đi."

Trương quý phi lại xua tay, từ chối bậc thang bước xuống ngài trải cho.

Ngực ả phập phồng rõ rệt, hẳn là đang kiềm nén tức giận, nhưng hiệu quả quá nhỏ, hai mắt dâng lên ánh lệ, ả tiếp tục nói thẳng: "Cái gọi là ba ngàn sủng ái tại một thân thực chất chỉ là chuyện tiếu lâm.

Mười mấy năm qua, ta có được cái gì?

Chẳng qua chỉ là ganh ghét của ba ngàn phấn hồng và những đợt chỉ trích liên tiếp của đủ loại quan lại.

Ngài cất buồng vàng dựng lồng ngọc vây hãm ta trong hoàng thành này, chỉ cho ta và người nhà ta phú quý trước mắt, nhưng cái ta chân chính muốn thì xưa nay ngài vẫn chưa từng cho..."

Kim thượng không trả lời, chỉ hỏi Trương Mậu Tắc bên cạnh: "Thái y khám chẩn cho quý phi gần đây là ai?"

Trương tiên sinh bẩm tên thái y, kim thượng nói: "Cho thôi đi, đổi một người cao minh khác."

Trương quý phi nghe thấy, cười lạnh: "Ta không có bệnh!

Vào cung hơn hai mươi năm nay, ta chưa bao giờ tỉnh táo như ngày hôm nay...

Ngài dung túng đài gián khiển trách ta, thế nên một tay quan tép riu cũng dám trỏ vào mũi ta mắng ta là Dương quý phi làm hư hại quốc gia!

Mà những đại thần hơi tốt với ta, ngài đều cách chức điều họ ra khỏi kinh.

Giả Xương Triều là vậy, Hạ Tủng, Vương Chí là vậy, Vương Củng Thần cũng vậy, đến Văn Ngạn Bác cũng là như thế...

Nội thị quan viên thuộc phái hoàng hậu thì ngài lại dụng tâm quan hoài, những người điều ra ngoài khi trước đều dần dần lần lượt triệu về.

Bây giờ, Đặng Bảo Cát đã trở về rồi, nhưng Dương Hoài Mẫn thì sao?

Sao ngài không cho vời y hồi cung?"

Ả dừng lại, nhìn Trương Mậu Tắc, rồi lại liếc Đổng Thu Hòa đó giờ chưa cất một lời, chợt lại buột ra một câu cực kỳ vô lễ: "Ngài cho hoàng hậu nhiều thể diện thật nhỉ, đến hai tâm phúc của cô ta ngài cũng vui vẻ nhận lấy, một người theo ngài vào triều, một người cùng ngài lên long sàng..."

Sắc mặt Thu Hòa trắng bệch, vô thức siết chặt sợi dây mới rồi quấn rối trên ngón tay trái.

Kim thượng cũng không nhịn được nữa, hoàn toàn biến sắc, cao giọng quát: "Người đâu!"

Nhập Thủ Trung lập tức rảo bước lên đợi mệnh.

Hoàng hậu lại như nhìn ra ý kim thượng, ghìm mu bàn tay của ngài xuống, lắc đầu.

Kim thượng ngẩn người, thần sắc từ từ dịu xuống: "Mời quý phi về tẩm điện nghỉ ngơi."

Ngài ra lệnh cho Nhậm Thủ Trung, giọng bình tĩnh.

Nhậm Thủ Trung nhận lệnh, tiến lên định dìu Trương quý phi, Trương quý phi thoắt tránh thoát, chỉ vào hoàng hậu, nhìn chòng chọc kim thượng, gào khóc: "Trận này đã đánh mười mấy năm, rốt cuộc ta vẫn bại trong tay cô ta...

Ngài để con nối dõi của ngài cưới con gái nuôi của cô ta, sinh hạ trưởng tôn cũng chỉ nhận cô ta làm bà nội.

Một ngày kia nếu đứa trẻ vừa sỉ nhục ta ngồi trên Tử Thần Điện, đến lúc đó nó lại sẽ đối xử với ta thế nào đây?"

Thấy kim thượng nhíu mày không đáp, ả đánh mắt sang hoàng hậu: "Ngài luôn nói cô ta khoan hậu đoan trang, nhiều lần nhường nhịn ta, muốn ta tạ ơn cô ta.

Nhưng ngài có nghĩ tới không, khi Lưu Bang còn sống, đối mặt với Thích Cơ, chẳng phải Lã hậu cũng bày ra cái vẻ khoan hậu đoan trang đó sao?

Mà con trai vừa lên ngôi, bà ta đã lập tức tàn hại Thích Cơ thành nhân trệ (*)!"

(*) Sự kiện nhân trệ của Lã thái hậu – hoàng hậu Hán Cao Tổ Lưu Bang (trệ là con lợn nái), chi tiết đọc ở .

Lúc này, công chúa đứng dậy, bước lên mấy bước, nói với Trương quý phi: "Trương nương tử, ta cũng muốn hỏi bà đây, bà có từng nghĩ tới không, tỳ thiếp của Lưu Bang không chỉ có mình Thích Cơ, tại sao lại chỉ mình bà ta rơi vào kết cục bị biến thành nhân trệ?"

"Bà ấy có gì sai?"

Trương quý phi nói, "Chẳng qua chỉ bởi bà ấy được sủng ái nhất, thế nên mới bị Lã hậu ghen ghét."

Công chúa xua tay, nói: "Nếu không phải bà ta ỷ sủng lấn lướt, năm lần bảy lượt giật dây Lưu Bang phế thái tử của đích hậu, lập con mình nối dõi thì Lã hậu há lại phẫn nộ đến thế?

Đường mình bình thản mình đi, ẩn cư nhân sĩ tự hoài cát trinh (*).

Nếu bà không làm sai chuyện gì thì sao phải sợ báo ứng?"

(*) Vốn là quẻ thiên trạch lý, cửu nhị trong Kinh dịch: 履道坦坦,幽人贞吉 (lữ đạo thản thản, u nhân trinh cát), ý rằng bình tĩnh giữ vững con đường của mình, người ẩn cư sống cuộc sống thanh nhàn yên tĩnh, kết quả ắt cát tường.

Trương quý phi hầm hầm nguýt nàng: "Công chúa, cô cũng chỉ là thứ xuất, ta và mẫu thân cô đều như nhau.

Cớ sao cô lúc nào cũng nói giúp hoàng hậu, đi đâu cũng miệt thị ta?"

Công chúa đáp: "Ta khinh bà không phải vì thân phận tần ngự của bà...

Lòng dạ hẹp hòi không chịu được tải trọng của dục vọng mỗi ngày một lớn, thế nên đi đâu cũng nực cười."

"Dục vọng..."

Trương quý phi lặp lại từ này, lại phản vấn công chúa: "Lẽ nào công chúa không có dục vọng?

Nghĩ cách tìm kiếm thứ mình muốn thì có lỗi gì?"

Câu hỏi này khiến công chúa ảm đạm một nháy mắt, nhưng rất nhanh lại ngước lên, dõng dạc đáp lại: "Ta cũng có thứ mình mong muốn, nhưng nó không liên quan đến quyền bính xã tắc, chỉ là nguyện vọng đơn giản nhất của một cô gái tầm thường.

Mà bà chỉ là quý phi mà đã hao tâm tổn sức cùng người nhà mưu lợi cầu thưởng cho mình, nhiều năm nay còn khư khư ý đồ bồi dưỡng bộ hạ, mưu đồ phế lập, tương lai nếu làm quốc mẫu, tất sẽ đem hết thảy những gì thiên hạ dưỡng thành lấp vào cái hố dục vọng của bản thân, đó cũng là lý do ta khinh thường bà, quần thần chỉ trích bà, cùng cha tôn kính hoàng hậu."

Câu này làm Trương quý phi sững sờ một hồi, lát sau, ả nở nụ cười sâu kín: "Hay cho một công chúa chí hướng tầm thường!

Nhưng, ta chẳng ngại nói cho cô biết ngay bây giờ đâu, tương lai nhất định cô sẽ phát hiện ra, một ngày nào đó, nguyện vọng đơn giản nhất của một cô gái tầm thường của cô sẽ không được thế nhân chấp nhận, tính tình cô cũng sẽ đẩy cô rơi vào kết cục quần thần lên án, đế hậu đè nén mà thôi."

Nói đoạn, ả ngạo nghễ ngẩng cao đầu, xoay người rời đi, lúc sắp bước khỏi cửa điện bỗng quay phắt đầu, cười quái dị với công chúa.

"Cô có thể coi như đây là lời nguyền rủa của ta."

Ả nói.

Đêm hôm đó, Ninh Hoa Điện truyền đến tin tức bệnh cấp tính của Trương quý phi phát tác.

Kim thượng vội vàng chạy qua thăm, Trương tiên sinh cũng liên tiếp dẫn nhiều thái y khác nhau đến.

Sắc mặt người ra vào Ninh Hoa Điện đều nặng nề, thi thoảng lại loáng thoáng có tiếng quý phi kêu khóc vọng ra, người trong cung đều cảm thấy tình hình sự cố nghiêm trọng, Miêu thục nghi bèn sai Trương Thừa Chiếu dẫn theo hai tiểu hoàng môn đi chờ đợi nghe ngóng trắng đêm.

Sáng sớm hôm sau, Trương Thừa Chiếu mới quay về, bẩm báo: "Ban nãy Nhậm đô tri đi ra khỏi Ninh Hoa Điện, tuyên bố: Quý phi Trương thị hoăng."

Đại đa số người trong cung đều cho rằng Trương quý phi tự sát, có người nói ả uống thuốc độc, cũng có người nói là nuốt vàng, không thể chết ngay nên khóc quấy hồi lâu.

Cũng có một số ít người suy đoán là hoàng hậu gây nên, có điều, ta không nhìn ra với tình huống hiện tại, hoàng hậu có gì cần thiết phải mưu hại Trương quý phi.

Sau nữa, lúc gặp được Trương tiên sinh, ta vẫn chưa thoát được thói chung, hiếu kỳ như hết thảy cung nhân, hỏi thầy nguyên nhân cái chết của Trương quý phi.

Thầy cho ta một đáp án đơn giản thấu triệt: "Tuyệt vọng."

6.

Truy tôn

Vương Củng Thần và Phùng Kinh, hai vị trạng nguyên phong tư xuất chúng của bản triều, một vị áo tím, một vị áo đỏ, cùng cầm hốt trắng, chia ra thủ trước Phúc Ninh Điện lan can bạch ngọc ngói lưu ly, thần sắc nghiêm nghị chờ hoàng đế triệu kiến.

Mặc gió chớm xuân se lạnh thổi tay áo vòm rộng bay phần phật, họ đều dõi mắt thẳng ra trước, duy trì trạng thái lặng im dài dặc trong bầu không khí tựa như đang giằng co, thậm chí đến mi mắt cũng chẳng rung động mảy may.

Dưới bức họa tuyệt đẹp mà kỳ dị này ẩn giấu trận chiến Trương quý phi đánh đổi cả tính mạng dấy lên để tranh đấu với hoàng hậu.

Sau cái chết của Trương quý phi, kim thượng rất đau buồn, tuyên bố hoãn triều ngày hôm ấy, day dứt thương tiếc ở Ninh Hoa Điện, còn kể lại chuyện quý phi tới hộ vệ đêm giặc vào cung và rạch tay hiến máu viết sớ cúng đợt hạn hán năm nào với mọi người.

Đề cử quan Ninh Hoa Điện, nhập nội áp ban Thạch Toàn Bân thừa cơ kiến nghị kim thượng phát tang cho Trương quý phi ở Hoàng Nghi Điện.

Quy chế lễ nghi quốc triều quy định, hoàng hậu hoăng mới có thể phát tang ở Hoàng Nghi Điện.

Hành động này của Thạch Toàn Bân thực chất là kiến nghị kim thượng truy phong Trương quý phi làm hoàng hậu.

Tin tức truyền ra, đại nội xôn xao.

Hoàng hậu còn tại thế mà truy tôn quý phi làm hậu chẳng khác nào ngang nhiên xúc phạm thể diện tôn nghiêm của quốc mẫu đương triều.

Hôm ấy hoãn triều nên tể chấp nhị phủ không thể vào cung, người có thể phát biểu ý kiến về chuyện này ngay lúc đó chỉ có hai quan viên trực đêm do có công vụ – hàn lâm học sĩ thừa chỉ (*) Vương Củng Thần và đồng tu khởi cư chú Phùng Kinh.

(*) Hàn lâm học sĩ thừa chỉ là chức quan đứng đầu hàn lâm học sĩ, không chỉ nhận nhiệm vụ thảo chiếu lệnh mà còn phụ trách việc cơ mật trong cung.

Trong số quan viên vì qua lại với Trương quý phi mà bị điều ra ngoài, chỉ có một mình Vương Củng Thần về sau được vời về kinh, nhậm chức hàn lâm học sĩ thừa chỉ.

Mấy năm nay, Phùng Kinh vẫn nhậm chức trong quán các, một năm trước mới chuyển sang làm đồng tu khởi cư chú, theo hoàng đế ra vào, phụ trách ghi lại ngôn luận hành tung của hoàng đế, soạn thành ghi chép sinh hoạt thường ngày cung cấp cho sử quán biên thực lục và chính sử, đây là chức quan chỉ tiến sĩ cao đẳng, xuất thân khoa cử có danh vọng mới có thể nhậm.

Chỉ từ hai điểm trên cũng có thể nhìn ra kim thượng đối đãi với hai vị trạng nguyên quả thật khác hẳn người thường.

Tin dữ về Trương quý phi truyền tới Hàn uyển, Vương Củng Thần lập tức dâng sớ yêu cầu truy tôn quý phi, mà Phùng Kinh đang trong Khởi cư viện nghe được tin này cũng tức khắc dâng sớ nói việc truy tôn là không thể.

Kim thượng trở về Phúc Ninh Điện rồi, hai người đồng thời tới trước đại điện, thỉnh cầu hoàng đế triệu kiến riêng mình.

Ta nhận lệnh của Miêu thục nghi, lai vãng giữa chư các, giúp bà chuyển tin, đi ngang qua Phúc Ninh Điện đúng lúc ấy, vừa vặn bắt gặp cảnh giằng co giữa hai người.

Hỏi thăm hoạn giả trước điện, ta được biết tấu chương của họ đã được trình lên kim thượng từ sớm, nhưng chậm chạp mãi kim thượng vẫn chưa tuyên họ vào.

Mà Phùng Kinh và Vương Củng Thần thì giống y như mỗi một ngôn quan của bản triều, chẳng thiếu gì kiên trì nhẫn nại, chia nhau thủ hai mé đông tây trước điện, giương cung bạt kiếm trong tĩnh lặng tuyệt đối.

Qua thêm một hồi lâu mới có nội thị đi ra từ trong điện, tuyên Vương Củng Thần vào yết kiến, còn với Phùng Kinh thì nói: "Khẩu dụ của bệ hạ: Hôm nay hoãn triều, không cần làm phiền Phùng học sĩ chấp bút, mời học sĩ về viện nghỉ ngơi."

Phùng Kinh lại không nhận lệnh.

Nhìn Vương Củng Thàn vào rồi, chàng chợt quỳ xuống trước điện, cất cao giọng dõng dạc từng chữ: "Thần Phùng Kinh khẩn cầu hoàng đế bệ hạ triệu kiến."

Trong Phúc Ninh Điện lặng ngắt, không một hồi đáp.

Phùng Kinh tiếp tục quỳ đợi, ta rời đi rồi chàng vẫn chưa từ bỏ.

Sau khi trở lại, ta theo công chúa và Miêu thục nghi đến Nhu Nghi Điện thăm hoàng hậu, cũng nán lại đó chờ tin tức.

Lát sau, Trương Duy Cát rưng rưng tiến vào, bẩm với hoàng hậu: "Quan gia tiếp nhận kiến nghị của Vương Củng Thần, muốn truy phong Trương quý phi làm hoàng hậu, đã lệnh y ngày mai bàn bạc với tể chấp rồi viết chiếu lệnh."

"Sao có thể!"

Công chúa đứng bật dậy, "Con đi nói với cha..."

"Huy Nhu," Hoàng hậu gọi nàng về, lắc đầu, "Đừng phản đối.

Đây là nguyện vọng lớn nhất của Trương quý phi lúc sinh tiền, cũng là chuyện cuối cùng cha con có thể làm cho cô ta, ngài sẽ không đổi ý đâu."

Công chúa cau mày: "Nhưng, nương nương..."

Miêu thục nghi cũng xua tay với nàng, khuyên: "Chỉ là hư danh thôi.

Người cũng đã mất rồi, hà tất phải so đo nhiều với cô ả."

Ngay sau đó Trương Duy Cát lại nói với hoàng hậu, Phùng Kinh hãy còn quỳ trước Phúc Ninh Điện, nhưng trước sau kim thượng vẫn từ chối triệu kiến.

Ra khỏi Nhu Nghi Điện, ta rẽ sang điện Phúc Ninh, quả nhiên thấy Phùng Kinh vẫn quỳ ở đó, dưới ánh sáng dần tối, chàng như một bức tượng đá choàng đắp y bào.

Một chốc sau, có bóng dáng nữ tử chậm rãi lại gần chàng, áo xanh gấm lục, song bội bạch ngọc, Chàng cảm giác được, nghiêng đầu nhìn qua, lập tức xoay người lạy bái: "Hoàng hậu điện hạ..."

"Phùng học sĩ về đi thôi."

Hoàng hậu nói, trên mặt nở nụ cười nhẹ nhàng, "Nhiều lời tất đuối lý, chẳng bằng giữ trong lòng."

Phùng Kinh lặng thinh.

Lát sau, chàng một lần nữa hạ bái hoàng hậu: "Thần tạ điện hạ chỉ bảo."

Lễ xong, rốt cuộc chàng cũng đứng dậy, từ từ lui đi.

Có lẽ là biết hoàng hậu đến, kim thượng đi từ trong Phúc Ninh Điện ra, bước chân chậm chạp khác thường.

Đứng trước cửa chính, ngài từ từ đưa mắt nhìn hoàng hậu dưới thềm, thần sắc mệt mỏi, gương mặt ảm đạm rệu rã nom già nua.

Đế hậu nhìn nhau từ xa, cả hai đều không nói một lời.

Nếu sự im lặng giữa Vương Củng Thần và Phùng Kinh ban nãy ẩn chứa ý đối kháng như giáo ngựa trên chiến trường thì thời khắc này, ánh mắt đế hậu lặng im giao hội giữa hai phương thềm, trong sân sâu trống trải chỉ in dấu cái bóng cô đơn của hai người, cảnh tượng sao đìu hiu điêu tàn, thê thiết bi thương.

Đêm ấy, ta tới Hàn uyển, còn đang lưỡng lự có nên vào hay chăng thì Vương Củng Thần bên trong đã trông thấy bóng ta, cao giọng hỏi: "Ai đang ở đó?"

Ta bước ra từ một khóm trúc xanh.

Y thấy rõ dung mạo ta, nhận ra: "Thì ra là cậu, trung quý nhân!"

Ấn tượng ban đầu ta để lại cho y không tính là quá tệ, y ra đón, trong mắt lấp lánh tươi vui, thậm chí còn mời ta vào trong ngồi.

Ta cười nhẹ, đáp: "Trung quan vào ngọc đường ngồi không hợp với lễ nghĩa."

Nụ cười của y thoáng sững lại, trầm mặc.

Ta thấy trong tay y còn cầm bút, hỏi: "Tại hạ cả gan, xin hỏi Vương hàn trưởng, hôm nay đề xuất việc truy tôn là vì lễ nghĩa hay vì hoạn lộ?"

Vương Củng Thần quan sát ta, hờ hững hỏi: "Trung quý nhân nhậm chức trong điện hoàng hậu?"

Ta xua tay phủ nhận.

Y cũng không truy vấn, đáp: "Ta cũng biết Trương quý phi vô đức, công tích kim thượng nêu ra không đủ phong hậu cho người, hoàng hậu tại thế mà đề xuất truy tôn là không hợp với đạo nghĩa lễ chế."

"Vậy là vì hoạn lộ?"

Y chậm rãi lắc đầu, hỏi: "Trung quý nhân cũng cho rằng ta là hạng tiểu nhân chỉ biết hùa đón ý vua?"

Ta cười hờ không đáp, chỉ nói: "Vương hàn trưởng thông minh cơ trí, tất sẽ chẳng nhìn không ra chính cuộc sau này."

Y cũng cười cạn mỏng, nói: "Trương Nghiêu Tá vô tài vô năng, sau cái chết của quý phi, Trương thị lụi bại là lẽ tất yếu.

Kim thượng trước sau vẫn luôn chiếu cố hoàng hậu, hoàng hậu lại có Thập Tam Đoàn Luyện làm con, sau này ắt vững ghế hưởng phúc làm thái hậu ."

"Nếu là vậy, cớ sao Vương hàn trưởng còn muốn đề xuất truy tôn quý phi?"

Ta hỏi lại y.

Y thản nhiên cho ta biết đáp án: "Để báo ơn hoa thụy hương của người."

Thấy ta không nói gì, y tiếp lời: "Người muốn thứ gì sẽ nỗ lực cho thứ ấy, đạt được mục đích cho bằng được, ta rất bội phục người điểm ấy.

Nửa đời trước của ta lúc nào cũng nhìn trước ngó sau, có thích thứ gì cũng chẳng dám cố gắng đến cùng, bởi vậy mà mất đi rất nhiều...

Thế nên, hiện giờ ta bằng lòng thực hiện thay người, lấy danh vị hoàng hậu mà người mong ước kính cho lòng kiên trì của người."

"Bất chấp phải trả giá bằng con đường trước mắt?"

Y đáp thế này: "Ta thường hay ra quyết định sai lầm vào thời điểm đối mặt với lựa chọn, cũng chẳng ngại gì thêm một lần này."

Ta không nói nữa, cuối cùng cảm tạ y: "Đa tạ Vương hàn trưởng đã chân thành cho hay."

Y tặng lại ta một nụ cười thân thiện: "Ơn nhặt hốt, suốt đời này Củng Thần cũng không quên."

7.

Ôn Thành

Ngày ấy, vài vị đô tri trong cung đã có một trận tranh luận về thủ tục phát tang cho Trương quý phi, đa số cho rằng kim thượng đã có ý truy phong, không bằng dời luôn linh cữu Trương quý phi sang Hoàng Nghi Điện, mà Trương Duy Cát thì ra sức gạt bỏ ý kiến đó, kịch liệt phản đối, nói việc này cần để mai bàn bạc với tể chấp rồi hẵng quyết định.

Sau khi Văn Ngạn Bác bãi tướng, kim thượng lại vời Trần Chấp Trung về, khôi phục tướng vị cho ông.

Ngày kế trên triều, Vương Củng Thần tranh luận trước quần thần, kiên trì thỉnh cầu phát tang tại Hoàng Nghi Điện.

Trần Chấp Trung thấy kim thượng cũng có ý đó, sau cùng gật đầu đồng ý, mời tham tri chính sự Lưu Hàng làm giám hộ sứ, phụ trách xử lý thủ tục tang lễ cùng nhóm Thạch Toàn Bân.

Khi tin tức này truyền tới trong cung, Trương Duy Cát đầm đìa nước mắt, vọng về chính điện quỳ lạy khấu đầu, khấu đến trán loang lổ máu.

"Bệ hạ!"

Y nghẹn ngào, cao giọng chất vấn, "Không giữ ngay đích thứ thì biết lấy gì mà quản trong ngoài, lập uy nghi, bình thiên hạ?"

Người chống đối việc Trương quý phi không chỉ có mình y.

Ngày kế, kim thượng tuyên bố hoãn triều bảy ngày, bốn ngày sau truy phong Trương quý phi làm hoàng hậu, sau đó lại lục tục hạ chiếu, định ngày kị, lập điện thờ, soạn nhạc cúng tế miếu hoàng hậu cho ả.

Mỗi quyết định trong đây đều gặp phải sự phản đối của đại đa số thần tử dẫn đầu là đài gián, tấu chương can gián tấp nập được trình lên kim thượng, song, có lẽ đúng như hoàng hậu nói, kim thượng cảm thấy đây là chuyện cuối cùng ngài có thể làm cho quý phi, bởi vậy nên triệt để phớt lờ những người phản đối này, cái duy nhất tiếp thu là ý kiến sửa đổi thụy hiệu cho Trương thị của xu mật phó sứ Tôn Miện.

Thoạt đầu, kim thượng ban thụy cho Trương thị là "Cung Đức", cái tên thụy mỹ miều này hiển nhiên thiếu ăn khớp nghiêm trọng với cuộc đời của ả, quần thần nghe mà cười khẩy.

Sau, Tôn Miện tìm một lý do có thể khiến kim thượng dễ dàng tiếp nhận tới tiến gián: "Thụy hiệu của bốn vị hoàng hậu vua Thái Tông đều dùng chữ 'Đức', chính là rút từ miếu thụy của Thái Tông (*).

Nay tên thụy Cung Đức này là căn cứ theo đâu?"

Cuối cùng kim thượng nghe lời thỉnh cầu của y, đối thụy hiệu của Trương thị thành hai chữ chẳng lạnh chẳng nóng, "Ôn Thành".

(*) Hoàng đế Trung Hoa cổ đại sau khi mất sẽ được truy tôn ba danh hiệu: miếu hiệu, thụy hiệu, miếu thụy.

Lấy ví dụ như vua Tống Thái Tông trong đoạn, "Thái Tông" chính là miếu hiệu; thụy hiệu của ông là Thần Công Thánh Đức Văn Vũ hoàng đế, đặt theo cách đối nhân xử thế và cống hiến của ông khi còn tại thế; miếu thụy cũng khái quát và tổng kết cuộc đời hoàng đế như thụy hiệu nhưng được đúc kết chỉ trong một chữ, bao hàm cả ưu và khuyết điểm, ở đây ta được biết, miếu thụy của Tống Thái Tông là Đức.

Bởi lời can gián không được tiếp nhận nên phần đa quan viên đài gián đều tự xin điều chức ra ngoài.

Sau đó, bởi tang lễ của Trương thị vượt quá lễ chế, hai quan viên lễ viện, đồng tri thái nghi lễ viện, thái thường bác sĩ, tập hiền giáo lý Ngô Sung và thái thường tự thái chúc, tập hiền giáo lý Cúc Chân Khanh đã giao trực lễ quan thừa hành tang nghi cho phủ Khai Phong trị tội, do đó chọc giận đám chấp chính Lưu Hàng phụ trách lo liệu tang ma, liền kiến nghị kim thượng giáng Ngô Sung làm tri Cao Bưu quân, Cúc Chân Khanh làm tri Hoài Dương quân.

Không bao lâu sau, một tờ triều báo có tin tức về Phùng Kinh lặng lẽ được người trong hậu cung truyền đọc: trực tập hiền viện, phán lại bộ nam tào, đồng tu khởi cư chú Phùng Kinh mất chức đồng tu khởi cư chú.

Chi tiết vụ việc cũng chẳng khó nghe ngóng: Trước đó chàng dâng sớ luận bàn nhóm người Ngô Sung không nên bị biếm truất, ngôn từ thẳng thắn, nói nhóm Ngô Sung làm vậy là để giữ gìn lễ pháp nghi chế, chẳng có gì là sai trái, ngược lại, việc tang lễ Ôn Thành vượt quá lễ chế cho thấy kim thượng nhẹ tình thái miếu nặng lòng tỳ thiếp, gây tổn hại lớn lao đến thánh đức, cần truy cứu trách nhiệm kẻ lo liệu tang ma.

Chấp chính Lưu Hàng nổi giận, lập tức xin kim thượng điều Phùng Kinh đi tri Hào Châu, nhưng lần này, kim thượng không chấp thuận, nói: "Phùng Kinh thẳng thắn luận sự thì có tội tình gì?"

Cho nên chỉ tạm thời giải trừ chức vụ đồng tu khởi cư chú của chàng, không cho chàng làm thực lục trong thời gian này.

Đối với chàng trạng nguyên từng vang động kinh thành năm nào, trước sau kim thượng vẫn luôn có lòng quý mến như với con cháu.

Chưa được mấy tháng đã lại một lần nữa phục chức cho chàng, lệnh chàng chấp bút ghi chép sinh hoạt thường ngày.

Trọn năm Chí Hòa thứ nhất, trong cung ngoài đình đều bị bao trùm trong bóng tối của một loạt sự kiện do cái chết của Ôn Thành gây ra.

Giữa tháng Mười, Trương Duy Cát, lão nội thần một lòng trung thành với hoàng hậu, từ giã cõi đời.

Người đau buồn vì mất mát này không chỉ là hoàng hậu mà y bảo hộ nhiều năm, cũng không giới hạn trong nhóm đồng liêu, bằng hữu hay thuộc hạ như Bùi Tương, Đặng Bảo Cát, Trương Mậu Tắc và ta, mà còn bao gồm cả hoàng đế từng cự tuyệt nghe y khuyên nhủ, khăng khăng truy phong Trương quý phi.

Ngày nghe tin Trương Duy Cát qua đời, kim thượng cũng rơi lệ đẫm mặt, đích thân đến viếng, cũng định thụy hiệu cho Trương đô tri là "Trung An".

Về phía đại thần trong triều, tin tức tốt nhất trong năm nay hẳn là Âu Dương Tu nhận lệnh hồi kinh.

Tháng Chín năm Chí Hòa thứ nhất, kim thượng phong Âu Dương Tu đã bị điều ra ngoài nhiều năm làm hàn lâm học sĩ kiêm sử quán tu soạn.

Mãi đến tháng Giêng năm Chí Hòa thứ hai, ta mới được nhìn thấy y lần đầu.

Ngày ấy, ta và Trương Thừa Chiếu có việc cần ra ngoài, lúc đi ngang qua Hàn uyển, vừa vặn trông thấy y cầm một cuộn công văn đi ra, Trương Thừa Chiếu vội nhỏ giọng bảo ta xem, đánh mắt ra hiệu về phía y, nói: "Đó chính là Âu Dương Tu!"

Nếu ấn tượng ban đầu Vương Củng Thần để lại cho ta là thanh bần, Phùng Kinh là tú mỹ, vậy vị danh sĩ ta ngưỡng mộ đã lâu này nên dùng từ gì để miêu tả đây?

Tang thương.

Phải, phong sương năm tháng đã nhuộm trắng tóc mai y, hai hàng lông mày hơi rủ xuống, ấn đường có hai ba nếp nhăn không đều, khiến y trong trạng thái bình tĩnh cũng như đang chau mày thở dài.

Y nhìn thẳng đi qua trước mặt bọn ta, bước chân thong thả, trên mặt có bọng mắt rõ ràng, con mắt lại lõm xuống, trong mắt cũng có thần thái, song chẳng hề sáng ngời như Phùng Kinh hay sắc sảo như những quan viên đài gián còn trẻ tuổi như Đường Giới, đó là thứ ánh sáng ẩn tài, tựa như ánh lên từ một miệng giếng cổ.

Đợi y đi xa rồi, ta hỏi Trương Thừa Chiếu: "Âu Dương học sĩ năm nay bao tuổi rồi?"

Hắn nhìn trời bấm ngón tay tính tính, đáp: "Hình như bốn mươi tám."

"Mới có bốn mươi tám?"

Ta kinh ngạc vô cùng, "Trông lại già cỗi thế kia."

"Đúng vậy, y già chóng thật."

Trương Thừa Chiếu nói, "Nghe nói năm ngoái y hồi kinh báo cáo công tác, quan gia thấy tóc mai y điểm bạc, khắp mặt toàn nếp nhăn thì không cầm được muốn rơi lệ, liên tiếp hỏi y: 'Khanh năm nay bao tuổi?

Ra ngoài đã mấy năm?' Không lâu sau thì vời y về, hiện giờ thăng y làm hàn lâm học sĩ, đối đãi với y cực tốt, có thấy không, nhìn thế này xem chừng lại triệu y đi tiện điện rồi...

Công văn y cầm theo không biết là chiếu lệnh gì nữa."

Sau nữa, chúng ta biết được cái Âu Dương Tu cầm đi ngày ấy không phải là chiếu lệnh mà là tấu sớ can gián tự tay y trình lên hoàng đế.

Trước đó kim thượng tuyên bố muốn đi viếng lăng tẩm tổ tông, quần thần đều nhìn ra thực chất là ngài đang mượn cớ đi cúng tế lăng miếu Ôn Thành.

Âu Dương Tu tuy đã không còn là ngôn quan nhưng vẫn đặc biệt soạn tấu chương luận bàn việc này, nói kim thượng thánh đức nhân hiếu, không thể để trong ngoài bàn tán nói ý hoàng đế là ở hồi tưởng sủng ái hậu cung, mượn danh yết kiến tổ tông, làm tổn hại đến thánh đức, "Hành động của bệ hạ là mẫu mực muôn đời, không thể không thận trọng."

Lần tiến gián này cũng được kim thượng tiếp nhận, sau đó kim thượng đi viếng lăng tẩm có qua miếu Ôn Thành mà không vào.

Đến trước đoan ngọ năm Chí Hòa thứ hai, kim thượng lệnh cho quan thần thi từ của Hàn uyển lúc viết thiếp đoan ngọ thì viết cho gác Ôn Thành mấy bộ.

Lúc này Vương Củng Thần đã được điều sang làm tam ty sứ, không còn ở trong Hàn uyển, hàn lâm học sĩ nhìn nhau, chẳng mấy tình nguyện viết cho gác Ôn Thành.

Sau, phần của các gác khác đều đã viết xong trình vào cung mà của gác Ôn Thành lại chậm chạp mãi chưa dâng.

Kim thượng không vui, chư học sĩ nghe thấy không khỏi sợ hãi, nhưng làm thế nào cũng không có cảm hứng mà viết được.

Cuối cùng, là Âu Dương Tu nhận nhiệm vụ này.

Thiếp y viết nhanh chóng được đưa vào hậu cung, người trong cung đều tranh nhau lại xem, thấy y viết cho gác Ôn Thành bốn bài, ba bài đầu là:

Lá rậm hoa đơm chùm, tổ yến ló chim non.

Lòng vua nhiều cảm cựu, còn ai dâng binh phù.

Ban mai rọi huy hoàng, dâm bụt ánh chói rạng.

Hồng nhan chóng điêu tàn, khác nào cánh hoa tan.

Sợi màu ai biết đường nối mệnh, tráp ngọc bỏ trống khóa di hương.

Gác châu không người hè đằng đẵng, đầu bạc níu giữ mùa tiếc thương.

Song ta nghĩ, ý chân chính y muốn biểu đạt nằm ở bài thứ tư:

Lưu luyến cảnh vật trời năm cũ, người đi hoa nở càng thêm thương.

Thánh chủ anh minh đâu lụy sắc, cần chi tây quốc hồi hồn hương.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 7: Hoa rơi gió thổi tẩy mưa thu


1.

Dĩnh Nương

Một vài biến hóa vi diệu của công chúa cũng khởi thủy vào năm Chí Hòa thứ hai.

Tảng sáng hôm lập hạ, như thường lệ, ta tới trước phòng công chúa, chuẩn bị đợi nàng rửa mặt chải đầu xong thì hầu hạ, Tiếu Diệp Nhi lại đi ra nói với ta, công chúa đã dậy từ sớm, sau khi gội đầu xức hương đã ra vườn hoa sau gác luyện đàn không hầu.

Ta lập tức ra sân sau tìm nàng.

Chưa vào đã nghe thấy một chuỗi tiếng không hầu như nước chảy mây trôi theo gió tản ra, bay tới trước mặt.

Âm thanh ấy du dương trầm bổng, lại ngậm tình hàm vận, nghe mà lòng dạ bồng bềnh, trời đất cũng hóa trong xanh, đến chim chóc trên cây cũng như chợt quên ca hát.

Kể từ khi có không hầu, giữa ta và công chúa cơ hồ chẳng còn giấu nhau điều gì không nói nữa, nàng có thói quen đan một phần bí mật vào khúc không hầu, thế nên mỗi lần nghe nàng đàn, ta đều bất giác phỏng đoán tâm tư nàng như một phản xạ.

Ta bước chậm lại, khẽ khàng đến gần.

Nàng ngồi trước lan can bạch ngọc trong vườn thược dược.

Thân bận áo đơn tay rộng bằng vải sa, eo quấn váy lựu đỏ thuần, mái tóc dài mới gội xong hãy còn ẩm, chưa vấn lên ngay mà để xõa sau lưng, đuôi tóc buông chấm làn váy la đỏ xếp li trải rộng, mái tóc đen tuyền uốn thành một độ cong mềm mại duyên dáng, nàng ngồi quỳ sau cây đàn không hầu sơn đen khắc vàng, cụp mi gảy dây.

Nàng chuyên chú diễn dịch khúc nhạc, không để ý tới ta lại gần, mãi đến khi tấu xong một khúc mới từ từ đứng lên, nghiêng người ngó ta.

"Hoài Cát, huynh đến rồi."

Nàng cười với ta, dáng vẻ yêu kiều, mắt mày xinh tươi.

Ánh mắt ta lướt qua nàng nhìn về vườn hoa phía sau – thược dược trong vườn đỏ thuần tươi thắm, màu sắc y hệt chiếc váy lựu của nàng, đang nở rộ rực lửa.

Năm nay nàng mười tám.

Trước đây luôn cảm thấy tuổi thơ nàng đằng đẵng, tuy cũng từng nghĩ đến sẽ có một ngày nàng lớn lên, song lại chẳng ngờ ngày ấy tới nhanh đến thế, ta còn chưa kịp chuẩn bị tâm lí, nàng đã vụt thoắt trưởng thành.

Phong ba chuyện truy phong Ôn Thành dần lắng xuống, kim thượng lại như cảm thấy áy náy với hoàng hậu, có ý muốn bồi thường, nên gần đây đối xử với bà rất tốt.

Bữa tiệc mừng thọ hôm ấy, kim thượng đặc biệt mời rất nhiều thân thích hậu tộc tham dự, trong đó bao gồm cả cha con Tào Dật.

Tiệc bày ở Quần Ngọc Điện trong Hậu uyển, giữa nam tử hậu tộc và cung quyến buông một lớp rèm ngăn cách.

Rượu qua vài tuần, có nội thị xướng danh nghênh công chúa, công chúa lộng lẫy đi vào, tấu vang không hầu sau bức rèm.

Khúc nàng chọn đàn là "Thanh bình nhạc".

Khi mười ngón tay nàng gảy búng nên chuỗi nhạc đầu tiên, Tào Bình ngoài rèm hơi trố mắt, ngước lên trông hướng công chúa ngồi.

Ta nghĩ công chúa hẳn là biết giờ khắc này Tào Bình đang nhìn mình, song nàng chẳng có ý định cho cậu một cái liếc mắt, rèm mi buông rủ, vẫn rành rọt gảy dây đâu ra đấy, khóe miệng loáng thoáng một nụ cười, nhưng lại dè dặt mà lãnh đạm.

Mấy năm nay, công chúa và Tào Bình cũng từng có cơ hội gặp mặt trong một số buổi tiệc rượu hoặc dạo vườn, nhưng công chúa một mực tránh né, không gặp lại cậu.

Ta cũng chẳng ngờ nàng bướng bỉnh đến thế, trước đây Tào Bình chẳng qua chỉ nhìn Lư Dĩnh Nương nhiều hơn dăm cái liếc mà nàng đã lập tức người dưng nước lã với cậu kể từ đó.

Khúc "Thanh bình nhạc" của công chúa bây giờ thùy mị thanh tao, so với cách diễn dịch của Lư Dĩnh Nương năm đó còn trội thêm mấy phần cao quý.

Khúc hết, mọi người đều hết lời khen ngợi.

Công chúa đứng dậy bái tạ, nói lời chúc mừng hoàng hậu rồi xin cáo lui đi thay y phục, dẫn ta và hai thị nữ ra khỏi điện.

Đương đi tới bên Dao Tân Trì, cách đó không xa phía trước chợt truyền đến tiếng sáo, cũng là "Thanh bình nhạc".

Công chúa sững người, không khỏi bước về hướng đó mấy bước như tìm kiếm điều gì.

Sau hòn giả sơn bằng đá chồng ven hồ lộ ra một góc áo, là màu trời nước xanh biếc thanh nhã.

Theo bước chân công chúa lại gần, người mặc tấm áo biếc cũng dịch bước đi ra, thổi sáo rồng trong gió mát lồng lộng, ống tay rộng tung bay, đôi mắt đẹp nhìn về phía công chúa như cười như không, ánh mắt và giai điệu tiếng sáo vấn vít phất qua khóe mắt đuôi mày công chúa.

Ta thầm thở dài.

Chàng trai này bây giờ còn cuốn hút hơn năm đó, đối với công chúa cũng càng nguy hiểm hơn.

Tấu xong một đoạn dưới cái nhìn chăm chú đến thất thần của công chúa, Tào Bình hạ cây sáo rồng xuống, mỉm cười hỏi nàng: "Từ biệt gần năm năm, công chúa vẫn khỏe chứ?"

Công chúa khẽ cắn môi, không trả lời, xoay người muốn đi.

"Công chúa," Tào Bình gọi nàng, tiến vài bước lại gần nàng, nghiêng đầu cúi người đến là nhã nhặn, nhẹ giọng nói: "Thần có một chuyện nghĩ mãi không ra, mong công chúa chỉ giáo."

Công chúa do dự, nhưng cuối cùng vẫn đáp: "Chuyện gì?"

"Vì sao sau tết Càn Nguyên bốn năm trước, công chúa lại luôn tránh thần không gặp?"

Cậu vẫn cười rất ôn hòa, câu hỏi hỏi ra thì lại rất trực tiếp.

Hai mắt công chúa dâng lên ánh lệ.

Nàng vẫn duy trì tư thế đưa lưng về phía cậu, không để cậu phát hiện ra sự xúc động của mình lúc này.

Trầm mặc một lát, nàng rảo bước bỏ đi, cái sau cùng để lại cho cậu là một đáp án lặng im.

Công chúa thay y phục xong trở lại điện, vô tình cố ý lướt mắt qua chỗ ngồi dành cho khách nam.

Ta biết nàng muốn tìm gì, nhưng Tào Bình cũng không ở đó.

Ta lặng lẽ rời đi, không lâu sau trở về, nhỏ giọng báo cho nàng biết hướng đi của Tào Bình: "Tào công tử vẫn đang ở bên Dao Tân Trì, ngồi dưới cây liễu thất thần nhìn về phương xa...

Trời mưa, cậu cũng không có ý đi tránh."

Công chúa ngồi ngay ngắn, làm như không nghe thấy lời ta.

Một lúc lâu sau, nàng mới quay đầu lại gọi ta, khẽ giọng phân phó: "Bảo người đưa cho hắn cái ô đi."

Câu phân phó này cho thấy chung quy nàng vẫn không coi cậu là người dưng, qua đây, ta cảm giác được chuyện tình của đôi thiếu nam thiếu nữ này – nếu có thể coi tình cảm như ẩn như hiện ấy là chuyện tình – hãy còn cơ kéo dài.

Mà vài ngày sau, một chuyện bất ngờ cũng đã chứng minh cho cảm giác đó.

Ngày ấy, vị nhạc sư vốn luôn đúng giờ đến dạy công chúa không tới, người vào Nghi Phượng Các cầu kiến công chúa lại là Lư Dĩnh Nương nàng chán ghét xưa nay.

Lư Dĩnh Nương bẩm báo công chúa, vị nhạc sư cũ hôm nay bị ốm nên đặc biệt phái cô tới xin nghỉ với công chúa, công chúa có chỗ nào khó hiểu cần giải thích, có thể hỏi Dĩnh Nương.

Công chúa lạnh mặt, nói hôm nay không có vấn đề gì cần thỉnh giáo, bảo Dĩnh Nương đi về.

Dĩnh Nương thưa dạ, lui tới cửa, công chúa lại gọi cô lại, nói: "Thôi, đã tới rồi thì tấu một khúc cho ta nghe đi."

Dĩnh Nương ưng thuận, quay lại ngồi vào chỗ, mỉm cười hỏi: "Công chúa muốn nghe gì ạ?"

Công chúa đáp: "'Thanh bình nhạc'."

Dĩnh Nương cười: "Trong bữa tiệc mừng thọ hoàng hậu, khúc 'Thanh bình nhạc' của công chúa choáng ngợp bốn bề, thiếp mà tấu khúc này há chẳng phải múa rìu qua mắt thợ, học đòi vụng về ư?"

"Nào có," công chúa lạnh nhạt nói, "Tết Càn Nguyên bốn năm trước, khúc 'Thanh bình nhạc' Dĩnh Nương cô tấu cùng Tào đại công tử mới gọi là choáng ngợp bốn bề.

Ngón đàn tuyệt diệu, tư thái mỹ lệ của cô khiến mọi người khuynh đảo, mà giờ đây ta tấu khúc này mới là học đòi vụng về đó."

"Công chúa đừng nói vậy, thiếp tổn thọ mất."

Dĩnh Nương vội cúi người bái tạ, sau đó, cô kể lại một chân tướng chưa từng cho ai biết khi ấy: "Nói ra mới đáng thẹn làm sao.

Bận ấy thiếp nhận lệnh hợp tấu 'Thanh bình nhạc' cùng Tào đại công tử, chuyện đột ngột quá, trong lúc vội vàng thiếp cũng chẳng chuẩn bị cẩn thận được gì, chỉ bàn bạc đặng có vài câu với Tào công tử trước lúc diễn tấu, chi tiết phối hợp cũng là cậu ấy định.

Lúc hợp tấu, thiếp lại quá đỗi khẩn trương, liên tiếp phạm sai lầm, không phải quên biến điệu theo cách Tào công tử biên khúc thì cũng là quên phối hợp chỗ phân hợp giữa không hầu và sáo rồng, làm cậu ấy cứ phải đánh mắt nhắc nhở suốt, thiếp xấu hổ hết sức, sai lại thêm sai..."

Cô chưa nói hết, công chúa đã trợn to hai mắt, một tay bắt lấy cánh tay cô, giọng hơi run run, hỏi: "Là cô đàn sai nên hắn mới nhìn cô?"

Dĩnh Nương gật đầu, chúm chím đáp: "Vâng.

Khúc ấy đàn được tới cùng đều là nhờ Tào công tử phối hợp che đậy cho đấy ạ."

"Thì ra là thế..."

Công chúa buông Dĩnh Nương ra, ngơ ngẩn nhìn cô chằm chằm hồi lâu, bỗng bật cười không dứt, vùi đầu vào giữa cánh tay, tựa bàn không dậy nổi.

Dĩnh Nương thẹn thùng: "Thiếp lập lờ đánh lận con đen, để công chúa chê cười rồi."

"Ôi, không phải ta cười cô đâu..."

Công chúa vẫn nhoài người trên bàn, nhưng nghiêng đầu ngó cô, hai mắt như sao, lấp lánh ngập ánh vui mừng, "Cảm ơn cô, Dĩnh Nương.

Sắc son của cô hôm nay đẹp lắm, hương lan xạ xông áo cũng rất thơm."

2.

Xướng họa

Hằng tháng, Phu nhân Tào Dật Trương thị đều vào cung thăm viếng hoàng hậu, lần gần đây nhất, bà dẫn theo hai cô con gái cùng vào, mà lúc Tào nhị cô nương yết kiến hoàng hậu đã xin cầu kiến công chúa với lí do muốn thỉnh giáo nàng về không hầu.

Hoàng hậu tất nhiên là cho phép, tức thì sai nội nhân dẫn cô đi Nghi Phượng Các.

Tào nhị cô nương nhỏ hơn công chúa chút ít, chừng mười lăm mười sáu tuổi, tính tình cởi mở hoạt bát.

Vào rồi tíu tít trò chuyện cùng công chúa, chủ đề không gì ngoài cảm thụ khi mới học không hầu và những chỗ cảm thấy khó khăn, công chúa bèn mời cô gảy thử một khúc, cô đáp ngón đàn mình thô thiển, thẹn để mọi người nghe, xin công chúa bình lui tùy tùng.

Công chúa cũng bằng lòng, bảo mọi người lui, chỉ giữ lại mình ta bên cạnh.

"Hoài Cát am hiểu âm luật, em đàn có chỗ nào không đúng, huynh ấy cũng có thể chỉ ra."

Công chúa giải thích với Tào nhị cô nương.

Tào nhị cô nương gật đầu, cười nói: "Em biết, Lương tiên sinh không phải người ngoài."

Câu này làm ta cảm thấy ý cô không nằm trong lời.

Quả nhiên, điều kế tiếp cô làm cũng chẳng phải là đàn không hầu mà là lấy một chiếc ô giấy dầu từ túi gấm mang theo ra.

"Đại ca bảo em mang cái ô này tới trả lại cho công chúa."

Cô nói.

Đó đúng là chiếc ô ta sai người đưa cho Tào Bình hôm sinh nhật hoàng hậu.

Công chúa cũng không để ý nhiều, chỉ liếc mắt một cái, bảo ta nhận lấy, trách: "Một chiếc ô thôi, hà tất phải phiền em trả lại."

"Đại ca nói, công chúa chưa từng nói ô này là tặng huynh ấy nên cũng chỉ có thể coi là mượn, đương nhiên phải trả."

Tào nhị cô nương trả lời rồi nháy mắt với công chúa mấy cái, hé một nụ cười khác lạ rất đáng nghiền ngẫm, lại nói: "Đại ca em cẩu thả, mượn đồ người khác thường hay làm hỏng, hay là công chúa kiểm tra thử xem chiếc ô này có còn dùng tốt không, có bị hư hại gì không đi ạ."

Công chúa cũng có vài phần nghi hoặc, bấy giờ mới nhận lấy chiếc ô trong tay ta, từ từ mở ra.

Ô vẫn là ô, nhưng quả thực hơi khác so với khi trước – trên mặt ô dày đặc những con chữ dùng kim đâm ra.

Công chúa giơ ô về phía nguồn sáng ngoài cửa, tia sáng xuyên qua lỗ kim, những con chữ kia lập tức hiện ra sáng rực.

Trên đó viết một bài "Ngư gia ngạo":

Ngoài hiên cây biếc đượm nắng chiều, sóng dìu nhịp chèo lùa trống tiêu.

Áo hồng vờn bướm trong tuyết liễu, sao phiêu diêu, nghe ta ca tẫn câu thần diệu.

Bóng đậu cành cây chiều xuân cũ, áo la níu đứt nào khôn giữ.

Hận buổi năm nao quỳnh uyển tụ, lạ lùng ư, hoa rơi gió thổi tẩy mưa thu.

Chiếc ô giấy dầu tầm thường ấy bởi chỗ hư hại có dụng ý này mà trở thành bảo bối công chúa yêu thích không buông tay.

Mấy ngày sau đó, hễ có lúc nào rỗi rảnh, nàng không phải ôm chiếc ô này vào lòng vuốt ve thì cũng là lặng lẽ đi tới đình viện không người, mở ô ra giơ lên cao, để ánh mặt trời vàng óng xuyên qua trăm ngàn lỗ nhỏ, rắc lên thân mình lớp chấm sáng như kim sa.

Nàng cười tủm tỉm, vừa xem câu chữ trên ô, vừa xoay xoay cán ô, để những chấm sáng vàng hươm nhảy múa bay liệng quanh mình, bản thân cũng chậm rãi xoay tròn theo đó, làn váy la trắng xếp li cũng nhẹ nhàng xòe ra, tựa một đóa hoa nở rộ trong nắng chiều.

Những lúc như vậy, ta thường nấp sau cột trụ hàng hiên, làm cái bóng chính ngọ của nàng, yên lặng bầu bạn với nàng, đồng thời không để nàng cảm nhận được sự tồn tại của mình.

Ta đoán nàng sẽ hồi đáp lại lời thăm dò của Tào Bình.

Một buổi chiều nọ, nàng đơn độc khóa mình trong thư phòng, thật lâu sau vẫn chưa thấy bóng dáng đâu.

Ta đi dâng trà, gõ cửa mấy lượt mới thấy nàng luống cuống mở ra, trên tay còn vương dấu mực.

Ta mời nàng uống trà, lại liếc vào phòng, phát hiện ra trong sọt rác chất đầy những tờ giấy đã qua sử dụng.

Thừa dịp nàng cúi đầu uống trà, ta nhặt cục giấy vo tròn trên cùng lên, mở ra xem.

Nàng hô lên một tiếng kinh hãi, trong cơn hấp tấp làm sánh canh trà hắt ướt xiêm y mà cũng chẳng buồn đoái hoài, vội vã nhào tới cướp lấy tờ giấy trong tay ta.

Ta cười khẽ, vừa ngăn trở vừa xem tiếp.

Rất hiển nhiên, nàng đang điền từ với Tào Bình.

Trên tờ giấy là một bài "Ngư gia ngạo" đương viết dở:

Mộng về mai uyển lại tìm lối, hoa rừng thắm sắc nhuộm muôn cội.

Ngồi ngắm chim trắng múa xa xôi, sớm lại tối, ca tẫn hỏi người chốn nơi hồi.

Dăm năm dây đứt đã mấy bận, phá trống canh ba điệu nhạc ngâm...

Thấy nàng hãy còn đang cố sức giành giật, ta cười với nàng: "Đừng cướp nữa, kiệt tác của công chúa thần đã vinh dự đọc xong rồi."

Bấy giờ nàng mới nhụt chí, ngừng tay thôi tranh giành, rầu rĩ ngồi xuống, có vài phần buồn bực, cũng có vài phần ngượng ngùng, nàng quay đầu sang một bên, giận dỗi không chịu nhìn ta.

Ta tỉ mỉ đọc lại một lần nữa bài từ của nàng, lại xem dáng vẻ tức giận của nàng, dần cảm thấy hành động mới rồi của mình quá mức vô lễ, bèn hòa nhã ca ngợi nàng: "Bài từ này công chúa viết không tệ, thần đọc nhẩm rồi chỉ thấy ngập tràn tinh hoa, dư hương khắp miệng."

Nàng lườm ta: "Xem huynh cười là biết ngay huynh nói câu này chẳng có xíu thành ý nào hết."

Câu này gợi lên nụ cười thật sự của ta.

Ta dịu dàng ngắm nàng, chỉ cảm thấy nụ cười nhạt, cái nhăn mày của nàng không chỗ nào là không rung động lòng người, đến ánh mắt khi lườm nguýt cũng khả ái đáo để, thế nên, được nàng khinh bỉ oán trách cũng là một chuyện hạnh phúc.

"Sao nhìn ta như vậy?

Mặt ta dính gì à?"

Nàng hỏi, rất không yên lòng, đưa tay sờ sờ mặt, kết quả lại làm dấu mực trên tay dính lên mặt thật.

"Phải, có một chút."

Ta nói rồi chìa ống tay tấm áo đơn màu trắng sạch sẽ của mình ra, lau vết nhơ cho nàng.

Động tác này đã hóa giả địch ý nảy sinh trong cơn tức tối nàng dành cho ta, nàng cụp mắt, hỏi ta rất ư thấp thỏm: "Từ ta viết vẫn tệ thế à?"

Ta lắc đầu, động viên nàng: "Bây giờ viết đã hay hơn trước đây nhiều rồi."

Nàng nhoẻn cười vui vẻ.

Ta cũng cười theo, lại chỉ vào tờ giấy mở ra kia: "Viết nốt đi thôi."

"Ôi," Nàng cụt hứng thở dài, "Mấy câu sau nghĩ thế nào cũng thấy không vừa lòng, thế nên đến đây thì bỏ."

"Lại đang nghĩ xem chọn khoai sọ tròn hay khoai sọ chua à?"

Ta hỏi.

Nàng phì cười.

Đại khái là nhớ tới chuyện điền từ khi còn bé, nghĩ mà thẹn thùng, nàng lấy hai tay che mặt cười, cười cười một chốc, ngón tay lại he hé mở một khe hở, con mắt cười đến híp mí ngó qua đó dòm ta.

Ta ngậm cười nhìn nàng, nghĩ lại bài từ nàng viết, thoáng trầm ngâm rồi lấy bút ra, hoàn thành câu thơ dang dở của nàng:

Cũng muốn bắt chước chủy cung lầm, Chu lấn cấn (*), chân mày tương tư nhuốm đậm thâm.

(*) Chủy và cung là hai âm thuộc ngũ âm thời cổ.

Câu này lấy ý từ thành ngữ "曲有误,周郎顾 (khúc hữu ngộ, Chu lang cố)", xuất xứ từ "Tam quốc chí – Chu Du truyện", kể về danh tướng Chu Du nước Đông Ngô thời Tam quốc, tương truyền ông là người tinh thông âm luật, lúc nghe người ta diễn tấu, dẫu có uống vài chén rượu, đã ngà ngà, mà chơi nhạc có chút sai lầm cũng không gạt được tai ông, mỗi khi phát hiện ra sai sót, ông sẽ liếc về phía người diễn tấu, mỉm cười, nhắc nhở âm sai.

Viết xong, ta đặt bút xuống, cho nàng xem.

Nàng đọc rồi hai mắt tỏa sáng, dường như rất hài lòng, song lại lặng lẽ liếc ta, hai má ửng đỏ, đánh mắt về câu cuối cùng, lí nhí: "Nhưng mà, nhưng mà..."

Ta ôn hòa kiến nghị: "Nếu công chúa thấy hai chữ 'tương tư' bộc trực quá thì đổi thành 'xa nhớ' cũng không phải là không thể."

"Đổi cái gì mà đổi..."

Nàng đỏ mặt nói, "Ta có nói là muốn dùng đâu...

Ta chỉ viết chơi thôi, không phải là cho ai xem..."

Câu sau cuối, giọng nàng nghe như thầm thì.

Xé bỏ tờ giấy trên bàn, nàng vo nó thành một cục, nhưng lần này lại không ném vào sọt rác mà nắm trong lòng bàn tay, nhẹ bước chạy ra khỏi thư phòng.

Ta chậm rãi bước lại gần cửa sổ, buồn bã dõi bóng nàng đi xa, lại ngẩng đầu trông về chân trời – nơi ấy mặt trời đương trắng lóa, song lòng ta lại bắt đầu đổ mưa.

3.

Chuyện tình

Sau đó, ta không hỏi lại công chúa về "Ngư gia ngạo", song chẳng có gì để nghi ngờ, bài từ ấy nhất định đã được đưa đến tay Tào Bình.

Nàng đã nghĩ ra cách làm được, có thể là qua Tào nhị cô nương, có thể là sai Trương Thừa Chiếu chuyển đi – hắn vẫn luôn ra sức làm tất cả những gì có thể lấy lòng công chúa bất chấp nguyên tắc...

Nghĩ tới đây, ta có phần xem thường chính mình: Thực ra, chẳng phải lúc điền từ thay công chúa, ta cũng là đang làm chuyện bất chấp nguyên tắc sao?

Biết rõ nàng và Tào Bình không thể đi đến đâu, để mặc chuyện phát triển sẽ rất nguy hiểm, vậy nhưng vẫn trợ giúp nàng.

Ta khó mà giải thích được hành vi của mình, cũng không muốn nghĩ sâu, sợ dò xuống nữa sẽ chạm tới nguyên nhân mình chẳng thể tiếp thu được.

Tháng Mười hai năm ấy, kim thượng quyết định tuần du học phủ, bèn ngự giá đến Quốc tử giám ngoài Chu Tước Môn, bái tế Khổng Tử, thị sát học xá, đồng thời nghe quan giảng thư giảng kinh.

Quốc triều tôn sùng nho học, chú trọng đào tạo học trò, đó là nghi thức được cử hành hằng năm, nhưng lần này, công chúa lại xin được đi theo nghe Hồ Viện, trực giảng trứ danh của Quốc tử giám, giảng kinh.

Kim thượng tức khắc cự tuyệt, nói nữ tử vào Quốc tử giám bái tế nghe giảng là chuyện chưa từng xảy ra, tuyệt đối không thể đi.

Công chúa năn nỉ mãi, nói có thể không tham gia nghi thức cúng tế, hơn nữa mọi nơi hoàng đế đặt chân khi tuần du học phủ đều có trướng ngự che đậy, chỗ thánh giá nghỉ ngơi còn dựng bình phong và trướng la vàng, nấp trong đó sẽ không phải sợ bị người khác nhìn thấy, lúc giảng kinh nàng ngồi sau bình phong, không để người ta biết là được.

Kim thượng xua tay không đồng ý, công chúa dẩu môi nhìn phụ thân đăm đăm một lát, chợt thở dài, ủ ê than: "Chuyện con gái tiếc nuối nhất đời này chính là không thể sinh ra làm thân nam nhi, học tập kinh nghĩa thao lược dưới sự chỉ bảo của danh sư, san sẻ trăm mối bộn bề với phụ hoàng."

Câu này chọc trúng tâm bệnh của kim thượng, hốc mắt ngài bỗng chốc đỏ bừng, sau khi lặng lẽ nghiêng đầu lau hốc mắt, rốt cuộc ngài cũng buông miệng: "Được rồi, con đi theo cha.

Nhưng hành động cử chỉ nhất định phải thật cẩn thận, chớ để thất lễ trước Văn Tuyên vương (*)."

(*) Chỉ Khổng Tử.

Năm Khai Nguyên thứ hai mươi bảy, Đường Huyền Tông đã tôn Khổng Tử làm Văn Tuyên vương.

Hồ Viện là vị phu tử nổi tiếng nhất quốc triều, hiện đang giữ chức trực giảng Quốc tử giám, ngày thường chưởng quản Thái học viện, học trò có đến ba, bốn trăm người, phàm buổi ông dạy đều có người từ bên ngoài tới xin dự thính, lúc đông nhất thậm chí còn vượt hơn ngàn người, trong điện giảng mà không còn chỗ ngồi, đám học trò sẽ đứng ngoài cửa nghe.

Ông dạy dỗ phương pháp hiệu quả, trong chúng đệ tử có rất nhiều người đỗ đạt đăng khoa, đậu tiến sĩ kỳ thi đình gần đây nhất, mười phần phải đến bốn, năm là học trò của ông.

Mà y phục cử chỉ của nhóm học trò này thường na ná nhau, bởi vậy nên đi trên đường, người nhìn tuy không quen biết song chỉ cần liếc mắt là nhận ra được ngay họ là đệ tử Hồ Viện.

Tuy nhiên, công chúa khăng khăng đòi đi nghe giảng chuyến này hẳn không phải là thật sự muốn chiêm ngưỡng phong thái danh sư của Hồ Viện.

Học phủ mở công trong kinh đô quốc triều chia làm hai nơi: Quốc tử giám và Thái học viện.

Thái học viện thu nhận con em nhà quan viên từ hàng bát phẩm trở xuống và người xuất chúng thuộc tầng lớp thứ dân, còn Quốc tử giám là trường học cho con cháu quan viên từ thất phẩm trở lên đến cầu học – mà Tào Bình thì là học trò Quốc tử giám.

Ngày ấy kim thượng quả nhiên dẫn công chúa cùng đi Quốc tử giám, sau khi ngồi liễn vào cửa, ngài bảo công chúa đến chỗ nghỉ ở hậu điện nghỉ ngơi trước, bản thân thì lên chính điện thăm viếng Văn Tuyên vương Khổng Tử, dâng hương ba lượt, quỳ gối nhận tước, tế rượu ba lượt, rồi lại hạ bái.

Làm lễ xong xuôi mới có thể vào trướng thay y phục.

Hôm đó, công chúa mặc áo xanh cổ tròn, đội khăn chít đầu bằng vải sa quết sơn kiểu nữ, ăn vận rất mực nhũn nhặn, nom như một nữ quan thông thường, lại chỉ hành tẩu trong trướng ngự nên không khiến ai chú ý.

Kim thượng đổi mão miện, khoác áo choàng đỏ, thêm đai lưng ngọc, đi giày tơ, rồi lại lên sảnh chính điện giảng ngồi, phía sau có bình phong, công chúa bèn ngồi vào sau bình phong, ta hầu hạ bên cạnh nàng.

Tể thần tùy hành và quan dạy kinh, quan giảng thư, chư quan viên Quốc tử giám cùng học trò lần lượt bái tấu: "Thánh cung vạn phúc."

Tiếp đó, hoàng đế ban tọa, mọi người đáp dạ, ngoài quan dạy kinh và quan giảng thư ra, ai nấy đều vào chỗ nghe giảng.

Chư học trò đều mặc cùng một kiểu áo dài màu trắng, ngồi trên chiếu đất trong ngoài đại điện, kính cẩn theo hoàng đế và tể thần nghe quan giảng thư Hồ Viện giảng kinh.

Lúc ta vào điện đã chú ý quan sát, thấy Tào Bình ngồi ở vị trí dưới hiên ngoài điện.

Hồ Viện năm nay tuổi hạc sáu ba, tóc trắng mày dài, dung mạo cử chỉ đoan chính, công phục đỏ tím trên thân phẳng phiu tươm tất, gần như không chút nếp nhăn.

Nghe nói bất kể ngày nắng gắt, khi ông giảng kinh tất sẽ cẩn thận thêm một lớp áo đơn bên trong công phục, ngồi trên sảnh đường, coi đó là lễ nghi của bậc nghiêm sư.

Lúc này chỉ mới mở sách giở kinh mà trong ngoài điện đã im phăng phắc, từ kim thượng trở xuống không ai là không nghiêm mặt ngồi ngay ngắn, nín thở kính cẩn lắng nghe.

Nội dung ông giảng hôm nay là chương tiết trong "Dịch", mở đầu rõ nghĩa rồi tiến hành tuần tự từ cạn tới sâu, hình thức giảng giải tương đối sinh động.

Ta đứng sau bình phong nghe say sưa, muốn nghe rõ thêm, bất tri bất giác tiến lên mấy bước, đi tới trước bình phong, khá gần ngự tọa của kim thượng.

Trương Mậu Tắc hầu bên ngự tọa trông thấy, nghiêng đầu ra hiệu bảo ta vào trong, kim thượng lại mỉm cười, chỉ vào bên cạnh ngự tọa, gật đầu với ta, ám chỉ ta có thể đứng đó nghe.

Có lẽ là yêu chim yêu cả lồng, xưa nay ngài đối xử với ta vẫn luôn rất có thiện ý.

Ta cúi người tạ ơn, nán lại bên ngài.

Hồ Viện đương nói đến quẻ Càn, liếc nhìn kinh thư trước mặt, ông cao giọng đọc nguyên văn: "Càn, nguyên hanh lợi trinh."

Lời vừa nói ra, chúng thần tử kẻ sĩ trên điện đều nhìn nhau thất sắc, đến kim thượng cũng không khỏi kinh ngạc – Hồ Viện thế mà lại không tránh tên húy của kim thượng, dõng dạc đọc cả chữ "Trinh".

Người khiếp sợ nhất hẳn phải là ta.

Ký ức u tối nhất khi còn nhỏ cũng là do nói thẳng chữ "Trinh" này mà ra.

Đối mặt với trăm nghìn ánh mắt kinh ngạc, Hồ Viện không hoảng không lo, chỉ chắp tay với kim thượng, giải thích bằng năm chữ: "Gặp văn không kiêng kị."

Sau đó, ông bình tĩnh giảng tiếp: "Nguyên, tức thiện lành mà trưởng thành; Hanh, tức tốt đẹp mà tụ họp; Lợi, tức chính nghĩa mà hòa hợp; Trinh, tức trung tâm của sự vật.

Quân tử có đủ bốn đức này, tự cổ gọi là Càn, nguyên hanh lợi trinh..."

Còn chẳng kiêng dè mà nói liên tục ba lần chữ "Trinh".

Kim thượng cụp mắt ngẫm ngợi, sau cùng lựa chọn lắc đầu mỉm cười, còn đặc biệt liếc sang ta, ý cười sâu thêm phần nào.

Có lẽ ngài cũng nhớ đến chuyện ta bị phạt vì phạm húy năm đó.

Ta một lần nữa khom người vái tạ ngài, cũng mỉm cười, trong lòng ít nhiều sinh cảm kích.

Năm ấy Nhậm Thủ Trung vừa thăng chức, đối đãi với thuộc hạ rất nghiêm, bắt được ta không tránh tên ngự là muốn giết một răn trăm, sau được Trương tiên sinh tương trợ, xin hoàng hậu góp lời với quan gia, khoan thứ cho ta.

Sau nữa ta làm nhập nội nội thị, thường xuyên gặp mặt đế hậu, họ cũng từng nhắc tới chuyện này, nhưng đều hời hợt lấy làm bông lơn.

Kim thượng xưa nay luôn khoan dung nhân ái, sẽ không thực sự định tội ai vì việc ấy, hôm nay đối với Hồ Viện cũng là như thế, trọng tội trong mắt người đời, ngài chỉ cười xòa cho qua.

Ta đứng thẳng, tiếp tục nghe giảng.

Chừng nửa canh giờ sau, Hồ Viện khép sách tạm nghỉ, kim thượng ban thưởng canh trà cho giảng viên, chúng thần tử và học trò, còn đặc biệt lấy một chung, bảo ta bưng về cho công chúa.

Ta nhận lấy, quay trở lại sau bình phong, nhưng lại chẳng thấy công chúa đâu.

"Công chúa quay về hậu điện thay y phục rồi ạ."

Gia Khánh Tử hầu hạ sau bình phong báo ta hay.

Ta bất an, hỏi nó: "Công chúa đi một mình à?"

Gia Khánh Tử đáp: "Dẫn theo Vận Quả Nhi và Hương Duyên Tử ạ."

Ta đặt canh trà sang một bên, vòng ra ngoài điện kiểm tra trước – Tào Bình quả nhiên đã không còn tại chỗ.

Vội vã lui về hậu điện, cũng không thấy công chúa bên trong, ta tiếp tục rảo bước giữa phòng ốc Quốc tử giám, đi tìm nàng.

Hiện giờ, đến tạp dịch phụ trách vẩy nước quét nhà cũng đứng ngoài điện giảng nghe bài, trong sân trống không, vô cùng tĩnh lặng, ngay cả một người để hỏi thăm cũng chẳng gặp được.

Mãi đến khi đi tới tàng thư viện ẩn hiện trong rừng trúc mới trông thấy bóng dáng Vận Quả Nhi và Hương Duyên Tử.

Hai đứa nó ngồi bên vườn hoa ngoài tàng thư viện chơi xóc tiền, thấy ta qua, lập tức đứng nghiêm, đại khái là bị thần sắc của ta dọa sợ, vẻ mặt chúng khiếp hãi, gọi: "Lương tiên sinh."

"Công chúa đâu?"

Ta hỏi.

Hai con bé chần chừ, sau cùng một đứa ngoảnh đầu đánh mắt vào trong viện, một đứa nhẹ giọng đáp: "Công chúa ở bên trong đọc sách..."

Ta đi vào sân.

Phòng ốc sảnh đường khép hờ cửa.

Ta suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng vẫn chậm rãi vào trong.

Sảnh chính không cất sách, nhưng hai mé tả hữu đều có gian phòng sâu dài, dựng đầy từng dãy giá sách.

Ánh sáng tối mờ, lại có giá sách che chắn nên chẳng thấy bóng dáng công chúa đâu.

Ta tập trung phân biệt, loáng thoáng nghe thấy trong căn phòng bên trái có tiếng vang nho nhỏ, bèn khẽ khàng đi sang.

Theo bước chân ta di chuyển, những giá sách san sát từ từ lướt bên thân lùi ra sau, trong không khí trôi nổi mùi mực cũ giấy cổ lâu năm, lốm đốm chấm sáng xếp thành hàng có thứ tự rọi vào phòng qua ô cửa sổ, ta lần lượt đi xuyên qua chúng, để mặc vụn sáng lướt qua mặt mình, tâm trạng chẳng khác gì tầm mắt thời khắc này, thoắt sáng thoắt tối.

Sau nữa, ta trông thấy họ, cô thiếu nữ áo xanh cùng cậu học trò áo trắng, đứng nơi sâu nhất trong phòng, mở một quyển trục hoành phi, mỗi người cầm một cạnh, quyển trục vừa vặn che trước mặt họ, như đang đứng chung một chỗ cùng xem.

Thế nhưng, đáng tiếc là họ chẳng phải loại học trò chăm chỉ đến thế.

Tay họ run run, quyển trục tuột xuống, chậm rãi để lộ khuôn mặt hai người.

Họ nghiêng đầu về phía nhau, nhắm mắt, mi mày ngậm cười, hai đôi môi chạm vào nhau, khe khẽ nhẹ nhàng, bàn tay không cầm quyển trục quyến luyến đỡ lấy hông nhau.

Ta không sửng sốt như lần gặp phải vụ việc trong Nhu Nghi Điện nhiều năm trước.

Suy đoán trong lòng lắng xuống, tâm cảnh cũng theo đó mà khôi phục bình yên, chỉ là nhất thời không biết phải làm sao, đứng lặng trong không gian hai người họ lơ là, hồi lâu sau mới phát hiện ra tay áo mình thấm lạnh.

Cuối cùng, ta quyết định lặng lẽ rời đi.

Nhưng vừa quay người lại đã lập tức ý thức được sự tùy hứng của công chúa và Tào Bình hôm nay sẽ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng cỡ nào.

Có hai người không tiếng động đứng sau lưng ta – Hoàng đế Đại Tống sắc mặt lạnh lẽo, và Trương Mậu Tắc theo hầu.

4.

Cô hàn (*)

(*) Đây là từ ghép giữa "cô độc" và "hàn vi".

Sao họ lại ở đây?

Là nghe thấy đối thoại giữa ta và Gia Khánh Tử sau bình phong hay là động thái vội vã ra ngoài dị thường của ta đã gợi lên sự hoài nghi trong họ?

Những nghi vấn này hiện lên chớp nhoáng trong đầu ta, nhưng đã chẳng kịp để mà nghĩ kĩ.

Ta quỳ xuống trước kim thượng, rọi ánh mắt khẩn cầu về phía ngài, có điều không phải là cầu cho bản thân.

Kim thượng chẳng buồn lý tới, sải bước đi qua bên cạnh ta, rút phắt quyển trục trong tay công chúa và Tào Bình ra, giương tay lên ném "bốp" một tiếng nện vào giá sách bên cạnh.

Quyển trục nặng nề rơi xuống đất, âm thanh vang lên giữa chốn cất sách tối tăm tĩnh mịch này nghe vô cùng đáng sợ.

Biến cố bất ngờ xảy ra khiến đôi tình nhân trẻ sững sờ trong chốc lát, người phản ứng lại trước là Tào Bình.

Cậu cấp tốc quỳ rạp xuống trước mặt kim thượng, chắp tay: "Dượng, chuyện hôm nay là thần mạo phạm, không liên quan gì đến công chúa.

Thần cam nguyện chịu bất kỳ hình phạt nào, chỉ xin dượng đừng trách phạt công chúa."

Công chúa bước lên hai bước rồi quỳ xuống, cố ý vô tình che chắn hờ cho Tào Bình, nói với phụ thân: "Cha, chuyện không liên quan tới chàng, là con gái hẹn chàng ra."

"Con hẹn nó ra?"

Kim thượng lạnh lùng hỏi, "Hẹn thế nào?"

Ngài quay sang liếc ta, lại hỏi: "Qua ngươi?"

Ta còn chưa mở miệng, Trương tiên sinh đứng bên cạnh đã biện giải thay ta: "Bệ hạ, nếu Hoài Cát dắt mối cho công chúa thì mới nãy khi ra ngoài tìm người, thần sắc thằng bé đã chẳng lo lắng như thế."

Công chúa cũng cất lời bảo vệ ta: "Không liên quan tới Hoài Cát, huynh ấy căn bản không hề biết gì về việc này."

Dường như kim thượng cũng chẳng muốn dẫn trọng điểm chú ý lên ta, ngài hơi cau mày, môi mím chặt, ánh mắt rét lạnh quay trở lại xuống mặt Tào Bình.

Ta để ý thấy tai ngài đỏ gay – lúc ngài phẫn nộ cực điểm sẽ xuất hiện hiện tượng như vậy.

"Mậu Tắc," Ngài nhìn chằm chằm Tào Bình, ra lệnh cho Trương tiên sinh bằng một giọng nói bởi bị đè nén mà trầm xuống rất thấp: "Ra ngoài, tìm hai người bên hoàng thành ty tới đây."

Ý ngài là gọi thị vệ hoàng thành ty đến, áp giải Tào Bình đi trị tội.

"Bệ hạ, tuyệt đối không thể làm vậy!"

Ta vái lạy ngài, van lơn: "Xin chớ để người ngoài vào, bằng không danh dự của công chúa sẽ bị hủy hoại trong khoảnh khắc mất."

Trương tiên sinh cũng khom người với ngài, khuyên nhủ: "Bệ hạ, hiện giờ tể chấp nhị phủ và các văn thần khác đều đang ở Quốc tử giám, nếu đột ngột cho đòi người bên hoàng thành ty vào, quần thần tất sẽ hỏi rõ nguyên nhân, việc này truyền ra nhất định sẽ thành điều tiếng, đài gián sẽ đồng loạt vạch tội, truy cứu trách nhiệm của những người liên quan, bị vạ lây trong tương lai e rằng không chỉ có hai người công chúa và Tào công tử."

Kim thượng chẳng ừ hử gì, lồng ngực phập phồng chậm rãi như đang điều chỉnh hô hấp, tận sức tránh cho lửa giận bùng nổ.

Trương tiên sinh thấy vậy, lại nhẹ nhàng kiến nghị: "Hiện giờ, Hồ phu tử hẳn đã tiếp tục giảng kinh, mời bệ hạ về điện thôi ạ.

Rời đi quá lâu sẽ có người đi khắp nơi tìm kiếm."

Kim thượng chỉ lặng thinh, một lát sau, rốt cuộc cũng mở miệng, nói với Tào Bình: "Hiện tại ta không xử phạt ngươi là bởi tạm thời chưa nghĩ ra phải dùng hình phạt nào mới đủ để trừng trị tội lỗi của ngươi...

Ngươi tự giải quyết đi."

"Dạ..."

Tào Bình gượng nhếch một nụ cười xám xịt, quỳ rạp xuống bái lạy, "Tạ ơn dượng."

Trước nay kim thượng vẫn luôn đối xử rất tốt với Tào thị, đặc biệt cho phép bọn Tào Bình hành lễ người nhà với ngài, gọi ngài là dượng khi ở riêng.

Nhưng lúc này đây, nghe Tào Bình gọi thế lại gợi nên cho ngài tâm trạng khác hẳn.

"Dượng?"

Ngài cười khẩy, quay sang hỏi Trương tiên sinh: "Nàng có biết việc này không?"

Trương tiên sinh ngẩn người, lập tức hạ bái: "Bệ hạ, hoàng hậu hoàn toàn không biết gì về việc này."

Vào thời khắc vi diệu thế này, Trương tiên sinh trả lời nhanh chóng như vậy cũng chẳng phải là quá sáng suốt.

Hơi lạnh luồn sâu trong mắt kim thượng, ngài vặn hỏi thầy: "Ngày nào ngươi cũng đi gặp nàng à?

Thế nên nàng biết gì, không biết gì, nói gì, nghĩ gì, ngươi đều tường tận hết?"

Trương tiên sinh không dám đáp lại, chỉ im lặng.

Một lần nữa lạnh lùng đưa mắt quét một lượt những người quỳ trên đất, kim thượng phất tay áo, xoay người rời đi.

Đợi ngài ra khỏi cửa rồi, Trương tiên sinh mới đứng lên, nâng công chúa và Tào Bình dậy, nói với Tào Bình: "Tào công tử mau theo tôi về nghe giảng đi thôi, đừng để bị người khác nhìn ra khác thường."

Sau đó, thầy lại dặn ta: "Hoài Cát, cậu ở đây với công chúa trước đã, đợi chốc nữa hai người hẵng ra."

Sau khi về cung, kim thượng lập tức cấm túc công chúa trong Nghi Phượng Các, Vận Quả Nhi và Hương Duyên Tử thì bị đuổi sang lao dịch ở Dao Hoa Cung nơi hậu phi bị phế trú ngụ, nhưng về phần ta, nhất thời lại chưa có bất kỳ hình phạt nào.

Ta kể lại sự việc xảy ra trong Quốc tử giám với Miêu thục nghi, cũng thuật sơ qua việc công chúa và Tào Bình có hảo cảm với nhau, nhưng không đề cập chi tiết đến mấy lần họ bên nhau và chuyện điền từ xướng họa, chỉ nói họ chạm mặt trong các bữa tiệc rượu rồi vô tình gặp lại ở tàng thư viện.

Nhưng chỉ thế thôi cũng đã đủ làm Miêu thục nghi hết hồn hết vía.

Đầu tiên, bà trách móc ta không ngớt tội không theo dõi công chúa sát sao, sau đó lại vội vã đi tìm hoàng hậu thương nghị.

Khi trở về, vẻ mặt bà u sầu, nói: "Sau khi biết việc này, hoàng hậu đã đi Phúc Ninh Điện cầu kiến quan gia, nhưng quan gia giận dữ khôn nguôi, từ chối không gặp."

Công chúa bị nhốt trong phòng, cả ngày chẳng thiết tha gì đến ăn uống, không phải nức nở thương tâm thì cũng là đờ đẫn nhìn ra ngoài cửa sổ hồi lâu.

Thỉnh thoảng ta bưng trà nước vào khuyên nàng dùng bữa, nàng chẳng thèm lý đến, chỉ kéo ta hỏi: "Tào Bình sao rồi?"

Ta đáp không biết, nước mắt của nàng tức khắc lại rơi xuống: "Có phải chàng đã chết rồi không?

Cha nói sẽ không bỏ qua cho chàng..."

Để trấn an nàng, ta đồng ý nghĩ cách dò la tin tức của Tào Bình.

Ta tìm đến Trương Thừa Chiếu, bảo hắn mượn cớ xuất cung, tới nhà Tào Dật hỏi thăm.

Sau khi trở về, hắn nói mà líu lưỡi liên tục: "Khủng khiếp hết sức, tôi còn chưa tới gần cửa chính nhà ông ấy đã thấy chung quanh bao vây một đống người của hoàng thành ty, không thể làm gì khác đành trở về...

Có điều họ cũng chỉ mặc thường phục, có lẽ quan gia chỉ muốn giám thị trông chừng Tào Bình chứ không muốn để người ngoài biết."

Nhân lúc này, ta hỏi hắn: "Công chúa trao đổi tin tức với Tào Bình có phải do cậu nhúng tay vào giúp không?"

Hắn khiếp đảm nhảy dựng lên: "Không bằng không chứng, cậu đừng có mà vu oan cho người khác!"

Ta cười khẩy: "Cậu biết từ trước rằng công chúa sẽ gặp mặt Tào Bình ở Quốc tử giám, ngày đó mới mượn cớ không đi chính là vì sợ nếu xảy ra bất trắc sẽ trốn không thoát được can hệ."

Hắn vẫn không chịu thừa nhận, phủ nhận kịch liệt quá lại thành ra mất tự nhiên.

Ta không truy vấn nữa, chuyện phải lo lắng bây giờ quá nhiều, không rảnh truy cứu việc này, huống hồ, trong vụ việc giữa công chúa và Tào Bình, tự bản thân ta cũng chẳng phải không thẹn với lương tâm.

Công chúa không ăn không uống, nhanh chóng trở nên cực kỳ suy nhược.

Mãi đến khi hoàng hậu đích thân đến thăm, ôn tồn khuyên bảo, nàng mới miễn cưỡng bỏ bụng chút cháo loãng.

"Nương nương," Bát cháo còn chưa ăn xong, nàng đã lại nước mắt ròng ròng, "Cha sẽ xử trí Tào ca ca ra sao ạ?"

Hoàng hậu ôm lấy nàng, vỗ lưng nàng nhè nhẹ, dịu dàng đáp: "Không sao đâu...

Nương nương sẽ khuyên cha con, thằng bé sẽ không sao hết..."

Nhưng thực tế, quyết định cuối cùng của kim thượng sẽ thế nào, bà cũng không nắm chắc.

Sau khi ra khỏi phòng công chúa, ta nghe thấy hoàng hậu nói với Miêu thục nghi: "Em trai ta biết được việc này đã bí mật dâng tấu vào cung tự hặc, xin bãi quan chịu tội, nhưng quan gia thiêu hủy tấu chương, không trả lời, e là không muốn việc này truyền ra...

Ta cũng hạ lệnh không cho phép cung nhân bàn tán về lệnh cấm túc công chúa của quan gia, bằng không sẽ nghiêm phạt...

Chỉ là, muốn khuyên quan gia nguôi giận thì còn phải chờ thêm một thời gian nữa.

Mấy ngày nay, rất nhiều thần tử dâng sớ xin ngài lập hoàng tử, ngài đã phiền não sẵn lại càng thêm sầu muộn, long thể cũng bất an..."

Kể từ khi bát công chúa mất, suốt mười mấy năm nay, tần ngự của kim thượng chẳng những không sinh hạ được hoàng tử kế tiếp mà thậm chí đến công chúa cũng không thêm được mụn nào.

Tuy Thập Tam Đoàn Luyện là con nuôi của hoàng đế, nhưng bởi trước sau kim thượng vẫn hi vọng hậu cung sinh con trai nên vẫn chưa chính thức hạ chiếu xác nhận thân phận hoàng tử của Thập Tam Đoàn Luyện.

Nay, chư thần thấy tuổi tác hoàng đế đã dần cao, lại không có con trai thân sinh, bèn lũ lượt dâng sớ xin lập hoàng tử mà kim thượng vẫn trì hoãn đó giờ, điều này cũng trở thành một tâm bệnh gây nên cho ngài vô vàn rối nhiễu.

Sau đó, một tin tức xấu khác truyền tới, kim thượng không lệnh Trương Mậu Tắc vào triều hay tùy hành hầu hạ nữa, tùy tùng phục dịch hằng ngày đổi thành nhập nội đô tri Sử Chí Thông và phó đô tri Võ Thế Long mà hoàng hậu tiếp xúc không nhiều.

Mặc cho Miêu thục nghi khẩn cầu cỡ nào, liên tiếp hơn mười ngày, kim thượng vẫn không gặp mặt công chúa.

Song, đúng lúc Miêu thục nghi đã cận kề tuyệt vọng, Sử Chí Thông bỗng tới Nghi Phượng Các, thông báo: "Quan gia muốn đến thăm công chúa, mời Miêu nương tử chuẩn bị tiếp giá."

Thế rồi, y kể rõ đầu đuôi chuyện này như sau:

Mới đây, ngự sử trung thừa Trương Biện thường xuyên dâng sớ vạch tội trọng thần nhị phủ, hôm nay kim thượng triệu kiến ông, hỏi: "Khanh vốn cô hàn, cớ sao lại cứ động chạm đến cận thần như thế?"

Trương Biện vái dài, đáp: "Thần không cô hàn mà chính bệ hạ mới cô hàn đấy ạ."

Kim thượng hỏi giải thích ra sao, Trương Biện nói: "Thần một thân áo vải mà còn bẩm được tới tận nơi đây, làm bạn với bệ hạ, trong nhà có vợ con, ra ngoài có thân thích, mà bệ hạ thì trong không hiền thần, ngoài không danh tướng, lên triều đình bị cô lập, về hậu cung cũng chỉ có một, hai hậu phi hợp ý vừa lòng, còn chẳng phải là cô hàn?"

Kim thượng nghe vậy buồn bực không vui.

Trở lại tẩm điện, trầm mặc ngẫm ngợi hồi lâu rồi quyết định đích thân đến Nghi Phượng Các thăm công chúa, bèn lệnh Sử Chí Thông tới truyền khẩu dụ trước.

Miêu thục nghi nâng tay ngang trán bái tạ không dứt, mừng rỡ khôn xiết khi lời nói của Trương trung thừa đã đả động được quan gia nhớ đến tình thân máu mủ với công chúa.

Sau đó bà lo liệu mọi bề, sai người chỉnh lý phòng ốc trong gác, lại mệnh Hàn thị và chúng thị nữ đi hầu công chúa rửa mặt chải đầu.

Nhưng công chúa từ chối tất cả, uể oải nằm trên giường, mặt vương đầy dấu lệ.

Lúc kim thượng giá đáo, công chúa vẫn chưa dậy.

Kim thượng hơi do dự, cuối cùng vẫn vào phòng nàng thăm.

Thấy sắc mặt công chúa trắng bệch, tiều tụy khôn thấu, kim thượng lập tức rướm lệ.

Ngài lặng lẽ quay đầu lau đi, lại tới bên giường công chúa ngồi xuống, mỉm cười gọi nàng: "Huy Nhu, cha tới thăm con đây.

Con đã khá hơn chút nào chưa?"

Công chúa mờ mịt nhìn ngài, cất tiếng gọi mơ hồ: "Cha."

Kim thượng đáp lời, thần sắc thoáng ló rạng.

Công chúa dần có ý thức, gắng gượng ngồi dậy, lại nói với phụ thân một câu: "Con không muốn lấy Lý Vĩ."

Kim thượng chán nản, song cũng không bác bỏ, quay đầu sai Hàn thị mang một bát cháo tới, tự tay nhận lấy, hòa nhã bảo công chúa: "Lâu lắm rồi chưa ăn phải không?

Nào, ăn cháo đi đã, ăn xong chúng ta lại nói."

Ngài cầm thìa, bón từng miếng cho công chúa, công chúa cũng biểu hiện hết sức bình tĩnh, nuốt từng miếng xuống.

Đợi ăn xong cháo rồi, kim thượng vừa đặt bát sang một bên, công chúa đã lập tức nhắc lại: "Con không muốn lấy Lý Vĩ."

Kim thượng thở dài, như muốn khuyên bảo: "Huy Nhu..."

Công chúa lại ngắt lời ngài, hỏi vấn đề nàng quan tâm nhất: "Cha đã làm gì Tào Bình rồi?"

Kim thượng nắm tay nàng: "Huy Nhu, con nghe cha nói..."

Công chúa bỗng vươn hai tay về phía ngài, ôm cổ phụ thân như khi còn nhỏ, cằm đặt nhẹ lên vai ngài, ngăn ngài nói hết câu, bản thân mình cũng im lặng thật lâu.

Động tác thân mật này tựa hồ khiến kim thượng cảm động, cũng nhẹ nhàng ôm lấy con gái.

Ta đứng sau lưng kim thượng, từ góc độ này có thể thấy rõ khuôn mặt công chúa.

Chính khi ấy, con mắt mới nãy còn đờ đẫn của nàng lóe lên vài tia sáng u tối, hé ra một nụ cười lạnh lẽo quái gở, nàng kiên định nhấn rõ từng chữ bên tai phụ thân: "Cha, nếu cha giết Tào Bình, con sẽ giết đứa con gái duy nhất của cha!"

Lưng kim thượng tức thì run lên dữ dội như bị ai vỗ mạnh một chưởng, lại cũng như đột ngột phát cơn nôn mửa.

Nhưng ngay sau đó ngài đã bình ổn lại, không còn phản ứng dị thường gì nữa, tiếp tục ôm công chúa, một lúc lâu sau mới chậm rãi buông ra, tiếp đó, không nói một lời, xoay người đi ra ngoài.

Ta để ý thấy trong quá trình ra cửa, ngài một mực lấy tay áo che miệng.

Ta đi theo đằng sau ngài, tiễn ngài ra tận cửa gác.

Ngài đi bước thấp bước cao, có phần lảo đảo, ta lại gần dìu ngài, bị ngài vung tay áo đẩy ra.

Chính vào khoảnh khắc ấy, ta phát hiện ra, khóe miệng ngài bỗng đâu xuất hiện vết máu đỏ tươi.

Ta còn đang lưỡng lự có nên mở miệng nhắc nhở nội thị đi cùng ngài luôn bây giờ không, hai chân ngài đã nhũn ra, ngã xuống ngay trước mặt ta.

5.

Ốm bệnh

Kim thượng nhanh chóng được đưa về Phúc Ninh Điện.

Lúc Miêu thục nghi dẫn theo ta chạy tới tạ tội, ngài đã tỉnh lại, bên người vây đầy thái y Trương Mậu Tắc mời đến, hoàng hậu cũng có mặt trong điện.

Khi ấy, hoàng hậu tự mình rót bát thuốc, đưa tới trước mặt ngài, đang định khuyên ngài uống thì bị ngài giơ tay lên cản, bát thuốc lật úp, nước thuốc tạt hoàng hậu ướt đẫm.

"Ta không bị bệnh!"

Ngài nổi nóng bực dọc nói.

Hoàng hậu nín thinh, tạm thời chưa bận tâm đến việc thay y phục, chỉ bảo nội nhân dọn bát thuốc xuống.

Miêu thục nghi thấp thỏm tiến lên, hạ bái thỉnh tội thay con gái lớn.

Kim thượng thoáng liếc bà, chỉ đáp bằng một chữ: "Miễn." lại nhìn sang ta, hỏi: "Ngươi có nói với Huy Nhu chuyện của ta không?"

Ta nghĩ hẳn ý ngài là chuyện ngất xỉu ngoài Nghi Phượng Các, bèn đáp: "Quan gia đi rồi, công chúa lại nằm xuống chợp mắt.

Thần định đợi công chúa tỉnh lại rồi mới báo người việc này, đến lúc đó nhất định người sẽ qua đây thỉnh tội với quan gia ạ."

Kim thượng xua tay: "Để nó nghỉ ngơi an ổn đi, đừng nói cho nó biết."

Mấy ngày sau đó, kim thượng vẫn từ chối uống thuốc, mà khí sắc và tinh thần thì đều ngày một sa sút.

Chẳng qua bao lâu, năm mới lại tới.

Theo thường lệ, triều đình quốc nội mà xảy ra chuyện lớn không lành thì năm sau sẽ đổi niên hiệu.

"Chí Hòa" hiện giờ hiển nhiên đã là một niên hiệu không lành, đổi được hai năm, mở đầu bằng cái chết của Trương quý phi, kết thúc tại trận ốm bệnh của kim thượng, bởi vậy nên, bước sang một năm hoàn toàn mới này, niên hiệu lại đổi sang một cái hoàn toàn mới khác – Gia Hựu.

Nhưng niên hiệu mới cũng chẳng lập tức mang lại vận may cho hoàng đế, sau tân niên, bệnh của ngài ngược lại còn có xu thế trở nặng.

Mồng một tết Gia Hựu năm thứ nhất, kim thượng ngự Đại Khánh Điện, xem đại triều hội.

Sau khi bách quan xếp hàng, nội thị cuộn rèm che trước ngự tọa lên, cho chư thần diện kiến hoàng đế, đúng lúc ấy kim thượng lại trúng cơn cảm gió váng đầu, mũ mão lệch đi, nghiêng sang một bên.

Người xem kinh hãi, kẻ hầu hai bên vội vã buông rèm, dùng ngón tay bấm nhân trung kim thượng mới cứu tỉnh được ngài.

Một lần nữa cuốn rèm, cấp tốc hành lễ xong, chúng hoạn giả đỡ ngài trở về tẩm điện.

Sau buổi chúc mừng năm mới, sứ giả Khiết Đan vào chầu, theo thường lệ, triều đình bày rượu ban tiệc ở Tử Thần Điện.

Lúc sứ giả vào tới đình, kim thượng chợt cao giọng hét: "Mau triệu sứ giả lên điện, trẫm suýt nữa không gặp được họ rồi!" lời nói kế tiếp cũng lộn xộn, chúng nội thần hiểu là bệnh tật kim thượng phát tác, lập tức dìu ngài về cung, để tể thần lấy danh nghĩa kim thượng chỉ dụ sứ giả Khiết Đan, giải thích là đêm trước trong cung uống rượu quá nhiều, hôm nay không thể đích thân tới tiệc, sai đại thần thưởng cỗ ở trạm dịch, vẫn trao quốc thư.

Kể từ đó, kim thượng triền miên ốm bệnh trên giường, không thể lên triều.

Trải qua tể chấp yêu cầu, đổi thành quan viên nhị phủ đến tiểu điện Nội Đông Môn gần nội cung nhất sinh hoạt, gặp kim thượng mỗi buổi sáng sớm ở đó.

Tình hình của công chúa cũng chẳng mấy tốt đẹp.

Nàng vẫn trong trạng thái nửa tuyệt thực, ta và Hàn thị chỉ có thể dỗ nàng uống chút cháo vào thời điểm nàng mơ màng, lâu dần, bộ dáng nàng cũng y như mắc bệnh nặng.

Miêu thục nghi mời thái y tới kê thuốc mấy lần, nhưng công chúa lại thà chết không uống, cả ngày không khóc cũng mê man, chẳng có chút tinh thần nào.

Ta đương hết đường xoay sở thì bỗng nghĩ đến chuyện Trương tiên sinh châm cứu cho Thu Hòa.

Tuy tình trạng của công chúa khác với Thu Hòa khi đó nhưng chưa biết chừng châm cứu cũng có thể vực lại chút tinh thần cho nàng, vả lại, Trương tiên sinh ở Ngự dược viện đã nhiều năm, y thuật hẳn cũng rất cao minh, hỏi ý kiến thầy dẫu sao cũng vẫn tốt hơn.

Song liên tiếp hai ngày, ta đến tìm nhiều lần từ Ngự dược viện đến tận Phúc Ninh Điện mà vẫn không gặp được Trương tiên sinh.

Sau, ta cảm thấy quái lạ, bèn hỏi một tiểu hoàng môn Ngự dược viện hướng đi của Trương tiên sinh.

Cậu ta không biết ta, quan sát rất cảnh giác, hỏi: "Anh là thuộc hạ của Thạch đô tri?"

Thạch đô tri chỉ Thạch Toàn Bân, thân tín của Trương quý phi năm xưa, sau khi quý phi hoăng, kim thượng đã thăng y lên làm phó đô tri.

Tuy ta và Trương tiên sinh quen biết đã nhiều năm, nhưng thường ngày nếu không có việc gì lớn, hai ta cũng chẳng mấy khi gặp mặt riêng, bởi vậy nên hoạn giả dưới quyền thầy không phải ai cũng nhận ra ta.

Đối mặt với câu hỏi của cậu tiểu hoàng môn này, ta lắc đầu phủ nhận, nói cho cậu ta biết: "Tôi là Lương Hoài Cát."

"Ồ, hóa ra là Lương cao phẩm, tôi biết anh."

Cậu ta yên lòng, mỉm cười báo với ta: "Trương tiên sinh xuất cung rồi ạ."

Ta truy vấn: "Đi đâu?"

Cậu ta trả lời: "Tôi cũng không biết.

Tiên sinh nói trước khi đóng cửa cung sẽ trở về, anh đợi đến lúc đó hẵng quay lại."

Xế chiếu, ta quay lại, quả nhiên gặp được Trương tiên sinh.

Thầy phong trần mệt mỏi, mắt vằn vện tia máu, hẳn là do gần đây phải vất vả ngược xuôi.

Thầy thấy ta, lập tức dẫn ta vào buồng làm việc của mình, hỏi: "Là chuyện của công chúa à?"

Ta gật đầu, thuật lại tình hình của công chúa cho thầy nghe, hỏi thầy có thể làm châm cứu không, thầy nói: "Công chúa đây là mắc tâm bệnh, châm cứu không có tác dụng gì lớn...

Cậu trở về nói cho người biết, người nhất định sẽ có cơ hội gặp lại Tào Bình, thế nên bây giờ phải khỏe lên.

Ăn nhiều vào tất sẽ bình phục."

"Thế...là lừa người ạ?"

Ta nghi hoặc hỏi.

Thầy cười nhạt nhòa: "Không tính là lừa.

Họ sẽ không được như nguyện, nhưng nhất định vẫn còn cơ hội gặp lại."

Thấy thầy không có ý định giải thích cặn kẽ, ta cũng thôi hỏi tiếp, nhưng không nhịn được tỏ ra hiếu kỳ với nguyên nhân thầy xuất cung: "Tiên sinh xuất cung là có liên quan đến bệnh tình của kim thượng ạ?"

Thầy im lặng hồi lâu, sau cùng vẫn tiết lộ một chút cho ta: "Ta đi gặp Thập Tam Đoàn Luyện và Phú tướng công."

Tể tướng hiện thời là hai vị đại thần bị điều ra ngoài trước đây, Phú Bật và Văn Ngạn Bác.

Nửa năm trước, tể tướng Trần Chấp Trung bị ngự sử vạch tội, trước luận việc ông cho phép truy phong Ôn Thành vượt quá lễ chế, sau chỉ trích ông dung túng tỳ thiếp đánh chết hầu gái, "Vào không hết lòng cần mẫn, ra không biết giữ nếp nhà", thậm chí còn có người nói ông tư thông với con gái mình.

Cái chuyện nghe rợn cả người này chẳng biết là thật hay giả, nhưng đủ loại nguyên nhân gộp vào cuối cùng cũng dẫn đến việc Trần Chấp Trung bãi tướng.

Khi đó, hầu như tất cả mọi người đều cho rằng kim thượng sẽ nhân cơ hội này cất nhắc Vương Củng Thần.

Bởi sau khi y đề xướng bàn bạc truy phong Ôn Thành, kim thượng đã lập tức thăng y lên làm tam ty sứ, giống như khi xưa ngôn quan nói lúc hặc Trương Nghiêu Tá, vị trí ấy chỉ cách nhị phủ một bước ngắn.

Nhưng kim thượng lại ra một quyết định nằm ngoài dự liệu của mọi người, tuyên bố thăng Phú Bật và Văn Ngạn Bác làm tướng, bổ Vương Củng Thần làm tuyên huy bắc viện sứ, phán Tịnh châu (*).

(*) Có thể hiểu phán châu như chức trợ lý tể tướng, kiêm chưởng quản một châu dưới hình thức gián tiếp, tri châu đứng hàng tam phẩm, phán châu đứng hàng nhị phẩm.

Phú Bật sớm có hiền danh, nếu không có vụ gấm đèn lồng thì Văn Ngạn Bác cũng thuộc nhóm lương thần, thế nên sĩ phu nghe tin tức này lên triều đều chúc mừng lẫn nhau.

Bây giờ nghe Trương tiên sinh nhắc đến Thập Tam Đoàn Luyện và Phú tướng công, ta đã có thể đoán được nguyên do trong đây: Kim thượng không khỏe, hoàng hậu và chư thần ắt phải tính đến chuyện thái tử, mà thân phận hoàng tử của Thập Tam Đoàn Luyện thì chưa xác lập, tương lai lỡ xảy ra biến cố, cần phải có sự ủng hộ của tể tướng mới có thể lên ngôi.

Bởi vậy nên Trương tiên sinh bôn ba suốt mấy ngày nay hẳn là để truyền báo tin tức cho hoàng hậu, xin Phú Bật tán thành Thập Tam Đoàn Luyện lên ngôi trong tương lai, đồng thời cũng bảo Thập Tam Đoàn Luyện chuẩn bị thật tốt việc đăng cơ.

"Đây là ý của hoàng hậu ạ?"

Ta thử hỏi dò.

"Phú tướng công và hoàng hậu đều có ý này."

Trương tiên sinh đáp, dừng lại một thoáng rồi nói tiếp: "Thực ra nếu bây giờ kim thượng có thể tự quyết định thì kết quả cũng sẽ chỉ như vậy."

6.

Châm cứu

Sau khi trở về, ta làm theo lời Trương tiên sinh, nói với công chúa nàng hãy còn cơ hội gặp mặt Tào Bình.

Nàng vừa nghe đã lập tức có phản ứng, tràn ngập hi vọng hỏi: "Thật ư?"

Ta gật đầu: "Trương tiên sinh nói với thần thế...

Chắc là hoàng hậu nói với thầy."

Những câu này như tấm gương trên bàn trang điểm trong phòng nàng, khúc xạ ánh sáng ngoài màn che rọi vào con ngươi xám xịt đã lâu của nàng.

Nàng mở to mắt hỏi ta có biết cơ hội này là vào lúc nào không, chợt lại thấy ngượng ngùng, nhanh chóng cụp mi giấu đi ánh mắt.

Ta mang gương đồng lại, cười mỉm nói: "Lỡ mà hoàng hậu bảo Tào công tử tới gặp công chúa ngay ngày mai, công chúa cũng bằng lòng gặp cậu ấy như thế này à?"

Nàng trông thấy dung nhan tiều tụy của mình trong gương, bị dọa đến hét lên thất thanh, đẩy gương ra không dám xem nữa.

Ta hợp thời bưng đồ ăn và thuốc thang đến trước mặt nàng, lần này, nàng không cự tuyệt.

Sau khi dùng bữa uống thuốc với thái độ nghiêm túc chưa từng có, nàng ôm trong lòng giấc mộng về tương lai tươi đẹp ngủ thật say.

Canh tư, có người gõ cửa gác.

Giờ ấy ta đã tỉnh, bèn đứng dậy ra xem, thấy là hoạn giả trung cung phái tới đưa tin.

"Hoàng hậu mời Miêu nương tử nhanh chóng đến Phúc Ninh Điện, có chuyện quan trọng cần bàn bạc."

Y nói, trông y mặt đỏ tía tai, hẳn là đi rất khẩn trương.

Miêu thục nghi nghe tiếng đi ra, cùng ta nhìn nhau, trong mắt phủ kín kinh sợ.

"Là...quan gia?"

Bà hỏi, giọng run rẩy.

"Quan gia lại ngất xỉu trong điện ạ," Nội thị hạ giọng nói, "Thái y cho uống thuốc, đốt ngải rồi mà ngài vẫn chưa tỉnh."

Miêu thục nghi càng thêm hoảng hốt, bảo ta: "Hoài Cát, mau, đi theo ta xem xem."

Đợi đến khi hai ta chạy tới Phúc Ninh Điện, trong đại điện đã tụ họp đầy người.

Ngoài hoàng hậu và đám thái y đang quỳ dưới đất ra, còn có vài vị đô tri, phó đô tri và Trương tiên sinh, cùng An Định quận quân Chu thị và Thanh Hà quận quân Trương thị thường xuyên phụng dưỡng kim thượng trong hai năm qua.

Ta còn phát hiện ra cả Thu Hòa.

Cô đứng sau màn che trong điện, cách những người còn lại rất xa, tư thái vẫn khiêm nhường trước sau như một, tựa một cái bóng được phác ra bằng mực đạm.

Ta đi qua hỏi cô tình hình ở đây, cô nhỏ giọng thuật: "Gần đây, quan gia gặp tể chấp vốn là vào canh năm, nhưng hôm nay quan gia dậy rất sớm, cho vời tôi qua chải đầu.

Chải xong xuôi, Thạch đô tri tiến vào trước hai vị Sử, Võ, đón ngài sang tiểu điện Nội Đông Môn, vừa đỡ ngài đi vừa nói chuyện với ngài.

Quan gia vừa đi tới cửa điện thì bỗng thở dốc nặng nề, xoa xoa ngực như rất đau đớn.

Đợi đến lúc tôi chạy lại, ngài đã ngã xuống đất ngất đi rồi."

"Thạch đô tri?"

Người hầu quan gia đi tiểu điện Nội Đông Môn gặp tể chấp mấy ngày nay không phải là Thạch Toàn Bân, nhưng vì sao hôm nay y lại tới sớm như vậy?

Ta hỏi khẽ Thu Hòa: "Cô có nghe được y nói gì với quan gia không?"

Thu Hòa đáp: "Thoạt đầu y chỉ nói mấy câu hỏi han ân cần, sau nữa thì đi đã xa, tôi không nghe được nữa.

Ban nãy hoàng hậu cũng hỏi Thạch đô tri, y nói chỉ là trao đổi về đạo dưỡng sinh với quan gia chứ cũng không dám nói thêm gì khác."

Ta ngẩng đầu nhìn Thạch Toàn Bân, y mặt không biểu cảm cụp mắt đứng đó, thần sắc nhìn không ra có gì khác thường.

Lúc này, Du sung nghi cũng đã tới, hoàng hậu bèn cất lời nói với hai người Miêu, Du: "Quan gia đột ngột ngất xỉu, thuốc thang không hiệu nghiệm, thái y bó tay không có biện pháp nào.

Mới rồi Mậu Tắc kiến nghị châm cứu, nhưng phải hạ châm sau đầu, thái y không ai dám chữa chạy cách đó.

Mậu Tắc làm việc ở Ngự dược viện nhiều năm, từng học y thuật, trước đây từng chữa loại bệnh này, để tránh làm lỡ thời cơ trị liệu, đã tự tiến cử hành châm cho quan gia.

Không biết ý hai vị thế nào?"

Hai vị nương tử nhìn nhau, nhất thời chưa đáp, mà Thạch Toàn Bân đứng một bên lại mở miệng: "Huyệt vị sau đầu không phải chuyện đùa, lỡ mà sơ sẩy, nhẹ thì mù mắt, nặng thì khó lường...

Xin nương tử suy xét cẩn trọng."

Nghe xong, hai vị nương tử lại không dám tùy tiện tỏ thái độ, mặt lộ vẻ khó xử, nín thinh không nói.

Trương Mậu Tắc thấy vậy, tiến lên nói với họ: "Xin nương tử yên tâm, thần cũng chẳng phải lần đầu gặp bệnh trạng này, cũng từng nhiều lần châm cứu não bộ cho người bệnh, chưa bao giờ thất thủ.

Nếu châm cứu xong mà làm tổn hại đến quan gia, thần cam nguyện chịu phạt lăng trì."

Thạch Toàn Bân hờ hững vặc lại thầy: "Cái mạng ti tiện của bọn hoạn giả hai ta mà đánh đồng được với thiên tử chí tôn sao?"

Có lẽ là sợ họ xung đột với nhau lại đâm nóng tính, Du sung nghi bèn thưa với hoàng hậu: "Thiếp và Miêu tỷ tỷ cũng chỉ là tần ngự của quan gia, chuyện quan trọng, đã có hoàng hậu ở trên thì không dám nhiều lời, kính xin hoàng hậu làm chủ ạ."

Miêu thục nghi cũng hùa theo: "Đúng, đúng.

Kính xin hoàng hậu quyết định, chúng thiếp nghe lệnh là được."

"Nói vậy, hai người cũng không có dị nghị gì với chuyện châm cứu phải không?"

Hoàng hậu hỏi.

Hai vị nương tử thoáng sửng sốt, nhưng vẫn gật đầu đáp dạ.

Hoàng hậu lại quay sang Chu, Trương hai vị quận quân: "Hai cô cũng là nương tử hậu cung, kể ra cũng là người nhà của hoàng đế, có cảm thấy quyết định của ta có chỗ nào không ổn không?"

Tuy rất phân vân, song cuối cùng hai vị quận quân cũng tỏ vẻ đồng ý với quyết định của hoàng hậu: "Tất cả đều nghe hoàng hậu phán đoán ạ."

Hoàng hậu tức khắc hạ lệnh cho Trương tiên sinh: "Mậu Tắc, vào buồng châm cứu chữa trị cho quan gia."

Trương tiên sinh lĩnh mệnh, đang định đi vào thì nghe Võ Kế Long phân phó kẻ dưới đóng cửa cung trước Phúc Ninh Điện, thầy liền xoay người, cất cao giọng hỏi: "Chẳng có gì để lo lắng thì cớ sao phải đóng cửa cung khiến trong ngoài sinh nghi?"

Võ Kế Long im bặt, ngay sau đó lại lệnh nội thị đi đóng cửa cung trở về.

Người được hoàng hậu cho phép vào buồng trong ít đi một phần, ngoài Trương tiên sinh ra, chỉ có Miêu, Du, Chu, Trương bốn vị nương tử và Thu Hòa có nhiệm vụ cởi búi tóc cho quan gia.

Ta và những người còn lại đợi trong sảnh.

Trương tiên sinh bắt đầu trị liệu, chẳng biết kết quả ra sao, trong ngoài buồng ngủ đều im phăng phắc, không ai có cử động dư thừa nào, ta cũng duy trì tư thế đứng bất động, tựa như người cầm kim đâm lên đầu kim thượng không phải là Trương tiên sinh mà là chính ta, rất sợ chỉ nhúc nhích chút ít thôi cũng sẽ đâm đứt sợi tơ nối mệnh không thể coi thường.

Sau nữa, phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng như vũng nước tù này là một tiếng thét kinh hãi.

Như đột ngột trông thấy cảnh tượng rùng rợn khi chưa chuẩn bị gì, tiếng thét ấy ngập ngụa hoảng sợ và bất an cực độ.

Tiếp đó là hai, ba tiếng thét của nữ tử khác vang lên.

Ta không kịp nghĩ ngợi, lập tức chạy vào buồng ngủ, thấy kim thượng đầu tóc rối bù đứng trước giường, tay cầm một con dao sắc bén, chĩa thẳng vào Trương Mậu Tắc đứng trước mặt ngài.

Dưới đất rải rác hơn mười cây kim châm.

Mà Trương tiên sinh thì lẳng lặng nhìn ngài, tay phải hãy còn đang cầm một cây kim dài.

Mấy vị nương tử bị dọa đến mặt cắt không còn hạt máu, đã rụt vào góc trong cùng của buồng ngủ, chỉ có hoàng hậu là đón hướng kim thượng đi tới.

"Quan Gia, Mậu Tắc đang chữa bệnh cho ngài..."

Hoàng hậu thử giải thích với ngài.

Kim thượng không nghe lọt một chữ, cánh tay quét ngang, lưỡi dao lại chĩa sang hoàng hậu.

"Nàng gấp rút muốn giết ta đến vậy sao?"

Ngài chậm rãi nói, nhìn hoàng hậu, sắc mặt giận dữ đối với Trương tiên sinh ban nãy tan bớt, trong mắt ầng ậng ánh lệ, "Ta cưới nàng làm vợ, cho Thập Tam cưới Thao Thao, nàng còn chưa yên tâm...

Được, vậy ta dẫn người của nàng vào triều, nàng muốn biết cái gì, ta cho nàng biết...

Nàng cho ta dây thừng, ta cam lòng chịu trói, như thế vẫn chưa đủ ư?

Vì sao nàng vẫn chưa yên tâm, còn lén lút làm ra bao nhiêu chuyện thế này, thà tin tưởng tên hoạn quan kia cũng không chịu tin ta?"

"Thiếp không tin chàng ư?"

Hoàng hậu lúc này cũng lộ vẻ xúc động, rưng rưng nước mắt, "Nếu chàng tin thiếp thì hai mươi hai năm qua liệu chàng có để thiếp sống như đi trên băng mỏng, bất cứ lúc nào cũng phải sẵn sàng ứng đối với những trận nhục nhã bất ngờ hết lần này đến lần khác vậy không?

Phàm chàng tín nhiệm thiếp nhiều hơn một chút thôi thì phu thê đôi ta sao nên nông nỗi này!"

Thân mình kim thượng run run, ngẩn ngơ nhìn hoàng hậu chằm chằm, chốc sau, chợt nở nụ cười bi thương, xua tay than: "Hai mươi năm, thật chẳng ra sao..."

Lời chưa dứt đã giơ tay lên, xoay cổ tay nhắm con dao trong tay vào chính mình...

Ta ý thức được ngài định làm gì, lập tức dấn bước lao qua, muốn cản ngài.

Tiếc rằng vị trí hiện thời cách ngài hơi xa, mắt thấy tay ngài vung xuống, đang hận sức mình không ngăn lại được thì chợt có người từ bên trái kim thượng nhào tới, bắt được tay ngài trước khi lưỡi dao chạm đến thân thể.

Đó là Thu Hòa.

Hình ảnh ấy như có một chớp mắt đứng im, để ta phát hiện ra ấn tượng bên trên không quá chuẩn xác.

Nói cho đúng, là Thu Hòa xông lên, một tay nắm lấy tay kim thượng, một tay tóm chặt lấy lưỡi dao mỏng tang sắc lẹm.

Máu đào ròng ròng chảy xuống từ trong tay Thu Hòa, nhỏ xuống không gian yên ắng lúc này, từng giọt từng giọt rơi xuống đất, phát ra những âm thanh nhẹ bẫng.

Kim thượng cũng như tất cả mọi người, đều kinh ngạc nhìn cô, không có bất kỳ phản ứng nào trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.

Mãi đến khi ta giành con dao ra khỏi tay ngài, ngài mới lấy lại được tinh thần, đẩy người hầu muốn tiến lên đỡ mình ra, sải bước chạy ra ngoài điện.

Mà Thu Hòa thì như bấy giờ mới cảm nhận được cơn đau nhức, khom người áp tay vào lòng, tiếng rên rỉ và nghẹn ngào vỡ vụn không cầm được bật khỏi khớp hàm nghiến chặt của cô, thân mình cô đổ nghiêng, ngã xuống đất.

Miêu thục nghi và Du sung nghi bước lên đỡ cô ngồi dậy, hoàng hậu lệnh Đặng Bảo Cát chạy tới từ đằng sau: "Mau tuyên thái y bên ngoài vào đây, băng bó cho Đổng nương tử!"

Tuy đang trong trạng thái hỗn loạn, nhưng ta vẫn chú ý được mới rồi bà gọi Thu Hòa là "Đổng nương tử", hơn nữa khi nói đến ba chữ này còn cố ý nhấn mạnh.

Kim thượng chạy ra sau Phúc Ninh Điện, đám người Thạch Toàn Bân, Võ Kế Long đã đuổi theo ngài, thậm chí ngay cả Chu, Trương hai vị quận quân cũng chạy vội ra theo, mà hiện giờ, hoàng hậu lại liếc Trương tiên sinh, phân phó: "Bình Phủ, anh mau đi xem quan gia thế nào..."

Trương tiên sinh ứng lời, lập tức đuổi theo.

Ta cũng theo sát sau thầy, men theo phương hướng kim thượng chạy, đuổi suốt một đường.

Tim đập nhanh khác thường, lờ mờ dậy lên một dự cảm: nơi không biết phía trước còn có một cơn phong ba dữ dội hơn đang kéo đến.

Dự cảm ấy không sai.

Đích đến của kim thượng là tiểu điện Nội Đông Môn.

Thì giờ vừa đúng canh năm, tể chấp đã vào điện, lúc chúng ta bắt kịp ngài, ngài đã nắm lấy tay tể tướng Văn Ngạn Bác ra ngoài tiếp giá, cao giọng hô: "Hoàng hậu và Trương Mậu Tắc mưu nghịch lớn!"

7.

Bùn yến

Tể chấp xung quanh nghe mà biến sắc, chỉ duy Văn Ngạn Bác mặt mày vẫn bình tĩnh, chỉ hỏi kim thượng: "Sao bệ hạ lại nói như vậy?"

Kim thượng xoa ngực, thở phì phò dồn dập, nói đứt quãng: "Họ cùng đại thần...mưu đồ bí mật, muốn cho Thập Tam...làm hoàng đế..."

Lúc nói tới "cùng đại thần mưu đồ bí mật", ánh mắt ngài hốt hoảng lướt qua Phú Bật đứng bên Văn Ngạn Bác chừng như lơ đãng.

Phú Bật rùng mình, môi giật giật như muốn nói gì, nhưng chung quy câu ấy lại chẳng nên lời, sau cùng ông cụp mắt cúi người với kim thượng, giữ im lặng.

"Họ muốn...giết ta...

Dùng kim...dùng kim đâm vào đầu ta..."

Giọng hoàng thượng càng lúc càng yếu, thân mình cũng không trụ vững được nữa, trượt xuống dưới, nội thị hai bên bước lên đỡ, sau thì kim thượng nhắm mắt, rơi vào trạng thái nửa hôn mê, miệng lẩm bẩm nói mớ, toàn những từ ngữ rời rạc lộn xộn không thành câu.

Văn Ngạn Bác sai người đỡ kim thượng vào tiểu điện Nội Đông Môn nghỉ ngơi trước rồi truyền thái y, tiếp đó đưa mắt nhìn những người trước mặt, hỏi duyên cớ trong đây.

Ta thấy Trương tiên sinh im lặng không nói, bèn đáp lời Văn Ngạn Bác trước khi đám Thạch Toàn Bân kịp mở lời: "Ban nãy quan gia ngất xỉu, uống thuốc đốt ngải bình thường không hiệu nghiệm, Trương tiên sinh kiến nghị dùng kim châm vào huyệt vị sau đầu, chúng thái y không dám hành thuật này, để tránh làm lỡ thời cơ chữa chạy, Trương tiên sinh đành tự tiến cử châm cứu, cũng không phải mưu toan làm tổn hại long thể như lời quan gia nói."

An Định quận quân đứng một bên cũng chứng thực: "Đích xác là vậy.

Trương tiên sinh châm cứu được một lát thì quan gia tỉnh lại, nghiêng đầu thấy Trương tiên sinh đang cầm kim muốn cắm lên đầu ngài thì cả kinh, rút kim găm trên đầu ra, vội vàng đứng dậy, cầm dao chĩa lại...

Có lẽ tưởng lầm là Trương tiên sinh..."

Cô dừng lại ở đây, không nói hết, nhưng ý nghĩa trong lời đã rất rõ ràng.

Văn Ngạn Bác trầm ngâm, lại hỏi Thanh Hà quận quân: "Có đúng vậy không?"

Thanh Hà quận quân gật đầu: "Phải ạ.

Trước khi châm cứu, Trương tiên sinh không cho người đóng cửa cung, nếu có dị tâm thì đã chẳng thản nhiên như thế."

Thanh Hà quận quân xưa nay luôn hiền hòa lương thiện, thái độ phụng dưỡng đế hậu rất kính cẩn, khác hẳn chị gái mình.

Giờ nghe cô nói vậy, ta cũng hơi yên lòng.

Thanh Hà quận quân lại nhún mình với Văn Ngạn Bác, nói: "Quan gia ốm bệnh đã lâu, mong tướng công miễn xá tiêu tai cho thiên tử."

Văn Ngạn Bác cũng xá cô: "Đây là chức trách của tể chấp, Ngạn Bác sao dám không tận sức!"

Kế đó, ông quay sang Trương Mậu Tắc, dặn: "Về sau phụng dưỡng chúa thượng chớ để ngài thấy binh khí kim loại, kim dùng châm cứu cũng cất tạm đi đã."

Trương tiên sinh cười sầu khổ, không đáp.

Lúc này, có nội thần từ trong điện đi ra, nói với Văn Ngạn Bác: "Quan gia đang gọi tướng công ạ."

Văn Ngạn Bác và quan viên nhị phủ còn lại bèn cùng vào gặp vua, mà Thạch Toàn Bân đỡ kim thượng vào điện thì lại đi ra, bước thẳng tới cạnh Trương tiên sinh, nói: "Mới rồi quan gia nói anh mưu nghịch, tuy việc này chưa chắc đã là thật nhưng để tránh hiềm nghi, Bình Phủ có thể cho tôi xem thử chỗ ở của anh không?"

Ý là muốn lục soát nơi ở của Trương tiên sinh xem có căn cứ mưu nghịch xác thực không.

Võ Kế Long thấy Trương tiên sinh vẫn trầm mặc, bèn cũng góp lời: "Chúng ta cộng sự nhiều năm, tự biết anh không làm thế, nhưng quan gia đã nói vậy rồi, trong cung khó giữ bí mật, nhiều người biết sẽ khó tránh khỏi có kẻ phỏng đoán xằng bậy.

Tốt nhất là để chúng tôi đi xem xem, tương lai có ai nói bậy, chúng tôi cũng dễ bề biện bạch thay anh."

Trương tiên sinh đứng trơ trong gió rét đìu hiu, ánh mắt phân tán đậu lên một nơi không xác định nào đó phía trước, một lúc lâu sau mới mở miệng: "Mậu Tắc đành nhờ hai vị đô tri xử trí."

Đối với nơi ở gọn gàng thanh nhã của Trương tiên sinh mà nói, bận lục soát này chẳng khác nào một tai vạ chưa từng có.

Hai vị đô tri dẫn tiểu hoàng môn lật tung mỗi ngóc ngách trong phòng, làm mặt sàn hỗn độn thành đống, vô cùng mất trật tự, không một món đồ nào là còn nguyên vị trí.

Có điều, họ chẳng tìm được bằng chứng gì đủ để chứng minh Trương tiên sinh mưu toan phản nghịch.

Ban đầu ta lo họ sẽ mò được một vài bản sao tấu chương thần tử, hoặc quyển chiếu thư phế hậu, nhưng cũng không có.

Nghĩ lại, từ khi làm lĩnh ngự dược viện, Trương tiên sinh theo quan gia vào triều, chính sự cao thấp đều nghe rõ cả, vốn chẳng cần tiếp tục tích trữ tấu chương, mà quyển chiếu thư thì chắc chắn Trương tiên sinh đã thuộc làu làu, sau chuyện dẹp giặc thầy càng thêm cẩn thận, hẳn cũng sẽ không giữ lại trong phòng.

Trong lúc lục soát phòng ngủ, Thạch Toàn Bân phát hiện ra ba cái rương lớn có khóa, yêu cầu Trương tiên sinh mở ra, Trương tiên sinh lại không bằng lòng, nói: "Mậu Tắc lấy tính mạng ra cam đoan, trong đây chỉ là chút vật phẩm riêng tư, tuyệt đối không phải thứ trái với lệnh cấm."

Thạch Toàn Bân căn bản không tin, thấy Trương tiên sinh khăng khăng không chịu, tức thì sai người cưỡng chế cạy khóa, xông lên kiểm tra, rất nhanh sau đó đã phải thất vọng – cất trong rương chỉ là trăm ngàn cuộn giấy ngập chữ và một vài tài liệu văn tự, không có vẻ gì là được viết cụ thể như thư từ, không có ý nghĩa minh xác, chỉ toàn những tập viết phi bạch, bút lực không đều, trang giấy cũ mới không đồng nhất, hẳn là giấy bỏ đi sau khi luyện chữ.

Thạch Toàn Bân còn chưa hết hi vọng, mở từng cuộn ra xem, song vẫn chẳng phát hiện ra bất kỳ câu chữ nào mưu nghịch.

Y bèn nhếch khóe miệng với Trương tiên sinh: "Thì ra Bình Phủ cũng mê bút nghiên."

Không thu hoạch được gì, người tra xét chuyển sang lục lọi tất cả lưỡi dao vật nhọn trong phòng Trương tiên sinh, bao gồm cả dao cắt giấy và đồ dùng châm cứu.

Sau cùng, Thạch Toàn Bân buông xuống một tiếng "Đắc tội" rồi nghênh ngang bỏ đi.

Đợi họ khuất bóng rồi, Trương tiên sinh mới cúi người xuống, bắt đầu một lần nữa thu dọn lại từng cuộn phi bạch viết hỏng này vào rương.

Ta và tiểu hoàng môn bên người thầy giúp đỡ, bốn năm người cùng bắt tay vào làm, mất một khoảng thời gian dài mới hoàn toàn thu dọn xong xuôi.

Bọn ta muốn tiếp tục sắp xếp lại đồ đạc bị lật tung cho Trương tiên sinh, thầy lại xua tay, nói: "Ta mệt rồi, muốn nghỉ ngơi.

Các cậu về trước đi."

Sắc mặt thầy tối tăm, hai mắt đờ đẫn, quả thực có vẻ vô cùng mệt mỏi.

Bọn ta bèn đồng ý, lui khỏi phòng để thầy nghỉ ngơi.

Ta định trở về, đi được mấy bước lại không nhịn được quay đầu, thấy Trương tiên sinh đang đóng cửa từ bên trong, tay vịn lấy hai cánh cửa phòng, trước khi khép lại, thầy nghiêng đầu nhìn về phía trung cung, trong mắt lập lòe ánh lệ, sắc thái thê lương.

Ta ngớ ra, mơ hồ cảm thấy có gì đó không ổn, lại không nói được cụ thể là cảm giác gì.

Cuối cùng vẫn xoay người, chậm rãi đi ra ngoài.

Lúc đi tới Nội Đông Môn, bên trên chợt có thứ gì rơi xuống, rớt trúng khăn chít đầu của ta rồi lăn xuống đất.

Ta cụp mắt nhìn mặt đất, trông thấy một cục nhìn như bùn, lại ngẩng lên xem, phát hiện ra đó là bùn từ tổ yến năm cũ trên xà hiên cửa rơi xuống.

Chính trong sát na ấy, ta hốt nhiên cả kinh, tức khắc quay đầu vội vã chạy về phía nơi ở của Trương tiên sinh.

Cửa phòng thầy đóng kín, ta lớn giọng hô gọi mãi không thấy thầy đáp lời, bèn không dám trì hoãn thêm nữa, lùi ra sau hai bước, tung người đạp một cước, phá cửa xông vào.

Chạy vào buồng trong, quả nhiên bắt gặp kết quả ta phỏng đoán: trên xà nhà rủ xuống một dải lụa trắng, cổ Trương tiên sinh tròng vào thòng lọng, treo mình dưới xà nhà.

Ta cấp tốc tiến lên, vừa ôm lấy hai chân thầy nâng lên, vừa cao giọng gọi người tới.

Nội thị chung quanh chốc lát kéo đến, trông thấy cảnh tượng này đều lấy làm kinh hãi, ba chân bốn cẳng cởi dây thả Trương tiên sinh xuống, đỡ lên giường, hết bấm huyệt nhân trung lại nhấn ngực, một lúc sau, thấy Trương tiên sinh ho ra tiếng, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm.

Đợi lấy lại tinh thần rồi, có người ra ngoài tìm thái y đồng thời thông tri cho tể chất trong tiểu điện Nội Đông Môn.

Thái y chạy đến rất nhanh, sau một phen cứu chữa thì tuyên bố Trương tiên sinh đã không còn gì đáng ngại, kê đơn thuốc, lại dặn dò chi tiết mấy ngày nay phải chăm sóc thầy ra sao rồi thu dọn dụng cụ chữa bệnh, quay về thông báo tình hình cụ thể cho tể chấp.

Sau khi Trương tiên sinh tỉnh dậy, đám tiểu hoàng môn thường ngày hầu hạ thầy đều giàn giụa nước mắt, hỏi thầy cớ sao ra hạ sách này.

Thầy chỉ chán nản nhắm mắt, nghiêng đầu vào trong, không nói không rằng.

Lát sau, có hoạn giả hầu trong tiểu điện Nội Đông Môn tới cho mời: "Văn tướng công mời Trương tiên sinh đi Trung thư tỉnh một chuyến."

Ta và Đặng Bảo Cát hay tin chạy đến trước đó đỡ Trương tiên sinh dậy, kèm dìu hai bên, đưa thầy tới Trung thư tỉnh.

Lúc này các quan viên lưỡng phủ khác đại khái hãy còn chầu trong tiểu điện Nội Đông Môn, trong Trung thư tỉnh chỉ có một mình Văn Ngạn Bác, nhác thấy Trương tiên sinh, ông lập tức mở miệng: "Anh có làm chuyện mưu nghịch mà chúa thượng nói không?"

Trương tiên sinh lắc đầu.

Văn Ngạn Bác lại chất vấn: "Đã không làm thì vì sao anh lại gây nên chuyện hồ đồ nhường ấy ngay tại thời khắc nhạy cảm thế này, để người ta cho là anh sợ tội tự sát?"

Trương tiên sinh cụp mắt không đáp, Đặng Bảo Cát thấy thế bèn giải thích thay: "Bởi quan gia nói đến hoàng hậu, có lẽ là Bình Phủ tự cảm thấy mình làm liên lụy đến trung cung, nên..."

Văn Ngạn Bác xua tay, nói với Trương tiên sinh: "Thiên tử bị bệnh, có nói gì cũng chỉ là mê sảng khi đương bệnh, anh hà tất cho là thật?"

Thấy Trương tiên sinh vẫn lặng thinh, sắc mặt Văn Ngạn Bác nghiêm lại, vung tay áo trỏ vào thầy, lạnh lùng nói: "Anh chết rồi, trung cung biết nương thân chốn nào?"

Trương tiên sinh tức thì ngẩng đầu như bị lay chuyển.

Mặt đối mặt trong im lặng với Văn Ngạn Bác một lúc, thầy vái vị tể tướng trước mặt một vái thật sâu, cổ họng mới bị tổn thương phát ra giọng nói khàn khàn tàn tạ: "Mậu Tắc tạ tướng công giáo huấn."

Văn Ngạn Bác gật đầu, gọi kẻ hầu bên ngoài vào, lệnh: "Đi mời các vị đô tri, phó đô tri trong cung lại đây."

Rất nhanh, chúng hoạn quan cao cấp nối gót đi vào.

Văn Ngạn Bác liếc Trương Mậu Tắc, nói với mọi người trước mặt: "Chuyện hôm nay đã điều tra rõ, cái gọi là mưu nghịch chỉ là lời mê sảng khi đương bệnh của thiên tử, không phải thật sự, Mậu Tắc vô tội.

Xin các đô tri nhắc nhở thuộc hạ chớ bàn tán quàng xiên, về sau mà có lời đồn đại truyền ra ắt chém không tha!"

Thần sắc ông nghiêm túc, ánh mắt uy nghiêm, chúng hoạn quan không dám trái lời, đều cúi đầu nghe lệnh.

Văn Ngạn Bác lại nhìn sang Trương tiên sinh, vẻ mặt đã dịu đi nhiều, ôn hòa căn dặn thầy: "

Sau này anh chính là người hầu hạ bên cạnh chúa thượng, cần phải tận tâm tận lực, chớ rời đi quá thường xuyên."

Trương tiên sinh gật đầu ưng thuận.

Văn Ngạn Bác lại cho gọi Sử Chí Thông tới trước mặt, nói: "Xin đô tri bẩm báo hoàng hậu, tể chấp lưỡng phủ muốn làm lễ tế ở Đại Khánh Điện, ngày đêm dâng hương, cầu phúc cho vua.

Mong hoàng hậu cho phép, dựng trướng sạp ở nhà hông mé tây điện chuẩn bị cho lưỡng phủ ngủ lại."

Làm lễ tế cầu phúc hẳn chỉ là cái cớ, có lẽ là Văn tướng công thấy cung cấm không yên nên muốn nhân cớ đó ngủ lại trong cung, phòng chuyện bất thường.

Đối mặt với yêu cầu này, Sử Chí Thông chần chừ đáp: "Theo lệ quốc triều, lưỡng phủ không ngủ lại trong điện..."

Văn Ngạn Bác liền trừng mắt, cao giọng phản bác: "Tình thế bây giờ không bình thường, há lại bàn đến lệ thói!"

Sử Chí Thông cả kinh, vội vâng dạ đồng ý, lĩnh mệnh rời đi.

Bấy giờ Văn Ngạn Bác mới phất tay cho mọi người lui.

8.

Tố tâm

Giáo chỉ của hoàng hậu nhanh chóng truyền đạt xuống, đồng ý cho lưỡng phủ làm lễ tế cầu phúc trong Đại Khánh Điện.

Được lệnh, Văn Ngạn Bác lập tức điều hành dựng đàn tế, chuẩn bị trướng sạp, qua đêm cùng vài vị tể chấp ở nhà hông mé tây đại điện.

Sau khi nói chuyện riêng với Văn Ngạn Bác, Phú Bật cáo ốm xin nghỉ xuất cung, tỏ rõ không tham dự vào chính sự nơi đây.

Hành động này của ông tất nhiên là để tránh hiềm nghi.

Kim thượng nói hoàng hậu cùng đại thần mưu đồ bí mật, người xem chỉ e đều đoán ra vị "đại thần" ấy là ai.

Hoàng hậu nghiêng về phe đại thần tân chính, đó là điều người trong cung ngoài triều ít nhiều đều cảm giác được, tuy khi nói câu này kim thượng không nhìn đến Phú Bật, song mọi người liên hệ tiền hậu nhân quả cũng có thể nghĩ ra là ông.

Trước sau ta vẫn không yên tâm về Trương tiên sinh, sợ thầy sau đó sẽ còn tự sát, thế nên ngày kế trời vừa tảng sáng, ta đã sang chỗ thầy thăm thầy.

Lúc ta đến nơi, thầy đã không còn trong phòng, chỉ có một cậu tiểu hoàng môn đang quét dọn phòng ốc cho thầy.

"Chào buổi sáng, Lương tiên sinh!"

Đại khái là nhờ hành vi của ta hôm qua nên cậu ta rất hữu hảo với ta, thấy ta là mỉm cười hành lễ ngay, không đợi ta hỏi đã nói cho ta biết: "Trời còn chưa sáng, Trương tiên sinh đã đi Phúc Ninh Điện hầu hạ quan gia rồi ạ, hiện giờ không có ở đây."

Ta vẫn hơi lo lắng, hỏi: "Tối qua không xảy ra chuyện gì nữa chứ?"

"Trương tiên sinh rất khỏe, tối qua ăn cháo uống thuốc đúng theo lời thầy thuốc căn dặn, cũng không có trạng thái nào bất thường.

Tôi lo lắng trông chừng thầy suốt đêm, cũng không thấy thầy có gì không ổn."

Cậu ta nói rồi nhìn ta, thoáng dừng lại như đang suy nghĩ, cuối cùng vẫn quyết định kể với ta: "Nhưng nếu nói có chuyện gì bất thường thì vẫn có...

Giữa đêm, hoàng hậu từng sang đây thăm thầy, dẫn theo Đặng Bảo Cát.

Khi đó Trương tiên sinh đã đóng cửa đi ngủ, Đặng đô tri hầu hoàng hậu đứng trong sân, cất giọng thông báo, bảo thầy ra tiếp giá.

Nhưng Trương tiên sinh không mở cửa, chỉ ăn mặc chỉnh tề rồi quỳ xuống sau cửa, nói mình đã không còn đáng ngại, không dám làm phiền hoàng hậu hạ cố, mời hoàng hậu về.

Hoàng hậu lại gần hơn, nói: 'Anh mở cửa cho ta xem xem, xem xong ta sẽ về.' Trương tiên sinh vẫn không đồng ý, chỉ khấu đầu hạ bái, cao giọng nói: 'Lời dạy bảo của hoàng hậu, thần đã khắc sâu trong tâm khảm, về sau ắt sẽ tận sức hầu hạ quan gia, tuyệt không lười biếng.' Hoàng hậu nghe vậy, không nói gì thêm.

Sau đó, Trương tiên sinh lại nói câu: 'Thần cung tiễn hoàng hậu.' rồi rạp mình bái lạy, hồi lâu không ngẩng lên, mãi đến khi tôi nói với thầy trên chấn song đã không còn bóng của hoàng hậu, thầy mới từ từ đứng dậy."

Ta nghe rồi, không biết nên nói gì cho phải, nhất thời chỉ bặt thinh, ánh mắt phiêu du không mục đích vào phòng.

Cuối cùng, một nhành mai vàng cắm trên bàn đã thu hút sự chú ý của ta.

Hoa mai vàng thuần điểm trắng, trong trẻo óng ánh, sắc tựa sáp ong, trạng thái bán trong suốt, mà tâm hoa lại trắng ngần.

Tuy không lộng lẫy bằng mai đỏ song nồng nàn thơm nức, hương mai nổi bật.

Lúc này, trong phòng đã được tiểu hoàng môn lau dọn sạch sẽ sáng sủa, hương hoa hòa cùng hơi nước chưa khô, càng thêm thanh nhã tươi mát.

Thấy ta để ý tới mai vàng, tiểu hoàng môn bèn giải thích: "Hoa này là hoàng hậu sai người đưa tới sáng nay...

Loài mai vàng này là loài hoa Trương tiên sinh thích nhất."

Ta gật đầu, hỏi lại cậu ta: "Loài mai vàng này tên là gì?"

Cậu ta trả lời: "Tố tâm."

Nguyên nhân Trương tiên sinh đóng cửa không gặp hoàng hậu có lẽ rất phức tạp, mà ta chỉ có thể đoán được tầng nghĩa dễ hiểu nhất: tránh hiềm nghi, không để kẻ rình rập ngôn hành của họ tìm ra bằng chứng họ "mưu đồ bí mật".

Thế nên ta rất bội phục hoàng hậu, đi thăm Trương tiên sinh trong tình huống hiện nay cần phải có dũng khí.

Đồng thời, ta cũng cảm khái quyết tâm đóng cửa không ra của Trương tiên sinh, cự tuyệt người tố tâm gắn bó với mình đến thăm hỏi cũng cần một loại dũng khí khác.

Hiển nhiên vẫn luôn có người theo dõi họ sát sao, bằng không kim thượng đã chẳng biết chuyện Trương tiên sinh đi tìm Thập Tam Đoàn Luyện và Phú Bật.

Thế nên, tuy Trương tiên sinh và hoàng hậu không gặp nhau nhưng ta vẫn e sợ việc này bị kẻ rình trộm họ chứng kiến, vin vào đây chêm lời.

Quả nhiên có người làm vậy thật, nhưng kết cục rất bi thảm, biến khéo thành vụng, đâm ra bỏ mạng.

Sáng hôm ấy, tin tức Văn tướng công khai sát giới, hạ lệnh xử trảm một tên mật báo truyền khắp hoàng thành.

Kẻ nọ cầu kiến tể chấp qua đêm ở nhà hông mé tây Đại Khánh Điện giữa đêm, tố cáo việc "mưu nghịch".

Văn Ngạn Bác vừa nghe đã lập tức sai người mài mực vào bồn, gọi kẻ nọ qua, tự mình cầm bút bôi mực dày đặc lên mặt hắn, khiến người ta nhìn không ra dung mạo vốn có của hắn, đợi đến lúc mở cửa cung thì kêu thị vệ tới, ra lệnh áp giải kẻ nọ ra ngoài Đông Hoa Môn xử trảm.

Do đó, không ai biết kẻ mật báo này là ai.

Hai ngày sau, có người lặng lẽ nói, tiểu hoàng môn dưới trướng Thạch đô tri hình như mất tích.

Ta không quen biết người nghe đồn là mất tích ấy nên chẳng rõ là thật hay giả, nhưng bất kể thế nào, sau đó trên dưới cung cấm đều lấy làm nể sợ, không còn lưu truyền lời bàn liên quan đến "mưu nghịch" nữa.

Kể từ khi công chúa ốm bệnh, mỗi ngày ta đều theo Miêu thục nghi tới trung cung, bẩm báo bệnh tình của công chúa cho hoàng hậu.

Nhưng một ngày nọ, ta và Miêu thục nghi đang định ra cửa thì thấy trung cung sai người đến đưa tin: "Hoàng hậu quyết định đóng gác ăn chay chép kinh, cầu phúc cho quan gia, thẳng đến khi quan gia khỏi hẳn lên triều.

Trong thời gian này miễn lễ vấn an cho mọi người trong cung, bắt đầu từ hôm nay trở đi, Miêu nương tử tạm thời không cần phải đến Nhu Nghi Điện."

Miêu thục nghi ngạc nhiên: "Ăn chay chép kinh cầu phúc cho quan gia đâu cần phải không gặp người khác?

Hoàng hậu vì lẽ gì lại quyết định như thế?"

Người tới không dám trả lời, vội vã cáo từ.

Nhưng quan gia ốm bệnh, chư nương tử trong cung dưới mối sầu lo lại càng thêm dỏng tai, cực kỳ nhạy bén với bất kỳ động tĩnh gió thổi cỏ lay nào.

Sau, Du sung nghi sang thăm đã kể cho Miêu thục nghi tin tức mình nghe được: "Có hai tay quan viên Ty thiên (*) nói với mọi người là đêm xem sao trời, nhìn ra thiên tử ốm bệnh, quốc gia sắp có dị biến, nếu hoàng hậu học Chương Hiến buông rèm chấp chính thì sẽ đảm bảo được quốc thái dân an.

Họ còn viết đơn tường thuật giao cho Sử đô tri, nhờ y chuyển cho Văn tướng công."

(*) Cơ quan quản lý sự vụ liên quan đến hiện tượng thiên văn.

Miêu thục nghi nghe xong có phần kinh hãi: "Đám đại thần trong triều phiền chán nhất là có ai nhắc đến chuyện Chương Hiến thái hậu buông rèm chấp chính năm đó kia mà.

Hoàng hậu mà nắm quyền sao họ chịu bằng lòng?"

Du sung nghi đáp: "Hiện giờ còn chưa rõ thái độ Văn tướng công thế nào.

Nghe nói ông ấy chỉ cười với Sử đô tri rồi nhận đơn, không nói gì thêm nữa."

Miêu thục nghi hỏi nhỏ: "Lai lịch hai tay quan viên Ty thiên đó ra sao?

Trước đây có từng tiếp xúc với hoàng hậu không?"

Du sung nghi xua tay: "Ai biết được chứ?

Nhưng hai ngày trước, hai người này xin Võ đô tri dẫn họ vào Đại Khánh Điện, sau đó giơ đơn tường thuật ở chỗ lưỡng phủ tụ tập, nói với tể chấp đáng ra quốc gia không nên đào sông ngòi ở phương bắc, thay đổi dòng chảy của Hoàng Hà, khiến thiên tử thánh thể bất an.

Mũi nhọn rõ ràng là chĩa vào Phú tướng công, bởi sông là do Phú tướng công quyết định mở...

Từ đó có thể thấy, họ hẳn không phải thân với trung cung.

Hôm nay nghe chuyện họ kiến nghị hoàng hậu nắm quyền, em còn tưởng họ đột nhiên đổi tính, muốn lấy lòng hoàng hậu cơ..."

Miêu thục nghi hỏi lại: "Thế tức là hoàng hậu tuyên bố đóng gác không ra, không gặp người trong cung là vì chuyện này?"

Du sung nghi đáp: "Đúng vậy.

Nghe nói sáng nay Đặng đô tri khấp khởi báo việc này cho chị ấy, không ngờ chị ấy lại biến sắc, lập tức sai hạ nhân truyền lệnh, nói đóng gác ăn chay chép kinh, không ra ngoài cũng không gặp người không phận sự, rõ ràng là không muốn dính dáng đến chính sự."

Miêu thục nghi như hiểu được phần nào: "Không phải là hai tên này muốn đổ thêm dầu vào lửa ngay thời khắc quan trọng này, khiến đại thần phản cảm với hoàng hậu đấy chứ?"

Du sung nghi mỉm cười, giữ kín như bưng.

Miêu thục nghi hãy còn một thắc mắc: "Nhưng quan viên Ty thiên hẳn không có cơ hội nào gặp mặt hoàng hậu mới phải chứ?

Sao lại chĩa mũi nhọn vào hoàng hậu như thế?

Chẳng lẽ là có người giật dây?"

Đây cũng là điều ta muốn hỏi, nhưng Du sung nghi không trả lời được câu hỏi của bà, sau cùng, người đưa ra giải thích hợp lý là Trương tiên sinh.

Lúc ta thuật lại chuyện quan viên Ty thiên mời hoàng hậu lên nắm quyền cho thầy khi ấy vừa từ Phúc Ninh Điện trở về, thầy vừa kinh ngạc lại hơi bất an, vội hỏi ta: "Hoàng hậu phản ứng thế nào?"

Ta báo đúng sự thật với thầy, thầy mới thở phào, nói: "Người mà để lộ vui mừng dù chỉ một ít thôi cũng là trúng gian kế của tiểu nhân rồi."

Ngay sau đó, thầy kể cho ta hay, Giả Xương Triều hiện giữ chức Bắc Kinh lưu thủ (*) căm ghét Phú Bật xưa nay, lại có qua lại với Võ Kế Long, trước đây quan viên Ty thiên phản đối chuyện đào sông, hẳn là do Giả Xương Triều mượn tay Võ Kế Long sắp đặt.

Thế nên, họ xin hoàng hậu nắm quyền cũng chẳng phải xuất phát từ hảo tâm, nếu hoàng hậu có ý buông rèm, thứ nhất sẽ làm tể chấp cảnh giác, thứ hai, nếu kim thượng khỏi hẳn, biết được việc này tất sẽ càng thêm phòng bị kiêng dè hoàng hậu, thậm chí hậu quả còn có thể nghiêm trọng hơn.

(*) Chức quan đóng giữ kinh đô khi hoàng đế rời kinh, bồi đô cũng có đại thần lưu thủ, như Bắc Kinh là bồi đô ở đây.

9.

Hồi phục

Ngày kế, Văn Ngạn Bác cho gọi hai tay quan viên Ty thiên vào nhà hông mé tây Đại Khánh Điện hỏi đáp, không biết ông đã nói gì với hai người họ mà lúc đi ra, cung nhân ngoài điện thấy vẻ mặt họ kinh sợ, cơ hồ là vắt giò lên cổ mà chạy.

Sau đó, Văn Ngạn Bác lại triệu tập quan viên lưỡng phủ ở đại điện, công bố đơn tường thuật của hai người, chư quan viên ngang hàng vừa đọc đã nổi giận, cao giọng chất vấn, vang dội trong ngoài: "Ngữ chuột nhắt dám vọng ngôn đại sự quốc gia, tội đáng chém sao còn chưa chém?"

Văn Ngạn Bác đáp: "Chém chúng sẽ khiến sự việc lan rộng, trong ngoài lời ra tiếng vào sẽ gây bất an cho trung cung."

Lúc này chúng tể chấp đã biết thái độ của trung cung, chắc hẳn cũng có hảo cảm với bà, bèn cùng gật đầu nói phải.

Cuộc thương thảo ấy không tránh né người hầu trong điện nên rất nhanh đã truyền tới hậu cung, đương nhiên, cũng rất có thể là tể chấp cố tình làm vậy.

Sau đó, họ lại cho gọi quan viên Ty thiên vào điện, ngay trước mặt chúng đô tri và người hầu trong ngoài, Văn Ngạn Bác tuyên bố công khai quyết định xử phạt hai người: "Trước đây triều đình đào sông để nước sông từ sông Thương Đồ Thiền Châu xuyên qua kênh Lục Tháp đổ vào dòng Hoành Lũng cũ.

Các anh nói đó là xuyên sông phương chính bắc, khiến thánh thể bất an, vậy giờ làm phiền hai anh trắc lượng xem vị trí của Lục Tháp so với kinh sư có đúng là chính bắc không."

Đây là mượn danh trắc lượng vị trí cách chức hai người điều ra ngoài.

Quan viên Ty thiên nghe mà biến sắc, liên tiếp đánh mắt sang Võ Kế Long, mong y có thể cầu tình thay mình.

Võ Kế Long lấy lí do sự vụ thiên văn trong cung còn cần hai vị quan Ty thiên này chủ trì, khẩn xin Văn Ngạn Bác giữ họ lại.

Văn Ngạn Bác hỏi vặn: "Cái chúng muốn dây máu ăn phần chỉ e chẳng riêng gì sự vụ thiên văn thôi đâu, phải không?

Chức quan hai tên này thấp nhỏ, vốn không dám can thiệp vào quốc sự mà giờ lại ăn nói vượt quyền như vậy, tất là có người xúi giục."

Võ Kế Long im bặt không dám đáp lại.

Thế là, hai tay quan viên Ty thiên bị trục xuất khỏi kinh sư, điều đi trắc lượng kênh Lục Tháp.

Chuyện Văn Ngạn Bác xử lý việc "mưu nghịch" và quan viên Ty thiên làm người trong cung tấm tắc bảo lạ.

Vốn khi trước có vụ gấm đèn lồng, mọi người đều cho rằng ông là người phe Ôn Thành, lại chẳng ngờ ông sẽ bảo vệ trung cung đến thế.

"Cậu nói xem liệu có phải Văn tướng công biết việc hoàng hậu cấm cung nhân hát bài 'Phấn hồng trong cung nhớ nịnh thần' nên mới có qua có lại vậy không?"

Trương Thừa Chiếu hỏi ta.

Ta không nghĩ đó là nguyên nhân chính.

Thực ra tài năng và tác phong hành sự của Văn Ngạn Bác kỳ thực khá giống hoàng hậu.

Theo ta lý giải, trước đây ông vãng lai với Trương quý phi là do Trương thị chủ động lấy lòng, huống hồ còn có nhân tố thế giao bên trong, ông cũng không tiện khước từ, nhưng về bản thân hai vị hậu phi này thì hẳn hoàng hậu rộng lượng cơ trí dễ chiếm được sự tán thưởng và tôn trọng của ông hơn.

Hai con người trí tuệ tính cách gần nhau thường sẽ cùng chung chí hướng, nhất là khi có bất đồng giới tính xóa nhòa đi quan hệ cạnh tranh.

Mặt khác, ngay từ đầu ông đã chẳng coi chuyện hoàng hậu liên hệ với thái tử tương lai là mưu nghịch, khả năng là bởi chính ông cũng cảm thấy lúc này suy xét về vấn đề thái tử là thỏa đáng, hoàng hậu cũng không làm sai.

Sau, trong cung truyền nhau lời đồn rằng thực ra Văn tướng công cũng đang kín đáo chuẩn bị, vốn đã bàn bạc xong xuôi với Phú tướng công, kim thượng mà có gì bất trắc sẽ đưa Thập Tam Đoàn Luyện lên ngôi, thậm chí, ông còn bảo hàn lâm học sĩ thảo sẵn chiếu thư đăng cơ, mang theo bên người, phòng khi bất thường.

Sau nữa, tin đồn này cũng chẳng thể chứng thực, bởi bệnh tình kim thượng rốt cuộc cũng khởi sắc.

Từ khi công chúa bằng lòng ăn cơm, sức khỏe mỗi ngày một tốt lên, không bao lâu đã có thể xuống giường đi lại.

Một lần nọ, nàng lưỡng lự mãi rồi thấp thỏm hỏi Miêu thục nghi, nếu bây giờ nàng đi thỉnh an phụ thân thì liệu ngài có ngó lơ mình không.

Vẫn chưa có ai nói cho nàng hay bệnh tình của kim thượng, bởi mọi người đều phải tuân lệnh hoàng đế, cũng sợ tin kim thượng ốm bệnh sẽ gây ảnh hưởng đến công chúa.

Tình hình công chúa khi đó cũng chẳng lấy gì làm tốt đẹp, hơn nữa, bệnh của kim thượng kể ra cũng có chút liên quan tới nàng.

Thấy tinh thần công chúa dần tốt lên, nước mắt Miêu thục nghi nín nhịn hồi lâu rốt cuộc cũng bật ra, nức nở nói cho con gái tình hình của kim thượng.

Công chúa nghe xong vừa khiếp sợ vừa đau lòng, lập tức chạy đến Phúc Ninh Điện thăm phụ thân.

Khi ấy kim thượng đang nhắm mắt ngủ, công chúa quỳ gối trước giường bệnh ngài, khe khẽ gọi: "Cha."

Kim thượng từ từ mở mắt, mơ màng nhìn chằm chằm con gái một lát mới nhận ra, vươn tay về phía nàng, thì thào: "Huy Nhu..."

Hai tay công chúa nắm lấy tay ngài, dịu dàng đáp: "Cha, Huy Nhu ở đây."

Kim thượng trở tay nắm ngược lại tay con gái, gân xanh trên mu bàn tay khô gầy nổi lên, siết chặt như thể muốn bắt lại điều duy nhất có thể giữ sinh mạng cho mình.

Đôi môi khô róc tái nhợt chậm rãi giật giật, ánh mắt ngài nhìn công chúa mơ hồ mà bi thương: "Huy Nhu, cha chỉ có con..."

Công chúa hơi ngửa đầu lên như muốn để nước mắt chảy ngược về tim, lại gắng nén tiếng khóc, cố sức cười với phụ thân: "Cha, hoa ở Quỳnh Lâm Uyển, Nghi Xuân Uyển lại nở rồi, cha mau khỏe lại đi, dẫn con gái đi xem."

Kể từ đó, hằng ngày, phần lớn thời gian của công chúa đều là ở bên cha, cẩn thận phụng dưỡng ẩm thực sinh hoạt của ngài cùng Thu Hòa và những tần ngự khác.

Sau, tâm trạng của kim thượng dần ổn định, nhưng tinh thần trước sau vẫn uể oải, song không còn xảy ra tình trạng thi thoảng lại ngất nữa.

Văn Ngạn Bác và mấy vị chấp chính mỗi ngày đều vào Phúc Ninh Điện, bẩm tấu sự vụ trước giường bệnh khi tinh thần kim thượng thanh tỉnh rõ ràng.

Kim thượng nói năng rất trắc trở, đại để chỉ gật đầu.

Văn Ngạn Bác thấy hiệu quả liệu pháp của thái y quá nhỏ, bèn đích thân tham dự vào việc trị liệu chi tiết, nhiều lần nghiên cứu liệu pháp đơn thuốc cùng thái y và hoạn giả Ngự dược viện.

Có lần, ông nhợt nhớ tới chuyện Trương tiên sinh châm cứu, sau khi hỏi kỹ quan điểm của Trương tiên sinh về tác động cụ thể của châm cứu đối với bệnh tình kim thượng, ông lại gọi chúng thái y đến, thương thảo với họ tính khả thi nếu tiếp tục sử dụng thuật châm cứu chữa trị cho kim thượng.

Chúng thái y dè dặt tỏ ý châm cứu hẳn là hữu hiệu, song huyệt vị vốn nhỏ, không được sai một ly, cần người tinh thông thuật này hành châm.

Họ đùn đẩy lẫn nhau, đều không muốn đứng ra chủ trị, cuối cùng, Trương tiên sinh một lần nữa chủ động nhận việc về mình: "Nếu tướng công tín nhiệm Mậu Tắc, Mậu Tắc ắt sẽ làm hết sức, chỉ mong chúa thượng sớm ngày hồi phục lên triều."

Sau khi cân nhắc thận trọng, Văn Ngạn Bác chấp nhận lời thỉnh cầu của thầy, nhưng lại gặp phải vấn đề lớn nhất là kim thượng có bằng lòng phối hợp hay không.

Vì thế, Trương tiên sinh cầu kiến công chúa, nhất nhất báo lại tình huống, khẩn cầu nàng thuyết phục kim thượng đồng ý trị liệu.

Bấy giờ, công chúa đã biết việc kim thượng nói hoàng hậu và Trương Mậu Tắc "mưu nghịch", thế nên rất do dự, cũng không dám chắc có thể thuyết phục được kim thượng.

Ta hiểu nỗi lo lắng của nàng, bèn đề nghị: "Mỗi ngày sau mặt trời lặn, quan gia đều sẽ buồn ngủ, tinh thần ngẩn ngơ, không nhận biết rõ được ai với ai.

Nếu Trương tiên sinh che mặt vào châm cứu cho ngài lúc ấy, chưa chắc ngài đã biết là thầy.

Trong khoảng thời gian đó, công chúa canh giữ bên quan gia, thỉnh thoảng nói đôi câu dỗ dành, hẳn là có thể khuyên ngài chấp nhận trị liệu."

Việc này bèn tiến hành như thế.

Trước khi Trương tiên sinh vào gác ngủ của kim thượng, công chúa đã nhỏ nhẹ khuyên phụ thân cho phép lương y dân gian nàng tìm về chữa trị, nói người nọ dùng liệu pháp đốt ngải, nhưng cần đâm nhẹ hai kim sau đầu, chỉ như muỗi đốt thôi, sẽ hơi sưng nhưng không quá đau.

Kim thượng mơ mơ màng màng, thuận miệng bằng lòng, công chúa bèn gọi Trương tiên sinh vào.

Trương tiên sinh che mặt, quỳ xuống thỉnh an.

Sau bận thắt cổ tự tử, giọng thầy vẫn chưa hồi phục, khàn khàn trầm thấp, kim thượng không nghe ra là thầy nhưng thấy thầy che mặt thì tỏ vẻ nghi hoặc.

Công chúa lập tức giải thích với ngài: "Cha, nhiều năm trước người này từng phạm chút tội vặt trong quân doanh, bị phạt thích chữ, trên mặt có sẹo, để tránh cha thấy bất an, con gái đã bảo y che mặt lại."

Kim thượng gật đầu, nghe theo lời công chúa thỉnh cầu, cúi người nằm sấp, nhắm mắt.

Lúc Trương tiên sinh găm kim vào sau đầu ngài, kim thượng bỗng chấn động, mở to mắt vẻ sợ hãi, thân mình giật giật như muốn xoay người ngồi dậy.

Công chúa kịp thời ghìm ngài xuống, một tay xoa lưng ngài, một tay nắm tay ngài, ôn hòa dỗ dành: "Cha, con gái ở đây, con gái ở đây..."

Dưới sự trấn an của nàng, hô hấp kim thượng dần bình ổn lại, công chúa tiếp tục nhỏ nhẹ: "Không sao đâu, một lúc là ổn thôi, cha sẽ khỏe ngay thôi..."

Trong bầu không khí yên bình do giọng công chúa tạo nên, kim thượng một lần nữa nhắm hai mắt lại, yên lặng nằm sấp, phối hợp với liệu pháp của Trương tiên sinh với trạng thái tốt nhất mà một bệnh nhân có thể biểu hiện.

Sau đó, thời gian như ngừng lại trong gác ngủ, gần như tất cả mọi người đều duy trì tư thế bất động, bao gồm cả hoàng đế trên giường bệnh và người hầu hạ ngài, cùng với tể chấp và hoàng hậu ngồi cách đó không xa ngoài bức rèm châu.

Sóng mắt người xem đều tập trung hết lên kim thượng, chỉ có ánh sáng loe lóe của mũi châm trong tay Trương tiên sinh và động tác tay lên xuống của thầy là còn lưu động trong không gian thinh lặng này.

Sau khi rút cây kim cuối cùng ra, Trương tiên sinh lùi ra phía sau, ra hiệu cho công chúa đỡ kim thượng xoay người nằm ngửa lại, kim thượng lại mở mắt trong khoảnh khắc, tự mình chống người ngồi dậy.

Mơ màng ban đầu trong mắt đã tiêu biến, hai mắt ngài trông rõ sáng trong, rất có thần thái.

Sau một lượt nhìn quanh sự vật trong phòng, ngài mỉm cười nói với công chúa: "Tỉnh táo ra thật."

Ý câu này chỉ tai mắt rõ ràng, đầu óc minh mẫn.

Người trong ngoài rèm châu nghe vậy đều mừng rỡ ra mặt, sôi nổi hạ bái chúc mừng, chỉ duy Trương tiên sinh không nói một lời, thừa dịp mọi người nói cười lặng lẽ lui ra ngoài.

Hôm sau, thánh thể kim thượng an khang, đứng dậy đi lại thậm chí còn không cần người đỡ.

Tể chấp vào yết kiến, ngài cũng có thể ung dung mở miệng ứng đối, cơn bệnh nặng kéo dài suốt bao ngày nay như thuyên giảm được phân nửa.

Vài ngày sau, công chúa vẫn phụng dưỡng bên phụ thân.

Một buổi sớm nọ, kim thượng uống xong bát thuốc công chúa dâng, đột nhiên hỏi nàng: "Tay lương y chịu hình thích mặt chữa khỏi bệnh cho cha ngày đó đi đâu rồi?

Có thể triệu đến được không, cha muốn thưởng cho hắn vài thứ."

Công chúa chần chừ, đáp: "Hiện giờ y đã không còn trong cung..."

"Ồ, thế y ở đâu?"

Kim thượng truy vấn, lại nói: "Bất kể y ở đâu cũng phải tìm bằng được.

Lập được công lớn như vậy, không thể lười biếng coi khinh y được."

"Dạ..."

Công chúa ưng thuận, nhưng có lẽ là đang nghĩ xem phải ứng phó với yêu cầu này của phụ thân thế nào, vẻ mặt nàng không được tự nhiên cho lắm.

Kim thượng vẫn quan sát nàng đó giờ, không khỏi mỉm cười: "Người ấy là Mậu Tắc đúng không?"

Công chúa kinh ngạc, nhất thời không biết phải trả lời sao.

Mà kim thượng cũng chẳng phải thực sự chờ đợi đáp án của nàng, tự mình nói tiếp: "Lúc hắn găm kim vào sau đầu cha, cha đã ý thức ngay ra được người châm cứu là hắn, bởi cha mãi mãi sẽ không bao giờ quên cảm giác bị kim đâm vào cùng một huyệt vị.

Cha rất sợ hãi, suýt nữa lại muốn vùng dậy kháng cự, thế nhưng, Huy Nhu, con nói với cha con đang bên cạnh cha...

Con là con gái duy nhất của cha, con nhất định sẽ không hại cha con...

Nghĩ tới đó, cha lại an lòng..."

Nói đến đây, ngài lại cười cười như tự giễu, nói: "Thực ra, khi ấy cha còn có một nghi vấn mà bây giờ nghĩ lại cảm thấy rất buồn cười nữa: Lỡ như con theo Trương Mậu Tắc hại cha thì sao?

Sau lại nghĩ, nếu đến con cũng muốn hại cha thì cha sống trên đời còn có nghĩa lí gì?

Là tốt hay xấu hà tất phải xen vào nữa, chẳng bằng mặc các con thao túng cho rồi.

Thế nên, cuối cùng cha hoàn toàn không phản kháng..."

Ngài nói những lời này vẫn một mực mỉm cười, nhưng công chúa nghe vào lại rất bức bối, không khỏi cất tiếng gọi "Cha" như muốn giải thích điều gì, kim thượng đặt ngón tay lên môi ra hiệu nàng đừng nói, cười bảo: "Không phải nói gì hết, điều con muốn nói, cha đã biết cả rồi."

Công chúa dựa sát vào phụ thân, ôm lấy cánh tay phải của ngài, nhoẻn một nụ cười điềm tĩnh, tựa đầu lên vai ngài.

Kim thượng cũng ngậm cười an hưởng giờ khắc an bình này, lát sau, ngài nghiêng đầu liếc ta, ôn hòa phân phó: "Hoài Cát, ngươi đi mời Mậu Tắc qua đây."

Đợi Trương tiên sinh tiến vào, kim thượng nói với thầy: "Ngạn Bác khen với trẫm chuyện ngươi phụng dưỡng trông dìu trong lúc trẫm mê ốm, mà ngươi còn dùng kim châm chữa khỏi cơn trọng bệnh này, theo lý trẫm phải luận công ban thưởng.

Nay thăng ngươi làm nhập nội nội thị tỉnh áp ban, về sau hầu hạ bên người trẫm khi bách quan vào điện gác yết kiến hoàng đế, quản lý sự vụ, có thể lên điện bẩm tấu..."

Ngài còn chưa dứt lời, Trương tiên sinh đã khấu đầu bái lạy, nói: "Bệ hạ, phụng dưỡng trông dìu là trách nhiệm bổn phận của thần, chưa được bệ hạ cho phép đã châm cứu thì lại là trọng tội phạm thượng, bệ hạ nhân từ rộng lượng, không truy cứu tội lỗi của thần, thần đã cảm động đến rơi nước mắt rồi, sao dám tranh công xin thưởng, yên lòng kề cạnh!

Thần vào hầu thiên gia đã hơn ba mươi năm, chẳng làm nên trò trống gì mà vẫn được hưởng ơn nước sâu nặng, liên tiếp thăng chức, thật xấu hổ lắm thay.

Thế nên, thần khẩn cầu bệ hạ bổ thần ra ngoài, cho thần một chức ngoại quan mọn, điều khỏi kinh sư.

Thần chịu hưởng thánh ân, chắc chắn sẽ kính cẩn tận trung với cương vị quận ngoài, gắng vì quân vương phân ưu được chút nào hay chút ấy."

10.

Gãy cánh

Không phải kim thượng không mở miệng giữ lại, nhưng Trương tiên sinh năm lần bảy lượt khăng khăng, sau hai ngày suy nghĩ, kim thượng bằng lòng lời thỉnh cầu của thầy, truyền chiếu: Bổ nhiệm nội tây đầu cung phụng quan, chưởng quản Ngự dược viện, Trương Mậu Tắc làm cung uyển sứ, Quả Châu đoàn luyện sứ, Vĩnh Hưng Lộ binh mã kiềm hạt.

"Lần này tiên sinh đi bao lâu thì về?"

Ta hỏi riêng thầy.

Thầy chỉ cười, không trả lời.

Nhưng xem biểu hiện của thầy có vẻ như không có ý định trở về.

Thầy chia hết bổng lộc tích lũy không dùng đến cho thuộc hạ, đó là một khoản tiền rất lớn nhưng nhiều năm qua lại chỉ bị thầy chất đống trong góc, hàng ngàn hàng vạn xâu mà như chưa bao giờ được thầy xem kỹ, phần lớn đến niêm phong trên giấy gói cũng chưa từng mở ra.

Bị thầy đem làm quà tặng cho người khác còn có rất nhiều châu báu vải vóc đồ cổ đế hậu ban thưởng, cuối cùng, phòng thầy trống không, ngay cả gia cụ lặt vặt hơi tốt cũng bị người khác lấy sạch, mà trong bọc hành lý thầy định mang đi thì ngoài văn kiện công vụ ra, chỉ có vài món quần áo giặt thay và mấy xâu lộ phí cần thiết.

Thầy không quên ta, một ngày trước ngày khởi hành, đặc biệt mời ta qua, chọn lọc mấy thỏi mực cổ thượng đẳng, nghiên mực Đoan Khê và bánh trà long phượng thầy cất giữ cẩn thận cho ta.

Ta tạ ơn nhưng không nhận, thấy trong phòng thầy còn để lại ba rương lớn, nói: "Mấy cái rương này tiên sinh cũng mang đi ạ?

Nếu muốn để lại trong cung thì cứ giao cho Hoài Cát giữ gìn tạm là được ạ."

Thầy hiểu ý ta, nói: "Hoài Cát, cảm ơn cậu.

Ta cũng đang định giao phó mấy cái rương này cho cậu, nhưng không phải gửi gắm giữ gìn mà là muốn nhờ cậu thay ta tặng nó cho một người."

Ta gật đầu, mời thầy nói rõ: "Tặng ai ạ?"

"Quan gia."

Thầy nói, lại bổ sung: "Chờ ta đi rồi hẵng tặng."

Lúc ta trở về gác, thầy tiễn ta tới cửa, ta hỏi thầy hôm sau xuất cung giờ nào, thầy cười nhạt nhòa, nói: "Sớm lắm, mấy ngày nay cậu cũng mệt chết rồi, nghỉ ngơi nhiều chút, khỏi tới tiễn ta."

Ta cũng không khăng khăng đòi đi tiễn thầy, cũng chẳng phải thật sự lười biếng hay tâm tính lạnh nhạt mà là rất sợ lại phải trải qua cảnh biệt ly này – cửa cung đóng lại chia lìa đôi ngả, cố nhân xa tận chân trời.

Giờ khắc này, nghĩ đến thầy sắp đi xa, tiền đồ lại mịt mờ, chẳng biết năm nao tháng nào mới có thể gặp lại, ta buồn bã khôn nguôi, bèn quỳ gối với thầy, rưng rưng lấy bốn lễ bái lạy trang trọng cáo biệt.

Thầy đưa tay đỡ ta, ôn hòa căn dặn: "Cậu cũng phải bảo trọng."

Lúc ta xoay người định rời đi, thầy chợt gọi ta lại, cụp mắt ngẫm nghĩ đôi lát, lại nhìn ta, nói: "Khi niên thiếu cậu từng hỏi ta, niềm vui của ta nằm tại đâu, tâm nguyện lớn nhất là gì.

Hiện giờ, ta có thể trả lời cậu."

"Tâm nguyện lớn nhất của ta là làm một người đàn ông bình thường...

Nhưng đời này đã định trước không thể nào thực hiện.

Mọi lý tưởng mà hoạn giả như chúng ta có thể có cũng giống như cơ thể chúng ta vậy, đều không trọn vẹn."

Thầy bình tĩnh nói, chầm chậm quay đầu nhìn vào phòng – trong bình hoa trên bàn hãy còn cắm nhành mai vàng tố tâm nay đã héo rụi, "Có điều, ta đã tìm được một người đáng giá, người gần như hoàn mỹ vô khuyết, nên có được một cuộc đời viên mãn.

Ta hi vọng giúp người thực hiện tất cả tâm nguyện của người, thậm chí sống vì người, chết vì người...

Nếu nói cuộc đời ta còn niềm vui nào thì hẳn chính là điều này."

Sống vì người, chết vì người...

Ta ngẫm ngợi câu này, buồn bã nghĩ, đúng là thầy đã làm được.

"Cơ mà," Ta vẫn cảm thấy khó hiểu với quyết định của thầy hôm nay, "Nếu là vậy, sao tiên sinh lại hết lời tự xin điều ra ngoài?

Rời xa người rồi, tương lai sao có thể giúp người thực hiện tâm nguyện?"

"Hiện giờ, ta phải đi."

Thầy không hề úp mở, "Ta càng gần người, người người quý trọng nhất sẽ càng xa người."

Sáng sớm ngày kế, như thường lệ, ta theo công chúa đi vấn an trung cung, để tâm quan sát vẻ mặt hoàng hậu, cũng không tìm được chút cảm xúc đặc thù nào, chẳng hạn như u buồn hay đau thương.

Bà trầm tĩnh như nước, hiển nhiên không hề ra ngoài tiễn biệt Trương tiên sinh, thậm chí lúc nói chuyện với bọn ta cũng chẳng nhắc một câu nào tới thầy, chỉ hòa nhã trò chuyện những chủ đề thường nói, tỉ mỉ bàn về sở thích hằng ngày của kim thượng, dặn bọn ta phải chăm sóc ngài thật tốt.

Có điều, hôm ấy, trong điện gác của bà bồng bềnh hương mai vàng tố tâm.

Khi ta mang mấy cái rương chứa đầy những cuộn phi bạch cũ đến Phúc Ninh Điện, hoa đào mận trước điện nối nhau đơm bông, sắc xuân đã dạt dào.

Ta dẫn mấy tên tiểu hoàng môn bê rương nhẹ nhàng lại gần, xuyên qua những cành hoa đậm nhạt đỏ trắng, thấy kim thượng tựa mình ngồi trên giường mềm kê tạm ngoài hiên ngắm hoa, đầu chít khăn, khoác áo choàng, dáng người tuy gầy gò nhưng thần sắc sáng láng, phong thái thảnh thơi, đã không còn dáng vẻ ốm bệnh suy sút.

Thu Hòa đang làm bạn bên ngài, chắc là kim thượng muốn kiểm tra vết thương trong lòng bàn tay cô, cô quỳ bên giường mềm, chìa tay trên đầu gối ngài, kim thượng đỡ lấy tay cô, ngón tay khe khẽ vuốt ve vết thương, thương xót vô hạn.

Chợt có gió nổi lên, chiếc váy dài lĩnh sa và tấm áo ngắn thân đối bằng la nhẹ của Thu Hòa khá mỏng, cô bị lạnh, không kìm được hắt hơi một cái.

Chưa kịp xin lỗi, kim thượng đã mở rộng áo choàng, kéo cô vào lòng, che gió cho cô.

Cảnh tượng ấy làm chậm lại bước chân ta, ta hơi lùi xuống rồi mới đi lên.

Thu Hòa vừa trông thấy ta đã đứng vụt dậy, lùi chếch ra sau kim thượng, son vương khắp mặt.

Ta quy củ thi lễ với kim thượng rồi quay sang vái chào Thu Hòa: "Đổng nương tử..."

Kể từ khi hoàng hậu gọi cô là "Đổng nương tử", tất thảy cung nhân đều hiểu thâm ý trong đó.

Trong khoảng thời gian kim thượng ốm bệnh, hoàng hậu đóng gác, Thu Hòa phụng dưỡng trước giường bệnh kim thượng với thân phận tần ngự.

Bây giờ, kim thượng đã thăng cô lên làm ngự thị, phong hiệu "Văn Hỉ huyện quân", danh phận trong cung tịch của cô đã chính thức từ nữ quan chuyển thành tần ngự thiên tử.

Xem ra đó giờ cô vẫn chưa thích ứng được với thân phận mới, thấy ta thi lễ, cô cũng kéo vạt váy hoàn lễ theo bản năng, hoàn toàn quên mất hiện giờ cô cũng là chủ tử của ta rồi.

Để tránh cho Thu Hòa xấu hổ, ta không nhìn cô nhiều, quay sang lệnh tiểu hoàng môn đặt rương xuống, nói rõ ý dâng tặng lễ vật của Trương tiên sinh với kim thượng.

"Trong đó là thứ gì?"

Kim thượng không hiểu, hỏi.

Ta mượn cớ đáp không biết, kim thượng bèn sai người mở rương ra.

Trăm ngàn cuộn giấy bỏ phi bạch được lấy ra, lần lượt bày trước mặt kim thượng.

Sau khi tỉ mỉ xem hơn mười cuộn, vẻ mặt ngài cũng từ hoang mang ban đầu chuyển thành kinh ngạc, dần dần đổi sang buồn bã ảm đạm.

Điều này cũng xác nhận suy đoán trong lòng ta về những nét mực này được phác ra dưới ngòi bút của ai.

Trong mười mấy hai mươi năm đằng đẵng, bà trốn trong gác điện nơi ngài nhìn chẳng đến, nắn nót từng nét, mà một người khác lại lặng yên đứng sau lưng bà, thu giữ từng cuộn...

Ẩn tình trong đây muốn nói lại thôi, nhưng chồng giấy cũ này tuy vĩnh viễn duy trì tư thế trầm mặc song lại có thể coi là người rõ chuyện đáng tín nhiệm nhất, chứng cớ như núi, còn hơn ngàn lời vạn chữ của người ngoài.

"Thủ Trung," Sau, kim thượng mở lời, gọi Nhậm Thủ Trung hầu hạ trước điện lại, "Ngươi bẻ vài nhành hoa tặng cho hoàng hậu, truyền mấy câu cho ta: Hôm nay trời trong nắng ấm, điện ngọc thanh tân, hẳn sắc đêm tối cũng sẽ rất đẹp, tại sao không cùng tới thủy điện trong Hậu uyển, thưởng thức trăng sáng giữa tán tùng?"

Đó là một cái kết hoàn mỹ, ta vui mừng không làm phụ phó thác của Trương tiên sinh, bèn cáo lui xin đi, tâm trạng tối tăm nhiều ngày nay nhờ đó mà rốt cuộc cũng được quét lên một vệt sáng.

Ra đến cửa Phúc Ninh Điện, chợt nghe Thu Hòa gọi ta.

Kinh ngạc quay đầu lại, thấy cô đã theo qua.

"Tôi tiễn huynh."

Cô nhẹ nhàng nói.

Ta vội đáp: "Không dám làm phiền Đổng nương tử."

Cô cúi đầu, bảo: "Ở riêng mà nghe huynh gọi tôi vậy, tôi rất khó chịu."

Ta không tiếp lời, mãi sau mới hỏi cô: "Thu Hòa, cô có vui không?"

Cô chần chừ hồi lâu, trả lời thế này: "Quan gia rất tốt với tôi."

Ta gật đầu, ánh mắt rơi xuống bàn tay nắm hờ dưới ống tay áo cô: "Thương thế của cô đã lành chưa?"

Cô từ từ vươn bàn tay trái bị thương ra, lòng bàn tay hướng lên trên, mở ra trước mắt ta: "Huynh hỏi cái này à?"

Trên bụng ngón tay và lòng bàn tay láng bóng như ngọc của cô nhiều thêm hai vết thương xấu xí, tuy đã đóng vảy nhưng vết sẹo gồ ghề nổi hằn, nhìn mà rùng mình.

Nhưng kết quả được vậy đã là không tệ rồi, ban đầu xem thương thế của cô, rất nhiều người đã cho là cô sẽ đứt mất ngón tay.

Đối mặt với câu hỏi của cô, ta gật đầu đáp phải.

Cô cười nhạt nhòa: "Cái này là cánh gãy, không lành được."

Ta ngẩn người, không hiểu được ý cô ngay.

Cô đưa mắt truy tìm cánh nhạn nơi chân trời, rầu rầu nói: "Hoài Cát, tôi bị vây hãm trong đây rồi, không thể bay ra ngoài được nữa."

11.

Tháp Phồn

Sau khi phong ba ốm bệnh lắng xuống, phu nhân Lý quốc cữu vào cung, bóng gió với kim thượng Lý Vĩ và công chúa đã lớn, đã tới thời điểm thành hôn.

Kim thượng bèn hạ lệnh trích ngân khố lấy chi phí xây dựng phủ công chúa, giao cho Lý Vĩ trông coi, tiếp đó lại bàn hôn kỳ.

Không bao lâu sau, một vài thành phần chỉ e thiên hạ không loạn đã gắng "đánh rơi" một tờ triều báo trước cửa Nghi Phượng Các, bên trên ghi nội dung tấu chương gián quan Phạm Trấn tố cáo phò mã Lý Vĩ: "Nhà phò mã đô úy Lý Vĩ giật dây con em, thu nhận đến bốn, năm mươi cử nhân làm môn khách, đều là hạng vô lại số đỏ con nhà phú hào.

Lại xây dựng dinh chính, công dịch thái quá...

Lý Vĩ còn trẻ, đương lúc dốc lòng cầu học mà lại để nhiều hạng vô lại số đỏ bên cậu như vậy, xây dựng nhà cửa, xa xỉ quá mức, không phải là điều tốt với cậu..."

Về sau, tờ triều báo này truyền tới tay ta, khi ấy Trương Thừa Chiếu đang ở cạnh ta, sáp lại cùng xem, cười nói: "Thực ra việc này từ lần trước mẹ phò mã vào cung đã khoe khoang ra rồi.

Nghe nói bà ta thổi phồng con trai mình lên với quan giá, nói hắn không qua lại với dân thường, bạn bè đều là con em thế gia giàu có, Lý Vĩ giao lưu với họ, chi phí phục sức đều không thua ai, đi đâu cũng có hơn mấy chục người tiền hô hậu ủng, nghiễm nhiên cũng là một quý công tử phong thái thanh cao...

Bà ta còn cố ý đòi thêm tiền quan gia, nói phò mã muốn xây sân đánh bóng trong phủ công chúa, quan gia cũng chấp thuận thật luôn."

Ta hỏi Trương Thừa Chiếu: "Người trong cung có thường xuyên bàn tán việc này không?"

"Lại chẳng," hắn đáp, "Phu nhân quốc cữu vừa đi, người hầu bên quan gia đã thầm cười nhạo, nói tiền giấy nhà bà ta in biến thành tiền thật, chẳng biết phải tiêu thế nào nên chỉ hận không thể dán lên mặt, đắp lên người, cho tất cả mọi người đều nhìn thấy."

Ta châm lửa đốt tờ triều báo, lại nhắc hắn: "Đừng bàn tán chuyện này trước mặt công chúa, không thể để người nghe thấy được."

Hắn luôn miệng đồng ý.

Nhưng người biết chuyện này chẳng ít ỏi gì cho cam, chắc chắn đã có vài người lắm mồm để lộ chút tin tức với công chúa, vài ngày sau, công chúa rõ ràng buồn bực hơn hẳn khi trước, ngoại trừ lúc vấn an đế hậu thì đều đóng cửa không ra, thường hay thẫn thờ đã đành, có lúc gảy không hầu, đang đàn thì lác đác nhỏ lệ.

Sau khi quan gia hồi phục, ai nấy đều ăn ý không nhắc đến việc công chúa từ chối hôn sự và về Tào Bình, làm như chuyện chưa từng xảy ra, bao gồm cả chính công chúa, thế nên sự bất mãn của nàng đối với mối hôn sự này chỉ có thể chuyển hóa thành nỗi bi thương thầm lặng, gặm nhấm niềm vui và sức khỏe của nàng như tằm ăn lá dâu, khiến nàng mỗi ngày một tiều tụy.

Miêu thục nghi chứng kiến, tuy rất xót ruột song cũng chẳng thể làm gì, chỉ có thể ngày ngày khấn thần vái phật, thắp hương cầu xin, lần nào miệng cũng lầm rầm, lại nghe không rõ cụ thể bà đang nói gì.

Một ngày nọ, bà nói với công chúa, trong khoảng thời gian kim thượng và công chúa ốm bệnh, bà từng đi chùa Thiên Thanh, cầu nguyện trước xá lợi của Phật Định Quang, cầu khấn cho phu quân và con gái sớm ngày khỏi bệnh.

Bây giờ tâm nguyện đã thành, hẳn là nên đi lễ tạ thần, công chúa cũng nên đi cùng với bà, tỏ lòng thành kính biết ơn.

Công chúa chẳng hứng thú gì với chuyện này, nhưng không cưỡng nổi mẫu thân thuyết phục, cuối cùng đồng ý đi cùng bà.

Chùa Thiên Thanh xây vào thời Hậu Chu Thế Tông, trong chùa có một tháp thờ tên là tháp Hưng Từ, thờ cúng xá lợi Phật Định Quang, nhưng người kinh đô thường gọi nó bằng cái tên thông tục, tháp Phồn.

Thân tháp cao ngất, ca dao dân gian Đông Kinh hát rằng: "Tháp sắt cao, tháp sắt cao, đến eo tháp Phồn sao mà cao."

Ta cùng vài nội thị, nội nhân theo Miêu thục nghi và công chúa men theo lối đi xoay vòng trong tháp Phồn lên trên, leo hồi lâu mới đến được am thờ Phật, tại đây phóng mắt ra ngoài cửa sổ, cảnh tượng trông thấy hệt như những lời Tô Thuấn Khâm vịnh tháp Phồn trong thơ: "Xe ngựa tựa sâu kiến, sông lớn như mương đục."

Bái tế xong xá lợi, công chúa đưa mắt nhìn quanh, phát hiện ra vách trong khảm rất nhiều viên gạch có hoa văn hình phật, trong đó có một nhóm viên gạch có hình ca vũ quanh Đế Thích Thiên, miêu tả cảnh nghệ nhân tấu tỳ ba, tù và, trống hạt, chũm chọe, sáo ống, tiêu, đường nét rõ ràng, phong thái có hồn, trông rất sống động.

Công chúa dần bị thu hút, xem kỹ từng cái, đúng lúc ấy Miêu thục nghi chợt nói: "Chỗ này cao, gió lại lớn, ta hơi đau đầu, xuống trước đây."

Công chúa nghe vậy muốn đi cùng bà, Miêu thục nghi lại xua tay, nói: "Con đã thích xem hình vẽ trên mấy viên gạch này thì cứ nán thêm chốc nữa xem cho đã đi.

Ta vào đại điện chùa thắp hương trước, lát nữa con xuống cùng Hoài Cát là được."

Nói đoạn dẫn đám người hầu còn lại cùng phương trượng và tăng nhân tiếp khách rời đi, trước khi đi còn lén nháy mắt với ta, đánh mắt về phía công chúa như có ý giao phó.

Ta chỉ nghĩ chắc bà bảo ta chăm sóc công chúa cẩn thận, bèn khom người gật đầu, tỏ vẻ tuân mệnh.

Công chúa tiếp tục xem hình vẽ nghệ nhân tấu nhạc trên viên gạch, cuối cùng ánh mắt đậu lại thật lâu trên hình nghệ nhân thổi sáo, đại khái lại nhớ tới chuyện đã qua, nàng ưu tư ngẩn ngơ, không để ý đến tiếng bước chân vang lên trên lối gỗ trong tháp sau đó, mãi đến khi có người đi tới sau lưng nàng, cất tiếng gọi nàng "Công chúa", nàng mới bất chợt kinh hãi tỉnh táo lại.

Trong chớp mắt quay đầu lại, nàng chẳng biết là vui hay buồn, nụ cười trên mặt lóe rạng rồi lại tắt phụt, bắt lấy cổ tay người tới như muốn xác nhận sự hiện hữu của cậu, hoặc giả là sợ cậu đột ngột biến mất.

Hai mắt hàm lệ nhìn đăm đăm vào cậu, nàng nghẹn ngào khẽ giọng: "Tào ca ca...

Chàng có khỏe không?"

Khóe miệng Tào Bình khẽ nhếch, song lại là một nụ cười thê thiết.

Đã lâu không gặp, cậu gầy đi nhiều, quầng mắt thâm sạm, ánh mắt đờ đẫn, khác xa dáng vẻ khí phách trước kia.

Cậu nhẹ nhàng rút tay ra, tránh khỏi sự đụng chạm của công chúa, lùi ra sau hai bước, cúi người đáp: "Nhờ phúc của công chúa, thần vẫn khỏe, tạ công chúa nhớ mong."

Cử chỉ khẩu khí cậu mang cảm giác xa cách rõ rệt, không khỏi khiến công chúa sửng sốt.

Ta thầm nghi đó là bởi có ta ở đây làm cậu băn khoăn, bèn tránh ra ngoài cửa, nhưng cũng không dám đi xa, thế nên đứng hầu chờ bên cửa.

Bởi khoảng cách vẫn gần nên có thể nghe được đối thoại giữa họ về sau.

Kế đó, người mở miệng trước vẫn là Tào Bình, cậu bình tĩnh lễ phép nói với công chúa: "Công chúa, lần này thần tới là để chào từ biệt người.

Thần sắp đi Tị Thủy, trông mộ cho cụ cố, sau này e rằng không còn cơ hội yết kiến công chúa, thế nên hôm nay đến đây nói lời từ biệt, mong công chúa bảo trọng..."

Cậu chưa nói hết, công chúa đã khiếp hãi quá chừng, run giọng hỏi: "Chàng phải rời kinh sư?

Tại sao?

Là ai bắt chàng đi?

Cha em?

Hay là nương nương?"

Tào Bình đáp: "Công chúa đừng đoán mò, là thần cam tâm tình nguyện đi, cũng không phải do ai bức bách."

Công chúa không tin, trong giọng nói đã nhuốm tiếng lệ: "Tại sao chàng phải đi?

Chờ em, em sẽ nghĩ cách...

Đợi sức khỏe cha tốt hơn chút nữa, em sẽ xin cha thành toàn cho chúng ta...

Cha rất tốt với em, nhất định sẽ bằng lòng..."

"Công chúa," Tào Bình ngắt lời nàng, hỏi ngược lại: "Người có chắc chắn rằng dượng sẽ chấp thuận lời thỉnh cầu của người hay không?

Người có thể đảm bảo những chuyện không hay xảy ra trước đây sẽ không tái diễn nữa không?"

Công chúa không đáp lại được.

Tào Bình buông một tiếng thở dài, nói tiếp: "Trước đây thần từng nghĩ như công chúa, cho rằng dượng yêu thương công chúa, cô còn là hoàng hậu, nếu chúng ta cố gắng, lại có cô khuyên nhủ bên cạnh, dượng nhất định sẽ chấp thuận lời thỉnh cầu của chúng ta.

Nhưng, giờ đây khi nhìn lại, là chúng ta đã nghĩ việc này quá đơn giản."

Công chúa vẫn lặng thinh, Tào Bình lại nói: "Ngày đó từ Quốc tử giám trở về, thần nói chuyện của chúng ta với cha mẹ.

Mẫu thân thần cả kinh thất sắc, khóc lóc mắng thần không hiểu chuyện, cha không nghiêm phạt gì thần, chỉ nói một câu: 'Nếu quan gia bằng lòng gả công chúa cho con thì ngài đã làm thế từ mười năm trước rồi.' Sau đó, cha xoay người sang thư phòng, viết sớ thỉnh cầu bãi quan chịu tội...

Kể từ đó nhà thần bị người Ty hoàng thành giám thị, ai ra vào cũng bị kiểm tra...

Dượng không khỏe, thậm chí còn nói ra lời 'Hoàng hậu mưu nghịch', tộc nhân nhà thần hay tin, trên dưới đều lo âu thấp thỏm.

Tộc trưởng hỏi đến, phụ thân thuật lại chuyện của thần, tộc trường vừa thương vừa giận, bất chấp bệnh nặng trong người, tự mình chống gậy tới trước mặt thần, nói: 'Lần này mà có sai lầm gì, đừng nói đến trăm năm vẻ vang cụ cố con dành trọn một đời trên lưng ngựa đổi lấy cho Tào thị mà mấy trăm mạng người từ trên xuống dưới tộc họ Tào có bảo toàn được hay không cũng còn chưa rõ đâu!'"

"Cha sẽ không làm vậy!"

Công chúa bác bỏ, "Câu nói khi ấy chỉ là lời mê sảng..."

"Lời mê sảng khi ốm bệnh thực ra cũng giống như lời túy lúy khi say rượu vậy, ít nhiều đều có thể để lộ phần nào suy nghĩ nội tâm."

Tào bình nói.

Ngữ điệu cậu vẫn chẳng gợn sóng gió, hẳn là mấy ngày nay đã suy nghĩ rất nhiều, lời nói với công chúa lúc này chỉ là kết luận thu được trong lòng, "Cũng phải đến lúc đó thần mới biết được, thì ra cô chẳng hề được dượng tin cậy sâu sắc, ngồi vững trung cung, không thể lung lay như thần từng tưởng.

Mà hành vi càn rỡ của thần thì càng khiến dượng hiểu lầm cô sâu hơn, nói không chừng, ngài còn cho rằng là cô bảo thần đi dụ dỗ công chúa..."

Công chúa liên tục phủ nhận: "Không phải, cha không nghĩ như thế..."

Song, câu nói không qua suy nghĩ của nàng lại có vẻ vô cùng yếu ớt.

"Người nghe thần nói hết đã, công chúa."

Tào Bình ngăn nàng lại, giọng nói lúc này rất đỗi dịu dàng, phần nào ấm áp hơn vẻ xa cách khách khí trước đó, "Thần không ngờ hành động của mình lại gây ra nhiều ảnh hưởng lớn đến vậy cho gia tộc...

Trưởng bối trong nhà lo nghĩ phẫn nộ, phụ thân mặt ủ mày chau, mẫu thân lấy nước mắt rửa mặt, anh em bị cấm túc trong nhà, mà cô em gái từng giúp thần đưa ô cho công chúa thì bị vội vàng hứa gả cho một người em ấy không thích, bởi cha mẹ thần cho rằng, tương lai lỡ có bất trắc, gia tộc người ấy cũng có thể bảo đảm tính mạng cho em...

Nhưng người chật vật nhất hẳn là cô, thần không sao tưởng tượng được đối mặt với lời chỉ trích 'mưu nghịch' của dượng, cô đã phải trải qua tình cảnh gian nan thế nào trong cung."

Tạm ngừng một chốc, cậu còn nói: "Thần nghĩ, cảm nhận của công chúa trong khoảng thời gian ấy chỉ có tệ hơn thần.

Thế nên, công chúa, hiện giờ mọi chuyện đã qua, vậy hãy duy trì hiện trạng này đi, chúng ta đừng sai lầm tiếp nữa, đừng để lại ảnh hưởng đến những người ta yêu thương."

"Vậy người chàng yêu thương có bao gồm em không?

Nếu duy trì hiện trạng này, em sẽ phải lấy tên Lý Vĩ ngu dốt gớm ghiếc kia, đến lúc đó em sẽ phải sống thế nào?"

Công chúa hỏi cậu.

Tào Bình không đáp.

Chính lúc này, tâm trạng công chúa thoắt đổi, bỗng tràn ngập hi vọng nói: "Hay là chúng mình bỏ trốn đi, chúng mình bỏ trốn từ đây, đến nơi không ai có thể tìm ra chúng mình..."

"Công chúa!"

Tào Bình cao giọng gọi nàng, lấy việc nâng cao âm điệu lên đôi chút để ra hiệu bảo nàng bình tĩnh lại.

Kế đó, cậu buông một câu khiến công chúa triệt để câm bặt: "Thần rất thích công chúa, vậy nhưng, thần yêu người nhà của thần hơn."

Ngữ âm chấm dứt tại đó, trong tháp bảng lảng khói xanh, ngoài thềm mây trôi lững lờ, ta dỏng tai lắng nghe, lại chỉ nghe thấy đứt quãng tiếng gió bị cắt vụn thổi xuyên qua dòng thời gian tĩnh lặng trang nghiêm trước am thờ.

Sau nữa, âm thanh vang lên là tiếng đầu gối chạm đất, Tào Bình bái lạy công chúa: "Thần chúc công chúa bình an hạnh phúc, thọ tựa nam sơn, hưởng phúc muôn đời."

Lễ xong, cậu sải bước ra khỏi cửa, trước khi xuống tầng, cậu xá ta một vái thật sâu, nói: "Lương tiên sinh, về sau xin tiên sinh hao tâm, chiếu cố thật tốt cho công chúa."

12.

Ấm cúng

Lúc vào tìm công chúa, nàng đã đi tới lan can ngoài tháp, đứng trong gió mạnh thét gào, cụp mắt nhìn xuống hồng trần vạn trượng, tay áo phấp phới, lảo đảo chực ngã.

Ta lập tức chạy qua, một tay tóm chặt cánh tay nàng, kéo nàng xoay người.

Con ngươi đờ đẫn của nàng như đang nhìn ta, nhưng trong mắt trống rỗng, rõ ràng là nhìn như không thấy.

"Công chúa, phải về rồi."

Ta nhẹ nhàng nói với nàng.

Nàng gật đầu, rất yên lặng để ta đỡ mình xuống tầng.

Trên đường hồi cung, nàng vẫn yên lặng như cũ, không nói nửa lời, cũng không nhỏ lệ, về tới gác đi thẳng vào phòng ngủ, như thể chỉ là mệt mỏi, cần nghỉ ngơi nhiều thêm chút thôi.

Miêu thục nghi thấy nàng ngủ rồi mới lặng lẽ hỏi ta chuyện trong tháp Phồn, hiển nhiên bà biết rõ nội tình.

Ta thuật lại sơ lược đối thoại của hai người, bà thở dài: "Vậy cũng tốt.

Tào Bình phải tự mình nói với nó mới có thể khiến nó hết hi vọng, bằng không chưa biết chừng lúc nào đó nó lại muốn ầm ĩ với cha nó."

"Tào công tử đi chuyến này là do hoàng hậu sắp xếp ạ?"

Ta hỏi Miêu thục nghi.

Bà đáp: "Là quyết định sau khi hoàng hậu và quan gia bàn bạc.

Trước đó Tào Bình thỉnh tội với họ, quan gia thấy nó đã tỉnh táo lại rồi nên bằng lòng cho nó gặp lại công chúa một lần, nói rõ với nó."

Nói đến đây, Miêu thục nghi lại vỗ vỗ ngực: "Cảm tạ trời đất!

Tốt xấu gì công chúa cũng hiểu chuyện, nghe xong lời Tào Bình cũng không khóc không quấy.

Ban đầu trong lòng ta cứ lo ngay ngáy, chỉ sợ nó nhất thời không chịu nổi sẽ gây ra chuyện gì...

Chuyện này trôi qua được vậy đúng là Phật tổ hiển linh, a di đà phật!"

Nhưng ta không cho là vậy.

Ta biết tình cảm công chúa dành cho Tào Bình, cũng biết lời Tào Bình đã làm tổn thương nàng sâu sắc.

Mà nàng lại bình tĩnh đến lệ cũng chẳng rơi lấy một giọt như thế, thực sự là quá bất thường, cũng khiến ta vô cùng lo lắng.

Vì vậy, ta đặc biệt dặn dò Gia Khánh Tử và Tiếu Diệp Nhi hầu hạ trong phòng công chúa đêm nay, nhất định phải để ý kĩ cử chỉ của công chúa, chớ lơ là.

Hai đứa nó đồng ý hết lời, nhưng sau đó, chuyện ta lo lắng vẫn xảy ra.

Nửa đêm, hai thị nữ tới gõ cửa phòng ta, nức nở nói: "Bọn em không cẩn thận ngủ mất, sau đó, sau đó..."

Một khắc ấy, con tim như ngừng đập trong chớp mắt, ta hỏi chúng: "Công chúa làm sao?"

Chúng đáp: "Không biết...

Không có trong phòng, cũng không có trong gác...

Không thấy đâu..."

Ta lập tức mở cửa gác, xông vào bóng đêm vô tận tìm nàng.

Ban đêm, những cửa ngõ thông ra ngoài cung và mấy khu đại điện đã đóng, thế nên phạm vi tìm kiếm thu hẹp lại rất nhiều, không bao lâu sau, ta tìm thấy nàng bên Dao Tân Trì.

Nàng toàn thân ướt đẫm, ôm đầu gối ngồi bên bờ hồ, vùi đầu vào khuỷu tay, mái tóc dài uốn lượn chấm đất, run rẩy trong gió đêm lạnh lẽo.

Có người giản lược kể lại cho ta tình huống: Nàng nhảy xuống nước, cũng may nội thị tuần đêm trông thấy, lập tức cứu lên.

Sau đó không ngừng có nội thị và cung nhân nghe thấy động tĩnh qua đây, hết dìu lại choàng áo cho nàng, nhưng nàng vùng vẫy dữ dội, từ chối bất kỳ kẻ nào tới gần, cứ ngồi mãi đấy, đến áo bào nội thị đưa cũng bị nàng quăng ra xa.

Ta đi tới, đưa tay đỡ nàng, nàng cảm giác được, nhìn cũng không nhìn, lập tức vung tay tát lên mặt ta.

Ta không tránh né, cứ thế hứng trọn cái bạt tai.

Bấy giờ nàng mới ngước lên nhìn ta, chợt ngẩn người.

"Hoài Cát..."

Nàng nghẹn ngào gọi, ánh lệ dưới rèm mi lấp lóe, hệt như một đứa trẻ bị tủi thân bên ngoài cuối cùng cũng gặp được người nhà.

Ta mỉm cười với nàng, cúi người, ôn hòa nói: "Công chúa, chúng ta trở về thôi."

Nàng bi thương cúi thấp đầu, không nói gì, nhưng cũng không biểu lộ phản đối.

Ta vươn hai cánh tay bế nàng lên, đi về Nghi Phượng Các.

Nàng rúc trong lòng ta, vùi đầu vào ngực ta, hơi ẩm rét mướt trên người xuyên qua lớp áo khô ráo của ta, thấm sang da thịt ta.

Ta không biến sắc, ôm chặt nàng, tâm trạng lúc này cũng chẳng khác nào mái tóc dài hãy còn đang nhỏ nước của nàng, nặng nề mà ẩm ướt.

Bỗng nhiên, hai giọt dịch thể có độ ấm ngấm vào vạt áo trước ngực ta, đúng vị trí trái tim, ta không khỏi run lên như bị phỏng.

Kỳ thực, hai giọt nước ấy chỉ mang nhiệt độ bình thường mà thôi.

Kim thượng biết được việc này, trời chưa sáng đã chạy tới.

Khi đó công chúa đã thay xiêm y, nằm trên giường, bất kể Miêu thục nghi hỏi han khuyên lơn rưng rưng an ủi thế nào cũng không nói một lời, nghe phụ thân đến cũng chẳng đứng dậy mà đổi hướng quay vào trong, nhắm mắt làm bộ ngủ say.

"Huy Nhu..."

Kim thượng khe khẽ gọi công chúa, không chờ được tiếng đáp lại của nàng, ngài cũng không gọi lại nữa, ngồi xuống bên mép giường, ngài nói với cô con gái trầm mặc: "Nhất định là con đang oán cha, tại sao phải chia rẻ con và Tào Bình, bắt con lấy Lý Vĩ...

Nhớ rất nhiều năm trước, cha từng nói với con, chúng ta càng thích ai thì càng không thể để người khác nhìn ra mình thích người đó.

Thể hiện rõ ràng sự yêu thích của mình với người đó chẳng khác nào đặt người ấy lên đầu sóng ngọn gió, cuối cùng sẽ hại họ.

Bây giờ với Tào Bình chẳng phải là thế ư?

Nó thông minh, đa tài, thiện xạ, còn biết tiếng Khiết Đan, tương lai có thể làm sứ thần Đại Tống ưu tú, đi sứ Khiết Đan lúc cần thiết.

Thế nhưng, nếu con để lộ tình cảm của mình với nó, đòi hủy bỏ hôn ước lấy nó, nó lập tức sẽ trở thành đối tượng công kích dưới ngòi bút chư thần đài gián, các đại thần sẽ nói nó là kẻ điên rồ làm tổn hại đến đạo nghĩa quốc pháp và khinh nhờn tôn nghiêm quân quốc, yêu cầu cha nghiêm phạt nó, tiền đồ của nó và danh dự của con đều sẽ bị hủy sạch vì đó...

Coi như cha bất chấp, che chở nó chu toàn, lại gả con cho nó, liệu đó có phải kết cục tốt chăng?

Nó vốn là người trong hậu tộc, không gian phát huy tài năng có hạn, chẳng thể nhậm chức quan văn tham gia chính sự, cũng chẳng thể lĩnh quân thống soái chưởng quản binh quyền.

Đảm nhiệm chuyên sứ là chuyện tối quan trọng duy nhất nam tử Tào thị có thể làm, nhưng nếu Tào Bình trở thành phò mã đô úy, thận phận con rể hoàng đế đặc thù, đến chuyện đi sứ cũng chẳng tiện làm.

Hơn nữa, thần tử cả triều đều sẽ nhìn chằm chằm vào nó, nó mà bàn nhiều một câu về triều chính, trong nhà gặp nhiều thêm hai tay quan thần, đều sẽ bị đài gián hặc tội.

Đấng nam nhi khó tránh khỏi lòng hoài chí lớn, sẽ không sa vào thú khuê phòng dài lâu, nếu Tào Bình cưới con, về lâu về dài, chỉ e cũng sẽ cảm thấy phiền muộn tiếc nuối vì không cách nào thi triển hoài bão ngập lòng, có phải không?

So với tương lai sẽ vì vậy mà sinh lòng oán hận, hà cớ không buông tay ngay bây giờ, giữ lại cho cha một người tài dùng được?"

Nói đến đây, ngài không khỏi thở dài: "Phò mã đô úy quốc triều vốn không phải để cho tài sĩ làm.

Người làm chồng công chúa không cần có tài năng ngút trời dậy nước, càng không cần có hùng tâm trị quốc bình thiên hạ, nếu con khăng khăng đòi lấy một nhân tài trụ cột, ngược lại sẽ hủy hoại tiền đồ của người ta.

Phò mã đô úy chỉ cần có thể toàn tâm toàn ý với con, làm bạn với con vô tư lự, bình an hạnh phúc cùng qua kiếp này, đã là rất tốt rồi.

Thế nên, một phò mã thiện lương, thận trọng, thành khẩn với mọi người sẽ thích hợp với con hơn một nhân tài lòng ôm chí lớn...

Về phần tại sao lại chọn Lý Vĩ...

Cha từng nói với con, cha là đứa con bất hiếu, khi Chương Ý thái hậu còn tại thế, cha từng gặp bà nhiều lần mà chưa từng đối xử với bà như với mẫu thân, trái lại, lần nào cũng ngồi yên nhận bà hành đại lễ...

Khi ấy, cha cho rằng bà chẳng qua chỉ là một trong rất nhiều tần ngự của phụ thân...

Bà mới hiền lành làm sao, chưa từng nhắc nhở hay ám chỉ cha điều gì, mỗi lần gặp cha đều cúi đầu, ngoài lúc hành lễ nói lời khách sáo ra thì cũng không nói thêm gì khác.

Chỉ duy hôm bà rời cung thủ lăng cho tiên đế, sau khi bái biệt, bà mới ngẩng đầu nhìn cha một cái thật sâu, thần thái dịu dàng, trong mắt cũng không có nước mắt, vậy nhưng một khắc ấy, nỗi bi thương khóa kín sâu thẳm mấy chục năm của bà như hóa thành một cơn gió nhẹ, theo ánh mắt bà ùa vào lòng cha...

Cha có cảm giác kỳ lạ thế mà vẫn để bà rời đi, sau mới biết khi đó mình đã phạm phải một sai lầm lớn...

Mà nay, Lý Vĩ có cùng một tính tình với Chương Ý thái hậu, tuy tướng mạo không tương tự nhưng cặp mắt nó lại giống thái hậu như đúc, sẽ yên lặng biểu lộ thiện ý của nó với người ta...

Nó là đứa hiền lành, nhất định sẽ đối tốt với con, Huy Nhu, nó sẽ một lòng với con, tận hết mọi khả năng nó có thể để chăm sóc cho con, cho con một cuộc sống yên ổn bình an."

Ngài dừng lại, dụng tâm nhìn công chúa, nhưng công chúa vẫn bất động, không mảy may có ý đáp lại.

Kim thượng cụp mắt, buồn bã nói tiếp: "Con không thích nó là chê nó ngu dốt phải không?

Nhưng ngu dốt thỏa đáng mà làm con rể hoàng đế chưa chắc đã là chuyện xấu...

Năm đó cha còn từng nói với con, nếu thực sự thích ai thì thậm chí, cũng đừng để bản thân người ấy cảm nhận được mình thích họ nhường nào.

Con hỏi vì sao, khi đó ta không trả lời, giờ nói cả đi vậy...

Con cái thiên gia cách quyền bính quá gần, thế nên, nếu có người tiếp cận con, lấy lòng con, điều đầu tiên con cần làm là nghĩ xem vì sao họ lại làm như vậy, rốt cuộc là bởi thích bản thân con hay là thích quyền bính sau lưng con...

Người làm bạn lâu dài bên con ngu dốt một chút cũng được, không có năng lực táy máy quyền mưu sẽ không ảnh hưởng đến quốc gia, dẫu thỉnh thoảng nó có nảy chút ý gì, con cũng có thể liếc mắt dòm ra, mặc nó quấy nhiễu vặt vãnh, con cũng chỉ coi như xem kịch.

Nhưng nếu gần gũi với con là một kẻ thông minh đầu óc nhanh nhạy thì bất cứ lúc nào con cũng phải xốc dậy mười phần tinh thần, thoáng chút lơ là, trời biết nó sẽ lợi dụng tình yêu của con gây ra chuyện gì...

Thế nên, con càng thích nó lại càng không thể để nó phát hiện...

Con cũng chẳng giỏi khống chế tình cảm của mình cho lắm, chi bằng tìm một đứa ngu dốt ngay từ đầu cho rồi..."

Mấy câu cuối, ngài nói mà thương cảm, càng nói giọng càng thấp, cơ hồ không nghe thấy, tinh thần cũng dần ngơ ngẩn, chẳng đợi phản ứng của công chúa nữa, ngài từ từ đứng dậy, loạng choạng đi ra ngoài.

Ta bước lên đỡ ngài, dìu ngài suốt một đường tiễn ra Nghi Phượng Các.

"Ngày mai, ngươi điều một xe đi Dao Hoa Cung đón Vận Quả Nhi và Hương Duyên Tử về đi."

Ra khỏi cửa gác rồi, ngài phân phó ta thế.

Ta vội tạ ơn.

Ngài ngó ta, khẽ cười.

Thái độ ngài hiền hòa bỗng cho ta dũng khí xin ngài giải thích điều chưa rõ: "Thần cũng là người hầu gần bên công chúa, công chúa có lỗi, thần khó lòng từ chối trách nhiệm.

Lúc trước vì sao quan gia không xử phạt thần như phạt Vận Quả Nhi và Hương Duyên Tử, điều thần rời khỏi công chúa ạ?"

"Nếu ngươi cũng rời khỏi nó, nó sẽ chỉ càng khổ sở hơn thôi."

Kim thượng nói vậy.

Sau đó, dưới ánh mắt ngơ ngác của ta, ngài từ chối nội thị tùy tùng dìu đỡ, cũng không lên bộ liễn, khăng khăng nặng nề lê bước, chậm rãi đi về phía Phúc Ninh Điện.

Kim thượng đi rồi, Miêu thục nghi lại vào phòng trông nom công chúa.

Giày vò quá nửa đêm, hai mắt bà cũng sưng đỏ, mệt mỏi tiều tụy khôn thấu, lúc này thấy công chúa trước sau vẫn nằm yên bất động, cũng cho là nàng đã ngủ, dặn đi dặn lại thị nữ canh giữ công chúa cẩn thận, bấy giờ mới về phòng nghỉ ngơi dưới sự dìu đỡ của Hàn thị.

Ta không dám rời đi, bèn thủ ở gian ngoài buồng ngủ công chúa cùng Gia Khánh Tử và Tiếu Diệp Nhi.

Hai cô bé bận rộn cả nửa ngày, lại hãi hùng hồi lâu, mãi giờ mới yên tĩnh được, sau một lát ngồi im, mí mắt Gia Khánh Tử buông xuống, gật gù như gà mổ thóc, Tiếp Diệp Nhi cũng không nhịn được ngáp dài, nhưng vừa há miệng đã sợ hãi tự phát hiện ra, vội vàng tạ lỗi với ta.

Ta bảo chúng về ngủ trước, nói một mình trông chừng là được.

Chúng lưỡng lự, nhưng thấy ta kiên trì, cuối cùng vẫn sang gian kế ngủ.

Lúc này, ngoài trời bắt đầu mưa, ta vào buồng trong kiểm tra xem cửa sổ rèm sa đã đóng kỹ hay chưa.

Chấn song mở hé, gió sương ướt áo, hơi lạnh thấm xương, ta nghĩ chẳng biết chăn nhiễu của công chúa có đủ chống lạnh hay không, bèn tiến lại hỏi, chỉ thấy hai vai nàng run lên nhè nhẹ, tuy quay vào trong, không để người khác thấy được vẻ mặt mình, song vẫn có tiếng khóc kìm nén vọng ra, hẳn là đang tự núp trong bóng tối rơi lệ.

Ta hơi khom lưng, vươn cánh tay phải ra, chìa ống tay áo tới trước mặt nàng.

Sau khi trở về, ta đã thay y phục, ống tay áo này rất sạch sẽ, còn thoang thoảng mùi hương xông áo.

Nàng cảm nhận được, mở mắt ra nhìn, rồi lại nhắm lại.

"Công chúa không cần ạ?"

Ta ngậm cười, "Không thể lấy gối chăn ra lau nước mũi được nữa đâu – ướt hết cả rồi."

Trong một chớp mắt ngắn ngủi, đại khái là nàng đang suy tư xem nên tiếp tục khóc lóc đau thương hay cáu kỉnh hờn ta, cuối cùng vẫn không nhịn được, cho ta một tiếng "hứ" đẫm rượt hơi lệ.

Ta một lần nữa giơ tay áo qua, nàng cũng thôi cự tuyệt, kéo lấy hỉ mũi.

Xong, nàng quay đầu nhìn ta: "Sao huynh còn ở đây?"

Ta trả lời: "Trông công chúa."

"Ai cần huynh trông!"

Nàng cau mày, "Có cái gì mà trông?"

Ta nghĩ nghĩ, quyết định nói thật với nàng: "Thần sợ công chúa lại tự sát."

"Ta chết hay không thì liên quan gì đến huynh?"

Nàng giận dỗi, "Ta chết rồi có gì không tốt với huynh đâu.

Huynh có thể tiếp tục ở lại đây hầu hạ tỷ tỷ, cũng có thể điều sang gác khác hầu hạ nương tử khác, hoặc là xin đi Bí các quản lý thư họa huynh yêu thích...

Nhiều chỗ tốt như vậy, sẽ không gây trở ngại đến con đường thăng chức của huynh."

'Công chúa nói không sai," Ta đáp, "Nhưng nếu công chúa không còn, thần biết đi đâu tìm một chủ tử viết thi từ sai hổng lỗ chỗ, lấy việc sửa tác phẩm của người ấy làm thú vui đây?"

Công chúa không biết mình nên cười hay mếu, cuối cùng lựa chọn đập ta một phát biểu đạt sự tức giận của mình: "To gan, huynh dám cười nhạo công chúa!"

Câu nói quen thuộc này lập tức đưa chúng ta trở về cảnh tượng nô đùa thuở thiếu thời trong ký ức, hai ta nhìn nhau, ta thấy ánh mắt nàng dần hóa êm dịu, đoán chừng bản thân mình cũng vậy.

"Thần nói thật đấy."

Ta ngồi xuống đầu giường nàng, nhìn nàng nằm nghiêng bên ta, tìm kiếm bóng ta rọi trong con ngươi nàng, chậm rãi nói: "Sửa thi từ cho công chúa là chuyện rất vui sướng...

Không chỉ sửa thi từ, dạy người học, trả lời câu hỏi của người, thậm chí, làm văn thay viết chữ hộ cũng đều vui vẻ...

Đương nhiên, trước đây phải làm nhiều quá, đôi lúc cũng sẽ thấy hơi phiền, nhưng bây giờ nghĩ lại, đến cảm giác phiền hà bất kham ấy cũng sảng khoái biết bao...

Thần muốn mãi thủ giữ bên người, làm tất thảy những điều người muốn thần làm.

Trời mưa che ô cho người, gió nổi thêm áo cho người; bầu bạn khi đọc sách, thần châm trà cho người, lúc người gảy không hầu, thần thổi sáo cho người; người cười, thần đứng phía sau cùng cười với người, người khóc, bất cứ lúc nào thần cũng có thể dâng cho người một đoạn tay áo sạch sẽ...

Mỗi một việc trong số này đối với thần đều là vui sướng, thế nên thần rất sợ sẽ có một ngày không nhìn thấy người nữa, bởi khi ấy thứ người mang đi sẽ là tất thảy vui sướng cả đời thần."

Nàng ngơ ngẩn nghe ta nói hết, trong khoảnh khắc lệ đã như mưa.

Nước mắt của nàng lúc này làm ta luống cuống, muốn tự mình lau lệ cho nàng lại sợ mình đường đột, hoảng hốt đứng dậy, hỏi: "Công chúa, thần nói sai rồi ạ?"

"Ôi, không phải."

Nàng nghẹn ngạo, "Ta chỉ hơi lạnh..."

"Để thần đi lấy chăn."

Ta vội nói, xoay người định chạy đi.

"Hoài Cát!"

Công chúa chợt gọi ta, lúc ta ngoảnh lại nhìn nàng, thấy nàng chống người ngồi dậy, đôi mắt ngậm lệ chăm chú nhìn ta sâu thẳm, vươn tay về phía ta, "Ca ca, ôm ta..."

Sau một thoáng do dự ngắn ngủi, ta quay trở lại ngồi xuống bên cạnh nàng.

Nàng nghiêng người qua, vòng tay ôm ta, vùi mặt vào ngực ta, lắng nghe tim ta đập, yên bình nhắm hai mắt lại.

Ta cũng từ từ ôm siết lấy nàng, trong lòng dậy lên một cảm giác an hòa vững chãi trước nay chưa từng có, tựa như nàng rốt cuộc cũng lấp đầy sinh mệnh khiếm khuyết, nửa đời hư ảo của ta, rốt cuộc cũng tìm ra ý nghĩa trong sự ấm cúng gắn bó giữa hai người này.

Ngoài song mưa gió mịt mù, nhưng trong ánh sáng mờ tỏ nơi đây, cặp mắt mông muội suốt bao năm dưới đáy lòng ta lại bắt đầu trở nên trong suốt thông thấu.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 8: Lan can uốn khúc nhàn tựa suông


1.

Cống cử

Gia Hựu năm thứ hai, công chúa tròn hai mươi, theo phong tục Đại Tống, con gái qua năm này mà còn chưa lấy chồng sẽ bị liệt vào hàng gái lỡ thì.

Vì vậy, kim thượng bắt đầu sai người lo liệu việc hạ giáng của công chúa, hôn kỳ định vào nửa cuối năm, trước đó tiến phong công chúa, Miêu thục nghi mẹ công chúa cũng được nhờ ân thăng vị.

Miêu thục nghi có hi vọng trở thành tần ngự đầu tiên ngồi vào vị trí bốn phi sau Trương quý phi, đó là chuyện đáng mong đợi duy nhất có thể khiến nét mày chau ủ hiện tại của bà giãn ra được đôi chút.

Kể từ bận kim thượng nói chuyện với công chúa, công chúa không còn tỏ ý phản kháng mối hôn sự phụ thân an bài cho mình nữa, nhưng theo hôn kỳ ngày một tới gần, tâm trạng nàng càng lúc càng héo hắt, Miêu thục nghi từng mừng rỡ đề cập với nàng chuyện kim thượng muốn long trọng cử hành lễ tiến phong cho nàng, đó là vinh dự công chúa quốc triều chưa từng có, vậy nhưng cũng chẳng thể khơi gợi được không khí vui mừng nơi nàng.

Kim thượng cũng không quên nỗi uất ức sầu não của nàng, từng ân cần hỏi: "Huy Nhu, con không vui à?"

Công chúa chỉ xua tay, nhỏ nhẹ đáp: "Cả ngày không có việc gì làm nên hơi bức bối thôi ạ."

Kim thượng bèn mỉm cười đề nghị: "Nghi Xuân Uyển năm nay hoa nở đẹp lắm, con đi ngắm đi."

Thế nên tháng Ba, kim thượng lệnh Đặng Bảo Cát điều vài chục thị vệ Hoàng thành ty cùng người hầu theo nghi trượng thường ngày của công chúa hộ tống nàng đi Nghi Xuân Uyển.

Cành thưa chim lảnh lót, nước lặng đón hoa rơi, Nghi Xuân Uyển vẫn mang dáng vẻ thuờ xưa cũ, ngọn liễu bóng oanh phi, ngập đường dương hoa múa.

Nhưng cảnh xuân rực rỡ ấy lại chẳng rọi được chút ánh sáng nào lên con ngươi công chúa, nàng đứng một mình nơi đầu cầu đỏ thẫm trong vườn, mắt đăm đăm nhìn dòng xuân thủy chảy dưới chân, giữ tư thế bất động suốt một thời gian dài, để mặc bóng mình lay động trong nước, cánh hoa lạc vào áo đơn.

Đến giữa trưa, nàng xoay người nhìn ta, nói: "Chúng ta về thôi."

Đường về cũng chẳng quá thông thuận, lúc đi tới phố Phồn Đài, phía trước có người tụ tập ồn ào, người qua đường dừng chân vây xem, làm con phố tắc nghẽn, dầu kẻ hầu liên tục la hét dọn đường, song ngựa xe vẫn chẳng thể lăn bánh.

(*) Nội hàn là cách gọi tôn kính dành cho hàn lâm học sĩ. (chú thích của tác giả).

Nghe vậy, công chúa vén rèm, cùng ta liếc nhau, cũng hiểu được đại khái tình hình nơi đây.

Tháng Giêng năm nay, kim thượng lệnh hàn lâm học sĩ Âu Dương Tu đảm nhiệm chức tri cống cử, làm quan chủ khảo kỳ thi lần này.

Những năm gần đây, học trò Thái học viện chuộng lối viết quái dị tối nghĩa, dẫn tới chúng học giả bắt chước noi theo, thậm chí còn trở thành trào lưu nhất thời trong nước, gọi là "thể Thái học".

Nghe nói Âu Dương Tu rất ghét kiểu văn phong này, quyết ý dốc sức ngăn chặn, phê duyệt bài thi mà bắt gặp "thể Thái học" là thẳng tay loại sạch.

Thế nên, ngày Lễ bộ cống viện tỉnh (*) công bố kết quả, cả thiên hạ đều lấy làm kinh ngạc, bởi những kẻ trước đó được người đời ca tụng đều không nằm trong nhóm trúng tuyển.

Mà nay kỳ thi đình đã kết thúc, danh sách tiến sĩ quan khảo thí lựa chọn đã được trình lên hoàng đế, kết quả cuối cùng sẽ được xướng danh tuyên bố trong cung ngày mai, Âu Dương Tu đã cởi bỏ trạng thái tỏa viện, hiện giờ hẳn là vừa tan triều trở về, đám sĩ tử thi rớt có thể đã canh sẵn thời gian, cố ý gây khó dễ với y tại đây.

(*) Cơ quan quản lý việc thi cử, tiến cử học trò.

"Hoài Cát," Công chúa phân phó ta, "Huynh đi xem xem."

Ta ứng lời, lập tức giục ngựa chạy lên.

Lúc này, Âu Dương Tu đã bị sĩ tử trùng trùng vây kín, tuy có vài tùy tùng và lính tuần đường phố hộ vệ, song nhân số sĩ tử gây chuyện quá nhiều, kẻ nào kẻ nấy đều cố sức chen lên muốn sấn lại gần y.

Binh lính tùy tùng chỉ có thể bao bọc quanh con ngựa y cưỡi mỗi buổi lên triều, cố gắng không để sĩ tử chạm tới y.

Chúng sĩ tử có người nổi giận đùng đùng, có người lườm nguýt khinh miệt, có người cười mỉm trào phúng, đều đang anh một lời tôi một câu ầm ĩ nhao nhao.

"Thể Thái học không có cảm giác dài dòng cứng nhắc của văn biền ngẫu, lại cũng chẳng bình dị thông tục, tầm thường nhạt nhẽo, lựa từ dùng câu đều mới mẻ, đủ để thể hiện tài sáng tạo của sĩ tử, có gì không được?

Người đời đều tôn sùng kiểu văn phong ấy, cớ gì chỉ mỗi nội hàn là không dung?"

"Cống cử là để thiên tử chọn người tài khả dụng, không phải là để Âu Dương nội hàn ông chọn môn sinh, ông há có thể vì yêu ghét cá nhân mà loại bỏ tài tuấn Thái học được người đời công nhận?"

"Nghe nói, trong lúc tỏa viện, Âu Dương nội hàn thường xuyên cùng mấy vị quan khảo thí Vương Khuê, Mai Chí, Hàn Giáng, Phạm Trấn còn lại, thêm cả quan tiểu thí (*) Mai Nghiêu Thần ngâm thơ điền từ, số thơ sáng tác ra đủ để soạn nguyên một tập thơ rồi.

Sa vào xướng họa như vậy liệu có còn lòng dạ mà xem xét chấm kỹ bài thi của bọn tôi không?"

(*) Có thể hiểu đơn giản là chức quan phụ tá cho quan khảo thí chấm thi.

"Nghe nói lúc xướng họa, mấy vị quan khảo thí các ngài phun vàng nhả ngọc dữ dội lắm.

Âu Dương nội hàn ông còn từng tả cảnh trường thi là 'Chiến sĩ vô thanh chí ngậm tăm (*), xoàn xoạt tiếng bút dâu ăn tằm', còn Mai Thánh Du thì hình dung: 'Vạn kiến tranh đua ngày xuân ấm, ngoài ánh năm sao mờ đêm thâm.' Chậc chậc, các ông tự so mình với năm sao, so chúng tôi với kiến tằm, đủ để thấy quan khảo thí có đức khiêm nhường thế nào rồi!"

(*) Thời xưa khi hành quân bí mật, binh sĩ mỗi người phải ngậm trong miệng một chiếc đũa để khỏi lên tiếng làm lộ bí mật.

...

Những lời lẽ như vậy nổi lên liên tiếp, mà từ đầu tới cuối Âu Dương Tu chỉ duy trì tư thái trầm mặc, ghìm ngựa đứng đó, không câu đáp trả.

Lát sau, lại có người bắt đầu nghi ngờ học vấn của y: "Nội hàn ông ra đề thi hội là 'Thấu tỏ biến hóa mà giúp dân không mỏi', kỳ ghê cơ, sao tôi lại nhớ nguyên văn trong 'Dịch truyện' là 'Thấu tỏ biến hóa giúp dân không mỏi' ấy nhỉ?" (*)

(*) Nguyên văn trong "Dịch truyện": "通其变,使民不倦 (thông kỳ biến, sử dân bất quyện)", ý diễn giải đầy đủ ra là "Thấu tỏ sự biến hóa không ngừng của thời đại mà giúp cho cuộc sống của người dân không cứng nhắc đến nỗi làm nảy sinh tâm lí chán nản".

Câu này vừa buông, lập tức có người tiếp lời: "Có gì mà kỳ đâu, thời nay ai chẳng biết, 'Mà quan thi đây sính ngoại kia'!

Ha ha..."

Sĩ tử chung quanh nghe thấy cười ầm lên, thần thái Âu Dương Tu còn tính là bình tĩnh, nhưng sắc mặt cũng không khỏi khẽ đổi.

Âu Dương Tu quả thực thích dùng chữ "mà" trong văn.

Y từng nhận lời nhờ cậy của người ta, làm một thiên "Tương Châu họa cẩm đường ký", trong đó có câu: "Làm quan làm đến tướng, phú quý về cố hương."

Viết xong gửi đi rồi, sau cân nhắc lại thấy không thích hợp, bèn sai người cưỡi khoái mã đuổi theo lấy bản thảo về, sửa rồi lại gửi đi.

Người nhận đọc bản thảo đã sửa, phát hiện ra y chỉ đổi câu trước thành "Làm quan mà làm tới tướng, phú quý mà về cố hương".

Đương nhiên, sĩ tử nói câu này bây giờ không phải là đang thảo luận sở thích hành văn của y mà là mượn chữ "ngoại" ám chỉ lời đồn y tư thông với cháu gái ngoại.

Câu này lập tức dẫn hứng thú của chúng sĩ tử dời sang chuyện khuê thất của y, có người cười hỏi dạo này Trương thị thế nào, có người bắt đầu ngâm nga "Vọng Giang Nam", kế đó, một sĩ tử áo sồng đứng ngay trước Âu Dương Tu xướng cao một bài "Túy Bồng Lai": "Thấy mắt thẹn mày chau, mặt non phớt hồng, eo thon lả lướt.

Bên hiên thược dược, buồn bực chẳng cho qua.

Che hờ thẹn e, giọng run thâm thấp, hỏi đã ai biết hay chăng?

Gắng giữ váy la, trộm đáp sóng mắt, vờ đi vờ ngồi.

Hỏi chi nếu như, chuyện đã thành rồi, tóc mây loạn rối, mẹ nhà mắng la..."

Lời ý bài từ này ô uế đáng khinh, tả việc nam nữ yêu đương vụng trộm, mà kẻ áo sồng vừa hát vừa giơ tay cong ngón, diễn vẻ nữ nhi thẹn thùng từ chối, càng chọc mọi người cười giỡn.

Hát đến đoạn sau, có vài người cất giọng hát theo, xem ra bài từ này cũng không phải mới sáng tác tại đây mà hẳn đã truyền xướng được một thời gian rồi.

"Bài từ này cũng là Âu Dương nội hàn điền?"

Trong người vây xem có người hỏi.

Kẻ áo sồng dừng lại, cười đáp: "Nếu chẳng có 'Trời sinh tính ngông cuồng' thì ai mà hiểu được cảnh giới trong từ, tất bật bận vì hoa chứ."

"Trời sinh tính ngông cuồng" và "tất bật bận vì hoa" là câu chữ trong một bài "Vọng Giang Nam" khác của Âu Dương Tu.

Ngụ ý của người này ắt chỉ bài diễm từ mới hát cũng là của y.

Âu Dương Tu cau mày, nhưng nhất thời cũng không lên tiếng bác bỏ.

Tiếng cười càng thêm rộn rã, ta đang nghĩ xem nên giải vây cho Âu Dương nội hàn thế nào thì đã có một kẻ sĩ áo xanh bước ra.

Người này trên dưới hai mươi, vóc dáng cao ráo, mày thưa mắt sáng, gương mặt xương xương.

Khóe miệng khẽ nhếch về phía bên phải, ngậm nụ cười như có như không, chàng bước tới cạnh kẻ áo sồng, hỏi: "Các hạ là Lưu Kỷ đất Diên Sơn?"

Lưu Kỷ đất Diên Sơn, ta cũng từng nghe đến cái tên này, trước kỳ thi hội, hắn là một tú tài nổi trội với sở trường viết thể Thái học, được coi là nhân tuyển hàng đầu cho vị trí trạng nguyên, mà sau kỳ thi, người đời kinh ngạc đến thế, có phân nửa cũng là bởi thấy hắn thi rớt.

Kẻ áo sồng cũng chẳng che giấu, hất cằm cười ngạo nghễ: "Chính là kẻ hèn đây."

"Thất kính thất kính."

Kẻ sĩ áo xanh mỉm cười thi lễ, chậm rãi nói tiếp: "Bài 'Túy Bồng Lai' này của Lưu huynh lời ý kiều diễm, mềm mại uyển chuyển, có thể nói là kiệt tác giữa hoa, đủ để lưu danh hậu thế, tội gì phải quy sang danh nghĩa Âu Dương nội hàn, để y cướp danh mình đâu?"

Lưu Kỷ quan sát chàng từ trên xuống dưới vẻ ngờ vực, đang định đáp lại thì bị người nọ mở miệng ngăn: "Tại hạ thấy, bài từ này đã đạt đến trình độ hoàn mỹ, nhưng Lưu huynh lại cứ khiêm tốn, đắn đo đi đắn đo lại suốt mấy ngày, liên tục hỏi ý kiến người khác, không khéo, lại hỏi đến anh bạn cùng tuổi của tôi, anh bạn này lại đem sang hỏi tôi, tôi đọc xong vô cùng bái phục, đứng trước châu ngọc, chẳng dám sửa xằng chữ nào..."

Lưu Kỷ nghe vậy không phản bác mà chỉ cười nhạt, chắc hẳn bài "Túy Bồng Lai" này đúng như kẻ sĩ nói, là sáng tác dưới ngòi bút Lưu Kỷ, cố ý khiến người ta hiểu lầm là Âu Dương Tu tự viết về chuyện mình.

Thấy Lưu Kỷ không nói gì, kẻ sĩ lại khoan thai đi tới trước mặt người vừa nghi ngờ Âu Dương Tu viết sai đề thi, nói: "Đề thi cống cử tuy mỗi câu đều có xuất xứ nhưng cũng chẳng phải lần nào cũng nhất thiết cần đúng nguyên văn, không sai một chữ.

Thêm một chữ 'mà' vào 'Thấu tỏ biến hóa giúp dân không mỏi' không làm thay đổi ý nghĩa, ngược lại đọc lên còn thuận miệng hơn, trầm bổng du dương, làm nổi bật vẻ đẹp của thi phú âm luật, có gì là không được?"

Đợi thoáng một chớp mắt, không nghe thấy người kia biện hộ, chàng lại đưa mắt nhìn kẻ sĩ chung quanh, cao giọng nói: "Khi xưa thủy tổ Tây Côn Lý Nghĩa Sơn (*) lừng danh thi văn khắp thiên hạ, một ngày nọ bái yết Bạch Lạc Thiên (**) đàm luận về thể văn lối thơ, giọng điệu tương đối khoe khoang.

Giữa chừng hỏi Bạch Lạc Thiên lấy tứ diệu ý hay từ đâu, Lạc Thiên đáp: 'Viết thơ không theo đuổi tứ diệu mà truy cầu chất lượng câu từ – mộc mạc đại chúng, rõ ràng dễ hiểu, khiến người ta đọc là hiểu ngay; ngôn ngữ trực tiếp súc tích – viết đúng sự việc, sát với lí lẽ, làm người nghe khắc sâu lời khuyên; cốt lõi thực tế – nội dung chân thực, dẫn chứng có giá trị tham khảo, để người sưu tập có thể truyền lại; thể thức theo đó mà tùy ý – câu chữ mạch lạc, dễ dàng ngâm xướng, có thể truyền bá thành nhạc khúc ca dao.' Nghĩa Sơn nghe vậy, xấu hổ trở ra.

Mà giờ, từ thời Ngũ Đại đến nay, văn hóa giáo dục suy bại, phong tục tập quán tha hóa.

Thánh thượng bùi ngùi thở dài, muốn thanh lọc ngọn nguồn tệ nạn, vời gọi những kẻ sĩ hùng dũng khôi ngô đôn hậu bộc trực, trừ bỏ thứ văn học phù phiếm hoa mỹ lòe loẹt kềnh càng, bởi thế báo rõ thiên hạ, mà kẻ sĩ lại chẳng biết lòng thiên tử, đòi hỏi quá đáng, mỗi lần gọt giũa câu từ đều dùng lối viết quái dị tối nghĩa, đọc lên chẳng nên câu cú.

Đến mạch lạc súc tích còn chẳng làm được thì nói gì đến cái khác?

Thói cũ Tây Côn còn sót lại chưa tan, tệ mới Thái học đã ùn ùn kéo đến.

Âu Dương nội hàn chấp chưởng quyền văn, quyết chí cải tạo tệ nạn trường thi, tất phải cất nhắc tài sĩ thiên hạ cung ứng cho thiên tử, đây là kính cẩn nhận lệnh vua sai, hành động theo ý hoàng đế, có tội chỗ nào?"

(*) Tức nhà thơ Lý Thương Ẩn đời Đường, ông tổ của thể văn Tây Côn; Nghĩa Sơn là tên tự.

(**) Tức nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường.

Lưu Kỷ nghe thế giễu cợt, liếc xéo hỏi vặn: "Huynh đài biện giải khắp nơi khắp chốn cho Âu Dương nội hàn, hẳn cũng là một trong 'tài sĩ thiên hạ' được y vời gọi rồi.

Chẳng biết ngày mai có được xướng danh, vị trí hạng mấy đây?"

Kẻ sĩ áo xanh cười đáp: "Trước khi thi hội, tôi sống tại miền hoang vu, chuyến này đi thi là lần đầu vào kinh.

Kẻ chốn quê mùa, tin tức không nhạy, chuyện Âu Dương nội hàn muốn cải tổ tệ nạn Thái học viện, tôi cũng chỉ mới biết sau khi thi hội xong, lúc làm bài thi dùng văn phong nhất quán, vẫn chưa đón ý theo hùa, lại càng chẳng quen biết Âu Dương nội hàn, hôm nay ngẫu nhiên qua đây, mới biết dung mạo nội hàn ra sao, mà nhân số sĩ tử thì nhiều, nội hàn cũng không biết tôi họ ai tên gì.

Khi thi hội tôi cũng giống chư vị huynh đài đây, bài thi được niêm phong dán tên rồi sao lại, không thể ăn gian.

Tuy miễn cưỡng được Lễ bộ tấu danh, tham gia thi đình, song cũng chẳng nắm chắc được kết quả xướng danh ngày mai, có khi thi rớt như chư vị huynh đài cũng chưa biết chừng."

2.

Văn phạm

Đại khái, hai chữ "thi rớt" này đã chọc trúng nỗi đau của đám sĩ tử không đậu, họ đều trợn mắt trừng kẻ sĩ áo xanh, có người trong đó còn không ngại ác ý phỏng đoán mục đích của chàng: "Nếu hai người vốn không quen biết trước thì bây giờ anh chủ động biện hộ cho quan khảo thí tất là muốn lấy lòng y, kết giao qua lại, cầu y cho anh đỗ cao!"

Kẻ sĩ áo xanh xua tay: "Tuy đến mai mới xướng danh yết bảng nhưng hiện giờ thứ tự tiến sĩ đã định xong, sao có thể thay đổi?

Nếu tôi có lòng kết giao với nội hàn thì đã tới cửa bái yết từ trước khi trường thi tỏa viện khảo thí rồi, tội gì phải chờ tới bây giờ?"

Chúng sĩ tử nào chịu nghe chàng giải thích, nhao nhao nói: "Ai biết được trước đây anh đã tới cửa bái yết y hay chưa?"

"Nếu ăn gian mà công khai ra ai cũng biết thì còn gọi gì là ăn gian."

"Hai người có chưa từng qua lại trước đây thì sau này làm đồng liêu ắt cũng sẽ kết bè kết đảng."

Đám sĩ tử càng nói càng kích động, quay sang vây lấy kẻ sĩ áo xanh, bắt đầu nhốn nháo xô đẩy chàng.

Ta thấy tình thế không ổn, lập tức vung roi ngựa lên, vụt xuống đánh "chát" một tiếng vào cây dương ven đường, cao giọng quát: "Dừng tay!"

Chúng sĩ tử nghe tiếng sửng sốt, đều dừng lại, quay đầu nhìn ta.

Ta đưa mắt liếc họ một vòng, nói: "Quân tử không tranh chấp, có tranh cũng tranh cho đúng đạo quân tử.

Chư vị đều là người đọc sách, mắng mỏ sư trưởng, vây đánh đồng niên ở đây, há chẳng phải bôi nhọ cái tiếng ăn học!"

Họ kinh ngạc nhìn ta một lượt từ trên xuống dưới, phỏng chừng đang suy đoán thân phận của ta, nhất thời chưa ai đáp lại, ta bèn nói tiếp: "Khổng Tử nói: Đạo quân tử có bốn: giữ mình thì khiêm cung, thờ trên thì kính cẩn, nuôi dân thì có ơn, sai dân thì hợp nghĩa.

Mà nay chư vị tụ tập làm ồn trên phố, đức hạnh khó xưng cung khiêm; công nhiên trách mắng sư trưởng, thất kính với bậc tôn giả.

Chư vị đi thi, mục đích chẳng ngoài về sau ra làm quan, phụ tá quân vương, mưu cầu phúc lợi cho dân chúng.

Nhưng nếu bây giờ đến 'giữ mình khiêm cung, thờ trên kính cẩn' còn chẳng làm được thì tương lai nói gì đến 'nuôi dân có ơn, sai dân hợp nghĩa'?"

Có người phản bác: "'Trên' trong thờ trên kính cẩn là chỉ quân vương, thánh thượng, anh há có thể thay bằng quan khảo thí?"

Ta đáp: "Quan khảo thí là thầy của sĩ tử dự thi, thầy ngang hàng với trời đất vua cha, đáng được sĩ tử thiên hạ kính trọng.

Không tôn sư chẳng khác nào làm người khôn giữ đạo hiếu đễ.

Khổng Tử nói: 'Tròn đạo hiếu đễ, lại hay phạm thượng, hiếm ai như thế; không hay phạm thượng, lại thường tác loạn, chẳng ai như thế' Đã không biết đạo tôn sư hiếu đễ thì cách phạm thượng tác loạn cũng chẳng xa."

Lúc này, Lưu Kỷ cười khẩy, đi tới trước ngựa ta, nói: "Y quan của tiên sinh dường như là vật trong cung?"

Ta cúi người: "Tại hạ đích thực nhậm chức trong cung."

Lưu Kỷ liếc xéo ta, nói: "Trung quý nhân nói có sách, mách có chứng, tại hạ bội phục.

Có điều, tôi cũng nghĩ đến một câu của thánh nhân, dùng để miêu tả trung quý nhân, kể cũng chuẩn xác lắm."

Ta biết hắn chẳng có lời gì hay, nhưng vẫn gật đầu: "Xin được lắng nghe."

Hắn chợt vung tay trỏ vào ta, lạnh lùng nói: "Hoa ngôn xảo ngữ, giả bộ ôn hòa, hiếm có lòng nhân."

Không đợi ta phản ứng, hắn đã liên thanh: "Hạng thiến hoạn như ngươi, khom lưng uốn gối đã quen, chỉ giỏi nói lời lấy lòng chủ tử, bên trong cầu vua sủng ái, bên ngoài ton hót đại thần, vì mưu tư lợi mà không màng khí tiết, lại dám mượn lời thánh nhân chỉ trích kẻ sĩ thiên hạ!"

Sĩ tử quanh hắn hùa theo, đều quay mũi giáo về phía ta:

"Hoàng môn nội thị cũng dám đọc xằng kinh thư thánh nhân?"

"Thiến hoạn hèn mọn, đọc sách là muốn làm chi?

Không phải là muốn tham chính hại đời đấy chứ?"

"Nội thần triều trước cậy ơn hoành hành, bọn ta còn nói quốc triều lấy đó làm gương mà tránh, sẽ không để xảy ra tai họa như thế, nhưng cái ngữ tiểu hoàng môn nhà ngươi hôm nay đã dám công kích sĩ tử thì tương lai vượt chính hại dân cũng có khả năng lắm."

"Thiên hạ nhà Hán bốn trăm năm, thiên hạ nhà Đường ba trăm năm, họa mất nước hai triều đều bắt nguồn từ hoạn quan mà ra.

Thái Tông hoàng đế triều ta đã răn dạy rõ ràng, không cho phép hoạn quan tham dự chính sự, để phòng ngừa cẩn thận, bây giờ có tru diệt ngươi tại chỗ cũng chẳng quá đáng!"

Họ ùn ùn kéo tới, từng bước ép sát.

Ta bất giác dắt ngựa lùi ra sau, đối mặt với tiếng la rầy quở mắng như thủy triều, ta choáng đầu ù tai, hai má nóng bỏng, không sao nén được cảm giác nhục nhã rỉ ra lớp lớp từ bên trong như mồ hôi lạnh đổ khắp người.

Bỗng, không xa phía sau có người cao giọng quát: "Đặng đô tri, bắt hết bọn phạm thượng tác loạn này lại cho ta!"

Là giọng của công chúa.

Ta kinh ngạc quay đầu lại, thấy nàng đã xuống khỏi xe, chẳng biết đã tới đằng sau ta từ lúc nào, không có thị nữ theo hầu lấy quạt lông che chắn, khuôn mặt lấy mũ quây ẩn giấu.

Đặng Bảo Cát đi theo nàng lĩnh mệnh, vung tay lên, thị vệ Hoàng thành ty thủ giữ cách đó không xa lập tức thúc ngựa chạy tới.

Mấy chục kỵ binh xông lên hất tung bụi mù, ngựa hí chó sủa, người đi đường kinh sợ la hét, sau một trận náo động ngắn ngủi, mười sĩ tử gây chuyện đã bị ấn quỳ xuống đất.

Đám Lưu Kỷ không phục, quỳ đó ra sức vùng vẫy, căm giận nói: "Bọn tôi chỉ muốn xin quan khảo thí một lời giải thích, sao có thể nói là phạm thượng tác loạn?"

Công chúa chỉ vào ta, đáp: "Các ngươi mạo phạm huynh ấy chính là mạo phạm ta, mạo phạm ta chính là mạo phạm cha ta, mạo phạm cha ta chính là phạm thượng tác loạn!"

Lưu Kỷ sửng sốt, hỏi: "Cô là ai?"

Đặng Bảo Cát đứng bên cạnh cất lời giải thích: "Đây là Phúc Khang công chúa."

Âu Dương Tu nghe thế, lập tức xuống ngựa qua thi lễ, bách tính chung quanh cũng lục tục hạ bái, đám sĩ tử gây chuyện đa số đều ngậm miệng nín thít, chỉ duy Lưu Kỷ là còn giận dữ chất vấn: "Kim thượng đối đãi với văn sĩ luôn thiện lành kính trọng, chưa từng lạm dụng hình phạt, mà nay công chúa lại làm nhục bọn tôi để xả giận tư, đã làm trái lời dạy của vua cha, còn vi phạm đạo khoan dung của quân tử!"

Công chúa cười: "Ta không phải quân tử, là nữ tử, chính thánh nhân các ngươi đã nói rồi còn gì, nữ tử cũng khó nuôi như các ngươi vậy đấy."

Lưu Kỷ còn muốn tranh cãi, công chúa trừng mắt hạnh, buông lời áp chế trước: "Còn nói nhảm nữa, ta sẽ lập tức bảo họ điệu ngươi đến Đại lý tự hỏi tội!"

Lưu Kỷ phẫn nộ cúi đầu, không nói gì nữa.

Ta thấy thế muốn mở miệng khuyên bảo, nhưng vừa mở miệng đã bị công chúa chặn lại: "Huynh cũng đừng nói gì hết...

Ban nãy luống sức nói lý với họ thế, có được miếng tác dụng nào không?

Còn chẳng bằng ta trực tiếp báo oán, lấy bạo chế bạo, gọn lẹ bao nhiêu...

Đám người này càng đọc nhiều sách càng tráo trở điêu ngoa, huynh nói lý mà nói thông được thì chúng đã chẳng bao vây Âu Dương nội hàn rồi..."

Nàng còn chưa dứt lời, lại nghe có tiếng vó ngựa nổi lên, bọn ta đều đưa mắt nhìn sang, thấy là một con ngựa chưa buộc chắc đột ngột lồng lên tung vó, thế chạy rất hung, đạp chết một con chó vàng nằm trên đường.

Âu Dương Tu trông thấy, như có điều đăm chiêu, ngay sau đó bước lên vái chào công chúa, nói: "Xin công chúa cho phép thần nói mấy câu với chúng sĩ tử."

Công chúa gật đầu đồng ý, Âu Dương Tu bèn quay người về phía chúng sĩ tử, chỉ vào con chó vừa bị ngựa tháo chạy đạp chết, nói: "Chư vị hiền tuấn hẳn đều đã chứng kiến tình cảnh mới rồi.

Chư vị đã có lòng mượn đường cống cử làm quan, tương lai rất có thể sẽ vào quán các biên sách soạn sử.

Tu mời chư vị thử viết về sự việc này, khái quát chỉ trong một câu.

Nếu hiền tuấn dùng từ lời ít ý nhiều, cô đọng súc tích hơn cách nói của Tu, ngày mai Tu sẽ lập tức từ chức Hàn uyển, tự xin điều ra ngoài, không tham dự vào việc văn giáo nữa."

Chúng sĩ tử nhìn nhau, vẻ mặt khấp khởi.

Trầm ngâm đôi chốc, một người mở miệng đáp lại trước: "Có chó vàng nằm trên đường, ngựa hãi, tháo chạy xông tới, vó giẫm mà chết."

Âu Dương Tu mặt không biến sắc, rất nhanh có một người khác đưa ra cách nói thứ hai: "Có chó nằm trên đường lớn, ngựa lồng mà giết chết."

Âu Dương Tu cười mỉm nói: "Soạn sử mà soạn như vậy, vạn quyển khó nói xong việc một sáng."

Lưu Kỷ nghe vậy, cao giọng đề đáp án của mình: "Xích thố bôn, vượt đường lớn, vện nằm toi."

Câu ấy vừa thốt lên đã có người phì cười thành tiếng, theo tiếng trông lại, là kẻ sĩ áo xanh ban nãy.

Lưu Kỷ cả giận: "Ta nói nực cười lắm sao?"

Kẻ sĩ áo xanh mỉm cười khom người: "Nào có.

Tôi chỉ là đột nhiên nghe thấy một câu tuyệt cú thể Thái học, mừng rỡ khôn xiết, sơ xuất thể hiện ra thôi."

Lưu Kỷ "hừ" một tiếng, nói: "Nói vậy hẳn huynh đài còn có câu hay khác, tại hạ kính cẩn lắng nghe."

Kẻ sĩ áo xanh từ chối: "Âu Dương nội hàn đã sớm liệu sẵn trong lòng, tôi không dám múa rìu qua mắt thợ, vẫn là mời nội hàn chỉ giáo cho thôi."

Âu Dương Tu bèn chậm rãi nói ra đáp án của mình: "Ngựa lồng giết chó trên đường."

Sáu chữ lời ít ý nhiều, bút pháp nghiêng về lối thái sử công (*).

Sau một chớp mắt im lặng, công chúa mở miệng khen hay trước tiên, đám người vây xem cũng dần dần rộ lên tiếng hoan hô.

(*) Tên gọi chức quan phụ trách ghi chép sử liệu chính thống của nhà nước xuất hiện từ thời Tây Hán, quyền hạn ngang ngửa chức phó thừa tướng, về sau chức quyền dần suy yếu đi rất nhiều, cuối cùng chỉ còn là quan lại lo liệu văn thư.

Thái sử công nổi tiếng nhất là tác giả của "Sử ký", Tư Mã Thiên, bút pháp thái sử công ở đây cũng chính là chỉ lối hành văn của Tư Mã Thiên trong "Sử ký".

Âu Dương Tu lại quay sang Lưu Kỷ, ôn hòa nói: "Vào triều làm quan, bất kể nhậm chức quán các hay đảm nhiệm ngôn quan, bất kể soạn sử sách hay viết tấu chương, cũng đều phải nhớ lấy bốn chữ 'câu từ lưu loát', hành văn cần ngắn gọn mẫu mực, trôi chảy tự nhiên, không nên trau chuốt thái quá, cũng không nên tối nghĩa quái dị.

Mộc mạc rõ ràng mới có thể diễn ý chuẩn xác, giúp người đọc dễ dàng lý giải.

Ngôn từ chuyển tải sự việc, mà văn vẻ là để tô điểm cho ngôn từ, quan trọng nhất là lời lẽ phải hàm ý sâu xa, đầy đủ nghĩa lý.

Nghĩa lý xác lập được rồi thì khó gì thể hiện văn vẻ.

Lý lẽ đã rõ thì chẳng cần dụng tâm trau chuốt cũng tự sáng chói rực rỡ."

Lưu Kỷ im lặng, như bị lay động, cụp mắt trầm ngâm, không tranh luận nữa.

Những sĩ tử còn lại cũng vậy, đều ngơ ngơ ngẩn ngẩn, tựa hồ còn đang suy ngẫm lời Âu Dương Tu nói.

Âu Dương Tu lại thay mặt chúng sĩ tử cầu tình với công chúa, xin công chúa thả họ.

Công chúa tuy không vui song vẫn chấp thuận, lệnh thị vệ Hoàng thành ty thả người.

Đợi đám sĩ tử gây chuyện lần lượt lui đi rồi, công chúa hỏi Âu Dương Tu: "Họ mạo phạm ông như vậy, sao không quở trách thêm đôi câu?"

Âu Dương Tu đáp: "Dùng hình phạt trị dân, tuy có thể khiến dân biết e sợ, nhưng trong lòng chưa chắc đã cảm hóa, chẳng có lợi ích gì cho nước nhà, không bằng lấy lý làm rõ, lấy lễ đồng hóa, lấy đức chỉ dẫn, khiến họ cảm được mà tự hóa."

Công chúa nói: "Đành rằng như thế, nhưng bữa nay sĩ tử đắc tội với nội hàn quá đông, chưa chắc ai cũng có thể được nội hàn cảm hóa, chỉ e sẽ còn có người rình rập sinh sự.

Để ta sai vài thị vệ hộ tống ông về nhà thì hơn."

Âu Dương Tu thi lễ bái tạ, công chúa mỉm cười: "Nội hàn chớ nên đa lễ.

Nếu thật sự muốn cảm ơn ta thì về sau viết thi văn bớt bớt lại chút."

Thấy Âu Dương Tu không hiểu ra sao, ta bèn ngậm cười giải thích với y chuyện kim thượng bắt công chúa học thuộc danh tác của y, Âu Dương Tu tỉnh ngộ, không khỏi cười khà, cúi thấp người xin lỗi công chúa.

Công chúa khoát tay lia lịa, cười nói: "Ta nói đùa vậy thôi.

Trong triều nhiều đại thần như thế mà ta vẫn thích đọc thi từ văn luận của nội hàn nhất đấy."

Âu Dương Tu đi rồi, công chúa lên xe, ta chợt nhớ đến kẻ sĩ áo xanh kia, tức khắc nhìn quanh, thấy chàng rũ tay áo sải bước, đã đi xa được mấy thước, vội giục ngựa đuổi theo.

Tới bên cạnh chàng, ta xuống ngựa, chắp tay nói: "Tú tài luận bàn tuyệt diệu, tại hạ bội phục sâu sắc.

Có thể cho tại hạ được hay tôn húy của tú tài chăng?"

Kẻ sĩ nọ mỉm cười hoàn lễ, đáp: "Học trò Tô Thức đất Mi Sơn."

Ta cũng báo tên của mình cho chàng, lại bảo: "Tôi còn chuyện này, muốn thỉnh giáo Tô tú tài: Mới nãy lời huynh kể Lý Nghĩa Sơn bái yết Bạch Lạc Thiên là xuất xứ từ đâu?"

Tô Thức cười to, phất ống tay áo: "Không cần xuất xứ!"

Thì ra chàng hư cấu thật.

Ta không khỏi bật cười.

"Bên cạnh trăm ngàn sĩ tử, chỉ có mình huynh nghi ngờ chất vấn, đủ thấy tiên sinh tài cao."

Chàng cười nói, lại giải thích ngắn gọn, "Nếu nói viết văn trước tiên cần có ý thì kinh sử đều là cung cho mình sử dụng, huống hồ là điển cố nửa thật nửa giả!"

3.

Sách lễ

Trở lại trong cung, công chúa cáo trạng với phụ thân vụ đám sĩ tử thi rớt gây sự, kể lại việc họ vây công Âu Dương Tu, cũng thuật chuyện Âu Dương Tu ra đề, có điều, lược bỏ không đề cập đoạn nàng dọa dẫm đám Lưu Kỷ.

Đặng đô tri nghe rồi cùng ta nhìn nhau cười, nhưng đều không lắm miệng bổ sung thêm.

Kim thượng được cho hay vụ việc Âu Dương Tu, không khỏi thở dài: "Đám sĩ tử thi rớt này cũng càn quấy quá rồi.

Chuyện công kích quan khảo thí cũng chẳng phải lần đầu tiên.

Nghe nói hôm trước Âu Dương Tu vừa mới từ trường thi về nhà, đã có người từ ngoài tường ném một quyển văn thư vào sân nhà y, y nhặt lên xem, thấy nguyên một thiên 'Văn tế Âu Dương Tu'..."

Công chúa nhướng mày: "Sĩ tử gây chuyện bậc này, chẳng bằng bắt một tên lại, giết một răn trăm, ít nhất cũng chặt phứt một chân của hắn đi, hoặc nhốt lại dăm tháng một năm, phỏng chừng chúng sẽ đàng hoàng lại ngay thôi."

"Làm vậy, họ sẽ càng lấy ngòi bút làm vũ khí, đến đại thần trong triều cũng sẽ hùa theo, tả cha con thành bạo quân muốn kìm chặt miệng lưỡi người ta, đốt sách giết học trò."

Kim thượng cười xua tay, ôn tồn chỉ bảo: "Con gái, trên đời có hai thứ nhất định không được động vào, trông thấy cũng phải đi vòng, một cái là tổ ong vò vẽ, cái còn lại chính là người đọc sách tụ tập thành đám."

Công chúa chớp mắt ngẫm nghĩ, bỗng lăn ra cười bò: "Đúng nhỉ, dáng vẻ Âu Dương học sĩ hôm nay còn chẳng phải giống y hệt chọc trúng tổ ong vò vẽ sao!"

Cười xong, nàng cũng không quên nói hộ Âu Dương Tu: "Lần này Âu Dương học sĩ đắc tội quá nhiều người, ngày mai xướng danh sẽ lại có một đám sĩ tử tham gia thi đình thi rớt nữa, khó mà đảm bảo được về sau chuyện này không tái diễn.

Dù sao cha cũng phải nghĩ cách, đừng để ông ấy lại bị ong vò vẽ đốt nữa đấy nhé!"

Kim thượng suy tính, mỉm cười: "Ừ, ta vẫn đang nghĩ đây."

Hôm sau xướng danh, chúng ta mới phát hiện, để bảo vệ Âu DươngTu, ngài đã ra một quyết định không tầm thường đến nhường nào: Phàm là người tham gia thi đình năm nay đều ban thưởng thi đỗ tiến sĩ, không ai trượt rớt.

Thế là, mấy trăm tên người được xướng lên từng cái, khiến nghi thức xướng danh lần này đặc biệt lê thê.

Cung quyến trên Thái Thanh Lâu xem mà mất hết hứng thú, vài người ngáp dài, nhỏ giọng oán thán đứng quá mệt mỏi, hơn nữa, tướng mạo vị trạng nguyên hôm nay cũng chẳng lấy gì làm xuất sắc.

Trạng nguyên khóa này là Chương Hành đất Kiến An, tuổi ngoài ba mươi, già giặn trang trọng, nhưng luận về dung mạo phong độ, tất nhiên là kém xa Phùng Kinh năm xưa.

Nhưng đối với công chúa và ta, lễ xướng danh cũng có một điểm sáng bất ngờ: Tiến sĩ đỗ hạng hai chính là kẻ sĩ áo xanh đã đứng ra biện hộ cho Âu Dương Tu một ngày trước – Tô Thức đất Mi Sơn.

Xem chừng công chúa cũng rất có hảo cảm với chàng, thế nên khi chúng tiến sĩ bái tạ hoàng hậu trước lầu Thái Thanh, nàng đặc biệt sai người thưởng nhiều thêm cho chàng cái bánh tiền hào (*).

(*) Không rõ chính xác là bánh gì, theo tư liệu thời Tống thì chỉ biết đây là một món ăn hoàng hậu ban thưởng cho các tiến sĩ đỗ đạt sau lễ xướng danh.

Hoàng hậu thấy thế, hỏi: "Huy Nhu cũng từng nghe đến văn danh của Tô Thức?"

Công chúa đáp không, có lẽ do nhất thời không tiện kể lại cụ thể căn nguyên, nàng bèn đơn giản tìm một lí do: "Con nom hắn thuận mắt."

Câu này vừa nói ra đã làm rộ lên một trận cười của cung nhân, nàng cũng lười biện giải, trong lòng chẳng giữ điều gì thầm kín nên thần sắc tương đối tự nhiên.

Hoàng hậu mỉm cười, cũng nhìn Tô Thức, nói: "Cậu Tô Thức này tài trí mẫn tuệ, văn phong có chỗ tương tự Âu Dương học sĩ.

Cậu ta có một đứa em trai, tên là Tô Triệt, hôm nay cũng đỗ tiến sĩ.

Hiện giờ trong kinh hai anh em nổi danh lắm, mấy ngày trước cha con xem bài thi đình của họ xong mừng rỡ khôn xiết, đặc biệt nói với ta: 'Âu Dương Tu quả nhiên có mắt nhìn người, cống cử bận này lựa được không ít kẻ sĩ có tài văn chương, trong đó có một cặp huynh đệ, tên là Tô Thức, Tô Triệt, đều có tài đảm đương tể chấp, bài của Tô Thức đáng khen hơn cả.

Chẳng qua, ta đã có tuổi rồi, e rằng không dùng đến hai nhân tài này, có điều, giữ họ lại cho đời sau cũng là một ý hay.'"

Công chúa ngạc nhiên: "Cha đã thích vậy, sao không chọn Tô Thức làm trạng nguyên?"

Hoàng hậu đáp: "Ta cũng không biết, lát nữa con tự hỏi cha con đi."

Sau, công chúa hỏi kim thượng chuyện này thật, kim thượng cười than: "Việc này kể ra đúng là một hiểu lầm.

Bài thi đình do quan khảo thí duyệt trước, sau đó trình lên cho ta phê duyệt theo thứ tự quan khảo thí đề xuất.

Ban đầu Âu Dương Tu phê duyện bài thi đình, đọc bài của Tô Thức tỏ ra rất khen ngợi, có ý chọn cậu ta đứng nhất, nhưng khi đó bài thi bít tên, y không biết ai là tác giả, lại thấy người này văn phong vừa vặn đúng kiểu mình thích, sợ bài văn này là của học trò mình Tằng Củng, nếu chọn làm trạng nguyên, chỉ e ngày sau sẽ rước lấy người khác chê trách, bèn đặt xuống hạng hai, xếp bài của Chương Hành lên đệ nhất.

Lúc ta chấm bài, tuy thấy bài người đứng hai khá hơn người đứng nhất, nhưng lại nghĩ, Âu Dương học sĩ định vậy ắt có cái lý riêng của y, nếu không có sai khác gì lớn thì cứ tôn trọng ý kiến của y là hơn.

Thế nên, cuối cùng vẫn giữ thứ tự theo Âu Dương học sĩ đề xuất, để Tô Thức chịu thiệt thòi làm bảng nhãn.

Nào ngờ xướng danh xong, tiến sĩ vào điện tạ ơn, ta thấy Âu Dương Tu nhìn Tô Thức chằm chằm thì vô cùng ngạc nhiên, hỏi y nguyên nhân, y mới thấp giọng nói cho ta biết việc này.

Hai ta nhìn nhau im lặng, đều cảm thấy tiếc nuối..."

Công chúa quốc triều khi sơ phong đều lấy mỹ danh hai chữ, đến lúc hạ giáng hoặc tân đế lên ngôi mới thụ ân nâng bậc, đổi thành phong hiệu tên nước, lễ ngộ bổng lộc đều tăng thêm.

Tháng Sáu năm nay, kim thượng tấn phong Phúc Khang công chúa làm Duyện quốc công chúa.

Khi ấy Âu Dương Tu là hàn lâm học sĩ được kim thượng trọng dụng nhất, sau tri cống cử, kim thượng lại ủy thác trọng trách cho y, lệnh y kiêm chức lễ bộ thị lang, lãnh đạo chư bác sĩ Lễ viện, sắp xếp nghi chế cho sách lễ và hôn lễ của công chúa.

Sở dĩ phải xếp đặt lại nghi chế hôn lễ là bởi kim thượng muốn lấy đại lễ trang trọng quy mô hoành tráng xưa nay chưa từng có để gả con gái, chi tiết sách lễ của công chúa lại càng phải thiết kế dụng tâm, bởi quốc triều trước giờ chưa có một vị công chúa nào từng hành sách lễ.

Thế nên, việc công chúa hành sách lễ không sao tránh được bị đại thần phê bình, nhất là sau khi kim thượng phong Miêu thục nghi lên làm hiền phi, hiền phi từ chối sách lễ, kim thượng chấp thuận thỉnh cầu của bà.

Hàn lâm học sĩ Hồ Túc tiến gián vì chuyện này: "Bệ hạ lên ngôi tới nay, từng tiến phong Sở quốc, Ngụy quốc hai vị đại trưởng công chúa, đều chưa một lần hành sách lễ, nay tiến phong Duyện quốc công chúa đã là vượt quá đại trưởng công chúa.

Huống hồ Hiền phi cũng từ chối lễ thăng vị, hai mẹ con một hành một không, lễ nghĩa càng thêm không tương xứng.

Viết vào sử sách, hậu thế sẽ có lời chê bai, nhất định sẽ nói bệ hạ thiên vị tình thân, uổng danh thánh đức."

Nhưng lần này, kim thượng hoàn toàn bỏ ngoài tai lời can gián của y, vẫn lệnh chuẩn bị sách lễ cho công chúa, không chút che giấu công khai việc mình thiên vị con gái cho cả thiên hạ biết.

Rất nhanh đã tới đinh dậu tháng Bảy (*), ngày Duyện quốc công chúa nhận sách phong.

(*) Tính theo can chi, đây là ngày 23 tháng 7 âm lịch năm 1057.

Theo lễ nghi mới quy định, bách quan sẽ dâng tấu chúc mừng ở Văn Đức Điện, hộ bộ thị lang, tham tri chính sự Vương Nghiêu Thần và xu mật phó sứ, lễ bộ thị lang Điền Huống nhận nhiệm vụ sách sứ, bưng sách ấn từ Văn Đức Điện tới Nội Đông Môn, trước đó nhập nội đô tri giữ chức vụ nội cấp sự (*) sẽ tới Nghi Phượng Các, mời công chúa thay phục sức, mặc áo du địch (**), sách sứ lại tuyên bố phụng chế trao sách ấn cho công chúa, nội cấp sự nhận sách ấn vào trong, bưng ấn quỳ gối trao cho công chúa, công chúa bái tạ thụ ấn, nhận lời chúc tụng thăng vị của nội mệnh phụ, sau đó đến điện đế hậu bái tạ phụ mẫu.

(*) Chức vụ nội thị giữ vai trò liên hệ trong ngoài cung.

(**) Tên loại lễ phục cấp bậc cao nhất của mệnh phụ trong cung thời cổ đại, chỉ dưới lễ phục của hoàng hậu (gọi là huy y).

Ngày ấy, nội mệnh phụ trong cung đến bên ngoài Nghi Phượng Các từ rất sớm, lần lượt xếp hàng chỉnh tề, đợi công chúa đi ra, nhận sách ấn trong sân, nhập nội đô tri cũng đúng giờ có mặt ở gác, tuyên thỉnh công chúa thay phục sức, du địch, song mãi lâu sau vẫn không thấy công chúa xuất hiện, đô tri vô cùng kinh ngạc, cao giọng mời lại hai lần, cũng không thấy nàng có phản ứng gì.

Miêu hiền phi thống lĩnh nội mệnh phụ trong sân, không tiện rời đi, bèn đánh mắt ra hiệu bảo ta vào xem.

Ta vào rồi, hỏi thị nữ hầu hạ bên cửa phòng công chúa trước, họ nói công chúa đã sớm trang điểm xong, nhưng chẳng biết tại sao lại làm biếng nằm xuống, không chịu khoác lễ phục cài trâm miện.

Công chúa mặc áo đơn bằng vải sa trắng lót trong du địch, nằm trên giường quay người vào trong, búi tóc được ty sức chải chuốt công phu thì vẫn chưa rối loạn sợi nào.

Ta đi qua khẽ khàng gọi nàng, nàng cũng không xoay người lại, chỉ rầu rầu nói: "Ta không muốn hành sách lễ, huynh ra ngoài nói với họ, bảo họ giải tán đi."

Ta tất nhiên không nhận lệnh, nói: "Công chúa muốn miễn sách lễ phải từ chối từ trước.

Nay chư thần và mệnh phụ đã vào vị trí mà công chúa đóng cửa không ra sẽ thành thất lễ."

"Huynh nói ta không từ chối từ trước à?

Là cha nói thế nào cũng không đồng ý."

Nàng nghiêng đầu nhìn ta, hai mắt tối tăm đờ đẫn, "Ta cứ không muốn ra đấy, huynh bảo họ đi đi, ta mặc kệ, cùng lắm thì lát nữa huynh viết hộ ta cái sớ tạ tội dâng lên cha là được."

Ta mỉm cười: "Thần chỉ là nội thị hầu hạ sinh hoạt hằng ngày của công chúa, thảo sớ không thuộc chức trách của thần."

"Hử?

Không phải huynh từng xin ta bổ huynh làm hàn lâm học sĩ à?"

Công chúa ngồi dậy, vén vạt áo làm bộ thi lễ vạn phúc với ta, nói: "Kính nhờ Lương nội hàn thảo một thiên sớ tạ tội thay bản vị (*)."

(*) Nghĩ chắc mọi người có thể không biết từ này vì ít gặp, nhưng đại loại đây là cách tự xưng giống như hoàng hậu, thái tử xưng "bản cung", tướng quân xưng "bản tướng" hay quan lại các cấp xưng "bản quan" với người dưới vậy đó, ở đây công chúa xưng "bản vị".

Ta bèn ứng đối theo lời nàng: "Chiếu lệnh của công chúa không hợp lý, thần không dám thay mặt viết sớ, kính xin hoàn trả chức danh, mong công chúa thứ tội."

Công chúa vỗ tay cười: "Đến tính xấu này của đại thần trong triều huynh cũng học được rồi!"

Ta chỉ cười không đáp.

Nàng vẫn chưa từ bỏ ý định, chợt lại nói: "Không phải huynh nói, làm văn thay viết chữ hộ cho ta đều là chuyện vui vẻ sao?

Huynh còn nói, huynh sẵn lòng làm tất thảy những điều ta muốn huynh làm..."

Sau đêm đó nói những lời này với nàng, quan hệ của chúng ta xuất hiện chút biến hóa rất đỗi vi diệu, dường như gần gũi hơn trước đây, song cả hai đều ăn ý không bàn đến chuyện này, đây là lần đầu tiên nàng đề cập tới lời nói khi ấy của ta.

Tình cảm gắn bó ấm cúng giữa hai người trong đêm mưa theo câu nói một lần hiện lên, phất qua trái tim ta tựa một cơn gió xuân, niềm vui thích điềm tĩnh ấy khiến người ta lâng lâng như uống rượu, may mà lý trí sót lại của ta hãy còn biết đường nhắc nhở ta cự tuyệt dẫn dụ của nàng.

"Ơ?

Thần từng nói vậy à?"

Ta hỏi ngược lại như chuyện chưa từng xảy ra.

"Có, huynh có nói thế!"

Nàng lập tức khẳng định.

Ta hé cười nhạt nhòa: "Thần nói khi nào ấy nhỉ?"

"Đêm hôm đó, trời mưa, ta đang khóc thì huynh đi vào..."

Nàng hơi khựng lại, đại khái là ý thức được điều gì, lập tức ngậm miệng không nói nữa, gương mặt láng bóng như gốm sứ mơ hồ ửng lên sắc son hồng.

Ta cố ý ngó lơ sự khác thường của nàng, hời hợt nói: "Thật ư?

Thần không nhớ."

Đoạn quay đầu gọi Tiếu Diệp Nhi và Gia Khánh Tử đứng cạnh cửa, phân phó: "Hầu hạ công chúa thay y phục đi."

"Ta có nói là muốn thay y phục hả?"

Công chúa bất mãn chọi lại ta một câu.

Ta mỉm cười: "Cáo văn sách phong Duyện quốc công chúa là do Âu Dương nội hàn chấp bút, thần đoán công chúa nhất định sẽ có hứng thú ra ngoài nghe."

"Chỉ toàn mấy lời ca tụng thôi, có gì hay mà nghe?"

Công chúa than thở, nhưng nói thì nói vậy, nàng vẫn để thị nữ đỡ mình đến bên bàn trang điểm, đội miện cửu huy tứ phượng, tô điểm với chín đóa hoa, bận du địch xanh sẫm vạt dài tay rộng, đeo cặp bội bạch ngọc, choàng thêm đôi dải lụa đỏ thuần...

Cuối cùng cũng khoác xong lớp phục sức long trọng kia lên người, nàng nhìn mình trong gương, chợt nở nụ cười với ta sau lưng qua tấm kính: "Nhìn ta xem, có giống Ma Hát Lạc mặc người định đoạt trong đêm thất tịch không?"

Ta không lời đối đáp.

Nàng quay người nhìn thẳng vào ta, dùng giọng bình tĩnh nói ra một câu khiến người ta thương cảm: "Họ cũng coi ta là tượng đất, đóng gói thành món lễ vật xanh đỏ sặc sỡ rồi đem tặng cho con thỏ ngốc kia đó."

4.

Xuất giáng

Ngày mậu thân tháng Tám năm Gia Hựu thứ hai (*), Duyện quốc công chúa xuất giáng.

Rạng sáng hôm ấy, Thu Hòa tự mình trang điểm cho nàng, dùng than vỏ ốc họa dáng mày vầng ngược (**), dán bông bích sợi vàng lên hai bên lúm đồng tiền nàng, thái dương gắn hoa cài ngọc trai kiểu trăng non, má phớt ráng hồng, trán vẽ vàng tơ, tỉ mỉ họa xong từng nét, lại điểm thêm giữa hai chân mày một đóa hoa được tạo hình tinh vi từ đá vân mẫu và châu vàng.

Cộng thêm thời gian đội miện cửu huy tứ phượng và đính giấy thếp vàng lên hai bên tóc mai, chỉ riêng trang điểm đầu mặt thôi đã tốn hai canh giờ, trong đó có không ít thì giờ là để che đi dấu vết quầng thâm dưới mắt công chúa.

(*) Tính theo can chi, đây là ngày 4 tháng 8 âm lịch năm 1057.

Công chúa rất phối hợp, ngồi yên không nhúc nhích, mãi đến khi trang điểm xong mặc du địch lên người, thắt đai da vàng và khuyên lụa ngọc, ánh mắt mới lướt qua cung nhân thị nữ, tìm đến ta, hỏi: "Có đẹp không?"

Có đẹp không ư?

Ta cười với nàng, đáp: "Đương nhiên."

Âu Dương Tu và chư bác sĩ Lễ viện thiết kế nghi thức thành hôn của công chúa theo cổ chế, sắp xếp cho nhà phò mã bày những món nhạn, tiền, ngọc, ngựa bên ngoài Nội Đông Môn, để nhập nội nội thị mang vào trong cung.

Phò mã Lý Vĩ cưỡi ngựa đến từ sáng sớm, vào trong Đông Hoa Môn thì xuống ngựa, lễ trực quan dẫn hắn vào, đứng ngoài Nội Đông Môn, khom người về hướng tây, đợi công chúa.

Công chúa đi Phúc Ninh Điện bái biệt phụ thân trước.

Bản thân kim thượng còn đang lặng lẽ lau lệ nhưng vẫn mỉm cười không ngớt khuyên công chúa: "Đừng khóc, đừng khóc, hôm nay Thu Hòa trang điểm cho con đẹp lắm, đừng khóc mà hỏng mất."

Lúc này, lỗ bộ (*), nghi trượng công chúa đã sắp đặt xong xuôi ngoài Nội Đông Môn.

Sau khi ra ngoài từ Phúc Ninh Điện, công chúa chậm rãi đi tới Nội Đông Môn, lên xe yếm địch (**) trong vòng vây của mấy trăm cung nhân.

(*) Đội danh dự hộ tống xa giá của đế vương hoặc hậu phi, hoàng tử công chúa.

(**) Tên gọi xe liễn của hoàng hậu, phi tần và công chúa.

Xa giá yếm địch dùng sáu thớt ngựa xích thố kéo, buồng xe màu đỏ thẫm, trang trí bằng lông trĩ, màn che bụi đất màu tím, lưới rủ tơ hồng, đai đính la màu, trướng gấm mành kép.

Trong ngoài buồng xe gắn trang sức vàng, giữa điểm ngũ sắc, hai bên vách có cửa sổ che màn bằng lụa mỏng, xung quanh khắc vân phượng, khổng tước, chạm hoa văn rùa thần, trên nóc xe dựng tượng một con phượng vàng, trên càng xe thì dựng tám con.

Trong xe đặt đệm ngồi vải đào, có hòm hương đầu li, bày lư hương, nhang thơm.

Toàn bộ thân xe nguy nga lộng lẫy, tinh xảo hệt hộp trang sức đẹp đẽ chói lòa.

Ma Hát Lạc xinh đẹp được thị nữ trái phải đỡ vào hộp trang sức ấy, rèm cửa buông xuống, hoàn thành bước đóng gói cuối cùng của món lễ vật.

Đợi công chúa lên xe rồi, Lý Vĩ bái lạy một lần nữa, dẫn ngựa về dinh trước.

Chờ đến giờ lành, xa giá công chúa khởi hành.

Nghi trượng đi trước nhất, có mấy mươi binh lính Nhai đạo ty, ai nấy cầm dụng cụ quét dọn và thùng nước mạ bạc vàng, dẫn đường vẩy rót, gọi là "thủy lộ".

Kế đến là hai nhóm người hầu thân bận áo tím, đội khăn chít đầu cánh cuộn, gánh mấy trăm rương đồ cưới của công chúa.

Theo sau là mười mấy cung tần cưỡi ngựa, đều khoác khăn choàng la đỏ đính vàng, cài thoa trân châu, đội miện vải la, dàn hàng đi song song hai bên đường dẫn kiệu, hàng ngũ ấy gọi là "đoản đăng".

Lui ra sau nữa là vài chục cung nhân nội thị hồi môn theo hầu cùng xe ngựa của công chúa và hậu phi.

Trước sau xe yếm địch của công chúa dùng quạt tấm la hồng đính vàng che chắn, quạt vuông bốn cây, quạt tròn bốn cây, hoa dấu mười cành, đèn lồng hai mươi ngọn, hành chướng, tọa chướng (*) mỗi loại một chiếc.

Hoàng hậu ngồi kiệu cửu long đích thân đưa công chúa đi, Miêu hiền phi và nội mệnh phụ có phẩm cấp trong cung cũng ngồi xe liễn theo sát phía sau.

Đội xe ngựa dàn hàng trùng trùng, kéo dài mấy dặm, một đường tuần hành, người trong kinh đổ xô ra đường, vây xem dày đặc.

(*) Đây là hai loại bình phong di động có thể mang theo lúc xuất hành.

Trước đó, ta cũng được ban ân tiến cấp, bậc quan thăng lên nội thị điện đầu, đế hậu sau khi thương nghị đã quyết định cho ta một chức vụ mới – chủ quản phủ công chúa, thống lĩnh cung nhân nội thần hồi môn của công chúa, kiêm quản lý sự vụ cụ thể trong phủ công chúa.

Giờ đây, ta đang mặc công phục sắc xanh, cưỡi ngựa đi bên xa giá của nàng, có lẽ do phục sức khác với màu áo nâu của nội thị phía trước nên người xem chung quanh đặc biệt để ý tới ta.

"Vị lang quân này mặc áo bào xanh lục, không phải là phò mã đấy chứ?"

Có người chỉ vào ta hỏi vậy.

Lễ phục thành hôn của đàn ông quốc triều dùng công phục tương ứng với phẩm cấp của mình, không phải quan viên thì mặc áo bào xanh, bởi vậy nên người nọ mới có suy đoán này.

Lập tức có người bác bỏ y: "Không có kiến thức!

Phò mã đô úy là tòng ngũ phẩm, mặc áo bào đỏ mới đúng.

Tiểu lang quân này da dẻ trắng mịn, mặt không có râu, quá nửa là quan viên hoàng môn hầu hạ công chúa."

Người hỏi nổi cơn tò mò nhìn ta chăm chú, cười nói: "Hóa ra là một hoạn quan!

Trông cậu ta mắt mày thanh tú thế kia, đáng tiếc..."

Ta ngoảnh mặt làm ngơ, hơi dựng thẳng lưng, dõi mắt nhìn thẳng, mặt không đổi sắc, tiếp tục giục ngựa đi về phía trước.

Đội nghi trượng đi đầu bước chân chậm rãi, dây dưa hơn một canh giờ mới đến được phủ đệ mới của công chúa và phò mã.

Lý Vĩ đã sớm chờ trước cổng, chờ công chúa xuống xe, có người giúp đỡ tiến lên dẫn phò mã hạ bái làm lễ với công chúa, đón công chúa vào trong, công chúa đến trước cửa phòng ngủ, Lý Vĩ lại vái lạy, đồng thời dìu đỡ lên thềm, mời nàng vào phòng rửa mặt.

Công chúa chỉnh lý lại trang dung xong, người chủ trì hôn lễ mời công chúa và phò mã ngồi xuống đối diện nhau, Lý Vĩ một lần nữa vái lạy công chúa rồi mới ngồi xuống cùng nàng, đối ẩm ba lần, lại bái, sau đó nhận tiệc ngự hoàng hậu ban tặng.

Tiệc ngự tổng cộng chín tuần, từng tuần nhất nhất hành xong, hoàng hậu và chư nội mệnh phụ bịn rịn chia tay công chúa, khởi giá hồi cung.

Công chúa lưu luyến Miêu hiền phi nhất, đuổi theo ra tận sân ngoài, kéo tay áo mẫu thân rơi lệ ròng ròng.

Miêu hiền phi cũng rất đau lòng, song cũng chỉ có thể rưng rưng ngậm cười an ủi nàng, nói ngày sau có thể thường xuyên vào cung, mẹ con gặp mặt cũng chẳng khó.

Dưới sự thúc giục của nội thần, hiền phi cắn răng đẩy công chúa ra, rảo bước ra cửa, vội vã lên xe rời đi, không ngoái lại nhìn con gái nữa.

Công chúa khóc lóc thảm thiết, cơ hồ ngã khuỵu xuống đất.

Nhũ mẫu Hàn thị vội gắng sức đỡ nàng, ta cũng định bước lên nâng, chẳng ngờ một vị phu nhân đột ngột xuất hiện, giành trước ta kẹp lấy bên kia công chúa.

Đó là mẹ chồng công chúa, quốc cữu phu nhân Dương thị.

"Công chúa đừng khóc nữa.

Hiện giờ tuy con và Miêu nương tử phải xa nhau, nhưng đã vào cửa nhà mẹ thì cũng giống như con gái mẹ, mẹ sẽ thương yêu con như mẹ ruột con vậy."

Dương phu nhân cười nói với công chúa.

Công chúa nghẹn ngào, cau mày nhìn bà.

Dương phu nhân dán mắt vào mặt nàng, lắc đầu: "Chậc chậc, khóc thảm quá kìa, son cũng nhòe hết cả rồi..."

Vừa nói vừa kéo tay áo, muốn lau lệ cho công chúa, công chúa chán ghét kiên quyết nghiêng đầu né tránh, bà ta vẫn chưa chịu thôi, tiếp tục cười bảo: "Mặt toàn nước mắt thôi, để mẹ lau cho con..."

Công chúa né trái tránh phải, có phần giận dữ.

Ta lập tức gọi vài thị nữ qua, sai họ đỡ công chúa vào phòng chỉnh trang.

Lúc này, một người sải bước đi tới, xá Dương phu nhân, nói: "Theo nghi chế quốc triều, sau ngày lại mặt, công chúa mới gặp mặt cha mẹ chồng, phu nhân nói chuyện với công chúa bây giờ là không hợp lẽ."

Người nói là đô giám phủ công chúa Lương Toàn Nhất, thầy giáo dạy ta thuở thiếu thời.

Mấy năm nay thầy làm việc ở Tiền tỉnh, đã thăng đến cung phụng quan.

Công chúa xuất giáng, theo thông lệ cần chọn một nội thần dày dặn kinh nghiệm cấp bậc cung phụng quan đi theo làm đô giám phủ công chúa, chức trách là hướng dẫn ngôn hành cử chỉ cho công chúa và phò mã, quan sát trạng thái sinh hoạt của họ, định kỳ thông báo cho hoàng đế.

Lương Toàn Nhất phẩm hạnh xuất chúng, thanh danh tốt đẹp, lúc kim thượng tuyển chọn đô giám phủ công chúa, cảm thấy cung phụng quan Hậu tỉnh không tìm được ai thích hợp, ta bèn tiến cử Lương tiên sinh với ngài, kim thượng cũng vui vẻ bằng lòng, nhanh chóng hạ lệnh, bổ Lương Toàn Nhất làm đô giám phủ công chúa.

Hiện giờ, Dương phu nhân nghe Lương đô giám nói vậy, đành phải thôi, hậm hực lui về hậu viện.

Trong lòng đại khái rất không thoải mái, vừa đi bà vừa càu nhàu: "Hoàng gia thật lắm quy củ, cưới con dâu về, mẹ chồng chủ nhà muốn gặp mặt sớm cũng không được..."

So với Dương phu nhân niềm nở thái quá, biểu hiện của phò mã Lý Vĩ thận trọng hơn nhiều, có phần hơi câu nệ, mọi cử chỉ động tác đều nghe đúng theo lời Lương đô giám và người phụ giúp phân phó.

Sau đó, lúc làm lễ đồng lao (*) với công chúa, đến cắn một miếng thịt dê thôi hắn cũng hết sức dè dặt, thỉnh thoảng lại nhìn người phụ giúp, như sợ góc độ miếng cắn của mình không hợp nghi chế.

(*) Một nghi thức trong hôn lễ thời cổ đại Trung Quốc, tân lang tân nương cùng ăn một phần thịt, rất có thể là trong cùng một bát, tỏ ý bắt đầu ăn ở cùng nhau.

Trong quá trình ấy, công chúa một mực mặt không biểu cảm, cũng không một lần đưa mắt nhìn phu quân đối diện mình.

Ta trước sau vẫn hầu hạ bên công chúa cùng nội thần cung nhân tùy tùng, thẳng đến đêm, khi tân lang tân nương về gác ngủ, mới ngồi vào bàn đón nhận tiệc mừng công chúa.

Đám cung nhân bận rộn cả một ngày bấy giờ rốt cuộc cũng được thả lỏng, ai nấy mặt mày hớn hở, hết chơi đoán số lại uống rượu mừng, tận sức hưởng lạc, linh đình cỗ yến, duy độc mình ta hồn chẳng tại đây.

Ta trân trân nhìn hướng tân phòng công chúa, nhưng lại không dám nghĩ sâu.

Để che giấu bản thân mất hồn mất vía, ta kéo một cốc rượu lớn Gia Khánh Tử vừa rót đầy, ngửa đầu nốc cạn.

Động tác uống rượu dứt khoát ấy được mọi người hoan hô nhiệt liệt, Trương Thừa Chiếu lại tiến lên mời ta một ly, ta cũng không chối từ, mỉm cười một hơi cạn sạch.

Điều này càng thêm khơi dậy ở họ hứng thú thăm dò tửu lượng của ta, hầu như mỗi người đều châm rượu mời ta, mà ta ai đến cũng không cự tuyệt, uống xong mỗi một ly trước mặt, trong lúc đổi hướng thấy Lương Toàn Nhất đang khó xử đối mặt với chén rượu người ngoài tới kính, bèn đi tới, nhận lấy ly rượu kia, cười nói với người mời: "Lương đô giám không uống được nhiều, rượu này để tôi uống thay thầy đi."

Thế là, ta lại có thêm lý do tiếp tục nốc.

Nhưng kỳ thực, ta cũng chẳng phải người giỏi uống rượu.

Mấy mươi ly rượu mạnh trút xuống một bụng sầu, cuối cùng đổi lấy cơn say mèm trong dự liệu của ta.

Công chúa bây giờ... thế nào rồi?

Ta mơ hồ nghĩ vậy, trước khi hơi rượu hừng hực tràn vào não, xóa đi ý thức ta.

5.

Đêm đầu

Trọn một đêm say đượm giấc nồng.

Trong đầu vụt lướt những mộng cảnh vụn vặt hỗn độn, cảnh nào cảnh nấy tựa thật mà giả, mờ mịt không rõ, hệt như những bản nháp phác thảo dưới ngòi bút các họa học sinh mà ta chỉnh lý ở Họa viện khi còn nhỏ.

Thứ duy nhất rõ ràng là cảm giác nóng cháy bức bối nơi đáy lòng, như có ngọn lửa bừng bừng thiêu đốt lục phủ ngũ tạng.

Ta chạy băng băng trong giấc mộng hỗn loạn ấy, mãi đến khi có gì đó ẩm ướt mát rượi chạm lên da mặt bỏng rẫy của ta.

Xúc cảm mát lạnh duy trì hồi lâu, từng giọt từng giọt bắn tóe lên ấn đường, tựa như nước suối bất ngờ gặp được giữa hè khi đương đi trong núi rừng.

Ta mở mắt trong cảm giác sung sướng ấy, trước mặt phe phẩy một đoạn tay áo đỏ thắm, tiếp đó, đập vào mi mắt là dung nhan mỹ lệ của công chúa.

"Huynh tỉnh rồi?"

Nàng mỉm cười nói, lại dùng khăn bông trong tay lau trán cho ta.

Sau một chớp mắt sững sờ, ta nhanh chóng ngồi dậy, quay đầu nhìn quanh, thấy mình nằm trên sập trong gian phòng của bản thân tại phủ công chúa, sắc trời mới chỉ hưng hửng, sân viện không tiếng động, mà trong buồng ngoài công chúa ra thì chỉ có Bạch Mậu Tiên, cậu bé tiểu hoàng môn phục dịch ta, đang đứng hầu bên cửa.

Ta chật vật động não trong cơn đau đầu dữ dội, từ từ nhớ lại chuyện hôm qua, không khỏi cả kinh, chẳng kịp hành lễ mà hỏi trước: "Công chúa, sao người lại tới đây?"

"À, ta muốn gặp huynh nên tới thôi.

Là Tiểu Bạch mở cửa cho ta."

Nàng nói, nhúng khăn vào chậu nước lạnh cạnh người, vắt ráo rồi lại mở ra định lau mặt cho ta, tự nhiên như thể đây là chuyện thường làm hằng ngày, "Sao uống nhiều thế?

Mặt đỏ rực hết cả lên rồi, khó chịu lắm đúng không."

Ta ghìm khăn của nàng lại, thấp giọng nói: "Công chúa, không nên tự tiện ra khỏi gác ngủ trong ngày đại hỉ.

Mau trở về đi thôi."

"Trở về?

Huynh muốn ta trở về trông coi con thỏ ngốc ấy hả?"

Công chúa ủ rũ nói, thấy ta không cất tiếng, nàng bỗng nhướng mày, cười hỏi: "Huynh biết ta trải qua đêm tân hôn thế nào không?"

Câu hỏi này khiến ta khó lòng đáp lại, ta cúi đầu, không tiếp lời.

Nàng cười nhạt nhòa, thủ thỉ: "Trước đó ta có dặn Vân nương và bọn Gia Khánh Tử ngủ ngoài phòng ta, nếu Lý Vĩ vô lễ với ta, ta mở miệng hô hoán, họ sẽ lập tức xông vào.

Cơ mà, con thỏ ngốc đúng là ngốc thật, thấy trong phòng chỉ còn lại hai ta, hắn còn khẩn trương hơn cả ta, đứng không đứng nổi ngồi không ngồi xong, tay chân chẳng biết phải để vào đâu.

Ta bèn nói với hắn, ta không quen dùng chung chăn gối với người khác, bảo hắn lấy một bộ chăn nệm, chọn một chỗ khác ngoài màn trải ra mà ngủ.

Hắn cũng không ý kiến gì, ôm chăn nệm trải dưới mặt sàn bên cửa sổ, ngủ luôn chỗ đó."

"Phò mã ngủ dưới sàn cả đêm?"

Ta kinh ngạc, bật thốt.

Công chúa gật đầu: "Đúng vậy."

Ta im lặng hồi lâu, rồi mới nói: "Công chúa hà tất phải như thế."

"Há lại để người khác ngủ ngáy bên giường?"

Nàng trả lời.

Đây vốn là câu nói nổi tiếng của Thái Tổ hoàng đế, năm đó ngài xuất binh tấn công Nam Đường, hậu chủ Nam Đường Lý Dục cầu xin bảo toàn quốc gia, ngài đã đáp vậy.

Bây giờ công chúa lấy đó ra trích dẫn, không khỏi có phần dở ông dở thằng, ta nghe vào, không nhịn được phì cười.

"Phò mã là phu quân công chúa, không phải 'người khác'."

Ta nói với nàng.

"Đối với ta, từ đầu tới cuối hắn chỉ là một người xa lạ."

Công chúa nói, nhìn ta chăm chú, chợt đổi chủ đề sang ta: "Ta tưởng rằng nói cho huynh biết chuyện này, huynh sẽ cảm thấy vui vẻ."

Ta ngượng ngùng, quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ: "Chuyện này liên quan gì tới thần đâu?"

"Không liên quan à?"

Nàng phản vấn, cũng nghiêng người qua, nhất định đòi mắt đối mắt với ta, cười nói: "Ta vừa không để ý đã phát hiện ra có người đêm qua uống rượu sầu rồi."

Công sự phòng thủ trong lòng không đỡ nổi một kích này, ta liên tiếp bại lui.

Lý trí nhắc nhở ta công chúa làm vậy là không đúng, từ thái độ nàng cư xử với phò mã đến ngôn hành trong phòng ta, ta hẳn là nên khuyên can, ngăn cản.

Nhưng, nếu nói ta không hề cảm nhận được chút khoan khoái và ấm áp nào trong đây thì cũng giả dối quá rồi.

Biết rõ nối tiếp chủ đề trước mắt là một việc nguy hiểm, song lại không hạ nổi quyết tâm mời nàng ra ngoài, ta ngoảnh đầu chạm đến ánh mắt nàng, nở nụ cười đắng chát với nàng trong cảm giác mâu thuẫn ấy.

"Người ra ngoài tìm thần, phò mã có biết không?"

Ta hỏi.

"Không biết.

Lúc ta đi ra, hắn ngủ như heo ấy."

Nàng đáp.

Dưới cái nhìn chăm chú của ta, ý cười ung dung của nàng dần tan biến, nói tiếp: "Hắn còn 'ngủ ngáy' thật cơ.

Đêm qua ta để nguyên quần áo đi ngủ, trằn trọc hồi lâu mới miễn cưỡng thiếp đi được, nhưng đến nửa đêm lại bị tiếng ngáy của Lý Vĩ đánh thức.

Ta mở mắt, nương ánh nến long phượng quan sát hoàn cảnh xa lạ mới dần nhớ ra mình đã lấy người ngủ dưới sàn kia, không thể trở về bên cha mẹ được nữa.

"Tiếng ngáy của hắn vang lên từng trận.

Ta khẽ khàng đi tới cạnh hắn, nhìn kỹ hắn.

Thấy dáng vẻ hắn đầu mập bụng phệ, vô tâm vô tư nằm ngủ say sưa, miệng còn chẳng khép lại, nước miếng chảy ra lấp lánh lóe sáng dưới ánh trăng rọi vào qua cửa sổ...

"Ta yên lặng đứng bên hắn hồi lâu, nghĩ đây chính là người sẽ sống chung với mình kiếp này, mấy chục năm từ nay về sau, mỗi ngày đều phải sớm chiều bên hắn, vậy thì cả đời này còn điều gì đáng kỳ vọng nữa? ...

Ta quay đầu nhìn bóng đêm ngoài song, cảm thấy mặt trời hôm nay cũng chẳng mọc nổi."

Giọng điệu nàng yên ả, trong mắt cũng ráo hoảnh, ấy nhưng lời nói ra lúc này còn khiến ta xót xa hơn cả khi nàng khóc thảm thiết ly biệt mẫu thân vào ban ngày.

"Khoảnh khắc ấy, ta thực sự muốn trở lại mười năm trước, một lần nữa làm một tiểu cô nương không biết muộn phiền, ngâm vịnh 'Dưới hiên khoai sọ tròn' với huynh trong đêm trăng."

Nàng cười gượng, "Thế nên, ta muốn gặp huynh, xem huynh có còn củ khoai sọ nào dưới trăng không."

Ta bất đắc dĩ cười với nàng, "Xin lỗi, hiện giờ chỗ thần không có khoai sọ."

Nàng lắc đầu: "Không sao.

Nhìn thấy huynh là có cảm giác hãy còn ở nhà rồi."

Ta rất muốn ôm nàng vào lòng, an ủi nàng, đáp lại nàng, nói cho nàng biết những cảm xúc phức tạp lắt nhắt trong mình lúc này.

Nhưng, cảm nhận được nắng sớm càng lúc càng sáng tỏ trong phòng, chung quy ta vẫn không có hành động gì, sau cùng chỉ tìm chủ đề khác, ôn hòa kiến nghị: "Cây hoa trong vườn phủ công chúa tươi tốt lắm, không khí ban mai trong lành, hay là công chúa chuyển không hầu vào đó luyện đàn, có lẽ sẽ giải tỏa được phần nào nỗi lòng."

Công chúa đồng ý, ta bèn mời nàng vào vườn trước.

Đợi nàng rời đi rồi, ta lập tức khoác áo đội mão, qua loa rửa mặt rồi cầm sáo ra cửa, bấy giờ mới phát hiện chẳng biết Tiểu Bạch đã tránh ra xa từ lúc nào, đang đứng trong sân, trông thấy ta lập tức chạy qua thỉnh an, hỏi ta có gì phân phó.

Tiểu Bạch năm nay mười hai, thanh tú lanh lợi, thích đọc sách, hành sự cũng chững chạc.

Ta bảo nó tìm người chuyển không hầu vào vườn hoa, sau đó tự mình đi sang vườn, vừa đi vừa nghĩ, thằng bé đúng là một đứa trẻ thông minh.

Hiển nhiên, đêm thứ hai, công chúa và phò mã cũng trải qua như thế.

Hôm kế, thị nữ của công chúa xì xào bàn tán, thậm chí còn cười nói dưới sàn quá lạnh, không bằng kê cho phò mã một cái sập mềm trong góc phòng công chúa.

Chi tiết chuyện khuê phòng của công chúa truyền ra ngoài với tốc độ chóng mặt, trở thành đề tài tán gẫu chủ yếu của người hầu nội nhân trong phủ.

Đương nhiên, người quan tâm tới tình trạng chung sống của cặp vợ chồng son này nhất cũng chẳng phải họ.

"Quốc cữu phu nhân đang mắng phò mã ở sân sau kìa."

Buổi chiều, Trương Thừa Chiếu báo với ta cảnh tượng hắn bắt gặp với vẻ cười trên nỗi đau của người khác, "Mắng hắn không có phu quyền, đến vợ cũng chẳng dám đụng vào, không ra dáng đàn ông.

Nói đến phát cáu, còn thò tay nhéo tai phò mã, giọng cũng càng lúc càng lớn, đám a hoàn chung quanh nghe thấy đều che miệng cười."

Ta ngập ngừng, hỏi hắn: "Phò mã phản ứng thế nào?"

"Ôi dào, Lý đô úy của chúng ta đích thị một cái hũ nút, còn có thể thế nào được nữa?"

Trương Thừa Chiếu cười: "Còn chẳng phải là bụm tai cúi gằm mặt nghe mẹ già giáo huấn, nửa ngày không hé răng sao."

Dương thị và Lý Vĩ tuy là mẹ con, song ngoại hình và tính cách lại một trời một vực.

Lý Vĩ chất phác đôn hậu, Dương thị mặt nhọn môi mỏng, trong mắt lập lòe vẻ tinh ranh.

Lý Vĩ chấp nhận tất thảy an bài của công chúa, mà mẫu thân hắn đối với chuyện này hẳn sẽ không khoanh tay đứng nhìn.

Suy đoán ấy nhanh chóng được chứng thực.

Sau bữa tối hôm đó, ta đang bàn bạc hành trình lễ nghi phục diện bái môn ngày lại mặt của công chúa và phò mã cùng Lương Toàn Nhất thì Hàn thị đi vào, lấy ra một mảnh lụa trắng, nhỏ giọng nói với chúng ta: "Quốc cữu phu nhân vừa đưa cho tôi cái này, muốn tôi trải lên giường công chúa."

Ta và Lương đô giám nhìn nhau, nhất thời đều không biết phải nói gì.

Thân là nội thị, song ta cũng có nghe nói về mảnh vải trắng trải trên giường cưới, lấy làm tập tục nghiệm xét trinh tiết của tân nương, nhưng chi tiết này không thích hợp trong hôn lễ của công chúa.

"Bà đã giải thích với quốc cữu phu nhân là công chúa hạ giáng không có nghi chế này chưa?"

Lương đô giám hỏi Hàn thị.

Hàn thị than thở: "Đương nhiên là nói rồi, nhưng bà ấy lại cười bảo, bà ấy không dám nghi ngờ tiết tháo của công chúa, chỉ là tập tục dân gian nó vậy, gia quy nhà họ Lý cũng thế, trước đây anh trai phò mã cưới chị dâu cũng đều làm thế này, công chúa nếu đã gả vào nhà họ Lý thì hành sự theo gia quy họ Lý cũng không có gì quá đáng, quan gia biết hẳn cũng sẽ đồng ý.

Nói xong kiên quyết dúi vào tay tôi, bỏ lại câu ngày mai bà ta sẽ tới lấy rồi đi mất.

Tôi thật sự không biết phải làm thế nào nên mới đành chạy sang tìm hai người, xin hai người nghĩ cách cho."

Ta cũng tin rằng hành động này của Dương thị không phải là nghi ngờ tiết tháo của công chúa mà chỉ nhân đây bức ép, gây áp lực cho công chúa, hi vọng tạo thành kết quả gạo nấu thành cơm.

Nhưng với tính tình công chúa, đời nào nàng chịu để yên cho bà ta chi phối?

Nghĩ vậy, ta bèn nói với Hàn thị, "Không được để công chúa biết việc này.

Người tất sẽ cho rằng đây là hành vi sỉ nhục người, nếu vì thế mà tổn thương hòa khí với quốc cữu phu nhân thì hậu quả khó mà lường được."

"Nhưng mà," Lương đô giám trầm ngâm: "Quốc cữu phu nhân đã ra lệnh rõ ràng phải trải lụa trắng lên giường cưới, nếu không làm vậy, bà ta ắt sẽ yêu cầu đi yêu cầu lại, thậm chí tự mình đề ra với công chúa, nếu không nói rõ với công chúa, chỉ sợ đến lúc đó tình thế sẽ càng khó dẹp yên."

Lời thầy tất nhiên cũng có lý.

Ta chỉ thở dài: "Nhưng muốn nói rõ chuyện này với công chúa nào có dễ vậy."

"Khỏi phải khó xử, ta đã biết rồi."

Tiếng công chúa vang lên ngoài song, sau đó, gấu váy xoay tròn, nàng đã xuất hiện bên cửa.

Bọn ta còn chưa kịp thể hiện được bao nhiêu biểu cảm kinh ngạc, ai nấy đã vội vàng đứng dậy, hành lễ với nàng.

Sắc mặt nàng vẫn bình thản, không có vẻ gì là xấu hổ giận dữ, chỉ đi thẳng tới trước mặt Hàn thị, chìa tay với bà: "Đưa lụa đây cho ta."

Hàn thị nghe lời đưa mảnh lụa cho nàng, nàng nhận lấy, cụp mắt nhìn, khóe miệng nhếch một nụ cười trào phúng.

Hôm sau, công chúa về cung phục diện bái môn, giấu bớt đi phần nào tâm trạng trước mặt cha mẹ, cũng không tỏ ra quá lạnh lùng với phò mã, nhất là khi đối mặt với lời hỏi han của phụ thân, hết lời bày tỏ mọi chuyện đều tốt, khiến kim thượng cười đến là sung sướng, như thở phào nhẹ nhõm.

Song, vừa quay lại phủ công chúa, nỗi ưu sầu ngầm ẩn trong mối hôn nhân này đã mau chóng hiển lộ.

Từ trong cung trở về, công chúa theo nghi chế quốc triều, buông rèm ngồi ngay ngắn trong sảnh đường dinh thự, tiếp kiến cha mẹ chồng.

Quốc cữu đã qua đời, người cần gặp bây giờ thực chất cũng chỉ có mình Dương thị.

Dương phu nhân đã lễ phục tươm tất từ sớm, trang điểm lộng lẫy, hoan hỉ vào sảnh, thi lễ với công chúa ngoài rèm, nói đôi câu chúc tụng rồi hấp tấp hỏi han ân cần: "Công chúa ở nhà mẹ mấy ngày nay đã quen chưa?

Hạ nhân trong nhà phục vụ công chúa có vừa lòng?

Chúng nó có gì không ổn công chúa cứ nói với mẹ, cần đánh mẹ sẽ đánh cần mắng mẹ sẽ mắng, nhất định sẽ dạy dỗ tử tế rồi mới trả lại cho công chúa sai bảo."

Công chúa chưa lý tới bà ngay mà quay sang hỏi Trương Thừa Chiếu bên cạnh: "Ai đang nói chuyện dưới sảnh đấy?"

Trương Thừa Chiếu khom người đáp: "Bẩm công chúa, là mẫu thân của phò mã đô úy, Dương thị."

"Ồ, thì ra là thím Dương."

Công chúa ra chiều tỉnh ngộ, lại nói với dưới sảnh: "Ban tọa cho thím đi."

"Thím?"

Dương phu nhân lẩm bẩm lặp lại xưng hô này.

Trương Thừa Chiếu đi ra ngoài rèm, cười nói với Dương phu nhân: "Quốc cữu phu nhân, theo lệ, nhà thượng chúa (*) phải hạ vai vế xuống một bậc để tỏ lòng cung kính.

Hiện giờ, bà là thím của công chúa, chớ xưng 'mẹ' với công chúa mà làm rối loạn vai vế."

(*) Cách gọi nam tử cưới công chúa thời xưa.

Thấy Dương phu nhân có vẻ giận dữ, Lương đô giám bèn giải thích với bà: "Nghi chế quốc triều quy định như vậy, phu nhân hẳn đã từng nghe nói đến rồi?

Lễ nghi là thế, không tiện thay đổi, có chỗ nào không hợp tình hợp lý cũng mong phu nhân rộng lượng thứ cho."

Dương phu nhân miễn cưỡng gượng cười, nói: "Tôi biết.

Xưng 'mẹ' với công chúa chẳng phải là muốn để người cảm thấy thân thiết hơn, như có mẫu thân bên cạnh sao.

Nếu công chúa không thích, tôi sửa là được."

"Quốc cữu phu nhân quả nhiên thấu tình đạt lý."

Trương Thừa Chiếu ngậm nụ cười chẳng mấy nghiêm túc, lại nhắc nhở bà một chuyện khác, "Còn có việc này, cũng mong phu nhân chú ý: chi phí đất đai xây dựng phủ công chúa và mọi tiêu dùng đều là của quan gia ban cho, dinh thự này vốn là một trong số của hồi môn quan gia ban tặng công chúa, công chúa là chính chủ nơi này chứ không phải vào ở nhà quốc cữu phu nhân.

Quốc cữu phu nhân vốn là khách, theo phò mã vào đây, nếu thấy có chỗ nào không thoải mái thì cứ nói với công chúa, công chúa tất sẽ tận tâm an bài thỏa đáng cho phu nhân."

Sắc mặt Dương phu nhân càng thêm sa sầm, nhưng không tiện phản bác, chỉ đành nuốt giận đáp: "Vậy mụ đây xin cảm ơn công chúa trước, công chúa hao tâm rồi."

Công chúa nghe vậy mỉm cười: "Thím đừng khách khí."

Lại quay sang phân phó người hầu: "Tặng lễ gặp mặt cho quốc cữu phu nhân."

Kế tiếp, hai nhóm nội thần mỗi người nâng một lễ vật, tấp nập từ ngoài cửa đi vào, đặt từng món trong sảnh.

Lễ vật công chúa tặng cho cha mẹ chồng không tệ, có ba trăm lượng bạc, năm trăm xếp gấm, vài tráp nữ trang, một bộ lễ phục, một bức danh thiếp, một túi tảo đậu...

Những thứ này đều là quà tặng quy định trong nghi chế.

Nhưng cái cuối cùng nội thần mang vào lại là một khay phủ nhiễu điều, tạm thời nhìn không ra trong đó đựng vật gì.

Mỗi lần đưa vào một lễ vật, nội thần đều cao giọng xướng tên món đồ, song đến lúc mang món cuối cùng vào, nội thần lại ngậm miệng, không xướng danh nữa.

Đến đây, công chúa vén rèm đi ra, chậm rãi bước tới trước mặt Dương phu nhân, lại mở nhiễu điều phủ trên khay ra, cho Dương phu nhân xem món quà trong đó.

Dương phu nhân quay đầu nhìn, tức thì biến sắc – Đó là một mảnh lụa trắng, sạch sẽ y như lúc bà đưa cho Hàn thị.

"Ta chuẩn bị món quà này tặng thím, thím có vừa lòng?"

Công chúa cụp mắt hỏi Dương phu nhân.

Không đợi bà trả lời, công chúa đã nắm lấy một góc mảnh lụa, phất ống tay áo, lụa trắng mở ra trong không trung như cầu vồng, phác nên một đường cong gợn sóng duyên dáng, lại tà tà hạ xuống – mỗi tấc trên mảnh lụa đều trắng tinh, không có bất kỳ một dấu vết nhuốm màu sắc nào khác.

Liếc thấy đầu cuối mảnh lụa trắng quét qua khuôn mặt kinh ngạc của Dương thị, ánh mắt công chúa từ từ ngước lên, nhìn chòng chọc vào mắt bà, gửi đến bà một nụ cười lạnh nhạt tựa như khiêu chiến.

6.

Nạp thiếp

Lẽ đương nhiên, Dương phu nhân không thể chịu đựng được thái độ của nàng dâu với mình, hôm sau lập tức vào cung, cầu kiến đế hậu.

Lương đô giám thấy tình thế không ổn, cũng vào cung theo, mong có thể giải thích được đôi điều thay công chúa dưới lời oán trách phàn nàn của Dương phu nhân.

Ta ở lại phủ đợi tin tức, không khỏi cũng có phần thấp thỏm không yên, không biết Dương thị sẽ nói thế nào về công chúa trước mặt đế hậu.

Lúc sắp hoàng hôn, Lương đô giám và Dương phu nhân đồng thời trở về.

Sắc mặt Dương phu nhân khó coi, chẳng buồn hành lễ buổi tối với công chúa theo nghi chế mà trực tiếp về thẳng phòng mình.

Lương đô giám thì qua tìm ta trước, thuật lại tình hình trong cung.

"Dương phu nhân vào cung vừa đúng lúc quan gia bãi triều trở về.

Khi đó quan gia tay cầm một cuốn tấu chương, ưu tư thất thần, sầu não không vui, Dương phu nhân ân cần hỏi han ngài, ngài cũng không nghe lọt, Dương phu nhân gọi liền mấy tiếng ngài mới có phản ứng, tuy miễn cưỡng cười tươi nhưng dáng vẻ vẫn mặt ủ mày chau, câu đầu tiên mở miệng hỏi Dương phu nhân chính là: 'Công chúa vẫn ổn cả chứ' Thế nên Dương phu nhân đại khái cũng không dám tùy tiện phàn nàn về công chúa, chỉ khúm núm thưa mọi việc vẫn ổn, trong nhà bình an vô sự, bà tới là để tạ ơn đế hậu.

"Nhưng hoàng hậu lại nhìn ra được Dương phu nhân vào cung là có lời muốn nói.

Đợi quan gia đi rồi, bà ôn hòa nói với Dương phu nhân, công chúa nguyên là con gái duy nhất của quan gia, đó giờ vẫn luôn được cha mẹ sủng ái, tính tình so với con gái gia đình bình thường khó tránh khỏi có vài phần hiếu thắng.

Nếu ngôn hành có chỗ nào không thỏa đáng, mong quốc cữu phu nhân gắng thông cảm, sau này bà cũng sẽ bảo ban nhiều hơn, để công chúa thu bớt tính nết, giữ đạo nữ tắc.

Dương phu nhân nghe xong đắn đo chần chừ, muốn nói lại thôi, sau cùng không nói gì.

Hoàng hậu lại ban thưởng tơ lụa châu báu cho bà ấy, còn mời Miêu nương tử qua ngồi với bà ấy một lúc rồi để bà ấy về."

Nghe vậy, ta mới yên lòng, thở phào một hơi.

Lương đô giám không xem nhẹ động tác thả lỏng nhẹ nhõm này của ta, cẩn thận nhìn ta, nói: "Tuy vậy, song công chúa và phò mã là vợ chồng, cứ thế này lâu dài chung quy vẫn không ổn...

Cậu là cận thị của công chúa, cố gắng tìm nhiều cơ hội khuyên nhủ người, nếu đã thành hôn thì vẫn nên nhẫn nại hành đạo phu thê chung sống.

Thường ngày chớ nhắc đến khuyết điểm của phò mã trước mặt công chúa, người có oán thán gì, cậu cũng phải biện giải thay phò mã nhiều nhiều vào.

Vợ chồng chủ tử tuế nguyệt tốt lành mới là có phúc với đám nội thần hầu hạ chúng ta."

Ta im lặng thụ giáo, gật đầu bằng lòng từng câu, nhưng cũng không muốn tiếp tục thảo luận với thầy về vấn đề này.

Lát sau, hỏi thầy một chuyện khác: "Hôm nay quan gia không vui, tiên sinh có biết là do đâu không?"

Lương đô giám nói: "Sau ta có hỏi Đặng đô tri vào triều theo quan gia, ông ấy nói với ta, hôm nay Âu Dương Tu dâng sớ xin hoàng đế chọn con cháu tông thất nhận làm hoàng tử, công khai nói trên triều, trước đây quan gia không có hoàng tử nhưng còn có tình thương của công chúa an ủi thánh nhan, bây giờ công chúa đã xuất giáng, chẳng còn bên người, những bận nhàn rỗi giữa tháng ngày chính sự bận rộn, trong thâm cung còn ai có thể trò chuyện, còn ai có thể san sẻ tâm sự cùng hoàng đế đây?

Chẳng bằng chọn lấy hiền lương trong tông thất, thu làm hoàng tử, cho có người cùng ra cùng vào, vấn an phụng dưỡng, an ủi lòng vua.

Quan gia nghe xong trầm mặc không tỏ thái độ gì, nhưng có vài thần tử hùa theo, đều xin ngài chính thức hạ chiếu chọn lập hoàng tử.

Trước sau quan gia vẫn chưa nhận lời, cũng chẳng còn tâm trạng gì, dọc đường về lại cung, chân mày cứ nhíu suốt."

Sau hôm lại mặt, công chúa thẳng thắn mời Lý Vĩ ra khỏi gác ngủ của công chúa, sang nơi khác ngủ một mình.

Hàn thị lo lắng phò mã không tiếp thu được, sau khi được Lương đô giám ngầm đồng ý đã đặc biệt đi nói với Lý Vĩ, quốc triều có quy định, phò mã cần phải có công chúa tuyên triệu mới có thể ở chung với công chúa.

Lý Vĩ cũng không hỏi nhiều, từ đó về sau phân ra ở riêng với công chúa, mỗi người một gác, mỗi buổi tối dùng bữa cùng công chúa xong đều quay về phòng mình, không quấy rầy đến nàng.

Dương phu nhân xem mà bực mình, thường bóng gió nói trong nhà chẳng giống cưới con dâu gì cả mà giống thỉnh thần linh hơn.

Công chúa cũng không so đo với bà, phớt lờ làm lơ, coi như gió thoảng bên tai.

Cuối cùng, vẫn là Dương thị mất kiên nhẫn, dứt khoát đến trước mặt công chúa thẳng thừng nói muốn nạp thiếp cho con trai: "Trước đây phò mã vốn có hai nàng hầu, nhưng sau tôi sợ công chúa vào cửa rồi không ưng nên bán cả đi.

Nay trong phòng phò mã không ai chăm nom, lộn xộn bừa bãi, chung quy chẳng ra sao.

Công chúa cao quý, tôi vốn chẳng dám lấy chuyện này ra làm phiền công chúa để tâm, muốn tự tìm một đứa a hoàn đặt trong phòng phò mã, làm chút việc phụng dưỡng vẩy nước quét nhà, không biết ý công chúa thế nào?"

Hàn thị trợn mắt: "Công chúa xuất giáng mới được mấy ngày mà phu nhân đã muốn nạp thiếp cho phò mã rồi?"

Công chúa xua tay với bà, ra hiệu bảo bà đừng cãi cọ, lại bình tĩnh chấp thuận yêu cầu của Dương phu nhân: "Tốt thôi.

Thím cứ đi tìm người thích hợp đi, tiền tiêu hằng tháng của nàng hầu tương lai để ta chi cho."

Dương phu nhân thực sự bắt tay vào hành động ngay, tìm kiếm người thích hợp.

Cuối cùng, bà nhìn trúng một thị nữ nuôi lớn từ nhỏ, Xuân Đào mười sáu tuổi.

Xuân Đào dung mạo khả ái, tính cách cũng ngoan ngoãn, nào hay vừa nghe Dương phu nhân nói muốn nạp mình làm thiếp cho phò mã, nó khóc không thành tiếng, quỳ xuống lạy lục cầu xin, nói thế nào cũng không chịu bằng lòng.

Dương phu nhân khuyên nhủ Xuân Đào mấy lần mà không thấy nó hồi tâm chuyển ý, không khỏi nổi nóng, kéo nó tới cạnh gác ngủ của công chúa, công nhiên chỉ dâu mắng hòe: "Mày vào cửa nhà bà, bà cung phụng mày ăn ngon mặc đẹp, lại chẳng ngờ nuôi ra một tổ tông khó ăn khó ở!

Con bà là con trai quốc cữu, huyết mạch hoàng đế còn có mấy phần tương đồng với nó, có chỗ nào không xứng với cái đĩ ngữ mày?

Mày tưởng mình quý hóa lắm đấy hả, mắt mọc trên đỉnh đầu, ai cũng khó lọt mắt xanh tiên nữ nhà mày đúng không!

Mày đã muốn vào nhà bà làm liệt nữ thì bà đây thành toàn cho mày, hôm nay đánh chết mày tại chỗ, ngày mai xin quan gia lập đền thờ cho mày..."

Bà vừa chửi vừa đánh, tiếng roi vun vút, Xuân Đào bị đau khóc thét liên hồi.

Ta nghe mà lòng dạ bứt rứt, đưa mắt nhìn công chúa, vừa gọi một tiếng "Công chúa", nàng đã hiểu ý, phân phó: "Hoài Cát, huynh ra mang Xuân Đào vào đây."

Ta tức khắc ra ngoài, sai người ngăn Dương thị lại, bảo hai thị nữ đỡ Xuân Đào lên, dẫn nó tới trước mặt công chúa.

Xuân Đào nơm nớp lo sợ, quỳ xuống dưới gối công chúa, khẽ giọng thút thít.

Công chúa dịu dàng trấn an, tự mình kiểm tra thương thế cho nó, lại sai người lấy thuốc tốt, hầm đồ bổ, chữa thương cho Xuân Đào.

Xuân Đào cảm kích vô cùng, khấu đầu liền mấy cái với công chúa.

Công chúa nâng nó dậy, mỉm cười: "Cô không muốn làm thiếp phò mã là do e sợ ta đúng không?

Thực ra không cần phải lo lắng đâu, cô hầu hạ phò mã tử tế cũng coi như tận tâm làm việc cho ta, ta sẽ đối xử tốt với cô."

Xuân Đào liều mạng lắc đầu, vẫn khóc lóc không nói.

"Chẳng lẽ cô không bằng lòng không phải vì chuyện này?"

Công chúa ngạc nhiên, thấy Xuân Đào không đáp, nàng rất nhanh có phỏng đoán mới: "Hay là cô ghét bỏ phò mã nên mới không muốn lấy hắn?"

"Không ạ, không ạ!"

Xuân Đào vội vàng phủ nhận, nhỏ giọng thỏ thẻ: "Phò mã hiền lành, đó giờ vẫn luôn rất tốt với nô tì."

Công chúa cười rộ: "Đã vậy, cô lấy hắn có gì không ổn đâu?"

Xuân Đào do dự khôn kể, một mực cúi đầu, lại bắt đầu rơi lệ.

Thấy dáng vẻ nó vậy, công chúa chợt hiểu ra: "Ồ, nhất định là cô có người trong lòng rồi!"

Công chúa bình lui tùy tùng, chỉ chừa lại ta và Hàn thị bên người, một lần nữa mỉm cười nói với Xuân Đào: "Đừng sợ, cô cứ nói ẩn tình với ta, ta nhất định sẽ giúp cô."

Xuân Đào trù trừ hồi lâu, sau nghe Hàn thị khích lệ, rốt cuộc cũng nói ra nguyên do trong này.

Thì ra bữa trước nó về nhà thăm song thân, từng vô tình gặp được anh họ nhà dì, sau mấy lần tiếp xúc, hai người dần nảy sinh tình cảm, tư định chung thân, anh họ cũng bắt đầu buôn bán làm ăn, muốn sớm ngày chuộc thân cho nó, kết mối lương duyên, ai ngờ bây giờ Dương phu nhân lại muốn nó làm thiếp, thế nên nó thà chết không theo.

Công chúa yên lặng lắng nghe, đến cuối, có lẽ là liên tưởng đến chuyện mình quá vãng, trong mắt cũng dâng lên ánh nước.

"Ta sẽ chuộc thân cho cô."

Nàng hứa hẹn với Xuân Đào, "Ta sẽ thực hiện tâm nguyện cho cô, nhất định sẽ cho cô được ra khỏi nhà này, lấy người mình thích."

Sau đó, nàng sai người đi mời Dương phu nhân.

Chẳng bao lâu sau Dương thị vào trong gặp công chúa, đi theo bà còn có phò mã Lý Vĩ.

Công chúa dứt khoát nói thẳng muốn chuộc thân cho Xuân Đào, bảo với Dương phu nhân, bất kể trước kia đã bỏ bao nhiêu tiền mua Xuân Đào, nàng cũng sẽ trả lại cho Dương phu nhân gấp mười.

Dương phu nhân nghe rồi cười lạnh, nói: "Tôi nuôi con bé nó mười năm rồi, mất không biết bao nhiêu tâm huyết dạy dỗ nó, sao có thể dùng tiền tính toán!

Công chúa muốn mua, tôi lại cứ không muốn bán đó.

Bây giờ nó sống là người của tôi, chết là ma của tôi.

Nó không chịu làm thiếp tôi cũng không thả đi, tôi muốn nhìn xem con đĩ con này có ba đầu sáu tay gì mà dám đấu với tôi!"

Công chúa cũng chẳng khách khí, nói thẳng: "Hôm nay mời thím tới không phải là muốn thương lượng với thím.

Ta là chủ nhân phủ này, tất thảy nô tì trong phủ đều do ta xử trí, do ta định đoạt.

Ta đã đồng ý cho Xuân Đào về nhà, bây giờ chỉ thông báo với thím một tiếng thế thôi, ngày mai sẽ thả con bé đi.

Tiền ta đã chuẩn bị xong xuôi rồi, lấy hay không là việc của thím."

Dương phu nhân nổi sùng lên, giọng đáp càng thêm chanh chua: "Tôi mua con bé nó bằng vàng ròng bạc trắng, khế ước bán thân vẫn đang ở chỗ tôi, sao thoắt chốc đã thành người của công chúa rồi?

Công chúa nói phủ đệ của công chúa tôi cũng chịu, lại chẳng ngờ đến một nô tì công chúa cũng muốn cướp của tôi, nói ra không sợ người khác chê cười ư!

Hôm nay tôi nói cho hay, Xuân Đào là người của tôi, công chúa không có quyền làm chủ thay nó.

Công chúa không phục thì cứ đi tìm người phân xử.

Tôi tin có bẩm lên quan gia, ngài cũng sẽ không cảm thấy công chúa có lý."

"Đủ rồi!"

Lý Vĩ vẫn giữ im lặng nãy giờ bất đồ mở miệng, nói với mẫu thân: "Con có nói là muốn nạp thiếp đâu, mẹ ép Xuân Đào làm gì?

Công chúa muốn thả nó đi thì để nó đi đi, có gì hay mà tranh chấp?"

Dương phu nhân sửng sốt quá đỗi, mất một lúc mới lấy lại được tinh thần, tức thì quở mắng con trai: "Bà đây tốn tâm tốn sức thế làm gì?

Còn không phải là vì cái thằng đốn mạt nhà mày sao!

Giờ mày giỏi lắm, cưới vợ quên mẹ, răm rắp nghe nó, cũng chẳng thèm nghĩ xem người ta có để mày vào mắt không..."

Lý Vĩ không muốn nghe bà càm ràm, đứng dậy đi tuốt ra ngoài, Dương thị còn chưa nguôi giận, một đường đuổi theo, vừa đi vừa nạt Lý Vĩ, thỉnh thoảng còn tát hắn mấy cái, tiếp tục liến thoắng mắng chửi.

Ta và công chúa đều tưởng là Dương thị không chịu thả người, sẽ gây trở ngại chuyện Xuân Đào chuộc thân, nhưng kết quả lại nằm ngoài dự đoán của chúng ta.

Đến bữa tối, Lý Vĩ tới muộn hơn thường ngày một lát, cũng có vẻ hơi mệt mỏi.

Thấy công chúa, hắn lấy một cuộn giấy trong tay áo ra đưa cho nàng, lúng ta lúng túng: "Đây, là khế ước bán thân của Xuân Đào."

7.

Mực cổ

Ngày kế, Xuân Đào nhận khế ước bán thân công chúa hoàn trả, trở về bên cha mẹ.

Trước khi đi có đến bái biệt công chúa, công chúa sai người lấy một trăm xâu tiền cho nó, còn dặn dò nếu sau này gặp chuyện gì khó khăn, đừng ngại quay lại nhờ cậy, nàng ắt sẽ giúp đỡ.

Xuân Đào tất nhiên cảm kích vô cùng, rưng rưng quỳ xuống khấu đầu, liên tục tỏ lòng biết ơn.

Công chúa đỡ nó dậy, cười nói: "Không cần phải cảm ơn ta.

Chứng kiến bản thân có thể thúc đẩy một mối duyên lành, có khi ta còn vui sướng hơn cô đấy."

Chuyện này giúp nàng duy trì tâm trạng tốt suốt cả ngày, đây là lần đầu tiên sau khi xuất giáng, nàng tươi cười vui vẻ đến vậy.

Buổi chiều, nàng triệu tập thị nữ mình mang từ trong cung theo đến trước mặt, nói với họ: "Các em hầu hạ ta nhiều năm, bây giờ đều đến tuổi xuất giá cả rồi, nếu có ý trung nhân thì cứ nói cho ta biết, ta sẽ thả các em về nhà lấy chồng, cũng cho các em một khoản hồi môn không bạc."

Bọn thị nữ rối rít tạ ơn, nhưng tạm thời chưa có ai xin về nhà.

Công chúa hỏi lại lần nữa, cũng chỉ có Hương Duyên Tử đứng ra, ấp úng thưa: "Nô tì không có ý trung nhân, nhưng cha mẹ trong nhà tuổi tác đã cao, nô tì lại không có anh em, chị gái đều đã xuất giá, thế nên..."

Công chúa tỏ tường, không đợi con bé nói xong đã nói: "Được, vậy em về nhà đi.

Ta ban thưởng em thêm chút tiền, tạo điều kiện cho em mua vài thửa ruộng hoặc mở hàng buôn bán, sau này kén lấy một tấm chồng ở rể, phụng dưỡng cha mẹ cùng em."

Hương Duyên Tử cả mừng, tạ ân không ngớt.

Sau đó lại có hai cô bé tỏ ý muốn về nhà, công chúa cũng đồng ý thả người, thưởng hậu tiền của.

Đợi đến lúc không còn ai bày tỏ thái độ, công chúa một lần nữa xác nhận ý muốn trả tự do cho họ, cũng hứa với họ một cam kết dài hạn: "Bất cứ lúc nào, chỉ cần các em tìm được người thích hợp, hoặc là nhớ cha mẹ muốn về nhà, đều có thể nói với ta, ta sẽ lập tức thả các em đi."

Chúng thị nữ đều mừng rỡ khôn xiết, cùng nhau bái tạ, hết lời ca tụng công chúa nhân ái.

Đợi họ lui xuống rồi, ta cười mỉm hỏi công chúa: "Công chúa thả hết chúng nó đi rồi, sau này còn ai hầu hạ công chúa đây?"

"Không phải vẫn còn huynh à?"

Công chúa làm bộ nguýt ta, sau đó lại buồn bã thở dài: "Ta hi vọng mỗi người trong số họ đều có thể tìm được lang quân như ý, tương lai rời khỏi phủ công chúa, giúp chồng dạy con, sống đời vui vẻ, đừng như ta, bị vây hãm cả đời ở đây, không thoát thân được."

Chẳng ngờ niềm vui hôm nay của nàng lại kết thúc bằng chủ đề về khốn cảnh này, nụ cười của ta cũng đông cứng lại theo đó.

"Nhưng huynh chẳng tốt số được như họ đâu."

Thấy ta lặng thinh không nói gì, nàng vờ tỏ ra thoải mái, dùng giọng vui đùa, trêu: "Ta còn lâu mới thả huynh đi.

Ta mà bị nhốt ở đây cả đời thì huynh cũng phải ở đây với ta cả đời!"

Câu nói như cơn gió xuân thơm ngát, thổi vào lòng ta hơi ấm lan tỏa như sóng gợn.

Ta chắp tay xá nàng một vái dài, nói: "Thần lĩnh chỉ tạ ân."

Sau khi xuất giáng, thời gian công chúa cần ta bầu bạn nhiều hơn hẳn so với trước đây.

Lúc còn trong cung, mỗi ngày nàng đều phải đi vấn an cha mẹ, hầu hạ dưới gối, bản thân cũng có rất nhiều bạn nữ, tỷ như nhóm con gái nuôi của chư hậu phi hay những tần ngự còn trẻ tầm tầm tuổi nàng như Thu Hòa, giao du với họ cũng đủ để lấp đầy khoảng trống rỗi rảnh nơi khuê phòng của nàng.

Mà nay, nàng thân là nữ chủ nhân cao quý nhất trong phủ công chúa, không cần đảm nhận nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ chồng, huống hồ sau vụ việc Xuân Đào, Dương thị càng thêm không vừa mắt nàng, lảng tránh nàng khắp nơi khắp chốn, ngoài những lúc vấn an theo lệ và gia yến ra thì tuyệt không chủ động đến nói chuyện với nàng, anh em phò mã đều có dinh riêng, giữa chị em dâu cũng không qua lại thường xuyên, thế nên công chúa khá cô quạnh, ngoại trừ luyện không hầu thì cũng chỉ có thể mượn thú vui thưởng ngoạn giết thời gian, mà những lúc ấy, thông thường đều yêu cầu ta làm bạn bên mình.

Cảm giác xa lạ ban đầu đối với hoàn cảnh từ từ biến mất, hai ta dần thích ứng với cuộc sống hoàn toàn mới này, gảy đàn thổi sáo, đánh cờ đấu trà hoặc ngâm thơ điền từ trong tình huống ít ai quấy nhiễu, thi thoảng ta cũng sẽ chỉ điểm nàng viết chữ vẽ tranh.

Hiện giờ đối với bút nghiên đan thanh, biểu hiện của nàng kiên nhẫn hơn hẳn thuở thiếu thời, không còn qua quýt nguệch ngoạc được hai nét đã muốn chạy ra ngoài chơi nữa, để hoàn thành một tác phẩm hài lòng, nàng có thể khóa mình trong thư phòng luyện cả ngày.

Ta kinh ngạc trước thay đổi của nàng, hỏi: "Trước đây không phải công chúa nói luyện thư họa quá phí thời gian, chỉ có lão đồ gàn mới làm thế thôi sao?"

Nàng trả lời: "Đúng vậy.

Nhưng huynh thấy rồi đấy, ta có quá nhiều thời gian, vả lại, người cũng già rồi."

Tuy không sống chung song Lý Vĩ đến thăm công chúa khá thường xuyên, nhưng hai người nói chuyện với nhau rất ít, kể cả khi dùng bữa, Lý Vĩ cũng chỉ có thể tìm được vài câu vô thưởng vô phạt hỏi han công chúa, tỷ như món này món kia có hợp khẩu vị nàng không.

Công chúa thường thuận miệng đáp qua loa lấy lệ, song mỗi câu nàng nói Lý Vĩ đều dụng tâm nhớ kỹ.

Có lần công chúa chẳng qua chỉ bảo một câu rượu ngâm Giang Nam mùi vị không tệ, nhưng trong cung đã hết hàng tồn, hôm sau, trên mâm cơm của nàng đã có ngay một âu rượu ngâm Giang Nam, cũng chẳng biết Lý Vĩ tìm được từ đâu.

Vì muốn lấy lòng công chúa, hắn thể hiện vô vàn thành ý, nhưng nhiều khi lại đâm biến khéo thành vụng.

Hôm ấy tâm trạng công chúa không tốt, ở lì trong gác không ra cửa, Lý Vĩ vào vấn an, dè dặt kiến nghị nàng ra vườn hoa giải sầu, công chúa biếng nhác đáp: "Cái vườn chỉ to có chừng đấy, góc nào cũng đi cả rồi, có gì xem nữa đâu?"

Lỹ Vĩ nghĩ ngợi rồi nói: "Hôm trước ta đi Nghi Xuân Uyển, thấy cạnh đó có một mảnh đất hoang lớn, to phải hơn gấp ba cái vườn nhà mình.

Để chốc nữa ta hỏi thăm xem mảnh đất ấy của ai, mua đứt về rồi xây một vườn hoa có đình đài lầu tạ cho công chúa dạo chơi."

Công chúa từ chối: "Thôi, đợt trước xây phủ công chúa này đã tốn bao nhiêu chi phí công sức rồi, muốn làm vườn to hơn gấp ba, mua đất cất lầu đều sẽ phải bỏ ra rất nhiều tiền, hao tài tốn của, tiết kiệm đi thì hơn."

"Không ngại," Lý Vĩ lập tức tiếp lời, "Ta không thiếu khoản tiền này."

Có thể hắn không có ý gì, nhưng đến ta nghe câu này còn thấy chói tai nữa là công chúa.

Công chúa hơi nhíu mày, nhìn chòng chọc hắn một lát, sau cùng hờ hững buông lời: "Được, anh tự xem mà làm đi."

Lý Vĩ tựa hồ vẫn chưa ý thức được công chúa không thích mình ở điểm nào, vẫn liên tiếp lấy tiền của mà mình không thiếu nhất ra dâng tặng công chúa.

Thấy công chúa hay luyện bút nghiên, rất nhanh lại đưa một bộ dụng cụ thư phòng tới: nghiên mực mã não, bút cán ngà, tráp đựng nghiên bằng vàng và chặn giấy ngọc.

"Thật đúng là chỉ hận không thể lấy vàng lấy bạc ra làm mực."

Nhìn đống quà tặng lấp lánh lóa mắt, công chúa nhận xét, có phần khinh thường.

Không lâu sau, Lý Vĩ lại tặng một thỏi mực danh tiếng cho công chúa, tuy không phải bằng bạc vàng nhưng cũng tương tự những lần trước, chẳng thoát được kiếp biến khéo thành vụng.

Ngày đông chí, như thường lệ, thiên tử sẽ nhận bách quan chầu mừng, tất thảy quan viên có quan hàm trong kinh đều phải mặc triều phục đội mão tua vào cung tham gia triều hội, trang trọng như đại lễ tế tự, nghi thức này gọi là "bài đông trượng".

Sau khi bài đông trượng kết thúc, hoàng đế sẽ mở tiệc chiêu đãi quần thần, đồng thời ban thưởng cho họ quà các áo mới.

Phò mã đô úy Lý Vĩ cũng vào cung tham gia triều hội, tiệc rượu vừa tan, hắn đã hào hứng chạy về dự gia yến, bước chân vào cửa liền lập tức lấy một thỏi mực Đình Khuê ra dâng lên công chúa bằng cả hai tay: "Công chúa, đây là lễ thưởng quan gia ban hôm nay.

Ta vốn muốn tìm một thỏi mực cổ cho công chúa từ trước nhưng mãi vẫn không tìm được thỏi nào thích hợp, bây giờ vừa may có cái bù vào."

Lý Đình Khuê đất Hấp Châu là danh gia làm mực đời Nam Đường, mực ông làm có thể vót gỗ, rơi xuống mương một tháng cũng không hỏng, lại có hương thơm độc đáo, luôn được sĩ phu tôn sùng, hơn nữa mực Lý do Lý Đình Khuê tự tay chế tạo càng ngày càng hiếm, trong cung cũng chẳng còn tồn bao nhiêu, người đời ai cũng coi được ban thưởng mực Đình Khuê làm vinh.

Thỏi Lý Vĩ dâng tặng hiện giờ có hình sống lưng đôi rồng, trên thân khắc hai chữ "Đình Khuê", quả đúng là vật báu Lý Đình Khuê tiến cống năm xưa.

Công chúa nhận lấy xem, từ chối cho ý kiến, chỉ hỏi Lý Vĩ: "Cha thật sự ban cho anh thỏi này?"

"Cũng không phải."

Lý Vĩ thành thật trả lời: "Vốn quan gia ban thưởng cho ta thỏi khác, xem tên khắc trên thân thì cũng là do một người họ Lý chế tạo, tên là 'Lý Siêu', đại khái là hậu nhân của Lý Đình Khuê..."

"Ồ," Công chúa mặt không biến sắc hỏi tiếp: "Thế sao anh lại cầm mực Đình Khuê về?"

"Sau, ta phát hiện ra các học sĩ bên cạnh đều được ban mực Đình Khuê, chắc là mực Đình Khuê còn lại không bao nhiêu, quan gia trước nay vẫn luôn kính trọng văn sĩ nên ban cho các học sĩ."

Lý Vĩ giải thích: "Ta mượn thỏi mực Đình Khuê của Thái Quân Mô Thái học sĩ ngồi cạnh xem thử, đại khái y thấy ta thích nên chủ động đề xuất trao đổi với ta..."

Công chúa không khỏi cười nhạt: "Thế nên anh đổi mực Lý Siêu lấy mực Đình Khuê?"

Lý Vĩ gật đầu, không quên tán thưởng Thái Tương: "Thái học sĩ bằng lòng buông tay món đồ yêu thích, thật đúng là hào phóng.

Đương nhiên, ta không thể nhận không nhân tình của y vậy được, về sau ắt sẽ chuẩn bị chút lễ vật tặng y."

Công chúa cạn lời, đặt thỏi mực Đình Khuê lên bàn, đẩy trả về trước mặt Lý Vĩ rồi đứng dậy, yên lặng rời đi.

Phản ứng của nàng tất nhiên không nằm trong dự liệu của Lý Vĩ, điều này làm hắn lúng túng hoang mang, đứng lên trân trân nhìn công chúa đi xa rồi mới quay lại ngó ta, bất an hỏi: "Lương tiên sinh, có phải ta nói sai điều gì rồi không?"

Ta đắn đo một hồi, cuối cùng vẫn quyết định nói cho hắn biết chân tướng: "Đô úy, Lý Siêu là phụ thân Lý Đình Khuê."

Lý Vĩ sửng sốt, ngây ra như phỗng.

Mà Dương phu nhân đó giờ vẫn bàng quan lúc này lại có hứng thú với mực cổ, cất tiếng hỏi ta: "Lương tiên sinh, thế mực của Lý Siêu chế tạo đắt hơn hay của con ông ta chế tạo đắt hơn?"

Ta trả lời: "Người đời thích cất giữ mực cổ, tinh phẩm của các thế gia làm mực, niên đại càng lâu đời thì số lượng còn lại càng thưa thớt, càng đắt giá hơn."

Dương phu nhân nhất thời nổi cơn tam bành, dí trán con trai mắng: "Cái thằng phá gia chi tử này, ai lại cầm đồ tốt đi đổi hàng rẻ tiền thế chứ!

Không biết làm ăn như vậy thì của cải có nhiều nữa cũng đến ngày bị mày phá sạch mất thôi, bảo sao công chúa chướng mắt mày!"

8.

Thư họa

Trước mồng một Tết hằng năm, đế hậu sẽ thưởng lễ tân niên cho tôn thất ngoại thích, cuối năm nay, công chúa đã sớm dặn ta, phải chuẩn bị cẩn thận, ra ngoài lựa mua một vài món đồ thưởng ngoạn tao nhã trong cung không có để hoàn lễ.

Dương phu nhân biết được việc này, sang nói với công chúa: "Lễ vật công chúa và phò mã tặng vào cung là đưa chung, không bằng giao cho phò mã sắm.

Sau khi đón công chúa về, nó còn chưa có cơ hội nào tỏ lòng hiếu kính với quan gia và nương nương, bây giờ để nó tự mình chuẩn bị lễ hậu cũng là điều nên làm."

Công chúa nói: "Trước đây Hoài Cát ở trong cung thường xuyên theo hầu đế hậu, biết rất rõ sở thích của họ, để huynh ấy chọn lễ vật thích hợp hơn."

Dương phu nhân không vui: "Phò mã là con rể quan gia, lẽ nào mắt chọn quà lại không bằng kẻ dưới?

Những năm qua nó chuẩn bị quà biếu thay mặt phủ quốc cữu cũng đã nhiều lần, có lần nào quan gia không thích đâu."

Thấy công chúa hoàn toàn biến sắc, ta lập tức giành trước mở miệng: "Quốc cữu phu nhân nói có lý, lễ vật do phò mã tự mình chọn mua có thể thể hiện được lòng hiếu kính của công chúa và phò mã, quan gia trông thấy sẽ yêu thích hơn."

Lương đô giám bên cạnh cũng tán thành khen phải, cố gắng khuyên công chúa chấp thuận kiến nghi của Dương phu nhân, cuối cùng, công chúa đành phải bằng lòng.

Thái độ của Lý Vĩ khiêm tốn hơn mẹ hắn, trước khi ra cửa chọn mua, hắn tới trưng cầu ý kiến của ta, hỏi mua loại quà gì thì hợp.

Ta nói với hắn: "Trong cung không thiếu kỳ trân dị bảo, đế hậu thường ngày chủ trương tiết kiệm, không thích đồ vật xa hoa nhưng đều rất thích bút nghiên đan thanh.

Nếu đô úy có thể dâng biếu vài tác phẩm tinh hoa thư họa, ắt hẳn họ sẽ rất vui lòng."

Lý Vĩ theo lời đi mua, hơn mười ngày sau, mang về sáu bức thư họa, giao cho ta và công chúa xem.

Ta mở từng bức ra nhìn, sau đó im lặng đưa cho công chúa, công chúa xem bức thiếp chữ của Vương Hi Chi đắt giá nhất trong đó trước, nghiền ngẫm đôi chốc, bỗng khẽ nhíu mày, đánh mắt lườm Lý Vĩ.

Lý Vĩ cả kinh, hoảng sợ nhìn sang ta như đang hỏi: "Chữ này có vấn đề gì à?"

Ta mỉm cười thân thiện với hắn, nói: "Đô úy vất vả rồi, quay về nghỉ sớm đi ạ.

Những chuyện vụn vặt còn lại cứ để Hoài Cát lo liệu cho."

Đợi hắn đi rồi, công chúa ném bức thiếp trong tay xuống, giận dữ ra mặt: "Con thỏ ngốc này lại ném tiền qua cửa sổ rồi, bỏ một đống tiền ra mua một bức mô phỏng về."

Khi ấy Bạch Mậu Tiên cũng ở bên hầu hạ, nghe vậy nhặt bức thiếp chữ lên tỉ mỉ đánh giá, sau đó thỉnh giáo công chúa: "Sao công chúa xác định được là bản mô phỏng ạ?"

Công chúa đáp: "Khi còn trẻ Vương Hữu Quân viết chữ đa phần dùng giấy tím, trung niên trở đi thì thường dùng giấy nhám, sau dùng giấy do Trương Vĩnh Nghĩa chế tạo.

Bức thiếp này tuy đã được dày công làm cũ nhưng vẫn nhìn ra được là giấy trúc quết sáp.

Đến quốc triều, kẻ sĩ mới dùng giấy trúc viết chữ, người thời Tấn đâu đã dùng giấy trúc, chắc chắn là hàng giả."

Đoạn, nàng hỏi ta: "Mấy cuốn còn lại cũng là giả?"

Ta rút hai cuốn trong số thư họa Lý Vĩ mang tới đưa cho công chúa.

Công chúa xem tranh tố nữ thượng uyển mang danh nghĩa là của Trương Huyên trước, suy xét chốc lát, nhìn ra sơ hở trong đó.

"Chất liệu và hoa văn trên váy nữ tử này xem chừng là lụa hoa hồ sen, đây là loại vải quốc triều mới có."

Nàng chỉ vào người trong tranh.

Ta gật đầu, lại chỉ vào một nhân vật mang dáng dấp nội thần, nói: "Trương Huyên sống vào thời Đường Huyền Tông, nội thần thời ấy đội khăn chít đầu dạng tròn, mà người trong tranh này lại đội khăn vấn sa màu, kiểu ấy đến cuối thời Đường mới xuất hiện."

Bạch Mậu Tiên cũng nhẹ nhàng lại gần xem bức họa: "Lương tiên sinh từng nói về Trương Huyên với thần, kể rằng ông ấy vẽ nữ tử hay thoa một lớp hồng phớt lên tai họ, vả lại sở trường của ông ấy là vẽ trẻ con, vừa phác được nét thơ ngây vừa họa được thần thái sống động.

Nhưng bức tranh này lại chẳng có hai đặc điểm đó, đứa bé thị nữ ôm bế trong lòng mắt mày già giặn, chẳng khác nào mặt mũi người trưởng thành thu nhỏ..."

Ta liếc thằng bé, nó lập tức cúi đầu im bặt, công chúa trông thấy, bảo ta: "Lời Tiểu Bạch nói có sai đâu, huynh ngăn nó nói hết làm gì?

Tranh này đúng thật là người đời sau giả danh ngụy tạo, đến Tiểu Bạch cũng nhìn ra được mà Lý Vĩ vẫn hồ đồ không soi ra."

Nàng thở dài xua tay, mở một bức khác nghe đâu là "Độc bi khoa thạch đồ" của danh họa Lý Thành nổi tiếng vẽ tranh sơn thủy thời Ngũ Đại ra, lần này trầm ngâm một lúc lâu vẫn chưa phát hiện ra khả nghi chỗ nào, bèn hỏi ta: "Tranh này cảnh sắc âm u, cấu tứ phóng khoáng, nét bút mảnh nhẹ, vẽ cây đá phác trước tô sau, trong trẻo lưu loát, phong nhã thanh tao, đích xác là bút pháp của Lý Thành.

Thuốc màu dùng để vẽ tranh lụa cũng không có gì khác thường.

Làm thế nào mà huynh nhìn ra được là hàng giả thế?"

Ta đáp: "Người mô phỏng làm giả bức họa này hiển nhiên kính nghiệp hơn hẳn hai người trước, mô phỏng y như đúc, đến con dấu danh tính trên tranh cũng làm giả được.

Nhưng chính bởi quá kính nghiệp nên đã giữ đúng nguyên tắc đứng đầu của cao thủ ngụy tạo: cố ý để lại một chỗ sơ hở trong bản mô phỏng để người xem có thể phân biệt được.

Sơ hở trong bức họa này nằm trên bia đá.

Bề mặt bia đá trong nguyên tác có một hàng chữ nhỏ có thể loáng thoáng đọc ra, viết 'Vương Hiểu nhân vật, Lý Thành thụ thạch', đó chính là ký hiệu của Lý Thành, thuyết minh rằng nhân vật trong bức họa là nhờ bạn mình Vương Hiểu vẽ.

Mà bức tranh này thì lại không có hàng chữ ấy, thế nên thần kết luận là mô phỏng."

"Nhưng sao huynh biết bản gốc có hàng chữ ấy?"

Công chúa truy vấn.

Ta nói nàng hay duyên cớ: "Mấy năm trước, Bùi thừa chế sưu tầm được từ dân gian bản gốc của bức tranh này, đã cất vào Bí các, thần cũng từng trông thấy."

Hôm sau, ta dẫn Bạch Mậu Tiên rời phủ công chúa, đi thẳng tới nhà Thôi Bạch.

Hiện giờ, Thôi Bạch đã là họa sĩ tiếng tăm vang khắp kinh sư, rất được sĩ phu tán thưởng, thường qua lại tụ tập hội nhã cùng văn nhân mặc khách, chỗ ở của gã cũng chuyển từ con ngõ chật hẹp khi xưa sang chốn giai cảnh gần chùa Tướng Quốc.

Ta tìm đến dinh họ Thôi qua sự chỉ dẫn của người đi đường, sau mấy cái gõ cửa, cửa nhà kẽo kẹt mở, một đứa bé chừng hơn mười tuổi thò đầu từ trong ra, mắt đảo tròn đánh giá ta, lại chẳng nói tiếng nào.

"Nguyên Du, khách tới là ai?"

Ta nghe thấy tiếng Thôi Bạch vọng từ trong ra.

Ta bèn tự báo danh tính cho đứa bé kia, nhờ nó truyền báo thay mình.

Đứa bé gật đầu, chạy về, lát sau, Thôi Bạch đích thân ra đón, tươi cười xá dài với ta, liên thanh chào hỏi: "Đã lâu không gặp, Hoài Cát vẫn khỏe chứ?"

Sau hồi hàn huyên, gã dẫn ta vào, ta bận lòng việc mua tranh, vừa đi giản lược tự thuật nguyên do cho Thôi Bạch hay, hỏi gã có bằng lòng chọn vài tân tác cho ta dâng lên đế hậu không.

Nghe xong, gã cười bảo: "Tôi vốn là người bị gạt bỏ khỏi Họa viện, sao dám trình mấy bức thô thiển này lên dâng cung ngự thưởng thức?

Cơ mà kể cũng khéo thay, tôi đang uống trà thưởng họa, so tài đàm đạo cùng hai vị bằng hữu trong vườn, họa kỹ của họ đều không tục, cũng có tân tác ở đây, cậu đi xem xem, có bức nào hợp thì xin họ vài cuộn."

Đang định hỏi lại gã hai vị bằng hữu ấy là ai, hành lang trước mắt đã quẹo ngoặt, gã dẫn ta vào sân vườn sau nhà.

Diện tích sân sau không lớn, nhưng bên trong trồng tùng trúc ngô đồng, ở giữa đào mương dựng cầu, thoáng đãng thanh vắng, đi mà như lạc vào trong tranh.

Bên cầu có một tòa đình nghỉ chân cất bằng tre trúc, bằng hữu Thôi Bạch đều ở trong đó, một vị tuổi ngoài năm mươi, đầu chít khăn dáng cao, thân bận áo giao lĩnh, đang vén tay áo, nhấc bút điểm tô cuộn tranh trên bàn, một vị khác xấp xỉ Thôi Bạch, tuổi chừng ba mươi, đầu chít khăn cao sĩ, thân bận áo tay rộng, ngồi bên bếp lò như đang đợi tiếng ấm đun sôi để rót nước hãm trà.

Thôi Bạch dẫn ta vào đình, giới thiệu ta với hai người kia trước, họ đều đi qua chào.

Ta hỏi Thôi Bạch xưng hô với hai vị tiên sinh ra sao, gã cười không đáp, chỉ nói: "Cậu xem đại tác phẩm của hai vị tiên sinh đi đã."

Ta dời gót tới bên bàn, xem tác phẩm vẽ dở của vị tiên sinh vừa mới chấp bút.

Y vẽ một cội mẫu đơn, hoa không dùng bút phác mà lấy bột chu sa tô thành, kiều diễm tươi tắn, lại không mang khí khái bút mực, rất khác phép vẽ phác đắp màu của phái Hoàng thị thịnh hành trong họa viện.

Ta có ngay đáp án: "Họa hoa điểu không xương, mang phong vận cổ xưa, lại có sắc thái mới, tiên sinh hẳn là Sùng Tự tiên sinh, trưởng tôn Kim Lăng Từ thị."

Kim Lăng Từ thị chỉ họa gia hoa điểu Từ Hi thời Nam Đường, Thôi Bạch vẫn luôn yêu thích phong cách tự do thanh nhàn của ông.

Con cháu Từ Hi đều thiện tài đan thanh, trong đó có trưởng tôn Sùng Tự vẽ hoa cỏ theo "lối không xương", kết hợp phong vận còn sót lại của tổ tiên với khí chất sang quý của Hoàng thị, đem lại sáng tạo mới cho giới hội họa quốc triều.

Ta đoán không sai, vị tiên sinh kia mỉm cười khom người: "Hổ thẹn quá, chính là Từ Sùng Tự bất tài tôi đây."

Thôi Bạch lại cho ta xem một bức sơn thủy treo trên vách, nói đó là tác phẩm của vị tiên sinh còn lại.

Ta ngắm nghía tỉ mỉ, chỉ thấy nét bút y khéo léo phong phú, mang chút âm hưởng của Lý Thành, vẽ non nước bốn mùa, gần xa, sâu cạn, mưa gió, sáng tối, sớm chiều mỗi cảnh một vẻ, núi non thanh tú, mây khói bảng lảng, ẩn trong sương là muôn hình vạn trạng, bút pháp bố trí rất độc đáo.

Ta ngẫm ngợi đôi chốc, cũng phỏng đoán được đại khái: "Cảnh núi bốn mùa dưới ngòi bút tiên sinh khôn cùng kỳ diệu, non xuân tươi tắn như đang cười, non hạ xanh biếc như giọt nước, non thu trong vắt như điểm trang, non đông tiêu điều như thiếp ngủ, bút lực bậc này ắt phải là Hà Dương Quách Hi."

Ta tiếp tục đoán trúng.

Quách Hi trợn tròn mắt, vô cùng kinh ngạc: "Tôi là phường áo vải quần đay, cư trú ở quận ngoài đã lâu, lại chẳng có xuất thân thế gia, tiếng lành đồn xa như Từ tiên sinh, sao trung quý nhân biết được tính danh kẻ hèn này?"

Ta ngậm cười đáp: "Mười năm trước, Tử Tây từng ca ngợi tiên sinh bút ý tinh tuyệt với tôi, mấy năm gần đây, một người bạn cũ ở Họa viện cũng đề cập đến mấy lần, trước đây tôi cũng từng có may mắn được thưởng thức danh tác của tiên sinh."

Nửa ngày còn lại của hôm ấy trôi qua trong sự tiếp đãi nồng hậu của ba vị họa gia.

Ngoài đình nước chảy lững lờ dưới kẽ đá, gió trúc vờn nuốt lẫn nhau, trong phòng khói bếp vấn vương, rèm quyện hương mực, bọn ta thưởng trà bình họa, nói cười vui vẻ, đến Tiểu Bạch và đứa bé tên Nguyên Du cũng vừa gặp đã thân, hai đứa nhỏ ngồi bên bờ nước, Nguyên Du tay nắm cành cây, lúc lúc lại vạch lên mặt đất, dạy Tiểu Bạch vẽ quạ trên cây.

Giữa chừng, ta trình bày ý định tới thăm, hai vị tiên sinh Từ, Quách mỗi người lấy ra vài tác phẩm mới, hào phóng đưa tặng, tất nhiên ta không chịu nhận không khoản đại lễ này, lệnh Tiểu Bạch lấy tiền bạc đưa họ, họ từ chối mấy lượt, thấy ta khăng khăng mới bằng lòng nhận về dăm đồng.

"Tử Tây thật sự không chịu tặng tôi bức tân tác nào đấy à?"

Ta hỏi Thôi Bạch.

Gã cười cười, gọi Nguyên Du lại, nhỏ giọng dặn mấy câu, thằng bé chạy đi như muốn lấy vật gì.

Đứa nhỏ này lanh lợi thật.

Ta nhìn bóng lưng nó mỉm cười, lại hỏi Thôi Bạch: "Đây là lệnh lang?"

Thôi Bạch phá ra cười, nói: "Nguyên Du họ Ngô, là học trò tôi."

Sau đó, nụ cười gã phai nhạt, bổ sung: "Tôi vẫn chưa lấy vợ."

Ta cụp mắt lặng thinh, mang biểu cảm lễ độ hòa nhã lẳng lặng nghe Từ Sùng Tự và Quách Hi cười trêu Thôi Bạch tầm mắt quá cao, thiên hạ trăm ngàn má hồng hiền đức mà gã chẳng coi trọng được một ai đón về làm vợ.

Lát sau, Nguyên Du mang một cuộn tranh tới, đưa cho ta bằng cả hai tay.

Ta mở ra xem, thấy tranh vẽ phong cảnh sông thu, một con nhạn cô độc đứng bên bờ nước thưa thớt lau sậy, ngẩng đầu trông về phương xa, sắc thái tịch liêu.

Xế chiều, ta cáo từ nhóm Thôi Bạch, họ ra sức giữ lại, nói hiếm khi gặp được người hợp ý như vậy, không bằng ở lại một đêm, khuya nay bốn người nâng cốc tâm tình, ngày mai lại về cũng không muộn.

Đúng lúc này, chùa Tướng Quốc gần đó văng vẳng tiếng trống chiều, ta nghĩ đến một chuyện, chợt nảy ý khác, bèn gật đầu bằng lòng.

Sáng sớm hôm sau, ta vừa về tới trước cổng phủ công chúa đã thấy Trương Thừa Chiếu và Gia Khánh Tử song song ra nghênh, đồng thanh nói: "Cảm tạ trời đất, cậu về rồi!"

Ta kinh ngạc: "Hai người chờ tôi ở đây suốt đêm à?

Xảy ra chuyện gì thế?"

Trương Thừa Chiếu vừa dắt ngựa cho ta, vừa kể: "Sau khi cậu đi, phò mã hẹn mấy người bạn chơi bóng trong sân gõ viên sau vườn.

Bên sân đó vốn là lầu nghỉ của công chúa, công chúa nghe tiếng, bèn ra lan can xem thử.

Trong đám bạn của phò mã có một gã đại khái đoán được bóng người sau rèm trên lầu là công chúa, nảy ý cợt nhả, cố tình phát lực đánh bóng vào một cuộn rèm trúc bên cạnh công chúa.

Công chúa nổi giận, lập tức sai vài tiểu hoàng môn xuống dưới đuổi hết bạn bè phò mã đi.

Phò mã ngẩn người đứng trong sân hồi lâu, không nhiều lời câu nào, nhưng quốc cữu phu nhân nghe được chuyện này lại không vui, chạy tới chỉ vào mặt bọn tiểu hoàng môn nhiếc mắng, văng tục chửi bậy, giọng lại to, công chúa nghe tức đến rơi lệ.

Tôi vốn định dẫn mấy người xuống dưới đáp trả quốc cữu phu nhân vài câu, lại bị Lương đô giám quát ngưng, bảo tôi đừng sinh sự.

Tôi đành nghe lệnh, nhưng cứ để thế sao công chúa nguôi giận cho được.

Sau đó người ngồi trên lầu hờn dỗi cả ngày, mà cậu thì mãi không về, người chờ đến nửa đêm, lại lo cậu gặp chuyện không may, phái rất nhiều người ra ngoài tìm kiếm, bản thân thì càng chờ càng cuống, nhịn không được khóc nức..."

Ta lập tức tăng tốc độ, hỏi: "Công chúa giờ đang ở đâu?"

Gia Khánh Tử đáp: "Trong sảnh gác ngủ ạ, thức trắng một đêm, bây giờ hãy còn đang đợi tiên sinh đấy."

Lúc trông thấy công chúa, nàng quả thực hốc hác võ vàng, hai mắt sưng đỏ như trái đào, làn da xám xịt thiếu ánh sáng, đầu vẫn để kiểu tóc hôm qua, giờ đã có vài sợi bung xõa.

Thấy ta tiến vào, ánh mắt nàng chớp lóe, vô thức đứng dậy, song sắc mặt thoắt sa sầm, quở ta: "Đã có chỗ tiêu dao bên ngoài thì còn về làm gì?" lại nhìn tả hữu, ra lệnh: "Lôi hắn ra đánh chục hèo cho ta!"

Nội thần thị nữ chung quanh đều trộm cười, không ai bước lên lôi ta ra ngoài.

Ta tủm tỉm lại gần, tay nâng một bọc giấy đưa tới trước mặt nàng.

Nàng cáu kỉnh nghiêng đầu, nhưng hẳn là đã ngửi thấy hương vị tỏa ra từ đó, do dự đôi lát, cuối cùng vẫn hỏi ta: "Cái gì đây?"

"Thịt lợn nướng của vị đại hòa thượng viện Thiêu Chu chùa Tướng Quốc đó ạ."

Quả nhiên gợi lên được lòng hiếu kỳ của nàng, nàng cụp mắt nhìn.

Ta vừa mở gói đồ, vừa giải thích: "Chỗ thần tìm mua tranh ở ngay cạnh chùa Tướng Quốc.

Bàn bạc xong xuôi rồi thì sắc trời đã tối, thần nhớ ngày trước công chúa từng nhắc đến thịt nướng viện Thiêu Chu, nảy ra ý định đợi đến hừng đông, mua một miếng nóng hổi về cho công chúa, bèn nhận lời bạn bè ngủ lại một đêm.

Hôm nay, trời còn chưa sáng thần đã sang viện Thiêu Chu, chờ miếng đầu tiên nướng xong là mua ngay về."

Nàng lập tức hỏi vấn đề mình quan tâm: "Huynh gặp được đại hòa thượng chưa?

Ông ta trông thế nào?"

"Tiếc là vẫn chưa."

Ta than thở, "Người ta làm ăn lớn rồi cũng kiêu ngạo ghê lắm, bây giờ thịt toàn để đồ đệ nướng thôi, bản thân dứt khoát không tiếp khách nữa."

"Ôi..."

Đáp án này làm nàng buồn thiu.

Ta nhân cơ hội đưa cho nàng một que trúc đã xiên sẵn thịt nướng, nàng cũng nhận lấy, nhìn nhìn, lại ngửi ngửi thăm dò, tựa hồ chuẩn bị thưởng thức, vẻ mặt làm ta không khỏi rộ cười, bấy giờ nàng mới hồi thần lại, ý thức được mình đáng ra phải đang cáu giận mới đúng, thế là vừa thẹn vừa tức ném miếng thịt xuống đất, "hứ" một tiếng, ngồi xuống quay đầu đi không nhìn ta.

Bốn phía rộn lên khe khẽ tiếng cười vụn.

Công chúa cả giận: "Cười cái gì?

Lui xuống hết cho ta!"

Mọi người ngậm cười ưng thuận, lần lượt hành lễ rồi rời đi, chỉ có Gia Khánh Tử là không đi xa mà đứng hầu ngoài cửa.

Thấy trong phòng chỉ còn lại ta và công chúa, ta mới đặt thịt nướng sang một bên, thành khẩn xin lỗi nàng: "Lần này thần chưa xin phép công chúa đã ngủ lại bên ngoài, ấy là tội thứ nhất; tự ý rời cương vị, không bảo vệ công chúa kịp thời, ấy là tội thứ hai; cả đêm không về, làm công chúa lo lắng, ấy là tội thứ ba.

Thần thực sự biết tội, xin cam đoan với công chúa, về sau sẽ không tái phạm nữa, mong công chúa lượng thứ."

Ta đợi một lúc, thấy nàng vẫn bất động, không có ý định đáp lời, bèn nói thêm: "Nếu công chúa không bằng lòng khoan thứ cho thần thì xin hãy cho thần tạm thời cáo lui, đợi thu xếp xong xuôi việc mua thư họa rồi sẽ cởi mão lột giày, qua đây quỳ gối tạ tội với công chúa."

Nói đoạn, ta lùi ra sau mấy bước rồi xoay người định ra cửa, công chúa vẫn trầm mặc nãy giờ chợt rảo bước nhào tới, ôm lấy hông ta từ đằng sau.

Ta không khỏi run lên, bước chân dừng sững.

Gia Khánh Tử ngoài cửa nghe tiếng, ngoái đầu nhìn lại, cũng bị dọa cho hết hồn, đỏ mặt quay đầu tránh đi.

"Không phải ta giận huynh," Công chúa ôm chặt ta, áp một bên má lên lưng ta, thầm thì: "Là ta sợ không gặp lại huynh được nữa...

Huynh ra ngoài một ngày mà ta ở đây như sống mòn một năm.

Giả sử huynh rời bỏ ta, ta thà tức khắc chết luôn đi cho rồi."

Ta im lặng đứng yên bất động, nhất thời không có bất kỳ hồi đáp nào.

Nỗi bi thương của nàng như cơn mưa bất chợt giữa hạ, một lần nữa làm ướt cõi lòng ta.

Một niềm thương cảm không thể gọi tên hòa cùng nước mắt nàng men theo nếp áo ta, từ từ thấm vào trái tim ta.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 9: Đây gấm uyên ương ai cùng đắp


1.

Lô nhạn

Khắc cuối cùng sửa sang lễ vật, ta do dự, ánh mắt dao động trên cuộn "Lô nhạn đồ" của Thôi Bạch hồi lâu, rốt cuộc vẫn nhặt ra, không dâng lên ngự lãm cùng những bức thư họa khác.

Có thể kim thượng không biết chuyện giữa Thu Hòa và Thôi Bạch, nhưng hoàng hậu thì nắm rõ trong lòng nên ý trong bức tranh này, bà xem ắt sẽ hiểu ngay, mà thân phận của Thu Hòa nay đã khác xưa, dư tình của Thôi Bạch mà bị hoàng hậu phát hiện chung quy vẫn không phải việc tốt lành gì.

Nhóm lễ vật này rất được đế hậu tán thưởng.

Lúc công chúa và phò mã vào cung chúc mừng, kim thượng còn đặc biệt nhắc đến những bức tranh này, kim thượng hỏi Lý Vĩ: "Thư họa phủ công chúa dâng lên đều là do con chọn?"

Lý Vĩ gật đầu thưa vâng, kim thượng và trung cung nhìn nhau cười, ánh mắt lộ vẻ khen ngợi, nói: "Đẹp lắm.

Bút lực vẽ hoa không xương của Từ Sùng Tự ngày càng tinh tiến, bốn mùa non nước của Quách Hi cũng khiến người ta lạ mắt lạ tai."

Lý Vĩ không biết việc ta đổi thư họa của hắn, nghe kim thượng nói vậy thì ngẩn người.

Hoàng hậu lại hỏi hắn đúng lúc này: "Chắc hẳn đô úy rất có tâm đắc với bút nghiên đan thanh nên giờ mới chọn được toàn tinh phẩm như thế.

Từ Sùng Tự thành danh đã lâu nhưng tác phẩm của y trong cung lại chẳng có mấy, mà tranh của Quách Hi thì hiếm thấy từ xưa, khá là mới mẻ, đô úy tìm được từ đâu vậy?"

Lý Vĩ sững sờ không biết trả lời sao, ta bèn cúi người với hoàng hậu, đáp thay hắn: "Đô Úy từng chiêm ngưỡng họa tác của Hà Dương Quách Hi, thường khen y giỏi vẽ nước non rừng già, gần đây nghe nói y di cư tới kinh sư, bèn lệnh thần hỏi thăm tìm kiếm, nhờ đó mua được tân tác của y."

"Đô úy nghe nhiều biết rộng, không chọn tranh theo tiếng tăm họa gia mà chọn sơn thủy của người thời nay, ánh mắt độc đáo lắm thay, người thường khó ai bì kịp."

Hoàng hậu cười khen Lý Vĩ, lại hỏi ta: "Tính tình Quách Hi thế nào?"

Ta đáp: "Ôn hòa khiêm tốn, đối nhân xử thế nho nhã lễ độ."

Hoàng hậu bèn đề nghị kim thượng: "Non nước Quách Hi vẽ không thua gì chư vị đãi chiếu trong Họa viện, vận bút lập ý xuất sắc hơn người, không bằng vời về Họa viện, để hắn tiếp tục lịch lãm trong đó, qua một thời gian ắt sẽ đại thành."

Kim thượng gật đầu khen hay, gọi đô tri chủ quản Hàn lâm họa viện tới bàn giao việc này.

Từ trong cung trở về, Lý Vĩ ba phen mấy bận muốn nói lại thôi, lưỡng lự cả một ngày, rốt cuộc, đến bữa tối ngày kế thì đem việc này ra hỏi ta: "Tranh của Từ Sùng Tự và Quách Hi là do tiên sinh thêm vào danh mục lễ biếu?"

Ta thừa nhận, nói với hắn: "Tranh đan thanh không nhất thiết phải sùng cổ.

Luận về Phật Đạo, người vật, tố nữ, trâu ngựa thì quả tình kim không bằng cổ nhưng luận về non nước, rừng đá, hoa trúc, chim cá thì cổ không bằng kim, họa sĩ quốc triều hơn tiền nhân rất nhiều, trong đó, hai người Từ, Quách là nổi trội nhất.

Chọn tác phẩm của họ cũng có thể được lòng thánh ý."

Hắn chần chừ, lại hỏi: "Vậy tranh họa ta chọn, tiên sinh có dâng lên cùng không?"

Ta thoáng cân nhắc, cuối cùng vẫn ăn ngay nói thật: "Tranh của Vương Hi Chi, Trương Huyên và Lý Thành vẫn để trong phủ, những bức còn lại thì đưa cả vào cung rồi ạ."

Lý Vĩ ngạc nhiên: "Sao tiên sinh lại giữ tranh của mấy vị danh gia kia lại?

Lẽ nào quan gia không thích họ?"

Nhất thời, ta không biết phải trả lời câu hỏi này thế nào cho uyển chuyển, vừa làm hắn ý thức được vấn đề trong đó, vừa không đến mức khiến hắn khó chịu, nên trầm mặc trong phút chốc, vậy nhưng Dương phu nhân lại nhè đúng lúc này xen miệng, nói ra suy đoán của mình: "Không phải công chúa thấy thích nên giữ lại đấy chứ?"

Công chúa nghe vậy cười xì một tiếng, lạnh mặt nghiêng đầu, mặc kệ bà.

Vẻ mặt nàng tức thì chọc mẹ chồng bất mãn, Dương phu nhân cũng cười khẩy, lấy ta ra phát động công kích: "Nếu không phải công chúa thích thì nhất định là Lương tiên sinh thấy thích nên giữ lại cho mình rồi?

Dùng mấy bức tranh chữ rẻ mạt đi đổi đồ cổ con tôi bỏ bao nhiêu tiền của mua về mà vẫn có thể được quan gia và hoàng hậu khen ngợi, Lương tiên sinh thật có bản lĩnh, sau này dạy phò mã chút ít đi, để nó cũng biết đường làm ăn sao cho lợi lộc được vậy!"

Công chúa giận tím mặt, quắc mắt lườm hai mẹ con Lý Vĩ, thẳng thừng quở trách: "Hoài Cát không nói rõ chân tướng ra là vì nể mặt phò mã đó thôi, hôm qua mà không có mấy bức huynh ấy thay vào thì trước mặt cha mẹ ta, phò mã đã mất hết thể diện rồi.

Các người đã lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử còn độc mồm độc miệng như vậy, thật không biết tốt xấu!"

"Chân tướng?

Còn có thể có chân tướng gì?"

Dương phu nhân lập tức cao giọng phản bác, "Lẽ nào việc có người ngăn chặn bảo bối phò mã hiến lên quan gia lại còn là giả?"

"Việc ấy không giả, nhưng chịu lời ngài đây lại có giả thật đấy."

Công chúa liếc nhìn Bạch Mậu Tiên hầu hạ trong sảnh, ra lệnh: "Tiểu Bạch, ngươi nói cho phò mã và quốc cữu phu nhân nghe xem giả chỗ nào đi."

Tiểu Bạch lưỡng lự, không dám mở miệng ngay.

Lý Vĩ như dần ý thức được vấn đề trong đây, bèn thử hỏi dò Tiểu Bạch: "Mấy bức thư họa đó của ta là giả?"

Tiểu Bạch cúi đầu, ngầm thừa nhận.

Dưới yêu cầu của công chúa, cuối cùng nó cũng nhỏ nhẹ cất tiếng giải thích về sơ hở của những bức tranh kia.

Lý Vĩ nín bặt lắng nghe, mặt tái mét, đầu cũng càng cúi càng thấp, không nói được thêm câu nào.

Mà Dương phu nhân nghe Tiểu Bạch kể bản gốc "Độc bi khoa thạch đồ" đã được Bùi Tương sưu tầm, hiện đang cất trong Bí các thì lại nói: "Sao các người biết được bản Bùi thừa chế mua là thật còn của con tôi mua thì là giả?

Hình vẽ đều y hệt nhau, chẳng nhẽ bức ông ta mua nhiều hơn vài chữ thì có thể kết luận là thật?"

Công chúa không nhịn được nữa, phất tay áo đứng lên, nói với ta: "Hoài Cát, chúng ta đi."

Kể từ đó, Lý Vĩ càng thêm trầm mặc, rất ít khi qua lại với đám con cháu hào phú trước kia, thay vào đó cơ hồ dồn hết tinh lực vào học tập đánh giá thư họa, thường xuyên giam mình trong thư phòng xem các tác phẩm cất giữ và sách vở liên quan cả ngày lẫn đêm, thỉnh thoảng có ra cửa cũng hơn nửa là đi mua thư họa danh gia.

Một ngày nọ, hắn tới tìm ta, lễ phép hỏi ta có tranh họa của Thôi Bạch không, hắn muốn chiêm ngưỡng.

Hiện giờ, chỗ ta chỉ cất giữ duy nhất bức "Lô nhạn đồ".

Nhưng ta không lấy ra cho hắn xem, chỉ nói: "Chỗ tôi cũng không có tác phẩm của Thôi Bạch, có điều, tôi và huynh ấy là chỗ quen biết nhiều năm, nếu đô úy có ý thì đừng ngại hôm khác cùng tôi tới bái phỏng huynh ấy, đến lúc đó chắc chắn sẽ được thưởng thức họa tác của huynh ấy."

Ta chưa nói với bất kỳ ai về "Lô nhạn đồ", kể cả với công chúa.

Ta nghĩ Thôi Bạch lựa tranh này đưa ta có lẽ là hi vọng một ngày nào đó Thu Hòa có thể nhìn thấy.

Trong thâm tâm, ta cũng hi vọng Thu Hòa biết được, chỉ là thân phận cô bây giờ đặc thù, chuyển vật này cho cô khiến ta phải suy xét rất nhiều, cũng chẳng phải chỉ là băn khoăn cung quy.

Suy xét kéo dài đến hơn nửa năm.

Tháng Tám năm Gia Hựu thứ ba, rốt cuộc ta cũng quyết định mượn dịp công chúa vào cung chúc mừng sinh nhật Miêu hiền phi để mang tranh tới trước mặt Thu Hòa.

Ngày ấy công chúa chúc thọ mẫu thân, trước đó đã được đế hậu cho phép, có thể ngủ lại trong cung một ngày.

Ta đi theo nàng, nhân tiện cầm tranh vào cung.

Thu Hòa có vẻ bị ốm nhẹ, tinh thần không sung túc, trước tiệc mừng thọ tới chúc mừng sớm Miêu nương tử, biếu quà lễ xong là cáo từ về gác mình luôn.

Ta vội cầm tranh, tiễn cô về nơi ở, cô cũng nhiệt tình giữ ta lại một chốc, uống trà trò chuyện.

Thấy trong gác đều là thân tín của cô, ta mới lấy "Lô nhạn đồ" ra, hai tay dâng lên, nói: "Tôi có người bạn cũ, thiện vẽ hoa điểu, gần đây tặng tôi bức họa này, tôi thấy tranh rất thú vị, lại nhớ Đổng nương tử rất thích hoa trúc lông vũ nên mang đến gửi tặng nương tử, mong nương tử vui lòng nhận cho."

Thu Hòa tiếp nhận, mở ra xem, sóng mắt êm dịu tựa xuân thủy hơi sững lại, hiển nhiên đã tỏ tường hết thảy căn do.

Cô đăm đăm ngắm bức họa, thẫn thờ im lặng không lên tiếng, một lúc lâu sau mới cụp mắt, giấu đi ánh nước len lén dâng lên, cuộn bức tranh về nguyên trạng, giao trả lại ta, nở nụ cười nhạt nhòa: "Tôi học thức thô thiển, vốn không biết phẩm bình thư họa, tặng tranh này cho tôi phí lắm.

Hoài Cát mang về đi thôi, giữ lại cho mình hay trả vị tiên sinh kia đều được."

Ta hơi bất ngờ, những cũng chẳng quá kinh ngạc, bèn nhận lại tranh, gật đầu bằng lòng.

Sau đó, hai ta lại tán gẫu thêm đôi lát, chỉ nói về những chuyện vụn vặt gần đây của mình, không đề cập một câu nào đến Thôi Bạch.

Lúc ta cáo từ, cô đứng dậy muốn tiễn ta, có lẽ động tác quá đột ngột, cô hơi chóng mặt, thoáng lảo đảo.

Ta và thị nữ cạnh cô vội đỡ lấy hai bên.

Thấy sắc mặt cô xám xịt, khí sắc ảm đạm, ta bèn ân cần hỏi cô quý thể không khỏe, có muốn mời thái y qua thăm mạch không.

Cô mỉm cười ôn hòa nhìn ta, chẳng hiểu sao lại khiến ta cảm thấy ánh mắt cô thật thê lương, tựa như khoảng thời gian ngắn ngủi này đã làm tuổi hoa tươi đẹp trong cơ thể trẻ trung của cô đột ngột già đi.

"Hoài Cát," Cô vẫn duy trì nụ cười ngẩn ngơ như cũ, tay phải xoa bụng dưới của mình, khẽ giọng: "Chắc là...tôi có mang rồi."

2.

Tin vui

Vài thái y sau khi hội chẩn thỉnh mạch đã nhất tề chúc mừng kim thượng: Văn Hỉ huyện quân có thai.

Thật khó để ta có thể kể hết được phản ứng của kim thượng lúc ấy, chỉ có thể nói, đây không thể nghi ngờ là chuyện khiến ngài vui mừng nhất trong suốt mười mấy năm qua.

Thoạt tiên, ngài thở phào một hơi dài như bỗng nhiên dỡ bỏ được một nửa gánh nặng trên vai, tiếp đó mới chợt mừng chợt hãi chợt mừng rạng rỡ tươi cười, ánh mắt lướt qua gần trăm vị cung quyến đợi tin ngoài rèm, hiện đang hành lễ chúc mừng ngài, tìm đến mấy vị đô tri hai tỉnh tiền hậu, giọng run run: "Mau đi chuẩn bị lễ tế thái miếu...

Rồi đi kiểm kê vàng bạc gấm vóc, bình vò dụng cụ, đồ vật lặt vặt, chuẩn bị tương lai ban tặng...

Đi xem xem tướng công có còn ở Trung thư môn hạ không...

Học sĩ trực đêm hôm nay là ai?"

Tin vui hậu cung lần này nhận được sự quan tâm và coi trọng chưa từng có không chỉ ở trong cung cấm đại nội mà còn ở cả triều đình dân gian.

Hoàng đế bốn mươi chín tuổi sau mười mấy năm chờ đợi rốt cuộc cũng thu được hi vọng nối dõi, đám đại thần giục ngài sớm ngày chọn tông thất lập hoàng tử cũng vì thế im miệng, ai nấy đều không ngớt dâng sớ chúc mừng.

Trong niềm hân hoan, ngay ngày hôm sau, kim thượng tuyên bố tu sửa lại công xá nơi tiến hành xử lý công vụ của phủ doãn Khai Phong thời vua Chân Tông thành "Tiềm Long Cung" phục vụ cho hoàng tử tương lai sử dụng.

Trong gác Thu Hòa bỗng chốc náo nhiệt hẳn lên, ngoài hoàng đế mỗi ngày đến thăm cô mấy bận thì các cung quyến bất kể bình thường có thân với cô hay không cũng đều nối đuôi nhau đến thăm.

Công chúa cũng nhân đó nán lại trong cung thêm hai ngày, chọn hoa văn trang trí thêu lên khăn bọc tặng cho đứa trẻ lúc hạ sinh, đồng thời hào hứng định bụng tự tay thêu hoa cho Thu Hòa.

"Nương tử mà sinh cho ta một đứa em gái thì tương lai ta sẽ đích thân may váy hoa cho nó."

Công chúa cười nói với Thu Hòa.

Kết quả bị Miêu hiền phi dùng quạt lụa đập cho một cái: "Nói linh tinh!

Đổng nương tử sinh cho con là sinh em trai."

Miêu nương tử mắng rồi quay sang Thu Hòa, cảm khái nói lời thành khẩn: "Muội muội, em mà sinh được hoàng tử thì một bước lên trời rồi..."

Thu Hòa chỉ cười cúi đầu, không tiếp lời.

Trước khi ta theo công chúa xuất cung, có tới thăm Thu Hòa, vừa vặn gặp kim thượng đi từ trong gác cô ra, khóe miệng ngậm cười, mặt mày hớn hở.

Vào xem, trong sảnh bày đầy dụng cụ vàng ngọc, gấm vóc tơ lụa, quả thực rực rỡ muôn màu.

Mà Thu Hòa thì lại nấp sau màn sa, âm thầm lau lệ.

Ta dè dặt hỏi cô vì sao không vui, cô miễn cưỡng cười gượng với ta, nói: "Hoài Cát, chúc phúc cho tôi được không?

Xin trời cao cho tôi sinh hoàng tử đi."

Ta lập tức gật đầu: "Đương nhiên, tôi sẽ cầu phúc cho cô."

"Tôi...sợ lắm."

Cô rầu rĩ cụp mắt, thì thào thổ lộ với ta sầu não của mình, "Tôi sợ sẽ khiến quan gia thất vọng...

Bây giờ ngài vui vẻ thế này, nếu tôi không sinh được con trai, tương lai nhất định ngài sẽ rất đau lòng..."

Tuy không thể nói được câu nào an ủi cô nên hồn, nhưng ta có thể tưởng tượng được cảm thụ của cô.

Các thái y đều tỏ vẻ, từ mạch tượng, rất có khả năng Thu Hòa hoài nam thai, chúng cung quyến cũng nói cô có dấu hiệu nam tướng, kim thượng thì gần như nhận định chắc chắn cô sẽ sinh con trai, mỗi lần hạ lệnh đều sai người chuẩn bị cho "hoàng tử" ra đời, như nói cho đại thần nghe, cũng như nói cho mình nghe.

Chỉ là, nếu trời cao không chiều lòng người thì bây giờ có bao nhiêu hi vọng, tương lai sẽ có bấy nhiêu thất vọng.

Thân là tần ngự, Thu Hòa cũng được coi là kẻ khác loài, không ham thích tranh sủng cũng chẳng mưu cầu danh lợi, các nương tử khác lo lắng mình không sinh được hoàng tử đa số đều là suy nghĩ cho tiền đồ của bản thân, còn cô thì chỉ đơn thuần là sợ làm trương phu mình thương tâm, dù rằng tình cảm cô dành cho ngài có lẽ chẳng thể gọi là tình yêu.

Thế nên, một tháng sau, khi trong cung lại truyền ra tin tức An Định quận quân Chu thị có hỉ, ta nghĩ Thu Hòa hẳn cảm thấy nhẹ nhõm hơn phần nào.

Lúc ta gặp lại cô, khí sắc cô đúng là tốt hơn thật, nụ cười tươi sáng hơn ban đầu rất nhiều.

Hai vị nương tử lần lượt mang thai, khả năng sinh hạ hoàng tử tăng lên, kim thượng càng thêm vui vẻ, liên tục tổ chức mấy bữa tiệc ngự trong cung, đại thần mệnh phụ, cung quyến tông thất đều nối tiếp nhau vào cung chúc mừng.

Trong một buổi yến tiệc, đế hậu giữ công chúa và quốc cữu phu nhân lại, trò chuyện trong nội điện.

Vì người có mặt đều là chỗ thân quen nên chủ đề cũng không quá câu nệ, Du sung nghi cười hỏi công chúa: "Công chúa hạ giáng cũng được một năm rồi, chẳng biết bao giờ mới cho quan gia niềm vui nhân đôi, được ôm cháu ngoại đây?"

Công chúa không vui, nhíu mày không đáp, Du sung nghi còn tưởng là nàng xấu hổ, bèn tươi cười quay sang nói với quốc cữu phu nhân: "Nghe nói Tống Tử Thánh Mẫu miếu Ngọc Tiên ngoài thành linh nghiệm lắm, sao không bảo đô úy dẫn công chúa tới đó dâng hương cầu con nối dõi?

Nói không chừng giờ này sang năm, quốc cữu phu nhân có thể ôm cháu vào cung được rồi."

Ban nãy nghe Du sung nghi nói vậy với công chúa, sắc mặt Dương phu nhân đã sẵn sa sầm, lúc này nghe lời ấy, lập tức nhếch miệng cười lạnh lùng, trả lời Du sung nghi: "Tống Tử nương nương nào mà linh nghiệm thế không biết, có thể khiến vợ chồng đến ngón tay cũng chưa từng chạm nhau mà vẫn sinh con ra được?"

Câu này vừa nói ra, cung quyến trong điện ngạc nhiên nhìn nhau, Du sung nghi cũng sửng sốt, không nói thêm gì.

Dương phu nhân bị chọc trúng tâm bệnh, liền không nhịn được xả lòng: "Ôm cháu vào cung?

Tôi cũng muốn lắm, nhưng một mình phò mã sao sinh được cháu.

Phòng ngủ hai vợ chồng cách nhau ba ngàn dặm, sinh được con mới tài đấy!

Tống Tử nương nương có linh nghiệm nữa mà người ta căn bản không bằng lòng sinh thì cũng có ích gì..."

Miêu hiền phi thấy tình thế không ổn, vội mở miệng chuyển hướng đề tài: "Quốc cữu phu nhân người ta đã sớm có cháu rồi.

Mấy ngày trước chị dâu phò mã còn mang mấy cu nhà mình vào cung kia mà, ta thấy đứa lớn cũng đã mười mấy tuổi, chẳng biết có bổ ấm được chức quan nào không?"

Bà thành công di dời được sự chú ý của Dương phu nhân, bà ta nhanh chóng đổi trọng điểm sang cầu quan thay trưởng tôn: "Mấy ngày trước tôi cũng có nói với con dâu cả rồi đấy, không có việc gì thì dẫn con ra cửa ít thôi, thằng bé cũng đã mười mấy rồi, ra ngoài khó tránh khỏi gặp phải quý nhân, cứ áo vải thường dân mãi thế này sao ổn, xưng là hoàng thân quốc thích chẳng phải là làm mất mặt quan gia sao..."

Buổi tụ hội hôm ấy kết thúc bằng việc kim thượng bằng lòng cho con trai huynh trưởng phò mã Lý Ngọc Chương một chức quan, sau đó, quốc cữu phu nhân về phủ công chúa trước, hoàng hậu giữ công chúa lại, triệu vào buồng trong Nhu Nghi Điện, cũng bảo Miêu hiền phi, Du sung nghi đi cùng, đại khái là muốn hỏi kỹ việc khuê phòng của công chúa.

Một năm nay, cũng không phải là hoàng hậu và Miêu hiền phi chưa từng hỏi công chúa việc vợ chồng, nhưng công chúa một mực bưng miệng không đáp, hỏi Lương đô giám, thầy cũng từ chối thưa mình không tiện tham dự vào việc này, kiến nghị họ hỏi Hàn thị, mà Hàn thị thì một lòng che chở công chúa, thường ngày cũng không vừa mắt Lý Vĩ xoàng xĩnh nên chưa từng báo cho họ biết chân tướng, chỉ úp mở nói mọi việc đều ổn, lấp liếm cho qua.

Thế nên, thông tin Dương phu nhân để lộ lúc này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của họ, gọi công chúa vào buồng nói chuyện riêng hiển nhiên là muốn khuyên bảo nàng.

Ta theo công chúa đến Nhu Nghi Điện, nhưng không vào buồng trong, chỉ đứng trong sảnh ngoài đợi.

Khoảng cách xa nên cũng không nghe rõ được mấy vị hậu phi nói gì, nhưng cảm thấy lời họ nhỏ nhẹ liên miên, nghĩ hẳn là đang thay nhau khuyên công chúa chấp nhận phò mã.

Đợi như vậy hơn nửa canh giờ.

Thoạt đầu, công chúa không nói một lời, về sau rốt cuộc cũng mở miệng, dùng một giọng oán giận đã nâng cao âm điệu: "Không, ba người đâu phải con, sao có thể hiểu được tâm trạng của con?

Cha dẫu không phải hoàng đế thì cũng là một văn sĩ nhã nhặn tuấn tú, thế nên ba người căn bản không thể tưởng tượng được tâm trạng khi con phải đối mặt với một trượng phu tầm thường thô bỉ...

Hắn chẳng có gì cả, chỉ có mùi tiền đầy người, cầm tiền cha ban mặc sức tiêu pha, kết giao với phường ngả ngớn nông cạn, muốn học đòi văn vẻ lại không nắm được trọng điểm, lần trước muốn mua thư họa biếu cha và nương nương lại mua về một đống hàng giả, cuối cùng họa tác của Từ Sùng Tự và Quách Hi dâng lên vẫn là do Hoài Cát tìm mua...

Nếu phu quân của ba người cũng là một kẻ như vậy, ba người có thể lòng không khúc mắc mà chung phòng với hắn không?"

Thấy nàng kích động, ta hơi kinh ngạc, không khỏi dịch mấy bước về phía buồng trong.

Kế đó là một khoảng lặng thinh, ba vị hậu phi không nói thêm gì.

Công chúa bình tĩnh lại đôi chút, nói tiếp, giọng không còn gay gắt như lúc trước, nhưng rõ ràng từng tiếng: "Cha gả con cho hắn là muốn làm rạng rỡ cửa nhà Chương Ý thái hậu, con vào nhà họ là mục đích đạt thành rồi, nhà họ Lý đã thêm một thân phận hoàng thân, Lý Vĩ cũng có thể cả đời an hưởng tôn vinh hàm tước phò mã đô úy đem lại.

Con không phải nam tử, không cần gánh trách nhiệm nối dài huyết mạch tôn thất, mà con cũng chẳng hạn chế Lý Vĩ nạp thiếp, hắn muốn có bao nhiêu nữ nhân, sinh bao nhiêu đứa cũng được, việc nối dõi của hắn cũng sẽ không tuyệt đường vì con.

Tương lai nếu tì thiếp hắn sinh con, con cũng có thể coi làm con đẻ, xin cha thăng quan tấn tước cho nhà họ...

Thế vẫn chưa đủ ư?

Sao ba người cứ nhất định bắt con cùng hắn..."

Miêu hiền phi hạ giọng, lại tha thiết nói gì đó với nàng, công chúa vẫn không chịu, chỉ trả lời thế này: "Cái người nói là hạnh phúc ư, tỷ tỷ?

Chúng ta không giống nhau.

Hạnh phúc của các người có lẽ là được phu quân quan tâm, được chung đụng với người ấy nhiều hơn, nhưng hạnh phúc mà con khẩn cầu được hiện tại cũng chỉ có thể là cái tên đáng ghét kia cách xa con ra một chút, để con được yên thân."

Công chúa kết thúc buổi trò chuyện riêng hôm ấy bằng mấy câu chém đinh chặt sắt đó, về sau mấy vị hậu phi có khuyên nàng thêm vài lần, đều chỉ phí công vô ích.

Kim thượng cũng sầu lo, cho gọi Lương đô giám và Hàn thị vào hỏi thăm, nhưng cũng vô kế khả thi, đành bảo Lương đô giám truyền đạt ý mình cho phò mã: Công chúa còn cần khuyên bảo thêm, phò mã nhất định phải nhẫn nại chờ đợi, đừng chọc tức công chúa.

Mặt khác, kim thượng cũng tỏ rõ: Phò mã có thể nạp thiếp.

Dương phu nhân nghe vậy, lập tức một lần nữa lo liệu lấy lẽ cho phò mã, cũng cao giọng tuyên bố đây là phụng chỉ hành sự, chẳng ngờ Lý Vĩ lại không phối hợp, một mực khước từ mỹ nữ mẫu thân mình tìm, đến nhìn cũng không có hứng.

Dương phu nhân bực mình, không khỏi lại nói kháy nói mát, rất có thành kiến với công chúa.

Hàn thị nghe mà tức giận.

Được công chúa đồng ý, bèn mời Lương đô giám đi khuyên phò mã sớm ngày nạp thiếp.

Lương đô giám cũng đi thật, không lâu sau mang về vẫn là tin phò mã cự tuyệt: "Tôi khuyên cậu ấy hồi lâu, cậu ấy chỉ cúi đầu im lặng, sau cùng nói một câu: 'Nếu ta nạp thiếp, vậy ta và công chúa mãi mãi sẽ chỉ có thể như thế này thôi đúng không?'"

3.

Ngát hương

Gia Hựu năm thứ tư, mùa hạ đến sớm, mới đầu tháng Tư trời đã rất nực, mặc áo la mỏng đi được mấy bước người đã toát đẫm mồ hôi.

Công chúa thường ra đình hóng mát vào buổi tối, hôm đó lại sai người dời cửa vách ngăn dựng bên giàn trà mi, kê sập mây bên trong, trên sập bày bình phong sơn thủy, giỏ trúc vằn nước và gối sứ trắng lò Định (*) hình em bé, sau đó tự gỡ miện, tháo búi tóc, dùng một cây trâm ngọc bích vấn gọn lại, nằm trên sập nói chuyện phiếm với thị nữ.

Thấy nhàm chán, lại gọi tiểu hoàng môn mang bàn cờ song lục (**) tới, dời đến trước sập, bảo thị nữ ngồi xuống đối diện, mình vẫn nằm nghiêng như trước, phe phẩy quạt lụa đánh cờ với thị nữ.

(*) Sứ lò Định là mặt hàng sứ trắng cao cấp trong công nghệ gốm sứ Trung Hoa, chủ yếu được sản xuất ở Định Châu thời xưa, nay là thành phố Bảo Định tỉnh Hà Bắc, rất thịnh hành vào thời Bắc Tống.

(**) Một trò chơi cờ thời cổ đại, bàn cờ hình chữ nhật, trên mặt khắc đường tuyến, chia thành mười hai ô từ trái sang phải, quân cờ chia hai màu đen vàng hoặc đen trắng, mỗi bên mười lăm quân, còn gọi là "mã", đỉnh nhọn đáy bằng, hình dạng như cái chày giặt quần áo, cao chừng 4-5cm.

Xúc xắc hai con, chơi hai người, tung xúc xắc đi cờ, mỗi người xuất phát từ ô trong phía bên mình, ai có thể đi hết cờ vào ô trong của đối phương trước thì là người thắng. (chú thích của tác giả)

Đây là trò nàng giỏi nhất trong số những trò đánh cờ, nàng đong đưa quạt lúc có lúc không, hạ cờ rất đỗi thờ ơ, mà đối thủ vẫn liên tiếp thua liểng xiểng.

Sau khi Tiếu Diệp Nhi và Vận Quả Nhi lần lượt thất bại, người ngồi đối diện nàng đổi thành Gia Khánh Tử.

Tài nghệ của con bé vốn cũng không tệ, nhưng ứng phó vẫn có vẻ tương đối cật lực, thời gian suy tính cũng càng lúc càng lâu, còn công chúa thì từ đầu tới cuối vẫn duy trì trạng thái ung dung, thường thường hạ xong một bước lại thong thả nghiêng người nằm xuống, nhàn nhã ngắm sông Ngân đầy sao, thi thoảng chiếc trâm ngọc bích lại gõ nhẹ lên gối sứ theo động tác trở mình của nàng, phát ra những tiếng giòn tan.

Cuối cùng, Gia Khánh Tử không chống đỡ được, đưa mắt nhìn ta cầu cứu, khẽ gọi: "Lương tiên sinh..."

Ta nhoẻn cười với nó, tiếp tục lấy thìa bạc gảy bừng ngọn nến đốt trầm, đậy chụp lưu ly chóp hở chạm hoa lên rồi đi tới sau lưng nó xem thử, lại nhặt một quân mã màu đen trước mặt nó lên, chọn một phương hướng, đếm số theo kết quả tung xúc xắc mới rồi của nó, đi một bước thay nó.

Nước đi này chưa khiến công chúa cảnh giác ngay, nàng vẫn hờ hững ứng đối, qua lại hai ba lượt với ta rồi mới dần dần nhìn ra tình thế có biến.

Nàng vứt bỏ tư thế nằm thảnh thơi ban nãy, ngồi dậy tỉ mỉ đánh giá bàn cờ, lại đi thêm hai bước, thấy khó có thể vãn hồi được ưu thế ban đầu mới bất mãn oán trách: "Quân tử xem cờ không chỉ nước."

Gia Khánh Tử bật cười: "Công chúa không muốn Lương tiên sinh chỉ điểm em đánh cờ thì sao không nói luôn từ trước?"

Công chúa trừng nó, nói: "Nha đầu chết tiết, em bảo ta sợ huynh ấy đó hả?"

"Dạ, không sợ không sợ, công chúa tất nhiên là không sợ gì rồi!"

Gia Khánh Tử cười đứng lên, kéo ta ngồi xuống, "Ván cờ này để tiên sinh hạ tiếp thôi.

Nhưng đừng có nhường ai đó đấy nhé, ba chị em chúng em có rửa được nhục hay không là nhờ cả vào tiên sinh đấy."

Ta cười không đáp, thấy công chúa không vui, bèn đề nghị: "Ván cờ này hai người chơi cũng sắp xong rồi, coi như hòa đi, chúng ta mở ván khác."

Công chúa thuận thế gạt xóa bàn cờ, lại nói: "Huynh hạ cờ thì chúng ta phải đặt cược trước đã."

Ta mỉm cười, hỏi: "Thế công chúa muốn đặt cược gì nào?"

"Huynh thua phải vẽ cho ta một cuộn tranh sơn thủy."

Công chúa nói đến là nghiêm túc, tiếp tục, "Ta thua, ta cho phép huynh vẽ cho ta một cuộn tranh sơn thủy."

Ta không nín được cả cười: "Hóa ra là công chúa muốn đổi tranh trên bình phong trước gối."

Hiện giờ trên đầu sập của nàng đang dựng một bình phong nhỏ chắn gió trước gối, tranh sơn thủy bên trên vốn là bức họa "Yên thủy viễn loan đồ" của ta, nàng trông thấy đã hỏi xin ta, nào ngờ là để cắt làm bức bình phong chắn gối.

Kể từ đó mỗi lần nàng hỏi ta xin tranh ta đều từ chối, bây giờ nàng đặt ra điều khoản ngang ngược này hẳn là cảm thấy đến lúc thay hình vẽ trên bình phong rồi.

Gia Khánh Tử nghe xong cũng che miệng cười: "Tranh Lương tiên sinh vẽ có cất vào Bí các cũng đủ tư cách, đem ra làm bình phong thật phí của quá."

"Em thì biết cái gì?

Cất vào Bí các có gì hay?"

Công chúa lập tức phản bác,"Cũng chẳng nhìn xem, thư họa cất vào Bí các hằng năm có bao nhiêu mà được ta chọn làm bình phong thì được mấy!"

Hơn mười năm chung đụng sớm chiều đã giúp ta ý thức được sâu sắc rằng đừng hòng nói lý với cô nương này.

Sau một phen cò kè mặc cả, cuối cùng ta đề nghị, nếu ta thua sẽ vẽ một bức sơn thủy cho nàng, nhưng nếu nàng thua thì phải trả lại bình phong cho ta.

Nàng miễn cưỡng bằng lòng, rất ư không tình nguyện, cứ như thể phải chịu thiệt hại gì lớn lắm không bằng.

Nàng dốc toàn lực ứng phó ván song lục kế tiếp, ta cũng tập trung đối đáp, ngầm triển khai thế công trong phòng thủ chặt chẽ, không cho nàng bao nhiêu cơ hội.

Một nén nhang sau, quá nửa số quân cờ của ta đã đi được vào ô đối phương, thắng lợi trong tầm mắt.

Nàng bắt đầu đứng ngồi không yên, khi thì liếc nhìn giàn hoa, khi thì ngửa đầu trông trời, nhưng lần nào ánh mắt cũng bị tiếng ta hạ cờ dẫn trở lại bàn, nàng vô thức bĩu môi, chân mày cũng nhíu lại.

Sau khi ta hạ xuống nước cờ chủ chốt, nàng vắt óc nghĩ mãi mà không tìm được phương pháp nào hóa giải, mắt thấy thua trận này tới nơi rồi.

Đúng lúc ấy Tiếu Diệp Nhi bế con mèo nhỏ qua, mỉm cười quan chiến bên cạnh chúng ta, công chúa thấy mèo, ánh mắt rực sáng, kế đó tủm tỉm bảo ta: "Hoài Cát, sao hôm nay không thấy sao Chức Nữ đâu nhỉ?"

Ta liền ngước mắt nhìn lên, trong sát na không phát hiện ra sao trời có gì khác lạ thì đồng thời cũng hiểu được mục đích của nàng, khóe mắt liếc thấy nàng chỉ tay vào bàn cờ, đang ra sức nháy mắt với Tiếu Diệp Nhi.

Tiếu Diệp Nhi hiểu ý, nhẹ buông tay, ném con mèo nhỏ trong lòng lên bàn cờ.

Con mèo quẫy đạp hai cái, quân mã trên bàn cờ tức thì tứ tán, đổ trái ngã phải, hoàn toàn nhìn không ra thế trận ban đầu.

"Ôi chao, con mèo chết tiệt!"

Công chúa vừa làm bộ đánh yêu con mèo, vừa liếc bàn cờ bị đảo loạn, đắc ý cười trộm.

"Đáng tiếc quá, ván cờ đang yên đang lành lại không chơi nốt được!"

Nàng cố ý thở dài.

Ta cũng thầm cười trong lòng, không thể hiện lên mặt.

"Ồ, không sao." ta nói với nàng, "Thần vẫn nhớ bố cục vừa rồi, xếp lại quân cờ như cũ là được."

Thế là, dưới cái nhìn trợn mắt há hốc của nàng, ta nhặt từng quân lên, không nhanh không chậm đặt lại quân mã hai màu về đúng vị trí trước khi bị đảo loạn.

Nàng không nghĩ ra được diệu kế nào khác, đành chơi xấu, thò tay chuyển quân mã ta vừa bày sang chỗ khác: "Quân này rõ ràng ở đây..."

Ta xua tay, lại dời về: "Là ở đây, thần không lừa công chúa đâu."

"Không đúng không đúng!"

Nàng ghìm tay ta lại, cưỡng đoạt quân cờ, đặt vào vị trí nàng mong muốn.

Ta nhất thời nổi hứng, cũng tranh giành với nàng, nàng la hét cười ầm ĩ, dứt khoát vươn cả hai tay ra quơ loạn bàn cờ, ta muốn cản nàng, nhưng tay vừa đưa ra đã dẫn tới một kết quả ấm nóng – ta nắm trúng bàn tay trên bàn cờ của nàng.

Ngón tay nàng thon dài trắng mịn, móng tay bóng loáng sắc hoa đào, xúc cảm mềm mại làm tim ta run lên, không khỏi ngước mắt nhìn nàng.

Khi ấy nàng mặc chiếc váy dài quây ngực bằng vải lĩnh thêu mẫu đơn, bên ngoài khoác một tấm áo choàng sắc đỏ không hoa bằng sa mỏng tên gọi "khinh dung", là sản phẩm làm bằng sa khinh dung Giang Nam, nhẹ như sương khói, đường nét vai cổ và cánh tay cũng có thể hiện lên rõ ràng trên lần vải.

Áo choàng không buộc dây, hai vạt áo hé mở, để lộ khoảng da quanh xương quai xanh, nõn nà trơn láng, tựa như mỡ đông.

Ánh mắt ta không dám lưu luyến nhiều tại đó, tiếp tục lướt lên trên, lần tới mắt mày nàng duyên dáng.

Khóe miệng nàng ngậm cười, cũng đang chăm chú nhìn ta, bốn mắt chạm nhau, ta trông thấy hoa đèn nến trầm rọi vào con ngươi nàng một đốm lửa rực rỡ, tiếp đó, hai má nàng lặng lẽ ửng lên màu đỏ phớt hây hây như lây nhiễm nhiệt độ hoa đèn.

"Đó, đã bảo rồi, phải là thế này mới đúng."

Nàng thoát khỏi khoảnh khắc hai bên cùng thất thần trước, đẩy tay ta ra, bày quân cờ theo ý đồ của mình.

Khói bếp bảng lảng, bình phong man mát, ta thẳng người ngồi ngay ngắn, không tranh cãi nữa, nhìn nàng kéo áo thu mắt, nhìn nàng nói cười thản nhiên, thầm thưởng thức hương thơm ẩn dưới ống tay áo đỏ thẫm này, cúi đầu cam chịu thế cờ nàng bày cho mình.

Thần hồn bay bổng, như lạc trong mơ, thẳng đến khi nghe thấy bọn thị nữ hô gọi: "Đô úy!"

Ta kinh ngạc quay đầu, thấy Lý Vĩ cầm một quyển trục, lặng im đứng cạnh cửa tường hoa.

4.

Hoàng nữ

Ta đứng dậy, khom người thi lễ với Lý Vĩ, Lý Vĩ không phản ứng, ánh mắt lướt qua ta nhìn về phía công chúa.

Công chúa đã sớm thu lại nụ cười, khẽ cau mày hờ hững nhìn hắn, ám chỉ rất rõ ràng rằng sự có mặt của hắn không được hoan nghênh.

"Có việc gì à?"

Công chúa hỏi hắn, giọng lạnh nhạt.

Lý Vĩ cụp mắt, ta để ý thấy bàn tay nắm quyển trục của hắn hơi siết lại, song chung quy vẫn không nói gì liên quan tới nó, chỉ trả lời câu hỏi của công chúa như sau: "Không có...

Ta chỉ, đi ngang qua đây..."

Đến lời nể mặt khách sáo cho có lệ công chúa cũng chẳng buồn nói, trực tiếp hạ lệnh đuổi khách: "Không có gì thì về nghỉ ngơi sớm đi."

Lý Vĩ chưa đi ngay, đứng tại chỗ bất động một chốc rồi mới lặng lẽ vái chào tạm biệt công chúa, xoay người rời đi.

Nhìn bóng hình hắn biến mất, công chúa thở phào một hơi, lúc nhìn lại sang ta, nét mặt đã rạng ngời trở lại: "Nào nào, chúng ta chơi cờ tiếp đi!"

Hẳn Lý Vĩ đến là để tìm công chúa, ta nghĩ.

Một năm qua, hắn nghiên cứu thư họa đã có chút thành tựu, ta cũng giới thiệu hắn với Thôi Bạch, thi thoảng hắn sẽ đi tìm Thôi Bạch thỉnh giáo về hội họa, đôi khi họa gia trong kinh tụ tập mở hội nhã, hắn cũng sẽ đi dự thính – theo lời Thôi Bạch, Lý Vĩ rất ít mở lời trong những buổi tụ hội ấy, thường chỉ ngồi trong một góc, lẳng lặng lắng nghe mọi người đàm đạo thảo luận – hôm nay, có lẽ hắn mua được một bức thư họa đẹp hoặc tự mình vẽ một bức, định mời công chúa chỉ giáo, song thái độ cự tuyệt ra ngoài ngàn dặm của công chúa đã khiến mong muốn ban đầu của hắn tiêu biến.

Điều này làm ta cảm thấy rất áy náy với hắn, nhất là khi nghĩ chẳng biết tâm trạng hắn ra sao lúc chứng kiến ta nắm tay công chúa.

Hôm sau, ta đi tìm hắn, khi ấy hắn đang ở một mình trong thư phòng, ta gõ cửa đi vào, thấy hắn ngồi bên bàn sách, liếc ta một cái rồi dời mắt đi, vẫn không nói một lời.

Vốn định giải thích chuyện hôm qua đánh cờ với công chúa, nhưng lời đến khóe miệng lại nấn ná chần chừ.

Đắn đo mấy bận, ta ghìm xuống không nói, chỉ hỏi hắn: "Tối qua tôi thấy trong tay đô úy có cầm một quyển trục, là danh tác thư họa mới mua được gần đây à?

Chẳng biết có thể đưa sang mời công chúa cùng thưởng thức hay chăng?"

Hắn nhạt nhẽo đáp hai chữ: "Không phải." rồi lại là một khoảng im lặng.

Ta đưa mắt nhìn chung quanh, phát hiện ra quyển trục hắn mang theo tối qua đang đặt trên bàn sách, bèn đi tới, nhẹ nhàng cầm lên định mở ra.

Trước nay hắn đối xử với ta cũng khá tôn trọng, thường hỏi ta vài vấn đề về thư họa, thậm chí đôi lúc còn cho ta xem tác phẩm của mình, nhờ ta cho ý kiến, thế nên động tác ta cầm quyển trục của hắn lên xem tương đối tự nhiên, ta cũng không nhận ra có gì không ổn.

Nhưng vừa mở được chút ít, tranh đã bị hắn đoạt lại.

Hai tay hắn xé mạnh, bức tranh rách toạc, hắn tiếp tục hùng hổ xé thêm mấy cái, phá hủy hoàn toàn bức họa, rồi ném tất thảy bao gồm cả trục giữ tranh vào sọt rác.

Qua những mảnh vụn tranh thoáng liếc ra được trong quá trình ấy, có thể thấy đây vốn là một bức thủy mặc vẽ trúc.

Tranh trúc thủy mặc là đề tài công chúa thường vẽ, mà nét mực bức họa Lý Vĩ xé bỏ hãy còn rất mới, hẳn là tác phẩm gần đây của chính hắn.

Mặt Lý Vĩ đỏ gay, thở phì phò, thể hiện sự tức giận hiếm thấy của bản thân với ta, nhưng hắn vẫn không trực tiếp phát tiết với ta nỗi bất mãn của mình, thậm chí, trước sau vẫn dõi mắt sang nơi khác, không đối mặt cùng ta.

Ta không phải người giỏi ăn nói, nhất thời cũng khó tìm được câu chữ gì có thể dập tắt lửa giận của hắn, chỉ yên lặng cụp mắt đứng đó, lại vô ý phát hiện ra trong sọt rác ngoài bức tranh hắn xé bỏ mới rồi còn có rất nhiều những mảnh giấy vụn khác, hình vẽ bên trên cũng đều là các loại hình dáng khác nhau của trúc thủy mặc.

Hắn ắt đã phải vẽ đi vẽ lại rất lâu mới rút ra được một bức tương đối hài lòng, tối qua cố ý mang theo, muốn mời công chúa xem.

Ta càng thêm thẫn thờ, chỉ cảm thấy tình thế phát triển nằm ngoài khả năng dự liệu và khống chế của mình, đứng trong đó quả thực tiến thoái lưỡng nan.

Chớp mắt ngắn ngủi kế tiếp như kéo dài đằng đẵng, ta và Lý Vĩ đều lặng thinh, mỗi người một phương, vẫn duy trì tư thế bất động, nhìn ánh nắng trên chấn song hết sáng lại tối theo mặt trời lấp ló giữa trời mây.

Cuối cùng, người hóa giải sự lúng túng này là nội thị Ngự dược viện đến phủ báo tin.

Dưới sự dẫn đường của người hầu trong phủ, hắn một đường rảo bước, tiến vào nói với chúng ta: "Sáng sớm hôm nay, Văn Hỉ quân quân đã sinh hạ một công chúa."

Tất cả mọi người đều biết kim thượng nhất định rất thất vọng, nhưng ngài vẫn gắng hết sức không thể hiện sự thất vọng này ra.

Lúc công chúa dẫn theo ta vào cung gặp ngài, ngài đang tự mình bế cửu công chúa, vui cười ngắm nghía, trong mắt đầy ắp yêu thương.

"Huy Nhu," Ngài hồ hởi gọi công chúa qua xem đứa con gái nhỏ của mình, "Cửu muội muội của con giống con hồi bé phết đấy."

Những thể thức lễ nghi chuẩn bị đón hoàng tử cũng không vì công chúa mà thay đổi.

Hoàng đế Đại Tống có con cái ra đời sẽ ban thưởng quà lễ tiền bạc cho đại thần, gọi là tiền "bao tử", mà lần này để đón cửu công chúa giáng sinh, kim thượng tuyên bố ăn mừng ba ngày, số lượng tiền bao tử ban tặng hạ thần phong phú gấp bội trong quá khứ, những món lễ vật này đều làm từ chất liệu quý giá như vàng bạc, sừng tê giác, ngà voi, ngọc đá, hổ phách, đồi mồi, đàn hương, còn đúc vàng bạc thành hình hoa quả, tể tướng, từ thần và đài gián đều được nhận lễ thưởng này.

Ân sủng kim thượng dành cho Thu Hòa cũng chẳng mảy may suy giảm, một ngày đến thăm cô mấy bận, liên tục thể hiện sự yêu thích của mình đối với cửu công chúa, song Thu Hòa thì lại càng buồn khổ hơn, thường trộm ngài rơi lệ, thế nên lần nào vào gặp, ta cũng thấy hai mắt cô sưng đỏ.

Kim thượng cũng cảm nhận được tâm trạng của cô, còn lén bảo công chúa: "Con vào cung trò chuyện với Thu Hòa nhiều nhiều chút, nói cho nàng biết, cha và con đều rất thích cô em gái này."

Để tiến thêm một bức chứng minh sự coi trọng của ngài đối với cô con gái mới, ngài thậm chí còn quyết định đại xá thiên hạ y như khi hạ sinh hoàng tử, thanh lý mọi phán quyết cho phạm nhân đang bị giam giữ trong kinh, phạm nhân từ tử tội trở xuống hạ một bậc, từ tù tội trở xuống được phóng thích, dùng ơn trạch ấy cầu phúc cho công chúa.

Hơn nữa, năm ngoái sau khi biết tin Thu Hòa có thai, kim thượng đã từng hạ lệnh giảm án cho tù phạm, đây là lần thi ân thứ hai.

Tri chế cáo Lưu Thưởng tuy không phải ngôn quan nhưng cũng không nhịn được mà nêu ý kiến về việc này: "Thanh lý phán quyết cho phạm nhân trong kinh tuy là ban ân nhất thời song bên ngoài đều nói, bởi hoàng nữ giáng sinh nên mới có lần thi ân chúc mừng này...

Đại xá hai lần trong một năm, tội tù chịu ơn, người tốt mất tiếng, minh quân hiền thần đời trước đã coi hành động này là tệ nạn, thần kính xin triều đình ngăn cấm.

Lại nghe tiền bao tử ban thưởng hạ thần đều làm bằng của báu, thần cho là lãng phí vô ích, ban thưởng vô cớ, quá mức tai hại, phô trương xa xỉ, đi ngược lại với đạo tiết kiệm răn dạy xưa nay.

Bệ hạ cần minh xác chính lệnh, thắt chặt cung kiệm, lấy đó báo đáp trời cao, xây dựng nền tảng muôn cõi.

Không nên thi ân nuông chiều mà làm tổn hại đến chính thể, gây ra những phí tổn dư thừa, làm suy đồi đức tiết kiệm."

Lời can gián của Lưu Thưởng chẳng thể thay đổi được quyết định của kim thượng, có điều, một tháng sau, khi An Định quận quân hạ sinh thập công chúa, kim thượng không còn thi ân như vậy nữa.

Tất nhiên, đối với chính Thu Hòa, ngài lại càng không quên ban thưởng.

Mấy năm gần đây, ngài muốn sinh hoàng tự nên đã tinh tuyển mười nữ tử trẻ tuổi bổ sung vào hậu cung, gọi là "Thập Các", Thu Hòa, An Định quận quân và Thanh Hà quận quân đều nằm trong số đó.

Mỗi người thuộc Thập Các đều được cung cấp cung nhân, nội thị, đề cử quan và tiền tiêu rất sung túc, nhưng phong hiệu của họ đều chỉ là quận quân, huyện quân, nhiều năm qua chưa từng thăng vị.

Một ngày nọ, Miêu hiền phi và công chúa đến thăm Thu Hòa, vài vị thuộc Thập Các cũng có mặt khi đó, đợi kim thượng tiến vào, Miêu nương tử hỏi ngài đã nghĩ xong chuyện thăng Thu Hòa lên danh vị gì chưa, ngài mỉm cười nói: "Vừa phân phó rồi, bảo từ thần viết sắc chỉ, thăng Thu Hòa lên mỹ nhân."

Thu Hòa nghe thấy tức khắc vùng dậy hạ bái, nói: "Thiếp xuất thân hàn vi, được bệ hạ quan tâm, hạ sinh công chúa, đã là rất may mắn rồi.

Huống hồ bệ hạ yêu thương cửu công chúa, đã ban thưởng hậu hĩnh, lại thanh lý phán quyết cho tù tội cầu phúc cho nó, mẹ con thần thiếp chịu ơn đã quá sâu nặng, nếu bệ hạ lại thăng vị cho thiếp, để thiếp vượt cấp làm mỹ nhân, đối với thiếp chỉ sợ là hành động giảm phúc.

Ý tốt của bệ hạ, thần thiếp vô cùng cảm động, nhưng dẫu thế nào cũng không dám tiếp nhận, kính xin bệ hạ thu hồi mệnh lệnh đã ban."

5.

Thập Các

Kim thượng đỡ Thu Hòa dậy, nói: "Nàng bên ta đã nhiều năm, phẩm cấp thấp bé nhưng luôn kính cẩn hiền thục, huống hồ bây giờ còn nuôi nấng công chúa, thăng vị là lẽ đương nhiên, đừng từ chối."

Thu Hòa lại nói: "Thiếp phúc bạc, chỉ đẻ được con gái, không sinh được hoàng tự, sao dám tranh công thăng vị?

Mỹ nhân đứng hàng tứ phẩm, cấp bậc cao, là dành cho người có tài có đức đảm nhiệm.

Thiếp thuộc Thập Các, bổng lộc chi tiêu không chỗ nào không đủ, thật không dám lấn lướt nhảy vọt lên tận đấy."

Kim thượng ngẫm nghĩ, nói với cô: "Nếu nàng thấy đột ngột thăng lên mỹ nhân không thỏa đáng, vậy ta thăng nàng lên quý nhân trước có được không?

Quý nhân đứng hàng ngũ phẩm trong nội mệnh phụ, tấn bậc có thứ tự, cũng sẽ không làm người khác chê trách."

Thu Hòa xua tay như còn muốn chối từ, nương tử Thập Các đứng xem người nào người nấy đều lên tiếng, khuyên cô ưng thuận tấn bậc, Bành Thành huyện quân Lưu thị trong đó còn nửa đùa nửa thật nói thẳng: "Tỷ tỷ, chị em ta hầu hạ quan gia đã nhiều năm song vẫn chỉ là đám ngự thị không có phẩm cấp, thường ngày tham dự tiệc rượu trong cung cũng chẳng mảy may một vị trí nghiêm chỉnh.

Bây giờ tỷ tỷ tốt số, hạ sinh công chúa trước, chúng tỷ muội đều rất vui mừng, chỉ mong thơm lây của tỷ tỷ và tiểu công chúa được chút nào.

Tỷ tỷ thăng vị, bọn em tốt xấu gì cũng có thể thuận theo xin lấy một chức tài tử, quý nhân mà làm.

Mà tỷ tỷ lại cứ khăng khăng từ chối, sinh công chúa cũng không chịu tấn bậc thế này thì cái đám vô phúc bọn em đây cũng chỉ đành tiếp tục không danh không vị cùng tỷ tỷ mà thôi, chẳng biết đến năm nao tháng nào mới có ngày cất đầu lên được."

Lời cô ả quả thực cũng đúng thực tế.

Tần ngự hậu cung thăng vị cần phải được Trung thư đồng ý, nếu Thu Hòa sinh hạ công chúa mà chưa tấn bậc thì những nương tử còn lại muốn vượt cô tiến cấp tất sẽ bị Trung thư bác bỏ.

Thu Hòa bị lời ấy chặn họng, đành thôi không kiên quyết từ chối nữa.

Vì vậy, kim thượng thăng cô lên làm quý nhân, đồng thời ban chức cho cha cô, phong làm nội điện sùng ban (*).

(*) Một chức võ quan thất phẩm.

Sau khi An Định quận quân sinh hạ thập công chúa, kim thượng cũng thăng vị theo lệ, bởi phong hiệu của cô vốn cao hơn Thu Hòa một bậc nên theo thứ tự phong thưởng, cô được thăng lên làm mỹ nhân.

Trong bữa tiệc đầy tháng của cửu công chúa, những nương tử Thập Các còn lại nhắc lại về việc "thơm lây" tấn cấp, kim thượng lắc đầu: "Tần ngự quốc triều thăng vị, nếu không có con cái nhờ ơn thì phải có đức hạnh thiện mỹ.

Bây giờ các nàng tự xin thăng vị, lại không có điển cố gì, triều đình ắt sẽ không phê chuẩn."

Bành Thành huyện quân bèn cười nói: "Quan gia là hoàng đế, thánh nhân, lời ra khỏi miệng chính là sắc chỉ, hễ có một câu của quan gia, hoàng mệnh hạ xuống, ai dám làm trái không theo?"

Kim thượng cũng cười: "Nàng không tin?

Được, thử tạm một lần xem sao."

Sau đó quay sang Nhậm Thủ Trung bên cạnh, "Các tướng công còn ở Trung thư chứ?"

Nhậm Thủ Trung khom người đáp: "Vẫn đang nghị sự trong Trung thư ạ."

Kim thượng gật đầu, ra lệnh: "Lấy giấy bút lại đây, ta viết ý chỉ, ngươi sai người giao cho Phú tướng công."

Nội thần dâng giấy bút, kim thượng vung bút viết ý chỉ, sai người đưa tới Trung thư môn hạ.

Lát sau, nội thị trở về, hai tay dâng trả ý chỉ: "Phú tướng công nói, nương tử Thập Các chỉ có Đổng quý nhân và Chu mỹ nhân sinh hạ công chúa, những nương tử còn lại đều không có lý do thăng tấn, Trung thư không dám lĩnh mệnh hạ sắc."

Nương tử Thập Các nhìn nhau, kim thượng cả cười, nói: "Sao nào?

Giờ đã tin chưa?"

Miêu hiền phi cũng cười nói với chư nương tử: "Các em còn trẻ, không biết then chốt trong đây.

Quan gia hiền hòa chiều hư đám quan lại trong triều mất rồi, bây giờ tính tình họ kiêu lắm.

Nhất là nhóm tướng công trong Trung thư, bắt đầu từ hồi Đỗ tướng công nhậm chức, quan gia muốn thăng ai, mười người đến chín đều bị họ bác bỏ."

Bành Thành huyện quân vẫn chưa hết hi vọng, sóng mắt dập dềnh đánh sang kim thượng, sẵng giọng: "Chiếu lệnh của hoàng đế đâu nhất thiết cần phải qua Trung thư tuyên bố mới thi hành được?

Không phải còn có nội giáng thủ chiếu (*) sao?

Nếu quan gia ngự bút thảo chiếu, thăng vị cho chúng thiếp, đợi đến lúc phát bổng lộc tháng, chúng thiếp cầm ngự bảo đi lĩnh, chẳng lẽ còn không được?"

(*) Nội giáng là chiếu lệnh không qua các tỉnh Trung thư nghị định theo thường lệ mà trực tiếp hạ xuống từ trong cung, thủ chiếu là mệnh lệnh hoàng đế tự tay viết, bình thường vua không tự viết chiếu mà chỉ hạ ý chỉ cho người khác viết thay nên sắc chỉ ngự bút đóng dấu ngự bảo thường có ý nghĩa đặc biệt.

Kim thượng cười thở dài, muốn giải thích, lại bị công chúa ngăn cản.

Công chúa vừa nháy mắt với ngài, vừa mỉm cười cố ý khuyên ngài: "Cha, quan viên trong triều còn có kiểu thăng chức nhờ thưởng công theo thời gian kia mà.

Nhóm Lưu nương tử phụng dưỡng cha nhiều năm như vậy, quả tình cũng nên được tấn cấp.

Cha ngự bút thảo chiếu, thăng vị cho họ, để họ đường đường chính chính được tăng bổng lộc thì có làm sao đâu?"

Kim thượng hiểu ý, thuận thế bằng lòng, bảo người mang giấy bút tới, hỏi Bành Thành huyện quân trước: "Lưu nương tử muốn thăng lên chức nào đây?"

Bành Thành huyện quân mừng rơn, đáp ngay: "Đổng tỷ tỷ chỉ làm quý nhân, thiếp cũng không dám vượt trên ngũ phẩm, quan gia thăng thiếp lên tài tử là được rồi."

Kim thượng cười, thật sự cầm bút viết: "Phong ngự thị Bành Thành huyện quân Lưu thị làm tài tử."

Bành Thành huyện quân vội cười tạ ân, sung sướng nhận ngự bút, xem đi xem lại.

Những nương tử Thập Các còn lại chưa được tấn bậc lập tức cùng nhao nhao tiến lên, vây lấy kim thượng xin ngự bảo, kim thượng cũng bằng lòng, viết cho từng người một.

Chỉ duy Thanh Hà quận quân là ngồi yên tại chỗ, không xin thủ chiếu theo mọi người.

Hoàng hậu thấy thế, cười hỏi quận quân: "Sao Trương nương tử không xin quan gia hạ ngự bút?"

Thanh Hà quận quân khom người thưa: "Bổng lộc quận quân thiếp dùng hãy còn dư, có nhiều hơn nữa cũng vô dụng, hà cớ lại xin quan gia thăng chức tăng lộc?"

Đảo mắt đã đến ngày cung nhân lĩnh bổng lộc tháng.

Hôm ấy công chúa đi thăm Thu Hòa, thấy trời trong nắng ấm, bèn mời cô ra Hậu uyển ngắm hoa.

Kim thượng hạ triều xong cũng qua đây, tán gẫu với hai cô gái.

Lát sau, chợt thấy Bành Thành huyện quân dẫn đầu nhóm nương tử trẻ tuổi nối nhau chạy tới, ai nấy đều tay cầm ngự bảo, nhíu mày bĩu môi, không lấy gì làm vui vẻ.

"Quan gia," Bành Thành huyện quân giơ thủ chiếu lên, mách với kim thượng, "Ban nãy thiếp sai người cho quan viên phát bổng lộc xem ngự bút, bảo hắn đưa thiếp bổng lộc tháng của tài tử, ai ngờ hắn lại kiên quyết cự tuyệt, nói không phải sắc chỉ Trung thự hạ, hắn không dám tuân lệnh, chỉ có thể trả về."

Các nương tử còn lại cũng ríu rít kể việc mình gặp phải, về cơ bản đều giống Bành Thành huyện quân, lấy ngự bút ra xin tăng lộc bị từ chối.

Thấy kim thượng chẳng có vẻ gì là kinh ngạc nổi nóng, Bành Thành huyện quân càng thêm tức tối, nửa hờn nửa giận xé thủ chiếu ra làm hai, còn ném xuống đất hai chân giẫm đạp, căm phẫn nói: "Thì ra là vô dụng!"

Chư nương tử nhao nhao hùa theo, ai nấy đều hủy ngự bút xin được, vụn giấy rách tán loạn khắp đất.

Kim thượng cũng không cáu giận, cười ha hả nói: "Ta đã bảo vô cớ thăng vị quan lại trên triều ắt sẽ không đồng ý rồi mà, các nàng lại không tin, cứ phải thế này mới chịu hết hi vọng.

Chuyện này vẫn chưa xong đâu, các nàng chờ tiếp xem, không quá ba ngày tất sẽ có ngôn quan dâng tấu luận về việc này."

Quả thế.

Hai ngày sau, đồng tri gián viện Phạm Sư Đạo dâng tấu nói: "Trộm nghe chư ngự thị Thập Các lấy cớ Chu, Đổng sinh hạ công chúa được thăng vị, xin ngự bút định suông, cũng thăng làm tài tử, không phải cáo chỉ do Trung thư hạ, mà chốn tiêu phòng ngấp nghé thăng vị có rất nhiều.

Chu, Đổng được thăng là chính đáng, những ngự thị này lại dựa vào đâu mà tấn bậc?

Phẩm cấp tài tử sẵn cao, từ cổ đã có biên chế, thời Đường chỉ được bảy người, Tổ Tông bản triều quy định ngự thị tiêu phòng không quá hai, ba trăm, số người ngũ phẩm không có mấy.

Nếu chư các đều thăng, nhân số này sẽ bị phá vỡ, người ngoài không tường, sẽ cho là bệ hạ sủng hạnh thái quá, không tiết chế ơn trạch.

Nữ tử tính như tiểu nhân, sủng hạnh thái quá sẽ sinh lòng ngạo mạn, không tiết chế ơn trạch sẽ dẫn đến oán hờn vô cớ, không thể cai quản bằng biện pháp này.

Lại chi tiêu quá nhiều, đòi hỏi quá lắm, bổng lộc tài tử bằng thuế thu trăm nhà trung lưu một tháng, ấy là còn chưa tính ban thưởng hằng năm.

Huống hồ cáo mệnh hạ xuống chẳng qua quan lại, đương buổi thịnh há lại dung việc như thế..."

"Sủng hạnh thái quá sẽ sinh lòng ngạo mạn, không tiết chế ơn trạch sẽ dẫn đến oán hờn vô cớ", những lời này xem chừng có hàm ý, mà biểu hiện của Bành Thành huyện quân cũng gợi lên sự chú ý đặc biệt của Ngự sử đài.

Không lâu sau, ngự sử trung thừa Hàn Giáng tra ra Bành Thành huyện quân từng lén lút thông đồng với phản tặc, mật cáo lên kim thượng, kim thượng lập tức nghiêm tra cung nhân Thập Các, nhặt ra những kẻ xấc xược, không kính cẩn khác, trục xuất khỏi cung cùng Bành Thành huyện quân, giáng xuống làm nữ đạo sĩ, hoặc buộc họ xuống tóc làm ni cô.

Về phần Thanh Hà quận quân, sau khi được hoàng hậu cất nhắc, Trung thư tán thành, đã được thăng lên làm tài tử.

Chuyện này cũng một lần nữa khiến người trong hậu cung được chứng kiến uy lực của đài gián, Miêu hiền phi cảm thán một phen cảnh ngộ Thập Các gặp phải, lại bảo riêng công chúa, đài gián là đôi mắt thứ hai của quan gia, nói câu này đại bất kính chứ, có lúc chẳng khác nào cha ngài, bắt được sai lầm là tóm riệt không tha, nhất định phải xử lý theo ý họ mới xong.

Họ quản rất rộng, từ quốc sự đến chuyện nhà hoàng đế đều đòi nhúng tay vào, họ cũng sẽ treo gươm trên đầu con, con ở bên ngoài phải cẩn thận mọi bề, chớ để họ có lời, đừng để thanh gươm ấy rơi xuống.

6.

Nguyên Tiêu

Cuối năm luôn là thời điểm bận rộn nhất, ta phải phụ trách việc thu nhận và đưa tặng lễ vật của phủ công chúa cùng sự vụ xã giao qua lại với đại nội cấm cung và tôn thất ngoại thích, bận thẳng đến sau tết Nguyên Tiêu mới được ngơi tay.

Ngày mười tám tháng Giêng năm Gia Hựu thứ năm, lễ lạt kết thúc, công chúa cũng từ trong cung trở về, bấy giờ ta mới rút ra được một ngày đi bái phỏng mấy người bạn cũ trong kinh như Thôi Bạch.

Buổi tối trở lại phủ, như thường lệ đến chỗ công chúa vấn án, lại thấy cửa phòng nàng đóng kín, đèn vẫn sáng, song bên trong tĩnh mịch im lìm.

Ta gõ khẽ vài cái lên cửa, nghe tiếng Gia Khánh Tử từ trong vọng ra: "Công chúa đã an giấc, có việc gì để mai hẵng quay lại bẩm báo."

Giờ mới qua bữa tối, theo lý công chúa sẽ không ngủ sớm vậy, ta bèn đứng ngoài cửa cất lời: "Là ta."

Cửa lập tức mở ra, xuất hiện trước mặt ta là Gia KhánhTử, mà trong phòng thì không thấy bóng dáng công chúa đâu.

Gia Khánh Tử mời ta vào trong, khép cửa lại rồi mới nhỏ nhẹ thưa: "Công chúa vẫn luôn muốn ra đường ngắm đèn, bữa nay sau khi trời tối đã thay quần áo của em, đội mũ quây, bảo Trương Thừa Chiếu lén dẫn ra ngoài rồi."

Ta nhíu mày, song cũng không có cảm giác gì quá bất ngờ.

Hằng năm từ mồng một đến Nguyên Tiêu, đèn hoa rực rỡ rọi phượng thành, du khách kinh sư như mắc cửi, cảnh tượng tột cùng những thái bình thịnh vượng.

Nhiều năm nay công chúa vẫn luôn muốn đích thân ra phố, trải nghiệm chợ đèn hoa tưng bừng, nay tuy đã ra ngoài cung ở nhưng có Lương đô tri giám sát, nàng cũng chẳng thể muốn gì làm nấy, tự tiện rời khỏi phủ công chúa.

Nàng từng năn nỉ Lương đô tri rất nhiều lần, đều bị thầy lấy cung quy ra bác bỏ, nàng cũng từng xin ta lén mang nàng ra, ta cũng không đồng ý, thế nên, nhất định là nàng thấy hôm nay ta không có trong phủ, mới nhân cơ hội thay đổi trang dung, bảo Trương Thừa Chiếu dẫn mình ra ngoài.

"Người đi đâu ngắm đèn?"

Ta hỏi Gia Khánh Tử.

Con bé cũng chẳng giấu giếm: "Trương Thừa Chiếu nói với công chúa, phường Cảnh Minh ngoài Đông Hoa Môn có một tửu điếm tên là Bạch Phàn Lâu, đồ ăn thức uống trong đó ngon nhất kinh thành, lầu cao đến mấy tầng, lên lầu ngắm đèn cũng thuận tiện.

Hôm nay công chúa chưa ăn tối, bây giờ chắc hẳn là sẽ vào đó."

Ta cảm ơn nó, lập tức ra cửa, giương roi thúc ngựa, chạy tới phường Cảnh Minh.

Bạch Phàn Lâu là tửu lâu danh tiếng nhất Đông Kinh, rèm châu hoành gấm, xưa nay bất kể nóng lạnh mưa gió, ban ngày đêm khuya, vẫn luôn là nơi tụ tập yến ẩm của quý nhân đế đô.

Tới nơi, ta ghìm ngựa lên lầu, tìm khắp ba tầng vẫn không thấy công chúa đâu.

Chẳng biết phải làm sao, ta bèn ra bao lơn tầng cao nhất, tựa vào lan can dõi mắt ra xa.

Hôm nay là ngày cuối cùng giăng đèn Nguyên Tiêu, hai bên đường lớn đèn đuốc sáng rỡ, có đèn sa tơ lụa bình thường, có đèn lưu ly ngũ sắc vẽ hình người non nước, hoa trúc lông vũ, có đèn bạch ngọc tựa bình ngọc băng xanh, có cả núi đèn màu cao đến vài trượng, gắn cơ quan chuyển động.

Thương gia mỗi bên một sáng kiến, đua nhau chăng đèn trưng trên nóc lầu, mà trên đường cái cây ngọc nhà ngà, ngựa xe như nước, cũng không thiếu nữ tử quyền quý ra phố ngắm đèn, bánh son khung chạm, yên hoa cương ngọc, trong xe rèm buông hương ủ, kẻ hầu trước ngựa tay xách cầu hương, xe lướt qua, khói hương tựa mây, vấn vít mấy dặm.

Tầm mắt ta vượt qua hương sắc năm đêm, vọng về sân mừng dưới đèn màu trước Tuyên Đức Lâu ở hướng tây nam.

Nơi ấy đan dây gai làm rào, bên trong có nghệ nhân diễn tạp kỹ, bên ngoài là du khách vây xem, bao gồm không ít quý nữ đi ra từ xe hương ngựa báu.

Hiện giờ, biểu diễn trong sân là hai đô vật nữ vạm vỡ không thua gì đô vật nam, họ mặc áo lót ngắn tay không cổ, ngực để trần một khoảng lớn, đá, quẳng, khiêng, đỡ, vật lộn với nhau trong tiếng hò reo khen hay của người xem.

Chốc sau, thắng bại đã phân, người thắng lượn quanh sân một vòng cảm ơn khán giả, khán giả cũng sôi nổi lấy tài vật ra thưởng cho thị.

Rất nhanh, hai tay đô vật chiến thắng đã ôm đầy tiền thưởng trang sức, đang định trở về giữa sân thì bỗng có một cô gái bước ra gọi thị lại.

Ngay sau đó, cô gái cất tiếng dấn lên mấy bước bắt kịp, đặt một xâu tiền vào lòng đô vật trước rồi lại duyên dáng cười tươi cắm một đóa hỏa dương mai lên búi tóc thị.

Cô gái ấy đội mũ quây, vành mũ rủ lụa trắng thật dài, nhìn từ lầu cao xuống tương đối bắt mắt, ta tập trung nhìn kỹ, nhận ra được xiêm y nàng mặc chính là của Gia Khánh Tử, bèn lập tức xoay người xuống lầu, lại cưỡi ngựa phi về phía vị trí nàng đứng.

Sau màn đấu vật, trong sân mừng bắt đầu đốt pháo hoa pháo bông, từng cụm hoa lửa trắng bạc bung nở giữa bầu trời đêm, trăm ngàn đốm lửa cánh hoa lả tả rơi xuống như mưa phùn.

Công chúa vén màn sa trước mũ ra sau đầu, ngửa mặt cảm nhận ánh sáng lay động quanh mình.

Lúc ta chạy tới bên cạnh nàng, nàng như có cảm ứng, thong thả nghiêng đầu, không hoảng không cáu, mỉm cười nhìn ta trong quang ảnh loang loáng: "Hoài Cát, huynh đến rồi."

Ta tiến lên cúi người hành lễ, dè chừng người đi đường xung quanh nên cũng không tiện mở miệng gọi nàng, chỉ nhẹ nhàng dẫn nàng rời khỏi đám đông, lại trợn mắt trừng Trương Thừa Chiếu bám gót ngay sau.

Trương Thừa Chiếu rất giỏi quan sát, không đợi ta mở lời quở trách đã xá ta một vái dài: "Chính chủ đến rồi, việc của tiểu nhân đã hết, xin phép được cáo từ."

Ta cũng lười quản hắn, nói khẽ với công chúa: "Chúng ta về thôi, muộn nữa, để Lương đô tri phát hiện ra thì không hay."

Công chúa làm như không nghe thấy, chỉ cười bảo: "Hoài Cát, ta đói."

Ta nói với nàng: "Trong phủ đã chuẩn bị xong cao lương mỹ vị rồi."

"Ta muốn nếm thử đồ ăn bánh trái của Bạch Phàn Lâu."

"Chúng ta về trước đã, rồi thần sẽ sai người đến đó mua."

"Ta muốn ngắm đèn tiếp."

"Trong phủ cũng có rất nhiều đèn hoa mà."

"Nhưng ta muốn ngồi trên Bạch Phàn Lâu, vừa ăn bánh trái nơi đó vừa ngắm đèn dưới lầu cơ."

Ta không tiếp lời.

Nàng lại thở dài: "Bây giờ mà về với huynh, chẳng biết năm nào mới lại được ngắm nhìn pháo hoa nhân gian chốn này."

Vẻ buồn bã chán nản của nàng làm tim ta mềm xuống, quyết định dung túng nàng thêm một lần.

Ta kéo lại màn sa sau đầu che mặt cho nàng, sau đó mang nàng đi tới Bạch Phàn Lâu.

Tới trước lầu, lúc sắp vào cửa, bước chân nàng chợt chậm lại, liên tục ngoái ra sau.

Ta quay đầu nhìn nơi nàng ghé mắt, trông thấy một cô bé ngồi bên đường bán những món trang sức Nguyên Tiêu như náo nga, tuyết liễu, ngọc mai, bồ đề diệp, đăng cầu (*).

Những món nữ trang này cắm trên một cọc cỏ bện, được cô bé yếu ớt gánh trên vai, mà quần áo cô bé thì mỏng manh, mặt và tay nứt nẻ tấy đỏ, dáng vẻ đói rét như mệt mỏi khôn thấu, ánh mắt dại đờ, run rẩy trong gió đêm.

(*) Những món này cùng hỏa dương mai nhắc tới bên trên đều là trang sức gắn lên miện của con gái Đại Tống du ngoạn tết Nguyên Tiêu: hỏa dương mai là táo chín giã nát vo thành viên, xuyên thành chuỗi vào que sắt, nướng trên lửa, có hình dạng và màu sắc như quả dương mai, cắm trên đầu làm trang sức; náo nga là thoa cài đầu hình hoa bướm làm bằng tơ lụa hoặc giấy dát vàng; ngọc mai là hoa giả làm bằng lụa hoặc giấy; tuyết liễu là nữ trang làm từ chỉ vàng vê thành tua rua; bồ đề diệp là trang sức bằng lụa, giấy cắt thành hình lá bồ đề; đăng cầu là quả cầu nhung to chừng quả táo tàu. (chú thích của tác giả)

"Con bé có vẻ lạnh lắm mà sao không về nhà vậy?"

Ta đáp: "Chắc là bởi vì chưa bán hết hàng."

Nữ trang cô bé bán tuy nhiều nhưng chất liệu không tốt, chế tác cũng chẳng quá tinh xảo, không có ưu thế nào giữa rừng hàng hóa cùng loại của những gánh hàng rong xung quanh, xem chừng không thể bán xong trong nhất thời nửa khắc.

Nghe ta nói vậy, công chúa đi thẳng tới chỗ cô bé kia, hỏi em: "Bán những món này của em cho ta đi, hết bao tiền?"

Tiểu cô nương trợn tròn hai mắt, nhìn công chúa không sao tin nổi, mãi một lúc lâu sau mới lắp bắp báo ra một cái giá.

Công chúa tức khắc chìa tay về phía ta: "Hoài Cát, đưa tiền đây."

Ta mỉm cười lấy túi gấm đựng tiền ra, định lấy đủ số tiền trả cho cô bé kia, công chúa lại không chịu đợi ta đếm xong, chộp cả tiền cả túi gấm lại, dúi vào tay tiểu cô nương, cười bảo: "Cho em cả đấy, mau về nhà đi."

Cô bé mừng rơn, đứng dậy hướng công chúa vái lấy vái để, cảm tạ không ngớt miệng.

Công chúa dịu dàng cười với em, thấy trên đầu em vấn hai búi tóc, lại không có trang sức gì, bèn trở tay gỡ chiếc lược ngọc vân rồng cài trên búi tóc của mình xuống, tự tay cắm lên mái đầu cô bé.

Tiểu cô nương hết lòng cảm kích không lời nào kể xiết, đứng đờ ra một lúc lâu, rưng rưng gỡ toàn bộ trang sức cắm trên cọc rơm đưa cho ta.

Ta cười, nói: "Không cần đưa cho tôi đâu, em mang về cả đi thôi."

Cô bé không ưng thuận, khăng khăng nhét vào lòng ta, rồi lại cảm ơn công chúa liên hồi, bấy giờ mới chịu từ từ lui đi.

Mà ta lúc này nom cái cọc trong tay lại thành ra phát sầu, cười nói với công chúa: "Thần mà cầm một đống đồ thế này, bồi bàn tửu lâu sẽ không cho thần vào đâu."

Công chúa cười chọn lấy vài món trên cọc, cắm từng cái lên khăn chít đầu của ta, rồi tháo mũ quây của mình xuống, bảo ta lựa mấy cái náo nga tuyết liễu cài lên búi tóc cho nàng, song vẫn còn dư lại rất nhiều.

Công chúa nhìn chằm chằm một chốc, lại gỡ xuống dăm món, thấy có quý nữ nào đi qua là chạy tới tặng cho người đó, những cô gái ấy tuy đều lấy làm kinh ngạc nhưng sau cùng vẫn mỉm cười tiếp nhận, không bao lâu sau, tất thảy nữ trang đã hết nhẵn.

"Được rồi," Công chúa bỏ cái cọc rơm trụi lủi vào góc đường, phủi tay nói, "Chúng ta vào được rồi."

Ta lại nghĩ tới một chuyện khác, chưa dời bước ngay mà hỏi nàng: "Đi đâu ạ?"

Nàng ngạc nhiên nhìn ta, nhất định là cảm thấy ta chóng quên quá đỗi: "Bạch Phàn Lâu đó."

"Ồ, nhưng bây giờ có một vấn đề."

Ta nhắc nhở nàng, "Công chúa còn tiền không?"

"Hả?"

Nàng sửng sốt, "Ban nãy ta cho đô vật hết tiền rồi..."

"Huynh thì sao?"

Nàng hỏi ngược lại ta.

Ta cay mày với nàng, giũ giũ hai tay áo trống không: "Tiền của thần không phải đã bị công chúa cướp hết rồi sao?"

Nàng cúi đầu, lát sau lại ngẩng lên nhìn ta, dạt dào trông mong hỏi: "Ngoài tiền ra, tửu lâu có nhận thứ khác không?

Ta vẫn còn trang sức."

"Hay là về đi thôi."

Ta kéo nàng ra ngoài, "Người ta đâu phải hiệu cầm đồ."

Nàng không biết phải làm sao, đành đi theo ta, nhưng mỗi bước một ngoảnh đầu ngó Bạch Phàn Lâu phía sau, dáng vẻ rất chi bịn rịn quyến luyến.

Song, chưa tới chỗ buộc ngựa thì chợt nghe có người gọi hai ta: "Lang quân và tiểu nương tử phía trước ơi, xin hãy dừng bước."

Chúng ta đứng lại quay đầu nhìn, thấy người đuổi tới là một cô nương mặc trang phục thị nữ.

Cô gái rảo bước tới trước mặt bọn ta, xách váy hành lễ rồi nói: "Phu nhân nhà tôi trên Bạch Phàn Lâu chứng kiến hai vị làm việc thiện, rất lấy làm kính phục, có ý muốn mời hai vị lên uống trà, chẳng biết lang quân và tiểu nương tử có bằng lòng nể mặt?"

Ta còn đang do dự, công chúa đã nở nụ cười với cô gái: "Vậy thì đa tạ, thỉnh cầu cô nương dẫn đường."

Cô thị nữ dẫn hai ta lên thẳng tầng hai, vào một căn phòng thanh nhã gọn gàng, bài trí trong phòng từ dụng cụ đến ly chén đều là vật thượng hạng, phòng chia làm hai gian, mỗi gian đặt một bàn, ở giữa có mành che ngăn cách, một vị phu nhân trẻ tuổi ngồi trong phòng, thấy chúng ta đi vào lập tức đứng dậy, rất lễ độ thi lễ chào hai ta.

Ban nãy nghe thị nữ kính cẩn gọi cô là phu nhân, mà cô lại ngồi ở một trong những gian phòng nhã thượng đẳng của Bạch Phàn Lâu thế này nên nguyên bản, ta đoán là một vị phu nhân tuổi tầm trung niên trở lên, chẳng ngờ cô lại trẻ trung vậy, xem chừng không quá hai mươi, tuổi tác xấp xỉ công chúa.

Tuy cách bức mành che, song vẫn có thể thấy được dung nhan cô.

Gương mặt cô khuôn trăng đầy đặn, da dẻ láng mịn, mắt hạnh xinh xắn, nụ cười cong cong vành trăng khuyết, có vẻ rất dễ thân.

Cô bận áo tay rộng màu liễu, sắc điệu mộc mạc, làm nổi bật nước da trắng ngần.

Màu sắc xiêm y tuy không phô trương song chất liệu thượng thừa, hẳn là gấm Thục, viền cổ áo thêu hoa văn tứ hợp như ý vô cùng tinh xảo, đằng sau chiếc miện phỉ thúy đội trên đầu cắm lược sừng tê giác trắng, qua đó có thể thấy thân phận cô bất phàm, hẳn là dòng dõi nhà quan.

Ta và công chúa cũng thi lễ đáp lại cô, cô lập tức mời hai ta ngồi xuống ngoài rèm, khách khí thăm hỏi đôi câu rồi lại hỏi bọn ta muốn gọi món gì, công chúa nói muốn thưởng thức vài món bánh trái theo mùa, vị phu nhân bèn nhỏ giọng dặn dò thị nữ.

Thị nữ ra ngoài truyền lời, một lát sau, có người tiến lên bày thức ăn, trám nếp, quýt xanh, cam Vĩnh Gia, hạt dẻ Hoa Tu, đu đủ sấy sợi, cỏ mầm hương bồ, từng đĩa từng đĩa đủ các loại bánh trái chua mặn, lại thêm một bát canh bột đậu, bánh trôi mặn làm bằng gạo nếp và canh chao thịt, quả nhiên đều là những món ăn dịp tết Nguyên Tiêu.

Cách chế biến những món này có chút bất đồng so với đồ ăn trong cung, công chúa cũng không nhiều lời khước từ, rửa tay cùng ta xong liền ngồi xuống, vui vẻ chuẩn bị thưởng thức.

Ta bèn theo thói quen xưa nay, chạm mu bàn tay vào mép bát, thử nhiệt độ canh cho nàng trước, thấy nóng, bèn lấy một cây quạt ra quạt gió thổi nguội, rồi lại múc chút ít ra thử độ mặn nhạt, cảm thấy không có vấn đề gì mới đưa cả bát đến trước mặt nàng.

Đợi công chúa nếm được một hai viên bánh trôi, uống xong một bát canh bột đậu, ta lại thuận tay bóc một quả quýt xanh, gỡ hết xơ trên thịt quả ra rồi đưa cho công chúa.

Vị phu nhân kia ngồi trong rèm quan sát suốt cả quá trình, bấy giờ mới cầm lòng không đậu cảm thán, nói với công chúa: "Tỷ tỷ, phu quân chị chăm sóc chị chu đáo quá."

Hằng ngày ở phủ công chúa, không phải lúc nào ta cũng mặc công phục, hôm nay cũng chỉ bận một tấm áo dài văn sĩ thông thường màu trắng, thế nên cô không nhận ra thân phận nội thần của ta, cho rằng ta là phu quân công chúa, mới cảm khái như vậy.

Ta quýnh lên, lại không tiện giải thích, chỉ đành cúi đầu im lặng.

Công chúa cũng chẳng nóng lòng biện bạch, trái lại còn cười đáp: "Huynh ấy lúc nào cũng vậy đấy...

Phu quân tỷ tỷ chắc cũng như thế với chị?"

"Hắn?"

Vị phu nhân kia cười nhạt, giọng điệu nhuốm vẻ hờn giận: "Hắn mà tốt với tôi bằng được một nửa thế này thì tôi đã chẳng lẻ loi ngồi đây một mình rồi."

"Tỷ tỷ ra ngoài một mình?"

Công chúa ngạc nhiên, "Tôi còn tưởng là chị ở đây chờ phu quân đến cùng thưởng rượu ngắm đèn chứ."

Vị phu nhân kia nhăn mày: "Đừng nhắc đến nữa.

Hôm nay hắn chọc bực tôi, trong cơn nóng giận tôi xông ra ngoài, thực ra tốc độ đi khỏi nhà cũng chẳng nhanh, ấy thế mà hắn không buồn đuổi theo...

Cho nên tôi dứt khoát lên xe tới đây, phái người đi truyền tin cho một vị tỷ muội khuê phòng, mời chị ấy đến đây trò chuyện đôi lát, nhưng đợi mãi vẫn chưa thấy chị ấy tới, may mà gặp được tỷ tỷ, bằng không...

Tôi sập cửa ngồi đây bức bối đến phát ngốt lên rồi."

7.

A Địch

Vị phu nhân thầm nghiến răng, có phần tức tối, lúc nhắc đến trượng phu, dáng vẻ hết sức u oán, công chúa xem mà cười rộ: "Tỷ tỷ nhất định là rất thích phu quân mình."

Vị phu nhân "hứ" một tiếng: "Thích gì chứ!

Trước đây trẻ người non dạ, nghe cha mẹ nói hắn tốt nên cứ thế mơ mơ hồ hồ xuất giá, giờ nhớ lại hối hận chết đi được."

"Vậy trước khi xuất giá, chị đã gặp anh nhà lần nào chưa?"

Công chúa hỏi.

Vị phu nhân gật đầu, cụp mắt ra chiều suy tư, một nụ cười ngượng ngùng bất đồ he hé nở bên má, nhưng rất nhanh sau đó cô lại mím môi, giấu đi.

Công chúa cười nói: "Phu quân tỷ tỷ hẳn là dung mạo tuấn tú, học vấn cũng không tệ."

Dụng tâm quan sát phục trang của vị phu nhân một hồi, nàng suy luận tiếp: "Chức quan trên tứ phẩm."

Vị phu nhân ngạc nhiên: "Sao tỷ tỷ..."

Lời còn chưa dứt đã thấy không thỏa đáng, bèn thẹn thùng nuốt chữ "biết" xuống.

Công chúa nói cô hay: "Lúc tỷ tỷ nhắc đến cảnh tượng nhìn thấy phu quân thời còn con gái, sắc mặt vui mừng, tất nhiên là dung mạo huynh ấy rất vừa lòng chị.

Người thời nay tôn sùng kẻ đọc sách, nếu học vấn huynh ấy không tốt, cha mẹ chị quá nửa sẽ không cho là huynh ấy tốt, cũng sẽ không khăng khăng bắt chị lấy huynh ấy.

Mà tỷ tỷ tuy ăn bận thanh nhã, song quanh thân không chỗ nào không phải tinh phẩm, xin thứ cho muội muội vô lễ nói thẳng, anh rể mà là lang quân áo xanh mới trúng cử thì chỉ sợ bổng lộc chẳng đủ mà mua gấm Thục lược ngà cho tỷ tỷ.

Huống hồ anh rể hiện đang ở kinh thành, tất là điều ra ngoài đã được hồi kinh, khẳng định làm quan đã nhiều năm.

Thị nữ tỷ tỷ lại gọi tỷ tỷ là phu nhân, chứng tỏ tỷ tỷ rất có thể đã nhận được cáo phong (*) , thế nên tôi mới cả gan suy đoán, bậc quan của anh rể ắt phải trên tứ phẩm."

(*) Viết tắt của "cáo mệnh phong thưởng", chỉ việc ban tước vị danh hiệu cho thê thất quan viên trong triều đình.

Vị phu nhân kia kinh ngạc đi ra khỏi mành, nắm hai tay công chúa tỉ mỉ đánh giá, nói: "Chị đã hiểu biết về những điều này tất không phải người phàm tục, hẳn cũng xuất thân từ nhà công khanh phải không?"

"Ở hoàng thành mấy năm tự nhiên sẽ biết được những việc này thôi."

Công chúa khẽ cười, cũng không trả lời rõ ràng câu hỏi của cô, kéo phu nhân ngồi xuống bên mình, lại nói, "Tỷ tỷ quanh thân khí phái, xuất thân chắc chắn hiển quý, lại tìm được lang quân như ý, thật khiến người ta ngưỡng mộ."

Vị phu nhân kia xua tay, bất mãn nói: "Nào đâu mà như ý?

Nếu như ý, sao còn sinh ra lắm cơn cáu kỉnh thế này?"

Công chúa cười hỏi: "Có thể lấy người mình thích, lại chẳng như ý ư?"

Vị phu nhân đỏ mặt phủ nhận: "Ai bảo tôi thích hắn?"

Công chúa tắt cười, thất vọng than thở: "Nếu chị không thích huynh ấy thì đến một cái liếc mắt cũng chẳng buồn cho huynh ấy ấy chứ, đời nào còn tâm tư mà cáu giận với huynh ấy làm chi?"

Nghe vậy, vị phu nhân kia ngẩn người trầm mặc chốc lát, sau đó nghiêng đầu ngó ta, cười với công chúa: "Chị còn nói là ngưỡng mộ tôi?

Tôi mới là người phải ngưỡng mộ chị đây!

Phu quân chị cử chỉ nhã nhặn, mắt mày có phong độ văn nhân mặc khách, tương lai nhất định cũng sẽ là nhân vật làm bạn với ngôi cao, vả lại...

Lúc huynh ấy nhìn chị, chị để ý ánh mắt huynh ấy mà xem, chuyên chú như vậy, cứ như thiên địa vạn vật chỉ còn lại mình chị thôi ấy."

Cô bộc trực nói thế ngay trước mặt ta làm ta luống cuống chân tay, xấu hổ vô cùng.

Ta lúng túng hơi xoay người ngồi thẳng, mặt nhìn ra ngoài cửa sổ, tránh khỏi ánh mắt dò xét sau đó của cô và công chúa.

Đầu cổ ta giờ khắc này nóng rực, hẳn là mặt đã đỏ tới tận gốc cổ, làm vị phu nhân kia trông mà bật cười nho nhỏ, lại thấp giọng thì thầm gì đó với công chúa, công chúa cũng không khỏi khẽ cười, nhưng ngưng lại rất nhanh, đổi chủ đề trò chuyện: "Sao hôm nay không thấy tỷ tỷ đeo món náo nga tuyết liễu hay bồ đề diệp nào?"

Phu nhân đáp: "Đã cáu ai kia trong nhà rồi thì còn tâm trạng đâu mà đeo mấy món đó nữa?"

Công chúa cười: "Tôi thấy tâm trạng tỷ tỷ bây giờ tốt lên rồi, nếu không chê mấy kiểu dáng trên đầu tôi thô kệch, tôi tặng mấy cái cho tỷ tỷ đeo có được không?"

Vị phu nhân vui vẻ tiếp nhận, cười bảo được.

Thế là công chúa tháo ngay đám náo nga tuyết liễu trên đầu xuống, cài từng cái lên miện phu nhân.

Phu nhân thấy trên búi tóc nàng không có lược trang sức, cũng hào phóng gỡ chiếc lược ngà của mình xuống gắn cho nàng, hai người điểm trang cho nhau, nói cười không dứt, nom như bạn chốn khuê phòng quen biết đã lâu.

Đúng lúc này, nghe dưới lầu có xe bò lại gần.

Lát sau, một thị nữ lên lầu bẩm báo: "Trương phu nhân đến rồi ạ."

Vị phu nhân kia lập tức đứng dậy ra cửa đón.

Ta đoán vị Trương phu nhân này chính là tỷ muội mà phu nhân trẻ tuổi đây đang đợi, bèn song song đứng dậy cùng công chúa, chờ Trương phu nhân vào.

Vị phu nhân tiến vào niên kỷ lớn hơn nhiều, khoảng ngoài ba mươi, ăn vận trắng thuần, toàn thân cao thấp cũng không có món trang sức nào có thể gọi là châu báu, song dáng vẻ đoan trang, thùy mị nhã nhặn, hẳn cũng xuất thân dòng dõi thư hương.

Chị chậm rãi bước vào, còn dắt theo một đứa trẻ tuổi chừng năm, sáu.

Phu nhân trong phòng nhác thấy chị tức thì thi lễ, gọi chị là "Trương tỷ tỷ".

Trương phu nhân hoàn lễ ngay sau, dịu dàng gọi "Nhược Trúc", hẳn là khuê danh của vị phu nhân trẻ tuổi kia.

Sau đó, Nhược Trúc giới thiệu sơ lược với chúng ta Trương phu nhân là chị em kết nghĩa của mình, rồi quay sang Trương phu nhân nói công chúa là bằng hữu mới quen, ta là phu quân của công chúa, nhưng thân phận tên tuổi ra sao thì cô không biết nên cũng không nhiều lời.

Đôi bên thi lễ.

Trương phu nhân nhìn công chúa, bỗng mỉm cười nói: "Vị tiểu nương tử này quen mắt quá, hình như đã gặp ở đâu rồi thì phải."

Ta thầm cảm thấy không ổn.

Xem dung mạo phong thái và tuổi tác của vị phu nhân này, hiển nhiên là mệnh phụ có thể thường xuyên vào cung tham dự yến hội, tuy không phải phu nhân tể chấp có thể ngồi cùng cung quyến, nhưng từng trông thấy công chúa từ xa cũng vô cùng có khả năng.

Công chúa lại chẳng hoảng hốt chút nào, cười nhẹ thong dong đáp: "Thế ạ?

Cũng có nhiều người nói vậy lắm rồi.

Em nghĩ, có phải dung mạo em tương tự một quý phu nhân nào đó hay chăng, hoặc là gương mặt em thiếu đặc sắc quá nên ai ai cũng cảm thấy từng gặp ở đâu đó rồi."

Người nghe cười rộ, cũng không truy cứu đến cùng vấn đề này, sau đó Nhược Trúc mời chúng ta vào sảnh nhập tọa.

Ngồi xuống rồi, hai vị phu nhân hãy còn đang hàn huyên, ánh mắt công chúa thì lại bị đứa bé kia hấp dẫn, thì thầm với ta: "Đứa bé này đáng yêu quá, dung mạo còn xinh xắn hơn cả Trọng Minh nữa."

Đứa bé búi tóc trái đào, mặt mày đẹp đẽ, ánh mắt lanh lợi, da dẻ nõn nà trắng trẻo, có mấy lọn tóc bện cùng tơ màu thành những bím nho nhỏ, buông rủ cùng phần tóc còn lại dài chấm vai, là kiểu tóc của nữ hài, khuôn miệng nhỏ nhắn chúm chím cười nhìn Nhược Trúc cũng là thần thái của bé gái, nhưng thân lại bận y phục con trai.

Sau nữa, Nhược Trúc cũng để ý tới đứa trẻ, hỏi Trương phu nhân: "Đứa bé này cứ như ngọc tạc ấy nhỉ, là con nhà tỷ tỷ ạ?"

"Ta cũng muốn có một đứa như thế lắm, đáng tiếc là không có phúc ấy."

Trương phu nhân cũng cười, lại giải thích, "Đây là con gái tri chế cáo Bàng Đạm học sĩ, tên là A Địch.

Bàng học sĩ là bạn tốt lâu năm của anh rể em, ta lại quen biết Tiêu phu nhân nhà huynh ấy từ nhỏ, hôm nay họ dắt con tới nhà ta làm khách, ta nhận được thư của em rồi cũng không tiện đi ngay, thế nên lần lữa mất một lúc.

Anh rể em ngồi đàm đạo với Bàng học sĩ, A Địch chạy tới bên cạnh nghe.

Anh rể em thì em biết rồi đấy, thấy con bé mặc y phục nam hài là chướng mắt, nhăn nhăn nhó nhó, muốn nói lại thôi.

Ta sợ lão ấy lại nói câu gì không xuôi tai, vội vàng cáo lỗi, tìm cớ mang A Địch ra cửa, nói với mẹ nó là thuận tiện mang nó ra ngắm đèn hoa, lát nữa sẽ đưa về, thế nên nó theo ta tới đây."

Nhược Trúc xoa đầu A Địch, cười hỏi nó: "Người lớn ngồi đàm đạo mà con cũng thấy hứng thú à, nghe có hiểu không?"

A Địch ngoan ngoãn ngồi yên, chỉ cười không đáp, Trương phu nhân bên cạnh lại bảo: "Em chớ có xem thường nó, nó bây giờ tuy mới chỉ năm tuổi nhưng Bàng học sĩ vẫn luôn dạy dỗ nó như con trai, tứ thư ngũ kinh cũng thuộc được không ít rồi đấy."

Nhược Trúc càng thêm hiếu kỳ, lại hỏi A Địch: "Thế hôm nay họ đàm đạo gì thế?"

A Địch ngẩng đầu, chớp mắt, khóe miệng nhoẻn một nụ cười ngời ngời: "Tư Mã bá bá nói, nữ tử đô vật ăn mặc quá phong phanh, đáng thẹn, đáng thẹn, không ra thể thống gì, muốn xin quan gia cấm họ biểu diễn trên đường."

8.

Mờ mịt

Giọng A Địch non nớt mềm mại, nói câu này nghe đến là ngây thơ, làm công chúa và Nhược Trúc đều không nhịn được bật cười.

Nhược Trúc tiếp lời: "Chơi trò ấy tất nhiên là phải ăn mặc thoải mái chút mới dễ hoạt động, chẳng lẽ lại bắt họ mặc áo dài tay rộng, bọc mình kín mít mà đấm đấm đá đá sao?"

Công chúa cũng cười: "Đó là tiết mục tạp kỹ tết Nguyên Tiêu hằng năm, lúc quan gia giá lâm Tuyên Đức Môn ngắm đèn cũng thích xem, có thấy ngài ý kiến gì về trang phục của những phụ nhân này đâu."

Bốn chữ "Tư Mã bá bá" vừa ra khỏi miệng A Địch, ta đã đoán được ngay vị tiên sinh ấy có thể là Tư Mã Quang học sĩ ta từng có duyên gặp mặt một lần, bởi y hiền danh lan xa nên người đời đều biết y phẩm đức cao thượng, coi trọng lễ pháp, nghe lời Trương phu nhân và A Địch tự thuật cũng rất phù hợp với tính tình y, vả lại trong ấn tượng của ta, quan viên trong kinh hiện tại cũng chỉ có mình y mang họ Tư Mã.

Mà ngay sau đó, suy đoán này cũng được câu tiếp theo của Trương phu nhân chứng thực.

"Ôi, cũng chính vì quan gia không ý kiến gì nên Quân Thực mới lắm ý kiến thế đấy chứ."

Trương phu nhân cười bất đắc dĩ.

Quân Thực chính là tên tự của Tư Mã Quang.

Trương phu nhân giải thích thêm: "Chàng nói với Bàng học sĩ, Tuyên Đức Môn là biểu tượng quốc gia, là nơi ban bố pháp lệnh, thể hiện tôn nghiêm của nước nhà.

Lúc ngắm đèn Nguyên Tiêu, trên có thiên tử chí tôn, dưới có vạn dân chi chúng, hậu phi hầu hạ bên cạnh, mệnh phụ theo dõi chung quanh, để đám phụ nhân bán khỏa này nô đùa trước Tuyên Đức Môn thì còn gì là lễ pháp long trọng, thị uy tứ phương?

Sau này nhất định phải dâng sớ luận việc này, xin quan gia cấm tiệt tiết mục ấy."

Công chúa không đồng ý: "Em lại cảm thấy tiết mục này rất hay, nữ tử có thể so tài như nam tử, không như trước đây, chỉ có thể tô son điểm phấn loay hoay với đàn sáo dây ống, hoặc làm ca cơ vũ nữ mua vui cho người.

Hoạt động như thế có mặc ít một chút cũng không ảnh hưởng đến toàn cục, lại nói, nam tử để trần cánh tay diễn tạp kỹ trước Tuyên Đức Môn có đầy ra đấy, cớ gì nữ nhân lộ nhiều một tấc da thịt thì lại không được?"

Nhược Trúc cười: "May mà chị không biết ông anh rể này của em, chứ nói câu này trước mặt huynh ấy, chẳng biết huynh ấy sẽ mắng chị thế nào."

Công chúa không vui, muốn phản bác tiếp, ta vội lén giật tay áo nàng, ngăn nàng lại, công chúa cũng không nói thêm nữa, chỉ hỏi A Địch: "Thế cha con có tán thành ý kiến của Tư Mã bá bá không?"

A Địch lắc đầu, mỉm cười đáp: "Tư Mã bá bá muốn cha con khuyên quan gia cùng mình, cha con chỉ cười, không đáp ứng, sau đó Tư Mã bá bá không vui, trông thấy con lại càng tức giận hơn..."

Công chúa và Nhược Trúc nhìn nhau cười, Trương phu nhân cũng cười than thở, đổi chủ đề: "Chúng mình đừng động tới con mọt sách này nữa.

Nhược Trúc, nói về em đi.

Làm gì mà cáu đến vậy, một mình chạy tới nơi này?"

Nhược Trúc chần chờ, không trả lời ngay.

Ta nghĩ chắc là cô kiêng dè hai ta, không tiện kể chuyện trong nhà với tỷ muội, bèn nhẹ giọng nói với công chúa: "Không còn sớm nữa, chúng ta cũng nên cáo từ thôi."

Công chúa "ờ" một tiếng, giọng chẳng mấy vui vẻ, cũng không đứng lên ngay.

Đại khái Nhược Trúc cũng nhìn ra công chúa rất có hứng thú với chuyện của mình, nghĩ ngợi một hồi, cuối cùng nắm tay công chúa, nói: "Tỷ tỷ đừng đi.

Hiếm khi nào gặp được ai hợp ý như tỷ tỷ, em kể lại hết tủi nhục hôm nay cho tỷ tỷ nghe vậy." lại quay sang ta, nói, "Lang quân cũng đừng ngại nghe xem, tương lai chớ phạm vào sai lầm như phu quân tôi."

Lệnh thị nữ dọn thức ăn thừa xuống, đun nước châm trà, Nhược Trúc nghiêng người bắt đầu kể với Trương phu nhân: "Bởi quan hệ với cha em nên phu quân em vốn không tiện làm quan kinh thành, cũng đã ra ngoài nhậm chức mấy năm, nhưng gần đây quan gia bỏ ngoài tai cha em phản đối, cho vời hắn về, bổ hắn vào Hàn uyển làm học sĩ.

Em lấy làm lạ, trở về hỏi cha nguyên nhân, cha lại không chịu nói với em.

Mãi đến hôm qua, em theo mẹ sang nhà ông ngoại chúc tết, nói chuyện phiếm với chị em dì mợ bên ấy, họ mới nói cho em biết, hai năm nay Âu Dương nội hàn phải kiêm chức đảm đương cả phủ Khai Phong, sự vụ Hàn uyển không quản lý được bao nhiêu, huống hồ năm ngoái y lại bận hặc tội Bao Chửng, quan gia cảm thấy Hàn uyển thiếu người, bèn vội vã điều phu quân em về."

Chuyện năm ngoái Âu Dương Tu hặc Bao Chửng mà cô đề cập đến ầm ĩ rất lớn, ta cũng nghe kể được đôi phần.

Nguyên nhân là quyền ngự sử trung thừa Bao Chửng suất lĩnh quan viên Ngự sử đài hặc tam ty sứ Trương Phương Bình, tố y tắc trách, cuối cùng làm Trương Phương Bình mất chức.

Sau đó kim thượng bổ Tống Kỳ đảm nhiệm chức tam ty sứ, Bao Chửng lại bảo không được, hặc tiếp Tống Kỳ, buộc kim thượng điều Tống Kỳ ra ngoài.

Kim thượng buồn cười: Ông thấy người này không được, người kia cũng không được, hay là tự ông làm đi thôi!

Ngòi bút vung lên, ý chỉ viết xuống: Phong quyền ngự sử trung thừa Bao Chửng làm toàn tam ty sứ.

Hoàng mệnh hạ xuống, Âu Dương Tu giận dữ, lập tức dâng sớ hặc Bao Chửng, dày đặc ngàn lời, tố Báo Chửng "thiên tư ngay thẳng, song vốn thiếu học vấn", "giẫm ruộng đoạt trâu (*), há lại vô tội", "tố tội người ta mà như xoi mói, đuổi chỗ người ta mà như hãm hại...

Nay Chửng đuổi hai thần, tự thế mình vào chỗ họ, giúp kẻ gian nịnh tương lai có cớ lừa dối quân chủ; từ rày về sau lời gián ngôn chẳng còn đáng tin, không rõ minh bạch"...

Tấu chương vừa dâng, Bao Chửng cũng đứng ngồi không yên, trốn trong nhà không nhận bổ nhiệm.

Song, mặc cho Âu Dương Tu khuyên can thế nào, kim thượng cũng không đổi mệnh lệnh, một mực khăng khăng, Bao Chửng chỉ đành nhậm chức.

(*) Thành ngữ xuất xứ từ một tích trong "Tả truyện – Tuyên công thập nhất niên": Người nông dân vì bị trâu nhà khác giẫm nhầm vào đất ruộng mình nên cướp lấy trâu, chỉ tội nhẹ phạt nặng để mưu lợi cho mình.

Quốc triều thi hành chính sách tị hiềm thân tịch, bình thường thân quyến của trọng thần tể chấp không thể cũng nhậm chức trọng yếu, thậm chí còn không thể đồng thời làm quan trong kinh.

Một trong những lí do Bao Chửng hặc Tống Kỳ chính là anh Kỳ Tống Tường đã chấp chính nên y không thể nhậm chức tam ty sứ.

Mà nghe ý của Nhược Trúc, có vẻ như phụ thân cô cũng là trọng thần triều đình, thế nên chồng cô không tiện làm quan trong kinh, bị điều ra ngoài vài năm.

Có điều, gần đây ta ít khi hỏi thăm chuyện Hàn uyển nên cũng không biết gần đây có vị nào làm quan quận ngoài được vời về nhậm chức nội hàn.

"Thì ra phu quân tỷ tỷ là nội hàn, quả nhiên ta đoán không sai mà!"

Công chúa đắc ý vỗ tay cười.

Quan giai của hàn lâm học sĩ đứng hàng chính tam phẩm, suy đoán của công chúa trước đó về phẩm cấp của phu quân Nhược Trúc hoàn toàn chính xác.

Trương phu nhân nghe vậy cười: "Phu nhân cô này cao thâm lắm, đỗ đạt mười năm đã làm đến nội hàn, quốc triều trước nay cũng chẳng có mấy người."

"Ồ?"

Công chúa tò mò truy vấn, "Thế huynh ấy là..."

"Hắn chỉ là được thánh thượng gia ân, lượm được của hời đó thôi."

Nhược Trúc hời hợt nói, cũng không vội nói ra danh tính chồng mình mà kể tiếp chuyện nhà, "Sau, nữ quyến nhà ngoại em thảo luận chuyện Âu Dương nội hàn và Bao Chửng ai đúng ai sai, đa số đều cảm thấy Bao Chửng hặc Tống Kỳ thực ra cũng không sai, ngoài việc đáng ra phải tị hiềm Tống Tường chấp chính ra thì Tống Kỳ cũng đúng như lời Bao Chửng nói, ham tiệc tùng yến ẩm, xa hoa thái quá, mà tam ty sứ lại quản lý tài chính quốc gia, không nên để người như vậy đảm nhiệm.

Sau đó, họ bắt đầu nói đến những chuyện về Tiểu Tống lưu truyền trong triều, trong đó có một chuyện rất thú vị: Tiểu Tống có rất nhiều tì thiếp, trong khoảng thời gian y tri Thành Đô Phủ, một ngày nọ bày tiệc bên bờ Cẩm Giang, rượu uống được một nửa thì đột nhiên cảm thấy gió quá lớn, hơi lạnh, bèn phái người về nhà lấy một tấm áo tay lửng cho y mặc.

Kết quả, tên hầu kia trở về phủ vừa nói chuyện này ra, cả bầy oanh yến đã lập tức chạy về phòng, ai nấy đều lấy một tấm áo tay lửng dúi cho hắn.

Tên hầu mang hết đi đưa, Tiểu Tống nhìn thấy, trợn tròn mắt há hốc – tổng cộng những mười mấy tấm kia mà!

Y mờ mịt nhìn nửa ngày, cảm thấy chọn của ai cũng không ổn, thế nào cũng có cảm giác nặng bên này nhẹ bên kia, thế là không dám lựa mặc, cuối cùng cố chịu lạnh mà về."

Cô kể tới đây, công chúa nâng tay áo che miệng, trộm cười, Trương phu nhân và ta cũng buồn cười theo.

Nhược Trúc trông thấy, lại bảo: "Buồn cười lắm đúng không?

Em cũng thấy thú vị, thế nên hôm nay về đến nhà, em mới kể lại cho ai kia.

Lúc hắn nghe đến Tiểu Tống mờ mịt nhìn áo tay lửng, cũng phá ra cười ha hả đến là vui vẻ.

Thế nên kể xong, em mới thuận thế hỏi hắn: 'Nếu nguyên phối của chàng và chị thiếp đều còn tại thế, ba người bọn thiếp mỗi người may cho chàng một tấm áo bông, cùng tặng chàng, vậy chàng sẽ mặc của ai?' Hỏi vậy, hắn nhất thời cũng 'mờ mịt', ngẫm nghĩ một lúc mới trả lời: 'Ta mặc cả hết vậy, dù sao mùa đông năm nay cũng lạnh.' Đời nào em chịu để hắn bịp bợm cho qua, bèn truy vấn: 'Vậy chàng sẽ mặc của người nào trước?

Mặc của ai trong cùng?' Hắn ấp úng không đáp, em hỏi đi hỏi lại, hắn mới lẩm bẩm: 'Thì dù sao cũng phải có trước có sau chứ đúng không, mặc theo thứ tự cưới các nàng đi...'"

Trương phu nhân cười hỏi: "Em tức giận vì chuyện này?"

Nhược Trúc cau mày: "Lúc đó em nghe xong quả thực cũng không vui, nhưng đây chưa phải cái đáng giận nhất đâu...

Em tỉnh rụi hỏi lại hắn: 'Nếu ba người bọn thiếp chia nhau ở trong phòng mình, sau đó cả ba căn phòng đều bốc cháy, vậy chàng sẽ cứu ai trước?' Hắn hết nhìn trời lại nhìn đất, lề mề hồi lâu mới đáp: 'Nàng cho ta cứu Vương tỷ tỷ của nàng và Nhược Lan trước đi, sức khỏe họ không tốt...

Ta cam đoan cứu họ ra xong sẽ cứu nàng ngay.'"

Công chúa không nhịn được nữa, bật cười nắc nẻ, Trương phu nhân ngậm cười xua tay: "Cậu ấy cũng ngay thẳng quá rồi, có nghĩ thế thật cũng không nên nói thẳng câu cuối ra vậy chứ."

Nhược Trúc nghiến răng nghiến lợi, căm hận: "Em hít sâu một hơi, vất vả mãi mới nén được lửa giận, tiếp tục ôn hòa bảo hắn: 'Nhưng thế lửa lớn lắm, chàng mà không tới cứu thiếp trước, thiếp sẽ chết cháy mất.' Kết quả, mọi người đoán xem hắn trả lời thế nào?"

Chúng ta đều cười lắc đầu, tỏ vẻ đoán không ra.

Cô bèn công bố đáp án: "Hắn nói: 'Không đâu, nàng không bệnh không ốm, chạy lại nhanh, có khi nhà vừa bốc khói nàng đã chạy ra rồi không chừng, chẳng cần đến ta cứu.'"

9.

Phu thê

Biểu cảm cô sinh động, bắt chước thần thái của phu quân mình khi nói lời ấy nom y như thật, tức khắc làm dậy lên một trận cười vang dội khắp sảnh, đến hai thị nữ hầu sau lưng cô cũng không giữ nổi lễ tiết, lấy tay áo che miệng, cười đến run rẩy cả người.

Bản thân Nhược Trúc thì không cười, thay vào đó căm phẫn bất bình: "Lúc đó em tức đến suýt nữa định đốt nhà thật.

Sau nghĩ lại, được, chàng nói thiếp chạy nhanh đúng không?

Vậy thiếp chạy cho chàng xem!

Liền không nói hai lời, phất tay áo bỏ đi.

Thoạt đầu cho là hắn sẽ biết đường đuổi theo nên đi rất nhanh, còn suy nghĩ nếu hắn chạy tới bắt tay mình lại, mình nhất định phải vùng thật mạnh ra mới được...

Đợi một lát không thấy hắn đuổi theo, em lấy làm lạ, bèn bước chậm lại, nhưng vẫn không nghe thấy tiếng bước chân hắn, quay đầu nhìn thử, nào ngờ căn bản chẳng thấy bóng hắn đâu!

Hừ, nói không chừng hắn còn tưởng sắp đến giờ dùng bữa, em chỉ đi giục kẻ dưới dọn cơm nước đấy thôi.

Em nhất thời nổi giận, lập tức sai người chuẩn bị xe, đi tới đây."

"Ừ, em rể quả thực không đúng.

Tuổi cậu ấy cũng đâu còn nhỏ nữa, sao không biết nhường nhịn dỗ dành em ít câu, để em không dưng rước bực vào người thế này."

Trương phu nhân cười than, lại kéo tay Nhược Trúc, vỗ về, "Cơ mà, nói thật, muội muội em cũng có chỗ không phải.

Vô duyên vô cớ hỏi cậu ấy như vậy làm gì?

Em bảo cậu ấy phải đáp thế nào?

Nói cứu người khác trước, tất nhiên là em không vừa lòng, nhưng nếu cậu ấy nói cứu em trước thì có khác nào coi nhẹ cố nhân, có mới nới cũ, vô tình vô nghĩa, em nghe rồi có vui nổi không?"

Nhược Trúc bĩu môi: "Nói thì nói vậy, nhưng em muốn biết địa vị em trong lòng hắn ra sao mà!"

Buông một tiếng thở dài, cô lại hậm hực: "Có đôi khi, em cảm thấy chắc mình sinh sai thời điểm rồi.

Nếu sinh sớm mười mấy năm, gặp được hắn trước khi hắn lấy vợ rồi xuất giá làm nguyên phối của hắn, hai người nâng khay ngang mày sống bên nhau đến giờ, như là chị và anh rể vậy, không có ngăn cách, chẳng phải mọi thứ đều ổn thỏa rồi sao?"

Nghe thấy nói đến mình, nụ cười của Trương phu nhân phai nhạt đi phần nào, chân thành nói với Nhược Trúc: "Ta và anh rể em cũng chẳng phải không có ngăn cách, không sầu không lo như em tưởng tượng đâu...

Tuy chàng chỉ có mình ta là vợ, trước nay chưa từng nạp thiếp, nhưng ta vẫn chưa sinh được cho chàng một trai nửa gái nào.

Nay chàng đã bốn mươi rồi, ta cũng chẳng còn trẻ trung gì, thế nên cũng càng thêm lo âu, cứ cảm thấy hổ thẹn với chàng, lại đâm nóng lòng mong chàng mau chóng nạp thiếp, để một cô gái khác cùng hầu hạ chàng, giúp chàng nối dõi tông đường."

Nhược Trúc hỏi: "Thế anh rể có bằng lòng nạp thiếp không?"

"Nếu bằng lòng thì ta còn phát sầu thế này làm gì?"

Trương phu nhân cười khổ: "Có lần, ta đã chọn xong cho chàng một nàng hầu xinh đẹp rồi.

Một hôm nọ, bảo tiểu nương tử ấy trang điểm sẵn sàng, đến thư phòng Quân Thực hầu hạ.

Ai ngờ em ấy vào rồi, Quân Thực đến nhìn cũng chẳng nhìn đến, chỉ chuyên tâm đọc sách.

Tiểu nương tử ấy muốn làm chàng chú ý, bèn thuận tay cầm lấy một quyển sách, cất tiếng hỏi chàng: 'Học sĩ, đây là sách gì?' Quân Thực liếc sách, sau đó chắp tay với em ấy, nghiêm túc đáp: 'Đây là .' Sau đó lại tiếp tục đọc sách, không để ý tới nữa.

Tiểu nương tử không biết phải làm sao, đành rời đi, kể lại với ta việc này.

Khi đó ta nghĩ, có lẽ là vì ta ở nhà, Quân Thực băn khoăn nên mới không tiện gần gũi với em ấy.

Qua mấy ngày, ta mượn cớ sang nhà bạn ngắm hoa, ra cửa từ sớm.

Tiểu nương tử trang điểm ăn vận hoa lệ đến thư viện dâng trà cho Quân Thực, nào hay Quân Thực trông thấy em ấy lại tức giận không vui, mắng em ấy: 'Con hầu này!

Hôm nay viện quân (*) không ở nhà, ngươi tới đây làm gì?'"

(*) Tức huyện quân, vốn là danh xưng gọi phụ nữ có phong hiệu, sau thê tử nhà phú hào bình thường cũng được gọi là "viện quân".

Nhược Trúc nghe vậy cười, an ủi Trương phu nhân: "Chuyện nối dõi, nếu anh rể không có ý cưỡng cầu thì tỷ tỷ cần gì phải để tâm?

Huống hồ, nghe nói huynh ấy đã thu nhận con cháu trong tộc làm con thừa tự rồi.

Anh rể không muốn nạp thiếp, chứng tỏ đối với chị tình thâm ý trọng, thật khiến người ta hâm mộ xiết bao.

Nếu em nạp thiếp cho ai kia, hắn nhất định cầu còn chẳng được.

Hai ngày trước hắn theo em ra ngoài ngắm đèn, lại cứ nhìn chằm chằm cái bóng mỹ nhân cổ dài ánh đèn rọi ra, rõ rành rành cái thứ háo sắc, tương lai chẳng biết em còn phải chịu bao nhiêu tủi hởn đây!"

Trương phu nhân kinh ngạc: "Cậu ấy nhìn cái bóng đèn soi mà em cũng có ý kiến?

Không khỏi đa đoan quá rồi đi?

Cậu ấy làm đại thần triều đình mà còn chịu theo vợ ra ngoài ngắm đèn đã là tốt lắm rồi, em còn oán thán lắm thế, há chẳng phải có phúc mà chẳng tự biết?"

Công chúa nghe vậy, hỏi Trương phu nhân: "Lẽ nào Tư Mã học sĩ không chịu cùng phu nhân ra ngoài ngắm đèn?"

"Lại chẳng à!"

Nhắc tới việc này, chân mày Trương phu nhân cũng hiện vài phần hờn dỗi, "Mỗi lần ăn tết, chàng đều không chịu ra ngoài du ngoạn cùng ta.

Có một năm, cũng vào dịp Nguyên Tiêu, ta muốn ra cửa ngắm đèn, nói với chàng, chàng lại hỏi ta: 'Trong nhà cũng đốt đèn, hà tất phải ra ngoài xem?' Ta mới giải thích: 'Thiếp muốn ngắm cả du khách trên đường nữa.' Chàng nghe xong, lườm ta, nói: 'Chẳng lẽ ta không phải người, là ma chắc?'"

Câu này vừa xuất khẩu, mọi người đều phì cười.

Trương phu nhân lại hỏi Nhược Trúc: "Em xem, nếu cho em chọn, em có bằng lòng chọn một tên đầu gỗ như Quân Thực vậy không, hay là tiếp tục chung sống cùng em rể?"

Nhược Trúc ngẫm nghĩ, tuy không đáp, song cúi đầu không cầm được nhoẻn cười, đáp án đã rõ ràng.

Trương phu nhân lại nhẹ giọng thở dài, nói: "Trên đời làm gì có cặp phu thê nào mười phân vẹn mười?

Có rất nhiều vợ chồng, trong mắt người khác cái gì cũng tốt, tôn trọng lẫn nhau, ân ái muôn phần, hòa thuận tốt đẹp, nhưng ẩn tình trong đó cũng chỉ có thể ấm lạnh tự biết.

Thế nhưng, lẽ nào chỉ vì trong hôn nhân có chút khuyết điểm mà không tiếp tục nữa?

Em nuôi một cội thược dược cũng phải kiên nhẫn chăm sóc hằng ngày, nó mới có thể nở rộ tưng bừng.

Cặp phu thê nào oán giận lẫn nhau, tự cảm thấy không thể sống nổi cùng nhau, ấy có thể là vì thiếu cái kiên nhẫn tưới nước trừ sâu đó...

Phu quân em tài hoa cái thế, tướng mạo, tính tình lại tốt, thế gian hiếm có, thế nên lệnh tôn mới yêu quý người con rể này đến vậy, tỷ tỷ em qua đời lại gả em cho cậu ấy.

Nam nữ thế gian hàng ngàn hàng vạn, có thể kết làm phu thê là duyên phận khó đắc giữa hai em, nên biết tự quý trọng mới phải.

Huống chi suốt hai năm qua, cậu ấy đối xử với em có thể nói hết lòng che chở, săn sóc chu đáo, em còn gì để bất mãn nữa đây?

Dẫu có chút chuyện nhỏ làm em không vui, cũng tội gì mà không khoan thứ, rộng lượng chút ít là sẽ qua thôi.

Nếu thường xuyên chỉ vì nửa câu một lời mà nổi nóng phát giận, lâu dần sẽ chỉ gây tổn thương lớn đến tình cảm mà thôi."

Nhược Trúc cúi đầu nghe, cũng không phản bác, một lúc lâu sau mới mở miệng, lại không nói đến chuyện mình mà cười trỏ vào công chúa và ta: "Trên đời chắc gì đã không có đôi phu thê nào mười phân vẹn mười?

Em thấy hai người họ tốt lắm, trong mắt chỉ có nhau, bên nhau lại hòa hợp như vậy."

Công chúa nghe thế, lập tức phản đối: "Còn lâu ấy, bọn tôi cũng có vấn đề – có đôi lúc tôi bảo bảo huynh ấy giúp tôi làm chút chuyện huynh ấy cũng không chịu, còn bắt tôi phải năn nỉ kia!"

Trương phu nhân liền hỏi: "Có phải chuyện cô muốn cậu ấy làm chẳng tốt lành gì nên mới khiến lang quân khó xử vậy không?"

Nhược Trúc lại hỏi: "Thế nhưng, nếu chị khăng khăng thì cuối cùng huynh ấy vẫn nhận lời chứ gì?"

Công chúa kinh ngạc: "Sao hai người biết?"

Nhược Trúc và Trương phu nhân cùng rộ cười, quay sang nhìn ta.

Ta cụp mắt cúi đầu, tiếp tục mỉm cười giữ im lặng, mà trong lòng thì chớp lóe một ý nghĩ như mây đen: Thực ra, vấn đề lớn nhất của chúng ta là chúng ta căn bản không phải phu thê, hơn nữa, cả đời này cũng không thể kết làm phu thê."

Song, cảm xúc ảm đạm ấy của ta cũng chẳng duy trì được bao lâu, sau đó, dưới lầu vọng lên tiếng ngựa hí, cắt ngang nỗi lòng ta.

Trương phu nhân đứng dậy, đến bên song cửa ngó ra ngoài, chợt ngậm cười nghiêng đầu, nói với Nhược Trúc: "Nói thật vậy, hôm nay nhận được thư em, thấy em viết nghiêm trọng quá chừng, đến câu 'gặp người không ra sao' cũng nói ra được, thấy kinh ngạc hết sức, lại không biết tình hình cụ thể ra sao, nên đến nhà em hỏi em rể trước.

Cậu ấy kể với ta, lúc đó vốn định chọc cười em, không ngờ em lại cho là thật, lúc em ra ngoài, cậu ấy nhất thời không phản ứng kịp nên mới không đuổi theo.

Sau, ta hẹn với cậu ấy, ta tới gặp em trước rồi cậu ấy tới đón em về.

Bây giờ cậu ấy đã tới dưới lầu rồi, em bớt giận mà về với cậu ấy đi thôi."

Công chúa và ta cũng tới bên cửa sổ xem, quả nhiên trông thấy dưới lầu có một văn sĩ ngồi trên lưng ngựa, khoác một tấm áo choàng tay rộng có mũ trùm đầu, mũ trùm che đi nửa khuôn mặt, khiến người ta không sao thấy rõ được tướng mạo chàng, nhưng vẫn có thể cảm nhận được dáng dấp chàng thanh tú, phong nhã hào hoa.

Nhược Trúc lưỡng lự, cuối cùng vẫn dời gót tới cạnh song thoáng ngó xuống, văn sĩ nọ nhác thấy bóng cô, lập tức khẽ giọng gọi: "Nương tử, đêm đã khuya, chúng ta về nhà thôi."

Hiển nhiên chàng dè chừng người chung quanh nên không dám cao giọng hô hoán.

Nhược Trúc nghe vậy, khóe miệng nhếch lên, xoay người nắm tay A Địch, cúi đầu rủ rỉ vào tai cô bé mấy câu.

A Địch gật đầu, chỉ vào ghế đẩu bảo thị nữ chuyển giúp mình đến bên cửa sổ, sau đó trèo lên, chân đạp ghế, khuỷu tay chống trên bệ cửa, nhìn văn sĩ dưới lầu, kế tiếp dùng giọng nói trong trẻo của mình hỏi chàng: "Phùng thúc thúc, thím bảo cháu hỏi chú, chú là ai ấy nhỉ?"

Giọng cô bé lảnh lót, lại thản nhiên dùng âm lượng vừa đủ nói ra câu quái dị này, nghe vào rất thú vị, nghĩ hẳn có thể gây sự chú ý cho người trong ngoài tửu lâu.

Văn sĩ nọ có vẻ xấu hổ, song nghĩ ngợi một hồi, vẫn thấp giọng nói gì đó.

A Định lắc đầu, dõng dạc hỏi chàng: "Gì cơ ạ?...

Nghe không rõ!"

Văn sĩ kia như hít lấy một hơi thật sâu, hai vai thõng xuống, đại khái là bất chấp mọi sự, ngửa mặt lên, mũ trùm đầu theo đó tuột xuống, lộ ra dung nhan tuấn mỹ mà cả ta và công chúa đều nhớ rõ.

"Tại hạ Phùng Kinh đất Giang Hạ."

Chàng cất cao giọng đáp, ánh mắt phóng ra sau A Địch, truy tìm bóng hình Nhược Trúc.

Trên dưới tửu lâu nhất thời rộ lên một tràng "ầm ầm" tiếng mở cửa sổ, vô số cái đầu từ trong lầu vươn ra, ánh mắt sôi nổi đậu lên Phùng Kinh, người đi đường cũng dừng bước, nhao nhao tò mò nhìn chàng chằm chằm, chỉ trỏ về phía chàng, thậm chí còn có rất nhiều du khách hoặc tửu khách nam nữ nhiệt tình từ bốn phương tám hướng vây lại, liên thanh gọi chàng "Phùng trạng nguyên", "Phùng học sĩ" hoặc "Phùng nội hàn".

Phùng Kinh cũng chẳng còn sức đâu mà để ý tới Nhược Trúc nữa, ngồi trên lưng ngựa, lúng túng gật đầu chào hỏi những người gọi mình, cười trái đáp phải, khó xử vô cùng.

Mà Nhược Trúc thì nghiêng người núp sau chấn song, ôm A Địch cười gập cả bụng.

10.

Xuân hàn

Lúc nghe Nhược Trúc kể chuyện nhà mình, ta đã có suy đoán về thân phận cô, hiện giờ đáp án được công bố đại thể không khác ý nghĩ ta bao nhiêu, cô là thứ nữ của tế tướng Phú Bật, cháu gái ngoại của Án Thù.

Năm đó Phu Bật gả trưởng nữ Nhược Lan cho Phùng Kinh trước, sau đó Nhược Lan vì ốm bệnh mà qua đời, Phú Bật lại gả Nhược Trúc cho Phùng Kinh làm vợ kế.

Hiện giờ trong kinh đô còn có người vịnh Phùng Kinh: "Có anh nho đỗ tam nguyên, hai lần cưới vợ đều nhà tướng công.", chính là chỉ việc này.

Phu nhân Phùng Kinh công chúa gặp ở tiệc rượu trong cung năm ấy là Nhược Lan, mà Nhược Trúc thì hẳn thành hôn với Phùng Kinh khi chàng nhậm chức bên ngoài, thế nên trước hôm nay cô chưa có lần nào gặp công chúa, đôi bên mới không nhận ra nhau.

Ta đương nhiên không quên để ý phản ứng của công chúa.

Kể từ lúc nghe A Địch gọi "Phùng thúc thúc", nụ cười trên mặt nàng đã hơi cứng lại, đợi đến khi Phùng Kinh tự vạch trần thân phận, nét tươi vui trong mắt nàng như pháo hoa bung nở đến cuối, chỉ còn lại vụn sáng yếu ớt trôi giạt, nhoáng cái đã biến thành làn khói nhẹ, lắng bặt mất tăm.

Thế nhưng, nàng vẫn duy trì nụ cười, tựa vào một bên chấn song ngắm Nhược Trúc, ánh mắt an yên như sóng nước vỗ về lên khóe mắt đuôi mày của Nhược Trúc, tìm không ra chút bóng dáng cảm xúc tiêu cực nào tỷ như đố kỵ hay buồn bực trong đó.

Nàng chỉ yên lặng đứng đó ngắm cô gái cùng tuổi mình này hạnh phúc, như đang thưởng thức một tác phẩm hội họa tinh xảo không hề liên quan gì đến mình.

Lúc Phùng Kinh đi lên, công chúa đã đội mũ quây vào, cáo từ Nhược Trúc.

Nhược Trúc lưu luyến níu tay nàng, hỏi nàng tính danh, bày tỏ hi vọng có thể thường xuyên gặp nàng.

Công chúa mỉm cười: "Có duyên ắt sẽ gặp lại."

Dứt lời, nàng xoay người rời đi.

Khoảnh khắc đi ngang qua Phùng Kinh, nàng khẽ vén một góc màn che mũ quây lên, liếc chàng một cái như cười như không.

Phùng Kinh trông thấy dung nhan nàng, không khỏi ngẩn người, song rất nhanh đã khôi phục lại trạng thái bình thường, nở nụ cười hờ, khẽ khom người với nàng.

Cảnh tượng mới quen thuộc làm sao, tựa như trở về bên Kim Minh Trì năm xưa, công chúa đương tuổi xuân thì gặp gỡ lang quân áo xanh vừa mới đăng khoa, nàng yêu kiều mỉm cười trong ngựa báu xe hương, má hồng xinh đẹp và mối tình thiếu nữ chớm nở như ẩn như hiện sau lớp màn sa.

Giờ đây tái ngộ, chẳng biết Phùng Kinh chỉ là cảm thấy nàng như đã từng quen biết hay vẫn còn nhớ rõ người con gái nét mày tựa dáng non xa đã đưa tay vén rèm trong xe chạm mà chàng gặp mặt ngày ấy khi đề tên bảng vàng, cưỡi ngựa trong gió xuân.

Màn che rủ xuống, nàng dõi mắt nhìn thẳng dời bước ra ngoài, không một lần ngoảnh lại.

Mãi đến khi cách xa gian phòng kia, nàng mới dừng bước, tay vuốt ve lan can đỏ son cạnh thang lầu, nhẹ giọng hỏi ta: "Bây giờ cách Hoàng Hựu năm thứ nhất đã bao lâu rồi?"

Ta đáp: "Mười một năm."

Nàng lặng thinh, sau đó thở dài: "Lâu vậy kia à...

Cứ như nằm chiêm bao ấy."

Lắc đầu, như muốn thoát khỏi dấu tích giấc mộng tàn này, nàng một lần nữa nhoẻn cười, ngẩng đầu chuẩn bị bước tiếp.

Nhưng, đúng lúc này, một cảnh tượng bất ngờ hiện ra trước mắt đã giáng cho nàng một đòn nặng nề.

Đối diện nàng, phía bên kia sảnh lớn tửu lâu xuất hiện một nhóm nữ quyến trang phục hoa lệ son phấn đẹp đẽ, hẳn là vừa kết thúc buổi ngắm đèn trên lầu, họ tốp năm tốp ba nói cười rôm rả, khoan thai đi tới thang lầu bên kia.

Trong đó có một thiếu phụ trẻ tuổi, dường như hành động bất tiện, bước đi chậm hơn hẳn những người khác, mà bầu bạn bên người cô là một nam tử dáng người tựa ngọc, đang cẩn thận dìu cô, thỉnh thoảng mỉm cười nói gì đó bên tai cô, trong mắt không chút che giấu vẻ quan tâm và nồng nàn ân ái.

Lúc thiếu phụ kia xuống lầu còn đặc biệt lấy tay ôm bụng, nhìn kỹ bậc thang dưới chân rồi mới dè dặt đặt bước, điều này khiến người xem có thể dễ dàng để ý đến cái bụng hơi nhô lên của cô.

Mà nam tử kia thì lại càng thêm giữ gìn cẩn thận, mỗi rung động rất nhỏ của cô đều có thể khiến cậu hồi hộp khẩn trương.

Cảnh tượng tình tứ ấy khiến công chúa đông cứng tại chỗ.

Bước đi khựng sững, nụ cười điêu tàn, nàng còn chưa kịp rơi lệ, ta đã nghe thấy tiếng cõi lòng nàng tan nát.

Người ấy chính là Tào Bình.

Cậu và công chúa gần nhau đến thế, cậu chỉ cần ngẩng đầu lên là có thể chạm đến ánh mắt sâu kín của nàng.

Nhưng không, cậu chẳng rảnh mà để tâm đến, người phụ nữ trong mắt cậu lúc này tựa hồ đã choán kín thế giới trước mặt cậu.

Nói cậu đang dìu cô, chẳng bằng nói cậu đang nâng cô trong lòng bàn tay.

Chẳng có gì phải nghi ngờ, người vợ đang mang thai cho cậu một sinh mệnh mới này đã được cậu coi là bảo vật vô giá.

Công chúa không tiếp tục bước lên mà ngược lại, đi về phía bao lơn tầng hai, im lặng đứng sau lan can, nhìn Tào Bình và thiếu phụ kia sóng vai ra khỏi Bạch Phàn Lâu,

Cậu đỡ cô lên xe, sau đó tự mình cưỡi ngựa, đi trước xe cô.

Từ biệt mấy năm, cậu vẫn mang dáng vẻ thiếu niên xán lạn trong ký ức của chúng ta, tuấn mã tung vó, tay áo giương roi.

Công chúa lẳng lặng dõi theo cậu đi xa, nhìn khói chiều cuốn lấy tay áo cậu suốt dọc đường về.

Tào Bình khuất bóng rồi, nàng vẫn không có ý định rời đi, đăm đăm nhìn hướng xe ngựa đi xa trong gió đêm lồng lộng, thẳng đến khi Nhược Trúc bỗng xuất hiện sau lưng nàng, cười nói: "Ơ, chị vẫn còn ở đây à?"

"À, tôi ở đây, hóng gió ấy mà."

Công chúa xoay người, vội vàng đáp.

Nhìn Nhược Trúc, nàng hỏi ngược lại: "Sao chị lại ra đây?"

Nhược Trúc cười chỉ vào nghệ nhân biểu diễn trên bao lơn, nói: "Tôi nghe thấy bên này có người hát bài từ của cậu bảy nhà tôi nên ra xem thử."

Có tám, chín nghệ nhân diễn tấu đàn sáo, ở giữa là một ca cơ nghiêm trang ôm tỳ bà, vừa nhàn nhã gảy dây vừa ngâm nga câu hát, xướng một bài "Giá cô thiên" của Án Kỷ Đạo, con trai thứ bảy của Án Thù.

Công chúa lắng tai nghe, lúc này, ca cơ đang hát đến nửa bài sau: "Tụ dễ tan, thà rỗi nhàn.

Chớ để ly hận hại dung nhan.

Đây gấm uyên ương ai cùng đắp, chung giấc lầu tây tiết xuân hàn?"

Lúc ta đánh xe đưa nàng về phủ công chúa, bánh xe nghiến qua dấu xe ngựa nhà họ Tào lưu lại, sau đó đó đổi hướng, chạy ra xa.

Vết bánh xe của song phương trải dài thành đường vòng cung ngẫu nhiên giao nhau, sau nháy mắt đan xen lại kéo dài theo quỹ tích của chính mình, có lẽ khó có ngày nào hợp lại lần nữa, ta nghĩ, giống như vận mệnh của nàng và Tào Bình vậy, thậm chí là cả với Phùng Kinh.

Trên đường trở về, ngoài trầm mặc ra, công chúa không có bất kỳ biểu hiện dị thường nào khác, song đến canh tư, Gia Khánh Tử hầu trong gác ngủ của nàng lại gõ cửa phòng ta.

"Công chúa vừa tỉnh lại, đang lặng lẽ nằm khóc đấy ạ."

Con bé báo với ta, "Bọn em nghe thấy, vội hỏi người nguyên nhân, người lại không chịu nói, chỉ rơi lệ không ngừng.

Tiên sinh mau qua xem thế nào đi."

Ta lập tức chạy sang.

Vào gác ngủ của nàng, thấy mấy thị nữ thiếp thân và Hàn thị đều đang tụ trước giường nàng, nhao nhao khuyên nhủ, công chúa lại như không nghe thấy, ôm chăn ngồi ở đầu giường, vùi đầu giữa hai đầu gối, khe khẽ thút thít.

Hàn thị thấy ta tiến vào, đứng dậy kéo ta ra ngoài màn che, nhỏ giọng hỏi: "Tối qua công chúa ra ngoài đã nhìn thấy gì à?"

Gia Khánh Tử hẳn đã nói cho bà biết chuyện ta và công chúa ra ngoài.

Vì vậy, ta dứt khoát đáp: "Nhìn thấy Tào Bình."

Bà hiểu ra, thở dài thườn thượt: "Thật đúng là oan nghiệt..."

Sau đó, bà dẫn chúng thị nữ ra ngoài, trước khi đi dặn dò ta: "Lần trước con khuyên được công chúa, bây giờ cũng gắng khuyên bảo người nhiều chút.

Ở đây hiện giờ cũng chỉ có lời con nói là lọt được vào tai người."

Đợi họ ra cửa rồi, ta đi tới trước giường công chúa, nhẹ nhàng gọi nàng.

Đợi một chốc, rốt cuộc nàng cũng ngước cặp mắt đẫm lệ lên nhìn ta, nức nở: "Trước khi đi ngủ, Vân nương nói với ta, trăng đêm nay rất đẹp, nhân ngày cuối cùng của tết Nguyên Tiêu, hay là ước lấy một điều.

Ta bèn thầm ước trong lòng, hi vọng khi tỉnh dậy sẽ thấy mình mới chỉ tám, chín tuổi, phiền não duy nhất là không thuộc xong thi văn cha giao, vấn đề lớn nhất là làm thế nào để thuyết phục huynh viết văn thay mình..."

Thế nhưng, ban nãy nàng tỉnh lại, phát hiện ra mình vẫn bị vây hãm chốn này, không thể trở về được nữa...

Ta giữ tiếng thở dài trong đáy lòng, yên lặng ngồi xuống bên cạnh nàng, nghĩ ngợi rồi nói với nàng: "Sẽ luôn có những thứ không bao giờ thay đổi, bất kể công chúa tám, chín, mười tám, mười chín, hay tám, chín mươi tuổi."

"Thứ gì?"

Nàng nghẹn ngào hỏi ta.

"Chẳng hạn như, ống tay áo của thần, cái bóng của người, và..."

Ta không nói hết, chỉ dang rộng tay với nàng.

Nàng thoáng chốc hiểu ý, cũng nhẹ nhàng ghé lại, tựa vào lòng ta.

Và hơi ấm ta có thể cho nàng.

Ta không tài nào thay đổi được vận mệnh nàng, nhưng ít nhất có thể hứa hẹn với nàng, sẽ dâng ống tay áo của mình khi nàng rơi lệ, thổi lên vết thương nàng khi nàng đau đớn, cho nàng tất thảy hơi ấm ta có thể dành tặng khi nàng rét lạnh.

Lư hương trong gác đã nguội, màn sa buông rủ, móc ngọc vén hờ trướng phượng hoàng.

Hai ta đều không nói gì nữa, cứ vậy ôm lấy nhau, nghe tiếng đồng hồ nước điểm canh, xem ánh nến dần lụi tắt, mặc cặp đèn cầy ngoài rèm tan thành vũng lệ, làm tranh chuối tố nữ trên bình phong trước giường tối sầm, thẳng đến khi sương lạnh trăng tàn, tinh tú mờ ảo rọi ánh xanh lam lên mành song.

Khoảng thời gian yên tĩnh ấy kết thúc khi trời hửng sáng.

Tiếng bước chân trùng điệp vọng từ xa lại gần, xen lẫn với tiếng Gia Khánh Tử: "Quốc cữu phu nhân, công chúa chưa tỉnh giấc, xin hãy đợi ngoài sảnh chốc lát..."

Ta lập tức buông công chúa ra, sải bước ra ngoài màn che, mà cùng lúc đó, Dương phu nhân đẩy cửa bước vào, bốn mắt chạm nhau, đều hiện vẻ cả kinh.

Bà nhíu mày, hoài nghi đưa mắt đánh giá ta một lượt từ trên xuống dưới, sau đó dời sang màn che hãy còn phất phơ, thoáng do dự rồi rảo bước qua, vén thốc lên.

Công chúa ngồi trên mép giường, kinh ngạc quay đầu nhìn Dương thị.

Bấy giờ, chân mày nàng mỏng nhạt, lớp trang điểm cũ còn vương, tóc mai xõa rối, trâm cài nghiêng lệch, dấu lệ vô cùng rõ ràng.

Hơn nữa, thật không may, nàng còn đang làm động tác khoác áo.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 10: Say cho nhạt nỗi mi vương sầu


1.

Mẹ chồng

Khóe miệng nhếch lên một cái cười trào phúng và phẫn nộ, Dương phu nhân lại từ từ dời mắt sáng ta, nói: "Lương tiên sinh hầu hạ công chúa thật tận tâm hết sức, không chỉ như hình với bóng ban ngày mà đến đêm tối cũng hầu tới tận khuê phòng công chúa.

Thảo nào cả cái phủ to như thế mà công chúa chỉ lọt mắt được mỗi tiên sinh, tâm tư bản lĩnh bậc này vốn chẳng phải ai ai cũng có!"

Gia Khánh Tử theo sau bà tiến vào nghe vậy, bèn vội vàng biện minh thay ta: "Không phải đêm nào Lương tiên sinh cũng ở đây đâu ạ, đêm qua công chúa không khỏe nên tôi mới mời tiên sinh qua đây."

Dương phu nhân giễu cợt: "Ta nghe thằng giữ cửa ngoài viện nói, hôm qua công chúa và Lương tiên sinh lặng lẽ ra ngoài chơi suốt một đêm, ngót nghét canh ba mới về.

Sau nữa chẳng biết công chúa không khỏe chỗ nào mà đặc biệt thỉnh Lương tiên sinh vào khuê phòng.

Nghĩ hẳn Lương tiên sinh y thuật cao minh, có bí quyết độc môn, lại không nỡ để người khác chiêm ngưỡng liệu pháp của mình nên mời hết đám a hoàn nội thị ra ngoài trông chừng, ai cũng không cho vào..."

Công chúa thấy bà ta ăn nói ngoa ngoắt, không khỏi giận dữ, nói: "Bà là gì của ta?

Ta tuyên triệu ai phải đi xin bà phê chuẩn rồi mời bà sang đây chứng kiến mới được hả?"

Dương phu nhân nhất thời cũng nổi cơn tam bành, dứt khoát thẳng thắn chống đối công chúa: "Tôi là gì của cô ấy à?

Tôi là người sinh ra phu quân cô, là mẹ chồng cô, ngang hàng với mẫu thân cô!

Làm sao, con dâu gọi người không liên can vào khuê phòng qua đêm, mẹ chồng hỏi một tiếng cũng không được?"

Công chúa giận đến run rẩy, dấn mấy bước tới trước mặt bà, mắng: "Mẹ chồng cái gì?

Công chúa lấy đâu ra mẹ chồng?

Mụ điên ở đâu ra mà dám ngang vai ngang vế với cha mẹ ta!"

Đoạn quay ra ngoài cửa, cao giọng hỏi: "Trương Thừa Chiếu!

Trương Thừa Chiếu đâu rồi?"

Trương Thừa Chiếu ngoài cửa lập tức dạ một tiếng vang dội, ngay sau đó đi vào, không đợi công chúa phân phó đã tủm tỉm lại chỗ Dương phu nhân: "Quốc cữu phu nhân, lỗi tại tôi, không nghĩ ra bà đã lớn tuổi, có một số việc không nhắc nhở thường xuyên bà sẽ quên.

Sau này nhất định mỗi ngày tôi đều sẽ nhắc lại một lần cho phu nhân hay: Công chúa hạ giáng, nhà phò mã chiêu mục hàng một bậc, nói cách khác, ngoài phò mã ra, vai vế cả nhà bà đều phải hạ một bậc..."

"Ở đâu ra cái quy định hồ đồ ấy!"

Dương phu nhân ngắt lời hắn, nhìn thẳng vào công chúa, cả giận nói, "Hoàng gia các người lắm phép tắc, nhưng sao có thể vượt quá thiên lý nhân luân?

Con gái hoàng đế gả đi rồi cũng là vợ người ta, trên đời này chưa thấy cô vợ nào có thể trèo lên đầu mẹ chồng không chấp nhất ấy là mẹ mình!

Dẫu cô có về cung mách với phụ mẫu cô, họ ắt cũng sẽ bảo cô phải hiếu thuận với mẹ chồng là tôi đây.

Mẹ chồng quản con dâu thì có gì sai?

Quan lại trên triều đều là người có ăn có học thông hiểu đạo lý, tôi đang muốn để họ phân xử chuyện hôm nay đây, xem xem rốt cuộc là ai không hiểu phép tắc làm rối loạn vai vế!"

Trương Thừa Chiếu "chậc chậc" tặc lưỡi, chỉ lắc đầu, gọi "Quốc cữu phu nhân" như định nói thêm gì, song công chúa căn bản chẳng còn kiên nhẫn mà nghe nữa, quát hắn: "Ngươi còn nói nhảm với bà ta làm gì?

Bà ta tự tiện xông vào gác ngủ của công chúa, buông lời chửi bới, vô lễ cùng cực, trực tiếp đuổi bà ta đi là được!"

Trương Thừa Chiếu thưa vâng, vẫn tươi cười như trước, lại gần Dương phu nhân, vừa nói "Phu nhân, mời", vừa vươn tay muốn kẹp bà ta lôi ra ngoài.

Dương thị bực tức né tránh, hai người đang lôi kéo nhau thì chợt thấy Hàn thị bưng một bát thuốc rảo bước đi tới.

Thấy trạng huống nơi đây, Hàn thị vội can: "Thừa Chiếu, chớ có vô lễ!"

Trương Thừa Chiếu bèn ngừng tay đứng yên.

Hàn thị cố ý trừng hắn, trách: "Ta vừa rời đi một lúc cậu đã làm rối tung mọi chuyện lên rồi, dám quấy nhiễu quốc cữu phu nhân, cứ đợi đấy rồi lát nữa ta mách với Lương đô tri, lột một lớp da của cậu đi!"

Trương Thừa Chiếu cười giả lả, liên tục gật đầu thưa phải, không nói thêm nữa.

Hàn thị lại đi tới bên cạnh Dương phu nhân, tạ tội: "Đêm qua công chúa ăn mấy cái bánh trôi lạnh, nửa đêm kêu đau dạ dày, còn đau tới rơi nước mắt.

Bọn a hoàn cuống hết cả lên, đầu óc lại mơ mơ hồ hồ, đến thuốc cũng chẳng biết tìm ở đâu, nên tôi mới bảo Gia Khánh Tử mời Hoài Cát tới xem.

Cũng may Hoài Cát bình tĩnh, dăm ba câu đã sắp xếp xong xuôi nội ngoại chiếu ứng bốc thuốc sắc thuốc, còn cùng tôi ở trong phòng trông công chúa.

Ban nãy thuốc sắc xong, công chúa lại chê quá nóng nên tôi bưng ra ngoài dùng nước đá làm nguội.

Chẳng ngờ vừa ra ngoài một chốc, thằng ranh Thừa Chiếu này đã chọc tức phu nhân, quả thực đáng đánh, phu nhân yên tâm, ta nhất định sẽ bảo Lương đô giám dạy dỗ nó."

Dương phu nhân cười khẩy, hỏi Hàn thị: "Công chúa bị ốm đáng ra phải giữ đủ người lại hầu hạ mới đúng, sao trong phòng chỉ có mỗi hai người phục dịch?

Huống hồ, cái việc vặt vãnh như làm nguội bát thuốc này cũng phải phiền đến quận quân bà làm cơ à?"

Hàn thị là nhũ mẫu của công chúa, sau khi công chúa xuất giáng cũng được thơm lây, phong làm Xương Lê quận quân.

Giờ đây nghe Dương thị nói vậy, bà cũng không hoảng hốt, thong dong đáp: "Công chúa mang nhiều kẻ hầu tới phủ là vậy nhưng có ích cũng chẳng được mấy đứa.

Bọn a hoàn này đều vụng về lóng ngóng, ban đầu thấy công chúa ôm bụng kêu đau, đứa nào đứa nấy đều chẳng thèm suy nghĩ đi xoa bụng cho người, kết quả khiến công chúa càng đau hơn.

Tôi trông mà cáu, bèn dứt khoát đuổi hết chúng nó ra ngoài, khi nào cần chân chạy vặt lại gọi vào sau.

Thuốc này đợi mãi mới sắc xong, tôi cũng sợ chúng nó bất cẩn làm sánh thuốc ra ngoài hay để nước rơi vào nên mới không dám để chúng nó bưng ra, đành tự mình làm."

Dương phu nhân bĩu môi, xem chừng không mấy tin tưởng, nhưng thái độ Hàn thị hiền lành, trước sau vẫn giữ vẻ mặt ôn hòa nói chuyện với bà ta nên bà ta cũng không lên cơn nữa, song lại giành lấy bát thuốc trong tay Hàn thị, đưa thẳng tới trước mặt công chúa, nói: "Nếu vậy thì công chúa mau uống thuốc đi.

Bị bệnh vẫn nên chữa sớm là hơn."

Công chúa hơi do dự, nhưng Hàn thị đứng sau lưng Dương phu nhân nháy mắt ra hiệu với nàng, làm động tác uống, công chúa bèn nhận lấy bát, uống một hơi cạn sạch.

Thấy công chúa uống hết, sắc mặt Dương phu nhân hơi dịu lại, cũng qua quít biện bạch mấy câu: "Tôi cũng là nghe người khác nói công chúa nửa đêm mời Lương tiên sinh qua, không biết xảy ra chuyện lớn gì nên trời vừa sáng là lập tức chạy ngay tới thăm công chúa.

Bây giờ xem ra sắc mặt công chúa không tệ, trung khí (*) cũng sung túc, hẳn là không có gì đáng ngại, vậy tôi cũng yên tâm rồi."

Thoáng dừng lại rồi nhấn giọng nói tiếp: "Có điều, bất kể ngày hay đêm, bên cạnh công chúa thế nào cũng nên giữ lấy vài đứa hầu gái phục dịch thì hơn.

Lương tiên sinh quản lý sự vụ trong phủ đã sẵn bận rộn, mấy chuyện thế này đừng làm phiền cậu ấy phải tự mình tới sắp xếp.

Công chúa có quận quân bên cạnh, còn gì mà không yên tâm đâu?"

(*) Theo Đông y, trung khí chỉ khí trong dạ dày, có tác dụng tiêu hóa thức ăn và dinh dưỡng trong cơ thể, trung khí đầy đủ là sức khỏe dồi dào.

Hai câu cuối cùng, bà ta vừa nói vừa nhìn ta chằm chằm.

Ta cúi người với bà ta, đáp: "Cảm tạ quốc cữu phu nhân đã thông cảm."

Bà ta vẫn duy trì nụ cười đầy thâm ý kia, lạnh lùng liếc xéo ta, mang ý cảnh cáo rõ ràng, một lúc lâu sau mới cáo từ công chúa.

Công chúa không đáp, bà ta cũng chẳng nhiều lời, quay đầu đi thẳng.

Đợi bà ta ra khỏi cửa gác rồi, ta lập tức hỏi Hàn thị: "Công chúa vừa uống thuốc gì vậy ạ?"

Bà hạ giọng nói: "Yên tâm đi, là thuốc bổ kích thích vị giác, không gây thương tổn đến thân thể công chúa đâu.

Mấy ngày nay khẩu vị ta không tốt nên sắc sẵn để trong phòng.

Vừa rồi nghe quốc cữu phu nhân hô to gọi nhỏ ở đây, bèn bưng một bát ra, bịa cái cớ chặn họng bà ta."

Ta cảm ơn bà, muốn nói vài câu giải thích rõ tình hình lúc ở một mình với công chúa, song không biết phải mở miệng thế nào, ngần ngừ mãi, sau cùng lại là bà cất lời trước, cười bảo: "Ta nhìn hai người lớn lên, giữa hai người thế nào chẳng lẽ ta còn không tường?

Cũng chỉ phường đàn bà chợ búa dung tục như bà ta mới nghĩ được tới chỗ nhơ bẩn.

Hiện giờ con chỉ cần suy nghĩ xem nên giải thích với Lương đô tri chuyện công chúa ra ngoài thế nào cho thỏa đáng thôi."

Ngay sau đó bà đi về phía công chúa, kéo nàng ngồi xuống, dịu dàng an ủi.

Công chúa hãy còn căm lắm, càng hồi tưởng càng thấy phẫn nộ, không cầm được lại đưa tay áo lên lau nước mắt.

Nhè đúng lúc này, lại có tiểu hoàng môn đến truyền báo: "Phò mã nghe nói công chúa không khỏe, cầu kiến ngoài cửa gác."

Hai chữ "phò mã" lại đốt bùng lên lửa giận trong công chúa, tức thì hồi đáp: "Ra ngoài, ai rảnh gặp hắn chứ!"

Tiểu hoàng môn sửng sốt, không biết có nên nghe lệnh không, ta bèn nói với cậu ta: "Cậu nói với phò mã, công chúa phượng thể bất an, hiện đã ngủ, mời phò mã muộn chút nữa hẵng quay lại thăm hỏi."

2.

Khuê các

Xế chiều, Lý Vĩ quay lại thăm công chúa, công chúa đang lấy chiếc lư hương bằng vàng tạo hình con vịt đặt trong màn thêu ra đổi hương đốt buổi tối, hắn vào rồi cũng chẳng buồn liếc hắn lấy một cái.

Lý Vĩ kính cẩn vấn an nàng, cũng chỉ nghe Hàn thị bên cạnh thay mặt công chúa đáp lời, còn công chúa thì cụp mắt lạnh mặt, một mực im lặng làm việc của mình.

Nàng nhàn nhã cầm que cời khều tàn hương trong lư, bảo Gia Khánh tử gắp một bánh hương thanh mát nung đỏ bỏ vào lư, nàng khẽ gạt tàn hương đậy lại, dùng que cời chọc ra vài lỗ khí, hơ tay lên trên thử nhiệt độ, thấy hỏa hậu thích hợp rồi mới đậy miếng đệm vân mẫu lên, tiếp đó nhặt chiếc thìa hương chạm khắc bằng bạc lên, chuẩn bị thêm hương liệu vào trong.

Công chúa thực hiện loạt động tác này đến là trôi chảy thanh thoát, bàn tay nàng rất đẹp, nước da láng bóng như ngọc, ngón tay thon dài, cử động lên xuống nom tựa hai đóa mộc lan bồng bềnh bay bổng.

Lý Vĩ nhìn mà ngơ ngẩn, nhất thời quên cả tiếp lời trò chuyện cùng Hàn thị.

Sau, công chúa đại khái cũng để ý đến hắn thất thần, sóng mắt lướt qua mặt hắn một thoáng ngắn ngủi, không khỏi ánh lên tia sáng có phần lạnh nhạt.

Nàng chợt quay sang ta, thìa bạc chỉ vào hộp đựng hương, nhoẻn cười yêu kiều: "Hoài Cát, huynh nói xem đêm nay ta nên dùng hương gì?

Trầm hương tẩm hoa hay là giáng chân hương (*) hoa quế?"

(*) Một loại thực vật gỗ thơm có mùi như xạ hương, có ở phía nam Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và Ấn Độ.

Đó là một câu hỏi mờ ám.

Lư hương vịt vàng là món đồ đặt trong trướng màn hương khuê, hai loại hương phẩm nàng hỏi cũng thường được gọi là "hương trong màn".

Nàng cố ý.

Quả nhiên, con ngươi Lý Vĩ hệt như bánh hương đột ngột cháy hết, trong mắt chỉ còn dư lại tro tàn.

Hắn không lên tiếng, nhưng hai bàn tay đặt trên đầu gối thì chậm rãi siết lấy vạt áo, gân xanh trên mu bàn tay cũng lồi lên.

Ta không muốn hợp mưu với công chúa thực thi cú trả đũa này, bèn cung kính lễ độ khom người với nàng, nói một lời nói dối thiện ý: "Thần chưa từng ngửi thử những hương phẩm này, không cách nào đưa ra đề nghị hữu ích cho công chúa được.

Hay là công chúa hỏi mấy vị cô nương đi."

Công chúa nhếch miệng cười, cũng không hỏi người khác mà trực tiếp lấy một thìa giáng chân hương hoa quế thêm vào.

Lý Vĩ đứng ngồi không yên, miễn cưỡng tán gẫu hai câu với Hàn thị rồi đứng dậy cáo từ.

Ta đinh tiễn hắn ra cửa, hắn lạnh lùng ngăn ta: "Không dám làm phiền Lương tiên sinh."

Sau đó rảo bước, nhanh chóng ra ngoài.

Kể từ đó, số lần hắn tới chỗ công chúa giảm đi rất nhiều, càng thêm chuyên tâm nghiên cứu thư họa, không tiếc tiền sưu tầm tác phẩm, ngày đêm vẽ trúc thủy mặc trong thư phòng, có ra ngoài cũng không ngoài qua lại cùng các danh gia thư họa và nhà sưu tầm, hoặc là đến mảnh đất hắn mua bên cạnh Nghi Xuân Uyển giám sát đốc công – Xem ra, hắn quả thực muốn xây một lâm viên xa hoa lộng lẫy.

Công chúa rất hài lòng với hiện trạng phò mã bắt đầu xa lánh mình, đồng thời tìm được thú vui mới – không ngừng bảo ta mua thêm quần áo mới, tìm kiếm lĩnh Ngô gấm Thục la Việt đẹp đẽ nhất về, sai người may thành kiểu áo bào dáng rộng đai lỏng của văn nhân nho sĩ thịnh hành nhất kinh đô, bắt ta mặc trọn ngày trong phủ, mà phục sức nội thần lại bị nàng hạ lệnh cấm, không phải vào cung thì không cho ta mặc.

Có lần, nàng đi chùa Tướng Quốc dâng hương cũng bảo ta mặc áo bào văn sĩ đi theo, khi ấy chùa Tướng Quốc mới đổi trụ trì, không quen biết chúng ta, lúc ra cửa nghênh đón, vừa thấy ta xuống ngựa bên cạnh xe công chúa đã lập tức qua thi lễ rồi gọi ta là "đô úy", nội nhân theo hầu xung quanh công chúa nghe thế phì cười, song cũng không nói toạc, cuối cùng vẫn là ta nói rõ thân phận mình với trụ trì.

Ông nghe xong quýnh lên, gấp gáp xin lỗi ta và công chúa.

Công chúa không chút giận bực, trái lại còn có vẻ rất thích hiểu lầm như vậy.

Dương phu nhân hiển nhiên không vừa mắt, thường xuyên buông lời châm chọc, công chúa cũng chuyện ta ta làm, kiên trì bảo ta ăn vận theo ý nàng.

Mà điều ta có thể làm cũng chỉ là cố hết sức giữ một khoảng cách nhất định với công chúa, không một mình một chỗ với nàng nữa, dẫu có ngâm thơ vẽ tranh trong thư phòng ban ngày cũng mở rộng cửa hoặc để ít nhất hai thị nữ hầu hạ gần bên.

Ắt hẳn Dương phu nhân đã sắp xếp người thăm dò tình hình ở chung của ta và công chúa, cũng không tìm được chuôi thóp nào đủ lớn để bắt, song trước sau trong lòng bà ta vẫn tồn bất mãn với công chúa, mỗi bận có nữ quyến tôn thất ngoại thích đến nhà bái phỏng, bà ta đều phàn nàn với họ rằng công chúa không tôn trọng phò mã, vô lễ với mình, chẳng ra dáng con dâu chút nào.

Cũng có người kể lại những chuyện này cho ta nghe, làm ta hơi lo lắng: Nếu lời oán thán của Dương thị truyền tới tai các sĩ phu, chỉ sợ họ sẽ phê bình công chúa "lâng láo".

Tháng Giêng năm Gia Hựu thứ năm, kim thượng phong hoàng nữ thứ chín làm Phúc An công chúa, hoàng nữ thứ mười làm Khánh Thọ công chúa.

Kể từ khi hai vị nương tử Đổng, Chu hạ sinh công chúa vào năm ngoái, kim thượng có xu thế chuyên sủng hai người, hai người một lần nữa lần lượt mang thai, giữa tháng Ba, Đổng quý nhân Thu Hòa lại sinh cho kim thượng hoàng nữ thứ mười một.

Tuy một lần nữa mất đi hi vọng có hoàng tự, song kim thượng vẫn ban thưởng dày hậu cho mẹ con Thu Hòa, lại muốn thăng Thu Hòa làm mỹ nhân.

Thu Hòa ra sức từ chối, dưới sự kiên trì của kim thượng, sau cùng cô nói: "Nếu bệ hạ nhất định muốn gia ân thì ban ân điển dành cho thiếp chuyển sang cho cha thiếp đi."

Vì vậy, kim thượng nghe theo lời cầu thỉnh của cô, thăng bậc quan của phụ thân Thu Hoà lên một cấp.

Ba ngày sau khi thập nhất công chúa ra đời, công chúa và Dương phu nhân vào cung chúc tụng.

Khi ấy hoàng hậu đang ở gác Thu Hòa, đích thân bế thập nhất công chúa, chan chứa yêu thượng nhẹ nhàng vỗ về, gọi bé gái còn chưa được đặt tên này là "Chúa Chúa" (*) bằng giọng rất đỗi cưng chiều.

Công chúa gặp cô em gái nhỏ này cũng rất thích, đứng bên cạnh chơi đùa với em một lúc thấy chưa đủ, lại giành thập thất công chúa từ lòng hoàng hậu ra, tự mình ôm lấy, đi tới bên Thu Hòa cười nói: "Cửu muội muội trông giống cha mà thập nhất muội thì lại y như đúc từ cùng một khuôn với nương tử ra vậy."

(*) Tức công chúa, ở đây vì thập nhất công chúa chưa có tên nên hoàng hậu gọi vậy như một biệt danh gọi yêu.

Thu Hòa chỉ cười tĩnh lặng, nhỏ nhẹ đáp: "Trẻ con mới sinh đứa nào mà chẳng nhăn nhúm, nhìn ra được gì đâu...

Nếu giống tôi thì lại không hay rồi..."

Hoàng hậu thấy công chúa có hứng với muội muội, bèn bảo Dương phu nhân cùng mình ra sảnh ngoài tán gẫu.

Ta sợ Dương phu nhân phàn nàn về công chúa trước mặt hoàng hậu, bèn theo ra, đứng hầu một bên.

Hoàng hậu hỏi thăm Dương phu nhân đôi câu rồi hỏi sang tình hình chung đụng giữa công chúa và phò mã gần đây.

Dương phu nhân tức khắc thở vắn than dài: "Vẫn như cũ thôi, chỉ sợ tương lai quan gia có đến hoàng tử thứ mười rồi cũng chưa chắc đã được thấy đứa cháu ngoại nào!

Tại thằng con hiền lành dút dát của thiếp cả, chẳng biết nói lấy câu nào bùi tai, cũng không biết chọn áo gấm đẹp mà mặc, làm công chúa nhìn mà chướng mắt."

Nói đoạn cố ý vô tình liếc về phía ta, cười nhạt: "Thiếp còn đang khuyên phò mã có rảnh rỗi thì đi lĩnh giáo Lương tiên sinh nhiều nhiều chút, xin Lương tiên sinh dạy cho phải ăn nói hành sự, bận áo đội mũ thế nào để công chúa cũng thấy mình là cười."

Hoàng hậu nghe ra bà ta ý tại ngôn ngoại, bèn nhìn sang ta.

Ta khom lưng đáp lại bà, lại nói với Dương phu nhân: "Hoài Cát không dám.

Phò mã dung mạo trang trọng, phục sức hợp thời, Hoài Cát há có thể xằng bậy ý kiến."

Dương phu nhân cười ha hả, nói: "Lương tiên sinh khiêm nhường quá rồi.

Ngoại hình cậu sáng láng, xiêm áo cũng gọn gàng, nào thư nào họa, nào thi nào từ, không món nào không biết, phò mã có quất chết mấy thớt thiên lý mã cũng chẳng đuổi kịp được cậu."

Nói xong, bà ta quay sang hoàng hậu, tiếp: "Lương tiên sinh biết nhiều thứ lắm, chắc hẳn có vài tuyệt kỹ người khác không có, công chúa thích vô cùng nên thường mời cậu ấy vào gác luận bàn.

Lương tiên sinh hầu hạ công chúa cũng tận tâm, từ sáng đến tối, cả ngày bầu bạn bên nhau, nói đùa câu này chứ, người không biết thấy họ như vậy đều chỉ trỏ sau lưng, còn tưởng Lương tiên sinh là phò mã kia!"

Bà ta nói là "đùa" nhưng ánh mắt sắc lạnh, tuyệt không có vẻ gì là bông lơn.

Hoàng hậu tất nhiên hiểu được toàn bộ, trầm ngâm một thoáng, bà ngước mắt, khẽ mỉm cười với Dương phu nhân: "Quốc cữu phu nhân quả nhiên là quý nhân nhiều tiếp xúc với thế gian, kiến thức chẳng như bọn khất cái tầm thường, nghe dăm lời ngông cuồng quàng xiên cũng chỉ cười cười cho qua.

Nhớ năm xưa ta dẫn theo nhũ mẫu vào cung, nhũ mẫu thấy nội thần trong cung có thể tha hồ ra vào khuê các, thậm chí còn hầu hạ các nương nương rửa mặt chải đầu thay y phục, dìu trái đỡ phải, không khỏi cả kinh thất sắc, nói đàn ông sao có thể làm việc này.

Chương Huệ thái hậu nghe thấy lập tức mắng bà ấy: 'Nội thần trung quan không phải đàn ông, không khác thị nữ phục dịch buồng phòng nhà hào phú bao nhiêu, chỉ duy sức lực tư duy là hơn phụ nữ thông thường, dễ sai sử hơn mà thôi.

Chúng tịnh thân từ nhỏ, lại được dạy dỗ nghiêm ngặt trong cung, hành đức không thiếu sót, hoàn toàn không có khả năng dâm loạn cung đình, ra vào khuê các thì có gì mà không được?

Các ngươi cứ đối xử với chúng nó như con gái là được, đừng có giật mình kinh hãi như thế, bằng không, người biết sẽ nói ngươi lễ nghĩa nghiêm, phòng ngừa ngặt, người không biết chỉ e sẽ châm biếm ngươi không phóng khoáng, sai bảo không quen hạng tôi tớ giá trên trời này.' Nhũ mẫu ta nghe xong xấu hổ vô cùng, sau đó cũng thành quen.

Người ngoài cung gặp nội thần hẳn không nhiều, ngẫu nhiên trông thấy Hoài Cát còn tưởng nó là đàn ông, thế nên mới có mấy lời không đứng đắn truyền đến tai quốc cữu phu nhân.

Cũng may quốc cữu phu nhân ra vào cung cấm hai mươi năm, kiến thức vốn ngang bằng cung quyến, tất nhiên hiểu rõ nội tình bên trong, sẽ không để bụng lời ong tiếng ve kiểu này, chẳng vì thế mà sinh lòng bực bội.

Có một mẹ chồng thấu tình đạt lý như thế, công chúa quả là may mắn."

3.

Cướp roi

Những năm gần đây, Dương phu nhân vẫn luôn để bụng mình xuất thân tầm thường, lúc này nghe xong mấy câu hoàng hậu nói, cũng không nói thêm gì nữa, chỉ xấu hổ cười cười, gật đầu thụ giáo.

Hoàng hậu lại nói: "Đó giờ quan gia vẫn yêu thương công chúa như nâng niu châu báu, hai mươi năm nay, đến nói nặng cũng chẳng nói nó được mấy câu, thành ra nuôi nên cái tính ăn mềm không ăn cứng của nó.

Thế nên nếu nó có chỗ nào không phải, cũng xin quốc cữu phu nhân nhẫn nại khuyên bảo.

Chuyện với phò mã, mong phò mã và quốc cữu phu nhân rộng lượng thứ cho, cho nó thêm chút thời gian, thường ngày qua lại quan ái thêm chút nữa, để nó từ từ cảm nhận được thiện ý của phò mã và mẹ chồng.

Ta cũng như quốc cữu phu nhân vậy, cũng hi vọng công chúa sớm ngày sinh kỳ lân cùng phò mã, để chúng ta được hưởng niềm vui ngậm kẹo đùa cháu, nhưng việc này không gấp được, dù thế nào cũng cần công chúa tự mình bằng lòng, chớ để nó có cảm giác bị bức ép, bằng không, nếu gây ra việc gì không mong muốn, ầm ĩ lên thì sẽ rất khó giải quyết, lại đâm không hay."

Dương phu nhân khúm núm nhận lời, sau đó cũng không quên bày tỏ mình bình thường quan ái công chúa chu đáo ra sao.

Hoàng hậu thuận thế khen bà, theo thường lệ lại thưởng cho bà ta chút tài vật.

Dương thị nhất thời khấp khởi, luôn miệng tạ ơn.

Hoàng hậu lại sai người đưa bà sang chỗ Miêu hiền phi trò chuyện, rồi nói với ta: "Hoài Cát, trong gác ta có mấy bức họa, không biết có đúng là bút tích của người đời Đường không, ngươi đi giúp ta xem thử."

Ta thưa vâng rồi cùng bà trở lại Nhu Nghi Điện.

Vào trong gác hoàng hậu, bà bình lui mọi người rồi mới nói với ta: "Ngươi chớ để bụng mấy lời ta nói với quốc cữu phu nhân ban nãy.

Lúc đó cần chặn miệng bà ấy ngay nên buộc phải nói vậy, nếu không, trước mặt bao nhiêu cung nhân như thế, chẳng biết bà ấy sẽ nói lắm lời khó nghe đến mức nào."

Ta gật đầu: "Thần hiểu ạ, nương nương nói vậy, đối với cả thần và công chúa đều tốt..."

Huống hồ, bà nói cũng chẳng sai.

Ta cụp mắt, chậm rãi hít một hơi thật sâu, lặng lẽ kìm xuống cảm giác chua xót đang từ đáy lòng bốc lên xoang mũi.

"Có điều, Hoài Cát," Hoàng hậu hiền hòa nhìn ta, nói với ta bằng giọng như với con em, "Nói thì nói vậy, nhưng sau này ngươi chung đụng với công chúa cũng cần để ý mọi thời mọi khắc, giữ một khoảng cách thích hợp nhất định, tránh cho người ta bắt thóp, gây ra quá nhiều những thị phi không cần thiết."

Thoáng dừng lại, bà hơi nhấn giọng: "Dù sao ngươi cũng là một cậu trai."

Thình lình nghe vậy, ta cũng chẳng biết nên vui hay buồn.

Từ "đối xử như con gái" đến "dù sao cũng là một cậu trai", giới tính mơ hồ của ta đã cung cấp cho hai lời giải thích này khả năng chuyển hoán trong nháy mắt, tuy rằng cả hai đều xuất phát từ thiện ý của hoàng hậu.

Ta gật đầu, miễn cưỡng cười cười.

Sau một chốc yên lặng ngắn ngủi, hoàng hậu nói tiếp: "Cong tất tròn, trũng tất đầy, nhiều tất nghi.

Hẳn ngươi cũng hiểu đạo lý này.

Giữ mãi dôi đầy, chẳng bằng khe nhỏ sông dài.

Bây giờ quá gần gũi, rất dễ chôn ủ mầm tai vạ xa cách, hơn nữa, ngươi là đứa bé thông minh, phải biết có vài cấm kỵ vĩnh viễn không thể chạm vào; có vài sai lầm dẫu chỉ phạm một lần cũng vạn kiếp bất phục."

Ta đương nhiên hiểu được ý bà chỉ điều gì, mà sau đó, bà cũng tiến thêm một bước chỉ rõ: "Buổi tối đừng vào gác công chúa nữa.

Thỉnh thoảng đối mặt với công chúa gần gũi, ngươi cũng nên học cách tránh né và từ chối."

Ta cẩn tuân lời hoàng hậu dạy bảo, qua giờ ăn tối là không vào gác ngủ của công chúa nữa.

Công chúa hóng mát đêm hè, ta cũng không hầu nàng.

Nàng dần chú ý tới điểm này, khá có ý kiến, hỏi ta nguyên nhân, ta chỉ thoái thác là do sự vụ trong phủ nặng nề, buổi tối im ả dễ xử lý hơn.

Có lúc nàng tới chỗ ta ở tìm ta vào buổi tối, ta cũng không cho Tiểu Bạch mở cửa cho nàng, nàng nổi nóng hờn giận, ta bèn nghĩ cách vin đủ loại cớ ứng phó cho qua.

Sau nữa, nàng bị buộc phải chấp nhận quyết định này của ta, thôi cưỡng cầu ta theo hầu mình buổi tối, nhưng không cho ta tự ý rời khỏi phạm vi tầm mắt nàng vào ban ngày, cũng hạn chế ta ra ngoài, cố hết sức tăng thời gian chung đụng với ta.

Giữa tháng Bảy, Chu mỹ nhân hạ sinh, lại là một công chúa.

Trong vòng ba ngày gửi lễ vật đã chuẩn bị từ sớm vào cung rồi, ta lại phải bắt tay vào chuẩn bị quà đầy tháng cho thập nhị công chúa.

Ta lựa chút hàng dệt, đồ sứ, những kiểu trang sức trẻ con có thể dùng, sai người đi mua, song đồ mua về không như mong muốn, ta bèn quyết định tự mình ra cửa chọn lại dăm món.

Địa điểm cần đi có đến mấy chỗ, đại khái phải mất cả ngày, để tránh bị công chúa ngăn cản, ta không nói với nàng, lén sai người chuẩn bị ngựa, định lẳng lặng ra ngoài.

Nhưng nàng vẫn nhanh chóng nhận được tin tức, lập tức đuổi tới cửa.

Khi ấy ta đã lên ngựa, chỉ chưa vung roi giục đi.

Nàng nổi giận đùng đùng chạy tới, giơ tay cướp lấy roi ngựa trong tay ta, mặc cho tiểu hoàng môn bên cạnh khuyên giải thế nào cũng không trả lại cho ta.

Ta cười xuống ngựa, xá nàng một vái dài, ôn hòa xin nàng ban trả roi ngựa.

Nàng dẩu môi, hai tay nắm chặt hai đoạn roi ngựa, hờn dỗi xoay đi không chịu để ý tới ta.

Ta lại mỉm cười chuyển sang phía bên kia đối diện với nàng, một lần nữa chắp tay thỉnh cầu, nàng lại dứt khoát quay đầu sang một bên, nhất định không chịu cho ta.

Dáng vẻ ngây thơ khả ái làm bọn nội thần thị nữ đều phải rộ cười, mà nàng cũng mặc kệ tất thảy.

Ta nghĩ ngợi, trỏ vào con ngựa còn đang chờ đợi, ra hiệu với Tiểu Bạch.

Tiểu Bạch hiểu ý, đi qua ghìm cương ngựa xuống, con ngựa lập tức hí lên một tràng, Tiểu Bạch quay sang cao giọng nói với công chúa: "Lương tiên sinh đi rồi!"

Công chúa sửng sốt, quay lại nhìn.

Ta thừa dịp nàng thất thần, bất đồ rút roi ngựa trong tay nàng ra, mau mắn rảo bước trong tiếng cười to của mọi người, chuẩn bị lên ngựa, nào hay lúc này công chúa lại "oa" một tiếng òa khóc.

Sau khi trưởng thành, rất hiếm khi thấy kiểu khóc trẻ con này xuất hiện ở công chúa, ta nhất thời không biết phải ứng đối sao, vội chạy trở về, hết chắp tay vái lại xin thứ lỗi, cuối cùng hứa hẹn hôm nay không ra cửa nữa, nàng mới từ từ nín khóc, vừa đưa tay chùi nước mắt vừa chậm rãi trở về gác dưới sự bầu bạn của ta.

Nàng lặng thinh rất lâu, bất kể ta dỗ dành thế nào cũng không mở miệng.

Sau nữa, lúc ta cắt cho nàng một quả cam mới thu hoạch mùa thu năm nay, nàng ngồi bên cạnh ta, mới nói một câu nghe như xa thẳm: "Huynh ra ngoài rồi, nhất định đến tối mới về, vậy thì cả ngày nay ta sẽ không được gặp huynh."

Hốc mắt ta nóng ấm, đầu ngón tay dâng cam đang run rẩy, thế phòng ngự trong lòng một lần nữa ầm ầm sụp đổ.

Ta nghe thấy tiếng nước xiết vỡ đê, khó khăn lắm mới kiềm chế được xúc động muốn ôm nàng.

Sau cùng, ta gắng hết sức xem nhẹ hồi đáp của nàng, chỉ cười với nàng, tiếp đó quết ít muối lên quả cam đã bóc xong, đưa tới trước mặt nàng.

Chuyện công chúa cướp roi nhanh chóng truyền đến tai mẹ con phò mã, chẳng cần đến nửa ngày, Trương Thừa Chiêu đã mang về cho ta tin tức liên quan tới họ: "Nghe kể chuyện này, phò mã sầm mặt không nói gì, mẹ hắn thì tức tối chỉ vào mặt hắn mắng: 'Bà đây chẳng biết kiếp trước tạo nghiệt gì mà lại sinh ra cái thằng không nên thân nhà mày, cưới vợ về cũng không dám đụng vào, còn để mặc nó...'"

Nói đến đây, Trương Thừa Chiếu ngập ngừng, nuốt vế còn lại xuống.

"Nói hết đi."

Ta lệnh hắn.

"Ừm, cậu muốn nghe thì tôi nói thôi, cơ mà, toàn bộ câu này đều là lời bà ta, tôi không có thêm thắt một chữ nào vào đâu đấy nhé!"

Trương Thừa Chiếu thanh minh trước rồi mới hạ giọng nói nốt: "...

Còn mặc nó...lẳng lơ...với một thằng bất nam bất nữ..."

Hắn cẩn thận quan sát sắc mặt ta, thấy ta không có vẻ gì là nổi cáu, mới nói tiếp: "Bà ta còn nói, phò mã là thứ không có tiền đồ, nếu sớm cho công chúa biết thế nào mới là đàn ông chân chính thì đã chẳng phải chịu đựng những căm phẫn không đâu ô nhục này."

4.

Nữ quan (*)

(*) Chỉ nữ đạo sĩ: quan ở đây là cái mũ, thời xưa phụ nữ bình thường không đội mũ, chỉ nữ đạo sĩ mới đội mũ như đàn ông, bởi vậy nên gọi là nữ quan; vốn có một cách gọi quen thuộc hơn là đạo cô nhưng trên thực tế, Đạo giáo chính thống chỉ dùng từ nữ quan, đạo cô là cách gọi của dân gian.

Để tránh công chúa tức giận, ta hạ lệnh cấm nội thần và thị nữ trong phủ không được thuật lời Dương thị nói cho công chúa nghe, về sau khi gặp mặt mẹ con phò mã, ta cũng làm như hoàn toàn không hay biết gì về việc này, không để lộ chút cảm xúc nào ra, họ tuy lạnh nhạt với ta song cũng không nói lời khó nghe như vậy ngay trước mặt, mấy ngày kế tiếp dường như đều trôi qua trong yên bình.

Sau nữa, Dương phu nhân phái người nói với ta, quốc cữu qua đời đến năm nay đã là tròn mười năm, bà ta muốn tìm vài đạo sĩ vào phủ lập đàn cúng cho quốc cữu.

Hai ngày sau, bà ta mời đạo sĩ vào ở trong phủ, Trương Thừa Chiếu đi ngó, trở về líu lưỡi nói: "Gớm quá đi thôi!

Cậu đoán xem bà ta mời thứ đạo sĩ gì về? ...

Dẫn đầu là ba ả nữ quan lả lơi!

Một ả tên Ngọc Thanh, đầu đội mũ hoa sen bạch ngọc, phía sau cắm một cái lược mảnh, dài gần một thước, khảm đầy vàng bạc châu mồi, ấn đường còn dán hoa điền phỉ thúy xanh biếc, ca kỹ trong câu lan (*) cũng chẳng dùng trang sức sặc sỡ thế; một ả tên Trục Vân, đạo bào trên người may kiểu áo bào vạt mở, không buộc đai, yếm ngực bên trong thấp đến nhìn được cả rãnh ngực luôn; còn một ả nữa tên là Phù Nguyệt, kiểu dáng đạo bào thì không có vấn đề gì, nhưng lại làm bằng sa mỏng, quần lót thêu mặc dưới thân cũng lộ hết cả ra!"

(*) Nơi vui chơi nghe ca xướng diễn kịch thời xưa gọi là câu lan.

Hôm nay Hàn thị đến xin nghỉ với ta để về nhà chuẩn bị hôn sự cho con trai, ngồi bên cạnh nghe Trương Thừa Chiếu nói thế bèn bình luận: "Nữ quan qua lại với các nhà các hộ bây giờ có đến tám, chín phần mười là gái giang hồ, quần áo mũ nón như thế cũng chẳng có gì lạ."

Trương Thừa Chiếu xua tay: "Cơ mà, bà nội tôi ơi, mấy con ả đó là quốc cữu phu nhân tìm về lập đàn cúng cho quốc cữu đấy!

Người trông thấy đều cười thầm, nói hóa ra quốc cữu phu nhân hiền huệ đến vậy, còn đặc biệt cho quốc cữu gia dưới hoàng tuyền hưởng diễm phúc nhường này."

Hàn thị nghĩ ngợi, hỏi: "Chẳng lẽ quốc cữu phu nhân lấy danh nghĩa lập đàn cúng tế tìm mấy ả nữ quan đó về đưa đi hầu hạ phò mã?"

Trương Thừa Chiếu gật gù: "Tôi cũng đoán là thế, thường ngày phò mã không mấy gần nữ sắc, thế nên quốc cữu phu nhân mới tìm cái giống lẳng lơ này về dạy dỗ hắn."

Ta nghe hắn nói thô tục quá chừng, không khỏi lườm hắn, hắn lập tức tự đưa tay tát nhẹ lên má mình một cái rồi thò lại, cười làm lành xin chỉ thị: "Để mấy con ả đó ra vào phủ công chúa thật gây ảnh hưởng tới hình tượng quá, đuổi chúng đi nhé?"

Ta ngẫm nghĩ rồi đáp: "Thôi.

Người là do quốc cữu phu nhân mời tới, cậu mà cưỡng ép đuổi đi sẽ chỉ gây tổn thương đến hòa khí.

Huống hồ công chúa cũng không phản đối phò mã gần gũi nữ tử khác, lập đàn cúng cũng chỉ vài ngày, mặc họ đi."

Song, lập đàn cúng tế xong xuôi rồi, đám nữ quan ấy vẫn chẳng rời đi, cứ ở riệt trong phủ, cả ngày ríu ra ríu rít, đàn hát sênh ca, tụ tập vui đùa, làm ai nấy đều liếc xéo lườm nguýt.

Lương đô giám cũng thấy chướng mắt, uyển chuyển hỏi Dương phu nhân bao giờ tiễn họ đi, Dương phu nhân lại nói, qua hai ngày nữa là sinh nhật của phò mã, để họ chúc thọ phò mã rồi đi cũng không muộn.

Đến ngày sinh nhật phò mã, cho phải phép, công chúa cũng tham dự bữa tiệc tối mừng thọ trong nhà, nhưng qua ba tuần rượu, nói lời chúc phò mã cát tường xong là cáo từ muốn rời đi luôn.

Đúng lúc này, nữ quan tên Ngọc Thanh kia đứng dậy, bước tới thi lễ với công chúa, nói: "Chị em chúng tôi ở trong phủ công chúa đã nhiều ngày mà chưa thỉnh an công chúa được bận nào, vốn chuẩn bị vài từ khúc, định bụng hiến tặng công chúa nghe trên tiệc mừng, mong công chúa ban cho chút thể diện, nán lại đôi khắc, nghe xong lại hẵng đi."

Công chúa lưỡng lự, nhất thời chưa đáp ngay, Dương phu nhân ngồi một bên bèn cười bảo: "Vì hiến nghệ tặng công chúa, họ đã luyện tập suốt mấy ngày nay, công chúa dẫu không có hứng thì cũng coi như nể cái mặt mọn của mẹ con tôi đây mà thưởng cho họ chút vinh hạnh này đi."

Bà ta đã nói đến vậy, công chúa cũng không tiện công nhiên khước từ, đành ngồi trở lại.

Ngọc Thanh cảm ơn công chúa, ra hiệu bảo Trục Vân, Phù Nguyệt tấu nhạc, sau đó bưng một bình đựng rượu bằng sứ ảnh thanh khắc hoa (*) trên bàn mình lên, đi qua rót vào chén mã não của công chúa, nói: "Đây là rượu chị em tôi tự cất, tên là Đào Nguyên Xuân, không giống với rượu nhà khác, công chúa không ngại mời nếm thử một ngụm.

(*) Ảnh thanh là một mặt hàng gốm sứ nghệ thuật cao cấp của Trung Quốc, có đặc điểm là chất sứ cực mỏng, men màu trắng xanh, có hoa văn khắc chìm nhìn được cả từ bên trong lẫn bên ngoài khi soi dưới ánh sáng.

Bình rượu được chế tạo tinh xảo, sắc men thanh nhã, rượu rót từ trong ra chuyển màu hổ phách, tỏa sáng lung linh dưới ánh đèn, nom vô cùng đẹp mắt.

Công chúa nâng chén nhấm nháp, khẽ gật đầu, hẳn là vị rất khá.

Lúc này, Trục Vân thổi khèn, Phù Nguyệt gảy tỳ bà, xướng một bài "Bồ Tát Man": "Khuyên người say sưa lấy đêm nay, trước rượu chớ luận chuyện mai này, quý lấy lòng người chủ, rượu sâu tình cũng sâu.

Đêm xuân đoản biết mấy, đừng trách chén ly đầy, gặp rượu hà cớ nhiễu, nhân sinh có bao nhiêu?"

Công chúa nghe xong không bình luận gì, cũng chẳng nhìn đến Lý Vĩ đang lặng yên nhìn nàng đăm đăm, chỉ mỉm cười, ngửa đầu uống cạn rượu trong chén.

Ngọc Thanh vỗ tay hoan hô, lập tức lại tới rót đầy một chén nữa cho công chúa, cười nói: "Chén vừa rồi coi như tôi mời, chén này là Phù Nguyệt kính công chúa, nếu công chúa thấy vừa rồi em ấy hát hay, xin hãy cạn ly này."

Công chúa cười: "Cô bảo cô ấy hát thêm một khúc đi, ta thấy êm tai mới uống."

Ngọc Thanh bằng lòng, bảo Phù Nguyệt hát tiếp, Phù Nguyệt gật đầu, lại lần nữa thổi khèn gảy tỳ bà cùng Trục Vân, đổi một làn điệu khác, ngân nga hát: "Ngựa hoa tiết trời trong, thong dong đường dương rủ, cỏ thơm gợi khói nhạt, trăng trắng sợi gió đưa.

Xe chạm nhà ai mù hương bụi, thấp thoáng bóng thần tiên.

Roi ngọc chàng ngơ ngẩn, rầu gang tấc cách lòng."

Sóng mắt công chúa đong đưa, nghe đến nhập thần, như thấy xúc động.

Nghe hết khẽ than một tiếng, bưng lấy chén rượu kia, vẫn một hơi cạn sạch dứt khoát như chén trước.

Ba nữ quan nhìn nhau cười, Phù Nguyệt tự mình đi qua hành lễ tạ ơn công chúa.

Ngọc Thanh lại lấy danh nghĩa Trục Vân rót một chén, muốn công chúa uống tiếp, Trục Vân cũng đổi sang tỳ bà, cười thưa với công chúa: "Bây giờ tới lượt tôi hát, công chúa cũng đừng bất công, chỉ uống của hai cô ấy mà không cho tôi cái thể diện này."

Đoạn, ả gảy nhẹ dây đàn, hát một bài "Tư đế hương": "Dạo xuân sâu, hoa hạnh vương khắp đầu.

Thiếu niên nhà ai trên ruộng, sao tiêu sái.

Thiếp đây mong trao thân này, đời vui dài.

Dẫu bị vô tình bỏ, chẳng bi ai."

Từ khúc công chúa tiếp xúc thường ngày đều do ta sàng lọc, dẫu là thi từ uyển chuyển viết về tình ái cũng đều thanh nhã kín đáo, rất ít khi nàng nghe đến từ khúc tình cảm bộc trực như vậy.

Lúc này, con ngươi nàng mờ sáng, khóe miệng ngậm cười, như nghe thấy hứng thú.

Phù Nguyệt qua mời rượu, nàng cũng không chối từ, một lần nữa cạn chén.

Tửu lượng nàng vốn chẳng cao, qua ba chén, trên mặt đã hiện sắc đào.

Ta hơi lo lắng, nhẹ giọng gọi nàng, khuyên nàng tiết chế đôi phần, Ngọc Thanh lại cười nói với ta: "Tiên sinh đừng lo, rượu này như nước đường vậy, uống vào tuy có nóng người, nhưng chẳng say nổi ai."

Dương phu nhân cũng bảo: "Rượu các cô nương uống có bao mạnh đâu?

Lại nói, hai vị Lương tiên sinh đấy, một năm phò mã chỉ mừng sinh nhật có một lần, bây giờ hai người chỉ uống có tí teo như vậy, chẳng lẽ là không coi phò mã vào mắt?"

Ta và Lương đô tri vội vàng nói "Không dám", Dương phu nhân bèn lệnh thị nữ hầu bên hai ta mời rượu chúng ta nhiều hơn.

Ta uống một ly, vẫn liên tục ngoảnh nhìn công chúa, hi vọng nàng đừng quá chén.

Công chúa phát hiện, mỉm cười xua tay với ta: "Không ngại, ta vẫn tỉnh táo mà."

Lại quay sang lệnh Ngọc Thanh, "Các cô hát tiếp đi."

Ngọc Thanh ưng thuận, bảo Trục Vân qua đây rót rượu cho công chúa, tự mình đi tới cầm tỳ bà, vừa đàn vừa hát: "Trong tay anh vũ vàng, trước ngực thêu chim phượng.

Vụng trộm dòm hình tướng.

Chẳng bằng gửi tấm thân, làm uyên ương."

Lúc ả hát, sóng mắt đánh về phía phò mã Lý Vĩ, dáng vẻ lúng liếng đưa tình, tưởng chừng như coi hắn là chàng thiếu niên tuấn tú mà lời ca ngâm vịnh.

Công chúa trông thấy rộ cười, hỏi ả: "Các cô là tiên cô tu đạo, nhưng chẳng biết đạo này tu thế nào, cớ sao cũng muốn cưới tình lang, làm uyên ương?"

Ngọc Thanh cười đáp: "Tu đạo thì có làm sao?

Sâu trong vườn đào còn có Nguyễn lang (*)."

(*) Tích rằng năm Vĩnh Bình thứ năm thời Hán Minh Đế, hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu huyện Diệm quận Hội Kê cùng vào núi Thiên Thai hái thuốc, gặp được hai tiên nữ xinh đẹp, được mời tới nhà, cũng mời làm rể.

Nguyễn lang chỉ Nguyễn Triệu, sau cũng mượn để chỉ nam tử kết duyên cùng mỹ nhân.

Công chúa gật đầu, trỏ vào Lý Vĩ, nghiêm túc nói: "Ừ, nếu thế, ta thưởng vị Nguyễn lang này cho cô đó."

Ngọc Thanh đứng dậy ra vẻ bái tạ: "Tạ công chúa ban ân."

Công chúa nâng ống tay áo cười không ngừng, thị nữ cả sảnh đường đều cười theo, Lương đô giám đã có tuổi, cảm thấy hơi xấu hổ, mới uống được mấy chén đầu đã ong ong, bèn đứng dậy xin cáo lui.

Dương phu nhân cũng đứng lên liền sau đó, nói với công chúa: "Tôi cũng mệt rồi, về nghỉ ngơi trước, các cô các cậu còn trẻ, hiếm có dịp nào được tận hứng, cứ chơi thoả thuê một bữa đi, nghe họ hát thêm mấy khúc."

Nói đoạn, bà ta nhìn Lý Vĩ một cái thật sâu như có điều ám chỉ.

Lý Vĩ đứng dậy tiễn bà, vẫn im lặng, không hé răng tiếng nào.

Lúc đi ngang qua ta, Dương phu nhân thoáng dừng bước, nói với ta chừng như quan tâm: "Lương tiên sinh cũng vất vả cả một ngày rồi, sớm về phòng nghỉ ngơi đi thôi."

Ta cúi người nói cảm tạ, lại không đồng ý.

Bà ta nhếch khóe miệng, tiếp tục dõi mắt ra trước, nghênh ngang rời đi.

Dương phu nhân và Lương đô giám đi rồi, Ngọc Thanh càng thêm sôi nổi, nghiễm nhiên bày vẻ nữ chủ nhân tiệc rượu, luôn miệng sai hai nữ quan còn lại và chúng thị nữ hầu phò mã kính rượu người của công chúa, trong chén công chúa lại càng không một khắc cạn rỗng, vừa thấy đến đáy, Ngọc Thanh cùng Trục Vân, Phù Nguyệt đã lập tức luân phiên rót đầy cho nàng.

Công chúa đã ngà ngà say, ta nhỏ giọng khuyên nàng trở về nàng cũng không nghe, chỉ liên tục lệnh mấy nữ quan xướng khúc tiếp.

Họ cười lĩnh mệnh, một lần nữa gảy dây, diễn tấu khúc "Liễu chi", điệu hát được họ diễn dịch mềm mại triền miên, mà ca từ Phù Nguyệt êm ái hát ra thì càng thêm khiến ta nghe mà kinh hãi: "Xanh biếc quần la với đai vàng, nét ngài cọ nhòa chửa chỉnh trang.

Cánh hoa mới đính say cắn hỏng, mặc sức nũng nịu níu tiên lang."

Nghe xong khúc này, công chúa chuếnh choáng đỡ trán, cúi đầu im lặng, nét cười như ẩn như hiện, chẳng biết có phải đang ngẫm ngợi ý bài từ không, mà Trương Thừa Chiếu nghe vào lại dạt dào hứng thú, còn mở miệng hỏi Phù Nguyệt: "Tiên cô hát hay lắm, nhưng tôi còn có chỗ chưa rõ: Tiểu nương tử trong bài ca này tự mình uống say, cắn hỏng hoa bột đính mặt chứ có liên can gì đến tình lang của nàng đâu, cớ chi nàng ta lại muốn níu tình lang làm nũng?"

Phù Nguyệt cười đáp: "Hoa bột đính trên mặt tiểu nương tử, nàng ta cắn sao đặng?

Cái người uống say cắn hỏng hoa bột trên mặt ấy chưa chắc đã là nàng..."

Nghĩ theo ý ả nói đương nhiên sẽ liên tưởng đến một cảnh tượng ướt át, lần này, mở miệng ra lại càng là một hình ảnh hương khuê còn kiều diễm hơn: "Lư ngọc chiếu trúc thêm chăn gấm, mồ hôi hòa phấn chảy gối đẫm.

Kéo nước vẳng tiếng cơn, cau mày cười dỗi hờn.

Bóng liễu nom rì rậm, tóc mai chưa kịp vấn.

Liều tẫn tình một đời, chỉ để cùng quân chơi."

Bài hát miêu tả việc nam nữ thâu hoan, ta cảm thấy chói tai hết sức, như đứng đống lửa như ngồi đống than, lại gọi công chúa, chợt thấy Ngọc Thanh cầm một hộp phấn bằng sứ men xanh tới bên cạnh công chúa, nói: "Mới rồi công chúa nói không biết chúng tôi tu đạo thế nào, giờ để tôi mời công chúa xem thử nhé, bí quyết tu đạo của bọn tôi nằm hết cả trong đây đấy."

Công chúa cụp mắt nhìn, Ngọc Thanh chỉ vào bên trong hộp phấn, hạ giọng tiếp tục nói gì đó với nàng.

Chỗ ta ngồi cách công chúa một khoảng, nghe không được lời Ngọc Thanh nói lúc này, cũng nhìn chẳng tới món đồ trong hộp phấn.

Công chúa đã say đến mụ mị ngây ngô, ánh mắt mơ màng, nhòm vào hộp phấn cười ngơ ngẩn, hoàn toàn không nghe thấy ta đang gọi nàng.

Tiếp đó, người hát lại đổi thành Trục Vân, vẫn là ngâm vịnh chuyện nam nữ, mà nội dung thì hai chữ "ướt át" đã chẳng còn đủ để miêu tả nữa rồi: "Gặp lại mừng vui mắt lệ nhòa, rượu hun hoan lạc nở muôn đóa.

Trướng phượng gối uyên nghỉ phòng hoa.

Lan xạ đưa hương nghe hổn hển, lụa vân sa mỏng thấy thịt da, lúc này còn hận tình cách xa?"

Công chúa nghe, lại ngoảnh đầu xem hộp phấn, mặt ngọc đỏ bừng, hơi thở dần gấp gáp, tựa vào người Ngọc Thanh chừng như yếu ớt chẳng dậy nổi.

Ngọc Thanh dìu công chúa, cười nhìn phò mã, nhướng mày: "Đô úy, nương tử ngài mệt rồi, sao ngài còn chưa tới đỡ?"

Lý Vĩ do dự, song nghe Phù Nguyệt liên thanh khích lệ vẫn đi qua ghé lại gần công chúa.

Ngọc Thanh cười, đẩy công chúa vào lòng hắn.

Công chúa mơ mơ màng màng, ngẩng đầu lên nhìn Lý Vĩ, lại lười biếng cụp mắt xuống, cũng không cự tuyệt để hắn ôm.

Bình thường, chỉ cần Lý Vĩ hơi tiếp cận công chúa, nàng sẽ lập tức nhíu mày, càng đừng nói đến tiếp xúc thân thể, hiện giờ xem ra, đại khái thần chí công chúa đã không còn minh mẫn.

Ta đứng phắt dậy, cao giọng gọi Gia Khánh Tử, Tiếu Diệp Nhi và Vận Quả Nhi, lệnh họ đưa công chúa về gác ngủ nghỉ ngơi.

Ngọc Thanh lại xua tay cự tuyệt họ tới gần, cười chỉ vào công chúa: "Các cô nhìn xem, dáng vẻ công chúa thế này chắc chắn không đi xa được.

Gác ngủ của phò mã ở ngay phía sau, không bằng để chị em chúng tôi đỡ công chúa qua đó ngồi nghỉ, uống chút trà, trò chuyện đôi câu, đợi công chúa tỉnh táo lại rồi, các cô hẵng đón người về."

Nói xong, cũng chẳng đợi bọn thị nữ trả lời, ả đã cùng Lý Vĩ đỡ công chúa lên, lại gọi Trục Vân và Phù Nguyệt tới, cùng vây quanh công chúa, đi thẳng về hướng gác phò mã.

Ta thấy vậy cũng rảo bước đi theo, Ngọc Thanh quay đầu thấy là ta, lại cười khoan thai: "Đêm đã khuya, Lương tiên sinh theo công chúa lên sảnh vào buồng thế này hình như không được ổn cho lắm?"

Ta khựng lại, đành dừng bước.

Đợi họ đi được một quãng rồi, ta lại sai đám Gia Khánh Tử đuổi theo, nhất thiết phải mời công chúa sớm về gác ngủ.

Sau đó, ta chậm rãi quay trở lại sảnh thiết yến, thấy hộp phấn ban nãy Ngọc Thanh cho công chúa xem hãy còn đặt trên bàn, bèn cầm lên mở ra nhìn, chẳng ngờ đập vào tầm nhìn lại là một hình ảnh gai mắt: Trong hộp có hai tượng sứ hình người trần truồng, một nam một nữ, ngồi đối diện nhau, hai chân quấn lấy hông nhau, đang làm động tác giao cấu.

Ta thầm kinh hãi, ánh mắt quét sang bình rượu ảnh thanh khắc hoa bên cạnh hộp phấn, lập tức nhấc lên, mở nắp ra ngửi, mùi rượu thơm nức bên trong xộc vào mũi, cũng không phải hương rượu thuần túy mà như trộn lẫn dược liệu thảo mộc.

Trống ngực ta đập dồn, máu huyết cả người tựa hồ cũng đang xông lên óc, bắt đầu ý thức được rằng đây là một âm mưu được bài bố tỉ mỉ nhằm vào công chúa.

Ta đưa bình rượu cho Trương Thừa Chiếu, lệnh hắn nghĩ cách tra xem trong rượu này pha thêm thứ gì, sau đó rảo bước đi tới gác phò mã.

Chưa được vài bước thì chạm mặt mấy thị nữ trở về từ gác phò mã.

"Quốc cữu phu nhân đang ở gác phò mã", chúng nói với ta, "Bà ấy bảo ở đó cũng có thị nữ, công chúa không cần đến bọn em hầu hạ, sau đó đuổi chúng em ra ngoài."

"Công chúa đâu?"

Ta nghe giọng mình khản đặc đặt câu hỏi.

"Đám nữ quan dìu công chúa vào phòng ngủ của phò mã rồi ạ."

Tiếu Diệp Nhi rụt rè đáp.

Ta không hỏi thêm nữa, phất tay áo cất bước về phía gác phò mã với tốc độ gần như là chạy.

Vừa vào cửa lớn gác phò mã đã trông thấy quốc cữu phu nhân ngồi lù lù trong sảnh, như đã dự liệu được từ trước, bà ta trưng một nụ cười lạnh lùng ra với ta, đặt chung trà trong tay xuống, chầm chậm nói: "Lương tiên sinh, hôm nay ta cũng chẳng ngại nói rõ với cậu: Đêm nay phò mã sẽ viên phòng cùng công chúa, hai người họ anh tình tôi nguyện, không liên quan gì đến cậu, cậu cũng không can thiệp được.

Vẫn nên quay về nghỉ ngơi sớm đi thôi, ngày mai lại qua chúc mừng, tôi tất sẽ bảo phò mã chuẩn bị cho cậu một khoản tiền thưởng không bạc."

5.

Ngọc thể

Trong tai ta nổ ầm ầm, hít thở trở nên khó khăn, ta không muốn nghe bất kỳ từ ngữ gì phát ra từ miệng bà ta nữa.

Xoay người chuyển hướng về phía phòng ngủ của phò mã, ta bắt đầu guồng chân lao điên cuồng.

"Bắt hắn lại!"

Dương thị đuổi theo ra cửa, ra lệnh cho nô bộc hai bên.

Tức thì, năm sáu gia đinh cao lớn vạm vỡ chặn đứng đường ta, lại có hai người tiến lên, một tả một hữu kẹp chặt ta.

Ta phẫn nộ quay đầu, cả giận lớn tiếng với Dương thị: "Công chúa không muốn, các người không thể cưỡng ép người!"

"Không muốn ư," Bà ta cười nhạo, "Tình hình mới rồi đâu chỉ có một, hai người chứng kiến?

Công chúa và phò mã nâng công vui cười, sau đó tay nắm tay trở vào gác phò mã an giấc, ai nói cô ta không muốn?"

Ta vận sức giãy thoát kìm kẹp của hai gã gia đinh, vung tay áo chỉ thẳng vào Dương thị: "Người có bằng lòng hay không, bà tự rõ.

Bà có nghĩ đến hậu quả khi làm vậy không?"

"Ý cậu là về sau các người sẽ vào cung tố cáo tôi với hoàng đế và hoàng hậu à?"

Bà ta tựa người vào cạnh cửa, không chút hoảng loạn phe phẩy chiếc khăn tay trong tay, làm bộ quạt gió, "Mẹ chồng tác hợp cho công chúa và phò mã viên phòng thì có gì sai?

Đừng quên, chính quan gia cũng muốn sớm ngày được bế cháu ngoại, nếu Lương tiên sinh muốn vào cung đặt điều thị phi ta và phò mã thì cứ cẩn thận đấy không xôi hỏng bỏng không, cáo trạng chẳng thành lại để quan gia hỏi tội cậu ly gián công chúa và phò mã..."

"Người sẽ chết!"

Ta không nhịn nổi nữa, thống thiết gào lên với bà ta, "Bà nhất định đã nghĩ xong cách bào chữa cho mình trót lọt trước mặt quan gia, nhưng đối với công chúa, chẳng lẽ từ đầu đến cuối bà không có chút thương hại nào, không nghĩ đến cảm nhận của người ngày mai sau khi tỉnh táo sao?"

Dương thị sửng sốt, không đáp trả lại ngay.

Ta đẩy đám người cản đường ra, định tiếp tục chạy đi tìm công chúa.

Dương thị hồi thần, lại liên thanh chỉ huy người chặn ta lại.

Song ta giận cuống công tâm, mỗi tấc da thịt trên cơ thể đều như nhồi đầy hỏa dược, bất kỳ kẻ nào đụng vào đều khiến ta bùng nổ công kích.

Sự phát tiết bạo lực này là điều trước nay chưa một lần xuất hiện trong hai mươi tám năm sinh mệnh đời ta, bất kể ta phải đối mặt với sự khiêu khích, ức hiếp hay sỉ nhục cỡ nào.

Ta vung quyền đánh thẳng vào mỗi một kẻ có ý đồ ngăn cản mình đi về phía trước, mãnh liệt dữ dội như thể dùng tất thảy sức lực dành dụm suốt hai mươi tám năm, ta liều mạng tấn công họ, tựa như trông thấy họ đang cướp đoạt không gian sinh tồn, không khí hít thở của mình.

Trong hơn một ngàn ngày kể từ khi bước vào phủ đệ này, những người này từng bắt gặp rất nhiều biểu cảm của ta, ôn hòa hiền hậu, điềm đạm mềm mỏng, hoặc nói cười vui vẻ, nhưng nhất định là vô cùng xa lạ với mặt mày ta lúc này, càng không ngờ tới đôi tay cầm bút kia hiện giờ lại hóa thành vũ khí tranh đấu.

Họ trừng mắt há hốc, chuyển công thành thủ, cuối cùng thậm chí từ bỏ chống đỡ, ta nghĩ ắt hẳn trông ta điên cuồng lắm.

Cuối cùng, họ bị đánh tơi bời, dồn dập lùi bước, ta lập tức cất bước, lao về hướng vị trí công chúa.

Đến trước cửa phòng ngủ phò mã, vừa vặn bắt gặp ba nữ quan từ trong phòng đi ra.

Cuộc tranh đấu mới rồi đã để lại trên má phải của ta một vết thương, lúc này đang rỉ ra mấy giọt máu.

Ta dừng lại, lạnh lùng nhìn chòng chọc họ, nâng tay áo lau giọt máu đi.

Sắc mặt ta khi ấy đại khái rất đáng sợ, họ hoảng loạn nhìn ta, người nào người nấy đều đưa tay áo che miệng, bưng lấp tiếng hét hãi hùng, đến cửa cũng chẳng kịp đóng lại, cứ thế chen lấn nhau chạy trối chết.

Ta tiến vào phòng, thả chậm bước chân, từng chút từng chút tới gần phía màn sập.

Ta không biết mình sẽ nhìn thấy cảnh tượng thế nào, cũng nỗ lực duy trì trạng thái đầu óc trống rỗng, từ chối thực hiện mọi suy đoán và tưởng tượng.

Lư hương trong màn trướng tỏa khói hương lan xạ trôi nổi trong ánh nến đỏ, dung hợp cùng mùi rượu có thể phân biệt rõ ràng, khiến bóng tối ma mị nơi đây càng thêm tăm tối mờ ám.

Ta lặng lẽ dịch bước, môi trường chung quanh cũng tĩnh lặng một cách kỳ dị, thỉnh thoảng chỉ bật lên tiếng hoa đèn nổ nứt.

Ta tới chậm rồi ư?

Ta bất an thấp thỏm nghĩ.

Chuyển qua bình phong trước trướng sập, cách một lớp màn sa, đáp án từng bước phơi bày trước mắt ta.

Công chúa say khướt nằm trên giường, xiêm y trên người chẳng bị đã bị ai cởi bỏ, tản mát trên mặt đất bên giường.

Nàng lúc này thân không mảnh vải, đường nét cơ thể tuyệt đẹp như đẽo từ bạch ngọc, xuyên qua màn sa nhìn vào, tựa như đang lờ mờ tỏa sáng bảy sắc.

Đôi má lúm của nàng hồng rực, nhắm mắt thiêm thiếp, song có vẻ như ngủ cũng chẳng yên giấc, rèm mi chốc chốc lại rung rung, miệng cũng tràn ra những tiếng nói mớ không rõ ràng, thỉnh thoảng lại nhếch lên một tia cười nhợt nhạt.

Lý Vĩ đang nửa quỳ trên giường bên cạnh nàng, chỉ mặc áo trong, vạt áo cũng mở rộng.

Sắc mặt hắn đỏ gay, hẳn cũng uống rất nhiều rượu, ánh mắt nóng rẫy quyến luyến trên thân thể công chúa, lại nhuốm vài phần ngẩn ngơ của men say.

Tay hắn đang ve vuốt công chúa...

Nói vậy kể cũng không chính xác cho lắm, hắn giống như đang dùng ngón tay từng chút từng chút chạm hờ hơn, từ hàng mày, khuôn mặt, bờ môi của công chúa, di thẳng đến cổ, ngực và bụng nàng.

Mỗi lần thoáng chạm trúng làn da nàng, hắn lại lập tức rụt tay về, sau đó bắt đầu lần thăm dò kế tiếp dưới cái nhìn chăm chú mê muội này.

Ta không ngờ hắn lại có biểu hiện quái dị như vậy, tựa như trước mặt hắn thời khắc này không phải một nữ nhân mà là một bức thư họa danh gia hắn bỏ số tiền lớn mua về, hắn không cầm được chạm vào để thể hội cảm giác được thân cận và sở hữu nàng, song lại sợ sự đụng chạm của mình sẽ làm bẩn nàng.

Có điều, tư thế thưởng thức tác phẩm nghệ thuật này của hắn cũng khiến ta thở phào nhẹ nhõm – chuyện còn chưa tới nông nỗi tệ hại nhất.

Ngay trước khi Lý Vĩ bắt đầu dùng môi miệng chạm vào da thịt công chúa, ta vén phắt màn lên, sải bước đi tới, cởi áo bào trên người ra bọc kín lấy công chúa, bế ngang nàng lên.

Công chúa hơi giật mình, bất an cựa quậy trong lòng ta.

Ta tăng lực ghìm chặt nàng, thì thầm bên tai nàng: "Công chúa, chúng ta về nhà thôi."

Nàng tĩnh lại, đáp một tiếng "ừm", ngậm nụ cười ngọt ngào ngoan ngoãn rúc vào lòng ta, mặc ta ôm nàng đi về phía trước.

Trong quá trình ấy, nàng không mở mắt một lần nào.

Nhìn nụ cười vui tươi trên môi nàng, Cơn đau buốt từ vết thương ta lại bắt đầu lan đến tim.

Trước khi ra khỏi cửa, ta quay đầu lại liếc Lý Vĩ.

Hắn quần áo xộc xệch đứng bên bình phong, lẳng lặng nhìn ta chăm chăm, khi ánh mắt hai ta chạm nhau, hắn nghiêng đầu nhìn sang chỗ khác, dùng lòng bàn tay ấn tắt một ngọn nến đỏ đang nhảy nhót tưng bừng.

Ta đưa công chúa về gác ngủ của nàng, bảo bọn thị nữ dốc lòng chăm sóc, sau đó tìm đến Lương đô giám, báo lại việc này.

Một lúc lâu sau, Trương Thừa Chiếu trở về thuật với chúng ta huyền cơ trong bình "Đào Nguyên Xuân": "Tôi mang rượu đi tìm ông chủ một tiệm thuốc, ông ta nhanh chóng nghiệm ra trong rượu bỏ thêm một vài vị thuốc thúc tình, người tửu lượng không tốt uống nhiều cũng có thể bị hôn mê."

Sau khi bàn bạc, hôm sau, chúng ta mang rượu tới tìm Dương phu nhân.

Ta đặt cốc xuống trước mặt Dương phu nhân, nói thẳng hành động này của bà ta là sỉ nhục công chúa, coi thường tôn nghiêm của hoàng thất, để không làm quan hệ giữa công chúa và mẹ con phò mã trở nên xấu đi, bọn ta có thể không báo việc hạ dược này cho công chúa và đế hậu biết, nhưng thỉnh Dương thị cam đoan về sau sẽ không tái diễn chuyện này.

Dương phu nhân cực kỳ bất mãn, còn nói mình làm vậy chỉ là để tác hợp công chúa và phò mã sớm ngày viên phòng, đế hậu ắt sẽ không trách tội.

Lương đô giám bèn nói với bà ta: "Phu nhân mà dùng thủ đoạn này làm công chúa và phò mã viên phòng, dẫu đế hậu không trách tội thì công chúa cũng chắc chắn không chấp nhận.

Tính tình công chúa cứng rắn, lỡ mà xảy ra chuyện, công chúa có thể sẽ vô cùng căm hận phò mã, vĩnh viễn không tha thứ cho cậu ấy, hơn nữa còn có thể có hành vi cực đoan, thậm chí là lấy cái chết để bày tỏ chống đối.

Nếu công chúa có việc gì, phu nhân và phò mã liệu có thể toàn thân trở lui?"

Dương phu nhân không cam lòng, lại nói: "Trước đây công chúa từ chối phò mã còn chẳng phải là do không biết đạo nam nữ sao, viên phòng rồi tất sẽ hiểu được diệu dụng trong đó, tự nhiên sẽ không bài xích phò mã nữa."

Lương đô giám nói: "Tôi không dám nói lời phu nhân hoàn toàn vô lý, nhưng vạn sự đều không có tuyệt đối, viên phòng như vậy rồi sẽ có hai kết quả, một là đúng như lời phu nhân, từ rày công chúa chấp nhận phò mã, hòa thuận êm ấm chung sống trọn đời, vậy đương nhiên là tốt nhất, nhưng kết quả còn lại chính là công chúa thịnh nộ, thậm chí từ bỏ sinh mạng để kháng cự.

Nếu chẳng may rơi vào kết cục ấy, trong tương lại người bị liên lụy đến e rằng sẽ không chỉ là phu nhân và phò mã.

Cho nên hành động này của phu nhân có khác nào đánh cược, tiền đặt cược là an nguy của cả nhà họ Lý, có đáng hay không, mong phu nhân cẩn thận suy nghĩ."

Từ đó về sau, Dương phu nhân cũng thu bớt phô bày, không còn có hành vi tương tự nữa.

Bọn ta trục xuất ba nữ quan, bà ta cũng không ý kiến gì, cư xử với công chúa cũng khách khí hơn.

Sau khi tỉnh lại, công chúa cũng không đề cập lại tới chuyện ngày đó, ta chẳng biết nàng nhớ được bao nhiêu, nhưng đoán đại khái là nàng cảm thấy xấu hổ với xúc động đêm ấy nên hoàn toàn tránh không nhắc tới, mà ta cũng đã dặn dò tất thảy nội thần thị nữ từ sớm rằng không được nói với nàng về mọi thứ xảy ra trong đêm sinh nhật phò mã.

Song, một ngày nọ, nàng bỗng nhìn chằm chằm vết thương chưa lành trên mặt ta, hỏi: "Hoài Cát, mặt huynh làm sao mà bị thương vậy?"

Ta cười với nàng, tìm đại một lý do: "Đi lại bất cẩn, đâm trúng tường."

"Đâm thế nào mà nặng đến thế?"

Nàng đưa tay chạm nhẹ lên vết thương, rất mực thương xót, lại hỏi: "Đâm phải tường chỗ nào?"

Ta nhướng mày, mỉm cười đáp: "Tường nam (*)."

Nàng hé miệng cười, cứ cười mãi rồi cúi đầu, vùi mặt thật sâu vào giữa hai khuỷu tay.

Tiếp đó, ta chỉ thấy hai vai nàng không ngừng run bần bật, lại không thấy tiếng cười, sau nữa, khi nàng ngẩng đầu lên, ta phát hiện trên rèm mi nàng vương bọt nước nhỏ vụn.

"Buồn cười thế cơ à?"

Ta làm như không có gì xảy ra, dùng đầu ngón tay lau đi chút ẩm ướt ấy trên mi mắt nàng, "Cười ra cả nước mắt rồi này."

"Ừ," Nàng gật đầu, cụp mắt cười e lệ, "Buồn cười lắm."

(*) Câu trả lời của Hoài Cát lấy ý từ câu thành ngữ: "Không đâm tường nam không chịu hết hi vọng" – Trong kiến trúc cổ Trung Quốc, cổng lớn thường đặt ở hướng nam, những nhà có địa vị quyền thế thường sẽ xây một bức tường chắn gió ở giữa cổng, thế nên muốn ra ngoài sẽ phải đi sang phía bên trái hoặc bên phải, đi thẳng nhất định sẽ đâm vào tường nam, thế nên mới có câu thành ngữ này.

6.

Bê bối

Hàn thị lo liệu xong cho hôn sự của con trai, trở lại phủ công chúa, ta và Lương đô giám nhất nhất thuật lại từng chuyện xảy ra trong khoảng thời gian này với bà, bà hết sức kinh ngạc, thẳng thắn cho rằng Dương thị to gan, quá mức vô lễ với công chúa, kể từ đó, hễ mẹ con phò mã xuất hiện trước mặt công chúa, bà đều một tấc không rời, thức ăn phò mã và Dương phu nhân dâng lên công chúa bà đều sai tiểu hoàng môn thử trước.

Phò mã nhìn trong mắt, hiển nhiên có phần xấu hổ, cộng thêm về sau, sắc mặt công chúa đối với hắn đặc biệt khó coi, như phủ băng sương, hoàn toàn không đếm xỉa đến nên hắn tự cảm thấy mất mặt, cũng gắng hết sức tránh né không gặp công chúa.

Dương phu nhân thấy Hàn thị phòng bị mình như thế cũng chẳng lấy gì làm thoải mái, thường xuyên trong tối ngoài sáng bới móc Hàn thị.

Tháng Tám, Hàn thị thu dọn trang phục đồ dùng theo mùa của công chúa, thấy cái gối sứ hình đứa bé công chúa dùng năm ngoái cất trong tủ không động đến nữa, bèn lấy ra nói với công chúa: "Tôi thấy năm nay trên giường công chúa đổi sang gối men lục khắc hoa Từ Châu, cái gối đứa bé này hãy còn lành lặn, để đó không dùng phí của lắm.

Con tôi mới thành thân, nếu công chúa không dùng cái gối này nữa thì chẳng bằng ban cho con trai con dâu tôi đi.

Tôi cũng muốn xin công chúa ban cho chúng nó hưởng ơn phước lành, để sang năm chúng nó sinh cho tôi một đứa cháu mập mạp."

Công chúa chẳng buồn nhìn đến đã bằng lòng ngay: "Vú thích thì cứ lấy đi, xiêm y đồ đạc ta để đó không dùng tới vú cũng có thể sàng chọn thêm, nếu có thứ gì con dâu vú dùng được thì cứ lấy mà dùng, coi như ta thưởng cho cô ấy."

Hàn thị vui mừng khôn xiết, luôn miệng tạ ơn công chúa rồi lập tức chọn thêm vài món đồ, mang đến trước mặt xin công chúa xem trước, cũng nhờ ta ghi chép lại.

Công chúa chỉ liếc mắt một lượt rồi nói với bà: "Đều chẳng phải đồ quý báu gì, không cần ghi lại đâu.

Vú tìm hai tiểu hoàng môn, trực tiếp mang về nhà đi."

Hàn thị lại nhìn sang ta dò hỏi, ta cũng cười bảo bà: "Công chúa đã nói vậy thì quận quân cứ mang thẳng về là được."

Hàn thị hết lời cảm tạ, ta bèn sai người đóng gói cẩn thận những món đồ này, phân phó hai tiểu hoàng môn khiêng giúp Hàn thị vào lần kế khi bà về nhà.

Bà quyết định ngày về nhà kế tiếp, hôm ấy hầu công chúa dùng bữa tối rồi mới lên đường, sắc trời đã tối, bởi nhà bà nằm đằng sau phủ công chúa nên bà dẫn tiểu hoàng môn đi từ cửa sau ra.

Chưa đi được bao lâu, một trong hai tiểu hoàng môn lật đật chạy về tìm ta, nói: "Quốc cữu phu nhân chặn Hàn quận quân, nói quận quân tự mình trộm đồ trong phủ công chúa về nhà, đang mắng bà ấy ở cửa sau ạ."

Ta lập tức chạy tới, quả nhiên thấy Dương phu nhân đang hùng hùng hổ hổ bắt Hàn thị trình bằng chứng công chúa ban thưởng.

Hàn thị tức nghẹn cả lời, đỏ hoe mắt giải thích đi giải thích lại là công chúa trực tiếp ban thưởng, không có chứng cớ.

Dương thị không nghe, kiên quyết không cho gia đinh thả đi.

Ta tiến lên kể lại quá trình công chúa ban thưởng cho Dương phu nhân nghe, bà ta chỉ cười khẩy: "Ta biết ngay quận quân sẽ gọi cứu binh vĩ đại là cậu đến mà.

Hàn quận quân và Lương tiên sinh tình như mẫu tử, mấy năm nay ai gặp chuyện gì người còn lại đều sẽ lấp liếm hộ, hôm nay đương nhiên cũng không ngoại lệ."

Ta ôn hòa nói: "Phu nhân không tin lời Hoài Cát, có thể đích thân tìm công chúa hỏi, xem việc ban thưởng có thật hay chăng."

"Công chúa?

Lương tiên sinh cậu chỉ cần nói một câu trước mặt công chúa thì chết cũng thành sống được, chuyện chưa từng xảy ra tất nhiên công chúa cũng tự coi là đã xảy ra rồi."

Bà ta lại gần ta, gằn từng chữ bên tai ta, "Cậu nói ta hạ dược trong rượu cô ta, ta đây lại muốn biết cậu đã rót thuốc lú hay hạ bùa mê gì cho cô ả lắm đấy."

Ta im lặng nhìn thẳng ra trước, làm như không nghe thấy.

Bà ta không dây dưa chuyện đồ vật nữa, chỉ lạnh lùng lườm chúng ta, mang ý ra oai, một lát sau mới xoay người rời đi.

Ta cảm nhận được rằng bà ta nhất định đã phái người bí mật theo dõi bọn ta, muốn tìm sai lầm mượn chuyện chêm lời.

Thế nên, ta cũng nhắc đi nhắc lại tùy tùng thị nữ bên cạnh công chúa phải cẩn thận mọi chốn, chớ gây sự, nhưng sau đó không lâu, một chuyện ta không muốn thấy nhất vẫn phát sinh.

Hôm ấy, ta đang nghị sự với Lương tiên sinh trong phòng thầy, chợt thấy Dương phu nhân dẫn theo vài tôi tớ xông đến, trong đó còn có hai kẻ hầu áp giải một thị nữ y quan không chỉnh tề, ta nhìn kỹ, phát hiện ra đích thị Tiếu Diệp Nhi.

Lương đô giám cũng vô cùng kinh ngạc, lập tức hỏi Dương phu nhân: "Phu nhân, thế này là làm sao?

Tiếu Diệp Nhi mạo phạm phu nhân ư?"

Dương phu nhân tự mình đi tới trước ghế chủ tọa, khoan thai ngồi xuống, bấy giờ mới cất tiếng: "Đô giám đừng hiểu lầm, tôi nào dám mảy may động tới người của công chúa?

Chẳng qua ban nãy tôi đi ngang qua phòng Trương Thừa Chiếu, không khéo trông thấy Tiếu Diệp Nhi từ bên trong đi ra, dáng vẻ đúng y thế này, vừa đi vừa buộc cạp váy, mặt mày hàm xuân đến là tươi tắn, tôi coi như được mở rộng tầm mắt, thế nên mới mời cô nàng qua đây, mời hai vị Lương tiên sinh xem mà cùng thưởng thức."

Bà ta rành rành có ý Tiếu Diệp Nhi và Trương Thừa Chiếu làm chuyện bất chính, mà Tiếu Diệp Nhi lại chẳng phản bác kêu oan, chỉ cúi đầu rấm rứt khóc.

Ta thấy không ổn, cùng Lương đô giám nhìn nhau, thấy sắc mặt thầy nặng nề.

"Trong đây có thể có hiểu lầm, phu nhân đã hỏi kỹ hai người họ chưa?"

Lương đô giám cân nhắc rồi hỏi vậy.

Dương phu nhân liếc qua Tiếu Diệp Nhi, đáp: "Tôi cũng sợ có hiểu lầm nên mới đặc biệt vào tìm Trương Thừa Chiếu, định hỏi cậu ta xem mới rồi là họ đánh cờ hay chơi quăng hũ.

Nào ngờ vừa đẩy cửa vào, thằng nhóc kia trông thấy là tôi đã lập tức quơ quần áo vắt chân lên cổ chạy mất dạng, còn để trần hai cánh tay, giày cũng đi ngược, giờ chẳng biết đã lẩn đi đâu núp rồi, nhưng trên giường có để lại ít đồ, tôi bảo người mang theo, mời hai vị xem thử."

Đoạn ra dấu cho tùy tùng, lập tức có người bước lên, mở một cái túi ra, rào rào đổ vật bên trong lên mặt bàn trước mặt bọn ta.

Chúng ta liếc sơ một lượt, thấy trong đó có mấy bức xuân cung đồ, hai ba hộp phấn sứ cùng loại với cái Ngọc Thanh cho công chúa xem, một lọ thuốc viên nhỏ, thân lọ cũng vẽ hình lén lút nô giỡn, cái khiến người ta nhìn mà giật mình nhất là một thanh gỗ mô phòng cơ quan sinh dục của nam giới.

Trương Thừa Chiếu vẫn hằng ngả ngớn, thường trêu ghẹo bọn hầu gái, mà Tiếu Diệp Nhi thường ngày cũng không mấy chững chạc, hai người họ gây ra việc giả phượng trá hoàng này cũng chẳng có gì kỳ lạ, huống hồ thần tình Tiếu Diệp Nhi lúc này có khác nào ngầm thừa nhận đâu.

Ta không khỏi xấu hổ, cũng thấy tức giận vì việc này, sắc mặt như bất chợt bừng cháy, dần nóng lên.

Dương phu nhân trông thấy, lại nhếch lên nụ cười cay nghiệt không nhiệt độ của mình, cố ý hỏi ta: "Lương tiên sinh, theo ý cậu, bây giờ nên xử lý thế nào?"

Ta đáp: "Chốc nữa tôi sẽ tìm Trương Thừa Chiếu đến hỏi rõ nguyên do, nếu việc này là thật sẽ trừng phạt họ."

Bà ta lại không hài lòng, nheo mắt nhìn ta: "Thế nếu không tìm được cậu ta một ngày thì cậu cũng định một ngày không xử phạt đấy à?

Chúng nó khẳng định đã gây ra vụ bê bối này, nhân chứng vật chứng đều ở đây, Trương Thừa Chiếu có tới cũng chẳng chối được.

Phải xử phạt thế nào xin hai vị tiên sinh dứt khoát cho mau, nhân lúc còn sớm mà quyết định, miễn cho lần lữa lại có người phỏng đoán lung tung, nảy sinh đồn đại không cần thiết."

Lương tiên sinh bèn hỏi bà ta: "Vậy phu nhân định xử phạt chúng nó thế nào?"

Dương phu nhân chỉ vào Tiếu Diệp Nhi: "Cởi sạch quần áo con đĩ con này ra trước, quất hai, ba chục roi rồi trói tay trói chân lại, bắt nó quỳ trong sân thị chúng ba ngày, tìm Trương Thừa Chiếu về rồi cũng xử trí như thế.

Ba ngày sau báo chuyện này vào cung, giết hay lăng trì hãy để quan gia làm chủ."

Tiếu Diệp Nhi nghe vậy lập tức gào khóc thảm thiết, vừa khóc vừa cầu xin ta và Lương đô giám cứu mạng.

Ta nghe mà sầu não, bèn nói với Dương phu nhân: "Chuyện này chưa được điều tra rõ, vả lại, hai người họ đều là người trong cung, cần báo lại tình huống cho đế hậu trước rồi xin họ điều đô tri Nhập nội nội thị tỉnh tới xử lý, trước đó không thích hợp thi hành hình phạt đối với họ."

Bà ta lại không chịu tha: "Trai gái gia đình bình thường mà có việc thông dâm đều sẽ bị bắt đi diễu phố, huống gì người trong cung, dâm loạn cung đình là tội lớn bằng trời, đương nhiên càng phải nghiêm phạt thị chúng..."

Nhìn chòng chọc ta, bà ta nhấn giọng, cố ý cường điệu câu kế, "Giết một răn trăm."

Ta xua tay, vẫn ôn hòa khuyên giải: "Chưa thẩm tra đã định tội họ, còn trừng phạt như vậy, tất sẽ khiến trong ngoài tỏ tường việc này, chỉ rước lấy chê trách.

Phu nhân cho tôi tìm Trương Thừa Chiếu về trước, điều tra rõ ràng chuyện phát sinh, nếu thật có việc này, tôi sẽ mời Hậu tỉnh tham dự thẩm tra xử lý, cân nhắc mức phạt theo cung quy định tội họ."

Bà ta phá ra cười: "Bây giờ Lương tiên sinh cũng biết sợ người ta bàn tán việc bê bối thế này rồi à?

Cho nên mới bảo vệ chúng nó thế?"

Nụ cười dần thu lại, bà ta liếc xéo ta, nói, "Bữa trước phò mã có nói một từ cho ta nghe, ta cảm thấy rất lý thú, nhưng hôm nay lại quên mất ý nghĩa rồi, giờ muốn đem ra thỉnh giáo tiên sinh, nhờ tiên sinh giải thích cho."

Thoáng dừng lại, bà ta nói ra từ kia: "Thỏ chết cáo rầu (*)."

Một chớp mắt sau đó, ta duy trì trầm mặc, lại nghe ngoài cửa có người đáp lại: "Ta không biết thế nào là thỏ chết cáo rầu, chỉ biết có kẻ cáo mượn oai hùm thôi."

Là giọng của công chúa, nàng chậm rãi vào phòng, đi theo phía sau là Trương Thừa Chiếu và Hàn thị.

(*) Câu này cùng nghĩa với "bầu bí thương nhau" – những người cùng cảnh ngộ đồng cảm lẫn nhau, người dịch xin phép được dịch theo nguyên gốc để phù hợp với ngữ cảnh.

7.

Đối ẩm

Công chúa đi thẳng tới trước mặt Dương phu nhân, cụp hờ mắt, lạnh lùng nhìn Dương thị hãy còn duy trì tư thế ngồi: "Nơi bà đang ở là phủ công chúa của ta; người bà chỉ trích là nô bộc của ta.

Bà tuy là mẫu thân phò mã, nhưng không phải mẹ chồng của ta, đối với tất thảy người ở trong cái phủ này từ trên xuống dưới, cùng lắm chỉ là khách qua đường, mà lấy đâu ra lá gan dám ức hiếp người của ta?"

Dương phu nhân lườm nàng rồi thản nhiên dời mắt đi, hơi ngửa đầu, nói: "Có phải mẹ chồng hay không thiên hạ tự có công luận, bây giờ tôi không tranh cãi với cô, chỉ bàn việc bê bối trong cái phủ này.

Người bình thường bắt gặp hành vi gây án còn tố cáo vạch trần một câu, chuyện xảy ra ngay dưới mí mắt tôi, lý nào tôi có thể mặc kệ?

Nói ra cũng chẳng phải muốn ức hiếp ai, mà là muốn giúp công chúa chỉnh đốn nếp sống trong phủ.

Bằng không, nếu chuyện thành trào lưu thì bọn hạ nhân trong phủ, bất kể là nam hay nữ hay bất nam bất nữ, cũng đều chui chung một phòng, truyền ra chỉ e người ta sẽ nói công chúa quản giáo không nghiêm, thậm chí còn có lời khó nghe hơn cũng chưa biết chừng."

Lúc này, Trương Thừa Chiếu chợt bước lên, mắt hơi trợn tròn, ra vẻ khó hiểu, nói với Dương phu nhân: "Quốc cữu phu nhân, bà muốn tố giác vạch trần thì đi bắt người thực sự phạm tội lớn đi chứ.

Ban nãy tôi chỉ làm biếng trong phòng, ngủ trưa một giấc, có đáng để bà phải hưng sư động chúng sai người xông vào phòng bắt tôi lại đây vậy không?"

"Ngủ trưa?"

Dương phu nhân cười giễu cợt, chỉ vào Tiếu Diệp Nhi: "Cậu biết hưởng diễm phúc ghê nhỉ, ngủ trưa cũng phải kéo một tiểu nương tử như hoa như ngọc vào cùng, chẳng lẽ ta nói còn không đúng?"

"Nguồn cơn đâu mà nói lời ấy?"

Trương Thừa Chiếu lắc đầu quầy quậy, lại quay sang nói với người xem trong sảnh: "Tôi vốn đang một mình ngủ ngon lành trong phòng, quốc cữu phu nhân bỗng nhiên dẫn người xông tới, lôi Tiếu Diệp Nhi xềnh xệch vào phòng tôi, cả đám người ra sức giật kéo áo xống em ấy, còn nói muốn nhốt hai đứa bọn tôi vào một phòng, lại ầm ầm ném một đống thứ lên giường tôi.

Tôi bị dọa cho chết khiếp, cũng không biết bọn tôi đắc tội phu nhân chỗ nào mà bị phu nhân trừng trị vậy.

Mắt thấy cửa sắp bị khóa mới lấy lại được tinh thần, bụng nghĩ, bị bà ấy mưu hại thế, bản thân thì thôi chẳng sao, cùng lắm lỗ cái mạng là cùng, nhưng nếu để bị người khác nhân chuyện này khua môi múa mép, làm ảnh hưởng đến danh dự của công chúa thì không hay.

Tôi mới bèn hăng hái phản kháng, lấy một địch mười, rốt cuộc cũng phá được vòng vây, xông ra khỏi phòng.

Bây giờ theo công chúa tới đây là muốn báo cho mọi người biết chân tướng, cũng miễn cho Tiếu Diệp Nhi phải gánh nỗi oan tai bay vạ gió..."

Nói đến đây, hắn quay về phía Tiếu Diệp Nhi, hỏi con bé, "Tiếu Diệp Nhi muội muội, muội nói có đúng vậy không?"

Tiếu Diệp Nhi đại khái cũng lĩnh hội được ý của hắn, nín khóc, cuống quýt lia lịa gật đầu.

Dương phu nhân thấy thế nổi nóng, nhổ toẹt một bãi nước bọt vào Tiếu Diệp Nhi, mắng: "Con đĩ con nhà mày, giả bộ vô tội cái gì?

Nếu không có tội thì sao mới nãy mày không kêu oan?"

Trương Thừa Chiếu lập tức giải thích thay Tiếu Diệp Nhi: "Lúc đó Tiếu Diệp Nhi đã bị phu nhân đánh cho choáng váng rồi, sau khi tôi đi, lỡ bà lại nạt nộ gì em ấy, khiến em ấy không dám kêu oan thì sao?"

Tiếu Diệp Nhi hiểu ý, vừa gật đầu vừa dè dặt tố: "Quốc cữu phu nhân nói, tôi dám kêu oan, sau này sẽ cắt lưỡi tôi..."

"Ngữ lăng loàn đáng chém nghìn đao, dám ở đây theo thằng trai hoang của mày bôi nhọ xằng bậy bà mày đây!"

Dương phu nhân cả giận, đập bàn quát, "Chúng mày làm việc xấu xa không biết xấu hổ trong phòng, trong phủ có đến mấy chục con mắt chứng kiến, trước mặt bao người, lẽ nào chúng mày còn muốn chống chế?"

Công chúa nghe vậy cười khẩy, hỏi Dương phu nhân: "Trước mặt bao người?

Chẳng biết những người chứng kiến họ phạm tội ấy là ai?"

Dương phu nhân vung tay áo chỉ vào đám người mình mang tới: "Chính chúng nó, chúng nó đều nhìn thấy cả?"

Công chúa không đáp ngay, dời bước tới cạnh giá sách, lấy từ trên giá xuống một chiếc đĩa ba chân để rửa bút lông bằng sứ lò Nhữ men màu thiên thanh, rồi bất đồ quăng mạnh xuống đất, chiếc đĩa vỡ tan tành.

Công chúa chỉ vào mảnh vỡ tung tóe khắp đất, hỏi Trương Thừa Chiếu: "Thừa Chiếu, cái đĩa ba chân này là bị ai đánh vỡ ấy nhỉ?"

Trương Thừa Chiếu cung kính khom lưng với nàng, cao giọng đáp: "Bẩm công chúa, là quốc cữu phu nhân đánh vỡ ạ."

Công chúa cười nhạt, lại hỏi: "Bà ta đánh vỡ thế nào?"

Trương Thừa Chiếu đáp: "Quốc cữu phu nhân vu vạ cho thần và Tiếu Diệp Nhi, còn định bôi nhọ công chúa, công chúa phản bác bà ta, có lý có cớ, làm bà ta cứng họng á khẩu.

Sau cùng, bà ta không tìm được lời gì để nói, trong lòng phẫn uất, bèn thuận tay vớ cái đĩa ba chân này ném vào công chúa, may mà công chúa né tránh kịp thời nên mới không bị bà ta ném trúng, đĩa ba chân rơi xuống đất, vỡ nát!"

Nói xong, hắn đánh mắt nhìn chúng tiểu hoàng môn công chúa dẫn tới sảnh: "Mấy đứa nói xem có đúng vậy không?"

Đám tiểu hoàng môn này thường ngày phần lớn đều bị Dương phu nhân chọc tức, giờ đây nghe Trương Thừa Chiếu hỏi thế, đều gắng nhịn cười nhìn nhau, sau đó, một đứa đáp "Phải ạ" trước, mấy đứa còn lại lập tức hưởng ứng, cũng nhao nhao nói phải.

Công chúa quay sang Dương phu nhân, hất cằm: "Nhìn xem, bà làm việc này cũng có mấy mươi con mắt chứng kiến, cũng là trước mặt bao người đấy thôi."

Dương phu nhân lửa giận ngút trời, phất tay áo đứng dậy, mắng thẳng mặt công chúa: "Công nhiên mê muội lương tâm, mưu hại mẹ chồng để bao che cho kẻ phạm tội, thiên hạ nào có ai làm dâu như cô!"

Cơn giận của công chúa vốn đã như rơm củi tẩm dầu, bị bà ta khiêu khích, ngọn lửa lập tức bùng lên.

"Lương tâm?

Bà còn dám nói chuyện lương tâm với ta?"

Nàng quắc mắt lạnh lẽo trừng Dương thị, trong mắt dâng lên ánh lệ: "Nếu bà có chút xíu lương tâm thì liệu có hạ dược ta không?

Dùng thủ đoạn bẩn thỉu đó với con dâu, thiên hạ nào ai làm mẹ chồng như bà!"

Câu này vừa nói ra, trong sảnh nhất thời im bặt, đến Dương thị cũng ngậm miệng không dám nhiều lời.

Dưới cái nhìn bức bách đầy thịnh nộ của công chúa, bà ta hơi co quắp, cụp mi mắt xuống.

Vụ việc hạ dược hẳn là do Trương Thừa Chiếu mới rồi kể với công chúa để kích thích lòng phẫn nộ của nàng, thúc đẩy nàng đối kháng với Dương thị, xuất toàn lực bảo vệ hắn.

Nghĩ vậy, ta liếc sang Trương Thừa Chiếu, hắn vừa chạm mắt với ta đã lập tức chột dạ cúi đầu lảnh tránh, xem ra ta đoán không sai.

Lại nhìn Hàn thị, bà cũng hơi mất tự nhiên, nghiêng đầu tránh né ánh mắt dò hỏi của ta.

Lời Trương Thừa Chiếu hặc Dương thị vừa rồi hẳn cũng được bà tán thành.

Đương nhiên, ta có thể lý giải tâm lý bất mãn của Hàn thị đối với Dương phu nhân, song cứ thế này thì đến khách khí ngoài mặt với Dương thị công chúa cũng chẳng làm nổi mất, về sau biết phải chung sống dưới cùng một mái nhà với bà ta thế nào đây?

Huống hồ, đối với bản thân công chúa, biết được chuyện hạ dược là một trận đả kích nghiêm trọng.

Ta thầm ủ rũ thở dài.

Công chúa hít thở từng hơi nặng nề mà chậm chạp, tận lực kiềm chế cảm xúc khác thường vào thời khắc này, một lúc lâu sau mới nén được cơn nghẹn ngào xuống, nói với Dương thị quyết định chốt hạ của nàng: "Ta tạm thời không so đo với bà chuyện hôm nay, nhưng nếu bà cứ tóm riệt nội thần thị nữ của ta không thả, dám nói nửa câu thị phi về họ với người ngoài, ta sẽ lập tức vào cung, tố việc bà hạ dược ta với cha và nương nương, họ không xử phạt bà, ta thề không để yên!"

Nghe công chúa nói vậy, Dương phu nhân cau có trầm mặc, nhưng sau đó cũng chỉ nặng nề vung tay áo về phía công chúa trước khi ra cửa, biểu thị sự hậm hực cuối cùng.

Nhìn bề ngoài có vẻ như công chúa đã thắng lợi, song sắc mặt nàng tuyệt chẳng vui mừng.

Đợi Dương thị dẫn toàn bộ người mang theo đi rồi, nàng bảo những người không phận sự lui đi, sau đó trỏ Trương Thừa Chiếu và Tiếu Diệp Nhi, nói với Lương đô giám: "Hai người này phạm tội, mời đô giám răn đe bọn họ, nghĩ biện pháp trừng phạt, nhưng đừng để người ngoài biết rồi đặt điều lung tung."

Lương đô giám cúi người nhận lời, công chúa cũng chẳng buồn nghe Trương Thừa Chiếu kêu oan, lặng lẽ nhìn sang ta, tầng lệ mỏng manh trong mắt rốt cuộc cũng tràn mi.

Đến bữa tối, công chúa sai người mang rượu tới, một mình rầu rầu uống không ít, sau, bị Hàn thị giằng mất bình rượu, nàng mới chịu thôi, đứng dậy trở về gác ngủ, nói mình mệt mỏi, muốn nghỉ ngơi sớm.

Thế nhưng, ban đêm khi ta đã trở về nơi ở của mình, đang phê duyệt giấy tờ trong phủ thì chợt nghe có người gõ cửa, bảo Tiểu Bạch ra xem, nó nhanh chóng chạy về, bẩm: "Là công chúa dẫn Gia Khánh Tử đứng ngoài cửa ạ."

Ta nhìn đồng hồ nữa, lúc này đã qua canh hai.

Ta bèn khép giấy tờ lại, đứng lên đi tới cửa sân, nói với công chúa đang ở bên ngoài: "Công chúa, không còn sớm sủa nữa, nên về an giấc đi thôi."

Đằng sau cánh cửa chưa mở vọng vào tiếng nói mềm nhẹ của nàng: "Ta không ngủ được, muốn nói chuyện với huynh."

Ta vẫn từ chối như trước: "Có chuyện gì để mai nói cũng không muộn."

Ngoài cửa yên ắng.

Đợi một lúc, ta thử gọi nàng, cũng không thấy có tiếng trả lời, ta nghĩ chắc là nàng đi rồi, bèn trở lại phòng tiếp tục lật xem công văn.

Nhưng sau đó, tiếng gõ cửa lại vang lên, kèm theo giọng nói của Gia Khánh Tử: "Lương tiên sinh, công chúa ngồi ngoài cửa không chịu về."

Ta lập tức chạy ra mở cửa, thấy công chúa đúng thật là ngồi trên mặt đất một bên ngoài cửa, vùi đầu vào hai đầu gối, bé bỏng cuộn mình.

Nghe thấy tiếng ta mở cửa, nàng khẽ nghiêng đầu nhìn ta, khóe miệng nhoẻn một nụ cười uể oải: "Hoài Cát, ta lạnh quá."

Nay đã là đêm thu, sương gió thấm xương, nàng mặc lại ít, đến áo choàng cũng chẳng khoác lấy một tấm.

Ta trông mà đau lòng, lập tức bảo Gia Khánh Tử dìu nàng vào phòng mình.

Nàng ngồi xuống trong phòng, nhất thời lại không nói gì, một lúc sau mới hỏi ta: "Chỗ huynh có rượu không?"

Có, nhưng ta không muốn đưa cho nàng.

"Hôm nay người đã uống rất nhiều rồi.", ta nói với nàng.

Nàng rầu rĩ lắc đầu: "Ca ca, ta lạnh."

Ta nín thinh, cuối cùng vẫn đành thỏa hiệp, lệnh Tiểu Bạch đi lấy một bình rượu tới.

Nó nhanh chóng mang đến, còn cầm theo hai cái chén, đặt trước mặt ta và công chúa.

Đổ nước nóng vào bát đựng hâm ấm rượu trong bình rồi, nó rót đầy hai chén cho chúng ta, bấy giờ mới lùi sang một bên.

Công chúa nâng chén, uống một nửa trước.

Ta gọi Gia Khánh Tử lại, nhỏ giọng dặn con bé đi phòng bếp nấu một bát canh giải rượu cho công chúa.

Gia Khánh Tử nhận lời, lập tức ra ngoài, Tiểu Bạch cũng theo nó đi ra, từ bên ngoài đóng kỹ cửa lại.

"Sao lại phải nấu canh giải rượu?"

Nghe được lời ta dặn Gia Khánh Tử, công chúa lấy đầu ngón tay di quanh chén rượu, cười nhạt nhòa, "Ai cũng bảo rượu có thể giải sầu, nếu giải rượu rồi, chẳng phải sầu sẽ quay trở lại sao?"

Ta mỉm cười với nàng, nói: "Thế gian nào có rượu giải sầu?

Lấy rượu giải sầu chẳng qua chỉ là mượn lấy túy lúy tạm quên đi phiền não của mình mà thôi."

"Quên được phiền não cũng không tồi."

Công chúa than thở, "Ta có rất nhiều thứ muốn quên."

Nàng ngửa đầu uống cạn nửa chén rượu dư còn lại, sau đó nói: "Hi vọng chén này có thể khiến ta quên đi tất cả mọi chuyện liên quan đến Lý Vĩ và mẹ hắn."

Thấy ta không nói gì, mắt nàng lia tới, nhìn ta cười hỏi: "Huynh thì sao?

Huynh nhất định cũng có chuyện muốn quên, phải không?"

"Thần, cũng có..."

Ta trầm ngâm, nâng chén rượu trước mặt lên, một hơi cạn sạch, "Chén này, để thần quên đi những ký ức không vui khi còn bé vậy."

"Ký ức gì?"

Nàng hỏi.

Nhiều lắm, chẳng hạn như phụ thân mất sớm, mẫu thân tái giá, và ta vào cung...

Những nỗi đau mãi mãi chẳng thể phai nhạt đã khắc vào ký ức ta sâu hoắm...

Đây đều là những chuyện khó có thể mở miệng, ta buồn bã không đáp, nàng cũng chẳng truy vấn, tự mình tìm một đáp án: "Phải rồi, huynh từng nói, nhà huynh rất nghèo..."

Ta gượng cười với nàng, để nàng coi đó là ngầm thừa nhận.

"Ai cũng có cái nghèo của riêng mình, khi còn nhỏ ta tưởng rằng không thể ra ngoài chơi là cái nghèo của ta, sau mới phát hiện ra mình còn có cái nghèo hơn...

So với những nữ tử như Nhược Trúc, ta mới là nghèo xơ nghèo xác."

Nàng ảm đạm nói, lại tự rót một chén, một hớp nốc cạn, "Mong chén này có thể xóa đi ký ức mà Phùng Kinh và Tào Bình để lại cho ta...

Nếu chưa từng gặp họ, ta đã chẳng biết thì ra mình nghèo đến thế."

Đoạn, nàng lại rót đầy chén cho ta, giục ta nói tiếp: "Huynh còn muốn quên chuyện gì nữa?"

Ta suy nghĩ hồi lâu, yên lặng uống cạn chén rượu kia, cuối cùng vẫn nói cho nàng hay: "Thần còn muốn quên chuyện mình là nội thần và những tiếc nuối thân phận này đem lại cho thần."

"Ừ."

Nàng gật đầu, tỏ vẻ thấu hiểu: "Nếu huynh không phải nội thần, huynh đã có thể tham gia cống cử, đỗ trạng nguyên, làm quan lớn rồi."

Không chỉ có vậy.

Nếu không phải nội thần, có lẽ, ta cũng có thể thử giành nàng về, nhỉ?

Ta cay đắng nghĩ, bất kể là từ tay Tào Bình hay từ bên cạnh Lý Vĩ.

Đương nhiên, ý niệm ấy chẳng thể nói thành lời, mà nàng cũng nhanh chóng suy nghĩ sang vấn đề kế tiếp: "Ta còn muốn quên gì nữa nhỉ? ...

À, cho ta quên việc mình là công chúa này đi, vậy là khỏe rồi, bởi tất thảy phiền não của ta đều là do thân phận công chúa đem lại."

Vì thế, nàng lại uống trọn một ly, sau đó đắm chìm trong tưởng tượng ấy, "Nếu không làm công chúa, ta sẽ làm gì đây..."

Ánh mắt nàng lướt tới hoa văn hình sen trên bát đựng, bỗng nảy ra một ý, "Để ta làm cây sen đi, hằng năm sinh trưởng trên sông thu, bạn với bóng thuyền đơn xa xăm, ngắm mây cuộn thong dong trôi nổi, tự do tự tại, tốt đẹp biết bao."

Ta thả suy nghĩ bay theo lời nàng nói, trong đầu hiện lên một bức tranh mỹ lệ, không khỏi nhếch miệng nhoẻn cười.

Nàng trông thấy, lại giục: "Đừng cười vội, huynh nói về mình xem, huynh muốn làm cái gì?"

Ánh mắt dịu dàng mơn trớn khóe mắt đuôi mày nàng, ta ngậm cười đáp: "Nếu người là bông sen, thần sẽ là gợn sóng vờn dưới hoa lá người, như vậy chúng ta có thể năm năm tháng tháng, theo gió đuổi mưa hướng bạn lòng." (*)

Nàng vỗ tay khen hay, lại chợt thấy thẹn thùng, vùi mặt xuống bàn cười trộm, lát sau, ngước lên nhìn ta, con ngươi sáng rỡ liếc tới bình rượu, nói: "Mau rót đi, tiếp tục uống, tiếp tục nói, nói chuyện huynh muốn quên."

Ta nghe theo rót rượu uống vào, lần này lại im lặng thật lâu.

Nàng một lần nữa truy vấn, ta bèn nói với nàng: "Ngoài hai chuyện trên, tạm thời thần cũng không có chuyện lớn gì đặc biệt muốn quên nữa, nếu nhất định phải nói thì đổi thành một nguyện vọng đi."

Nàng không có ý kiến, lại hỏi ta thời khắc này có nguyện vọng gì.

Ta không đáp mà uống thêm một ly, bấy giờ mới đón lấy hai phần men say đang dần dần bốc lên mà nói cho nàng hay: "Thần hi vọng, bất kể chúng ta có cắt bỏ ký ức mình thế nào cũng vẫn có thể xuất hiện trong sinh mệnh của nhau."

Lời này làm nụ cười của nàng cứng lại.

Thẫn thờ nhìn ta một hồi, nàng nhẹ nhàng kề lại bên ta, vuốt ve vết thương chưa mờ đi của ta, bỗng thẳng người ngửa đầu, ôm lấy cổ ta, in dấu môi mềm mại lên vết thương ta.

"Ta vẫn nhớ," Nàng khẽ khàng từng chút hôn lên vết thương kia, nói với giọng cơ hồ thì thầm, "Ta nhớ mỗi một chuyện từng trải qua cùng huynh...

Ta sẽ nhớ nụ cười của huynh, nhớ nỗi buồn của huynh, nhớ mỗi một câu huynh nói với ta, và, mỗi một vết thương ta để lại cho huynh..."

Tiếng nàng càng lúc càng nhỏ, sau cùng biến mất, nàng hơi cúi đầu, nhưng trán vẫn kề cùng gò má ta, để ta có thể cảm nhận được làn da của nàng, hơi ấm của nàng, và giọt lệ nàng đánh rơi lúc này.

Một giọt lệ của nàng lăn trên má phải ta, chậm rãi chảy tới khóe miệng ta.

Ta mím môi, để nó tan ra trong miệng mình.

"Nước mắt ta có vị thế nào?"

Nàng hỏi ta.

Ta chưa kịp trả lời, nàng đã lần thứ hai ôm ta, cặp môi thơm đã hôn lên vết thương ta trước đó lần này chạm đến môi ta.

Ta sửng sốt, nhất thời luống cuống, vẫn chỉ ngồi đờ đẫn, mà nàng thì tựa như muốn đích thân tìm kiếm đáp án cho câu hỏi mới rồi, đầu lưỡi xinh xắn đã dò vào miệng ta, khe khẽ cậy khớp hàm ta, như chuẩn bị tìm kiếm lại giọt lệ đã biến mất giữa răng môi ta kia.

(*) Bài "Ngư gia ngạo" của Âu Dương Tu viết: "Thiếp mong hóa thân bông sen hồng, mỗi năm thu về nở trên sông; lại mong dưới hoa chàng làm sóng, dòng thuận trong, theo gió đuổi mưa hướng bạn lòng." (chú thích của tác giả)

8.

Bão táp

Bóng đêm đưa rượu, hương ấm ngọc êm, ta bị động tiếp thu thể nghiệm mới lạ này, bắt đầu thử đáp lại nàng trong cảm giác lưng chừng huyễn hoặc, rồi lại do dự, chung quy vẫn không quên sự thân mật nàng ban cho mình lúc này chẳng phải niềm vui sướng mình nên đón nhận.

Thế rồi nàng dừng lại, thoáng rụt người ra sau, trộm liếc nhìn ta, he hé ngậm cười.

Hoa đèn nhảy nhót nghe lách tách, vầng sáng lay động tràn lên mắt mày nàng như lăn tăn sóng gợn, nhuộm đỏ đôi má lúm nơi nàng.

Nàng thẹn thùng cúi đầu, dáng vẻ muôn phần e lệ.

"Xin lỗi..."

Nàng khẽ nói, tựa như một đứa trẻ nghịch ngợm nhận sai với người bị quấy rầy: Thật sự rất xin lỗi.

Mấy chữ ít ỏi này như ngòi dẫn lửa đốt cháy pháo hoa đêm Nguyên Tiêu, khiến tất thảy giáo huấn về tôn ti lễ nghĩa, đạo đức luân lý tích trữ trong lòng ầm ầm nổ tung, một tay ta chợt ôm lấy eo nàng, tay còn lại đỡ lấy búi tóc đọa mã kế trĩu hờ trên mái đầu nàng, kéo nàng trở lại lòng mình, tiếp đó cúi đầu tập kích đôi môi anh đào nàng đã hôn ta.

Tất cả hoàn thành chỉ trong một nháy mắt, đến nỗi tiếng hô kinh ngạc của nàng vì bị bất ngờ còn chưa kịp thoát ra khỏi miệng đã chìm nghỉm giữa môi lưỡi đôi ta chạm nhau, hóa thành một âm tiết đọng trong cổ họng nàng.

Kinh ngạc mới đầu từ từ tiêu tan, nàng bắt đầu run rẩy trong lòng ta, nhưng hiển nhiên chẳng phải xuất phát từ sợ hãi.

Tay trái nàng vẫn vòng lấy hông ta, tay phải bám vào đầu vai ta, nắm chặt lớp áo ta.

Đôi ta chậm rãi nhắm mắt, cảm nhận tiết tấu rối loạn của trống ngực nhau, và sự triền miên lưu chuyển khắp miệng lưỡi.

Ta và nàng cứ thế ôm siết lấy nhau, tựa như hai con cá chìm nước, cứu giúp lẫn nhau trong không gian chật chội khi đương cơn hoạn nạn, mượn không khí nơi nhau tránh cho mình khỏi ngạt thở.

"Hoài Cát..."

Một hồi lâu sau, nàng mới gian nan thoát khỏi nụ hôn sâu này, vẫn tựa sát lòng ta, nhưng xấu hổ cụp mi, không dám nhìn ta, chỉ vùi đầu vào ngực ta, thở hổn hển nho nhỏ, gọi tên ta như nói mộng.

Ta ôm nàng, vừa điều chỉnh hơi thở, vừa nhỏ nhẹ đáp lời bên tai nàng: "Ta đây, ta ở đây."

Nàng yên lòng mỉm cười, nhắm mắt nghỉ ngơi trong lòng ta, còn ta chăm chú nhìn xuyên qua song cửa, ánh trăng óng ánh phủ khắp mặt đất, ỷ vào hai phần men say, nhất thời quên đi mình đang trong hoàn cảnh nào, tựa như thực sự cảm thấy mình là một kẻ sĩ bình thường, còn nàng là thuyền quyên bầu bạn bên ta, trong lòng chỉ có lờ mờ niềm vui sướng: sương hoa ngập trời, ngoài sân hẳn đang trăng lồng khói mỏng, đêm thu sao đẹp tươi, có giai nhân bên người, khuya này chẳng phải tiếc nỗi quế đơn côi trăng ngọc lạnh lùng (*).

(*) Lấy ý từ bài từ "Trung Thu nguyệt" của Án Thù.

Ta nhoẻn cười nhìn chấn song trong ánh trăng vằng vặc, bụng nghĩ trong sân kể cũng đúng là có dăm ba cây quế thật, chốc nữa phải bảo Tiểu Bạch mở thêm vài khung cửa sổ ra, đón hương nguyệt quế thanh trong vào phòng.

Nhưng khoảnh khắc lơ đãng quay đầu lại đã khiến ta không khỏi giật mình – trên chấn song, ngoài vài bóng cây đong đưa còn hiện ra đường nét của một người, tóc vấn búi, hiển nhiên không phải Tiểu Bạch, mà thân hình cũng chẳng giống con gái trẻ trung như Gia Khánh Tử.

Ta lập tức buông công chúa ra, đứng vụt dậy, cao giọng hỏi: "Ai đang ngoài cửa?"

Cửa bị đẩy ra từ bên ngoài, rầm rầm mở rộng.

Người nọ cất bước tiến vào, đứng vững trước mặt đôi ta, sắc mặt xanh mét, ánh mắt lạnh lẽo đâm thẳng vào con ngươi ta.

"Lương tiên sinh, chuyện tới nước này, cậu còn gì để nói nữa không?"

Bà ta cao ngạo nhìn ta, giọng uy hiếp, vẻ mặt chẳng lấy gì làm kinh ngạc, ngược lại còn có phần hả hê sảng khoái vì phá vỡ được mê cục, như thể tất cả đều nằm trong dự liệu của bà ta, mà bản thân bà ta thì sau một khoảng thời gian đánh trận lâu dài, rốt cuộc cũng tìm được thứ vũ khí có thể cho đối phương một kích trí mạng.

Tại sao lại là bà ta?

Dương phu nhân, mẫu thân phò mã.

Ta đưa mắt nhìn ra ngoài, thấy có hai thị nữ của bà ta đứng trong sân, còn có hai gã gia đinh khác đứng bên cạnh cửa lớn, song song kẹp chặt Tiểu Bạch, tay bịt miệng nó.

Ta chưa kịp suy nghĩ tỉ mỉ đã ngửi thấy mùi bão táp trong tình cảnh này.

Công chúa trông thấy Dương thị, thoạt tiên ngẩn người, chợt nổi cơn giận dữ: "Bà rình trộm ở đây?"

"Làm sao, không được nhìn à?"

Dương thị cười khẩy, "Các người đã có gan gây ra bê bối bậc này mà còn sợ người khác nhìn ư?"

Công chúa đập bàn: "Láo xược!

Bà nói năng bẩn thỉu gì đấy hả!"

"Tôi nói năng bẩn thỉu hay là các người làm chuyện bẩn thỉu?"

Dương thị nhìn thẳng vào công chúa, ngang nhiên khiêu khích, "Công chúa có thể công khai với hạ nhân trong sân này rằng vừa rồi mình và Lương tiên sinh đã làm gì trong căn phòng này không?"

Công chúa tắt ngấm cơn giận, hai mắt ầng ậng, nhất thời không nói nên lời.

Dương thị càng thêm khí thế, nguýt ta rồi quay đầu ra ngoài cửa sân gọi: "Nhị ca, mày ra đây cho mẹ!"

Bà ta đang gọi Lý Vĩ.

Lý Vĩ là con thứ của quốc cữu, thế nên Dương thị thường gọi riêng hắn là "Nhị ca".

Nghe ý bà ta, có vẻ như Lý Vĩ đang ở ngoài cửa sân.

Quả nhiên, đợi chốc lát, chợt thấy một trận gió nổi lên cuốn bay lá rơi, Lý Vĩ chậm rãi dịch bước từ ngoài cửa vào, cũng chẳng biết trước đó là không dám theo mẹ vào rình trộm hay là đã trông thấy cảnh tượng giữa ta và công chúa nên mới vừa tránh đi thật xa.

Nay, hắn cúi gằm mặt đi vào sân, cũng không tới gần vị trí chỗ chúng ta thêm nữa, mím chặt miệng, vẫn chẳng nhìn chúng ta, chẳng hay là do tức giận, cảm thấy nhục nhã hay là vì phải đối mặt với chuyện này quá đột ngột nên tạm thời không biết đứng về phía ai.

"Áp giải nó xuống, ngày mai mời quan gia trị tội."

Dương thị chỉ vào ta, ra lệnh cho Lý Vĩ.

Lý Vĩ ngẩng đầu, ánh mắt lạnh nhạt quét qua ta một lượt, lại lướt sang công chúa.

Mà công chúa thì đã hất cằm với hắn: "Anh dám?"

Thấy con trai lộ vẻ do dự trước lời uy hiếp của công chúa, Dương thị nổi đóa, lớn tiếng quát hắn: "Mày còn bần thần cái gì?

Chờ người ta chụp mai rùa vào mặt mày làm biển hiệu à?"

Câu này nhất thời khơi dậy cảm xúc nơi Lý Vĩ, ngực hắn lên xuống rõ ràng, mặt cũng dần đỏ lên, quay lại nhìn gia đinh sau lưng rồi hất đầu về phía ta, ra hiệu họ xông lên bắt ta.

Không đợi gia đinh tiến tới, công chúa đã cao giọng quát: "Muốn chết thì qua đây!"

Đối mặt với nô bộc trong phủ, trước nay nàng vẫn nói một không hai, gia đinh lưỡng lự kiêng dè, chưa dám động thủ.

Công chúa hầm hầm nhìn Dương thị, lại nói: "Bà dám động vào một sợi tóc của Hoài Cát, ta sẽ..."

"Cô sẽ vào cung mách với quan gia là bọn tôi ức hiếp cô, hạ dược cô?"

Dương thị cất cao âm lượng, chặn họng công chúa, sau đó ngậm nụ cười lạnh lùng vĩnh viễn không chạm tới đáy mắt của mình, nói với công chúa, "Cô cho rằng quan gia sẽ cảm thấy ấy là tội lớn bằng trời?

Kể từ khi gả cô vào nhà họ Lý chúng tôi, ngài chỉ mong hai người viên phòng thôi!

Mẹ chồng dạy dỗ con dâu thì sai chỗ nào?

Chờ đến lúc cô viên phòng với phò mã rồi ắt sẽ hiểu rõ nam nhân chân chính khác cái thứ khuyết tật này ở chỗ nào, ai đời đi chọn gà thiến không chọn gà trống bao giờ!"

Lời bà ta như một lưỡi dao sắc lẹm cứa vào lòng ta, ta có thể nghe thấy lòng mình rỉ máu.

Ta không biết lúc này công chúa nghĩ gì cảm tưởng gì, chỉ thấy nàng trợn trừng hai mắt nhìn Dương thị, bàn tay đặt trên bàn đang co mạnh vào trong, móng tay vạch lên bàn những tiếng động rất nhỏ.

Trong nháy mắt, mây đen cuồn cuộn nuốt chửng trăng sáng cuối trời, gió thu nổi lên từng trận hòa lẫn mùi bùn đất, ánh trăng trong sân tối mịt hệt như tâm trạng ta thời khắc này, còn Dương thị thì vô cùng hài lòng thu vẻ mặt của ta vào mắt, ngay sau đó lại thúc giục Lý Vĩ: "Mau bảo chúng nó ra tay đi!

Không quản giáo cái thứ vô pháp vô thiên này thì mèo hoạn chó thiến khắp cái nhà này cũng tót hết lên cây kêu xuân mất thôi..."

Sau, đáp lại bà ta không phải câu trả lời của Lý Vĩ mà là tiếng một món đồ sứ phóng vút tới đập trúng trán bà ta – "bốp", có phần nặng nề.

Vật bay kia rơi xuống, vụn nát đánh "choang", lần này tiếng nghe trong lanh lảnh.

Đó là chén rượu công chúa ném ra.

Dương thị ăn trọn một cú, như choáng váng một nhịp ngắn, chưa kịp phản ứng lại, chỉ ngơ ngác nhìn chằm chằm công chúa, mãi đến khi trên trán có máu chảy xuống, bà ta rờ tay xem, mới kêu "á" một tiếng, một tay bưng vết thương, một tay chỉ vào công chúa cả giận mắng: "Con đĩ nhà cô..."

Công chúa không nhiều lời nữa, xông thẳng tới trước mặt bà ta, tung quyền đấm lệch cằm bà ta, sau đó còn chưa hết giận, lại bên phải bên trái, cho Dương thị thêm hai ba cái bạt tai trong lúc bà ta hãy còn đang hoa mắt chóng mặt chân đứng không vững.

Hành động của nàng quá mức lanh lẹ, lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của mọi người, trong sát na ban đầu không ai có lấy một cử động khuyên can, sau nữa, ta tỉnh táo lại, lập tức chạy qua ngăn giữa công chúa và Dương thị, vừa bắt lại bàn tay công chúa còn đang vung, vừa lấy thân che chắn, cản Dương thị phản kích thay công chúa.

Công chúa không nghe ta khuyên giải, vận hết sức bình sinh giãy khỏi khống chế của ta, một lần nữa lao vào Dương thị, nhưng lần này, nàng lại đâm trúng người Lý Vĩ.

Lý Vĩ dang hai tay siết chặt lấy nàng, không cho nàng cơ hội tiếp cận Dương thị.

Trong mắt hắn lúc này cũng lập lòe ánh lệ, tâm trạng kích động làm hắn hơi cà lăm, hỏi đi hỏi lại công chúa một câu hỏi: "Vì sao, nàng, nàng lại đánh, mẹ ta?

Vì sao..."

Công chúa nào còn bụng dạ mà trả lời, chỉ liều mạng giãy giụa trong lòng hắn, giống như một con cá mắc cạn.

Vùng vẫy hồi lâu không thoát được Lý Vĩ, công chúa giận dữ, bắt đầu vung vẩy hai tay đánh lên đầu lên mặt hắn.

Dương thị phẫn nộ công tâm, ngồi bệt dưới đất, nhổ mạnh một ngụm nước bọt dính máu, đối mặt với con trai, vỗ mặt đất vừa khóc vừa mắng: "Sao bà đây lại sinh ra thằng con khiếp nhược như mày, cưới phải một con vợ bảy điều thất xuất phạm hết cả bảy mà mày còn dung túng cho nó, để mặc nó với thằng gian phu đàn ông chẳng ra đàn ông leo lên đầu mày làm trời làm đất, mà mày rên cũng chẳng rên một tiếng, giờ thì hay lắm, đến mẹ mày nó cũng dám đánh...

Chẳng biết bà đây tạo cái nghiệt gì...

Sớm biết thế này thà rằng năm đó sinh một cục thịt lợn nướng cũng còn tốt hơn là sinh ra mày..."

Ba chữ "thịt lợn nướng" vừa ra khỏi miệng, công chúa đã lại giáng một bàn tay lên má trái Lý Vĩ, tiếng vang vô cùng, có thể thấy ra đòn rất nặng.

Ánh mắt mọi người đều tập trung lên dấu tay hiện trên mặt Lý Vĩ.

Lý Vĩ đờ đẫn nhìn công chúa, hốc mắt cũng dần hoe đỏ.

Ngay trước khi công chúa bắt đầu một đợt công kích mới, hắn chợt vung tay phải lên, tát thẳng xuống mặt công chúa, cũng cho nàng một cái bạt tai vang dội.

9.

Cửa cung

Mọi huyên náo trước đó đều lập tức lắng xuống, Lý Vĩ buông thõng tay, công chúa cũng chỉ từ từ che lại bên mặt bị đánh, không có bất kỳ cử động nào khác, Dương thị dừng khóc mắng, người đứng xem đến thở cũng chẳng dám thở mạnh.

Từ khi lọt lòng đến nay, công chúa chưa bao giờ phải chịu bất kỳ một hình phạt thể xác nào, dù có là cha nàng, hoàng đế tối cao của Đại Tống, vào lúc tức giận nhất, cũng chỉ quát nàng lớn tiếng hơn đôi chút chứ chẳng nỡ lòng nào xuống tay đánh nàng.

Đối với nàng, bị bạt tai là chuyện chắc chắn đến nghĩ cũng chưa từng nghĩ tới, thế nên nàng hoàn toàn ngây dại, nhất thời tìm không nổi một vẻ mặt thích hợp để ứng đối với nỗi nhục khủng khiếp này.

Lát sau, tiếng Dương thị khà khà cười khan vang lên: "Hay lắm, con trai ngoan..."

Bà ta vừa cười vừa nói.

Lý Vĩ cũng chẳng lấy gì làm vui vẻ vì được mẹ khen, chớp mắt phẫn nộ ban đầu lui xuống, hắn trân trân nhìn công chúa, ánh mắt có phần sợ sệt, đan xen chút lo lắng và đau thương, môi hắn mấp máy như muốn giải thích điều gì, nhưng đến cùng vẫn chẳng thốt nên lời.

Mặt công chúa tái nhợt, xoay người về phía ta, giọng gọi ta vẫn nhẹ nhàng như cũ: "Hoài Cát."

Những chửi mắng chát chúa, công kích ác độc trước đấy đều không thể khiến ta đau thấu tim gan như tiếng gọi này.

Ta cũng không để ý tới ánh mắt của mọi người nữa, tiến lên một bước, kéo nàng vào lòng, nhẹ nhàng xoa lưng nàng, nhỏ giọng nói: "Không sao...

Thần đưa người về..."

Ta duy trì vẻ mặt hiền hòa, trong lòng lại chỉ muốn bật khóc, vô cùng phẫn hận sự bất lực của mình, để nàng rơi vào hoàn cảnh khốn đốn như vậy, thay ta gánh chịu nỗi đau đớn và nhục nhã chưa từng có này, mà điều ta có thể làm bây giờ lại chỉ là dành cho nàng chút mọn an ủi chẳng đáng nói đến.

"Về đâu?"

Nàng hỏi, hết sức bình tĩnh.

"Về gác ngủ của công chúa."

Nàng ngẩng đầu, nhìn đăm đăm vào mắt ta, rành rọt biểu đạt mong muốn của mình: "Ta muốn về nhà."

"Về nhà?"

Ta sửng sốt, không dám xác định ý nàng muốn chỉ.

Nàng gật đầu, tiếp tục nói rõ: "Ta muốn hồi cung."

Hồi cung bây giờ?

Ta nhíu mày nhìn bóng đêm dày đặc bên ngoài, nói với nàng: "Công chúa, cửa cung bây giờ đã đóng hết rồi."

"Ta muốn hồi cung."

Nàng như không nghe thấy lời ta, lặp lại chắc nịch như chém đinh chặt sắt.

Đôi ta đương đối đáp, chân trời chợt lóe ánh chớp, trong nháy mắt đã có tiếng sấm rền vọng lại, một màn mưa lạnh nặng nề buông xuống.

"Công chúa, mưa rồi, không bằng đợi trời sáng rồi hẵng..."

Ta khuyên nàng như vậy.

Song chưa kịp nói hết, nàng đã đẩy ta ra, xoay người chạy vào mưa.

Ta kinh hãi, lập tức vớ lấy tấm áo choàng treo trên giá áo xuống, đuổi theo.

Lúc đuổi kịp nàng ở trong sân, nàng đã khóc không thành tiếng.

Ta bắt lấy cổ tay nàng, kéo nàng quay người lại, ánh chớp chằng chịt trên trời soi sáng dung nhan nàng, chỉ thấy trên đó giăng đầy ngấn nước, chẳng phân rõ được vệt nào là mưa, vệt nào là lệ.

"Đưa ta ra ngoài!"

Nàng tóm chặt lấy hai cánh tay ta, tắm mình trong mưa đêm gió lạnh, thê thiết nói với ta: "Hoài Cát, ta phải ra ngoài, ta phải về nhà, ta không muốn bị vây hãm ở đây!"

Nàng nức nở trước mặt ta, bi thương như chẳng trông thấy ngày mai.

Hai chữ "vây hãm" là một câu thần chú bí ẩn, trong nhiều năm sống trong cung đình, ta vẫn thường nghe người khác nhắc đến, lúc này đây nghe công chúa nói ra với thần sắc tuyệt vọng như vậy, càng thêm khơi dậy dưới đáy lòng ta một làn sóng chấn động dữ dội.

Lý trí còn sót lại của ta chịu không nổi sức nặng của ngấn lệ nàng.

Cung quy là cái gì?

Luật pháp lại làm sao?

Trong sát na này hết thảy đều chẳng còn quan trọng nữa, ta có thể vứt sạch chúng nó và cả tính mạng mình ra sau đầu, miễn là có thể cho nàng một không gian hô hấp.

"Được, công chúa, chúng ta hồi cung."

Ta nói với nàng, mở áo choàng ra, khoác lên người nàng, cố gắng bao bọc nàng thật kín, sau đó ôm vai nàng, để nàng náu dưới sự che chở của mình, che cho nàng phân nửa gió mưa, cứ thế mang nàng vội vã chạy tới chỗ xe liễn đỗ đậu.

Lúc chúng ta đánh xe ra khỏi cổng lớn rồi, Lý Vĩ đội mưa lảo đảo đuổi theo.

"Công chúa, công chúa..."

Hắn guồng chân, vươn tay về hướng xe đi, thất hồn lạc phách liên thanh kêu gọi.

Là hắn thấy sợ, muốn khuyên cản công chúa vào cung đấy ư?

Ta quay đầu lại xem, giảm chậm tốc độ xe trong thoáng chốc do dự.

"Đi mau!"

Công chúa khóc lóc thúc giục, không chịu quay đầu nhìn Lý Vĩ thêm một lần nào, hai mắt đẫm lệ cũng chẳng làm yếu đi thần sắc quật cường của nàng, "Ở lại lâu thêm chút nữa thôi, ta sẽ chết ở đây mất!"

Ta trở tay vung roi, đánh xe bò kéo ra một khoảng cách với Lý Vĩ.

Mắt thấy khó lòng đuổi kịp, hai gối hắn nhũn ra, quỳ rạp xuống mặt đất bên vũng nước tù đọng, cũng òa khóc nức nở như một đứa trẻ.

"Tại sao lại thành ra thế này?"

Hắn nhìn hai cuộn bọt nước bị bánh xe làm bắn tóe lên, nghẹn ngào thút thít: "Ta đã cố hết sức rồi, tại sao nàng vẫn không chịu liếc mắt một lần?"

Trước Tây Hoa Môn, ta trình báo rõ thân phận của nàng với cấm vệ giữ cửa: "Duyện quốc công chúa."

Họ kinh ngạc không thôi, không dám tin "mụ điên" cuồng dại đập gõ cửa cung này chính là ái nữ nổi danh của hoàng đế, ánh mắt lưỡng lự băn khoăn trên mặt hai ta, cuối cùng cất tiếng bảo hai ta chờ ở đây, quay trở lại dưới cửa thành, cao giọng thuật lại tình huống nơi này với sứ thần gác cổng trên lầu thành.

Sứ thần gác cổng là trung quan Nội thị tỉnh, cẩn thận quan sát chúng ta từ xa một hồi, cuối cùng xác định là ta nói không giả, thi lễ xin lỗi với công chúa trên lầu thành rồi lập tức nhanh chóng vào nội cung, bẩm báo lên kim thượng.

Sau vài khắc, ta được chứng kiến cảnh tượng kỳ dị chưa từng thấy bao giờ trong suốt một đời này – cửa cung mở giữa đêm.

Cửa cung hoàng thành đinh vàng sơn đỏ nặng nề chậm chạp mở từ bên trong, phác ra vài cái bóng hình cung đan xen biến ảo trong ngoài cửa lớn, cấm vệ trước cửa giơ cao bó đuốc chia thành hai hàng, nội thần sau cửa tay cầm đèn lồng, tất cả đều nín thở im bặt, khiến tiếng bản lề kẽo kẹt trở nên cực kỳ rõ rệt.

Sau khi cửa cung mở rộng, công chúa chậm rãi đi vào.

Đây là lần đầu tiên công chúa giẫm lên ánh sáng đèn đuốc xuất nhập cung thành.

Sứ thần gác cổng cầm một hàng chìa khóa mạ vàng đứng sau cửa lập tức dẫn người khom mình hành lễ với công chúa, những nội thần chạy gấp tới này như hãy còn trong mộng, nhịp điệu hành lễ cũng không đồng nhất – Giữa đêm nghênh công chúa vào cung với hình thức giản dị vội vàng như vậy, đối với họ cũng là lần đầu tiên.

Chọn Tây Hoa Môn là bởi đây là cửa cung gần đại nội nhất.

Nhưng muốn đi đến Phúc Ninh Điện nơi kim thượng ngự thì hãy còn phải trải qua mấy tòa điện gác và cửa cung: Bình Củng Môn, Hoàng Nghi Môn, Thùy Củng Môn, Thùy Củng Điện...

Trước mỗi cánh cửa đều có một sứ thần gác cổng chạy gấp tới mở đứng đợi, trông thấy công chúa vào cung chẳng đúng giờ, lại không có ngư phù, không có mặc sắc, họ đều khó có thể che giấu toàn bộ không để lộ chút thần sắc kinh ngạc nào trên mặt.

Công chúa cũng chẳng nhìn đến họ, ngẩng cao đầu rảo bước qua từng cửa cung.

Mà ngay sau khi chúng ta đi qua, những cửa cung ấy đều mau chóng đóng lại sau lưng, kèm theo đó là tiếng khóa loảng xoảng vọng đến.

Âm thanh có phần kinh hoàng này làm ta chợt nhớ đến những gì được dạy khi mới vào cung: Nếu sứ thần gác cổng để người ra vào không đúng cách thức luật lệ , nhẹ thì tù đày, nặng thì treo cổ...

Khi công chúa vào đến Phúc Ninh Điện, mưa gió đêm nay đã ngơi nghỉ, nhưng ta lại dậy lên một dự cảm chẳng lạc quan mảy may: Chuyến đi thông cửa cấm này có khả năng sẽ dẫn đến một mùa mưa chồng chất giông tố.

10.

Tử đằng

Trong Phúc Ninh Điện, công chúa vừa định hạ bái kim thượng đã kéo lại, vừa săn sóc vừa sầu lo, ngài không ngớt truy vấn công chúa đã xảy ra chuyện gì.

Công chúa chỉ một mực khóc lóc thảm thiết.

Không lâu sau hoàng hậu và Miêu hiền phi cũng lần lượt chạy tới, ôm nàng hết lời vỗ về, bấy giờ công chúa mới thút thít kể lại, bắt đầu từ lần đầu tiên nàng chịu tủi sau khi hạ giáng, thẳng đến việc Dương thị hạ dược và nhục mạ đôi ta đêm nay.

Đương nhiên nàng không thuật toàn bộ mà lược bỏ bớt chi tiết về hai ta, khúc đối ẩm cũng chỉ nói qua loa là sau khi bị mẹ con phò mã ức hiếp thì cùng ta "uống một chén rượu, nói dăm ba lời", Dương thị rình trộm rồi tùy tiện xỉ vả, gây hấn ẩu đả, Lý Vĩ nghe tin đi qua cũng tương trợ mẫu thân đánh nàng.

Thế nên Miêu hiền phi nghe xong lập tức nổi giận, tiếp lời con gái, không che giấu oán hận tích tụ suốt nhiều năm nay vì mối hôn sự này nữa, vừa gạt lệ vừa oán thán: "Thiếp có mỗi một đứa con gái, mảnh mai yêu kiều, cao quý muôn phần, đang yên đang lành, cân nhắc bao nhiêu ngày, cuối cùng tài tuấn chẳng chọn lại cứ nhất định phải gả nó vào nhà họ Lý cho vẻ vang nhà họ, họ không phụng dưỡng tử tế thì thôi, sao phải đem lắm thủ đoạn xấu xa như vậy ra giày vò nó?

Lại còn hạ dược, cái ngón tú bà đối phó với chim non ấy cũng mệt quốc cữu phu nhân xuống tay được cho!

Chẳng biết năm ấy nhà bà ta mở tiệm vàng mã hay nhà thổ nữa."

Lúc bà nói lời này, mặt quay về phía hoàng hậu, song ắt hẳn chủ yếu là nói cho kim thượng nghe.

Kim thượng vốn rất kỵ người khác nhắc đến chuyện khi xưa nhà họ Lý in vàng mã mưu sinh, nhưng đại khái lúc này cũng cảm thấy việc làm của Dương thị quá đáng nên không tỏ vẻ bất mãn gì với Miêu hiền phi, chỉ cúi đầu nhíu mày, chốc chốc lại thở dài.

"Cả Lý Vĩ nữa, nom cái mặt vừa xấu vừa ngốc, nhân vật như cái thằng đần thế nếu chẳng phải nhờ quan gia khai ân ban phúc thì có tu mười tám kiếp cũng đừng hòng rờ đến gấu váy công chúa.

Bây giờ nương cậy công chúa nhảy được vào cửa rồng, lên làm phò mã đô úy rồi, lại dám trưng cái mặt cáu kỉnh ra cho công chúa xem, không muốn ngủ chung phòng với nó là nó lập tức vừa đánh vừa mắng công chúa, coi công chúa là thị tỳ hay vũ kỹ ca cơ đó hả?"

Miêu hiền phi nhiếc móc Lý Vĩ, bản thân cũng giận đến xót hết cả lòng, giọng dần chuyển thành nghẹn ngào, cuối cùng dứt khoát dang tay ôm chặt công chúa khóc lóc, "Ôi con ta, mấy năm nay chẳng biết con đã phải trải qua cuộc sống thế nào ở phủ công chúa, thật khó cho con phải lẳng lặng chịu đựng bấy lâu, nhất định là không muốn khiến cha con lo lắng đây mà..."

Công chúa nghe vậy cũng khóc rưng rức, ôm mẫu thân sướt mướt đau khổ.

Kim thượng không biết phải làm sao, nghe Miêu hiền phi nói vậy lại hơi xấu hổ, lúng túng gắng khuyên bảo: "Hay là có hiểu lầm gì trong đây, phò mã cũng không đến mức ấy..."

"Hiểu lầm cái gì?"

Miêu hiền phi mải xót con gái, cũng chẳng đếm xỉa đến giữ nghiêm thân phận tôn ti như thường ngày nữa, tức khắc xoay nghiêng mặt con cho kim thượng xem, trách móc, "Dấu tay trên mặt nó còn rành rành đây này, còn có thể có hiểu lầm gì?"

Tất nhiên là bà đang cường điệu việc này lên, trên mặt công chúa bây giờ chỉ hơi hồng hồng, đâu còn nhìn ra được dấu tay.

Nhưng kim thượng cũng không phản bác, một mực trầm mặc, âu sầu nhìn chăm chăm công chúa đang khóc nức trong lòng mẹ, chầm chậm vươn tay như muốn an ủi nàng, song lại do dự rụt về, chống trên đầu gối, thở dài não nề.

Vào lúc này, hoàng hậu lẳng lặng đứng dậy, đánh mắt về phía ta ra hiệu ta theo bà ra ngoài.

Ta theo bà tới nhà hông mé tây đại điện, bà xua người hầu lui xuống rồi hỏi ta: "Công chúa nói uống rượu trò chuyện cùng ngươi bị quốc cữu phu nhân rình trộm.

Thế hai đứa đã nói gì với nhau?

Ngoài uống rượu ra, còn có hành động gì khác không?"

Ta lặng thinh hồi lâu, mãi sau mới đáp: "Không có gì khác, chỉ chong nến đón gió, ôn lại chuyện cũ thôi ạ."

"Ôn lại chuyện cũ?"

Hoàng hậu nhíu mày, tỏ vẻ hoài nghi sâu sắc, "Chỉ có vậy thôi?

Trước đây quốc cữu phu nhân cũng chẳng phải chưa từng thấy hai đứa bên nhau, sao lần này lại tức giận đến độ buông lời nhục mạ như vậy, nhất định là đã nhìn thấy cảnh tượng không bình thường."

Ta xưa nay không quen nói dối, huống hồ là trước mặt hoàng hậu.

Bởi vậy nên việc có thể làm lúc này cũng chỉ còn giữ im lặng.

Bà dùng ánh mắt bình tĩnh quan sát ta, một lần nữa khiến ta cảm thấy mình không chốn lánh thân.

"Hai đứa...có cử chỉ thân mật?"

Bà hỏi dò.

Ta cúi đầu, hai má nóng rực.

Hoàng hậu phất vụt tay áo, cả giận: "Ngay từ đầu ta đã nhắc nhở ngươi rồi, bảo ngươi đừng quá mức gần gũi công chúa, ngươi lại bỏ hết toàn bộ ra ngoài tai?"

Ta quỳ xuống, lấy tư thế kính cẩn bày tỏ mình cam chịu tất cả khiển trách và nghiêm phạt, song vẫn không nói một lời.

Hoàng hậu nhìn lư hương lò Việt năm chân hoa văn mây tía bên cạnh, nói: "Tình chủ tớ của hai đứa như một miếng đàn hương, đặt trên miếng đệm trong lư hương, có thể tỏa khói nồng nàn, cả ngày không dứt.

Nhưng nếu hai đứa giống trẻ con nghịch lửa, nhất định muốn lấy nó ra làm củi đốt thì chẳng những phung phí của trời mà còn dễ dàng dẫn tới lửa mạnh cắn người, đốt tới thân mình!"

"Hiện giờ biết sai đã muộn rồi."

Hoàng hậu than thở, "Công chúa hành động theo cảm tính, muốn làm cái gì là làm cái đó, không biết nhìn trước ngó sau.

Nhưng ngươi trước nay vẫn là đứa hiểu chuyện, hành xử cẩn trọng, biết chừng biết mực cơ mà!

Chuyện đêm nay chắc chắn là do công chúa dưới tâm trạng tích tụ đã chủ động thân cận ngươi, nhưng vì sao ngươi không lùi bước lảng tránh, để nên nông nỗi này?"

Giọng bà nói chuyện với ta lúc này cũng không hàm chứa quá nhiều giận dữ mà có phần bất đắc dĩ hận sắt không thành thép, giống như ta thật sự là đứa bé mắc lỗi của bà.

Ta trầm ngâm đôi lát, cuối cùng quyết định trải lòng với bà: "Nương nương, công chúa không giống người.

Nương nương là cây hoa gạo vòi vọi thanh tú, có thể sinh trưởng độc lập, vươn cành nở những đóa hoa xinh đẹp.

Còn công chúa thì lại là một cây tử đằng, dây leo mảnh mai xoắn bện, không thể tự mình sống sót, cần liền cành cùng cây khác, để hoa đơm chùm nơi đầu cành cây cao bóng cả.

Khi nàng không tìm được cây cao bóng cả mà nàng cho rằng mình có thể nương tựa sống nhờ, bèn tạm thời coi thần là giàn giá bám víu mà leo lên...

Thần biết như vậy không thích hợp, nhưng thật sự không có dũng khí cự tuyệt nàng leo trèo."

Hoàng hậu buông tiếng thở dài, nhìn ta vô cùng cảm khái: "Thế nhưng, Hoài Cát, nó là tử đằng, song ngươi nào có phải cây cao bóng cả, vốn chẳng chịu được nó leo trèo...

Lòng ngươi sáng trong không màng danh lợi, nếu lấy cây cỏ để ví von thì hẳn phải là những thực vật thân thảo như đỗ nhược hay cỏ huyên mới đúng chứ?

Mọc nơi khe rãnh bên bờ nước, ngâm gió uống sương, thanh tịnh vô vi.

Chỉ lo giữ mình như vậy là tốt rồi, dây dưa vướng mắc với tử đằng chẳng những không có ích gì cho nó mà còn gây nguy hiểm tới tính mạng mình."

Ta suy ngẫm chốc lát, trịnh trọng bái lạy bà rồi nói: "Thần hiểu lời hoàng hậu dạy dỗ.

Nhưng thần vẫn vui lòng từ bỏ ngàn vạn ngày tháng một mình đối mặt với xuân xa nước chảy ấy để đổi lấy một ngày cho nàng tựa vào khi bất lực."

Cảm nhận được ánh mắt kinh ngạc của bà, ta gượng nhếch khóe miệng: "Thực ra, nguyện vọng của thần cũng là được làm một cội cây cao bóng cả."

Sáng sớm hôm sau, sau khi cửa cung mở rộng, Lý Vĩ vào cung, trút bỏ quan phục, đi chân trần bái lạy trước Phúc Ninh Điện, thỉnh tội với kim thượng.

Khi ấy công chúa đã theo mẫu thân trở lại Nghi Phượng Các, mà kim thượng thì sắp phải lên triều, bèn giục hắn bình thân, nói việc này để sau hẵng bàn, song Lý Vĩ vẫn hoảng hốt quỳ riệt không chịu đứng lên, cúi đầu lặp đi lặp lại mình hầu chủ không chu toàn, tội không thể chối, xin kim thượng trách phạt.

Sau cùng, kim thượng nổi cáu, nói thẳng với hắn: "Ngươi mau đứng lên, bằng không để mọi người vây xem, chuyện nhà của ngươi và công chúa sẽ ầm ĩ từ triều đình đến dân gian đều biết, tới lúc đó sẽ chẳng còn chỉ là chuyện giữa hai người các ngươi nữa thôi đâu."

Bấy giờ Lý Vĩ mới đứng dậy, đợi kim thượng lên triều rồi, lại tới trước gác Miêu hiền phi, muốn thỉnh tội với công chúa.

Tình hình trước đó của Lý Vĩ ở Phúc Ninh Điện đã có nội thần bẩm báo với Miêu hiền phi, nghe nói hắn qua đây, công chúa giận dữ không gặp, cũng không cho mẫu thân triệu kiến hắn, thế nên Miêu hiền phi không gọi hắn vào gác.

Lý Vĩ đứng trơ ngoài gác một hồi thì có nội thị bên gác hoàng hậu tới, mời hắn sang Nhu Nghi Điện gặp hoàng hậu.

Sau đó, Lương đô giám và Hàn thị dẫn bọn thị nữ nội thần Gia Khánh Tử, Bạch Mậu Tiên ở phủ công chúa lần lượt chạy tới, vội vã bái kiến công chúa rồi cũng bị triệu hết vào Nhu Nghi Điện, tiếp nhận hoàng hậu hỏi thăm.

Đến gần trưa, kim thượng trở về hậu cung, cũng đi thẳng tới Nhu Nghi Điện, lại cho gọi Miêu hiền phi đến.

Chuyến này Miêu hiền phi đi rất lâu, công chúa chờ có phần sốt ruột, bất an hỏi ta: "Lý Vĩ sẽ không nói nhăng cuội gì với cha mẹ ta đâu chứ?"

Ta mỉm cười lắc đầu với nàng cho nàng yên tâm, song lại lén dự đoán tương lai của đôi ta sau này, tự mình cũng thấy tiền đồ mịt mờ, tăm tối không một tia sáng như khói tỏa lầu cao.

Quá nửa Lý Vĩ sẽ không chủ động đề cập đến chuyện giữa ta và công chúa trước mặt đế hậu, nhưng hoàng hậu đã phát hiện ra, tất sẽ bí mật truy vấn đám người Lương đô giám và Hàn thị, tiền căn hậu quả ắt chẳng gạt được bà.

Hiện giờ có khả năng kim thượng cũng đã biết chuyện rồi, vậy ta và công chúa chỉ sợ rất khó tìm lại được trạng thái an bình trước kia.

Sau, Miêu hiền phi quay về gác trước, thần sắc quả nhiên nặng nề hơn rất nhiều.

Bà bình lui người hầu rồi hạ giọng hỏi ta và công chúa có phải đã có cử chỉ gì không thỏa đáng không.

Ta ngậm miệng không đáp, công chúa đương nhiên hiểu ý bà, lập tức phủ nhận kịch liệt, không chịu nghe mẫu thân nói nhiều thêm một câu về việc này.

Miêu hiền phi hết cách, chỉ đành nói: "Hiện giờ ta cũng chẳng muốn truy cứu tiếp, chỉ mong việc này có thể sớm lắng xuống, đừng ầm ĩ lên.

Bất kể giữa hai đứa thế nào, ai hỏi cũng phải chắc chắn thống nhất cách nói, chớ để lộ bất kỳ tiếng gió gì ra, để người ta bắt được nhược điểm."

Lát sau, cận thị bên người hoàng đế cũng qua đây, tuyên triệu ta vào Phúc Ninh Điện diện thánh.

Ta đang định lĩnh mệnh thì công chúa kéo lại, nói với cận thị: "Ngươi đi nói với quan gia, công chúa có việc cần Hoài Cát làm, không cho huynh ấy rời đi.

Quan gia muốn hỏi thì xin qua đây hỏi công chúa cũng tương đương."

Cận thị sửng sốt, song vẫn ưng thuận, rời khỏi Nghi Phượng Các về phục mệnh với kim thượng.

Y vừa ra khỏi cửa, Miêu hiền phi lập tức trách công chúa tùy hứng, dám công nhiên cãi lệnh kim thượng.

Công chúa bướng bỉnh lắc đầu, nói: "Con không thể để Hoài Cát đi.

Nếu chỉ có một mình huynh ấy đi gặp cha thì ai mà biết được cha sẽ trách phạt huynh ấy như thế nào."

Buổi chiều, kim thượng đích thân đến Nghi Phượng Các, tán gẫu với mẹ con Miêu hiền phi vài chuyện vặt vãnh, khuyên công chúa tha thứ cho phò mã, ngày sau phu thê chung sống phải hòa thuận với nhau, vân vân, thái độ với ta không có khác biệt gì quá lớn, chỉ là ánh mắt thỉnh thoảng lướt qua ta có hơi nghiêm nghị.

Đến cuối, ngài đứng dậy trở về tẩm điện, lại làm như lơ đãng bảo ta: "Hoài Cát, trong điện ta có vài bức họa tuyệt phẩm, ngươi theo ta qua lấy về cho công chúa xem."

Ta đáp lời, chuẩn bị theo ngài ra cửa, công chúa lập tức tiến lên, nói với kim thượng: "Cha muốn ban thư họa cho con gái thì cứ sai bừa một tiểu hoàng môn đưa sang là được, hà tất phải đòi Hoài Cát qua lấy?"

Nàng lúc này cảnh giác dị thường, hệt như một con nhím, bất kỳ chuyện gì liên quan đến ta đều có thể khiến nàng trong nháy mắt dựng hết gai nhọn quanh thân lên.

Kim thượng trông ánh mắt phòng bị của nàng, rất không thoải mái, nhịn không được trách: "Không sai, đúng là cha muốn gọi Hoài Cát qua hỏi mấy câu đấy.

Con khẩn trương như thế, phòng bị như thế, để người khác thấy còn ra thể thống gì!"

Công chúa dời bước chắn trước ta, nhìn chằm chằm phụ thân, trấn tĩnh trả lời: "Con không cần thể thống, con chỉ cần Hoài Cát bình an.

Nếu các người nhận định lỗi tại bọn con, nhất định sẽ bắt huynh ấy gánh chịu tất cả trừng phạt.

Hoài Cát chẳng có gì cả, nếu không phải bên con thì còn ai tới bảo vệ huynh ấy đây?"

Câu này khiến kim thượng lặng im hồi lâu, chẳng biết là bực bội, cảm khái hay liên tưởng tới điều gì, trong mắt ngài dần dâng lên ánh nước loang loáng.

Cuối cùng, ngài buồn bã rời đi, trước khi đi bỏ lại một câu: "Hi vọng việc này sẽ không bị ngôn quan để ý...

Hai đứa tự cầu phúc đi."

Nhưng sang hôm sau, ta lại ý thức được rằng nguyện vọng này của ngài đã định trước là không thể thành thực.

Sáng sớm, Đặng đô tri đưa tới một tờ triều báo, tại vị trí nổi bật nhất trên tờ báo phát hành khắp chư ty triều đình và dân gian này chình ình dòng chữ: Duyện quốc công chúa nửa đêm gõ cửa hoàng thành, sứ thần gác cổng lập tức thông tri bẩm tấu, mở cửa nghênh đón, vào thẳng trong cung.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 11: Cung tây lầu nam rậm thu thảo


1.

Đài gián

Lần kế tiếp xuất hiện trước mặt mẹ con Miêu hiền phi, kim thượng mặt ủ mày chau.

Miêu hiền phi nhỏ nhẹ hỏi ngài nguyên do, ngài lấy một xấp trát dày trong tay áo ra, ném lên bàn trước mặt ta và công chúa.

Ta vội lật ra xem, thấy toàn bộ nội dung đài gián luận bàn đều là chuyện công chúa vào cung không phải lúc, cửa cung mở giữa đêm.

Người dâng sớ đều là ngôn quan trứ danh hiện thời, bao gồm điện trung thị ngự sử Lữ Hối, tả chính ngôn Vương Đào và tri gián viện Đường Giới từng bị điều ra ngoài sau lại được kim thượng triệu về, ủy thác trọng trách.

Trong trát, họ nói có sách, mách có chứng, luận về tầm quan trọng của việc giữ nghiêm cung cấm, ngăn chặn điều dị thường và phương thức xử phạt của quân vương các đời đối với kẻ không làm tròn chức trách canh phòng, chẳng hạn như Hán Quang Vũ đế đi săn trở về khuya, Chất Uẩn coi giữ Thượng Đông Môn từ chối không mở cửa, sau Quang Vũ Đế phải đi từ Trung Đông Môn vào, nhưng ngày kế lại khen thưởng Chất Uẩn, cách chức giữ cửa Trung Đông Môn; Lâm Tri hầu Tào Thực, con trai Ngụy Vũ đế Tào Tháo, tự ý mở Tư Mã Môn ra ngoài vào ban ngày, Tào Tháo nổi giận, xử chém công xa lệnh (*) phụ trách canh gác cửa cung...

(*) Tên chức quan chưởng quản Tư Mã Môn phía nam hoàng cung và công việc tuần tra trong cung vào ban đêm.

Giữa chừng, kim thượng liếc nhìn, thấy ta đang xem trát của Vương Đào, bèn mệnh ta: "Đọc đoạn cuối cùng lên cho công chúa nghe."

Ta gật đầu tuân mệnh, đọc thành tiếng: "Trường hợp công chúa hồi cung nửa đêm, chưa rõ thật giả, đã liền thông tấu, mở cửa nghênh đón, tiếp thẳng vào cung, không tra không phòng, thỉnh giải toàn bộ sứ thần gác cổng trong ngoài cung điện hoàng thành dọc một đường công chúa đi sang phủ Khai Phong hỏi tội."

Công chúa nghe rồi cau mày: "Cửa là do con gõ mở, ngôn quan bất mãn cứ mắng thẳng con là được, sao phải hỏi tội sứ thần gác cổng?"

Kim thượng than: "Con tưởng là họ không muốn mắng con à?

Thực chất họ còn muốn mắng cả cha con đó.

Cửa cung mà không có ta hạ lệnh thì ai dám mở giữa đêm?

Đài gián chỉ là có chỗ kiêng dè, không tiện quang minh quở trách chúng ta nên mới lấy sứ thần gác cổng ra để nói.

Xử phạt họ cũng chẳng khác nào vả mặt chúng ta, cho chúng ta một lần cảnh cáo."

Công chúa như thấy áy náy, cúi đầu im lặng, một lúc lâu sau mới ngẩng lên hỏi phụ thân: "Cha, vậy cha có xử phạt những sứ thần gác cổng này không?"

Kim thượng lắc đầu, quả quyết đáp: "Không.

Họ phụng hoàng mệnh hành sự.

Lỗi là do ta, không thể để họ gánh được."

Thế nên, ngài chống đỡ trận công kích thứ nhất của đài gián, không xử phạt bất kỳ sứ thần gác cổng nào.

Một tháng tiếp đó vẫn không ngừng có ngôn quan dâng sớ luận việc này, ngài bỏ mặc tất thảy.

Công chúa ở lại trong cung, không có ý định trở về phủ công chúa.

Miêu hiền phi cũng mừng mẹ con sum vầy, ngày ngày ở trong Nghi Phượng Các cùng con gái, ngược lại, là hoàng hậu xuất cung đến phủ công chúa thăm Dương phu nhân một chuyến, khi trở về nói: "Bà ấy khóc lóc kể chuyện bị công chúa đánh với ta, cũng may thương thế không nặng, ta tiến hành an ủi rồi, bà ấy cũng miễn cưỡng hứa hẹn sau này sẽ không nhắc đến với người ngoài.

Nhưng người hầu phủ công chúa không ít, khó tránh khỏi người nhiều miệng rộng, công chúa ở lâu trong cung, thời gian kéo dài chỉ sợ sẽ càng khiến ngôn quan để ý, nếu họ truy cứu việc này, luận bàn tỉ mỉ hành vi của công chúa thì không hay.

Công chúa ở lại thêm hai ngày nữa rồi cùng phò mã về đi thôi, sau này thông cảm cho nhau chút, có chuyện gì nói chuyện đàng hoàng, chớ lại gây nên chuyện làm tổn hại hòa khí."

Nhưng công chúa không đồng ý, tuyên bố chỉ cần Lý Vĩ và mẫu thân còn ở trong phủ công chúa, nàng kiên quyết không về.

Đế hậu khuyên mấy lần đều không thay đổi được chủ kiến của nàng.

Sau, Lý Vĩ lại vào cung cầu kiến công chúa mấy lần, công chúa chẳng những không gặp mà còn phản ứng dữ dội, không gào khóc thất thanh cũng thịnh nộ ném đồ, lần nào Miêu hiền phi cũng phải ôm nàng vào lòng dỗ dành khuyên lơn, nàng mới nguôi đi được.

Miêu hiền phi vì chuyện này mà sầu lo không thôi, có lần, thừa lúc công chúa nghỉ ngơi đầu giờ chiều, không nhịn được oán thán với Du sung nghi: "Phu thê như thế chẳng bằng đoạn tuyệt đi cho rồi!"

Du sung nghi suy tư: "Chúng nó thành đôi là do quan gia toàn lực tác hợp, đoạn tuyệt chung quy vẫn không ổn, quan gia cũng sẽ không bằng lòng.

Có điều, cho công chúa và phò mã tách ra nửa năm một năm, để hai đứa nó bình tĩnh lại, suy nghĩ xem sau này ăn ở với nhau thế nào, cũng là một biện pháp khả thi."

Miêu hiền phi than: "Bây giờ quan gia và hoàng hậu đều đang khuyên công chúa trở về cùng phò mã kia kìa, chỉ e công chúa chẳng thể ở lâu bên ta, nào có cái khả năng tách ra với phò mã thời gian dài thế được?"

Khi ấy, đô tri Nhậm Thủ Trung phụng mệnh kim thượng, đến Nghi Phượng Các thăm dò tình hình của công chúa, nghe Miêu hiền phi nói vậy, bèn rảo chân bước lại, nói: "Muốn công chúa và phò mã tách ra nửa năm một năm cũng chẳng phải việc khó.

Nếu Miêu nương tử quả thực có ý đó, thần sẽ lập tức đến phủ công chúa, tìm phò mã nói dăm câu, bảo cậu ta tự xin rời kinh."

Miêu hiền phi ngạc nhiên: "Ông có thể thuyết phục được nó rời kinh?"

Nhậm Thủ Trung cười, cúi người nói: "Miêu nương tử chỉ việc ngồi yên chờ tin tốt là được."

Ngay sau đó Nhậm Thủ Trung nhanh chóng đến phủ công chúa.

Cũng chẳng biết ông ta đã nói gì với Lý Vĩ mà hôm sau, Lý Vĩ quả nhiên dâng sớ tự hặc, nêu lên vài việc, nói mình thờ chủ thất trách, khẩn cầu kim thượng trách phạt, điều mình ra ngoài.

Có Miêu hiền phi ra sức tán thành và Nhậm Thủ Trung khuyên giải bên người, kim thượng chấp thuận lời thỉnh cầu của Lý Vĩ, quyết định giáng hắn xuống làm Hòa Châu phòng ngự sứ, lệnh hắn rời kinh nhậm chức.

Ngày kim thượng tuyên bố chiếu lệnh giáng quan Lý Vĩ, Miêu hiền phi sai nội thị canh ngoài triều đình từ sớm, đợi kim thượng vừa tan triều là mời ngay ngài về, muốn hỏi ngài tường tận tình hình.

Nhưng kết quả nằm ngoài dự liệu của bà – kim thượng đưa quyển chiếu lệnh giáng quan không thể ban hành cho bà, nói: "Dưới sự dẫn đầu của Tư Mã Quang, quan viên ngự sử đài và gián viện trên triều đồng thời góp lời, khăng khăng đòi ta rút lại hoàng mệnh."

Khi ấy, công chúa còn đang gảy không hầu ở buồng trong, không biết kim thượng tới, Miêu hiền phi cũng chẳng bảo người mời nàng ra gặp phụ thân ngay mà vội vàng hạ giọng truy vấn kim thượng trước, ngài bèn thuật lại chuyện đã xảy ra cho chúng ta nghe: "Ta sai nội thần tuyên đọc chiếu thư giáng quan Lý Vĩ trên triều, thoạt đầu đài gián trầm mặc, sau đó lục tục có hai, ba người đứng ra, lại hỏi ta chuyện công chúa vào cung không phải lúc, mở cửa cung giữa đêm, có từng xử phạt sứ thần gác cổng không.

Ta bèn nói sứ thần phụng mệnh hành sự, không có lỗi, trẫm không muốn truy cứu.

Họ liền tiếp tục nêu lời, người bước ra khỏi hàng cũng càng lúc càng nhiều, đều đòi ta xử phạt người gác cổng.

Ta trước sau không chịu đồng ý, hai bên đương giằng co thì đồng tư khởi cư chú Tư Mã Quang ngồi trong góc điện chấp bút ghi chép bỗng ném bút đứng dậy, sải bước vào giữa điện, nhìn quanh chúng gián quan, nói: 'Sứ thần gác cổng thất trách quả là nên phạt, nhưng trọng điểm không nằm ở đây mà nằm tại Duyện quốc công chúa bất chấp oai nghiêm cung cấm, nguyên do tại sao vào cung không phải lúc, sao các ông không nói thẳng ra?'"

Miêu hiền phi nghe mà kinh hãi, trố mắt hỏi: "Y dẫn chuyện sang công chúa?"

Kim thượng gật đầu, cười khổ: "Y hùng hồn trần thuật trên điện, chĩa mũi dùi vào Huy Nhu, nói nó xưa nay không hiếu thuận với mẹ chồng, không tôn trọng phò mã, danh lâng láo triều dã đều hay.

Nghe nói trước chuyến vào cung này, công chúa còn từng ẩu đả với mẹ chồng, đến nỗi làm Dương thị bị thương, chẳng những không mảy may biết tự hổ thẹn mà còn gõ cửa cung giữa đêm, vào cung tố khổ, hoàn toàn coi thường tuần vệ cung cấm, an nguy quân phụ, nếu không cấm tiệt việc này, về sau ắt sẽ thành thông lệ..."

Nói đến đây, ngài dụng tâm đánh mắt liếc ta rồi mới tiếp tục: "Tư Mã Quang còn nói, 'Sau khi công chúa gõ cửa cung giữa đêm, người ngoài bàn tán xôn xao, đều có dị nghị, nói rằng nội phần trong phủ công chúa nhiều, có kẻ không giữ mình cẩn trọng, công chúa không hòa thuận với nhà chồng có thể là do bị nội thần ly gián, bệ hạ không thể không suy nghĩ cặn kẽ.

Hiện giờ chẳng những phải xử phạt sứ thần gác cổng trong ngoài cung điện hoàng thành nơi công chúa đi qua mà còn phải tra xét một lượt tất cả sứ thần nô bộc hầu hạ trong phủ công chúa, trách phạt nghiêm khắc, lấy đó mà dẹp yên chuyện cấm vệ và giữ gìn gia phong hoàng thất.

Công chúa thất đức, chuyện Lý Vĩ là do công chúa gây sự, vốn chẳng hề mắc tội nặng, hôm nay nếu không phân minh mà giáng phạt Lý Vĩ bảo vệ công chúa, về tình về lý đều mất công bằng, hoàng đế thiên vị như vậy thì biết lấy gì dẫn dắt thiên hạ?'"

Ta cụp mắt im lặng, Miêu hiền phi cũng im lặng thật lâu, mãi sau mới hỏi một câu: "Tư Mã Quang vô lễ như vậy mà quan gia không mắng y à?"

Kim thượng nhếch miệng: "Ta mắng thế nào?

Mắng y cái gì?

Lời y là sự thật được triều thần công nhận, câu nào câu nấy vào tai đều có lý, ta cũng chẳng thể phản bác, hơn nữa, y vừa dứt lời, chúng ngôn quan đã hùa theo ngay, cuối cùng mỗi một quan viên đài gián đều ra khỏi hàng nói thay Lý Vĩ, thẳng đến khi ta bằng lòng rút lại mệnh lệnh giách chức, họ mới chịu tạm thời ngậm miệng."

2.

Trục xuất

Có đài gián tranh biện, hôm sau, kim thượng tuyên bố miễn Lý Vĩ giáng quan, chỉ phạt ba mươi cân đồng, vẫn giữ lại kinh sư.

Công chúa hay tin không vui, càng thêm khăng khăng không chịu trở về phủ công chúa, mà trong khoảng thời gian này, nàng vẫn chưa ý thức được rằng chuyện đáng phiền muộn hơn đang lũ lượt kéo tới.

Sau lời cảnh tỉnh của Tư Mã Quang, chư ngôn quan đều dời tiêu điểm chuyện công chúa từ gõ cửa cung giữa đêm sang tình trạng trong phủ nàng và vấn đề về nội thần.

Đầu tiên là gián quan Ngô Cập hặc Nhậm Thủ Trung "hiếp bức", bắt nạt miệt thị phò mã đô úy Lý Vĩ, dọa Nhậm Thủ Trung chết khiếp, không dám xía thêm một lời xía chuyện công chúa, sau đó, các ngôn quan còn lại tiếp tục luận cặn kẽ việc "nội thần trong phủ công chúa nhiều, có kẻ không giữ mình cẩn trọng".

Ngự sử đài nghe phong thanh cũng bắt tay vào điều tra sự việc Trương Thừa Chiếu và Tiếu Diệp Nhi rồi lập tức nộp riêng chứng cứ lên ngự tiền, kim thượng bèn hạ lệnh cách chức Trương Thừa Chiếu điều đi thủ hoàng lăng làm tạp dịch, lại tống Tiếu Diệp Nhi vào Dao Hoa Cung.

Mà đô giám Lương Toàn Nhất thì chẳng đợi đài gián hặc đã tự đi thỉnh tội với kim thượng trước, nói mình giám sát thất trách, thế nên công chúa mới không hòa thuận với nhà chồng, trong việc Trương Thừa Chiếu trước quản lý không nghiêm ngặt, sau xử lý thiếu chu toàn, quả thực phụ lòng chúa thượng phó thác, tuyệt không dám tiếp tục giữ chức cao hưởng lộc đầy, khẩn cầu hoàng đế giáng quan trách phạt.

Kim thượng cũng thuận thế xử phạt thầy, tước chức đô giám phủ Duyện quốc công chúa, chọn một nơi hẻo lánh xa xôi cần nội thị sai phái ngoài đô thành, lệnh thầy tới đó làm giám sát.

Tính tình Lương đô tri hiền hòa, mấy năm nay vẫn luôn tôn trọng công chúa phò mã, lại đối xử tử tế với kẻ hầu trong phủ, vốn chẳng có lỗi lầm gì, lần này tất cả đều là bị chúng ta làm liên lụy.

Ta đầy một bụng áy náy với thầy, nghe tin lập tức đến tìm thầy hạ bái tạ lỗi.

Thầy kéo ta dậy, cười xòa, nói: "Ta đã sớm biết tình hình giữa công chúa và phò mã mà chẳng chịu tận sức khuyên nhủ, xảy ra chuyện cũng một mực lấp liếm che chở, quả thực tắc trách với chức vụ đô giám.

Hiện tại bị phạt cũng không có gì oan uổng...

Trái lại là cậu đó, chuyện trước kia ta nhiều lời vô ích, giờ chỉ mong cậu biết đường mà suy tính thật kĩ xem sau này phải làm thế nào...

Ngọn lửa này đã dấy lên rồi, điều cậu có thể làm cũng chỉ là nghĩ cách thoát thân mà thôi."

Ta hiểu ý thầy.

Nếu đây là một trận hỏa hoạn, vậy ta chẳng khác nào một trong những kẻ phóng hỏa, kim thượng sẽ không coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra mà bỏ qua cho ta, bất kể là Trương Thừa Chiếu hay Lương Toàn Nhất cũng đều chẳng phải mục tiêu công kích chân chính của ngôn quan, mũi giáo của họ sớm muộn gì cũng chĩa vào ta.

Sự thực quả thế.

Hai ngày sau, trong cung bắt đầu truyền lưu lời đài gián công kích ta, tuy rằng không chỉ rõ tên ta.

Họ nói, chức vụ nội thần chủ quản phủ công chúa tuy quan trọng, nhưng đãi ngộ dành cho chức vụ này trước kia quá hậu, khiến hắn chẳng những không ngang hàng với gia thần mà còn bằng vai bằng vế với phò mã, thậm chí coi nô tì như chủ nhân...

Họ còn nói, trọng trách như thế mà lại để nội thị chưa đến tuổi nhi lập đảm đương, thực sự quá thiếu cân nhắc, mà hiện giờ nội thần chủ quản này tuổi còn trẻ, ngôn hành lại không cẩn trọng, thường xuyên có chỗ ngả ngớn, tỷ như không mặc phục sức nội thần trong phủ công chúa, trước mặt người ngoài tự cho mình là đô úy, thậm chí ly gián phò mã và công chúa, khiến vợ chồng họ bất hòa...

Mắt thấy hai người Trương, Lương lần lượt rời đi, công chúa hiển nhiên cũng ý thức được rằng ta đang gặp nguy hiểm, nàng trở nên khẩn trương hơn bao giờ hết, cả ngày trông giữ bên ta, gần như đến mức một tấc không rời, nhất là khi kim thượng lui tới, nàng cảnh giác nhìn ngài chòng chọc, như thể ngài là đao phủ tay cầm đại đao đến nhằm vào ta.

Sau nữa, nàng ấy vậy mà không ngủ không nghỉ, bởi lo lắng sẽ có người mang ta đi trong lúc mình say giấc.

Kim thượng nghe nói công chúa đã không chợp mắt gần hai ngày, rốt cuộc không nhịn được lại đến thăm nàng.

Công chúa nhìn thấy ngài, câu đầu tiên cất lời là: "Cha, cha tới bắt Hoài Cát đi đấy ạ?"

Kim thượng im lặng, chốc sau, lắc đầu.

Công chúa nhìn ngài chằm chằm đầy hoài nghi, bỗng rèm mi rung rung, rơi lệ: "Cha, cha sẽ làm tổn thương Hoài Cát ư?"

Kim thượng thở dài: "Con quên hết lời cha nói năm ấy rồi sao?

Có một số người đừng đối xử với họ quá tốt, nếu như con muốn bảo vệ họ."

Công chúa bước tới trước mặt phụ thân, quỳ xuống, ngửa đầu rưng rưng nhìn ngài, kéo tay áo ngài khẩn cầu: "Con gái biết sai rồi, con gái sẽ sửa, chỉ cần cha tha cho Hoài Cát...

Nếu cha bằng lòng không làm tổn thương đến huynh ấy, con cũng sẽ đồng ý trở về phủ công chúa, bất kể mẹ con Lý Vĩ có nói gì, con cũng không tranh chấp với họ nữa."

Kim thượng cụp mắt nhìn con gái, khẽ cau mày khóa lại ngàn tiếng than.

Thương xót vén mấy sợi tóc xõa trước trán công chúa, ngài ôn hòa nói: "Được, cha nhận lời với con, quyết không làm thương tổn đến Hoài Cát, con yên tâm đi."

"Thật ạ?"

Công chúa nửa tin nửa ngờ.

"Đương nhiên, cha đã gạt con bao giờ chưa?"

Kim thượng nói, lại mỉm cười khuyên nàng, "Hai ngày không ngủ rồi, sắc mặt con không tốt, mau nghỉ ngơi đi thôi."

Công chúa lạy tạ, chậm rãi đứng lên, nhưng xem chừng vẫn chưa yên lòng, chần chờ đứng đó mãi chẳng cất bước.

Kim thượng bèn quay sang nhìn ta, nói: "Hoài Cát, ngươi cũng thu dọn đi, ngày mai theo công chúa về phủ."

Khi nói lời này, vẻ mặt ngài hiền hòa, thậm chí còn mỉm cười với ta.

Ta khom lưng ưng thuận, Miêu hiền phi nhất thời cười rạng rỡ, tự mình lại đỡ công chúa, nói: "Không sao rồi, không sao rồi.

Tỷ tỷ đã sớm nói với con rồi mà, cha con khoan dung nhân hậu, sẽ không trách tội Hoài Cát đâu, con còn không tin, giờ đã biết chưa?

Mau vào ngủ thôi, đã hai ngày chưa chợp mắt rồi, mặt mũi vàng ệch ra thế này, tóc tai cũng xác xơ hết cả..."

Công chúa được mẫu thân dìu dắt vào gác ngủ, bước đi chầm chậm, bước một bước lại ngoái lại một lần, lúc tới cửa thoáng dừng chân, ngoảnh đầu dụng tâm quan sát chúng ta, thấy chúng ta đều không có động thái dị thường gì, bấy giờ mới bằng lòng đi tiếp.

Công chúa đi rồi, kim thượng vẫy tay cho mọi người lui, chỉ giữ lại mình ta.

Đợi đến lúc trong phòng chỉ còn hai người ta và ngài, ngài thẳng thắn nói với ta: "Ta có thể không làm tổn thương ngươi, nhưng không thể không xử phạt ngươi."

Đó là kết quả ta có thể đoán được.

Ta chẳng lấy gì làm kinh ngạc, cũng không quỳ xuống xin ngài nhẹ tay, chỉ cúi đầu, đáp lại một chữ giản đơn nhất: "Dạ."

"Ta phải xử phạt ngươi, cho đài gián một câu trả lời thỏa đáng, bằng không, chẳng mấy hôm nữa rất có thể ngự sử đài sẽ lôi ra thêm một đống chứng cứ chất vấn hạnh kiểm phẩm tính của công chúa."

Ta thoáng lưỡng lự, cuối cùng vẫn nhỏ giọng giải thích: "Thần và công chúa trong sạch."

Kim thượng nhếch một nụ cười lạnh nhạt: "Không phát sinh chuyện như Trương Thừa Chiếu thì là trong sạch à?

Ngươi so với thằng oắt đó cũng chỉ là kẻ tám lạng người nửa cân mà thôi."

Ta cụp mắt, không lời đáp lại.

Ngài cũng trầm mặc hồi lâu, mãi sau mới lại mở miệng, tuyên bố kết quả xử phạt dành cho ta: "Ngày mai ta sẽ hạ lệnh đuổi ngươi ra khỏi kinh sư, nhập Tây Kinh sái tảo ban."

Tây Kinh sái tảo ban trực thuộc nội thị tỉnh, nhiệm vụ là "quét dọn sân viện", chuyên dùng để trách phạt giáng chức hoạn quan, là làm sai dịch ở đại nội Tây Kinh Lạc Dương, địa vị thấp hèn.

Mà đại nội Tây Kinh thì về cơ bản vẫn giữ làm cung thành Tùy Đường, hoàng đế quốc triều rất hiếm tới đó, không tu sửa đã lâu, nhậm chức ở đó thường đều là cung nhân thất sủng hoặc nội thị phạm lỗi.

Đối với hoạn giả Nhập nội nội thị tỉnh, tới đó chẳng khác nào bị trục xuất nghiêm trọng.

Nhưng kim thượng quyết định vậy rõ ràng là đã thủ hạ lưu tình.

Nếu nghe theo ý của đài gián thì chỉ e sẽ chẳng để ta sống sót.

Ta quỳ xuống trước kim thượng, bái tạ đúng nghi lễ.

"Thực ra, bất kể đài gián có để ý đến ngươi hay không, ta đều sẽ xử phạt ngươi."

Ngài vẫn duy trì thần sắc hờ hững, nói tiếp, "Ngươi không phải kẻ ngu dốt, kể từ ngày công chúa gõ cửa cung giữa đêm, ngươi hẳn đã nghĩ đến việc này?"

Ta lặng thinh, gật đầu.

"Nếu ngươi đủ thông minh thì đã thỉnh tội trước khi đài gián chỉ trích, tìm một lý do đại khái như hầu chủ thất trách, từ chức chủ quản phủ công chúa, tự xin rời xa công chúa, hình phạt phải chịu sẽ nhẹ đi phần nào, hoặc giả, còn có thể ở lại Đông Kinh.

Nhưng ngươi chẳng hề làm vậy, lẽ nào là còn ôm hi vọng, cho rằng công chúa có thể che chở được cho mình?"

Ngài hỏi ta.

Ta cười buồn bã, đứt quãng đáp: "Không ạ.

Kể từ ngày gõ cửa cung ấy...

Có khi còn sớm hơn, thần đã tự biết rõ, sớm muộn cũng sẽ đến một ngày thần phải trả giá đắt cho những gì mình gây nên, không thể không rời khỏi công chúa...

Nếu công chúa không trông thấy thần, người ắt là sẽ khổ sở lắm...

Nếu đến cùng ly biệt vẫn phải đến thì hãy cố sao cho nó đến muộn thêm đôi chút...

Thế nên thần không muốn đi thỉnh tội trước, hi vọng có thể bảo vệ công chúa thêm ít ngày, thẳng đến khi bị cưỡng chế biếm trục...

Còn hình phạt nặng nhẹ, trục xuất xa gần đều không quan trọng, dù sao cũng chẳng phải bên cạnh công chúa, nơi nào cũng như nhau."

Nghe xong câu trả lời của ta, kim thượng từ trên cao nhìn xuống ta với ánh mắt phức tạp sâu xa ý vị, lát sau, bỗng nhắc đến Trương tiên sinh: "Ngươi là học trò của Trương Mậu Tắc, ta từng cho rằng ngươi rất giống hắn, giờ xem ra, cái ngươi học được từ hắn cũng chỉ bất quá chút da lông thôi."

Ta khom người nói: "Thần xưa nay vẫn luôn ngu dốt."

Kim thượng chăm chú nhìn ta, sắc mặt lạnh lùng ban đầu dần hòa hoãn như băng tan thành nước: "Nếu vậy thì ngươi nên cảm thấy may mắn vì mình ngu dốt.

Nếu ngươi học Mậu Tắc mười thành đủ mười mà gây ra chuyện bây giờ, ta nhất định sẽ giết ngươi."

Thoáng dừng lời, ngài lại xua tay thở dài, "Cơ mà, nếu ngươi thật sự tu được đến cảnh giới của Mậu Tắc thì há lại để tình thế phát triển đến mức này?"

Ta cũng không tiếp lời, chỉ nghe ngài nói tiếp: "Nhưng chính bởi ngươi không giống hắn nên ta mới có cái lòng thương xót này cho ngươi...

Người khôn giữ mình, thận trọng từng bước dầu rằng không sai, nhưng cuộc đời cứ mãi như vậy thì chẳng phải rất nhạt nhẽo ư?"

Thấy ta hồi lâu không cất lời, ngài lại hỏi ta: "Trước khi rời kinh, ngươi còn nguyện vọng gì không?"

Nụ cười cuối cùng dành cho ta đầy ắp thiện ý.

Ta nâng tay ngang trán, trịnh trọng hành đại lễ hạ bái ngài, sau đó nói: "Thần chỉ hi vọng đừng để công chúa nhìn thần rời đi."

Ngày kế, công chúa dậy từ rất sớm, yên lặng đợi thị nữ thu dọn hành trang về phủ công chúa.

Ta mặc y phục văn sĩ lên người theo đúng ý nàng như trước, bảo bọn tiểu hoàng môn cũng sắp xếp quần áo vật dụng cho ta, tưởng như thật sự sắp theo nàng trở về.

Ta nhất nhất tra hỏi tỉ mỉ các cung nhân sự vụ từng nơi từng chốn trong phủ ngày hôm nay, gắng cho mọi thứ tận thiện tận mỹ, đến cầu hương bạc treo trong xe liễn của công chúa, ta cũng tự tay sờ thử xem nhiệt độ đốt hương có thích hợp hay chăng.

Lúc tiếng trống lên triều vọng từ Thùy Củng Điện tới, ta đang cầm đũa hương, điều chỉnh một miếng hương phẩm hơi quá nặng khói trong cầu hương.

Nghe tiếng trống nặng nề, ta không khỏi khựng lại, nghĩ đến hoàng mệnh trục xuất ta sắp được tuyên bố trên triều, đũa hương trong tay liền hạ xuống từng chút.

"Hoài Cát!"

Bất đồ, công chúa gọi ta từ phía sau.

Tay ta run lên, hương phẩm gắp trong tay rơi xuống, rơi lên cổ tay trái đang nâng cầu hương của ta, hơi bỏng, ta vội rụt tay về, cầu hương lập tức nhanh chóng rủ xuống, mấy lớp cơ quan đung đưa chạm vào nhau, phát ra nho nhỏ một chuỗi tiếng chuông bạc, tựa tiếng cười của công chúa lúc này.

"Huynh đang nghĩ gì thế?

Hồn chẳng đặt tại đây gì cả."

Nàng lấy quạt che miệng, cười hỏi ta.

Kim thượng đặc biệt cho phép Miêu hiền phi đưa nàng về hôm nay, có mẫu thân bên cạnh nên tâm trạng công chúa có vẻ cũng không tệ lắm.

"À, thần chỉ đang nghĩ, cầu hương trong xe bị xỉn màu rồi, trở về nên đổi xuống lau."

Ta trả lời, mặt không đổi sắc.

Nàng vẫn cười xán lạn, lại nói với ta thêm mấy câu.

Ta mỉm cười tỏ vẻ lắng nghe, nhưng nội dung lời nàng chẳng lọt vào tai, nom nàng tinh thần phấn chấn, trong lòng buông một tiếng thở than: "Xinh đẹp biết bao ôi nụ cười, tiếc rằng ta chẳng thể thấy lại được nữa."

Người hộ tống công chúa về phủ vẫn là của Hoàng thành ty, nhưng nội thị đi theo hôm nay nhiều hơn hẳn, bởi một nửa trong số đó có nhiệm vụ khác – đi đến giữa đường sẽ áp giải ta rời đi, đưa ra ngoài thành.

Ta vẫn giục ngựa đi theo cạnh xe công chúa như mọi khi.

Lúc ra khỏi Tuyên Đức Môn, men theo đường Chu Tước tới gần chùa Tướng Quốc, đô tri Đặng Bảo Cát dẫn đầu nội thị Hoàng thành ty đưa mắt ra hiệu với ta, ta hiểu ý, lập tức lặng lẽ ghìm ngựa quay đầu, chuẩn bị rời đi.

Song, như có cảm ứng, công chúa bỗng vén rèm, hoảng sợ gọi ta: "Hoài Cát, huynh định đi đâu?"

Ta dừng lại, nhìn vài ba người du hành phía trước đang trên đường lên chùa Tướng Quốc dâng hương, tìm được cái cớ, bèn xoay người đáp: "Công chúa, thần muốn lên chùa Tướng Quốc, mua ít thịt lợn nướng cho công chúa."

Nàng ngờ vực quan sát ta, ta vẫn duy trì nụ cười mỉm không một kẽ hở, không cho nàng tìm ra chút dấu tích nào.

Lát sau, nàng cũng cười: "Thịt nướng đúng là rất được, nhưng huynh muốn mua cũng đâu nhất thiết phải tự mình đi?

Sai đại một tiểu hoàng môn đi cũng được mà."

Ta cười nhạt nhòa: "Không được đâu ạ.

Quanh thân con lợn lắm thịt vậy, chúng nó không biết chỗ nào ngon, không biết chọn."

Nghe vậy, công chúa không khỏi bật cười khúc khích, rốt cuộc cũng bằng lòng: "Vậy được, huynh đi đi.

Có điều sắc trời không tốt, xem chừng sắp mưa, huynh đi nhanh về nhanh, bắt kịp ta chong chóng vào đấy."

Ta tự nhiên ứng lời.

Nàng chớp mắt, lại nói: "Ta không ăn mỡ đâu, muốn ăn nạc."

Ta ngậm cười bảo: "Thịt nướng nên lấy nửa nạc nửa mỡ, có chút dầu mỡ vị sẽ ngon hơn."

"Không!", nàng kiên quyết lắc đầu, "Ăn mỡ sẽ béo lên mất."

Người chung quanh nghe thấy đều rộ cười, lại khiến công chúa có phần xấu hổ, thẹn thùng sẵng giọng: "Cười cái gì mà cười?

Còn không mau đi!"

Nàng buông tay, dung nhan ẩn vào sau bức rèm, xe liễn lại tiếp tục lăn bánh.

Ta cưỡi ngựa đứng đó, dõi theo nàng đi xa, tiếp đó xoay người nói với Đặng đô tri đang ở bên cạnh đợi áp giải ta ra thành: "Hoài Cát có một yêu cầu quá phận, mong đô tri chấp thuận."

"Nói đi."

Đặng đô tri đáp, ánh mắt nhìn ta đậm màu cảm thông.

"Đô tri có thể cho tôi thêm chút thời gian, để tôi lên chùa Tướng quốc mua ít đồ, đợi tôi ra khỏi thành rồi, đô tri mang đến phủ công chúa giao cho công chúa, có được không ạ?"

Y hẳn đoán ra được ta muốn mua gì, cũng thở dài: "Được, ta đi với cậu."

Đến trước Thiêu Chu Viện, Đặng đô tri dẫn chư nội thị Hoàng thành ty dừng lại, chờ bên ngoài, bảo ta một mình vào trong.

Bán hàng trong Thiêu Chu Viện ngày ấy không phải đại hòa thượng Huệ Minh, cũng không phải đồ đệ ta từng gặp của ông, mà là một vị phu nhân vóc dáng khỏe mạnh.

Nhác thấy ta lại gần, thị lập tức đứng lên, niềm nở bắt chuyện: "Lang quân muốn mua thịt nướng phải không?

Hiện giờ vừa may mới nướng xong một mẻ, hãy còn nóng bỏng tay đây này!"

Ta vào trong lựa, vừa xem xét vừa thuận miệng hỏi thị: "Huệ Minh đại sư không có trong tiệm ạ?"

"Khỏi nhắc đến lão già đó!"

Vị phu nhân tay trái chống nạnh, tay phải phe phẩy cây quạt bồ to bè, căm hận nói: "Trưa hôm qua lão ấy uống một vò rượu lâu năm xong nằm thẳng đơ trên giường, đến giờ vẫn chưa dậy nổi kia kìa!"

Ta ngạc nhiên với giọng điệu của thị, ngẫm nghĩ một chốc mới nhớ ra trước đây từng nghe nói Huệ Minh cưới vợ, kẻ sĩ trong kinh hay gọi đùa bà ấy là "Phật tẩu", xem ra chính là vị phu nhân trước mặt đây!

Ta bèn chắp tay với thị: "Nương tử là 'Phật tẩu' ạ?

Ban nãy không biết, thất kính thất kính."

Thị khoát tay: "Ôi dào!

Phật tẩu cái gì chứ!

Toàn là mấy người đọc sách các cậu gọi trêu thôi, nói thật, tôi còn khuya mới muốn làm vợ tay hòa thượng rượu thịt kia!

Sống với lão ấy, sớm muộn gì cũng bị lão chọc cho tức chết mất thôi!"

Nói thì nói vậy, song khi nhắc đến Huệ Minh, trong mắt thị ánh lên tia ấm áp, vẻ mặt ấy như đã gặp đâu đây, tựa dáng vẻ Nhược Trúc hờn Phùng Kinh vậy.

Ta cười đáp lại, không tiếp tục chủ đề này, chỉ vào một miếng thịt nướng đã chọn xong, nhờ thị cắt cho phần thịt nạc.

"Lạc quân muốn lấy thịt nạc, nhất định là do nương tử cậu dặn thế phải không?"

Phật tẩu vừa cắt vừa hỏi.

Ta không nói thêm nhiều, chỉ gật đầu đáp phải.

Phật tẩu cười: "Lang quân săn sóc nương tử thế, hẳn là cô nhà xinh đẹp lắm?"

Ta mỉm cười, nhớ đến mắt mày công chúa, trong lòng ấm sực như tắm trong nắng xuân: "Phải ạ, nương tử tôi là người con gái đẹp nhất thế gian này."

Từ Thiêu Chu Viện đi ra, ta đưa thịt lợn nướng cho Đặng đô tri rồi lập tức lên ngựa, đầu không ngoảnh lại phóng ra ngoài thành, phi băng băng làm nội thị Hoàng thành ty có dạo còn tưởng là ta muốn chạy trốn.

Họ từng người thúc ngựa đuổi theo, mà ta cũng chẳng giải thích gì, một mạch ra roi phi nước đại, thẳng đến lúc chạy tới một gò núi ngoài thành mới ghìm cương đứng lại.

"Công chúa bây giờ...thế nào rồi?"

Câu hỏi ấy nảy ra trong đầu, ta bi thương ngoái đầu, cặp mắt ươn ướt đón lấy mưa bụi heo may tung bay khắp trời, nhìn cung khuyết thiên gia bị che phủ dưới mây khói màu mực đạm nơi xa, nói lời từ biệt cuối cùng với tòa thành trì đang giam nhốt người ta yêu này.

3.

Đấu trà

Cung Tây lầu Nam rậm thu thảo, lá rụng chẳng quét đỏ lựng thềm (*).

Ý cảnh thê lương câu thơ này miêu tả, phải đến khi bước chân vào đại nội Tây Kinh rồi, ta mới lĩnh hội được sâu sắc.

(*) Hai câu trong bài "Trường hận ca" của nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường.

Lạc Dương là kinh đô của đế vương thời xưa, cũng là bồi đô (*) của quốc triều, suối ngọt đất lành, gió nhẹ trời trong.

Kế thừa y quan nếp sống còn sót lại của Hán Đường, sĩ phu quốc triều cũng chuộng nơi này hơn, thường cất ốc quây vườn, xây đài dựng tạ, trồng trọt cỏ cây ở đây, hằng năm tới vui chơi thưởng ngoạn.

Bởi vậy nên trong thành Lạc Dương, lâm viên sĩ phu san sát, hoa cảnh tươi tốt, nức danh thiên hạ.

(*) Thời phong kiến Trung Quốc có chế độ lưỡng kinh: ngoài kinh đô ra thì còn có một kinh đô phụ, gọi là bồi đô (陪都), thiết lập dựa trên tình hình chính trị, quân sự của đất nước, bồi đắp những thiếu sót của kinh đô, hình thành sự phối hợp giữa hai kinh.

Nhưng cơ hội giá lâm Lạc Dương của hoàng đế lại không nhiều như chúng sĩ phu, thường chỉ khi đi yết kiến lăng tẩm chư đế mới tiện đường tạt vào, lâu lâu trú chân dăm ba ngày, thế nên mức độ được coi trọng của cung thành Tây Kinh kém xa đại nội Đông Kinh.

Từ Tùy Đường kéo dài đến giờ, cung thất đã hỏng hóc kha khá, hoàng đế quốc triều cũng không có ý định trùng tu, quan viên sứ thần trông coi đại nội phần lớn đều dùng phương pháp vặt đầu cá vá đầu tôm để tu sửa, thường dỡ hai gian phòng cũ sửa thành một gian phòng mới, ngày nay, quy mô cung thành đã thu hẹp lại rất nhiều, không còn thịnh cảnh tiền triều nữa.

Vách đổ tường xiêu nhiều nên nơi đây cũng trở thành cõi yên vui cho cỏ hoang quạ đen sinh sôi nảy nở.

Lúc ta đến đương giữa hoàng hôn, một vị lão nội thị lưng gù eo cong dẫn ta tới cung viện nơi ta nương thân lâu dài sau này, mới mở cửa viện, chưa bước vào đã nghe thấy một trận chim chóc vỗ cánh nghe phành phạch, đám se sẻ quạ đen bị kinh động lũ lượt bay lên cành cây gần như đã rụng sạch lá, thấy chúng ta giẫm lên lớp lá khô dày đặc đi vào, chúng nhanh chóng khôi phục lại thần sắc bình tĩnh, cao ngạo quay đầu sang phía khác, dùng tiếng âm "quang quác" đơn điệu hùng hồn của mình ca hát cùng gió tây.

Trong lúc ta nghe tiếng quạ kêu, lão nội thị lấy một chiếc chìa khóa ra, run lập cập mở ổ khóa một gian cung thất.

Sau khi đẩy cửa, ông vung phất trần, quét phủi mạng nhện giăng chằng chịt trên xà dưới cột trước rồi mới ra hiệu bảo ta đi vào, nói: "Chính là ở đây."

Ta mất trọn ba ngày mới dọn dẹp được chốn này thành một chỗ có thể ở được, lại qua vài ngày nữa, một nội thị mới quen trong sái tảo ban đến thăm vỏ ốc này của ta, vừa thấy tình hình đã cả cười: "Sạch sẽ thế, vẫn còn giữ thói quen nếp sống ở Đông Kinh à, cậu hẳn vẫn còn muốn quay về."

Sau, ta mới để ý thấy nội thị nơi đây không hề giống nội thị Đông Kinh, chán chường lại lười nhác, chỗ ở của mình và cung viện các nơi đều lộn xộn bừa bãi, mà họ cũng khuyết thiếu động lực dọn dẹp, có làm việc cũng chỉ đưa chổi hai cái khi có mặt đô giám.

"Quét sạch vậy làm gì?

Dù sao trời cao hoàng đế xa, quan gia cũng có nhìn đến đâu."

Họ nói.

Về cơ bản, họ đều là hoạn giả từng phạm lỗi, đã chẳng còn hi vọng nào trở về được Đông Kinh, cuộc đời không ai ngó ngàng đến cũng như cung thành vậy, ngày một hiu quạnh theo tháng chảy năm trôi, tựa hồ ý nghĩa của việc sống tiếp chỉ là để vứt chổi, híp mắt, nằm ườn trong đình viện có nắng mà ăn bơ làm biếng.

Ta không dành quá nhiều thời gian vào việc chuyện phiếm với họ, dầu cho họ rất có hứng thú với quá khứ của ta.

Trong mắt họ, ta đại khái rất trầm lặng ít nói, suốt ngày chỉ biết cắm cúi cầm chổi quét dọn khoảnh sân mãi mãi quét không sạch, cứ như thể chức vụ hiện tại của ta yêu cầu vậy.

Một ngày giữa tháng Giêng năm Gia Hựu thứ sáu, ta đương quét dọn trước đại điện như thường lệ, chợt có người lại gần, một góc áo xanh lọt vào tầm mắt ta.

Ta ngẩng đầu, sợ là bụi bặm tung lên đã làm bẩn xiêm y người nọ, đang định xin lỗi thì cái ngước mắt này đã giúp ta nhìn rõ được gương mặt người đến, nhất thời sửng sốt.

Người ấy mỉm cười ôn hòa, gọi tên ta: "Hoài Cát.", ta vừa mừng vừa sợ, tay buông lỏng, cái chổi rơi xuống đất, ta vái người ấy một vái thật sâu: "Trương tiên sinh."

Chức vụ cụ thể của Trương Mậu Tắc hiện tại là binh mã kiềm hạt Vĩnh Hưng Lộ, chưởng quản cấm quân phủ Kinh Triệu Trường An đóng quân, phòng thủ và rèn luyện.

Thầy nói với ta chuyến này thầy đảm đương nhiệm vụ sứ thần Vĩnh Hưng Lộ vào kinh báo cáo, hồi cung chúc mừng xong lại trở về Trường An, trên đường đi ngang qua Tây Kinh, biết ta hiện đang ở đây, bèn đến thăm ta.

Ta mời thầy vào phòng ở của mình, định ra ngoài chuẩn bị chút rượu với món nhắm thì bị thầy bảo thôi: "Đó giờ ta không uống rượu, cũng không thích thức ăn tanh mặn.

Chỗ ta vừa vặn có mang theo một bánh trà tiểu long hoàng hậu ban thưởng, hôm nay tương phùng, không bằng lấy trà thay rượu có được chăng?"

Ta biết thầy xưa nay không có sở thích gì, chỉ yêu uống trà, cũng bèn đồng ý, lập tức đi tìm trà cụ trong lúc đợi đun nước châm trà.

Trương tiên sinh lấy từ hành lí mang theo ra một bánh trà tiểu long, cũng tự cầm ra một bộ trà cụ, ấm đun và cối trà, muỗng trà bằng bạc, phối với vải lọc trà bằng lụa vẽ hình ngỗng lội khe suối cùng chung trà lông thỏ men đen Kiến An (*), đều là dụng cụ châm trà cực phẩm được người đời tôn sùng.

(*) Chung trà lông thỏ là mặt hàng quý trong các loại chung trà men đen do lò Kiến Dương, Phúc Kiến thời Tống chế tác, bởi có vân dài mảnh như lông thỏ nên có tên là vậy.

"Những thứ này cũng là hoàng hậu thưởng ạ?"

Ta chỉ vào trà cụ, hỏi thầy.

Thầy xua tay, đáp: "Đây là quan gia ban cho."

Ta lấy làm bất ngờ, lại cười nói: "Vậy hẳn tiên sinh sắp hồi kinh rồi."

Thầy chỉ cười đáp: "Hãy sớm."

Thầy không nói thêm nữa, ta cũng không tiếp tục truy vấn, một khắc tiếp đó chỉ lặng thinh xem thầy đổ dầu cao lên bánh trà tiểu long, dùng một tấm giấy sạch bao lại đập nhỏ ra rồi lấy một số lượng vừa đủ bỏ vào cối trà bạc hình thuyền, bắt đầu tỉ mỉ nghiền vụn bằng bánh xe duy nhất trong đó.

Bánh trà long phượng là trà cống của Bắc Uyển, núi Phượng Hoàng, Kiến Châu, trên bánh trà có dấu hoa văn long phượng, bánh trà đại long phượng một cân mười bánh, mà lượng cống một năm cũng không quá mười cân.

Màu trà trắng sữa, vừa mở cối ra, bụi ngọc đã bay vờn, hương trà tỏa khắp phía, chưa vào cửa đã thấm ruột thấm gan.

Trương tiên sinh thấy ta nhìn không dời mắt, bèn cười khẽ hỏi ta: "Tài nghệ châm trà của cậu bây giờ thế nào?"

Ta cúi đầu đáp: "Khó trông đến bóng lưng tiên sinh."

Thầy liếc những khối vụn còn dư không dùng đến của bánh trà, nói: "Cậu cũng châm đi, chúng ta đấu thử một phen."

Ta nhất thời dậy hứng, cũng không chối từ, lấy ít khối trà xay nghiền, sau đó hai người bọn ta từng người bắc ấm lên bếp trà đun nước, chuẩn bị đấu trà.

Trong lúc đợi nước sôi, chúng ta đều tỉ mỉ rây trà vụn đã nghiền qua vải lọc, chốc sau, nghe thấy tiếng ấm sôi như mưa gió táp lên cây tùng, bèn nhấc ấm tráng nóng từng chung, lại bỏ vụn trà vào, rót chút nước nóng vào hòa đều, làm cao trà tan ra thành trạng thái như keo lỏng, rồi lại nhấc ấm lên, ta cầm một cây chổi đánh bằng trúc, Trương tiên sinh cầm một chiếc thìa bạc, mỗi người đều rót trà vào chung đồng thời đánh quấy trong chung mình.

Động tác hai ta như nhau, thời gian hoàn thành mỗi phân đoạn cũng không mấy sai lệch.

Giữa chừng ta liếc trộm quan sát động tác của Trương tiên sinh, thầy vẫn một mực cụp mắt làm việc của mình, không hề ngó ta lấy lần nào.

Lá trà vốn có khả năng sinh váng bọt, trong trà Kiến (*) lại có chút bột gạo, theo động tác đánh quấy, bọt sữa cuộn trào, dâng ngập trong chung, nổi lên từng đóa hoa sữa bọt vụn trắng ngà, xoay vòng ngưng tụ mà bất động, trong trà nghệ gọi ấy là "cắn chung".

Mà đấu trà thắng bại chính là ở thời gian hoa sữa cắn chung dài ngắn, đồng thời đánh quấy rồi đợi chốc lát, hoa sữa trong chung ai tan rã, để lộ ngấn nước đầu tiên thì là thua.

(*) Chỉ Phúc Kiến, kinh đô trà của Trung Quốc.

Chúng ta dừng động tác đánh quấy gần như cùng lúc, gác lại trà cụ trong tay, đặt chung trà song song một chỗ lên khay đỡ, yên lặng đợi kết quả thi đấu.

Chung trà ta dùng là một chén sứ ảnh thanh miệng rộng đế tròn nhỏ có hoa văn sen xanh, thành mỏng chất láng, hoa sữa đựng bên trong tràn ngập bạch trà, như lá sen nâng bông tuyết trắng, mà chung trà lông thỏ Trương tiên sinh dùng thì thành dày, thoạt nhìn có vẻ dung dị tự nhiên, song quan sát kĩ có thể nhìn thấy dưới đáy chung trà men sứ xanh đen rải rác những sợi vân màu trắng bạc dạng tia tỏa, mảnh mai như lông thỏ, tinh xảo không lời tả xiết, mà có chung trà tôn sắc, một đen một trắng, càng thêm nổi bật màu trà.

Thoạt đầu, hoa sữa trong chung trà của hai ta hình dáng tương tự, nhưng đợi một chốc là có thể nhìn ra hoa sữa trong chung trà ảnh thanh đã mỏng đi phần nào, tốc độ tan rã nhanh, bọt nước li ti không ngừng nổ vỡ, từng lớp từng lớp biến mất, cuối cùng hiện ra một vòng ngấn nước ở giữa.

Mà hoa sữa trong chung lông thỏ vẫn cắn chung như cũ, chưa mảy may hiện màu sắc nước.

Ta khom người, mỉm cười: "Hổ thẹn quá, Hoài Cát thua tiên sinh nước này rồi."

Trương tiên sinh cũng mỉm cười nhìn ta, hỏi: "Trà và nước chúng ta dùng lần này đều giống nhau, cậu biết mình thua ở đâu không?"

Ta ngẫm nghĩ, lắc đầu nói: "Thỉnh tiên sinh chỉ giáo."

Trương tiên sinh bèn liệt kê từng lí do: "Đầu tiên, vải lọc trà của cậu lỗ không đủ nhỏ, số lần rây không nhiều bằng ta, mà trà vụn dùng để châm trà cần phải thật mịn, vào nước nóng mới dễ nổi, giúp hoa sữa hút hết được vụn trà nước trà; thứ hai, lúc cậu tráng nóng chung, nước rót không đủ, chung trà chưa nóng tới, làm ảnh hưởng đến vụn trà nổi lên, nên không bền; tiếp nữa, cậu tráng nóng chung xong là vội vã hòa cao rót nước ngay, khiến nước châm trà quá nóng, quá chín trà sẽ chìm, cần đợi thêm đôi lát cho nước trong ấm dừng sôi rồi mới bắt đầu châm trà; ngoài ra, cậu rót nước hơi nhiều, thế nên trà thiếu nước dôi, đế mây mới dễ tan, lúc đấu trà chỉ cần rót nước đầy bốn phần chung là được; cuối cùng, động tác đánh quấy của cậu quá mạnh, dục tốc bất đạt, nên rót quanh mép chung, làm nước nóng men theo vách chung chảy vào trong chung, động tác khuấy cao trà ban đầu cũng đừng quá mau, từ từ khuấy đảo, dần dần gia tăng đánh quấy, ngón tay xoay theo cổ tay, trên dưới thấu triệt, mới có thể làm màu sắc nước trà dần óng lên, hoa sữa châu tròn ngọc sáng, bền lâu chậm tan."

Ta vô cùng thán phục, xấu hổ cảm tạ, thầy lại mỉm cười, nói một câu như bâng quơ: "Sai lầm lớn đều là do liên tiếp những sai lầm nhỏ tạo thành."

Ta cụp mắt ngẫm ngợi cẩn thận lời thầy, hồi lâu sau mới hỏi lại: "Lúc tiên sinh châm trà không hề nhìn sang tôi, sao biết vải lọc trà của tôi lỗ không nhỏ, tráng chung không đủ nóng, đánh quấy quá mạnh?"

"Việc này chưa chắc đã phải nhìn chằm chằm mới biết."

Thầy đáp, "Xem kết quả cũng có thể nhìn ra ngay quá trình bên trong."

4.

La La

Ta nghe ra thầy ý tại ngôn ngoại, trong lòng dậy lên một cảm giác xấu hổ khó tả, thầy cũng chỉ im lặng nhìn ta, không nói thêm gì khác.

Mãi đến khi hương đốt đã tàn, chung trà nguội lạnh, ta mới mở miệng: "Tiên sinh đã nghe kể hết chuyện tôi rồi?"

Thầy trả lời: "Nghe một ít, không nhiều."

Ta đắn đo hồi lâu, cuối cùng vẫn không kiềm chế được, hỏi thẳng thầy: "Công chúa hiện giờ thế nào rồi ạ?

Vẫn khỏe chứ?"

"Ta chỉ ở trong cung ba ngày, công chúa ở tại phủ người, ta không gặp được.

Có điều, tình hình người chắc không khả quan cho lắm."

Trương tiên sinh nói, thong dong thuật sự thật thầy được biết, "Nghe nói sau khi cậu đi, quan gia đã đuổi toàn bộ nội thần có phẩm giai trong phủ công chúa, đồng thời hạ lệnh cắt giảm nhân số, thay đổi biên chế, từ nay hủy bỏ chức vụ đô giám, chọn một vị nội thần bốn mươi tuổi trở lên và một vị sứ thần Tam ban viện trên năm mươi tuổi làm chủ quản phủ công chúa, ngoài ra tiểu hoàng môn hầu hạ công chúa tuổi tác cần phải dưới mười lăm.

Sau, điện trung thị ngự sử Lữ Hối lại dâng tấu, nói Xương Lê quận quân Hàn thị, nhũ mẫu của Duyện quốc công chúa, từng xúi bẩy công chúa xin quan gia thăng cháu rể mình làm nhuận văn quan (*), còn từng trộm y phục vật dụng trong phủ công chúa về nhà riêng, xin quan gia tra xét việc này.

Ngay sau đó, quan gia đã hạ chiếu cách chức nhuận văn quan, lại tước phong hiệu quận quân của Hàn thị, không cho thị hầu hạ công chúa nữa."

(*) Chức quan phiên dịch kinh phật, chỉnh lý văn tự.

Ta cả kinh, hỏi: "Đến Hàn quận quân cũng không ở bên công chúa?"

Trương tiên sinh gật đầu: "Hiện giờ nội thần trong phủ công chúa chẳng già cũng bé, hơn nữa đa phần đều là người công chúa chưa từng biết trước đây.

Người cũ ở lại bên người e rằng cũng chỉ còn lại hai, ba thị nữ."

Thầy dụng tâm nhìn ánh mắt ta lúc này, lại nói: "Trước đây khi cậu phạm sai lầm, chắc hẳn đã đoán tình cảnh của mình bây giờ, thậm chí là xem nhẹ sinh tử, nhưng đối với tình trạng công chúa có thể gặp phải, cậu đại khái không ngờ hết được toàn diện phải không?"

Ta nghiêng đầu tránh khỏi cái nhìn thẳng tắp của thầy, dời mắt sang nơi khác, song trong mũi cay xè, hốc mắt ướt lệ, cảnh tượng trước mặt cũng dập dềnh như sóng đánh, căn bản không cách nào nhìn được rõ ràng.

"Hoài Cát," Trương tiên sinh một lần nữa gọi tên ta, giọng ôn hòa mà điềm tĩnh, "Ta hỏi lại cậu, cậu có biết mình sai ở đâu không?"

Ta gian nan nuốt cơn đau như nổi hình nổi khối tắc nghẹn trong cổ họng, thấp giọng trả lời theo những gì chư ngôn quan định tội ta: "Tôi ngôn hành ngả ngớn không giữ mình cẩn trọng, coi thường tôn ti, dĩ hạ phạm thượng..."

"Cậu đã đi quá giới hạn."

Không đợi ta nói xong, Trương tiên sinh đã trực tiếp nói với ta kết quả chẩn đoán của mình, "Tạm thời không bàn đến tôn ti thượng hạ, chỉ xét thân phận của chúng ta thôi đã khác với người thường rồi, chúng ta căn bản không có tư cách truy tầm những thứ nam nhân bình thường sở hữu."

Thấy ta lặng thinh không tiếp lời, thầy lại hỏi: "Cậu có nghĩ đến chuyện nếu lần này không bị ngôn quan để ý đến, cậu và công chúa sẽ phát triển đến đâu không?"

Ta trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng vẫn lựa chọn lắc đầu.

Trương tiên sinh tiếp tục: "Ái tình như rượu thuần, dễ khiến người say nghiện, chẳng biết đủ trên môi.

Hai người nếm một ngụm rồi, khó tránh khỏi sẽ nếm thử nhiều hơn, đến cùng, cậu liệu có khác gì hạng hoạn giả ti tiện mà ngôn quan chỉ trích?"

Ta cúi đầu thụ giáo, không hé răng một chữ.

Thầy hơi dừng lại rồi hỏi một câu khiến ta bất ngờ: "Huống hồ, để người trong lòng cậu trông thấy cơ thể tàn khuyết của cậu rồi thì cậu còn tôn nghiêm gì đáng nói nữa?"

Giọng thầy đó giờ vẫn không nóng không lạnh, bình đạm như nước đọng ngày thu, nhưng câu này lại mang mũi nhọn sắc bén, đâm thẳng vào chỗ yếu ớt nhất trong lòng ta.

Ta hãi hùng ngước mắt nhìn thầy, thấy trong ánh mắt chăm chú thầy soi vào ta hàm ý vị thương xót, lát sau cụp hờ xuống, một chấm sáng nhàn nhạt chớp vụt, thầy buông một tiếng thở dài, thoáng để lộ đôi chút sầu não hiếm có khó gặp: "Kể từ khoảnh khắc chúng ta tịnh thân, chúng ta đã cách biệt với ái tình.

Chúng ta có thể sẽ có rất nhiều thân phận trong đời, nhưng vĩnh viễn không thể thực sự trở thành chồng của một nữ tử hay cha của một đứa trẻ, mà hạnh phúc của nữ tử thì đều đến từ hôn nhân và gia đình, thế nên chúng ta có muốn trao hạnh phúc cho bất kỳ một nữ tử nào cũng đều là bất khả thi...

Chúng ta vốn đã trắng tay, nếu cậu quý trọng ai đó thì hãy cách xa người ấy ra một chút, đừng gây trở ngại đến cuộc sống của người ấy và phu quân, cũng hãy cố hết sức giữ lấy cho mình chút tôn nghiêm còn lại."

Ta rầu rầu ngẫm ngợi, cuối cùng gượng cười: "Tiên sinh đừng lo.

Tôi đã bị cách chức đuổi đến tận đây rồi, cả đời này cũng sẽ chẳng dính dáng đến bất kỳ nữ tử nào nữa."

Trương tiên sinh im lặng, bưng chung trà lên nhấp một ngụm, lại nói: "Ta chỉ thích uống trà, bởi thứ ấy không khiến người ta say, nhưng nếu cảm kĩ nghĩ sâu sẽ thấy, tuy không đẹp bằng rượu thuần song thấm ruột thấm gan.

Hơn nữa, mùa có xuân hạ thu đông, ngày có tròn khuyết râm hửng, lúc châm trà, nhìn hoa sữa từ nổi đến tan, cũng giống như trải qua một quá trình sinh thành, nắm bắt, suy bại, tan biến...

Vạn vật thế gian đều là vậy, vòng đi vòng lại, tất cả đều có số, chớ nên quá cưỡng cầu.

Chuyện khi trước đã tiêu tan rồi thì cũng đừng khổ sở quá, chẳng bằng điều chỉnh cõi lòng, ung dung đối mặt với cuộc sống về sau, biết đâu một kiếp sống thanh minh trong sạch khác sẽ lại bắt đầu."

Trương tiên sinh đi rồi, trong một khoảng thời gian rất dài, ta vẫn chẳng thể điều chỉnh được cõi lòng, gặt hái bình tĩnh và an nhiên như thầy nói.

Những tư lự về lời thầy và nỗi nhớ nhung công chúa đan vào nhau, trở thành nội dung không thể thiếu trong sinh hoạt của ta.

Ta nhổ một cây tử đằng vào trồng trong sân mình, trong hơn mười năm của quá khứ, ta đã coi sóc công chúa như chăm chút một cây hoa, mà hiện giờ, ta lại chăm chút cho cây tử đằng này như coi sóc công chúa, cố hết mọi khả năng mình có thể nuôi nó sum sê um tùm, không để một chiếc lá nào nhuốm màu vàng úa, không để một dây leo nào dính dấu sâu bọ, đến bụi trên mặt lá cũng làm ta chướng mắt, luôn cẩn thận từng li từng tí phủi đi, nếu nói cuộc sống ở Tây Kinh còn có niềm vui gì thì đó chính là từ những bận chăm hoa này mà ra.

Tiết Trọng Xuân, cây tử đằng của ta đơm kết hai chuỗi hoa chùm, treo rủ nơi đầu cành, xán lạn tựa ráng mây, ẩn bên trong thường có hoàng anh ca hót, hệt như ý thơ của Lý Thái Bạch: "Lá dày giấu chim ca, hương níu người lưu luyến." (*)

(*) Bài "Tử đằng thụ" của Lý Bạch.

Ta yêu thích loài hoa này vô cùng, chẳng chịu cho ai chạm đến, bởi vậy nên không tiếc lạnh mặt đối đãi với người khác.

Song, cũng có lúc ngoại lệ.

Một hoàng hôn nọ, ta làm xong việc quay trở lại chỗ ở, ngồi trong phòng nghỉ ngơi, theo thói quen dõi mắt qua song cửa xem cây tử đằng ngoài sân, lại vô tình phát hiện dây leo rung rung như bị ai lôi kéo.

Ta lập tức rảo bước ra ngoài, thấy một cô bé còn thơ đang giẫm lên một tảng đá, một tay kéo cành tử đằng, một tay gắng sức vươn lên, hiển nhiên là muốn hái hoa.

Ta cao giọng quát ngăn, cô bé hoảng sợ, trượt chân ngã từ trên tảng đá xuống.

Nó tức khắc khóc ré lên, ta vội tiến lại đỡ nó dậy, thấy nó quả tình chỉ là một đứa bé, dáng dấp lại xinh xắn đáng yêu, cơn giận ban đầu thoắt chốc nguôi đi, lòng cũng mềm xuống, bèn dịu dàng an ủi, lại hái mấy chuỗi hoa xuống cho nó, dùng dằng hồi lâu, con bé mới hơi nín nức nở.

Hai má nó trắng trẻo, mắt trong veo, nhìn kĩ lại có đôi phần tương tự công chúa thuở nhỏ.

Ta cảm thấy thân thương, mỉm cười hỏi cô bé: "Con tên gì?"

Nó hơi sợ sệt đánh giá ta, mãi sau mới chỉ vào cây nữ la bám trên một cội tùng, thỏ thẻ trả lời: "La La ạ."

Cô bé ăn vận không thể nói là tinh xảo, song cũng chẳng quá tuềnh toàng, hẳn không phải tiểu cung nữ.

Ta phỏng đoán thân phận nó, bèn hỏi tiếp: "Mẹ con là ai?"

Nó đáp: "Thẩm ty sức."

Thẩm ty sức là một nữ quan bị biếm tới đại nội Tây Kinh.

Nghe nói năm xưa bà chưởng quản việc khăn lược cho kim thượng, tính tình cởi mở, khéo nói hay cười.

Khi ấy kim thượng hãy còn là một thiếu niên mười mấy tuổi, chưa hành đại hôn, có lần Thẩm ty sức chải đầu cho kim thượng, hai người cười nói lôi kéo nhau nô đùa, chẳng may bị Chương Hiến thái hậu bắt gặp, thái hậu gán tội danh mê hoặc dụ chủ cho bà, biếm bà tới đây.

Kể từ đó, tính bà khác hẳn, trở nên kiệm lời, ít khi nói cười, lúc nào trông đến cũng là dáng vẻ cự người ngàn dặm.

Vậy hẳn cô bé La La này là con gái nuôi của Thẩm ty sức.

Ta thầm lấy làm cảm khái, cũng nhiều thêm mấy phần thương xót nó, vê vê sợi dây buộc tóc trên đầu nó, ta lại hỏi: "La La, con mấy tuổi rồi?"

Nó đáp: "Năm tuổi ạ, ngày mai lên năm."

"Ngày mai là sinh nhật con?"

Con bé gật đầu.

Ta quyết định tặng nó một món quà sinh nhật, quay vào phòng lấy một con dao rồi trở ra tìm một cành cây to bằng cánh tay chặt xuống, ngồi trong sân vùi đầu vào gọt đẽo chốc lát, vụn gỗ bắn ra, một cái đầu tượng gỗ tròn tròn dần thành hình.

Gọt xong đại thể rồi, ta tặng tượng gỗ cho La La, con bé mừng rỡ nhận lấy, nhìn tới nhìn lui, yêu thích vô cùng.

Ta nghĩ ngợi, lại cảm thấy tượng gỗ hơi thô kệch, bèn lấy về, định chuẩn bị khắc cho nó vài món trang sức y phục.

Điều này cần xác định thân phận và địa vị của tượng gỗ, thế nên ta hỏi La La: "

Sau này lớn lên, con có nguyện vọng gì không?"

Nữ tử trong cung thường đều có chức vị, ta định đợi nó nói ra mình muốn làm gì rồi cho tượng gỗ một bộ phục sức tương ứng, nhưng đáp án của tiểu cô nương lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của ta.

"Sinh em bé ạ!"

Con bé đáp, không chút nghĩ ngợi.

Ta sửng sốt, chợt cảm thấy mặt mình ran rát, nóng lên bỏng rẫy.

"À, ý ta là, sau này lớn lên con muốn làm gì."

Bình tĩnh lại, ta thử giải thích cho cô bé hiểu.

"Sinh em bé mà," Nó vẫn không thay đổi ước nguyện ban đầu, "Tốt nhất là sinh hai bé, một bé trai, một bé gái."

Ta gắng gượng nhoẻn cười, dù chính mình cũng cảm thấy nụ cười mình cứng ngắc: "

Sau này con muốn làm ty sức, ty dược hay thượng phục, thượng nghi..."

Ta còn đang suy nghĩ xem có nên liệt kê thêm nhiều chức vị nữ quan khác cho nó chọn không, nó đã sốt ruột đáp lại một lần nữa bằng giọng nói trong trẻo: "Con muốn làm mẹ."

Ta triệt để hết lời.

Sau một chốc trầm mặc, ta lại cầm dao lên, khắc trên thân tượng gỗ hoa văn nó ôm một đứa bé quấn tã.

La La rất vui, nhận lấy ngắm nghía một hồi rồi hí ha hí hửng chạy đi.

5.

Hồi cung

Tháng Tám nhuận năm Gia Hựu thứ sáu, đô tri Đặng Bảo Cát từ Đông Kinh đến, truyền cho ta một mật chỉ: Lập tức hồi kinh nhập cung nhậm chức ngay trong ngày, ta khá bất ngờ, chẳng ngờ chỉ sau một năm vẻn vẹn bị biếm trục, mình lại được hưởng ơn đại xá này.

Lúc thấy Đặng đô tri thần sắc nghiêm trang tuyên một mình ta vào thiên điện, ta còn tưởng rằng cái y mang tới là tờ chiếu lệnh ban chết.

"Là...công chúa tiến ngôn cho tôi ạ?"

Sau khi tiếp chỉ, ta nhỏ giọng hỏi Đặng đô tri đang nói lời "chúc mừng" với ta.

Đặng đô tri thở dài: "Chuyện công chúa làm cho cậu há có thể chỉ dùng hai chữ 'tiến ngôn' là khái quát được...

Sau khi phát hiện cậu rời kinh, người vào cung khẩn cầu quan gia cho vời cậu về, khóc cơ hồ muốn ngất, nhưng quan gia chỉ ôn hòa vỗ về, trước sau không nhận lời, làm công chúa khóc suốt ngày, bất kể là ở trong cung hay ở phủ công chúa, đối mặt với mỗi một người cố gắng khuyên nhủ, người đều chỉ phẫn nộ nói đúng một câu: 'Trả Hoài Cát lại cho ta!' Người treo cổ quyên sinh ở nhà đã chẳng phải lần một lần hai, dọa Miêu hiền phi sợ đến mức vội vàng xin quan gia vời người về ở trong cung, ngày ngày kèm cặp trông chừng, không dám tự ý rời đi một khắc.

Một năm nay, người cơ hồ chẳng khi nào vui vẻ, ngoài khóc lóc, van cầu, mắng mỏ giận dữ ra thì cũng chỉ còn ngẩn người và ngủ mê mệt.

Giữa tháng Bảy năm nay, Đổng quý nhân sinh hạ thập tam công chúa.

Có một hôm, Duyện quốc công chúa đến thăm cô em gái này, ôm thập tam công chúa đùa chơi, lúc ấy mới hơi thoáng hé cười.

Khi đó thập nhất công chúa đang ở cạnh Đổng nương tử, nhũ mẫu bón cháo cho người, người lắc đầu không chịu ăn, miệng cứ liên thanh nói 'khoai sọ', đại khái là đòi ăn bánh khoai sọ nghiền.

Duyện quốc công chúa nghe thấy lập tức ngơ ngẩn thất thần, bất động hơn nửa ngày.

Miêu nương tử thấy trạng thái người khác thường, lập tức bảo người bế thập tam công chúa đi, Duyện quốc công chúa cũng để mặc họ bế em đi, tự mình lặng lẽ ra ngoài.

Miêu nương tử theo người đi ra, dẫn người tới Hậu uyển giải sầu.

Công chúa vẫn rất yên tĩnh, nhưng lúc tới bên một miệng giếng, bỗng nhảy phắt xuống, người chung quanh không ai kéo nổi..."

Như ăn trọn một đòn giáng nặng nề, khí huyết trong ngực ta chảy xiết, giọng cũng run lên: "Công chúa...xảy ra chuyện rồi?"

May mà ta nhanh chóng trông thấy cái xua tay của Đặng đô tri: "Còn may phản ứng của bọn nội thị cũng nhanh, cấp tốc cứu người ra." y nói, "Miêu nương tử ôm người khóc tưởng như chết đi sống lại, còn công chúa thì không nói một lời, ánh mắt cũng không chút thần thái, hệt như người gỗ vậy, mãi đến khi quan gia tới, người mới mở miệng, lời nói ra vẫn là câu kia – 'Trả Hoài Cát cho ta.'"

Ta hơi cúi đầu, thầm ra sức cắn lưỡi trong im lặng, làm đau đớn nơi đây ức chế và giảm bớt cảm giác ở một chỗ khác, cho đến khi vị máu tanh ngai ngái rỉ ra.

"Miêu nương tử nghe vậy càng thêm đau khổ, vái lạy van lơn quan gia cho triệu cậu về.

Quan gia liên tục thở dài, vô cùng khó xử.

Trấn an mẹ con Miêu nương tử xong, ngài lại qua thăm Đổng nương tử, nói với Đổng nương tử, ngài chuẩn bị thăng người lên tiệp dư.

Đổng nương tử sinh hạ ba lần trong vòng ba năm, lần cuối sinh thập tam công chúa còn khó sinh, sức khỏe vô cùng yếu ớt, vẫn triền miên nằm trên giường bệnh.

Nghe quan gia nói thế, người lại lập tức ngồi dậy, quỳ gối trước mặt quan gia, ra sức từ chối việc thăng vị, hỏi quan gia có thể chuyển lần ban thưởng này thành một lời chấp thuận, giúp người thực hiện một nguyện vọng chăng.

Quan gia hỏi nguyện vọng của người là gì, người trả lời, hi vọng quan gia có thể xá tội cho cậu, vời cậu về gặp công chúa."

Ôi, Thu Hòa...

Bản thân cô cũng có tâm nguyện mà mỗi một cơ hội thực hiện tâm nguyện cô đều dùng để thành toàn cho người khác.

Ta cảm kích cô khôn xiết, nhưng đối mặt với lời tự thuật của Đặng đô tri, ta vẫn chỉ giữ im lặng, bởi chẳng tìm được bất kỳ ngôn từ nào thích hợp để có thể diễn tả sự xúc động mà lòng thiện lương của cô đem đến cho ta.

"Nghe Đổng nương tử nói vậy, quan gia vẫn chưa tỏ thái độ gì, nhưng ắt là đã nảy ý định vời cậu về trong đầu.

Mà thúc đẩy ngài đưa ra quyết định lại là một người khác.

Người này, khẳng định cậu đoán không ra là ai."

Đặng đô tri kể tiếp.

Ta ngẩng đầu, gửi cho y một ánh mắt dò hỏi, y cũng không úp mở, nói thẳng đáp án: "Là phò mã Lý Vĩ."

Dưới cái nhìn kinh ngạc của ta, y tiếp tục: "Hay tin công chúa nhảy giếng, Lý đô úy vào cung cầu kiến quan gia, quỳ gối dập đầu trước quan gia.

Quan gia còn tưởng cậu ấy lại tới để thỉnh tội, không nhịn được nói: 'Việc này không liên can đến ngươi, ngươi về đi.' Lý đô úy lại ấp úng nói có một chuyện muốn xin quan gia bằng lòng, quan gia hỏi là gì, cậu ấy nói: 'Xin hãy triệu Lương tiên sinh về.'"

Nói tới đây, Đặng đô tri dừng lại, nhìn ta, tựa hồ đang chờ ta lên tiếng câu gì.

Mà ta thì hoàn toàn câm nín, song phương im lặng cùng y, một lúc sau mới hỏi một câu: "Cậu ấy có nói nguyên nhân xin triệu tôi về không ạ?"

Đặng đô tri: "Không.

Quan gia cũng có hỏi, nhưng cậu ấy không giải thích nguyên nhân, chỉ không ngừng dập đầu, liên tục khẩn cầu quan gia cho gọi cậu về."

Ta và Đặng đô tri ngựa không dừng vó tức tốc chạy về Đông Kinh, lúc đến gần thành Đông Kinh, sắc trời đã tắt, Đặng đô tri vốn còn nói đã qua giờ đóng cổng thành, chỉ sợ hai ta vào không được, nhưng đi tới trước cổng thành mới phát hiện ra cổng vẫn mở như cũ, chưa đóng.

Đặng đô tri vô cùng kinh ngạc, hỏi binh vệ gác cổng, binh vệ đáp: "Hôm nay đưa tang thập tam công chúa, quan gia hạ lệnh giữ cửa cung và cổng thành, đợi người đưa linh cữu trở về rồi mới đóng."

Thập tam công chúa chết yểu?

Ta quay sang Đặng đô tri, y gật đầu, nhỏ giọng nói: "Sau khi giáng sinh, tình hình của thập tam công chúa vẫn luôn bất ổn, lúc ta rời kinh, người đã bệnh tình nguy kịch."

Tính thời gian, vị tiểu công chúa này chỉ sống được trên thế gian vỏn vẹn hai tháng.

Đáy lòng ta nặng trĩu, chẳng dám suy đoán Thu Hòa lúc này thương tâm cỡ nào.

Đặng đô tri lĩnh ta vào thành, lúc sứ thần gác cổng tra hỏi thân phận ta, y lấp liếm: "Đây là nội thần ở Tây Kinh hồi cung bẩm tấu."

Vào thành rồi, y mới lặng lẽ nói cho ta biết: "Quan gia không muốn để ai hay cậu về kinh chuyến này, đặc biệt là đài gián, thế nên phái ta đi truyền mật chỉ, đồng thời cũng căn dặn ta, dọc đường không được tiết lộ thân phận của cậu với người khác, bằng không, đài gián mà biết cậu trở về, nhất định sẽ lại có lời."

Ta cụp mắt, nhớ đến những chỉ trích của đài gián đối với ta khi trước.

Đặng đô tri yên lặng đi một chốc, bỗng quay đầu nói với ta: "Chắc là cậu vẫn chưa biết đâu nhỉ?

Giữa tháng Sáu năm nay, quan gia tiếp thu kiến nghị của chư thần, thăng Tư Mã Quang làm khởi cư xá nhân, đồng tri gián viện...

Trong vòng hai tháng ngắn ngủi, Tư Mã Quang đã dâng mười mấy hai mươi trát, trở thành gián quan đương nhiệm tiến ngôn nhiều nhất."

6.

Chu Chu

Sau khi nhập cung, người đầu tiên ta gặp là hoàng hậu.

"Chúng ta gọi ngươi về không có nghĩa để ngươi trở lại bên công chúa, coi như tất cả chưa từng xảy ra mà cho người làm nội thần chủ quản phủ công chúa như trước."

Bà đi thẳng vào vấn đề, "Ngươi tạm thời ở lại trong cung, bao giờ công chúa vào cung sẽ cho hai người gặp mặt một bữa, để nó biết người bình an vô sự, nhưng không hơn, không thể có kiểu chung đụng như trước kia nữa."

Ta cúi đầu, nín thinh không nói một lời, tiếp nhận ánh mắt dò xét chăm chú lạnh lẽo của bà, mãi lâu sau, nghe bà thở dài: "Hai đứa đều không biết khống chế tính nết của mình, thế nên chúng ta chỉ có thể thay đổi phương thức chung đụng của hai đứa."

Ta nâng tay ngang trán, bái tạ đúng nghi lễ: "Thần tạ ơn quan gia và nương nương sắp xếp."

Bà lại nói: "Ngươi cũng không thể quay về gác của Miêu nương tử, lát nữa bảo Đặng đô tri thu xếp cho ngươi một chỗ ở, sau này làm gì, đợi ta suy nghĩ đã, nhưng để tránh khiến đài gián chú ý, chức vị phẩm cấp cao là không thể quay lại được rồi."

Ta cũng chẳng quá quan tâm đến điều này.

"Vậy, công chúa..."

Ta lưỡng lự, muốn hỏi khi nào có thể gặp nàng.

Hoàng hậu đương nhiên hiểu rõ, đáp: "Quan gia đã hứa hẹn với công chúa sẽ triệu ngươi về, bảo nó trở lại phủ công chúa, còn bao giờ cho hai đứa gặp mặt thì để chúng ta bàn tiếp sau."

Ta một lần nữa tạ ơn.

Sau đó, bà lệnh Đặng đô tri dẫn ta ra ngoài.

Lúc ta lui tới cạnh cửa, chuẩn bị xoay người, bà lại gọi ta lại, phân phó: "Lần này ngươi về được cũng là nhờ khá nhiều công lao của Thu Hòa.

Ngày mai ngươi đi thăm em ấy đi."

Khi nhìn thấy Thu Hòa, ta không khỏi thầm kinh hãi vì dáng hình cô.

Một năm không gặp, đã có thể dùng trang dung tiều tụy để tả cô được rồi.

Trán buộc khăn nhung đen, tựa người trên giường bệnh, trên gương mặt không điểm trang, đến đôi môi cũng là màu xanh tái, gầy yếu nom hệt hình người cắt bằng giấy dán, hoàn toàn không có vẻ đẫy đà của một phụ nữ vừa sinh nở.

Hơn nữa, bọng mắt cô thâm đen, đôi con ngươi vốn mười phần trong suốt giờ đây ảm đạm u ám, tựa như con suối khô cạn, đại khái là do ngủ không yên giấc, lại thường rơi lệ gây ra.

Hôm ấy, Kinh Triệu quận quân Cao thị vào cung vấn an, cũng tới thăm Thu Hòa.

Lúc ta vào bái phỏng Thu Hòa, hai người đang tán gẫu chuyện nhà với nhau.

Thấy ta, Thu Hòa tỏ ra mừng rỡ, gắng chống tay gượng dậy, liên thanh bảo thị nữ bên cạnh mời ta ngồi, lại lệnh đề cử quan gác mình Triệu Kế Sủng châm trà cho ta, hoàn toàn không coi ta là một nội thần thấp kém mà trái lại, như chiêu đãi một vị khách quý đường xa lại chơi.

Điều này làm ta hơi bất an, khom người liên tục cảm tạ, cũng không dám ngồi xuống trước mặt cô theo ý cô.

Thu Hòa lại giục ta ngồi, sau cùng, Kinh Triệu quận quân cũng mỉm cười khuyên: "Bọn tôi đều quen biết Lương tiên sinh đã lâu, lại cũng chẳng phải ở nơi đông người, tiên sinh đừng khách sáo như vậy, hãy ngồi xuống chậm rãi trò chuyện đi thôi."

Bấy giờ ta mới ngồi xuống, hàn huyên cùng họ, có Kinh Triệu quận quân ở đây, chủ đề nói chuyện của chúng ta đại để cũng chỉ nằm trong cuộc sống ở Tây Kinh và những điều mắt thấy tai nghe trên đường, nghe thoải mái như thể ta chỉ phụng mệnh đi Tây Kinh nhậm chức bên ngoài một năm mà thôi, họ chưa từng nhắc đến chân tướng ta bị biếm trục, cũng chẳng đề cập một câu tới công chúa.

Lát sau, có tiếng trẻ con khóc vọng từ ngoài vào, tiếp đó, một vị nhũ mẫu bế một tiểu cô nương hơn hai tuổi vào, nói với Thu Hòa: "Nương tử, thập nhất công chúa lại dậy rồi."

Bé gái ấy chính là con gái thứ hai của Thu Hòa, hoàng nữ thứ mười một Vĩnh Thọ công chúa.

Ta lập tức đứng dậy, thi lễ với Vĩnh Thọ công chúa.

Thu Hòa cười bảo: "Nó mới là một đứa bé chưa hiểu chuyện thôi, hà tất phải đa lễ."

Vừa cười vừa đón lấy Vĩnh Thọ công chúa từ lòng nhũ mẫu, mỉm cười thủ thỉ với người: "Chu Chu, đêm qua con dậy đến mấy lần, gần sáng mới ngủ được, sao giờ lại tỉnh rồi, chẳng lẽ là biết có khách quý tới chơi?"

Cô cười trỏ vào ta, Vĩnh Thọ công chúa nghe tiếng quay ra quan sát ta.

Nước da người được di truyền từ Thu Hòa, khiến người nom óng ánh trong ngần, tựa một đứa trẻ được tinh vi tạc nên từ ngọc Hòa Điền, đôi mắt đẹp rất giống của Thu Hòa hãy còn vương ngấn lệ, thấy ta đang nhìn mình, người lập tức rúc vào lòng mẹ né trách, dáng vẻ nũng nịu nhút nhát khiến người ta cầm lòng không đậu thấy mà thương.

Lúc ta rời kinh, kim thượng vẫn chưa lấy khuê danh cho cô bé, người trong cung đều gọi người là "Chúa Chúa" theo hoàng hậu, bây giờ Thu Hòa gọi người là "Chu Chu", hẳn đó chính là tên của Vĩnh Thọ công chúa.

"Khuê danh của thập nhất công chúa êm tai quá."

Ta cười khen.

"Thật à?"

Thu Hòa và Kinh Triệu quân quân nhìn nhau cười, sau đó nói rõ với ta, "Kể ra, cái tên này là do cậu tư nhà Kinh Triệu quận quân lấy đấy."

"Cậu tư" này chỉ con trai thứ tư của Kinh Triệu quận quân và Thập Tam Đoàn Luyện, Trọng Khác.

Kinh Triệu quận quân cũng mỉm cười bảo ta: "Thằng ranh nhà tôi không biết lớn nhỏ, chẳng rõ tôn ti, gọi cô mình mà rõ xằng bậy, cũng may quan gia và Đổng nương tử khoan hồng độ lượng, không so đo với nó."

Thấy ta tỏ vẻ khó hiểu, Thu Hòa bèn giải thích cặn kẽ: "Đầu đông năm ngoái, thập nhất công chúa ốm nặng, Kinh Triệu quận quân dẫn mấy cô cậu nhà mình vào thăm, Trọng Khác nghe hoàng hậu gọi công chúa là 'Chúa Chúa', nhất thời nghe sai, bèn thích chí chỉ vào giày đầu heo mình đi, không ngớt gọi 'Trư trư, trư trư'.

Kể cũng lạ, ban đầu thập nhất công chúa mê man suốt, vừa nghe cậu ấy gọi vậy liền mở mắt, sau bệnh cũng dần khỏi.

Quan gia rất mừng, nói nhà bách tính dân thường có thói quen lấy tên xấu cho con để cầu dễ nuôi, xem ra là có lý, chẳng bằng cứ gọi thập nhất công chúa là 'Trư Trư' đi.

Hoàng hậu nghe xong cười bảo, tên Trư Trư tuy nghe thân mật, nhưng đặt làm khuê danh cho con gái dù sao cũng không ổn, hay là dùng âm này nhưng đổi một chữ khác, sửa thành Chu trong chu hồng, vẫn gọi vậy nhưng viết ra lại là chữ lành, thế là đẹp cả đôi đàng rồi.

Quan gia vui vẻ đồng ý, từ đó về sau chúng ta gọi thập nhất là 'Chu Chu', mà quan gia cũng đặc biệt cho phép Trọng Khác gọi tên Chu Chu..." (*)

(*) Trong phát âm tiếng Hán, Chúa Chúa gần âm với Trư Trư, Trư Trư đồng âm với Chu Chu; chu hồng là đỏ thắm.

Cô còn chưa dứt lời thì một cậu bé chừng năm sáu tuổi như đạp phong hỏa luân chạy vọt từ bên ngoài vào, tóc trên đầu cạo hơn nửa, chỉ để lại một chỏm trên trán, thân bận xiêm y tơ lụa, trong mặc áo cánh dài ngang gối, ngoài khoác áo bào ngắn tay rộng, hai ống tay áo phồng phồng, cổ tay áo lại bị cậu trở tay túm lại, khiến tay áo nhìn như hai cái túi lớn, cũng chẳng biết bên trong giấu vật gì.

Kinh Triệu quận quân vừa thấy đã mắng: "Tứ ca, con lỗ mãng chạy xồng xộc cái gì đấy!

Đừng có dọa Đổng nương tử và thập nhất công chúa kinh sợ."

Trọng Khác chạy ào tới trước mặt Thu Hòa và Vĩnh Thọ công chúa thì dừng bước, nghiêng đầu nói với mẹ: "Ban nãy con đi chơi với Uyển tỷ tỷ, thấy chị ấy mới chưng xong một tráp hương liệu, nói là để dùng trong màn, ngửi vào có thể ngủ rất ngon.

Không phải bảo là gần đây Chu Chu thường xuyên tỉnh đêm ạ?

Con xin Uyển tỷ tỷ đốt cho một lư hương, để con xông ngập hai ống tay áo, mang đến cho Chu Chu.

Sợ để lâu làm hương bay mất nên con mới chạy cho nhanh đấy chứ!"

"Uyển tỷ tỷ" mà cậu nói đến là con gái nuôi hoàng hậu thu nhận mấy năm trước, cháu gái của tham tri chính sự Phùng Chưởng triều Chân Tông, tên là Phùng Uyển Nhi.

Cô nương này lan tâm huệ chất, thường ngày thích điều chế hương liệu son phấn giống Thu Hòa.

Trọng Khác giải thích xong, cũng chẳng thèm nghe mẫu thân quở trách, mở ống tay áo hướng về phía Vĩnh Thọ công chúa, hai cánh tay không ngừng vung vẩy, muốn khiến công chúa ngửi được hương thơm mình mang lại nhiều nhất có thể.

Hương thơm ấy vừa có trầm hương thanh nhã, lại có mùi ngòn ngọt thuộc về một loại hoa quả khác, ngửi vào quả thực khiến tâm thần an lành, khoan khoái dễ chịu.

"Ừ, hương thơm này được lắm, là chưng từ nước nga lê và trầm hương."

Thu Hòa nhanh chóng phân biệt ra, cười nói với Trọng Khác, "Tứ ca, cảm ơn cậu."

Trọng Khác lắc đầu: "Không cần cảm ơn đâu ạ, Chu Chu thích là được rồi." sau đó lại rất ân cần hỏi Vĩnh Thọ công chúa, "Thơm không?"

Vĩnh Thọ công chúa hé miệng nhoẻn cười, gật nhẹ.

"Thế cô đã buồn ngủ chưa?"

Trọng Khác trợn tròn hai mắt, nóng lòng xác nhận hiệu quả thần kỳ của hương liệu này.

Người lớn trong phòng đều cười rộ.

Kinh Triệu quận quân vỗ lên quả đầu nhẵn bóng của cậu, cười mắng: "Mới ngửi một cái đã muốn khiến người ta ngủ rồi, con nói đây là thuốc mê chắc!"

Trọng Khác xoa xoa chỗ bị mẹ vỗ, cũng ngượng ngùng nhoẻn cười, sau đó lại đưa tay lôi cái túi gấm buộc trên đai lưng lên, lấy một cặp lợn tạc từ bạch ngọc ra, dúi vào lòng Vĩnh Thọ công chúa, nói: "Cái này cha cho con, tặng cô đấy."

Cặp lợn ngọc này xem chừng là đồ cổ từ đời Tây Hán, chạm nổi, khắc chìm, tạc nông thành một thể, tròn xoe, cực kì mũm mĩm, đuôi cong cong dán vào mông, tứ chi gập duỗi, dáng vẻ đang chạy, biểu cảm sinh động, ngây thơ dễ thương.

Vĩnh Thọ công chúa ngậm cười nơi khóe miệng, không ngừng vuốt ve lợn ngọc, có vẻ như cũng rất thích.

Kinh Triệu quận quân quan sát Trọng Khác, bất đồ hỏi cậu: "Khóa đầu hổ trên dây chuyền của con đâu rồi?"

Chúng ta nghe tiếng nhìn lại, quả nhiên phát hiện dưới dây chuyền đeo trên cổ Trọng Khác trống không, vật treo đã biến mất.

"À, con cởi xuống để ở chỗ Uyển tỷ tỷ."

Trọng Khác nói, lại chỉ vào lợn ngọc trong tay Vĩnh Thọ công chúa, "Chu Chu là Trư Trư mà, lợn sợ hồ, thế nên con không thể mang khóa đầu hổ tới gặp cô được."

Nghe vậy, Thu Hòa chỉ cười, Kinh Triệu quận quân thì lại kéo tay Trọng Khác đánh, trách: "Đã nói với con bao lần rồi, không được gọi thập nhất cô bậy bạ như vậy!"

Trọng Khác không vui: "Thập nhất cô vốn tên là Trư Trư mà, ông ông cho phép con gọi cô như vậy còn gì."

Đoạn, lại quay sang Vĩnh Thọ công chúa gọi luôn miệng: "Trư Trư Trư Trư Trư Trư..."

Vĩnh Thọ công chúa nghi hoặc nhìn cậu, lại nhìn cặp lợn ngọc, như bỗng ý thức được điều gì, một tay đẩy lợn ngọc ra, bĩu môi vẻ giận dỗi.

Cảnh tượng này làm mọi người thấy mà phì cười, Trọng Khác cũng toe toét cười theo, không ngờ, đằng sau cậu lại có một cô bé hướng về phía cậu gọi một tiếng dõng dạc: "Mao Mao!"

Trọng Khác xoay người nhìn lại, thi lễ với cô bé: "Cửu cô cô."

Đó là hoàng cửu nữ Phúc An công chúa.

Cái tên "Mao Mao" người gọi là biệt danh của Trọng Khác, ta có biết điển cố trong đó: Năm Trọng Khác hơn hai tuổi có vào cung diện kiến đế hậu, khi ấy tóc cậu rất dày, bị chia thành mấy khoảng vuông, mỗi khoảng túm tóc lại thành một quả cầu nhỏ.

Kim thượng trông thấy cười bảo: 'Kiểu tóc này không được, nhìn như mọc bướu khắp đầu ấy.' Bèn sai người cắt đi, sửa thành kiểu tóc một chỏm hiện giờ.

Song lúc đó Trọng Khác không chịu cho cắt ngắn, Thập Tam Đoàn Luyện bèn sai người thừa dịp cậu ngủ say cạo tóc cậu.

Trọng Khác tỉnh lại sờ đầu, phát hiện ra mình trọc lốc, lại thấy trước mặt tóc vụn đầy đất, tức thì đau lòng, nhặt một nhúm tóc lên khóc òa: "Lông của ta...", bởi khi ấy cậu còn chưa học đến chữ "tóc".

Kể từ đó, người trong cung đặt cho cậu biệt danh "Mao Mao", thỉnh thoảng gặp cậu cũng sẽ ghẹo cậu, cố ý nói với cậu: "Lông của ta..."

Cũng chẳng biết là ai kể với Phúc An công chúa, lúc này, người nhìn Trọng Khác, lại cười hì hì gọi thêm một tiếng: "Mao Mao!"

Trọng Khác thẹn thùng, rất ư xấu hổ, nhưng lại chẳng tiện nói gì cửu cô cô, chỉ đành trợn mắt ngắm xà ngang, cả người mất tự nhiên.

Vĩnh Thọ công chúa nhanh chóng phát hiện ra ảnh hưởng của tên gọi này đối với cậu, cũng thử gọi cậu là "Mao Mao".

Trọng Khác giật mình nhìn người, ngay sau đó căm tức nói: "Trư Trư, cô không thể gọi con như vậy!"

Vĩnh Thọ công chúa càng thêm vừa lòng, hết sức hào hứng kêu liên tiếp: "Mao Mao, Mao Mao, Mao Mao..."

Trọng Khác không cam lòng, lại quay sang gọi Vĩnh Thọ công chúa là "Trư Trư", Vĩnh Thọ công chúa tiếp tục dùng "Mao Mao" đối kháng, hai đứa trẻ cứ thế lấy phương thức đơn giản này đấu võ mồm, làm nét rạng rỡ trong nháy mắt lan lên mặt mày Thu Hòa, làm cô so với hình dáng ta nhìn thấy hôm nay lúc mới đầu tưởng chừng như hai người khác nhau.

"Hai đứa con gái này là món quà quý giá nhất ông trời ban cho tôi."

Kinh Triệu quận quân dẫn Trọng Khác đi rồi, đối mặt với câu hỏi "Gần đây có ổn không?" của ta, Thu Hòa ôm cả hai công chúa lại bên mình, nói với ta như vậy, "Có một dạo, tôi cũng rất mờ mịt, chừng như mọi thứ đều trái với mong muốn, chẳng biết mình sống trên đời có ý nghĩa gì, cho đến khi tôi sinh ra con gái tôi.

Có chúng nó bên cạnh, tôi mới có được hạnh phúc.

Có lẽ, sở dĩ tôi đến thế giới này rồi lại được trời cao an bài như vậy, chính là để trao sinh mệnh cho chúng nó.

Nghĩ vậy, rốt cuộc tôi cũng an lòng, cảm thấy nhìn mọi buồn đau và không như ý trước đây đều thoáng ra hẳn.

Chung quy trời cao cũng chẳng tệ với tôi, cho tôi sở hữu hai đứa con gái khả ái này, tôi rất vui được làm mẹ chúng."

7.

Lục bình

Qua thêm mấy ngày, kim thượng mới cho gọi ta yết kiến.

Chia xa chỉ vỏn vẹn một năm mà ngài như đã già đi cả giáp.

Lúc ta đi vào, ngài đang chống khuỷu tay trên mặt bàn không ngừng đỡ trán, cái bóng lưa thưa của chòm râu hoa râm quét qua xấp trát dày trước mặt, dưới ánh nến, nếp nhăn trên mặt ngài hằn sâu rõ rệt, như vết tích chạm khắc của thợ thủ công.

Nghe ta thỉnh an, ngài thoáng ngước lên liếc ta rồi nói thẳng: "Hôm Trùng Dương, công chúa sẽ tiến cung, hai đứa gặp nhau một bữa trong gác hoàng hậu đi."

Ngài mặt không biểu cảm, giọng điệu cũng nghe không ra cảm xúc, song nếu nói là lạnh nhạt thì chẳng bằng gọi là một cảm giác mệt nhọc gần như đã lao lực quá độ cả tâm lẫn sức.

Ta cúi đầu một lần nữa bái lạy, thưa với ngài: "Thần tạ ân điển quan gia, nhưng ngày Trùng Dương, thần có thể chỉ cần cùng công chúa nhìn nhau một cái từ xa là đủ rồi, không cần gặp lại trong gác hoàng hậu đâu ạ."

Đó là kết quả sau nhiều ngày suy nghĩ thâm sâu kĩ càng của ta, hẳn cũng là kết quả kim thượng không ngờ tới.

Điều này làm ngài hơi ngạc nhiên, trầm ngâm một chốc, ngài hỏi ta: "Ngươi là sợ gặp mặt công chúa quá dễ gây xúc động hay là có mặt hoàng hậu ở đó sẽ xấu hổ?"

Ta xua tay, trả lời ngài thế này: "Thần sợ nhìn thấy nước mắt của công chúa."

Kim thượng im lặng, cuối cùng khoát tay: "Ngươi lui đi."

Ta bái tạ, chầm chậm rời khỏi.

Lúc cất bước ra cửa, nghe thấy rất rõ ràng đằng sau vọng tới một tiếng thở dài.

Đặng đô tri tiễn ta rời Phúc Ninh Điện, lúc sắp ra khỏi cửa viện, ta nhớ ra, hỏi y: "

Sau này tôi làm gì, quan gia đã có chỉ thị chưa ạ?"

"Chưa."

Đặng đô tri nói, "Hiện giờ ngài lấy đâu ra tâm trạng mà nghĩ đến việc ấy..."

Thấy chung quanh không có ai, ông mới hạ giọng nói cho ta hay: "Hai ngày nay, Tư Mã Quang liên tục tiến ngôn luận ba việc, một là chuyện ngày đưa tang thập tam công chúa giữ cổng thành và cửa cung mở đến khuya, y nói cung cấm không nghiêm, phá hoại phép tắc, viết đến mấy trăm chữ, thuật lại một lượt toàn bộ nghi trượng và thể thức binh vệ mở cửa cung đêm; còn nói từ đầu năm tới nay đã nhiều lần xảy ra thiên tai, dân chúng xanh xao, chính là thời điểm hoàng đế phải khép mình khắc kỷ, mà gần đây trong cung lại lắm yến ẩm, hao tài tốn của, huống hồ rượu còn là thứ thương tính bại đức, quan gia cần dừng hẳn yến ẩm, an thần dưỡng khí, chớ uống nhiều rượu và ăn đồ nồng vị độc hại, mặt khác, còn khuyên quan gia 'triệu kiến phi tần hậu cung điều độ', không nên ngự quá nhiều làm tổn thương thái hòa..."

Ta nghĩ đến Thu Hòa, bèn hỏi Đặng đô tri: "Gần đây quan gia triệu kiến Thập Các nương tử thường xuyên lắm ạ?"

Đặng đô tri than thở: "Trong vòng hai, ba năm nay, có thể nói là triệu kiến thường xuyên thực ra cũng chỉ có Đổng nương tử và Chu nương tử...

Ai nấy đều hay tâm bệnh của quan gia, nhưng ba năm nay hết lần này đến lần khác lại sinh liên tiếp năm công chúa.

Quần thần đều đang khuyên ngài chọn tông thất làm người nối dõi, lại nói, chuyện thứ ba Tư Mã Quang luận cũng chính là việc này."

Đích xác, so với việc thái tử, việc bố trí ta thế nào quả là một vấn đề cỏn con như con sâu cái kiến, kim thượng căn bản chẳng rảnh mà nghĩ ngợi, dầu rằng khổ đau của công chúa tất nhiên cũng là nhân tố quan trọng gia tăng tốc độ già yếu của ngài trong một năm nay.

Sau đó, đế hậu vẫn chưa an bài chức vị mới cho ta, ta nghĩ ý họ đại khái là ta chẳng cần làm gì hết, chỉ cần ẩn thân trong cung này, không bị ngôn quan phát hiện ra là tốt rồi.

Đến ngày Trùng Dương, cũng không ai nói với ta phải làm thấy nào để gặp công chúa, tựa hồ mọi người đều đã quên khuấy mất việc này.

Ta cũng không biết công chúa đã vào cung hay chưa, sẽ xuất hiện ở nơi nào.

Đương ăn không ngồi rồi, ta thấy quan chủ quản Hậu uyển chỉ huy tiểu hoàng môn chèo thuyền con vào Dao Tân Trì, dọn sạch lục bình mọc tràn lan trong hồ, bèn tự mình xin lệnh đi hỗ trợ họ hoàn thành công việc.

Ta được phân cho một chiếc thuyền nan, khua chèo vào giữa hồ, lại xách lưới vớt từng mảng màu lục gần như choán hết mặt sóng.

Phần lớn thời gian ta làm khá chuyên chú, mãi đến khi biết thuyền mình trôi đến một chỗ thấp thoáng dương rủ mới chợt nhớ ra, đây là nơi năm xưa Tào Bình và công chúa chơi thuyền bận mới gặp.

Nếu khi ấy hôn ước của công chúa được định với Tào Bình thì mọi chuyện bây giờ đã khác rồi.

Ta ngẩn ngơ nghĩ, cầm sắt du dương, ấm êm hiệp hòa, nói không chừng họ cũng sẽ như Thập Tam Đoàn Luyện và Cao cô nương vậy, đã sớm con gái quanh chân, cả nhà vui vầy...

Như để chứng thực cho suy nghĩ của ta, phía sau dần vọng đến tiếng bé gái nói cười.

Ta ngoảnh lại nhìn, thấy một con thuyền hoa tinh xảo trôi tới từ nơi khói sóng dập dờn, dừng lại trước mặt ta một khoảng không xa, trên thuyền có rất nhiều nữ quyến và trẻ con, những gương mặt dần hiển hiện rõ ràng, ta nhận ra hoàng hậu, Kinh Triệu quận quân và mấy cô con gái của Thập Tam Đoàn Luyện, Phùng Uyển Nhi cũng có mặt trong đó, mà nữ tử ngồi bên cạnh cô thì chính là Duyên quốc công chúa đã xa cách với ta một năm nay.

Tóc mai công chúa cài một đóa cúc màu đào, song có màu sắc rực rỡ ấy tôn vẻ mà bản thân nàng lại gầy guộc như một chiếc lá thu.

Lúc này, nàng cụp mi ngồi đó, cùng Phùng Uyển Nhi cắt vải màu thành hình thù du, hoa cúc, phù dung để tặng cho thân thích bằng hữu theo phong tục Trùng Dương của kinh đô.

Nàng chậm rãi làm công việc ấy, tạm thời chưa phát hiện ra sự tồn tại của ta, song hoàng hậu giữa lúc trò chuyện với Kinh Triệu quận quân lại cố ý vô tình lướt tầm mắt đến ta.

Có lẽ, đây chính là phương thức gặp mặt bà đã thu xếp cho đôi ta theo đề nghị của ta.

Ta khom lưng với bà, sau đó nhẹ nhàng khua chèo, đưa thuyền mình vào sâu hơn trong bóng liễu.

Chung quy khoảng cách cũng chẳng quá xa, ta vẫn có thể quan sát được động tĩnh trên thuyền.

Lúc này, Trọng Khác đang dùng mảnh vải điều hẹp dài buộc vào một cái bình lưu ly trong suốt, treo lên một cây gậy gỗ nhỏ, sau đó thả vào trong nước, làm bộ câu cá.

Trọng Minh trông thấy, bèn hỏi cậu: "Chai em dùng là bình lưu ly đựng nước tường vi Đại Thực (*) của Uyển tỷ tỷ phải không?"

(*) Đại Thực chỉ Đế quốc Ả Rập, tường vi Đại Thực thực chất là hoa hồng Damask, nước tường vi Đại Thực này là nước hoa làm từ hoa hồng Damask.

Trọng Khác quay đầu lại lè lưỡi, không đáp.

Phùng Uyển Nhi thấy thế, bỏ cây kéo trong tay xuống đứng dậy ra xem, Trọng Châm lập tức đuổi theo, đi hai bước tới bên cạnh Trọng Khác, vung tay kéo cái bình lên.

Phùng Uyển Nhi nhìn kỹ, buột miệng thốt: "Ôi chao, là bình nước tường vi của tôi thật kìa!"

Trọng Châm lập tức lạnh mặt, nạt em trai: "Trọng Khác!"

Trọng Khác cười hì hì, cũng không sợ, quay sang phân bua với Phùng Uyển Nhi: "Uyển tỷ tỷ, em thấy nước tường vi chị dùng hết rồi mới lấy bình ra chơi mà."

Phùng Uyển Nhi cười mắng: "Tầm bậy, rõ ràng còn một nửa."

Trọng Minh nghe vậy bèn bước lên, nói với Phùng Uyển Nhi: "Tứ ca hãy còn trẻ con, không hiểu chuyện, Uyển tỷ tỷ đừng nóng giận, lát nữa để tôi về nhà lấy một bình đền lại chị nhé."

Không đợi Phùng Uyển Nhi trả lời, Trọng Châm đã lắc đầu với Trọng Minh: "Em đừng suốt ngày dung túng cho nó thế, nếu không lần sau nó lại tiếp tục lấy bậy đồ người ta."

Sau đó, cậu trừng Trọng Khác, giật bình lưu ly xuống, giơ gậy gỗ trong tay lên ra chiều muốn đánh Trọng Khác.

Trọng Khác cười ha ha chạy đến bên công chúa, gắng sức trốn sau lưng nàng, vừa trốn vừa cầu xin: "Cô cô cứu con!"

Cảnh tượng khiến công chúa rốt cuộc cũng rộ cười.

Nàng đứng dậy, cản Trọng Châm, nói: "Chỉ là nửa bình nước tường vi thôi, chuyện có to tát gì đâu, con muốn thì cô đền cho mấy đứa ngay bây giờ là được."

Trọng Châm quan sát công chúa, ngạc nhiên hỏi: "Bây giờ?

Cô cô có mang nước tường vi theo ạ?"

Công chúa mỉm cười không đáp, nhón lấy một miếng vải điều cắt mấy cái rồi xòe ra cho mọi người xem: "Có giống tường vi không?", chợt cầm bình lưu ly Trọng Châm ném dưới sàn thuyền lên, bỏ miếng vải điều đã cắt xong vào bình, lắc lắc hai cái, lại nói: "Tường vi vào nước, nước này chẳng phải nước tường vi rồi đấy thôi?"

Công chúa đưa bình nước tường vi cho Phùng Uyển Nhi, Phùng Uyển Nhi đón lấy, nhún mình cảm tạ.

Mọi người đều cười, Trọng Khác còn vỗ tay khen: "Cô cô thật thông minh!"

Công chúa quệt mũi cậu: "Cơ mà, con cũng phải bớt bớt lại đi.

Lần sau còn chọc họa như thế, cô cô sẽ không giải quyết giúp con nữa đâu."

Nói vậy, bản thân nàng cũng chẳng cầm được rộ cười.

Dáng vẻ nàng nhìn Trọng Khác giống y hệt thần sắc của một người mẹ trẻ.

Dường như đó giờ nàng vẫn luôn rất thích trẻ con, cứ ở chung với bọn trẻ là tâm trạng nàng sẽ tốt lên nhiều.

Năm ấy nàng chán ghét Trương quý phi là thế mà vẫn rất mến bát công chúa, mà những năm gần đây, đối với mấy cô em gái khác mẹ, nàng cũng đều vô cùng thương yêu, có lẽ nàng cũng như La La vậy, có thiên tính ước mong làm mẹ.

Ta nấp trong bóng liễu nhìn nàng cười tủm tỉm, song ý nghĩ này lại khiến tim ta ngâm ngẩm đau.

Lúc này, Trọng Khác đang trần tình với công chúa lí do lấy bình lưu ly: "Chu Chu không thể ra ngoài chơi với chúng ta, con muốn dùng bình này câu mấy con cá nhỏ về cho cô ấy."

Công chúa dí trán cậu: "Đứa nhỏ ngốc!

Miệng chai bé tí thế này, lại chẳng có mồi câu, sao mà con câu được?"

Trọng Khác nhất thời nghẹn lời, nhìn đông nhìn tây một vòng, cậu chợt phát hiện ra thuyền ta, bèn trỏ vào ta mừng rỡ kêu: "Anh qua đây, đưa túi lưới trên thuyền anh cho ta đi!"

Công chúa cũng đưa mắt nhìn theo, rất nhanh sau đó, nụ cười nàng cứng lại, ánh mắt thẳng tắp khóa chặt lấy bóng dáng ta lấp ló dưới liễu rủ, cầm lòng không đậu bước hai bước lại gần mép thuyền.

Trong tiếng Trọng Khác liên thanh vẫy gọi, ta chậm rãi khua mái chèo gỗ, tiếp cận con thuyền hoa.

Ngoài Trọng Khác không biết nội tình ra, mọi người trên thuyền hoa đều nín thinh, nhất thời, trong trời đất chỉ còn tiếng gió tiếng nước, tiếng khua chèo và giọng nói ríu rít hớn hở của Trọng Khác.

Chỉ một quãng ngắn ngủi mà ta phải chèo mất một khoàng thời gian dài.

Ta gian nan chậm chạp lại gần nàng, nhìn gương mặt quen thuộc vấn vương trong chiêm bao, lại chẳng biết nên vui hay buồn.

Môi nàng run rẩy, như muốn cười lại cười chẳng đặng.

Sau, nàng ghé sát vào mép thuyền, cúi người xuống, vươn tay về phía trước, đôi mắt long lanh ánh nước ngậm đầy mong đợi nhìn ta đăm đăm, tựa hồ đang chuẩn bị đón ta lên thuyền.

Rốt cuộc ta cũng chỉ còn cách nàng một bước ngắn, chỉ cần vươn tay là có thể chạm đến đầu ngón tay đang run nhè nhẹ của nàng, khóe miệng nàng nhếch lên, nhoẻn một nụ cười thuần khiết như tuyết liên nở rộ trong khoảng chờ đợi dường như rất ngắn ngủi này.

Vươn tay ra đi, vươn tay ra đi, đáy lòng ta như có ai đang niệm câu thần chú ấy.

Song, cuối cùng, điều ta làm lại là giơ mái chèo chống lên mép thuyền hoa, đẩy khoảng cách của đôi ta ra, sau đó khua chèo rẽ sóng trong hồ, bỏ trốn khỏi không gian có nàng tồn tại dưới ánh mắt trân trân của nàng.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 12: Ngọc nát ngói lành đều vứt cả (*)


(*) Câu này lại nằm trong bài "Ngũ mỹ ngâm – Lục châu" của Tào Tuyết Cần thời Thanh.

1.

Đốt lòng

Ta đã tưởng rằng sẽ nghe thấy tiếng khóc của nàng, nhưng không, hoàn toàn không, nàng phía sau ta còn tĩnh lặng hơn cả sóng gợn trong hồ, cái ta có thể cảm nhận được chỉ là ánh mắt cố chấp của nàng, một mực miệt mài đuổi theo ta.

Trước khi rẽ vào một ngã nước, chung quy ta vẫn không kìm được ngoảnh lại một lần, thấy nàng vẫn đang ngơ ngẩn nhìn về phía mình, song thần sắc trong mắt lại tựa như hương khói đốt tận, còn lại chỉ toàn tro lạnh u tàn.

Ta trốn trong một xó xỉnh ẩn núp, cho đến khi cửa cung đã đóng, màn đêm buông xuống mới ra ngoài, tới chỗ Đặng đô tri tìm y, hỏi về tình hình của công chúa hôm nay.

Đặng đô tri nói: "Sau khi chơi thuyền về, công chúa không hề khóc quấy, chỉ là im lặng rất lâu, lúc bái biệt quan gia về phủ mới mở miệng hỏi quan gia: 'Là cha không cho phép Hoài Cát về cùng con ạ?' Quan gia trầm mặc không đáp, hoàng hậu bèn ôn tồn khuyên nhủ bên cạnh, nói cậu hôm nay không tiện quay về phủ công chúa, công chúa cũng không phản bác, lặng yên về phủ.

Miêu nương tử không yên tâm, bảo đề cử quan Vương Vụ Tư nhìn công chúa lớn lên trở về cùng công chúa rồi khuyên giải vỗ về người thêm bận nữa.

Hiện giờ họ xuất cung đã lâu, hẳn cũng không có việc gì, chờ Vụ Tư trở lại, cậu hỏi ông ấy đi."

Vương Vụ Tư trở lại sớm hơn ta dự đoán rất nhiều.

Hẳn y đã xông vào ngay lập tức trong khoảnh khắc cửa cung mở, bước chân cấp bách làm bầu không khí rối ren cuộn trào giữa các điện gác, hậu cung tĩnh mịch đã lâu lại nảy sinh một làn sóng huyên náo, tràn vào ô cửa sổ nhỏ đóng kín của phòng ta.

Ta vốn cả đêm không ngủ, nghe bên ngoài ầm ĩ, lập tức đứng dậy mở cửa ra xem, vừa vặn chạm mặt Vương Vụ Tư chạy tới từ hướng Phúc Ninh Điện.

"Quan gia bảo cậu mau chóng đến phủ công chúa," Y tóm lấy ta, thở hổn hển, "Mau!

Công chúa, công chúa đang phóng hỏa đốt phủ, trạng thái điên cuồng, không ai cản được!"

Ta lập tức chạy ào ra ngoài, nhảy lên con ngựa tiểu hoàng môn đã chuẩn bị xong trước cửa cung, phóng về phía phủ công chúa đã lâu không thấy.

Chưa đến gần đã thấy phương hướng phủ công chúa cuồn cuộn khói đặc, ánh lửa ngất trời.

Ta giương roi thúc ngựa lao thẳng đến trước lầu nghỉ của công chúa, nơi đó đã sớm tụ tập đầy nô bộc tì nữ, vài người bưng nước, lu lớn chậu nhỏ tạt hết vào ngọn lửa đang hừng hực nhảy múa trên lầu, còn có vài người chạy lên lầu, cùng những người đã ở sẵn đó, cố thử tiếp cận công chúa đang đứng giữa lan can.

Xem thế lửa hẳn kéo dài đã lâu, một bên lầu nghỉ đã cháy hơn nửa, công chúa đứng cạnh ánh lửa, mái tóc đen rối bù, tay cầm một cây gậy đuôi hươu (*) gỗ trầm vốn dùng để trêu mèo chọc chó, đầu đuôi hươu nguyên buộc một chiếc lông công, giờ đã biến mất không thấy, thay vào đó là ngọn lửa đỏ cam nhảy nhót trên đầu trầm hương.

(*) Một công cụ của người xưa dùng để xua đuổi côn trùng, hình dáng gần giống chổi lông gà hoặc giống cây phất trần.

Ta xuống ngựa, ba bước gộp làm hai phi lên lầu, thấy công chúa đang vung vẩy cành trầm hương chĩa về phía những người đến gần nàng.

"Trả Hoài Cát lại cho ta!"

Nàng gằn từng chữ, không nhanh không chậm nói với mỗi người.

Ánh lửa hoành hành dát lên gương mặt tái nhợt của nàng một lớp đỏ hồng, mái tóc dài phất phơ và tay áo lụa của nàng có khuynh hướng chạm vào ngọn lửa ngùn ngụt, mà nàng thì hoàn toàn không để ý đến, quay mặt về phía mọi người, nhưng trong mắt vụn sáng rời rạc, như nhìn chẳng thấy, chỉ biết lấy cành trầm hương đang cháy làm vũ khí có thể cậy nhờ, nhắm thẳng vào tất cả địch nhân giả tưởng trước mặt, cố chấp lặp đi lặp lại yêu cầu duy nhất của mình: "Trả Hoài Cát lại cho ta!"

Miễn có người hơi dời bước lên trước, nàng sẽ lập tức vung tay khua cành trầm, làm ngọn lửa bắn ra những đốm hoa diễm lệ, mà điều khiến người ta kinh sợ là, ống tay áo và vạt váy bên trái nàng khoác trên người dính một vệt dầu, tỏa ra mùi thơm thực vật, hẳn là loại dầu trúc sen bôi tóc mà nàng cố hết sức hắt vãi.

Chỉ cần một đốm lửa rơi vào vệt dầu ấy, nàng sẽ tức khắc bị ngọn lửa dữ dội nuốt mất.

Đó cũng là lí do mọi người chần chừ, khó lòng chế ngự nàng.

Ta ra sức xô đám người ra, để mình hiện thân trước mặt nàng.

"Công chúa."

Ta gắng mỉm cười, giữ vẻ mặt sao cho thật hòa nhã, làm mình bộc lộ trạng thái nàng quen thuộc nhất.

Nàng không khỏi sững sờ thoáng chốc, quay lại nhìn ta, ánh mắt lộ mấy phần đờ đẫn, như chưa hề nhận ra là ta tới.

"Công chúa..."

Ta tiếp tục mỉm cười, từ từ đi về phía trước, thử vươn tay ra với nàng.

Nàng nhíu chặt mày như suy tư xem ta là thật hay giả, tay cầm cành trầm cũng bất tri bất giác buông xuống.

Ta nhanh chóng tiến lên, bắt lấy tay nàng, đoạt cành trầm ném ra xa.

Nàng bị kinh động, theo bản năng bắt đầu giãy giụa, đập túi bụi lên người ta.

Ta vừa ôm siết nàng vào lòng, vừa nhẹ nhàng rủ rỉ bên tai nàng: "Là thần, là thần.

Công chúa, thần là Hoài Cát..."

Nàng dần tĩnh lại, bắt đầu quan sát ta, "Hoài Cát?"

Nàng lẩm bẩm tên ta, vẫn không mấy xác định, "Hoài Cát...

Huynh về rồi?"

"Phải," Ta cho nàng câu trả lời khẳng định, "Thần về rồi."

"Huynh còn đi nữa không?"

Nàng bỗng tóm chặt hai cánh tay ta, ánh mắt nóng rực nhìn ta chăm chú, lại tội nghiệp hỏi, "Huynh sẽ bỏ mặc ta ư?"

Ta do dự, song cuối cùng vẫn lắc đầu: "Không đâu.

Thần sẽ luôn ở bên người."

Nàng cười thỏa mãn, vòng tay ôm eo ta, vùi đầu vào ngực ta, như mỗi lần tìm kiếm bình yên trong vòng tay ta trước kia.

Ta thuận thế bế nàng lên, rảo bước xuống lầu, mang nàng tới một lầu gác cách xa đám cháy.

Trong lòng ta, nàng non nớt như đứa trẻ mới sinh, an nhiên hưởng thụ hơi ấm của ta, vào trong gác rồi cũng không chịu để ta thả mình xuống, dùng tư duy chẳng quá minh mẫn tiến hành đối thoại mấy câu chủ đề thoắt đổi liên tục với ta, sau đó thiếp đi trong tình trạng kiệt sức mệt lử.

"Công chúa phóng hỏa sau canh ba."

Đợi ta thả công chúa xuống rồi, Gia Khánh Tử cùng tới chăm sóc nàng nói với ta, "Khi ấy bọn em đều đã ngủ, đến lúc ngửi thấy mùi khói thì lửa đã không nhỏ.

Bọn em vội kéo công chúa ra khỏi căn phòng cháy, nhưng người lại xách dầu tạt lên thân mình, nói gì cũng không chịu xuống lầu, ai cũng mặc kệ, chỉ đòi gặp tiên sinh.

Vương tiên sinh thấy tình thế không ổn, lập tức vào cung báo tin...

May mà quan gia cho Lương tiên sinh trở lại, bằng không, hậu quả thật khôn lường."

Ta thoáng cười khổ, không đáp lời.

Lát sau, chợt nhớ tới Lý Vĩ: "Phò mã đâu?

Lúc xảy ra hỏa hoạn, cậu ấy ở đâu?"

Gia Khánh Tử nói: "Ngài ấy ở trong gác phò mã, nghe nói lửa cháy lập tức chạy đến, mới rồi cũng ở trên lầu muốn khuyên công chúa xuống đấy, tiên sinh không thấy ạ?"

Ta ngạc nhiên.

Hồi tưởng lại tình cảnh mới rồi, toàn bộ sự chú ý của ta đều đặt cả ở công chúa, không mảy may để ý đến Lý Vĩ cũng có mặt.

Như vậy tức là hắn cũng đã chính mắt chứng kiến cả quá trình ta bế công chúa trong lòng rời đi.

Ta trầm mặc nhìn rừng trúc âm u ngoài cửa sổ, không dưng nhớ đến cuộn tranh trúc thủy mặc bị hắn xé tan năm ấy.

Ta không lời nào, Gia Khánh Tử cũng chẳng hé răng.

Tĩnh lặng lâu dài khiến người ta cảm thấy có phần lúng túng, ta bèn tìm chủ đề khác: "Quốc cữu phu nhân..."

Ta định hỏi phản ứng của Dương phu nhân với chuyện này, mà Gia Khánh Tử còn chưa mở miệng, Vận Quả Nhi đã chạy từ ngoài vào, mang đến tin tức về Dương phu nhân.

"Ban nãy quốc cữu phu nhân bỗng chạy lên lầu nghỉ của công chúa, vào một phòng cháy, làm thế nào cũng không chịu xuống!"

Vận Quả Nhi đầy mặt hoảng hốt nói.

Ta cũng cả kinh, lập tức ra cửa, quay trở lại căn lầu vẫn đang cháy hừng hực kia, hỏi lại Vận Quả Nhi đi theo trong lúc rảo bước: "Sao quốc cữu phu nhân lại lên đó?

Phò mã không ngăn bà ấy à?"

Vận Quả Nhi đáp: "Bà ấy vốn chờ dưới lầu, thấy tiên sinh đi vào, sắc mặt bà ấy đã không tốt, sau đó tiên sinh mang công chúa rời đi, bà ấy lại càng không vui, thoạt đầu chỉ căm tức gạt lệ, đại khái là càng nghĩ càng tức, bèn dứt khoát chạy lên lầu, dáng vẻ muốn tự thiêu mới hả dạ.

Phò mã vội chạy lại cản, túm kéo khẩn cầu bà ấy, nhưng quốc cữu phu nhân đã hạ quyết tâm, nhất định không xuống..."

Lúc ta trở lại trước lầu, căn lầu đã cháy sạch, nghiêng nghiêng ngả ngả, chỉ chực sập xuống.

Không ít người thấy ta chạy tới cũng ra ngăn: "Trên lầu nguy hiểm, tiên sinh chớ lên, đợi dưới này là được, chúng tôi đã có người ở trên..."

Ta ngẩng đầu, thấy bên trong lay động bóng người, song ra ra vào vào cũng chỉ có mấy tay nô bộc, phò mã và Dương phu nhân hãy còn ở trong phòng, chưa một lần lộ mặt.

Ta không đợi thêm nữa, đẩy người trước mặt ra, chạy vội lên lầu, vọt vào phòng mẹ con Lý Vĩ đang đứng.

Trong phòng hỗn loạn bừa bãi, tất cả đều là đồ đạc bị gạt xuống.

Một bình hoa lớn bị đập nát tan tành, Dương phu nhân cầm trong tay một mảnh sứ sắc bén, không cho bất kỳ ai tới gần hệt như công chúa mới rồi.

Lý Vĩ không biết phải làm sao, quỳ xuống trước mặt mẫu thân, dập đầu "thùng thùng", rưng rưng luôn miệng khuyên: "Mẹ, mau ra đi, mau ra đi..."

Dương phu nhân bỏ ngoài tai toàn bộ lời hắn khuyên, một tay nắm chặt trụ đứng bình phong, một tay cầm mảnh vỡ bình hoa chỉ vào con trai, ho sù sụ trong khói mù mỗi lúc một dày đặc, song vẫn không ngừng cất giọng mắng mỏ: "Cái thằng không tiền đồ nhà mày, chẳng biết kiếp trước bà đây phạm vào chuyện gì mà đẻ ra con quỷ đòi nợ oan nghiệt dai dẳng nhà mày...

Bà đây hao tâm tổn sức vì mày hơn nửa đời mà mày vẫn chỉ là cái loại bùn nhão không trát được tường, đến làm chồng cũng không biết đường mà làm, đứng trước mặt vợ mà như làm cháu nó vậy...

Bà mày còn ra làm gì?

Tiếp tục nhìn con vợ mày quấy phá?

Nhìn mày im ỉm như rùa đen lông xanh? ...

Hôm nay bà chết luôn ở đây cho rồi, mắt không thấy tâm không phiền, kệ nó ầm ĩ lên trời...

Đợi lát nữa uống canh Mạnh Bà rồi, quên đi có thằng con trai như mày, quên cả có đứa con dâu như nó, mới phấn khởi làm sao..."

Nói đến câu cuối, bi thương trào lên, nước mắt chảy xuống, không khỏi nghẹn ngào, song vừa liếc thấy ta đã tức thì nổi cơn tam bành, mắng ta: "Cái thằng bất nam bất nữ nhà bay, thân đã cắt rồi mà còn chưa tịnh, đã như cái thứ lừa trọc trong miếu rồi mà còn rình rập trộm vợ người ta!

Lại còn đánh không chết, đuổi không đi, bây giờ trở lại là muốn ra oai với bà hay là muốn xem bà thành trò cười? ...

Được thôi, hôm nay bà cho bay toại nguyện, chết ở đây, làm hồn ma ám bay, xem bay tiêu dao được đến khi nào!"

Nói đoạn, bà ta giơ tay đâm xuống, muốn dùng mảnh sứ cắt mạch máu.

Lý Vĩ ngây phỗng, nhất thời không phản ứng được.

Ta xông lên nhào qua, kéo bàn tay dùng sức của Dương phu nhân ra ngay lúc mảnh sứ chạm đến cổ tay bà.

Dương phu nhân sôi gan, vùng khỏi bàn tay ta, quơ mảnh sứ đâm lên đầu lên mặt ta.

Ta cũng không lùi lại, chỉ né đi, để vũ khí bà rơi xuống cánh tay trái và sau lưng mình.

Mũi nhọn của mảnh sứ bỗng chốc chọc thủng mấy lớp xiêm áo ta, đâm xuống da thịt, rạch nên từng vết nứt toác, máu trào ra, nhuộm tay áo trắng thuần của ta màu đỏ tươi chói mắt.

Dương phu nhân nhìn thấy, ngẩn người một chớp mắt, cuộc công kích điên cuồng cũng tạm thời dừng lại.

Ta nhân cơ hội xoay người, một tay giữ chắc vai bà, tay kia gập cùi chỏ, nhanh như chớp thúc mạnh lên thái dương bà, làm bà ngất xỉu trước khi kịp hồi thần.

Lý Vĩ gào lên "Mẹ", tiến lên đỡ mẫu thân, lại nhíu chặt mày mang mấy phần giận dữ nhìn ta, nói: "Anh, anh..."

"Đô úy, bây giờ có thể đưa quốc cữu phu nhân ra ngoài được rồi."

Ta ấn vết thương đang chảy máu trên tay trái, nói với hắn.

2.

Phá kén

Một giờ sau, ta gặp lại Dương phu nhân.

Bà nằm trên sập trong gác mình, mờ mịt nhìn chằm chằm xà phòng ngẩn người, nghe thấy ta vào, bà quay đầu nhìn thẳng ta, đôi mắt khô cạn dấu lệ đỏ ngầu như sắp nhỏ máu.

Ta để ý thấy mái tóc tán loạn của bà bạc hơn rất nhiều so với một năm trước, trông tựa cỏ khô xám trắng, xơ xác thiếu độ bóng, quầng mắt sưng phồng, nếp nhăn hằn sâu, tuổi còn chưa đến hoa giáp mà đã già yếu lọm khọm.

Lý Vĩ bên cạnh bà cúi đầu đứng trước sập, như một cái cây bị sương táp tuyết vùi, chẳng có thần thái sinh động lấy mảy may, thấy ta đi vào cũng chỉ nghiêng đầu ngước mắt liếc thoáng ta một cái rồi lại im lặng thu tầm mắt về mặt sàn dưới chân.

Một năm nay, mỗi người đều như sống trong mùa đông.

Ta buồn bã cụp mắt, tiến lên thỉnh an Dương phu nhân.

Sau khi băng bó vết thương, ta hỏi thăm thị nữ tình hình bà, sau đó bà tỉnh lại, không biết suy nghĩ thế nào, lại cho người truyền ta vào trong gặp.

"Ngươi tới làm gì?"

Bà hung hãn nhìn ta chòng chọc, hùng hổ hỏi, "Tới nhìn xem ta bao giờ tắt thở phỏng?"

Ta không giải thích bất cứ điều gì.

Sau một khoảng dài thinh lặng, Lý Vĩ mở miệng, khẽ nói với mẫu thân: "Mẹ, nếu cậu ấy mong mẹ gặp chuyện không may thì ban nãy đã chẳng lên lầu..."

Dương phu nhân quắc mắt mắng: "Nó cứ cứu ta là có lòng tốt?"

Kế tiếp liếc xéo sang ta, lạnh lùng nói, "Ngươi sợ nếu ta chết, quan gia và các đại thần sẽ không để ngươi yên phải không?

Bằng không, ngươi hận ta như vậy, chỉ sợ hận chẳng thể mặc ta cháy sạch không còn một mảnh xương, cho ngươi và công chúa vui vầy bên nhau, phong lưu khoái hoạt!"

Ta lắc đầu, nói: "Không, tôi không hận phu nhân, cũng không hận bất kỳ ai...

Mới rồi vì sao lên lầu, tôi cũng chẳng nói rõ được, có điều tôi nghĩ, lúc ấy dù là ai ở trên lầu không xuống, tôi cũng đều sẽ đi lên, bất kể người ấy có phải quốc cữu phu nhân hay không."

Dương phu nhân sững sờ, rồi lại nhếch nụ cười châm chọc: "Người tốt trên đời này đều để Lương tiên sinh ngươi một mình làm hết rồi, ngươi cao cả nhân hậu, có lòng bồ tát, ngược lại, ta thì âm ngoan độc địa, chẳng những không chịu tác thành cho ngươi mà còn từng bước o ép, làm đủ điều xấu, ngươi lại chẳng không hận ta ư?"

Ta lại lắc đầu, đáp: "Tôi đúng là tội không thể thứ, nếu tội may mắn có một trai nửa gái, gặp phải chuyện như bây giờ, tôi cũng sẽ thống hận tên thị thần không biết trời cao đất rộng ấy mà thôi...

Phu nhân có lí do để hận tôi, tôi lại chẳng có tư cách hận phu nhân, huống hồ..."

Ta thoáng dừng lại, dời mắt sang mấy chung trà đặt một bên, nói tiếp: "Hương vị chung trà quốc cữu phu nhân mời tôi năm ấy khi tôi lần đầu tới phủ quốc cữu đưa lễ, đến giờ tôi vẫn nhớ."

Dương phu nhân không nói gì, nhìn ta một lúc lâu, bỗng dậy cơn nghẹn ngào, mũi nhọn chĩa vào ta dần thu lại, bà đứt quãng khóc kể, lửa giận nguôi đi, cái còn lại chỉ là vô tận bi thương và oán thán: "Đang yên đang lành, ai lại muốn rắn mặt cứng lòng mà làm kẻ ác bao giờ? ...

Bây giờ các người đều nói ta tính khí không tốt, hung ác với người ta, nhưng nếu ta không hung không ác thì năm xưa quốc cữu gia đã sớm bị đám ông chủ vàng mã và bọn vô lại ác bá đầu đường xó chợ trong thành Đông Kinh chà đạp ức hiếp chết toi rồi...

Tết nhất đến nơi rồi mà ông chủ không chịu trả tiền công cho ông ấy, là ta nửa đêm chạy đến gõ cửa nhà ông chủ, trỏ vào mũi lão mắng mỏ, đòi lại tiền công cho ông ấy.

Sau nữa ông ấy tự lập môn hộ, vất vả mãi mới tích cóp được khoản tiền, vốn định mang sang nhà ta làm sính lễ, lại bị bọn vô lại cướp mất, vẫn là ta xách dao phay đi liều mạng với chúng nó mới giành được tiền về..."

Chỉ vào Lý Vĩ, bà khóc không thành tiếng: "Thằng bé nó hiền lành thật thà, ngậm bồ hòn làm ngọt y chang cha nó vậy, chịu thiệt cũng chẳng nói ra, dẫu là bị đánh gãy răng nuốt máu, ta trông mà xót lòng xót dạ...

Ta biết nó không giỏi ăn nói, chẳng khác nào người gỗ, công chúa không thích à, được thôi, ta nhịn, cùng lắm ta cung phụng công chúa như tiên nữ là được.

Nhưng dẫu sao công chúa cũng đã vào cửa nhà ta, nói ra người khắp thiên hạ đều biết là dâu nhà ta, nay lại có chuyện này với ngươi, ngươi bảo phò mã biết giấu mặt vào đâu?

Ngươi có thể núp cả ngày trong nhà không ra khỏi cửa, nhưng phò mã là người phải ra ngoài gặp người khác thường xuyên kia mà!

Trước nay nó không tranh giành với ai cái gì, hiền lành sống qua ngày, làm người tốt nửa đời, nhưng cớ gì lại phải chịu bậc này nhục nhã, nhường ấy tội nghiệt..."

Bà càng nói càng kích động, cuối cùng gào khóc đau thương, bưng mặt nức nở, mà ta chỉ một mực cụp mắt lắng nghe, không xen thêm một lời.

Bà khóc một hồi, bỗng chống người ngồi dậy, nói với ta: "Lương tiên sinh, tôi biết cậu không phải loại người đầu óc bẩn thỉu.

Lúc mới thấy cậu, tôi quả thực rất thích thằng nhóc cậu, ngoại hình sáng láng, lại hiểu chuyện biết điều, tri thư đạt lễ.

Chuyện với công chúa cũng chẳng phải hoàn toàn là lỗi của cậu, có lẽ, chẳng qua chỉ là nhất thời hồ đồ...

Cậu có thể nói với công chúa, sau này hai người cách xa nhau đôi chút, đừng sinh sự nữa, để nhà chúng tôi được yên bình sống tiếp được không?"

Đối mặt với ánh mắt ngậm đầy mong chờ của bà, ta không biết phải đáp lại thế nào, cau mày, chỉ cảm thấy tình trạng trước mắt như một nút chết, tìm không thấy một đầu dây đặng rút.

Dương phu nhân lại hiểu sự im lặng của ta là từ chối, tức thì òa khóc tiếp, lại quay phắt người chính diện đối mặt với ta, quỳ trên giường, xõa tung mái đầu hoa râm, liều mạng dập đầu với ta, vừa khóc vừa nói: "Van cậu, Lương tiên sinh, nhận lời tôi đi mà, đừng trêu chọc công chúa nữa.

Nếu không, các người bảo tôi biết sống thế nào..."

Ta, Lý Vĩ và thị nữ chung quanh đều kinh hãi, vội tiến lên ngăn cản, mà Dương phu nhân vùng vẫy không chịu, khăng khăng làm động tác dập đầu, tiếng khóc đan xen với tiếng khẩn cầu, nghe mà cõi lòng thê lương, có thể cảm nhận được mùi tuyệt vọng tràn ra từ đáy lòng bà.

Rời khỏi gác ngủ bà hồi lâu mà tiếng khóc khàn khàn ấy vẫn lởn vởn mãi bên tai, xua hoài chẳng đi.

Ta nhìn công chúa ngủ say, thất thần mãi, cho đến khi Gia Khánh Tử đi từ ngoài vào, báo với ta lệnh Dương phu nhân mới ra: "Quốc cữu phu nhân vừa triệu tập nô bộc thị nữ trong phủ, nói không được phép để lộ chuyện tiên sinh tới phủ hôm nay, ai dám lắm lời với người ngoài sẽ cắt lưỡi kẻ đó."

Ta suy đi nghĩ lại, đứng dậy chỉnh trang rồi rảo bước ra ngoài, định hồi cung trước khi công chúa tỉnh, song ra đến cổng phủ, lại chạm mặt Lý Vĩ thân bận công phục, đang dẫn ngựa ra chuẩn bị vào cung.

"Tiên sinh ở lại phủ đi thôi," Hắn nhìn ra ý đồ của ta, nói với ta, "Tỉnh lại rồi mà không thấy tiên sinh đâu, chỉ e công chúa sẽ lại khổ sở."

Hắn nói vậy làm ta hơi ngạc nhiên, mà hắn chẳng để lộ quá nhiều cảm xúc, chỉ chậm rãi quay đầu đi trong cái nhìn chăm chú của ta.

"Ta sẽ giải thích với quan gia chuyện trong phủ."

Hắn nói.

Ta trở lại bên cạnh công chúa, tiếp tục trông nom nàng, cho đến khi nàng mở mắt.

"Hoài Cát, thật sự là huynh."

Nàng vui sướng than thở, "Ta còn tưởng chỉ là nằm mộng."

Nàng cũng không vội truy hỏi ta tình cảnh sau khi chia xa mà tán gẫu vài chuyện vặt thường ngày như trong dĩ vãng, hệt như một năm chia lìa ấy chẳng hề tồn tại, biểu hiện của nàng cũng rất bình thường, hoàn toàn không còn trạng thái điên cuồng mê loạn như đêm qua, ngoại trừ đôi lúc tinh thần có hơi ngơ ngẩn.

"Dầu trúc sen của ta đâu rồi?"

Lúc Vận Quả Nhi chải đầu cho nàng, nàng phát hiện ra dầu bôi tóc không phải loại thường dùng, bèn hỏi câu ấy.

Vận Quả Nhi nhoẻn cười, nghĩ sao nói vậy: "Tối qua công chúa tự mình hắt vãi mà hôm nay lại chẳng nhớ à?"

"Không phải ta cố ý phóng hỏa đâu," Sau nữa, khi chung quanh không có người ngoài, nàng len lén nói với ta, "Ta tỉnh lại giữa đêm, nến đã tắt, thò tay ra không thấy được năm ngón, ta bèn dậy, lảo đảo muốn ra ngoài, song lại bị choáng, chỉ thấy bốn bề đều là tường, tìm thế nào cũng không ra cửa.

Ta sợ bị nhốt trong đó, bèn lấy lư hương trong màn, mở ra tìm bánh hương làm mồi lửa châm nến, nhưng châm thế nào nến cũng chẳng chịu sáng, ta mới thổi bánh hương, lại lỡ thổi đốm lửa dính lên màn sa...

Không biết thế nào mà nhìn lửa càng cháy càng lớn, ta lại rất vui...

Đốt hết những bức tường này rồi, có phải ta sẽ gặp được huynh không?"

Ta cười một tiếng nhám ráp, không chính diện thảo luận chủ đề này với nàng: "Công chúa thân thể ngàn vàng, phải biết quý trọng, về sau đừng khinh suất động vào mồi lửa nữa."

Nàng như chẳng nghe thấy, tiếp tục tự mình nói: "Sau đó họ đều tới kéo ta, ta lại chẳng muốn đi, trong đầu chỉ nghĩ bị thiêu cháy cũng tốt lắm thay, thoát khỏi thân xác này rồi, hồn phách ta có thể bay đi gặp huynh..."

Hốc mắt ta ươn ướt, không dám nhìn thẳng vào hai mắt nàng mà quay đầu nhìn tòa lầu nghỉ hãy còn đang bốc khói xa xa, lại nghe nàng thở dài một tiếng thăm thẳm: "Ta chỉ là, muốn gặp huynh."

Buổi chiều, Lý Vĩ trở lại từ trong cung, đồng hành cùng hắn còn có Vương Vụ Tư và Miêu hiền phi.

Miêu hiền phi vừa thấy công chúa đã kéo nàng lại, nhìn trái xem phải, gọi "Con ta ơi", khóc đứt gan đứt ruột, công chúa cũng rơi lệ theo, mẹ con ôm nhau mà khóc.

Lý Vĩ đứng một bên thẫn thờ nhìn, còn Vương Vụ Tư thì kéo ta vào chái nhà bên cạnh, nhỏ giọng kể với ta, nghe Lý Vĩ thỉnh cầu, kim thượng cho phép ta tạm thời ở lại phủ công chúa, bầu bạn với công chúa.

Đây vốn phải là tin vui, song ta nghe lại chẳng có bất kỳ phản ứng mừng rỡ nào, chỉ gật đầu một cái tựa hồ bày tỏ lĩnh mệnh, là bị động đón nhận sự an bài này.

Vương Vụ Tư hơi bất ngờ, song cũng chẳng truy cứu nguyên nhân, lại kể tiếp: "Ngoài việc này ra, phò mã còn thỉnh cầu quan gia một việc khác."

"Việc gì ạ?"

Ta hỏi.

"Nạp thiếp."

Vương Vụ Tư đáp, "Cậu ấy xin quan gia cho phép cậu ấy chuẩn bị nạp thiếp."

3.

Thất lang

Người thường nạp thiếp không vì sắc thì là vì cầu con, nhưng điều này hiển nhiên không phải mục đích của Lý Vĩ, ít nhất cũng không phải mục đích chính yếu.

Hôm nay hắn nói ra thỉnh cầu này là biểu hiện buông tay đối với công chúa, ta đoán vậy, mà ngay sau đó, Vương Vụ Tư cũng nói cho ta hay: "Quan gia hỏi có phải cậu ấy có ý trung nhân rồi không, cậu ấy đáp không, kế tiếp thêm một câu: 'Nếu quan gia ân chuẩn, thần sẽ đi tìm.'"

Kim thượng đương nhiên chấp thuận thỉnh cầu của hắn, đây là điều có thể nghĩ ra được, ta cũng mau chóng nhìn ra, vốn Miêu hiền phi đi chuyến này cũng chẳng phải chỉ để dỗ dành công chúa.

Khóc với công chúa một trận rồi, Miêu hiền phi lau khô nước mắt, gọi Gia Khánh Tử và Vận Quả Nhi vào một gian buồng trong mật đàm.

Lát sau, ba người đi ra, Miêu hiền phi nắm tay Vận Quả Nhi nói cười vui vẻ, vô cùng thân mật, còn Gia Khánh Tử thì cúi đầu đi sau lưng họ, không nói tiếng nào.

Miêu hiền phi dẫn Vận Quả Nhi đi gặp Dương phu nhân, cũng lệnh Lý Vĩ đi theo.

Đợi họ khuất bóng rồi, ta mới hỏi nhỏ Gia Khánh Tử Miêu nương tử đã nói gì với họ.

Gia Khánh Tử đỏ mặt, ấp a ấp úng, mãi sau mới trả lời sơ sơ.

Hóa ra Miêu hiền phi nghe nói Lý Vĩ muốn nạp thiếp, lo Dương phu nhân sẽ tìm cho hắn một người tục tằn rồi lại đâm chọc tức công chúa, nên muốn tìm một người biết tường tận gốc gác trực tiếp gả cho Lý Vĩ.

Suy đi tính lại, cảm thấy Gia Khánh Tử và Vận Quả Nhi lớn lên cùng công chúa từ nhỏ, tình cảm người khác không thể so với được, mấy năm nay thị nữ hồi môn của công chúa không thành hôn cũng về nhà, Tiếu Diệp Nhi thì đã bị đuổi ra ngoài, khó lắm mới được hai người không rời không bỏ, một mực ở lại bên công chúa, có thể thấy có tình có nghĩa, tính tình cũng chững chạc đàng hoàng, bèn ra sức khuyên họ cưới Lý Vĩ làm lẽ, như vậy vừa giải quyết được việc nạp thiếp, lại có thể để họ tiếp tục làm bạn với công chúa.

Sau khi mật đàm, Gia Khánh Tử uyển chuyển xin miễn, còn Vận Quả Nhi thì cuối cùng cũng gật đầu nhận lời.

Chắc hẳn Dương phu nhân và Lý Vĩ cũng chấp nhận kết quả này, lúc trở lại gác công chúa, vẻ mặt Miêu hiền phi nhẹ nhõm như đã thả xuống được tảng đá trong lòng.

Trước khi rời phủ công chúa về cung, bà cân nhắc câu từ, dè dặt nói chuyện nạp thiếp với công chúa.

Công chúa cũng chẳng bực bội, chỉ là rất kinh ngạc, gọi Vận Quả Nhi tới, bảo nó: "Hôn nhân chẳng phải chuyện đùa, em cũng đừng vì ta mà lấy bừa người không vừa ý.

Ban nãy không biết tỷ tỷ đã nói sao với em, nếu em có chỗ nào không cam tâm tình nguyện thì giờ lắc đầu đi, ta sẽ làm chủ cho em, giải thích với mẹ con phò mã, bảo họ chọn người khác."

Vận Quả Nhi nhẹ nhàng đáp: "Công chúa lo nghĩ nhiều rồi, là em tự nguyện.

Mấy năm nay em không nghe người nhà khuyên bảo đi lấy chồng, ngoài nguyên nhân cao không tới thấp chẳng chịu ra thì cũng là do sợ nếu chỉ dựa vào ba tấc lưỡi dẻo của bà mai đã mơ mơ hồ hồ lấy người xa lạ, lỡ như người ấy tính tình chẳng ra sao, phàm là dính vào nhậu nhẹt say xỉn hay háo sắc dâm ô, về sau em đều khó sống cả.

Hai năm trước Miêu nương tử từng nói muốn xin quan gia ban tỷ muội chúng em cho một quan lớn làm thiếp, em cũng từ chối, bởi nhà cao cửa rộng người ta có thiếu gì tì thiếp, tình hình bên trong lại khó nói, nếu phu nhân người ta không khoan dung thì vào cửa rồi chẳng phải tình cảnh sẽ đáng lo lắm ư...

Trước mặt công chúa, tất nhiên em sẽ không phải lo chuyện này, lại nói đến phò mã, mấy năm nay chạm mặt hằng ngày, em cũng biết tính tình phẩm hạnh chàng rất tốt, đối đãi với người làm vô cùng khoan hậu, tương lai nhất định sẽ chẳng bạc đãi thiếp thất...

Em bằng lòng cả đời ở lại phủ công chúa hầu hạ công chúa và phò mã, có điều, nếu công chúa cảm thấy không thỏa đáng thì Vận Quả Nhi mặt dày mạo phạm rồi, xin công chúa hãy tạm coi như không có việc này..."

Hỏi đi hỏi lại Vận Quả Nhi, chắc chắn rằng nó tự nguyện rồi, công chúa cũng bằng lòng chuyện này, cùng Miêu hiền phi mỗi người ban thưởng rất nhiều tài vật cho nó, lại phân phó quan chủ quản trong phủ chuẩn bị của hồi môn phong phú, chọn ngày lành hành lễ, để phò mã chính thức cho nó danh phận thiếp thất.

Ban đầu, ta cũng lo Vận Quả Nhi bị Miêu hiền phi bức bách nên mới nói vậy, bèn nhờ Gia Khánh Tử lén hỏi lại tâm ý nó, Vận Quả Nhi vẫn đáp là tự nguyện, còn nói: "Tôi không giống công chúa.

Công chúa là lá ngọc cành vàng, tất nhiên mong được gả cho một phu quân thập toàn thập mỹ, tài mạo song tuyệt, có thể ngâm thơ điền từ, đánh đàn vẽ tranh cùng người.

Mà tôi sinh ra đã thấp kém, cũng chẳng có tài nghệ gì, tâm nguyện lớn nhất là lấy một tấm chồng có thể đối xử thiện lành với mình, tướng mạo tài học đều là thứ yếu, quan trọng nhất là tâm tính thiện lương.

Phò mã là người tốt, hơn nữa còn là quý nhân.

Cõi đời này, quý nhân hiền lành như chàng khẳng định chẳng mấy nhiều nhặn, tôi còn gì mà không vui đâu?"

Ngày lành chọn vào giữa tháng Mười.

Chỉ còn cách ngày nạp thiếp không đến một tháng mà Lý Vĩ chẳng có vẻ gì là vui mừng, nhìn thấy Vận Quả Nhi cũng vẫn y như trước, không chú ý bao nhiêu.

Trong lúc Vận Quả Nhi tích cực thêu áo cưới, hắn cũng đồng thời dồn càng nhiều tinh lực hơn vào sưu tầm thư họa và thưởng thức phẩm định, cả ngày ngâm mình trong phòng sách, tưởng chừng như đống quyển trục chất cao như núi kia còn giống tì thiếp mà hắn sủng ái hơn Vận Quả Nhi.

Ngày nào hắn cũng đi thăm công chúa, song chỉ cần thấy ta có mặt là chẳng nói quá hai câu đã vội vàng cáo lui như sợ quấy rầy chúng ta.

Tư thái hèn mọn dị thường ấy làm ta cứ canh cánh áy náy mãi.

Sau một hồi cân nhắc chọn lựa đặc biệt khó khăn, một đêm nọ, ta gõ cửa gác hắn, nói với hắn: "Đô úy, chuyện nạp thiếp có thể hoãn lại ít ngày không?"

Cuối tháng Chín, lâm viên của Lý Vĩ kề bên Nghi Xuân Uyển đã xây xong, hắn lập tức mời công chúa tới đó chơi vài hôm.

Để xây nên khu vườn này, hắn đã phải làm mất mấy năm, mà hiệu quả xác thực cũng không tệ, cây hoa trong vườn tôn sắc lẫn nhau, cảnh đẹp liên miên không dứt, vô cùng thịnh vượng, rất nhiều kỳ hoa dị thảo trồng bên trong đều là vận chuyển từ phương xa tới, đa số người trong kinh đều không kể được tên, lúc ngắm hoa, công chúa thuận miệng hỏi tên hai cây hoa, Lý Vĩ cũng rất để ý, ngay sau đó lệnh người chọn vài miếng ngọc Lam Điền làm biển tên, khắc tên hoa lên, treo lên cành mỗi một cây hoa, để công chúa xem là biết ngay.

Song đó cũng là một chuyện cố sức mà chẳng được lợi lộc gì.

Công chúa xem rồi chỉ cười khẩy: "Nghe nói Án Thù từng chế nhạo bài từ phú quý Lý Khánh Tôn viết, 'Trục bao khúc phổ chữ sách vàng, tên cây danh hoa biển ngọc khắc', nói: 'Ấy là cái tướng của phường giàu xổi.

Nhắc đến phú quý chỉ nói mỗi vàng ngọc gấm hoa, không biết đến cái khí cái chất.' Hôm nay hay lắm, có người lại đem cái biển ngọc của phường giàu xổi trong thơ treo trong vườn thật kìa."

Câu này nàng nói riêng khi không có người ngoài, ta dặn người nghe chớ truyền đi, thế nên Lý Vĩ hoàn toàn không hay biết, có lần hắn hỏi thăm ta ý kiến của công chúa về lâm viên, ta chỉ nói mọi thứ đều tốt, có điều uyển chuyển khuyên hắn bỏ biển ngọc đi.

Bức hoành các nơi trong vườn đều bỏ trống, ý của Lý Vĩ là mời công chúa ban tên, song công chúa hoàn toàn chẳng có tâm tư ấy, bảo ta đặt tên, ta đương nhiên sẽ không làm cái chuyện vượt quá chức phận đó, bèn đề nghị Lý Vĩ mời đương kim danh sĩ tài tuấn khác đề tên bức hoành.

Lý Vĩ cũng đồng ý tiếp nhận đề nghị của ta, lại hỏi mời ai thì ổn thỏa, ta nghĩ ngợi, đáp: "Mời Âu Dương nội hàn đi vậy.

Ông ấy tài hoa xuất chúng, chữ viết cũng đẹp, người đời đều ca ngợi ông ấy là 'chân học sĩ', huống hồ nhiều năm nay ông ấy là người đã thảo rất nhiều chiếu lệnh liên quan đến công chúa, nghi thức hôn lễ của công chúa và phò mã cũng là ông ấy định, kể ra cũng là duyên phận hiếm có."

Lý Vĩ cũng nghĩ như vậy, quyết định mời Âu Dương Tu tới vườn du ngoạn đề tên, lại nói khi trước thiết kế vườn từng trưng cầu ý kiến Thôi Bạch, không bằng hôm ấy cùng mở tiệc cảm ơn.

Hai ngày sau, Âu Dương Tu và Thôi Bạch đúng hẹn tới, đi cùng Âu Dương Tu còn có một văn sĩ trẻ tuổi, tuấn tú nho nhã, nom ngoại hình chưa quá ba mươi.

Lý Vĩ và ta đi trước đón khách, thấy vị văn sĩ kia lạ mặt, Lý Vĩ bèn mời Âu Dương Tu giới thiệu, Âu Dương Tu cười khà khà, nói: "Ban nãy tôi đang định ra cửa thì vị khánh quý này lại đột ngột đích thân tới hàn xá, không khỏi mừng rỡ khôn xiết, muốn giữ cậu ta lại hàn huyên, song lại chẳng dám làm lỡ hẹn với đô úy, để vẹn cả đôi đường, bèn mặc kệ cậu ta phản đối, lôi thẳng cậu ta theo cùng, mong đô úy không trách tội."

Văn sĩ kia phong độ tiêu sái, thanh tú hơn người, huống hồ lại được Âu Dương Tu tôn trọng như vậy, Lý Vĩ đương nhiên cũng nhìn ra được chàng tuyệt không phải người phàm, bèn thi lễ với văn sĩ kia, khách khí hỏi tên họ chàng.

Âu Dương Tu định trả lời thay, văn sĩ kia lại ngăn y lại, tự mình nói: "Tôi xuất thân hàn vi, lại chỉ giữ một chức quan nhỏ chẳng thể làm rạng rỡ tổ tông, không dám nói tên họ mà làm bẩn tai quý nhân.

Ở nhà tôi đứng thứ bảy, bằng hữu thường gọi là Thất lang, đô úy không chê thì cứ gọi vậy là được."

Giọng điệu chàng không chút thất lễ, song thần sắc lạnh nhạt, ánh mắt nhìn Lý Vĩ mang ý ngạo mạn có thể cảm nhận được, từ đầu tới cuối chàng lại đây chuyến này quả đúng là vô cùng miễn cưỡng, cực kỳ không thuận ý nguyện chàng.

Sau hồi hàn huyên, Lý Vĩ đón họ vào vườn, cùng dạo chơi với Thôi Bạch đã đến từ trước, mời họ thưởng thức bình luận cảnh đẹp các nơi, Âu Dương Tu cũng vui vẻ múa bút, đề tên cho các đình đài lầu tạ.

Nghe nói Âu Dương nội hàn và Thôi Bạch cùng đến làm khách, công chúa rất có hứng thú, sai người nói với Lý Vĩ, muốn mời họ đến gác giữa nơi nàng ở dự tiệc, đến lúc đó họ ăn uống tán gẫu trong sảnh, nàng thì buông rèm ngồi một bên, chỉ nghe họ nói chuyện, bản thân sẽ không lộ mặt.

Lý Vĩ thoáng do dự, song vẫn đồng ý.

Đến dạ yến, mọi người đều tới gác giữa, ai nấy vào bàn rồi, chỉ nghe tiếng khuyên vòng công chúa đụng nhau lanh canh, nàng thả nhẹ bước sen đi từ một cửa khác vào sảnh, đoan trang ngồi xuống sau bức rèm che buông rủ.

4.

Dạ yến

Đại khái là vì có mặt công chúa nên chư nam khách đều có phần giữ kẽ, không túy ý nói cười, thỏa thuê hết ý như lúc ở trong vườn nữa, chúc rượu nhau cũng đặc biệt khách khí, công chúa trong rèm lại chẳng nói một lời, thỉnh thoảng bầu không khí lại lạnh xuống, mọi người đành làm bộ tập trung xem ca xướng hát múa, nghĩ chắc hai bên đều sẽ cảm thấy vô vị, ta bèn đề nghị chủ khách chơi ngọc chúc tửu lệnh làm vui, lập tức được mọi người hưởng ứng.

Thôi Bạch đếm số người đang ngồi, cười nói: "Hành tửu lệnh phải càng đông mới càng vui, nam khách chúng tôi bên này chỉ có năm người, còn cần chọn một vị ngọc chúc lục sự, thế là lại bớt mất một người rồi, không bằng công chúa cũng tham gia đi thôi.

Công chúa không cần phải ra khỏi rèm, chỉ cần thỉnh ngọc chúc lục sự đưa truyền lúc rút ngọc chúc là được."

Lý Vĩ lộ vẻ khó xử, trộm liếc ra sau rèm che, mà nơi đó bóng ảnh đong đưa, có tiếng khuyên trâm va chạm nhau khe khẽ và tiếng con gái rì rầm nói chuyện, lát sau, Gia Khánh Tử từ trong rèm đi ra, nói với Thôi Bạch: "Công chúa nói hành tửu lệnh cũng chẳng phải không thể.

Nếu thế, mời Lương tiên sinh làm ngọc chúc lục sự đi vậy."

Ngọc chúc là dụng cụ đựng thẻ tửu lệnh khi hành tửu lệnh, hình dáng như ống thăm, bên trong đựng một số thẻ tửu lệnh, do "ngọc chúc lục sự" được chọn quản lý, lúc chủ khách hành lệnh sẽ đặt thẻ tửu lệnh tới trước mặt người rút thẻ được chọn theo kết quả tung xúc xắc để người đó rút, lại căn cứ theo câu khắc trên thẻ quyết định xem ai uống rượu, uống bao nhiêu, và một vài phương thức thưởng phạt giải trí.

Trong những bữa tụ tập tại tư gia thế này, ngọc chúc lục sự thường do nam khách thiện tửu lệnh và tinh thông âm luật đảm nhiệm, lúc này lại phải gánh cả nhiệm vụ vào trong rèm liên lạc cùng công chúa, thế nên công chúa chỉ định ta làm.

Ta đứng dậy lĩnh mệnh, nhận lấy bộ ngọc chúc Luận ngữ thị nữ đưa tới, đặt hộp xúc xắc tới trước mặt Lý Vĩ, mời hắn lắc trước.

Lý Vĩ lắc lắc, mở ra thấy được bốn chấm, đếm theo thứ tự, người rút thẻ tửu lệnh chính là Âu Dương Tu.

Trong ngọc chúc có hơn mười thẻ tửu lệnh, tất thảy đều mang hình dáng dài hẹp, chuôi hình bầu dục, bằng bạc mạ vàng, mặt trên khắc lời lệnh theo thể chữ khải, nửa câu đầu là lời trong "Luận ngữ", nửa câu sau là nội dung hành lệnh.

Âu Dương Tu rút một thẻ trong ống ngọc trúc ta trình lên, ta nhận lấy, cao giọng đọc thành tiếng: "Tử tại nước Tề nghe nhạc Thiều, ba tháng không biết mùi thịt (*), kính chủ nhân năm phần."

(*) Trích từ Luận ngữ, cả câu

Hán Việt: "Tử tại Tề văn Thiều, tam nguyệt bất tri nhục vị, viết: Bất đồ vi nhạc chi chí ư tư dã", dịch nghĩa: "Khổng Tử ở nước Tề nghe nhạc Thiều, ba tháng không biết mùi thịt, bảo: Không ngờ nhạc tác động tới ta được như vậy."; Thiều là tên khúc nhạc của vua Thuấn nhà Ngu.

Âu Dương Tu mỉm cười với Lý Vĩ, nâng chén, Lý Vĩ cũng lập tức nâng chén, uống năm phần.

Sau đó, Âu Dương Tu nhận lấy xúc xắc định lắc tiếp, lại thấy Thất lang khoát tay, nói: "Công chúa cũng là chủ nhân nơi đây, cớ sao nội hàn chỉ kính đô úy mà không kính công chúa?"

Âu Dương Tu cười to: "Nói có lý, là ta sơ xuất rồi." bèn nâng ly đứng dậy chúc rượu công chúa.

Thị nữ sau rèm che rót rượu đầy chén cho công chúa, lúc công chúa sắp uống, chén rượu lại bị Gia Khánh Tử cản lại.

Ngay sau đó, Gia Khánh Tử hiện thân ra ngoài rèm, nói với mọi người: "Công chúa ốm bệnh mới khỏi, lại vốn chẳng giỏi uống rượu xưa nay, không bằng để công chúa hành, nhưng rượu thì hãy để tôi thay mặt công chúa uống."

Sức khỏe công chúa hôm nay quả thật rất yếu, vốn ta cũng chẳng muốn để nàng uống nhiều, bèn biết thời biết thế nói được, Lý Vĩ hùa theo, mọi người cũng không tiện phản đối, năm phần rượu Âu Dương Tu kính công chúa liền do Gia Khánh Tử uống thay.

Tiếp đó, Âu Dương Tu lắc xúc xắc, lần này đếm tới công chúa, công chúa rút ra xem, thấy viết: "Có bạn từ xa đến chơi, lại chẳng vui ư, kính khách năm phần."

Nàng không nhịn được cười rộ, cũng không hạ giọng mà nói thẳng, "Thẻ này sao mà hợp tình hợp thế quá!" bèn lệnh ta tuyên đọc, lại bảo Gia Khánh Tử kính chúng tân khách năm phần.

Mọi người lập tức đứng dậy, khom người với công chúa rồi uống năm phần, Gia Khánh Tử cũng uống đáp lại họ một lượt.

Tình hình sau đó khá kỳ quặc, trừ một lần ta bị Thất lang rút trúng "Hỏi một biết mười, chúc ngọc chúc lục sự năm phân ra" thì mấy vòng còn lại người uống rượu cơ hồ đều là chủ nhân, những thẻ ấy đều kiểu "Chúc chủ nhân năm phần", "Kính chủ nhân mười phần".

Có một lần, Thôi Bạch rút được "Quân tử không trọng ắt không uy (*), chúc người quan cao mười phần", bèn chúc Âu Dương Tu uống rượu, Âu Dương Tu lại nói mình nào cao quý bằng công chúa, trước mặt con gái hoàng đế, bề tôi sao dám xưng quan cao, liền từ chối không uống, bảo Thôi Bạch quay sang chúc công chúa.

Cuối cùng lại là Gia Khánh Tử uống chén ấy thay công chúa.

(*) Cả câu

Hán Việt: "Quân tử bất trọng tắc bất uy, học tắc bất cố", dịch nghĩa: "Quân tử không trang trọng thì không có uy nghiêm, kể cả có học kiến thức cũng không vững chắc".

Tửu lượng của Gia Khánh Tử vốn không cao, chén rượu dùng trong bữa tiệc lần này lại là ly ốc sứ trắng, sức chứa không nhỏ, được mấy chén vào bụng, mặt nó đã ửng màu đào, ngà ngà chuếnh choáng.

Thôi Bạch để ý đến, liếc nó mấy lần, mắt lộ vẻ thương tiếc.

Sau, đến lượt gã rút thẻ, gã xem thử, cũng không đợi đưa cho ta tuyên đọc đã nhanh chóng bỏ lại thẻ vào ống, tự mình cất giọng: "Chuyện mình chẳng mong chớ đẩy sang người, thôi!"

Song Âu Dương Tu ngồi cạnh lại lắc đầu cười bảo: "Thẻ Thôi tiên sinh rút được không phải thẻ này đâu."

Sau đó đưa tay rút thẻ Thôi Bạch vừa bỏ vào ống ra, chìa cho mọi người xem, "Phải là thẻ này mới đúng.

Trên đầu thẻ này hơi sứt, mới rồi ta cũng từng rút trúng nên vẫn nhớ."

Ta nhận lấy xem, quả nhiên lại là thẻ "Tử tại nước Tề nghe nhạc Thiều, ba tháng không biết mùi thịt, kính chủ nhân năm phần".

Những người xem còn lại biết được, cũng đều cười rộ, nói ăn gian tại chỗ, nên phạt.

Thất lang tủm tỉm ngó Thôi Bạch: "Hóa ra Tử Tây huynh cũng là người thương hương tiếc ngọc."

Thôi Bạch cười không đáp, chỉ nói với ta: "Được, phạt thế nào, mời ngọc chúc lục sự hạ lệnh, nhưng thẻ mới rồi xin chớ đếm số."

Ta lập tức ưng thuận đề nghị của gã, mỉm cười nói: "Vậy mời Tử Tây hiến nghệ chúc rượu cho chủ khách, không giới hạn trong hát khúc diễn trò, miễn thú vị là được."

Thôi Bạch gật đầu, đứng dậy lấy từ trong tay áo ra một món đồ, nói với mọi người: "Tôi cũng đoán được buổi tiệc hôm nay không thể thiếu hành tửu lệnh nên mang cái này đến, mong thu được một tiếng cười của chư vị."

Gã chầm chậm gảy sợi, mở món đồ kia ra.

Đó là một con rối nho nhỏ bằng gỗ sơn màu trang trí, áo bào tay rộng, ăn mặc kiểu thư sinh, mỗi khớp xương đều có thể hoạt động, đầu và tay chân buộc sợi tơ, đầu dây còn lại nối với tay cầm hình vuông, hai tay Thôi Bạch lên xuống, chuyển động tay cầm, tượng gỗ bên dưới cũng theo đó khoa tay múa chân, động tác rất ư linh hoạt.

Trước lúc biểu diễn, Thôi Bạch hỏi ta: "Hoài Cát có thể góp cho tôi một khúc 'Điều tiếu' ca múa chăng?"

Ta nhận lời, sai người lấy sáo tới, đứng một bên, đưa sáo tới bên miệng, bắt đầu đệm nhạc cho gã.

Thôi Bạch đi ra giữa sảnh, một bên nhấc dây điều khiển con rối, một bên hát theo tiếng sáo: "Lầu gác lung linh ráng mây vờn, nước thu ngăn trở người mơn mởn.

Sông nước mênh mông trời vời vợi, trăng sáng tỏ lòng người xa xôi..."

Con rối gỗ vung tay áo uyển chuyển nhảy múa, tư thái có hồn, hệt như một người có sinh mệnh, người xem không khỏi nín thở chăm chú nhìn, cũng chăm chú nghe tiếng hát trầm lắng ngân nga trong dịu dàng lại có mấy phần thê lương của Thôi Bạch: "Ngàn xa, sông Sở loá, trăng sáng lầu cao tựa la đà.

Điện đài giếng cội màu thu nhuộm, Vu Sơn đếm đoạn mười ba.

Da tuyết mặt hoa dường na ná, gác son mây tía giấu tiên nga."

Người nghe chăm chú nhất là Gia Khánh Tử, Thôi Bạch hát xong, mọi người vỗ tay reo hò mà nó vẫn chưa hồi thần, hãy còn ngơ ngẩn nhìn con rối đăm đăm, mãi đến khi công chúa gọi liền ba tiếng, nó mới như tỉnh cơn chiêm bao, vội vã vào rèm hỏi công chúa có gì phân phó.

Công chúa bảo Gia Khánh Tử đi lấy con rối của Thôi Bạch cho nàng xem, Thôi Bạch vui vẻ dâng lên, công chúa ngắm nghía tỉ mỉ rồi thở dài: "Con rối bình thường ta hay thấy đều là kiểu đầu to người nhỏ, hiếm thấy kiểu tỷ lệ vừa vặn như của Thôi tiên sinh, y như người thật vậy."

Thôi Bạch thưa: "Thường ngày tôi cũng hay vẽ nhân vật Phật Đạo, thế nên có chút hiểu biết về xương cốt thân hình người.

Con rối này vốn làm giải buồn trong lúc rỗi rảnh, bất tri bất giác phỏng theo tỷ lệ người thật, thành ra lại mất vẻ khả ái ngộ nghĩnh của con rối bình thường.

Công chúa thích hãy cứ giữ lấy, lần tới có đẽo gọt mài giũa, tôi sẽ làm lại một con đẹp hơn cho công chúa."

Công chúa hí hửng nhận lấy con rối, lại bảo Gia Khánh Tử kính Thôi Bạch một chén, Thôi Bạch mỉm cười khom người nói: "Nhã ý của công chúa, Thôi Bạch tất nhiên chẳng dám chối từ, sẽ uống đủ mười phần, nhưng vị cô nương này hôm nay đã uống nhiều lắm rồi, không bằng đổi cho cô ấy ly ốc trắng sang chén lá chuối, để cô ấy uống một phần là được."

Chén lá chuối là loại cốc đựng rượu có sức chứa nhỏ nhất.

Công chúa nghe theo lời thỉnh cầu của gã, sai người đổi ly ốc trắng của Gia Khánh Tử đi.

Gia Khánh Tử uống xong, nhìn Thôi Bạch vô cùng cảm kích, chạm trúng ánh mắt tủm tỉm của gã, nó lập tức bối rối, mặt đã sẵn đỏ ửng lại bồi thêm một tầng sắc son.

Sau đó mọi người cụng ly đổi chén, tiếp tục hành tửu lệnh.

Giữa chừng có một ca cơ tên Tiểu Bình ôm tỳ bà ra tấu khúc hầu rượu, lập tức khiến Thất lang chú ý, khi Tiểu Bình gảy đàn, ánh mắt chàng sẽ khóa lấy người cô, không mảy may di dời.

Tiểu Bình tình cờ trông thấy chàng giữa lúc nghiêng mặt, thần sắc cũng lộ vẻ khác thường, tựa hồ hai người quen biết nhau.

Tiểu Bình tấu hết một khúc, Thất lang dứt khoát gọi cô lại bên mình, hai người nhỏ giọng thầm thì, Tiểu Bình nói đến chỗ xúc động, không khỏi rơi lệ, Thất lang lập tức nâng tay áo lau nước mắt cho cô, nhìn cô đăm đăm, ánh mắt dịu dàng, như coi tất thảy người xung quanh đều là không khí.

Sau đó, Lý Vĩ rút được một thẻ: "Ta chưa từng thấy kẻ nào hiếu đức như háo sắc, ai nhiều lời với nữ tử uống mười phần."

Ta vừa đọc lời lệnh, trong sảnh lập tức rộn tiếng cười, mọi người đều dời ánh mắt ngập ý hài hước nhìn về phía Thất lang.

Thất lang cũng không biện giải, một tay bưng lấy chén rượu đầy trước mặt, ngẩng đầu một hơi cạn sạch.

Chúng nam khách cười khen hay, Gia Khánh Tử lại đi ra truyền chỉ thị của công chúa: "Háo sắc không phải chuyện tốt, uống rượu thôi không đủ, phải phạt."

Mấy người không liên can đương nhiên sôi nổi hùa theo, mà Thất lang cũng sảng khoái nhận lời, trực tiếp nói với ta: "Nên phạt thế nào, mời lục sự nói rõ."

Ta mỉm cười: "Mới rồi Thôi Tử Tây đã hát một bài, hay là lang quân ngẫu hứng điền từ theo điệu khúc tôi tấu, cũng hát một bài trợ hứng đi."

Thất lang đồng ý, ta bèn một lần nữa nâng sáo ngọc lên, thổi một bài "Giá cô thiên".

Thất lang trầm ngâm nghe khúc, ta mới tấu hết một vòng, chàng đã có dự tính trong lòng, cất tiếng trong trẻo hát theo điệu khúc ta tấu lại: "Tay vén ân cần chúc ngọc chung, năm ấy má ửng say chén nồng.

Múa nghiêng dương liễu trăng lầu rọi, ca dứt đào hoa gió quạt ngừng.

Rồi từ bấy, nhớ tương phùng, mấy bận say giấc chung cơn mộng.

Đêm nay nến bạc soi cho tỏ, vẫn ngỡ gặp nhau chốn mơ mòng."

5.

Ly hận

Nghe khúc này, công chúa sững sờ xúc động, trong lúc mọi người đang đồng thanh khen Thất lang tài tình, nàng lặng lẽ đứng dậy, chậm rãi khẽ khàng đi tới sau rèm che, thoáng vén rèm lên, xem vị thư sinh tuấn tú đang hờ hững nâng ly kia.

Ngồi trở lại chỗ rồi, nàng gọi ta tới, nhỏ giọng hỏi ta thân phận Thất lang, ta nói những gì mình biết cho nàng hay, tức là mấy lời thưa thớt Thất lang tự giới thiệu về mình khi trước.

Công chúa nghe xong lắc đầu, nói: "Cái gọi là xuất thân hàn vi chẳng qua chỉ là lời người này tự khiêm tốn đấy thôi.

Có thể viết ra 'Múa nghiêng dương liễu trăng lầu rọi, ca dứt đào hoa gió quạt ngừng', tất phải là dòng dõi công khanh không thể nghi ngờ."

Ta cẩn thận ngẫm nghĩ câu ấy, cũng đồng ý với quan điểm của công chúa.

Suốt đêm suốt sáng xem ca vũ dập dìu trên lâu đài thủy tạ, cho đến khi trăng chìm sao náu, ca cơ trong đó cầm quạt ngâm nga, phe phẩy gió mát dịu dàng, đêm dài xa thẳm, cuối cùng mỹ nhân hát đến kiệt sức, hơi yếu khí suy, đến chiếc quạt hoa đào mỏng tang như cánh ve kia cũng chẳng quạt gió được nữa...

Ấy chẳng phải chính là khí chất phú quý Án Thù nói đến ư?

Nếu Thất lang quả thật là con nhà túng bần thì sao có thể có trải nghiệm này?

"Hơn nữa, văn vẻ hắn tuyệt diệu, đích thực là tài tử."

Công chúa thở dài, "Trong con em công khanh, hạng giá áo túi cơm xem mỹ nhân ca múa cả ngày lẫn đêm cũng rất nhiều, song chúng chẳng thể nào viết ra được câu từ đẹp nhường ấy."

Sau đó, chúng ta tiếp tục hành lệnh trong tiếng tỳ bà của Tiểu Bình, uống rượu vui cười, bất tri bất giác đã đến nửa đêm.

Âu Dương Tu nghe thấy tiếng đồng hồ nước của hộ dân bên ngoài điểm canh, bất đồ hoảng hốt bật dậy, cáo từ với mọi người, nói sáng mai còn phải vào triều sớm, phải về ngay bây giờ.

Lý Vĩ lập tức đứng dậy giữ lại, các nam khách còn lại cũng nhao nhao tiến lên kéo y ngồi xuống, nói hiếm có duyên hội ngộ, hôm nay nên tận hứng mới phải.

Âu Dương Tu tương đối do dự, sau cùng, công chúa bảo Gia Khánh Tử ra truyền lời: "Phòng khách trong vườn hãy còn mấy gian sạch sẽ, mời nội hàn uống nhiều thêm mấy ly, đến khuya thì sang phòng khách nghỉ ngơi, lát nữa đô úy sẽ sai người đến nhà nội hàn lấy công phục triều hốt, ngày mai nội hàn đi thẳng từ đây vào triều cũng như nhau."

Lý Vĩ tức khắc gọi hai tiểu hoàng môn, bảo họ đến nhà Âu DươngTu lấy công phục triều hốt.

Tiểu hoàng môn lanh lợi đáp lời, nhanh chóng ra cửa.

Âu Dương Tu thấy vậy cũng không khăng khăng, ở lại ngồi xuống, một lần nữa nâng chén cùng mọi người.

Ta nhớ đến Thất lang cũng có quan hàm, bèn đi tới cạnh chàng ôn hòa hỏi có cần phái người đến nhà chàng lấy đồ đạc cần để vào triều không, chàng cười khẽ, nói: "Không cần đâu.

Tôi phẩm cấp nhỏ, vốn không có tư cách lên điện diện thánh như nội hàn."

Hôm đó trước khi tan tiệc, Âu Dương Tu đề nghị: "Ngọc chúc lục sự phục vụ bọn tôi, khổ cực một đêm mà bản thân lại chẳng được hưởng thú vui hành lệnh, thẻ cuối cùng mời cậu ấy rút đi thôi."

Mọi người đều nói phải, ta bèn rút lấy một thẻ trong ống ngọc chúc, trên đó viết: "Giao du với bạn nói lời đáng tin, mời bạn mười phần."

Ta nhìn chư vị nam khách một lượt, cuối cùng nâng chén khom người với Lý Vĩ: "Chén này, Hoài Cát cả gan xin được mời đô úy uống cùng."

Lý Vĩ cùng ta nhìn nhau, đều hiểu lòng nhau mà không nói.

Hắn cũng yên lặng nâng chén, cùng ta song song uống cạn.

Dọn rượu thịt đi rồi, công chúa thấy mọi người vẫn còn dư hứng, bèn đề nghị tân khách làm thơ điền từ lấy vui, Âu Dương Tu và Thất lang đều đồng ý, Thôi Bạch thì nói: "Thi từ không phải sở trường của tôi, lại chẳng dám múa rìu qua mắt nội hàn, trận này mạn phép cho tôi đứng xem thôi."

Công chúa đáp lại: "Thôi tiên sinh khiêm tốn quá rồi.

Hôm nay nghe mấy câu 'Điều tiếu' của anh, đã biết anh chữ nghĩa khôn cùng.

Nhưng nếu tiên sinh không muốn làm thơ đùa giỡn thì ta cũng chẳng tiện nài ép.

Thường nghe tiên sinh vẽ tranh không cần bút phác, hạ bút ra ngay ý tưởng, chẳng bằng hôm nay ngẫu hứng phác một bức hoa trúc lông vũ, không cần hoàn thành toàn bộ, cho bọn ta chiêm ngưỡng bút lực của tiên sinh là đủ rồi."

Thôi Bạch khiêm tốn dăm lời, song nghe công chúa mời ba phen mấy bận, cuối cùng vẫn bằng lòng vẽ tranh.

Công chúa bèn bảo người chuẩn bị bút mực, phục vụ họ thi triển tài nghệ.

Trước khi nhấc bút, Âu Dương Tu hỏi công chúa có hạn định về thể thức, đề mục, vần chân không, công chúa nói: "Chư vị chớ ngại tự quyết định làm thơ hay điền từ, cũng không cần giới hạn vần chân, ta chỉ ra một chủ đề, chư vị thuận theo tâm ý mà làm là được."

Âu Dương Tu và Thất lang gật đầu ưng thuận, lại hỏi công chúa chủ đề.

Công chúa suy nghĩ rồi đáp: "Tả ly hận đi vậy."

Chợt quay sang Thôi Bạch, "Thôi tiên sinh cũng vẽ tranh theo chủ đề này đi."

Mọi người lĩnh mệnh, ai nấy đều trầm ngâm suy tư.

Sau đó, Âu Dương Tư thấy Tiểu Bình vẫn bẽn lẽn chau mày đứng sau lưng Thất lang, thi thoảng lại thủ thỉ với chàng, không khỏi mỉm cười, tức thì nâng bút, viết xuống một bài "Ngư gia ngạo": "Thiếp hiểu thanh ca khéo cười chào, trẻ trung chàng đâu thiếu tài mạo.

Cớ chi bỏ ngắn vòng đường cao?

Tin vắng hao, đầu nguồn lại rầu rầu thanh thảo.

Khi xưa hái hoa đẹp tươi sao, mặt ngọc cười dài hoa chóng lão.

Hôm nay hái hoa mà ảo não, lòng nao nao, mặt ngọc sao bằng hoa mỹ hảo."

Viết xong, y đưa thẳng bài từ tới trước mặt Tiểu Bình, chắp tay mời cô diễn xướng.

Tiểu Bình xem thử, nhất thời đỏ bừng mặt, Thất lang lại vẫn bình thản, nói với cô: "Nội hàn đã yêu cầu thì em cứ hát đi thôi."

Tiểu Bình đành nhận lời, ôm tỳ bà, tay khẽ gảy dây tơ, bắt đầu cất tiếng hát.

Trong lời ca của cô, Thất lang cũng giải thích sơ qua duyên phận khi xưa giữa hai người: "Em ấy từng là ca cơ trong nhà Trần Quân Sủng bạn tốt của tôi, thuở thiếu thời tôi thường yến ẩm qua lại với Quân Sủng, gặp em ấy rất nhiều lần.

Sau đó, tôi ra ngoài làm quan mấy năm, đến khi trở về lại nghe nói em ấy đã bị bán cho người khác...

Chẳng ngờ hôm nay có duyên trùng phùng trong vườn phò mã."

Nói tới đây, chàng buông tiếng thở dài, nhấc bút viết láu, là một bài "Lâm giang tiên": "Mộng tàn lầu cao đã khóa, rượu tỉnh rèm trướng buông mi.

Hận xuân năm cũ lại đúng thì.

Hoa rơi người lẻ bóng, mưa phùn nhạn song phi.

Còn nhớ Tiểu Bình mới gặp, chữ lòng áo lụa còn ghi.

Tỳ bà ngỏ tiếng nỗi nhớ si.

Bấy giờ trăng sáng rọi, từng theo bóng mây tùy."

Viết xong đặt bút xuống, chàng chậm rãi nhấp một ngụm trà thị nữ dâng lên, lại ngó Tiểu Bình hãy còn đang hát bài từ của Âu Dương Tu, trong mắt chất chứa phiền muộn.

Sau một tuần trà, Thôi Bạch thông báo đã phác họa xong, mời mọi người lại xem.

Ngoài công chúa, chủ khách đều túm tụm đi tới, thưởng thức bức tranh gã vẽ.

Đó là một bức vẽ phác trúc âu thủy mặc, họa một con âu trắng đón gió lạnh vượt nước phi băng băng nơi mép nước núi hoang, bên phải có ba cây trúc mực, lá trúc và cỏ thu trên bờ nước đều bị gió thổi nghiêng sang một bên, có thể thấy gió rất mạnh, mà mắt âu trắng trợn tròn, mỏ dài vươn ra, có phần kinh hãi lo sợ.

"Ý cảnh bức họa này tiêu điều hiu quạnh, trong ngang tàng phóng túng lại cảm nhận được hoang vắng lạnh lẽo, có thể thấy lòng Tử Tây rong ruổi cõi hoang dã khoáng đạt, chốn thôn quê tịch mịch."

Âu Dương Tu xem mà xúc động, lại nói, "Có điều, chủ đề công chúa định ra là ly hận, chỉ xem tranh này, tựa hồ không đủ sát đề..."

Lúc này, Gia Khánh Tử cũng đang nhón chân sau lưng chủ khách ngó tranh Thôi Bạch vẽ, nghe Âu Dương Tu bình vậy, không nhịn được bật thốt tranh luận; "Sao lại không đủ sát đề?

Chẳng lẽ cứ phải vẽ hai con chim, mỗi con một ngả, mới gọi là 'ly hận'?"

Mọi người nghe thấy, đều cười quay sang nhìn nó.

Gia Khánh Tử kinh hãi nhận ra mình thất lễ, vội đỏ mặt xin lỗi Âu Dương Tu, Âu Dương Tu lại ôn hòa bảo nó: "Cô nương có cao kiến gì xin cứ nói, đừng ngại."

Có y khích lệ, Gia Khánh Tử trù trừ một lúc rồi lần lượt trình bày cái nhìn của mình: "Gió thổi mạnh như vậy, nhưng con chim âu này vẫn một mực ngược gió bay về, nhất định là bởi bên ấy có bạn lữ của nó.

Hoặc giả, sóng gió hiểm trở, chia rẽ uyên ương, chúng nó vốn là bị cuồng phong thổi bạt mà tan.

Ngược gió đi rất khó khăn, nhưng nó vẫn nhớ nhung bạn lữ của mình nên ra sức thử quay về bên bạn lữ, dáng vẻ lo lắng ấy chẳng phải chính là biểu hiện ly hận đó sao?"

Nghe lời này, trong lòng ta xúc động, mà công chúa cũng lập tức sai người mang bức vẽ lại cho nàng xem, xem rồi thở dài sâu kín, không tiếc lời ngợi ca Thôi Bạch.

Những người còn lại cũng tán tụng gã, Thôi Bạch khoát tay, xoay người xá dài Gia Khánh Tử, nói: "Tôi vốn chỉ tùy bút vẽ bừa, đều nhờ có lời hay của cô nương, tăng thêm không ít sắc màu cho chuyết tác."

Gia Khánh Tử cúi đầu nhẹ giọng đáp: "Nào có, trước kia hầu hạ công chúa, tôi cũng từng thấy một số đại tác phẩm của tiên sinh, vô cùng khâm phục công lực tài tứ của tiên sinh, còn hận mình miệng vụng, chẳng thể hình dung được một phần vạn."

Thôi Bạch mỉm cười: "Công chúa ham thích thưởng thức thư họa từ nhỏ, cô nương mưa dầm thấm đất, hẳn cũng từng xem rất nhiều vật báu.

Thôi Bạch nắm cày không thạo, vẽ tranh cũng chẳng ra đường lối gì, đến Họa viện cũng đuổi tôi ra ngoài, mấy bức nguệch ngoạc này vốn đã khó treo trong sảnh đường trang nhã, lại càng chẳng kham nổi chịu cô nương khen lầm."

Gia Khánh Tử lắc đầu, nói: "Phù hợp với quy cách của Họa viện vị tất đã là tốt.

Tranh hoa điểu của Họa viện tuy phối màu rực rỡ, giàu chất phú quý, song ngắm nhiều lại cảm thấy cứng nhắc khô khan, chim chóc hoa hòe cứ như ngoan ngoãn bày sẵn tư thế ở đâu đó cho chúng họa sư vẽ lại vậy.

Mà tranh của tiên sinh thì khác, chẳng hạn như bức trúc âu này, bất kể là chim muông hay hoa trúc cũng đều hiển lộ rõ thế động, vẽ y như thật, hệt như có vị thần tiên bỗng chỉ tay, làm cảnh tượng đang diễn ra chợt ngừng bặt.

Hơn nữa, xem bức họa này còn có thể khiến người ta liên tưởng đến chuyện phát sinh đằng sau.

Trong tranh tiên sinh có câu chuyện."

Lời này làm Thôi Bạch không khỏi sửng sốt, kinh ngạc nhìn Gia Khánh Tử hồi lâu, chằm chằm thẳng tắp khiến nó sinh lòng bất an, rất ư thấp thỏm nói với gã: "Tôi chưa từng học vẽ, chỉ toàn nói ẩu thôi.

Nếu có chỗ nào sai sót, mong tiên sinh lượng thứ..."

Bấy giờ Thôi Bạch mới dời mắt đi, cùng ta nhìn nhau cười.

Thấy Gia Khánh Tử vẫn đang khẩn trương quan sát vẻ mặt hai ta, ta bèn tủm tỉm an ủi nó: "Em nói hay lắm, quả đúng là thế."

6.

Áo cưới

Đến lúc khúc dứt người tan thì đã gần canh tư, Thất lang và Thôi Bạch lần lượt cáo từ, ta đưa Âu Dương Tu đến phòng khách rửa ráy sơ qua, đợi giờ lên triều.

Trên đường ta hỏi y thân phận của Thất lang, y nói ta hay: "Thất lang chính là thất công tử nhà Án Nguyên Hiến công, tên Kỷ Đạo, tự Thúc Nguyên."

Bấy giờ ta mới rõ, thì ra chàng chính là con út của Án Thù, cậu bảy của Nhược Trúc, Án thất công tử Án Kỷ Đạo tiếng tăm lẫy lừng.

Chàng xuất thân tướng môn, thi từ tuyệt diệu, danh sánh ngang cha, khó trách ngang tàng bất kham, ngạo mạn quyền quý như vậy.

Ngày kế, ta kể lại chuyện này với công chúa, ngoài kinh ngạc nàng còn rất cảm khái, đi tới bao lơn lộ thiên, vuốt ve lan can đăm chiêu đến xuất thần, ta nghĩ nàng đang nhớ lại câu từ của Tiểu Án nghe được năm ngoái ở Bạch Phàn Lâu: "Đây gấm uyên ương ai cùng đắp, chung giấc lầu tây tiết xuân hàn."

"Bảo Lý Vĩ nghe ngóng xem nhà hắn ở đâu rồi đưa Tiểu Bình sang nhà hắn đi."

Sau đó, công chúa phân phó vậy.

Chiều hôm ấy, Nhậm Thủ Trung bỗng từ trong cung tới, thần sắc nghiêm túc hỏi Lý Vĩ có phải hôm qua đã mời Âu Dương Tu đến nhà dự tiệc.

Lý Vĩ thừa nhận, nơm nớp hỏi ông ta đã xảy ra chuyện gì.

Nhậm Thủ Trung cười khặc khặc: "Ngoại thích quốc triều bị cấm mời tân khách, không được gặp mặt kẻ sĩ, huống chi là kết giao với trọng thần triều đình.

Những điều này chẳng lẽ đô úy không biết?"

Lý Vĩ sửng sốt, nhất thời bặt thinh, ta bèn thay mặt giải thích: "Đô úy không qua lại với quan viên trong triều đâu ạ, chẳng qua gần đây vườn phò mã vừa xây xong nên bận này mới mời Âu Dương học sĩ tới đề mấy bức hoành, chỉ là dịp ngẫu nhiên, lần sau sẽ không như thế nữa."

Nhậm Thủ Trung hỏi vặn lại: "Muốn mời y đề chữ thì chỉ cần xin quan gia trực tiếp hạ chỉ, bảo y viết trong Hàn uyển rồi trình lên là được, nhất định phải mời vào nhà à?

Huống hồ đô úy còn uống rượu nói cười với y thâu đêm suốt sáng, chủ đề nói chuyện trong cỗ rượu chưa hẳn đã chỉ là đề chữ thôi đâu phải không?"

Ta nói: "Chỉ hành vài tửu lệnh thôi ạ, hoàn toàn không nói đến cái khác."

Nhậm Thủ Trung cười khẩy: "Có nói cái khác hay không, đài gián vị tất đã nghĩ như ngươi.

Hơn nữa, phò mã đô úy mời triều thần đến nhà làm khách vốn đã phá hỏng quy định, bất kể anh bàn luận với y chuyện nước hay chuyện nhà cũng đều là phạm kỵ.

Lần này Âu Dương Tu có thể sẽ lại gặp trắc trở lớn, quan gia cũng bảo lão nô tới cảnh tỉnh đô úy, về sau tự giải quyết cho ổn thỏa."

Nghe đến câu cuối, ta và Lý Vĩ đều cả kinh.

Lý Vĩ hỏi Nhậm Thủ Trung: "Âu Dương nội hàn sẽ bị liên lụy vì việc này ạ?"

Nhậm Thủ Trung nói: "Y cũng là kẻ biết rõ còn làm trái, tự chuốc vạ vào thân.

Hôm nay y vào triều rất sớm, là người đầu tiên vào cung trong số quan viên Hàn uyển, khác hẳn thường ngày.

Người trong cung thấy vậy đều lấy làm lạ, bàn tán mấy câu, đài quan nghe nói lập tức đi tra, rất nhanh sau đó đã tra ra hôm qua y đi ăn cỗ nhà đô úy, chơi cả một đêm, sáng nay ngủ dậy trực tiếp vào triều từ vườn phò mã.

Quan gia biết chuyện, không đợi đài gián chính thức hặc tấu đã hạ ý chỉ, điều y ra ngoài tri Hòa Châu, chiếu lệnh chính thức ngày mai sẽ tuyên bố."

Nhậm Thủ Trung đi rồi, ta cáo lỗi với Lý Vĩ, bởi mời Âu Dương Tu là chủ ý của ta, song chẳng ngờ lại mang đến cho họ tai vạ nhường ấy.

Lý Vĩ lắc đầu: "Chuyện không liên quan đến anh.

Có thể uống rượu nói cười với Âu Dương nội hàn, với ta là một may mắn rất lớn, huống hồ công chúa cũng rất hoan nghênh ông ấy...

Dáng vẻ hoan hỉ của nàng hôm qua quả thật đã rất lâu không gặp...

Có điều, làm liên lụy Âu Dương nội hàn đến nước này, nên làm thế nào cho phải?"

Sau khi biết tin, công chúa lập tức vào cung gặp cha, thỉnh cầu ngài rút lại mệnh lệnh đã ban, nhưng kim thượng cự tuyệt, nói nếu lần này không truy cứu, về sau ngoại thích ắt sẽ đua nhau bắt chước, qua lại kết giao với kẻ sĩ, phá hoại gia pháp tổ tông.

Công chúa không nghĩ được cách nào, rầu rĩ trở về, mặt ủ mày chau cả một đêm.

Cũng may, cánh tể chấp do đương kim tể tướng Hàn Kỳ dẫn đầu đều rất yêu mến Âu Dương Tu, có ý bảo vệ, ngày kế khi ý chỉ được đưa tới Trung thư môn hạ, đã bị chấp chính đè xuống không phát, sau đó, mấy vị tể chấp tiến ngôn giữ Âu Dương Tu, nói y hiện giờ đang sửa "Đường thư", cần giữ lại trong kinh tùy thời tra cứu tài liệu, trao đổi với người biên sách của Tam quán Bí các, rất không thích hợp điều ra quận ngoài nhậm chức vào lúc này.

Sau cùng, kim thượng miễn cưỡng chấp thuận, thu hồi ý chỉ điều y ra ngoài.

Tin tức truyền tới, bấy giờ công chúa mới thở phào nhẹ nhõm, chắp hai tay thành hình chữ thập cảm tạ trời đất, lát sau lại bất đắc dĩ cười: "Đáng tiếc quá, kiểu dạ yến tụ tập với kẻ sĩ như vậy sau này không thể thấy nữa rồi."

Lý Vĩ nghe vậy, cố ý nghĩ cách bù đắp tiếc nuối cho nàng.

Đầu tháng Mười, hắn dâng sớ lên kim thượng, nói con rể Thái Tông hoàng đế quốc triều Sài Tông Khánh từng được cho phép qua lại với kẻ sĩ, thế nên bây giờ thỉnh cầu giải trừ lệnh cấm tân khách này.

Kim thượng hạ chiếu trả lời rằng ngày sau trước khi mời khách cần báo danh sách tân khách lên trước, được phê chuẩn rồi mới có thể bày tiệc chiêu đãi ở nhà.

Đó thực chất là một lời từ chối uyển chuyển.

Nếu trong danh sách phò mã báo lên có tên của những danh sĩ như Âu Dương Tu, đương nhiên sẽ không được phê chuẩn, chung quy, những người kim thượng cho phép Lý Vĩ tiếp kiến bất quá chỉ là vài kẻ rảnh rang không đau không ngứa.

Dạ yến với danh sĩ trong vườn phò mã như hôm ấy quả thực sẽ chẳng có nữa.

Lúc công chúa nói với Tiểu Bình sẽ đưa cô sang nhà Án Kỷ Đạo, Tiểu Bình mừng rỡ khôn xiết, liên tục bái tạ, vừa khóc vừa cười, làm công chúa cũng rơi lệ theo.

Tiểu Bình kinh hãi, vội hỏi công chúa vì sao không vui, công chúa lau nước mắt mỉm cười: "Không phải ta không vui, là đang mừng thay cô đó."

Sau, nàng lại thương lượng với ta, nói nhìn ra được Thôi Bạch và Gia Khánh Tử có hảo cảm với nhau, chẳng bằng làm mối cho họ, gả Gia Khánh Tử cho Thôi Bạch làm vợ.

Ta cũng cho là ý kiến hay, bèn đến thăm Thôi Bạch trước, tiết lộ ý của công chúa cho gã.

Thôi Bạch thừa nhận Gia Khánh Tử quả thực đã để lại cho gã ấn tượng rất tốt: "Mới đầu để ý đến em ấy là vì em ấy uống rượu thay công chúa, dáng vẻ khi ửng đỏ đôi má rất giống Đổng cô nương năm xưa, vả lại hoa đào nổi trên mặt em cũng y chang Đổng cô nương vậy, nguyên chỉ là từ động cơ tốt bụng đơn thuần vậy thôi.

Sau, nghe em ấy bàn luận tranh tôi làm tôi càng bất ngờ hơn, em ấy chưa từng cố ý học về hội họa, lại có thể xem hiểu tác phẩm tôi vẽ, cái gọi là tri âm trên thế gian cũng chỉ đến thế là cùng."

Gã chính thức mời bà mai đến phủ công chúa cầu hôn Gia Khánh Tử, công chúa lập tức bằng lòng, lại tìm người ghép bát tự cho họ để quyết định ngày cưới của họ.

Kết quả ghép bát tự là một ngày đại cát đại lợi trong tháng Mười một, nếu bỏ qua ngày này thì phải chờ đến tháng Tư năm sau mới có ngày hoàng đạo.

Tháng Tư.

Nghe đến tháng này, ta và Thôi Bạch đều hơi không thoải mái.

Năm đó nếu chẳng quyết định đợi đến tiết thánh thiên tử vào tháng Tư thì phải chăng Thôi Bạch đã sớm cưới Thu Hòa?

Để tránh cho đêm dài lắm mộng, ta đề nghị công chúa định hôn kỳ của Gia Khánh Tử vào tháng Mười một.

Dĩ nhiên ta không thuật nguyên nhân cụ thể với nàng, chỉ nói tuổi tác Thôi Bạch và Gia Khánh Tử đều đã không còn nhỏ, ở quốc triều, nam tử ba mươi, nữ tử hai mươi mà chưa cưới gả sẽ bị quy là lỡ thì hôn nhân, cả hai người họ đều đã quá mấy tuổi, sang năm lại thêm một tuổi mới, kể ra không hay lắm.

Công chúa cũng ưng thuận, chỉ có điều hơi nhuốm muộn phiền: "Nhanh vậy à...

Thế thì em ấy chỉ có thể ở bên ta một tháng nữa thôi, người bên ta lại thiếu đi một..."

Ta không tiếp lời.

Nàng gượng nhoẻn cười, cầm một bàn tay ta: "May quá, huynh vẫn còn bên ta, sẽ không rời khỏi ta."

Lòng ta nhói đau như băng nứt, song vẫn duy trì nụ cười mỉm, nói sang chuyện khác với nàng, sau đó không dấu vết để tay trượt ra khỏi tay nàng trong lúc nàng phân tâm.

Gia Khánh Tử vẫn thuộc nội nhân trong cung nên chuyện cưới gả phải báo vào cung xin phép rồi mới thực hiện được.

Tất nhiên sẽ không ai làm phật ý công chúa, hôn sự của Gia Khánh Tử nhanh chóng được phê chuẩn, song hôn sự này quyết định quá vội vàng, cách ngày cưới lại chỉ có một tháng nên Miêu hiền phi vô cùng bất ngờ, cho gọi ta vào cung, hỏi kĩ ta bối cảnh gia sản của Thôi Bạch.

Ta nhất nhất thuyết minh kĩ càng rồi, bà mới yên tâm, nói: "Gia Khánh Tử cũng là ta nhìn lớn lên, như nửa đứa con gái của ta vậy, lần này xuất giá ta tất sẽ không bạc đãi, cũng chuẩn bị cho nó một phần hồi môn, không thể kém hơn Vận Quả Nhi được."

Đoạn gọi Vương Vụ Tư, mệnh y lấy sổ sách và danh sách tài vật trong gác tới, muốn đích thân chọn vài món thêm vào của hồi môn của Gia Khánh Tử.

Bà vừa chọn vừa hỏi ta tính tình sở thích của Thôi Bạch để quyết định xem chuẩn bị lễ vật gì.

Đúng lúc chúng ta đương tán gẫu, lại nghe hoạn giả ngoài cửa truyền báo, nói Đổng quý nhân tới gác.

Chúng ta cùng ra cửa nghênh.

Khí sắc Thu Hòa vẫn chưa được tốt lắm, mỏng manh như người bằng giấy dán, bước chân đi đường cũng phập phềnh.

Miêu hiền phi vừa thấy Thu Hòa đã lập tức đưa hai tay đỡ lấy, trách: "Sắc mặt muội muội vẫn còn tái nhợt thế này, sao không ở lại gác nghỉ ngơi cho tử tế?

Muốn nói chuyện với ta thì phái người tới gọi ta là được, cần gì phải động tay động chân đích thân đại giá đến đây!"

Thu Hòa mỉm cười đáp: "Hiện giờ em đã khá hơn rồi, muốn tự mình đi loanh quanh đôi chút, ngày nào cũng nằm trên giường khéo có ngày bức bối đến chết ngạt mất thôi."

Miêu hiền phi làm bộ bưng miệng cô, liên thanh nói: "Phủi phui cái mồm!

Đang yên đang lành đừng nói cái chữ xúi quẩy ấy!"

Thu Hòa cũng chỉ cười, trông thấy ta, lại phấn khởi hàn huyên với ta, cũng hỏi tình trạng của công chúa gần đây.

Vào sảnh ngồi xuống rồi, cô nhìn thấy đống sổ sách mới nãy Miêu hiền phi chưa kịp cất đi, bèn cười hỏi sao Miêu hiền phi lại tự mình xem sổ, Miêu hiền phi bèn nhắc đến chuyện sắp gả Gia Khánh Tử.

Ta thầm kêu khổ, rất lo sẽ gợi lên tên của Thôi Bạch, mà sự thật cũng đích xác thuận thế phát triển như vậy.

Thu Hòa hỏi phu quân tương lại của Gia Khánh Tử là ai, Miêu hiền phi lập tức đáp: "Là một họa sư nổi tiếng trong kinh, người Hào Lương, tuy lớn hơn Gia Khánh Tử những mười mấy tuổi, nhưng nghe nói làm người không tệ, ngoại hình tính cách đều rất tốt, tay nghề vẽ tranh hoa điểu cực điêu luyện, hiện giờ cũng có chút của ăn của để..."

Nụ cười của Thu Hòa bắt đầu cứng lại.

Yên lặng nghe một hồi lâu, cuối cùng cô hỏi Miêu hiền phi: "Vị họa sư ấy tên là gì ạ?"

"Thôi Bạch."

Miêu hiền phi đáp, hỏi ngược lại cô, "Em từng nghe đến bao giờ chưa?"

Thu Hòa chớp mắt, khóe miệng cứng ngắc vừa rồi lại nhếch lên một độ cong êm dịu: "Hơi quen tai, nhưng không nhớ nổi đã nghe ở đâu rồi."

Miêu hiền phi hoàn toàn không nhận ra những thay đổi bé xíu ấy trong biểu cảm của cô, cười nói: "Nhất định là nghe quan gia hay hoàng hậu đề cập tới rồi.

Thôi Bạch nổi danh thế kia mà, họ chắc chắn từng nhắc đến với em."

Lúc Thu Hòa rời đi, ta chủ động tiễn cô ra ngoài, lặng lẽ bầu bạn cùng cô một đoạn đường, muốn giải thích đôi điều về hôn sự của Thôi Bạch.

Khó khăn lắm mới mở miệng được, vừa bật ra chữ "Thôi", cô lập tức ngăn ta nói tiếp.

"Hoài Cát, không sao hết, tôi hiểu cả mà."

Cô mỉm cười dịu dàng như thể ta mới là người cần an ủi, "Huynh về cùng tôi đi, mang lễ vật cho Gia Khánh Tử...

Đặt lễ vật trong của hồi môn Miêu nương tử cho em ấy là được, không cần phải nói là tôi tặng."

Đến gác cô, cô bình lui cung nhân rồi vào buồng trong, tìm trong đó hồi lâu, lấy một hộp gấm ra đưa cho ta.

Ta mở ra xem, phát hiện ra là một tấm bào đỏ tươi thắm, gấm hoa tơ lụa, đường kim mũi chỉ rất chỉn chu, như sinh ra đã là như vậy.

Hoa văn như ý thêu trên khăn choàng là bảo tương hoa, kĩ thuật thêu tinh tuyệt, rực rỡ chói lòa.

Đó đều là kiểu dáng áo cưới tân nương mặc ngày xuất giá, tinh xảo bậc này, hiển nhiên là tự tay Thu Hòa may lấy.

"Tháng sau Gia Khánh Tử phải xuất giá rồi, chắc không kịp thêu áo cưới cẩn thận, không bằng tặng em ấy cái này đi thôi."

Thu Hòa nói, vẫn cười nhạt nhòa, song cụp mắt cúi đầu, không để ta nhìn được ánh mắt cô khi đó, "Có điều xiêm áo này làm hơi lâu rồi, cũng không biết so với phường may ngoài phố, hoa văn có lỗi thời hay chăng."

7.

Màn hương

Lúc ta xuất cung trở về, sắc trời đã tối, cửa cung sắp đóng, tuyệt đại đa số quan viên đều đã rời cung, trên đường người thưa thớt, chỉ có một vị văn thần mặc sắc phục tứ phẩm cưỡi thớt ngựa còm nhom đi ra cửa cung đằng trước ta.

Quan viên trong kinh tan triều về nhà thường có gia nô chờ ngoài cửa cung, thấy chủ nhân ra thì lên đón, sau đó tiền hô hậu ủng trở về phủ.

Quan tứ phẩm cấp bậc không thấp, song nghênh đón vị văn thần kia ngoài cửa lại chỉ có một nam bộc tuổi ngoài năm mươi, đợi y ra ngoài cung rồi lập tức rảo bước tới dắt ngựa cho chủ, miệng không ngừng gọi y "tú tài".

Phàm là người có một quan nửa chức thường đều thích nghe người ta gọi mình bằng quan hàm, có rất nhiều người còn cố ý gọi tôn giả cao hơn một cấp quan hàm để cầu lấy lòng.

Mà vị lão bộc này lại gọi chủ nhân làm quan tứ phẩm của mình là "tú tài", ngoài việc có thể nhìn ra y đã hầu hạ chủ nhân mình nhiều năm ra thì cũng có thể đoán được rằng chủ nhân y nhất định rất khiêm tốn, không ham hư vinh, thế nên mới cho người hầu trong nhà gọi mình bằng xưng hô trước khi ra làm quan.

Ta dắt ngựa đi phía sau họ, dọc theo đường Chu Tước đi một quãng rất dài, điều này giúp ta có đủ thời gian quan sát bóng lưng y.

Tác phong y ắt rất dung dị, không nặng hưởng lạc, cương yên lắp trên ngựa y cũ kĩ, thậm chí còn có chỗ hỏng hóc, ngựa cũng vừa già vừa gầy, chỉ mới bước đi chầm chậm thôi chứ chẳng phải chạy mà đã mệt rũ một bước ba phì phò, sau cùng bốn chân gập lại, quỳ xuống đất.

Chuyện xảy ra quá đột ngột, làm vị quan kia không kịp đề phòng, ngã lăn từ trên lưng ngựa xuống.

Tay đầy tớ kinh hãi, vội vàng ra sức dìu đỡ, ta cũng lập tức xuống ngựa chạy tới, hiệp lực cùng tay đầy tớ đỡ vị quan kia dậy.

Thể trạng y gầy đét, xem chừng tuổi hơn bốn mươi, đứng vững rồi lập tức xoay người xá ta: "Đa tạ, đa tạ!"

Sau đó, y ngẩng đầu lên, mỉm cười thân thiện với ta.

Vừa đối mặt, ánh mắt ta tức khắc chạm đến một gương mặt lắng đọng rất sâu trong trí nhớ, trong cơn khiếp sợ, ta nhất thời quên mất đáp lễ y.

Dẫu chuyện đã cách ngày nay hơn mười năm, so với dung nhan hồi còn trẻ, trên mặt y chồng thêm một lớp vết tích năm tháng, song cũng chẳng gây trở ngại cho ta trong việc nhận ra y, vị ân nhân thuở thiếu thời của ta về sau đã trở thành vị đại phu dẫn đầu ngôn quan nghiêm khắc chỉ trích ta – Tư Mã Quang.

Mà y thì dường như chưa nhận ra ta ngay, vẫn đang cười hòa ái với ta.

Dầu gì cũng cách biệt mười mấy năm, từ thiếu niên nhỏ gầy ban đầu, ta đã biến thành một người trưởng thành ba mươi tuổi.

"Tôi đã nói với tú tài bao lần rồi, con ngựa nó bị bệnh phổi, nên bán đi đổi sang thớt khác tốt hơn, ngài cứ không nghe, còn cưỡi mãi.

Xem xem, bây giờ chẳng phải là đã xảy ra chuyện rồi đấy sao?"

Tay đầy tớ vừa phủi bụi bặm dính trên y phục y, vừa càm ràm, "Nhất định không được cưỡi con ngựa này nữa, lát để tôi đi tìm một lái buôn, bán ngựa đi.

Tú tài mà còn không chịu, tôi sẽ mách với phu nhân chuyện này..."

Tư Mã Quang cười lắc đầu: "Ôi, được rồi, anh muốn bán ngựa ta cũng không cản, có điều, trước khi bán anh nhất định phải nói rõ với người mua là con ngựa này bị bệnh phổi đấy."

Tay đầy tớ thở dài: "Nói rõ ra rồi còn ai chịu mua chứ?"

Tư Mã Quang nói: "Bán không được thì thôi, cùng lắm nuôi ở nhà đến khi nó hết thọ.

Nói chung, qua lại với người ta thì phải thành thật, nhất định không được làm chuyện dối lừa."

Tay đầy tớ thở vắn than dài, cũng không nói thêm nữa, quay sang hết vỗ lại kéo con ngựa mới giục được nó một lần nữa đứng lên.

Ta thấy con ngựa kia ốm yếu vậy, tất không tiện cưỡi tiếp, bèn dắt ngựa mình qua, mời y cưỡi thớt ngựa này.

Tay đầy tớ mừng húm, cảm ơn ta trước, Tư Mã Quang thì lại không chịu nhận, nói: "Trung quý nhân xuất cung giờ này tất là người thân mang công vụ, phải đi xa, ta há có thể mượn ngựa của cậu mà để cậu đi bộ."

Ta lắc đầu: "Tôi làm việc trong nhà quốc thích, hôm nay không phải xuất hành."

"Trung quý nhân nhậm chức ở đâu?

Có thể nói cho ta biết tôn tính đại danh chăng?"

Tư Mã Quang chợt hỏi, lại bắt đầu tủm tỉm nhìn ta.

Ta cứng họng, khó lòng trả lời câu hỏi của y.

Thấy ta im lặng, y cũng hơi nghi ngờ, nụ cười phai nhạt, bắt đầu cau mày quan sát diện mạo ta.

"Trước kia hai ta từng gặp mặt?"

Đại khái là cảm giác được điều gì, y hỏi ta.

Ta có thể có lựa chọn khác, tỷ như nói dóc lấp liếm cho qua, song đến cùng ta vẫn không làm vậy.

Ta cụp mi xá dài, chân thành hành lễ với y, sau đó nói với y: "Cầm ngọc tước chớ nên vung vẩy, trong lễ nghi dẫu nghe là vậy; mây ráng chiều chóng tản dễ tan, sự đã rồi khoan thứ đi thôi."

Y nín thở đứng đó, không khí chung quanh như đông đặc, làm ta cảm nhận được độ ấm trong mắt y dần tản đi, cuối cùng, y nặng nề phất tay áo, cùng lúc khi luồng khí xoay chuyển như một cái bạt tay sắc bén quất lên má ta, y quay phắt người, rảo bước rời khỏi nơi này.

Buổi tối hôm ấy, công chúa phái người truyền ta tới gặp nàng, nói có chuyện quan trọng muốn bàn bạc với ta, liên quan đến hôn sự của Gia Khánh Tử.

Ta hơi lưỡng lự.

Hiện giờ tuy mỗi ngày ta đều trông nom nàng, song cũng một mực duy trì một khoảng cách với nàng, sau bữa tối tuyệt đối không nán lại trong gác ngủ của nàng, mọi tiếp xúc thân mật đều không tái diễn, vấn đề có đi bây giờ hay không khiến ta phải suy xét khá nhiều.

Trước hôm nay, ta chắc chắn sẽ không tiếp nhận lời mời như vậy, song nhớ đến chuyện trong ngày, ta bỗng có quyết định mới, bèn lĩnh mệnh đứng dậy, nhận lời hẹn của nàng.

Công chúa ở tại gác ngủ xây sâu trong rừng trúc trong khuôn viên vườn phò mã, kiến trúc chủ yếu làm bằng trúc, hiện giờ đã vào đông, trong phòng vốn rất lạnh, song bởi kiến tạo theo thiết kế của Thôi Bạch, trên sàn phòng đục một cái hố đặt lò sưởi, lửa than vùi bên dưới, có lối dẫn khói, bên trên đậy hai lớp sàn đá hoa cương và gỗ hoa lê, trong phòng lại dùng trướng giấy hoa mai ngăn ra một gian gác ấm, thế nên bên trong ấm như giữa xuân, hoàn toàn không có hơi khói lò lửa.

Ta đi vào, thấy công chúa ngồi trên sập thấp trong gác ấm, trước mặt đặt một lồng ủ đường kính hai thước làm bằng chỉ bạc kết dải, trong lồng ủ có một lư hương lò Việt tạo hình vịt men xanh trắng, trong lư đốt hương, khay mâm đặt bên dưới lư vịt có nước nóng.

Hơi nước và khói hương hòa quyện vào nhau ám lên quần áo, có thể dính áo không tan, lưu hương rất lâu, mà lúc này, công chúa đang tựa nghiêng lên lồng ủ, tay áo trải rộng phủ lên chỉ bạc, để khói hương len lỏi từng thớ vải.

Một tay nàng vuốt ve lồng ủ, một tay chống má như đăm chiêu điều gì.

Thấy ta đi vào, con ngươi nàng lóe sáng, lập tức chống người dậy cười gọi ta: "Hoài Cát, mau tới đây!"

Đợi ta hành lễ xong tiến lại, nàng vẫy tay bảo tất cả thị nữ lui ra.

Điều này làm ta hơi bất an, lùi về sau một bước, khom người hỏi nàng: "Công chúa triệu thần tới là để bàn bạc hôn sự của Gia Khánh Tử ạ?"

"Không phải."

Nàng trả lời thẳng thừng, "Hôn sự của em ấy đã sắp xếp xong xuôi rồi, không cần phải bàn bạc thêm nữa."

Ta cau mày: "Vậy sao công chúa..."

Khóe miệng nàng khẽ nhếch, đắc ý cười: "Nếu không nói vậy, sao huynh chịu tới đây."

Ta không biết làm sao, hỏi: "Vậy công chúa cho gọi thần tới lúc này là vì chuyện gì?"

"Muốn nói chuyện với huynh thôi."

Nàng đáp rồi cười ngoắc tay với ta, chỉ vào chỗ trống bên mình trên sập thấp, "Nào, lại đây ngồi đi."

Ta xua tay xin miễn: "Thần không thể cùng ngồi với công chúa."

Nàng dứt khoát nhảy xuống sập thấp, qua kéo mạnh ta ngồi xuống sập, tiếp đó ra chiều tức giận: "Ta nói được là được!"

Ta cụp mắt, không nói gì cũng không nhìn nàng.

Nàng khôi phục vẻ mặt tươi tỉnh, mỉm cười ngồi xuống kề bên ta, nói bên ta: "Hôm nay ta vừa điều ra một loại hợp hương, làm từ ba loại hương tô hợp, úc kim và đô lương, thử đi thử lại, điều chỉnh tỷ lệ mãi mới ra được mùi hương tốt nhất, huynh mau ngửi xem có được không."

Nàng nhả khí như lan, hơi thở như tơ nhện bám theo tiếng rủ rỉ phất qua tai ta, ta bắt đầu run lên nhè nhẹ.

Mà chẳng đợi ta trả lời, nàng đã giơ tay lại gần ta, để ta ngửi được hương thơm trong ống tay áo nàng.

Hương thơm ấy dồi dào kín đáo, lại êm ái kiều diễm cơ hồ mập mờ, làm ta hoài nghi liệu có đúng là công hiệu đạt được từ ba hương liệu kia không.

Xuyên qua ống tay áo nàng, có thể nhìn thấy ống tay áo đơn mềm mại tựa khói mây bên trong, theo thế tay nàng lên xuống, đoạn tay áo ấy rút xuống như nước, để lộ ra một khoảng cùi chỏ của nàng, láng bóng mịn màng như gậy như ý tạc từ ngọc, lại mang mùi thơm ấm nóng.

Tâm thần ta ngơ ngẩn, trái tim không an phận nảy lên thình thịch, như muốn ôm nàng, chạm môi lên làn da dưới ống tay áo nàng, thăm dò bí ẩn nằm sâu dưới lớp hương kiều diễm kia ngay bây giờ.

Phản ứng ngây ngẩn của ta nằm trong dự liệu của nàng.

Nàng vẫn cười như cũ, sóng mắt lúng liếng long lanh, hạ tay áo xuống, không truy hỏi ta hiệu quả của hợp hương nữa, nàng từ từ ôm lấy ta, cổ hơi cúi, một bên má áp nhẹ lên ngực ta, nhắm mắt, lắng nghe nhịp đập tim ta như trước đây vậy.

Giai nhân đã tặng hương tô hợp, cớ sao còn đòi gấm uyên ương (*)...

Ta dần nếm ra vị đắng, gian nan tìm về lý trí trong chốn màn hương đang lặng lẽ ấm lên này, duy trì tư thế ban đầu, không mảy may chạm vào nàng.

Sự tỉnh táo vào thời khắc này đã biến ngàn vạn tơ tình gợi ra trước đó hóa thành lưỡi kiếm xuyên tim.

Nàng cười yêu kiều, yên bình tựa vào ngực ta mà lại chẳng biết trong lòng ta, máu đã chảy thành sông.

(*) Bài "Nghĩ tứ sầu thi" kỳ 3 của nhà thơ Phó Huyền đời Tấn.

Phát hiện ra người ta cứng đờ, nàng nghi hoặc mở mắt, săm soi ta một lúc, bỗng nở nụ cười duyên, giơ một bàn tay lên, ngón tay làm tư thế leo trèo, bắt đầu từ ngực ta, men theo vạt áo trèo lên vai, lại lướt qua cổ và cằm ta, cuối cùng, đầu ngón tay chạm lên môi ta, từ từ chậm rãi, mềm nhẹ vuốt ve nơi đó.

Ánh mắt nàng mơ màng, môi thơm hé mở, trong nụ cười ngậm hờ e ấp cất giấu mệnh lệnh không cần nói truyền, song lần này, ta không cúi đầu nghe lệnh nữa.

Thình lình đẩy nàng ra, ta rảo bước lùi về sau trước ánh mắt giật nảy của nàng, điều chỉnh hô hấp, thu lại tâm thần, sau đó khom người với nàng, ôn hòa nói: "Công chúa, thần không để ý đến hương liệu đã lâu, không dám tùy tiện bình luận về hương phẩm của công chúa.

Gần đây nghe nói phò mã mua được vài miếng thủy trầm thượng đẳng của Chân Tịch (*), công chúa không bằng mời cậu ấy tới cùng phẩm định chế phẩm chưng được đi thôi."

(*) Là nước Chân Lạp cổ ở khu vực phía nam Việt Nam và một phần Thái Lan, Lào, Campuchia hiện giờ.

Công chúa kinh ngạc nhìn ta hồi lâu, trong mắt dần dâng lửa giận.

"Huynh nhắc tới Lý Vĩ làm gì?"

Nàng hỏi thẳng ta, "Chuyện này liên quan gì tới hắn!"

Thấy ta không trả lời, nàng nổi đóa, phẫn nộ nói: "Sao gần đây huynh kỳ lạ vậy, thường xuyên nhắc đến Lý Vĩ với ta, nói hay nói tốt cho hắn, muốn ta thường xuyên gặp hắn?

Còn huynh thì ngày ngày né tránh ta, làm ta muốn gặp huynh cũng phải mượn cớ lừa huynh tới!"

Ta tận lực giải thích với nàng bằng giọng bình tĩnh: "Phò mã và công chúa là phu thê, đương nhiên nên gặp nhau thường xuyên, còn thần chẳng qua chỉ là nô bộc của công chúa, nếu công chúa không có việc gì phân phó thần làm thì xin công chúa hãy cho phép thần trộm làm biếng ở nơi khác."

"Sao huynh lại nói những lời như vậy?

Ta đối đãi với huynh thế nào, huynh biết rất rõ, việc gì phải tự hạ nhục mình?"

Công chúa vừa bực bội vừa cay đắng, giọng hơi nghẹn ngào.

Dằn ưu phiền xuống, nàng lại hỏi: "Là cha và nương nương muốn huynh cách xa ta ra phải không?

Khuyên ta thích Lý Vĩ cũng là họ dạy?"

Ta lắc đầu.

"Vậy tức là mẹ con Lý Vĩ ép huynh?"

Công chúa hỏi tiếp, suy đoán này thổi bùng lửa giận trong nàng, "Thấy không làm gì được ta nên họ xuống tay với huynh, ép huynh rời khỏi ta?"

"Không," Ta phủ nhận, "Sau khi thần trở lại, họ đối xử với thần rất tốt, chưa từng bức bách."

"Không bức bách, vậy tức là huynh bị họ mua chuộc?"

Nàng ôm hận cười lạnh, "Bảo sao trong dạ yến hôm ấy huynh lại chọn uống với Lý Vĩ, 'Giao du với bạn nói lời đáng tin', hắn rót thuốc lú gì cho huynh, bắt huynh cam kết thế nào với hắn?"

Ta chỉ lắc đầu.

Muốn giải thích nội dung cuộc trò chuyện dài hơi với Lý Vĩ đêm đó là việc rất khó khăn, huống chi đó chắc chắn là điều công chúa của bây giờ không cách nào hiểu và chấp nhận được.

Công chúa mắt rớm lệ nhìn ta chòng chọc, không đợi được câu trả lời làm rõ của ta, nàng lại tự đưa ra kết luận: "Ta biết rồi, ban đầu Lý Vĩ thỉnh cầu cha triệu huynh về là có điều kiện, huynh phải lạnh nhạt với ta, xa cách ta."

Ta một lần nữa bác bỏ: "Công chúa đừng đổ tội lên đầu đô úy, tất thảy đều không liên quan đến cậu ấy, là thần tự biết mình thấp kém hèn mọn, không dám đón nhận tình cảm của công chúa."

"Là vậy thật ư?"

Công chúa cụp mắt, hai giọt lệ trong suốt rơi xuống, nàng nghẹn ngào thì thào: "Trong tòa hoàng thành đóng kín này, ta là công chúa, huynh là nội thần.

Nhưng trong lòng ta, huynh chưa từng thấp kém hơn ta...

Huynh là huynh trưởng của ta, là thầy ta, là bạn ta, là người duy nhất ta có thể dựa vào trong cuộc sống vô vị của ta bây giờ.

Huynh có biết vì sao ta lại tuyệt vọng đến điên loạn trong những ngày tháng huynh bị trục xuất không?

Bởi huynh rời đi đã khiến ta ý thức được, hóa ra mọi vui sướng của ta sau khi hạ giáng đều do huynh dành tặng."

Mối tình bị ta giam cầm đang nỉ non khóc ròng cùng nàng, ta bi thương nghiêng đầu, không đối mặt với đôi mắt đẫm lệ của nàng, sợ rằng phòng tuyến vất vả mãi mới dựng lên được sẽ lại lần nữa vỡ đê.

Nàng lấy tay bưng miệng kìm tiếng khóc thảm thiết, song bờ vai mảnh khảnh vẫn đang không ngừng run run.

Lát sau, nàng thoáng dừng khóc, lại yên lặng nhìn ta chăm chú, nói: "Vậy huynh thì sao?

Ta vẫn nhớ, huynh từng nói, huynh rất sợ sẽ có một ngày không nhìn thấy ta nữa, bởi ta sẽ mang đi tất thảy vui sướng của huynh.

Nếu thế, sao huynh còn phải trốn tránh ta, đẩy một nam nhân ta chán ghét cho ta?"

Ta trầm mặc không đáp.

Nàng tiếp tục truy hỏi: "Tại sao huynh không muốn tiếp tục vui vẻ ở bên ta?

Tại sao chúng ta không thể thân mật khăng khít như trong quá khứ nữa?"

Sự thinh lặng dài lâu của ta không đổi được cái buông tay của nàng, nàng giữ vững kiên trì như đối đầu chờ đợi câu trả lời của ta.

Ta chẳng thể tránh né, hơn nữa, cũng biết không thể trì hoãn thời gian thêm nữa, vì vậy, rốt cuộc ta cũng xoay người, bước từng bước tới trước mặt nàng, tiến lên đón lấy ánh mắt sáng quắc của nàng, cùng nàng nhìn nhau một lát rồi cúi nhẹ đầu, chạm trán mình lên trán nàng.

"Công chúa," Trong khoảng cách thân mật khăng khít này, ta khẽ giọng nói với nàng bằng giọng điệu như thủ thỉ, "Được thôi, bây giờ, hãy để thần nói cho người biết tại sao."

8.

Lạc hồng

Nước mắt nàng như sương đọng u lan, ta nhắm mắt, lần kiếm theo đường chảy của giọt lệ nàng, cho đến khi chạm tới môi nàng.

Nàng không khỏi run lên, hai tay chống lên ngực ta như bị hoảng sợ, ta kịp thời ôm eo nàng, siết lấy, tiện thể nửa cưỡng chế loại bỏ khoảng cách nàng muốn kéo ra trong nháy mắt.

Môi ta dao động giữa đôi môi nàng, hơi thở cảm nhận được vẫn là mùi hương thiếu nữ thanh tân trong trí nhớ, êm ái thơm tho như hương xông y phục của nàng, lại ngọt như hương an tức, mang vị kẹo ngọt.

Cơn giận dữ và dè dặt của nàng dần tan ra trong vòng tay ta, mở miệng muốn nói gì đó, lại bị nụ hôn ta lấp kín, dẫn dắt nàng ôn lại mối triền miên đã lâu không gặp giữa chúng ta.

Ta ra sức đốt lửa, nàng cũng chẳng ngại làm một con thiêu thân.

Hô hấp của nàng dần gấp gáp, cũng không còn bị động trong tiếp xúc với ta nữa, hôn ta, ôm chặt ta, vươn cánh tay như nữ la quấn lấy ta, chuỗi động tác này tiến hành nhanh chóng mà kịch liệt, khiến bóng hình chúng ta dưới ánh nến rung rinh trông như đang vật lộn.

Nàng ôm siết lấy cổ ta, có một khoảnh khắc thật sự đã làm ta không thể thở nổi, ta bèn bắt lấy tay nàng ghìm xuống, nhưng chạm vào cổ tay nàng rồi, ý niệm chợt đổi ngoặt, ta bắt đầu một thử nghiệm mập mờ khác.

Tay ta dò từ cổ tay nàng vào trong ống tay áo nàng, lần vào trong tay áo đơn, từng tấc từng tấc lướt qua khoảng da thịt cám dỗ ta mới rồi, cuối cùng dừng lại trên cùi chỏ nàng, vuốt ve lưu luyến tại đó.

Đó là cấm địa chưa từng bị người khác phái chạm vào của nàng, nàng thẹn thùng đỏ mặt, bất giác rụt ra sau, né người muốn tránh ta tiến thêm một bước đòi hỏi, song đương xoay người, tấm áo gấm hoa tay rộng nàng khoác lại từ đầu vai tuột xuống giữa khuỷu tay, ta rút tay bắt lấy kéo một cái, cả tấm áo lập tức rời khỏi thân mình nàng.

Ta giơ tay lên, tấm áo tay rộng như mây trôi, rơi lên chụp lưu ly của chiếc đèn cầy cung đình cực đại, ánh sáng trong phòng nhất thời tối xuống, lại nhuốm màu ấm nồng của gấm hoa mỹ lệ, bầu không khí càng thêm ướt át mơ màng.

Nàng đưa mắt nhìn theo phương hướng gấm hoa bay xuống, sau đó kinh ngạc dời mắt về trên ta, chưa kịp có phản ứng gì, ta đã lại cúi người về phía nàng.

Bóng trên màn giấy hoa mai ghép thành đôi, rồi lại chồng lên nhau hợp thành một.

Túi thơm lén tháo, đai lưng trộm cởi, ta tiếp tục tiến hành cuộc tập kích dịu dàng vào nàng, mà nàng cũng mang lòng hiếu kỳ và ham muốn trả đũa của trẻ con, lặng lẽ gỡ khóa ngọc trên đai lưng ta.

Đai áo bên hông bỗng lỏng lẻo khiến cả người ta rùng mình, song nhanh chóng bình tĩnh lại, ta không ngăn cản động tác của nàng mà thuận thế cởi bào phục của mình ra, thả xuống đất.

Chúng ta hòa động tác hôn môi và cởi áo vào bóng đêm dày đặc, trong hương thơm nồng nàn, lễ nghĩa vốn tồn tại giữa nội thần và công chúa cũng rời chúng ta đi, hóa thành những lộn xộn theo xiêm áo bị đôi ta vứt lung tung tản mát khắp đất.

Lúc giữa chúng ta chỉ còn sót lại một lớp áo mỏng, chúng ta ôm nhau ngã xuống giường, hai bàn tay nóng bỏng của công chúa dò xuống dưới vạt áo ta, mơn trớn từ thắt lưng ta, ấn lưng ta xuống, mạnh như thể đầu ngón tay sắp mọc vòi rễ, xuyên qua da thịt ta, trói buộc trái tim đang thất thường nhịp đập của ta.

Ta cúi đầu hôn lên chiếc cổ cao thon của nàng, dừng đường ve vuốt lại in dấu dưới xương quai xanh nàng, cái nơi da thịt ấm mềm còn bí ẩn hơn cánh tay ngọc ngà.

Điều này một lần nữa làm nàng bắt đầu run lên bần bật, cánh tay ôm ta cũng rụt về.

Hai mắt nàng nhắm chặt, chẳng dám nhìn ta, rèm mi vương lệ rung rung, song khóe miệng lại lấp ló nụ cười, xem chừng nàng có phần thấp thỏm đối với những cử động không biết mà ta có khả năng tiến hành, song cũng không kháng cự.

Dưới ánh nến nhảy nhót, nàng mới xinh đẹp làm sao, nếu ta là một nam tử bình thường thì trò chơi tình ái này sẽ là niềm vui đời người tốt đẹp biết mấy, nhưng nàng chúm chím ngậm tình mà lại chẳng biết, hôm nay đối với ta là tràng kịch diễn xuất trong đau đớn như giẫm trên lưỡi dao.

Ta nhìn lúm đồng tiền của nàng, lặng lẽ lùi ra sau, lớp áo mỏng rộng mở cuối cùng cũng tuột xuống theo hành động này.

Đứng thẳng trước ngọn đèn lưu ly, ta nhẹ giọng gọi nàng: "Công chúa..."

Nàng mỉm cười xoay người về phía ta.

Lúc nàng mở mắt ra nhìn ta, ta dứt khoát vén tấm áo tay rộng phủ trên đèn lưu ly lên, ánh sáng ngời ngời bị phong tỏa trước đó gấp gáp tràn khắp gác ấm, cũng chiếu sáng cơ thể trần truồng không một mảnh vải của ta.

Nàng chưa thích ứng được với độ sáng đột ngột tăng lên, cau mày chớp mắt rồi mới lại mở ra.

Sau cái nhìn tỏ vẻ khó hiểu đối với ta, ánh mắt nàng dời đến thân ta.

Sững sờ nhìn chằm chằm vào bộ phận xấu xí héo quắt không lành lặn dưới hông ta một chốc, nàng mới như bỗng ý thức được đây là cái gì, kết quả này hiển nhiên đã làm nàng khiếp sợ, nàng không khỏi hô khẽ một tiếng, nhanh chóng nhắm mắt lại lách mình vào trong, không dám nhìn nữa.

Ta tận lực nhoẻn một nụ cười, chậm rãi bước về phía trước lại gần nàng: "Công chúa, người không nhìn nữa à?

Đây chính là câu trả lời người muốn."

Nàng khép chặt mí mắt hệt như rất sợ để lọt một tia sáng làm tổn thương mắt mình, trên mặt hiện vẻ thống khổ, nàng cố sức kề sát vào vách tường bên trong, vùi mình vào bóng tối ánh đèn lưu ly không với tới.

Những động tác mới rồi của chúng ta đã đánh đổ khay mâm và lư hương con vịt trong lồng ủ, tro hương gặp nước tắt ngấm, hãy còn khói trắng nghi ngút bốc lên, nước nóng bị đổ thì đang chậm rãi lan ra trên giường, chạm đến mắt cá chân công chúa, nàng kinh hoàng co lại, càng thêm nỗ lực cuộn mình vùi trong góc, nom như một con vật nhỏ né tránh hơi lạnh mùa đông.

Ta mở tấm áo tay rộng cầm trong tay ra phủ lên người nàng, đứng lặng hồi lâu, sau đó uốn gối quỳ xuống trước sập nàng: "Công chúa," ta nhìn bóng lưng nàng để lại cho mình, nhẹ nhàng nói, "Đúng như lời người nói, trong đời này, chúng ta ngoài công chúa và nội thần ra có lẽ còn có thể có một số quan hệ khác, chẳng hạn như bạn bè, huynh muội, thầy trò...

Nếu người khoan thứ cho thần nói năng vượt quyền.

Nhưng, có một loại quan hệ sẽ mãi mãi không thể tồn tại giữa chúng ta, đó chính là phu thê, hoặc giả, tình lữ.

Đây là chuyện đã định sẵn từ trước kể từ khi thần vào cung, cơ thể tàn khuyết của thần khiến thần không thể trở thành chồng hay tình nhân của bất kỳ nữ tử nào, cũng không thể cùng chung chăn gối với họ, không thể làm họ sinh con dưỡng cái, nối dài sinh mệnh.

Ký thác tình cảm vào một người như thần giống như yêu một món đồ, một cuộn tranh vậy, có lẽ có thể đạt được sự an ủi tâm linh tạm thời, song không thể nhận được hơi ấm thế tục chân thật.

Người là cô gái tốt đẹp nhất ta từng gặp trên đời, nên có được nhân sinh mười phân vẹn mười, khi còn con gái thì được cha mẹ bảo bọc, làm vợ người ta thì được phu quân che chở, tương lai càng nên có con cái quây quần, hưởng niềm vui gia đình lâu dài.

Mà những điều này vừa vặn lại là thứ thần không thể cho người."

Ta thoáng dừng lại, công chúa hoàn toàn không có ý muốn thảo luận với ta đề tài này, vẫn cúi đầu co ro trong tấm áo tay rộng, ta không trông thấy vẻ mặt nàng, chỉ có thể nhận ra vai nàng đang run rẩy.

Khi nàng thương tâm cực điểm là như vậy, nửa câu cũng chẳng hé lời.

Nhưng đối với ta, đỉnh điểm khó chịu nhất dường như đã qua, trái lại, bây giờ lại có thể thật bình tĩnh tiếp tục nói với nàng những lời từ tận đáy lòng, "Chuyện hai ta vốn là sai lầm.

Tài tuấn quốc triều như mây trời, công chúa từng gặp rất nhiều, tỷ như Phùng Kinh, Tào Bình, Tô Thức, Án Kỷ Đạo, Thôi Bạch, đều siêu quần xuất chúng, phong thái tót vời.

So với họ, ta quả thực nhỏ bé như bụi bặm, chỉ hơn họ ở chỗ có nhiều cơ hội chung đụng với công chúa nên được công chúa đối đãi bằng con mắt khác mà thôi.

Nếu chẳng phải thân trong khốn cảnh, công chúa vốn cũng sẽ không dây dưa dính líu đến ta, huống hồ, ta đã không được tính là nam nhân, đến tư cách yêu công chúa cũng chẳng có.

Phò mã tuy không phải phu quân lý tưởng của công chúa, nhưng cậu ấy lại có thể dành cho công chúa lòng tôn kính và yêu mến từ trong thâm tâm.

Đối với một nữ tử đã thành thê tử mà nói, còn điều gì quan trọng hơn được phu quân quan ái?

Cuộc hôn nhân này dầu chẳng lấy gì làm vui vẻ, song nếu công chúa bằng lòng là có thể đạt được bình yên và êm ấm trong quá trình ân ái và dưỡng dục nhi nữ cùng phò mã rồi, như là..."

Như là Thu Hòa vậy.

Lời đến khóe miệng, mới nhớ ra công chúa không hề hay biết gì về chuyện của Thu Hòa, bèn nuốt xuống, đổi cách giải thích khác, "Như rất nhiều cô gái thành hôn vì lệnh cha mẹ, lời người mai khác.

Mà cố chấp ghép đôi như hai ta bây giờ, kết quả tuyệt không thể nào tốt đẹp, càng thân mật càng trống rỗng, càng phóng túng càng đau khổ...

Nói chung là vậy."

Công chúa lặng thinh, nhưng vẫn có lác đác tiếng khóc bật ra giữa đôi môi mím chặt, tay lặng lẽ nắm siết tấm áo tay rộng, làm bề mặt xiêm áo dần xoáy thành nếp nhăn hình hoa cúc.

Ta hít vào một hơi thật sâu, kiềm chế ý muốn đưa tay vỗ về nàng, nói tiếp: "Thần không phải Trương Thừa Chiếu, cũng không thể biến công chúa thành Tiếu Diệp Nhi, thần chỉ có thể để công chúa nhìn thấy thân thể xấu xí tàn khuyết của mình.

Có phu quân làm bạn, công chúa lạnh nhạt và quên đi kẻ tầm thường thần đây hẳn không phải chuyện gì khó khăn.

Chưa biết chừng, công chúa nhẫn nại sống cùng phò mã được mấy năm rồi, cảm nhận được ái tình nam nữ chân chính rồi, có con cái của riêng mình rồi, về sau nhớ lại chuyện giữa chúng ta, thậm chí sẽ cảm thấy xấu hổ, chỉ hận không thể xóa bỏ đoạn ký ức này.

Thế nên, xin công chúa hãy cho thần chút thương hại nhỏ bé bây giờ, để thần lùi về vị trí mình nên đứng, lại làm thần tử và cái bóng của người."

Nói xong, chẳng đợi nàng trả lời, ta tự mình nhặt từng mảnh áo quần lên mặc vào chỉnh tề, tìm về lễ độ bề tôi, nâng tay ngang trán hành đại lễ với nàng rồi một mực cung kính cúi đầu lui về phía sau.

Sau khi ta xoay người, công chúa bỗng ngồi dậy, thê thiết gọi ta "Hoài Cát", ta khựng lại, nhưng sau cùng vẫn không quay đầu đáp lời, khôi phục lại cất bước trong ánh mắt chăm chú của nàng, rời khỏi hương khuê ấm áp như trời xuân của nàng.

Đêm nay chẳng thể ngủ yên, ta dứt khoát thức trắng, ngồi một mình trong phòng lấy trà thay rượu, độc ẩm từng chén.

Giữa chừng nghĩ đến rất nhiều chuyện, chẳng hạn như rời khỏi phủ công chúa thế nào, hướng đi sau này, phải dặn dò người hầu trong phủ chăm sóc cho công chúa ra sao, đương nhiên, vẫn không khỏi bận lòng về công chúa, phỏng đoán tình trạng nàng bây giờ.

Nào hay, lại chờ được một kết quả bất ngờ.

Vừa qua canh ba, Gia Khánh Tử đã chạy tới ra sức gõ cửa phòng ta, đợi ta mở cửa rồi, nó trợn tròn hai mắt nhìn ta chằm chằm, thở hổn hển nói: "Công...

Công chúa, gọi phò mã...

đến gác ngủ..."

Ta sững người, hỏi nó: "Công chúa gọi phò mã đến mắng mỏ à?"

Gia Khánh Tử lắc đầu, ánh mắt nhìn ta đan xen những kinh ngạc và thương hại chưa tan: "Người bảo phò mã ngủ lại trong gác người."

Ta không đi xem xét và khuyên can theo lời Gia Khánh Tử kiến nghị.

Tiễn nó đi rồi, ta trở lại phòng ngồi xuống, tiếp tục lặng lẽ uống trà.

Trương tiên sinh nói, trà có thể giúp người ta cảm kĩ nghĩ thông mà không gây hại cho ruột gan.

Ta nghĩ thầy sai rồi, trà, cũng có thể khiến người túy lúy.

Hôm sau, ta tỉnh lại sau một giấc ngủ nông ngắn ngủi, đầu nặng chân nhẹ, tinh thần phập phềnh, nhưng vẫn nhớ được chuyện đêm qua, bèn gắng gượng chịu đựng ra cửa, muốn đến gác công chúa chúc mừng nàng.

Tới trước sân trong rừng trúc, ta gặp Lý Vĩ đi từ trong ra.

Thần sắc hắn tối tăm, vẻ mặt suy sụp, không chút vui mừng.

Trông thấy ta cũng chỉ lạnh lùng liếc một cái, không đợi ta mở miệng, hắn đã vội vã rời đi, bước chân mau như tháo chạy.

Như vậy, lần này có lẽ cũng chưa phát sinh việc gì như đêm tân hôn của họ.

Ta nghĩ thế, cầm lòng không đậu lại dậy lên một chớp mắt thoải mái.

Song vào gác rồi, tức thì cảm nhận được bầu không khí khác thường.

Công chúa không có trong sảnh, chỉ có Gia Khánh Tử và Vận Quả Nhi đang xì xào bàn tán cùng chúng thị nữ.

Thấy ta đi vào, họ lập tức ngậm miệng, Gia Khánh Tử còn nhét món đồ đang cầm trong tay vào tay áo.

Ta ngó về phía gác ấm của công chúa, vẫn chẳng thấy bóng dáng người đâu, bèn hỏi Gia Khánh Tử: "Công chúa chưa dậy à?"

Gia Khánh Tử đáp dạ, cụp mắt không đối diện với ta.

Ta quay sang Vận Quả Nhi, nó cũng nghiêng đầu lảng tránh, không muốn chạm mắt với ta.

Ta lại nhìn chúng thị nữ còn lại chung quanh, cũng không ai nhiều thêm một lời.

Chần chừ thoáng chốc, cuối cùng ta chọn một câu hỏi gián tiếp hỏi Gia Khánh Tử: "Sao hôm nay phò mã lại không vui?"

Nó cũng do dự rất lâu mới kéo ta vào một góc, nhỏ giọng đáp: "Đêm qua công chúa cho gọi phò mã tới, cậu ấy rất ngạc nhiên, thật sự không dám bước vào gác ấm của công chúa, là công chúa ba phen mấy bận mời mãi cậu ấy mới vào...

Hôm nay sau khi dậy, tâm trạng phò mã vốn không tệ, hào hứng mời công chúa đi thưởng mai, song công chúa lại ném cái này xuống đất..."

Nó thò tay vào tay áo, lấy món đồ ban nãy giấu đi đưa cho ta.

Đó là một mảnh lụa trắng.

Ta nhận lấy, ngón tay run run gian nan mở ra, trông thấy mấy vết máu như cánh hoa mai rơi trong dự liệu.

Gia Khánh Tử quan sát vẻ mặt ta, đại khái là không nhận ra quá nhiều khác thường mới lại kể tiếp: "Sau đó, công chúa nói với phò mã: 'Đây chính là cái anh vẫn hằng mong muốn phải không?

Bây giờ anh có thể ra ngoài được rồi.

Sau này vĩnh viễn đừng lại gần ta thêm nữa.'"
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 13: Tù và gắt tiếng mộng mai tan (*)


(*) Câu cuối bài "Điệp luyến hoa – Xuân sự lan san phương thảo yết" của Tô Thức thời Tống.

1.

Khói mù

Tóc xanh xõa xượi ven gối đầu, nàng nằm nghiêng mình vào trong, chăn gấm chỉ đắp tới khuỷu tay, để lộ nửa bóng lưng mặc áo đơn trắng, khiến nàng nom càng thêm gầy trơ xương, mong manh không chân thực như hình người vẽ bằng bút mực vậy.

Ta nhẹ nhàng đi tới trước sập, im hơi lắng tiếng, nàng như có cảm ứng, từ từ xoay người lại.

Mí mắt nàng phù thũng, làn da xám xịt thiếu ánh sáng, dáng vẻ một đêm không ngủ.

Trông thấy ta, nàng cũng chẳng ngạc nhiên, bình tĩnh nhìn ta chăm chú, đôi môi khô khốc mấp máy, nhếch lên một nụ cười không một nét vui: "Chúc mừng ta đi, Hoài Cát, rốt cuộc ta cũng đón nhận 'ái tình nam nữ' mà các người nói rồi."

Ta nín lặng đứng đó, muốn nói câu chúc mừng, cũng cố gắng cười với nàng, nhưng lại chẳng phát ra nổi âm thanh nào, cũng cảm nhận được gương mặt mình cứng ngắc, nếu quả thực đang cười thì nhất định không thể dễ nhìn hơn khóc.

"Thế, huynh có muốn biết cảm thụ của ta không?"

Nàng hỏi ta, giọng vẫn êm dịu ôn hòa, tựa như chủ đề đang nói chỉ là bình phẩm thư họa.

Ta hơi nghiêng đầu đi, biểu đạt mình tránh né câu hỏi này.

Tầm mắt nàng vẫn ơ hờ đuổi theo ta, mang sự bình tĩnh dị thường như chuyện chẳng liên quan đến mình, nàng phun ra một chữ: "Đau."

Trong sự trầm mặc của ta, nàng ngậm nụ cười miễn cưỡng ban đầu, quay mặt nhìn lên trên, một mình độc thoại: "Đó cũng là cảm giác hôn nhân với Lý Vĩ đem lại cho ta...

Các người đều nói, như vậy mới có thể khiến cuộc đời ta viên mãn, nhưng cái ta cảm nhận được còn đau đớn hơn cả chặt tay đứt chân..."

Nói tới đây, nàng lại dời mắt nhìn ta, giọng mềm khẽ như rủ rỉ: "Hoài Cát, ta cũng là kẻ không lành lặn rồi."

Ta không sao kiềm chế nổi nữa, hai giọt lệ ứa khỏi hốc mắt, quỳ rạp xuống trước sập nàng, vỏ ngoài cứng rắn duy trì mọi lý trí và lễ nghi suốt hơn hai mươi năm bị một lời của nàng phá vỡ, ta hoàn toàn sụp đổ, chẳng còn sức lực che giấu điều gì, thất thanh bật khóc, trái tim yếu ớt vốn được bao bọc tầng tầng lớp lớp hoàn toàn lộ ra trước mắt nàng.

Dẫu là khi còn nhỏ, ta cũng chưa từng chảy nhiều nước mắt như vậy, bất kể ta có bị chèn ép hay ức hiếp đến mức nào.

Nhưng giờ khắc này, ta không cách nào kìm nén được những giọt lệ trào xuống như vỡ đê, cũng không muốn kìm nén, chỉ để mặc chất lỏng ấm nóng ấy theo trận khóc thảm thiết của mình cọ rửa nỗi nhục ta gánh, khơi thông đau đớn ta đeo.

Ta cúi đầu khóc, không nhìn thấy vẻ mặt của công chúa khi đó, mà nàng cũng một mực im lặng, chẳng thút thít cũng không nói với ta bất kỳ lời an ủi nào.

Lát sau, nàng chống người ngồi dậy, lại cúi người về phía, vươn hai tay ra ôm ta vào lòng như người mẹ ôm đứa trẻ, áp một bên má lên trán ta.

Giữ nguyên tư thế dịu dàng ấy, nàng nhẹ giọng: "Đã qua cả rồi, chúng ta còn bên nhau."

Ta thỏa hiệp với mình, không suy nghĩ đến chuyện rời khỏi nàng thế nào nữa, dẫu ta biết đó là điều chẳng thể tránh khỏi, sớm muộn rồi cũng sẽ xảy ra.

Chúng ta vẫn như trước kia, khi nàng vẽ trúc mực, ta theo hầu phẩm bình, khi nàng đàn không hầu, ta thổi sáo thử âm, trời mưa che ô cho nàng, gió nổi khoác áo vì nàng...

Tựa hồ tất thảy đều không thay đổi, song, chúng ta đều tự giác không nếm thử ở chung vào ban đêm, cũng cẩn thận tránh né đụng chạm da thịt, lại càng không nhắc đến những chuyện ngầm liên quan đến những gì xảy ra giữa đôi ta và đau đớn kia, sợ ký ức nơi ấy như vết thương chưa lành, chạm nhẹ vào sẽ lập tức chảy máu.

Ngày kế sau khi công chúa và phò mã động phòng, nghe nói quốc cữu phu nhân rất mừng rỡ, chuẩn bị vào cung báo tin vui với đế hậu, song Lý Vĩ lại nổi giận lôi đình, kịch liệt phản đối mẫu thân báo việc này cho người trong cung.

Dương phu nhân chưa bao giờ thấy dáng vẻ thịnh nộ ấy của hắn, trong cơn giật mình cũng bị hắn dọa sợ, không đi thông báo việc này nữa.

Sau đó lại tới nói xa nói gần khuyên công chúa tiếp nhận phò mã thêm một lần, công chúa đều lạnh mặt ứng đối, Dương phu nhân chỉ đành hậm hực trở về.

Có lẽ sau đó cũng đặc biệt để ý đến tình trạng giữa ta và công chúa, thấy hai ta đều giữ nghiêm lễ nghĩa nên cũng không sinh sự, chỉ nhắc lại chuyện nạp thiếp, bảo phò mã nạp Vận Quả Nhi.

Lý Vĩ cũng nghe lời, nhanh chóng thu Vận Quả Nhi vào phòng.

Sau khi nạp thiếp, ngoài đôi lúc ngủ chung với Vận Quả Nhi, hết thảy sinh hoạt còn lại của Lý Vĩ đều như thường, vẫn dốc lòng nghiên cứu thư họa.

Vận Quả Nhi tuy được sống cuộc sống ăn sung mặc sướng có người hầu hạ, song cũng chẳng hoan hỉ như đa số tân nương, có điều, vẫn một mực cung kính với công chúa, lễ pháp hầu hạ chủ mẫu không thiếu chút nào.

Mọi người trong phủ công chúa bèn duy trì trạng thái yên ổn bề ngoài đó, song ai nấy đều nặng nề tâm sự ngày qua ngày.

Đến tháng Mười một, Gia Khánh Tử đúng kỳ hạn thành hôn với Thôi Bạch.

Trước khi rời phủ, Gia Khánh Tử quỳ xuống trước mặt công chúa, khóc đứt ruột đứt gan.

Công chúa ngậm cười an ủi nó: "Ngày đại hỉ đừng có làm như sinh ly tử biệt thế.

Em xuất giá rồi vẫn có thể thường xuyên quay về thăm ta mà, có phải là chúng ta không được gặp lại nhau nữa đâu."

Chúng thị nữ còn lại cũng nhao nhao khuyên nhủ, một lúc lâu sau Gia Khánh Tử mới nín khóc.

Công chúa sai người trang điểm lại cho nó, lại kéo tay nó ngắm thật kĩ, nghĩ ngợi đôi chốc, tay trái tuột chiếc vòng tay bạch ngọc dương chi đã đeo kha khá năm trên cổ tay phải xuống, dọc theo hai bàn tay đang nắm nhau của họ, luồn sang cổ tay Gia Khánh Tử.

Gia Khánh Tử cả kinh, luôn miệng khước từ, vội vã muốn trả lại vòng ngọc cho công chúa.

Công chúa đè tay nó lại, nói: "Của hồi môn cho em toàn là đồ vật người khác chuẩn bị, đó giờ ta vẫn luôn muốn tặng quà riêng cho em, nhưng tìm mãi chẳng được cái nào tử tế.

Chiếc vòng này ta đã đeo được mấy năm, hôm nay em mang nó theo, thường ngày trông thấy cũng như ta vẫn còn bên em vậy."

Bấy giờ Gia Khánh Tử mới chịu nhận, một lần nữa rưng rưng bái tạ, công chúa hai tay đỡ nó dậy, cẩn thận quan sát hồi lâu, cuối cùng thở dài đầy cảm khái: "Kể ra, mấy cô gái lớn lên cùng ta từ nhỏ đều gần như chẳng một ai được sống hạnh phúc.

Mà em lại cưới được lang quân như ý, hẳn là sẽ khác chúng ta...

Khỏi nói lời khách khí nữa, em chỉ cần sống vui vẻ với Thôi Bạch là đã tạ ơn ta rồi."

Giờ lành đã điểm, Gia Khánh Tử phải ra cửa.

Nó bái biệt công chúa lần cuối, bước từng bước ra ngoài.

Công chúa cầm lòng không đậu, đứng dậy ra sân tiễn nó.

Lúc Gia Khánh Tử sắp ra khỏi gác, công chúa chợt mở miệng gọi nó.

Gia Khánh Tử dừng bước, quay đầu dò xét: "Công chúa?"

Ánh mắt ấm áp của công chúa vuốt ve khóe mắt chân mày người hầu gái đã hầu mình nhiều năm, nàng mỉm cười, dịu dàng nói lời căn dặn cuối cùng: "Em nhất định phải thật hạnh phúc đấy."

Đợi Gia Khánh Tử ra khỏi cửa rồi, nàng mới xoay người về phòng, nước mắt kìm nén bấy lâu bỗng tuôn trào, rơi xuống sau lưng tân nương nơi cô gái chẳng thể nhìn đến.

Sau khi Gia Khánh Tử xuất giá, công chúa càng có vẻ hiu quạnh, lệ thuộc vào ta cũng càng ngày càng sâu, nàng cần ta bầu bạn không rời như hình với bóng, dầu ta chỉ tạm thời rời đi một chớp mắt thôi, ánh mắt nàng cũng sẽ đuổi theo ta, trên gương mặt là thần sắc phiền muộn mất mát.

Miễn là ban ngày, ta đều tận lực ở bên nàng, đáp ứng tất cả yêu cầu của nàng, không để nàng có chút nào không vui do mình.

Ta trân trọng mỗi một khoảnh khắc chung đụng giữa chúng ta, bởi ta biết khoảng thời gian tưởng chừng bình yên này giống như chén lưu ly vậy, bất cứ lúc nào cũng có thể bị đánh vỡ, nhất là sau khi ta gặp Tư Mã Quang.

Ta vốn tưởng rằng ngay ngày kế sau khi hai ta gặp nhau, y sẽ lập tức xin kim thượng hạ lệnh đuổi ta khỏi phủ công chúa, một lần nữa lưu đày tới nơi xa xôi hẻo lánh, song ta vẫn được hưởng một tháng êm đềm, khi nghĩ thầm đến, lại cảm thấy hết sức kinh ngạc.

Có điều, cũng nhanh chóng biết được nguyên nhân trong đó.

Tháng ấy, lúc công chúa dẫn ta vào cung, thỉnh an kim thượng ở Phúc Ninh Điện, kim thượng cân nhắc câu chữ, đề cập với công chúa chuyện chuẩn bị điều ta trở lại trong cung: "Nội thần chủ quản Thiên chương các đã già rồi, đang xin cáo lão về hưu.

Ta thấy nội thần hai tỉnh tiền hậu nếu không phải đang kiêm nhiệm liền mấy chức, không tiện điều đi, thì cũng là dốt nát thiếu học, không đảm đương được chức quan quản lí văn thư ngự chế.

Nghĩ tới nghĩ lui, thấy Hoài Cát là một lựa chọn thích hợp..."

Ngài vừa nói tới đây, công chúa tức khắc trợn mắt, hỏi thẳng: "Cha muốn điều Hoài Cát rời khỏi con chứ gì?"

Kim thương khá lúng túng, ngập ngừng nói: "Cũng không phải như vậy...

Quả thực không tìm được ai thích hợp..."

"Cha không tìm được thì để con tìm."

Công chúa lập tức nói, "Con gái cũng quen biết vài nội thần vừa thạo văn chương vừa đang rảnh rỗi đấy, có thể liệt kê ra cho cha lựa dùng."

Kim thượng im lặng, hồi lâu không đáp.

Hoàng hậu bên cạnh thấy vậy, thở dài, nói rõ với công chúa: "Huy Nhu, việc đến nước này rồi, chúng ta cũng chẳng lừa con nữa.

Sáng sớm một tháng trước, đồngtri gián viện Tư Mã Quang đã biết Hoài Cát trở về, dâng sớ xin cha con không thay đổi mệnh lệnh khi trước, cách chức trục xuất nó.

Cha con đè xuống không để ý tới, y lại liên tiếp luận hặc cùng đám ngôn thần Dương Điền, Cung Đỉnh, đồng thời thỉnh cầu biếm trục Hoài Cát.

Cha con một mực không tỏ thái độ, hôm qua Tư Mã Quang lại dâng sớ, lần này lời lẽ rất quyết liệt, hơn nữa, còn nhắc tới con..."

Hoàng hậu hơi dừng lại, quay sang kim thượng, trong mắt có ý xin chỉ thị.

Kim thượng hiểu ý bà, bèn gọi Nhậm Thủ Trung qua, nhỏ giọng phân phó đôi câu, Nhậm Thủ Trung liền đi về phía bàn sách, lấy một cuộn trát ra, sau đó đi tới, đưa cho công chúa.

Công chúa mở ra xem, vô cùng tức giận, ném trát xuống đất, tức tối nói: "Tay Tư Mã Quang này nói năng lỗ mãng, ngông cuồng vô lễ như thế mà sao cha không trách phạt y?"

Đế hậu nhìn nhau, đều không cất lời.

Ta nhặt trát lên, mở ra xác nhận tên ký của Tư Mã Quang trước rồi bắt đầu xem xét nội dung bên trong.

Mở đầu, Tư Mã Quang luận về chuyện che giấu đón về, tiếp đó chĩa thẳng mũi giáo vào công chúa và kim thượng: "Thần nghe làm cha thương con thì phải dạy lấy chính nghĩa, tránh phải đường tà.

Công chúa sống trong thâm cung, thiếu thời thơ ngây, không được dạy bảo nghiêm khắc, không tường đạo lý được mất.

Thần cho rằng bệ hạ nên lấy đức khuyên bảo, lấy lễ chỉnh đốn, chọn người đứng tuổi cẩn thận, hầu hạ hai bên, sớm chiều khuyên răn, tiếp nạp đường ngay, phải ngăn cản kiềm chế, không thể để mặc thị cậy ơn tùy tiện, đòi hỏi trái phép, từ đây chấm dứt nuông chiều."

Y vừa thẳng thắn công kích công chúa cậy ơn phóng túng không hiểu phép tắc, vừa ngầm phê bình kim thượng không biết dạy dỗ, chiều chuộng con gái thái quá.

Trong văn, y còn nhắc lại chuyện ta bị biếm trục trước đây, lời lẽ rất nghiêm khắc, nói ta "tội ác như núi, đáng bị tru diệt".

Mà "bệ hạ khoan hồng chỉ đuổi hắn ra ngoài.

Người trong ngoài vừa ngơi bàn luận, vẻn vẹn mấy tháng đã lại vời về.

Ngoài đường xôn xao, lời tiếng đáng sợ, ấy đâu phải mỹ đức đoan trang công chúa nên biểu lộ, cũng nào thể hiện bệ hạ dạy con chính nghĩa chuẩn mực."

Cuối trát, y một lần nữa tỏ rõ thái độ và yêu cầu của mình: "Thần vô cùng căm phẫn sốt ruột, lấy làm tiếc thay cho bệ hạ.

Mong thánh thượng soi lòng thần ngu trung, xét lại mệnh lệnh đã dừng thi hành khi trước, chớ để thiên hạ chỉ trỏ, cho là sai lầm, làm tổn hại thánh đức, chẳng phải chuyện nhỏ."

2.

Quyến luyến

Ta trả lại trát cho Nhậm Thủ Trung rồi đứng thẳng người chỉnh trang, không nói nửa lời, bái tạ kim thượng.

Nếu chiếu theo ý Tư Mã Quang, ta đại khái hẳn phải bị lăng trì xử tử, mà kim thượng lại không nghe ngôn quan thỉnh cầu, nghĩ ra cách xử lý cất nhắc ta làm quan chủ quản Thiên chương các, ấy là ơn nghĩa bằng trời mà ngài nể tình công chúa ban cho ta, tuy rằng mục đích làm vậy cũng là để chia tách ta và nàng.

Công chúa rảo bước tới, ngăn ta làm động tác tạ ơn.

"Không được!"

Nàng nhíu mày lắc đầu với ta, hiển nhiên đã hiểu sự cảm kích của ta đối với kim thượng thành chấp nhận an bài của ngài.

Xoay người lại đối mặt với cha, nàng nói: "Đám ngôn quan chính sự thì chẳng quan tâm, cả ngày chỉ biết chăm chăm dán mắt vào khuê các cung quyến, luận bàn xoi mói chuyện vặt vãnh linh tinh, thật vô vị hết sức.

Cha đừng lý tới họ, cứ mặc họ lải nhải mấy ngày đi, chờ đến khi họ tự biết chán rồi chuyện này cũng sẽ qua.

Nếu cha thuận theo ý họ lần này, họ ắt sẽ càng phách lối, lần sau chẳng biết sẽ còn lấy chuyện hạt vừng hạt đỗ gì ra giày vò cha!"

Kim thượng lắc đầu: "Ta vốn cũng không muốn lý tới, chờ họ ngừng công kích, nhưng kết quả họ lại càng thêm hăng hái, o ép từng bước...

Vì Hoài Cát là nội thần, con lại là con gái hoàng đế, thân phận không tầm thường, nên chúng ngôn quan viện dẫn đạo lý phòng bị hoạn giả trong gia pháp tổ tông khuyên ta không thể để hai đứa tiếp tục chung sống..."

Công chúa nghe vậy cười khẩy: "Nội thần trong cung nhiều như vậy, cũng đều phục vụ cung quyến có thân phận đặc thù, chẳng lẽ họ cũng viện dẫn gia pháp tổ tông đuổi hết hoạn giả ra khỏi cung?"

Kim thượng thở dài não nề: "Trong cung tuy nhiều nội thần nhưng làm gì có thứ chọc người ta bàn tán như hai đứa đâu!"

Công chúa ngẩn người, quay sang nhìn ta, hai má không khỏi ửng hồng, ngậm miệng cụp mắt.

Hoàng hậu nhìn trong mắt, lúc này chậm rãi đi tới, cầm tay công chúa, dắt nàng ngồi xuống bên mình, lại hòa ái nói với nàng: "Thực ra chư ngôn quan cũng chưa chắc đã thật sự muốn lấy mạng Hoài Cát, chỉ là thấy nó hồi kinh, quay lại làm việc trong phủ công chúa, khiến họ cảm thấy gián ngôn trước đây không được tiếp nhận, thánh thượng hãy còn nuông chiều, hành xử theo ý con, nên mới nổi giận, sợ mở cái lệ này rồi, về sau quan gia khó mà chịu tiếp nhận lời trung, chúng nội thần cũng sẽ vì thế mà kiêu căng phách lối, gây ra rắc rối lớn hơn.

Thế nên, lần này họ quyết tâm muốn chia rẽ hai đứa.

Nếu quan gia không cho một câu trả lời thỏa đáng, họ ắt sẽ bám riết không tha, tiếp tục truy cứu.

Bây giờ cha con nghĩ ra cách này, cho Hoài Cát về cung làm việc ở Tàng thư các, vừa bày tỏ tiếp nhận ý kiến ngôn quan, vừa bảo vệ Hoài Cát chu toàn, có thể nói là vẹn cả đôi đàng..."

"Nhưng làm vậy có khác gì lưu đày Hoài Cát tới Tây Kinh đâu?"

Công chúa ngắt lời hoàng hậu, nói, "Huynh ấy rời khỏi con, lại chẳng làm việc trong hậu cung, chúng con chẳng thể gặp nhau nữa...

Bất kể ngăn cách giữa chúng con là mấy tòa thành hay một vách tường thì kết quả cũng như nhau – con không gặp được huynh ấy!"

Hoàng hậu im lặng, kim thượng nghĩ ngợi rồi lại cất tiếng trấn an nàng: "Hai đứa chưa chắc đã không thể lại gặp nhau.

Lúc con về cung có lẽ vẫn có cơ hội gặp nó, hoặc giả, vào các dịp lễ tết trong năm..."

"Đến dịp lễ tết thì nhìn nhau một cái xa xa cách ngàn non muôn nước, biển người trùng trùng?"

Công chúa lập tức hỏi vặn lại, lạnh lùng lau ánh lệ lấp ló nơi khóe mắt, nàng nhìn cha chằm chằm, lại nói: "Dù không có ngôn quan bức bách, cha chắc chắn cũng muốn tách con và Hoài Cát ra.

Làm chúng con từ từ xa cách như cha thiết tưởng chính là sách lược cha quyết định chọn dùng sau khi suy nghĩ cặn kẽ."

Kim thượng nhất thời cả giận, phất tay áo vung ly chén trên bàn xuống, mắng công chúa: "Con vì một nội thần mà không để ý thân phận, liên tiếp làm chuyện thất thố, ném tất thảy hoàn cảnh của phụ mẫu, tôn nghiêm của phu quân, danh dự của tông thất và danh tiết của mình ra sau đầu!

Tư Mã Quang chỉ trích con 'không được dạy bảo nghiêm khắc, không tường đạo lý được mất', hôm nay xem ra quả thật không sai một chữ!

Người khắp thiên hạ bây giờ đều đang chờ nghe bê bối của con, xem trò cười của con, mà con vẫn chẳng biết hối cải, không hiểu kiêng kỵ, khư khư cố chấp, khiêu chiến công luận ngôn quan, không biết lý lẽ bậc này thật phụ minh huấn hiền quyên được học từ nhỏ!"

Nói xong lời này, kim thượng vẫn chưa nguôi giận, vung tay chỉ vào ta, nói tiếp với công chúa: "Con nhìn lại cái tên mà con cam nguyện phạm sai bằng trời vẫn một lòng giữ gìn này đi, nó chỉ là một nội thần, một hoạn giả, một đứa không thể gọi là nam nhân!

Phò mã yêu kính con như vậy mà con một mực khinh thường nó, lại quyến luyến người này đến thế, không cảm thấy nực cười ư?"

Công chúa nghe vậy, hai mắt loang loáng, nàng lấy tay bưng kín đôi môi run rẩy, khó khăn lắm mới khống chế được buồn đau lúc này, mãi sau mới ngẩng lên nhìn kim thượng, khẽ giọng: "Cha nói phò mã kính yêu con, nhưng hắn có thật là yêu con không?

Không, hắn yêu công chúa, hắn có thể yêu bất kỳ một công chúa nào, như yêu cây gậy gõ viên nạm vàng điểm ngọc hay thẻ tre người Tấn và đan thanh người Đường vậy.

Hắn khổ luyện gõ viên, sưu tầm thư họa vốn chẳng phải xuất phát từ hứng thú chủ tâm mà bởi đó là thú vui tao nhã của hoàng tộc tông thất và chư học sĩ đại phu.

Hắn tìm mọi cách lấy lòng con, hi vọng là phu quân chân chính của con, cũng không phải xuất phát từ tình cảm đối với bản thân Huy Nhu mà là bởi con đến từ chín tầng cung khuyết, nơi gửi gắm cái đích hắn muốn hướng tới.

Giống như ếch xanh trong hồ ao ngưỡng vọng chim bay trên trời, hắn khát vọng cuộc sống của chúng ta, muốn trở thành người như chúng ta.

Nếu con không phải công chúa thì đối với hắn, e rằng cũng chỉ là một đứa con gái ngạo mạn ngang ngược, hắn liệu có còn yêu kính con như bây giờ?"

Nghe nàng giãi bày, vẻ giận dữ trên mặt kim thượng dần biến mất, thay vào đó là sự trầm mặc xen lẫn hoang mang.

Công chúa nhìn ta, giọng pha nghẹn ngào: "Mà Hoài Cát, huynh ấy chăm sóc và thương yêu con không chỉ là tuân theo yêu cầu của chức vụ.

Lần đầu chúng con gặp nhau, huynh ấy không biết con là công chúa mà đã quyết định bất chấp nguy cơ bị sủng phi của cha hãm hại, bảo vệ con.

Con mặc kệ trong mắt các người, huynh ấy là người thế nào, con chỉ biết mười mấy năm qua, huynh ấy cùng con lớn lên, chỉ dạy con đọc sách viết chữ, cùng con học âm luật, cùng con đốt hương châm trà, lại cùng con vẽ tranh điền từ...

Huynh ấy không chỉ là nội thần hầu hạ con mà càng giống huynh trưởng, sư phụ và bằng hữu của con hơn.

Chúng con tâm ý tương thông nên chỉ cần con đánh mắt một cái, huynh ấy lập tức biết con muốn truyền ý gì...

Huynh ấy mong con vui vẻ, nhưng cũng không lấy lòng con vô tội vạ.

Huynh ấy thậm chí còn có lúc cười nhạo chọc giận con, nhưng đó chẳng qua chỉ là để đốc thúc còn làm việc nên làm...

Trước mặt huynh ấy, con có thể vứt bỏ cái vỏ công chúa, hoàn nguyên làm một tiểu nữ tử bình thường.

Ánh mắt Lý Vĩ nhìn con luôn co quắp, ngưỡng mộ, còn Hoài Cát thì không, khi huynh ấy nhìn con, con có thể cảm nhận được trong mắt huynh ấy không phải công chúa mà là một nữ tử huynh ấy quý trọng.

Kim thượng hé miệng như muốn nói điều gì, nhưng còn chưa kịp cất tiếng đã bị công chúa cướp lời, hỏi ngài một câu sắc bén: "Cha, trong vài chục năm cha sống có từng gặp một nữ tử nào như vậy không, yêu cha kính cha chỉ vì cha là cha chứ không phải cha là hoàng đế?"

Kim thượng hoàn toàn cứng họng, ánh mắt lướt qua hoàng hậu, đôi con ngươi đối mắt với hoàng hậu vụt chớp tia sáng nhạt, ngài lại quay đầu đi.

Hoàng hậu lại tỏ ra rất bình tĩnh, thấy kim thượng không nói gì, bèn tiếp lời khuyên công chúa: "Tâm ý Hoài Cát hầu hạ công chúa, chúng ta đương nhiên hiểu rõ.

Công chúa tin cậy Hoài Cát, hi vọng có thể bảo vệ nó, chúng ta cũng có thể thông cảm.

Chỉ có điều người đời ngoài kia lại không tường, thấy hai đứa chung sống hòa hợp là dễ dàng sinh nghi bậy bạ, nếu con tiếp tục chung đụng với Hoài Cát thế này, quá mức thân cận, không khỏi để người ta đặt điều..."

Công chúa cười: "Con mặc kệ người ta nói gì.

Con chỉ biết con không thể để Hoài Cát rời đi, nếu không con sẽ không thể tìm được ai như huynh ấy nữa."

Hoàng hậu cau mày, song cuối cùng vẫn không phản bác công chúa, duy trì tư thái bình tĩnh, nghe nàng nói tiếp: "Huynh ấy có thể xem hiểu mọi hỉ nộ ai lạc của con, cũng cùng kinh qua vui buồn ly hợp với con.

Nương nương, người có biết không, huynh ấy là người như thế: Khi người vui vẻ không ưu sầu, huynh ấy sẽ lặng lẽ lùi về sau, cam nguyện làm cái bóng sau lưng người, nhưng khi người sa phải nghịch cảnh, bi thương bất lực, huynh ấy sẽ chìa tay cứu giúp người, tránh cho người lún sâu...

Trừ cha mẹ ra, huynh ấy là người tốt với con nhất, dẫu cả thiên hạ có bỏ mặc con, huynh ấy cũng vẫn sẽ bảo vệ con.

Hơn nữa, huynh ấy toàn tâm toàn ý với con, con sẽ mãi mãi không phải lo lắng huynh ấy phản bội mình, làm hại mình, lạnh nhạt với mình vì người con gái khác."

Hoàng hậu hơi trố mắt, có phần xúc động, song cũng chỉ vụt thoắt trong một chớp mắt, bà nhanh chóng khôi phục vẻ mặt cao nhã, rèm mi buông hờ như có điều đăm chiêu, cũng không nói thêm gì nữa.

Sắc mặt công chúa dần hòa hoãn, dịu dàng nhìn ta, lát sau, lại quay về phía kim thượng, chậm rãi nói: "Cha nói con quyến luyến Hoài Cát, đúng, con thừa nhận, con quả thật quyến luyến huynh ấy, như bão táp quyến luyến nóc nhà thôn quê, như lữ khách quyến luyến núi thẳm chân trời.

Đối mặt với số mệnh cha an bài, con đã từng mấy lần muốn chết, sở dĩ còn có thể sống được là bởi mỗi lần ngoảnh đầu nhìn ra sau đều có thể thấy huynh ấy đứng đó...

Đối với con, đáng sợ nhất không phải cái chết mà là dai dẳng sống mòn mà chẳng thể gặp lại huynh ấy."

3.

Gác giữa

Lời công chúa rất có hiệu quả, sau đó đế hậu tạm không nhắc đến chuyện điều ta đi nữa.

Ta nghĩ công chúa thông minh hơn ta tưởng rất nhiều, nàng cố ý vô tình chạm đến nỗi đau ngầm đằng sau phòng tuyến kiên cố của đế hậu, khiến họ cảm động lây, cũng làm tâm ý mình muốn truyền đạt thuận lợi thâm nhập vào nội tâm phụ mẫu.

Dưới vỏ bọc ngây thơ hồn nhiên và ngôn hành vô kỵ hiện tại, kỳ thực nàng vẫn luôn mở to tuệ nhãn, bình tĩnh quan sát nhân tình ấm lạnh, thế sự biến thiên quanh mình.

Chỉ cần nàng muốn, hẳn nàng có thể xử lý thích đáng mọi mối quan hệ, không để mình sa vào khốn cảnh, có điều, nàng cũng luôn rất kiêu ngạo, kiêu ngạo đến không chịu nhân nhượng bất kỳ chuyện gì trái với tâm ý, nhưng đây chẳng phải một thời đại cho phép nữ tử buông thả cõi lòng, dẫu là công chúa cũng không ngoại lệ, tuân theo nguyên tắc mình không phụ mình chung quy sẽ chẳng tránh khỏi vỡ đầu chảy máu.

Dù cho ta cẩn thận từng li từng tí bảo vệ nàng mỗi ngày, vẫn không thể nào giúp nàng tránh khỏi tổn thương.

Tuy kim thượng đã quyết định để ta tiếp tục ở lại bên công chúa, song điều đó không có nghĩa ngài từ bỏ cố gắng cải thiện quan hệ phu thê giữa công chúa và phò mã, huống hồ còn có một đám ngôn quan đang theo dõi gắt gao chuyện khuê các của nàng, bức ép ngài tìm cách giải quyết.

Một tháng sau, kim thượng liên tục triệu Dương phu nhân, Lý Vĩ, Vận Quả Nhi cùng nhập nội đô tri Sử Chí Thông, quan chủ quản phủ công chúa hiện tại, vào cung thương nghị.

Ta đoán hẳn là ngài muốn cùng họ tìm một phương pháp làm công chúa tiếp nhận phò mã, để nàng xa rời ta một cách tự nhiên.

Suy đoán này đã được chứng minh đại khái không sai ngay sau đó, nhưng phương án họ áp dụng lại không phải cái ta có thể nghĩ ra.

Một đêm nọ, ta đột ngột tỉnh giấc vô cớ, ngồi dậy tựa vào đầu giường một chốc, lòng vẫn không dứt nôn nao.

Đúng lúc tâm thần đang không yên, một tiếng hét của chợt vọng lại từ gác giữa nơi công chúa ở.

Đêm khuya người lặng, tiếng hét nghe đặc biệt rõ ràng chói tai, đan xen trong đó là khủng hoảng và phẫn nộ cực độ, nữ tử kia lại liên tiếp hét thêm mấy tiếng, giọng vô cùng thảm thiết.

Ta nhận ra đó là giọng công chúa, nhất thời như bị sét đánh, hoảng hốt lo âu, toàn thân không kìm được run lên.

Vớ áo khoác vào, ta lảo đảo tìm đường ra cửa, tức tốc chạy về phía gác giữa.

Giác giữa đã sớm đèn đuốc sáng choang, mười mấy thị nữ và tiểu hoàng môn tụ tập trong ngoài buồng ngủ của công chúa, chạy tới chạy lui, tay chân luống cuống, có người miệng kêu "Công chúa" hoặc "Đô úy", có người gọi đồng bạn làm việc, có người không biết nhìn thấy cái gì, cũng đang kinh hoàng la hét, hiện trường ồn ào ầm ĩ, hỗn loạn tan tác.

Thấy ta tới, họ mới tạm lắng tiếng, đồng thời tự giác nhường đường, mời ta vào trong.

Công chúa đầu tóc rối bù, trừng trừng căm phẫn nhìn về phía trước, tay nắm một cây trâm ngọc, đầu nhọn cây trâm chĩa ra ngoài, được nàng dùng làm vũ khí, trên đó có vết máu đỏ tươi.

Ta dõi mắt theo hướng nàng nhìn, phát hiện ra tiêu điểm nàng trừng là Lý Vĩ.

Lý Vĩ ngơ ngác đứng ngay phía trước nàng, cổ và vai có nhiều dấu vết bị trâm đâm thương, còn có máu không ngừng rỉ ra.

Họ đều y quan bất chỉnh.

Nếu không phải có bốn thị nữ ra sức ngăn trở, công chúa nhất định sẽ còn nhào tới hung hãn đâm Lý Vĩ, đôi mắt nàng bị lửa giận nung đỏ như muốn nhỏ máu.

Ta lờ mờ đoán ra trạng huống lúc này, song không kịp nghĩ kĩ, vội xông tới bên cạnh công chúa, đoạt lấy trâm ngọc trong tay nàng.

Công chúa vẫn đang trong trạng thái cuồng nộ, liều mạng phản kháng, đại khái căn bản là không ý thức được người đến gần mình là ta, lại vung trâm lên đâm ta.

Ta vừa chống đỡ vừa liên thanh gọi nàng, rốt cuộc nàng cũng có phản ứng, động tác chậm lại, ta mới rút cây trâm nhuốm máu kia ra khỏi tay nàng.

"Hoài Cát," Nàng kéo tay áo ta, đôi mắt đỏ ngầu ra hiệu về phía Lý Vĩ, "Giết hắn!"

Ta xoay người ôm hờ lấy nàng, đồng thời mượn cơ hội ngăn trở tầm mắt nàng nhìn Lý Vĩ, vỗ nhẹ lưng nàng ôn tồn trấn an, lại phóng mắt ra hiệu với hai thị nữ sau lưng công chúa.

Thị nữ hiểu ý, đi vòng tới bên cạnh Lý Vĩ, đỡ hắn ra cửa.

Thần trí công chúa vẫn chưa hoàn toàn tỉnh táo, miệng lẩm bẩm đúng một câu: "Giết hắn, giết hắn..."

Dưới sự trấn an của ta, cơn giận của nàng mới dần nguôi bớt, song bi thương lại chợt trào dâng trong lòng, vùi đầu vào ngực ta, gào khóc tức tưởi như một đứa trẻ vừa phải chịu hết tủi nhục.

Ta choàng thêm áo cho nàng, ngồi cùng nàng hồi lâu, mãi đến khi nàng khóc mệt, dần buồn ngủ.

Thấy rèm mi nàng rũ thấp, dáng vẻ gà gật, ta gọi thị nữ lại, bảo họ đỡ công chúa vào màn nghỉ ngơi.

Nhưng thị nữ vừa lại gần, công chúa lập tức tỉnh lại, nàng hoảng loạn đứng bật dậy, đẩy thị nữ ra, quyết liệt nói mình không muốn ngủ ở đây rồi tự mình lao ra ngoài.

Ta đuổi theo, thấy nàng chỉ đâm đầu chạy bừa, hoàn toàn không có phương hướng cụ thể, bèn vội vàng tiến lên, kéo nàng trở lại sảnh gác giữa, nàng bèn dừng bước trong sảnh, nói thế nào cũng không chịu trở lại buồng ngủ.

Ta đành để nàng ở lại sảnh, nàng cũng kiên cường mở mắt, khăng khăng không chịu ngủ, ta bèn phân phó thị nữ hầu nàng rửa mặt chải đầu, mình thì đứng dậy, định ra ngoài tránh, nhưng nàng lại hoảng sợ luôn miệng gọi ta, hỏi ta đầy lo lắng: "Hoài Cát, huynh muốn đi đâu?"

Dáng vẻ nàng làm ta trông mà xót lòng, bèn ngồi trở lại bên cạnh nàng, mỉm cười với nàng, nói: "Thần không đi đâu hết, chỉ là ngồi lâu nên đứng lên giãn tay giãn chân chút thôi."

Trời sáng, Sử Chí Thông và Dương phu nhân lần lượt tới thăm, công chúa đều cự tuyệt không gặp.

Lát sau, Nhậm Thủ Trung từ trong cung tới, nói quan gia ban thưởng lễ vật cho công chúa và phò mã.

Lễ vật nhất nhất trình lên, vậy mà lại là gấm uyên ương, túi hợp hoan, chỉ vàng bóng màu dùng để trang trí màn trướng trong hôn lễ.

"Quan gia nói, phò mã và công chúa là phu thê, vốn không cần phân gác ở, hôm qua đã dặn phò mã chuyển vào gác giữa.

Hôm nay đặc biệt ban thưởng, tỏ ý chúc mừng."

Nhậm Thủ Trung cười nói với công chúa.

Thấy ông ta còn chưa biết chuyện xảy ra đêm qua, ta lo lắng quan sát công chúa, ánh mắt công chúa trôi nổi, từ từ quét qua gấm hoa vàng bạc trước mặt, tạm thời chưa có phản ứng gì khác thường.

Nhưng lúc bóng dáng Lý Vĩ xuất hiện ở cửa gác, nàng nhất thời hít thở dồn dập, bưng một mâm đựng đầy chỉ vàng bóng màu lên, ném vào mặt vào đầu Lý Vĩ.

"Cút!

Đừng đến gần ta!"

Nàng phẫn nộ quát Lý Vĩ, lại mất khống chế cầm tất cả đồ vật có thể cầm được bên mình ném về phía Lý Vĩ, không ngừng lặp đi lặp lại "Đừng đến gần ta", dòng lệ mới tuôn ra lại bắt đầu chảy xuống dọc theo gò má.

Nhậm Thủ Trung nhìn mà ngây người, là ta ngăn cản đợt công kích tiếp theo của công chúa vào Lý Vĩ, sau lưng Lý Vĩ cũng có người đứng ra chắn trước mặt hắn trong khi hắn hãy còn đang đờ đẫn bất động.

Đó là Thôi Bạch, Gia Khánh Tử cũng bất ngờ xuất hiện, đi vào trong sảnh, mỉm cười gọi khẽ: "Công chúa."

Đó là lần đầu họ tới thăm sau lễ lại mặt, xem ra Lý Vĩ tới chuyến này vốn là để dẫn họ tới gặp công chúa.

Trông thấy thị nữ thân cận, cảm xúc của công chúa tạm thời lắng lại, nương theo Gia Khánh Tử dìu đỡ ngồi xuống, nhưng vẻ mặt vẫn hốt hoảng, ánh mắt chưa ngơi lửa giận vẫn đang bắn về hướng Lý Vĩ.

Nhậm Thủ Trung rảo bước ra cửa, kéo theo Lý Vĩ thoát khỏi tầm mắt công chúa.

Gia Khánh Tử cũng rất hiểu chuyện, tươi cười ân cần hỏi thăm công chúa, không nhắc một chữ nào tới chuyện mới rồi.

Công chúa thỉnh thoảng mở miệng hỏi nó cuộc sống tân hôn, nó cũng nói mọi việc đều tốt đẹp, kể với công chúa vài chuyện thú vị trong sinh hoạt, còn lấy ra một con rối nối dây mặc y phục sặc sỡ cho công chúa xem, cười nói: "Em thấy công chúa thích con rối nên xin Thôi lang làm cho một con.

Con lần trước công chúa giữ lại là thư sinh, con này là mỹ nhân, vừa vặn thành một đôi đấy."

Công chúa nhận lấy ngắm nghía, khóe miệng hé nụ cười nhàn nhạt, nhấc tay cầm lên điều khiển con rối cử động vài cái, lại hỏi ta: "Hoài Cát, con rối này có đẹp không?"

Ta cũng cười với nàng, đáp "Đẹp".

Nàng lại lắc đầu, nói: "Ta muốn con kiểu khác cơ."

Gia Khánh Tử lập tức cười xòa: "Công chúa muốn kiểu nào cứ nói với Thôi lang, chàng nhất định sẽ làm cho công chúa."

Công chúa khẽ gật đầu, cười với Thôi Bạch.

Giữa chừng ta không nói gì nhiều với Thôi Bạch, gã cũng một mực im lặng, vô cùng chuyên chú quan sát chúng ta có phần chật vật sau trận gió bão ban nãy.

Gia Khánh Tử ngồi cùng công chúa hồi lâu, thừa dịp Thôi Bạch đi bái phỏng Lý Vĩ, ta đứng dậy theo hắn, đưa hắn ra cửa gác giữa.

Đưa mắt nhìn Thôi Bạch đi xa rồi, ta cũng không vòng về gác ngay mà chuyển hướng đi tới chỗ ở của Dương phu nhân.

Ta nghĩ chuyện đêm qua nhất định là chủ ý của bà ta.

Nhưng tới nửa đường, lại có người gọi ta từ đằng sau, quay đầu nhìn, là Vận Quả Nhi nay đã là thiếp thất của phò mã.

Ả chậm rãi đi tới trước mặt chặn đường ta, hỏi ta: "Lương tiên sinh định đi đâu vậy?"

Ta nói thẳng: "Đi tìm quốc cữu phu nhân, ta có việc muốn hỏi bà ấy."

"Là chuyện đô úy và công chúa đêm qua phải không?"

Vận Quả Nhi nói, "Tiên sinh khỏi đi, chuyện này không liên quan gì đến quốc cữu phu nhân hết."

Ta nhíu mày liếc ả hỏi dò.

Ả bình tĩnh đón lấy ánh mắt ta, bình thản nói: "Đêm qua, là tôi khuyên đô úy vào gác giữa."

4.

Thiếp thất

Ngữ điệu ôn hòa của ả hờ hững khác thường, làm ta có cảm giác như đang nghe một bản án thư lại ghi chép xong trần thuật với phán quan: "Gần đây quan gia thường triệu quốc cữu phu nhân và tôi tới thương lượng chuyện công chúa, nghe nói công chúa từng ngủ cùng đô úy, bèn bảo bọn tôi nói nhiều lời hay về đô úy, để sau này công chúa tiếp tục làm phu thê thật với đô úy.

Nhưng bọn tôi đều biết công chúa chán ghét đô úy, ánh mắt nhìn chàng như một cái bánh hấp mọc mốc vậy, ai nói tốt cũng không thể khiến công chúa hồi tâm chuyển ý.

Thế nên, tôi đề nghị quan gia dứt khoát hạ lệnh bảo đô úy chuyển vào gác giữa, người ngoài nói tốt mười câu chẳng bằng một đêm vợ chồng chung giường..."

"Cô biết rõ công chúa chán ghét đô úy mà còn bảo quan gia hạ mệnh lệnh rành rành đi ngược lại với tâm ý của người?"

Ta nhìn biểu cảm không gợn sóng mảy may của Vận Quả Nhi, thầm kinh ngạc bắt đầu từ khi nào mà gương mặt quen thuộc này lại trở nên khó ưa đến thế.

"Thứ cho tôi nói thẳng, Lương tiên sinh học nhiều hiểu rộng, nhưng có một số chuyện của nữ nhân chưa chắc anh đã biết."

Nói xong câu này, đại khái là để tránh làm ta lúng túng quá mức, ả dời mắt nhìn sang tường hoa mái tầng của gác giữa rồi mới nói tiếp, "Rất nhiều mâu thuẫn không đâu giữa phu thê đều được hóa giải trong khuê phòng đêm khuya, trước đây Vân nương cũng từng nói với tôi, vợ chồng "đầu giường đánh nhau cuối giường hòa".

Cá nước vui vầy là một cách hay để bù đắp cho rạn nứt giữa vợ chồng, công chúa chung chăn gối với đô úy vài lần rồi, thái độ với đô úy chắc chắn sẽ cải thiện."

Ả bàn về chủ đề riêng tư nhường vậy mà thái độ lại thản nhiên đến thế, làm ta để lộ vài phần mất tự nhiên.

Hồi lâu sau, ta mới mở miệng: "Cô và ta đều đã thấy được kết quả sau lần đầu tiên công chúa mời đô úy ngủ lại rồi, khoảng cách giữa người và đô úy chẳng những không được kéo gần mà còn ngày một cách xa.

Sao cô lại ra hạ sách bậc này, làm đô úy chọc giận công chúa?"

Vận Quả Nhi nói: "Lần đầu tiên của đàn bà ngoài đau ra thì còn có thể có cảm giác gì khác chứ?

Nhưng về sau sẽ không như vậy nữa.

Đô úy cũng nói công chúa sẽ không chấp nhận chàng, tôi khuyên chàng cứng rắn hơn với công chúa, chàng rất kinh ngạc, nói như vậy có thể công chúa sẽ hận chàng, tôi nói với chàng: 'Dù sao công chúa cũng đã hận chàng sẵn rồi.

Coi như đặt cược một lần nữa đi, nếu thắng, từ rày công chúa sẽ hòa thuận chung sống với chàng, thua cũng chẳng có kết quả gì xấu hơn, cùng lắm thì công chúa lại hận chàng tiếp thôi.'"

Ta lạnh lùng nhìn ả: "Hiện giờ cô đã thấy kết quả xấu hơn rồi đó."

"Là đô úy thiếu quyết đoán hoặc làm chưa đủ cứng rắn mà thôi, đêm qua sau khi vào gác giữa cứ do do dự dự mãi, thành ra đánh thức công chúa, để người quấy nháo."

Ả chuyển mắt về nhìn ta, nói: "Hôm nay công chúa như vậy, tiên sinh cũng khó chối trách nhiệm.

Anh bảo vệ người quá kĩ, không để người chịu chút xíu thương tổn nào, nhưng có một vài đau nhức nhất định sẽ phải trải qua trong sinh mệnh, giống như học đi bị ngã là điều không thể tránh khỏi vậy.

Nếu ngay từ đầu sau khi hạ giáng, người đã ngủ chung với đô úy thì tình hình đã chẳng khó giải quyết như bây giờ."

Ta không khỏi kinh hãi, đánh giá ả như quan sát một người xa lạ.

Ta biết ả mười mấy năm mà hoàn toàn không phát hiện ra đầu óc ả sáng suốt và nhạy bén thấu tỏ đến thế.

Ả đã nắm chắc được vận mệnh của mình đúng theo tâm ý, mà điều ta cần suy nghĩ bây giờ là thái độ của ả với công chúa, trong tình huống chung chồng, trù tính này của ả là thật lòng muốn hàn gắn quan hệ giữa công chúa và phò mã, hay là muốn dùng phương thức làm tổn thương công chúa để khiến vợ chồng họ hoàn toàn đoạn tuyệt.

Hai hôm sau đó, cảm xúc của công chúa vẫn chưa ổn định, hễ nhìn thấy Lý Vĩ, thậm chí là chỉ nghe đến cái tên Lý Vĩ thôi cũng sẽ nổi giận, khóc mắng, ném đồ, chạy loạn như phát điên cũng có khả năng phát sinh.

Có một lần, vô tình nhìn thấy một chiếc gối sứ có hình uyên ương nghịch nước kim thượng ban cho nàng và Lý Vĩ bận trước, lập tức giơ lên ném vỡ, sau đó nhặt một mảnh sứ vụn lên đâm vào cổ mình, may mà lúc ấy ta ở ngay bên cạnh nàng kịp thời ngăn trở mới không tạo thành thảm kịch.

Hơn nữa, từ đấy nàng từ chối ngủ trong buồng phòng gác giữa, chỉ bằng lòng ngồi ở sảnh, ngày đêm không ngủ.

Ta khuyên nàng vào trong nghỉ ngơi, nàng kiên quyết lắc đầu: "Sẽ có kẻ gian đi vào."

Ta nói đã dặn dò chúng thị nữ canh chừng cẩn thận, sẽ không xảy ra bất kỳ bất trắc gì nữa, nàng vẫn không chịu: "Không tin chúng được."

Đám thị nữ ấy cũng thật sự vô tội, đêm đó Vận Quả Nhi dẫn Lý Vĩ vào gác giữa sau khi công chúa đã ngủ, tuyên bố mệnh lệnh bảo Lý Vĩ dọn vào ngủ cùng công chúa của kim thượng, bọn thị nữ không dám chống lại, đành để Lý Vĩ vào phòng ngủ của công chúa, nào ngờ chuyện chẳng êm xuôi, cũng thiệt thòi chúng nó đánh mất tín nhiệm của công chúa.

Qua hai ngày, công chúa đã hốc hác không còn ra hình người.

Sử Chí Thông không dám giấu giếm, đành vào cung thuật lại chuyện xảy ra ở phủ công chúa cho đế hậu và Miêu hiền phi, Miêu hiền phi lập tức sai Vương Vụ Tư đi đón công chúa vào cung ở mấy ngày.

Bà trông thấy thảm trạng của con gái, ngoài đau lòng ra còn giận dữ khôn nguôi, trút hết lên Sử Chí Thông, tố cáo với kim thượng y quản lý phủ công chúa không tròn bổn phận, để công chúa bị phò mã và thiếp thất của hắn ức hiếp.

Kim thượng bèn cách chức Sử Chí Thông, liên đới tước cả cấp quan nhập nội đô tri của y.

Kim thượng phải lặp đi lặp lại cam kết sẽ không bắt Lý Vĩ và công chúa ngủ chung phòng nữa, công chúa mới miễn cưỡng đồng ý trở về phủ công chúa.

Hồi phủ cùng chúng ta còn có Vương Vụ Tư, được Miêu hiền phi tiến cử, y thành công trở thành nội thần chủ quản phủ công chúa tân nhiệm.

Có hai nguyên nhân Miêu hiền phi chọn y vào phủ công chúa: Thứ nhất, y làm việc trong gác Miêu hiền phi đã nhiều năm, nhìn công chúa lớn lên, vừa hiểu biết công chúa vừa trung thành với công chúa; thứ hai, đầu óc y linh hoạt, rất biết cách đối phó với thuộc hạ, nói theo lời Miêu hiền phi là "không quá hiền lành như Lương Toàn Nhất, cũng không quá nịnh nọt chỉ biết lấy lòng quan gia như Sử Chí Thông".

Vương Vụ Tư vừa nhậm chức đã ra oai phủ đầu với Vận Quả Nhi – giáng một cái bạt tai nặng nề lên mặt Vận Quả Nhi ngay khi ả tới nghênh tiếp, y trừng mắt nhìn ả, nghiêm giọng mắng nhiếc: "Tiện tì, lần sau còn không quản lý cái lòng gian giảo của bay cho tử tế thì cứ cẩn thận ta lấy kéo cắt phứt đi hộ bay đó!"

Sau đó, trong cái nhìn trân trối nghẹn họng của đám người Dương phu nhân, Lý Vĩ, y lại khôi phục vẻ mặt hiền hòa, tươi cười cơ hồ thân thiện gần gũi, chắp tay với Vận Quả Nhi: "Vận cô nương thứ tội, câu mới rồi là Miêu nương tử bảo tôi chuyển cáo cô, lão nô cũng chỉ là bất đắc dĩ, đắc tội rồi."

Vận Quả Nhi đỏ mắt bưng má, lạnh lùng quay đầu đi chỗ khác.

Vương Vụ Tư vẫn duy trì nụ cười thân thiện, tuyên bố hình phạt dành cho Vận Quả Nhi một cách lễ phép: "Tôi thấy khí sắc Vận cô nương không tốt, hẳn là do phải vất vả suốt mấy ngày nay, không bằng về phòng nghỉ ngơi ngay bây giờ, mọi chuyện trong phủ một tháng tới không cần phải lo liệu nữa, cứ an tâm tĩnh dưỡng cho tốt.

Tôi cũng sẽ phái người phục dịch trước phòng cô nương, quyết không để kẻ không phận sự vào trong quấy rầy cô nương."

Dứt lời, y hơi hất đầu, lập tức có hai tiểu hoàng môn đi lên, kèm hai bên Vận Quả Nhi, mang ả về phòng giam lỏng.

Từ đó thị nữ trong phủ công chúa ai nấy đều lo ngay ngáy, thấy Vương Vụ Tư là như chuột thấy mèo, lùi bước cúi đầu, thở cũng chẳng dám thở mạnh.

Trước mặt y, đến Dương phu nhân xưa nay vẫn thường hống hách cũng khiêm tốn đi rất nhiều, nói chuyện với y rất khách khí, thậm chí còn ăn nói nhỏ nhẹ, hoàn toàn không thấy vẻ kiêu căng trước kia.

Sau khi vào phủ, Vương Vụ Tư đặc biệt chú ý động thái của Lý Vĩ, phái rất nhiều người giám thị hắn, bất kể chuyện lớn chuyện nhỏ kể từ lúc hắn thức dậy buổi sáng cho đến khi đi ngủ ban đêm đều sẽ có người báo cáo với Vương Vụ Tư.

Ta nhìn trong mắt, không khỏi cảm thấy quá đáng, bèn nói riêng với y: "Tiên sinh bảo vệ công chúa đương nhiên là hết lòng, có điều để ý động tĩnh của phò mã đến mức ấy có phải là hơi thái quá không?"

Vương Vụ Tư thở dài: "Chúng ta cộng sự nhiều năm, tình hình của công chúa lại như vậy, ta cũng chẳng gạt cậu, lần này Miêu hiền phi bảo ta tới vốn có chút dặn dò.

Người biết công chúa căm ghét phò mã, giữa hai người họ tuyệt không có khả năng hòa hảo, thế nên lệnh ta chú ý quan sát hành động của phò mã, nếu có chút gì không ổn, chẳng hạn như bất kính với công chúa hoặc mở miệng oán thán, đều phải báo lên quan gia, để ngày sau thỉnh cầu quan gia cho phép công chúa và phò mã ai đi đường nấy, để công chúa hồi cung ở lâu dài."

Ta không biết Lý Vĩ có nhận ra ý đồ của y hay không, dù sao biểu hiện của Lý Vĩ về sau quả thực không một sơ hở, mỗi ngày đều thỉnh an công chúa sáng tối, biết công chúa không muốn gặp mình, bèn bái lạy từ xa ngoài cửa gác, sau đó yên lặng rời đi, không hề quấy rầy nàng.

Hắn kính cẩn với công chúa, cũng tôn trọng Vương Vụ Tư, thi thoảng phải đối mặt với Vương Vụ Tư cố ý khiêu khích cũng không có nửa câu oán hận.

Hơn nữa trong tình huống Vận Quả Nhi bị giam lỏng, hắn cũng không để bất kỳ thị nữ nào hầu hạ, khiến Vương Vụ Tư muốn mượn cớ nói hắn "háo sắc" cũng không tìm được.

Vận Quả Nhi cũng rất ương bướng, sau khi bị cấm túc, ả bắt đầu tuyệt thực, không bao lâu sau đã thoi thóp yếu ớt, song Vương Vụ Tư cũng không có ý định thả ả ra ngoài, bất kể Lý Vĩ và Dương phu nhân có khẩn cầu thế nào, cuối cùng, là ta đập mở cửa phòng Vận Quả Nhi, đỡ ả ra, mang đến chỗ Dương phu nhân.

Dương phu nhân ngạc nhiên: "Lương tiên sinh thả nó ra có được Vương tiên sinh cho phép không?"

Ta lắc đầu, nói: "Không sao, tôi sẽ giải thích với ông ấy."

Lúc ta chuẩn bị rời đi, Vận Quả Nhi bỗng mở miệng xin ta dừng bước, tiếp đó thều thào hỏi: "Anh cũng cho rằng tôi muốn hại công chúa?"

Ta suy xét rồi nói thật: "Ta không xác định."

"Vậy mà anh còn cứu tôi?"

Vận Quả Nhi hỏi.

Ta nói: "Ta không thể trơ mắt nhìn người khác chết đi trước mặt mình."

Ả cười bi ai: "Anh vẫn luôn như vậy..."

Chớp chớp cặp mắt khô khốc, ả xóa bỏ cảm xúc dư thừa, lại tìm về giọng điệu bình tĩnh: "Tôi muốn nghĩ cách để công chúa chấp nhận chồng mình, nếu không được thì để người mang thai, sinh hạ một đứa con cho chính mình cũng tốt, như vậy cuộc sống của người sau này sẽ có chỗ để gửi gắm, người cũng có lí do để sống tiếp...sau khi anh rời đi."

Lặng thinh hồi lâu, ả thoáng nhếch miệng: "Đừng nhìn tôi kinh ngạc như vậy.

Chắc chắn anh cũng nghĩ đến rồi, sớm muộn gì anh và công chúa cũng sẽ bị chia tách."

5.

Diễn trần

Ngày mười tám tháng Giêng năm Gia Hựu thứ bảy, kim thượng theo lệ ngự Tuyên Đức Môn xem đèn, cho vời hậu phi, công chúa, chư thần và mệnh phụ đi theo.

Trước đó đám gián quan Tư Mã Quang, Dương Điền có nói năm ngoái các châu gặp nạn hạn hán, góa bụa cô độc, lang thang lưu lạc, mong kim thượng giảm vui chơi, ngừng hội xem đèn tết Nguyên Tiêu, thương xót con dân.

Nhưng kim thượng vẫn quyết định không bỏ xem đèn.

Sau khi lên Tuyên Đức Môn, ngài nhìn thần tử đi theo hai bên, nói ra một lí do: "Chính vì năm ngoái xảy ra nhiều chuyện không vui nên trẫm mới muộn mượn ngày hội này, cùng vui với vạn dân đã trải qua cực khổ, chứ không phải để thỏa mãn lạc thú du ngoạn của mình trẫm."

Trong mắt kim thượng, công chúa hiển nhiên cũng là một trong "vạn dân đã trải qua cực khổ".

Những khi rỗi rảnh giữa khoảng thời gian xem đèn, ngài liên tục nhìn sang con gái, hỏi nàng có thích những lầu gác đèn đóm dưới chân không, công chúa đều mỉm cười nói thích, nhưng ánh mắt nhìn đèn đuốc hoa lệ lại tản mạn vô thần, trong hoàn cảnh cảm xúc tích tụ kéo dài, hạng mục thưởng ngoạn nàng thích nhất khi còn nhỏ đã chẳng còn khơi dậy được bao nhiêu hứng thú cho nàng nữa.

Trong lúc ngắm đèn, dưới cổng thành vẫn có các loại nghệ nhân hiến kĩ như trước, đến màn hai nữ tử biểu diễn đấu vật, công chúa nghiêng người nhìn xuống, hiếm hoi tỏ ra chú ý.

Những nữ đô vật ấy vẫn mặc trang phục ngắn tay không cổ, để lộ một khoảng lớn trước ngực, làm ta nhớ đến A Địch và Trương phu nhân kể chuyện Tư Mã Quang bày tỏ phẫn nộ với việc này.

Biểu diễn đêm nay vẫn có tiết mục này, cũng chẳng biết là năm ấy y không tiến gián hay kim thượng nghe xong đã bỏ ngoài tai.

Đấu vật xong, người xem sôi nổi reo hò, kim thượng hạ lệnh ban cho nữ đô vật vài món đồ bạc lụa, Tư Mã học sĩ từ chỗ ngồi của bách quan bước ra, đi tới trước mặt kim thượng, khom người xá dài, vô cùng nghiêm túc tâu: "Bệ Hạ, Tuyên Đức Môn là biểu tượng của quốc gia..."

"Kim thượng có uy nghiêm thiên tử, dưới có bách tính muôn dân, hậu phi hầu bên, mệnh phụ quan vọng, mà lại để phụ nhân lõa lồ đùa giỡn trước mặt, tuyệt không phải lễ pháp trọng thể hiển minh tứ phương."

Kim thượng không đợi y nói hết đã nghiêm mặt tiếp lời, rồi chợt phì cười, khoát tay, nói với Tư Mã Quang: "Năm nào khanh cũng nói vậy, trẫm thuộc cả rồi.

Có điều nữ tử đấu vật là một trong những tiết mục truyền thống tết Nguyên Tiêu, thần dân Đông Kinh xem tiết mục này đã thành phong tục, mỗi lần đấu võ, người xem như nêm, trăm họ cũng đã quen với trang phục đấu vật, không cảm thấy có gì không ổn, khanh việc gì phải bắt buộc hủy bỏ?"

Tư Mã Quang nghiêm mặt nói: "Khổng Tử nói: trái lễ chớ xem.

Nữ tử lõa lồ da thịt là hành động trơ trẽn vô liêm sỉ, có minh huấn của thánh nhân mà người xem vẫn nhìn chằm chằm, ấy là vô lễ.

Đại Tống nhận lệnh do trời, Thái Tổ, Thái Tông thường răn dạy bề tôi, họa trên thiên hạ là do vô lễ mà ra.

Vô lễ, thì hỏng phép tắc, suy phong tục, lâu dài thiên hạ tất vong, thần dân không biết thế nào là lễ nghi ắt sẽ khiến thiên hạ đại loạn, vận nước không bền, dẫn đến bại vong, nhân dân lầm than.

Nay mà không cấm nữ tử diễn trần, làn gió dâm mị trong nước sẽ ngày càng thịnh, gây hậu quả xấu, bệ hạ không thể không phòng!"

Kim thượng ra chiều lắng nghe nghiêm túc, song vẻ mặt chẳng lấy gì làm quan tâm.

Đợi Tư Mã Quang nói xong, ngài mỉm cười, cho y một câu trả lời lập lờ nước đôi: "Ý của khanh, trẫm đã biết.

Mời khanh về hàng tiếp tục thưởng thức biểu diễn, chuyện này ngày sau lại bàn."

Tư Mã Quang lại không chịu thôi, bước lên trước hai bước, cao giọng nói với kim thượng: "Bệ hạ, chuyện này đã kéo dài hai năm, há có thể tiếp tục lần lữa không quyết?

Quyết sách của bệ hạ phải lấy lý làm đầu, không dung trái lễ, đề cao thiện lành, trừ bỏ tệ hại, như vậy mới có thể trường kỳ bình an, khiến thiên hạ thần phục, muôn dân quy thuận."

Lời nói đến đây, y lại nghiêm chỉnh bái lạy, quỳ gối trước mặt kim thượng, "Thần cả gan khẩn cầu bệ hạ lập tức hạ chỉ, ban hành pháp lệnh, nghiêm cấm hạn chế, để sau này phụ nhân không còn biểu diễn chốn đông người tụ tập trên phố nữa."

Kim thượng không vui, khẽ cau mày, song nhất thời cũng không lên tiếng cự tuyệt.

Tư Mã Quang chờ một lát rồi lại lần nữa quỳ lạy, lặp lại thỉnh cầu của mình bằng giọng nói vang vọng khắp điện gác lầu cổng.

Kim thượng vẫn im lặng, những người còn lại cũng chẳng dám mở miệng, trong bầu không khí vi diệu ấy, đến nhạc công giáo phường cũng ngừng tấu nhạc, trên Tuyên Đức Lâu lặng ngắt như tờ, chỉ có tiếng nô đùa du ngoạn của thứ dân dưới lầu là hãy còn vọng tới liên miên không dứt.

Bỗng, công chúa dời vài bước về phía Tư Mã Quang, cách một lớp rèm châu nói với Tư Mã Quang đang quỳ dưới đất: "Tư Mã học sĩ, lúc ông can gián thường nhắc đến gia pháp tổ tông, hẳn là tin phục lời dạy bảo của Thái Tổ và Thái Tông hoàng đế lắm."

Nàng vừa xen lời, người ngồi bốn phía đều quay đầu nhìn công chúa.

Cung quyến sau rèm trực tiếp đối thoại với thần tử là điều không hợp với lễ chế, huống chi trước mắt còn là một công chúa thường xuyên có dị động đang hỏi Tư Mã Quang nhiều lần chỉ trích nàng.

Kim thượng khoa tay, ra hiệu bảo công chúa lùi ra sau, nhưng công chúa chẳng nghe theo, ánh mắt vẫn cố định đậu trên Tư Mã Quang.

Kim thượng lưỡng lự, sau cùng vẫn không ngăn cản.

Tư Mã Quang cũng rất kinh ngạc, nghiêng đầu nhìn về phương hướng công chúa, hoài nghi nom bóng người mơ hồ sau bức rèm che một chốc, y vẫn đáp lời: "Tất nhiên, Thái Tổ, Thái Tông cơ trí uy vũ, tự gánh thiên hạ, anh minh sáng suốt, quần thần nể phục."

Công chúa lại nói: "Nếu là vậy, chuyện phụ nhân đấu vật, Thái Tông cũng có minh huấn, sao Tư Mã học sĩ lại không lý tới?"

Tư Mã Quang ngạc nhiên: "Thái Tông hoàng đế luận về phụ nhân đấu vật khi nào?"

Công chúa ung dung đáp: "Năm xưa Thái Tông hoàng đế xem đèn Nguyên Tiêu, Phùng Chưởng cũng từng nói nữ tử lộ ngực làm suy đồi phong hóa, xin ngài hạ lệnh cấm nữ tử đấu vật.

Thái Tông hoàng đế bèn hỏi Phùng Chửng: 'Mới rồi hai nữ tử kia tỷ thí, cuối cùng là ai thủ thắng?' Phùng Chửng không trả lời được, Thái Tông hoàng đế cả cười: 'Hôm nay ta xem một trận so tài đấu vật đặc sắc mà khanh lại chỉ thấy nữ tử diễn trần lộ ngực.' Bây giờ ta cũng muốn hỏi Tư Mã học sĩ, mới rồi trong hai vị đấu vật, người cuối cùng giành chiến thắng là ai?"

Tư Mã Quang đăm chiêu, lại chẳng thể đưa ra đáp án.

Chung quanh bắt đầu lục tục phát ra tiếng phì cười kìm nén, khiến vị học sĩ không lâu trước đây còn lời lẽ hùng hồn lộ vẻ lúng túng.

Công chúa cười khẽ, nói tiếp: "Thái Tông hoàng đế lại nói với Phùng Chửng: 'Cái thấy là cái nghĩ.

Tính người không đục, thân vốn tròn đầy, chỉ cần giữ vững tâm tính thanh tịnh, như vậy những thứ bề ngoài hư ảo há có thể gợi lên ý niệm dâm tà?

Khanh lo lắng như thế là coi muôn dân thiên hạ đều thành tiểu nhân dâm tà.' Hôm nay Tư Mã học sĩ ra sức xin cấm tiệt phụ nhân đấu vật, chẳng lẽ cũng là không có lòng tin với thần dân Đại Tống, hay là nghi ngờ hiệu quả thánh thượng giáo hóa con dân?"

Đây không phải một câu hỏi dễ trả lời.

Tư Mã Quang á khẩu, một lúc lâu sau mới cất tiếng, nhưng cũng không phải bẻ lại công chúa mà hỏi: "Tích này của Thái Tông hoàng đế có văn bản nào ghi lại chăng?"

"Đương nhiên có," Công chúa lập tức đáp, "Ngay trong 'Thái Tông thực lục', lẽ nào Tư Mã học sĩ chưa từng đọc?"

Tư Mã Quang thành thật trả lời: "Ta từng đọc 'Thái Tông thực lục' nhưng không nhớ là có chuyện này."

Công chúa nhoẻn miệng: "Vậy học sĩ trở về tra lại 'Thực lục' đi thôi."

Tư Mã Quang im lặng, lát sau, y quay sang kim thượng, bái lạy cáo lui.

Kim thượng hỉ hả, gật đầu bằng lòng, lúc Tư Mã Quang đứng lên, có lẽ là xuất phát từ lòng tôn trọng dành cho học sĩ đại phu, ngài bổ sung thêm câu: "Tiểu nữ thất lễ, mong khanh chớ để bụng."

Câu này giúp Tư Mã Quang lập tức ý thức được thân phận của công chúa.

Bước chân y thoáng khựng lại, khôi phục lại vẻ mặt trước đây, ánh mắt sáng quắc đâm về phía công chúa.

Kim thượng hơi hãi, vội vàng giục y trở về vị trí cũ.

Tư Mã Quang đứng lặng một lát, cuối cùng lựa chọn nhẫn nhịn, xoay phắt người, rảo bước trở lại hàng ngũ thần tử.

Biểu hiện của công chúa giành được sự tán dương nhất trí của cung quyến phía sau.

Gần đây nàng cảm xúc thất thường, còn nổi điên với Lý Vĩ, trong cung thậm chí còn đồn đại nàng điên rồi, mà nay nàng đối thoại với Tư Mã Quang, giọng tuy có phần yếu ớt, song nội dung mạch lạc rõ ràng, có thể thấy nàng tư duy tỉ mỉ, so với vài ngày trước tựa như hai người khác nhau.

Cung quyến sôi nổi tiến lên ca tụng chuyện công chúa đẩy lùi Tư Mã Quang, hoàng hậu cũng mỉm cười với nàng, có ý khen ngợi, nhưng cũng không quên hỏi nàng: "Ban nãy Huy Nhu nói tích Thái Tông và Phùng Chửng có ghi lại trong 'Thái Tông thực lục', không biết là ở quyển nào?"

Công chúa xua tay cười đáp: "Chuyện này con bịa ra để gạt Tư Mã Quang đó.

'Thực lục' có cả trăm cuốn, chờ đến lúc y về lật xong, năm nay đã sớm qua rồi, chúng ta cũng xem đấu vật xong cả rồi."

Thân thể công chúa hôm nay yếu ớt, không đợi xem hết biểu diễn đã thấy mệt lả, sau khi bái biệt phụ mẫu thì xuống lầu trước, trở về cung nghỉ ngơi.

Ta một đường đi theo, đi tới dưới lầu, chợt thấy một mệnh phụ cài trâm miện khoác khăn quàng rảo bước lại gần, gọi khẽ sau lưng nàng: "Công chúa."

Công chúa ngạc nhiên xoay người, quan sát người gọi mình.

Nữ tử ấy còn rất trẻ, trên miện cài bảy đóa trâm hoa, thân bận địch y thất đẳng, xem chừng là phu nhân của một vị quan tam phẩm.

Cô cười thân thiện với chúng ta dưới ánh hoa đăng rạng rỡ, tựa như gặp lại cố nhân cách biệt đã lâu.

Mà chúng ta cũng nhanh chóng nhận ra cô – phu nhân của Phùng Kinh, Phú Nhược Trúc.

Ánh mắt cô nhìn đôi ta ấm áp như nhìn bằng hữu, hiển nhiên đã xác định chúng ta chính là người quen biết trong Bạch Phàn Lâu năm xưa.

"Phú tỷ tỷ."

Công chúa mỉm cười, không bị Nhược Chúc đột ngột lại gần dọa sợ, cũng không có ý né tránh, thản nhiên chào cô, coi như thừa nhận thân phận mình.

Nhược Trúc rất vui, hào hứng bước về phía trước hai bước cách công chúa gần hơn, nói với nàng: "Xin công chúa thứ cho Nhược Trúc lỗ mãng...

Tôi chỉ muốn nói với công chúa là tôi cũng rất thích xem nữ tử đấu vật."

Cô là mệnh phụ tam phẩm, chỗ ngồi cách cung quyến chẳng quá xa, có thể đã trông thấy bóng dáng công chúa từ trước, lại nghe nàng nói chuyện với Tư Mã Quang, giọng nói phù hợp với trong ấn tượng, thế nên mới dám lại gần nhận mặt.

Nghe cô nói, công chúa không khỏi hớn hở, đối mắt cùng cô cười.

Nhược Trúc chợt đặt một tấm khăn lụa trắng vào tay công chúa, nhỏ giọng: "Tư Mã tỷ phu của tôi là một cục gỗ gàn dở ngoan cố hết thuốc chữa, từ nhỏ tôi đã muốn trêu anh ấy mà đó giờ vẫn chưa có cơ hội.

Có điều tôi biết thời còn trẻ anh ấy từng điền một bài từ, bây giờ nói ra quả thật không ai tin là anh ấy viết, hiện giờ anh ấy cũng rất hối hận, hễ nghe người ta nhắc đến bài từ ấy là vừa thẹn vừa giận, chỉ hận không thể tìm một cái lỗ chui vào.

Công chúa không ngại thì hãy nhớ lấy, lần sau anh ấy còn lảm nhảm mấy đạo lý nào lễ nào nghĩa chết ngộp người ta ấy, công chúa cứ đem bài từ này ra chọc anh ấy xấu hổ!"

Chuyện giữa ta và công chúa đã sớm thành chủ đề lưu truyền giữa học sĩ đại phu, Nhược Trúc khẳng định cũng đã nghe đôi chút về lời Tư Mã Quang chỉ trích hai ta.

Từ câu cuối cô nói, ta cảm nhận được có ý khác, bèn dời mắt nhìn cô, cùng lúc đó Nhược Trúc cũng ngẩng đầu, tầm mắt hai ta chạm nhau, cô nở nụ cười nhẹ với ta, ánh mắt hiền dịu không chút che giấu biểu đạt với ta lòng cảm thông và thấu hiểu của mình.

Lúc này, công chúa đang mở tấm khăn lụa Nhược Trúc đưa cho nàng ra, ta cũng nhìn lại, thấy trên đó viết một bài "Tây giang nguyệt", chữ viết đỏ thẫm, thoang thoảng hương tường vi, hẳn là Nhược Trúc viết tạm bằng cao phấn mang theo bên người: "Bồng bồng búi tóc mới vấn, nhàn nhạt phấn hoa điểm trang.

Khói biếc sương châu lồng xiêm áo, phất phơ tơ lụa lung linh.

Gặp nhau mà bằng chẳng gặp, hữu tình khác chi vô tình.

Sênh ca dứt tiếng rượu mới tỉnh, sân sâu trăng tà lặng thinh."

6.

Vò rượu

Công chúa phản kích Tư Mã Quang như vậy, người đứng xem cố nhiên sảng khoái, song tuyệt không thể nói là một hành động sáng suốt.

Chờ Tư Mã Quang tra cứu "Thực lục" xong, ấn tượng của y với công chúa ắt sẽ có thêm vài nét mới: Mắt không quân thượng, không biết kính sợ.

Một nữ tử tự ý bịa đặt lời nói của tổ tiên quân phụ, đối với người nặng hiếu nghĩa trọng lễ pháp như y, tuyệt đối là điều không thể dung thứ.

Ta nhiều lần khuyên công chúa đừng đối chọi gay gắt với Tư Mã học sĩ, càng không thế lấy bài từ Nhược Trúc cho nàng ra để kích thích y, công chúa chẳng ừ hử gì, nhưng nàng nhận bài từ cũng chẳng xem nhiều.

Sau tết Nguyên Tiêu, tinh thần nàng vẫn luôn không tốt, lại không muốn trở về phủ công chúa, Miêu hiền phi bèn xin kim thượng giữ nàng lại trong cung.

Ở trong cung nàng cũng chỉ ngày ngày đau yếu nằm trên giường, rất ít nói, trong vòng một tháng, không thấy nàng đề cập gì đến chủ đề liên quan tới Tư Mã Quang nữa.

Kim thượng cũng không tiếp tục tiết lộ với chúng ta bất kỳ lời can gián nào của ngôn quan, nhưng ta đoán đám người Tư Mã Quang nhất định sẽ có ý kiến mới về ngôn hành của công chúa và kim thượng, bởi mỗi lần ta thấy ngài, vẻ mặt ngài đều rất ủ dột, ánh mắt nhìn công chúa chất chứa lo âu, dáng vẻ ấy quả thật có thể dùng sầu khổ để hình dung.

Ngài mặt ủ mày chau còn bởi một nguyên nhân khác, cũng là một chuyện đám ngôn quan Tư Mã Quàng liên tục dâng sớ đề nghị ngài cân nhắc – lập trữ.

Liên tiếp sinh hạ năm vị công chúa trong vòng ba năm hẳn là một đả kích không nhẹ đối với ngài.

Gia Hựu năm thứ sáu, tể tướng Phú Bật vì để tang mẹ nên từ quan miễn chức, trước khi đi, ông đã dâng tấu lên kim thượng, đại ý là trời không chiếu cố kim thượng nên không cho con nối dõi, gắng khuyên ngài chọn tông thất làm trữ quân, nói "Chuyện sinh dục vốn là do trời, nếu ý trời chiều lòng kim thượng thì sự đã sớm thành.

Gần đây nghe nói trong một năm sinh bốn công chúa, nếu ý trời chiều lòng bệ hạ thì trong đó đã có một hoàng tử, ý trời là vậy, bệ hạ nên tỉnh ngộ đi thôi."

Mặc dù kim thượng vẫn kiên định không lập trữ, song năm nay tuổi tác đã cao, ngài cũng chẳng còn quá nóng lòng với việc cầu con.

Thường ngày ngoài tìm hoàng hậu và Miêu hiền phi trò chuyện ra thì cũng chỉ đến chỗ Thu Hòa thăm cô.

Thu Hòa đau ốm triền miên, đã sớm gầy như que củi, chẳng còn sắc vóc như xưa, theo những gì thị nữ trong gác cô tiết lộ với Miêu hiền phi, kim thượng cũng chưa chắc là muốn cô hầu hạ, đa số thời gian chỉ để cô yên lặng ngồi cùng hoặc nằm bên cạnh cô nhắm mắt nghỉ ngơi.

Nỗi sầu khổ của kim thượng cũng ảnh hưởng đến Thu Hòa.

Có lần ta đi thăm cô, thấy cô mắt đỏ sưng phù, rõ ràng là vừa khóc.

Thấy ta vào trong, cô lập tức mỉm cười nghênh đón, gắng che giấu nước mắt mới rồi.

Lúc chúng ta nói chuyện phiếm, thập nhất công chúa ngủ trưa tỉnh dậy, bắt đầu ọ ẹ khóc, Thu Hòa vội đi dỗ người, ta thừa dịp ấy hỏi đề cử quan Triệu Kế Sủng trong gác nguyên nhân Thu Hòa rơi lệ, Triệu Kế Sủng kể hôm nay quan gia lên triều trở về, có tới đây ngồi một lúc, nhưng không nói câu nào, ngẩn người thẫn thờ hồi lâu.

Thu Hòa dè dặt hỏi ngài vì sao không vui, ngài nhìn cô, thở dài thườn thượt, nói: "Thu Hòa, tại sao con chúng ta lại không phải con trai nhỉ?"

Ta lập tức thấu hiểu cảm thụ của Thu Hòa.

Kim thượng nói vậy có lẽ chỉ đơn thuần là cảm thán số mệnh không son, nhưng Thu Hòa tất sẽ tự trách, lại thêm một nút thắt trong lòng, cuộc sống về sau cũng buồn nhiều hơn vui.

"Hoài Cát, tôi có một tin tốt muốn báo với huynh."

Thu Hòa bế thập nhất công chúa trở lại ngồi xuống trước mặt ta, mỉm cười nói, "Tôi lo quan gia sẽ nghe theo đề nghị của ngôn quan, một lần nữa chia tách huynh và công chúa nên hôm qua đã nói tới chuyện này với ngài, sau đó ngài cam kết với tôi, lần này, ngôn quan sẽ không đả động được tới ngài, ngài chắc chắn sẽ không đuổi huynh rời kinh nữa."

Ta không lấy gì làm đặc biệt mừng rỡ, chỉ nói lời cảm ơn tự đáy lòng với Thu Hòa.

Vì chuyện của ta và công chúa, chẳng biết cô đã tốn bao tâm tư, mất bao công sức khuyên giải kim thượng.

"Huynh không vui à?"

Thu Hòa thấy vẻ mặt ta khác thường, dần thu lại nụ cười, nhưng rất nhanh sau đó lại tỏ vẻ vui mừng mang ý khích lệ với ta, "Đừng lo, không sao đâu, sau này hai người sẽ được sống cuộc sống bình an hạnh phúc, không ai có thể chia rẽ hai người."

Ta cũng cười với cô, biểu thị tiếp nhận lời chúc lành thiện ý của cô, nhưng không nói cho cô hay rằng, trong không gian chẳng cách nào trốn thoát mà chúng ta đang ở, cuộc sống sẽ không còn bình an hạnh phúc nữa, chỉ có yên ổn tạm thời, hoặc ngắn hoặc dài, giống như cô vậy.

Ở lâu một tháng trong cung, công chúa dần quen với cuộc sống đơn thân tận lực kiếm tìm này, cũng tận lực quên đi mình còn có một người chồng ngoài cung, thế nên, khi Lý Vĩ tới đón nàng về, như thể bị nỗi sợ hãi trước kia một lần nữa đánh úp cõi lòng, nàng hét lên một tiếng hoảng loạn, vừa lùi ra sau vừa sai người chung quanh đuổi Lý Vĩ đi.

Miêu hiền phi vội vàng bảo Vương Vụ Tư mời Lý Vĩ ra ngoài.

Hôm sau, trong bữa tiệc nhà trên Thăng Bình Lâu, kim thượng giải thích mục đích đến của Lý Vĩ với công chúa: "Đô úy nói hai ngày nữa là tiết Hoa Triêu, trong vườn nó hoa xuân đều đã khoe sắc, lại vừa tậu thêm vài giống hoa trong kinh ít thấy, nghĩ hẳn là đẹp hơn những nơi khác, mà công chúa lại thích kỳ hoa dị thảo xưa nay, nếu không ngại thì về xem thử xem...

Bây giờ nó đang ở dưới lầu, nếu con đồng ý, cha sẽ bảo nó lên cho hai đứa chuyện trò, đêm nay để nó nghỉ lại trong cung, ngày mai cùng nhau trở về..."

Công chúa không nói không rằng thình lình đứng lên, lao thẳng về phía cột trụ sơn son trong lầu, đâm đầu vào cột.

Chuyện xảy ra quá đột ngột, không ai kịp giữ nàng, cũng may cột là cột gỗ, không quá cứng rắn, mà công chúa thân yếu sức kém, lực đâm không đủ dẫn đến chết người, mặc dù vậy, nàng vẫn bị rách trán chảy máu, tức khắc ngã xuống đất ngất đi.

Lúc công chúa tỉnh lại trong gác, người đầu tiên trông thấy ngoài ta và hiền phi ra thì còn có cha nàng.

Còn Lý Vĩ thì đã bị Miêu hiền phi đau khổ khôn nguôi giận dữ đuổi khỏi cung sau khi nàng đâm cột.

Công chúa mở mắt, mơ mơ màng màng đưa mắt nhìn cảnh vật quanh mình rồi cất lời nói với kim thượng câu đầu tiên: "Con không muốn gặp hắn."

Kim thượng đưa tay áo lau hốc mắt, buồn bã hỏi nàng: "Cha an bài mối hôn sự này cho con thật sự đã khiến con đau khổ vậy sao?"

Sóng mắt lềnh bềnh của công chúa lượn vòng trên mặt kim thượng, tìm kiếm ánh mắt phụ thân, một lúc lâu sau, nàng chậm rãi nói với ngài: "Con có thể tuân lệnh lấy hắn, nhưng không thể tuân lệnh yêu hắn."

Nàng khó khăn quay đầu vào trong dưới ánh nhìn trân trân của kim thượng, trong đôi mắt khép lại chảy xuống nước mắt: "Xin lỗi, cha."

Kim thượng im lặng đứng dậy, lê bước chân nặng nề rời khỏi phòng bệnh của con gái.

Công chúa có hiện tượng phát sốt, ta và Miêu hiền phi không dám tự ý rời đi, một mực trông nom bên nàng, đêm xuống, hiền phi ngủ lại trong phòng công chúa, còn ta thì ngồi trong sảnh cách vách chợp mắt.

Nửa đêm về sau, công chúa bỗng tỉnh giấc, gào khóc gọi "Tỷ tỷ" và "Hoài Cát".

Chúng ta lập tức chạy tới trước giường nàng, Miêu hiền phi ôm nàng vỗ về, luôn miệng trấn an, công chúa mới từ từ bình tĩnh lại.

"Tỷ tỷ, con vẫn ở trong cung ạ?"

Nàng thút thít hỏi mẫu thân.

Miêu hiền phi cho nàng câu trả lời khẳng định, nàng tựa vào lòng mẹ, bắt đầu kể lại giấc mộng vừa mơ: "Hình như con nhìn thấy Lý Vĩ lại vào phòng con...

Hắn vén chăn con lên, đôi tay ghê tởm ấy táy máy trên người con..."

Không nói tiếp được nữa, nàng khóc không thành tiếng.

Miêu hiền phi ôm siết lấy nàng, một lần nữa liên thanh an ủi, nhưng bản thân cũng chẳng kìm được nước mắt lã chã rơi xuống.

Công chúa khóc một hồi, lại thê lương nói: "Con không muốn ở với hắn...

Chỉ nghĩ đến dáng vẻ hắn há mồm hổn hển sờ vào người con thôi, con đã hận không thể lập tức chết đi rồi!"

"Không!"

Miêu hiền phi nâng cằm lên khỏi vai con gái, gương mặt quay về phía nguồn sáng, trong đôi mắt đẫm lệ có hai ngọn lửa lạnh băng bập bùng theo ánh nến, "Tỷ tỷ có phải liều cái mạng này cũng sẽ bảo vệ con, sẽ không để thằng nghiệt chướng kia có cơ hội ức hiếp con nữa."

Trong khoảng thời gian công chúa ốm bệnh, Miêu hiền phi bắt đầu thực hiện kế hoạch cứu nàng.

Đầu tiên là khóc lóc cầu xin kim thượng cho công chúa và Lý Vĩ đoạn tuyệt, để công chúa lấy người khác, nhưng kim thượng sầu bạc tóc chỉ rền rĩ than thở: "Từ khi khai quốc đến nay, công chúa đều chỉ cưới một người, chưa từng có ai đoạn tuyệt với chồng đi tái giá."

Miêu hiền phi bàn bạc với tỷ muội tốt của mình Du sung nghi, ý tưởng của sung nghi cũng không khác bà bao nhiêu: "Từ sau khi công chúa bị thương, thái độ của quan gia rõ ràng đã nới lỏng, không còn một mực bênh vực Lý Vĩ nữa.

Hiện giờ hẳn ngài đang sợ vô cớ ban lệnh đoạn tuyệt sẽ bị người ta đặt điều, làm ngôn quan lại có cớ khua môi múa mép, nhưng nếu phò mã có khuyết điểm thì ngài cũng có lý do để đem ra nói với ngôn quan chuyện đoạn tuyệt rồi."

Họ hết lần này đến lần khác hỏi tỉ mỉ ta và Vương Vụ Tư bình thường Lý Vĩ có khuyết điểm gì không, ta không kể xấu Lý Vĩ một câu nào, mà Vương Vụ Tư cũng bày tỏ Lý Vĩ vẫn luôn cẩn thận, căn bản là chẳng có cái thóp nào để bắt – mà chuyện như xông vào khuê các của công chúa thì lại không thể lấy làm chứng cứ phạm tội trình bày với ngôn quan.

Hai ngày sau, Miêu, Du hai vị nương tử vẫn liên tiếp thương lượng với Vương Vụ Tư chuyện của công chúa, muốn tìm một biện pháp giải quyết vấn đề, còn ta thì không tham gia vào cuộc thảo luận của họ nữa, chỉ dành cả ngày chăm sóc cho công chúa.

Trong tình huống chẳng biết trước được ngày mai, ta chỉ có thể nắm chắc hôm nay.

Nhìn dáng vẻ công chúa mê mệt, ta thường xuyên nghĩ, không biết hôm sau khi mặt trời mọc, ta có còn ở bên nàng chăng.

Tiết Hoa Triêu, buổi chiều, hai vị nương tử mật nghị một phen với Vương Vụ Tư, sau đó đi Phúc Ninh Điện gặp kim thượng, hồi lâu chưa về.

Ta hầu công chúa dùng bữa uống thuốc, lại nhìn nàng nhắm mắt thiếp đi rồi mới rời khỏi phòng nàng, đi ra cửa gác trông về phía Phúc Ninh Điện đằng xa, suy đoán xem hai vị nương tử có thể đưa ra đề nghị gì với kim thượng.

Sau đó, trong Phúc Ninh Điện có người lại đây, cũng không phải Miêu hiền phi hay Du sung nghi mà là đô tri theo hầu kim thượng Đặng Bảo Cát.

"Công chúa đâu?"

Y bước đi vội vã, nhác thấy ta lập tức hỏi, giọng điệu mang vẻ lo âu bất thường.

"Công chúa uống thuốc xong đã đi nghỉ rồi ạ."

Ta trả lời, lại hỏi ông: "Đô tri có việc cần gặp công chúa?"

Y hơi do dự, song rất nhanh sau đó vẫn kể cho ta biết duyên cớ trong đây: "Hôm nay Miêu nương tử và Du nương tử đi gặp quan gia, nói với ngài, công chúa và phò mã đã rạn nứt đến nhường này, tuyệt không có khả năng hòa hảo, tiếp tục để công chúa và phò mã sống chung dưới một mái nhà, nhất định người sẽ lại lần nữa tìm đến cái chết, mà công chúa quốc triều lại không có tiền lệ ly dị với chồng, muốn công chúa thoát khỏi tình trạng trước mắt, cũng chỉ còn cách làm Lý Vĩ biến mất."

Ta cả kinh: "Ý họ là sao?"

Đặng đô tri thở dài: "Quan gia cũng phản ứng như cậu.

Sau đó Vương Vụ Tư tiến lên, nói: 'Chỉ cần quan gia hạ chỉ, Vụ Tư có thể dùng một vò rượu kết thúc chuyện này.'"

Ý y là ban rượu độc cho Lý Vĩ rồi tuyên bố với bên ngoài Lý Vĩ chết vì bạo bệnh.

Đó là một thủ đoạn giết người chẳng mấy xa lạ trong cung đình các triều.

"Quan gia có đồng ý không?"

Ta hỏi Đặng đô tri, nghĩ đến vẻ mặt lo âu của y mới rồi, ta thật sự không nắm chắc được chuyện này.

Đặng đô tri nói: "Quan gia trợn mắt nhìn Vương Vụ Tư nửa ngày, nhưng không lập tức tỏ thái độ.

Miêu nương tử bèn quỳ xuống lạy quan gia, khóc lóc đòi ngài lựa chọn giữa con gái và Lý Vĩ, xem xem muốn ai sống tiếp.

Du nương tử cũng quỳ xuống theo người khẩn cầu, còn kể lại rất nhiều chuyện khi công chúa còn bé, miêu tả dáng vẻ hồn nhiên hoạt bát của người khi đó, quan gia nghe mà đỏ hoe hai mắt.

Cuối cùng, ngài thở dài, cũng không nói gì, đi sang Nhu Nghi Điện, đại khái là tìm hoàng hậu thương nghị.

Hai nương tử đi theo, hiện giờ họ đang ở Nhu Nghi Điện, cũng chẳng biết đã có quyết định chưa."

Ta đã hiểu mục đích y đi chuyến này: "Thế nên đô tri đến tìm công chúa, muốn xin người đi ngăn cản, cứu phò mã?"

Đặng đô tri gật đầu: "Ta suy đi nghĩ lại, cảm thấy nếu hoàng hậu cũng cho là có thể giết phò mã thì chỉ công chúa mới có thể khiến họ hồi tâm chuyển ý...

Phò mã là người tử tế, tuy hơi đần độn, không được công chúa thích, nhưng tính tình rất tốt, nếu chỉ vì vậy mà bỏ mạng thì oan uổng quá rồi!"

Ta tin công chúa sẽ như Đặng đô tri phỏng đoán, tuy chán ghét Lý Vĩ nhưng không cho rằng tội hắn đáng chết, nếu biết phụ mẫu nàng vì nàng mà nổi sát tâm với Lý Vĩ, hẳn sẽ ngăn cản họ – nhưng đó là trong tình huống công chúa tỉnh táo và có khả năng phán đoán.

Mà nay đầu nàng bị thương nặng, sốt cao mê man, dẫu có đánh thức nàng ngay bây giờ, ta cũng không dám đảm bảo nàng có thể lập tức hiểu được tình hình hiện giờ mà chạy đi cứu Lý Vĩ.

Ta nhanh chóng chạy tới Nhu Nghi Điện, hi vọng có thể cố hết sức mình khuyên họ từ bỏ phương án tàn khốc này.

Nhưng ta còn chưa tới được cửa Nhu Nghi Điện thì đã trông thấy xa xa, Miêu hiền phi và Du sung nghi lần lượt đi ra, còn Vương Vụ Tư thì không theo sau lưng hai người.

Đáy lòng ta rét lạnh, đứng sững tại chỗ.

Miêu hiền phi trông thấy ta, rất kinh ngạc, đi tới bên ta hỏi: "Hoài Cát, ngươi tới đây làm gì?"

Ta gượng cười, không trả lời câu hỏi này mà hỏi ngược lại bà: "Vương tiên sinh đi đâu rồi ạ?"

"Y đến vườn phò mã rồi."

Miêu hiền phi đáp, mặt không biểu cảm đáp "Hôm nay là tiết Hoa Triêu, theo lệ quan gia phải ban rượu cho tông thất ngoại thích..."

Ta không nghe bà nói hết, xoay người rảo bước chạy về phía cửa cung."

7.

Tâm ý

Lúc ta trông thấy Lý Vĩ, Thôi Bạch đang ở cạnh hắn.

Trong vườn cây cối sum sê, hương hoa nồng nàn, bên cầu đá kê vài chiếc bàn đá, trên bàn bày dao cầm cổ, vài cuốn thư họa, lư hương cạnh cây hoa lượn lờ hương khói, lại có Thôi Bạch áo xanh ở trong đó, cảnh tượng trang trọng như buổi hội nhã của văn nhân mặc khách, hẳn là Lý Vĩ mượn dịp ngày lành mời Thôi Bạch đến ngắm hoa thỉnh giáo.

Vận Quả Nhi và Gia Khánh Tử chia ra đứng bên họ, xuất hiện trong bức tranh này còn có Vương Vụ Tư và vài nội thần mang theo rượu ngự ban thưởng.

Một tiểu hoàng môn bưng chiếc chén rót đầy rượu tới trước mặt Lý Vĩ, Lý Vĩ hành lễ xong mỉm cười nâng chén rượu lên, còn nói lời tạ ơn.

Ta bước vội tới, mắt nhìn chén rượu, cao giọng kêu: "Đô úy, không được!"

Hắn sửng sốt, bàn tay nâng chén rượu hạ xuống.

Vương Vụ Tư trông thấy tay, nhíu mày: "Hoài Cát!"

Ta không quan tâm, đi tới bên cạnh Lý Vĩ, nói rõ với hắn: "Rượu không thể uống."

Lý Vĩ ngạc nhiên cúi đầu, nhìn chằm chằm ngọc dịch trong chén, sắc mặt từng chút sa sầm.

Vương Vụ Tư nhất thời nổi giận, trừng ta trách mắng: "Hoài Cát, cậu nói vớ vẩn gì đấy!

Đây là rượu ngự quan gia và hoàng hậu ban cho đô úy, sao cậu ấy có thể không uống?"

Sau đó, y mỉm cười với Lý Vĩ, khom người: "Đô úy, xin hãy uống chén này ngay bây giờ, để lão nô có thể kịp thời về cung phục mệnh."

Lý Vĩ nhìn y, lại nhìn rượu ngự, nhất thời không đáp.

Mà Vận Quả Nhi đứng xem đã nhìn ra đầu mối, lo lắng xen lời ngăn cản: "Đô úy, rượu này tuyệt đối không thể uống!"

Gia Khánh Tử và Thôi Bạch nhìn nhau, hẳn cũng biết trong đây có chỗ khác thường, song song tiến lên gọi Lý Vĩ, lắc đầu với hắn.

Lý Vĩ không có phản ứng gì quá lớn với kêu gọi và ám chỉ của họ, vẫn đang cụp mắt nhìn chén rượu.

Rượu kia tỏa hương ngọt nồng, sóng sánh dưới ánh nắng vàng nhạt, khiến ta để ý được tay Lý Vĩ đang run lên khe khẽ.

Lát sau, hắn nâng chén rượu lên, có ý đưa tới bên miệng, ta không kịp suy nghĩ nhiều, lập tức phất tay áo đánh rơi chén rượu.

Chén rượu rơi xuống đất, vang tiếng vỡ tan, rượu bắn tung tóe.

Vương Vụ Tư giận dữ, chỉ thị thuộc hạ muốn áp giải ta xuống, Lý Vĩ lại khom người xá y một xá dài, nói: "Ta có mấy câu muốn nói với Lương tiên sinh, mong Vương tiên sinh châm chước."

Tư thái hắn khiêm nhường như vậy, Vương Vụ Tư tất nhiên không tiện cự tuyệt, bèn gật đầu.

Lý Vĩ quay sang ta, ôn hòa ra hiệu bảo ta đi cùng hắn: "Hoài Cát, lại đây."

Ta không xem nhẹ thay đổi trong xưng hô của hắn đối với ta.

Trước kia hắn luôn gọi ta là "Lương tiên sinh" như nội thần thị nữ trong phủ công chúa, trong tình huống thân phận của hắn cao hơn ta, xưng hô như vậy nghe vừa khách khí lại vừa xa cách.

Gọi tên ta như bây giờ là lần đầu tiên trong nhiều năm qua.

Hắn dẫn ta đến bên bàn đá, nhặt một cuộn tranh lên hai tay đưa cho ta, nói: "Làm phiền Hoài Cát chuyển bức họa này cho công chúa."

Ta nhận lấy, mở ra xem.

Đó là một bức tranh lụa thủy mặc, vẽ viện sâu cửa nặng thấp thoáng trong rừng trúc, trước cửa cỏ thơm rậm rì, sau viện lối nhỏ quanh co dẫn tới nơi mây khói thăm thẳm, trong sảnh vẽ một mỹ nhân thướt tha yêu kiều ngồi trước bình phong, sau lưng có thị nữ đang trang điểm cho nàng, bên cạnh mỹ nhân là một nam nhân vóc người hơi đậm bận bào rộng, tư thế ngồi thảnh thơi tự tại, mặt hướng về phía mỹ nhân, ngậm cười ngắm nàng.

Cành trúc cao thẳng hiên ngang, lá trúc miêu tả bằng hai nét móc cực kỳ tinh tế, ngàn cụm vạn khóm, đủ mọi hình thái, đó là đặc điểm vẽ trúc thủy mặc của Lý Vĩ, tranh này hiển nhiên nên hình dưới ngòi bút hắn.

Viện hắn vẽ là dựa theo sân vườn nơi công chúa ngụ, dáng người nhân vật trong tranh cũng giống công chúa, đặc trưng của bản thân hắn và Vận Quả Nhi cũng phù hợp, nhưng cảnh tượng này chưa từng xuất hiện trong cuộc sống hôn nhân của họ, hẳn là cảnh tượng hắn vẫn hằng ước ao trong lòng.

Hắn là người trầm lặng, không giỏi giao lưu với người khác, lúc vẽ tranh cũng thường xuyên khóa mình trong phòng, không cho ai vào trong đứng xem bên cạnh, tác phẩm hắn cho ta xem cũng không nhiều, có lẽ là sợ ta phát hiện ra tâm ý hắn gửi vào nét bút.

Nhưng lần này, hắn lại mượn phương thức này công khai với ta bí mật riêng tư không thể nói ra mà hắn độc thủ trong lòng nhiều năm nay.

"Kỳ thực, người bên cạnh nàng đáng ra phải là anh."

Hắn chỉ vào nam nhân trong tranh, nói với ta, "Có một hôm ta đi ngang qua gác công chúa, thấy anh ngồi bên cạnh nàng ngắm nàng trang điểm, chính là dáng vẻ này."

Ánh mắt ta dời từ bức họa lên mặt hắn, trong lòng muôn vàn cảm khái, cũng chẳng biết nên cất lời từ đâu.

Mà thời khắc này hắn đối mặt với ta, vẻ mặt tỉnh táo thong dong khác hẳn trước đây, hàm một nụ cười thân thiện, lại nói: "Ta từng hận anh, cảm thấy anh cưu chiếm thước sào, cướp đi vị trí trong lòng và bên cạnh công chúa mà đáng ra phải là của ta, cũng khiến ta lâm vào tình cảnh thành trò cười cho thiên hạ.

Lúc anh rời đi, ta thấy công chúa khổ sở như vậy mới ý thức được, nàng là muốn tìm bạn lữ phù hợp với cả tính tình và cuộc sống của nàng, anh và nàng thanh mai trúc mã lớn lên bên nhau, hai người thấu hiểu lẫn nhau, tâm ý tương thông, mà đối với nàng, ta chỉ là một kẻ xa lạ ngu dốt, không được nàng cho phép đã đột ngột xông vào cuộc sống của nàng."

Thế nên, hắn quyết định lên tiếng cho ta, nhớ đến chuyện hồi kinh, ta rầu rầu nói: "Đô úy cầu xin quan gia tha thứ cho Hoài Cát, Hoài Cát lại chẳng trực diện tạ ơn, quả thật hết sức vô lễ."

Lý Vĩ lắc đầu: "Không cần cảm ơn ta, khi đó ta không phải là vì giúp anh mà là không muốn nhìn công chúa vì lẽ đó mà tìm cách tự tử."

Ta nói: "Lúc ấy người người bàn tán xôn xao, bất kể thế nào, đô úy có thể ra quyết định như vậy quả thực không dễ, Hoài Cát đội ơn nghĩa này, há có thể chỉ báo đáp bằng hai chữ cảm tạ."

"Ta biết mời anh trở lại ta sẽ mất hết mặt mũi, nhưng mặt mũi của ta so với tính mạng công chúa thật chẳng đáng kể đến."

Lý Vĩ nói, sau đó lại cười cay đắng, "Đáng tiếc, ta vẫn chẳng tự mình biết mình, luôn ôm hi vọng, cho rằng khốn cảnh hôn nhân của chúng ta có thể hóa giải bằng thời gian và nỗ lực của ta...

Ta thử mọi biện pháp, cả của bản thân cả của người khác kiến nghị, dẫu đối mặt với nàng hết lần này tới lần khác lạnh mắt sầm mặt, ta cũng vẫn không từ bỏ hi vọng.

Sau đó, ta cũng không biết mình đang kiên trì cho điều gì, mà kết quả cũng mỗi lần một tệ đi, đến giờ còn hại thảm nàng."

Ta rất khó tìm được lời thích hợp để nói, cũng sợ nói ra sẽ sai, vì vậy chỉ giữ im lặng, lắng nghe hắn giãi bày.

"So với anh, ta quả thật hổ thẹn, bất kể là đối với thư họa hay đối với nàng."

Hắn bùi ngùi thở dài, "Thưởng thức, trân trọng mà không thời thời khắc khắc nghĩ xem phải chiếm làm của riêng như thế nào, ấy hẳn mới là chân lý yêu người yêu vật."

Cuộn lại bức họa, hắn trịnh trọng giao tranh vào tay ta, kết thúc cuộc tâm tình này bằng lời dặn dò sau cuối: "Xin hãy chuyển bức tranh cho công chúa, nói với nàng, nếu kiếp sau có duyên gặp lại, hi vọng ta không còn là kẻ xa lạ đột ngột xông vào địa bàn của nàng."

Đoạn, hắn bước tới trước mặt tiểu hoàng môn bưng bình đứng hầu, nhấc nắp bình ra, giơ tay ngửa mặt, dứt khoát uống hết số rượu còn thừa lại bên trong.

8.

Tề gia

Vận Quả Nhi hét lên một tiếng kinh hãi, nhào tới trước mặt Lý Vĩ, muốn giành lấy bình rượu trong tay hắn, song lúc ả giành được, rượu đã sớm bị Lý Vĩ uống cạn.

Lý Vĩ nâng tay áo lau mấy giọt rượu mới rồi văng lên mặt, buông một tiếng thở dài thật dài, dáng vẻ như trút được gánh nặng, sau đó thẫn thờ đứng đó, ánh mắt không mục đích nhìn về phía bóng mây xa xăm cuối chân trời, mặc cho người bên cạnh gào thét thế nào cũng không phản ứng.

Vận Quả Nhi kiệt sức quỳ rạp xuống bên cạnh hắn, Gia Khánh Tử vội bước lại đỡ ả, ả liền ôm chầm lấy Gia Khánh Tử nức nở khóc ròng, Gia Khánh Tử an ủi ả, nhưng chính mình cũng không cầm được rơi lệ, gia nô tì nữ còn lại trông thấy cũng ào ào quỳ xuống, bưng mặt khóc thương.

Thôi Bạch cùng ta đi qua đỡ Lý Vĩ, lo lắng gọi hắn, thấy hắn không đáp, hốc mắt cũng không khỏi rơm rớm, mặt lộ vẻ buồn đau.

Dương phu nhân có bệnh trong người, trước đó đại khái đang nghỉ ngơi trong phòng mình, lúc này trong vườn tiếng khóc dậy trời, kinh động tới bà, bà chống gậy lảo đảo đi ra, tóm lấy một thị nữ hỏi, biết Lý Vĩ uống rượu ngự Vương Vụ Tư mang tới, lập tức hiểu ngay nguyên do, nhất thời nước mắt đầm đìa, đầu tiên là ôm Lý Vĩ kêu mấy tiếng "Con ta", sau đó giận tím mặt cầm quải trượng lên đi đánh Vương Vụ Tư, gào khóc: "Các ngươi giết con bà, bà đây liều mạng với các ngươi!"

Tiểu hoàng môn vội vàng ba chân bốn cẳng kéo bà lại, bà vùng vẫy, vừa khóc vừa mắng, Vương Vụ Tư lùi về sau hai bước, chỉnh lại ngay ngắn khăn chít đầu bị đụng lệch trong lúc né tránh trượng bà ban nãy rồi mới cười lạnh.

"Khóc cái gì!"

Y nhìn mọi người chung quanh, cao giọng nói, "Rượu này không có độc!"

Người nghe kinh ngạc, tiếng khóc ngừng bặt.

Vương Vụ Tư nói tiếp: "Rượu đô úy uống là rượu ngon hoàng hậu tự tay cất, tên là 'Doanh Ngọc', chưa từng bỏ thêm nửa giọt độc!"

Đoạn, y chậm rãi đi tới trước mặt Lý Vĩ, cười nói: "Đô úy, vị rượu không tệ đúng không?

Rượu của hoàng hậu không tùy tiện cho người khác, đến quan gia tới xin cũng chưa chắc người đã chịu cho đâu."

Lý Vĩ kinh ngạc nhìn y, lát sau, hít thở sâu hai ba hơi, đại khái là không nhận thấy trong cơ thể có gì khác thường, bèn nghiêng đầu nói với Dương phu nhân và Vận Quả Nhi: "Ta không sao."

Dương phu nhân kéo hắn nhìn trái nhìn phải, xác nhận hắn không có vấn đề gì, bấy giờ mới yên lòng, hay tay chắp thành hình chữ thập, bái tạ trời cao.

Vận Quả Nhi cũng nín khóc mỉm cười, nắm tay Gia Khánh Tử thẹn thùng lùi ra sau lưng Lý Vĩ.

Thôi Bạch nhìn Lý Vĩ, cũng cười nhẹ nhõm.

Lý Vĩ hồi thần, lập tức chắp tay với Vương Vụ Tư, nói ban nãy mẹ mình mạo phạm y, xin y lượng thứ.

Vương Vụ Tư chỉ cười không tỏ ý kiến, chẳng để ý thêm nữa, xoay người gọi ta: "Hoài Cát, chúng ta đi."

Trên đường về cung, y hung tợn phê bình hành động lỗ mãng của ta, truy hỏi ta vì sao hoài nghi trong rượu có độc.

Ta đương nhiên không khai ra Đặng đô tri, chỉ nói mình vô tình nghe được một hai câu lúc y bàn bạc cùng hai vị nương tử trong gác.

Y ngừng than thở, nói: "Cậu đã nghe thấy rồi thì ta cũng chẳng giấu cậu làm gì.

Ban đầu đúng là Miêu nương tử muốn xin quan gia ban rượu độc cho phò mã, nhưng quan gia khó lòng quyết định, bèn đi thương lượng với hoàng hậu.

Hoàng hậu nghe xong, nói: 'Năm xưa bệ hạ là tưởng nhớ công ơn dưỡng dục của Chương Ý thái hậu, cảm thấy chẳng thể báo đáp nên mới nghĩ đến chuyện vinh sủng nhà cậu, để Lý Vĩ lấy công chúa, hôm nay sao lại nảy ra ý này?

Nếu giết Lý Vĩ, tương lai yết kiến lăng tẩm biết phải đối mặt với hồn thiêng của Chương Ý thái hậu ở trên trời ra sao?' Lúc ấy, Nhậm Thủ Trung hầu bên đế hậu, cũng xen lời: 'Hoàng hậu nói chí phải.

Huống hồ nếu phò mã chết vì bạo bệnh, chỉ e người đời sẽ sinh nghi, chúng ngôn quan cũng sẽ càng ầm ĩ gay gắt hơn.' Quan gia nghe xong bèn từ bỏ ý tưởng ban rượu độc, ngay sau đó, hoàng hậu sai người lấy rượu Doanh Ngọc tới, bảo ta mang đi ban cho phò mã, cũng an ủi cậu ấy nhiều hơn, bảo cậu ấy kiên nhẫn đợi công chúa trở về.

Ta mang rượu đi, đang nói chuyện với phò mã thì cậu lật đật chạy tới..."

Trở lại cung rồi, ta và Vương Vụ Tư kể lại chuyện xảy ra với đế hậu và Miêu hiền phi, ta cũng đưa bức tranh Lý Vĩ bảo ta chuyển cho công chúa cho họ xem, kim thượng cảm khái khôn xiết, có phần hổ thẹn, hoàng hậu trầm ngâm không nói, mà Miêu hiền phi khi nhắc tới Lý Vĩ cũng bớt phẫn uất hơn rất nhiều, chăm chú nhìn tranh Lý Vĩ vẽ, chỉ lắc đầu luôn miệng lẩm bẩm: "Ôi, oan nghiệt, thật đúng là oan nghiệt..."

Tình trạng của công chúa vẫn bất ổn, rất ít khi tỉnh táo, ta cũng chẳng dám cho nàng xem bức họa ngay, sợ nàng lại có phản ứng kịch liệt gì, bèn tạm thời cất đi, muốn đợi thời cơ thích hợp đưa cho nàng sau.

Ta vốn tưởng rằng mình sẽ bị phạt vì tự ý chủ trương chạy đến vườn phò mã báo tin, nhưng kết quả lại khác xa những gì ta nghĩ.

Hôm sau, đô tri Đặng Bảo Cát và Nhậm Thủ Trung song song báo tin vui cho ta, nói kim thượng vừa tuyên họ và nhập nội nội thị tỉnh áp ban, bảo họ bãi chức chủ quản phủ công chúa của Vương Vụ Tư, để ta theo công chúa về phủ làm nội thần chủ quản như trước, mệnh họ thu xếp tất thảy công việc tương quan.

Theo lệ, ta nên vào Phúc Ninh Điện tạ ơn, nhưng sau khi vào, ta lại xin kim thượng cho mình từ chối, nói mình là tội thần bị biếm trục, không nên quay lại đảm nhiệm chức vụ quan trọng, vẫn giữ Vương tiên sinh lại thì hơn.

Song kim thượng lắc đầu, nói: "Vương Vụ Tư hành sự ngoan độc, không từ thủ đoạn, suýt nữa hại ta sa vào hố bất nghĩa, để hắn ở lại phủ công chúa, hắn ắt sẽ tiếp tục khích bác ly gián, gây ra nhiều rắc rối hơn.

Mà ngươi tuy từng phạm sai lầm, song vẫn luôn giữ lòng mình thuần lương, rơi vào trạng huống như hiện nay cũng vẫn biết thương tiếc tính mạng phò mã, thế nên ta bằng lòng tin tưởng ngươi, tin ngươi về sau sẽ bảo vệ công chúa, đồng thời cũng tôn trọng phò mã, khuyên giải cả hai bên, thúc đẩy họ hòa thuận trở lại..."

Thoáng dừng lại, ngài nhấn giọng hỏi ta, "Ngươi sẽ không phụ lời giao phó của ta đâu, phải không?"

Ta lặng thinh không đáp, một lúc lâu sau mới dập đầu bái lạy: "Thần lĩnh chỉ..."

Vế tạ ơn còn chưa nói ra, ngoài điện chợt vọng vào tiếng huyên náo nho nhỏ, như có ai đang tranh luận điều gì.

Ta và kim thượng cùng đưa mắt ra ngoài xem, thấy một nội thị hấp tấp chạy vào, bẩm báo kim thượng: "Đồng tri gián viện Tư Mã Quang đang ở bên ngoài, xin được yết kiến quan gia."

Kim thượng nhíu mày không vui: "Nói với y, hiện đã bãi triều, không phải lúc gián quan bẩm tấu, có chuyện gì đợi mai lên điện bàn sau."

Nội thị thưa: "Thần đã nói vậy, nhưng y không chịu đi, kiên trì nói chuyện này không thể lần khân, nhất định phải diện thánh tiến ngôn trong hôm nay."

Kim thượng hỏi: "Y muốn nghị chuyện gì?"

Nội thị trộm liếc ta, nhỏ giọng đáp: "Y nói, là chuyện quan gia cho Lương tiên sinh trở lại phủ Duyện quốc công chúa làm chủ quản."

Nội thị còn chưa dứt lời đã nghe thấy tiếng Tư Mã Quang ở ngoài điện cao giọng: "Thần, Tư Mã Quang, có việc quan trọng cần diện thánh, khẩn cầu hoàng đế tuyên triệu."

Đợi một chốc, không thấy kim thượng đáp lời, y lại lặp lại, liên tục nói đi nói lại câu này.

Kim thượng đỡ trán như nhức đầu không thôi.

Tư Mã Quang tiếp tục thỉnh cầu không ngừng nghỉ, tiếng mỗi lúc một cao.

Sau cùng, kim thượng chỉ vào màn che một bên ra hiệu ta lánh vào đó rồi bảo nội thị: "Tuyên y vào."

Tư Mã Quang rảo bước vào trong, quy củ hành lễ rồi lập tức đi thẳng vào việc của ta: "Thần từng dâng tấu, nói nội thần chủ quản phủ Duyện quốc công chúa trước đây Lương Hoài Cát thân phạm trọng tội, xin đừng triệu về, nhưng bệ hạ không tiếp nhận.

Chẳng ngờ hôm nay chúng thần lại nghe nói bệ hạ tuyên triệu nhập nội nội thị tỉnh đô tri và áp ban, cho Lương Hoài Cát quay lại phủ công chúa làm chủ quản.

Tin tức truyền ra, bên ngoài xôn xao, không khỏi lấy làm quái lạ."

Kim thượng cười khổ: "Các ngươi như có thuận phong nhĩ ấy nhỉ, tin tức linh thông quá chừng."

Tư Mã Quang khom người, nói: "Quan tâm chuyện nhà chuyện nước của bệ hạ là bổn phận của chúng thần, chúng thần không dám lười biếng."

Giơ cao triều hốt, y bắt đầu viện dẫn kinh điển, khuyên hoàng đế: "Thần nghe nói, thời Thái Tông hoàng đế, dực thiện (*) Duyện vương cung là Diêu Thản, hễ Duyện vương sai phạm, Diêu Thản tất sẽ tiến gián, xin Duyện vương cải chính, bởi thế nên Duyện vương và tùy tùng đều rất kiêng kị ông, sau đó, bọn tùy tùng xúi Duyện vương nói dối bị bệnh, hơn một tháng không lên triều yết kiến vua cha.

Thái Tông vô cùng lo lắng, bèn triệu nhũ mẫu của Duyện vương vào cung, hỏi tình huống sinh hoạt thường ngày của Duyện vương.

Nhũ mẫu nói: 'Đại vương vốn không bệnh, chẳng qua Diêu Thản quản thúc quá nghiêm, đại vương hành động không được tự do nên buồn bực thành bệnh.' Thái Tông nghe vậy nổi giận, nói: 'Trẫm chọn người chính trực phò giúp Duyên vương là muốn dạy nó lương thiện, mà nay nó lại không chịu tiếp thu khuyên can, còn giả bệnh muốn trẫm đuổi chính nhân nghĩa sĩ đi hòng tùy tiện phóng túng, há có thể dung túng cho nó!

Duyện vương còn trẻ, nghĩ không ra loại quỷ kế này, nhất định là các ngươi dạy nó.' Đoạn, Thái Tông sai người kéo nhũ mẫu của Duyện vương ra vườn sau đánh hơn chục trượng, lại triệu Diêu Thản tới, thăm hỏi động viên.

Thái Tông làm vậy chẳng lẽ là không thương con mình?

Chính bởi thương con sâu nặng nên mới muốn nghiêm khắc với con, hướng con thiện lành.

Nếu dung túng con muốn gì làm nấy, không nỡ khiển trách, kỳ thực chẳng khác nào hại con.

Nay Duyện quốc công chúa bị nội thần ly gián, không hòa thuận với phò mã, bệ hạ cần noi theo Thái Tông, dạy bảo công chúa, nghiêm trị tội thần, mới có thể khiến công chúa tự biết ăn năn, yên bề gia thất."

(*) Có thể hiểu là chức gián quan nhưng ở cấp vương phủ, phò trợ và khuyên can thân vương.

Kim thượng nói: "Duyện vương là nhi tử của Thái Tông, nếu hành vi không đoan chính, có khả năng sẽ gây ảnh hưởng tới xã tắc, đương nhiên phải dạy bảo nghiêm khắc.

Nhưng công chúa tuy là ái nữ của trẫm, song cũng chỉ là nữ giới, dẫu có phạm sai thì cũng chỉ là tâm tính con gái, không tính là đại sự, trẫm sẽ tự tiến hành khuyên bảo.

Khanh so với chuyện thân vương là có phần không thỏa đáng rồi."

"Bất kể là thân vương hay công chúa cũng đều là con thiên tử, nhất cử nhất động đều được thiên hạ để ý, trong tương lai, hành vi của họ cũng sẽ được viết vào quốc sử cho hậu nhân đánh giá!"

Tư Mã Quang phản bác, rất nhanh sau đó, y lại nghĩ ra một ví dụ khác, "Tề quốc Hiến Mục đại trưởng công chúa là con gái Thái Tông hoàng đế, em gái Chân Tông hoàng đế, cô của bệ hạ, có thể nói cao quý bậc nhất thiên hạ.

Song Hiến Mục công chúa nhân hiếu khiêm cung, y như hàn tộc (*), phụng dưỡng một nhà phò mã Lý thị cũng trọn đạo làm dâu, kính trọng phu quân, không phạm đố kỵ.

Đến nay người trong thiên hạ nhắc tới tấm gương phụ đức, ai cũng đặt Hiến Mục công chúa lên đầu.

Hiến Mục công chúa không phải không biết thân mình cao quý, song lại quý mà không kiêu, thế nên mới giữ được phúc phần, hiền danh cũng có thể lưu truyền thiên cổ.

Thần cho rằng, bệ hạ dạy công chúa nên noi theo Thái Tông hoàng đế; công chúa lấy lễ thờ chồng nên noi theo Hiến Mục công chúa.

Như vậy, gia phong tốt đẹp của bệ hạ ắt sẽ rạng khắp tứ phương, mà tiếng tăm của bệ hạ và công chúa cũng sẽ lưu truyền hậu thế.

Mà nay bệ hạ chiều ý công chúa, không quản thúc theo lễ pháp, dẫn đến công chúa không biết kính sợ, tính tình tùy hứng, thậm chí còn lấy tính mạng đe dọa quân phụ, khinh rẻ phu quân, không giữ phụ đạo.

Nếu bệ hạ cứ mãi dung túng, sao đặng thúc đẩy tác phong nhân hiếu lễ nghĩa trong nước, làm gương sáng cho đời sau?"

(*) Ngược lại với quý tộc, chỉ dân thường.

Y dõng dạc hùng hồn nói hết những lời này, kim thượng vẫn trầm mặc không lên tiếng, Tư Mã Quang bèn tiến lên mấy bước, lại gần hạ bái kim thượng, một lần nữa nghiêm túc nêu thỉnh cầu của mình: "Quốc vương khác với người thường, hành sự lấy làm mẫu mực thiên hạ, cho nên gia đạo phải nghiêm, không thể phóng túng buông thả.

Thần kính mong bệ hạ trục xuất Lương Hoài Cát, để hắn trở lại chỗ lưu đày trước kia.

Nếu tùy tùng công chúa muốn làm bệ hạ triệu Lương Hoài Cát về, đó chính là muốn dạy công chúa bất thiện, cũng nên trị tội cả thảy, đuổi hết đi, chọn người cẩn thận hiền lương bù đắp lỗ hổng ấy."

Kim thượng vẫn đáp lời khách sáo trì hoãn trước sau như một: "Ý của khanh, trẫm đã rõ, chuyện khanh nói, trẫm sẽ nghĩ lại.

Mời khanh về trước, ngày mai lên điện chúng ta lại bàn."

Tư Mã Quang vẫn không chịu thôi, nắm hốt một lần nữa vái lạy, khăng khăng đòi kim thượng ra quyết định ngay bây giờ: "Bệ hạ, thần nghe việc một lần nữa bổ nhiệm Lương Hoài Cát làm nội thần chủ quản phủ công chúa là vào hôm nay.

Nếu bệ hạ chịu tiếp nhận lời can gián trung tâm của thần thì nên nhân khi còn chưa công bố sắc lệnh, tuyên triệu nhập nội nội thị tỉnh đô tri và áp ban, thu hồi khẩu dụ bổ nhiệm, bằng không một khi thánh chỉ ban bố, ắt sẽ kích thích trong ngoài triều đình bàn tán nhiều hơn, đến lúc đó lên triều tất chẳng tránh được lại thêm một hồi triều can."

Kim thượng không vui, giọng điệu có phần bực bội: "Vì chút chuyện nhỏ này của nhà trẫm mà triều can, há chẳng phải chuyện bé xé ra to?"

Tư Mã Quang cao giọng đáp: "Nhà thiên tử không có chuyện nhỏ, chuyện nhà tức chuyện nước.

Nếu bệ hạ chẳng thể tề gia thì làm sao trị quốc bình thiên hạ?"

Câu này làm kim thượng cứng họng, Tư Mã Quang lại dịu giọng, tiếp tục khuyên nhủ: "Bệ hạ nên nhanh chóng quyết định, nếu ngày mai lên điện nghị chuyện này, để ngôn quan luận chi tiết ngôn hành của công chúa trước mặt mọi người thì không hay."

Đây đúng là một tình huống có thể làm kim thượng băn khoăn.

Ngài suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng bất đắc dĩ thỏa hiệp với Tư Mã Quang, sai nội thị triệu đô tri và áp ban Hậu tỉnh tới, tuyên bố chuyện phục chức cho ta làm nội thần chủ quản phủ Duyện quốc công chúa còn cần cân nhắc thêm, tạm thời gác lại.

Tư Mã Quang nghe vậy lập tức bái lạy, tán tụng "Bệ hạ anh minh", lại chuyển sang nói lời can gián cuối cùng trong ngày: "Mong bệ hạ răn cấm công chúa, luật pháp là thước đo của thiên hạ, công chúa nhiều lần làm trái chiếu lệnh, không tuân khuôn phép, tuy là con thiên tử, song bệ hạ cũng không thể thiên vị.

Bệ hạ cần răn đe nghiêm khắc, làm công chúa về đúng đường ngay.

Như vậy mới có thể giúp công chúa phúc lộc dài lâu, không mất danh thiện.

Nếu không, miệng người đáng sợ, tôn nghiêm quốc gia, danh dự công chúa, ắt sẽ hủy trong tức khắc."
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Hồi 14: Tịch dương, cô thành bế sương giăng (*)


(*) Câu trong bài "Ngư gia ngạo - Thu tứ" của Phạm Trọng Yêm, thời Tống.

1.

Liếm nghé

Kim thượng cũng giống như ta, đều cảm thấy Tư Mã Quang ngăn cản ta phục chức mới chỉ là bước đầu tiên, y nhất định sẽ tiếp tục thỉnh cầu kim thượng một lần nữa đuổi ta khỏi kinh thành.

Vì thế, kim thượng đến Nghi Phượng Các nói chuyện riêng với Miêu hiền phi hồi lâu, đại khái là thương lượng với bà xem nên điều ta rời khỏi công chúa như thế nào, song cuối cùng Miêu hiền phi kịch liệt phản đối, bà đứng phắt lên thê lương nói: "Không thể để Hoài Cát rời đi lần nữa!

Hiện giờ nó như thuốc tê của công chúa vậy, có nó công chúa còn có thể được vài lúc yên ổn, nếu nó không ở đây, công chúa sẽ đau khổ chết mất!"

Có lẽ kim thượng cũng đồng ý với quan điểm này, ngài im lặng, không nhắc lại về chuyện này nữa.

Miêu hiền phi lại căm giận nói: "Tay Tư Mã Quang kia thật đúng là đồ ba gai, y chằm chằm dán mắt vào chuyện của công chúa không tha, từng bước o ép, khiến người ta thở cũng không ra hơi.

Chẳng bằng quan gia điều y đi, càng xa càng tốt, đỡ cho y lại sinh sự làm hại con gái chúng ta!"

Kim thượng thở dài: "Tư Mã Quang trung lương chính trực, đức hạnh vô khuyết, tìm đâu ra được chỗ sai!

Vô cớ điều y ra ngoài, triều đình ắt sẽ xôn xao, cuộn trào sóng gió lớn hơn."

Miêu hiền phi ứa nước mắt: "Vậy sau này quan gia xử lý chuyện công chúa vẫn phải nơi nơi chốn chốn xem sắc mặt y sao?"

Kim thượng suy nghĩ rồi nói: "Để ta điều y rời khỏi Gián viện vậy.

Không ở vị trí đó, có lẽ y sẽ ít lời hơn chút."

Thế là ngài hạ chỉ thăng Tư Mã Quang làm tri chế cáo.

Tri chế cáo và hàn lâm học sĩ được gọi chung là "lưỡng chế", phân công quản lý ngoại chế, nội chế, thảo chiếu lệnh cho hoàng đế, chức vị cao quý, lại dễ tấn thăng, kẻ sĩ quán các đều lấy vào được lưỡng chế làm vinh.

Hơn nữa, chỉ xét riêng về bổng lộc, tiền lương của tri chế cáo cũng nhiều hơn gián quan, bởi vậy, người đời cũng cho rằng Tư Mã Quang sẽ vui vẻ đón nhận bổ nhiệm, nào ngờ Tư Mã Quang liên tiếp dâng đơn xin miễn, nói mình tài sơ học thiển, chữ nghĩa không đủ, không thể đảm nhiệm chức vị từ thần, khẩn cầu thánh thượng giữ y lại Gián viện, tiếp tục cho y làm ngôn quan.

Thoạt đầu kim thượng còn cho rằng đó chỉ là lời khiêm tốn theo lệ trước khi thăng chức của Tư Mã Quang, không thay đổi thánh ý, giục y nhậm chức, song Tư Mã Quang lại dâng đơn liền năm, sáu bận, thái độ kiên quyết, lặp đi lặp lại nhấn mạnh văn chương chiếu lệnh không phải sở trường của mình, không dám lĩnh chỉ.

Cuối cùng, kim thượng mang chồng đơn dày cộp ấy đến cho Miêu hiền phi xem, hai người đưa mắt nhìn nhau, bó tay hết cách.

Kim thượng cả ngày mặt ủ mày chau, chỉ khi ở trước mặt công chúa lúc nàng tỉnh táo mới có thể dịu dàng hé cười.

Dáng vẻ ngài nhìn công chúa rốt cuộc cũng khiến ta lĩnh hội được thế nào là "trâu già liếm nghé (*)" – ánh mắt ngài như một bàn tay mềm mại, luôn cố thử xoa dịu vết thương vô hình của con gái.

(*) Thành ngữ xuất phát từ , chỉ tình thương yêu sâu nặng của cha mẹ đối với con cái.

Trừ suy xét chuyện của ta ra, họ cũng rất lo rằng Lý Vĩ sẽ hỏi ngày công chúa trở về, họ không biết trong tình huống hiện nay, hôn nhân của công chúa và Lý Vĩ nên duy trì ra sao.

Mà Lý Vĩ thì lại đột ngột chủ động đề ra một phương án giải quyết: Hắn dâng tấu tự hặc, nói mình thờ chủ không chu toàn, tội không thể tha, khẩn cầu kim thượng điều hắn ra ngoài.

Miêu hiền phi mừng rỡ, ra sức khuyên kim thượng chấp thuận lời thỉnh cầu của hắn, sau một hồi cân nhắc, kim thượng cũng đồng ý, tuyên bố điều phò mã đô úy Lý Vĩ làm tri Vệ Châu, mẹ hắn, Dương thị, sang sống với huynh trưởng Lý Vĩ, Lý Chương, Duyện quốc công chúa vào sống trong cung, nội thần trong phủ công chúa đều theo nàng hồi cung, giải tán tất cả kẻ hầu người hạ còn lại.

Như vậy, thứ nhất, trên thực tế là công chúa và Lý Vĩ ở riêng, tuy không đoạn tuyệt, song cũng giúp công chúa tạm thời thoát khỏi cuộc hôn nhân nàng căm ghét.

Sau khi kim thượng ra quyết định này, Miêu hiền phi lặng lẽ báo tin cho công chúa, công chúa ngơ ngác nhìn mẹ chằm chằm, nghe bà nói mấy lần mới như hiểu được ý nghĩa.

Tựa người vào chăn gối, đôi môi nhạt màu của nàng nhếch lên độ cong vành trăng non, song thần thái đắng chát.

Ta có thể đoán được ngôn quan sẽ không để yên cho quyết định này của kim thượng, song phản ứng dữ dội của họ thì lại nằm ngoài dự liệu của ta.

Lúc kim thượng bảo người tuyên đọc chiếu lệnh này trên điện, ta đang tán gẫu với công chúa và Gia Khánh Tử trong Nghi Phượng Các.

Nghe theo đề nghị của ta, Miêu hiền phi triệu Gia Khánh Tử vào cung chơi với công chúa hai ngày.

Gia Khánh Tử mang theo mấy cuộn tranh của Thôi Bạch và vài món đồ chơi nho nhỏ gã làm đến, mở từng cuộn ra trước mặt công chúa, mời nàng thưởng ngoạn.

Trong đó có một hộp gấm nó chưa mở ra ngay mà liếc thoáng qua ta như có điều băn khoăn, công chúa lại trực tiếp nhận lấy, mở hé nắp hộp ra xem qua rồi đặt xuống bên cạnh, cũng không có vẻ gì là có ý định cho ta nhìn.

Ta nghĩ chắc là đồ dùng khuê phòng của con gái nên không hỏi nhiều, chỉ cùng họ thưởng thức những món khác.

Lát sau, có nội thị từ Thùy Củng Điện nơi kim thượng lên triều tới, nói với ta: "Quan gia mời Lương tiên sinh lập tức lên điện."

Ta không khỏi kinh ngạc, hoàn toàn không ngờ rằng hoàng đế sẽ tuyên mình lên điện trong lúc lên triều.

Công chúa nghe vậy, lập tức sốt sắng hỏi: "Cha gọi Hoài Cát đến đó làm gì?"

Nội thị ngập ngừng: "Thần cũng không biết...

Mới rồi quan gia thảo luận chuyện điều phò mã ra ngoài cùng một vài đài quan gián quan, mấy tay ấy nhắc đến Lương tiên sinh nên quan gia mệnh thần tới tuyên triệu Lương tiên sinh..."

Công chúa vô cùng bất an, đứng dậy lại gần ta, nắm chặt tay áo ta.

Ta cho nàng một nụ cười trấn an, nhẹ nhàng rút ống tay áo ra khỏi bàn tay nàng, ôn hòa nói: "Không sao đâu, thần đi một lát rồi về."

Ta rảo bước ra ngoài, đi đến cửa gác, không nhịn được ngoảnh đầu, thấy công chúa đuổi theo mấy bước, vịn cột trụ ngoài hiên đưa mắt nhìn theo ta, cau mày chăm chú, nom nơm nớp u sầu.

Lúc ta đến Thùy Củng Điện, thấy trong điện đã có rất nhiều người bước ra khỏi hàng, có gián quan có đài quan, có đứng có quỳ, đều cầm hốt cúi đầu, thần sắc nghiêm túc, xem ra là đang lần nữa tiến hành một trận đài gián triều can.

Kim thượng ngồi trên ngai ngự thì nghiêng đầu sang một tên, tai đỏ thẫm, hai tay nắm chặt tay vị ngai ngự, gân xanh trên mu bàn tay nổi hằn lên, dáng vẻ chỉ có khi ngài tức giận cực độ.

Ta đi vào chính giữa đại điện, chưa kịp bái lạy, kim thượng đã quay phắt lại, phất tay áo chỉ vào ta, cao giọng nói với mọi người: "Các ngươi nhìn cho thật kĩ đi, đây chính là người các ngươi ép trẫm giết!

Từ trong mắt nó, các ngươi có nhìn ra được chút tà khí gian nịnh nào không?

Từ trên người nó, các ngươi có thể cảm nhận được chút hơi thở họa quốc hại dân nào không?"

"Bệ hạ!"

Lập tức có người bước lên đáp trả, ta không cần chuyển mắt, chỉ nghe giọng thôi cũng biết y là Tư Mã Quang, "Trung gian há có thể phân biệt bằng bề ngoài?

Lòng người sở dĩ khó dò cũng là bởi kẻ gian nịnh cũng có thể có bề ngoài thuần lương."

"Vậy các ngươi xem xét lại nó cẩn thận xem," Kim thượng nói, "Người ta nói lâu ngày thấy được nhân tâm.

Trước đây nó từng phục vụ ở Tiền tỉnh nhiều năm, các ngươi đa phần xuất thân từ quán các, hoặc ít hoặc nhiều đều từng có cơ hội tiếp xúc với nó, triều hội lễ tết những năm gần đây cũng có khả năng trông thấy nó.

Mời các ngươi suy nghĩ kỹ xem, các ngươi có từng thấy nó phạm lỗi bao giờ chưa?

Các ngươi nói nó tội ác như núi, đáng bị tru diệt, vậy mời các ngươi liệt kê tội ác cụ thể của nó, miễn là có chứng cứ thiết thực, dù chỉ một tội thôi, trẫm cũng sẽ nghe theo lời các ngươi, tru diệt nó!"

Quần thần cứng họng, đều dồn mắt vào ta lưỡng lự băn khoăn, nhưng đều không mở miệng đáp lại kim thượng, đến Tư Mã Quang cũng nhất thời không tìm được lời nào phản bác.

Chốc sau, một người thân bận bào xanh, có vẻ là đài quan, bước ra khỏi hàng, cầm hốt khom người, nói: "Kim thượng nói Lương Hoài Cát vô tội, nhưng trước đây hắn lại bị biếm tới Tây Kinh vì phạm lỗi, nếu Hoài Cát vô tội thì há lại bị biếm tới đó?

Bệ hạ từng tự mình ban bố chiếu lệnh trục xuất hắn, mà nay lại bảo vô tội, ấy chẳng phải tự mâu thuẫn ư?"

Lời y khiến kim thượng khó lòng cự lại.

Ngài đưa mắt nhìn, bắt đầu quan sát vị đài quan cấp thấp hơn ba mươi tuổi trước mắt này, hỏi: "Ngươi là ai?"

Đài quan khom lưng, đáp: "Thần là giám sát ngự sử lí hành Phó Nghiêu Du."

Thấy kim thượng không lên tiếng, Phó Nghiêu Du lại nói: "Phò mã đô úy Lý Vĩ tri Vệ Châu, chuyện quá đột ngột, người nghe kinh hãi.

Ai nấy đều nói Lý Vĩ hành sự cẩn trọng, chưa từng nghe nói phạm sai bao giờ, chẳng biết vì sao bệ hạ lại bỗng đuổi cậu ấy ra ngoài.

Mà Lương Hoài Cát vốn bị giáng chức vì phạm lỗi thì lại không dưng được triệu về, thể chế triều đình chưa từng có ngoại lệ như thế.

Chuyện phu thê Lý Vĩ vốn không cho người ngoài biết, xử lý thế nào nên là cha con bệ hạ tự quyết định, tiện thần vốn chẳng xứng mở miệng, nhưng hôm nay phò mã vô cớ bị trách phạt, nội thần có tội được giữ lại, người nghe trừ bỏ kinh ngạc thì đều đang suy đoán nguyên nhân bên trong.

Thần tin rằng công chúa được bệ hạ hết lòng dạy dỗ từ khi còn bé, trang nhã hiền thục, sẽ không có hành vi thất lễ, nhưng vạn miệng xôn xao, đồn đại điều tiếng, dẫn đến phỉ báng, là điều khó tránh.

Thế nên thần khẩn cầu bệ hạ bảo toàn nhân duyên của công chúa, không bổ nhiệm phò mã ra ngoài, còn Lương Hoài Cát, dẫu không đến mức tru diệt, song vẫn nên trục xuất như cũ, như vậy mới có thể rửa sạch lời đồn, danh dự của công chúa cũng không bị tổn hại."

Vừa dứt lời, lập tức được nhiều ngôn quan khác tán thành, đều yêu cầu giữ Lý Vĩ trục xuất ta.

Kim thượng lắc đầu, nói: "Công chúa là con gái trẫm, trẫm quan tâm tới danh tiết của nó hơn bất kỳ ai trong các ngươi.

Nếu Hoài Cát quả thật từng làm tổn hại đến danh dự của công chúa thì trẫm đã chẳng chút do dự giết nó lâu rồi.

Đối với công chúa, Hoài Cát vừa là thầy vừa là bạn, nào có kinh khủng như các ngươi nghĩ.

Huống hồ, nó lại là nội thần...

Nó cũng không khác gì một cuộn tranh, một bó hoa, một lư hương, đều chỉ là chút an ủi công chúa có thể tìm đến trong cuộc sống không hạnh phúc..."

Nhắc đến cuộc sống không hạnh phúc của công chúa, ánh mắt ngài lộ vẻ ảm đạm, cụp mi ngẫm nghĩ đôi chốc, ngài lại ngẩng lên nhìn thẳng chúng thần, giãi bày những lời khiến tất cả đều kinh ngạc: "Hôn sự của Duyện quốc công chúa là một nước đi sai lầm của trẫm.

Trẫm từng cho rằng đó là lựa chọn tốt nhất, vừa có thể báo đáp ơn nghĩa của Chương Ý thái hậu, vừa có thể khiến các ngươi hài lòng, nhưng chẳng ngờ lại hại khổ con gái trẫm...

Nếu sự tình phát triển đã đi ngược lại với nguyện vọng, dẫn đến kết quả bây giờ, vậy trẫm cũng chỉ có thể nghĩ cách bù đắp lại cho sai lầm này..."

Ngài thản nhiên thừa nhận hôn sự mình an bài cho công chúa là nước đi sai lầm đã đủ khiến mọi người sửng sốt rồi, mà sau đó lại nói hứa hôn như vậy là để "khiến các ngươi hài lòng", hiển nhiên là ám chỉ hôn sự của công chúa liên quan đến chính sự triều đình, ngài chọn một người hoàn toàn không có căn cơ trong triều như Lý Vĩ cũng là để cân bằng lợi ích đảng phái ngàn sợi vạn mối vướng mắc khó phân.

Thẳng thắn bậc này, khó trách quan viên trong điện đều trợn tròn hai mắt, bất chấp lễ nghi vua tôi, ai nấy đều dòm trộm vẻ mặt kim thượng.

Người đầu tiên ứng đối lại là Phó Nghiêu Du.

Trước khi kim thượng muốn tiến thêm một bước nói ra quyết định bù đắp sai lầm, y chặn lời ngài: "Bệ hạ chưa từng sai!

Bệ hạ chọn Lý Vĩ làm thượng chúa hoàn toàn là để ban vinh cho nhà cậu, báo đáp ơn dưỡng dục của Chương Ý thái hậu.

Khi ấy thiên hạ nghe thấy đều thi nhau ca tụng, lấy làm cảm động đức nhân hiếu của bệ hạ, cũng khuyên con noi theo, người trong nước ai cũng lấy hiếu nghĩa làm đầu, tác phong ấy đến nay vẫn còn dư âm, có thể thấy lựa chọn của bệ hạ anh minh sáng suốt.

Thế nên, bệ hạ càng không nên thay đổi dự tính ban đầu, không để Lý Vĩ nghi sợ, lấy đó bảo toàn sủng ái nguyên gốc; không để Hoài Cát hưởng may, lấy đó nghiêm phòng về sau.

Huống chi, con gái bệ hạ hãy còn vài vị bé, lần lượt lớn lên, nhất cử nhất động tất sẽ lấy Duyện quốc công chúa làm gương, bệ hạ không thể để mặc.

Thần mong bệ hạ tinh tuyển cung tần, lấy đạo lý mài giũa công chúa, làm công chúa thu bớt tính tình, yên bề gia thất.

Như vậy, lòng hiếu thảo của bệ hạ đối với Chương Ý thái hậu càng tăng thêm mà đồn đại phỉ báng công chúa trong triều trên phố cũng sẽ lắng xuống."

Nói xong, y khấu đầu một lần nữa vái lạy kim thượng, "Đây là lời tâm huyết của thần, mong bệ hạ nghĩ lại; tấm lòng kẻ hèn, xin bệ hạ cân nhắc thêm."

2.

Điệu múa

"Tấm lòng kẻ hèn..."

Kim thượng lặp lại lời Phó Nghiêu Du, sầu não nói, "Vậy các ngươi có thể cũng thông cảm cho tấm lòng của trẫm được không?

Con gái trẫm không muốn cầu sinh, mỗi buổi lên triều trẫm đều phải lo lắng, đến trưa trở lại trong cung, liệu có còn gặp lại nó nữa không."

Ngài nín thở ngồi thẳng dậy, gạt nỗi bi thương ra khỏi ngữ điệu, nở nụ cười nhạt nhòa hỏi Phó Nghiêu Du trước: "Khanh có con gái không?"

Phó Nghiêu Du lưỡng lự, nhưng vẫn trả lời: "Thần có hai con trai, không có con gái."

Kim thượng quay sang nhìn Tư Mã Quang: "Nhà Tư Mã khanh thì sao?"

Câu hỏi này làm Tư Mã Quang hơi không yên, có nét muộn phiền chợt lướt qua trong mắt y, nhưng y nhanh chóng nghiêm mặt lại như cũ, khom người đáp: "Thần không có con gái ruột, nhưng dưới gối có con thừa tự nhận nuôi trong tộc."

Kim thượng đưa mắt nhìn hết thảy đài gián quan quanh điện, chậm rãi nói: "Nếu các ngươi từng làm cha thì hẳn có thể tưởng tượng được cảm thụ của trẫm hôm nay phải không?

Duyện quốc công chúa là con gái trẫm, mười mấy năm trước, có một khoảng thời gian nó từng là máu mủ ruột thịt duy nhất của trẫm.

Trong mắt trẫm, nó quý giá hơn xa cái gọi là 'minh châu trong lòng bàn tay', giang sơn đều là vật ngoại thân, huống chi những thứ vàng bạc châu báu như khói thoảng mây trôi.

Mà công chúa lại tương thông huyết mạch với trẫm, là một phần của sinh mạng trẫm.

Lúc nó bị thương, nhìn dáng vẻ nó thoi thóp yếu ớt, tính mệnh như chỉ mành treo chuông, trẫm thật sự rất sợ mất đi nó.

Nếu nó không còn nữa, cái trẫm mất đi không chỉ là một công chúa mà là một phần sinh mạng đứt lìa.

Nhìn đó đau khổ như thế, trẫm cũng có thể cảm nhận được nỗi đau đứt gan đứt ruột, càng khiến trẫm đau đớn hơn là, đau khổ của nó là do một tay người làm cha trẫm gây nên...

Nếu các ngươi cũng có con gái, mắt thấy nó rơi vào khốn cảnh vì lỗi lầm của các ngươi, các ngươi sẽ cảm thấy thế nào?

Cuộc đời còn lại của công chúa đại khái đã vô duyên với hỉ lạc, thế nên, bây giờ trẫm cũng khẩn cầu các ngươi, cho trẫm một cơ hội mất bò mới lo làm chuồng, để trẫm bù đắp lại phần nào, cho nó chí ít cũng được chút an lành."

Lời ngài nói đã bộc lộ hết thảy tấm lòng cha mẹ, đại đa số quan viên nghe xong đều nín thinh, nhuệ khí trong mắt cũng giảm đi nhiều.

Phó Nghiêu Du cũng trẫm mặc, chỉ cầm hốt cúi đầu đứng lặng, nhưng cùng lúc đó, một quan viên khác lại bước lên trước, bày tư thế tiến ngôn.

Tư Mã Quang.

"Bệ hạ thương con gái, về tình có thể thông cảm, nhưng thần cũng muốn hỏi bệ hạ, có từng nghĩ đến cảm thụ của phu nhân Lý quốc cữu chăng?"

Tư Mã Quang nói, tiếp đó trần thuật giọng cảm khái, "Bà ấy là mẹ của phò mã, cũng có tấm lòng cha mẹ.

Ban đầu được bệ hạ ban hôn, chắc hẳn quốc cữu phu nhân cũng dạt dào mừng rỡ, mong đợi cô dâu vào cửa, sớm ngày an hưởng phúc lộc con cháu.

Nhưng ngờ đâu công chúa và phò mã lại chẳng hòa thuận, hiếp đáp mẹ chồng, tin sủng nội thần, để đến nỗi người ngoài bàn tán, lấy làm quái lạ.

Đối mặt với tình cảnh ấy, trong lòng quốc cữu phu nhân bi thương ra sao chẳng khó gì tưởng tượng.

Hôm nay bệ hạ lại vì thiên vị công chúa mà biếm trục phò mã, khiến mẹ con Lý thị ly tán, gia đình trôi giạt, lớn nhỏ ưu sầu, chẳng thể nương thân.

Kết quả này cũng đâu phải ước nguyện ban đầu của bệ hạ khi quyết định thông gia với Lý thị?

Vì muốn chiều ý con gái mà bệ hạ có thể hoàn toàn mặc kệ tấm lòng xót con của quốc cữu phu nhân, cưỡng ép cốt nhục bà ấy chia lìa ư?

Bệ hạ yêu thương công chúa, Dương thị cũng yêu thương con trai bà ấy, dẫu trên dưới khác biệt, tôn ti chênh lệch, song tình liếm nghé đều như nhau, bệ hạ há có thể lấy nỗi đau của người khác chạy chữa cho tổn thương của công chúa?

Ngày giỗ của Chương Ý thái hậu ngay trong tháng Hai này, bệ hạ lật lại vật cũ trong tráp của thái hậu, lại nghĩ lại nơi ở của thái hậu khi sinh thời mà xem, cảm giác đơn côi lẻ bóng, chẳng được hưởng ơn mưa móc ấy, chẳng lẽ lại không thê thương?

Bệ hạ truy niệm Chương Ý thái hậu, chọn Lý Vĩ làm thượng chúa, là muốn gắn kết thân thích, vinh hiển nhà họ, báo ơn mẫu thân.

Mà nay khiến mẹ con Lý Vĩ rơi vào kết cục như thế, bệ hạ không cảm thấy hổ thẹn với hồn thiêng Chương Ý thái hậu trên trời ư?

Món nợ nhân tình thiếu của Lý thị, phải trả thế nào đây?"

Y đúng là có sở trường làm ngôn quan, chuỗi truy vấn lần lượt tăng nhấn ngữ điệu và động tác giơ tay phất áo đã phụ trợ y hoàn toàn không yếu thế trước mặt hoàng đế, ngược lại còn giống như một phu tử đang dạy bảo học trò, lời nói ra câu nào cây nấy lý lẽ vẹn toàn, kim thượng lộ vẻ khó xử, buông mi, ngậm miệng không nói.

Thoáng dừng lại, không thấy kim thượng trả lời, Tư Mã Quang lại đề nghị: "Thần ngu dốt cho rằng, bệ hạ nên giữ Lý Vĩ lại kinh sư.

Người hầu kẻ hạ trong phủ công chúa, ai chưa từng phạm lỗi đều có thể ở lại, đồ đạc trong phủ cũng để yên không di dời, đợi công chúa nghe bệ hạ giảng giải nghĩa lý mà hồi tâm chuyển ý, thuận đức tuân lễ rồi thì lại về phủ, Bằng không, công chúa ắt sẽ không quay về với Lý thị."

Nói đến đây, y lại nghiêng đầu nhìn ta, trong mắt nhiều thêm một tia sáng lạnh lùng, "Còn về phần Lương Hoài Cát, nếu bệ hạ quyết định khoan dung nhân từ với hắn, cũng có thể tha hắn không phải chết, nhưng nhất định phải trục xuất xa hơn, cách chức điều ra ngoài, cả đời không được triệu về."

Đài gián quan còn lại gật gù lia lịa, cũng xin kim thượng tiếp nhận đề nghị của Tư Mã Quang, Phó Nghiêu Du cũng tán thành, còn nói với kim thượng: "Bệ hạ yêu thương công chúa là nhân chi thường tình, nhưng không thể đánh đồng yêu thương với yêu chiều.

Bởi yêu chiều mà để công chúa không tuân lễ nghĩa, không thủ phép tắc, cuối cùng sẽ hại công chúa.

Huống chi, công chúa lạnh nhạt với phu quân, bệ hạ trục xuất Lý Vĩ mà cho vời nội thần sai dịch về, là cử chỉ trái lễ, đã khiến bốn phương cười chê, nếu không bổ cứu theo lời Tư Mã học sĩ, ngày sau bệ hạ làm sao dạy dỗ được những ấu nữ còn lại?"

Kim thượng suy nghĩ một hồi rồi bình tĩnh ngẩng đầu, mở miệng nói với chúng thần: "Xin lỗi, ta vẫn không thể làm theo ý các ngươi.

Nếu để con gái ta phải chịu thêm một lần đả kích như vậy nữa, nó sẽ chết."

Ta phát hiện ra ngữ khí ngài thay đổi.

Trên triều đình, hoàng đế tự xưng dùng "ta" mà không dùng "trẫm", nếu không phải cố ý để bày tỏ thái độ chân thành với chúng thần thì chính là ngài cầm lòng không đậu, dùng giọng điệu nói chuyện của người bình thường mà chẳng tự hay.

"Ta mười lăm tuổi đại hôn, đến hai mươi chín tuổi mới nghênh đón đứa con gái đầu tiên Duyện quốc công chúa, giữa chừng chờ đợi trọn mười bốn năm."

Kim thượng nói, vẫn dùng giọng điệu của người thường, chậm rãi trần tình, "Vì nghênh đón nó, ta thấp thỏm bất an đợi ba ngày ba đêm, cơ hồ không chợp mắt chút nào.

Đêm nó ra đời, ta đứng chờ ngoài phòng sinh của Miêu nương tử, gió rét khoét xương, ta bị cảm lạnh.

Nhưng, trông thấy đứa bé đầu tiên của mình xinh xắn khả ái như vậy, ta thật sự rất vui, ba đêm không ngủ cũng vui, bị cảm lạnh cũng vui.

Đêm ấy, lần đầu gặp nó, nó mở mắt, khóc long trời lở đất, ta thế mà cũng rơi lệ theo."

Nói đến "rơi lệ", giọng ngài khác thường.

Ta cụp mắt đứng đó, không trông thấy vẻ mặt ngài, nhưng lại tựa nhìn thấy đôi mắt ngài rưng rưng, cũng có thể cảm nhận được thời khắc này ngài hồi tưởng thương cảm ra sao và năm đó mừng rơi nước mắt đến mức nào, qua lời kể run run của ngài.

Chút biến đổi ấy chỉ vụt lướt trong chớp mắt, ngài điều chỉnh lại cảm xúc, nói tiếp: "Trong khoảng thời gian đợi nó ra đời, mỗi ngày ta đều suy nghĩ, ngoài đưa nó tới thế gian này, ta còn có thể làm gì cho nó.

Lần đầu tiên bế nó, ta nhìn ánh mắt nó, trong lòng thầm lập thệ, ta sẽ yêu quý nó cả đời, để nó có một cuộc sống hạnh phúc không sầu bi.

Kể từ khi có lời thề hẹn dài lâu ấy với nó, mỗi thời mỗi khắc ta đều nhắc nhở mình phải đối xử thật tốt với nó, để nó có thể lớn lên và sinh hoạt trong bình an vui vẻ, ta đã làm mọi thứ ta có thể.

Nhưng xót xa làm sao, cam kết lớn nhất ta cho nó lại là cái ta không cách nào bảo đảm khả năng thực hiện...

Ta từng cho rằng hôn sự của nó và Lý Vĩ sẽ khiến tất cả mọi người đều hài lòng, là sự lựa chọn tốt nhất, nhưng kết quả lại khiến nó không vui đến thế.

Quyết định sai lầm năm ấy của ta đã khiến nó mất đi hạnh phúc và sức khỏe, ta không thể mắc lỗi thêm nữa, không thể theo ý các ngươi, giữ chồng nó lại, đuổi tùy tùng nó tín nhiệm nhất đi, tiếp tục vây hãm nó trong cuộc hôn nhân này, cũng bỏ mặc sinh mạng nó hao mòn trong cuộc sống tăm tối không chút an ủi."

Cuối cùng, ngài hít một hơi thật sâu, đổi trở về ngữ khí hoàng đế, một lần nữa kiên định tỏ rõ thái độ của mình: "Trẫm rất cảm ơn các khanh đã quan tâm đến chuyện nhà của Duyện quốc công chúa, nhưng trẫm sẽ không thu hồi ý chỉ khi trước.

Lý Vĩ vẫn sẽ tri Vệ Châu, trẫm cũng sẽ không trục xuất Lương Hoài Cát ra ngoài.

Trẫm dĩ nhiên hổ thẹn với một nhà Lý thị và Chương Ý thái hậu, cũng sẽ cố hết sức nghĩ cách bồi thường.

Các khanh chê cười trẫm cũng được, chỉ trích trẫm cũng được, trẫm đều sẽ không để ý, chỉ xin các khanh cho phép người cha trẫm đây được ích kỷ một lần để bảo toàn tính mạng cho con gái mình."

Kim thượng đã nói đến nước này, chúng đài gián quan cũng chẳng ý kiến gì thêm, huống hồ lời kim thượng giãi bày rất xúc động, giữa chừng chư thần nhìn nhau, đều có vẻ thổn thức.

Quan viên nguyên bản bước khỏi hàng giằng co với kim thượng lục tục dợm bước trở về vị trí cũ, đến Phó Nghiêu Du cũng lẳng lặng lui về chỗ đứng ban đầu, chỉ duy một mình Tư Mã Quang không những không lui về mà còn tiến lên gần hơn, nhìn thẳng kim thượng.

"Bệ hạ!"

Y cao giọng gọi kim thượng, giọng trầm ổn, ngầm chứa uy nghi, "Người đời gọi bệ hạ 'quan gia' là lấy ý từ 'Tam hoàng quan thiên hạ, Ngũ đế gia thiên hạ (*)'.

Hoàng đế lấy thiên hạ làm nhà, vạn dân thiên hạ đều là con cái bệ hạ.

Bệ hạ há có thể chỉ yêu thương công chúa mà ném con dân còn lại ra sau đầu?

Hôm nay dư luận xôn xao, phiền nhiễu tai thánh, tất cả là bởi công chúa phóng túng buông thả, không biết kính sợ, nhiều lần trái lệnh vua cha, tin sủng nội thần, khinh miệt nhà chồng.

Hôn nhân nữ tử xưa nay đều do cha mẹ quyết định, nữ tử đương nhiên phải tuân mệnh, xuất giá tòng phu, đâu ra cái lý vì ruồng rẫy phu quân mà khóc quấy đòi ly dị?

Huống hồ thân phận của công chúa khác với người thường, lại có hoạn giả mê hoặc bên người, hôm nay công chúa có thể lấy tính mạng uy hiếp bệ hạ nhúng tay vào chuyện nhà mình thì ngày mai cũng có thể ỷ vào đó uy hiếp bệ hạ cho mình can thiệp vào quốc sự.

Phòng biến cung khuyết là điều quan trọng nhất trong gia pháp tổ tông, có bài học kinh nghiệm của Hán Đường, bệ hạ không thể không cảnh giác.

Vả lại, thiên địa cương thường không dung rối loạn.

Nay Lý Vĩ vì công chúa mà bị biếm trục, ấy là phụ lấn lướt phu.

Phụ có thể lấn lướt phu thì tử cũng có thể lấn lướt phụ, thần có thể lấn lướt quân.

Tiền lệ một khi đã mở, về sau ắt không thể lấp, trên làm dưới theo, phong tục suy đồi, bệ hạ sao có thể dẹp yên thiên hạ quốc gia?"

(*) Tam hoàng ngũ đế chỉ những vị vua đầu tiên của Trung Hoa (mang tính chất thần thoại), ý câu này là Tam hoàng coi thiên hạ là của chung, Ngũ đế coi thiên hạ là nhà chung.

Sau đó, y cắm hốt vào thắt lưng, cong gối quỳ xuống, chắp hai tay xuống đất, đầu cũng chậm rãi chạm đất, tay đặt trước đầu gối, đầu đặt sau tay, hành lễ dập đầu trang trọng nhất với kim thượng, lại nói: "Thần kính mong bệ hạ xử lý công bằng chuyện công chúa.

Nếu không thể thay đổi lệnh trục xuất Lý Vĩ thì công chúa cũng nên bị xử phạt, tước ấp (*) phong hàm không thể không chút giáng tổn, như vậy, bệ hạ mới có thể hiển minh thiên hạ đạo lý chí công.

Còn về Lương Hoài Cát, tuyệt đối không thể tiếp tục nhân nhượng, ít nhất phải biếm trục ra ngoài, mới có thể khiến đồn đại lắng xuống.

Công chúa không phải chịu mối lo thiến hoạn xúi bẩy, bệ hạ cũng có thể phòng họa lớn không xảy ra."

(*) Gọi tắt của tước vị và phong ấp; phong ấp là đế vương ban lãnh địa (đất phong) cho chư hầu và công thần.

Nghe y nói xong, kim thượng cũng chẳng mảy may có dấu hiệu thay đổi chủ ý, chỉ khoát tay: "Chuyện hôm nay nghị tới đây thôi, khanh lui ra đi."

Tư Mã Quang không chịu lĩnh mệnh, một lần nữa bái lạy, cao giọng thỉnh cầu: "Thần tấu lời tâm huyết, xin bệ hạ nghĩ lại!"

Kim thượng lạnh mặt, mím môi không đáp.

Tư Mã Quang lặp đi lặp lại thỉnh cầu mấy lần, vẫn không đợi được hồi âm, sau cùng, y quỳ thẳng người dậy, đưa tay tháo mũ ô sa trên đầu xuống.

Kim thượng cười nhạt: "Khanh muốn từ quan đấy à?"

Tư Mã Quang lắc đầu, nghiêm nghị đáp: "Bệ hạ, khi xưa thần khổ học mười năm không phải để cầu đai vàng áo tím, vượt trên mọi người, mà là hi vọng có thể phò tá một quân chủ hiền minh, góp phần giúp thiên hạ quy phục, trời yên biển lặng, thời thanh thế bình.

Mà nay thần vô năng, không thể thuyết phục bệ hạ gạt bỏ yêu thích cá nhân, hiển minh đạo lý chí công, tương lai ắt sẽ khiến bệ hạ mông muội không tỏ lý lẽ, bỏ mặc tiếng xấu đạo nghĩa.

Thần tận trách chẳng đặng, cũng không đất dung thân, chỉ có thể tuẫn chức tạ tội."

Kim thượng nghe ra ý y, vừa giận vừa sợ: "Ngươi muốn tiến gián vỡ đầu?"

Ngài đứng phắt dậy, nhưng trong cơn nóng vội, khí huyết công tâm, tay bưng ngực, mặt lộ vẻ đau đớn, lại nặng nề ngồi xuống ghế.

Lúc này, Tư Mã Quang đã đặt khăn chít đầu ngay ngắn xuống trước mặt, đứng lên, ánh mắt soi thẳng vào cột trụ điện bên trái...

Tất thảy bất quá chỉ diễn ra trong một cái chớp mắt, mọi người trong điện, bao gồm cả ta, đều không phản ứng kịp, dưới sự sửng sốt chỉ nhìn chằm chằm Tư Mã Quang, chưa ý thức được nên chọn hành động nào để ngăn cản y, Chính lúc này, ngoài điện vọng vào một giọng nữ: "Tư Mã học sĩ."

Trong hoàn cảnh lặng ngắt như tờ vào thời khắc này, tiếng gọi ấy nghe rõ mồn một, mọi người lập tức đưa mắt nhìn xem, Tư Mã Quang trong sự kinh ngạc cũng dừng sững nhịp bước, quay đầu nhìn ra ngoài điện.

Ta cũng giống mọi người, ngạc nhiên phát hiện ra đó là công chúa.

Bên trong nàng vẫn mặc áo đơn lĩnh trắng lúc ốm bệnh, bên ngoài khoác một tấm áo bào tay rộng, tơ lụa xanh nhạt, tròng ở ngoài cùng một lớp áo sa xanh mỏng tựa khói sương.

Mái tóc dài buông xõa sau đầu không tết vấn, nàng quay mặt hướng trời, hãy còn chưa thoa phấn tô son, như thể chạy ra ngoài đương lúc trang điểm.

Trên mặt nàng vương đầy ngấn lệ, hẳn là trước đó không lâu đã rơi nước mắt rất nhiều, nhưng giờ khắc này lại hoàn toàn không có vẻ đau thương, đôi con ngươi lạnh nhạt nhìn Tư Mã Quang chăm chú, nàng bước từng bước tới gần, khóe miệng nhoẻn nụ cười mỉa mai.

Lúc đi tới trước mặt Tư Mã Quang, nàng từ từ nâng ống tay áo phải đó giờ vẫn một mực buông rủ lên, ống tay áo rút đi như nước, một con rối gỗ móc dây cao chừng một thước lộ ra trong tay áo nàng.

Con rối ấy mang hình dáng nữ tử, cũng mặc áo váy sa xanh màu sắc tương tự với xiêm y của công chúa, trên đầu đội miện hoa, phần mặt đeo một chiếc mặt nạ, má phấn môi son mày kẻ, họa nét nữ trang rất tinh xảo.

Đối mặt với Tư Mã Quang đang nghi hoặc quan sát nàng không hiểu ra sao, công chúa cười sâu kín, nhấc con rối lên, hai tay điều khiển dây treo, làm con rối huơ tay múa chân.

Bản thân nàng cũng nhẹ phất tay áo, thướt tha dời bước, dáng người tao nhã, như đang nhảy múa.

Đồng thời, nàng hé mở đôi môi, cất tiếng hát một bài từ: "Bồng bồng búi tóc mới vấn, nhàn nhạt phấn hoa điểm trang.

Khói biếc sương châu lồng xiêm áo, phất phơ tơ lụa lung linh..."

Nghe ca từ, sắc mặt Tư Mã Quang đại biến, nhíu chặt mày nhìn chòng chọc công chúa, vừa tức giận vừa lúng túng.

Suy đoán theo nghĩa câu từ, bài "Tây giang nguyệt" này hẳn là viết về một cô gái thanh xuân mặc áo mỏng sắc xanh, thanh thoát uyển chuyển nhảy múa trên nền sênh ca, hành động của công chúa chính là mô phỏng lại cảnh tượng ấy.

Liên hệ với đoạn dưới bài từ mà công chúa còn chưa hát đến, cô gái trong bài hẳn không phải phu nhân của Tư Mã Quang, nếu quả thực có người như thế thì rất có thể đó là ca cơ vũ kỹ, như vậy, khi Tư Mã học sĩ còn trẻ cũng từng có một mối tình êm dịu dính dáng đến gió trăng.

Có vẻ như chúng thần tử cũng biết lai lịch bài từ này, bắt đầu châu đầu ghé tai, xì xào bàn tán, thậm chí có người còn khẽ cười, rọi ánh mắt hài hước về phía Tư Mã Quang.

Công chúa vẫn ngậm nụ cười lạnh nhạt ấy, vừa điều khiển con rối, vừa tiếp tục ngâm xướng bằng giọng hát mỏng manh như tơ nhện: "Gặp nhau mà bằng chẳng gặp, hữu tình khác chi vô tình..."

Hát đến vô tình, khả năng là công chúa cố ý, con rối trước cúi đầu xuống rồi ngẩng mạnh lên, miện hoa và mặt nạ cũng theo đó văng mất, hình dáng con rối hiển lộ làm nhiều người đứng xem hét lên một tiếng kinh hãi – mắt hõm răng chìa, chiếc đầu ấy là một cái đầu lâu chạm khắc từ gỗ!

Tay áo lục thoáng giương, mái tóc xanh phấp phới, công chúa cau mày cười khẽ, kéo dắt dây treo, thong dong ca múa, phạm vi nhảy múa của con rối mở rộng, lớp lớp vũ y như khói biếc sương châu cũng theo đó từ từ tản ra, lặng lẽ tuột xuống khỏi thân con rối, trực tiếp hiện ra trước mắt mọi người, không ngoài dự liệu của ta, là từng rẻ xương sườn...

Con rối móc dây này vốn làm theo hình dáng một bộ xương khô, tỷ lệ hoàn toàn tương đồng với cơ thể con người, chỉ là thu nhỏ lại.

Hóa ra đây chính là con rối "kiểu khác" mà nàng muốn Thôi Bạch làm, thảo nào ban nãy Gia Khánh Tử không dám cho ta xem.

"Sênh ca dứt tiếng rượu mới tỉnh, sân sâu trăng tà lặng thinh..."

Tiếng hát công chúa bay liệng trong đại điện rộng rãi yên tĩnh, hát hết một khúc, nàng lặp lại làn điệu, hát tiếp vòng kế.

Ánh mắt nàng mông lung, bước múa trôi nổi, bộ xương khô nàng điều khiển nhảy múa cùng nàng.

Sắc mặt nàng tái nhợt, hai mắt lõm sâu, dưới ống tay áo thùng thình chỉ còn một cánh tay gầy trơ xương, nom cũng chẳng kém con rối dưới tay nàng bao nhiêu.

Mọi người chỉ trơ mắt nhìn nàng ngậm nụ cười ơ hờ vừa ca vừa múa, không ai lên tiếng ngăn cản, người nào người nấy đều trố mắt chăm chú nhìn nàng, vẻ mặt kinh hãi, chớp mắt như đang nhìn một con ma diễm lệ.

Tư Mã Quang xem điệu múa của bộ xương khô phơi bày trong bầu không khí kỳ dị ấy, ác liệt trong mắt dần tan đi.

Lắng tai một lần nữa nghe tiếng hát yếu ớt của công chúa, cuối cùng, y buông một tiếng thở dài, im lặng buông đỉnh đầu mới vừa ngẩng cao xuống.

3.

Vô dật

Tiếng hát miên man, vấn vít cùng khói xanh tuôn ra từ đôi nghê vàng chầu hai bên điện.

Công chúa chẳng coi ai vào mắt, điều khiển con rối nhảy múa, ống tay áo phiêu diêu, bóng dáng mỏng manh như liễu rủ gió vờn.

Người chung quanh như bị hai bộ xương hồng nhan khô này thi chú định thân, đều giữ nguyên trạng thái một mực bất động như trúng bùa, lắng nghe ca từ uyển chuyển buốt cóng của nàng, nhìn nàng kiều diễm thanh thoát, non xuân xa thẳm, xoay người liếc mắt, để mặc một sợi khói hương thụy não chạm phớt khuôn mặt nàng trắng muốt như hoa lê.

Hoàng đế trên ngai ngự mấy lần giơ tay áo che mặt, còn từng run giọng gọi công chúa: "Huy Nhu..."

Nhưng công chúa như nghe không thấy, vẫn tiếp tục ca múa.

Sau nữa, cắt ngang nàng là tiếng hô hoảng sợ của cận thị hầu bên kim thượng: "Quan gia!"

Công chúa dừng khựng điệu múa, buông hai tay áo xuống, ngơ ngác nhìn về phía phụ thân.

Kim thượng nghiêng lệch người sang một bên, đầu rũ thấp, chừng như đã ngất xỉu.

Công chúa thả tay, con rối đầu lâu sụp xuống đất, nàng vội chạy đến trước mặt kim thượng, nắm tay ngài không ngớt gọi "Cha".

Nhưng không thấy kim thượng trả lời.

Ta rảo bước về phía trước, đỡ ngài dậy cùng những nội thị còn lại.

Chỉ thấy ngài nhắm nghiền hai mắt, chân mày nhíu chặt, khóe mắt có dấu vết rớm lệ.

Trở lại trong cung, thái y chẩn bệnh rồi nói kim thượng đây là do buồn lo liên tiếp lâu ngày, suy nghĩ quá nhiều gây ra.

Mấy năm nay long thể ngài vốn chẳng quá an khang, hôn nhân bất hạnh của công chúa và chuyện lập trữ là hai tâm bệnh mang lại gánh nặng cho ngài, mà gần đây công chúa còn liên tục xảy ra chuyện, đá tảng đè ép tâm trí ngài từng chút tích lũy, cuối cùng đẩy ngài kề sát bờ vực sụp đổ.

Công chúa khăng khăng đòi trông giữ bên cha, dù cho chính nàng cũng yếu ớt khó cầm.

Sau, kim thượng tỉnh lại, trông thấy nàng, câu đầu tiên cất tiếng là: "Sao con lại ở đây?

Mau về nghỉ ngơi đi."

Ngài vẫn đối mặt với nàng bằng biểu cảm ôn hòa, không nhắc một chữ nào tới tình hình trên đại điện, chỉ luôn miệng giục nàng về nghỉ ngơi.

Cuối cùng công chúa ngậm lệ rời đi, ta theo nàng ra ngoài, lúc đi tới cửa, không nhịn được quay đầu, thấy kim thượng một mực đưa mắt nhìn theo con gái, nụ cười dành cho nàng trước đó vẫn chưa tắt, mà trong mắt lại nhuốm nỗi ưu thương chẳng thể diễn tả bằng lời.

Hai ngày sau là ngày giỗ của tiên đế Chân Tông, kim thượng tuy thánh thể bất an nhưng vẫn gắng gượng chủ trì nghi thức lễ tế, tiếp nhận quần thần thăm viếng.

Buổi chiều, sau khi tất thảy nghi thức đều đã kết thúc, ngài một mình vào Thiên chương các nơi cất giữ ngự thư của Chân Tông, mệnh nội thị trong gác ra ngoài, khóa mình trong điện thờ ngự dung (*) của Tổ Tông tại Thiên Chương các.

(*) Trong điện thờ này có tranh chân dung của hoàng đế các đời (gọi là ngự dung), như là thời nay người ta thờ di ảnh người quá cố vậy.

Lát sau, trong điện thờ vọng ra tiếng tiếng khóc rống đau thương não ruột, người nghe đều không khỏi xúc động, vài nội thị chạy vào hậu cung báo, Miêu hiền phi và công chúa hay tin, lập tức song song chạy tới Thiên Chương các.

Trong hơn hai mươi năm trước kia, ta đã nhiều lần chứng kiến kim thượng rơi lệ, nhưng lớn giọng gào khóc như vậy thì chưa từng nghe thấy.

Nếu chẳng phải đau khổ khôn kể đã đạt đến cực độ, thân là chí tôn một nước như ngài tuyệt không thể nào thất thố như vậy.

Công chúa nghe tiếng khóc của phụ thân, trong lo lắng lại càng thêm sốt ruột, tự mình đi lên hai tay vỗ cửa điện thờ, cất giọng gọi cha, nhưng bên trong không có hồi đáp, vọng ra vẫn là tiếng khóc bi ai của kim thượng.

"Cha, chuyện của con gái đã khiến cha đau khổ sao?

Cha đang giận con gái đó sao?"

Công chúa sợ hãi hỏi.

Vẫn không ai trả lời.

Công chúa luống cuống quỳ rạp xuống trước cửa điện thờ, lệ tuôn như suối, hai cha con họ một trong một ngoài, ôm nỗi niềm riêng, nhưng đều bi thảm như nhau.

Miêu hiền phi khuyên nhủ chẳng những không đen lại tác dụng gì mà ngược lại, còn làm công chúa càng thêm bức bối, vừa nức nở vừa dập đầu với trong điện, nàng cầu khẩn gọi đi gọi lại: "Cha, cha..."

"Để cha con ở một mình đi."

Hoàng hậu chậm rãi đi tới bên cạnh công chúa, nói với nàng, "Cha con phiền muộn đã lâu, giờ khóc ra được là tốt."

Công chúa ngước cặp mắt đẫm lệ lên nhìn hoàng hậu, xoay người định hành lễ, hoàng hậu ngăn nàng lại, cúi người cầm khăn lụa lau nước mắt trên mặt nàng rồi ôn hòa hỏi: "Huy Nhu, ta có thể nói chuyện với con một lúc không?"

Công chúa gật đầu, nghẹn ngào nói: "Nương nương có gì dạy bảo ạ?"

Hoàng hậu nắm tay kéo nàng đứng dậy, nói với Miêu hiền phi mình muốn dẫn công chúa lên lầu nói chuyện, người hầu không cần đi theo, hiền phi đồng ý, bảo tất cả người hầu của công chúa ở lại, ta cũng dừng bước theo, nhưng hoàng hậu lại ngoảnh đầu nhìn ta, nói: "Hoài Cát.

Ngươi cũng lại đây."

Công chúa theo hoàng hậu lên lầu, hãy còn bận lòng về tình huống của cha, lại đi tới bên lan can, lo lắng nhìn xuống dưới.

Hoàng hậu thấy vậy cũng qua cùng, bảo nàng: "Đừng lo, cha con không sao đâu.

Ngài là vị hoàng đế xứng chức, hiểu rõ trách nhiệm bản thân gánh vác, sẽ tự biết bảo trọng."

Công chúa rầu rĩ cúi đầu.

Hoàng hậu lại dắt tay nàng, dẫn nàng đến giữa gác ngồi xuống, ngắm nàng một chốc rồi nhẹ nhàng hỏi nàng: "Huy Nhu, con biết tên con nghĩa là gì không?"

Công chúa gật đầu, đáp: "Cha có nói với con, nguyên đức sung mỹ rằng Huy, chí thuận pháp khôn rằng Nhu, 'Thượng thư – Vô dật' cũng viết: 'Huy nhu ý cung, hoài bảo tiểu dân'."

Lúc kim thượng giải thích ý nghĩa của Huy Nhu với công chúa, ta cũng có mặt, về nghĩa của chữ "Nhu", kim thượng còn từng nhắc đến một ý quan trọng khác – thuận đức lệ trinh.

Xem ra công chúa đã tránh phạm húy chữ Trinh nên không đề cập tới phần này.

"Đúng vậy."

Hoàng hậu lại hỏi: "Vậy con có biết vì sao năm ấy cha con lại đặt tên con như vậy không?"

Công chúa đáp: "Hai chữ đó đều mang ý tốt lành, cha lấy để bày tỏ chúc phúc cho con gái ạ."

Hoàng hậu nở nụ cười dịu dàng với nàng: "Không chỉ có thế.

Đó đúng là lời chúc phúc dành cho con, nhưng cũng bao gồm cả kỳ vọng đối với con."

"Kỳ vọng?"

Công chúa cau mày, có phần hoang mang.

Hoàng hậu gật đầu: "Nguyên đức sung mỹ, chí thuận pháp khôn, ngài hi vọng con vừa có phong tư mỹ nhân, vừa có nét đẹp đoan trang không thể thiếu của thuyền quyên vương bang, quan trọng nhất là phải có một trái tim hiền từ nhân hậu, lấy tư thái ôn hòa khiêm nhường đối đãi với con dân thiên hạ, ban ơn thiện lành, phúc rọi tứ phương."

Nói tới đây, bà dụng tâm nhìn công chúa đang giữ im lặng, lại nói, "Đây cũng là yêu cầu của thần dân Đại Tống đối với vợ con thiên tử."

Công chúa lắc đầu: "Cả đời này con cũng chẳng học nổi nét đẹp đoan trang như của nương nương đâu.

Con cũng không muốn làm thuyền quyên vương bang, sống như nữ nhi bình phàm nhà quan lại phổ thông là tốt lắm rồi, hoặc giả, làm con gái của một nhà nông cũng không tệ, chẳng ai dán mắt xoi mói mình, quan sát nhất cử nhất động của mình có phù hợp với nét đẹp đoan trang không, cuộc sống ấy lại chẳng nhẹ nhõm hơn bao nhiêu ư?"

"Cuộc sống của họ chưa chắc đã đơn giản như con nghĩ."

Hoàng hậu thở dài, "Mỗi người sống trên cõi đời này đều phải gánh vác một trách nhiệm nhất định.

Con gái nhà nông tử nhỏ đã phải theo mẹ trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi gia súc, nghèo hơn nữa, thậm chí còn phải theo cha anh xuống ruộng cày cấy; cô nương nhà phổ thông có thể sẽ phải học canh cửi dệt may, không thể thiếu năng lực lo liệu việc nhà; nữ nhi nhà quan lại ngoài nữ công kim chỉ ra còn phải học thi thư lễ nghi, hiếu kinh nữ tắc, để về sau có thể làm nữ chủ nhân nhà học sĩ đại phu, ngoài giúp chồng dạy con còn phải quản lý sự vụ cả một gia tộc...

Bất kể là ai, từ thời khắc giáng sinh trở đi, đều sẽ gặp phải những trách nhiệm khác nhau mà thân phận đem đến cho họ, trên đời không có ai là không cần phải gánh vác bất kỳ trách nhiệm gì mà vẫn có thể sống tự do tự tại hết."

Công chúa dần hiểu ra: "Ý nương nương là, bày ra tư thái nguyên đức sung mỹ, chí thuận pháp khôn, làm thuyền quyên vương bang, là trách nhiệm của con."

Hoàng hậu mỉm cười: "Sĩ tử hàn môn khổ học thi thư, trong lúc mơ ước nhà lầu hoàng kim thường sẽ động viên mình: Không uổng những trắc trở và gian khổ từng trải qua; còn với những người như chúng ta, những người đã ở sẵn trong nhà lầu hoàng kim, thì cần thường xuyên nhắc nhở bản thân: Không uổng những vinh hoa và vui sướng từng đón nhận."

"Vậy cái giá con phải trả chính là tách biệt với Hoài Cát, tiếp tục sống cùng Lý Vĩ như lời các đại thần nói ư?"

Hô hấp của công chúa dần trở nên dồn dập, ánh lệ giấu đi ban nãy lại hiện lên, "Nhưng những vinh hoa phú quý ấy đâu phải điều con mong muốn?

Con vừa sinh ra đã là công chúa, con không có lựa chọn!

Nếu được lựa chọn, con đã chẳng mong muốn sinh ra trong hoàng gia."

"Tất cả mọi người đều không được lựa chọn."

Hoàng hậu đáp lời ngay sau đó, giọng vẫn ôn hòa, nhưng ánh mắt nhìn công chúa lại hiển lộ sự lý trí và bình tĩnh bà thường có.

"Chúng ta không thể quyết định hay thay đổi xuất thân của mình, điều chúng ta có thể làm chỉ là chấp nhận hiện trạng, thích ứng với thân phận của mình, hoàn thành trách nhiệm của chúng ta.

Chi tiêu cơm áo cả đời của nữ tử thiên gia đều không thoát khỏi thiên hạ nuôi dưỡng, được vạn dân cung phụng.

Mà yêu cầu của thần dân đối với chúng ta chính là, mọi nữ tử của chúng ta đều phải có hết thảy mỹ đức, khi chưa lấy chồng thì làm một đứa con gái hiếu thuận, sau khi xuất giá thì làm một người vợ hiền huệ, sinh con rồi lại hóa thân thành người mẹ từ ái...

Đối với họ, chúng ta không phải nữ tử bình thường mà là mỹ nhân trong tranh, hiền quyên trong sách, bồ tát trong miếu, là tượng thần cung cấp cho vợ con họ tấm gương để noi theo.

Giữ hình tượng hoàn mỹ, làm mẫu mực của nữ tử quốc triều chính là phương thức chúng ta ban ơn cho thiên hạ.

Thế nên, con không thể để lộ chân tướng thân thể máu thịt ngã vào phàm trần, nếu không họ sẽ kinh ngạc, lo sợ, thậm chí tức giận, o ép từng bước, nhất định phải thỉnh được con quay trở lại miếu thờ."

Công chúa lã chã, một mực xua tay: "Con không muốn làm pho tượng bồ tát của họ, con cũng không cần họ cung phụng, con không cần gì hết, con có thể sống nơi ngõ hẻm sơ sài ăn cơm ống uống nước gáo, miễn là họ không can thiệp vào cuộc sống của con..."

Ánh mắt hoàng hậu nghiêm lại, giọng thoáng cất cao: "Nhưng con đã được họ phụng dưỡng hơn hai mươi năm rồi!"

Công chúa ngẩn người, cụp mắt rơi lệ, không lời ứng đối.

Sắc mặt hoàng hậu dịu xuống, lại hòa nhã nói: "Người ở ngôi cao chỉ hưởng thụ phú quý tôn vinh mà không quan tâm tới trách nhiệm mà địa vị giao cho mình là đáng thẹn, ắt sẽ bị người đời phỉ nhổ.

Thân phận con cao quý, được hưởng phúc lộc trời ban, phải biết tự quý trọng lấy.

Cha con chính là một người tự biết tiếc phúc, trân trọng thân phận của mình, cũng hiểu rõ trách nhiệm mình phải gánh.

Ngài biết kiềm chế dục vọng của bản thân, nhân nhượng yêu cầu của thần dân, khoan hậu cung kiệm, kính trọng tài sĩ, tại vị đến nay mấy chục năm mà trăm họ chưa từng nghe đến tiếng can qua...

Huy nhu ý cung, hoài bảo tiểu dân, ngài đã làm được.

Vậy Huy Nhu, con thì sao?

Con có thể thông cảm cho nỗi lòng người cha của ngài không, hi sinh chút gì để không phụ kỳ vọng của ngài và vạn dân thiên hạ không?"

Lúc nói câu cuối cùng, ánh mắt hoàng hậu cố ý vô tình liếc qua ta, công chúa tức thì bất an: "Nương nương cũng bắt con tách biệt với Hoài Cát."

"Nếu con khăng khăng, cha con sẽ bảo vệ hai đứa."

Hoàng hậu nói.

Thực ra, bà chẳng qua chỉ đang trần thuật sự thật, nhưng nghe vào lại có sức mạnh lay động lòng người hơn lời can gián của bất kỳ một ngôn quan nào trên triều, "Ngài sẽ bảo vệ con, ngăn chặn lý luận sắc bén và thế công dấy lên từ đạo đức đại nghĩa, gia pháp tổ tông của ngôn quan cho con.

Nhưng nghĩ là biết thôi, chỉ cần con và Hoài Cát còn bên nhau, ngôn quan sẽ không ngừng công kích, phàm hai đứa có một chút gió thổi cỏ lay gì, thế trận triều can như hôm nay sẽ lại tái hiện, khiến cha con phải đối mặt với những công kích một đợt tiếp một đợt của họ.

Điều này sẽ khiến ngài vô cùng đau khổ, như hôm nay vậy.

Nhưng ngài vẫn sẽ bảo vệ con, bởi con là đứa con gái ngài yêu thương nhất, ngài yêu thương con thậm chí còn hơn cả yêu sinh mạng ngài."

Công chúa đầm đìa nước mắt, để tránh cái nhìn chăm chú của hoàng hậu, nàng bưng miệng, nghiêng người đi, nhưng hai vai vẫn không ngừng run rẩy, khiến động tác che giấu bi thương của nàng thu được hiệu quả rất nhỏ.

Hoàng hậu thở dài rồi nói với công chúa: "Ban đầu khi tấn phong con làm Duyện quốc công chúa, cha con từng tự mình cầm bút, thêm một câu cho con vào chế thư học sĩ đã viết xong: 'Phong tư thông ngộ, chẳng phải ngoa ngữ mỹ từ; tính chất huy nhu, là tự nhiên mà thành'..."

Lời như hãy còn, nhưng bà chẳng nói tiếp nữa, chỉ quay sang ta, phân phó: "Hoài Cát, chăm sóc công chúa cho tốt." rồi tự mình đứng dậy rời khỏi trước, đi tới điện thờ dưới lầu nơi kim thượng đang ngự.

Ta dịch bước lại gần công chúa, khẽ giọng gọi nàng.

Nàng bỗng xoay người, hai tay ôm eo ta, vùi khuôn mặt giăng đẫm ngấn lệ vào ngực ta.

"Hoài Cát, ta phải làm gì bây giờ?"

Tiếng khóc nàng nặng trĩu nghe sao tuyệt vọng, "Chúng ta đều bị vây hãm ở đây rồi!"

4.

Lục nga

Ta ôm lấy hai vai nàng, dần tăng lực siết chặt, như muốn kéo nàng thoát khỏi một vòng xoáy vô biên, nhưng đáy lòng ta lại cũng là một khoảng không trống rỗng.

Ngẩng mặt nhìn lên, ta không nhìn thấy được bất kỳ một tia sáng hay hi vọng nào.

Cuối cùng, ta chọn trở lại không gian không lối thoát này, buông tay ra, cúi người, nửa quỳ xuống trước mặt nàng, để nàng có thể ngang tầm mắt với ta, sau đó, nói với nàng: "Xin công chúa nghĩ thêm về lời hoàng hậu nói."

Nàng rưng rưng nhìn ta chăm chú: "Huynh cũng cảm thấy họ nói đúng?

Huynh cũng muốn rời khỏi ta?"

Ta trốn tránh không đáp, tìm một chủ đề khác: "Năm xưa công chúa không thích Trương quý phi là bởi bà ấy thân cư ngôi cao mà lạm dụng quyền lợi trong cung, hoành hành ngang ngược, ỷ mình đắc sủng nên đem hết thủ đoạn cả mềm cả cứng ra với quan gia, mưu lợi cầu thưởng cho mình và người nhà, lại chẳng có đức hạnh của phu nhân thiên tử.

Hôm nay nếu công chúa khăng khăng giữ thần bên mình, trong mắt người khắp thiên hạ, hành động của công chúa nhất định cũng giống như của Trương quý phi, là hành vi thất đức."

Công chúa nổi nóng: "Sao lại so ta với bà ta?

Hai chuyện khác nhau..."

"Trong mắt người ngoài thì không khác nhau."

Ta nhẫn nại giải thích với nàng.

"Không ai tận mắt trông thấy hay quan tâm đến căn nguyên và những gì đã xảy ra trong chuyện nhà công chúa, họ chỉ thấy kết quả, mà kết quả họ thấy được là công chúa không chịu tiếp tục chung sống với phò mã, khăng khăng đòi giữ kẻ nội thần ly gián công chúa và phò mã lại bên mình, vì thế mà mấy lần tự tử, uy hiếp quan gia bằng lòng..."

"Không phải như vậy!"

Công chúa kịch liệt phủ nhận, ngăn ta nói tiếp.

Ta kìm nén cảm xúc phập phồng trong lòng, bình tĩnh nhìn nàng, trần thuật rõ ràng thực tế phải đối mặt với nàng: "Những người đang bàn tán và phán xét chuyện này đều là người đứng xem ngoài xa, họ cũng chẳng thể đến gần chúng ta, tìm hiểu ngọn nguồn vụ việc, cái họ có thể nhận biết được chỉ có kết quả sau cùng.

Kết quả này bị họ cắt văn lấy nghĩa, có khả năng rất phiến diện, nhưng họ sẽ không có hứng thú và kiên nhẫn để tìm tòi chân tướng trong đó như mẫu thân công chúa, mà sẽ lập tức bị kết quả phiến diện ấy chọc giận, bởi mọi cơm áo vật dụng của công chúa đều do người trong thiên hạ cung phụng, chiếc áo lông cừu, lư hương đốt trầm của công chúa, mỗi một viên gạch mảnh ngói của phủ công chúa, cũng đều đến từ tiền thuế họ nộp, họ đương nhiên sẽ hi vọng công chúa mà mình phụng dưỡng là hiền quyên quốc bang đức hạnh hoàn mỹ chứ không phải một mụ vợ dữ dằn không giữ phụ đạo, càng không phải một đứa con gái xấu xa tin sủng nội thần, ngỗ ngược vua cha...

Mà bản thân nguyện vọng ấy thì chính đáng hợp lý."

Công chúa khóc không thành tiếng: "Vì thỏa mãn nguyện vọng của họ mà chúng ta phải mặc họ xử oan ư?

Ta phải làm một con phỗng ma hát lạc theo ý họ ư?"

Ta chỉ đáp lại bằng một tiếng cười, cười khổ.

Không như vậy thì còn có thể thế nào?

Tình cảm giữa công chúa và nội thần, bất kỳ ai không quen biết chúng ta nghe thấy cũng đều sẽ cảm thấy hoang đường nực cười.

Họ chỉ thấy một công chúa ruồng rẫy trượng phu, đòi hỏi uy hiếp phụ thân, và một nội thần khích bác ly gián, họ thậm chí còn liên tưởng đến những điều bẩn thỉu, nhưng tuyệt đối sẽ không thử tìm hiểu, càng đừng nói đến thông cảm.

"Cha, cha hiểu..."

Công chúa thút thít, nhắc đến cha mình song giọng lại yếu ớt thều thào.

Ta rầu rầu nói: "Phải, ngài biết, ngài cũng sẽ cố hết sức bảo vệ người, nhưng sự bảo vệ của ngài sẽ khiến các đại thần càng thêm tức giận, bởi mỗi khi quân vương tỏ ra sủng ái một ai đó hơn mức bình thường, đều sẽ khiến thần tử đặc biệt cảnh giác.

Khi chuyện này xuất hiện ở công chúa, họ chắc chắn sẽ liên tưởng đến tai họa thái bình, yên vui.

Hoàng đế càng bảo vệ công chúa, các đại thần sẽ càng phản đối, như hoàng hậu nói vậy, quan gia sẽ liên tục rơi vào đau khổ như hôm nay."

Công chúa lặng thinh, chỉ cúi đầu khóc nức, thật lâu sao mới lại hỏi ta: "Huynh muốn ta làm thế nào?"

Ta một tay nắm lấy tay nàng, một tay kéo ống tay áo đơn ra, nhẹ nhàng lau nước mắt trên mặt nàng như trước kia, đợi nàng có vẻ bình tĩnh hơn rồi mới hỏi nàng: "Hôm đó lúc quan gia tự thuật tình hình khi công chúa ra đời, chắc công chúa ở ngoài điện đã nghe được cả rồi phải không?"

Công chúa gật đầu, rèm mi buông rủ, lại có hai giọt nước mắt trượt xuống gò má ta vừa lau sạch.

Ta một lần nữa kéo tay áo lau vệt nước kia cho nàng, nói tiếp: "Lúc thần nghe quan gia kể vậy, thần hâm mộ công chúa lắm...

Thần mất cha từ khi còn nhỏ, mẹ tái giá với người khác, kể từ đó, thần chưa từng gặp lại bà lần nào..."

"Sau khi trưởng thành có cơ hội ra ngoài cung, huynh có thể đi tìm bà ấy mà!"

Công chúa nói.

"Sau đó thần cũng từng hỏi thăm nơi ở của bà, hằng năm cũng sẽ phái người đưa tiền bạc biếu bà, nhưng bản thân không đi gặp bà, bởi bà có sinh với chồng sau vài đứa con, bà trông thấy thần sẽ rất lúng túng, vả lại..."

Ta gượng cười với công chúa, "Thần nghĩ, không ai mong muốn thấy con mình làm hoạn giả hết..."

Công chúa trở tay nắm lấy tay ta, khẽ gọi như an ủi: "Hoài Cát..."

Ta chớp mắt, giấu đi hơi ẩm trong mắt rồi lại nói với công chúa: "Cha ta sinh ta, mẹ ta nuôi ta.

Chăm bẵm cho ta, che chở cho ta, thương ta bên ta, bế bồng dắt ta.

Muốn báo ơn này, họa trời khó tính... (*) Trong hơn hai mươi năm thần sống, thường hay có lúc cảm thấy tiếc nuối vì không thể báo đáp công ơn dưỡng dục của cha mẹ, bởi đến cơ hội ở bên họ tận hiếu thần cũng chưa từng có.

Công chúa có thể lớn lên bên cha mẹ vốn đã là phúc phận hiếm có, huống chi họ đều yêu thương công chúa như vậy...

Quan gia thường nhắc đến ân điển của Chương Ý thái hậu, mà ơn dưỡng dục của quan gia đối với công chúa, công chúa cũng sẽ không coi nhẹ đâu, phải không?"

Công chúa cúi đầu lau lệ, không đáp.

Ta đăm đăm nhìn nàng, thành khẩn khuyên nhủ: "Như trong lời bài 'Lục nga' kia, cõi đời này có hai người mà kể từ lúc mới sinh, chúng ta đã mắc nợ họ, đó chính là cha mẹ chúng ta.

Họ sinh ra và nuôi nấng chúng ta, vỗ về chúng ta, che chở chúng ta, không ngại phiền phức chăm sóc cho chúng ta, không lúc nào thôi bận lòng vì chúng ta, ân đức dành cho chúng ta mênh mông vô tận như trời biển, là ơn nghĩa chúng ta báo đáp cả đời cũng khôn hết.

Mà quan gia thì là người cha tuyệt vời nhất thần từng thấy trên đời, vì công chúa, ngài có thể dốc hết mọi thứ mình có, bằng lòng vứt bỏ không chỉ tài sản mà cả tôn nghiêm và nguyên tắc đế vương mà ngài coi trọng nhất.

Tình yêu thương ngài đối với công chúa có thể khiến mọi thứ đều thua kém, bao gồm cả chút tình cảm hèn mọn thần có thể dành cho công chúa này.

Đối mặt với một người cha như vậy, công chúa sao còn đặng khư khư cố chấp, mặc ngài tiếp tục trả giá sức khỏe, thậm chí là trả giá sinh mạng để bảo vệ chúng ta?"

(*) Bài "Lục nga" thuộc phần Tiểu nhã, Kinh Thi, đại ý là ca ngợi ơn dưỡng dục của cha mẹ và bày tỏ nỗi tiếc nuối hận mình không thể chăm sóc báo đáp lại cha mẹ cả đời.

Ta không nói tiếp, bởi nàng đã khóc không thành tiếng.

Kiên trì của nàng dần bị nước mắt xói mòn, hòa tan trong đó là vô hạn bi thương, thân mình từng chút trượt xuống đất, tay áo xòe rộng che đi cánh tay gầy guộc, tựa như một đóa hoa lụi tàn, bất cứ lúc nào cũng có thể bị mưa dập gió vùi.

Một đêm khóc lóc thảm thiết lại khiến bệnh tình nàng trở nặng, mê man trên giường hai ngày, tỉnh lại rồi, nàng cũng chẳng thiết ăn cơm hay uống thuốc, chỉ tựa vào đầu giường ngơ ngẩn thất thần.

Sau, kim thượng đích thân đến Nghi Phượng Các thăm nàng, dầu rằng chính ngài cũng tâm thần ngơ ngẩn, bước chân lảo đảo.

Ngài bảo người dâng bữa lên cho công chúa, công chúa chỉ liếc mắt rồi chán ghét quay đầu đi, không mảy may có vẻ muốn ăn.

"Không thấy ngon miệng à?"

Kim thượng mỉm cười hỏi công chúa.

Công chúa gật đầu.

Nụ cười trong mắt ngài sâu thêm, lấy một món đồ trong tay áo ra như làm ảo thuật, đưa tới trước mặt công chúa: "Nhìn xem đây là gì nào."

Công chúa cụp mắt xem, lập tức trợn tròn mắt, kinh ngạc ngước trở lại nhìn cha.

Đó là một đĩa mơ ủ.

"Cha nghe nói con không muốn ăn nên mang cái này tới.

Mơ ủ có khả năng kích thích vị giác, là món con thích ăn nhất khi còn bé...

Nhưng bây giờ chỉ được ăn hai viên thôi, sau đó ăn chút cơm, uống thuốc rồi cha sẽ đưa số còn lại cho con..."

Công chúa yên lặng nghe, chỉ trong thoắt chốc lệ đã rơi đẫm mặt.

Không đợi kim thượng nói xong, nàng thình lình vén chăn xuống giường, quỳ gối trước mặt ngài.

"Cha," Nàng ngửa mặt nhìn phụ thân đang hết sức ngạc nhiên, nhấn từng chữ rõ ràng, "Con bằng lòng chia cách với Hoài Cát."

5.

Kết tóc

Việc xử trí ta thế nào được thảo luận trong một bầu không khí ôn hòa.

Kim thượng một lần nữa cho thấy sẽ không đuổi ta ra khỏi kinh, chỉ điều đến Tiền tỉnh, nhắc lại việc cất nhắc ta làm quan chủ quản Thiên chương các, ta uyển chuyển khước từ, nói: "Xưa nay nội thần thăng bậc có trình tự cố định, nên theo thứ tự.

Thần không đủ phẩm cấp, không thể gánh trọng trách này, nếu bệ hạ gia ân đề bạt, đài gián tất sẽ có lời."

Kim thượng bèn hỏi ta: "Vậy ngươi muốn làm gì?"

Ta đáp: "Năm đó thần được điều từ Họa viện vào Hậu tỉnh, hôm nay xin bệ hạ cho phép thần trở lại nơi ấy.

Cũng không cần cho thần chức quan gì cả, thần có thể làm một nội thị hoàng môn bình thường ở Họa viện, ngày ngày chỉnh lý tranh vẽ bản phác của các họa sư, vậy đã là như nguyện rồi."

Thế nên, chuyện này được quyết định như vậy.

Ta từ quan chủ quản phủ công chúa ban đầu bị điều ra Tiền tỉnh làm nội thị hoàng môn trong Họa viện, giáng liền mấy cấp, lại cách xa hậu cung, trong mắt người ngoài cũng không khác nào bị trừng phạt nghiêm khắc, thế nên sau khi ý chỉ được tuyên bố, đài gián cũng chịu chấp nhận, không nhắc lại chuyện biếm trục ta nữa.

Trong khoảng thời gian này, Lý Vĩ đã rời kinh đi Vệ Châu, có lẽ là do hắn nhờ cậy mớm lời, huynh trưởng hắn Lý Chương dâng tấu thỉnh cầu kim thượng cho phép Lý Vĩ và công chúa ly dị: "Vĩ ngu dốt, không xứng đội thiên ân.

Xin ban cho đoạn tuyệt."

Đế hậu thử hỏi lại ý kiến công chúa, ta cũng mang bức họa của Lý Vĩ ra đưa cho công chúa, tự thuật tình hình trước sau sự việc Lý Vĩ uống rượu ngự, công chúa xem bức họa rồi sai người thu cất, nhưng vẫn lắc đầu: "Ta biết anh ta là người tốt, nhưng lại chẳng thích hợp với ta.

Chúng ta như hai càng xe gỗ bị buộc vào hai bên thùng xe, nhìn như có thể cùng đi qua thiên sơn vạn thủy, nhưng mãi mãi sẽ không bao giờ có ngày giao ngộ."

Vì thế, ngày Nhâm Tý tháng Ba năm Gia Hựu thứ bảy (*), kim thượng tuyên bố giáng chức Lý Vĩ từ phò mã đô úy xuống làm Kiến Châu quan sát sứ.

Đồng thời, để cho công bằng, ngài cũng hạ Duyên quốc công chúa xuống làm Nghi quốc công chúa, giảm tước ấp bổng lộc theo ý Tư Mã Quang.

(*) Ngày 5 tháng 3 âm lịch năm 1062.

Tước hiệu gia phong của công chúa quốc triều cũng giống như danh hiệu của mệnh phụ, tên nước khác nhau, tước ấp được nhận cũng khác nhau, Nghi quốc kém xa Duyện quốc, có điều, hình phạt này cơ hồ chẳng có ảnh hưởng gì tới công chúa, đối với nàng của hiện tại, cái không quan trọng nhất chính là danh vị tiền tài.

Kim thượng ôm lòng áy náy với Lý thị, tuy Lý Vĩ mất chức phò mã đô úy, song ân lễ kim thượng dành cho hắn vẫn không giảm, lại ban cho hai trăm lượng hoàng kim, sai người truyền lời tới hắn: "Phú quý người phàm cũng không nhất thiết là làm chồng công chúa."

Tất thảy bụi bặm lắng xuống, cũng đã đến lúc ta phải nói lời từ biệt với công chúa.

Một đêm trước khi ta rời khỏi gác công chúa, công chúa khẩn cầu Miêu hiền phi hết lời, xin cho ta lại bầu bạn với nàng một đêm, để hai chúng ta một mình, trò chuyện buổi cuối.

Thấy Miêu hiền phi do dự, công chúa nở nụ cười thăm thẳm, ánh mắt hiu quạnh: "Tỷ tỷ, sáng mai khi mặt trời mọc, con và Hoài Cát sẽ không còn gặp lại nhau cả đời này nữa rồi."

Chúng ta đã ước hẹn từ trước với nhau, một khi đã tách biệt thì về sau sẽ không nghĩ cách gặp lại nhau nữa, dẫu là lễ tết hội mừng cũng không gặp, đây vừa là để tuân thủ cam kết với kim thượng, cũng là để tránh cảm xúc khó nén sau khi gặp nhau.

Nghe con gái nói vậy, Miêu hiền phi cũng cầm lòng không đậu đỏ hoe mắt, bèn gật đầu đồng ý yêu cầu của nàng.

Đêm ấy sông Ngân xiết ánh, hiên ngọc vắng bụi.

Ta và công chúa sóng vai ngồi trước bậc thềm trong hiên, chuông gió treo dưới mái hiên lanh canh, thềm hương chất đống lá đỏ, gió nổi lên, nàng mảnh mai co ro, ta giương tay áo che cho nàng, nàng cũng tựa khẽ vào ngực ta, chúng ta chỉ tựa vào nhau như vậy, nhìn sân trống bảng lảng sương khói, nhìn trăng sáng như nước tràn khắp lầu gác, im lặng hồi lâu, chỉ nghe tiếng đồng hồ nước xa xăm.

Lúc này đào mận điêu linh, hoa mai đã tàn, nhưng lại có một khóm hải đường đang nở rộ thắm đỏ trong bóng râm cây hòe giữa đình, giàn đồ mi bên tường cũng đơm bông trắng xóa, gió nhẹ thoảng qua, hương thơm miên man.

Công chúa trông mà nổi hứng, gỡ miện sa màu trên đầu xuống, đi vào sân hái hoa cài lên miện.

Ta cũng theo nàng qua đó, lựa những đóa hoa tươi đẹp cho nàng dùng trang trí miện.

Chỉ một loáng, miện nàng đã cắm đầy những bông hải đường đồ mi đỏ đỏ trắng trắng.

"Có giống miện hoa tân nương không?"

Nàng mỉm cười nâng miện lên hỏi ta...

Chiếc miện ấy rực rỡ gấm hoa, như sa lụa nhuộm đỏ, quả thật giống miện hoa dùng trong hôn lễ đến mấy phần, ta bèn mỉm cười gật đầu với nàng.

Hai mắt nàng sáng rỡ, bỗng nêu lên một đề nghị: "Bây giờ ta đội nó lên, bái đường cùng huynh có được không?"

Ta vô cùng khiếp sợ, nhìn nàng câm nín.

"Ta nghe Gia Khánh Tử kể lại hôn lễ của em ấy với Thôi Bạch, thú vị lắm, nghi thức không giống lúc ta hạ giáng."

Nàng nói, thần sắc mang vẻ ước ao.

Nghi thức hôn lễ của nàng là do các học sĩ dẫn đầu là Âu Dương Tu định ra theo Chu Lễ, mang hơi hướm lễ chế cổ xưa, quả thực rất khác hôn lễ của bách tính phố phường.

"Ta cũng muốn có hôn lễ như của em ấy...

Cưới Lý Vĩ hồi đó là công chúa, bái đường với Hoài Cát bây giờ là Huy Nhu..."

Nàng buông thấp rèm mi, nhẹ giọng thẹn thùng hỏi: "Hoài Cát, huynh có bằng lòng không?"

Sau cùng, ta ưng thuận nàng.

Trước đó Miêu hiền phi đã bình lui tất thảy người hầu theo yêu cầu của công chúa, hiện giờ trong gác công chúa chỉ có ta và nàng.

Huống hồ, dẫu có bị ai nhìn thấy cũng đâu có làm sao.

Đã đến lúc này rồi, còn có thể có kết quả tệ hơn nữa ư?

Dù là cái chết, đối với ta cũng chẳng có sức uy hiếp gì nữa rồi.

Thế là, nàng hí hửng đội miện hoa lên, lại vào phòng tìm một tấm vóc màu ra, buộc thành đồng tâm kết, để ta và nàng mỗi người cầm một đầu, vắt lên tay, ngược lại, là nàng từ từ dắt ta vào gác ngủ.

"Đây gọi là 'dắt khăn'."

Nàng nói với ta.

Sau đó, chúng ta bái lạy nhau trong phòng rồi ngồi xuống giường đối diện nhau.

Ta kéo một lọn tóc ra cắt xuống theo chỉ thị của nàng, nàng cũng làm tương tự, kế tiếp dùng tơ sợi buộc tóc chúng ta vào với nhau, cũng thắt thành hình đồng tâm kết.

Ta quan sát động tác của nàng, bỗng ý thức được, đây là lễ "hợp kế", dân gian gọi là "kết tóc", là nghi thức quan trọng trong hôn lễ trăm họ.

Năm xưa khi công chúa hạ giáng, Âu Dương Tu nói lễ hợp kế "không biết có nguồn gốc từ kinh nghĩa nào, không đủ tiêu chuẩn làm lễ pháp đời sau", thế nên hôn lễ của công chúa và Lý Vĩ thiếu đi chi tiết này.

Công chúa lại bảo ta lấy hai chén rượu bạc tới, dùng dải lụa màu nối liền chúng với nhau rồi cùng ta uống một chén, đây chính là "rượu giao bôi" dân gian nhắc đến.

Uống xong, nàng nói với ta, chúng ta phải ném chén rượu và miện hoa xuống dưới giường, sau đó nhìn xem chén rượu ngửa sấp ra sao, nếu một ngửa một sấp thì là "đại cát".

Ta làm theo lời nàng, cùng nàng ném chén rượu và miện hoa xuống.

Nàng rất để ý kết quả, giục ta xuống giường xem chén rượu, ta kiểm tra, phát hiện ra kết quả không được như ý, cả hai chén rượu đều úp miệng xuống mặt đất.

"Thế nào?"

Thấy ta không trả lời, nàng cau mày khẩn trương hỏi.

"Đẹp lắm, một ngửa một sấp."

Ta mỉm cười đáp nàng, cùng lúc đó, lặng lẽ thò tay xuống dưới giường, lật một chén rượu cho miệng chén hướng lên.

Nàng vẫn không yên tâm, tự mình xuống giường kiểm tra, thấy đúng là một ngửa một sấp mới thở phào nhẹ nhõm, rạng cười hài lòng.

Lược bỏ phân đoạn tân khách chúc mừng, tiếp sau chính là "khép màn", hai ta đều tự rõ trong lòng, để nguyên quần áo song song nằm trên giường, giữa hai người duy trì một khoảng cách chừng nửa thước, tạm thời đều không chạm vào nhau.

Yên lặng một lúc lâu, nàng hỏi ta: "Hoài Cát, bây giờ là giờ nào rồi?"

"Chắc là canh ba."

Ta đáp, lại nói, "Công chúa ngủ sớm đi thôi."

"Ta không ngủ đâu."

Nàng thở dài ảm đạm: "Ta sợ lúc tỉnh lại, huynh đã không còn bên cạnh ta nữa rồi."

6.

Áo suông

Lời nói nhạt nhùng mà sao nghe vào khiến lòng ta tang tóc, nghiêng đầu nhìn nàng, thấy trong mắt nàng gợn sóng loang loáng, lăn tăn trong ánh nến hồng.

Thời gian còn lại để hai ta bên nhau không nhiều, ta không hi vọng kết cục sau cùng lại là cầm tay nhìn nhau mắt đẫm lệ, thế nên, ta mỉm cười với nàng: "Công chúa, sau này thần cũng sẽ trông giữ bên người."

Nàng đưa mắt nhìn ta, tỏ vẻ hoang mang.

"Thần vẫn sẽ bầu bạn với người," Ta nói với nàng, "Khi người ngắm trăng, trong một hốc xó nào đó trong cung đình này, thần cũng sẽ ngắm cùng một vầng trăng với người; khi người dạo chơi ngoài vườn, thần sẽ đứng ngoài tường cung nơi ngọn gió lướt qua người thổi đến, có thể ngửi được hương hoa thoảng qua bên thân người; khi người luyện không hầu, thần vẫn ở cách người không xa, có lẽ cũng đang cầm sáo, thổi cùng một nhạc khúc với người...

Tuy chẳng thể như bóng với hình như trước đây..."

"Bóng nằm dưới chân công chúa, Hoài Cát trong lòng công chúa."

Công chúa bỗng tiếp lời, nhắc tới câu nói đùa khi xưa, điều này khiến lòng ta rung lên, trong cơn ngơ ngác, quên khuấy mất lời vốn định nói.

Nàng nghiêng người dựa gần vào ta, thầm thì: "Giữa hậu cung và Tập Anh Điện chỉ cách nhau một bức tường cung, trong cung uyển có một cây đào rất cao, cành lá vươn ra ngoài tường.

Sau này vào tiết lập xuân, hoa triêu, hàn thực, đoan ngọ, thất tịch, trùng dương, lập đông hằng năm, ta sẽ đích thân cắt lụa màu thành dải hoa, treo lên cây đào ấy.

Vào mỗi ngày lễ đó, huynh đến bên ngoài Tập Anh Điện xem, nhìn thấy dải hoa là như thấy ta."

Ta gật đầu ứng lời.

Cảm giác ngữ điệu nàng âu sầu, thân mình đang run lên nhè nhẹ, bèn nắm tay nàng, mượn hành động này truyền sự an ủi không lời và hơi ấm của ta cho nàng.

Nàng tựa vào ta một chốc, lại hỏi: "Hoài Cát, huynh nói xem, con người có kiếp sau không?"

Ta đáp: "Chắc là có.

Người chết rồi có lẽ cũng như đi ngủ vậy, đến khi tỉnh lại thì đổi sang một thân thể và thân phận khác, có thể bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới."

"Nếu vậy, kiếp sau, huynh nhất định phải tìm được ta đó."

Nàng hạ cho ta một mệnh lệnh dịu dàng, ngẫm ngợi đôi lát, lại nói, "Kiếp sau, ta chắc chắn sẽ không phải công chúa, chỉ là một cô gái váy vải trâm gỗ con nhà thường dân mà thôi...

Huynh thì quá nửa sẽ là một thư sinh bận áo dài trắng...

Một hôm nào đó, ta xách giỏ đi hái dâu, huynh tay cầm roi tơ, cưỡi ngựa quý, đi qua con đường ruộng nơi ta đến hái dâu, nhặt được bông hoa điền ta đánh rơi..."

Nàng tưởng tượng cảnh tượng lúc ấy, khóe miệng không khỏi nở hé nụ cười.

Ta cũng cười theo, song vẫn không quên nhắc nhở: "Nếu công chúa là cô gái hái dâu váy vải trâm gỗ thì chắc chắn sẽ chẳng dư tiền mà mua hoa điền đâu."

"Vậy à..."

Nàng phiền não nhíu mày, rất lấy làm thất vọng khi cảnh tượng thường được miêu tả trong thi từ này chẳng dễ gì thực hiện.

Suy đi nghĩ lại, nàng vẫn chưa chịu từ bỏ tình tiết xếp đặt ban đầu, đưa ra một phương án giải quyết: "Ta có thể dậy sớm về muộn, hái thêm chút lá dâu, kiếm nhiều thêm ít tiền, vậy là mua được hoa điền rồi."

Một ý nghĩ lóe lên trong đầu, ta cố ý trêu nàng: "Vậy người nhất định phải cố lên đấy, không ngủ không nghỉ liền mấy ngày đêm, hái thêm nhiều lá dâu, kiếm nhiều tiền một chút, mới đủ mua hai hộp hoa điền..."

Nàng lấy làm khó hiểu: "Sao lại phải mua hai hộp?"

"Một hộp người dán lên mặt, hộp còn lại rắc lên con đường thần chuẩn bị đi qua chứ sao."

Ta nghiêm chỉnh giải thích, "Vì người nóng lòng muốn lấy thần nên chỉ làm vậy mới có thể bảo đảm thần sẽ nhặt được bông hoa điền người 'đánh rơi'...

Ái ui..."

Tiếng "ái ui" này là bởi nàng hung dữ cấu ta.

"Ai muốn lấy huynh?"

Nàng không cam lòng hỏi vặn lại.

Ta cười, đáp: "Ồ, thế hóa ra vừa nãy là thần nằm mơ, mơ thấy có người hỏi thần có bằng lòng bái đường với nàng không..."

Nàng vừa thẹn vừa giận, đạp ta một cước không nhẹ không nặng, sau đó xoay người xây lưng về phía ta, còn cố gắng kéo xa khoảng cách, giả bộ tức giận không để ý tới ta.

Bấy giờ ta mới nín cười, gọi khẽ nàng hai tiếng, nàng vẫn bất động, ta bèn mon men lại gần nàng, dịu dàng nói bên tai nàng: "Được rồi, thần thừa nhận, là thần nóng lòng muốn cưới người nên cả ngày cưỡi ngựa xớ rớ sau lưng người...

Còn cầm một cái quạt to, ra sức quạt gió về phía người..."

Nàng quả nhiên kinh ngạc, không nhịn được mở miệng: "Sao lại phải quạt gió?"

"Vì muốn hoa điền của người mau chóng rơi xuống chứ sao."

Nàng phì cười, rốt cuộc cũng chịu xoay người trở lại đối mặt với ta: "Kiếp sau mà huynh còn huyên thuyên chọc tức ta như thế, ta sẽ phạt huynh quỳ gạch vỡ hằng ngày."

Ta ra chiều đau buồn, than thở: "Thảm vậy cơ à?

Kiếp này thần cũng đành chịu, nhưng chẳng lẽ kiếp sau cũng bị người nô dịch?"

Đại khái là lo lời nói mới rồi làm tổn thương tự tôn của ta, nàng lập tức bổ sung: "Ta nói là huynh chọc tức ta ta mới đối xử với huynh như thế, huynh ăn ở tử tế thì ai hành hạ huynh làm gì?"

Thấy ta không bày tỏ thái độ gì, nàng lại miêu tả cho ta nghe một tiền đồ tốt đẹp: "Ta sẽ rất tốt với huynh...

Lúc huynh học bài, ta sẽ đốt lư hương cho huynh; lúc huynh viết chữ, ta sẽ mài mực cho huynh; lúc huynh vẽ tranh, ta sẽ pha màu cho huynh...

Khi nào huynh mệt mỏi, muốn hoạt động gân cốt, múa kiếm hoặc chơi ném bình, ta sẽ ở bên đàn không hầu cho huynh..."

Tưởng tượng cảnh đó, ta không khỏi bật cười: "Ồn ào chết mất."

Nàng trợn mắt nguýt ta: "Cái đồ đàn gảy tai trâu!"

Hứng thú cũng không vì thế mà giảm bớt, nàng lại ngửa mặt nhìn lên trên, chúm chím mơ mộng, "Thanh minh hàn thực, chúng ta cùng ra ngoài du xuân ngắm hoa; thất tịch trung thu, chúng ta có thể cùng ngồi dưới hiên nhà ngắm trăng xem sao...

Những lúc như vậy, huynh nhất định sẽ nổi hứng làm thơ, vậy ta sẽ..."

Ta không đợi nàng nói hết đã lập tức tiếp lời: "Người ngồi bên cạnh ăn khoai sọ."

Nàng ngồi dậy, hai tay giơ một cái gối gấm lên, đập loạn xuống đầu xuống mặt ta, phẫn nộ nói: "Ta là nói ta sẽ xướng họa cùng huynh!"

Ta vốn định tiếp tục chòng ghẹo nàng, nhưng đã cười đến hết hơi nói tiếp.

Nàng trừng ta hồi lâu, sau cùng khóe miệng nhếch lên, vẻ giận rốt cuộc chẳng giữ được nữa, tức thì mất tăm, nàng lại nằm xuống bên cạnh ta, ôm một cánh tay ta, vùi mặt vào ống tay áo ta, cũng cười không dứt.

Nghe chuỗi tiếng cười lanh lảnh của nàng, nụ cười của ta dần tan biến trong khoảng không nơi ánh mắt nàng chẳng chạm đến.

Mấy ngày nay, ta đã thấy nàng rơi quá nhiều lệ, thật mừng xiết bao khi bây giờ chúng ta vẫn còn có thể có một khoảng thời gian vui vẻ như thế này, hi vọng cái cuối cùng ta để lại cho nàng là nét mặt tươi cười rạng rỡ của ta, còn những bi ai và đau đớn không thể nào xóa nhòa kia, hãy tạm thời để chúng chìm xuống đáy lòng, trước khi ta rời khỏi nàng, tuyệt đối không thể để nàng nhìn thấy trong con ngươi ta.

Sau đó nàng cười suốt, cho đến khi mỏi mệt mới mơ mơ màng màng thiếp đi trong lòng ta.

Ta ôm nàng, nhưng không nhắm mắt ngủ.

Đợi đến khi trăng mờ sao đổi, đèn tắt khói lụi, ta lặng lẽ đứng dậy, định rời đi bây giờ, song lại phát hiện ra một đoạn ống tay áo đang lót làm gối dưới má công chúa, không tiện rút ra.

Ta định nâng đầu nàng lên rồi mới dời tay áo đi, nhưng lại nghĩ gần đây tinh thần nàng không an, ngủ dễ bừng tỉnh, động chạm như vậy quá nửa sẽ khiến nàng tỉnh lại.

Ta bèn một tay để nguyên vị trí cũ, tay kia cởi vạt áo ra, rút tay này ra trước, cẩn thận rụt người thoát đi tấm áo trong này, cuối cùng mới trượt bàn tay bất động ra khỏi tay áo công chúa đang gối.

Làm vậy, ta có thể thoát thân rời đi, mà công chúa cũng vẫn có thể gối ống tay áo ấy mà ngủ tiếp.

Ta đứng lặng trước giường nàng hồi lâu, lặng im ngắm nàng, muốn khắc sâu dáng vẻ nàng lúc này vào tâm khảm.

Chốc sau, tiếng đồng hồ nước lại vang lên, đã là canh tư, ta phải rời đi.

Chậm rãi cúi người, ta in lên vầng trán nàng một nụ hôn mềm nhẹ.

Nàng như cảm nhận được, rèm mi thoáng rung rung, nhưng đến cùng vẫn không tỉnh lại.

Tay vô thức xoa xoa vạt trước tấm áo suông, nàng lại nghiêng mình kề về phía đó, tựa như vẫn đang tựa trong lòng ta.

Gối lên tấm áo suông còn vương hơi ấm của ta, bờ môi nhoẻn nụ cười nhẹ nhàng, vẻ mặt nàng ngủ say yên bình điềm tĩnh nom như trẻ con vậy.

Đó là hình ảnh cuối cùng nàng để lại cho ta trong cuộc đời này.

Năm ấy, nàng hai mươi lăm tuổi.

7.

Thục phi

Ta trở lại Hàn lâm đồ họa viện, làm một nội thị hoàng môn tầm thường, làm cùng một công việc như khi còn niên thiếu, ngày ngày lặng lẽ sắp xếp tranh họa, xử lý tạp vụ cho các họa sư, hết thảy như chẳng có gì khác biệt, trừ việc biết rằng thi thoảng mình đi qua ai người ấy sẽ chỉ trỏ sau lưng ta.

Kể từ lúc trở về Tiền tỉnh, ta chưa một lần gặp lại kim thượng, nhưng đến tháng Tám năm Gia Hựu thứ bảy, ngài bỗng tự mình tới Họa viện tìm ta, đi tới như dạo chơi, bên người chỉ dẫn theo hai cận thị.

Ngài triệu ta vào một phòng vẽ yên tĩnh, xua lui người hầu, mệnh ta đóng kín cửa rồi mới mở miệng hỏi: "Ngươi và Thôi Bạch là bạn tốt phải không?"

Ta gật đầu thưa dạ, sau đó, ngài chầm chậm lấy từ trong tay áo ra một cuộn văn thư đưa cho ta, không nói một lời.

Ta nhận lấy mở ra xem, không khỏi kinh hãi – đó là bức thiếp ướm lời ta thay Thôi Bạch gửi cho Thu Hòa, dùng trong ăn hỏi, bên trong viết tên húy ba đời và bát tự sinh nhật của Thôi Bạch.

"Hiện giờ Đổng nương tử đang ốm rất nặng, nằm liệt giường không dậy nổi, một nội nhân sắp xếp lại tráp hộp cho nàng đã phát hiện ra thiếp ướm lời này trong góc sâu nhất."

Kim thượng mặt không biến sắc nói.

Ta lập tức quỳ xuống, dập đầu nói: "Đổng nương tử tuy từng có hôn ước với Thôi Bạch nhưng đó là vào trước khi nương tử hầu hạ quan gia, sau đó họ hoàn toàn không qua lại nữa, mong quan gia minh giám, chớ giáng tội họ."

Kim thượng nhìn ta, hỏi hờ hững: "Thiếp ướm lời này là ngươi mang vào cung?"

Ta thừa nhận, cúi đầu đáp: "Thần tự biết hành động này vi phạm cung quy, tội không thể tha, xin quan gia trách phạt, chỉ mong quan gia khoan thứ cho Đổng nương tử và Thôi Bạch, đừng truy cứu chuyện này."

Đoạn, ta chắp tay hành lễ với ngài, rạp mình bái lạy.

Ngài thở dài, nói: "Ngươi hãy bình thân đi.

Hôm nay ta tới đây chỉ là để chứng thực chuyện này, không phải để truy cứu xử phạt ai."

Ngài thu lại bức thiếp trong tay ta, tự mình xem, bất đồ hỏi ta: "Bức thiếp này đưa cho nàng khi nào?"

Ta bẩm đúng sự thật: "Cuối năm Khánh Lịch thứ bảy ạ."

"Cuối năm Khánh Lịch thứ bảy..."

Kim thượng như đăm chiêu điều gì.

Đại khái là nhớ đến biến cung loạn xảy ra sau đó, ánh mắt ngài ảo não quá đỗi, nhân quả trong đó đối với ngài cũng chẳng quá khó khăn để suy rõ.

"Khó trách, nhiều năm qua nàng vẫn luôn không vui..."

Ngài lẩm bẩm, sau đó bảo ta lấy hộp diêm tới, châm lửa đốt thiếp ướm lời, lặng thinh nhìn nó hóa thành tro bụi, rồi đứng dậy đi ra ngoài.

Thấy bước chân ngài loạng choạng, ta tiến lên dìu ngài, ngài cũng không cự tuyệt, để ta dìu đỡ tới gần nhà hông mé tây Họa viện, lại nghe phía trước cách đó không xa có tiếng người ồn ào như đang tranh luận việc gì.

Người nói là hai vệ sĩ.

Cận thị đi cùng định tiến lên nhắc nhở họ quan gia giá lâm, song kim thượng khoát tay ngăn lại, tự mình bước lên trước hai bước, nấp sau một cột trụ hành lang, nghe hai vệ sĩ trò chuyện.

Vệ sĩ Giáp nói: "Đời người nghèo sang là do số.

Số mạng có thời ắt sẽ có, số mạng chẳng đến chớ cưỡng cầu, ấy là danh ngôn chí lý, không thể không tin."

Vệ sĩ Ất bèn cãi: "Nói vậy không đúng.

Người trong thiên hạ nghèo sang là do quan gia quyết định.

Hôm nay anh làm tể tướng, ngày mai quan gia hạ một thánh chỉ là có thể lập tức tước chức giáng anh xuống làm thất phu bình dân: Hôm nay anh giàu ngang cả nước, ngày mai quan gia không vui, có thể tịch thu hết sạch tài sản của anh đến manh chiếu cũng chẳng còn.

Thế nên quan gia mới là thiên hạ chí tôn, có quyền sinh sát ban đoạt."

Hai người tiếp tục tranh luận, không ai thuyết phục được ai, cãi đến đỏ mặt tía tai.

Kim thượng nhìn trong mắt, cũng không xuất hiện phán xét mà quay trở lại phòng vẽ, mệnh ta lấy bút mực phong thư tới, tự tay ngự phê: "Ai tới trước, bảo tấu cấp sự (*) báo lại gia ân."

Hai bức cùng một câu, chia ra bỏ vào bao thư, sau đó gọi hai vệ sĩ kia tới, trước mệnh Ất mang một bao tới Nội Đông Môn ty, chờ một lúc, ước đoán Ất đi được nửa đường rồi, lại mệnh Giáp mang bao thư còn lại đi kế sau.

(*) Bảo tấu là bảo đảm và tiến cử, bảo tấu cấp sự là chức quan tiến cử người dùng cho hoàng đế.

Kim thượng nán lại trong sân Họa viện chờ.

Chiếu theo an bài của ngài, hẳn phải là Ất tới trước, đợi Nội Đông Môn ty xác nhận rồi gã sẽ được gia ân bổ quan, nhưng lát sau, Nội Đông Môn ty phái người tới bẩm, ấy vậy mà lại bảo tấu gia ân cho Giáp.

Kim thượng ngạc nhiên, hỏi nguyên do trong đó, câu trả lời là Ất chạy quá nhanh, đến nửa đường bị trẹo chân, kết quả để Giáp vượt mặt, thế nên người tới trước là Giáp.

Kim thượng nghe rồi im lặng hồi lâu, sau cùng thở dài thườn thượt: "Quả nhiên do số!"

Hôm sau, ngài lệnh hàn lâm học sĩ Vương Khuê thảo chiếu, chính thức lập con nuôi Triệu Tông Thực làm hoàng tử, ban tên "Thự" cho hoàng tử.

Nghe nói Vương Khuê từng hỏi ngài có muốn chờ thêm, xem xem liệu tần ngự hậu cung có thể sinh hạ hoàng tử hay không, kim thượng ngán ngẩm đáp: "Nếu trời chịu cho trẫm con trai thì Dự vương đã chẳng chết yểu."

Sau khi phát hiện sự tồn tại thiếp ướm lời, kim thượng chẳng những không trách tội Thu Hòa mà còn thăng cô làm sung viện trong tháng Chín.

Hoàng tử đã lập, kim thượng theo lễ chế ngự giá minh đường (*) ở ngoại ô, cúng tế trai giới.

Trong khoảng thời gian ấy, bệnh tình Thu Hòa trở nặng, không đợi được kim thượng về cung đã từ trần.

Lúc hấp hối, cô khẩn cầu hoàng hậu đừng sai người báo tin bệnh mình nguy kịch cho kim thượng, nói: "Thiếp bất hạnh chết sớm, không có phúc tiếp tục hầu hạ quan gia và hoàng hậu.

Mấy ngày nay quan gia bận bịu việc nước, lại đang trong kỳ trai giới, xin chớ nói quan gia hay chuyện này, tránh ngài ưu phiền khổ sở, tổn hại tâm thần."

(*) Công trình kiến trúc long trọng nhất đế vương xây thời cổ đại, là nơi tổ chức những hoạt động cúng tế quan trọng.

Hoàng hậu ứa lệ bằng lòng, không báo tin dữ đến trai cung.

Kim thượng hồi cung, thấy Thu Hòa đã hương tiêu ngọc vẫn, chẳng thể hồi sinh, tức thì sầu bi, ngừng lên triều đích thân khoác áo gai để tang cô, khóc rống trước linh cữu.

Lúc truy điệu, kim thượng tuyên bố truy phong Thu Hòa làm uyển nghi, qua hai ngày, kim thượng càng thêm đau buồn thương tiếc, lại truy phong Thu Hòa làm thục phi, còn đặc biệt thăng bốn người gồm cha cô cùng em cháu ông làm quan.

Có lẽ kim thượng vẫn cảm thấy như vậy chưa đủ để bày tỏ mong muốn bù đắp thiệt thòi cho Thu Hòa, ngài lại mệnh hạ thần định thụy hiệu cho Thu Hòa, đó là việc xưa nay chưa từng có, quốc triều chỉ có hoàng hậu mới có thụy hiệu, phi tần chưa bao giờ được hưởng đãi ngô này, hơn nữa, kim thượng còn đồng thời tuyên bố hành sách lễ thục phi cho Thu Hòa, ngày hạ táng dành cho cô lỗ bộ nghi trượng mà chỉ người có quân công mới được hưởng.

Sau Ôn Thành, ngài chưa từng thể hiện buồn thương sâu nặng như vậy với sự qua đời của bất kỳ tần ngự nào, điều này lại khiến Tư Mã Quang chú ý.

Y dâng tấu ra sức can gián kim thượng bỏ việc thụy hiệu và sách lễ cho Đổng thục phi, ngày hạ táng cũng không cấp lỗ bộ, phàm tổ chức tang sự tất sẽ có hao tổn, không cần tận lễ nhất phẩm...

"Lấy đó hiển minh bệ hạ nhẹ tình nữ sủng coi trọng con dân."

Kim thượng không tiếp nhận gián ngôn của Tư Mã Quang ngay, làm trong ngoài kinh thành bàn tán xôn xao, đều suy đoán xem lần này vua tôi ai sẽ là người thỏa hiệp.

Sau, nghe nói người phá vỡ bế tắc ấy là hoàng hậu, bà khuyên kim thượng: "Thục phi thùy mị hiền hậu, tính tình không màng danh lợi, không tranh với đời.

Khi em ấy còn sống, bệ hạ từng nhiều lần muốn thăng vị cho em ấy, mà lần nào em ấy cũng chối từ, cũng là bởi ngưỡng mộ thánh đức của bệ hạ nên một lòng tuân theo tác phong cung kiệm quả dục của bệ hạ.

Mà nay bệ hạ gia ân đến tận bậc này, thục phi hiền đức, đương nhiên hoàn toàn xứng đáng, song ân sủng bệ hạ quá thịnh lại chẳng phải điều em ấy mong cầu.

Nếu thục phi còn tại thế, tất sẽ lại kiên quyết từ chối sách lễ, mà thụy hiệu lỗ bộ, thục phi dưới suối vàng nếu hay cũng sẽ càng khó an lòng."

Kim thượng hồi tưởng tác phong khi Thu Hòa còn tại thế, cũng đồng ý với quan điểm của hoàng hậu, bấy giờ mới từ bỏ chuyện sách lễ thụy hiệu lỗ bộ, không nhắc tới nữa.

Sau chuyện của công chúa, tâm lực kim thượng đã kiệt, già đi rất nhiều.

Hiện giờ Thu Hòa qua đời, đối với ngài lại là một lần đả kích nặng nề nữa, tàn phá sức khỏe của ngài, huống chi, kể từ lúc lập xong hoàng tử, ngài tựa hồ chẳng còn thiết tha gì với nhân sinh.

Sức khỏe ngày một xấu đi, tinh thần ngài cũng ngày một sa sút, có lần ta trông thấy ngài từ xa ngoài Tập Anh Điện, phát hiện ngài võ vàng hốc hác, râu tóc điểm bạc, thân hình hoàn toàn là dáng vẻ già cả, mà kỳ thực ngài lúc này cũng mới chỉ năm mươi ba.

Tháng Mười một năm ấy, trong cung truyền ra tin tức Lý Vĩ phục chức phò mã đô úy.

Nghe nói đây là ý định kim thượng nói với công chúa khi nằm trên giường bệnh, trước sau ngài vẫn luôn hi vọng con gái hồi tâm chuyển ý, tiếp tục làm dâu nhà họ Lý.

Mà công chúa cũng bằng lòng hợp lại với Lý Vĩ trên danh nghĩa, nhưng yêu cầu được tiếp tục ở lại trong cung, không trở về phủ công chúa chung sống với Lý Vĩ.

Ta có thể đoán được suy nghĩ của nàng.

Nàng đã sớm chẳng còn hi vọng có thể nên duyên với bất kỳ ai, thế nên để Lý Vĩ khôi phục danh vị phò mã cũng chẳng phải chuyện khó chấp nhận, miễn là thân phận phu quân của hắn vẫn chỉ dừng lại ở trên danh nghĩa.

Vì vậy, kim thượng lập tức hạ chỉ, tiến phong Nghi quốc công chúa làm Kỳ quốc công chúa; Kiến Châu quan sát sứ, tri Vệ Châu Lý Vĩ thăng làm An Châu quan sát sứ, phục chức phò mã đô úy.

Đêm Tân Mùi tháng Ba năm Gia Hựu thứ tám (*), kim thượng băng hà tại Phúc Ninh Điện.

(*) Tức ngày 29 tháng 3 âm lịch năm 1063.

Ban ngày hôm ấy, người trong cung không hề cảm thấy ngài có gì không ổn, tuy có bệnh trong người, song ăn uống sinh hoạt của ngài hãy còn rất yên bình.

Ban đêm đi ngủ không được bao lâu, ngài đột nhiên tỉnh giấc, kêu người hầu lấy thuốc, lại luôn miệng giục cận thị lập tức cho vời hoàng hậu tới.

Theo lời người hầu trong Phúc Ninh Điện kể lại, lúc hoàng hậu vào điện, kim thượng đã bải hoải rệu rã, đến nói cũng chẳng nên lời, trông thấy hoàng hậu, nước mắt ngài chảy xuống, dùng ngón tay chỉ vào tim mình.

Hoàng hậu vội cho gọi y quan đến chẩn bệnh, thử hết mọi phương pháp cấp cứu đốt ngải, dâng thuốc, song vẫn hết đường xoay chuyển.

Hoàng hậu luống cuống, cuối cùng chỉ đành ngồi ở đầu giường ngài, ôm ngài, nhỏ giọng rủ rỉ bên tai ngài vài lời người khác không cách nào nghe rõ.

Đến nửa đêm, kim thượng buông tay hoàng hậu trong ánh mắt rưng rưng của bà, vĩnh biệt cõi đời.

Sau khi y quan xác nhận kim thượng băng hà, nội thần trong điện muốn mở cửa cung triệu phụ thần vào, lúc này hoàng hậu lau sạch nước mắt, đứng dậy, nghiêm giọng quát ngăn: "Lúc này há có thể mở cửa cung giữa đêm!" rồi mật dụ phụ thần vào cung ngay khi hửng sáng.

Kế tiếp, bà gọi nội thần hầu hạ kim thượng ăn uống sinh hoạt, mặt không biến sắc, tỉnh rụi phân phó: "Ban đêm quan gia muốn ăn cháo, ngươi mau đến ngự trù lấy lại đây."

Nhìn quanh trong điện, bà phát hiện ra y quan đã rời đi, lập tức sai người đi gọi lại y về, sau đó bảo vài nội thần trông chừng y quan, không cho phép y tự ý rời khỏi Phúc Ninh Điện nửa bước.

Sau đó, chuyện bà dẫn dắt Thập Tam Đoàn Luyện Triệu Thự lên ngôi trở thành truyền kỳ lưu truyền khắp trong ngoài triều đình.

Sau khi hoàng đế băng hà, hoàng hậu ém đi không phát tang, chỉ bí mật vời Triệu Thự vào cung.

Ngày kế, bà tuyên triệu phụ thần đến Phúc Ninh Điện kiến giá.

Đám người tể tướng Hàn Kỳ tới Phúc Ninh Điện, vén rèm định vào, nội thị lại bảo họ: "Hoàng hậu đang ở đây."

Hàn Kỳ dừng bước, hoàng hậu ở sau rèm nức nở báo tin quan gia đã về cõi tiên, chúng thần lập tức quỳ rạp xuống khóc bái.

Hoàng hậu thoáng nén tiếng thổn thức, hỏi Hàn Kỳ: "Bây giờ phải làm thế nào đây tướng công?

Mọi người đều biết cả rồi đấy, quan gia không có con trai."

Hàn Kỳ đáp: "Hoàng hậu không thể nói thế được, hoàng tử đang ở đông cung, sao không tuyên vào?"

Hoàng hậu nói: "Nó chẳng qua chỉ là tông thất, lại không có danh phận thái tử, lập nó, về sau liệu có ai tranh chấp hay chăng?"

Hàn Kỳ trả lời như chém đinh chặt sắt: "Hoàng tử được hoàng đế hạ chiếu lập, cũng là người kế thừa duy nhất, kẻ khác sao dám dị nghị!"

Lấy được đáp án này, khóe miệng hoàng hậu khẽ nhếch, ra hiệu cho người hầu vén rèm rồi ngả bài với Hàn Kỳ: "Hoàng tử đã ở đây rồi."

Rèm trướng cuốn lên, đám người Hàn Kỳ sửng sốt phát hiện ra hoàng tử Triệu Thự đã đứng bên cạnh hoàng hậu, vẻ mặt hoàng hậu bình tĩnh, mà thần sắc hoàng tử lại vô cùng sầu lo.

Dưới sự ủng hộ nhất trí của phụ thần, Triệu Thự lên ngôi hoàng đế, tôn hoàng hậu Tào thị làm hoàng thái hậu.

Triệu Thự ốm yếu nhiều bệnh, lại nhạy cảm nghĩ nhiều, đột ngột đảm đương trọng trách này, nhất thời khó lòng chịu đựng được gánh nặng nhường ấy, lo nghĩ thành tâm bệnh, thường xuyên gào thét chạy loạn trong cung, không thể lên triều.

Trải qua bàn bạc, phụ thần mời hoàng thái hậu buông rèm chấp chính.

Thế là, trong khoảng thời gian hoàng đế đổ bệnh, hoàng hậu ngự trong tiểu điện Nội Đông Môn, đối mặt với trọng thần cả triều, định miếu hiệu cho hoàng đế là "Nhân Tông".

Ngày Giáp Ngọ tháng Mười năm Gia Hựu thứ tám (*), hạ táng Nhân Tông hoàng đế tại Vĩnh Chiêu Lăng.

(*) Tức ngày 27 tháng 10 âm lịch năm 1963.

Hôm ấy, ta cũng có mặt trong số nội thần đưa tang, đợi đến lúc trở lại Tuyên Đức Môn, trời đã nhá nhem, cửa cung đang đóng dở, lại thấy một nội thị vội vã chạy từ trong cung ra, nói với sứ thần gác cổng: "Lúc trước hoàng thái hậu đã phân phó, tạm thời giữ cửa này lâu thêm chốc lát, chờ Trương tiên sinh trở lại."

Ta nghe thấy, không khỏi lên tiếng hỏi nội thị kia: "Trương tiên sinh anh nói là Trương Bình Phủ tiên sinh ạ?"

Nội thị trả lời: "Đương nhiên là ông ấy rồi.

Hôm nay hoàng thái hậu hạ chỉ, thăng ông ấy làm nội thị tỉnh áp ban.

Mấy ngày trước đã phái người vời ông ấy về, tính ra hôm nay sẽ trở lại nên phân phó giữ cửa chờ ông ấy."

Vừa dứt lời đã nghe thấy ngoài cửa vọng tới tiếng vó ngựa, ta quay đầu lại nhìn, thấy một người thân mặc đồ tang đang giục ngựa phóng tới, vóc dáng cao lớn, mắt mày thanh bạch, chính là Trương tiên sinh chúng ta vừa nhắc đến.

Thầy xuống ngựa trước Tuyên Đức Môn, nội thị trong ngoài cửa cung nhận ra là thầy, lập tức ùa tới, có người thỉnh an, có người dắt ngựa, có người phẩy phất trần phủi bụi cho thầy, ai nấy đều tranh nhau lấy lòng.

Mà thầy vẫn bình tĩnh như thường, chỉ lịch sự mỉm cười với họ, sau đó ngẩng đầu ngước mắt, sải bước đi về phía Nhu Nghi Điện.

Mặt trời ngả về tây, dát lên tường đỏ ngói xanh san sát một lớp vàng óng.

Ta náu mình trong bóng tối dưới chân tường cung, đưa mắt nhìn Trương tiên sinh đi vào ráng chiếu hoàng kim giữa chín tầng cung khuyết, dần ý thức được, đối với hoạn giả trong hoàng thành, đây chính là khởi đầu của thời đại Trương Mậu Tắc.

8.

Đào tơ

Hoàng thái hậu Tào thị chấp chính mười ba tháng rồi thu rèm hoàn chính, hoàng đế Triệu Thự bắt đầu lên triều.

Trong thời kỳ thái hậu buông rèm, nhập nội đô tri Nhậm Thủ Trung thường nói xấu hoàng đế trước mặt thái hậu, đến lúc hoàng đế tự mình chấp chính, ông ta lại đổi phắt sang nịnh bợ ngài, bịa đặt bôi nhọ thái hậu, ý chỉ thái hậu không muốn hoàn chính, thậm chí còn có lòng phế lập, làm hoàng đế sinh khúc mắc trong lòng, thậm chí còn ngừng vấn an hằng ngày, công khai biểu lộ bất mãn với thái hậu.

Trọng thần trong triều thấy hai cung không hòa thuận, đều liên tiếp dâng tấu, khuyên hai bên hòa giải, mà Tư Mã Quang ngoài khuyên can còn viết sớ dằng dặc hơn ngàn lời hặc Nhậm Thủ Trung, liệt kê cụ thể hơn mười tội trạng của ông ta bao gồm kết đảng kiếm chác, nhận hối lộ, ức hiếp người ngang hàng, tham ô tài vật, bịa đặt tin vịt, ly gián hai cung, yêu cầu hoàng đế xử trảm.

Dưới sự dẫn dắt của y, đám ngôn quan Lữ Hối liên tục tiến ngôn, trước sau dâng mười mấy chương sớ, đều là sớ hặc tội, cuối cùng khiến hoàng đế hạ lệnh cách chức Nhậm Thủ Trung trục xuất khỏi kinh, điều đi Tân Châu.

Tuy Nhậm Thủ Trung đã bị trục xuất, song quan hệ của hoàng đế và thái hậu vẫn chưa phục hồi.

Triệu Thự lạnh nhạt với thái hậu, lại dời bốn ấu nữ Nhân Tông để lại ra khỏi cung thất ban đầu, cho con gái mình vào ở.

Hành động này khiến Tư Mã Quang đau lòng nhức óc, tức sùi bọt mép, dâng sớ chỉ thẳng hoàng đế vong ân phụ nghĩa, nói: "Thần xin lấy nhỏ nói lớn.

Giả sử trong gác dân thường, nhà có một vợ và vài đứa con gái, có mười mẫu ruộng, sản nghiệp tấc vàng, về già chẳng có con trai, bèn nuôi con cháu tông tộc làm con nối dõi, người vừa mất, con y lấy được điền sản rồi, lập tức vứt mẹ bỏ em, khiến họ sầu lo căm phẫn, vậy hàng xóm hương thân sẽ nhìn con y bằng con mắt thế nào?

Kẻ thất phu làm vậy còn bị làng xóm cười chê, huống hồ là thiên tử chí tôn, là tấm gương ngưỡng vọng của bốn bề!

Đây sẽ là bước đầu khiến bệ hạ đánh mất nhân tâm."

Sau đó, Triệu Thự có vẻ hổ thẹn, có sự giảng hòa của nhóm phụ thần Âu Dương Tu và hoàng hậu Cao thị, mới bắt đầu vấn an thái hậu trở lại.

Trong lúc lạnh nhạt với thái hậu, Triệu Thự cũng đồng thời tỏ ý tôn sùng chiếu cố phụ mẫu thân sinh của mình.

Cha ruột Triệu Thự là Nhữ Nam quận vương Triệu Doãn sau khi hoăng đã được truy phong làm Bộc vương, một năm sau khi lên ngôi, Triệu Thự hạ chiếu lệnh quần thần bàn bạc tổ chức lễ cúng tế Bộc vương.

Nhóm tể tướng Hàn Kỳ và tham tri chính sự Âu Dương Tu chủ trương kiến nghị hoàng đế xưng Bộc vương làm hoàng khảo (*), bởi "con thừa tự nhận làm thừa tự, cha mẹ ruột cũng xưng cha mẹ", còn nhóm đài quan Lữ Hối, Phạm Thuần Nhân, Lữ Đại Phòng và gián quan Tư Mã Quang thì chủ trương xưng Nhân Tông làm hoàng khảo, Bộc vương là hoàng bá, nói "nước không hai vua, nhà không hai cụ", nếu hoàng đế tôn Bộc vương làm cha thì Nhân Tông biết đặt đi đâu?

(*) Người cha đã mất thì gọi là khảo.

Phe đài gián và phe tể chấp không ai nhường ai, dâng sớ tranh luận dài dặc, khiến trận tranh luận này kéo dài gần hai năm, sử gọi là "Bộc nghị".

Trị Bình năm thứ ba, hoàng thái hậu gửi thư tay, cho phép hoàng đế gọi Bộc vương là cha, tôn Bộc vương làm Bộc An Ý hoàng, ba phu nhân của ông cũng được xưng hậu.

Triệu Thự tức thì ban chiếu viết tay, nói: "Lễ xưng thân, ấy là cẩn tôn từ huấn."

Đài gián thỉnh bãi chiếu lệnh, Triệu Thự bỏ ngoài tai, cuối cùng cách chức ba người Lữ Hối, Lữ Đại Phòng, Phạm Thuần Nhân điều ra ngoài.

Trong cuộc tranh luận này, thần tử trong triều nghiêng về phe đài gián nhiều hơn, phe tể chấp bị coi là tiểu nhân gian nịnh, nhất là Âu Dương Tu, người đã dựa vào kinh điển, cung cấp lý luận quan trọng cho hoàng đế xưng thân trong cuộc tranh luận này.

Triệu Thự nhiều bệnh, tại vị chưa đầy bốn năm đã băng hà, miếu hiệu "Anh Tông".

Sau đó, người đăng cơ là trưởng tử hai mươi tuổi của ngài, đại hoàng tử Trọng Châm nay đã đổi tên là Triệu Húc.

Không lâu sau khi Triệu Húc lên ngôi, đối thủ chính trị kết oán với Âu Dương Tu vì sự kiện "Bộc nghị" đã triển khai công kích nhằm vào y.

Đầu tiên là Tiết Tông Nhũ, em họ phu nhân Tiết thị của Âu Dương Tu có thù riêng với Âu Dương Tu, tung tin vịt trong triều, nói y tư thông với con gái Ngô Sung, con dâu trưởng nhà y, ngự sử Bành Tư Trung, Tưởng Chi Kỳ liền mượn việc này hặc Âu Dương Tu.

Nhưng chứng cứ họ đưa ra lại rất thiếu sức thuyết phục.

Nhũ danh của Ngô thị là "Xuân Yến", họ bèn tìm vài bài từ của Âu Dương Tu, nói trong đó vừa có "Xuân" lại vừa có "Yến", là ám chỉ tên của Ngô thị.

Trong chuyện này, hoàng đế Triệu Húc rất kiên định đứng về phía Âu Dương Tu, thậm chí còn mắng thẳng vào mặt Tưởng Chi Kỳ, nói: "Các ngươi đại sự chẳng nghị, lại chỉ chăm chăm bới móc chuyện khuê môn người ta!"

Sau đó nhất nhất đuổi tất thảy đài quan hặc Âu Dương Tu khỏi triều đình, nhưng vẫn có đài quan tiếp tục luận việc Âu Dương Tu "tư thông với con dâu", mà Âu Dương Tu cũng nản chí ngã lòng, tự xin điều ra ngoài, hoàng đế không phê chuẩn, y bèn dâng sớ khẩn cầu thêm lần nữa.

Tháng Ba năm Trị Bình thứ tư, lúc ta mang tranh cuộn ngự dung Anh Tông mà họa sư Họa viện hoàn thành đến Bí các thờ phụng, vô tình gặp được Âu Dương Tu đi từ Bảo văn các ra ngoài.

Nhiều năm không gặp, y vẫn liếc mắt nhận ngay ra ta, gọi ta vô cùng thân thiện: "Lương tiên sinh."

Xưa nay, y vẫn luôn dành cho ta và công chúa sự quan ái như một trưởng bối, khi hai ta bị ngôn quan công kích dữ dội, y chưa từng hùa theo đám đông chỉ trích chúng ta lấy một lần.

Nay nghe y gọi vậy, trong lòng ta ấm áp, lập tức thi lễ với y, hỏi thăm: "Đã lâu không gặp, tướng công vẫn khỏe chứ ạ?"

Tham tri chính sự là phó tướng, bình thường mọi người cũng tôn xưng y là "tướng công".

Nhưng Âu Dương Tu nghe thế lại lắc đầu, mỉm cười nói: "Kể từ hôm nay, ta đã không còn là tham tri chính sự nữa rồi, tiên sinh đừng gọi ta là 'tướng công' nữa."

Ta kinh ngạc bật thốt: "Nói vậy là sao?"

Âu Dương Tu đáp: "Kim thượng đã chấp nhận đơn từ chức của ta, bãi chức tham tri chính sự của ta, lệnh ta đi tri Hào Châu.

Ngày mai là ta rời kinh rồi, thế nên ban nãy mới vào Bảo văn các, bái biệt Nhân Tông hoàng đế."

Trong Bảo văn các cất giữ ngự thư của Nhân Tông, cũng thờ cúng ngự dung của ngài, thần tử triều Nhân Tông rời kinh thường tới đây bái biệt.

Chuyện của Âu Dương Tu bị đài quan làm ầm làm ĩ, ta cũng đã được cho hay, giờ khắc này nghe y nói vậy, không khỏi tiếc nuối sâu sắc, nói: "Chuyện đài quan nói, kim thượng đã tra rõ là vu khống, biếm truất kẻ mưu hại, sao tướng công vẫn xin đi?"

Âu Dương Tu không nói kỹ nguyên nhân, chỉ đáp bằng một câu vỏn vẹn: "Ta chỉ là thấy mệt rồi thôi."

Ta nghe mà cảm khái, lại liên tưởng đến chuyện năm xưa ngôn quan nói y "trộm cháu", thở dài: "Tướng công cả đời chính trực không tránh né oán giận, tiếc là lại bị ngôn giả làm liên lụy."

Âu Dương Tu nghe vậy nhoẻn cười, nói: "Thuở thiếu thời ta từng mời tăng nhân xem tướng, tăng nhân nói ta, tai trắng hơn mặt, tên khắp thiên hạ; môi không chạm răng, vô cớ chịu báng", Hôm nay xem ra, câu ấy ứng nghiệm thật rồi."

Ta nghe xong cẩn thận quan sát y, quả nhiên phát hiện tai y trắng hơn mặt, môi có chạm răng hay không thì nhìn bên ngoài không thấy rõ được, không biết có ý gì, ta cũng chẳng tiện mở miệng hỏi y, bèn chỉ mỉm cười.

Cười với ta chốc lát, y thu lại nét cười, nghiêm mặt nói với ta: "Cả đời này ta quả thật đã bị lời ong tiếng ve làm liên lụy, hai lần bị tổn hại danh dự, cũng khiến tâm thân mệt mỏi, khổ chẳng nên lời, nhưng ta vẫn rất vui mừng, kiếp làm quan của ta được sống trong thời đại ngôn lộ rộng mở."

Ta ngẩn người, bắt đầu nghiền ngẫm lời y, còn y thì tiếp tục nói tiếp: "Lời đài gián nói hữu hiệu, trên có thể phòng ngừa quốc vương lạm dụng hoàng quyền, tể chấp độc đoán chuyên quyền, dưới có thể giám sát bách quan, quét sạch tác phong kỷ luật, khiến phường gian nịnh hủ bại không có chỗ ẩn thân, động chút là dâng tấu luận bàn, thực ra cũng là biểu hiện chính trị trong sạch, tuy rằng trong tranh đấu bè đảng không thể kiểm chặt chi tiết, thường bị đối phương dùng để mượn cớ định tội mưu hại.

Trong đài gián quốc triều cố nhiên cũng có kẻ tiểu nhân lợi dụng chức quyền trả thù riêng, loại trừ phe đối lập, nhưng đa số là những quân tử không sợ quyền quý, không mưu tư lợi, ngay thẳng dám nói.

Có họ, những quyền thần như Hạ Tủng mới không thể một tay che trời, nữ sủng như Ôn Thành mới không có cơ hội họa quốc, ngoại thích như Trương Nghiêu Tá khó mượn thế hậu cung gà chó lên trời, mà nội thần gian nịnh như Nhậm Thủ Trung càng không cách nào lộng quyền tham chính...

Lời ong tiếng ve đương nhiên có tai hại của nó, nhưng vẫn tốt hơn là ngôn lộ tắc nghẽn.

Nếu có một ngày, đài gián chỉ còn hữu danh vô thực, quốc vương mặc sức muốn gì làm nấy, khiến nữ sủng, cận thị, ngoại thích đều có thể nắm bắt cơ mật, can thiệp triều chính, hoặc giả trọng thần triều đình độc tài quyền bính, không tị hiềm thân thích, để đến nỗi ai cũng làm tới quan cao, kẻ đầy tớ phu xe cũng có thể làm bạn với vua, đạo đức tiêu vong, phong tục suy đồi, mà ngôn giả lại sợ cường quyền, vừa không thể độc lập có lời, vừa không dám chỉ trích sai lầm kẻ ngồi ngôi cao, bách tính dẫu có ý kiến cũng chẳng thể nói rõ, chỉ có thể hóa bất mãn với người mình cung phụng thành đầy bụng chê trách, lén lút truyền lưu...

Như vậy thì vận số Đại Tống cũng đến lúc tận rồi."

Y trang nghiêm quay đầu, nhìn Bảo văn các sau lưng, mắt lộ vẻ cảm hoài lưu luyến, sau đó lại nói: "Cũng may ta gặp được quân chủ ngửa mặt sợ thiên biến, cúi đầu ngại tiếng người, nghiêm khắc với bản thân, lại không mù quáng chẳng biết phân biệt phải trái, biết người thiện lành, lấy lễ đãi sĩ, chịu nghe can gián, mở rộng ngôn lộ quốc gia, tất cả mọi người đều chịu ngôn giả giám sát, không ai có thể tùy ý làm bậy, độc đoán chuyên quyền, thế nên, ta rất mừng được sinh ra trong thời đại có thể xưng là trời yên biển lặng này..."

Nói tới đây, y thoáng dừng lại, dụng tâm nhìn ta rồi mới nói tiếp: "Dẫu cho chúng ta đều từng bị thời đại ngộ thương."

Bất kể là vào năm cuối cùng Nhân Tông tại thế hay là dưới thời trị vì của Anh Tông, công chúa đều sống cùng mẫu thân, tuy rằng trong phủ công chúa ở ngoài cung hãy còn có một vị phu quân trên danh nghĩa của nàng.

Nhưng sau khi Triệu Húc đăng cơ, chuyện này đã xảy ra biến hóa.

Triệu Húc là người cháu công chúa rất yêu quý, từ nhỏ đã hợp tính với nàng.

Không lâu sau khi lên ngôi, ngài đã phong công chúa làm Sở quốc đại trưởng công chúa, ban tước ấp cho nàng trở thành hoàng nữ tối cao đương triều.

Thái độ của ngài với công chúa thoắt đem lại hi vọng mới cho Miêu nương tử, mấy lần tìm người thay mặt thuyết phục, xin hoàng đế cho phép vị đại cô cô này của ngài ly dị với dượng, tái giá với người khác.

Nhưng Triệu Húc không đồng ý, nói thẳng với mẹ con công chúa: "Trước đây Nhân tổ (*) khôi phục danh vị phò mã đô úy cho Lý Vĩ là hi vọng cô có thể tiếp tục làm dâu nhà họ Lý, tuân theo phụ đạo nhân luân, phổ biến đức hiếu thiên hạ, hiển minh tài đức thuyền quyên vương bang, trở thành mẫu mực cho hoàng thất ta.

Cô cô hiếu thuận với Nhân tổ thì nên vâng theo lệnh cha, nối lại tiền duyên với Lý Vĩ, toàn tâm toàn ý với nhà chồng, hôm nay há có thể vì Nhân tổ quy tiên mà mặc kệ di huấn, nảy lòng muốn cải giá với người khác?

Nếu cô cô khăng khăng, Húc chẳng dám cản, nhưng xin cô cô nghĩ lại, cô và dượng không hòa thuận đã khiến Nhân tổ ôm mối hận suốt đời, nếu đoạn tuyệt với Lý thị, Nhân tổ dưới suối vàng hay biết, sẽ còn đau lòng đến mức nào?"

(*) Tổ ở đây là gọi ông nội, diễn giải đầy đủ ra thì là "ông nội Nhân Tông".

Công chúa im lặng, không phản bác, Triệu Húc lại đưa ra thêm một yêu cầu: "Cô cô mang danh phu thê với Lý Vĩ, không tiện ở lâu trong cung, người ngoài biết được cũng có lời chê trách.

Không bằng quay trở về phủ công chúa, cầm sắt hòa hợp, mới là điều nên."

Dưới sự ra sức khuyên giải của ngài, công chúa rốt cuộc cũng bằng lòng, trở lại phủ công chúa theo ý ngài.

Sau đó, Triệu Húc cũng tuyên bố xóa bỏ quy định "Nhà thượng chúa, hàng một bậc chiêu mục", đồng thời chính thức hạ chiếu yêu cầu về sau công chúa hạ giáng đều phải hành lễ với cha mẹ chồng, phụng dưỡng nhà chồng như con dâu nhà dân thường.

Nghe nói, lúc công chúa chuẩn bị lên xe quay lại phủ cũ, Triệu Húc đã khom người tạ lỗi với nàng, nói: "Xin lỗi, cô cô.

Nhưng tất cả người trong hoàng thất đều như nhau, chẳng thể phóng túng dục vọng của mình, cũng không thể trốn tránh trách nhiệm của mình."

Có người hay ngồi lê đôi mách kể lại cho ta từ đầu chí cuối sự việc, vừa kể vừa quan sát vẻ mặt ta.

Ta chỉ trầm mặc nghe, mặt không gợn sóng, trong lòng cũng chẳng xao động cảm xúc như họ mong đợi.

Bởi ta biết, đối với công chúa, kết cục đã sớm định sẵn, tuổi hoa của công chúa đã kết thúc vào năm nàng hai lăm, cánh hoa tàn lụi nương thân chốn nào thực chất đã chẳng còn quan trọng.

Có thể tưởng tượng được, ở phủ công chúa, cuộc sống của nàng và Lý Vĩ tuyệt đối là "kính nhau như khách", cả hai người họ đều bị thương quá nặng, họ cũng sẽ không thử tu bổ lại quan hệ đổ vỡ, có thể giữ trạng thái yên lặng cho mình đã là tốt lắm rồi.

Có lần, ta nghe một họa sư nói y nhìn thấy Lý Vĩ cõng tiểu công tử họ Lý trong vườn, hỏi kĩ lại, ta được biết, đó là con Vận Quả Nhi sinh hạ, công chúa không có đứa con của riêng mình, đương nhiên, rất có thể sẽ mãi mãi chẳng bao giờ có.

Mỗi dịp lễ tết, ta đều đến chân tường Tập Anh Điện, xem dải hoa công chúa cắt cho ta.

Nàng cũng chưa từng nhỡ hẹn, ngày ấy vừa hửng sáng đã lập tức treo dải hoa lên ngọn cây đào, đợi đến lúc Tập Anh Điện mở cửa, ta đi vào trong sân, dải hoa ấy đã sớm vượt qua đầu tường, đón gió tung bay trên đầu cành, như một đàn bướm truy tìm hương thơm.

Năm này qua năm khác đều là như vậy.

Nàng trở về phủ công chúa rồi cũng không bỏ thói quen này, bận nào cũng vào cung trước lễ tết một ngày, treo dải hoa lúc rạng sáng như lệ cũ.

Thất tịch một năm nọ, chẳng biết tại sao nàng tới chậm, đến gần trưa ta mới thấy đầu cành đào có dải hoa treo lên, là mắc vào một cành trúc, với lên cây đào treo sang.

Là công chúa tự mình treo ư?

Ta rảo bước lại gần tường cung, loáng thoáng nghe thấy bên trong vọng ra tiếng ngọc bội lanh canh.

Ta ngẩn ngơ đứng đực tại chỗ, nhìn cành trúc kia lên xuống cao thấp, treo đóa hoa cắt từ từng miếng lụa màu lên ngọn cây đào đã qua kỳ đơm bông, khó mà dời bước hồi lâu.

"Lương tiên sinh!"

Bỗng, có người từ Bí các đối diện chạy tới, cất giọng gọi ta.

Giọng cậu ta rất lớn, ta vẫn chưa thu lại tầm mắt, trông thấy cành trúc phía trên cây hoa rung rung, tiếp đó dải hoa mắc đầu cành rơi xuống.

Người nọ đã chạy tới bên cạnh ta, ta vội xoay người đối mặt với cậu ta, nhận ra cậu ta là Bạch Mậu Tiên đã lâu không gặp.

Năm đó, cậu ta cũng bị xử phạt sau sự kiện công chúa gõ cửa cung giữa đêm, bị giáng chức điều ra Tiền tỉnh làm tiểu hoàng môn Thư viện.

Sau đó, Anh Tông đăng cơ, mấy công chúa trẻ tuổi vào cung ở, thiếu nội thần hầu hạ, Tiểu Bạch lại được điều vào Hậu tỉnh làm việc.

Tiểu Bạch hiện giờ đã trưởng thành thành một thanh niên tuấn tú, mặc công phục nội thị cấp cao, trong tay bưng vài quyển trục, thần thái phấn chấn.

"Khá lắm, tấn cấp rồi."

Ta ngậm cười khen cậu ta.

Cậu khiêm tốn khom người với ta, mỉm cười đáp: "Đều nhờ công tiên sinh dạy dỗ."

Ta hàn huyên với cậu mấy câu, nhìn quyển trục trong tay cậu, thuận miệng hỏi: "Cái gì đây?"

"Công chúa đang học phi bạch, bảo tôi tới Bảo văn các lấy ngự thư của Nhân Tông hoàng đế về cho người làm mẫu."

Tiểu Bạch trả lời.

Công chúa?

Ta hơi sửng sốt, nhưng lập tức hiểu ra, ý cậu chỉ một vị trưởng công chúa nào đó cậu hầu hạ hiện giờ, bởi cậu vào hầu vị trưởng công chúa ấy triều Anh Tông nên đến giờ vẫn giữ thói quen nguyên bản, gọi người là công chúa – giống như ta vậy, công chúa trong miệng cậu ta chính là vị công chúa trong mắt trong lòng cậu.

"Công chúa luyện phi bạch khá lắm đấy ạ, thái hoàng thái hậu cũng thường xuyên dạy người, khen người có thiên phú..."

Tiểu Bạch tiếp tục tự thuật tình hình công chúa của mình, trong mắt lóe rạng niềm hân hoan từ tận đáy lòng.

Ta bần thần nhìn cậu, hơi có cảm giác bất an.

Cậu không nhận ra, tiếp tục tự mình nói với ta hồi lâu, vẫn chẳng nhớ ra cần nói rõ cho ta hay vị công chúa ấy là ai, tựa như cho rằng đó là điều người trong thiên hạ đều tỏ tường.

Mãi sau, cậu rốt cuộc cũng ý thức được vấn đề thời gian: "Ôi, công chúa còn đang chờ tôi, tôi phải đi rồi.

Tiên sinh bảo trọng!"

Không đợi ta trả lời, cậu đã hớn hở bưng ngự thư của Nhân Tông chạy đi.

Ta bước lên vài bước, vốn định gọi cậu ta lại, kín đáo nhắc nhở phương thức chung đụng của cậu ta và công chúa, song cậu đã nhanh chóng biến mất ngoài cửa viện.

Ta im lặng dừng bước, cũng nghĩ có lẽ mình khuyên nhủ sẽ chẳng được tác dụng gì.

Năm ấy hoàng hậu và Trương tiên sinh chẳng phải cũng nhắc nhở ta đấy sao, nhưng mọi chuyện vẫn cứ xảy ra, vòng xoáy vận mệnh là cái chẳng thể trốn thoát.

Quay đầu lại nhìn lên đầu cành hoa đào, đã không còn thấy bóng dáng cành trúc đâu.

Ta vốn tưởng công chúa đã rời đi, nhưng đứng lặng một hồi, lại nghe thấy gió nhẹ vượt tường chở sang một tiếng than thở như có như không.

Ta chậm rãi tiến lên, hai tay đặt lên bức tường đỏ son, quay mặt về phía có khả năng có sự tồn tại của nàng.

Có lẽ nàng đang ở ngay sau mặt tường này.

Có lẽ nàng cũng đang đặt tay lên tường, thăm dò phương hướng vị trí ta.

Có lẽ vào thời khắc này, lòng bàn tay đôi ta đang đối nhau, ánh mắt cũng đang xuyên qua lớp tường đỏ ngăn trở này lồng vào nhau...

Gió nổi lên rồi, nàng có lạnh chăng?

Ta đưa tay ra thế này, nàng có còn cảm nhận được chút hơi ấm nào chăng?

Ta rầu rầu ngửa mặt, nhìn về phía chân trời xa thẳm.

Vắt ngang trời thu vời vợi có ráng hồng ẩn hiện, đêm nay hẳn có thể thấy trăng ló sau mây, tinh tú ngời ngời.

Nhưng thiếu đi gió vàng sương ngọc, nhiều thêm Ngân Hà xa xôi, lại có ai có thể bầu bạn bên nàng, cùng thưởng nến bạc trăng thu, cùng vượt giá lạnh cung khuyết?

Kể từ ngày đó, thời gian treo dải hoa càng ngày càng muộn, ta có dự cảm không lành, lưu ý hỏi thăm, mới biết công chúa đã thân mang bệnh nặng, thường đau buốt trong ngực, hư nhược yếu ớt, thi thoảng còn có hiện tượng ngất xỉu.

Mỗi dịp lễ tết, nàng vẫn kiên trì về cung treo dải hoa.

Ta vẫn đến chờ từ sớm, tuy có thể phải đợi đến rất khuya, nhưng bất kể thế nào cũng đợi được.

Song, tiết Hoa Triêu năm Hi Ninh thứ ba này, ta chờ từ tảng sáng đến gần hoàng hôn mà vẫn chưa thấy dải hoa xuất hiện trên đầu cành, chỉ có hoa đào rợp tán, nghênh hướng gió xuân nở rộ tưng bừng.

Nàng nhất định là đã hồi cung, ta còn nghe người ta nói, hôm qua vào cung thành cuối cùng chính là xe liễn của nàng.

Mà sao dải hoa mãi vẫn chưa thấy?

Ánh mắt ta chăm chú cố định trên đầu cành đào, mỗi một lần cành hoa chập chờn, tim ta đều nổi trống ngực, mà sự thật thì lại chứng minh, ấy chẳng qua chỉ là gió xuân bỡn cợt hết trận này đến trận khác mà thôi.

Lúc màn đêm buông xuống, ta rốt cuộc cũng chờ được kết quả, giương trên đầu tường không phải dải hoa sắc màu mà là lá cờ trắng xóa, tầng tầng lớp lớp, như một con sóng cả bạc đầu ập xuống trước mặt.

Từ hậu cung vọng ra tiếng khóc bi thương, không lâu sau, cửa điện trong cung bật mở, rất nhiều nội thần chạy đi báo tin lẫn nhau: Sở quốc đại trưởng công chúa hoăng...

Nàng mất vào mùa xuân năm Hi Ninh thứ ba, ấy là năm thứ tám sau khi đôi ta chia lìa.

Hoàng đế Triệu Húc sai người đưa linh cữu của nàng về phủ công chúa, sau đó đích thân giá lâm phủ đệ nàng, khóc thương truy điệu nàng.

Ngài truy phong công chúa làm Tần quốc đại trưởng công chúa, đồng thời mệnh phụ thần nghị thụy hiệu cho nàng, cuối cùng, ngài tự chọn hai chữ "Trang Hiếu", bởi "công chúa có hiếu với Nhân tổ".

Ngoài ra, ngài còn biếm Lý Vĩ đến Trần Châu, công bố với mọi người tội danh là "thờ chủ không công".
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Kết: Song hỉ


Hi Ninh năm thứ ba, Thôi Bạch một lần nữa bước chân vào Hàn lâm đồ họa viện xa cách bấy lâu, mà lần này, thân phận của gã là nghệ học Đồ họa viện.

Trước đó, hoàng đế Triệu Húc muốn tìm họa sư vẽ một bức "Giáp trúc hải hải đường hạc đồ" làm bình phong Thùy Củng Điện, lại chê phong cách vẽ của người trong Họa viện cứng nhắc, sa vào hình thức, muốn tìm người bút pháp sáng tạo chấp bút, thái hoàng thái hậu Tào thị bèn đề cử Thôi Bạch với ngài, khen phong cách vẽ của gã không tầm thường, Triệu Húc bèn cho vời Thôi Bạch vào cung, cùng họa bức bình phong đồ sộ này với mấy vị họa sư nổi tiếng Ngải Tuyên, Đinh Huống và Cát Thủ Xương.

Sau khi hoàn thành, phần Thôi Bạch làm đứng nhất nhóm người, mặt rồng mừng rỡ, bèn hạ chỉ bổ nhiệm Thôi Bạch làm nghệ học Đồ họa viện.

Mà Thôi Bạch xưa nay vẫn hằng cởi mở phóng khoáng, không muốn bị Họa viện ràng buộc nên một mực ra sức từ chối xin đi, cuối cùng, hoàng đế ân chuẩn cho gã không cần phải vào Họa viện nhậm chức mỗi ngày, "Ngự tiền không có chỉ thì chớ phiền nhiễu y", bấy giờ Thôi Bạch mới miễn cưỡng tiếp nhận, làm quan cao trong Họa viện.

Thiên tử trẻ tuổi ngày nay khác với hai vị tiên đế, bừng bừng tinh thần phấn chấn, từ lúc bắt đầu lên ngôi đã lập chí canh tân, xây dựng nước giàu binh mạnh, sau đó bổ nhiệm Vương An Thạch làm tướng, đao to búa lớn cải cách chế độ pháp lệnh, thay đổi phong tục, lề lối của Họa viện cũng nằm trong kế hoạch canh tân của ngài.

Thế nên, Thôi Bạch như cá gặp nước, cải biên tình trạng lấy bút pháp của cha con Hoàng Thuyên làm thước đo chuẩn mực suốt trăm năm qua của Họa viện, dẫn Họa viện Đại Tống bước vào một kỷ nguyên mới tràn trề nhựa sống.

Sau khi tự quay trở lại Họa viện, ta gần như không có cơ hội xuất cung, trước khi Thôi Bạch một lần nữa bước vào Họa viện, chúng ta chưa từng gặp lại nhau bận nào, cửu biệt trùng phùng, cả hai đều vô cùng mừng rỡ, sau một hồi hàn huyên, Thôi Bạch lấy một cuộn tranh ra, bưng hai tay đưa cho ta, nói: "Năm đó lúc rời khỏi Họa viện, tôi từng nhận lời với Hoài Cát sẽ tặng cậu một bức họa, nhiều năm qua, tôi vẽ rất nhiều bức, nhưng không ưng ý được bức nào, không dám làm nhục lời khen ngợi của quân tử.

Mấy năm trước cuối cùng cũng vẽ xong một bức tạm coi là được, hôm nay xin được tặng Hoài Cát, mong hiền đệ vui lòng nhận cho."

Ta cảm ơn gã, nhận lấy xem, thấy tranh vẽ một vùng ngoại ô, trên triền núi lưa thưa khóm trúc thu, cỏ viên mọc thành bụi, một cặp hỉ thước núi chao nghiêng phía trên bức họa, chim mái đã đậu trên cành khô cây tàn, đang kêu hót với một con thỏ rừng ngồi phía dưới bên trái, còn chim trống thì bám theo nó, đang giương cánh bay tới.

Đây là kiệt tác ta chưa từng trông thấy trước đây, vận dụng nhiều loại kỹ xảo: hỉ thước núi, lá trúc, cỏ thu dùng vẽ phác đắp màu, bút pháp tinh vi cẩn trọng, còn bụi gai và lá cây khô thì dùng bút pháp không xương, loang màu chấm phá, không cần bút mực dựng khung.

Cây khô bút ý phóng khoáng, đường triền núi dùng mực đạm mặc sức tung hoành.

Bộ lông con thỏ rừng lại là một tuyệt tác khác, hoàn toàn không có nét viền, cũng rất khó để hình dung bằng một kỹ xảo đặc định nào đó, lông vẽ từng bút từng bút, y như bộ lông thật vậy, tầng lớp rõ ràng, dài ngắn không đồng đều, vừa có lớp lông măng mảnh dẻ mềm mại, vừa có lớp lông dài bao ngoài thô thẳng dày dặn, mỗi sợi lông đều được miêu tả hết sức tỉ mỉ, tựa như chạm tay là có thể cảm nhận được xúc cảm mềm ấm mịn mượt ấy.

Cả bức họa có thể nói là tập hợp sở trường mọi phái quốc triều, bút ý bao hàm cả thô nhám lẫn tinh mịn, song lại có thể cân bằng hài hòa, khiến người ta xem mà thán phục.

Song, khiến ta kinh ngạc nhất là cách gã miêu tả vẻ mặt của chim thú trong tranh.

Con chim mái dáng điệu lả lướt, nhưng lại cúi thân xuống dưới, há mỏ dang cánh ra oai với con thỏ rừng, mắt trợn tròn, biểu cảm tức giận cực độ, lại để lộ mấy phần thê lương.

Con chim trống sau lưng nó kéo cái đuôi màu trắng thật dài, thân hình phiêu dật, sắc mặt không phẫn nộ như chim mái mà có vẻ hơi sửng sốt, cũng pha lẫn hoang mang, tuy bay theo chim mái song lại không giống như có ý định cùng nó đối đầu với thỏ rừng, tựa hồ còn chưa nghĩ ra bước kế tiếp nên làm thế nào.

Mà con thỏ rừng mang bộ lông dày dặn thì đang quay đầu ngửa mặt nhìn lên, ngơ ngác trông về phía con chim mái giận dữ, chân trước bên phải lúng túng nhấc lên, như tiến thoái lưỡng nan, không biết làm sao mới phải.

Ta quan sát cảnh tượng trong tranh, mơ hồ đoán được thâm ý Thôi Bạch gửi gắm trong đó, mà gã cũng chỉ vào con chim mái, giải thích: "Hỉ thước núi tính lanh lợi, ham quần tụ, có tập tính bảo vệ lãnh địa của mình.

Nếu có kẻ ngoại lai xông vào, chúng sẽ vấp phải những tràng kêu hót thị uy đối với chúng.

Mà con thỏ rừng này thì có khả năng là đi lầm vào lãnh địa của một cặp hỉ thước núi trong lúc vượt ngàn, chim mái bất mãn nên phẫn nộ muốn đuổi nó ra ngoài..."

Ta gật đầu, ngậm một nét cười cạn mỏng, cuối cùng khóa tầm mắt lên thân cây bên phải bức họa, ở đó đề lạc khoản của Thôi Bạch: "Gia Hựu năm Tân Sửu, Thôi Bạch chấp bút."

Ta treo bức "Song hỉ đồ" trong phòng, thường trầm mặc đăm đăm nhìn ngắm, mỗi lần ngắm đều mất hồi lâu, mà theo đó, những chuyện cũ trước kia cũng hiện lên trong đầu, rõ mồn một như chỉ cách một giấc chiêm bao.

Sau vài tháng, ta quyết định cất bức họa này vào Bí các, vừa để thôi chạm phải những vết thương cũ, cũng là vì nó quá mức đẹp đẽ, đẹp đến chẳng giống một món đồ ta có thể lưu giữ.

Đời này ta đã được chiêm ngưỡng rất nhiều dấu ấn mỹ lệ muôn hình vạn trạng: Ta đã thấy hoàng thành huy hoàng, thư họa tao nhã, đồ chơi tinh xảo, và cả mỹ nhân như ngọc hay giang sơn như tranh của thời đại thanh bình này...

Nhưng, chúng không thuộc về ta, thân phận đặc thù của ta đã định đoạt ta chỉ có thể là người bàng quan những sự vật tươi đẹp ấy, ta đã quen làm chứng cho sự tồn tại của chúng, lại chẳng có ý định thử mưu cầu sở hữu chúng.

Ngày cất "Song hỉ đồ" là tiết Hoa Triêu năm Hi Ninh thứ tư, phần lớn người trong cung đã theo đế hậu đi Nghi Xuân Uyển thưởng hoa, trong cung điện vắng ngắt, thưa thớt bóng người.

Lúc đi tới ngoài Tập Anh Điện, ta nghiêng đầu nhìn về phía bức tường chắn giữa sân viện và hậu cung.

Đó là thói quen hình thành qua nhiều năm, dù cho mỗi lần chỉ vừa quay đầu, ta đã nhớ ra, công chúa không còn nữa, dải hoa trên đầu cành đào đã vắng bóng một năm.

Nhưng kết quả của cái quay đầu lần này lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của ta – trên cây hoa đầu tường có dải hoa, đã treo đến bốn năm dải, còn có một cành trúc đang run rẩy với lên trên, muốn treo thêm một dải màu hình cánh bướm.

Trong chớp mắt ấy, trong tai ta nổ ầm, hoàn toàn bất động tại chỗ, nhìn trân trân dải màu treo trên đầu cành kia, cơ thể không tự chủ được run lên, trong lồng ngực đau đến hít thở cũng khó khăn.

Cuối cùng, điều cấm kỵ suốt nhiều năm qua bị ta ném bỏ rốt ráo, ta bước vòng qua tường cung, băng qua trùng trùng những cửa điện có hoặc không có người canh giữ bằng tốc độ kinh người, chạy vào hậu cung.

Chỉ cách một bức tường thôi mà vòng qua vòng lại như vượt thiên sơn vạn thủy.

Chạy thẳng đến khi sức cùng lực kiệt, phì phò thở gấp, ta mới vào được hậu cung đã xa cách chín năm, trông thấy cảnh tượng dưới cây hoa đào sau bức tường son kia.

Một thiếu niên mười sáu, mười bảy tuổi chắp tay sau lưng đứng trước cây hoa đào, thân bận áo dài cổ tròn ống tay hẹp màu mai đỏ, dáng người cao ráo, tướng mạo anh tuấn, giờ khắc này đang nhìn chằm chằm cô bé trước mặt, đong đầy trong mắt là ý cười ấm áp.

Mà cô bé thì đưa lưng về phía ta, vóc dáng nom rất nhỏ nhắn, tóc vấn hai búi kiểu thiếu nữ, hẳn tuổi chỉ mới mười hai, mười ba.

Cô mặc áo váy màu liễu, đang giơ cành trúc treo dải hoa lên cây đào, dáng vẻ non nớt, động tác cũng như liễu mảnh hứng gió.

Mục tiêu lần này của cô là cành hoa cao nhất, nhưng cô nhỏ người, thử ba phen mấy bận vẫn chẳng cách nào treo được dải hoa lên đầu cành như mong muốn.

Cậu thiếu niên xem rồi cười nói: "Để ta tới treo giúp cô đi thôi."

Cô bé ngoái lại đáp: "Không cần.

Miêu nương tử nói, lần nào đại tỷ tỷ cũng tự tay treo."

Cô vừa quay đầu, ta lập tức bắt gặp một gương mặt giống Thu Hòa như đúc.

Trong sát na, ta tưởng chừng như thời gian chảy ngược, ta lại quay trở về khoảnh khắc nhiều năm về trước, khi vô tình chạm mặt Thu Hòa trong Nghi Phượng Các.

Mắt ngọc mày ngài vẫn y nguyên, ngữ điệu mềm nhẹ vẫn y nguyên, chỉ có điều cô bé này bé hơn đôi chút, so với Thu Hòa năm đó nhiều thêm hai phần ngây thơ.

Lại nghe cô nhắc đến Miêu nương tử và "đại tỷ tỷ", ta chợt vỡ lẽ, cô chính là con gái Chu Chu của Thu Hòa, thập nhất công chúa của Nhân Tông, phong hiệu hiện giờ là Bân quốc đại trưởng công chúa.

Cửu công chúa cùng mẹ với cô đã chết yểu vào năm Trị Bình thứ tư.

Lại đánh giá mặt mày như đã từng quen biết của cậu thiếu niên kia, ta cũng suy đoán ra cậu là Trọng Khác năm đó, tứ hoàng tử của Anh Tông nay đã đổi tên Triệu Quần.

Không lâu trước đây, kim thượng vừa phong cậu là Gia vương.

Thấy Chu Chu đáp vậy, Triệu Quần cả cười: "Ai bảo cô lùn!

Không chịu để ta ra tay thì ta về đây, tiết Hoa Triêu năm sau lại tới, nhất định là cô hãy còn ở đây, với tới với lui vẫn chẳng với đến."

Giọng cậu tùy ý, chẳng có dáng vẻ gì là đang nói chuyện với cô cô mình, trái lại, hình thức hai người chung đụng với nhau như anh em vậy.

Chu Chu nghe cậu nói thế cũng không tức giận, ngoẹo đầu suy nghĩ rồi bỗng ngoắc tay với cậu: "Qua đây."

Triệu Quần hỏi: "Làm gì?"

Chu Chu chỉ xuống mặt đất: "Cậu qua cho ta kê nhờ chân đi."

Triệu Quần lắc đầu: "Há có cái lý để thân vương làm chuyện như vậy!

Ta không qua."

Chu Chu bĩu môi, giả đò nổi quạu: "Ta là cô cậu đó!"

Triệu Quần cười nói: "Cô cái gì mà cô, rõ ràng là Trư Trư."

Nói thì nói vậy, song cậu vẫn lại chỗ Chu Chu, cúi người gập eo, quả thực cho Chu Chu giẫm lên lưng mình.

Chu Chu một tay vịn tường, tay còn lại cầm cành trúc bám lên vai Triệu Quần, dè dặt bước lên lưng cậu, sau đó lắc la lắc lư đứng lên, lại với dải hoa lên cành cao nhất, vừa treo vừa nói: "Cậu mà không chịu nghe lời ta, ta sẽ kể chuyện 'Lông của ta' cho Vương cô nương và Bàng cô nương nghe..."

Triệu Quần phủ phục trên đất, kêu: "Họ thì liên can gì tới ta?"

Chu Chu nói: "Không liên can à?

Thế sao bữa trước thái hậu lại cố ý triệu họ vào cung ngắm hoa?"

Triệu Quần đáp: "Mẹ muốn chọn tân phu nhân cho nhị ca, không liên can đến ta."

Chu Chu lại hỏi: "Không liên can đến cậu mà hôm đó cậu hớt hơ hớt hải chạy đi tìm họ nói chuyện làm gì?"

Triệu Quần nhếch khóe miệng, nhoẻn một nụ cười gian giảo: "Ta nói với họ, sau này đừng ngại đi Ngọc Tân Viên xem bắn cung với Bân quốc đại trưởng công chúa, ở đó ngoài chim quý thú lạ, sứ thần ngoại bang ra, còn có rất nhiều người đáng xem khác, ví dụ như Tào..."

Cậu còn chưa dứt lời, Chu Chu đã hét lên một tiếng kinh hãi, trượt chân, ngã từ trên lưng Triệu Quần xuống, cả người cả cành trúc nhất tề lăn quay ra đất.

Triệu Quần vội xoay người đứng dậy vươn tay đỡ cô, ta im lặng đứng sau một cây hòe xem hồi lâu, lúc này cũng rảo bước qua, cùng Triệu Quần đỡ Chu Chu lên.

Triệu Quần và Chu Chu quan sát ta, đều có phần ngạc nhiên.

Ta cũng cảm thấy mình xuất hiện quá bất ngờ, bèn hành lễ tạ lỗi, xin đại trưởng công chúa thứ cho mình đường đột, rồi cúi đầu cáo lui, chậm rãi lui tới cửa cung viện.

Lúc ta xoay người, Chu Chu bỗng mở miệng gọi ta: "Ông ơi, xin hãy đợi đã."

Xưng hô của cô đối với ta làm ta thất thần một chớp mắt – Ông ơi?

Năm nay ta bốn mươi mà đã biến thành cụ ông trong mắt cô rồi ư?

Như để trả lời câu hỏi này, ta cụp mắt, nhìn thấy bóng mình trên mặt đất, eo cong lưng gù, quả thật là diện mạo lão giả.

Chu Chu đi tới trước mặt ta, đưa cho ta một cuộn tranh: "Cái này rơi từ trong tay áo ông ra lúc ông đỡ cháu mới nãy ạ."

Ta hai tay nhận lấy, khom người cảm ơn cô.

Cô bé nhìn ta đầy thương xót, chợt tháo chiếc vòng ngọc trên cổ tay ra, lại gọi Triệu Quần tới, kéo ngọc bội đeo trên hông cậu xuống, buộc lại rồi dúi cả vào tay ta.

Ta kinh ngạc trố mắt, không biết nên phản ứng thế nào.

Triệu Quần đại khái cho rằng ta băn khoăn, bèn mỉm cười khích lệ ta: "Nhận lấy đi, đây là đại trưởng công chúa thưởng cho ông đó."

Ta không nhiều lời, chỉ gật đầu, kính cẩn cảm tạ rồi cất vòng ngọc và ngọc bội vào ngực áo, lại lần nữa cáo lui.

Lúc sắp ra cửa, ta quay đầu nhìn lại hai đứa bé trẻ trung xinh đẹp kia, họ lại tiếp tục cười nói rôm rả treo dải hoa, trên đầu sóng sánh ánh dương, chung quanh vấn vít tơ nắng, dải màu và hoa đào nhảy múa trong gió xuân, hoa rơi tung bay như tuyết.

Ta im lặng cúi đầu, bưng "Song hỉ đồ" bước từng bước ra khỏi nơi sân sâu đương độ xuân nồng, chốn đào nguyên ngạt ngào hương sắc.

Có nội thị chạy tới, đóng lại cánh cửa sau lưng ta, khóa nỗi lưu luyến hồng trần lại không gian ta đánh rơi phía sau, mà ta cũng chẳng ngoái đầu, chỉ tiếp tục đi về phía trước, hờ hững bước lên con đường chẳng định đích đến.

Càng đi càng xa, tiếng thiếu niên nói cười mới rồi đã ẩn khỏi lỗ tai, mà xa xa lại loáng thoáng có tiếng tấu nhạc từ giáo phường vọng tới, là giọng dăm ba nữ tử lựa theo cung thương, đang hát một khúc ca u uẩn:

"Gặp gỡ, chốn đào tơ, vạn dặm mênh mang khói nước mờ.

Giữ người khôn đặng người cất bước, xuân thu gió nguyệt chơ vơ.

Hoa đào tựa mưa rơi cứ ngỡ, mặt người nào hay cõi chờ."
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Ngoại truyện 1: Thẩm lang về


1.

Đầu độc

Lúc Hương Duyên Tử nhìn thấy Thẩm Cấu, chàng đang nghỉ ngơi trong thư viện bên bờ Tây Hồ.

Hôm ấy, bạn cũ của Thẩm Cấu, Vương An Thạch, từ Biện Kinh tới, đi ngang qua Hàng Châu, chàng tụ tập văn nhân nhã sĩ Hàng Châu mở tiệc đón An Thạch, mời họ ngâm vịnh xướng họa trong thư viện, mình thì trộm nhàn sang sảnh đường ven hồ, nằm nghiêng trên sập mây, mặt nghênh hướng mười dặm gió sông bên ngoài sảnh, gối lên một chồng thi thư chợp mắt.

Giữa đất trời lá sen lớp lớp, khói sóng thuyền hoa, thơ ca liên miên, dường như đều chẳng liên quan đến chàng.

Rèm mi chàng rủ bóng mờ, khóe miệng khẽ nhếch, biểu lộ sự ngạo mạn chừng như rất quen thuộc của chàng đối với phong cảnh người vật nơi đây.

Mắt mày chàng tươi đẹp, song so với bảng nhãn lang bên Kim Minh Trì trong trí nhớ của Hương Duyên Tử lại như gần như xa.

Nàng xách hộp thức ăn vào, lặng lẽ dừng chân chăm chú nhìn hồi lâu rồi mới mở miệng gọi chàng "Thẩm tri châu".

Chàng chậm rãi mở mắt nhìn nàng, một thoáng hồ nghi nhàn nhạt vụt lướt qua, ẩn trong con ngươi, chàng thong dong ngồi dậy, rũ ống tay áo dài thẳng lưng ngay ngắn, hàng mày mang vẻ ung dung điềm tĩnh như trên công đường.

Hương Duyên Tử thi lễ nói: "Thiếp họ Trần, tên Dẫn Hương.

Mộ Vân tỷ đã về nhà chuẩn bị hôn sự, chưởng quản phòng bếp nói về sau, bánh trái tri châu dùng sẽ do thiếp tiếp quản.

Hôm nay trời nóng, thiếp làm canh cam thảo băng tuyết và đu đủ dầm kính tặng tri châu, mong tri châu nếm thử, xua tan nóng bức."

Đoạn mở hộp thức ăn ra, lấy thức lạnh món ngọt ra dâng lên từng bát.

Thẩm Cấu nhận lấy, ngửi thử cả hai món, hỏi: "Nước dùng bánh trái ta ăn hai ngày nay có vẻ khác trước, thoang thoảng ngậm hương, đều là cô làm?"

Hương Duyên Tử đáp: "Vâng.

Thiếp dùng lá trúc, lá lúa, lá long não hoặc lá quýt vo sạch phơi khô rang lên, thêm nước nấu sôi, để nguội rồi lọc lấy nước rót vào lọ sành, treo xuống giếng sâu cho ướp lạnh, dùng để làm thức uống là sảng khoái nhất, rất lợi cho tiêu nóng."

"Đó là cách pha nước của Đông Kinh phải không?"

Thẩm Cấu lại hỏi, "Cô nương là người phủ Khai Phong?"

"Không ạ, nguyên quán của thiếp ở Hàng Châu."

Hương Duyên Tử lập tức phủ nhận, thoáng trù trừ rồi giải thích thêm, "Chỉ là từng ở Đông Kinh mấy năm."

Thẩm Cấu cười cười, không hỏi nữa, cẩm bát canh cam thảo băng tuyết uống một hơi cạn sạch dưới ánh mắt chăm chăm của nàng.

"Cô cho ta uống cái gì?"

Một tháng sau, Thẩm Cấu hỏi Hương Duyên Tử, gương mặt lạnh lùng tái nhợt, trong mắt lấp lóe băng giá.

Hương Duyên Tử cười khẩy: "Canh cam thảo băng tuyết, nước đậu tuyết xốp, cao vải ướp lạnh, đậu nành ngâm băng tuyết...

Đều là thức uống lạnh tri châu thích ăn mùa này còn gì."

"Đều dùng nước pha có hương cỏ cây của Đông Kinh?"

Giọng Thẩm Cấu chậm chạp nhẹ bẫng, chợt phất vụt tay áo, bình nước trên bàn rơi xuống đất.

"Mấy ngày nay ta váng đầu hoa mắt cả ngày, tinh thần uể oải, thậm chí còn tứ chi mất sức, liên tục nôn mửa.

Đi khám mấy đại phu rồi đều không tìm ra nguồn cơn sinh bệnh, may mà gặp được một vị cao tăng, vừa trông sắc mặt ta đã hỏi ngay ăn uống có gì khác thường không.

Bấy giờ ta mới nhớ đến nước pha của cô, đem ra cho cao tăng xem, ông ấy tra ra trong đó ngoài lá trúc, lá lúa, lá long não, lá quýt mà cô nói, còn có mấy vị thảo dược, phối hợp với nhau sẽ thành độc dược tính âm, dùng lâu dài sẽ trúng độc bỏ mạng.

Mỗi ngày cô thêm một liều lượng nhỏ thứ này vào thức uống của ta là muốn thần không hay quỷ không biết dồn ta vào chỗ chết?"

Hương Duyên lặng im không nói.

Thẩm Cấu lại tiếp: "Cô mai danh ẩn tính, lẻn vào dinh tri châu, làm thị nữ phòng bếp hơn nửa năm mới lấy được cơ hội hạ độc hôm nay, có thể nói là trăm phương ngàn kế.

Mà ta với cô không oán không thù, cô hại ta như vậy là bị ai xúi giục?"

Thoáng dừng lại, thấy nàng vẫn chẳng chịu hé răng, không kìm được khóe miệng khẽ nhếch, gọi thẳng tên thật của nàng: "Hương Duyên Tử!"

Cái tên này khiến nàng giật mình nhảy dựng, cấp tốc đưa mắt nhìn chàng.

Phản ứng của nàng nằm trong dự liệu của chàng, ánh mắt chàng soi vào con ngươi nàng tựa một mũi dao sắc nhọn, đâm thẳng vào lòng nàng: "Ta biết cô họ Viên, từng là thị nữ của Duyện quốc công chúa, công chúa đặt tên cho cô là Hương Duyên Tử."

Hương Duyên Tử đúng là một trong tứ đại thị nữ của Duyện quốc công chúa, vào cung từ nhỏ, bầu bạn cùng công chúa trưởng thành, tình cảm với công chúa như chị em.

Triều Nhân Tông đông đúc nhân tài, công chúa vén rèm trộm ngó.

Áo mũ đầy sân chẳng ai không phải tuấn kiệt đương thời.

Công chúa vốn chan chứa hi vọng phu quân cũng là một trang tài hoa trác việt, dung mạo phong nhã, mà Nhân Tông hoàng đế tuy yêu thương Duyện quốc công chúa, song lại vì bày tỏ tưởng niệm và bồi đắp cho mẹ ruột Lý thần phi, quyết định gả công chúa cho con trai Lý Vĩ của Lý Dụng, đệ đệ Lý thần phi.

Sau mối tình tàn lụi với cháu trai Tào hoàng hậu, Tào Bình thiếu niên anh tuấn, văn võ song toàn, công chúa nản chí ngã lòng, tuân mệnh xuất giá.

Nhưng Lý Vĩ tướng mạo xoàng xĩnh, xuất thân tầm thường, hay bị cung nhân nhạo báng là nhà giàu mới nổi, tính cách hắn lại hiền lành ít nói, có phần hơi đần độn, công chúa buồn bực tột độ, đối xử lạnh nhạt với Lý Vĩ, giữa hai người chẳng mảy may vắt nổi mảnh tình.

Bởi nhân duyên mình ê chề nên công chúa rất quan tâm đến chung thân đại sự của thị nữ, thả cho phần lớn thị nữ về nhà lấy chồng, hi vọng họ có bến đỗ hạnh phúc.

Tuổi tác cha mẹ Hương Duyên Tử đã cao, nàng lại chẳng có anh em, chị gái đã xuất giá hết cả, thế nên cũng tự xin về nhà.

Công chúa lập tức đồng ý, còn ban cho nàng rất nhiều trang sức tiền bạc, dặn nàng ngày sau kén chồng ở rể, cùng hầu hạ song thân.

Nghe ý Thẩm Cấu, chàng tựa hồ biết rất rõ những chuyện này, Hương Duyên Tử vô thức truy hỏi: "Ngài biết từ lúc nào?"

Thẩm Cấu mỉm cười: "Cô phạm vào chuyện lớn như vậy, ta đương nhiên phải điều tra cô rõ ràng rồi."

Vậy tức là chàng vẫn chưa nhớ ra nàng...

Hương Duyên Tử thở phào nhẹ nhõm, lại bỗng dậy lên chút phiền muộn không cách nào ngăn trở.

Nàng khôi phục vẻ mặt trấn tĩnh, cũng chẳng sợ hãi, nhìn thẳng vào mắt chàng: "Tri châu đã tra rõ lai lịch tôi rồi thì cần gì phải hỏi lại tôi nguyên nhân.

Tôi nhà tan cửa nát, lưu lạc tới nông nỗi này, tất cả đều do tri châu ban tặng, tri châu há lại không biết?"

Thẩm Cấu nín thở ngồi thẳng dậy, nói ra đáp án chàng đắn đo: "Là vì Nhậm Khang Ngao?"

Thẩm Cấu xuất thân Thẩm thị đất Tiền Đường, từ thời Ngô Việt đến quốc triều Đại Tống, Thẩm thị đều có người vào triều làm quan, có thể nói là dòng dõi trâm anh mấy đời.

Thuở thiếu thời, Thẩm Cấu nhậm một chức quan nhỏ tên là "giao xã trai lang" theo chế độ bổ ấm.

Nhưng quốc triều tôn sùng học trò, quan viên toàn triều đa số là thư sinh đỗ đạt khoa cử, không có xuất thân tiến sĩ chẳng thể lên được chức cao, hoạn lộ của kẻ làm quan dựa vào bổ ấm có hạn, lại hay bị đồng liêu xuất thân tiến sĩ chế giễu.

Bởi thế, năm Hoàng Hựu thứ nhất, Thẩm Cấu hai mươi hai tuổi khóa sảnh từ quan, tham gia cống cử.

Sau kỳ thi đình, tiến sĩ đứng nhất mà quan khảo thí và hoàng đế chọn vốn là Thẩm Cấu, song lại có đại thần chỉ ra, trước kia Thẩm Cấu từng làm quan bổ ấm, theo thông lệ, "người từng làm quan không được đứng trước chúng sĩ", không thể chọn chàng làm trạng nguyên, vì vậy, hoàng đế khâm điểm Phùng Kinh làm trạng nguyên, Thẩm Cấu thành bảng nhãn năm đó.

Sau đó, thoạt đầu, Thẩm Cấu làm thông phán Giang Ninh phủ, mãn hạn hồi kinh, tham gia triệu thí vào quán các, chàng chọn thử viết sách luận, soạn nên thiên "Bản trị luận".

Hoàng đế xem xong rất tán thưởng, nói: "Gần đây người hiến văn cứ động cái là viết thi phú, lại chẳng chân thực khả dụng bằng thiên văn này."

Nhờ đó, Thẩm Cấu thuận lợi vào quán các nhậm chức tập hiền giáo lý, không bao lâu sau thì giống như trạng nguyên Phùng Kinh, được thăng làm tu khởi cư chú rồi tri chế cáo.

Tiếc rằng sau nữa, phụ thân Thẩm Phù phạm phải chút chuyện, chàng bèn tự xin bổ nhiệm ra ngoài, trước tri Việt Châu, sau tri Hàng Châu.

Một ngày nọ, Thẩm Cấu vời quan lại Hàng Châu đến dự tiệc xuân ở Vọng Hồ Lâu.

Bấy giờ, dân chúng Hàng Châu không ai không biết đến đại danh Thẩm lang đất Tiền Đường, nghe nói chàng làm cỗ trên lầu, phàm là người cưỡi ngựa đi lại, đến trước Vọng Hồ Lâu đều sẽ xuống ngựa đi bộ qua, tỏ ý tôn kính.

Chỉ duy có một kẻ sĩ là ngoại lệ, cưỡi một con ngựa cao lớn, nghênh ngang giơ roi thúc cương phóng qua trước Vọng Hồ Lâu.

Thẩm Cấu trên lầu nhìn thấy, hỏi thân phận người này, có người đáp: "Là danh sĩ Nhậm Khang Ngao, thiện ngâm vịnh, có tài danh, tác phẩm 'Bạc mị' từng lưu truyền một thời trong thành, người đời đều biết.

Bởi vậy mà tâm cao khí ngạo, tự cho rằng trạng nguyên một khoa chính là mình, thế nên thường có hành vi cuồng vọng."

Thẩm Cấu tức thì đập bàn, lệnh bắt Nhậm Khang Ngao lại áp giải tới dưới lầu, còn bảo người mang bút mực tới, viết bài từ phán tại chỗ: "Bữa nay gặp mặt Thẩm Tử Vi, thôi ngâm Bạc mị cùng Thôi Huy (*).

Cung trăng chuyến này ba ngàn dặm, lại để phong trần nhuốm bố y."

(*) Tên một ca kỹ phủ Hà Trung thời Đường.

Lúc vị quan sứ Bùi Kính Trung từ Hưng Nguyên Mạc đi công vụ tới Bồ Châu từng chung chạ với Thôi Huy vài tháng.

Bùi Kính Trung công vụ xong xuôi trở về, Thôi Huy không thể đi theo nên sầu hận, bệnh không dậy nổi.

Có vị họa sĩ tên Khưu Hạ thiện tài vẽ người, nàng bèn nhờ vẽ cho mình một bức chân dung gửi cho Kính Trung, chuyển lời: "Nếu không gặp được người trong họa thì người ấy đã chết vì lang quân".

Sau, Thôi Huy ôm hận mà chết.

Người đời sau dùng tên nàng để chỉ những thiếu nữ xinh đẹp đa tình hoặc có tài hội họa.

Viết xong ném bút, sai binh lính đẩy Nhậm Khang Ngao ra ngoài, xử quyết ngay dưới lầu.

"Người ngài giết không chỉ là Nhậm Khang Ngao."

Hương Duyên Tử nói, "Tôi nhận ân điển của Duyện quốc công chúa, được cho về nhà hầu hạ song thân.

Cha mẹ mang tôi trở về cố hương Hàng Châu, vừa là để an hưởng tuổi già, vừa là vì một tâm nguyện: Hàng Châu địa linh nhân kiệt, mong có thể kiếm cho tôi một tấm chồng tài sĩ để tương lai vợ con được hưởng tước ấm, làm rạng rỡ cửa nhà."

Thẩm Cấu giễu cợt: "Sau cùng họ kiếm được Nhậm Khang Ngao."

"Phải."

Hương Duyên Tử trợn mắt trừng Thẩm Cấu, nghiến răng nói, "Ngày ấy Nhậm Khang Ngao vừa tới nhà tôi hạ sính lễ, nhất thời mừng rỡ, tới Vọng Hồ Lâu quên xuống ngựa, tuy ngông cuồng nhưng nào đến nỗi phải chết?"

Thẩm Cấu lạnh nhạt nói: "Tạm chưa bàn đến hắn đáng chết hay không, cô nói cho xong chuyện này đi đã."

Nhớ lại chuyện năm đó, trong lòng Hương Duyên Tử đau đớn, không cầm được rơi lệ: "Sau khi Nhậm Khang Ngao chết, người nhà anh ta đau buồn, lại nghe tiểu nhân gièm pha, cảm thấy bát tự của tôi gây ra họa sát thân cho anh ta, bèn triệu tập tộc nhân đến nhà tôi phá phách, đòi lại sính lễ, đánh đập một trận, còn chỉ tên mắng tôi khắc chồng.

Cha tôi vốn mắc bệnh tim, chịu kinh sợ oan ức phen này, phát bệnh ngay hôm ấy, bỏ mẹ con tôi đi.

Mẹ tôi nhớ cha, lại thấy tôi lưng đeo tội danh khắc chồng không ai thèm cầu hôn nữa, cả ngày khóc ròng, không đến nửa năm đã sầu muộn qua đời."

Thẩm Cấu tỏ tường: "Thế nên cô quy tội tất cả những chuyện này lên đầu ta."

"Lại chẳng ư?"

Hương Duyên Tử lạnh lùng nói, "Thẩm tri châu xem mạng người như cỏ rác, bưng bít luật pháp Đại Tống, phán quyết qua loa, dẫn đến hai gia đình gặp phải đại họa này, chẳng lẽ không nên trả giá?"

"Ông ngoại cô từng là danh y Hàng Châu, chắc hẳn sau đó cô đã nghiên cứu sách thuốc của ông ấy, tìm ra cách điều chế loại độc dược mạn tính kia."

Thẩm Cấu nói ra suy đoán của mình, Hương Duyên Tử từ chối cho ý kiến, Thẩm Cấu lại hỏi: "Nhưng cô đã từng làm thị nữ của Duyện quốc công chúa thì hẳn phải có bản lĩnh thông thiên, sao không quay lại kinh thành tố cáo ta với công chúa và kim thượng?

Tự lén xuống tay hạ độc như vậy, không sợ việc học bỏ mình sao?"

"Cha mẹ không còn, tôi đã chẳng còn tha thiết gì cuộc sống nữa, nếu sống tiếp là tham sống sợ chết thì há còn tiếc rẻ cái mạng này?"

Hương Duyên Tử đáp.

Chợt nghĩ đến công chúa, ánh mắt nàng ảm đạm, khóe miệng hé một nụ cười khổ.

Công chúa hôn nhân bất hạnh, mà khi còn nhậm chức ở nội thị tỉnh, nội thần Lương Hoài Cát chưởng quản nội vụ phủ công chúa từng có rất nhiều cơ hội tiếp xúc với văn nhân nhã sĩ, danh thần nghệ thuật gia, nhờ vậy học được chút ít tài nghệ, dưới sự hu đúc của danh sĩ, bồi dưỡng nên đôi phần khí chất văn nhân tao nhã mà công chúa thưởng thức, sau những tháng ngày sớm chiều chung đụng giữa chàng và công chúa, hai người dần nảy sinh chút tình cảm mơ hồ.

Mẹ phò mã Dương thị không cách nào nín nhịn được với tình cảm của họ, thường theo dõi việc riêng tư của công chúa con dâu và Lương Hoài Cát.

Có lần, công chúa và Lương Hoài Cát đối ẩm với nhau giữa đêm, Dương thị dòm lén, bị công chúa phát hiện, oán hận chất chứa trong công chúa bùng nổ trong nháy mắt, nửa đêm gõ cửa hoàng thành, vào cung khóc kể với cha mẹ.

Hậu quả mở cửa cung giữa đêm vô cùng nghiêm trọng, ngày kế, triều đình sôi nổi bàn luận, chư thần liên tiếp dâng sớ, yêu cầu trừng trị hộ vệ hoàng thành, nhóm gián thần Tư Mã Quang còn nhức nhối chỉ trích Duyện quốc công chúa, đồng thời yêu cầu Nhân Tông giết Lương Hoài Cát.

Nhân Tông vừa thương con gái vừa sợ gián thần, bất đắc dĩ ra một quyết định thỏa hiệp với hai bên: Tách công chúa và Lý Vĩ ra riêng, trở lại sống trong cung, còn Lương Hoài Cát thì bị phạt đày tới Lạc Dương quét hoàng lăng.

Công chúa không tài nào chấp nhận được sự thật Lương Hoài Cát đi xa, trong cơn cuồng nộ đã mấy bận muốn tự sát, bị ngăn trở lại phóng hỏa đốt cung thất, trạng thái triệt để sụp đổ rồ dại.

Nhân Tông sốt ruột cho con gái yêu, cuối cùng vẫn lặng lẽ vời Lương Hoài Cát về.

Ngôn quan do Tư Mã Quang dẫn đầu tiếp tục công kích công chúa, nói người trên ngôi cao phải đặc biệt chú trọng danh dự, phẩm hạnh không thể có khuyết điểm.

Hoàng hậu cũng nhắc nhở công chúa, thân được vạn dân phụng dưỡng, có trách nhiệm phải nghiêm khắc kiềm chế bản thân, trở thành gái thảo nữ hiếu mà trăm họ kính ngưỡng của nước nhà, không thể có tai tiếng để người đời lên án dẫn đến tổn hại hoàng thất, thậm chí là tổn hại đến hình tượng quốc gia.

Hoàng đế bị quần thần dồn ép, Duyện quốc công chúa và Lương Hoài Cát tiến thoái lưỡng nan, những con người bị vây hãm trong hoàng thành ấy đều khốn khổ khôn xiết.

"Công chúa và quan gia khốn đốn vì chuyện nhà, tâm sức đã lao lực quá đỗi, sao tôi có thể đem chuyện này ra nhờ vả?"

Khẽ hất cằm, Hương Duyên Tử nói với Thẩm Cấu, "Hôm nay hỏng việc, muốn chém muốn giết tùy ngài định đoạt, tôi chịu là được."

"Chết quá dễ dàng, ta sẽ không cho cô được hời vậy đâu."

Thẩm Cấu mỉm cười, "Sẽ có hình phạt thích hợp hơn với cô, cô có muốn sống tiếp xem thử không?"

2.

Huyền Vi

Thẩm Cấu không mảy may xử Hương Duyên Tử bất kì hình phạt gì, trái lại để nàng làm thị nữ hầu bên cả ngày, chỉ là không cho nàng làm đồ ăn thức uống nữa.

Hương Duyên Tử không đoán được chàng định làm gì mà cũng chẳng có cơ hội hay nắm chắc được việc tính kế chàng lần nữa, đôi con ngươi sáng trong của chàng cứ liếc sang nàng là nàng lại có cảm giác như mình biến thành một người trong suốt, lòng dạ tim gan đều in rõ nơi đáy mắt chàng.

Thẩm Cấu có thói quen dậy sớm xử lý việc công, đến trưa xong việc thì ra cửa thăm viếng bạn bè lâu năm, ung dung yến ẩm.

Sau khi dừng uống nước độc, dường như sức khỏe của chàng khôi phục rất mau, nom dáng vẻ lúc nào cũng thần thái sáng láng, dồi dào tinh lực.

Một chiều nọ, Thẩm Cấu dẫn Hương Duyên Tử tới một tiểu viện tường vôi ngói đen.

Mới tới trước cửa đã nghe bên trong có tiếng đàn sáo vọng ra, bước vào sân, thấy một cô gái đưa lưng về phía họ, vừa gảy tỳ bà vừa xướng khúc, bên cạnh có nhạc kỹ hòa tấu, đối diện thì có vài vũ cơ vung tay áo nhảy múa, nghe người hát hát tới "Hiu hiu sập nhỏ nằm gối sách, đợi ngày tắt nắng cưỡi ngựa về", chúng vũ cơ bật cười khanh khách, dáng múa cũng ngả nghiêng chẳng ra điệu hình.

Thẩm Cấu đứng xem cũng không nhịn được rộ cười, cất giọng hỏi: "Bài từ này ai viết thế?

Thâm ý có vẻ sâu sắc đấy nhỉ."

Mọi người vội vàng tiến lên thi lễ.

Cô gái xướng khúc buông tỳ bà xuống, nâng vạt áo thưa: "Bài từ này do Vương An Thạch học sĩ viết sau khi trở về từ phủ tri châu, người xem đều khen thú vị, đặc biệt sao lại đưa đến, nhờ tôi phổ khúc ngày sau hát cho tri châu nghe.

Tôi cả gan tập luyện ở đây hôm nay, mong tri châu thứ tội."

Giọng cô mềm nhẹ êm dịu, vô cùng dễ nghe, dáng dấp cũng lả lướt uyển chuyển, song trên mặt lại đeo một tấm mạng sắc thâm, che kín gương mặt từ mắt trở xuống.

Hương Duyên Tử để ý xem kĩ, thấy hai mắt cô gái này lóng lánh, lúc đưa mắt thu thủy mênh mông nom rất phong tình, chỉ nhìn nửa mặt thôi cũng biết là một đại mỹ nhân, đáng tiếc giữa hai chân mày lại có một vết sẹo lồi, màu sắc còn xám xịt, tuy đã dùng phấn son và hoa bột cố gắng che đậy nhưng vẫn có thể nhìn ra ngay, từ đó có thể suy đoán, hai bên má cô nhất định cũng có vết thương tương tự nên mới dùng mạng che mặt.

"Cô mà biết tội thì còn nghe người ta xui khiến đem khúc này ra châm biếm ta à?"

Thẩm Cấu cười nói.

Cô gái kia cúi đầu giải thích, tư thái nhu mì: "Tri châu, Vương học sĩ viết bài từ này chẳng có châm chọc gì đâu.

Ý chỉ tri châu giương roi thúc ngựa lúc rỗi rành, tụ tập yến ẩm cùng bạn bè, giữa chừng gối sách chợp mắt, hoàng hôn dắt ngựa về nhà, đến sáng hôm sau lại có thể tinh thần phấn chấn, hạ bút tựa gió mưa, xử lí liền trăm cuốn giấy tờ, phạt ác khen thiện.

Thế nên bài từ này mặt ngoài chê bai bên trong ca ngợi, thực tế là tán dương tri châu có phong độ Ngụy Tấn, là danh sĩ đích thực."

Thẩm Cấu vỗ tay nói: "Nguyễn nương tử mới thật là hành thủ.

Tìm khắp thành Hàng Châu cũng chẳng ra đóa hoa nào thông tuệ khéo léo thấu hiểu lòng người được như cô."

Đoạn bảo Nguyễn nương tử tiếp tục dẫn dắt nhạc kỹ vũ cơ tập luyện, mình thì ngồi một bên thích thú xem đến chiều tà mới cùng Hương Duyên Tử trở về.

"Thương tích trên mặt chị ấy..."

Hương Duyên Tử chần chừ hồi lâu, cuối cùng không nhịn được hỏi Thẩm Cấu.

Một cô gái tư dung giọng hát đều tuyệt đẹp, lại am hiểu lòng người nhường ấy, chẳng biết đã gặp phải biến cố bậc nào mà chịu họa hủy hoại dung nhan.

"Cô ấy tên là Nguyễn Huyền Vi, từng là danh kỹ danh giá nhất thành Hàng Châu."

Thẩm Cấu đáp, "Trước kia cô ấy và một kẻ sĩ mến mộ lẫn nhau, người nọ khá có tài danh, nhưng tính tình lại cực kì thô bạo.

Huyền Vi không chịu đựng nổi, xa cách với hắn, có ý đoạn tuyệt quan hệ.

Kết quả người nọ dùng dao sắc cắt mấy vết lên mặt cô ấy, còn quết mực lên, hủy hoại rốt ráo dung nhan cô.

Huyền Vi tố việc này lên châu phủ, tri châu tiền nhiệm lại lấy lí do 'mến tài' không truy cứu trách phạt kẻ hành hung.

Sau đó trước cửa Huyền Vi đìu hiu, bị buộc ra ngoài phố hát rong kiếm sống.

Một lần hát rong giữa đường, gặp người đi đường chế nhạo chuyện dung nhan, cô ấy khóc lóc ở đầu đường, hôm đó ta nhậm chức, tình cờ gặp được, hỏi rõ nguyên do rồi thu xếp sơ qua, thấy tài nghệ ca múa của cô ấy xuất chúng, bèn để cô ấy tới nhạc phường làm hành thủ, dạy dỗ nhạc kỹ."

Ngẫm nghĩ tỉ mỉ chuyện này và giọng nói ngầm chứa khinh thường của Thẩm Cấu khi nhắc đến kẻ sĩ kia, Hương Duyên Tử thấy lòng nao nao, bụng có một suy đoán mơ hồ, lại đưa ánh mắt hỏi dò nhìn Thẩm Cấu.

Thẩm Cấu thản nhiên đối diện nàng: "Không sai, kẻ đó chính là Nhậm Khang Ngao."

Đó giờ Hương Duyên Tử vẫn tưởng rằng Thẩm Cấu giết Nhậm Khang Ngao là bởi có lòng đố tài, chẳng ngờ nguyên do lại từ vụ án Nguyễn Huyền Vi hủy dung.

Trước kia chưa từng có ai đề cập đến chuyện này với nàng, hoặc là người làm mai bạn bè thân hữu biết chuyện tận lực giấu giếm.

Mỗi lần nghĩ đến đây, ngoài phẫn uất, Hương Duyên Tử cũng cảm thấy hơi mừng: Vị hôn phu hung ác nhường vậy, nếu không có Thẩm Cấu tạo nên biến cố ấy, mình gả thật cho hắn rồi, ngày sau không vừa lòng hắn thì trở thành Nguyễn Huyền Vi thứ hai cũng chưa biết chừng.

Hiểu được phần nào suy nghĩ của Thẩm Cấu rồi, nàng cũng dần nhận ra ưu điểm của chàng.

Chẳng hạn như tuy không hay đọc sách song trí nhớ của chàng tốt hơn người bình thường rất nhiều, viết văn trích dẫn kinh điển, giỏi nghị luận phê bình.

Chàng không thích điền từ mỹ miều ướt át, nhưng thơ ca sáng tác ra lại đẹp đẽ phóng khoáng, chẳng nhiễm vần tục.

Chàng giải quyết sự vụ sáng suốt, xử án như thần, còn mang tấm lòng cha mẹ đối với bách tính Hàng Châu: nếu nhà bần dân có người chết không có tiền an táng, chàng sẽ trích tiền công trao tặng; bé gái mồ côi không có đồ cưới không thể thành hôn, chàng cũng sẽ viện trợ giống vậy; nếu có xướng kỹ đào kép thu con gái nhà lành làm con gái nuôi, chàng biết rồi sẽ lập tức sai người cướp đứa bé về trả lại cho cha mẹ...

Ấn tượng về chàng thay đổi rồi, Hương Duyên Tử hầu hạ chàng cũng nghiêm túc hơn trước kia, thêm hương thêm áo, châm trà hầu đọc đều khá dụng tâm.

Có bận Thẩm Cấu chong đèn đọc sách suốt đêm, Hương Duyên Tử bầu bạn bên cạnh, sau cùng thấy buồn ngủ, đầu gật gà gật gù, chợt nghe Thẩm Cấu gọi tên mình, nàng bừng tỉnh, ngước mắt thấy Thẩm Cấu đang nhìn mình, nhất thời lúng túng, đỏ mặt đứng lên, hỏi: "Tri châu có gì phân phó?"

"Ừm, ta khát rồi."

Thẩm Cấu mỉm cười, nhẹ giọng hỏi: "Có thể làm cho ta một bát nước đậu tuyết xốp không?"

Đây là lần đầu tiên chàng bảo nàng làm đồ ăn thức uống sau khi xảy ra chuyện đầu độc.

Nàng kinh ngạc đứng ngây ra hồi lâu mới hoàn hồn được, gắng nén nước mắt chỉ chực dâng trào, cúi đầu đáp: "Đêm giờ đã khuya, uống nước đậu tuyết xốp quá lạnh, dễ gây tổn thương đến lá lách.

Trong bếp có canh đậu xanh, để tôi thêm chút bách hợp rồi đun nóng một bát mang tới cho tri châu nhé."

Sau đó, Hương Duyên Tử lại lần nữa quản lí ẩm thực của Thẩm Cấu.

Nàng vốn từng học nấu nướng trong cung, thức ăn nấu ra vốn đã tinh xảo ngon miệng hơn hẳn đầu bếp bình thường, nay còn dụng tâm có lòng, tìm công thức nấu nướng của các đầu bếp nổi danh khắp mọi nơi về nghiên cứu, thay đổi cách chế biến làm cho Thẩm Cấu ăn, có thể liền một, hai tháng không trùng món nào.

Mà Thẩm Cấu cũng chẳng nghi ngờ thêm, nàng đưa cái gì là ăn cái đấy, chưa bao giờ thử độc, món ăn mà hợp miệng sẽ không quên khen ngợi đôi câu, lúc ấy hai người thường nhìn nhau cười, trong ánh mắt đôi bên đều hàm chứa sự dịu dàng dành cho thân quyến.

3.

Phán quyết

Duyên do lần đầu hai người họ tranh chấp đến từ một phán quyết của Thẩm Cấu.

Thẩm Cấu tuy dung mạo tuấn tú nhưng tính tình lại cương nghị, tác phong dứt khoát, trị ác quyết liệt, đối đãi với tội phạm tuyệt không nhân nhượng, tất thảy đều trừng phạt nghiêm khắc, có danh "Ngọc Diện Diêm La".

Ở Hàng Châu chàng phất rộng tay áo, tự mình đảm đương, phán quyết không định nặng nhẹ theo luật pháp Đại Tống, tội phạm chỉ có điều bất thiện thôi, chàng cũng sẽ thích chữ lên mặt hắn đày làm sai dịch.

Trong hai năm ngắn ngủi chàng tri Hàng Châu, số lượng người bị thích mặt đã lên đến hàng trăm.

Một ngày nọ, Thẩm Cấu viết bản án ở dinh, trong lúc mài mực, Hương Duyên Tử liếc chàng mấy lần, phát hiện ra tội phạm bản án nhắc tới chỉ mới mười một tuổi mà phán quyết của Thẩm Cấu lại là "xử chém", không kìm được cả kinh, hỏi Thẩm Cấu: "Đứa bé này mới mười một tuổi, hãy còn chưa hiểu chuyện, dẫu có phạm sai lầm lớn cũng không nên thi hành hình phạt dành cho người trưởng thành lên cậu ta, không bằng mời người quản giáo nghiêm ngặt, lấy thiện dạy bảo, để cậu ta hối cải tự sửa tính."

Thẩm Cấu khịt mũi khinh thường: "Mười một tuổi mà nhỏ lắm chắc?

Lúc ta mười một tuổi đã thông hiểu đạo lý rồi.

Năm ngoái cha mẹ thằng bé này sinh con thứ, nó thấy cha mẹ che chở em bé trăm bề, quan ái dành cho nó giảm đi thì sinh lòng ghen ghét, thừa dịp cha mẹ không ở nhà đánh em trai, cuối cùng lấy đá đập chết em.

Hành vi ác ôn như thế mà có thể dùng 'sai lầm' phán xét qua loa sao?

Còn nhỏ đã ác độc như vậy, lớn lên rồi chẳng biết sẽ tàn bạo đến mức nào, chẳng bằng giết luôn bây giờ, không cho nó cơ hội hại nước hại dân."

Hương Duyên Tử nói: "Nếu người trưởng thành phạm tội nặng như vậy thì quả thật là nên giết đúng luật, nhưng thằng bé này còn nhỏ, không đủ khả năng nhận thức đúng sai thiện ác, như một cục đất nặn vậy, trước đây bị người ta nặn méo nặn mó, sao biết được sau này liệu có được thợ lành nghề nặn lại thành vật tốt hay không?"

Thẩm Cấu chỉ lấc đầu: "Cô lớn lên trong thâm cung, bên người đều là phụ nữ thái giám, hèn chi nói ra chỉ toàn lời nhân ái đàn bà."

Thấy chàng bất kính với cố nhân trong cung mà mình coi là chí thân, giọng có ý miệt thị xúc phạm, Hương Duyên Tử không khỏi nổi nóng, cười khẩy: "Quan gia cũng lớn lên trong thâm cung, bên người đều là 'phụ nữ thái giám' mà ngài nói đấy, quan gia đối xử với người khác hòa nhã hiền hậu, thường dạy bọn tôi làm người phải khoan dung, lấy đức báo oán...

Đó cũng là nhân ái đàn bà?

Mà phán quyết của tri châu, theo lý phải căn cứ vào luật pháp mà hoàng đế ban hành, chẳng biết giết trẻ con như hôm nay là căn cứ theo điều luật nào?"

Thẩm Cấu lặng thinh thoáng chốc rồi nói: "Hoàng đế có lòng đại ái với con dân, ta coi trị đặt nặng pháp chế chính là để thanh trừng kẻ xấu giặc dữ, đem lại thái bình cho nhân dân, đều xứng với đức đại ái của ngài."

Nói thì nói vậy, song chàng vẫn nhấc bút lên lần nữa, sửa câu xử chém thành thích mặt.

Lại thở dài: "Lấy đức báo oán tuy tốt nhưng có rất nhiều kẻ tâm địa xấu xa, vĩnh viễn không lĩnh hội được cái đức cô dành cho hắn."

Hương Duyên Tử vẫn cảm thấy hình phạt thích mặt quá nặng, lại tranh luận: "Thích chữ lên mặt nó thế chẳng phải sẽ khiến sau này tất cả mọi người đều biết nó từng phạm trọng tội sao?

Nó còn nhỏ như vậy..."

"Lần này, cô không có chỗ để mặc cả nữa đâu."

Thẩm Cấu ngắt lời nàng, "Có một loại người trời sinh tính tình ác nghiệt, coi mạng người như sâu kiến, khát máu lạm sát, còn không biết sợ hãi, không biết áy náy, khó lòng giáo hóa.

Sau khi sát hại em trai, thằng bé đó vẫn có thể cười nói tự nhiên với người khác, ăn uống như thường, nói năng trấn tĩnh, rất vô nhân tính.

Thích chữ lên mặt nó là để mọi người trông thấy đều biết nó nguy hiểm, không thấy nó còn nhỏ mà mất lòng phòng bị, để nó một lần nữa hành ác."

Hương Duyên Tử hoàn toàn không ngờ rằng người kế tiếp bị Thẩm Cấu phán quyết thích mặt lại có liên quan tới mình.

Vài thân thích của Nhậm Khang Ngao tìm được nàng, liên tục lạy lục nàng, đầu tiên là tự tát sám hối chuyện năm xưa phá phách nhà họ Viên, sau đó nói hôm trước Thẩm tri châu hạ lệnh bắt giữ rất nhiều người nhà của họ, có nam có nữ, hôm nay công bố bản án, tất cả đều là thích mặt.

Chẳng biết tại sao lại xử nặng đến thế, họ nghe nói hiện giờ Hương Duyên Tử là tâm phúc bên cạnh tri châu nên tới nhờ vả, mong Hương Duyên Tử châm chước, xin tri châu giảm nhẹ hình phạt.

Hương Duyên Tử hỏi Thẩm Cấu, Thẩm Cấu lạnh nhạt nói: "Mấy ngày qua, thủ phạm chính trong số chúng tung lời đồn nhảm, phá hoại danh dự người ta, bức tử một quả phụ thủ tiết.

Ta điều tra án này, nhân tiện liên hệ xử lí luôn cùng vụ án nhà cô, bắt thêm mấy người."

"Tất cả đều thích mặt?"

Hương Duyên Tử nói, "Suy cho cùng họ cũng không xách đao đi giết người, nghiêm trị kẻ cầm đầu trong đó là được.

Bây giờ liên lụy đến nhiều người như vậy, lại xử phạt quá nặng, sẽ khiến người ta chỉ trích, lòng tôi cũng bất an."

Thẩm Cấu chợt cười: "Lúc trước ta cũng đâu xách đao đi giết người nhà cô, thế mà cô vẫn muốn giết ta đấy thây."

Hương Duyên Tử nhất thời cứng họng, nhớ đến chuyện cũ, vừa thẹn vừa cáu, Thẩm Cấu lại sáp lại gần nàng, thấp giọng hỏi bên tai vành tai đỏ rực như nung của nàng: "Nếu ta chết, lòng cô có an không?"

Hương Duyên Tử cuống quýt bước mấy bước tránh xa chàng, nghiến răng ngoái đầu nói: "Tôi không muốn nhắc lại chuyện trước kia.

Đối với tri châu, tôi chỉ là khách qua đường, hôm nay ân oán đã thanh toán xong, mong mọi phán quyết của tri châu về sau đều không liên quan tới tôi nữa."

4.

Trâm ngọc

Trải qua hai chuyện này, Hương Duyên Tử và Thẩm Cấu không còn thân thiết như xưa nữa, tuy vẫn gặp mặt hằng ngày nhưng rất ít nói chuyện, tương đối xa lạ.

Lúc chung đụng hòa hợp nhất với Thẩm Cấu, Hương Duyên Tử từng nghĩ nửa đời còn lại sẽ mãi làm bạn bên chàng, không rời xa nữa, mà nay tình hình thế này, nghĩ đến tiền đồ, chỉ cảm thấy trời mù đất mịt, chẳng biết tìm chốn nào nương thân.

Chùa Linh Ẩn phía tây Tây Hồ hương khói hưng thịnh, tương truyền là nơi xin xăm cầu nguyện linh nghiêm nhất.

Có ngày, thị nữ trong phủ rủ nàng đi, Hương Duyên Tử cũng có ý xin xăm lý giải tâm tư, bèn đi cùng cô.

Trước khi xin xăm, đồng bạn cười hỏi nàng muốn cầu chuyện gì, Hương Duyên Tử lắc đầu không đáp.

Đồng bạn trêu ghẹo: "Chẳng nói tôi cũng biết, khẳng định là nhân duyên."

Hai người đương quở mắng cười đùa, đồng bạn chợt trỏ mép tóc Hương Duyên Tử hỏi: "Trâm ngọc của cô đâu mất rồi?"

Hương Duyên Tử giơ tay lên sờ, quả nhiên trâm ngọc đã chẳng biết đi đâu.

"Trên đường đi tôi còn thấy mà, chắc chắn là ban nãy bị rơi rồi, chúng ta cẩn thận tìm lại xem, hẳn có thể tìm được."

Đồng bạn an ủi.

Hai người tìm khắp điện cũng không thấy trâm đâu, chợt nghe ngoài điện ầm ĩ tiếng người, như có hỗn loạn, hai người vội ra xem, chỉ thấy một thiết niên quần áo lam lũ bị hai gã cường tráng có vẻ như là gia đinh áp giải, quỳ xuống trước một văn sĩ tuổi chừng ba mươi.

Hương Duyên Tử trông người này quen quen, chợt nhớ ra đây là chủ bạc (*) Tây Khê Chu Nguyên, vừa là thuộc hạ vừa là đồng hương của Thẩm Cấu, hai người qua lại rất khăng khít, Hương Duyên Tử cũng từng gặp mặt trong bữa tụ họp yến ẩm.

(*) Một chức quan nhỏ phụ tá quan chủ quản các cấp.

Gia đinh đang mắng cậu thiếu niên kia có mắt không biết Thái Sơn, đến ngọc bội của chủ bạc cũng dám trộm.

Đồ vật thiếu niên trộm đã bị lục soát trình ra trước mặt chủ bạc, trong đó có ngọc bội, cũng có trâm ngọc của Hương Duyên Tử, ngọc bội trắng mịn bóng loáng, được tạc từ ngọc dương chi thượng hạng, đến trong cung cũng hiếm gặp.

Thiếu niên kia tuổi chừng mười bốn, mười lăm, gầy như que củi, cúi đầu không dám nhìn ai, toàn thân run lẩy bẩy, hẳn là vô cùng sợ hãi.

Gia đinh hỏi ý Chu Nguyên có điệu cậu ta lên châu phủ không, thiếu niên nghe vậy tức thì gào khóc xin tha, "Xin chủ bạc nương tay, tha cho tiểu nhân một lần, tiểu nhân không dám nữa..."

Nói đoạn giãy khỏi kìm kẹp của gia đinh, bịch bịch dập đầu với Chu Nguyên, thưa chỉ vì mẹ ốm nặng, không có tiền chạy chữa nên mới nhất thời hồ đồ trộm đồ người khác, sau này xin được làm trâu làm ngựa cho chủ bạc, chỉ cầu đừng đưa mình đến phủ châu.

Hương Duyên Tử và đồng bạn nhìn nhau, trong mắt đều có ý cười, biết cậu ta là sợ để Thẩm Cấu xử phạt, không chết cũng tróc một lớp da.

"Cậu ăn cắp tài vật của người khác, vốn phải chịu phạt," Lúc này, Chu Nguyên cất tiếng, "Nhưng niệm tình cậu có vài phần hiếu thảo, lần này tạm thời xí xóa, trả lại tài vật đã trộm cho người bị mất rồi trở về chăm sóc mẹ đi."

Thiếu niên cả mừng, dập đầu thêm mấy cái rồi lồm cồm bò dậy, trước hai tay trả lại ngọc bội cho chủ bạc, sau nhặt ngọc trâm lên, đưa mắt nhìn mọi người chung quanh một lượt, phát hiện ra Hương Duyên Tử, vội chạy tới trước mặt nàng, hết khom lưng lại xin lỗi dâng cây trâm lên.

Hương Duyên Tử khoát tay: "Trâm này tặng cho cậu đó, tốt xấu gì cũng đổi được mấy đồng, đem đi mà chữa bệnh cho mẹ cậu."

Thiếu niên hơi sửng sốt, ngay sau đó lập tức quỳ xuống trước Hương Duyên Tử, bái tạ ân đức nàng.

Hương Duyên Tử giục cậu ta mau trở về chăm sóc mẹ, cậu ta luôn miệng vâng dạ, xoay người lạy chủ bạc lần nữa rồi định đi, Chu Nguyên lại gọi cậu lại, lấy ít tiền đưa cậu, bảo cậu đến y quán nào đó báo tên Chu Nguyên tìm vị thầy thuốc nào đó xem bệnh cho mẹ.

Thiếu niên cảm động không ngớt, một lần nữa khóc lóc cảm ơn chủ bạc.

Chủ bạc tự mình tiễn cậu ra ngoài, dặn dò thêm mấy câu rồi mới dừng bước.

Đợi bóng dáng thiếu niên xa rồi, Chu Nguyên quay đầu, bắt gặp ánh mắt sâu thẳm Hương Duyên Tử nhìn mình, y tựa hồ cũng nhận ra nàng, mỉm cười cúi người vái chào.

Hương Duyên Tử cũng nhấc vạt váy đáp lễ, chỉ cảm thấy người này rất phong độ, chuyện hôm nay nếu đổi lại là Thẩm Cấu, chắc chắn chàng sẽ không tin thiếu niên là vì cứu mẹ, theo tác phong hành sự của chàng, chẳng biết sẽ là một trận mưa gió thế nào.

Nửa tháng sau, có một cô gái tự xưng là đầy tớ của tiệm trang sức Hiệt Vân Phường phía tây thành đến tìm Hương Duyên Tử, nói cây trâm nàng đặt lần trước đã làm xong, đúng hẹn giao tới.

Hương Duyên Tử chưa hề đặt làm trang sức nào ở Hiệt Vân Phường, truyền lời định từ chối, người nọ lại nói đại khái là Hương Duyên Tử quên mất, xem món trang sức rồi là sẽ nhớ ra ngay.

Hương Duyên Tử bèn cho cô vào.

Cô gái đó thấy chung quanh không có ai, bèn mở hộp gấm ra cho nàng xem: "Chiếc trâm này là do vị tiên sinh nương tử gặp nửa tháng trước ở chùa Linh Ẩn đặt làm theo kiểu dáng cây trâm cũ của nương tử, mong nương tử vui lòng nhận cho."

Đó quả đúng chế tạo theo hình dáng cây trâm Hương Duyên Tử tặng cho thiếu niên trộm đồ ở chùa Linh Ẩn, nhưng chất liệu đã đổi thành ngọc dương chi thượng đẳng tương tự miếng ngọc bội của Chu Nguyên, giá trị gấp trăm lần chiếc trâm cũ của nàng.

Trong lòng Hương Duyên Tử biết món này ắt là Chu Nguyên đưa tặng, lập tức cài lại hộp gấm lệnh cho cô đầy tớ kia trả về.

Cô gái đó lại nói: "Tôi chỉ vâng mệnh giao hàng, hoàn toàn không biết địa chỉ người đặt làm, muốn trả cũng chẳng biết trả về đâu.

Nương tử đã biết đó là ai thì xin nương tử tự mình trả lại cho người ấy đi thôi."

Đoạn đặt hộp gấm xuống, tức tốc rời đi.

Hương Duyên Tử trầm mặc, nhất thời không biết nên xử lí ra sao, cũng không hiểu cớ gì Chu Nguyên lại tặng trâm cho mình, lát sau lại mở hộp ra, thấy bên trong giấu một mẩu giấy trắng, viết một hàng chữ nhỏ: "Có lẽ kiếp trước lỡ làng, gặp nhau chớ hỏi nhân quả, trâm cài tóc mây, chẳng vấn tơ xanh, nhàn khêu son phấn, đều được."

5.

Gả đi

Dưới ánh đèn thư phòng, Thẩm Cấu duyệt danh sách nữ tử mồ côi được nhận tiền trao tặng chuẩn bị đồ cưới tháng sau, chợt nghiêng đầu hỏi Hương Duyên Tử: "Năm nay cô bao tuổi?"

Hương Duyên Tử khá lúng túng, hồi lâu sau mới đáp: "Hăm ba."

Thẩm Cấu ôn hòa cười với nàng: "Vậy ta cũng xếp cô vào danh sách này nhé?

Ngoài tiền tặng ra, ta chuẩn bị thêm ít của hồi môn cho cô nữa..."

Lời đề nghị dịu dàng của chàng như lưỡi dao sắc lẹm cứa vào trái tim không chút phòng bị của nàng, Hương Duyên Tử chỉ muốn quăng mình vào đêm mưa thu ngoài cửa sổ, như vậy sẽ không cần phải cố nén hai giọt lệ mấp mé bờ mi như muốn tuôn trào kia nữa.

"Tôi, cưới ai?"

Lát sau, nàng đờ đẫn hỏi.

"Ta cho rằng cô đã có ý trung nhân."

Thẩm Cấu vẫn giữ nguyên nét cười nhàn nhạt, nói, "Chẳng hạn như vị đã tặng cô cây trâm nọ."

Vậy mà chàng lại biết chuyện tặng trâm, phải chăng đó là lí do chàng muốn gả nàng đi?

Hương Duyên Tử lạnh lùng nhếch mép: "Huynh ấy đích xác là người tốt."

"Y đã có phu nhân, cô xuất giá sang đấy chỉ có thể làm thiếp."

"Tôi không ngại."

"Vậy ngày mai ta sẽ mời y tới bàn bạc, chọn một ngày lành..."

"Không cần chọn ngày, nếu huynh ấy đồng ý thì ngay ngày mai tôi sẽ theo huynh ấy về."

Chàng không giữ nàng lại, hôm sau quả thật cho vời Chu Nguyên tới, nói rõ chuyện Hương Duyên Tử.

Chu Nguyên cả kinh, hết lời từ chối, Thẩm Cấu cương quyết, sai người chuẩn bị kiệu và nữ trang đưa Hương Duyên Tử vào phủ Chu Nguyên.

Chu Nguyên thấy việc đã đến nước này, đành phải đón Hương Duyên Tử vào dinh thự của mình bên Tây Hồ.

Đó là một khu vườn đắp núi khơi dòng, cây hoa tươi tốt.

Hương Duyên Tử đi dạo trong vườn, chỉ thấy đá hồ tinh xảo, ở giữa có thác nước, có hành lang nối với Khúc Viện (*), rất nhiều cảnh đẹp để thăm thú.

Đẹp nhất là bờ vịnh đón triều dâng trong vườn, trước mắt sóng biếc nghìn trùng, nhìn gần có ao sen ngàn cánh, dõi xa có liễu rủ trắng đê, người đi bên bờ đứng lại, chỉ cảm thấy toàn bộ Tây Hồ đều là của nhà mình.

(*) Một công trình thắng cảnh ven Tây Hồ.

Chu Nguyên gặp lại Hương Duyên Tử, hai người đều có phần gượng gạo, đôi bên chào hỏi lẫn nhau rồi chẳng nói thêm gì nữa.

Hương Duyên Tử sợ y ngủ lại, bèn ám chỉ trước rằng mình khó chịu trong người.

Chu Nguyên lập tức hiểu ý, nói đêm nay ngủ ở tiền viện, không quấy nhiễu nương tử nghỉ ngơi, rồi vội vã cáo từ.

Bữa tối, Chu Nguyên lệnh thị nữ mang sơn hào hải vị tới bày đầy bàn, trong đó có món cuối cùng cua hồ mùa này, hấp lên đỏ au, nom rất bắt mắt.

Nhưng ngay từ đầu khi mới tri Hàng Châu, Thẩm Cấu đã ban hành luật lệ, để gây trồng thủy sản Tây Hồ, trong vòng ba năm cấm bắt rùa cá trong hồ, cua cũng nằm trong danh sách đó.

Hương Duyên Tử lấy làm ngờ vực đối với chuyện này, hỏi thị nữ vì sao lại có món cua, thị nữ đáp: "Mấy con cua này tự bò vào rào giậu sân chúng ta, chủ bạc nói bọn nó tự chui đầu vào lưới, là trời ban, có thể bắt về ăn."

Đáp xong, thị nữ khuyên Hương Duyên Tử thưởng thức.

Hương Duyên Tử uyển chuyển khước từ, nói mình không ăn được những món tính hàn, bảo cô ta mang xuống, trả lại cho Chu Nguyên.

Hôm sau, Chu Nguyên dẫn Hương Duyên Tử quay lại châu phủ bái tạ Thẩm Cấu.

Thẩm Cấu nghênh đón từ xa, cười rạng rỡ chắp tay với Chu Nguyên, hỏi: "Tối qua ăn cua có ngon không?"

Hương Duyên Tử đã sớm biết Thẩm Cấu có rất nhiều tai mắt nghe ngóng tin tức hang cùng ngõ hẻm cho chàng, giúp chàng hiểu biết tường tận chuyện liên quan đến án xử để có thể nhanh chóng đưa ra phán quyết, nhưng không ngờ tình báo của chàng lại rộng khắp đến thế, đến Chu Nguyên ăn vụng cua trong nhà cũng lập tức biết được, bảo sao chuyện trâm ngọc chẳng qua được mắt chàng.

Mà đó giờ, chuyện Chu Nguyên tặng trâm ngọc vẫn khiến Hương Duyên Tử cảm thấy khó hiểu.

Câu "Có lẽ kiếp trước lỡ làng" của y như có ý với nàng, nhưng mấy ngày nay vào vườn, nàng lại chẳng hề cảm nhận được tình ái mộ trong lời nói cử chỉ của Chu Nguyên.

Sau khi bị Thẩm Cấu vạch trần chuyện ăn cua, Chu Nguyên càng như chim sợ cành cong, đối với Hương Duyên Tử chỉ hết lòng cung phụng cẩm y ngọc thực, song không còn đến gặp nàng.

Nhất định là y cho rằng là nàng mật báo rồi, Hương Duyên Tử nghĩ, song cũng chẳng để bụng, trên thực tế, nàng rất hài lòng với hiện trạng y lạnh nhạt với mình.

Chỉ có điều, nghĩ đến Thẩm Cấu, trong lòng khó tránh khỏi phiền não.

Người này đã mấy bận chi phối vận mệnh nàng, làm nàng rối rắm khổ não, có oán có giận, nhưng sau cũng lại chẳng hận nổi.

Lúc rảnh rỗi, Hương Duyên Tử tán gẫu với thị nữ, biết được ngoài phu nhân đang ở quê nhà sông Tiền Đường ra, Chu Nguyên còn có năm vị thiếp thất, chia ra sống ở dinh thự của y ở Tây Khê, Long Tỉnh, Tiêu Sơn, Mãn Giác Lũng, Phượng Hoàng Sơn, "Nhưng nương tử đẹp như thiên tiên, chủ bạc hiển nhiên thích hơn cả, thế nên mới để nương tử sống trong lâm viên Tây Hồ đẹp nhất."

Thị nữ không quên tâng bốc Hương Duyên Tử.

Hương Duyên Tử hé cười, không đáp, trong đầu nghĩ Chu Nguyên chỉ là một chủ bạc tòng cửu phẩm nho nhỏ, sao có thể xây được dinh thự ở toàn những nơi phong cảnh tuyệt đẹp như vậy.

Có một ngày, nhị nương tử của Chu Nguyên phát thiếp mời chúng tỷ muội tới lâm viên ở Tây Khê của mình thưởng cúc.

Hương Duyên Tử nhận lời mời đi, xuống kiệu trước cửa vườn, thấy một nương tử khác ngồi xe bò cũng vừa tới.

Sau khi dừng xe, thằng bé đánh xe mau mắn nhảy xuống, quỳ gối khom người mời vị nương tử châu ngọc quanh thân đạp lên lưng nó xuống xe.

Hương Duyên Tử cảm thấy thằng bé ấy như đã từng thấy ở đâu, nhìn kĩ hơn, nhận ra đó là thiếu niên trộm trâm ở chùa Linh Ẩn bữa trước, thiếu niên kia vừa chạm mặt nàng đã lập tức xoay người cúi đầu, tránh ra xa.

Hương Duyên Tử càng thêm nghi ngờ, lưu tâm hỏi thị nữ vị nương tử và thằng bé sai vặt kia là ai.

Thị nữ đáp: "Là ngũ nương tử ở Mãn Giác Lũng, thằng bé đó là Lý Lộc Nhi hầu hạ cô ấy."

"Lý Lộc Nhi là người mới tìm tới gần đây à?"

Hương Duyên Tử hỏi.

"Không ạ."

Thị nữ nói, "Cậu ta được chủ bạc mua về lúc nạp ngũ nương tử, tính ra cũng được ba năm rồi."

Hương Duyên Tử đẩy hộp gấm đựng ngọc trâm tới trước mặt Thẩm Cấu: "Thế nên, Chu Nguyên thiết kế 'tình cờ gặp gỡ', tặng tôi cái này là để hối lộ tôi."

Thẩm Cấu cười không nói, lát sau mới bảo: "Khi cô có chút quyền lực sẽ phát hiện ra mình 'tình cờ gặp gỡ' người bên mình càng lúc càng nhiều, các loại quà cáp quý trọng cũng sẽ đến tay cô qua đủ kiểu đường ngõ không lường tới được."

Hương Duyên Tử gật đầu: "Y vốn định mua chuộc tôi làm tai mắt cho y, nói cho y biết chiều hướng của ngài, nhưng chẳng ngờ bị ngài đoán ra, thuận thế đưa tôi vào nhà y, khiến y trở tay không kịp, tiến thoái lưỡng nan."

"Chẳng khác nào y tự đào hố chôn mình."

Thẩm Cấu nói, "Chắc hẳn những gì cô chứng kiến mấy ngày nay có thể bổ sung thêm cho tội tham ô của y chứ?"

Hương Duyên Tử không đáp, chàng mở hộp gấm lấy mẩu giấy nhắn ra, đọc thành tiếng chữ viết trong đó: "Có lẽ kiếp trước lỡ làng, gặp nhau chớ hỏi nhân quả, trâm cài tóc mây, chẳng vấn tơ xanh, nhàn khêu son phấn, đều được."

Nở nụ cười khinh miệt, chàng nhấc bút nối tiếp câu trong giấy: "Vốn là kiếp này phạm sai, gặp nhau mới có nhân quả, ngọc đẹp mài trâm, nếm cua Tây Hồ, kim ốc tàng kiều, ha ha."

6.

Chân tướng

Không bao lâu sau, chuyện tham ô bị bóc trần, Chu Nguyên bị xét xử nghiêm trị.

Hương Duyên Tử đã sớm rời khỏi khu vườn Tây Hồ của y, nhưng cũng không muốn quay lại phủ đệ tri châu, xin được trở về nhà cũ của cha mẹ ở.

Thẩm Cấu giữ lại, thấy nàng khăng khăng, cũng đành chấp thuận thỉnh cầu của nàng, cho nàng về nhà.

Hương Duyên Tử cự tuyệt tài vật Thẩm Cấu tặng, thủ giữ mấy mẫu ruộng cằn của nhà mình, may vá thêu thùa sống qua ngày, cũng không nghe ai bàn bạc hôn nhân nữa, lòng như nước lặng.

Cho đến một ngày, hàng thủ nhạc phường Nguyễn Huyền Vi gõ cửa nhà nàng.

"Thẩm tri châu bệnh nặng, muốn gặp cô."

Hương Duyên Tử cả kinh, vội hỏi là bệnh gì, Nguyễn Huyền Vi nói: "Hôm nay ngài ấy chủ trì công trình đào giếng, dẫn nước Tây Hồ vào thành Hàng Châu, thuận tiện cho trăm họ.

Ngày đêm không nghỉ, cuối cùng đổ bệnh.

Cũng giống như lần trước, váng đầu hoa mắt, đau ngực nôn mửa.

Thuốc thang không có hiệu quả, ngài ấy bèn mời vị cao tăng Văn Tiệp đại sư xem bệnh cho ngài ấy khi trước đến.

Đại sư nói độc tố lần trước còn sót lại không được lọc sạch, thành ra như giòi bọ đục xương, đợi đến lúc ngài lao lực thái quá sẽ phát tác."

Hương Duyên Tử truy hỏi Văn Tiệp đại sư có cách nào chữa trị không, Nguyễn Huyền Vi lắc đầu: "Ông ấy nói loại độc này dược lí tuyệt diệu, ông ấy cũng không giải được."

Hương Duyên Tử suy tư chốc lát, nói với Nguyễn Huyền Vi: "Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu sách thuốc, tìm hỏi danh y, nếu kiếm được thuốc hay chữa bệnh cho tri châu thì làm phiền Nguyễn nương tử đưa cho ngày ấy."

"Sao cô nương không tự đi đưa?"

Nguyễn Huyền Vi hỏi.

Hương Duyên Tử nói: "Trở về ắt sẽ lại thành quân cờ của ngài ấy, lúc nào cũng bị ngài ấy nắm trong tay."

"Cô hãy còn để bụng chuyện Chu Nguyên?"

Nguyễn Huyền Vi thở dài, "Với sự cơ trí của Thẩm tri châu, nếu không nắm chắc mười phần có thể để cô toàn thân lui ra thì sao có thể đưa cô đến nhà Chu Nguyên."

Hương Duyên Tử im lặng, Nguyễn Huyền Vi lại nói: "Cô quật cường, Chu Nguyên đa nghi, trong lòng ngài đều rõ cả, biết cô sẽ không bị tổn thương nên mới ra chiêu ấy.

Mà nếu cô không tự mình chứng kiến tình hình trong nhà Chu Nguyên thì ngày sau xét xử Chu Nguyên, e rằng khó tránh khỏi sẽ lại nghi ngờ Thẩm tri châu ôm lòng trả thù riêng."

Câu này Hương Duyên Tử nghĩ thấy cũng có lí nên không cãi lại.

Nguyễn Huyền Vi một lần nữa khuyên nàng về phủ tri châu, nàng vẫn lắc đầu: "Tri châu xử việc sáng suốt, trị gian trừ xuẩn hiệu quả rõ ràng, tôi rất bội phục.

Nhưng thủ đoạn của ngài ấy quá lạnh lùng cứng rắn, có lúc khó tránh khỏi làm liên lụy đến người vô tội, đến nhà tôi cũng vì vậy mà gặp nạn...

Mỗi lần nhớ đến chuyện năm đó, đều cảm thấy có bình phong ngăn cách với ngài, khó có thể vượt qua."

"Tri châu cũng từng kể chuyện nhà cô với tôi..."

Nguyễn Huyền Vi từ từ chìa tay ra trước mắt Hương Duyên Tử, kéo ống tay áo trên cánh tay ra, cho nàng xem vết thương ngang dọc chồng chéo trên đó.

"Hồi chung đụng với Nhậm Khang Ngao, hắn đánh chửi tôi là chuyện như cơm bữa.

Trước khi hủy dung, tay chân cơ thể tôi đều đã từng bị hắn quất đánh, cắt cứa, nung đốt rất nhiều lần, cái cô thấy bây giờ chỉ là một bộ phận rất nhỏ, sau khi đánh chửi tôi, hắn thường sẽ lại ôm tôi đau khổ ăn năn, nói sẽ không như vậy nữa.

Thế nên tôi đều khoan thứ, lần nào lần nấy đều nói với mình rằng đây là lần cuối cùng, chỉ cần tôi tha thứ cho hắn, hắn sẽ tốt hơn.

Nhưng, cuối cùng..."

Nguyễn Huyền Vi cởi mạng che mặt ra.

Hương Duyên Tử trông thấy một gương mặt mỹ lệ đã từng nay đáng sợ tột độ, có vài vết đao cắt lâu năm nom như cái miệng đang há ra, toét một nụ cười kỳ dị, có vài vết tích đã vá lại, nhưng lưu lại màu sắc đen xám, giống như con rết nhiều chân, trái phải đan chéo, cơ hồ không chỗ nào lành lặn.

"Năm đó tri châu giết hắn, tôi nghĩ đến tình cũ, từng rơi lệ cho hắn.

Tri châu nói với tôi, kẻ này dạy mãi không sửa, không có tâm hướng thiện, đáng sợ hơn là còn có tài hoa.

Bây giờ hắn còn chưa đắc chí mà đã làm xằng làm bậy đến mức này, ngày sau ra làm quan thì chẳng khác nào như hổ mọc thêm cánh, khó bề khống chế.

Hôm nay nếu không trừ, tương lai tất gây họa cho dân...

Cô lớn lên bên công chúa, trong tầm mắt không chỗ nào không tốt đẹp, trước kia khó biết nỗi khổ nhân gian.

Nhưng tri châu sinh ra trong đại gia tộc rắc rối phức tạp, từ bé đã phải đối mặt với đủ loại tranh đấu, thế nên nhìn người rất chính xác, phu nhân nguyên phối của ngài ấy không dưng qua đời trong nhà ở Tiền Đường, cũng chẳng biết là bị kẻ địch hay người nhà làm hại, bởi vậy nên ngài đối đãi với sự vật sự việc đều có thói quen nghĩ từ chỗ xấu trước...

Ngài cũng tự biết những năm nay trị ác quyết liệt, gây thù chuốc oán quá nhiều, bởi vậy nên vừa độ không thân thiết với cô, thật ra cũng là để bảo vệ cô."

"Cô nói thủ đoạn tri châu lạnh lùng cứng rắn, dễ làm liên lụy đến người vô tội, nhưng hãy nghĩ kĩ lại xem, người bị liên lụy có thật là vô tội không?"

Cuối cùng, Nguyễn Huyền Vi nói, "Người vô tội hiền lành chân chính, dẫu có ngộ thương ngài, ngài cũng chỉ cười một tiếng cho qua...

Đối với cô chính là như vậy."

7.

Cùng xe

Hương Duyên Tử không quay về thăm Thẩm Cấu, trước đây là lòng có cách trở, hôm nay nhớ lại chuyện cũ, lại thấy áy náy nhiều hơn.

Nàng cũng thực hiện đúng lời hứa, trọn ngày nghiên cứu sách thuốc, tìm hỏi danh y, thử nghiệm phối hợp từng thang thuốc giải độc, lần nào cũng tự mình nếm trước, xác nhận không gây tổn thương rồi mới nhờ người mang cho Thẩm Cấu.

Một ngày nọ, sắc xong một thang thuốc mới, bưng lên định uống thử, sau lưng lại có người thò tay cướp bát thuốc đi, nói: "Coi mình là Thần Nông đó hả mà có gan ở đây nếm bách thảo?"

Nàng quay đầu lại, thấy rõ người tới, nhất thời phân biệt chẳng đặng là vui hay buồn, nước mắt đã rơi xuống trước.

Thẩm Cấu lấy ống tay áo lau lệ cho nàng.

Nàng nghẹn ngào hỏi: "Sao ngài lại tới đây?"

"Có hai việc.

Một là tới nói với cô, thuốc cô sắc quá khó uống, đừng đưa nữa, uống nữa ta không chắc đã sống được tới mùa xuân năm sau đâu."

"Vậy ngài đã khỏi bệnh chưa?"

"Không có gì đáng ngại, bao giờ cảm thấy khó chịu thì ta tìm mấy đơn từ kiện cáo khó giải quyết, phán quyết liền mấy trăm tờ, khí sắc sẽ tốt lên ngay thôi."

Nàng nín khóc mỉm cười, "Việc thứ hai thì sao?"

"Thông báo cô thu dọn hành lí, theo ta vào kinh nhậm chức."

Nàng trợn tròn mắt: "Ngài thăng chức rồi?"

Chàng cười nói: "Kim thượng hạ chỉ, mệnh ta tri Khai Phong phủ, tăng thêm Long Đồ Các học sĩ."

Nàng luôn miệng "Chúc mừng", chợt nhớ tới mình, thẹn thùng hỏi: "Cơ mà, sao tôi phải theo ngài đi?"

"Chuyện cô hạ độc ta còn chưa chấm dứt."

Thẩm Cấu nghiêm mặt nói, "Mang theo cô bên người, nếu có gì không ổn có thể tùy thời bắt lại trị tội." thoáng dừng lại rồi tiếp: "Còn nữa, có nhớ rất nhiều năm trước đây cô từng hạ chú trói buộc ta không?"

"Hạ chú?"

Hương Duyên Tử ngạc nhiên.

Chàng mỉm cười, ánh mắt đậu lên mặt nàng tựa gió xuân phả vào mặt: "Hoàng Hữu năm thứ nhất, trên con đường Kim Minh Trì..."

Ôi, hóa ra chàng vẫn nhớ!

Hương Duyên Tử vừa bẽn lẽn vừa mừng rỡ, hai tay bưng kín mặt, không dám nhìn chàng nữa.

Hoàng Hựu năm thứ nhất là năm chàng thi đỗ làm quan, hoàng đế ban tiệc tin mừng, bảng nhãn Thẩm Cấu cùng những lang quân áo xanh khác đi đường ven Kim Minh Trì đến Quỳnh Lâm Uyển, vừa hay gặp xa giá của hoàng hậu và công chúa, Hương Duyên Tử cũng có mặt trong đoàn xe, cùng những cung nữ khác vén rèm ngắm tiến sĩ tân khoa, rỉ tai bình luận.

Khi ấy, ánh mắt của đại đa số cung nữ đều bị trạng nguyên Phùng Kinh thu hút, hoàng hậu cũng ban hoa cho Phùng Kinh.

Xe Hương Duyên Tử ngồi ở áp chót, vén rèm lên chẳng trông đến trạng nguyên, không khỏi nóng ruột, dứt khoát thò đầu ra khỏi cửa sổ xe, hoa lụa trên đầu bị chấn sóng đụng phải rơi xuống.

Đúng lúc ấy, một giọng nam bùi tai từ bên cạnh cách đó không xa truyền tới, mang khẩu âm Giang Nam Hương Duyên Tử quen thuộc: "Hoa lụa của vị cô nương kia bị rơi rồi, nhờ anh nhặt lên giúp cô ấy với."

Nàng vui sướng chăm chú quan sát chàng từ trên xuống dưới, chàng cũng khom người với nàng mỉm cười.

"Hương Duyên Tử, qua bên tôi này, bên tôi có thể nhìn được trạng nguyên."

Gia Khánh Tử cùng xe bảo nàng đổi vị trí với mình, ngắm Phùng Kinh từ bên kia.

"Không, cô mau nhìn sang đây đi."

Hương Duyên Tử vội kéo Gia Khánh Tử, "Xem bảng nhãn lang này, bảng nhãn lang là người nhà tôi đó!"

Ý nàng vốn là bảng nhãn lang là người Giang Nam, là đồng hương của nàng, nhưng lời hấp tấp nói ra hiển nhiên lại mang ý khác, chọc chúng bạn nữ quanh mình cười ầm lên, nàng xấu hổ đánh Gia Khánh Tử, lại không để ý tới chàng có nghe thấy không, có vẻ mặt thế nào.

Về sau lớn lên, gặp lại Thẩm Cấu, hai người đều không nhắc đến chuyện này, nàng chỉ cho rằng chàng đã quên, lại chẳng ngờ giờ khắc này chàng nói ra, làm nàng bị bất ngờ.

"Ta nhớ năm đó em mới chỉ chừng mười tuổi?

Nhưng ở Hàng Châu, ta vừa trông thấy đã nhận ngay ra em.

Câu ấy em nói mấy năm nay ta cũng thường nhớ tới," Thẩm Cấu nhẹ nhàng ôm nàng vào lòng, "Đó chính là câu thần chú gắn kết đôi ta bên nhau nửa đời sau."

Ngày Thẩm Cấu lên đường vào kinh, bách tính thành Hàng Châu sắp hàng hai bên đường tiễn biệt, vừa ngợi ca Thẩm tri châu có ơn với dân, vừa lau lệ níu giữ, Thẩm Cấu không ngừng đáp lễ bái biệt, dây dưa mãi mới lên xe.

"Chàng thật sự tốt với bách tính lắm đấy, dịu dàng như mùa xuân Hàng Châu vậy."

Hương Duyên Tử cùng xe với chàng nói.

"Ừm, đối mặt với phường gian xảo thì có phải ác nghiệt như mùa đông không?"

Thẩm Cấu hỏi.

Hương Duyên Tử vỗ tay cười: "Đúng vậy!

Là mùa đông Hàng Châu chưa nổi lửa giá rét căm căm."

Chớp mắt, nàng lại tiếp: "Đối với bằng hữu thì như mây nhạt trời cao, như mùa thu Bình Hồ Thu Nguyệt (*)."

(*) Một trong mười thắng cảnh Tây Hồ, không phải một địa điểm cố định mà chỉ quang cảnh: mỗi bận sang thu trời mát mẻ, mặt Tây Hồ tĩnh lặng như gương, trăng thu thanh khiết treo giữa trời, ánh trăng và nước hồ soi sáng lẫn nhau, rất có cảm giác "Một vạt hồ trong vạn khoảnh thu" nên gọi là "Bình Hồ Thu Nguyệt (dịch nghĩa: hồ lặng trăng thu)".

"Đó là qua lại với quân tử."

Thẩm Cấu gật đầu, "Vậy mùa hè Hàng Châu nóng bức thì là đối với ai?"

Chàng lại cười hỏi, "Nhiệt độ oi bức trên người ấy là đối với nương tử à?"

"Không phải."

Hương Duyên Tử lắc đầu thật mạnh, "Chỉ lòng nhiệt thành của chàng với trị dân, xử án mới có thể so sánh với mùa hè nóng nực của Hàng Châu!"

Hai người cùng mỉm cười.

Đúng lúc ấy, phía sau vọng lại một trận kêu hò, là một nhóm thiếu phụ cùng hô hoán "Thẩm tri châu", đa số trong tay đều ôm trẻ nhỏ một hai tuổi, rảo bước đuổi theo xe.

Hương Duyên Tử vén rèm, nhìn cảnh tượng bất thường này, nhíu mày.

"Không phải như em nghĩ."

Thẩm Cấu trấn tĩnh giải thích.

Hương Duyên Tử đỏ mặt: "Em nghĩ cái gì?"

Thẩm Cấu phá lên cười, lệnh cho xe dừng lại, đi xuống gặp những thiếu phụ kia.

Chúng nữ sôi nổi đi lên bái tạ: "May nhờ Thẩm tri châu tặng đồ cưới, chọn phu quân cho đám con gái mồ côi bọn tôi, bọn tôi mới có thể có chốn nương tựa cả đời, trai gái vây quanh gối.

Hôm nay đặc biệt mang con đến bái tạ Thẩm tri châu, chúc tri châu một bước lên mây, sống lâu trăm tuổi, con cháu đầy nhà, hưởng phúc trọn đời."

Thẩm tri châu xá dài đáp lễ, chúng nữ lại dẫn con trẻ bái tạ mãi, Thẩm Cấu lên xe rồi vẫn bám gót đi theo, hồi lâu không tản.

Thẩm Cấu cười với Hương Duyên Tử: "Giờ đã hiểu ra chưa?"

Hương Duyên Tử cáu: "Em có hiểu lầm gì đâu, chàng không cần giải thích."

"Phải giải thích chứ, nếu không ai đó lại xoắn xuýt trong lòng, thậm chí lẳng lặng biến mất thì sao."

Thẩm Cấu nói.

"Chàng sợ em bỏ đi?"

Hương Duyên Tử thầm đè nén nụ cười đang dâng lên.

"Ừ, đúng là lo lắng thật."

Thẩm Cấu ra chiều trầm ngâm, "...

Dạo này, muốn tìm một người nấu ăn hợp khẩu vị của ta khó khăn lắm thay."

"Hóa ra chàng chỉ coi em là nữ đầu bếp!"

Hương Duyên Tử vươn tay đấm chàng mấy cái, chàng chỉ cười, không mảy may né tránh.

Hương Duyên Tử nhìn nét cười sáng ngời của chàng, lại nghĩ đến cảnh tượng năm Hoàng Hựu thứ nhất ấy: Lang quân áo xanh hai mươi xuân thì tản bộ Quỳnh Lâm Uyển, tựa ngựa bên Kim Minh Trì, nàng vén rèm nhìn thấy, cười nói với Gia Khánh Tử: "Bảng nhãn lang là người nhà tôi đó!"

...

Nàng nhẹ nhàng ôm cánh tay Thẩm Cấu, giấu nụ cười đang dần hé nở làm bí mật lớn nhất thời khắc này, chôn sâu vào ống tay áo ấm sực nơi chàng.
 
Cô Thành Bế - Milan Lady
Ngoại truyện 2: Túy hoa âm (*)


(*) Tên một điệu từ, dịch nghĩa là "Say dưới tán hoa".

1.

Tân nương

Cách lớp rèm sa lụa đỏ, chàng nhìn thấy nàng ngồi trước bàn trang điểm, con gái mười bảy mười tám, váy dài quét đất, đưa lưng về phía chàng, đang với tay gỡ chiếc miện tròn châu ngọc trên đầu.

Lần áo la thắm ống tay phải vì thế mà tuột xuống khuỷu tay, để lộ cổ tay nàng trắng trẻo nõn nà đeo xuyến chỉ vàng mảnh dẻ.

Xuyến đeo chừng tám chín sợi, mỗi một sợi đều rất mỏng, lắc lư theo động tác nàng tháo trâm của nàng, phát ra những tiếng động trong trẻo nhỏ vụn, mà tư thế giương tay của nàng thì mềm mại đẹp đẽ khôn tả, ngón tay thon dài điểm nhẹ lên châu ngọc, chẳng khác nào thiên nga quay đầu rỉa lông.

Rốt cuộc cũng tháo được chiếc miện lộng lẫy xuống, xuyên qua tấm gương đồng trước mặt, nàng trông thấy bóng dáng chàng, bèn ngoái lại, lẳng lặng nhìn chàng chăm chú.

Rèm sa tán nhòa ánh nến long phượng bên cạnh nàng, khiến đốm lửa như tẽ ra bảy sắc sáng huyền ảo, chiếu rọi gương mặt mộc đã lau rửa phấn hoa của nàng.

Mắt nàng như sao lạnh, cằm hơi hất lên, không có trang sức hoa lệ vây cụm, cần cổ láng mịn nom duyên dáng lạ thường.

Tư thế quay đầu này cũng khiến ngũ quan sườn mặt nàng thêm nổi bật rõ nét, thanh tú nhã nhặn, chưa đến gần mà như đã có thể ngửi thấy hương chi lan thoang thoảng nơi tay áo mép tóc của nàng.

Về sau khi chàng hồi tưởng lại tất cả những tân nương trong đời, thực ra nàng cũng chẳng phải đẹp nhất trong số đó, vậy nhưng cái ngoái đầu ấy, làn thu ba trong vắt đủ để nhìn thấu nhân tâm thế đạo đã đậu lên người chàng ấy, lại trở thành kí ức chàng trọn đời khó quên.

Chàng hoàn toàn không ngờ rằng sẽ trông thấy cảnh tượng như vậy.

Mới nãy, đầu tiên là chàng nghe thấy anh họ hét một tiếng kinh sợ, sau đó thì thấy vị tân lang kia chạy ào ra khỏi buồng động phòng, vượt tường đào tẩu, thế nên chàng vốn tưởng rằng ngồi trong buồng không phải yêu ma quỷ quái thì chí ít cũng là một Vô Diệm Mô Mẫu.

Khi ấy chàng mười một tuổi, phụ thân qua đời, chị họ của mẫu thân đón họ vào kinh sư ở một thời gian, tặng rất nhiều tài vật, có ý viện trợ.

Giữa chừng, anh họ Lý Thực cưới vợ, vì chàng còn đang trong kỳ để tang, không tiện dự lễ, nên mẹ chàng bảo chàng tránh trong hậu viện một ngày.

Buổi tối sau khi tân nhân vào động phòng, phần lớn khách khứa đã giải tán, chàng mới dám đi ra, hóng gió dưới trăng trong vườn.

Sau thì nghe thấy anh họ cách đó không xa sợ hãi kêu.

Chuyện này thật lạ lùng.

Chàng không kìm nén được lòng hiếu kỳ, lặng lẽ dời bước dò về phía phòng tân hôn, vừa đi vừa nghĩ, anh họ xuất thân thế gian quan lại, hiện giờ làm thị cấm (*) trong cung, đã chứng kiến cảnh đời, cũng gan dạ sáng suốt, chẳng biết tân nương này có gì quái dị mà khiến gã kinh sợ đến thế.

(*) Chức quan nhỏ phục dịch trong cung cấm.

Song lại là như vậy.

Nàng tân nương thanh nhã kia ngó chàng một chốc rồi đứng dậy, chậm rãi đi về phía chàng, rèm sa vén lên, xuất hiện không một cách trở trước mặt chàng.

"Tiểu đệ đệ, cậu cũng là công tử nhà họ Lý à?"

Nàng hỏi rất ôn hòa, ánh mắt nhìn chàng cũng muôn phần thân thiện.

Chàng lắc đầu, cụp mắt nhìn hoa văn linh chi mây tía thêu trên làn váy la vàng ánh kim của nàng, nói: "Tôi họ Phùng."

"Vậy," Nàng mỉm cười, hỏi rất lễ phép, "Cậu có thể dẫn tôi ra ngoài không, Phùng tiểu đệ?"

"Chị muốn đi đâu?"

Chàng hỏi.

"Về nhà."

Nàng đáp rõ ràng, giải thích: "Lúc trước có khăn voan che mặt, tôi không biết đường.

Cậu dẫn tôi tới cửa là được."

Nàng định bỏ trốn về nhà mẹ đẻ đấy ư?

Chàng nghĩ rồi lưỡng lự hỏi lại: "Cửa sau ấy ạ?"

"Ồ, không."

Nàng cười xua tay, "Cửa chính."

Tân lang trèo tường đào tẩu, tân nương muốn công khai ra khỏi cửa chính về nhà mẹ đẻ, đại khái chẳng ai ngờ được rằng buổi cưới xin nay sẽ có kết quả như vậy đâu nhỉ?

Một ngày trước chàng còn tận mắt chứng kiến trưởng bối trong nhà khí thế ngất trời chuẩn bị hôn lễ, còn nghe cha mẹ Lý Thực ước ao miêu tả cảnh ngậm kẹo đùa cháu trong tương lai với mẹ mình.

Mơ hồ cảm thấy chỉ đường cho tân nương của anh họ về nhà mẹ đẻ có phần không ổn, song, khi ánh mắt chạm vào đôi con ngươi lúng liếng sóng nước của nàng, chàng lập tức cảm thấy mọi yêu cầu của nàng đều hợp lý.

Lúc dẫn nàng tới sảnh chính tiền đường thì gặp cha mẹ Lý Thực đang tiếp đãi mấy vị khách chưa đi, nàng chẳng sợ chẳng cuống, ung dung giơ tay ngang trán, bái biệt hai phu phụ mới làm cha mẹ chồng mình nửa ngày này, nói: "A ông, a cô, Lý lang giãi bày rằng thiếu niên hiếu đạo, không thích làm quan cưới vợ, hi vọng từ hôn, hiện đã bỏ tân nương rời đi.

Tân nương không dám ngăn trở con đường tu đạo của Lý lang nên sẽ về nhà hầu hạ phụ mẫu bây giờ, mong ông cô bằng lòng lượng thứ."

Nói đoạn, chẳng đợi cha mẹ chồng trả lời, nàng đã bình thân, vạt váy xoay tròn, đi về phía cửa chính trước ánh mắt chăm chăm kinh ngạc của tất cả mọi người ngồi trong sảnh.

Chàng rảo bước theo nàng ra cửa.

Lúc này, ngoài cửa đã đỗ sẵn một cỗ xe bò mà quý nữ kinh đô thường ngồi, người đánh xe là một thiếu niên phong nhã, da trắng mặt đẹp, tóc màu đen tím kỳ dị, vẻ mặt điềm tĩnh yên bình.

Thấy tân nương, hai mắt thiếu niên vụt sáng, lập tức xuống xe lại đỡ.

Trên xe có người vén rèm, một tiểu cô nương xinh xắn thò đầu ra, tuổi chừng mười lăm, mười sáu, dung mạo yêu kiều, hai mắt long lanh ngó quanh ngó quất.

"Tào tỷ tỷ!"

Cô cười gọi tân nương, vẫy tay tới tấp ra hiệu tân nương lên xe.

Tân nương đáp lời, nhưng không tới ngay.

Thò tay vào trong tay áo, nàng tháo một sợi xuyến vàng xuống rồi đưa cho cậu bé bên cạnh: "Cho cậu đấy, Phùng tiểu đệ."

Chàng xua tay, thoáng lui ra sau: "Tôi không cần."

Nàng chẳng thu lại món quà trong tay: "Nhưng cậu đã giúp tôi, tôi muốn cảm ơn cậu."

Chàng ngẫm nghĩ rồi nói: "Vậy, chị nhớ kĩ tên tôi là được."

"Được."

Nàng cười khẽ nhận lời, dịu dàng hỏi: "Xin hỏi tôn húy của công tử?"

"Tôi họ Phùng tên Kinh."

Chàng đáp, còn hơi lên giọng, "Kinh trong kinh kỳ."

"Ừ, hạnh ngộ."

Thấy chàng đáp nghiêm túc như vậy, nàng không khỏi rộ cười, mà trong lúc chàng chăm chú nhìn nụ cười của nàng, nàng đã lặng lẽ kéo tay chàng qua, lồng sợi xuyến vàng lên cổ tay chàng, sau đó nhẹ dời gót sen, lên xe dưới sự dìu đỡ của thiếu niên kia.

Lớp rèm mới rồi bị tiểu cô nương vén lên hạ xuống, thiếu niên đánh xe ra roi, xe bò lăn bánh, dần dần đi xa.

Bấy giờ, có người trong phủ đuổi theo ra, nhìn bụi mù sau xe nàng, muốn nói lại thôi, chỉ đành than thở: "Tính tình thế này...

Dẫu sao cũng là tướng môn hổ nữ."

Chàng từng được nghe, tân nương xuất thân danh môn, là cháu gái của vị tướng có công khai quốc Đại Tống, Tào Bân.

Trong tiếng thở dài quanh mình, chàng buông thõng ống tay áo, che đi sợi xuyến vàng trên cổ tay.

Đầu ngón tay quặp lại mò mẫm, chàng lẳng lặng chạm khẽ vòng kim loại xa lạ kia – nơi ấy như hãy còn sót lại hơi ấm bàn tay nàng – lại có phần khấp khởi vì đêm nay nàng không trở thành tân nương của anh họ mình.

2.

Bóng mờ

Thuyền hoa chở lụa vân, nước xuân xanh tựa trời, Phùng Kinh bận áo xuân sắc trắng của học trò châu học (*), bước chân khoan thai đi trên đường phố Giang Nam gió ấm mười dặm.

(*) Châu học, huyện học là trường công thời Tống, mở ở các châu huyện cho người cầu học tại các thôn quê thành thị tới học.

Một món đồ nho nhỏ hình cầu màu trắng rơi xuống từ tòa lầu thêu bên cạnh, không nặng không nhẹ đập lên khăn chít đầu của chàng.

Chàng đưa mắt nhìn, phát hiện là một quả vải chín sớm hiếm thấy vào mùa này, đã được dụng tâm bóc vỏ, lăn trên mặt đất, hãy còn loang loáng ánh nước.

Ngước mắt lên trên, thấy sau lan can trên lầu có một mỹ nhân mắt phượng trán ve mày ngài đang tựa mình, bốn mắt chạm nhau, nàng mỉm cười duyên dáng, cầm quạt tròn che mặt, thoáng lui bước tránh đi.

Trước mặt cầu in bóng nước, bên tai cung cầm sênh ca, bấy giờ chàng mới nghĩ đến, đường nay đi lại là một ngả Chương Đài (*).

Chàng cũng chẳng tránh né, khóe mắt hơi giương, nở một nụ cười dịu dàng chân thành với nàng hàng thủ (**) trong lầu Tần quán Sở kia.

(*) Chương Đài vốn là tên một con phố sầm uất của thành Trường An thời Tây Hán, là nơi kỹ quán mọc như rừng, bởi vậy nên người đời sau thường lấy Chương Đài để chỉ chốn kỹ nữ tụ cư.

(**) Cách gọi những kỹ nữ xinh đẹp có tiếng thời Tống – Nguyên.

Lúc này chàng đã hai mươi, tạm rời xa mẹ ở Giang Hạ, đến Du Hàng du học.

Tại đất Giang Nam mưa bụi mà tao nhân mặc khách vẫn hằng ca tụng này, thi thư Khổng Mạnh chẳng phải toàn bộ cuộc sống, ngoài gối kê đình Quận ngắm sóng trào ra thì còn có gái Ngô song múa điệu phù dung (*), nếu không theo đồng xá vào ngõ xóm dạo chơi, hỏi mây tìm mưa, sẽ thành ra bị người ta nhạo báng.

Chuyện kỹ nữ có lòng, mang tình ném quả như vừa rồi rất thường xảy ra, cũng chính từ những bận "được mùa" hoa trái ấy mà chàng ý thức được rằng hóa ra mình có một ngoại hình đẹp đẽ được trời ưu ái.

(*) Hai vế lần lượt lấy từ bài Ức Giang Nam và của Bạch Cư Dị.

Về chuyện tình ái, chàng cũng coi như có chút thiên phú, rất nhanh học được chiêu bài dùng ánh mắt bắt trái tim nữ tử, cũng biết mỉm cười thế nào thì vừa đúng, uy lực vô song.

Bởi vậy nên liên tiếp thắng lợi chốn gió trăng tình trường, nữ tử khói hoa từng có hẹn Vu Sơn với chàng tuy chẳng tính là nhiều song ai nấy đều xuất chúng hơn người.

Chàng là một học trò sống bằng tiền lương của châu học, thường ngày còn phải bán ít tranh chữ bù cho chi tiêu, bởi vậy nên những danh kỹ ấy đều không chịu thu tiền của chàng, chỉ xin chàng làm thơ viết chữ tặng mình thay lời cảm ơn.

Hôm nay, nàng hàng thủ Kiều Vận Nô của "Đồng Tước Xuân" này cũng vậy, ngay từ đầu đã tuyên bố với chàng rằng chỉ cầu một bài thơ làm quà đáp tặng.

Song, giữa buổi tiệc rượu, sợi xuyến vàng chàng mang theo người đã lọt vào tầm mắt ả, ả nhón lấy quan sát tỉ mỉ, cười bảo: "Phùng lang cũng tặng cả chiếc xuyến vàng này cho thiếp đi thôi."

Chàng tức khắc đoạt lại từ tay ả, thẳng thừng: "Không được!"

Kiều Vận Nô ngẩn người, hồi thần rồi lại cười rộ: "Thiếp chỉ muốn lấy một món đồ bên người Phùng lang giữ làm kỷ niệm mà thôi chứ nào có biết đâu đó là một bảo bối quý giá Phùng lang hết mực trân trọng, không muốn cho người khác."

Chàng tháo ngọc bích trên khăn chít đầu xuống, đưa cho Kiều Vận Nô: "Nếu tỷ tỷ không chê thì giữ cái này vậy."

Đó là vật đáng tiến nhất trên người chàng.

Kiều Vận Nô nhận lấy xem, cười nói: "Phùng lang buôn bán thế là lỗ lắm đấy.

Sợi xuyến vàng kia tuy tốt, song trọng lượng quá nhẹ, không có giá bằng miếng ngọc này."

Chàng cười nhạt: "Chính bởi sợi xuyến ấy nhẹ nên mới không đưa tỷ tỷ."

Ra khỏi "Đồng Tước Xuân", không dưng thấy lòng phiền muộn.

Phùng Kinh lên một tửu lâu bên bờ nước, gọi một bầu rượu, ngồi cạnh cửa sổ độc ẩm.

Bất giác, chàng lấy sợi xuyến vàng kia ra, cầm trong một tay nhè nhẹ ve vuốt như thường ngày.

Từ biệt mấy năm, chẳng biết chủ nhân sợi xuyến vàng này về sau đã làm dâu nhà ai.

Chàng rầu rầu nghĩ, tay kia rót rượu, nâng chén, uống cạn, lại rót, chén này tiếp chén kia, không mảy may hay biết ngày dài đã cạn.

Rất nhanh có người chú ý tới chàng, xì xào bàn tán: "Đó chính là tiểu tử nghèo mà Kiều hàng thủ vừa ý..."

Chợt có người cười khẩy, cao giọng nói: "Quả nhiên là hạng đĩ đực ăn bám!"

Phùng Kinh liếc xéo qua, thấy kẻ nói câu này là một tay tư lại mặc công phục.

Nghe ý mấy người họ, hẳn là muốn tiếp cận Kiều Vận Nô mà không được.

Bèn chẳng buồn phản ứng, chàng một lần nữa rót đầy chén, tiếc tục độc ẩm.

Kẻ nọ lại không định để chàng yên, nhìn chằm chằm xuyến vàng trong tay chàng, cao giọng nói tiếp: "Còn không biết xấu hổ cầm trang sức của đàn bà ra khoe khoang, cũng chẳng biết là lừa được từ tay con điếm nào..."

Lời còn chưa dứt, chỉ nghe "thịch" một tiếng trầm nặng, mặt tay tư lại đã hứng trọn một đòn nặng nề, trực tiếp ngã ngửa ra đất.

Tay tư lại chống người ngồi dậy, thấy Phùng Kinh đứng trước mặt mình, lạnh lùng nhìn gã, trong đôi mắt đối với nam giới mà nói thì quá ư mỹ lệ ấy thoáng vụt lướt một tia sáng âm u.

Tay tư lại không rét mà run, mồm miệng cũng trở nên chẳng mấy lưu loát: "Mau, mau bắt, bắt nó lại!"

Cái giá cho một quyền này là tự do của mười ngày.

Phùng Kinh bị bắt giam trong ngục lao huyện nha, mười ngày sau mới được thả ra.

Trở lại ngôi chùa chàng ở trọ trên Kính Sơn, hòa thượng quản sự tới báo với chàng: "Mấy ngày tới trong chùa không tiện giữ người nghỉ lại, xin Phùng tú tài mau chóng thu dọn hành lí, ngày mai chuyển ra ngoài đi thôi."

Chàng nhíu mày: "Là tiền hương khói tôi đưa chưa đủ ạ?"

Vị hòa thượng xua tay, liên thanh đáp không phải, nhưng lại chẳng chịu giải thích nguyên do.

Phùng Kinh muốn tìm mấy văn tiền đưa y, mong được châm chước cho đôi phần, tiếc rằng trong túi trống rỗng, tất thảy tiền bạc đã bị lính canh ngục vơ vét nạo sạch.

Hôm sau, hòa thượng nhiều lần tới thúc giục, không thể làm gì khác, Phùng Kinh đành phải thu dọn hành lí, chuẩn bị rời khỏi đây.

Trước khi đi nhìn một lượt căn phòng nhỏ quạnh quẽ đã trọ mấy tháng nay, không khỏi cảm thán thói đời nóng lạnh, đến nỗi giờ đây không chốn nương thân, bèn nâng bút, đề một bài thơ lên vách tường: "Hàn Tín phiêu bạt Hạng Vũ bần, tay cầm trường kiếm hớp heo may.

Than ôi mắt chúng sinh thiên hạ, chẳng tỏ nam nhi mặc xác bay."

Bôn ba trong huyện thành cả ngày mới tìm được một tú tài đồng môn chịu thu nhận chàng, kiếm được một căn phòng đơn sơ tá túc.

Chẳng ngờ mấy ngày sau, tay tư lại từng bỏ tù chàng lại tới học quán tìm chàng, khách khí gọi chàng "Phùng tú tài", lúng túng nói huyện lệnh cho mời.

Chàng lấy làm kinh ngạc, song vẫn nhận lời đi qua.

Huyện lệnh Dư Hàng mời chàng vào tiệc, hoan hỉ uống rượu, ân cần hỏi han, vô cùng niềm nở.

Giữa tiệc, huyện lệnh nghe chàng ăn nói, càng thêm khen ngợi, thậm chí còn nửa thật nửa giả cười bảo: "Phú quý rồi xin chớ tương vong."

Phùng Kinh cảm thấy trong đây nhất định có nội tình, bèn dụng tâm dò xét, mà huyện lệnh cũng nhân men say nói thật: "Trong kinh có quý nhân tới, đến chùa Kính Sơn thắp hương lễ tạ, trông thấy bài thơ cậu đề trên vách tường, hỏi hòa thượng tình huống của cậu rồi nhận xét: 'Cậu Phùng tú tài này tuy hôm nay túng thiếu bần cùng song đọc bài thơ cậu ta để lại, có thể thấy trong lòng cậu ta tự có gò khe (*), ngày sau ắt sẽ vinh hiển.'"

(*) Thành ngữ chỉ lúc vẽ tranh làm văn, trong lòng đã nắm được ý cảnh sâu xa, cũng dùng để ví von phán đoán, xử trí sự vật, sự việc tự có cao thấp tốt xấu.

Phùng Kinh hỏi quý nhân là ai, huyện lệnh lại thận trọng cảnh giác, lấp liếm quanh co, không chịu đáp lời.

Tiệc xong, huyện lệnh nói đã tìm một chỗ ở thỏa đáng khác cho chàng, ngày mai có thể vào ở ngay, còn biếu tặng vài xâu tiền, sai người tiễn chàng về tận nơi.

Phùng Kinh nhanh chóng có việc cần dùng đến số tiền này.

Mượn để đút lót cho vị hòa thượng xuống núi mua đồ mà mình có quen biết, chàng hỏi thăm được vị quý nhân vào chùa dâng hương ấy là một quý phu nhân đến từ kinh đô, mấy ngày nay qua đêm trong chùa, nhưng thân phận cụ thể ra sao thì vị hòa thượng cũng bảo là không biết.

Thấy vẻ mặt chàng hiếu kỳ, vị hòa thượng nói: "Cậu chớ có nảy sinh ý định đi xem thử đấy!

Chẳng rõ vị phu nhân kia lai lịch ra sao mà vừa vào chùa, huyện lệnh đã phái rất nhiều binh lính ra trước canh gác, rào vây quanh chùa, người không phận sự căn bản không cách nào vào được trong đâu."

Phùng Kinh cười cười, lại đẩy thêm một xâu tiền nữa tới trước mặt hòa thượng.

Chàng đổi lấy một bộ áo tăng, lại đội mũ tăng, giả trang thành hòa thượng trong chùa, buổi tối trà trộn vào chùa Kính Sơn.

Thân phận vị phu nhân kia ắt hẳn thật sự không tầm thường, ngoài cửa canh phòng nghiêm mật, trong cửa cũng bày màn che dọc khắp các lối nàng có khả năng đi qua, sư sãi phổ thông trong chùa đều không được vào.

Lúc Phùng Kinh vào chùa, vị phu nhân ấy đang làm lễ cầu khấn trong chính điện, chàng núp vào một góc tường sau màn che.

Nghi thức kết thúc, vị phu nhân đứng dậy, chàng nhanh chóng tiến lên, lại gần màn che con đường nàng đi.

Vị phu nhân bước đi chầm chậm, trong màn đèn sáng treo cao, chiếu bóng dáng nàng hiện rõ lên tấm vải trắng phòng người dòm ngó.

Chàng ở ngoài màn che nơi ánh sáng mịt mờ, chậm rãi di chuyển theo bóng nàng, bám sát từng bước.

Hiện trên màn che là bóng dáng sườn mặt của nàng: đường nét ngũ quan thanh tú, tóc vấn cao, buộc lại bằng một chiếc miện đơn giản, để lộ cần cổ cao thon đẹp đẽ, cằm nàng khẽ hất, ung dung cất bước, tư thái cao nhã...

Bóng người trước mắt dần dần ăn khớp với kí ức nằm sâu trong chàng, chàng chỉ cảm thấy hai tai nổ ầm, hô hấp khó khăn, ý thức dường như cũng đang lung lay theo ngọn lửa nhún nhảy.

Cách lớp màn che, nàng tiếp tục bước đi, chàng tiếp tục bám theo, bước chân im ắng, song nhịp tim thì đang bắt đầu tăng tốc, thậm chí chàng còn hơi thấp thỏm sợ người trong màn sẽ nghe thấy tiếng động bất an phát ra từ lồng ngực mình.

Đến cuối, tim chàng như cuồng loạn giữa tiếng gõ mõ tụng kinh hãy còn đang quanh quẩn trong viện.

Rất nhiều lần chàng muốn xé màn che ra, xác nhận suy đoán trong lòng, nhưng vẫn cố dằn xuống.

Sau cùng, khi nàng đi tới chỗ hai bức màn tiếp giáp, chàng mới dùng ngón tay đang run rẩy vén một góc vải trắng lên, dõi mắt vào trong kiếm tìm.

Tất thảy những mong đợi và cảm xúc như ẩn như hiện, khó nói thành lời kia đều lắng xuống như bụi bặm theo cái dõi mắt ấy.

Chàng buông thõng tay, quỳ xuống sau màn che nơi nàng chẳng nhìn đến, lặng thinh cô tịch rơi nước mắt mỉm cười giữa ánh sáng chập chờn.

Quả nhiên là nàng.

Chàng nhắm hai mắt lại, song đáy lòng thông suốt thấu rõ – có hề chi khi bị chúng sinh thiên hạ rẻ rúng, khinh khi?

Chỉ cần nàng biết chàng, hiểu chàng, ấy chính là tân nương chàng cung phụng vĩnh viễn trên đài gương sáng tỏ trong tim.

3.

Đầm mộng

Tay áo đón gió, khăn vấn tung bay, Phùng Kinh hổn hển dồn dập, lại chẳng chịu ngưng nghỉ, guồng chân chạy dọc theo bờ nước, đuổi kịp con thuyền rồng đò hoa đang trôi về phía mây nước kia là mục tiêu mơ hồ của chàng.

Qua vị hòa thượng, chàng biết được thời gian nàng ngồi thuyền ra bắc, vốn tưởng mình có thể hờ hững dửng dưng, chàng còn cố ý mời hai người bạn thân tìm một chỗ rượu thuần cảnh đẹp, đối ẩm hành lệnh, ngâm thơ điền từ vào lúc đó, nguyên là cười nói không dứt, ngà ngà tựa lên lan can lầu cao, tựa hồ đã quên mọi thứ liên quan đến nàng.

Song chính vào lúc ấy, bên cạnh chàng lại có ca kỹ gảy tỳ bà, ngâm nga hát câu: "Núi Ngô xanh, núi Việt xanh, ngọn núi đôi bờ đưa đón quanh, biệt ly ai thấu tình?

Chàng buồn tênh, thiếp buồn tênh, dải "đồng" tết mãi vẫn chưa thành, triều dâng phẳng dòng kênh. (*)"

(*) Bài "Trường tương tư" của Lâm Bô, .

Triều dâng phẳng dòng kênh.

Nụ cười chàng cứng lại, tâm trạng rối loạn, nhiệt độ sợi xuyến vàng trong ngực như đột ngột tăng cao, thiêu đốt ngay kề trái tim chàng.

Người con gái hiểu chàng nhất trần gian một lần nữa sắp rời xa chàng.

Ly biệt bữa này, thời gian đằng đẵng vắt ngang giữa họ có khi nào sẽ lại là một vòng mười năm?

Hoặc giả, chàng sẽ không bao giờ được gặp lại nàng?

Chàng bỗng đứng bật dậy, không giải thích với bạn một chữ nào đã chạy tới chỗ thuyền khởi hành.

Thuyền lầu nàng ngồi đã rời bến, chàng bèn chạy băng băng dọc bờ men theo phương hướng thuyền đi.

Mong cầu chi đây?

Chàng chạy trong túy lúy, chẳng kịp suy nghĩ nhiều, chỉ ra sức chạy, dùng tốc độ nhanh nhất rút ngắn khoảng cách với nàng.

Vạt áo sau lướt qua phương thảo trên bờ, giày vải chạm tới rau hạnh nhấp nhô trong nước, rẽ tách trùng trùng lau sậy, mặc sương trắng thấm đẫm áo quần, thậm chí chàng còn lội nước mà đi, nhưng nàng vẫn càng lúc càng xa, dềnh dàng trôi đi trong nước.

Nhìn ngấn nước con thuyền hoa chở nàng và cảnh xuân rực rỡ mà chàng cảm nhận được năm nay đồng thời biến mất nơi tận cùng khói sóng, rốt cuộc, chàng chán nản ngã xuống, nằm vùi trong hoa liễu lau sậy, hoang mang nhìn bầu không xanh ngắt phai màu tại đáy mắt mình, kiệt sức thiếp đi ngủ thật say.

Lại lần nữa có tri giác là khi chung quanh đã váng tiếng ếch nhái, trăng đã treo trên đầu cành liễu.

Có người xách đèn lồng lại gần chàng, rọi ánh đèn lên mặt chàng.

Phùng Kinh cau mày, giơ tay che đi, mắt nhập nhèm mở hé, loáng thoáng phân biệt được trước mặt là bóng dáng một cô gái.

Là nàng sao?

Chàng mơ hồ nghĩ, muốn nhìn rõ hơn nhưng ánh đèn nhức mắt, cộng thêm cơn say tàn dư trong cơ thể tấn công từng đợt, đầu óc hỗn loạn, đến nhấc mí mắt lên cũng thành chuyện khó khăn.

Sương trắng đẫm áo, lạnh lẽo thấu xương.

Chàng thấy lạnh, kế đó lại chập chờn nhận ra sự vắng vẻ hiu quạnh của nơi này, không khỏi vươn tay về phía nguồn sáng kia như muốn bắt lấy sắc màu ấm áp của vầng sáng vàng chanh kia.

Lúc này, cô gái nọ đang cúi người cẩn thận quan sát chàng, kề cận khá sát nên chàng có thể cảm nhận được hơi thở của cô mơn man gương mặt mình, là một mùi hương thiếu nữ trong veo.

Chàng vươn tay bắt lấy cổ tay cầm ngọn đèn lồng của cô, làn da cô trơn láng mịn màng, còn có hơi ấm chàng cần muốn.

Chàng tức khắc phát lực kéo giật, cô gái kia sợ hãi kêu lên một tiếng, đèn lồng rơi xuống đất tắt ngấm, cô ngã nhào vào lòng chàng.

Chàng ôm siết lấy cô, vừa như mượn cô sưởi ấm, lại như muốn khóa cô trong lòng.

Cô rá sức phản kháng, giãy giụa như một con nai sa phải bẫy thú.

Động tác kịch liệt ấy và hơi rượu thuần tàn dư trong bụng chàng, một cách kỳ dị, cùng nhau khơi dậy dục vọng của chàng, cứ thế, hai đằng quấn quýt lăn lộn trong bụi hoa lau, kinh động hai, ba con âu cò đậu gần đó bay đi.

Tiếng chim chóc vỗ cánh bay rào rào làm cô gái ấy sững sờ trong chớp mắt, mà bấy giờ, Phùng Kinh đã ôm eo ôm cổ cô, cúi đầu chớp mắt trên mặt cô, làm lông mi phe phẩy trên má cô êm ái.

Cô như bị điện giật, toàn thân run lên, mọi động tác ngưng bặt, bó tay chịu trói.

Môi chàng trượt qua gương mặt trơn bóng của cô, nhấm nháp hương con gái trên đôi môi mọng nước của cô, lại hôn một mạch tới vai cổ cô.

Nhẹ nhàng ngậm lấy một mảnh da thịt tại đó, răng môi cọ mài lẫn nhau, khép mắt lại, chàng như trông thấy ánh sáng bảy sắc, sau màn sa lụa đỏ, có người con gái khẽ khàng ngoái đầu, tư thế thanh nhã tựa thiên nga, tay áo mép tóc tỏa hương chi lan thoang thoảng.

4.

Nguyên Nguyên

Cô tựa hồ mười bảy, mười tám tuổi, nhưng cũng có thể là mười sáu, mười lăm.

Dáng dấp cô cân xứng, tư thái xinh tươi như mọi thiếu nữ trưởng thành, song con ngươi thì trong vắt như nước, thần sắc cử chỉ hãy còn vương hơi thở con trẻ, dường như chẳng lớn hơn bé gái tuổi dậy thì là bao.

Nước da cô mịn màng, lại không phải trắng nõn, hẳn là do thường đi lại ngoài trời, được ánh nắng mạ lên một lớp màu như sắc đường mật.

Da thịt nàng săn chắc trơn bóng, chỉ duy lòng bàn tay là xù xì, kết chai dày, có lẽ thường xuyên làm việc nặng.

Mái tóc cô dài mượt đen nhánh, song chỉ vấn thành hai búi tròn rất mực tùy ý qua loa, lúc này nom xù xù lỉa chỉa, có mấy lọn tóc bung ra rủ xuống.

Áo quần cô mặc rất tuềnh toàng, màu sắc tối cũ, không vừa người lắm, đại khái là cắt sửa lại từ đồ cũ của người khác.

Cô không đi giày, chân trần ngồi trên mặt đất, để lộ cả mắt cá chân, vùng ra nơi đó có vài nốt chấm bị muỗi đốt.

Hiển nhiên, cô là con gái nhà bần túng, song có vẻ như điều này chẳng hề gây trở ngại đến việc cô sống đời vui vẻ.

Giờ đây, cô đang cầm mấy cành lau sậy trong tay, chợt trái chợt phải khua quất đuổi ruồi muỗi chung quanh, miệng còn khe khẽ hát ca dao.

Dường như chuyện đêm qua cũng không ảnh hưởng đến tâm trạng tốt đẹp của cô.

Nếu cô là người như gái thanh lâu thì đương nhiên chẳng có gì lạ, đằng này...

Trước đó rõ ràng cô hãy còn là thân xử nữ.

Đó cũng là nguyên nhân khiến Phùng Kinh sau khi tỉnh lại cảm thấy khó xử và áy náy.

Thế nên tuy đã sớm thức giấc song chàng vẫn chưa ngồi dậy nói chuyện với cô ngay mà duy trì tư thế ngủ say, mắt chỉ mở hé ra một cái khe, mượn ánh ban mai đang dần sáng sủa lặng lẽ quan sát vị cô nương bị mình mạo phạm này.

Hình như, có vẻ, cô cũng không vì thế mà ghét chàng.

Bởi ruồi muỗi cô đuổi, có hơn nửa là bên người chàng.

Một con muỗi bé xíu đậu lên cằm chàng, cây phất trần lau sậy của cô lập tức nhào tới, bông lau phất qua chóp mũi chàng, Phùng Kinh không nhịn được hắt xì.

Không thể không mở mắt ra, tức khắc chạm vào con ngươi long lanh của cô.

"Chàng tỉnh rồi?"

Cô cúi người hỏi, trong cặp mắt to tròn thậm chí còn lấp lánh vui sướng.

Chàng đành ngồi dậy, cúi đầu, một hồi lâu không dám nhìn cô.

Im lặng một lúc mới nói: "Xin hỏi phương húy của cô nương?"

"Hả?"

Cô ngạc nhiên, chẳng trả lời.

Chàng bèn đổi cách giải thích: "Em tên là gì?"

"À," Cô hiểu ra, cười đáp: "Em họ Vương, tên là Nguyên Nguyên."

"Viết thế nào?"

Chàng rất ư lễ phép khom người thỉnh giáo.

"Viết?"

Cô trố mắt, kinh ngạc nhìn chàng chằm chằm, như thể nghe thấy một câu hỏi lạ lùng quá đỗi, sau đó bật cười, "Không biết!

Em không biết viết một chữ nào hết."

"Vậy," Chàng hỏi lại, "Tại sao người nhà em lại lấy tên này cho em?"

Cô nhanh chóng cho chàng câu trả lời: "Vì cha em thích nguyên bảo – tuy rằng trước giờ ông ấy chưa từng thật sự mò được thỏi nào."

Nói vậy, tên cô là "Nguyên Nguyên".

Phùng Kinh nghĩ ngợi rồi nhặt một nhánh cây, viết lên mặt đất hai chữ.

Cô nương ngó xem, hỏi chàng: "Tên em viết như vậy ạ?"

Chàng không đáp ngay, đưa mắt nhìn mây khói nước biếc trước mặt, tiếp đó lại thêm cho mỗi chữ ba nét chấm vào bên trái.

"Nguyên Nguyên," Chàng nhẹ nhàng đọc lên, nói với cô: "

Sau này tên em viết vậy đi." (*)

(*) Chữ Nguyên gốc [元] lấy từ nguyên bảo có nghĩa là đĩnh vàng, đĩnh bạc, chữ Nguyên Phùng Kinh lấy cho cô gái viết thế này [沅], là tên một con sông bắt nguồn từ Quế Châu.

Cô rất phấn khích, dùng ngón tay chạm vào chữ viết trên mặt đất ẩm ướt kia, di tay học từng nét từng nét.

Sau đó hỏi tên chàng, chàng nói với cô, cũng viết ra, cô lại học tiếp, miệng chúm chím, lẩm nhẩm: "Phùng...

Kinh...

Kinh..."

Chỉ luận dung mạo thôi thì cô chẳng tính là mỹ nhân, nhưng dáng vẻ ngây thơ hồn nhiên ấy lại khả ái vô cùng.

Phùng Kinh lẳng lặng ngắm nhìn, trong bụng càng thêm phiền muộn.

"Xin lỗi."

Chàng cụp mắt, thành khẩn xin lỗi.

Cô thoáng sửng sốt, chợt ý thức được chuyện chàng chỉ, động tác trên tay dừng lại, mặt cũng không khỏi ửng đỏ.

Chàng suy xét hồi lâu, cuối cùng hạ quyết tâm, lấy chiếc xuyến vàng trong ngực ra đưa cho cô: "Cái này cho em."

Chàng muốn bồi thường cho cô chút ít, mà trước mắt, đây là vật quý báu nhất mà chàng có.

Cô lưỡng lự, không đưa tay nhận lấy, "Chàng cho em tiền đấy à?"

"Không," Chàng lập tức phủ nhận, ngẫm nghĩ rồi nói: "Đây là quà tặng em."

Bấy giờ cô mới vui vẻ nhận lấy, đeo sợi xuyến lên cổ tay.

Chàng lại im lặng thêm chốc lát, mờ mịt nhìn chung quanh, thấy gần bờ nước đậu một con thuyền con, bèn hỏi Nguyên Nguyên: "Em chèo thuyền tới à?

Nhà em ở gần đây?"

"Đúng vậy, nhà em ở ngay gò Hoa Sen cách đây hai dặm."

Cô đáp, như bỗng nhớ đến điều gì, lại nói tiếp: "Đúng rồi, hôm qua em đánh cá trở về thì gặp một con thuyền hai tầng rất lớn trên thượng du, trên thuyền có rất nhiều tỷ tỷ như tiên nữ vậy...

Có người gọi em lại, hỏi em có phải đi về hướng này không, em đáp phải, một vị phu nhân đi từ trong khoang ra, sai người lấy ít tiền cho em, nói ở trên thuyền trông thấy có vị tú tài chạy đuổi theo thuyền hồi lâu, hiện giờ cách huyện thành đã xa, e là không tiện trở về, bảo em thuận đường chở anh ta về học quán.

Em bèn tìm dọc đường, đến lúc trời tối mới phát hiện ra chàng nằm đây...

Chàng là vị tú tài người ấy nói à?"

Phùng Kinh không trả lời, ánh mắt dừng trên sợi xuyến vàng giờ đây đeo trên tay Nguyên Nguyên, một lúc lâu sau mới ảm đạm dời đi, đáp: "Không phải."

"Ồ..."

Nguyên Nguyên gật đầu, thình lình vỗ tay đứng dậy, cười bảo: "Bất kể có phải hay không thì chàng cũng cần về đúng không?

Nào, ngồi thuyền em đi, em chở chàng."

Sau khi lên thuyền, cô từ chối sự giúp đỡ của chàng, tư thế khua chèo thuần thục, chở chàng vào thành.

Vóc người cô cũng chẳng lấy gì làm cao lớn to con, song dáng vẻ chống chèo xuyên qua lau sậy rất đỗi thảnh thơi ung dung.

Chàng ngồi ở mũi thuyền, do dự hồi lâu, rốt cuộc không nhịn được hỏi cô: "Tối qua...

Vì sao em không đẩy ta ra?"

"Có đẩy mà!"

Mở to đôi mắt đen trắng rõ ràng, cô đáp đúng sự thực: "Ban đầu em đẩy suốt ấy..."

Chàng thẹn thùng cúi đầu, chỉ thiếu điều đâm đầu xuống dòng nước biếc sâu.

Ho nhẹ hai tiếng che giấu, chàng lại nhỏ giọng hỏi: "Ý ta là, sau cùng..."

Nếu cô khăng khăng kháng cự thì chàng cũng chẳng thể cưỡng ép.

Câu hỏi này làm cô khá tốn suy nghĩ.

Cau mày nhìn trời chốc lát, cô vẫn chẳng tìm được câu trả lời, sau, chỉ hoang mang nói: "Em cũng không biết..."

"

Sau này chàng sẽ đến thăm em chứ?"

Lúc ly biệt, Nguyên Nguyên đã hỏi vậy.

Chàng không dám nhận lời cô, chỉ cười mỉm.

Cô cũng rất lanh lợi, yên lặng xoay người rời đi, không hỏi lại.

Mấy ngày sau, Phùng Kinh thu thập hành lí, rời khỏi Dư Hàng trở lại Giang Hạ, về bên mẹ.

Chàng chẳng tìm được sự yên ả như đã mong đợi ở Giang Hạ.

Bất kể là đối mặt với sách vở hay nhắm mắt lại, tất thảy mọi chuyện ở Dư Hàng đều như rành rành trước mắt, khi thì là bóng dáng sau màn che, khi thì là Nguyên Nguyên bên bờ nước.

Chàng bắt đầu lang thang ngõ phố, chè chén phóng túng, nhưng vẫn khó lòng xóa bỏ từng cảnh tượng lặp đi lặp lại vụt lướt trong lòng.

Bởi vậy mà mẫu thân vẫn thường lo lắng nhìn chàng, thỉnh thoảng lại lắc đầu thở dài.

"Cậu Kinh nên tìm nàng dâu rồi."

Bà thím láng giềng thấy vậy, nở nụ cười tỏ tường, nói với Phùng phu nhân.

Kế đó, liên tiếp nhiều ngày, khách khứa chủ yếu của nhà họ Phùng đều là người làm mối làm mai.

Sau cùng, Phùng Kinh không chịu nổi phiền hà, xin mẫu thân cho xuất hành chuyến nữa.

"Lần này con muốn đi đâu?"

Phùng phu nhân hỏi.

Phùng Kinh cũng tự hỏi câu này rất nhiều lần, tựa như cầm lòng chẳng đậu, cuối cùng, cái đích chàng chọn vẫn là Dư Hàng.

Đến gò Hoa Sen tìm Nguyên Nguyên, vốn chỉ định đi thăm cô.

Nhưng vừa bắt đầu, từ ánh mắt và giọng nói của những người địa phương chàng hỏi đường, tức thì cảm nhận có gì đó quái lạ.

"Vương Nguyên Nguyên?"

Thông thường, họ đều hỏi ngược lại tên chàng, nhìn chàng từ trên xuống dưới một lượt, hé ý cười mập mờ, rồi mới chỉ cho chàng nơi ở của Nguyên Nguyên.

Lúc chàng trông thấy Nguyên Nguyên, cô đang vung mái chèo, lao ra từ căn nhà tranh của mình, hung tợn đánh đuổi hai gã đàn ông mặt mày thậm thụt.

Cô bắt kịp một tên, mái chèo đập xuống chân tên ấy đánh "bốp" một tiếng chắc nịch.

Cô chống mái chèo xuống đất, sợi xuyến vàng trên cổ tay đong đưa theo động tác, lấp lánh tỏa sáng dưới nắng vàng.

"Còn dám mò tới cửa nói lời bẩn thỉu, bà thấy một tên đánh một đôi!"

Cô dựng ngược lông mày, cao giọng tuyên bố.

Tên bị đánh rên rỉ không ngớt, khập khiễng chạy tiếp, còn vừa chạy vừa không quên quay đầu mắng cô: "Trong bụng bầu con hoang của thằng nào chẳng biết mà còn có mặt mũi ra cái vẻ tam trinh cửu liệt!"

Phùng Kinh kinh ngạc, lưu ý xem bụng Nguyên Nguyên, mới phát hiện ra chỗ đó quả thật hơi nhô lên, hẳn là cô đang mang bầu.

Nguyên Nguyên nghe vậy cũng không cãi trả, bỏ hai ngón tay vào miệng huýt một tiếng sáo vang dội, tức thì, một con chó mực xông ra từ sau nhà.

Nguyên Nguyên chỉ vào tên đằng trước, ra lệnh: "Cắn hắn!"

Chó mực sủa tiếng đáp lại rồi đuổi theo, tên kia hét thảm, ôm đầu co giò chạy.

Nguyên Nguyên cười đắc ý, xách mái chèo chuẩn bị về nhà, nào ngờ vừa quay người, toàn thân bỗng sững lại, đứng tại chỗ bất động, không sao cất bước.

Phùng Kinh đứng trước mặt cô, mỉm cười gọi cô: "Nguyên Nguyên."

Cô không đáp.

Lặng thing nhìn chàng đôi lát, một bàn tay mất tự nhiên xoa cái bụng gồ lên.

Chàng để ý thấy, dè dặt hỏi: "Của ta?"

Cô lưỡng lự, mãi sau mới gật đầu.

Chàng nghiêm mặt đứng thẳng dậy, nhất thời lại bặt thinh.

Cô khẽ cau mày, lúc thì cúi đầu nhìn mũi chân chàng, lúc lại bất an liếc chàng, nom hết sức tội nghiệp, như đang hỏi: "Chàng không tin?"

"Lệnh tôn..."

Rốt cuộc chàng cũng mở miệng, vừa nói ra hai chữ này đã lập tức sửa miệng: "Cha em, có nhà không?"

"Ông ấy ra cửa đánh cá rồi."

Nguyên Nguyên đáp.

"Ồ...

Có thể nói cho ta biết tên ông ấy không?"

"Vương A Lục."

"Thế ông nội em tên gì?"

"Vương Hữu Tài."

"Ông ngoại em thì sao?"

"Vương Phú Quý...

Chàng hỏi rõ vậy làm gì?"

Nguyên Nguyên cảnh giác hỏi ngược lại: "Họ nợ tiền chàng?"

"Ừm, không phải...

Đây gọi là 'vấn danh', ban đầu khi cầu hôn, theo lệ phải nói tên húy ba đời."

Phùng Kinh giải thích, dịu dàng cười với cô, "Nguyên Nguyên, ta muốn cưới em."

Cô trợn tròn mắt nhìn chàng không tin nổi, lát sau, bỗng òa khóc nức nở.

Xưa nay chưa từng có vị cô nương nào lớn rồi mà lại khóc thút thít trước mặt chàng hệt một đứa trẻ như vậy.

Chàng hoảng sợ luống cuống chân tay, lật đật dắt cô vào nhà, dỗ dành hồi lâu, cô mới hơi nín khóc.

Sau đó, cô không nói gì hết, chỉ mở to cặp mắt hãy còn ngập nước nhìn chàng nồng nhiệt.

"Sao lại nhìn ta vậy?"

Chàng mỉm cười hỏi cô: "Trên mặt ta có nguyên bảo à?"

"Không có."

Cô thật thà trả lời: "Cơ mà, chàng đẹp hơn nguyên bảo nhiều."

5.

Nàng dâu

Cuối cùng Phùng phu nhân cũng miễn cưỡng cho Nguyên Nguyên vào cửa, hoàn toàn là bởi đứa trẻ trong bụng cô.

Trước ngày rước dâu, cứ nghĩ tới gia thế nghèo hèn của Nguyên Nguyên là bà lại lắc đầu thở dài, thi thoảng còn gạt lệ, mà Nguyên Nguyên sau khi vào cửa cũng liên tục có những hành động kinh người: Trời vừa sáng đã không thấy bóng dáng đâu, đến gần trưa mới trở lại, bưng một chậy quần áo mới giặt xong ở bờ sông; chân trần chạy tới chạy lui quét tước phơi phóng trong sân, thấy khát bèn chạy tới cạnh giếng múc một thùng nước ngửa mặt uống liền; vì bắt một con gà xổng chuồng mà có thể trèo lên tận nóc nhà...

Phùng phu nhân bèn uyển chuyển khuyên cô, nhưng cô hoàn toàn chẳng hiểu được có gì không ổn, chẳng hạn như khuyên cô đi giày, cô thẳng thừng xua tay: "Không sao, đất không lạnh!"

Khuyên cô đừng uống nước lã, cô lại nói: "Nước đun rồi sẽ mất ngọt, thôi khỏi đun cho đỡ phí củi lửa thì hơn."

Sau nữa, Phùng phu nhân lấy đứa con ra kiên nhân giải thích với cô, nói làm vậy không tốt cho trẻ nhỏ, cô mới sửa thói từng cái.

Ngoài ra, cô còn có rất nhiều tật xấu, chẳng hạn như húp canh quá to tiếng, thỉnh thoảng nói lời thô tục, thường xuyên khiến mẹ con Phùng thị trố mắt nhìn nhau, câm nín cạn lời.

Có điều, cô có một ưu điểm hàng đầu: Cô chân thành yêu chồng và mẹ chồng mình, hơn nữa còn luôn rất sẵn lòng biểu đạt điều đó.

Bởi thế nên Phùng Kinh và Phùng phu nhân cảm thấy rất vui, cô bằng lòng làm bất cứ việc gì cho họ, dầu cho thường hay lỡ tay làm quá: mài mực cho Phùng Kinh sẽ làm mực bắn lên mặt chàng, bóp vai đấm lưng cho mẹ chồng sẽ khiến Phùng phu nhân đau đến mức phải thầm nháy mắt với con trai, ra hiệu chàng bảo Nguyên Nguyên dừng lại...

"Nguyên Nguyên là một đứa bé ngoan," Sau, Phùng phu nhân nói chuyện riêng với Phùng Kinh, thờ dài, "Tuy có một vài thói hư tật xấu, nhưng con cứ từ từ dạy nó, để nó sửa sai là được."

Phùng Kinh rất lấy làm mừng rỡ vì rốt cuộc mẹ mình cũng chịu tiếp nhận Nguyên Nguyên, từng bước chỉ dạy Nguyên Nguyên sửa lại thói quen trước kia, mà cô cũng thật sự học rất nghiêm túc, song, chung quy vẫn có một vài nội dung dạy mãi không thành, chẳng hạn như cách cô gọi chàng.

Đại khái là do ban đầu Phùng Kinh nói cho cô biết tên thật của mình nên sau đó, cô bèn gọi thẳng tên chàng, bất kể có người khác hay không, cứ thấy chàng là cô sẽ lập tức vui vẻ gọi: "Kinh!"

"Em không nên gọi ta như vậy," Phùng Kinh cũng từng nói rõ với cô, "Vợ không thể gọi tên chồng mình.

Em gọi ta là 'phu quân', 'lang quân', hoặc gọi tên tự 'Đương Thế' của ta cũng được, nhưng đừng gọi ta là 'Kinh' nữa."

"Đương Thế?"

Cô như nghe được cái gì buồn cười lắm, lập tức ha ha bật cười, dáng vẻ hỉ hả hết sức ấy làm Phùng Kinh nhìn mà lần đầu tiên sinh lòng hoài nghi với tên tự của mình, nghĩ đi nghĩ lại xem trong đó có thật là có chỗ nào buồn cười không.

Mà lý do của cô thì chỉ là: "Cái nhũ danh này của chàng khó nghe quá."

Trải qua Phùng Kinh mãnh liệt yêu cầu, rốt cuộc cô cũng đồng ý không gọi chàng là "Kinh" trước mặt người khác nữa, nhưng sau đó, sự thật chứng mình, về mặt này, cô tương đối mau quên.

Một ngày nọ, Phùng Kinh mời hai vị đồng xá trong châu học đến nhà làm khách, trước đó có dặn dò Nguyên Nguyên làm hai món thật ngon, cô gật mạnh đầu, hớn hở đi chuẩn bị.

Mà thức ăn rượu nhậu hôm ấy cũng nằm ngoài dự liệu của Phùng Kinh rất nhiều, cá thịt gà vịt đều có, gia cảnh họ lúc đó không dư dả lắm, Phùng Kinh thầm ngạc nhiên, chẳng biết sao Nguyên Nguyên có đủ tiền mua được những thứ này, nhưng bởi có mặt đồng xá nên cũng không tiện hỏi cô, chỉ mời hai người bạn vào tiệc, uống rượu nói cười.

Rượu qua ba tuần, Nguyên Nguyên bỗng ưỡn cái bụng to vọt từ buồng trong ra, bưng một đĩa cua hoan hỉ bày lên bàn, sang sảng cười với Phùng Kinh, nói: "Kinh, món này em mới làm xong, mau mời bạn chàng nếm thử đi!"

Hai vị đồng xá sửng sốt nhìn cô, nhất thời cũng chẳng biết phải phản ứng thế nào.

Nguyên Nguyên thấy họ không động đũa ngay, bèn tự mình cầm hai con cua, bỏ vào bát họ mỗi người một con, cười nói: "Ăn đi, đừng khách khí!"

Mặc dù rất muốn lăn đùng ra đấm đất, nhưng Phùng Kinh vẫn gắng giữ cho mình mặt ung dung thản nhiên, mỉm cười với hai vị đồng xá đang trợn mắt há hốc, bảo: "Chuyết kinh trù nghệ thô thiển, để hai vị huynh đài cười chê rồi."

Đồng xá cũng vội cười xòa, lễ độ khen: "Món ngon tẩu phu nhân mỹ vị vô cùng, đời tôi hôm nay được thưởng thức, quả thực là vận may ba kiếp."

Phùng Kinh chỉ mong Nguyên Nguyên mau mau lui đi, bèn nói với cô: "Mấy ngày nay mẫu thân ăn uống không được, xin nhờ nương tử vào trong bầu bạn, chiếu cố cho."

Nguyên Nguyên đáp: "Mẹ ăn cơm tối từ sớm rồi, giờ đã về phòng nghỉ ngơi."

"À..."

Phùng Kinh ngẫm nghĩ, lại nói: "Nương tử mệt nhọc một ngày, cũng xin về phòng sớm nghỉ ngơi đi thôi."

"Không mệt không mệt," Nguyên Nguyên lắc đầu, luôn miệng bày tỏ mình rất có hứng thú với việc chiêu đãi khách khứa, "Hiếm lắm bạn chàng mới tới làm khách, sao em có thể trốn trong phòng làm biếng được...

Lại nói, em chỉ sợ nhàn rỗi thôi, cả ngày hết ngồi lại nằm, sẽ mỏi eo đau lưng mất."

Trong lòng Phùng Kinh cứng họng nghẹn lời, cũng chẳng tiện công khai tỏ ý bất mãn với cô, chỉ đành nghe theo cô, tự mình nâng chén chúc rượu, dời trọng tâm câu chuyện đi, cầu mong đồng xá đừng chú ý quá nhiều đến vị phu nhân này của mình.

Nhưng, biểu hiện của Nguyên Nguyên quả thực rất khó khiến người ta không chú ý tới cô.

Sợ khách ăn không đủ no, cô không ngừng qua lại giữa phòng bếp và phòng khách, thêm cơm thêm thức ăn cho họ.

Thấy cơm trong bát khách sắp hết, không đợi họ ngỏ lời đã chạy đi lấy thêm cho họ.

Khách vội vàng đứng dậy cảm ơn, cô cực kỳ mừng rỡ, cũng càng thêm ân cần, dứt khoát bưng một âu cơm lớn trong lòng, thấy bát ai bớt đi chút nào là tiện tay xới một muôi to bỏ thẳng vào bát họ.

Hai vị đồng xá vốn là thư sinh nho nhã yếu ớt, nào ăn nổi nhiều đến thế, đến cùng chẳng khác nào đánh trận công thủ với Nguyên Nguyên, lấy tay che bát cơm dưới ánh mắt "lom lom như hổ" của cô, lại không dám thất thần, chỉ sợ vừa không cẩn thận, tay hơi hở ra là sẽ bị cô đắp cho một muôi đầy.

Khó khăn lắm mới cầm cự được đến khi bữa cơm kết thúc, hai vị đồng xá bỏ chạy hết rồi, Phùng Kinh mới cân nhắc câu từ, ra sức khuyên Nguyên Nguyên sau này không nên lộ mặt lúc nhà có khách nam.

Nguyên Nguyên cảm thấy rất khó hiểu: "Tại sao?

Bạn cha em tới nhà làm khách, mẹ em cũng chiêu đãi họ vậy mà."

Phùng Kinh đoán chừng nói với cô những đạo lí phép tắc lễ nghi và nam nữ đại phòng kia, cô cũng chẳng hiểu được, bèn tìm một lí do đơn giản: "Ta không thích đàn ông khác nhìn thấy em."

"Ha ha, chàng keo kiệt thật đấy!"

Cô cười lớn, "Sợ gì chứ, dù sao họ nhìn được cũng chẳng chiếm được!"

Phùng Kinh hoàn toàn buông xuôi, lau mồ hôi trên trán ngồi xuống, thầm thở dài.

Đối mặt với một bàn canh thừa thịt nguội, chàng chợt nghĩ đến nghi vấn mới đầu, bèn đem ra hỏi Nguyên Nguyên: "Sao hôm nay em mua được nhiều thịt thà thế?

Mẹ đưa em nhiều tiền lắm à?'

Cô lắc đầu, cười nói: "Chàng đoán đi."

Phùng Kinh suy nghĩ một lúc, vẫn không có câu trả lời: "Không đoán ra."

Nguyên Nguyên càng cười vui vẻ hơn, đắc ý chìa hai bàn tay ra với chàng, không ngừng vẫy vẫy trước mắt chàng.

Chàng tức khắc để ý đến, cổ tay cô trống trơn, hỏi: "Em bán xuyến vàng đi?"

Cô ngẩn người rồi lại cười: "Đúng vậy, bán được không ít tiền đâu..."

Trong đầu chàng nổ vang, nhất thời không nói nổi bất kì một câu nào, nhưng cảm nhận được người mình khẽ run, máu huyết toàn thân đều như đang lạnh xuống.

Chàng nắm chặt cổ tay Nguyên Nguyên, vô thức tăng lực, mãi đến khi cô oai oái kêu đau, chàng mới căm phẫn buông tay, phất tay áo bỏ đi, khóa mình trong thư phòng, mặc Nguyên Nguyên gõ cửa khẩn cầu thế nào cũng không mở.

Đó là lần đầu tiên Nguyên Nguyên thấy chàng nổi giận, luôn miệng gọi cửa mà không thấy chàng đáp, cô bắt đầu nức nở, vừa khóc vừa đỡ cửa ngã trượt xuống đất, kinh động đến Phùng phu nhân đã đi ngủ.

Bà khoác áo đứng dậy, đi ra kiểm tra.

Lát sau, Phùng phu nhân hét lên một tiếng hãi hùng, đập mạnh cửa, kêu: "Mở cửa mau!

Nguyên Nguyên không ổn rồi!"

Cửa ầm ầm mở bung, sắc mặt Phùng Kinh trắng bệch, nhanh chóng cúi xuống bế Nguyên Nguyên dưới đất lên.

Cô có dấu hiệu sinh non.

May mà cứu chữa kịp thời, mẹ con Phùng thị mời đại phu bà đỡ đến, sau một phen rối ren, tốt xấu gì cũng giữ được thai nhi.

Đợi mọi người rời đi rồi, Phùng Kinh ngồi trước giường Nguyên Nguyên, rầu rĩ xin lỗi cô: "Xin lỗi, chuyện hôm nay, là ta không đúng..."

Nguyên Nguyên lắc đầu, rưng rưng thò tay lần mò dưới gối, một chốc sau, móc ra sợi xuyến vàng Phùng Kinh quen thuộc, cho chàng xem.

"Em không có bán..."

Cô khẽ khàng nói, "Em chỉ nói đùa chàng thôi...

Sáng sớm nay em ra bờ sông bắt cua, bắt được rất nhiều, bán một ít đi, dùng tiền đó mua thịt cá...

Bởi phải lao động, sợ đánh mất xuyến vàng, nên không đeo..."

Phùng Kinh rơm rớm nước mắt, nhẹ nhàng ôm cô vào lòng, trịnh trọng cam đoan bên tai cô: "Nguyên Nguyên, sau này ta sẽ đối đãi với em thật tốt, sẽ không để em phải sống khổ cực như vậy nữa."

Mà trong lòng chàng, cô thỏa mãn nhắm mắt, mỉm cười: "Em không khổ cực...

Chỉ cần chàng cho em bên chàng."

6.

Đào Chu

"Muốn giữ lớn hay giữ bé?"

Lúc Nguyên Nguyên đẻ, bà đỡ đã đặt câu hỏi tàn khốc này ra trước mặt Phùng Kinh.

Ngôi thai của Nguyên Nguyên không đúng, thai nhi trong bụng chân quay xuống dưới khiến cô khó sinh, đã kéo dài suốt một ngày một đêm, cô thảm thiết kêu đau, ngất lên ngất xuống trong phòng mấy bận rồi mà vẫn chưa sinh được con ra.

Phùng phu nhân nhìn bà đỡ với ánh mắt van nài, hỏi: "Không thể giữ cả ư?"

Bà đỡ bất đắc dĩ lắc đầu: "Nếu giữ được thì ai lại đi hỏi hai người câu này."

"Giữ lớn."

Phùng Kinh nghiêm túc nói, không có quá nhiều di dự.

Quay sang nhìn mẫu thân bấy giờ đã bắt đầu sụt sùi, chàng nói thêm một câu như chém đinh chặt sắt: "Nhất định phải giữ được Nguyên Nguyên sống sót."

Chuyện bèn được quyết định như vậy, Nguyên Nguyên giữ được tính mạng, nhưng đứa con cô thai nghén thì không.

Mất đi đứa bé, Nguyên Nguyên đau lòng hơn bất kỳ người nào, hơn nữa, trong quá trình sinh nở, cô mất quá nhiều máu, cơ thể bị tổn thương quá lớn, cũng phá hủy sức khỏe cô nghiêm trọng.

Từ đó trở đi, cô triền miên nằm trên giường bệnh, hình dung tiều tụy, càng ngày càng gầy, cũng thường xuyên khóc lóc, hoàn toàn không còn dáng vẻ hoạt bát linh động, vui tươi hớn hở thường thấy của ngày xưa nữa.

Để chữa bệnh và tẩm bổ cho Nguyên Nguyên, nhà họ Phùng đã dùng cạn khoản tiền dành dụm vốn cũng chẳng có bao nhiêu, song sức khỏe của Nguyên Nguyên vẫn chẳng có khởi sắc.

Hết đường xoay sở, Phùng Kinh bèn đến bái phỏng một người chú làm buôn bán, hi vọng mượn được của ông chút tiền tạm vượt khó khăn.

Khi ấy, người chú kia của chàng mới đi mua quất từ Giang Tây về, nghe nói chuyện Nguyên Nguyên, cũng hào phóng giúp đỡ, cho Phùng Kinh mượn không ít tiền, còn lấy rất nhiều quất bảo chàng mang về cho Nguyên Nguyên nếm, nói: "Vị quất Giang Tây rất ngon, năm nay, đến Trương mỹ nhân quan gia sủng ái nhất cũng đặc biệt phái người chạy từ trong kinh ra mua.

Đống quất này ta mua chính là của vườn cây cung ứng cho Trương mỹ nhân đấy."

"Trương mỹ nhân ạ?"

Phùng Kinh thắc mắc, "Nghe nói chợ ngói Đông Kinh phồn thịnh, bốn mùa thiên hạ nổi món gì đều có đủ món đó, chẳng lẽ lại không có loại quất này, còn cần Trương mỹ nhân đặc biệt phái người chạy từ trong kinh tới Giang Tây mua?"

Chú chàng đáp: "Quất này tuy ngon nhưng người kinh thành lại không biết đến, không hay ăn, trong cung cũng không xếp loại quả này vào vật cống của Giang Tây.

Mà Trương mỹ nhân thì thích ăn từ khi còn nhỏ ở quê nhà, giờ nhớ nhúng, trong kinh lại không có, nên mới phái người đi xa mua về."

Phùng Kinh thoáng trầm ngâm rồi lại nói với chú: "Cháu có kiến nghị này, chú có thể tham khảo: Chú gắng mau chóng đi Giang Tây thêm một chuyến, đem hết tiền bạc có thể dùng ra mua một lượng quất nữa, sau đó vận chuyển vào Đông Kinh, tiêu thụ ở đó, lợi nhuận ngày sau sẽ không chỉ dừng lại ở gấp đôi."

Chú chàng do dự: "Trước nay người trong kinh vẫn luôn không biết đến quất, năm ngoái cũng có người từng bán quất, bị lỗ vốn.

Huống hồ từ Giang Hạ đi Giang Tây rồi lại chạy gấp đến kinh sư, đường sá xa xôi, phí vận chuyển đắt đỏ, kiến nghị của hiền chất chẳng phải quá mạo hiểm sao?"

Phùng Kinh cười khẽ, nói: "Chú không ngại thì thử một lần xem, phí vận chuyển quang gánh tính cả vào giá bán, tương lai nếu thua lỗ, hãy cứ trở lại hỏi mình Kinh."

Chú chàng đắn đo mãi, cuối cùng quyết định nghe theo lời kiến nghị của chàng, thử một phen.

Không bao lâu sau quay trở lại, đặc biệt chuẩn bị lễ hậu phấn khởi đến nhà Phùng Kinh tạ ơn: "Kế hay của hiền chất quả nhiên có hiệu quả.

Ta vận chuyển quất vào kinh, treo biển hiệu quất Giang Tây lên xong, không đến hai ngày mọi người đã tranh nhau mua không còn quả nào.

Sau khi nghe ngóng, ta mới biết, hóa ra chuyện Trương mỹ nhân phái người đi Giang Tây mua hoa quả đã được truyền ra, người kinh thành đều rất tò mò, đang lúc muốn tìm quất nếm thử thì hàng của ta vừa khéo chuyển đến.

Ta thấy người mua nhiều, bèn tăng giá bán lên gấp ba, gấp bốn, thế mà vẫn cung không đủ cầu, quả thật ứng với câu cháu nói, lợi nhuận không chỉ dừng lại ở gấp đôi."

Phùng Kinh mỉm cười nói: "Thường ngày cháu có nghe nói, lần nào trong cung tìm dùng vật gì, vật ấy cũng được người kinh sư coi là trào lưu một thời, càng là người thân cận bên quan gia, càng thú vị đáng thưởng thức thì càng dễ được người ta bắt chước.

Trương mỹ nhân được sủng ái nên tất nhiên mỗi câu nói mỗi hành động đều rất được chú ý, nếu bà ấy thích gì, người ngoài cung biết rồi ắt sẽ hùa theo mua, giá thành đương nhiên không lý gì không tăng, thế nên cháu mới dám khuyên chú đổ buôn mối bán quất này."

Ông chú không ngớt lời khen ngợi Phùng Kinh có kiến thức, lại tri ân hồi báo, trừ quà các ra còn biếu một khoản tiền.

Phùng Kinh từ chối, chú chàng khăng khăng xin chàng nhận, nói với chàng: "Tiền này cũng chẳng phải là cho không cháu.

Chú còn trông cậy vào hiền chất có thể tiếp tục bày mưu tính kế, buôn bán cùng chú.

Chút tiền này cũng coi như cho cháu một khoản lấy vốn.

Hiền chất học nhiều hiểu rộng, có tầm nhìn xa, nếu dành chút tâm tư vào việc buôn bán thì há chẳng phát tài?"

Dưới tình huống trước mắt thu nhập ít ỏi, khó lòng nuôi cả gia đình, đây quả thật là một lối ra không tệ.

Sau một hồi cân nhắc, Phùng Kinh đồng ý lời đề nghị của chú mình, tạm thời gác lại sách vở, bắt đầu kinh doanh cùng ông.

Hiệu quả đúng là rất tốt, chàng khá thông minh, biết phân tích thông tin, bước vào thương giới như cá gặp nước, có thể nói là mạnh vì gạo bạo vì tiền, không quá mấy tháng, tình hình tài chính trong nhà đã cải thiện hơn rất nhiều.

Chàng bèn mời danh y tới chữa bệnh cho Nguyên Nguyên, cũng không tiếc đổ tiền đổ bạc xin thuốc điều dưỡng cho cô, để phân tán sự chú ý của Nguyên Nguyên, không để cô tiếp tục chìm đắm trong ký ức mất con đau thương, chàng đích thân dạy cô ghi chép sổ sách, quản lý tài vụ.

Những cố gắng của chàng rốt cuộc cũng có hiệu quả, sức khỏe của Nguyên Nguyên dần tốt lên, cũng có hứng thú với quản lý tiền bạc, nụ cười trên mặt cũng càng ngày càng nhiều.

Nửa năm sau, vị huyện lệnh từng uống rượu nói cười với chàng năm xưa kết thúc nhiệm kỳ, chuyển sang tri một huyện khác ở Ngạc Châu, trên đường nhậm chức đi qua Giang Hạ, Phùng Kinh hay tin tới bến đò nghênh, đồng thời bày tiệc đón y đến dùng cơm.

Giữa chừng, Phùng Kinh nhắc đến chuyện khi xưa, hỏi dò thân phận vị phu nhân từ trong kinh tới lúc trước.

Chắc là chuyện qua đã lâu nên huyện lệnh cũng chẳng còn lo ngại, bèn thản nhiên nói cho hay: "Người tới khi đó là vợ của thiên tử, quốc mẫu bản triều, hoàng hậu Tào thị."

Hoàng hậu?

Phùng Kinh ngạc nhiên khó hiểu.

Trong đầu lướt qua từng hình ảnh như trang sách: Nàng tân nương mặc áo la thắm sắc ống tay rộng sau màn sa lụa đỏ giơ cánh tay lên rút trâm; cô gái mặt mộc lên xe dưới sự dìu đỡ của thiếu niên tóc tím, ngồi ngay ngắn, rèm che rủ xuống, ngăn trở ánh mắt nhìn ngón của chàng; vị phu nhân nhẹ dời gót sen trong chùa Kính Sơn, cằm hơi giương cao, búi tóc vấn cao, đường nét cần cổ tuyệt đẹp, bóng dáng in trên màn che như mây trôi lững lờ...

Đó đều là nàng ư, hoàng hậu Tào thị?

Mặc dù biết đương kim hoàng hậu họ Tào, cũng loáng thoáng nghe nói hoàng hậu là cháu gái Tào Bân, song Tào Bân có đến mấy người con trai, cháu gái hẳn cũng không ít, thế nên chàng hoàn toàn không ngờ rằng vị tiểu thư từng cử hành hôn lễ với anh họ mình ấy sẽ được chọn vào cung, sách phong làm hậu.

"Trước khi vào cung, người từng cầu nguyện rất nhiều lần ở chùa Kính Sơn, thế nên về sau đặc biệt đi lễ tạ.

Hoàng hậu đi chuyến ấy không muốn hưng sư động chúng, quấy nhiễu dân chúng suốt hành trình nên không bày nghi trượng, chỉ bí mật thông báo với quan lại địa phương dọc đường tiếp giá hộ vệ."

Huyện lệnh giải thích, quan sát Phùng Kinh áo quần gọn nhẹ, bỗng thở dài: "Năm đó, hạ quan rất ngưỡng mộ Phùng huynh, vung bút làm thơ phóng khoáng sâu sắc, được quốc mẫu tán thưởng, thật may mắn biết bao!

Ngay sau khi đọc danh tác của Phùng huynh, trung cung lập tức quả quyết trong lòng Phùng huynh có gò khe, ngày sau ắt sẽ vinh hiển.

Hôm nay Phùng huynh áo da ngựa béo, ngồi hưởng mỹ tửu ngọc thực, nhưng xin thứ cho hạ quan nói thẳng, thương nhân dẫu sao cũng thuộc tạp loại, Phùng huynh mà cam tâm làm Đào Chu công (*) một đời thì chẳng phải là đi cách lời bình phán của trung cung quá xa rồi ư?"

(*) Tức Phạm Lãi, trong lịch sử, sau khi thành công giúp Việt vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô, Phạm Lãi cảm thấy Việt vương là kẻ tàn nhẫn, ghét bỏ người có công nên không ở lại làm quan mà bí mật trốn đi ở ẩn, trong suốt quãng đời ẩn danh, ông mưu sinh bằng nghề buôn bán, còn đúc kết cho mình và thiên hạ 18 nguyên tắc kinh doanh vô cùng quý giá, sách cổ Trung Hoa gọi là "Đào Chu công sinh ý kinh".

Tâm trạng tốt đẹp khi trước vì những lời này mà bay biến mất sạch.

Sau khi về nhà, Phùng Kinh buồn bực không vui ngồi sầu trong thư phòng đôi chốc, bỗng muốn tìm lại mấy quyển kinh thư đã lâu không xem ra đọc, nhưng liếc nhìn kệ sách, trong tầm mắt chỉ toàn là sổ sách, lật tới lật lui thế nào cũng không tìm được sách chàng muốn xem.

Đúng lúc ấy, Nguyên Nguyên nghe tiếng đi vào, trong tay còn ôm mấy cuốn sổ, cười mỉm hỏi chàng: "Chàng tìm gì thế?"

"Mấy cuốn 'Đại học', 'Trung dung' của ta đi đâu rồi?"

Phùng Kinh trỏ kệ sách, hỏi.

Nguyên Nguyên nghĩ ngợi rồi quay đầu chạy về phòng ngủ, lát sau, cầm mấy quyển sách nhăn nhúm, dính đầy vết nhơ đưa cho chàng: "Là mấy cuốn này à?"

Phùng Kinh nhận lấy, nhíu mày: "Sao lại biến thành thế này?"

"Em thấy kệ sách hết chỗ để sổ, lâu nay chàng lại không đọc những cuốn này nên đem đi kê đế rương..."

Nguyên Nguyên đáp, thấy sắc mặt Phùng Kinh không ổn, lại vội nói: "Dưới đất hơi ẩm nên bị nhăn, nhưng mà không sao đâu, ngày mai em sẽ đem đi phơi khô đè phẳng!"

Phùng Kinh hít một hơi nặng nề, ném sách lên bàn, ngồi xuống, ơ hờ nói: "Thôi.

Ta cũng không nói là muốn đọc."

Nguyên Nguyên "vâng" một tiếng, lại trộm liếc chàng, rất cẩn thận hỏi: "Em có thể tính sổ ở đây không?"

Chàng im lặng, nhưng cuối cùng vẫn gật đầu đồng ý.

Thế là Nguyên Nguyên hí hửng ngồi xuống cạnh chàng, bắt đầu lạch tạch gảy bàn tính.

Chàng nghiêng đầu nhìn người vợ sớm chiều chung đụng cùng mình, lại không cách nào cảm nhận được cảm giác thân thiết năm xưa, hai người kề vai cùng ngồi mà ở giữa lại như cách thiên sơn vạn thủy, trong ánh nến đỏ, nụ cười nơi khóe miệng cô trở nên cách trở mà xa lạ hơn bao giờ hết.

"Suy nghĩ trong lòng ta, đại khái cả đời này em cũng chẳng hiểu được."

Phùng Kinh lặng lẽ tự nhủ, ý niệm này khiến chàng cảm thấy bi thương chẳng thể dằn nổi.

Dĩ nhiên, giọt lệ vô hình của chàng cũng chỉ chảy trong lòng, tuyệt không mang hình thú màu sắc, mà Nguyên Nguyên ngó chàng giữa lúc tính sổ cũng chỉ phát hiện ra chàng thất thần.

"Chàng ngẩn ngơ nhìn em vậy làm gì?"

Cô cười hỏi.

Chàng vẫn nhìn cô đăm đăm, hỏi: "Nguyên Nguyên, em có nhận ra ta không?"

Cô chớp mắt, vô cùng khó hiểu, nhưng vẫn nghiêm túc trả lời: "Đương nhiên là nhận ra rồi...

Chàng có hóa thành tro, em cũng có thể nhận ra chàng."

Chàng cười chua xót, nhẹ nhàng kéo cô vào lòng ôm, không nói thêm gì nữa.

7.

Ước nguyện

Sang năm sau, hai vị đồng xá châu học từng đến nhà Phùng Kinh làm khách đỗ kỳ thi hương do châu phủ cử hành, chuẩn bị vào kinh thành tham gia thi hội, tức khoa thi của Lễ bộ cống viện.

Phùng Kinh một lần nữa mời họ tới nhà, bày tiệc tiễn biệt.

Trong tiệc, Phùng Kinh kính rượu chúc đồng xá thành công khoa trường, một bước lên mây, đồng xá luôn miệng cảm ơn, một trong hai người nhìn Phùng Kinh chăm chú, cảm khái vô cùng: "Đương Thế tài hoa cái thế, vượt xa chúng tôi, nếu lúc trước cùng tham gia thi hương thì có chỉ e giành giải nguyên cũng dễ như trở bàn tay, hôm nay ba chúng ta đã làm bạn chung đường vào kinh rồi, há lại chẳng vui!"

Phùng Kinh lắc đầu, nói: "Sách vở nhà tôi phủ bụi đã lâu.

Huống chi, từ Tùy Đường tới quốc triều đều có quy định, công thương không được làm quan, Kinh chẳng dám lại mong cầu viển vông đòi đi thi thêm nữa.

Hai vị huynh đài đã bộc lộ tài năng trong thi hương, cởi bỏ áo thô đã trong tầm mắt, tương lai ấn vàng thao tím cũng trong tầm tay, vậy nhưng chẳng coi kết giao với phường công thương tạp loại là sỉ nhục, vẫn cùng bàn cộng ẩm với Kinh, được vậy Kinh đã cảm thấy vinh hạnh sâu sắc, cảm kích lắm rồi."

Đồng xá nghe thế vội khích lệ: "Sao Đương Thế lại nói vậy?

Đó giờ huynh tôi đều là người thường, tuy huynh từng buôn bán một, hai mối, song cũng chớ nên quy bản thân vào công thương tạp loại.

Đương Thế còn trẻ, nếu bây giờ dừng việc làm ăn, tiếp tục đi học, tham gia cống cử lần sau thì cũng chẳng coi là muộn."

Vị đồng xá còn lại cũng phụ họa, nói: "Quốc triều tuyển sĩ không hỏi gia thế, tuy nói công thương không được làm quan nhưng Thái Tông hoàng đế từng hạ chiếu lệnh: 'Nếu trong công thượng tạp loại có người kỳ tài dị hành, trác việt bất quần, cũng được phép đi thi.' Thời gian Đương Thế làm kinh thương quá ngắn, lại có kỳ tài, dẫu có kẻ cưỡng ép xếp huynh vào công thương tạp loại, huynh cũng có thể mượn điều lệ này ứng cử.

Nếu không ngại thì hãy quay lại châu học, dốc lòng đọc sách, đợi đến kỳ cống cử bận sau."

Kể từ khi kim thượng lên ngôi, đều đặn bốn năm mới mở một khoa trường, lần kế hẳn cũng là vào bốn năm sau.

Phùng Kinh im lặng nghĩ, bốn năm, đủ để rất nhiều chuyện xảy ra và thay đổi...

Chắc Nguyên Nguyên cũng sẽ lại sinh được một, hai đứa rồi, cô và con liệu có đều khỏe mạnh, áo cơm không lo, bình an vui vẻ hay chăng?

Nghĩ vậy, chàng ngước mắt, nở nụ cười nhạt nhòa với đồng xá: "Kinh đã hài lòng với cuộc sống hiện giờ, không có dự tính đi thi."

Đồng xá nhìn nhau không nói, chỉ thở dài.

Lát sau, một người lại nói: "Hôm nay Đương Thế khoác áo gấm, ăn cơm ngọc, nhà có kiều thê nên đã vứt hết hào ngôn tráng chí chỉ điểm giang sơn, luận bàn thao lược, thề hẹn trị quốc bình thiên hạ năm xưa của chúng ta ở châu học ra sau đầu rồi ư?"

Phùng Kinh đặt chén rượu xuống, bình tĩnh nghênh đón ánh mắt chất vấn của đồng xá, nói: "Nếu đến vợ con cũng chẳng nuôi sống nổi thì há có thể bàn xằng tới trị quốc bình thiên hạ?"

Lần này, Nguyên Nguyên chấp thuận lời kiến nghị của Phùng Kinh, tuyệt không lộ mặt, chỉ sắp cỗ cùng mẹ chồng ở buồng trong, để tỳ nữ bưng ra.

Giữa chừng, Phùng phu nhân đi tới sau màn cửa mấy bận, nghe được vài câu đối thoại giữa Phùng Kinh và đồng xá.

Ban đêm, Phùng phu nhân gọi con trai tới thư phòng, lấy quyển "Thi" chàng học khi còn nhỏ ra, lật tới trang cuối cùng, đưa cho Phùng Kinh: "Hàng chữ này là của cha con tự tay viết năm đó, con còn nhớ không?"

Phùng Kinh nhận lấy, trông thấy chữ viết quen thuộc của cha mình: "Tướng sĩ lang thủ tướng tác giám thừa thông phán Kinh Nam quân phủ sự tá phi Phùng Kinh."

Năm đó, chàng đọc không hiểu quan hàm này, hỏi cha, cha mỉm cười vỗ vai chàng, nói: "Tương lai con ta mà thi đỗ trạng nguyên thì quá nửa hoàng đế sẽ cho con làm chức quan này."

Lời nói còn văng vẳng bên tai, xuyên qua hàng chữ ấy, chàng như chạm tới ánh mắt tha thiết của cha mình.

Phùng Kinh khép sách lại, ảm đạm cụp mắt.

"Tiếc nuối lớn nhất của cha con đời này là không thể trúng cử làm quan."

Phùng phu nhân chậm rãi nói: "Khi xưa, cha con cũng đi buôn khắp nơi như con ngày nay vậy, bị người đời ghẻ lạnh, sau đó mới nhờ cống nạp gạo kê mà được bổ vào cái chức suông tả thị cấm nhỏ nhặt, nhưng dầu gì cũng coi như đã thoát khỏi hạng tạp loại.

Thế nên, ông ấy một mực muốn con học hành tử tế, tương lai thi tiến sĩ, đỗ trạng nguyên, đường đường chính chính làm quan lớn, làm rạng rỡ cửa nhà.

Chẳng ngờ giờ đây vòng vòng vo vo, con lại đi lên đường cũ của ông ấy khi đó..."

Lời chưa nói hết, giọng Phùng phu nhân đã nghẹn ngào, ròng ròng nước mắt.

Phùng Kinh quỳ xuống trước mẫu thân, nghiêm túc nói: "Con trai đã phụ kỳ vọng lớn lao của cha mẹ, đúng là bất hiếu.

Nhưng năm đó cha cũng từng dạy con, hảo nam nhi phải giữ tín nghĩa, có trách nhiệm, Kinh há có thể bỏ mẹ bỏ vợ không quan tâm, chỉ cầu công danh, không nghĩ đến chuyện nuôi gia đình?"

Nghe chàng nói vậy, Phùng phu nhân cũng khó lòng phản bác, cuối cùng lắc đầu thở dài: "Tuy mẹ tuổi đã cao nhưng may mắn thay vẫn chưa bệnh tật gì, thường ngày chi tiêu không lớn, cũng có thể theo con sống cuộc sống nghèo khó.

Nhưng sức khỏe Nguyên Nguyên bây giờ không tốt, cần tẩm bổ nhiều...

Hay là, bây giờ chúng ta chăm sóc nó thật tốt, qua nửa năm một năm, đợi nó khỏe lên rồi, con lại chuẩn bị ứng cử?"

Nghĩ đến bốn năm đằng đẵng kia, Phùng Kinh không nhận lời ngay, chỉ đáp: "Chuyện tương lai để tương lai lại nói."

Phùng phu nhân nghe câu này mà thương tâm, lau nước mắt nói: "Nếu muộn mấy năm nữa con mới lấy vợ thì đã chẳng đến nỗi cực nhọc vì gia thất, bị vây khốn trong đó, không thể toại chí như thế này."

Trầm mặc một chốc, Phùng Kinh một lần nữa cất tiếng, nói với mẫu thân: "Chuyện Nguyên Nguyên là lỗi của con.

Năm đó tính tình con phóng túng nên mới đúc kết nên sai lầm to lớn này.

Nhưng nếu không cưới em ấy thì lại là bạc tình bạc hạnh, đánh mất đạo nghĩa, chẳng khác nào sai lại thêm sai.

Sai lầm đã đúc thành thì phải dũng cảm gánh vác.

Ban đầu là con hại em ấy, mà nay con bằng lòng để em ấy sống đời an ổn, lấy đó bù đắp cho sai lầm từng phạm phải.

Thế nên, kết quả như bây giờ, con cũng cam lòng đón nhận."

Mẫu thân rời đi rồi, Phùng Kinh vẫn nán lại thư phòng, bần thần ngồi một lúc lâu, buổi đêm chẳng có gì lạ ấy như cũng trở nên đằng đẵng khác thường, chàng lựa chọn một phương thức giết thời gian: một tay xách rượu, một tay vung bút, đau đớn uống rượu nhạt, đưa bút viết thoăn thoắt.

Cuối cùng say túy lúy.

Trước khi dựa bàn ngủ thiếp, chàng phất tay áo hất chồng giấy kín chữ trước mặt xuống.

Giấy bay xuống lả tả như múa, trên mỗi tờ đều viết cùng một câu thơ: "Hàn Tín phiêu bạt Hạng Vũ bần, tay cầm trường kiếm hớp heo may..."

Nửa đêm mịt mờ tỉnh dậy, thấy trên người đắp áo khoác, mà những tờ giấy tán loạn đầy đất thì đã được nhặt lên, xếp lại ngay ngắn đặt trên bàn.

Nguyên Nguyên đã tới à?

Chàng mơ màng nghĩ, nhưng rất nhanh tự phủ định ý nghĩ này: Nếu cô tới thì ắt đã líu lo đánh thức chàng, giục chàng về phòng ngủ rồi.

Có lẽ là tỳ nữ làm.

Chàng lười chứng thực, cảm nhận thấy đêm sâu rét lạnh, đầu cũng nhức lâm râm, chàng bèn đứng dậy, lê bước chân nặng nề trở lại phòng ngủ.

Nguyên Nguyên nằm trên giường, quay người vào trong, xem chừng đang ngủ say.

Chàng mặc nguyên quần áo, lẳng lặng nằm xuống bên cạnh cô, không muốn kinh động đến cô.

Hôm nay cô yên tĩnh thật đấy.

Trước khi chìm vào cơn mộng, chàng đã nghĩ vậy.

Mà sau đó, Nguyên Nguyên càng ngày càng yên lặng hơn, càng ngày càng ít lời, dù trên mặt vẫn thường cười rộ, nhưng cũng chỉ là mỉm cười lễ phép, tiếng cười sang sảng trước đây ngày một thưa thớt.

Đến tiếng gảy bàn tính cũng chẳng khoan khoái như trước kia.

Phùng Kinh thầm lấy làm kinh ngạc, rốt cuộc không nhịn được hỏi cô: "Nguyên Nguyên, em có tâm sự gì à?"

Cô cười: "Không có."

Chàng nhìn cô: "Thần sắc em không tốt lắm."

Cô nghĩ ngợi rồi đáp: "Chắc là bệnh chưa khỏi hẳn...

Không sao, ngày nào đó sẽ tốt thôi."

Lần khó sinh trước quả thật đã để lại cho cô không ít di chứng, đến nay cô vẫn chưa hết bệnh, thường đau bụng đau lưng, quý thủy cũng không đều.

Chàng tiếp tục thỉnh y hỏi thuốc cho cô, nhưng hiệu quả quá nhỏ, hơn nữa, cô còn chẳng mấy phối hợp chữa trị, có một ngày, chàng phát hiện ra cô lặng lẽ đổ sạch thuốc cần uống.

Chàng vừa tức vừa cuống, chạy lại chất vấn cô vì sao không uống thuốc, cô mỉm cười với chàng, nhẹ giọng nói: "Thuốc đắng quá."

Sau đó, cô càng ngày càng ghét uống thuốc, dứt khoát ngang nhiên cự tuyệt, có bắt ép cô uống, cô cũng sẽ nhanh chóng nôn ra.

Cứ thế, bệnh cô càng ngày càng nặng, cuối cùng đã tới mức nằm liệt trên giường không dậy nổi.

Một ngày nọ, Phùng Kinh đi tới trước giường bệnh Nguyên Nguyên, nhìn cô gầy đét tiều tụy ngủ mê mệt, chỉ duy sắc mặt đỏ gay màu bệnh ốm, tựa đóa phù dung sắp tàn trong đêm, không khỏi dậy nỗi bi thương mà nhỏ lệ.

Nguyên Nguyên tỉnh lại đúng lúc ấy, đưa tay chậm rãi lau nước mắt cho chàng, cô cười yếu ớt, nói: "Kinh, đưa em ra ngoài đi lại đi."

Chàng kiến nghị đợi cô khỏe hơn đôi chút rồi hẵng ra ngoài, song cô vẫn khăng khăng muốn đi ngay, chàng bèn hỏi: "Em muốn đi đâu?"

Cô đáp: "Có non có nước là được, đâu cũng được."

Chàng đưa cô đến Hoàng Hạc Lâu, bế cô lên tầng cao nhất, cho cô xem vàng gieo bên Hán ngàn cây hửng, xanh ngắt châu Anh lớp cỏ dày (*).

(*) Hai câu thơ trong bài "Hoàng Hạc Lâu" của nhà thơ Thôi Hiệu, .

Cô nửa nằm nửa ngồi, tựa vào người chàng, mắt mày ngậm cười, ngắm cánh buồm cô độc đằng xa, ngắm khói sóng hoàng hôn vấn vít, thỉnh thoảng lại ngẩng đầu thủ thỉ với chàng cảnh sắc trước mắt khác giống quê mình ở đâu, cho đến khi mặt trời tắt hẳn, trăng rọi ngập sông.

Cô trở nên trầm mặc, đăm đăm nhìn trăng sáng, trong mắt cũng chẳng có thần, thân thể mềm nhũn yếu ớt hết sức, tựa như tất thảy sức sống đang bị gió đêm thổi tan.

Lòng Phùng Kinh chua xót, một tay ôm cô, một tay khép áo choàng phủ trên người cô, mỉm cười nhủ bên tai cô: "Nguyên Nguyên, nghe nói vào đêm trăng sáng, trên Hoàng Hạc Lâu có thể nhìn thấy tiên nhân.

Đêm nay trăng đẹp, em nhìn kỹ chung quanh xem, có khi cũng thấy được tiên nhân đấy."

Nguyên Nguyên mờ mịt nghiêng đầu nhìn chàng: "Thật ạ?"

Chàng gật đầu, nói: "Thật.

Nghe nói binh lính giữ cửa cũng từng nhìn thấy rồi.

Đêm đó trăng cũng đẹp thế này, chiếu quang cảnh trước Hoàng Hạc Lâu sáng rõ.

Người lính giữ cửa ấy đói bụng đêm, ngủ không yên giấc, đương trằn trọc khôn nguôi thì bỗng nghe bên ngoài có tiếng ai chuyện trò vui vẻ, ông ấy bèn đứng dậy xem xét, kết quả phát hiện bên ngoài có ba người, thân bận áo lông vũ, chân đi guốc mộc, đi trên đường lát đá, tiếng guốc một lanh lảnh vang vọng từng trận khắp núi non chung quanh..."

Nguyên Nguyên chớp mắt, hỏi: "Họ là ai?"

Phùng Kinh đáp: "Không phải người, cũng chẳng phải ma, họ là thần tiên."

"Thế sau đó thì sao?"

Nguyên Nguyên lại hỏi.

Phùng Kinh đáp: "Sau đó, họ tới bên núi, đối diện với vách đá, đưa tay gõ ba cái, tiếp đó, vách đá mở ra như cửa vậy, họ liền bay vào trong cửa như một làn khói nhẹ, biến mất trong núi."

Nguyên Nguyên nhìn một lượt núi xanh trước mặt, truy hỏi: "Là vách đá kia à?"

Phùng Kinh cười: "Không biết...

Em nhìn kỹ thêm xem, không chừng tiên nhân sẽ lại hiện thân trước lầu ấy."

Nguyên Nguyên lại hoang mang hỏi: "Nhìn thấy tiên nhân rồi thì sao?"

Phùng Kinh đề nghị: "Em xin họ thực hiện một điều ước của em đi."

"Ý kiến hay!"

Hai mắt Nguyên Nguyên sáng lên, kế đó tỏ ra được voi đòi tiên: "Nhưng một điều ước thôi không đủ lắm...

Ba cái có được không?"

Phùng Kinh giả đò trầm ngâm rồi cười bảo: "Chắc cũng được.

Họ có ba người, mỗi người giúp em thực hiện một điều ước hẳn không quá khó khăn."

"Cả chàng nữa," Nguyên Nguyên cũng cười nói, "Chàng cũng phải ước ba điều, xin họ giúp chàng thực hiện."

Phùng Kinh nhướng mày: "Ừm...

Dĩ nhiên ta không ý kiến, cơ mà chẳng biết tiên nhân người ta có cảm thấy phiền toái hay không."

"Không phiền không phiền!"

Nguyên Nguyên lập tức nói, quay mặt ra ngoài, như nói với tiên nhân đang ẩn thân giữa núi.

"Tiên nhân tất nhiên là đối với ai cũng như nhau rồi, giúp người ta thực hiện ước nguyện quyết không thiên vị, ai thấy cũng có phần!"

Phùng Kinh không kìm được phì cười: "Vậy em muốn ước gì?"

Nguyên Nguyên hỏi ngược lại: "Không phải là gặp tiên nhân rồi mới được nói à?"

Phùng Kinh đáp: "Em nói nhiều như vậy, khẳng định là tiên nhân bị dọa đến không dám hiện thân rồi.

Có điều, họ nhất định đang nấp trong núi nhìn em, miễn là em cầu nguyện ở đây, họ đều sẽ biết được."

Nguyên Nguyên tựa hồ cũng tin, nắm tay chàng, nghiêm túc nói: "Vậy bây giờ chúng ta cùng nhắm mắt, mỗi người ước ba điều, xin tiên nhân thực hiện cho chúng ta."

Thấy cô hào hứng như vậy, tất nhiên Phùng Kinh sẽ không làm phật ý cô, bèn gật đầu đồng ý.

Thế là, hai người đồng thời nhắm mắt ước nguyện, lát sau, Phùng Kinh mở mắt, thấy Nguyên Nguyên cũng đang nhìn mình, bèn nhìn nhau cười.

"Trong điều ước của chàng có liên quan đến em không?"

Nguyên Nguyên ân cần hỏi.

"Có," Phùng Kinh trả lời, "Điều thứ nhất là ước cho em...

Ta mong em chóng khỏe lại, từ đây hưởng cuộc sống khỏe mạnh vui vẻ, sống lâu trăm tuổi."

Nguyên Nguyên cười điềm nhiên, hai tay ôm siết hông chàng như muốn tiến thêm một bước rút ngắn khoảng cách với chàng, sau đó nhẹ nhàng nói với chàng: "Điều ước thứ nhất của em là: Sống, ở chung chỗ với chàng; chết, chôn chung huyệt với chàng; đời đời kiếp kiếp, vĩnh viễn ở bên chàng."

Phùng Kinh xúc động, cúi đầu hôn trán cô, thấp giọng nói: "Được, tiên nhân nghe thấy rồi."

"Điều ước thứ hai của chàng là gì?"

Nguyên Nguyên lại hỏi.

Phùng Kinh hơi chần chừ, nhưng vẫn nói cô hay: "Ta muốn, nếu sau này có cơ hội thì làm chút gì đấy vì dân vì nước."

"Vậy điều ước thứ hai của em hẳn là có thể dùng được đấy."

Nguyên Nguyên cười mỉm nói ra điều ước của mình, "Em mong ngày sau chàng đỗ trạng nguyên, làm quan lớn...

Như vậy là chàng có thể làm đại sự vì dân vì nước được rồi nhỉ?"

Hai mắt Phùng Kinh nong nóng, đợi hơi cay trong mũi dịu đi rồi mới nói: "Cảm ơn em, Nguyên Nguyên."

Nguyên Nguyên hỏi tiếp điều ước cuối cùng: "Vậy cái thứ ba thì sao?"

Lần này, Phùng Kinh nhìn mặt nước gợn sóng lăn tăn dưới ánh trăng, thinh lặng hồi lâu.

Nguyên Nguyên cũng chẳng truy hỏi, vẫn cười như cũ, nói: "Vậy chúng ta cùng cất giữ điều ước thứ ba, tạm thời không nói đi, chắc hẳn tiên nhân biết rồi sẽ giúp chúng ta thực hiện thôi."

Sau đó, cô vùi đầu vào lòng Phùng Kinh, mệt mỏi nhắm hai mắt lại.

Tinh thần có sức sống lúc ước nguyện của cô là hồi quang phản chiếu.

Sau khi về nhà, thế bệnh như núi đổ, ngày kế, thầy thuốc tuyên bố không thuốc nào cứu được, mời Phùng Kinh chuẩn bị thu xếp hậu sự.

Thời khắc lâm chung, Nguyên Nguyên đăm đăm ngắm trượng phu trông nom trước giường bệnh, nói với chàng giọng thều thào: "Lúc ước nguyện, em vẫn quên mất không dặn tiên nhân, kiếp sau khi chúng ta gặp lại, đừng để em thành sai lầm của chàng nữa rồi."

Thì ra cô nghe thấy.

Phùng Kinh bừng tỉnh hiểu ra, đây mới là căn nguyên cô không muốn cầu sinh.

Chàng im lặng nắm siết chăn nệm bên người cô, lòng quặn thắt tột độ.

"Đừng khóc, Kinh..."

Cô yếu ớt vươn tay, muốn lau lệ giúp chàng, song làm thế nào cũng chẳng chạm được tới chàng.

Phùng Kinh tự chùi nước mắt đương mấp mé bờ mi, cầm lấy tay Nguyên Nguyên.

Ngón tay cô khẽ cựa, chạm lên làn da mu bàn tay chàng, vẫn duy trì nụ cười, cô nói tiếp: "Không có em, có lẽ chàng sẽ sống tốt hơn...

Chúng ta từng cầu khẩn tiên nhân..."

Cô dừng lại, dịu dàng nhìn chàng, đột nhiên hỏi: "Chàng có đoán được điều ước thứ ba của em là gì không?"

Không đợi chàng trả lời, cô lại nở một nụ cười hơi mang đắc ý, nói đứt quãng: "Chắc chắn chàng đoán không ra đâu...

Điều ước thứ ba, em cũng muốn ước thay chàng, nhưng lại chẳng biết trừ đỗ trạng nguyên ra, chàng còn muốn điều chi...

Sau đó, em nghĩ ra một biện pháp...

Em nói với tiên nhân, điều ước thứ ba của em, là mong Kinh thực hiện được mọi ước nguyện của chàng."

Phùng Kinh thất thanh bật khóc, nhất thời lời chẳng đặng thốt, cầm tay cô đưa lên môi hôn, lệ cũng một lần nữa rơi xuống.

"Em thông minh không?"

Nguyên Nguyên khẽ khàng hỏi.

Phùng Kinh gượng mỉm cười, vất vả lắm mới mở được miệng: "Điều ước thứ nhất của ta là mong em khỏe mạnh...

Phải, nhất định sẽ thực hiện được."

Nguyên Nguyên nhẹ lắc đầu, nói: "Lúc chàng ước điều này, hẳn là tiên nhân ra ngoài rồi, không nghe thấy."

Nhưng rất nhanh sau đó, cô lại hé cười, "Cơ mà, chắc chắn họ đã nghe được cái thứ hai, thứ ba, điều ước của chàng, một ngày nào đó sẽ trở thành sự thật."

Phùng Kinh cúi đầu bặt lặng, sợ đối mặt với cô sẽ làm cô lây nhiễm bi thương của mình.

Ánh mắt cô dời sang sợi xuyến vàng đeo trên cổ tay, nói lên một yêu cầu: "Cái xuyến này có thể chôn cùng em không?"

Phùng Kinh thoáng sững sờ, chần chờ trong chớp mắt, nhưng vẫn gật đầu, nói: "Nó vốn là của em, đương nhiên em có thể luôn đeo theo rồi."

Nguyên Nguyên lại cười nhẹ rút tay về, tự mình tháo xuyến xuống, đưa cho Phùng Kinh: "Mới rồi đùa chàng thôi, cái này căn bản không phải đồ của em, em mới không cần..."

Phùng Kinh ngạc nhiên, tạm thời chưa hiểu được ý cô, sau đó, Nguyên Nguyên hỏi chàng một câu: "Điều ước thứ ba của chàng có liên quan đến chiếc xuyến này đúng không?"

Phùng Kinh siết chặt sợi xuyến vàng vừa nhận lấy, không lời đối đáp.

Mà Nguyên Nguyên cũng chẳng định chờ chàng trả lời, quay đầu vào trong, nói ra câu cuối cùng của cô trong cuộc đời này: "Chủ nhân của xuyến vàng ở trên con thuyền ấy nhỉ?"

Lúc nói câu này, cô vẫn giữ nụ cười mờ nhạt, nhưng giữa lúc quay đầu, một giọt lệ đã trượt qua sống mũi, rơi xuống biến mất trong lớp vải gối chăn lót dưới thân cô.

8.

Oanh liệng

Một quả tú cầu ghim từ lụa đỏ và chỉ màu tà tà rơi xuống từ sau bức rèm màu nhà sang quý dựng trên tòa lầu ngự ven con đường trước Kim Minh Trì ở Đông Kinh, đụng rớt hoa thượng uyển cài trâm trên mão tầng kép sa đen của trạng nguyên Tân Khoa Phùng Kinh.

Phùng Kinh ghìm nhẹ cương con ngựa thanh thông (*), dừng bước quay đầu, bào xanh phối với áo vàng, ngoảnh lại tay ống đong đầy gió bay.

(*) Chỉ ngựa lông màu đen trắng hỗn tạp.

Bóng dáng mờ ảo của mấy vị nữ tử sau rèm như bỗng bị gió thổi loạn, thoáng phân tán rụt đi, kế đó lại rộ lên một tràng cười lanh lảnh thoải mái khoái chá.

Khóe miệng chàng khẽ nhếch, không nhìn tiếp nữa, đợi người đi đường tranh đoạt hoa thượng uyển cài trâm của chàng bị người dẹp đường cản lui ra rồi, chàng thúc nhẹ ủng thâm vào bụng ngựa, giục ngựa tiếp tục tiến lên trước.

Ấy là Hoàng Hựu năm thứ nhất, Phùng Kinh thi đỗ tam nguyên, thành tựu huy hoàng và dung nhan không tì vết đã giúp chàng trở thành lang quân áo xanh lóa mắt nhất bữa tiệc tin mừng.

Đằng gái có ý với chàng thường dùng cách ném đồ để thu hút ánh mắt chàng, cái ném ra có thể là trái cây, quạt tròn, cũng có thể là trang sức, tú cầu, kể từ khi chàng đỗ tam nguyên, còn có hào phú trắng trợn nắm thẳng tài thế xuống, tỷ như nhà Trương Nghiêu Tá.

Đối với những tặng phẩm mang ý mập mờ, chàng sẽ không có qua có lại, chỉ một mực khước từ không thu, sau khi đỗ đạt lễ vật của nữ tử mà chàng nhận cũng chỉ có bánh trà Long Phượng và tiền hào trung cung ban thưởng trên Thái Thanh Lâu vào ngày xướng tên.

Nhưng hôm ấy, nàng ẩn sau bức rèm màu trên lầu, chàng chẳng trông thấy nàng mảy may, đến ban thưởng cũng là nội thần đưa truyền.

Sau đó, chàng nhặt cây quạt một tiểu cô nương lỡ tay đánh rơi trên lầu lên, tỉ mỉ thưởng thức, he hé rộ cười – chiếc quạt tròn này từng được nàng ngự lãm, nom càng thêm đáng yêu.

Cũng nghĩ tới bận sau gặp nhau thì nên nói gì với nàng.

Nhưng khi chàng cưỡi ngựa đi trên con đường trước Kim Minh Trì, nhìn thấy nghi trượng xe phượng của trung cung trước mặt, chàng hoàn toàn bất ngờ, quên khuấy tất thảy lời định nói, chỉ xuống ngựa cúi đầu, yết kiến đúng lễ nghi, hệt như một học đồng lần đầu gặp phu tử, chờ nàng hỏi câu nào thì đáp câu nấy.

Thấy chàng không có hoa thượng uyển cài trâm, nàng bảo nội thần hái một đóa mẫu đơn trên hiên xe xuống, cài lên trâm cho chàng.

Đó là đóa hoa ngàn cánh, sắc tím cánh dày chồng lớp lớp, sau đó, chàng hỏi thăm người khác, biết hoa này tên là "bình đầu tử".

Tím, là màu sắc yêu thích của sĩ phu, bởi ấn vàng thao tím là ước mơ của đại đa số người.

Món quầ nàng tiện tay ban tặng này vừa hào phóng vừa khéo léo, hẳn là một lời chúc phúc dành cho chàng.

Chàng bái tạ một lần nữa, cung tiễn nàng khởi giá, chẳng thêm một lời.

Nhưng kỳ thực, chàng rất muốn hỏi nàng có nhớ chăng trạng nguyên lang trước mắt là thiếu niên từng dẫn đường cho nàng, cũng là gã tú tài đã đuổi theo thuyền lầu của nàng ngoài thành Dư Hàng.

Sau này có thể có cơ hội hỏi lại nàng không?

Ngón tay chàng mơn trớn cánh hoa ươn ướt của đóa "bình đầu tử" cài trên mão tầng kép, xúc cảm mát rượi.

Hình như lần nào gặp nàng, nàng cũng tặng chàng món quà gì đó.

Chàng chợt hồi tưởng lại, lần đầu gặp mặt, nàng tặng chàng xuyến vàng; lúc xướng tên, nàng tặng chàng bánh trà Long Phương; mà nay thì tặng chàng "bình đầu tử"...

Vậy, lần ở Dư Hàng thì sao?

Nguyên Nguyên.

Lòng chàng khẽ run lên, ảm đạm sầu thương, hôm nay nhớ lại, cuộc gặp gỡ giữa chàng và Nguyên Nguyên cũng có thể coi như được nàng ban tặng.

Chàng nhấc bút, viết thư báo tin cho mẫu thân vẫn đang ở Giang Hạ, cũng viết một bức cho chú, nhờ ông tìm một nghĩa địa rộng rãi ở quê nhà, để dành tương lai chàng hợp táng cùng thê tử.

Thư hồi âm của mẫu thân gửi tới rất nhanh, ngoài bày tỏ vui mừng, bà không quên nhắc chàng: Có vừa ý thục nữ khuê tú nào thì đừng ngại sớm ngày kết hôn ước, nghênh vào cửa.

Thế nào là "vừa ý"?

Kể từ lúc đỗ đạt tới nay, người đến cửa cầu hôn chàng mỗi ngày nườm nượp không dứt, nhà muốn kén chàng làm rể có danh môn vọng tộc, cũng có quyền quý đương triều, mà hôm nay, đối với chàng, hôn nhân tuyệt chẳng đơn giản chỉ là thành gia lập thất, sau lưng mỗi đối tượng nghị hôn đều có một bối cảnh chính trị rắc rối phức tạp, cưới nàng nào là có nghĩa chọn lập trường gia tộc của nàng ấy, chàng phải lựa chọn cẩn thận.

Dĩ nhiên, bắt đầu từ lúc cự tuyệt lời cầu hôn của nhà họ Trương, trong lòng chàng đã có phương hướng rõ ràng.

Trong năm ấy, hoàng đế hạ chiếu bổ quan cho trạng nguyên: phong người đứng đầu tiến sĩ Phùng Kinh làm tướng sĩ lang, thủ tướng tác giám thừa, thông phán Kinh Nam quân phủ sự, ban ân tá phi.

Trang phục của quan viên Đại Tống từ tam phẩm trở lên màu tím, ngũ phẩm trở lên màu đỏ, trở xuống màu xanh, nếu tính theo lý lịch năm tháng thì mới đầu làm quan mặc màu xanh, tròn hai mươi năm mới ban cho đổi sang đỏ, tròn thêm hai mươi năm nữa mới ban cho đổi tím.

Người chưa đủ năm mà đã nhậm chức không phù hợp với đỏ xanh, hoặc được hoàng đế ban cho đặc ân thì gọi là "tá tử", "tá phi" (*).

Chức quan Phùng Kinh nhậm mới đầu chỉ là tòng lục phẩm, lấy thân phận trạng nguyên được ban cho áo đỏ, cũng thuộc về tá phi.

(*) Tá là mượn, tử là màu tím, phi là màu đỏ.

Không lệch một chút nào với hàng chữ cha chàng tự tay viết vào cuối sách năm xưa.

Phùng Kinh thầm lấy làm kinh ngạc: tướng sĩ lang và thủ tướng tác giám thừa đích xác là tên bậc quan sơ thụ của trạng nguyên quốc triều, ban ân tá phi cũng là thông lệ, nhưng cụ thể đến thông phán Kinh Nam quân phủ sự thì chẳng phải cái người thường có thể đoán trước được.

Phùng Kinh lĩnh mệnh đi nhậm chức, mấy tháng sau hồi cung báo cáo công tác, nghe thấy đồng liêu trong đô thành đang bàn tán chuyện tri chế cáo Hồ Túc từ chối thảo chế phục chức nhập nội phó đô tri cho nội thần Dương Hoài Mẫn.

Dương Hoài Mẫn là tâm phúc của Trương quý phi, bị biếm truất vì chuyện nghịch tặc vào cung năm Khánh Lịch thứ tám, nhậm chức kiềm hạt Cao Dương Quan, sau đó vào cung bẩm tấu, Trương quý phi xúi bẩy bên cạnh, hoàng đế có ý phục chức cho y, bèn mệnh Hồ Túc thảo chế.

Chế cáo bổ nhiệm quan văn từ tả hữu gián nghị đại phu trở lên, quan võ từ quan sát sứ trở lên, và những chiếu lệnh lớn như lập hoàng thái tử, hậu phi, phong thân vương, phong tể tướng, xu mật sứ, tam sư, tam công, sứ tướng, tiết độ sứ đều do hàn lâm học sĩ thảo, gọi là "nội chế", mà nội dung chủ yếu của "ngoại chế" do tri chế cáo phụ trách thảo thì là bổ nhiệm, bãi nhiệm, cáo phong cho quan viên phổ thông hoặc nội ngoại mệnh phụ, thường là hoàng đế gửi ý chỉ chiếu lệnh sang trung thư xét duyệt trước rồi từ Trung thư chuyển cho tri chế cáo.

Ý chỉ về việc phục lại nguyên chức cho Dương Hoài Mẫn đã được Trung thư chấp thuận, nhưng lúc đưa đến tay tri chế cáo Hồ Túc thì y lại kiên quyết cự tuyệt thảo chế, nói: "Năm ấy Dương Hoài Mẫn chưởng quản Hoàng thành ty, trực đêm không cẩn trọng, dẫn đến nghịch đồ lẻn vào cung điện, lại không bắt sống gian tặc, khi đó đã có người bàn tán nói hắn muốn diệt khẩu kẻ gian, mà bệ hạ không nỡ thêm chém giết, chỉ biếm ra ngoài, cũng đã là khai ân đặc biệt, nay há có thể phục hắn nguyên chức?

Huống hồ theo lệ cũ, nội thần đô tri, phó đô tri đã bị bãi chức không được bổ quan lần nữa.

Thần không dám thảo chế ý chỉ Trung thư chuyển đến ngày hôm nay, vẫn là niêm phong trả lại bệ hạ thì hơn."

Thế nên, ý chỉ cứ thế bị y niêm phong nguyên trạng trả lại cho hoàng đế.

"Kim thượng có hỏi tội Hồ Túc không?"

Phùng Kinh hỏi đồng liêu.

Câu trả lời nhận được là: "Không.

Kim thượng đem việc này đi hỏi Văn tướng công: 'Tiền triều có chuyện này không?' Văn tướng công đáp: 'Cấp sự trung Viên Cao thời Đường không thảo chế thư cho Lư Kỷ, gần đây Phú Bật cũng từng niêm phong gửi trả ý chỉ.' Kim thượng nghe vậy tức khắc nghĩ thông, thu hồi mệnh lệnh đã ban, vẫn để Dương Hoài Mẫn nhậm chức bên ngoài."

Phú Bật?

Mắt Phùng Kinh sáng lên.

Mấy năm trước, vị Phú thị lang hiện đang cứu nạn ở Thanh Châu này theo Phạm Trọng Yêm thúc đẩy tân chính, chủ trì cải cách, hiền danh rền vang thiên hạ, Phùng Kinh cũng đã sớm nghe nói đến khi còn ở châu học, vốn đã vô cùng ngưỡng mộ, chỉ là còn chưa biết ông từng có chuyện niêm phong trả lại ý chỉ.

Đồng liêu cười nói: "Xưa nay ở quốc triều, dám cự tuyệt ý chỉ trong cung truyền xuống vốn chỉ có tể tướng, chẳng hạn như Đỗ Diễn Đỗ tướng công, nói tần suất kim thượng ban ân quá cao, kế đó, mười ý chỉ thăng quan ban tước hoàng đế truyền cho ông thì có đến tám chín bị trả lại lên trên.

Thế nên về sau mà còn ai cầu quan xin thưởng, kim thượng sẽ nói với họ rằng: 'Không phải ta không cho các ngươi mà lão già râu bạc kia không cho phép.' Nhưng địa vị của tri chế cáo thua xa tể tướng, vốn là có ý chỉ truyền xuống đều không dám không phụng mệnh thảo chế, song Phú Bật lại là tri chế cáo đầu tiên của quốc triều công khai trả lại ý chỉ."

Thấy Phùng Kinh có hứng thú, gã bèn kể thêm về chuyện này: Năm đó kim thượng lập hậu, vốn nhắm con gái của Vương Mông Chính đất Thục, nhưng Chương Hiến thái hậu cảm thấy cô này quá mức diễm lệ, bất lợi cho quân chủ còn trẻ, bèn lệnh ngài lập Quách hậu, lại để con trai nghĩa huynh Lưu Mỹ của mình cưới Vương thị.

Không bao lâu sau, Lưu Tòng Đức chết bệnh, mà kim thượng thì nhớ mãi không quên Vương thị, bèn phong thị làm Toại quốc phu nhân, cho thị ra vào cung đình, cũng có lời đồn rằng Vương thị từng thừa sủng.

Sau đó xảy ra chuyện Vương Mông Chính tư thông với tì thiếp của cha mình, bị xóa tên lưu đày, Vương thị cũng bị khiển trách tước phong, cấm vào cung yết kiến, kim thượng từng hạ chiếu lệnh rõ ràng về sau không cho thị vào cung.

Nhưng chẳng ngờ đến Khánh Lịch năm thứ nhất, Vương thị lại liên tục được kim thượng triệu kiến, ra vào như cũ, trung cung Tào hậu không thích, nhưng vì Vương thị không phải nội mệnh phụ, lại được kim thượng bảo vệ nên cũng không tiến hành quản thúc.

Gián quan Trương Phương Bình dâng tấu luận bàn, kim thượng cũng làm lơ không lý tới, sau đó định phục lại phong tước Toại quốc cho Vương thị, lệnh Phú Bật thảo chế, Phú Bật đã trả lại ý chỉ lúc đó, thái độ kiên định, quyết không thảo chế.

Kim thượng biết rồi cũng thấy xấu hổ, đành hủy bỏ lệnh phong.

Phùng Kinh lắng nghe như có điều suy nghĩ, hồi lâu không lên tiếng, cho đến khi đồng liêu hỏi ý kiến chàng mới khẽ mỉm cười, nói: "Thời Khánh Lịch đông quân tử lắm thay."

Phùng Kinh thúc ngựa đi Thanh Châu đúng mùa oanh liệng cỏ vươn, xuân sâu đương thắm.

Hỏi rõ phủ đệ của tri châu, chàng theo lời tìm kiếm, đi qua con cầu nhỏ bắc ngang một dòng kênh, trước mặt hiện ra một bức tường trắng ngói xanh, khóa bên trong là lầu tầng mái cong.

Nghĩ chắc sau bức tường này hẳn là vườn hoa, oanh hót véo von, gió mang hương thoảng, trên tường quây sum sê mấy tán lá xanh biếc, trên đầu tường thì buông rủ vài nhánh dây đồ mi vươn ra từ trong vườn.

Sau tường vọng tới tiếng nữ quyến nói cười, bảo người đẩy xích đu trong vườn.

Chàng điều khiển ngựa hơi lùi ra sau, tựa vào đầu cầu, cạnh khóm thùy dương, mắt hơi híp dưới ánh nắng vàng, dõi về phía xích đu bay lên.

Có lẽ là do tường quây quá thấp, hoặc là do khung xích đu dựng quá cao nên khi xích đu bay lên chỗ cao nhất, bóng dáng cô gái ngồi trên đó vượt qua bức tường vôi trắng, tay áo nàng tung bay, nhã nhặn uyển chuyển.

Lần thứ hai xích đu bay lên, nàng cũng chú ý tới chàng, kinh ngạc nghiêng đầu nhìn.

Chàng cười khẽ, ung dung đưa ống tay áo lên, nhẹ nhàng phất đi chút dương hoa đậu trên trán mình.

Nàng mượn xích đu vượt tường ngó chàng ba lần, sau đó dừng lại, trong tường vang lên tiếng con gái thì thầm, hẳn là nàng đang nhắc đến chàng với bạn mình.

Một lát sau, hoa đồ mi nơi đầu tường lay động, bên trên đầu tiên là lộ ra hai búi tóc nho nhỏ và tóc mái trái đào gọn gàng của thiếu nữ, tiếp đó, một gương mặt bé gái mười ba mười bốn chiếu vào con ngươi chàng.

So với cô gái trông thấy mới rồi, dáng mặt cô hơi tròn, nước da trắng nõn, đôi mắt to trong trẻo, lúc chạm vào ánh mắt chàng, lúm đồng tiền bên khóe miệng cô còn chưa kịp giấu, tư thái ngây thơ thuần khiết sáng ngời ấy khiến chàng cảm thấy như đã từng quen biết.

Cô bé bám hai tay lên đầu tường, trợn tròn mắt quan sát chàng, từ mặt mũi mắt mày, soi thẳng từ áo mũ đai khăn đến tuấn mã roi tơ, cương ngọc yên hoa của chàng.

Tầm mất chàng rơi lên mười đầu ngón tay của cô.

Cô không sơn móng, móng tay mang màu hồng sạch sẽ, chàng thấy khả ái, không khỏi cười với cô.

Nụ cười ấy kinh động đến cô.

Chừng như chợt nhớ ra điều gì, cô thoắt quay đầu ra sau, nói với người trong tường: "Tỷ tỷ, em xin cây quạt với."

Có người giơ quạt tròn lên, cô nhận lấy rồi nghiêm túc cầm quạt che mặt, giấu đi phần từ mắt trở xuống, đôi mắt đẹp thì vẫn còn tò mò quan sát chàng.

Nụ cười chàng càng sâu hơn, cất tiếng hỏi cô: "Xin hỏi cô nương, cửa phủ đệ tri châu phải đi bên nào?"

"Sao huynh lại muốn tới phủ đệ tri châu?"

Sau quạt truyền đến giọng nói có phần non nớt của cô.

Chàng trả lời: "Tôi muốn bái yết Phú thị lang."

"Huynh tìm cha tôi làm gì?"

Tiểu cô nương lập tức truy vấn.

Không đợi chàng đáp, thấy dưới ống tay áo gió màu xanh đen của chàng lộ ra dấu vết bào la sắc đỏ, cô lại bổ sung thêm một câu hỏi mình muốn tìm hiểu hơn: "Huynh là ai?"

Chàng cưỡi ngựa trắng, đứng trên bờ ruộng phía nam mọc đầy cỏ thơm, sau lưng tơ liễu la đà, khẽ khom lưng với cô, ngậm cười nói: "Tại hạ Phùng Kinh đất Giang Hạ."
 
Back
Top Bottom