Cập nhật mới

Khác Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài

Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
95. Phở


Nhà văn Thạch Lam trong tác phẩm "Hà Nội 36 phố phường" đã nói về một thứ phở ngày xưa có lẽ chẳng có mấy người biết kiểu ăn lạ đời của người nghiện hút, ấy là bát phở có mấy giọt cà cuống của một gánh phở đỗ ở gốc đa có miếu thờ trong sân bệnh viện Phủ Doãn.

Nhà văn Nguyễn Tuân sành thưởng thức đã viết nhiều về cái ngon của phở.

Cũng xin thêm một chi tiết mà tôi biết.

Nhưng ông Nguyễn cả đời chỉ xơi thịt bò chín, không đụng một thứ phở nào khác.

Ông nói: "Ai muốn tẩm bổ thì cứ chén tái dúng, tái lăn, xào dòn, xào mềm.

Tôi thì chỉ có thịt bò chín, đấy mới là tinh hoa phở".

Và ăn phở, ông Nguyễn lùa rất nhanh, lại theo thuyết của ông "ăn nhanh cho nóng, phở càng nóng càng ngon".

Tôi không thạo về phở như hai ông Thạch Lam và Nguyễn Tuân – và thật cũng thô thiển, tôi ăn kiểu phở nào cũng thấy được, được cả.

Tôi chỉ biết đôi điều về ngóc ngách phở.

Đầu tiên, bên Quảng Đông có món ăn "ngưu nhục phấn" (thịt bò, bánh).

Sang đến đây thì "ngưu nhục phấn" đã Hà Nội hóa thành phở và phở Hà Nội khác hẳn cái món gốc gác ở quê hương.

Mới năm trước, tôi đến thành phố Quảng Châu, vào hàng gọi ăn bát phở, thấy nó là bát canh bánh chứ không phải phở.

Phở thông thường như ta ăn bây giờ thoạt đầu có ở Hà Nội.

Trong Sài Gòn trước kia, cả thành phố chỉ thấy hai gánh phở ở hẻm đường Ét Banh (Espagne) bán buổi sáng, gọi là phở Bắc, mà trong thời ấy đường phố nào cũng tràn lan những quán hủ tíu, vằn thắn.

Từ 1954, nhiều người Bắc di cư vào, phở thành món quà thông dụng quen thuộc và nhanh chóng đẩy các xe vằn thắn, hủ tíu vào trong hẻm.

Chỉ có món phở chua cũng nguồn gốc Hoa Nam lan sang Cao Bằng rồi xuống Hà Nội thì số phận phở chua lại chìm nổi không may.

Mấy năm trước cũng có một quán phở chua của người Trung Quốc trong ngõ Trung Yên.

Bánh thái nhỏ, trên mặt bánh đặt mấy miếng thịt lợn luộc xà xíu lẫn với lạc rang giã nhỏ.

Tất cả được rưới đẫm nước mỡ có vị chua ngọt thoang thoảng.

Khách trộn phở lên ăn với từng lá húng.

Nhưng phở chua không mở mang thêm được, cái quán trong ngõ rồi không thấy nữa.

Bây giờ, trong cái ngõ vào chợ Đồng Xuân giữa phố Hàng Chiếu lại có hàng phở chua.

Cô hàng không biết gốc tích phở chua thế nào, chỉ biết mẹ làm thế, cô làm theo thế và cô đã "cải tiến", bánh phở được thay bằng bún rối nhão nhoét.

Thoạt đầu, chỉ có phở chín – phở bò, phở trâu.

Đến những năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai mới thêm mặt hàng phở gà – không rõ nguyên nhân sinh phở gà, có lẽ hồi ấy kém đói thiếu trâu bò.

Người ăn phở có thể cầu kỳ, cũng ở tảng thịt ấy, bảo nhà hàng thái cho chỗ nạm, chỗ mỡ gầu.

Miếng thịt gà thì phải có da, hay chỗ thịt cổ cánh lóc xương.

Khách trỏ tay chỗ nào nhà hàng cầm dao thái mảng thịt chỗ ấy, chứ nhà hàng không thái thịt, thái bánh sẵn vun lên từng đống để bốc và chan cả chục bát một lúc như bây giờ.

Mãi về sau mới có phở tái bò.

Mới đây nhà hàng làm phở tái gà.

Mỗi hàng chuyên một thứ, hàng nào được tiếng cũng vì một thứ phở ấy.

Không có một thùng nước dùng chung mà mỗi loại phở ngon có tiếng ở các cửa hiệu khác nhau.

Phở xào, phở sốt vang thì lên Hàng Buồm.

Phở tái lăn có hiệu Nghi Xuân Hàng Quạt.

Quãng những năm 1960, ở ngã năm đầu Lò Đúc, hiệu phở nhà thím Lìn con dâu nhà Nghi Xuân hãy còn bán tái lăn.

Nhưng cửa hàng thím Lìn cũng đã theo thời có tái lăn, lại có phở chín, phở tái và cả chim quay, cá quả xào chua ngọt.

Các hàng phở có tiếng, nhiều người có tuổi còn nhớ lại thường là phở gánh và mỗi sớm đến đỗ một chỗ.

Phở Kim ở Lò Đúc.

Phở Tàu Bay ở dốc Cây Thị Hàng Gà.

Người ta bảo ở Sài Gòn có mấy ông phở Tàu Bay rởm.

Không phải, ông Tàu Bay thật đấy.

Cái năm di cư vào trong ấy, ông Tàu Bay đã mở cho mỗi bà vợ một hàng một hiệu phở cùng tên, cho nên ba cửa hàng cũng là phở Tàu Bay vậy.

Thời chống Mỹ, những đêm Mỹ ném bom thành phố Hà Nội, chỉ còn mỗi ông phở Thìn Hàng Dầu đứng suốt đêm.

Khách nhớ ông Thìn không phải vì phở ngon hay là ông hàng pha trò nói vằn vèo như hát.

Mà vì cái cảnh ăn phở khác thường.

Nửa đêm, máy bay lao xuống ném bom cầu Long Biên, chỉ có hàng phở ông Thìn mở.

Đôi khi báo động, phải bưng bát phở ra hố cá nhân sát mép nước hồ Gươm, ăn tiếp.

Vẫn phở, nhưng đã thay đổi nhiều, theo thời gian và thời thế.

Xưa, nước phở trong và ngọt vì xương hầm.

Bây giờ nước dùng ngọt vì mì chính.

Lại làm cho nước phở vàng ngậy, hắc mùi thảo quả, cái "vị phở" thơm thịt như món thịt giả iếc sát của phát xít Đức chế ra để binh lính nhai cho đỡ nhớ thịt thật.

Gia vị ấy gọi là vị phở, đem bột vị phở hòa vào, phở thơm hoăng hoắc, át mùi thịt ôi, bánh chương và nước dùng pha muối chát lưỡi.

Nghe nói cái vị phở diệt phở này là sáng chế khoa học thực phẩm của một trường đại học.

Bây giờ cũng ngược đời, thịt ngon để làm tái, thịt xấu thịt ôi đem buộc bó giò lại luộc bán phở chín.

Phở chín hóa ra rẻ hơn, không quý như trước.

Nhà văn Nguyễn Tuân ngày trước chỉ chén phở chín, chín nạm, chín gầu, bây giờ cái phở quí nhất của vua phở đâm ra xuống hạng bét.

Và đáng lẽ rau mùi, rau húng mùa nào thức ấy ăn với phở bây giờ chỉ có hành hoa và họa hoằn có hành củ.

Hiệu phở nhà mậu – tôi nhớ lại thời bao cấp may ra mới thấy trên mặt bàn thêm lọ tương ớt, đáng lẽ tương ớt chỉ ăn với vằn thắn.

Mùi tàu thái lẫn hành là phở đặc biệt, được thêm mấy lát hành tây nội địa ngọt lừ.

"Quan niệm" về ăn phở đổi khác.

Phở không còn là quà, mà bây giờ ăn phở lấy no.

Dọc đường, các nhà hàng đều đề bảng rõ ràng: cơm phở.

Phở cũng để nhắm rượu.

Ăn bát phở, làm "một hai chén nước trắng".

Ngày trước, quà phở thật thanh cảnh.

Bát phở vừa nước, vừa thịt, nếu nhiều bánh một chút, khách đảo đũa thấy nước dùng vơi đi đã phàn nàn phở chương rồi.

Cái bát chiết yêu thót chôn, một bát còn thòm thèm thì gọi bát nữa.

Bát phở phẳng mặt không đầy ú lên.

Bây giờ thì bát phở nhất định phải cao có ngọn.

Hàng phở đông khách không phải vì phở ngon, mà vì phở nhiều bánh.

Bác xích lô bưng ra hè một lúc ba bát phở "không người lái", phở chỉ chan bánh không.

Cái tên phở và mì "không người lái" xuất hiện ở thời Hà Nội đánh máy bay Mỹ.

Máy bay không người lái của Mỹ hay vào trinh sát trời thành phố thế là thành tên phở.

Cả ba bát phở không người lái bánh lèn tú ụ bày ràn rạn, chỉ một loáng đã lần lượt hết bay.

Phở thay bữa, phở không còn là quà vặt.

Xin kể câu chuyện tôi vào hàng phở.

– Bác ăn tái nhé.

– Cho tôi phở chín, ít bánh thôi, ít nữa.

Cô hàng phở tưởng tôi mới ốm dậy, tôi chỉ đủ tiền mua phở chín nhưng cũng chưa đến nỗi bát phở không người lái.

– Tôi không ăn mùi tàu.

– Cháu trộn mùi tàu vào hành mất rồi.

– Mùi tàu có phải rau thơm đâu.

– Vâng, năm trước cháu lên Tam Đảo thấy khối mùi tàu mọc trong rừng.

Nhưng mà khách cứ đòi mùi tàu, bác ạ.

Bác xơi quả trứng nhé, một hay hai.

– Không, cám ơn cô.

Một ông khách vẻ thành thạo đã khảo phở nhiều nơi, nói về mùi tàu:

– Dễ thường cái phở vịt ở chợ Chu, ở Đại Từ, phở chó rựa mận ở Quế Võ thì nhất định phải cho mùi tàu, có phải không ông?

Ấy, thỉnh thoảng, đi ăn bát phở, cứ hay bị hỏi và trả lời tương tự.

Kể cũng mất thì giờ cho nhà hàng đương đông khách.

Bát phở chín gầy còm của tôi không thể ví với bát phở tái mỡ của những ông, những bà khách mà cứ cái gì tôi không, thì người ta có.

Đã đập vào hai quả trứng gà, lại thêm nửa khoanh giò lụa, lại một cục mọc thịt lợn trắng hếu.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
96. Thịt chó


Bàn về thịt chó không bao giờ có thể dứt, tưởng như thế.

Như cãi cọ cho ra cào cào, châu chấu bằng đầu, nhọn đầu và con tôm khác con tép thế nào.

Chỉ có thể thỏa thuận với nhau rằng thịt chó là một món ăn chơi, ăn chơi thì có kẻ yêu người ghét và khách ăn chơi thì vốn xưa nay không ai chịu ai.

Chó có nhiều biệt hiệu.

Gọi là con mộc tồn.

Mộc là cây, tồn là còn, cây còn nói lái là con cầy.

Vùng Hải Phòng, các quán thịt chó đều lịch sự kẻ bảng: Thịt cầy.

Có nơi gọi chó là con hươu thềm, hươu nuôi trong nhà ở trước thềm hè.

Ở Sài Gòn có hiệu thịt chó đề là: quán hạ cờ Tây (cờ tây là cầy tơ).

Lắm biệt hiệu thế, hẳn phải nổi danh và nhiều tai tiếng rồi.

Bởi vì thịt chó không giống thịt lợn, thịt gà hiền lành ai ăn cũng được.

Cũng như, một người đẹp, một tác phẩm hay bao giờ cũng có kẻ say đắm thích thú đến mê tơi, lại có người chê bai đủ điều.

Ấy là không kể người đồng bóng, người thương con chó có nghĩa, người chỉ ngửi mùi thịt đã nhăn mũi.

Người yêu thịt chó nhưng dị đoan kiêng chó đen, không đụng đến chó đầu tháng cuối tháng và ra đường tránh gặp chó đón ngõ.

Ở đâu cũng vỗ ngực chỉ có vùng mình, làng mình và phải tay mình làm thịt chó mới đáng ăn.

Chưa thấy nơi nào, người nào chịu tài làm thịt chó của vùng ấy, người ấy hơn ta.

Bên Triều Tiên và các tỉnh Hoa Nam (Trung Quốc) cũng ăn thịt chó.

Ông Sinh chủ quán hàng Lược đã được mời mấy tháng đi Triều Tiên làm chuyên gia dạy nấu thịt chó.

Tôi chưa được thưởng thức thịt chó ở các nơi trên, nhưng đã có dự một tiệc thịt chó ở Bắc Kinh.

Dạo ấy, Hoàng Văn Hoan đương chơi dài ở Bắc Kinh.

Ông ngồi công kích truyện Kiều của Nguyễn Du bắt chước Trung Quốc.

Ông mời tôi một bữa ăn để có thì giờ nói cho hả.

Đặc sản thịt chó Hoa Bắc món nấu, món xào sực nức thảo quả.

Người Nga ăn thịt chó, ăn hẳn hoi.

Bữa ấy Mixen phóng viên báo Tin Tức của Liên Xô ở Hà Nội chén thịt chó ở nhà tôi.

Không phải nói trệch là sốt vang, là thịt cừu nướng, thịt cừu nấu súp.

Các bạn thực tình ăn ngon và ăn nhiều.

Nhưng cũng có điều không bình thường, họ chỉ chén chả chó, rựa mận và "giả cầy", chấm cả mắm tôm chanh ớt mà không đụng thìa dĩa vào đĩa thịt chó và lòng gan luộc.

Trên thế giới, ít nơi ăn thịt luộc như ta.

Không phải chó nào cũng đem mổ thịt được.

Chó becgiê cao cẳng, chó Nhật, chó cảnh bé bỏng như nắm bông, thịt tanh.

Chỉ có giống chó đâu cũng có ở nước ta, những con vàng, con vện, con đốm, con khoang, con mực thấp cun cún, chân trước chân sau không dài, không ngắn ngủn hoẳn mà tỏi chân sau vè chân nổi bắp tròn trành trạnh.

Thịt chó ấy mới đậm, nói tiếng Mường nó là con chó chứ không phải con má.

Thịt chó là món khó tính, không chịu chơi.

Trong mâm và bữa ăn thịt chó không ưa chung đụng với món khác.

Và khi nấu nướng, người ta thường ganh nhau "sáng tạo".

Ở Sài Gòn bây giờ, các hiệu thịt chó quảng cáo: cầy tơ bảy món, thịt chó 24 món, chả chó đặc biệt... nhưng dù cho các nhà sáng tác có khuếch khoác hươu vượn tới đâu, có bày vẽ bao nhiêu món, thì món nào cũng từa tựa ở cái gốc năm chiêu cổ điển mà ra:

1- Thịt và lòng gan luộc.

2- Chả.

3- Rựa mận.

4- Giả cầy.

5- Sáo chó.

Chỉ có bát tiết canh chó, ắt là những trang cự phách xừng xỏ mới xơi được.

Ít ai đưa vào thực đơn món tiết canh chó.

Thế mà rồi tiết canh chó cũng lên ngôi.

Như ngày trước, chỉ đả tiết canh vịt, khinh cái tiết ngan, bây giờ ăn tuốt và ngan lại ngon hơn vịt.

Cứ rau thơm và gia vị kèm thật dữ ăn với tất cả các món: mơ tam thể, tía tô, ngổ ba lá, húng quế, mùi tầu, riềng, mắm tôm, ớt.

Bún và bánh đúc hiền lành thì với món nào cũng được, hơn là cơm.

Thịt chó luộc ngon nhất phải kể lối nấu cách thủy: thịt chó hấp.

Các nhà điệu nghệ cắt nghĩa: nấu hấp, nước thịt ngọt được hãm lại không tiết ra được nước xuýt.

Nhiều nơi ở Hà Đông không cắt tiết chó, mà dìm chó xuống nước cũng là để hãm tiết lại trong con chó.

Ở Thái Bình, bỏ thịt vào nồi đất rồi chát kín bùn, chất rơm đốt.

Bên Đông Anh ngoại thành hấp cách thủy vừa nhẹ nhàng mà nục thịt.

Ở chợ Hôm, hồi còn hàng thịt chó ông Gù trong cầu chợ, hằng ngày ông lên mua chó chợ Bắc Qua.

Không phải con nào cũng ngon thịt như nhau, nhưng vì ông chịu khó luộc hấp, cho nên chó gầy chó béo đều mềm.

Chõng hàng ông Gù được khách, hôm nào cũng hết trước các hàng bên cạnh.

Ăn thịt chó luộc được cái ngon của miếng thịt hoang sơ, thì thịt chó nướng chả, như lối thịnh hành bây giờ, lại trông vào tẩm ướp gia vị: củ hành hoa phả nước hàng rồi lấy xiên nhôm thuốn thành gắp.

Than hoa bốc mùi chả thơm lựng.

Nhưng đấy là lối làm chả chó ngoài phường phố.

Ở các vùng quê, chả chỉ nướng trơn cốt khoe cái ngon như thịt luộc, không pha phách.

Miếng thịt mộc cũng có cái ngon riêng.

Rựa mận được chuộng nhất.

Chẳng thế rựa mận đã biến ra cả món riêng, món phở.

Dọc đường miền trung du, nhiều hàng quán bán phở rựa mận, bún rựa mận.

Rựa mận, một món nửa xào nửa hầm.

Miếng thịt rựa mận đúng cung cách nhất phải là miếng thịt gồm ba thành phần thịt, mỡ, bì.

Cái bì tôn hẳn đặc tính rựa mận.

Rựa mận thiếu bì kém vị và trơ trẽn như bò thui ăn tái chấm tương gừng mà không có da.

Miếng rựa mận nổi màu nâu bóng nhẫy giữa bát nước mỡ tiết ra quánh đặc.

Nhưng rựa mận vào đến Sài Gòn, miếng thịt bị lột mất bì đôi khi lại pha xương, ăn như thịt chó kho tàu.

Cuộc sống của hai chữ "giả cầy" cũng lạ.

Giả cầy cũng là món đinh của đám đánh chén.

Không có thịt chó, thèm thịt chó, bèn nấu chân giò lợn cũng pha riềng mẻ, gọi là "giả cầy".

Miếng thịt chó riềng mẻ, nấu lửng như om, với đậu phụ.

Xô bồ hơn, thêm chuối xanh.

Thịt dai nấu kèm mấy miếng đu đủ, răng móm cũng nhai được.

Đã đành là giả, nhưng đến lúc làm món bằng thịt chó hẳn hoi, vẫn giữ cái tên "giả cầy".

Giả cầy cũng vào cả những ngôn ngữ hàng ngày: tiếng Tây giả cầy (nói tiếng Tây sai), đồ giả cầy (người giả dối).

Món xáo chó cũng ví tương tự món "thắng cố" của người Mông trên núi cao.

Trong con chó, những phần xương xẩu đầu thừa đuôi thẹo được dồn hết vào một nồi - một thứ nước suýt chó.

Món này cũng được thành tục ngữ: ngon như xáo chó.

Có nghĩa là việc ấy dễ ợt làm "ngon như xáo chó ấy mà".

Nước suýt xáo chó ở Sài Gòn thường ngọt lợ.

Theo cách làm trong ấy, món nào cũng nấu với nước dừa.

Trên gác quán thịt chó Hàng Lược.

Khách ăn trải chiếu ngồi mâm.

Sau cùng, gọi bát xáo.

Nhà hàng bưng lên cái liễn xáo nghi ngút khói, thơm hành răm, trong liễn thả hai cái chân sau con chó.

Đôi chân ấy được dâng cụ Nguyễn Tuân cao tuổi nhất hội, trọng vọng như miếng thịt thủ phần cụ tiên chỉ.

Đoàn Giỏi bảo cái chân sau con chó là thuốc bổ xương, chữa được đau lưng, thấp khớp.

Cụ Nguyễn Tuân thấp khớp nặng.

Cái món rựa mận, giả cầy và xáo, người cầu kỳ, thích ăn "hai lửa" nấu hai lần, thịt chó hai lửa có cái đậm đà khác thường.

Âu cũng là thói quen ăn uống mỗi nơi.

Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy, cò mỗi con mỗi thung.

Có một dạo, hai quán hàng đương phát đạt, phở ở phố Huế, đồ nguội dăm bông ngỗng phố Lý Quốc Sư, ông Muôn và ông Khải đều dọn vào Sài Gòn.

Tưởng bở!

Một ông nhảo ra ngay đem theo được cái lập là hình đầu bò đặt miếng bít tết thay đĩa.

Một ông nấn ná ở lại cũng xoay ra bán đồ nguội.

Cả cái ông Lâm thịt chó chợ Châu Long đương đông khách thế cũng đua đòi vào làm ăn trong ấy.

Thịt chó Lâm mở một gian hàng bên kia hè phố cơ quan Tổng Tham Mưu cũ.

Cũng có lần tôi đã đến thăm xem cố nhân vô đây ăn nên làm ra thế nào.

Đương buổi tan tầm, ngoài đường đông ngộn, mà trong hàng vắng không một người khách.

Thịt luộc, rau thơm, mắm tôm đều lấy trong tủ lạnh ra.

Gọi bánh đa, chủ quán sai người chạy ra phố mua hai bánh đa ỉu đem về.

Chẳng bao lâu, khách quen lại bảo nhau: thấy thấp thoáng lão Lâm dọn hàng ở chợ Đội Cấn, cáo đi ba năm lại về núi rồi.

Ở Hà Nội có những người đi làm thịt chó thuê.

Không phải chuyên, phải nghề, mà như tay chơi, ai biết tiếng thì gọi.

Nhà có việc hay cơ quan liên hoan đánh chén thịt chó, bảo ông ấy đến làm cho.

Một mình kiêm tất, từ cắt tiết, xả thịt đến nồi nước xáo.

Nhưng trong thành phố ngoài này không tìm đâu ra hàng thịt chó sống.

Muốn nấu lấy bát rựa mận, chịu không kiếm được thịt.

Ở Sài Gòn thịt chó sống bán thành cửa hàng như thịt heo, thịt bò.

Mua về nhà làm thật tiện.

Tôi đã phàn nàn và so sánh thế, thì Xuân Diệu mách tôi: Chợ Hàng Da có, Xuân Diệu vốn coi thịt chó bổ và rẻ hơn cả các thứ thịt.

Mỗi tuần anh ăn đều hai bữa, nhưng không đánh chén ở quán.

Chỉ mua về nhà làm.

Nhưng cái gánh thịt chó sống ở cuối chợ Hàng Da mà nhà thơ đã là khách hàng đều đặn cũng chỉ là một cô gái ở Thanh Trì lên, thịt chó bỏ vào bị, đeo trên vai - có lẽ để tránh thuế, mà cũng hôm có hôm không.

Xưa nay vẫn có tiếng chó chợ Canh ngon thịt.

Người ta thường công phu vào chợ Canh kén chó.

Mà cũng lạ, cái miếng thành cái tiếng thật, các hàng thịt chó được tiếng trong thành phố phần nhiều chủ quán là người quê trong Canh.

Trước kia có thịt chó Hàng Đồng và bây giờ, ở Cống Chéo Hàng Lược, ở Hàng Bè, ở Văn Miếu...

Thời buổi công nghiệp, cả vùng Canh Diễn làm chó luộc và chả chó, xe máy tấp nập đưa ra bán cho các quán bia vỉa hè ngoài phố đã đặt hàng.

Chó chợ thì tạp và chỉ có thịt luộc.

Con chó luộc treo móc hàm.

Không biết người ta bôi cái gì làm hàng mà lưng con chó cong cong lên màu, như con chó được đánh vẹc ni vàng rợn.

Trông đã mất ngon.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
97. Khai bút


Không biết từ bao giờ người ta đã có ý nghĩ về cái gì mới nhất như thế.

Bước vào một năm mới, bất cứ thế nào, quang cảnh ra sao, của ta, của người, của xung quanh, từ một sinh vật ra đến ngoài trời đất, cái mà ta làm hay việc xảy đến, hay ta trông thấy, ta gặp đầu tiên, kể từ lúc giao thừa rồi sang canh, đều tưởng như có hình hài với rủi may của con người suốt một năm trời đương tới.

Trong tâm tưởng và mong ước của người thì một năm tốt lành y nguyên chờ đợi, năm mới đã đến cho con người phủi đi, quên đi cái năm cùng tháng tận vừa rồi ngổn ngang những trắc trở, lận đận, những lo toan chẳng đâu vào đâu.

Câu "tống cựu nghênh tân" hầu như đã thành cửa miệng.

Người làm việc quan, dẫu chỉ chức tước ở làng bé bằng con muỗi mắt, có cái triện đồng triện gỗ, đồng triện hay mộc triện giắt hầu bao thì các ông lý trưởng quán xuyến mọi bề, ông hộ lại cai quản sinh tử, giá thú, ông trưởng bạ trông coi sổ sách về đất cát, điền địa đều làm mâm lễ sắp ấn hôm hai mươi tháng chạp rồi sang giêng được ngày lành lại làm cỗ cúng khai ấn.

Mùng sáu tháng giêng ngày chẵn, các nhà chủ đều động thổ khung cửi.

Anh thợ vào khung ngồi xuống đòn ngồi, lạch cạch đạp chân đòn, đưa mấy nhát thoi qua mặt cửi.

Rồi qua nhà ngoài với các cô thợ hồ, thợ tơ được gia chủ mở hàng đồng hào ván rồi đánh chén.

Hôm ấy chỉ làm cốt lấy ngày, lấy may, phải đến phiên này mọi công việc tơ cửi mới bắt đầu.

Đồng áng nhà nông thì mùng bảy, khi hạ cây nêu bác tôi nhấc cái vai bò trên nóc chuồng dắt con bò ra ruộng cày vài đường, lễ hạ điền.

Ngày xưa, hôm ấy nhà vua đi cày, làm gương cho bách tính.

Các làng dân tộc Tày trên Bắc Cạn, hôm hạ điền là ngày tết, cả vùng mặc áo xống mới đi chơi nhởi hội "xuống đồng" (lồng tùng).

Xuất hành phía nào, hái lộc gì, khai ấn, khai bút, động thổ, xuống đồng... những tục lệ chan chứa ước vọng về một năm mới.

Từ điển tiếng Việt, viện Ngôn Ngữ 1994, cắt nghĩa.

"Khai bút: Cầm bút viết hoặc vẽ lần đầu tiên vào dịp đầu năm, theo tục xưa.

Đầu năm khai bút.

Câu thơ khai bút".

Không nhớ tôi còn có cái thích khai bút từ năm nào.

Nhưng đến bây giờ vẫn giữ thói quen hay hay ấy.

Và vẫn nhớ tôi khai bút năm mới từ những năm còn xa xôi với nghề văn.

Khai bút loăng quăng vào nhật ký, làm bài thơ, viết cái thư, viết vẩn vơ...

Rõ ràng một điều gì chờ đợi.

Đến khi làm nghề văn thì mỗi năm tôi khai bút bằng viết một truyện ngắn.

Trong nghề viết có những việc nực cười, chẳng ra làm sao.

Bạn đọc cần báo Tết.

Người mua báo Tết cũng như mua hoa, cành đào ở Hà Nội hay quả dưa ở Sài Gòn và thói quen mua báo tết đáng yêu đến độ nhất định phải sắm nó về bày trên án sách, bàn nước, chưa chắc đã đọc ngay.

Thế là người làm báo phải lăn lưng vào viết bài.

Ấy là cái sự viết bài báo Tết.

Các bài in trên báo Tết âm lịch đều được viết từ khoảng tháng mười dương lịch.

Như đêm nay đầu tháng mười một tôi đương ngồi viết bài này mà tôi tự đùa là " tôi làm hàng tết".

Quanh tôi chưa thấy Tết đâu.

Cơn áp thấp nhiệt đới đương vào Đà Nẵng, ngoài này thì giao mùa, còn tiếng sấm rớt nhưng đã chớm lạnh, đường phố lầy lội sùi sụt suốt đêm mưa dầm.

Tiếng rao "Khúc ơ!

Bánh khúc ơ!", tiếng được tiếng mất thảng thốt trong khuya.

Còn hai tháng nữa mới đến Nguyên Đán.

Các báo Tết đều phải làm trước Tết dương lịch.

Tất cả các báo từ Sài Gòn ra Hà Nội đã mời cộng tác viên viết bài Tết, quảng cáo rầm rộ báo Tết, trong khi cảnh trời và cảnh người chưa mảy may vẻ Tết.

Thế mà trong đầu đã phải nghĩ ngợi cho rộn rực những Tết là Tết để viết bài.

Thời điện tử, tin học đương tới, nếu viết báo, in báo, đọc báo Tết dồn lại một lúc thật là Tết thì không biết cái đầm ấm thời sự sẽ thế nào hay là lúc ấy cái sự cầm bút viết bài Tết đã lạc hậu với thời gian, không phải viết bài Tết nữa.

Chưa biết rồi đây sẽ ra sao.

Bài Tết xong từ tháng trước, và bấy giờ mới sắp Tết.

Tôi thường viết cái truyện ngắn trong đêm giao thừa cho đến quá nửa đêm.

Thì rõ ràng đương khai bút đây.

Đêm giao thừa thức nghe cái nửa đêm cuối cùng và cái nửa đêm mới nhất của hai năm nối nhau.

Cũng chẳng phải một mình tôi tò mò.

Biết bao nhiêu người đã không ngủ đêm giao thừa, từ xưa tới nay.

Năm cũ qua, năm mới đến, tiếng chuông chùa văng vẳng ngân ngư xa xa, người thắp nén hương mới, người thay bát nước cúng trên bàn thờ rồi bước ra nhìn vòm không và bóng tối quanh mình, như tìm cho thấy kỳ được cái xuân đương sang.

Nếu thấy mưa dầm sập sùi, đêm hôm ảm đạm, thế là mùa màng thất bát đến nơi.

Trời hanh hao nhưng chưa dứt nồm, sang canh ba mưa dây mưa rợ thoang thoáng mát mặt nhưng không thấm vai áo, đằng chân trời bỗng ùng ục tiếng sấm mới.

Sấm no, thế là rồi ra năm nay mưa thuận gió hòa...Trông về phía thành phố, trời hẩng hơn các phía khác.

Cứ ngỡ thế, mong thế, bất chợt những niềm vui nho nhỏ đến với người đợi giao thừa.

Đêm giao thừa tôi viết xong một bài.

Ngày ấy còn khỏe, cứ từ tối đến sang canh là lao xong một truyện ngắn.

Cái để viết thì đã sẵn những mắt thấy tai nghe mấy ngày áp Tết với những cảm nghĩ quanh mình hôm nay.

Truyện ngắn Khách nợ, đấy là những ngày cuối năm trong cái xóm túng đói từ sớm đến tối ỉ eo cãi nhau.

Chốc chốc, những người nặc nô sục sạo đi đòi nợ thuê, các con nợ xanh mắt lủi đi đâu, đến chặp tối mới dám lần về đến nhà rờ lên bàn thờ.

Cái bát hương đã bị khuân mất.

Truyện ngắn Vợ chồng trẻ con viết được, nhờ một ngày áp Tết đi chợ Đồng Xuân.

Vùng Gầm Cầu, phố Hàng Khoai sang đầu ô Quan Chưởng tấp nập, hối hả người và hàng Tết.

Các thứ dưới Phòng lên, bên Bắc đổ về, hai nơi đều cách sông Cái, nhưng thuận cầu thuận đường tàu hỏa, ô tô, xe ba gác náo nhiệt bề bộn khác hẳn các đầu ô phía Nam lên, trên Sơn xuống.

Nhà hỏa xa mới xây cái ga xép ở đầu cầu Long Biên cho khách và hàng xuống chợ Đồng Xuân, khỏi phải vào ga Hàng Cỏ rồi lại phải lộn ra.

Trên toa tàu bước xuống hai đứa trẻ thật lạ mắt.

Chúng trạc mười tuổi.

Đứa trai đầu chọc tếu, chít khăn xếp, áo dài the thâm, quần vải ta gốc, chân đất, cắp nách cái ô trắng lơ.

Hai lỗ mũi còn thò lò xanh mà vẻ mặt cau có bộ trịnh trọng cụ lý trong quê ra.

Bậc toa tàu cao, thằng bé loạng quạng bước hụt.

Con bé nắm đằng sau cái đuôi ô.

Thằng bé ngã bổ chửng dưới mặt đất.

Nó nhỏm dậy, cứ thế thượng cẳng tay nện con bé và chửi: "Sư mày!

Về ông bảo cho!

Sư mày!".

Con bé đứng im cho thằng kia đấm, chỉ lặng lẽ phủi vạt váy lấm.

Thằng bé vẫn đấm thùm thụp, con bé cúi mặt, nước mắt chảy ròng ròng.

Người qua lại thấy hay hay, đứng lại xem, chẳng ai vào can trò trẻ con cãi nhau, đấm nhau.

Tôi đoán: nếu chúng nó là anh em, chắc con bé kia đánh lại hay là đã chạy đi.

Thế này là thế nào?

Rồi tôi tìm được lời giải.

Lân la một lát, đã biết chúng nó là vợ chồng, nhà ở phủ Từ sang chợ Tết.

U đi từ gà gáy quảy gánh củ cải lên chuyến tàu sớm.

Hẹn xuống đợi ở cửa chợ.

Hai đứa đã thuộc đường ga Đầu Cầu, bấy giờ đương đi ra cửa chợ Đồng Xuân.

Đêm giao thừa tôi viết truyện ngắn Vợ chồng trẻ con, y hệt hình thù đôi vợ chồng lau nhau ấy.

Khai bút giao thừa vào ngày xuân, chuyện Tết viết giữa Tết nhất, đấy mới rõ ràng trong không khí Tết.

Rồi làm thế nào đăng được vào báo Tết.

Báo Tết mới đã có bán cả tuần nay rồi.

Thưa rằng vẫn in được vào báo Tết như thường.

Nhưng là báo Tết sang năm.

Tòa báo tôi cộng tác ngày ấy có một kiểu làm việc mà bây giờ không ai làm thế.

Không nhiều thì cũng ít ra thuở ấy có một ông chủ báo làm như thế.

Mùng hai Tết, tôi đến Hàng Bông mừng tuổi năm mới ông Tân Dân chủ báo, đem theo bản thảo truyện ngắn Vợ chồng trẻ con.

Tôi đưa ông Tân Dân cái truyện ngắn như mọi khi đến hẹn nộp bài.

Chủ báo hỏi vui: "Ông cho tôi bài Tết à?".

- Thưa vâng.

- "Cái này tôi để sang năm in.

Ông viết sốt dẻo quá!"

- Thưa vâng.

Ông chủ báo đưa tiền nhuận bút như lệ mỗi lần ông nhận bài của tôi.

Nhưng số tiền là hai mươi đồng hậu hĩnh gấp đôi mọi khi.

Ông xoa tay nói: "Năm mới, mở hàng ông năm nay làm ăn phát tài".

Viết bài Tết, được tiền chơi xuân.

Năm sớm mọi sự may mắn, vui vẻ.

Để Tết sang năm đăng thì cũng vẫn là viết trong Tết, giữa Tết, in để đọc Tết, chứ sao!

Khai bút năm mới, một phong tục hay của mỗi người.

Cái chờ đợi đương tới.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
98. Tảo mộ


Thanh minh trong tiết tháng ba...

Tháng ba đi tảo mộ, tục lệ tôn kính người đã khuất.

Nhưng nền nếp tảo mộ ở quê tôi không chỉ trong tháng ba đi trông nom mộ phần mà lại chú trọng nhất vào tháng chạp lạnh lẽo, mà có nắng ấm quang đãng.

Cũng như nhà có người mất được ba năm thì bốc mộ - còn gọi là sang cát, là thay áo, bao giờ cũng làm việc thiêng liêng đi tảo mộ vào ngày lành, giờ lành tháng một, tháng chạp khi trời tiết hanh khô.

Giữa tháng chạp, tôi theo người lớn đi tảo mộ, một ngôi mộ tổ trong cánh đồng Thìa.

Tôi là cháu ngoại.

Ông bà tôi không có các cậu, nên quý tôi, ông ngoại cho tôi đi lễ ăn cỗ nhà thờ họ, đi tảo mộ, đến tuổi mười tám tôi được vào làng, đóng tiền hàng giáp, lại nộp thuế thân chẳng khác ở làng nội.

Từ làng tôi vào trong Thìa, phải đi tắt - mà lo việc đường âm thường tránh gặp người, bần cùng lắm mới bước chân qua làng, chỗ đông.

Chúng tôi vượt những cánh đồng cao đã gặt quang, những đồng sâu cạn nước gió ù ù mênh mông.

Vào Noi, sang Canh, Diễn rồi mới đến đồng Thìa.

Ngày đông tháng giá rét đậm, đi từ gà gáy tan canh còn tối đất chưa đỏ mặt người, như là bọn người làm vào Kim Hoàng buôn tranh phải đi đêm cho kịp về bán chợ Bưởi phiên Tết.

Ông hương Cang đứng ra lo mọi việc đi tảo mộ.

Nhà ông hương thuộc chi trưởng, được lần lượt thay phiên đèn nhang nhà thờ họ.

Ông hương làm trưởng từ năm ngoài bốn mươi, bây giờ ông đã lên cao tuổi nhất họ.

Năm nay, ông hương đã yếu.

Anh Cả xin ông ở nhà.

Nhưng ông bảo: "Việc lễ cúng là việc hiếu.

Tao còn sống năm nào không thể sao nhãng thăm nom các cụ.

Ờ mà đã nghiệm, mỏi gối thế nào, hễ đi tảo mộ, được các cụ phù hộ, lại khỏe chân ra".

Ông hương nói thế chứ người nhà phải mang rượu ông uống dọc đường, chốc chốc lại một chén như bơm hơi vào bánh xe đạp, ông hương mới thêm được sức.

Hôm ấy về, ông hương phải nằm bệt đôi ba buổi mới lại người.

Cả bọn bảy tám người.

Người vác cái cuốc cái mai, người gánh đôi giành, trong đựng bó hương đen, cành cau, hai chai rượu và những cái khăn lượt.

Đi đường không tiện chít khăn.

Nhưng rồi lễ, đến lễ tất cả đều chít khăn tử tế.

Lại một giành buộc chiếc nồi đồng, cái hông, cái chõ, con gà trống thiến, chiếc tay nải gạo nếp, gói đỗ xanh đã tách sẵn vỏ.

Ngôi mộ tổ ở đồng Thìa to cao như cái gò, xây gạch vồ vuông vắn giữa thửa ruộng ven bụi rậm.

Chắc xưa kia cụ tổ là quan văn, quan võ thế nào nên mộ mới bề thế nhường ấy.

Mà mộ cụ sao lại để xa làng quê, tôi băn khoăn chẳng hiểu nhưng không dám hỏi ai.

Bởi vì tôi đã khôn lớn, so với những đứa họ nội, tôi có cái tủi phải làm họ ngoại.

Tôi im.

Sáng một lúc thì đến Thìa.

Nhưng trời âm u không có nắng, chẳng biết mặt trời đã lên lưng bờ tre chưa.

Mấy người ra thẳng mộ, ông hương đi với gồng gánh vào xóm, đến nhà bác chủ ruộng.

Đã bao năm, các đời nhà chủ đã biết ngày ấy thì các cụ ở ngoài Bưởi vào tảo mộ, chủ và khách đã quen người quen lệ.

Ông hương ngồi chơi uống chén nước với gia chủ một chốc rồi ông ra mộ.

Hai anh người nhà ở lại, xuống bếp làm gà, bắc chõ thổi xôi.

Ngoài ruộng, mỗi người một việc, tay cuốc rãy cỏ quanh mộ và trên nấm, tay mai nện lấp chỗ đất nẻ, lỗ rắn, lỗ chuột.

Những bờ gạch rêu xanh đen, chẳng lở lói, suy chuyển, năm nào cũng trơ nguyên thế.

Giữa trưa, từ trong xóm, các anh bưng ra cái mâm gỗ sơn then thiếp vàng mượn của gia chủ.

Trên mâm, cả con gà trống vàng ngẫy, cong cổ, mỏ ngậm cái hoa đơn đỏ.

Hai đĩa tây xôi đỗ vàng đượm, với chai rượu nút lá chuối khô.

Một anh khư khư hai tay bưng mười nén vàng hồ.

Mâm cỗ và đinh vàng được ông hương đón lấy, kính cẩn bày lên nấm giữa mộ.

Mùi thơm hương đen ngậy lên tỏa vào cánh đồng xám ngắt không bóng người, gió bấc rạt rào, chốc chốc thình lình lại nổi đùng đùng.

Ông hương bảo chúng tôi: "Cụ tổ nhà ta thiêng lắm.

Năm nào lễ cụ, gió cũng nổi cơn nổi trận, cụ bảo con cháu biết cụ đã về đấy".

Ông hương Cang đã chít khăn, mặc cái áo the dài từ lúc nào.

Ông chắp hai bàn tay nâng lên trán, bình thân thẳng đứng lầm rầm khấn, chốc lại dừng lại, vái một cái.

Lúc lâu khấn xong, ông rót một chén rượu rẩy trên mộ.

Chúng tôi cũng khăn đóng lên đầu ngay ngắn thắp nén hương mới, từng người bước vào đứng chắp tay, cúi đầu vái.

Đến hai ba đứa trẻ con thì cùng bước vào, vái một lượt.

Ông hương Cang bảo đợi tàn hết nén hương sau cùng rồi mới hóa những đinh vàng bên mộ.

Xong đâu đấy, bưng mâm cúng vào trong xóm.

Bác chủ nhà ra đỡ mâm, một tay đặt xuống phản rồi thắp một nén hương lên bàn thờ, như mời các cụ nhà bác ấy về chứng giám lòng hiếu khách của con cháu và người có việc nhờ cậy.

Trưa hôm ấy, ông hương Cang với chúng tôi đánh chén cùng bác chủ nhà.

Cả mấy con trai bác cũng được ngồi mâm.

Lúc nãy trong nhà có một bà cụ và đứa con gái đầu để trái đào ra chào khách và cũng dọn dẹp dưới bếp, nhưng bây giờ vắng đâu cả.

Cái hèm đàn bà không được ngồi mâm khách lạ.

Nhưng ông hương đã cho để phần dưới chạn một lườn thịt gà, đĩa xôi, mấy quả cau tươi.

Lúc ra về, lại thắp nén hương lên bát hương, như lễ tạ.

Chập tối, mới trở về đến đầu làng.

Sang năm, nhà thờ họ cắt đặt, ngày rằm tháng chạp, tôi lại được theo đám vào tảo mộ tổ trong Thìa.

Từ hôm ấy đến áp Tết, rải rác các nhà trong xóm đều ra tha ma quanh làng tảo mộ.

Phần mộ mỗi nhà, mộ trẻ xấu số chết non hay mộ các cụ mất đã lâu năm đều được xem nom lại cẩn thận.

Rẫy cỏ, đắp nấm, thắp hương, có khi trồng cây xương rồng ở cạnh nấm.

Như sắp sang năm mới, con cháu và người thân ra dọn dẹp quét tước nhà cửa - trần gian sao thì âm vậy.

Tục lệ sửa sang phần mộ cuối năm khác nào đánh tiếng với người đã khuất rằng năm hết Tết đến nhớ về đoàn tụ.

Ấy thế mà áy náy hình như chưa hẳn đã chu tất.

Đến bữa cơm canh cúng chiều ba mươi gọi là cúng tiên thường, mỗi nhà lại khẩn thiết khấn mời xin các cụ, các vong hồn ở xa đến đâu cũng cố về sum họp với cả nhà trước giao thừa, cho kịp năm mới.

Người sống đoàn tụ đã đành nhưng còn băn khoăn, sốt ruột nữa, người dưới âm có về kịp không, đủ không.

Biết thế nào, chốc lại thắp hương, lại khấn, lại gieo quẻ xin âm dương.

Đồng tiền quay thế kia là đồng tiền cười, cụ đã về đến ngõ mà còn ngập ngừng, lạy thánh mớ bái.

Nắm chân hương tự dưng bốc, thế là cụ ngồi trên giường thờ kia...

Cũng là đoán, nhưng đồng tiền sấp thì búng lại cho đến khi được mới thôi, và chỉ đoán ra những điều hay.

Sau tết, từ giêng hai sang tháng ba đến tiết thanh minh lại đi tảo mộ, nhưng đến mộ chỉ thắp nén hương như chào hỏi.

Bấy giờ đi tảo mộ cùng với xống áo đẹp chơi xuân "gần xa nô nức yến oanh".

Ý nghĩa đi thanh minh của ta nhẹ nhàng không thành kính cỗi rễ như cuộc đi sửa sang phần mộ cuối năm.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
99. Chơi chùa


Cái đình và cái đền, miếu khác hẳn với chùa.

Đình miếu tôn nghiêm, chỉ mở cửa khi có sự, các nhà chức việc, các ông từ, ông tự vào ngày sóc vọng thắp hương, ngày hội tế lễ, rước xách.

Có khi họp hội đồng hay có các quan phủ, quan tổng đốc về.

Khách vãng cảnh thì chỉ đạo quanh ngoài.

Nhưng đi chùa, lên chùa, chơi chùa, mặc dầu có lệ tuần rằm, mùng một và hội chùa, nhưng cửa từ bi thì quanh năm khách thập phương với người làng đến lễ bái ngày nào cũng được.

Huống chi trong chùa thờ Đức Ông được tiếng là thiêng nhất.

Đức Ông mặt đỏ, đội mũ cánh chuồn, chòm râu dài.

Những người mất của và đi đôi co, thề bồi hay đến cầu Đức Ông.

Đồ lễ có miếng thịt lợn sống, khác hẳn chay tịnh cúng Phật.

Tết nhất, chùa chiền càng rộn ràng.

Các vãi đã lên nhang đèn sớm tối cả năm, người sắp về cõi càng gần gũi Phật, cả ba ngày Tết hầu như thay nhau túc trực đêm ngày trên chùa.

Các bác, các cô thì ngày Tết đi chùa xóc thẻ cầu tài, cầu lộc, cầu duyên.

Trai thanh, gái lịch chơi chùa làng hay chùa xa suốt mấy ngày Tết.

Nhưng thăm thú danh lam thắng cảnh cửa phật thì lại nhiều nam giới, nhất là các cụ ông.

Như đi chùa Hương, chùa Hương nô nức nhất dịp hội tháng giêng, tháng hai.

Nhưng người sành chơi núi thường vãng cảnh chùa Hương vào đầu đông, mùa hoa mơ.

Bấy giờ am thanh, cảnh vắng, trên núi, dưới suối, không một bóng người.

Vào chùa Trong, bên vách đá, đôi khi gặp con hươu, con nai, còn những khi con khỉ thì chốc lại leo trèo từng đàn trong bóng rừng.

Hang động chùa Trong bỏ không cả mùa, cả nửa năm.

Rằm mùng một đến kỳ thắp hương, sư thầy và các chú tiểu vào chùa hang, phải đi cùng tuần làng, vác theo tay thước, súng kíp, nỏ tên thuốc phòng gặp hổ đói bên rừng Hòa Bình sang kiếm mồi.

Chùa Hương đẹp vô ngần trong thanh vắng.

Suối Yến trong vắt in hình đồi núi hai bên hoa mơ rưng rưng nở trắng tinh.

Nghỉ đêm ngoài đền Trình, sáng vào giữa rừng mai, thưởng thức chén rượu sớm - chum rượu mơ nhà chùa ngâm ủ đã hai mùa.

Ấy là cái thú chùa Hương tao nhã những năm sau này, tôi đã biết đi đây đi đó.

Nhưng hồi còn nhỏ, năm ấy trạc lên mười, lần đầu tôi được đi chùa Hương với cả nhà vào hội tháng hai, rét mướt co ro mà người leo núi chen chân.

Chập tối, xuống đò dọc bến Đình trên sông Đáy vừa sáng thì đò vào tới bến Đục.

Đấy là kể những chùa xa, một đời được đi một hai lần, nhưng ngày Tết thì trẻ con năm nào cũng đi chơi các chùa khắp vùng.

Đã thành lệ hàng năm, chúng tôi lên chùa Quán La rồi xuống chùa Láng.

Chùa Láng xa hơn phải đi hôm sau, còn tạt vào đền Voi Phục cạnh cầu Giấy, như vào cửa rừng nghỉ chân.

Chùa Quán La trên Sở, bên hồ Tây.

Một quãng qua địa phận làng Sài, trông ra thấy hồ Tây bát ngát trước mắt.

Gió thổi bay tung vạt áo và thắt lưng của bọn con gái.

Sóng hồ đánh oàm oạp ven chân.

Những đứa con trai, hai tay ấn mũ, chạy thi cho ấm người.

Chẳng mấy chốc đã tới chùa Quán La âm u giữa những cây muỗm cổ thụ.

Chùa nhỏ, chẳng có tượng, có chuông to để lên xem và nghịch đấm chuông thử.

Nhưng lại có cái chơi lạ lùng khác, vào đằng sau chỗ gian thập điện có cái động xuống hang trong lòng đất.

Năm nào chơi chùa Quán La cũng men vào cái hang kỳ quái này.

Bấy giờ chỉ biết gọi là chùa Hang, như về sau đọc sách mới biết cái hang trong đất dưới nền chùa Quán La tên là động Thông Thiên đã được phát hiện ra từ thế kỷ 12.

Nhưng không rõ cái hang để làm gì.

Nghe đồn hang người Tàu để của, người thì bảo bao nhiêu vàng đã lấy đi rồi, người thì bảo chưa.

Nghe chuyện cứ rờn rợn.

Lại từ xưa đã có tiếng đồn hang này thông ra hồ Tây phía giáp sông Hồng, đến chỗ ấy thì có đường lên trời.

Chúng tôi kéo khuỷu tay nhau, náo nức: "Lên trời!

Nào lên trời một cái xem sao!".

Bọn con gái ngồi túm lại trên miệng hang, không dám xuống.

Chúng nó giữ dép, guốc cho lũ con trai.

Miệng hang tối mờ mờ toang hoác bằng mấy cái nia đại chụm lại.

Chúng tôi bíu rễ đề, rễ đa, tụt xuống lỗ.

Ánh sáng ngoài hiên hắt lên vòm cuốn cửa hang, những hòn gạch vồ lồi lõm, mó vào lạnh buốt ngón tay.

Trông ngang trong kia sẫm như mực.

Cứ bíu lưng áo nhau, rụt rè bước vào.

Tối bưng mắt.

Không có gió lùa mà rét thít người.

Đứa đi đầu bỗng rít lên một tiếng, như giẫm phải con rắn.

Chẳng biết sợ cái gì.

Những đứa sau hú lên, đùng đùng quay lại, chạy ra.

Ra đến đây chỗ sáng thì hoàn hồn lại cứng cựa, hết sợ, lại đùa.

Một đứa ngẩng lên, nói to:

- Chúng mày ơi!

Dưới này nhiều thứ lắm... xuống đây...

- Chẳng chơi.

- Ấm ghê, như sưởi đống rơm!

Bọn con gái chẩu mỏ xuống:

- Bảo tìm đường đi lên trời mà vẫn chúi xó đấy à?

- Lên trời rồi mới về đây đấy.

- Bêu!

Bêu!

Chẳng lẽ cứ ngồi rúc đấy, lát sau, lại bám rễ cây, nhảo lên.

Chẳng biết ngượng, còn hơn chúng nó không dám xuống hang, lại ồn ào chuyện cái hang để của cải, cái hang có đường lên trời.

"Sang năm, sang năm, u tớ ra Kẻ Chợ mua cái đèn Đe Mông hai "bin" soi sáng quắc, tha hồ đi đến đâu cũng được.

Có thế chứ".

Sang năm, sang năm đi chơi chùa Quán La, không sợ, lại xuống cái hang có đường lên trời.

Mùng bốn, đi chùa Láng.

Đường thành cao cao uốn theo bờ sông Tô Lịch.

Cánh đồng Vân làng Đoài Môn mưa bụi như phấn rắc trên luống thìa là xanh mờ.

Cuối làng Phú Yên, khói hương nghi ngút trong miếu Đôi bùm tum rặng cây si, rễ chùm buông mành mành xuống mặt nước.

Miếu Đôi thiêng lắm.

Ngày nào cũng có người đến kêu cầu.

Qua hũm cỏ Đấu Đong đến dốc cống Vị lên chiếc cầu ván bắc qua sông sang trước đền ông Đại Điên bên cây đại chơ vơ giữa ruộng rau cải xanh.

Đến năm đọc truyện Nam Hải dị nhân tôi mới biết sợ ông Đại Điên đánh nhau với cái gậy thần dựng ngược giữa sông Tô Lịch.

Qua gò nhãn đền Voi Phục dưới kia, đã sang đường Láng.

Chùa Láng uy nghi, đường gạch, nhà bát giác trong sân bọc tường hoa, có cây thông gầy gùa mốc rêu mà thấy bảo đã thọ nghìn tuổi, vẫn đứng chòm lá lơ thơ vi vu rì rào với gió.

Chúng tôi vào chùa chạy như chuột khắp nơi.

Nhưng ra về chỉ nhớ mỗi thứ ở cổng chùa nhiều hàng bán táo ngon và nhớ nhất cảnh thiên đường địa ngục chỗ gian thập điện.

Đứa nào cũng lấm lét, sợ sệt, chỉ dám mon men nhích dần chân vào.

Cái địa ngục xám ngắt lại hiện ra rùng rợn.

Cánh cổng dinh Diêm Vương sơn màu lục u ám, chắc vua địa ngục ngồi trong ấy.

Cứ đoán thế.

Ai trông thấy được Diêm Vương, có mà chết.

Vua ở trong ấy sai quỉ sứ lên trần gian bắt người có tội.

Những ai làm ác trên trần gian thì bị quỉ sứ giải về Âm Phủ.

Người có tội cởi trần đóng

khố đứng rũ rượi.

Các ông quỉ sứ mặt tím bằng quả trám đen, nhe hai cái răng nanh trắng tởn, tay cầm đinh ba chọc vào bụng người có tội.

Ông quỉ sứ kia hai tay giơ con dao bẩy chặt người ra từng khúc.

Ông quỷ sứ ném người vào cái vạc dầu đương sôi sùng sục.

Trên thiên đường vần vụ đám mây vàng, người có phúc được đi trên mây vào cửa trời, hai tay chắp niệm phật.

Nhưng chẳng đứa nào để mắt mấy đến cảnh thiên đường.

Cái địa ngục khiếp quá, mà lại ham xem.

Đến lúc sợ run lên thì cứ lùi dần, lùi dần.

Trên đường về qua cầu Giấy còn vơ vẩn ý nghĩ về người ác phải xuống đền tội dưới địa ngục.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
100. Như đêm ba mươi


Một tối mưa chúng tôi đi nghe hát ả đào ở Vĩnh Hồ.

Hai ngả phố Ngã Tư Sở gần đấy mới là tổ ả đào.

Nhưng trên Vĩnh Hồ và ấp Thái Hà cũng lom đom mấy nhà hát chen lẫn hàng xén, lò may - những nhà hát hóng khách thừa ở Ngã Tư Sở tràn về.

Ở nhà hát, việc làm ăn buôn bán với cái nghỉ, cái chơi cũng là một, đối với khách đi hát.

Tận trên Chèm, các ông lái bè xuôi cập bến, chủ khách chui trong những cái nhà vách đất mái lá - ả đào nhà quê, mà cũng bàn đèn, cũng đào hát, đào rượu, chỉ khác cái vẻ thê lương tiêu điều, còn thì vẫn một cung cách như nhà hát ở Vĩnh Hồ.

Hôm ấy có món lái đường ngược về đợi ăn hàng, một người bạn buôn của chúng tôi đưa xuống đây chơi.

Không sang trọng như ả đào phố Khâm Thiên nhưng ở Vĩnh Hồ chầu hát và chén rượu tĩnh mịch họ dễ bàn chuyện giá cả đồng tiền phân bạc.

Chúng tôi chẳng bận nỗi buồn hay tĩnh.

Chúng tôi đi hát "che tàn".

Có nghĩa là bạn kéo cái "rơ mooc" theo cho vui đám.

Bạn họ Trần đi với tôi và hai chúng tôi cùng trần như nhộng.

Trần và tôi mới tập tễnh vào làng văn, làng báo.

Chưa quen biết mấy ai trong nghề.

Cũng chưa được xếp vào hàng các nhân vật phụ trong tiểu thuyết Bốc đồng của Đỗ Đức Thu, như nhân vật Văn (Mạnh Phú Tư) miệt mài đầu sai hầu hạ các ông Tịnh (Nguyễn Tuân) và Đái Đức Tuấn.

Chúng tôi trú ngụ khuất nẻo ngoài đầu ô, đôi chút chơi bời cũng là học hỏi.

Tờ mờ sáng, Trần sang giường bên lay tôi:

- Về!

Tôi choàng mắt.

Ngoài cửa sổ, trời vẫn còn đùng đục.

Sao chuồn sớm thế?

Nhưng tôi không hỏi cũng ngồi dậy bước ra theo Trần.

Đèn đường vừa tắt, sương mù tịt.

Những chuyến tàu điện đầu tiên từ nhà tàu Cầu Mới đường Hà Đông ra chạy rầm rầm.

Đèn sáng trưng trong các toa rỗng, chưa có khách vào thành phố.

Chúng tôi đi bộ lên đến ấp Thái Hà.

Trần thẫn thờ bảo tôi:

- Tao bị rồi.

Dần dà, Trần kể.

Anh nằm cả đêm cho tới khi nghe tiếng gà eo óc ngoài kia.

Khó ngủ, cứ nghĩ ngợi đăm chiêu mênh mông đủ thứ.

Ở nhà quê, vợ con nheo nhóc ốm yếu, lại công nợ đìa ra.

Mấy tháng nay chẳng gửi được đồng nào về đỡ đần.

Lại ngán cái nông nỗi đời mình chung chiêng sống dở chết dở thế này đến bao giờ.

Rồi thế nào mà vừa nãy thôi, cái con đào rượu phải gió ấy ở đâu chui vào màn.

Thế là chết cha đời.

Trần hỏi tôi:

- Này, có đồng nào không?

Trần hơn tôi vài tuổi, mấy lâu nay thất nghiệp dài.

"Tao bị rồi", anh nói ráo hoảnh.

Tuy vậy, tôi để ý thấy anh bồn chồn, hốt hoảng ra mặt.

Anh hỏi để hỏi, chứ anh thừa biết tôi chẳng có đồng nào trong người.

Tôi lặng im.

Trần lại hỏi:

- Mượn được ai bây giờ?

Tôi nhẩm xem có người quen nào ở các phố quanh đây.

Trần Kim (Trần Huyền Trân) trước ở tòa soạn báo Bắc Hà phố Cao Đắc Minh trên Giám.

Cái năm không còn tiền thuê báo, đã phải trả lại chủ báo Bùi Đức Dậu, rồi không có tiền thuê cái gác, từ lâu, lại về ở lều vó Cống Trắng.

Nhà Thâm Tâm trên chỗ Hăm Bốn Gian cạnh Nhà Diêm.

Xa quá.

Trần đòi vay nóng để làm gì.

Nhưng thấy băn khoăn của anh, tôi chỉ biết lo.

Nhà Nguyễn Tuân dưới Cầu Mới, gần đây, nhưng chúng tôi không quen ông ấy.

Trước mặt, chỗ Nam Đồng có nhà các "Tản điệt" Nguyễn Tố, Nguyễn Tuất - khi cụ Tản Đà mất, các ông này cũng như ông Phan Như viết báo, làm thơ, thường ký trên tên mình chữ "Tản điệt", như là tranh nhau nhận họ, nhưng mà chúng tôi chưa quen các ông ấy đến độ có thể xuề xòa vừa mở mắt thế này đã đến gõ cửa vay tiền người ta.

Tôi chợt nhớ, bảo Trần:

- Có nhà anh Vũ Ngọc Phan trong Ấp.

Trần giục:

- Thế thì vào hỏi giựt tạm mấy đồng cũng được.

Tớ đợi ngoài này.

Đầu năm, Trần thôi dạy học ở một trường tư trên Thụy.

Quân Nhật đem ngựa đến nuôi ở bãi cỏ trước mặt ven hồ Tây, chiếm nhà làm trạm canh.

Thế là tan cái trường, thầy giáo mất việc.

Trần về ở với tôi, viết gửi các báo cái truyện ngắn, bài thơ.

Cũng có bài được đăng, nhưng chẳng đâu mời viết cho nên không kiếm nổi một đồng nhuận bút.

Tôi đã viết truyện ngắn gửi báo của anh Vũ, được trả tiền.

Tôi thường đi lại nhà anh ở dưới Ấp.

Bao nhiêu năm qua rồi.

Có khi nào anh Vũ nhớ cái tơ mơ sáng hôm ấy, chắc anh còn ngạc nhiên mãi không biết cái thằng tôi chui đâu ra mà tờ mờ sáng đã đến hỏi mượn tiền thế.

Chẳng bao giờ người chân chỉ như anh đoán được, bởi vì có thể anh chẳng bao giờ cho là tôi đã đổ đốn đi cô đầu nhà thổ thế nào.

Anh Vũ đưa cho tôi cái giấy con công năm đồng.

Tôi trở ra, chìa tờ bạc, Trần mừng ra mặt.

Chúng tôi vào quán phở xế cổng chùa Đồng Quang.

Trần gọi bát phở.

Trần ăn hai bát.

Trần không phải người phàm ăn.

Hôm ấy Trần tẩm bổ.

Cho lại sức!

Chúng tôi cuốc bộ, lên phòng khám bệnh bác sĩ tư trên đầu Hàng Cót, mọi khi đi qua vẫn trông thấy cái biển đồng khắc chữ "Đốc tơ Nguyễn Gia Kính".

Hình như Trần luống cuống cũng chẳng nhớ có thể đi tàu điện lên Hàng Đậu, chúng tôi cứ lẽo đẽo đi.

Trần lẩm nhẩm, như nói với tôi, lại như một mình tính toán.

Chó quá.

Chó quá.

Sắp sáng rồi, đã hết sức phanh...

Giời ơi!

Rồi lại chép miệng.

Tôi cũng lây cái bối rối của anh, tôi lo lo.

Ở tuổi đương độ, không phải chỉ là giữ gìn, là tư cách mà quanh cái chuyện chót nhỡ khốn nạn ấy có biết bao điều ghê rợn khiến chẳng thể tặc lưỡi cho xong.

Đã nghe nói, đã trông thấy những cảnh nhục nhã, bêu diếu khi cái người bị bệnh.

Người ta bảo vi trùng giang mai nhiễm vào máu nổ từng đốt xương, lại lây truyền đến ba đời con cháu.

Nọc bệnh tim la thì ăn lên óc, mắc phải bệnh này chỉ còn đợi bó chiếu.

Còn bệnh lậu, ngày đêm đái ra mủ.

"Nổ ống khói" tóe máu, bước khạng nạng, tanh lộn mửa, không dám đến cạnh ai.

Mà bọn cô đầu rượu nhà thổ lậu thì lúc nhúc sẵn các thứ bệnh hoa liễu đổ cho khách làng chơi.

Thế mà Trần bị...

Chết đến nơi phen này rồi.

Tôi đứng đợi bên gốc nhội ngoài vỉa hè nhà bác sĩ Kính.

Một lát, Trần bước ra, mặt hầm hầm tái ngắt.

Hai đứa ra cửa chợ Đồng Xuân đợi tàu điện.

Lúc ấy, Trần mới nói:

- Toi mẹ nó đồng bạc!

- Đốc tờ bảo sao?

- Nó bảo ngoài ba tháng, bệnh phát ra hay không mới biết.

Đến lúc ấy thì việc gì hôm nay ông phải đi hỏi mày!

Trần sang Hàng Đường và nói: "Xuống Bờ Hồ!".

Anh đương bực, tôi chỉ lặng lẽ đi theo.

Tưởng Trần muốn xuống cái quầy bán sách báo vỉa hè đầu Cầu Gỗ.

Nhưng đến đấy rồi lại đi.

Sang nhà sách Thụy Ký bên Hàng Gai.

Trần vào hỏi và mua quyển Bệnh hoa liễu in ở Sài Gòn của bác sĩ Lê Văn Ngôn hay Phạm Tấn Tươi - tôi không nhớ đích xác.

Quyển Bệnh hoa liễu dày cộp, ba bốn trăm trang.

Mấy ngày liền, Trần nằm nghiền ngẫm từng tờ, xem đi xem lại.

Thỉnh thoảng, lại ngẩng đầu nghe ngóng rồi khe khẽ:

- Chỗ bụng dưới tớ như khó chịu.

Từ sáng, hơi đái giắt, lại buôn buốt.

Trong sách... hình như...

Tôi còn biết đáp lại thế nào!

Có hôm, Trần gọi tôi ra gốc chuối sau nhà.

- Xem hộ cái nước đái màu nhờ nhờ, có phải máu không?

Cứ thế, chốc lại hình như... hình như...

Đến tôi cũng lây cái loay hoay lo nghĩ, chẳng cứ Trần.

Tôi nhận thấy Trần hóp má, mắt mất ngủ đỏ ngầu.

Tôi không dám nói tên quyển sách Bệnh hoa liễu, tôi chỉ hỏi:

- Sách bảo thế nào?

- Nó cũng bảo ba tháng mà không thấy gì, mới thoát.

Tôi không dám nói nhận xét hồi này Trần phờ phạc quá.

Nhưng tôi hỏi:

- Có ăn cái nhau đàn bà đẻ không?

Năm trước, tôi bị sở mật thám dưới Nam Định bắt, đến khi được giải về Hà Nội, cũng hom hem gầy giơ xương.

Thằng Tĩnh cùng hoạt động hội ái hữu thợ dệt với tôi thời kỳ Mặt trận Bình dân ở làng đã lên xin bà đỡ trên nhà thương ở Yên Thái mấy cái nhau đem về cuộn vào nhân bánh đa rán làm nem Sà Goòng.

Ăn rồi, thấy có khỏe hơn.

Trần chỉ gật đầu:

- Ừ.

Trần đã chịu khó nuốt mấy lần "nem" nhau đàn bà đẻ như thế, nhờ thằng Quyền bán phở làm nem hộ.

Nhưng mỗi hôm Trần vẫn bảo tôi ra sau nhà xem nước đái nó có màu đo đỏ, Trần lại bần thần nói vẫn cảm thấy chỗ bụng dưới tưng tức.

Một buổi tối, Trần rủ tôi lên chợ, vào quán Quyền ăn phở, phở xào cẩn thận.

Tôi hỏi:

- Đào được mỏ nào mà phởn thế?

Trần cười.

- Ba tháng mười ngày.

Quá mười ngày rồi.

Thì ra Trần ăn mừng.

Không thấy gọi liền hai bát như cái sáng ở dưới Ấp, nhưng chén phở xào ròn và mặt Trần không khó đăm đăm như mọi khi.

Đã tai qua nạn khỏi.

Những cái nghĩ ngợi vu vơ mà đâm ra lo sốt vó, mà sợ thật sự, cái sợ tối thẫm như đêm ba mươi.

Tôi bỗng mất vui, lại thấy buồn thân phận đến ê ẩm cả người.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
101. Bác phó Ngạ


Một Chạp là tháng lo toan cái ăn cái mặc cho ngày Tết cả.

Nhà kiết xác thì bét ra cũng gọi bà Viết thợ vườn đến củ soát mớ quần áo cũ của trẻ con đụp miếng vá đũng, đầu gối, lộn ống đằng trước ra đằng sau.

Cái khuy cái khuyết, mảnh nâu non mới đổi vai cho các bà, các chị.

Đói cho sạch rách cho thơm, thế nào Tết đến cũng phải cố tươm tất.

Nhà khác, có vải may mới thì đón bác phó Ngạ.

Năm ngoái, trên bến tàu điện có người dưới phố lên mở lò khâu, buổi tối chong đèn ba dây, đạp máy khâu xành xạch đến khuya.

Lò khâu may áo tân thời.

Con trai the thâm dài, trốn vạt, cổ áo, không lá sen, chiết tà, bỏ năm khuy tết làm sáu khuy đồng.

Người làng bĩu môi: quần áo khâu máy cứ đuồn đuỗn thế nào, không nền nã như mũi kim bác phó Ngạ khâu tay.

Mới chỉ đám đàn ông chơi bời hay nhà giàu có khăn nhung, hàng Bombay mới cầu kỳ đến lò may khâu.

Các cô trong làng chưa biết cửa khâu máy.

Cả đến áo bông bọc ma ga trần ô quả trám cũng một tay bác phó Ngạ.

Bác phó Ngạ không phải người làng.

Mỗi năm, khi gió bấc thổi cái rét đậm về lại thấy bác phó Ngạ đến.

Bác phó mặc áo dài thâm, chít khăn lượt chữ nhân, quần ống sớ phẳng nếp.

Đôi giày ta mõm da trâu sống.

Nhưng chẳng mấy khi bác đi giày.

Vai đeo cái khăn gói chồi nhuộm cậy màu hoa hiên, trong đựng đồ lề thợ may, cái kéo, cái thước ta đã mòn vẹt, cục sáp ong, chiếc hộp gỗ có nắp đựng bao kim, cái đê...

Bác phó Ngạ ở khâu mỗi nhà mươi ngày, hết việc thì sang nhà khác đã hẹn.

Năm nào bác phó cũng đến nhà tôi đầu tiên, rồi lần lượt theo người ta gọi.

Nhiều khi bác phó cứ ở nhà tôi, các nhà khác đem đồ khâu đến.

Làm cho đến hết việc đã sang giữa tháng chạp, bác nhận tiền các nhà trả, tính công xá, cơm nước, rồi khăn gói đem cái Tết về quê.

Cái tên bác phó Ngạ, đến trẻ con biết đọc biết viết cũng không hiểu.

Trong sách không dạy chữ ngạ.

Ai tò mò hỏi vui, bác nói:

- Làng tôi là làng Ngạ, tên người bắt chước tên làng ấy mà.

À ra thế.

Dì năm, dì Bảy tôi lại hỏi:

- Đã đủ nếp đủ tẻ chưa, bác phó?

- Biết đủ là thế nào...

- Được mấy thằng cu, mấy cái đĩ, mấy nhóc rồi?

- Tôi mới có hai con mắt, các cô ạ.

- Bác gái ở nhà chạy chợ hay làm ruộng?

- Còn gửi bên nhà ngoại, chưa có tiền chuộc về.

- Thế thì bác phó lấy quách con gái vùng này, ăn trắng mặc trơn mà cũng rẻ thôi.

- Độ bao nhiêu?

Các cô mách cho lấy ai.

- Cô này nhé...

Cô này được không?

Thế là cả bọn cười ré lên.

Bác phó Ngạ, quần áo nâu bạc, rù rù như con cóc ngồi trên phản.

Giữa những xếp vải, cái áo chồi năm thân đương cắt dở.

Tấm áo dài chéo go mới khâu lược, dựng treo đứng lên cái dây mây, đợi thử.

Hết lớp ấy lại lớp khác, bề bộn những mảnh vải đương cắt, những cái áo làm mẫu của nhà, của hàng xóm, cứ đến chập tối ông tôi cất cả vào chiếc hòm bàn trong gian giữa rồi bày ra phản mâm cơm có cút rượu trắng, hai người uống ngữ.

Cơm nước xong, bác phó Ngạ ngủ ngay ở phản, trời lạnh có cái chiếu nằm, cái chiếu đắp.

Đồ nghề và xống áo làm đến đâu mới đem ra.

Để ngoài "một đống của chứ có phải ít đâu", biết thế nào, nhỡ đứa gian nó đỏ mắt lên, mà lại đúng tháng củ mật, trộm cắp như ong khắp làng.

Nhà tôi cũng chẳng may mặc, sắm sửa mấy.

Có năm, bà tôi chỉ may mới cho tôi cái quần vải gốc, các dì tôi chần lại áo bông ngắn, đổi vai cái áo the nâu.

Một ngày kia, tôi biết cái cớ tại sao bác phó Ngạ hay ngồi khâu ở nhà tôi, ít đi các nhà khác.

Bọn thằng Ngưu, thằng Tằng trong xóm thì thào với tôi những chuyện lạ lắm: "Bác phó Ngạ phải lòng dì Bảy.

Dì Bảy mày chửa bụng to tướng rồi.

Dì Bảy mày chửa hoang".

Tôi cãi: "Người ta lấy nhau thì không phải là chửa hoang".

- Có đám cưới mới là lấy nhau chứ".

- "Không phải...".

Thế là... không cãi lại được, tôi xông vào, nện nhau tơi bời với cả mấy đứa.

Tôi cáu quá, đâm hăng, toàn đấm vào mặt.

Chúng nó chạy giạt hết.

Rồi về tôi mới để ý thấy dì Bảy, dì Năm đứng quạt hồ dưới nhà ngang hay chấp chới mắt cười cười lên nhà trên, rồi chốc lại lướn phướn qua trước phản hè, chỗ bác phó Ngạ.

Thế là chúng nó đồn có lẽ đúng.

Bao nhiêu cái tức tối, cáu kỉnh tôi dồn cả vào bác phó Ngạ.

Tôi chửi thầm tiên sư thằng phó Ngạ chim gái, tôi phải nện cho...

Rồi việc xảy ra lại chẳng như thế.

Một ngày nọ không phải là mùa đông hay tết nhất, bọn ấy rủ tôi:

- Bác phó Ngạ mới mở lò khâu trên đầu chợ.

Lên xem đi.

Tôi ngơ ngẩn hỏi:

- Bác phó Ngạ mọi khi vẫn ngồi khâu ở nhà tớ ấy a?

Chúng nó nói:

- Ừ, bác ấy lấy vợ bên trại Kho Than rồi, không lấy dì Bảy mày đâu.

Tôi văng cục rồi lại xông vào đấm đá luôn.

Nhưng trong bụng thì bực bội sao bác phó may ấy không lấy dì Bảy nhà mình.

Lò khâu bác phó Ngạ ở cái nhà lá thuê trên đầu chợ, hai bên láng giềng những hàng mã, hàng gạo, hàng nước chè tươi.

Thế là thêm bác phó may có một lò khâu, đằng bến tàu điện thì có lò khâu mở đã lâu.

Có hôm, bác phó Ngạ vẫy tôi vào chơi.

Trong cửa hàng, trên sào ngang vắt tấm vải, tấm lụa màu điều, hoa hiên, hoa lý, màu thiên thanh, đi ngoài đường cũng thấy choang chóe, giá bày ở phản hè nhà tôi, chắc ông tôi đã cất vào cái hòm bàn trong nhà.

Trong gióng tre ngang bậc cửa, kê chiếc bàn máy khâu sơn cánh gián nâu bóng.

Bác phó Ngạ ngồi bàn máy, chân đạp, tay xoay cái vòng mạ kền sáng nhoáng, tiếng máy phát ra rào rào từng đợt.

Làng đồng Vân chuyên trồng rau, bác phó gái bán rau trong chợ.

Ít lâu sau, bác gái kê cái chõng tre trước cửa, trên bày mớ rau cải xanh, bó hành lá, củ xu hào...

Ngồi bán hàng ở nhà, thằng bé trong nhà khóc đòi bú, bác gái chạy vào được ngay.

Từ ngày ấy, chỉ có bà Viết thỉnh thoảng cắp thúng khâu đến vá víu cái rách, cái lành cho các nhà.

Không còn bác phó nhớ lệ cuối năm đến ngồi khâu như bác phó Ngạ mọi khi.

Trong làng, những nhà khá giả may quần áo tết đều đem lên các lò máy khâu phố chợ.

Nhiều năm đã qua.

Kháng chiến, tôi công tác trên Việt Bắc.

Ngót mười năm mới trở lại.

Các vùng ven nội bây giờ nhộn nhịp chẳng khác trong phố, đông đúc hơn hẳn ngày trước.

Bác phó Ngạ vẫn ở cái nhà ấy trên đầu chợ.

Chỉ khác, nhà lợp mái tôn.

Bác phó gầy sọm, tai nghễnh ngãng, không tản cư lên đường ngược mà da dẻ xám ngắt như sốt rét, cái lưng cả đời ngồi cúi đã còng còng, bác đi hai tay ve vảy như con rùa bơi.

Giữa nhà có chiếc tủ kính, trong đặt một súc vải, mấy cái áo sơ mi như để mẫu.

Trước cửa, treo một bảng sơn xanh to vẽ hình một đầu người đội mũ phớt, thắt cà vạt cạnh dòng chữ kẻ chữ Tây: Tay-ơ-mô-đéc, có thể nghĩa lõm bõm là "thợ may tân thời" .

Tôi cũng ít có dịp về làng.

Có đến mấy năm.

Lần kia, bác phó Ngạ trông thấy vẫy tôi vào chơi.

Thằng con bác, tôi không thể nào nhớ mặt.

Nó mặc quần dạ xanh, thắt cà vạt hoa, áo sơmi ngắn tay kẻ sọc, đeo kính trắng.

Mặt non choẹt, bộ ria con kiến nhấp nháy trên mép, như hàng ria giả đính đấy.

Anh ta bắt tay rồi nói toang toang:

- Cửa hàng này cháu để làm buyrô giao dịch, cháu có mấy buyrô chào hàng thế này, chú ạ.

Xưởng chính của cháu có một trăm người làm thì ở ngoài phố.

Khách đến đây xem hàng mẫu rồi đo, nhận giấy hẹn ngày lấy.

Cháu để ông cụ ngồi trong nhà, thùa cái khuyết cho vui tay ấy mà.

Chứ thời buổi này mà co chân đạp cái máy thời cổ, có mà ăn cám.

Tôi khen lấy lòng anh thanh niên biết khuếch trương rầm rộ.

Một lần khác, tôi đến chơi.

Tôi hỏi bác phó Ngạ:

- Chú "tay-ơ-mô-đéc" đi vắng?

- Tôi không biết.

- Chắc chú ấy ra xưởng may ngoài phố?

Đến lúc nghe thủng câu hỏi của tôi, bác cười như mếu:

- May vá con hươu con vượn thôi.

Nó đo rồi đem thuê người ta làm.

Thùa cái khuyết nó cũng không biết.

Nó là thợ may cái mồm.

Thời buổi nực cười, toàn phét lác đỡ chân tay, nghề nghiệp vứt xó cả.

Bác phó Ngạ bước ra cửa, cái nhìn và câu nói xa vắng quá, như nói một mình:

- Lại hết năm rồi, ngày trước bây giờ tôi đã lên, đương ngồi làm ở nhà các cụ, anh ạ.

Hai vai ông lão nhô ngang vành tai.

Trông thấy cái đê đồng mòn lỗ chỗ bác phó lấy trong hộp dưới phản, lồng vào ngón tay đã nhăn nheo.

Hình như cái hộp cũ từ ngày trước đã lên nước đen kịt, trong có mảnh giẻ để cài kim, cục sáp ong...

Tôi mới nhớ ra bác phó Ngạ năm xưa.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
102. Khám ghẻ


Ở lớp học có nhiều cái sợ, nhưng phải đi khám ghẻ thì hãi hơn cả.

Vì không may mà bị ghẻ lại phải dẫn đến tận đâu, mới nghe bàn tán đã khiếp.

Chỉ có thằng nào lên quai bị thì sướng.

Tự dưng, một bên má sưng vếu - mà chúng nó bảo không đau, thế là trường cho nghỉ đúng hai mươi mốt ngày.

Cứ đứa nào lên quai bị thì được nghỉ thế.

Tôi mong được lên quai bị.

Nghe nói ở lớp ba có đứa nhờ đấm vào hàm cho sưng lên, giả làm bệnh quai bị.

Không biết có được không.

Sáng thứ hai nào cũng khám vệ sinh cả lớp.

Từng bàn lần lượt ra đứng trước mặt thầy.

Hai tay xòe tõe càng cua ra.

Thầy giáo Tỏi phất phất cái roi da.

Tay ngửa lên, úp xuống, đầu roi thầy gẩy vào hai bên nách áo, mạng sườn, mông đít.

Đến lúc roi thầy cất cao một cái, thế là làm hiệu thằng ấy được về chỗ, hú vía!

Nhích lên, tôi lom khom xòe bàn tay.

Giơ cả hai.

Choạng ngón ra.

Gì mà tay đầy mực xanh thế này?

Từ hôm trở gió lạnh, không biết tại sao, tôi ngứa lẩn mẩn các kẽ ngón tay, ở nách, ở bẹn.

Đêm nằm gãi sồn sột.

Rồi mẩn lên, loét ra, những nốt đằng mông hình như đang mưng mủ.

Ngồi phải ngoẹo lệch một bên đít.

Thằng bên cạnh nhìn tay tôi, lè lưỡi: "Ghẻ Tàu, ghẻ Tàu rồi, bỏ bu mày!".

Cả ngày chủ nhật, tôi đã nghĩ cách nào che được mắt thầy.

Tôi lấy cái tăm, chấm mực xanh, bôi lấp vào từng vết mẩn.

Nhưng tôi không trả lời được thầy tại sao có vết xanh lè.

Thầy Tỏi hứ một cái, vểnh ria, cái đầu roi cũng chổng ngược.

- Thằng này ghẻ cóc!

Đứng ra kia.

Tôi không được về chỗ, phải nép ra một góc.

Cả lớp có năm đứa ghẻ.

Có thằng kềnh càng, nó đi qua, mùi tanh tanh.

Thầy giáo Tỏi vút một roi lên đầu chúng tôi, không ra hầm hè, không ra dặn dò: "Đi khám trạm ghẻ nhe.

Chả có thì lây khắp lớp nhe".

Cặp sách bỏ lại lớp, chúng tôi lấy mũ đội rồi xếp hàng một ra sân.

Ngoài ấy đã lố nhố các đứa ghẻ ở lớp khác đứng đợi đi.

Bác loong toong (planton, tiếng Pháp, chỉ người làm việc vặt trong nhà trường), đếm cả thảy hơn hai mươi đứa.

Bác ấy mặc bộ quần áo nâu mới, bước nhanh nhanh đi đầu, như người về chợ Tết.

Bác nhai trầu tóp tép, mặt đỏ vui tưng bừng.

Tôi cũng đỡ trợn.

Một quãng từ trường tôi xuống phố Hàng Than đến ngang Hàng Đậu chằng chịt ngã ba ngã tư rồi vào Hàng Cót, những cây sấu âm u lá giữa mùa đông.

Chúng tôi không dám bước chệch hàng, cứ cong cổ lên nhao nhao hỏi:

- Khám ghẻ thế nào, hả bác bếp?

- Nói lắm thế!

- Thấy bảo người ta xát bàn chải bật máu, phải không?

Một đứa nói chen:

- Có thằng ra hết máu tươi, chết ngay tại chỗ.

- Nói phét!

- Chẳng tin thì hỏi bác bếp.

Có phải thế không, hả bác bếp?

Người loong toong vẫn nhai trầu, chẳng trả lời đứa nào.

Có lẽ sắp đến, hay sợ có đứa trốn, bác giơ ngón tay đếm lại chúng tôi.

Đây rồi, vào đây!

Mới ngước lên trông vào cái cửa đã thấy ghê ghê.

Các nhà, các cửa hàng bên cạnh quét vôi vàng sáng sủa, có người vào người ra, người đứng nhìn chúng tôi.

Nhà này sơn xám ngắt như mặt thằng qủy sứ canh vạc dầu nấu người ở cảnh địa ngục ngoài chùa Láng.

Bắt đầu hoảng.

Từng bọn các trường khác cũng đi vào cái cửa tun hút ấy.

Ở đâu ra mà lắm thằng học trò ghẻ cóc, ghẻ ruồi thế.

Bác loong toong đếm lại từng đứa đi vào rồi bác đứng ngoài vỉa hè.

- Bác bếp không vào a?

Bác loong toong lắc đầu, vẫn bỏm bẻm nhai trầu.

Cái người đưa đi không vào cùng.

Bây giờ một mình đi đâu?

Hốt đấy.

Cứ trông lưng nhau, trông cái mũ xùm xụp đằng trước mà tuốn vào.

Vừa một chục đứa đến cái buồng tối âm sâm, cửa đóng lại.

Một lát nhận ra các tường đều sơn nhựa hắc ín đen nhánh.

Một người áo trắng lốp như con ma trơi hiện đến, tay cầm cái gì to như hòn đá hòn gạch.

Chưa định thần, đã nghe tiếng quát.

Chúng tôi răm rắp làm theo tiếng quát.

Tôi đã quen lính Tây dạy tập thể dục buổi chiều trên bãi cỏ bờ sông, nên nghe tiếng hô tôi không giật mình.

Nhưng làm thế thì rồi thế nào?

- Không rét đâu!

Càng rét càng khoái, biết chưa?

Cởi trần truồng tú nuy, quần áo cuốn lại, bỏ vào mũ, để khỏi ăn cắp lẫn nhau.

Oong...đơ... troa...

Xong chưa?

Bôồng...

Đứng sắp măng hàng tư!

A lê hấp!

Một luồng nước ào ào trên trần nhà xuống, như đi giữa đường gặp mưa xối xả tối tăm mặt mũi.

Chúng tôi nhảy nhô nhốp như ếch.

Rét ghê người.

Rét đến củ tỉ.

Trong tiếng nước xối, vẫn nghe hô hét vang vang:

- Tắm mát!

Ăn no tắm mát!

Sướng chửa!

Đã sướng chửa!

Thôi!

Nước chợt ngừng xả.

Hai hàm răng tôi đã đánh cầm cập.

- Nào, đứng sắp măng ra đây, từng đứa.

Các sừ này chậm quá.

A lê vít!

Vít!

Bác ấy cầm bánh xà phòng đen lúc nãy mà tôi tưởng là hòn gạch, chát lên từng đứa, từ chỏm mũi xuống kẽ chân.

Mùi xà phòng, mùi khét tường hắc ín, không biết rét cóng hay buốt quá, cả buồng cứ hua khoắng chân tay rối rít loạn xà ngầu.

- Kỳ khắp mình mẩy cho ngấm xà phòng, ngầu bọt lên, ngầu bọt lên.

Chúng tôi trắng mờ như trong bọt hơi xà phòng.

Xót quá, thắt ruột lại rồi, từ sáng tôi chưa được đớp một miếng, chết mất.

- Sắp hàng đôi!

Sắp hàng đôi!

Thế, thế.

Giơ thẳng hai tay lên.

Dạng háng ra, thế này này...

Ối ối ối, lạy ông, lạy ông.

Tiếng rú thất thanh: "Mẹ ơi!

Mẹ ơi!".

Giữa những tiếng quẹt quẹt,

sột sột đều đều như lược chải đầu, chải chấy, một bàn tay hộ pháp nắm cánh tay tôi, cái bàn chải sắt nạo cồn cột khắp mông đít, khuỷu tay.

Thế này thì cả người tôi bị lột hết da rồi, tôi chết đến nơi...

Cái vòi trên cao lại thình lình xả nước xuống.

Tưởng như bao nhiêu máu trong người tôi đương tuôn nốt ra theo nước.

Tôi quị đầu gối, ngã ngửa.

Nhưng nước tia vào mũi, sặc tắc thở, tôi lại phải ngóc dậy.

- Phi ní!

Ra đi, vit vit.

Sang bên kia làm thuốc, sang bên kia...

Người tôi còn rườn rượt, không biết nước hay máu trong người vẫn rỉ ra.

Chết... tôi cứ nồng nỗng thế - trông chúng nó mà biết, chúng nó cũng trần truồng cả lũ.

Trước cái cửa phòng sáng choang, lố nhố người áo trắng.

Tôi không dám nhìn xuống mình, quai hàm vẫn run bắn.

Những người ở các phòng trong ra cất lên giá những chiếc bàn chải răng sắt sáng loáng như cước.

Cái đồ lề giết người này vừa bào nạo khắp người tôi đây.

Người tôi chắc đã hết máu, dẹp đét như con mắm khô.

Các phòng trong lại rộ lên inh ỏi râm ran tiếng kêu khóc.

Những đứa khác mới bị đem vào đương bị xả nước bào thịt.

- Lấy áo lau ráo người đi.

Chưa được mặc!

Tôi hờ hờ mắt, tìm mũi, vơ bừa cái áo, chùi mơn lên mặt.

Cả người chỗ nào cũng xót, cũng rát.

Tôi đương ngật ngờ thì bị lôi thẳng đến trước cái bàn trắng toát.

Một cái chậu nhôm vàng sậm nhờn nhờn như vôi bồ kếp, người ta lấy từng tảng vôi như thế bôi khắp người tôi.

Rồi lại có cái ống phun một lượt bột vàng đắp lên, như quét vôi hai lần vào người.

Đứa nào cũng như củ nghệ đã tuột hết vỏ.

Mùi lưu huỳnh hắc xì xông lên tê cả lỗ mũi.

- Phi ní!

Xong rồi...

Mặc quần áo!

Tôi vẫn chỉ nhìn chúng nó mà đoán mình như thế nào.

Một lũ run rẩy, lẩy bẩy cả tay cả mặt vàng ỏng.

Có đứa ngã huỵch ra, vướng mãi không xỏ được ống quần.

Cái bác lúc nãy cầm cục xà phòng đen bước tới.

Lại việc gì thế này.

Bác ấy đứng lại, không làm gì cả, chỉ hét một câu:

- Thứ hai sau đến quan đốc tờ khám lại!

Bác loong toong vẫn đợi ngoài cửa.

Quanh năm dắt người đi tắm ghẻ, chắc bác đã quen cảnh thiểu não nhăn nhó này.

Bác lại trỏ ngón tay đếm chúng tôi rồi bác lẳng lặng bước đi hàng đầu, như lúc nãy.

Chúng tôi - những con gà rù sắp toi - hàm răng không mở ra được, ủ rũ lừ khừ theo sau.

Hôm ấy, về đến nhà, tôi lên cơn sốt li bì.

U tôi nướng củ gừng, quấn tóc vào đồng bạc đánh gió cho tôi.

Cởi áo, thấy người tôi nham nhở vàng hoe, u tôi khẽ nói: "Thằng cu đánh nhau với đứa nào mà phải bóp nghệ thế này?"

Tôi nằm im thít không nói được.

U tôi khóc hu hu.

Rồi các chỗ lở lói khô đi, mu bàn tay, khoeo, mông lên da, nhẵn nhụi, bằng phẳng lại.

Nhưng thứ hai sau, thứ hai sau nữa chẳng bao giờ tôi dám lên cho quan đốc tờ khám ghẻ.

Có lẽ sợ quá, từ đấy tôi khôn dám ghẻ nữa.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
103. Cây Hồ Gươm


Hồ Gươm đượm vẻ đẹp gọn xinh, không dáng dấp mênh mang như hồ Tây.

Tưởng như một lúc nào đấy, đương giữa người người nô nức chen chân nơi đô hội, ở Hàng Giò, Hàng Khay ra, ở Hàng Đào, Hàng Trống dốc xuống, hốt nhiên gặp một ánh nước thoáng như cái chớp mắt của ai xanh biếc.

Hồ Gươm đấy.

Nắng nghiêng bóng đưa những hàng dâu ngày xưa hắt vào chấm đến cầu Thê Húc, không phải một thời thơ khoa trương, mà tôi hiểu người xưa miêu tả cái khác thường của quần thể hồ Gươm, những nét riêng ấy chỉ dành cho khách biết yêu hồ.

Có hôm trời quang, đứng bên tam quan đền Bà Kiệu, trông lên phía tây trên làn sóng mái nhà nhấp nhô Hàng Gai, Cầu Gỗ, thấy in hình màu lam huyền của ngọn núi Ba Vì.

Thế là người ven đường chẳng còn nhớ đương trong nơi phồn hoa, hay ở giữa cây và nước quanh mình mà với lên liền đến trời núi xa kia.

Nhớ hồ Gươm, bao giờ tôi cũng trở lại tuổi thơ tò mò, ngây dại, say mê với những trò chơi đếm cây, đố lá, mỗi cây mỗi quả, xem các mùa đổi lá, mùa ra hoa không khi nào chán.

Làn cây ven hồ Gươm như làn mi, như ai dướn đôi mày.

Không thể nghĩ cái đầm nước tuyệt vời ấy lại vắng làn mi những rèm cây.

Những hàng cây xung quanh hồ Gươm có một nền nếp riêng từ xa xưa.

Thành phố Bắc Kinh xanh mướt cả dặm đường những hàng lệ liễu trập trùng mấy chục cây số ra các phía ngoại thành.

Và những con đường trung tâm toàn những cây hòe cổ thụ.

Cây cối hồ Gươm của Hà Nội thoạt nhìn không ra thể thức nào, nhưng để ý kỹ sẽ thấy được một lề lối không giống đâu của mỗi bóng cây bóng nước.

Có phải cây hồ Gươm đã được trồng lên từ trong những chuyện cổ tích.

Ông lão nào như ông lão đeo ống tranh cô tiên Giáng Kiều từ đằng cầu Đông đi xuống nghỉ chân bên hồ đặt một chiếc giành đất cây giống xuống đất.

Có khi cây được trồng vào độ mưa phùn tơi đất, có khi hàng trăm năm nghìn năm mới lại gặp một ông lão.

Mỗi cái cây bên nhau mà khác nhau đều mang chứng tích lịch sử và thời gian thế vậy.

Có một lúc thong thả bước, chợt ngẩng nhìn nhận ra những cây cổ thụ hôm nay trên bờ hồ Gươm đều đã chào đời từ thế kỷ trước, không biết chừng nào ông lão đeo ống tranh Giáng Kiều quảy giành cây giống đã đem từ cửa ô chợ Dừa, ô Yên Hoa vào.

Phong tục nước ta, tuổi già có thói quen quý hóa thường trồng cây cho đời sau.

Mỗi cây hồ Gươm đều được đưa đến từ các cổng đồng, cổng làng, bờ ao, mỗi cây đem về một hình ảnh mọi miền quê.

Cây hồ Gươm!

Cây hồ Gươm!

Trong đảo Ngọc giữa hồ, những cây đa, cây si, cây sanh, cây đề và những cây gạo mà ở đầu đình làng nào cũng sum suê.

Thần cây đa, ma cây gạo.

Cái gốc gạo hiền lành, xù xì như tảng đá vì những nhát dao tước vỏ cây từ thuở trong phố còn những cột đèn dầu thắp ở các ngã tư đường thập đạo, người ta lấy vỏ gạo về làm thuốc bóp chân sái, tay gãy - những bài thuốc ai cũng thuộc.

Những cây trong đường làng thành đại thụ cũng thấy ở đây.

Những gốc lộc vừng vun lại thành một khóm mà nõn lộc vừng hái để kèm ăn gỏi cá mè, những cây sung cổ quái mỗi mùa xuân vẫn trổ lá, quả sung muối dưa, lá sung lót gói nem chạo trên Phùng nhắm với rượu gạo Mễ Trì của ba làng Mai.

Và những cây me, cây sấu vốn mọc trước ngõ, canh nấu quả me chua, nước rau muống luộc giầm sấu, sấu non đem làm chắm trẻ con nào cũng mê.

Cả những cây thường chỉ thấy trong cánh đồng trũng cũng la liệt ven hồ.

Ở những đồng sâu, đồng xa, buổi trưa ngày mùa không kịp về làng, người cày đánh trâu vác bừa, quảy mạ lên nghỉ trưa tránh nắng bên những mái cầu mái quán dưới bóng cây chôi, cây nhội, sum suê xanh già như những chiếc quạt thóc dựng đứng.

Ô hay, bất chợt vào mùa thu, hoa vông - đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết, chỉ đến mùa hoa vông đỏ khé một góc hồ mới nhớ ra, chứ hàng ngày qua dưới gốc vông, không ai để ý tới loại cây cọc rào quen mắt ấy.

Và cả những cây rừng, những cây rừng cũng tới đây, rừng Mai Châu, rừng đảo Cát Bà, ông tiên nào đã quảy về đây những cây kim giao - mà tiếng đồn ngày xưa vua chúa dùng bữa chỉ cần đũa gỗ quý bảo mạng này, bởi thức ăn nhiễm độc thì cái đũa xám đen lại.

Đừng lẫn cây mõ láng giềng với khóm cổ thụ lộc vừng.

Cây mõ chỉ ở rừng thẳm thế mà cũng thấy đứng đây.

Quả mõ to bằng quả bưởi, vô vị như quả cây sổ ven suối bọn trẻ con chỉ nhặt để vừa đá bóng vừa chơi ném nhau.

Hai tiếng hồ liễu xưa nay gắn bó với hồ Gươm, hồ Gươm hồ liễu.

Nhưng đừng ai tưởng lúc sầm uất nhất quanh hồ Gươm chỉ toàn lối đi liễu rủ.

Xưa rày chưa bao giờ có quang cảnh ấy.

Lệ liễu hồ Gươm không yêu kiều vì dặm liễu, dặm dài.

Mà liễu hồ Gươm chỉ lác đác.

Những cây liễu đứng một mình buông tóc trong gió in bóng hồ điểm trang bức tranh hồ cuối thu phẳng lặng, có hoa lộc vừng đỏ hây rơi từng cánh xuống mặt nước.

Ở bên gốc đa chỗ đầu Tràng Thi trông sang xưa kia đã xanh um, rậm rạp những bụi mây, bụi song.

Giữa thành phố mà hóa như đất trung du bán sơn địa, người ta nhớ đôi quang gánh dưới mái tranh và những sợi dây mây phơi váy áo chăng qua mặt sân lát gạch Bát Tràng.

Bây giờ vẫn còn một bụi mây quí lắm.

Nhưng tôi nhớ nhất và cho đến tận lúc này vẫn không hiểu sao bên hồ Gươm ngày trước lại có một cây ô môi, giữa mùa hạ hoa nở như hoa đào.

Cây ô môi chỉ nhiều ở miền Nam.

Chẳng lẽ đã có một lão trượng vác ống tranh cô tiên Giáng Kiều từ Gò Công, Hà Tiên đem ra một cành ô môi chiết trồng xuống ven hồ chỗ đất chỗ nước lịch sử này?

Sao lại không thể thế, khi hồ Gươm hôm nay đương đơm xôi lên những chùm bằng lăng hoa tím rừng miền đông Nam Bộ, những lão ông đeo tranh Giáng Kiều hay những bộ đội cụ Hồ trong cuộc chiến tranh vừa qua, những con người không bao giờ chết đã đem những giống cây khắp quê hương về trồng ven hồ Gươm.

Cuối thế kỷ trước, khi người Pháp vừa chiếm Hà Nội, các công sở mới mọc lên bên kia, ngày ngày công chức ở bên Hàng Gai đi làm việc, thuyền tam bản từ đầu Hàng Trống qua Tháp Rùa sang bên này rồi sau người ta mới đắp ra con đường vòng hồ chém ngang trước cửa đền Bà Kiệu.

Lịch sử đau thương quãng ấy đã sang trang rồi, nhưng còn dấu tích trớ trêu trong cây bên đường.

Ấy là cái tam quan đền Bà Kiệu đứng chơ vơ ở bờ đường bên này mà đền thì ở bên kia, ấy là những cây gỗ tếch cao lớn chỉ mọc ở rừng Thượng Lào, và những cây phượng vĩ quê ở Tân Ghinê ngoài đại dương...

Cây quanh hồ Gươm tụ hội các thứ cây của làng nước - và của thời thế.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
104. Lớp tư


Bậc tiểu học có ba lớp.

Lớp năm là lớp đồng ấu.

Lớp tư, lớp dự bị.

Lớp ba, sơ đẳng.

Lớp đồng ấu, lớp bét, lớp bét mà được tôn lên ăn số 5.

Ai bơm lên thế, nghe cũng khoái tai.

Nhưng lớp bét của tôi không xoàng đâu.

Phải biết đọc biết viết rồi mới được vào lớp năm.

Trường ở đầu ô hiếm trẻ con đi học vào còn dễ, chứ các trường Cửa Đông, Hàng Vôi, Hàng Kèn đều phải thi.

Năm trước, tôi đã thi vào lớp bét trường Cửa Đông, bị trượt đấy.

Ở cái trường Yên Phụ đầu ô này, vào lớp bét không phải thi, chỉ mất đồng bạc u tôi đưa ông hộ phố ở Quan Thánh làm giấy khai sinh giả rút xuống ba tuổi cho vừa tuổi học lớp năm.

Nhiều đứa khác, có đứa chít khăn, mặc áo the, chững chạc như người đã có vợ, một chữ cắn đôi không biết, nhưng vẫn được vào học.

Chúng nó học lỏm học mót các thằng bên cạnh quanh quẩn chỉ mươi hôm thế mà rồi nó cũng đọc, cũng viết lèo ngoèo thành đứa biết chữ.

Tôi đã học trường làng.

Ra đường ngoài phố, các đứa trong xóm xuýt xoa sung sướng hộ: ra Kẻ Chợ học, sướng chưa.

Chúng nó đâu biết nông nỗi không muốn đi học của tôi.

Tôi chẳng thích lên lớp, đổi lớp.

Mỗi năm đổi lớp, lên lớp, tôi đều khóc.

Thầy Thạch, thầy Cộng, hay thầy giáo Chế chỉ đến dạy hộ ít lâu, mà lúc thầy thôi tôi nhớ thầy, nước mắt đầm đìa.

Ở lớp bét này, tôi đã chín tuổi, tôi đã bớt lạ lẫm, bỡ ngỡ, không còn cảm tưởng cái năm học dài quá mãi không thấy đến tháng nghỉ hè.

Quả tình, cái roi da của thầy giáo Tỏi lớp bét chỉ rình quất xuống lưng cũng làm đôi khi mất vía nhưng mà rồi lên lớp tư, biết thế nào, có được bằng lớp dưới, cho nên trước nhất là ngại.

Nghỉ hè rồi đến trường vào lớp mới, tôi bùi ngùi nhớ cái lớp bét, cứ nghĩ như năm tháng xa lắm, kỳ tình cũng ngay bên cạnh.

Nhưng thầy giáo Tỏi tôi thì không còn.

Tôi chùi nước mắt.

Mỗi năm lên lớp mới, thế nào rồi cũng đến lúc quen.

Lớp tư cũng chẳng có gì đáng hãi.

Có vài thằng ma cũ không được lên lớp, phải "đúp"lại, còn thì toàn các mặt quỉ sứ ma dưới lớp năm lên như tôi.

Chẳng bao lâu, cũng thấy vậy vậy.

Quyển vở vừa đóng, mùi giấy thơm tho sướng mũi.

Nhưng lạ mắt nhất là có nhiều sách lớp tư toàn bằng tiếng Tây.

Sách tập đọc, sách cách trí, tranh phong cảnh, nhà cửa, các người lớn trẻ con đều vẽ những người tây đầm xa xôi ở đâu.

Cái cày hai lưỡi, đôi ngựa kéo, chưa trông thấy bao giờ.

Toà nhà hai tầng, nóc nhà có ống khói.

Biết nước Pháp ở nơi nào, nhưng trước lạ rồi sau cũng quen mắt, lại cứ ngỡ như thuở bé mình đã ở bên Tây, cái năm học cứ lạ lùng và quen thuộc thế...

Nhưng tôi nhớ nhất năm học lớp tư là mỗi thứ bảy, có giờ đọc giải trí, trước khi tan buổi chiều.

Những pho truyện dày mấy quyển của thầy giáo đưa ra, cũng có khi học trò ôm cả pho của nhà đến cho lớp mượn.

Cái giờ thú vị này không phải học, lại được nghe bao nhiêu chuyện, cứ mê tơi cả người, những Tam quốc chí diễn nghĩa, Tây Du, Phong Thần, Càn Long du Giang Nam, Song Phụng kỳ duyên...

Thầy giáo lớp tư của tôi tên là thầy Dzo.

Đứa nào viết giấy tờ có tên thầy mà quên chữ Z thì thầy dứ cái thước kẻ bảng vào trán bắt viết lại.

Không hiểu tại sao tên thầy lại có chữ dét.

Chẳng đứa nào dám hỏi.

Có đứa nói đùa: hẳn thầy chúng mình sợ rét, phải thêm chữ z để lúc nào cũng nhớ mặc áo vét.

Quả là thầy giáo tôi hom hem, mùa hè nóng vãi mỡ thầy cũng đóng cái áo vét ngoài cái sơmi dài tay.

Nhưng tôi bênh, thầy mặc nhiều áo thế mà không ra mồ hôi trên mặt, trên lưng áo, thầy là nhà giáo đứng đắn.

Chẳng bao lâu, tôi đã quen lớp tư, tôi bắt đầu thích thầy Do hơn thầy Tỏi lớp dưới.

Chẳng phải vì không bị phạt quì, phạt đứng úp mặt vào tường và không phải thước kẻ đánh vào tay.

Cũng không vì tôi tò mò chỉ nhìn thầy ăn mặc kiểu cách.

Bộ quần áo tây trắng, đi giày da đơ cu lơ gót vàng mũi trắng, mùa đông đội cái mũ dạ mốt săng bẻ lệch nghiêng một bên vành - dáng công tử ăn chơi.

Nhưng chỉ bởi tôi thương thầy gày kheo khư.

Lúc thầy nói, cái hầu cổ gồ ra một cục nhọn đưa lên đưa xuống, cái gân xanh xanh như quả đậu đũa nổi dài giữa trán.

Thầy giơ tay viết bảng, bụi phấn trắng mờ mà vẫn thấy mu bàn tay nổi gân chằng chịt.

Tan học, thầy bước trên gác xuống, đứng trông cho học trò sắp hàng về.

Rồi thầy ra lấy xe đạp.

Cái xe phi nhông của thầy không có phanh, lúc hãm xe phải đứng lên, hai đầu gối thầy loạng quạng đập vào khung, xe lạng đi.

Một đứa nói:

- Tên thầy có hình chữ z phải bệnh sốt rét kinh niên, ngồi xe đạp không nổi đâu.

- Thằng này láo!

Chúng nó chỉ nói hỗn, lúc nào phải sửa cho một trận mới được.

Tôi quí thầy tôi vì một nhẽ khác thường, không đứa nào biết.

Chiều thứ bảy, giờ đọc giải trí, thầy mở cái tủ đứng, lấy một quyển truyện ra đưa cho tôi.

Từ hôm ấy, tôi được đọc truyện giờ giải trí rồi suốt cả năm được đọc.

Tôi được lên ngồi ngay ngắn cạnh bàn thầy.

Quyển truyện dày xù, có trang gấp đánh dấu cái que đóm.

Chẳng có dấu thì tôi đã đọc đến chỗ ấy, tôi cũng nhớ.

Các bàn xa cuối phòng giục loạn xạ: đọc cái chỗ Chu Du hộc máu...

đọc lại... chỗ Triệu Tử Long...

Không, không, đọc tiếp...

Tôi nghiêm trang cất giọng.

Tôi cũng nghe giọng tôi, thấy như tiếng ai, không phải tôi và tôi nghe thấm thía, cả lớp cũng lặng yên.

Mỗi tuần, đọc hết một hồi truyện.

Đứa nào cũng thòm thèm.

Cả thầy giáo đều ngồi im, hình như đã hết giờ mà không biết.

Chốc nữa tan học lên đê, ném cặp, cởi trần truồng ra - để khỏi rách quần áo, vật nhau, đấu võ.

Rồi xuống chạy thi suốt mép xi măng cạp bờ hồ Trúc Bạch, vừa chạy vừa như ngứa cổ cứ kêu rầm rĩ.

Bây giờ ngồi nghe đọc truyện thì ai cũng im như không, con tò vò bay đậu vào thành cửa sổ sắp chui vào lỗ, những đứa tinh nghịch như mọi lúc cũng không đứng lên đập hay nhét giấy lấp lỗ.

Xá tội cho mày, ông còn nghe đọc truyện.

Đến chỗ "thất cầm Mạnh Hoạch" chưa, giời ơi còn gì nữa, con trâu mà cũng giỏi thế, ông Khổng Minh ơi ông Khổng Minh.

Tan lớp lên trên đê rồi mà còn bàn tán về Lưu Quan Trương đào viên kết nghĩa.

Bác bán bánh tôm cổng trường tôi sáng nào cũng quảy gánh hàng đến đỗ dưới bóng tán cây bàng.

Chúng tôi tán: trước sân nhà Lưu Bị có cây dâu ba tầng lá điềm ngày sau Lưu Bị làm vua, "Thế thì cái bác bánh tôm này ngày sau cũng làm vua nên có lọng bàng che chỗ ngồi bán hàng từ bây giờ chứ chẳng chơi.

Cho tôi ăn bánh tôm chịu nhé, được không".

Đương thế rồi lại nhao nhao chuyện thầy giáo bị cái xích xe pi nhông nghiến toạc gấu quần, suýt ngã.

Rồi lại thầy giáo z rét.

Chúng nó huyên thuyên như cố trêu tức tôi.

Thầy giáo cho tôi đọc truyện, chúng nó ghen.

Chúng nó hét hô: "Thằng Bàng Hồng nịnh thần!

Nịnh thần Bàng Hồng...".

Những cuộc giằng co cãi vã dẫn đến tan cuộc thế nào cũng chia cánh ra nện nhau một trận.

Có đứa bươu trán.

Nhưng hôm sau lại cười nói chơi với nhau như không có gì xảy ra.

Hết hè năm ấy, tôi lên lớp ba.

Trông sang gác lớp tư, thấy một thầy giáo khác mặc áo ma ga thâm, chít khăn nhiễu tây không phải thầy Do.

Thầy Do cũng không thấy ở chỗ các thầy ngồi uống nước.

Có đứa nói như nó trông thấy tận mắt "nhà tao ở gần nhà thầy, thầy ốm không dậy được, người nhà trong làng đã ra võng thầy về quê".

Những chuyện không đầu đuôi.

Nhưng tôi cũng không bao giờ biết hơn thế.

Về cái áo vét, về chữ z, về thầy giáo tôi ốm nặng.

Có đứa bảo thầy là người làng bẹp nghiện thuốc phiện nên gày ốm quanh năm.

Cái tai thầy bẹp, chúng mày cứ nhìn mà xem.

Chúng nó chỉ nói nhảm, bây giờ thì còn nhìn thầy sao được.

Tôi cũng không tin.

Tôi chỉ thấy thầy yếu, tôi mà chạy nhanh bằng cái xe đạp thì tôi cõng thầy.

Cái số tôi thế nào mà hai năm liền mất thầy giáo.

Ở lớp bét nghỉ hè rồi đến hôm về khai trường không thấy thầy giáo Tỏi.

Lại bây giờ, thầy Do.

Nhớ thầy, tôi khóc.

Nhớ những buổi đọc truyện Tam Quốc.

Một năm học, hai lần đọc cho cả lớp nghe bộ Tam Quốc diễn nghĩa.

Tôi thuộc truyện Tam Quốc từ ngày ấy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
105. Cây xương rồng


Một cây xương rồng cảnh châu Phi, Đoàn Giỏi cho tôi.

Nó là cái cục chứ không phải cái cây, nó bằng quả quýt, xanh lét, gai tơ tua tủa, như con sâu róm cuộn khúc.

Ở mặt bàn của Đoàn Giỏi còn mấy cục cây này nữa ngồi trong chiếc bát con làm cái chặn giấy.

Tôi cũng đã trông thấy bên Đông Phi, ở Etiôpi, ở Tandania, trên sa mạc mênh mông những cây xương rồng tròn xoe, nhưng có cây cao bằng người đứng, như hàng trăm con voi phủ phục giữa biển cát xám trắng.

Người ta đã nuôi nấng uốn hãm từ bé thế nào cây chỉ lớn bằng cái nấm tí hon.

Làm cho xương rồng châu Phi có thể là cổ thụ, cũng có thể là cây nước Liliput.

Ở ta, cái cây cảnh cầu kỳ thế này chẳng hiếm.

Sân trường tôi cạnh hồ Trúc Bạch có cây sung già thân ngả như gù lưng, trẻ con cứ việc bước lên, đứng ngồi mấy chục đứa cũng được.

Vỏ cây trông thật dữ dằn mà thương tâm, như mặt người bị bệnh đậu mùa sứt sẹo chằng chịt.

Nhựa sung được nhiều việc.

Người ta đẽo lấy nhựa, đẽo bao nhiêu năm, bao nhiêu đời, để lại lỗ chỗ từng thớ, như băm ra.

Tôi lại thấy cũng cây sung ở vườn cảnh Nghi Tàm, chỉ cao bằng gang tay.

Mà gốc cũng sần sùi, cũng lá rụng, lá nở như cây cổ thụ.

Lại thấy cây lộc vừng cổ thụ tí hon đứng giữa những hòn sỏi trong bát chiết yêu trên bàn phòng khách.

Không thể ngỡ được cái cây cảnh bé tẹo này cũng ruột thịt với những cây lộc vừng to đùng rợp bóng một góc hồ Gươm.

Thế mà cũng cây lộc vừng đấy, chẳng mảy may kém cạnh,

Cây gốc đại thụ được nắn, chiết ra cây cảnh, ở ta cũng khối.

Ta cũng có ối, chẳng thiếu cây xương rồng, nhưng chưa thấy đâu có cây xương rồng cảnh như những cây cảnh châu Phi của Đoàn Giỏi đã cho tôi và những cây xương rồng cảnh đương có bán nhiều ở các hàng cây xanh trên chợ Bưởi.

Giống xương rồng khỏe dễ trồng, chỉ phải cái hay trái tính như cây hoa giấy.

Nhưng chăm bẵm tưới tắm chiều chuộng thì cây giấy lại chỉ um tùm tốt lá.

Bao giờ ta có xương rồng cảnh của ta?

Xương rồng ta làm bờ rào và mọc hoang ngoài tha ma.

Xương rồng ông và xương rồng bà đều được có việc phên giậu ấy.

Cái thứ cây bờ rào, mỗi cây mỗi khác.

Bờ rào cây hồng bụt miền Trung.

Bờ rào cây dâu, cây duối, cây ô rô khắp nơi.

Ở đâu có nhà cửa thì có hàng rào.

Hàng rào khoanh cái nhà lại thành cái tổ chim, cái nhà là cái tổ của người.

Cái bờ rào xương rồng chăm chỉ cặm cụi theo công việc của người.

Ruộng nước ven đường cày cấy xong, cô thợ cấy đem đến một ôm xương rồng vừa chặt ở bờ rào trong làng.

Từng nhánh một cắm xuống bờ ruộng be nước mỏng manh như sợi chỉ.

Chỉ mai đã trổ gai ra ngay.

Cho trẻ con sợ gai không xuống nghịch nước kéo vó tôm, bắt cá săn sắt giẫm nát lúa.

Mà trẻ con ghét cây xương rồng còn quàng cho cây nhiều tội.

Nhựa xương rồng trắng như nước vo gạo, gọi là mủ xương rồng, mủ bắn vào mắt thì mù mắt, gai xương rồng cứa vào da thì sưng vù sâu quảng ngay.

Hoa xương rồng li ti vàng như bôi nghệ chảy ra nhựa độc vào tai thì làm điếc tai.

Cây xương rồng không có quả, cây tuyệt tự, chẳng ai biết, coi như không có - chúng nó bảo thế.

Nhưng đấy là trẻ con rủa cây xương rồng.

Người lớn thì thấy xương rồng được việc bờ rào.

Ngày trước, vào làng, đầu ngõ bờ tường nào cũng lơ thơ rào xương rồng.

Cây xương rồng ông mốc trắng trần trụi nhô lên.

Cây xương rồng bà xanh mỡ tõe ra ba mảnh trổ gai xếp tầng tầng.

Đến cuối làng thì gặp lũy tre kín mít.

Bờ rào xương rồng để chống trộm.

Lũy tre thì phòng cướp.

Bây giờ chẳng đâu còn lũy tre, rào xương rồng cũng biến mất, qua làng chỉ vấp mắt, vấp chân vào góc cạnh những cái lưng tường chìa ra.

Đất ở chật chội, cái bờ rào phải nhường chỗ đứng cho cái tường nhà.

Cái gì nhiều thường hay bị rẻ rúng, đến lúc khan thì lại nhớ.

Tôi vẫn nhớ cái rào xương rồng to nhất làng.

Đấy là bờ rào xương rồng bà nhà chú Cát dựng đứng như bức tường.

Nhà chú ấy chẳng có gì đáng cho kẻ trộm tạt vào khuân như chỉ làm bờ rào lấy lệ, bởi để vách áp đường cái, ai đi qua ghé tai hay nhòm khe cũng biết được trong nhà thì không nên cái nhà.

Cái rào xương rồng bà nhà chú Cát mỗi năm mỗi xanh om, chỉ có con thằn lằn khéo ẩn náu vào đấy.

Con chích bông bay qua bị vướng, cánh mắc giữa đám gai, thế là con chim chết treo.

Bọn trẻ con chỉ đứng nhìn xa xa vòm hoa xương rồng phủ vàng trên đầu cây như hoa ngây chín.

Hoa xương rồng ai ghé mũi ngửi có con bọ nẹt chui ra khoét trĩ mũi lên tận tai.

Chúng nó bảo thế.

Khiếp quá.

Càng sợ, không dám đụng.

Nhưng chúng tôi thích chơi quanh quẩn đấy.

Chỗ ấy sạch nhất xóm.

Cái giống xương rồng mà khó tính ghê.

Ngọn dền cơm cũng không mọc được quanh chân bờ rào.

Chỗ này phẳng phiu, nơi đánh đáo, chơi bi, đánh quay.

Lâu lâu, không thấy vợ chồng chú Cát về nhà.

Cái cổng rong chốt buông cả ngày.

Mãi sau mới biết chú Cát đã bán cho ông Ba Dương, dọn đi ở chỗ khác rồi.

Một hôm, cũng biến mất cái bờ rào xương rồng.

Thật khác mắt, giữa làng mà cứ chống chếnh như bên bãi Cơm Thi.

Mấy hôm sau nhà chủ mới đắp lên một cái tường đất lừng lững như con trâu đứng.

Ai mới đến, không đoán được trước kia ở đây có một bờ rào xương rồng còn dầy hơn cái tường đất.

Còn bụi xương rồng nữa.

Đấy là bờ rào xương rồng ông được các vãi nhà đền trồng vòng quanh bờ giếng đất cuối xóm.

Giếng đất chẳng khác mấy cái ao.

Người ta phải làm dị dạng để người đi qua biết là giếng nước, đừng xuống rửa ráy mà phải tội.

Khác cái ao vì có bệ thờ đầu bậc đá.

Cái bệ bên cây duối, buộc một ông bình vôi.

Nhác trông thấy cũng biết chỗ có ma.

Trong giếng thả bèo tổ ong xanh mát, mặt nước chỉ hé một khoảng chắn cành giong lấy chỗ vục thùng.

Nhưng trông mặt nước biết sao được nước ao khác nước giếng, cũng là làm phép cho yên tâm.

Thuở ấy, cả thành phố cũng ăn nước giếng đào trong nhà, dãy phố Bờ Sông thì quảy nước sông Cái đục đỏ về đánh phèn cho nước trong, thế là thành nước thổi nấu, nước uống.

Cũng như ngày trước làng Đại Hoàng quê Nam Cao không có giếng, cả làng ăn nước ao.

Nửa đêm mới ra tận đầu cầu ao kín nước.

Bảo nửa đêm nước đã lắng, lấy nước giữa ao càng sạch.

Những cây xương rồng ông mọc đứng như cắm hàng que khít quanh bờ giếng.

Con chuồn chuồn tương bay thấp báo mưa bão cũng không lọt qua được khe xương rồng ông lủa tủa lông gai trắng mờ như mạng nhện.

Trẻ con mà mó phải xương rồng ông, không nhể ra được, có thể thành nhọt buốt không biết đến bao giờ mới khỏi.

Một buổi trưa nắng to.

Cụ Trương đi bắt cua.

Những đám ruộng ngoài lũy tre đã nên xóm mới, xóm đồng cả.

Hay là bây giờ cua tránh vào ở hang hốc giếng đất.

Nắng to thế này, con cua con cáy sợ nước nắng nóng.

Cụ lẩn thẩn ra giếng.

Buổi chiều, có ngưòi trông thấy cái lưng áo thâm lập lờ mặt nước.

Vớt lên thì ra là xác cụ Trương.

Không ai nghi cụ ấy trẫm mình.

Nhà chỉ có hai cụ già cả tháng chẳng nghe nói to, mà cũng không một điều tiếng với xóm giềng.

Cụ ông mới mất.

Đến lúc thấy cái túi trong búi cỏ, lăn lóc ra mấy con niềng niễng, con ốc vặn thì đoán cụ đi mò cua, mò hến.

Chẳng may sảy chân.

Cũng là ma đưa.

Những cái giếng hay có ma run rủi người ta đi một mình cứ thơ thẩn xuống.

Ngày trước, cái ao đền trong kia cũng có ma.

Từ hôm ấy chẳng ai dám ra giếng lấy nước.

Rồi làng lấp cái giếng đất, bờ rào xương rồng ông vòng quanh lụi đi lúc nào không biết.

Cái cây cũng có số phận, cũng rủi may.

Như ngày xưa phận người con gái như "hạt mưa sa".

Cây húng quế, húng chó ta hái vào để xó chạn làm rau thơm ăn thịt vịt, tiết canh, nhưng cây húng chó ở Nam Mỹ, ở công viên thủ đô A đi Ababa, mọc thành những bồn cây hoa húng tim tím, người dạo chơi trong mùi thơm hoa húng một vùng.

Bây giờ làm nhà xây tường, bờ rào xương rồng chẳng thể mọc lại, chẳng ai cần đến cây xương rồng.

Nhưng xương rồng vốn khỏe, xương rồng vẫn mọc ngay giữa Hà Nội mà chẳng ai để ý.

Một cây xương rồng ông trước cổng nhà cạnh phố Huế, một cây ở đầu ngõ Trung Yên, cả hai đều cao to như cây bằng lăng đứng một mình, um tùm, lủa tủa lên.

Thế đấy.

Ước sao có ai khéo làm những ông bà xương rồng to lớn kia hóa ra cây cảnh be bé như cây xương rồng châu Phi thì hay đấy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
106. Tháng củ mật


Sao lại tháng, sao lại củ mật, củ mật thế nào - ba chữ "tháng củ mật" sinh ra từ bao giờ.

Một thời những nghe nói đến đã rợn gáy.

Tháng củ mật không có ba mươi ngày rõ ràng, tháng củ mật áng chừng vào một ngày áp Tết.

Tháng củ mật, từ quê ra tỉnh, trộm cướp như ong, người người giữ nhà, giữ của, giữ mình.

Đêm đến, trước cửa rắc chông chà, sắp sẵn tay thước, dao bảy, đinh ba, gạch củ đậu.

Mỗi đầu xóm một điếm canh, bày ra cái giá cắm câu liêm, thùng lùng, cái tù và treo lủng lẳng cạnh mảnh nan tre ba góc cắm lên làm cờ hiệu điếm gác.

Trai tráng đến tuổi mười tám, tuổi đóng thuế thân, bác khán thủ gọi ra làm tuần, cắt lượt ngồi canh, đi dẻo đêm ngoài lũy.

Tiếng trống mõ, tiếng ốc từ chặp tối.

Nghe xa xa ngũ liên nổi lên.

Cuối cánh đồng, không biết nhà cháy hay kẻ cướp bật hồng, sáng rực.

Cướp về đốt xóm Đồng rồi.

Thế là các nhà đóng sập cổng.

Bọn tuần đinh xanh nhác cất hết giáo mác, tù và bỏ điếm canh, lủi cả.

Đấy là những quang cảnh và lo sợ tháng củ mật.

Trong khi suốt ngày không dứt đám cãi nhau, những nặc nô, khách nợ đi thúc nợ, những đám Tây đoan, lính đoan đi bắt rượu, bắt cái đỉnh đồng, mâm nồi, cả bàn thờ, người van lạy, người trốn chạy, cứ léo nhéo, inh ỏi sôi lên.

Những thương tâm lúc năm cùng tháng tận, câu chuyện tôi kể đây chỉ là một chuyện vặt ủng oẳng luẩn quẩn trong muôn vàn lung tung loạn xạ tháng củ mật.

Ở làng nội tôi.

Mùa này, ngoài đồng sâu dưới đìa, đã cạn kiệt, nổi lên lô nhô gò đống lầy lội.

Những đàn cày, chuột cống thu mình rúc đi đâu.

Những con ếch nhịn đói ngậm hơi ngồi suốt mùa đông sau cái mà đất.

Những con chạch, con trê quanh năm ở giữa vùng lầy lội, bây giờ đất nẻ hanh hao, chui xuống sâu hơn vào bùn khô, đợi khi có mưa rào đầu mùa mới ngoi lên.

Cả những con cua cũng lảng đi đâu, cua sợ rét cũng bằng sợ nắng.

Thỉnh thoảng, một con rắn, không biết rắn mòng, rắn nước hiền lành hay con hổ lửa, mai gầm loằng ngoằng thoáng qua.

Gió thổi hun hút xám ngắt.

Nhưng chỗ bờ đìa lại là đất kiếm ăn cho những người khốn khó đi tìm cái Tết giữa đồng sâu.

Cả vùng bùn đất bị bới lên, các ngóc ngách đều moi tới như ruộng cày vỡ, người lớn trẻ con lội ỳ ọp.

Con rắn mòng ngơ ngẩn lúc nãy đã bị tóm cổ.

Chú Nhót đeo áo tơi, đội nón mê lúi húi thúc lưỡi mai xắn bùn đến quá trưa.

Gặp may, rớ được tổ chạch.

Những con chạch đi đàn trườn bụng vàng ễnh, giống chạch chấu này ngạnh dài như ngạch cá trê.

Chẳng mấy lúc đã bắt được giỏ đầy.

Bây giờ mới thấy rét buốt.

Cái bụng móp càng thấm thía.

Chú Nhót lên trên gò, vơ đám rác đốt sưởi.

Khói muốn chết sặc, nhưng đỡ cóng, được ấm hơn, vì khấp khởi được cái ăn đã chắc trong tay.

Nồi cá kho, nên thì con trắm con chép, không thì con chạch cũng được rồi.

Mà xem ra mớ này nhiều có thể lên chợ bán bớt đi được.

Ông Ách đi qua.

Tên ông ấy khác, người ta hay gọi là ông Ách.

Ông còn một tên nữa, nhưng trẻ con chỉ dám réo lên với nhau đằng sau lưng ông Ách.

Ngày trước ông ấy đăng lính sang Tây, chẳng biết ông Ách là quan hay là lính.

Chỉ biết ông Ách không phải lý đương, lý hào, cũng không trương phiên khán thủ.

Nhưng ra đến đường cái là phất phất cái roi mây buộc sợi dây da trên đầu, ông bảo bên Tây người ta gọi là cái "cặc bò".

Cứ làm như chánh, phó lý không bằng.

Đương đi, ông Ách thấy khác mắt, đứng lại, nhòm nhòm, rồi nói bô bô.

"Bên Tây người ta phải canh gác thế mới nghiêm".

Không ai nói lại.

Từ bao giờ, ông Ách có cái tên là chó Tây.

Chó tây, chó lài nhông nháo, con chó thì mới thế.

"Chó ta, chó Tây, êu êu!"

Ông Ách ghét trẻ con.

Chưa chắc đã vì ông biết chúng nó chửi ông chó Tây.

Ông nói: "Ở Tây quí cái cây hơn thằng người.

Đứa nào trèo cây, bị đét ba roi rồi phạt tiền.

Tao đánh thằng trèo cây đấy".

Nhưng ông Ách cũng chẳng tóm được đứa nào trèo cây.

Những đứa bẻ trộm nhãn thoáng thấy ông từ xa, đã nhảy xuống chạy mất.

Ông Ách chửi vung lên.

Phải hôm rượu rồi, người nào đi gần, ông vụt.

Thỉnh thoảng, ông Ách lên huyện, lên tỉnh hay đi đâu, ông hét: "Tao đi lĩnh bổng bên Tây gửi".

Ông Ách có tiền Tây nuôi, thế thì ông làm chó Tây, phải rồi.

Đứa nào cũng nói đích xác thế.

Trẻ con cứ vừa sợ, vừa ngại, vừa thích.

Rỡn với ông thì hãi cái roi cặc bò, nhưng mà cứ thích rỡn.

Chú Nhót đương co ro trước đám khói cỏ khô.

Đứa nào?

Tháng củ mật, kẻ trộm người thiên hạ đào tăng xê nằm đợi đêm vào làng khoắng, phải không.

Phải át tăng xương.

Nhưng mà...

Thằng Nhót.

Nhót trông thấy ông Ách cũng khó chịu như cái lúc ông Ách tưởng nó là kẻ trộm lúi húi đấy.

Cái lão chó Tây, gặp chỉ xúi quẩy.

- À, đào lươn hả?

- Chạch.

- Nhiều không?

Ông Ách đã lôi giỏ chạch của chú Nhót để bên áo tơi.

- Cái này nướng chấm tương gừng nhắm được.

Bán cho tao.

- Không.

- Tao trả tiền.

Rồi ông Ách nhấc cái giỏ chạch, quàng ngay vào đầu roi.

Chú Nhót nhổm lên.

- Ấy, ấy...

- Tao ra điếm xem thế nào.

Đêm qua chẳng nghe trống canh mõ gác gì cả.

- Ông giả tôi.

- Mày về bảo bà lão ấy đưa cho một hào.

- Không.

- Một hào mười xu đồng, ăn hai mươi chinh Khải Định.

- Tôi không biết.

- Ông quất cho một trận bây giờ.

Cái đìa này là đất làng, mày đào bới đã hỏi ai, hỏi tao chưa?

Chú Nhót không dám đuổi theo.

Có thể bị roi.

Mà chắc đâu lão đã trả.

Lão này chày bửa có tiếng.

Mất toi giỏ chạch rồi.

Nỗi bực dọc và cái đau mất của khiến chú Nhót lú lẫn, mụ mị, chỉ nhớ câu "Về bảo bà lão", chú Nhót bần thần về.

Về đòi tiền, về đợi lão.

Nhà lão kia rồi!

Lay một cái, đã bật chốt, dựng cổng tán lên.

Không thấy bà lão Ách.

Ba gian nhà vắng teo.

Đốt cái nhà này bây giờ cũng không ai biết.

Lão Ách nói lừa.

Thế thì phải đốt nhà nó, đúng quá.

Ừ, đốt cái nhà, cho lão Ách ra ở điếm, lão chết rét.

Nhót vào bếp thổi đống rơm.

Nhưng Nhót trông thấy một con gà choai.

Con gà để ăn Tết.

Có khi lão cũng mới thón được con gà của nhà ai.

Mà con gà đứng trong cái nơm khoác khố tải như mặc áo bông.

Ông đây cởi trần đóng khố mà gà của mày được mặc áo ấm tốt thế á?

Chú Nhót bước tới, thò tay vào nơm bóp cổ con gà.

Hai chân gà quào mấy cái thì nhuôi ra.

Con gà đương đói hay rét mà chóng ngoẻo thế.

Chú Nhót chạy cung cúc, con gà lúc lắc trong mảnh áo tơi trước bụng.

Cả xóm vắng quạnh.

Có lẽ hôm nay rét cóng cá, các đám đòi nợ đã chui vào trong nhà cãi nhau hay giạt đi đâu.

Chú Nhót vùi con gà chết vào đống rạ cạnh bờ rào.

Ông Ách cầm cái roi lật đật tới.

- Mày bắt trộm con gà nhà ông?

- Không.

- Có thấy mụ điếc ở nhà không?

- Không biết.

- Mày đã vào nhà ông chưa?

- Chưa.

Ông Ách nghiến răng bật hai quai hàm.

Ông Ách nhìn quanh cái lều.

Mảnh sân đất không có người qua lại, rau sam mọc bên những đống cứt giun đùn.

Bức vách sau mất hết dứng toang trống hốc.

Ông đầu rau, cái niêu đất cũng không.

Chẳng chỗ nào nhốt được con gà.

Ông Ách gào lên:

- Mày ăn trộm hết của ông rồi!

- Tôi không biết.

Ông trả tiền tôi giỏ chạch.

Ông Ách ngửa mặt, giơ cái roi, quát lên trời: "Ông giết con mẹ điếc!

Ông giết con mẹ điếc!".

Rồi ông Ách hầm hầm chạy ra.

Chú Nhót toan đuổi theo nhưng nghĩ lại thôi.

Thế là Tết này đã có nồi thịt gà kho.

Hãy biết thế.

Tháng củ mật!

Tháng củ mật!

Đầu làng cuối chợ, những trộm vặt, ăn cắp lẫn nhau, xó xỉnh nào cũng ỏm tỏi cãi cọ, đòi nợ, chạy nợ.

Chặp tối, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng tù và đầu đồng cuối đồng.

Nửa đêm, trống ngũ liên thúc rùng rợn.

Lại có đám cướp về làng nào.

Giữa những khủng khiếp, hốt hoảng, năm hết cũng như hết đời, lổn nhổn vẩn vơ những chuyện chú Nhót, ông Ách ...
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
107. Cây và hoa


Trong làng, những ngôi chùa, ngôi đình, am miếu, văn chỉ và cả mỗi xóm, mỗi nhà cũng có cách thức chỗ ngồi đứng rành rõ hẳn hoi.

Các nhà khá giả, các người chức việc cơ ngơi đều tụ hội ở giữa thôn sầm uất.

Xung quanh làng, những chân ruộng cao ngoài lũy tre thành cổ xưa, ấy là các nhà đông nhân khẩu ở trong này con cái ra ở riêng.

Những cái tên cũng biết đấy là xóm mới: xóm Nước, xóm Đồng, xóm Bãi...

Người thiên hạ ngụ cư chỉ được ở đầu làng, rìa làng.

Nhà cu mõ tha phương cầu thực đến hầu làng phải ở khuất ra một khoảng, cái rơm cái rác thì không được gần nhà ai - thằng mõ, bố đốp hèn hạ dưới cả chân bạch đinh.

Chẳng những phân biệt được cái nhà, cái cổng ngõ, mà đến cây cối cũng có ngôi thứ.

Cây cao bóng cả được tiếng là thiêng, đã thành tục ngữ: thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề.

Chẳng ai trồng cây đa, cây đề trong sân, trước cửa.

Cạnh sân đình là bên sông Tô Lịch có cây đa hai gốc cổ quái không biết là bao nhiêu tuổi tác, dễ từ khi dân chài dưới sông lên làm nhà trên bãi rồi trồng cây đánh dấu đất, đã cả nghìn năm nay, cái thuở sông Tô Lịch ra ngã ba sông Thiên Phù, trên bến Giang Tân tấp nập đò giang.

Nghiễm nhiên cây đa đã nhìn thấy cả những đời trước.

Cây đa thần, các bà lão đem chiếc bình vôi lành, bình vôi sứt đến treo trắng lốm đốm chòm rễ đa.

Cũng không nhà nào trồng cây gạo đầu cổng.

Làng tôi có hai cây gạo cổ thụ, một bên bãi Cơm Thi, một cây dưới ngõ Noi.

Hoa gạo đỏ ối mùa hạ, màu đỏ rờn rợn thế nào.

Con quạ làm tổ trên cây, nghe tiếng quạ kêu, người ta nhổ nước bọt "phỉ phui" chửi một câu: cha tiên nhân mày.

Con cú, con quạ, con diều hâu, con chim lợn, những quân đáng nguyền rủa chỉ ở quanh trên cây đa, cây gạo.

Tiếng kêu ngày, tiếng kêu đêm đem đến điềm gở.

Nhà táng đám ma khiêng từ cổng làng xuống đến gốc gạo ngõ Noi, ông chấp hiệu xốc áo giơ cao hai tay hướng trước nhà táng gõ một hồi sinh làm hiệu cho trai làng hạ đòn nghỉ tay.

Chặng nghỉ có ý nghĩa, cái xác giờ còn nằm giữa mọi người, lát nữa đã ra tha ma trong đồng.

Từ đấy tiếng khóc đưa ma càng thảm thiết, các vãi già đội cầu nam mô kể kệ liên hồi.

Một lát sau, trầu nước xong, lần này tiếng sinh của ông chấp hiệu gõ dài hơn, dóng dả hơn, những người đô tùy nhấc lên vai đòn khiêng nhà táng chặng cuối đường.

Đưa người chết về đường ma, người làng bảo cây gạo ấy có con ma to, cây gạo đã nhìn xuống biết các đám ma đã mấy mươi đời rồi.

Cây đa, cây gạo, cây si, cây sanh, cây đại không phải cây ăn quả, chẳng trồng trong vườn.

Không cây nào chiếm chỗ những cây gốc đề đứng trước đình đền, chùa chiền và các ngã ba ngã năm, bên các cầu quán giữa đồng lấy bóng mát cho người đi đường nghỉ chân.

Những cái cây có tuổi thọ gấp bao nhiêu đời người, cho nên phải trọng thị - sống lâu thế phải tại sao chứ, tại sao ấy không cắt nghĩa nổi, thế là những cái cây thành ra có hồn ma.

Mùa hè lắm bệnh, cúng kỳ yên vảy cháo hoa vào bờ bụi gốc đa - khấn gọi những cô hồn, ma đói ma khát ẩn náu trong ấy rủ nhau ra mà húp cháo thí.

Trẻ con bị nhọt đầu đanh, người lớn đau răng ngậm nước vỏ gạo, phải thắp hương vái lên cây rồi mới cầm dao đẽo.

Chặp tối, trong gốc đa gốc gạo nghi ngút khói hương.

Cây trong sân vườn cũng không đứng ngồi lung tung, đâu có chỗ đấy cả.

Cây cau thong dong trước sân trang điểm vẻ đẹp nếp nhà đầm ấm yên vui.

Quả cau là đầu câu chuyện hoa cau thơm ngát suốt đêm.

Cây ăn quả trong bờ rào vườn, cây ổi, cây nhãn, cây cam sành, cam đường, chanh yên.

Cây bòng ven ao, bóng quả bòng trĩu xuống mát bóng nước.

Cây bàng thì tống lên ven đe.

Cũng không ai trồng cây chuối, bụi chuối trước nhà.

Chuối mắn có lứa quả năm một, bán được tiền, nhưng cây chuối chỉ được một buồng một vụ rồi chặt bỏ.

Ai cũng kỵ trồng những cây đời ngắn ngủi trước mặt nhà.

Như cây xoan to cao thế, nhưng xoan chỉ vài năm đã được hạ xuống lấy gỗ làm nhà thì phải ở vườn sau.

Cũng như cây mít, dẫu cho cây mít tuổi thọ cao đời cha trồng đời con lấy gỗ, nhưng đằng nào cũng có ngày ngả cây, xẻ ra làm cột nhà, làm cánh phản, đóng cỗ hậu sự, cũng không mấy ai trồng cây mít trước cửa.

Cây bị mọt, bị nắng táp, chết đứng, gió xô gẫy cành đều là điềm gở, là tai ương...

Trong cung vua phủ chúa, các dinh quan lớn và nhà phú hộ, phố phường phồn hoa Kẻ Chợ trồng hoa chơi hoa cũng khác nơi thôn ổ.

Trong làng ít chơi hoa cắm, hoa lọ- không kể hoa cúng đặt lên cái đĩa hoa hồng ta, nhánh hoa sói, cúc vạn thọ cạnh bát nước mưa tinh khiết trên bàn thờ, người ta ưa hoa ở bụi hoa, hoa tự nhiên trong vườn.

Không ai ngắm hoa trong nhà cả tháng cả năm, phong tục cành đào tết cũng không phải lối chơi cổ.

Bàn thờ, án thư, bàn nước, cành hoa không có chỗ.

Tôi không tin có thật cái cành đào của vua Quang Trung báo tiệp đã cho ngựa hoả tốc đưa từ Thăng Long vào Phú Xuân.

Không chơi hoa, mà bày quả.

Bàn thờ ngày tết, mâm ngũ quả đặt giữa, nải chuối xanh, quả bòng, quả phật thủ xung quanh mấy quả cam Canh, cam Cáo đều bày chẵn chục, chẵn đôi.

Dưới gầm phản chồng đống hàng chục quả bưởi đường vàng xuộm mà người đi lễ thoạt vào đã thấy , thế mới ra nhà phong lưu.

Bên trái bàn thờ, tựa vào vách dựng cao sát tường nhà những cây mía tím to như cây nứa ngộ.

Mía ông vải, mía làm gậy chống để ông vải ngày giỗ chạp, tết nhất về với con cháu.

Trong lọ độc bình, nhà nho nhã chơi một cành hoa trà đỏ.

Còn thì hoa trà nở trên cây ngoài vườn vẫn đẹp và bền hơn

Cửa đình, vườn chùa, hoa đơn nở, hoa cúc vạn thọ vàng xuộm.

Ngoài sân, cây đào phai bát ngát hoa bên chum nước.

Đàn chim sâu bay trong cây ra đụng hạt sương làm cánh đào rơi.

Ở nhà cụ đồ có chậu lan địa, hoa nở tím thơm ngan ngát- điềm tốt lành năm mới.

Cuối vườn, luống cải hoa vàng li ti như bướm bay.

Ngắm cây hoa vườn cũng là một thú chơi.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
108. Cô Ba Tý


Con dơi nửa con chim nửa con chuột

Nửa là ngày, nửa là đêm

Con cú nửa sáng nửa tối

Con gà gáy gọi mặt trời về khâu đêm vào ngày...

Những câu kệ đạo mẫu đã nghe như kể về từ thuở bé, ngẩn ngơ đến thế nào chẳng hiểu được, chỉ có thể ví như lời tráng ca hoang dã sâu thẳm ý nghĩa của các dân tộc ở Tây Nguyên.

Chuyện đồng bóng, trẻ con chúng tôi xem như đùa cợt và tò mò, gần gũi mà lại xa vời, phải vậy mà không phải vậy, như mỗi khi được ra Kẻ Chợ.

Dạo ấy, tôi chưa ra học trường Yên Phụ, tôi chưa đến tuổi lên mười.

Mỗi lần ra thành phố lại thấy một cái lạ chưa biết.

Huống chi, mỗi lần đi với một người khác nhau cho đến khi tôi biết đi một mình.

Dì Năm đi bán lụa, có hẹn với thầy Lâm thì dì cho đi xem tuồng Tàu ở Hàng Buồm, hay lên Bách Thú vắng vẻ tránh nhỡ gặp ai quen.

Ở Bách Thú có con khỉ độc biết khinh người, trông thấy người thì khỉ nhăn nhó gãi đít.

Được xem ông hổ, đứng trước mặt hổ mà không sợ mảy may, hổ chỉ gầm gừ đi đi lại lại bên trong chấn song sắt.

Chỉ sợ khi ngắm cái cửa cánh gỗ quay ở hiệu Mêtôbôn, thấy người ra vào bước không nhanh thì cánh cửa hất văng đi.

Lại sang vườn hoa có những con cóc bằng đồng ngồi phun nước trong bể như trẻ con đái...

Chỉ với u tôi đi bán giấy thì rộng cẳng hơn, vào chợ Đồng Xuân ăn nem Sà Goòng rồi xuống nhà cô Ba Tý, đã mấy lần mà vẫn không chán.

Nhà cô Ba Tý ở phố Hàng Bạc.

Tàu đỗ dưới Bờ Hồ hay trên cửa chợ Đồng Xuân, chỉ mấy quãng hè thì tới.

Người ta gọi là cô Bé Tý.

Những người lấy Tây, sau lưng gọi mỉa mai là con me Tây, trước mặt thì bằng cô - cũng vẫn là mỉa mai ý rằng mày cưới xin ở đâu, tao không biết thằng ngủ với mày là thằng nào, thì tao chỉ gọi mày là cô, suốt đời mày là bà cô ông mãnh thôi.

Người vùng tôi không gọi cô là Bé Tý mà là cô Ba Tý.

Cũng có thể đúng, vì cô không bé tý chút nào, cô người thấp đậm, mắt híp, đánh phấn trắng phốp cả hai mu bàn tay, cái mặt phèn phẹt, giá cắm hàng ria vào thì cô ấy thành đàn ông được.

Hai bên vỉa hè các nhà đều mở cửa hàng.

Nhà cô Ba Tý ở góc ngã tư giữa phố thì khác.

Trong vườn, chắn hai khúc tường cao, lúc nào cũng có người vào xem.

Vợ chồng người lùn canh cổng, chồng và vợ cao chưa ngang người tôi, mà mặt già bằng u tôi, như là người giả.

Chồng diện bộ quần áo chúc bâu trắng, hai bàn tay kẽ ngón cóc cáy như ghẻ ruồi.

Người vợ lũn chũn hơn, cái váy chồi nâu cũng như của u tôi.

Hai người đi ra đi vào, không nhìn ai, nhưng chắc là biết ai cũng đương nhìn mình.

Người xúm xít ra vườn.

Có cái chuồng lưới sắt nuôi gà, những con trống con mái, con trắng con tía, cũng như gà ta, mà lại không giống gà ta.

Con thì ba chân, con bốn chân, những cái chân kẹ lủng liểng móng sắt treo bên ống chân to, trông đến ghê mắt.

Chuồng đằng kia nhốt con lợn hai đuôi tõe ra, hủn hoẳn ve vảy.

Khắp bờ tường treo một dãy lồng quả vả nuôi chim gáy.

Mỗi lúc có đông người, bác lùn lại làm hiệu giơ tay, thì trong cả chục chiếc lồng, lũ chim rướn cổ gáy cúc cu....cúc cu... như những cái đồng hồ quả lắc, đến giờ cùng đánh chuông thánh thót.

Những trò chơi ấy kéo người đến xem.

Nhưng tò mò hơn cả là, ai cũng muốn lên gác.

Tôi cũng thế.

Chắc nhiều cái còn lạ hơn.

Cô Ba Tý ở trên gác, thỉnh thoảng xuống nhà dưới.

Cô đi thong thả.

Ai chào "lạy cô ạ", cô thưởng cho đồng chinh nửa xu, trẻ con bâu lại nhao nhao chào.

Gọi là ba, cô người thứ ba trong nhà hay ngày trước cô lấy quan ba Tây nên gọi nịnh theo chức quan.

Nhà gác, giữa thờ ba tòa thánh mẫu, cô hay ngồi đồng.

Cái mặt người đồng bóng lúc nào cũng bự rự, thờ ơ nhìn đi đâu, kể cả lúc đương nói chuyện với người ta.

Tôi cũng đã nhòm trộm, có hai con thanh xà, bạch xà há mồm thì lưỡi quấn hai bên cột nhấp nhoáng giấy trang kim.

Ở làng tôi những người đồng bóng, người điên, người dở hơi, cũng tương tự.

Người này không ai giống ai, nhưng đều hay chơi với trẻ con và cũng cái mặt lừ lừ đi chỗ đông cũng bằng chỗ không người, chẳng để mắt đến ai, như đương theo đuổi điều gì.

Bà tôi bảo những người ấy mình cao số nặng, giời đầy thế.

Cô Ba Xây, lúc nào cũng đứng dang hai tay quay quay.

Đuôi con mắt chăm chú đuổi theo hai cánh tay, không biết lũ trẻ con đã vây quanh.

Cánh tay cứ lia vun vút sắp đâm vào chúng tôi.

Chúng tôi luống cuống giạt ra rồi chạy tan tác.

Sợ không đứa nào dám trêu cái chong chóng câm ấy nữa.

Cô đồng Bãi thì bỏm bẻm nhai trầu đỏ xạm vết sẹo xiên lình hai bên hốc má.

Gọi là cô đồng, nhưng cô là đàn ông, chỉ có hai tay đi ve vảy như đàn bà.

Mỗi lần vào nhà tôi, cô xuống bếp lục nồi cơm nguội.

Khi về, bà tôi còn xúc cho một bát gạo.

Cô đùm gạo vào cái vạt con.

Chúng tôi đuổi theo, hất túm gạo lên, cô cũng mặc, cái vạt áo nâu dài lủng lẳng trước đầu gối.

Đến cô đồng Đáo thì lạ hơn mà cũng quen hơn vì đồng Đáo chỉ bằng tôi hay hơn tôi một đôi tuổi.

Mọi khi nó vẫn đánh quay, đánh bi ngoài cửa đình.

Nghe người ta kể Đáo phải một trận ốm, rồi thành cô đồng.

Không biết đồng cô thế nào, chỉ thấy biếng đi chơi không như mọi khi.

Đáo mặc áo cánh nâu bịt tà.

Đáo nhai trầu, mắt lúng liếng nhớn nhác, thấy trẻ con trêu thì chỉ chực chạy.

Nhiều đứa táo tợn hò nhau đuổi theo đòi vật ra xem thằng Đáo đã thật hóa ra đồng cô chưa.

Nhưng Đáo vẫn chơi với tôi, hiền lành.

Tôi có cảm tưởng Đáo không phải là trẻ con - nó có trẻ con đâu nữa, đêm nào nhà nó cũng gõ tiu gõ cảnh cheng cheng lên đồng, các bà các cô kéo đến lễ đông lắm.

Tôi xem ngồi đồng cũng hay hay như trẻ con đùa nghịch.

Buổi sáng, đến rủ Đáo đi chơi, Đáo đi ngay.

Chúng tôi nằm bãi cỏ bãi Cơm Thi bên kia sông.

Đáo bắt chân chữ ngũ, hát véo von.

Không biết Đáo nhặt những câu hát ở đâu, chẳng hiểu nghĩa thế nào, Đáo dạy tôi hát theo, Đáo bảo:

- Mày đi làm cung văn được đấy!

Mạch chỉ huyền chung tú

Được xứng tình diễm thú mừng thay

Đáo ngọ ngoạy năm đầu ngón tay, múa dẻo.

Khen ai khéo họa dư đồ

Trước sông nhị thủy, sau hồ Hoàn Gươm

Hí Hí... tùng hí hí...

Chúng tôi đùa giỡn giữa nơi thanh vắng.

Cho nên, tôi chẳng lạ cái mặt người dở người, người đồng bóng, lầm lì như không biết có ai trước mặt.

Lần ấy, đến phố Hàng Bạc, trông thấy cô Ba Tý đi đâu về.

Nón chóp bạc sơn quang dầu vàng bóng.

Cô ngồi chễm chệ trên cái xe nhà gọng đồng sáng chóe.

Người kéo xe, bắp chân quấn xà cạp điều.

Cô chít khăn nhung xanh, hai má chảy xị, con mắt híp lừ đừ.

Ăn mặc sặc sỡ thế mà đã ra vẻ sắp hấm hứ đồng Bãi, đồng Đáo rồi.

Bà tôi ở nhà thường kể chuyện về cô Ba Tý đồng bóng, cô ấy nặng cân lắm, toàn ngồi giá mẫu.

Bà lại kể ngọn nguồn cô Ba Tý giàu có, có vườn nuôi các loài như vườn Bách Thú.

Ngoài Kẻ Chợ có cô Ba Tý và cô Tư Hồng, hai cô người nhà quê ra đánh đĩ lấy Tây, bòn rút được nhiều của lắm.

Ông cố Hồng, cố đạo Tây có tên An Nam, ông cố Hồng mê cô Tư.

Cô Tư sai ông cố đem áo thụng đen trả nhà thờ thì cô mới lấy.

Đến khi cố Hồng bỏ đạo về bên đời lấy vợ, thì người gái nạ dòng kia khi thành tên Tư Hồng rồi lại cho rơi luôn ông cố giả cày, cô cướp của lão cố đạo dãy nhà tây hai tầng vừa sang tên làm của hồi môn ở phố Hàng Chĩnh, ở ngõ Hội Vũ.

Cô Ba Tý đi khuân của Tây, Tàu khắp thiên hạ còn hơn thế.

Làm gái đĩ bợm nặc nô thời này có ghê không.

U tôi bán giấy trên phố Hàng Đường.

Hè phố qua trước chợ Đồng Xuân đông quá, tôi sợ lạc cứ nắm giải yếm u. lõng thõng chạy theo.

Thế mà đôi lúc vẫn bị người đi ngược chiều chen bật ra.

Chẳng mấy lúc đã tới đầu Hàng Bạc.

Hai u con mua bát nước gạo uống cho đỡ khát, ngồi ráo mồ hôi rồi mới vào xem nhà cô Ba Tý.

U tôi cầm cái nón chuông phe phẩy bên cạnh cổng vào.

Tôi ghé mắt trông cái chuồng khỉ bên gốc cây cau.

Người lùn chồng bảo tôi:

- Vào tận nơi mà xem chứ.

Thật lạ tai.

Tôi vẫn ngỡ vợ chồng bác lùn như pho tượng cạnh cửa, như con tò he để chơi, những thứ ấy không biết nói, và cũng không nghe tiếng bác ấy nói bao giờ.

Cô Ba Tý ở trên xe nhà khệ nệ bước xuống.

Nhìn thấy tôi, cô nói như reo lên:

- Ô thằng cu kia, lên gác cô ban lộc cho.

Tôi giật mình.

Cô Ba Tý gọi tôi, bảo tôi thế a?

Có khi tôi đã có lần thập thò ra xin đồng chinh cô thưởng cho mà nhớ cũng nên, hay là cô thích trẻ con gặp đứa nào cũng gọi thế.

Tôi đứng thừ ra.

U tôi bảo:

- Ngồi đây cho khỏi mỏi chân rồi u đưa vào xem.

Đừng đi một mình ngộ mẹ mìn cho ăn cháo lú thì không biết đường về đâu.

Mà tôi không dám, tôi cũng chẳng thiết lên gác.

Tôi nói:

- U có lên gác thì con mới lên.

Cô Ba Tý đã ra đầu thềm, vẫy vẫy.

Tay cầm mấy nắm bỏng rang màu vàng màu trắng.

U tôi giơ nón ra.

Cô Ba Tý nói: "Thằng bé kia lên đây".

U tôi chắp hai tay.

"Tấu lạy cô..."

- "Con trai mà nhát như cáy!".

Rồi cô Ba Tý đặt vào nón u tôi những nắm bỏng.

U tôi vừa vái vừa bước lùi ra.

U tôi đưa cho tôi một nắm bỏng trắng, u cười nói:

- Lộc thánh!

Lộc thánh, không phải cháo lú đâu!

Một lần kia, u tôi đưa tôi lên gác xem điện thờ mẫu.

Người đã quên lời doạ tôi và những nắm bỏng rang ngọt không phải là cháo lú hay vì thấy đám đông nườm nượp lên thì cũng theo.

Đương có giá đồng rộn rã trên ấy.

Tiếng chập cheng, chập cheng lanh lảnh cung văn hát, tiếng phừn phựt như roi mây đập xuống chiếu, lại huỳnh huỵch như người vật nhau.

Lên đến nơi, đèn điện sáng choang, hoa cả mắt.

Dần dần nhận ra thì lạ quá, con mắt mình làm sao thế này.

Trên mặt chiếu hoa, bên trái cái chân quỳ sập gụ, ba bốn các cung văn chít khăn áo the dài, có bác gảy cây đàn, lắc lư cái đầu, có bác cầm chũm chọe đập vào nhau cheng cheng.

Cứ nhô nhốp như cóc ngồi.

Mắt bác nào cũng trợn lồi ra trước lên sập, miệng nghêu ngao.

Nghiêng ngả, chập chờn như điều binh khiển tướng:

Này quan lớn Hoàng Bơ à.

Này bà chúa Bắc Lệ tứ phủ chầu bà...

Cái kỳ lạ nhất là trên sập có một ông Tây ria đỏ gạch cua, mặc cái áo lụa hồng, chít khăn nhiễu tam giang.

Ông Tây đang lổm nhổm bò quanh chiếc chiếu cạp điều.

Quái chưa, trông ông Tây hao hao như ông Tây Cooc xoát vé xe điện, lại như ông Tây lùn có bàn cò quay ở chợ Hàng Da.

Hai ông Tây không nhớ rõ ông nào, nhưng cả hai đều có bộ ria xồm xoàm và cái mũi lõ đỏ hắt như nhau.

Cô Ba Tý mắt phượng quắc lên, son phấn lộng lẫy, bộ áo xanh khăn xanh màu rừng núi Bắc Lệ, tay cô cầm thanh đao gỗ giơ cao.

Cô cưỡi trên lưng ông Hoàng Bơ đương bò.

...

Mắt phượng long lanh

A a bà chúa... mắt phượng long lanh...

Tiếng hát, tiếng chập cheng cứ cồn lên.

Hai giá đồng cùng lên, ông Hoàng Bơ và bà chúa Bắc Lệ, vừa rít vừa hí, vừa chồm chồm.

Các con nhang đệ tử ngồi vòng trong vòng ngoài, chốc lại vái.

"Tấu lạy cô, cô xinh quá, cô đẹp quá".

Cô Ba Tý núng nính ngồi múa thanh đao gỗ trên lưng ông Hoàng Bơ: "Hé!

Hé!

Các con vạn sự như ý này!"

Rồi ông Tây Hoàng Bơ ngóc đầu bò ra mép sập, hai cái túi áo tây ở trong thò ra như hai cái quạt nan, cô Ba Tý với tay tung lốc vào đám người quanh sập chỗ thì đồng ván, đồng hào, đồng săng căng, chỗ thì những miếng trầu.

Ông Tây Hoàng Bơ lại bò vào.

Người ta xô nhau nhặt lộc, rồi lia lịa xì xụp vái.

U tôi lập cập kéo tôi xuống nhà, đẩy tôi đi nhanh.

- Ra Bờ Hồ, u mua cho cốc kem te cớ.

Cái phải gió này không phải lên đồng đâu, lạy thánh mớ bái...

Tôi chỉ được trông có một thoáng, nhưng vì lạ quá mà cứ băn khoăn.

Về nhà, hôm sau, tôi kể chuyện với thằng Đáo.

Nghe tôi nói, cái đầu Đáo đã đảo đồng, hai tròng mắt vằn đỏ.

Đáo cũng lên đồng đến nơi.

Đáo mơ màng:

- Biết rồi, biết rồi, bên Tây người ta cũng có đồng như bên ta.

Đáo đảo đầu lia lịa, Đáo lên đồng thật.

Tôi sợ Đáo sắp cưỡi lên lưng tôi.

Tôi cáu:

- Nó cưỡi nhau như cưỡi ngựa, bên Tây lên đồng thế a?

- Hí !

Hí !

Lắm cái lạ thật.

Con dơi nửa con chim, nửa con chuột.

Con cú nửa sáng nửa tối...
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
109. Dung và Quyền


Những phố Hàng Đường, Hàng Ngang bây giờ kích thước chẳng khác xưa mấy, nếu không nhìn mấy cái bảng điện quảng cáo nhấp nháy xanh đỏ của các hiệu buôn đồng hồ ở những căn nhà nông lòng như đồ chơi trẻ con.

Mặt đường đôi chỗ vẫn gặp cái nắp gang cống ngầm còn đề tên sở lục lộ thời Pháp.

Người thì đông ghế lên, nhưng cái khác là xe đạp, xe máy đan liền khít nhau.

Ngày xưa, thì lòng đường vỉa hè chỉ có người đi, người chân đất đi ngược xuôi.

Họa sĩ Ngô Thúc Dung vẽ cho tuần báo Hà Nội Tân Văn in ở phố Hàng Buồm.

Anh Vũ Ngọc Phan bảo tôi: "Anh Dung tốt nghiệp loại 1 ở trường Mỹ thuật Đông Dương, bạn cùng khoá với anh Nguyễn Đỗ Cung".

Anh Phan muốn gợi sự kính trọng anh Dung ở tôi, đừng có thấy ăn mặc lôi thôi thế kia mà coi thường đâu.

Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Gia Trí đương là những mét đỉnh rồi.

Nguyễn Đỗ Cung chùm phái lập thể, vẽ cái chân như thân cây chuối, người đi hai vai ngang ra giống con cua bò.

Ngô Thúc Dung vẽ cái mu bàn tay to hơn đầu người.

Tôi nghĩ: A, trường phái ông Cung mà.

Nhưng rồi thấy Dung vẽ báo nào khác ngoài báo của anh Phan rồi về sau, biết Dung nhiều hơn, tôi lại nghĩ: thằng này không biết vẽ, chẳng báo nào thuê.

Cũng không hẳn là tôi "gần chùa gọi bụt bằng anh".

Họa sĩ Thịng del chỉ có báo Tiểu thuyết thứ bảy mượn, hoạ sĩ vẽ mặt người nào cũng chéo ba góc.

Thế mà ra trường ông ấy cũng đỗ đầu khoá Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương rồi đi làm công chức, cả ngày cả năm ngồi truyền thần phóng to con tằm con nhộng con bướm sở Canh Nông.

Mà cái phái lập thể của ông Nguyễn Đỗ Cung, thì tôi thấy người ta khen quá, tôi cũng gật gù tỏ vẻ ta đây sành điệu mà thôi.

Dung bảo tôi:

- Đi bát phố một lúc, được không?

Tôi chẳng có việc gì để chối là không được.

Chúng tôi từ nhà in phố Hàng Buồm đi ra.

Tôi đã hiểu đi bát phố là chẳng đi đâu, chỉ hết phố nọ sang phố kia.

Nhìn nghênh nhìn ngáo rồi nhìn xuống đường thấy chân người, chân mình qua lại chen nhau, những người bát phố, người đi kiếm việc, hóng cái ăn, người đi đến đâu thì đi, nhiều người đi quá, chỉ thấy những chân là chân.

Người đàn bà trong làng ra Kẻ Chợ, đôi dép Kẻ Noi quai ngang và nếu là dân thầy hạng còm như chúng tôi, có đôi giày vải bata.

Người chân đất thì nhiều, nhiều đến phải nhớ đến tận bây giờ.

Tôi hỏi Dung:

- Chiều rồi, đi nhồi cái gì chứ?

- Tớ chẳng còn xu nào mới phải đi ăn tiệc nhìn thế này.

- Nhịn a?

- Lúc nào có tiền thì ăn đúp.

- Được, tớ thết.

Thật thì tôi cũng chẳng dư tiền mua hai bát cơm úp.

Mà tôi nghĩ đến Quyền, có thể Quyền có.

Chúng tôi rẽ sang phố Hàng Trống.

Phố này đã thưa người đi, có mấy nhà bán đồ thêu ren, hiệu sách cũ.

Tạt qua cửa đền, đến một cửa hàng bằng một sải chân bày chụp đèn la liệt như những cái nón culi.

Những chụp đèn bằng giấy, bằng lụa tua màu hồng, màu thiên thanh viền vẽ hoa lá.

Ở trong nhà, một người vạm vỡ sơ mi trắng cộc tay đương soi gương, ngoẹo cổ ngắm cái cà vạt đen.

- Giới thiệu...

Quyền nói to:

- Họa Dung Ngô Thúc, quen rồi.

Đã vẽ chụp đèn cho nhà này.

- À...

Hai người đã biết nhau.

Tôi nhẹ hẳn người.

Tôi nói luôn:

- Đương định đi ăn.

Nhưng không đủ tiền.

- Được, được, có tớ.

Quyền chạy ra cửa, sang nhà bên cạnh xem nhờ đồng hồ.

- Năm rưỡi đóng cửa được rồi.

Đóng cửa một tí nhá.

Chúng tôi ngồi nhìn Quyền vác những tấm ván cánh cửa lần lượt lắp lên.

Tôi hỏi Dung:

- Biết Quyền đã lâu chưa?

- Mỗi một lần.

Thắng cha nhớ dai gớm.

- Cái ki ốt Hàng Da của đằng ấy mà treo bán những chụp đèn này cũng hay.

- Có thể.

Bảo nó cho tớ mượn mấy cái bày thử.

Quyền đã lên cửa xong.

Chúng tôi ra bờ hồ, vào phố Hàng Giò xuống dốc Hàng Kèn, sang bên hồ Thiền Cuông.

Chỗ ấy có mấy lều quán cơm, sau lưng trông xuống bãi cỏ lau.

Đằng kia là Vân Hồ, nhưng quãng này lầy lội, phải vòng lên Thể Giao mới có lối đi.

Thành phố chưa bắc điện tới đây.

Trong búi cỏ lau ánh đèn các hàng cơm lung lay như con đom đóm.

Mấy quán cơm đầu ghế này khách đi làm bên ga Hàng Cỏ về đầu ô phía Thanh Nhàn, đôi khi có những xe gỗ bò kéo người đầy dưới Phà Đen lên.

Ấy thế mà mở suốt sáng bởi những con bạc, những người nghiện rúc ráy trong bụi lau lần ra ăn đêm.

Chúng tôi đôi khi chỉ đến ban ngày, nhưng cũng đã khá nhẵn mặt khách hàng ở đây.

Có một cửa hàng treo lủng lẳng cái sỏ và miếng khấu đuôi chó.

Tôi hỏi Quyền:

- Vào quán chó làm mấy chén đủ không?

Quyền nói:

- Được, nhưng Quyền sì cút[1] không uống rượu và Quyền thương loài vật, con chó là bạn với người, không được ăn thịt chó.

- Thế thì ăn gì?

- Cơm, đậu rán, canh cà chua, như thường lệ.

[1] Sì cút (scout): hướng đạo sinh.

Hai thằng đi theo đều rỗng túi, thế nào mà chẳng được.

Ăn nhoáng cái xong chẳng cơn cớ gì để kề cà, chúng tôi trở ra dốc Hàng Kèn lững thững vào ánh đèn bên hè phố.

Chẳng ai hỏi ai và cũng không nghĩ đi chơi đâu tối nay.

Đến nhòm khe cửa rạp hát Hiệp Thành xem ghé màn cải lương, lượn lờ nhà thổ ngõ Yên Thái.

Nghĩ kể ra thế thôi, những thú chơi suông nhạt ấy cũng chẳng thiết.

Mà về nhà tôi trên Bưởi thì xa và đã hết tàu điện, không còn những chuyến tàu vét có thể nhảy lên ngồi boóng sau toa.

Đến ki ốt nhà Dung ở chợ Hàng Da thì ôi thôi, ngủ qua một đêm có thể sáng ra đã gãy cả hai khoeo chân.

Suốt đêm phải thủ hai thế nằm.

Lúc thì khoanh chân lại, lúc phải duỗi ra gác dựng vào vách.

Dung thấp người, cứ nằm một kiểu gập đầu gối cuộn hai chân, đêm nào cũng nằm thế.

Chỉ có đến nhà Quyền thì nằm thoải mái trên tấm ván cửa hay trên mặt gạch.

Phải một nỗi không có màn.

Cái gian bán chụp đèn treo đèn bàn này cũng không phải của Quyền.

Quyền trông hàng bán ăn hoa hồng và thợ mộc thợ tiện ở phố Hàng Tiện đem khung đến, Quyền dán lụa hoa rồi lắp bật điện.

Chủ nhà đâu, tôi không thấy bao giờ.

Lúc nào cũng chỉ một mình Quyền, sáng ra thì xuống bờ hồ, rửa mặt, còn ỉa đái bờ bụi hay nhờ nhà ai thì tùy.

Mặc dầu, thế cũng đã phong lưu nhất hội.

Đêm ấy, mưa sầm sập đến sáng.

Mưa rào trong thành phố, tiếng mưa nghe mỗi tai mỗi khác nhau, có lúc liên hồi soang soảng như đập thùng sắt Tây.

Khác mưa đêm ở làng, trong bóng tối tiếng nước rì rào bốc lên mùi rơm rạ ải, mùi hoa lý thơm ủng.

Nhưng chỉ một lát, đã dịu cơn oi nồng, nhờ thế ngủ ngay được và đỡ muỗi, sáng ra mặt mũi không lấm tấm mẩn đỏ vết muỗi đốt.

Quyền đã cho Dung xách về mấy chiếc chụp đèn.

Cái ki ốt của Dung dựng đứng như chiếc thùng gỗ vuông, trông sang bãi cỏ chợ Hàng Da.

Trên bãi, thỉnh thoảng lão Tây lùn ra kê bàn cò quay mở số trúng thưởng cái khăn mùi xoa, lọ nước hoa con voi.

Gánh xiếc Lê Thanh Các về mấy hôm, có lần có cả ban xiếc nước Anh với hai con la thồ đồ lề lưng phủ bạt về cắm cọc căng bạt.

Nó diễn đến hôm thằng chủ cắt cổ tự tử thì bỏ đi.

Chẳng biết tại say rượu hay tại sao.

Cái ki ốt của Dung bốn mặt sơn xanh, lỗ cửa vuông nhìn thông thống.

Dung bày bán những ống bút, trổi quét vôi trần nhà, gói bột màu.

Có khi bày tranh phong cảnh vẽ cái nhà tranh giữa hồ, dưới gốc cau có cầu đi vào, đằng xa núi xanh và chim bay.

Chắc ai để nhờ bán.

Tôi bảo:

- Treo bảng vẽ truyền thần có vẻ ăn tiền hơn.

Dung xua tay:

- Họa sỹ không vẽ truyền thần.

Nhưng cứ như Dung vẽ cái tay to hơn cái đầu người thì chưa chắc Dung vẽ được truyền thần.

Bốn mặt trống tơ hơ, thế mà có then sắt, khoá giữ cẩn thận.

Không biết quần áo Dung cất ở đâu, chẳng thấy các bọc, cái hòm chỗ nào.

Hỏi thì Dung nói:

- Mày là lý toét, chẳng biết gì cả.

- Biết thế nào?

- Mùa rét đi lấy quần áo gửi nhà cầm đồ Vạn Bảo về, việc gì phải giữ.

Bây giờ đương mùa hè, có nhất bộ, tối đi ngủ thì giặt.

Thế mà cũng phải hỏi.

Bốn cái chụp đèn Quyền bày ở bốn cửa.

Hai chụp đèn treo, hai chụp đèn bàn để trên mỏm hòn gạch chỉ ghếch lên.

Đi cả bốn phía đều trông thấy, vui mắt.

Một hôm tôi đến, chẳng thấy còn cái chụp đèn nào.

- Ô, bán hết rồi à?

- Mất cắp hết thì có.

Không có con mắt đằng lưng, cứ trông cửa trước thì nó nẫng cửa sau.

Đến năm kháng chiến, phố xá tản cư khắp nơi.

Nhưng người ta cũng như con kiến, gặp nhau lại dựng râu lên, chụm lại như chào hỏi, trò chuyện rồi mới lại tăng tả bò đi.

Cho nên người quen ai ở đâu thì rồi cũng biết thế nào cũng có lúc gặp, có người gặp.

Tôi đã láng máng biết được bè bạn và người quen tản cư vùng nào, công tác ở đâu, ai bị chết bom, ai lại trở về

thành phố.

Nghe nói Quyền đã lấy vợ, vợ chồng Quyền tản cư lên Phú Thọ.

Năm ấy, tôi có việc về Gia Điền.

Cái việc thì vui, lại cũng nực cười.

Tôi đi dự đám cưới họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ.

Anh Tỵ ở vùng văn nghệ sĩ tản cư trong khu bốn.

Trường Mỹ Thuật được thành lập, anh ra dạy ở Việt Bắc.

Bấy giờ anh đã hơi cứng tuổi.

Chị ít tuổi hơn, gia đình cũng ở Hà Nội tản cư đi.

Có tiếng đồn thổi thế nào đấy, có thể bên nhà gái nghi ngờ phía nhà trai mà hai bên đều đương trong cảnh xa lạ không biết thế nào mà dò la được.

Tôi đại diện cơ quan đi dự đám cưới.

Tôi có trách nhiệm nói thật là khéo để họ nhà gái biết và tin tôi là bạn chú rể từ thời để chỏm, chú rể chưa lấy vợ bao giờ.

Mọi việc xong xuôi êm đẹp.

Hôm về tôi không ra theo đường bờ sông, tôi đi theo đường trong qua làng đồi, qua rừng sơn rừng cọ từ Gia Điền sang Ao Châu.

Tôi đã được biết Quyền ở Ao Châu.

Tôi vào xưởng giấy ở Ao Châu hỏi Quyền.

Người ta bảo: "Ông Quyền thôi việc rồi.

Bác ra ngoài bờ đầm hỏi ông Quyền chài thì ai cũng biết".

- "Quyền chài thế nào?"

Người ta chỉ cười.

Ao Châu là một vùng đầm nước mênh mông như cả mấy cái hồ Tây bọc quanh một dãy đồi đất.

Một cái lều lá gồi dựng bên bờ nước.

Quyền cởi trần, da bắt nắng đỏ xậm, vẫn to lớn thế.

Chỉ khác một vành ria đen xịt xồm xoàm, và chỏm mũi đỏ quen thuộc nhô lên.

Trong cái lều một gian một trái, một người đàn bà ra chào.

Tôi đoán là vợ Quyền.

Chị mặc quần thâm, áo trắng nhuộm nâu non cũng như người ở xuôi tản cư lên thường gặp dọc đường và trên chợ.

Quyền nói to:

- Nhà tôi đấy.

Chúng tớ sống nghề chài lưới, cũng đủ ăn, hôm nào cũng có cá ra chợ.

Quyền bảo tôi ở nhà nghỉ, Quyền thả cái thuyền đi bắt cá tươi về nhắm rượu.

Tôi bảo để tôi theo thuyền với, đi chơi cho vui.

Cái thuyền thúng, Quyền ngồi đằng mũi, tay cầm chèo lái, bơi bằng tay kia.

Tôi bỏ lưới từng quãng ngắn, Quyền vòng thuyền lấy bê chèo gõ xuống đòn ngang.

Tiếng cành cạch xua cá bơi dồn vào lưới.

Quyền kể chuyện.

- Chúng tớ lấy nhau đã năm năm.

- Cũng nghe tin thế.

- Nhưng chắc đằng ấy không biết vợ tớ là nhà thổ ở ngõ Yên Thái, tớ vớt nàng ra.

Quả là tôi không biết, nhưng tôi đã hiểu cái tính khí nghĩa hiệp của Quyền, cũng không lạ.

- Thế sao lại thành ngư ông A Châu?

- Mấy thằng ngồi bàn giấy trong xưởng kia cũng dân thành phố ra mà chó lại chê mèo dài đuôi, chúng nó cứ chửi tớ tiểu tư sản.

Tớ bảo: ông đây học sinh trường kỹ nghệ, ông gốc công nhân, chúng mày là công nhân vỏ.

Ai là công nhân thì không biết sợ.

Ông đố đứa nào dám bỏ cái xưởng này ra rừng kiếm ăn hay chỉ ngồi gãi bút đẽo cơm nhà nước.

Ông không thèm nhìn mặt chúng mày nữa.

Thế là tớ ra đây đánh cá.

Chẳng cần thằng chó nào.

Một lát, thu lưới, được mấy con chép nhỡ.

Quyền nói: "Đầu đuôi nấu dấm quả dọc.

Còn thì chặt khúc nướng uống rượu hay lắm".

Tôi diễu:

- Ấy, sì cút kỵ rượu kia mà.

- Có lúc cũng cần rượu.

Chốc đã mấy chục năm qua.

Rồi cũng không gặp Quyền trở lại Hà Nội.

Và cũng chẳng nghe ai nói.

Biết có còn sống, vẫn đánh cá ở Ao Châu hay đi đâu.

Dung thì tôi có biết tin.

Cơ quan tôi cái năm mới ra khỏi thành phố lên ở Đại Từ trên Thái Nguyên, rồi Bắc Cạn.

Một hôm có người cơ quan ở xóm bên cạnh - chỗ cục quân nhu đóng, sang hỏi và nói: "Có đồng chí Dung bên chúng tôi...

- À, họa sĩ Dung...

- Vâng ạ.

- Tôi quen...Có, có, tôi sang, tôi sẽ sang...

Thế ra Dung đã đi bộ đội, bộ đội quân nhu.

Dung vẽ mẫu áo trấn thủ, áo cổ vuông...

Có thể Dung đã làm to... có lính sang hỏi trước... và họa sĩ Dung, đồng chí Ngô Thúc Dung...

Nhưng rồi không nhớ tôi đã bận gì, mấy hôm sau mới sang được xóm có cơ quan quân nhu đóng.

Trông những nhà kho, những lán trống hốc.

Vào trong xóm hỏi, bà con cũng chỉ biết bộ đội đã đi rồi, đi bí mật lúc nửa đêm.

Bộ đội thì lúc đi lúc đến thường kín đáo như thế.

Nhưng rồi tôi biết thủ trưởng cơ quan ấy là Trần Dụ Châu mới bị bắt vì tội hống hách tiêu pha bán giời không văn tự đến thụt két.

Tôi chột dạ: Trần Dụ Châu đâu có phải là Ngô Thúc Dung.

Đi kháng chiến, người ta hay lấy bí danh.

Tôi lẩm cẩm quá lo cho Dung, cái tai nghễnh ngãng mới nghe Châu ra Dung thế.

Đến khi hòa bình, lại được tin Dung.

Có người thấy, có người gặp Dung ở Hà Nội rồi.

Không phải Dung ở bộ đội, mà Dung cũng không làm họa sĩ nữa.

Dung bây giờ bán vé xe điện, Dung nghiện thuốc phiện nặng.

Tôi nhớ Dung cũng như tôi nhớ cái tàu điện, Dung và cái tàu điện, những kỷ niệm đã già lão của tôi.

Cái tàu điện có gốc gác và sự tích chẳng khác con người đã sinh ra ở thành phố này.

Tàu điện khi mới sinh ra đi từ Bưởi xuống Chợ Mơ, qua Bờ Hồ thì có đường rẽ về Giám vào Hà Đông.

Hơn ba mươi năm sau mới đẻ ra quãng đường ô Đồng Lầm ở Kim Liên lên ô Yên Phụ.

Đường tàu điện đầu tiên ra đời năm 1899 - hơn tôi già hai mươi tuổi, câu chuyện về cái tàu điện tôi được nghe kể và tôi đã hát suốt thời tấm bé.

Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành

Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường.

Các cụ kể cái năm cưới tàu điện, các làng hai bên đường tàu một tháng đi tàu không mất tiền.

Ngày khai trương tàu, ngày cưới tàu cũng như ngày cưới chợ mới linh đình sao.

Tây mở hội nhảy đầm, đốt pháo ở sân đình Thụy, nơi có La ga thì ở Thụy Chương.

Cả vùng Bưởi ngồi tàu điện xuống Bờ Hồ chơi.

Cái câu cuối bài vè chẳng biết là nói mỉa mai hay nói ba lơn.

Năm xu ngồi ghế đệm bông.

Hỏi mình có sướng hay không, hả mình?

Cái tàu làm đẹp con đường cũng như người thanh niên làm dáng không bao giờ lên tàu khi tàu đỗ, mà chúng tôi lấy điệu lả lướt nhảy tàu nhẹ nhàng khi tàu lượn vào hay tàu ra bến.

Cái tàu điện lâu ngày cũng già đi như người, nhưng còn rong ruổi đến những năm Hà Nội đánh nhau với tàu bay Mỹ.

Tàu qua các phố Hàng Than, Quan Thánh cạnh nhà máy điện nơi máy bay Mỹ thả bom bất kỳ lúc nào.

Tàu chạy đúng giờ đi giờ nghỉ, nhưng không còn khách dám ngồi tàu qua các phố ấy.

Chỉ còn người lái tàu, người bán vé và một người hát xẩm trong lòng tàu vẫn hát nghêu ngao, giữa tiếng bánh xe rít trong đường sắt, tiếng chuông kenh kenh, chẳng biết có tiếng bom không.

Cái tàu điện rồi khuất núi tương tự ông lão bệnh già.

Cái tàu cái toa bỏ đi rồi mới bóc đường sắt, như người ta đem thiêu giường chiếu người ốm.

Nó cũng như cái cầu Long Biên sau mấy năm bom đạn già yếu lại bị thương chỉ có xe đạp và người đi bộ qua, khác nào trẻ con cưỡi trên lưng, ấy cũng là khi cái tàu điện rách rưới tả tơi nhất.

Nó ốm cả tinh thần và thể xác.

Không biết số phận còn để vật vờ thế này đến bao giờ, chẳng ai thiết đến nó, chẳng ai chữa chạy cho nó nữa.

Những người nhà tàu thì say rượu, say bia cả ngày.

Tay ông lái cầm cái quay máy bằng đồng đã mòn vẹt.

Cứ tàu đến Hàng Khay, Hàng Bài thì đỗ.

Ven hè, những nơi ấy có quán bia nhà mậu.

Ông lái vặn lại số không, rút cái trùy đồng xách xuống đứng uống hai vại bia.

Mỗi chuyến ngừng mấy nơi, có khi đến chợ Mơ đỗ đợi khách lâu thì cả ông lái, ông bán vé cùng xuống làm chén nước trắng, lại hãm điếu thuốc lào đậm khói.

Ấy thế mà cái tàu điện già mõm ra vẫn làm đỏm, những cái toa đuôi sơn đỏ rợn mắt.

Bởi vì xưa nay trong xưởng máy ở Thụy chỉ có việc xẻ gỗ đóng toa, còn đầu máy và bánh tàu phải mua bên Tây mà mấy chục năm nay nghỉ mua rồi, chỉ còn máy móc từ thế kỷ trước.

Cái sự giã đám tan hoang tất cả.

Tàu không bán vé, xé vé nữa.

Khách lên tàu đưa tiền công cho ông lái, cho người soát vé, cho ai thì người ấy bỏ túi.

Người đi tàu thưa thớt lắm.

Đã hết máy bay bắn phá nhiều năm rồi mà những cái tàu không hồi sức lại được.

Nó chậm như con rùa bò.

Tôi chẳng còn nhớ đến họa sĩ Dung đâu.

Chỉ vì một hôm chợt nghĩ: Cái tàu đã ốm quá vừa đi vừa thở thế kia, xuống lỗ đến nơi rồi.

Thử đi tàu dối già một chuyến.

Lại nhảy tàu lên xuống như thuở nào. nghĩ thế thôi, tôi đã lụ khụ chẳng khác cái tàu, mà tôi thì không muốn chết đưa chân vào bánh tàu.

Thế là tôi đi tàu điện về Bưởi.

Người bán vé như vẫn đứng rình chộp tôi lên rồi lừ đừ hiện ra, giọng nói khao khao mơ hồ: "Tiền vé nào?".

Tôi trông đích nó là thằng Dung, họa sĩ Dung.

Khác lắm, nhưng không thể sai được.

Khuôn mặt bệu chảy xị, tái mét, môi nhẵn bóng, cửa tay áo về vệt đen nhãy.

Rõ một lão bẹp tai.

Chẳng còn họa sĩ Dung một chút nào.

Nhưng mà khác sao được, cái sẹo vẫn đỏ tía như đồng xu áp thái dương bên trái như người tội chết bị thích số lên mặt.

- Dung đấy hả?

Có phải Dung?

Người ấy ngước đôi mắt lờ đờ nhìn tôi rồi lại cất cái giọng rè rè:

- Tiền vé nào!

Tôi đưa tiền vé.

Lão cầm bỏ vào túi cái áo vét, rồi lù rù đi vào trong lòng tàu, trong khi tôi vẫn còn hỏi dở câu: "Có phải họa sĩ...".

Biết thế nào, chán đến nỗi không còn muốn nhận ra nhau nữa.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
110. Phố Hàng Ngang


Phố Hàng Ngang có hai vẻ mặt thật khác nhau.

Phía giáp Hàng Đường thì sầm uất, chen lẫn những nhà xưởng với các nhà làm keo bột, người cởi trần đứng vắt dây đường vào cột kéo kẹo cả ngày.

Xưởng dệt Lợi Quyền, hiệu chè Chính Thái, kẻ ăn người làm và khách buôn tấp nập ra vào, qua lại.

Lại đám ăn mày rách lướp tướp chỉ thấy những đầu gối trố ra; bọn bói bài tây nhâng nháo, với lũ kẻ cắp móc túi nháy mắt tụ tập rồi kéo vào chợ.

Trên vỉa hè ra đến chợ Đồng Xuân, người nhốn nháo chốc lại tiếng hô hoán bị giật nón, người xô đẩy kêu khóc, cái dùi cui của đội xếp nện xuống đám đông túi bụi.

Chỗ giáp Hàng Đào thì sạch sẽ quang đãng.

Cả phố không một bóng cây.

Thành phố không trồng cây ở các ngõ, các phố hẹp.

Từ Hàng Giấy xuống cửa chợ Đồng Xuân qua Hàng Đường, Hàng Ngang, đến Hàng Đào trông ra mới thấy bóng mấy cây liễu ven hồ.

Mùa hạ nắng chang chang.

Giữa trưa, lóa cả mắt, những cái bạt các cửa hàng buông xuống gần kín vỉa hè như chụm một chút bóng mát vào đấy.

Chốc chốc, chuyến tàu điện leng keng qua giữa ruột phố, trên nóc tàu dây điện rung như đánh võng.

Những bánh sắt rít toé lửa xanh lét.

Hiệu thuốc cao đan hoàn tán Đại Quang dược phòng có tấm gương lạ mắt, người đi qua soi vào, bỗng cao lêu đêu rồi bỗng lùn tịt, các cô gái bảo trông ghê ghê nhưng cứ muốn đi soi gương rồi ù té chạy.

Có những hiệu bán vải, lụa Bombay, hình Con Trâu Vàng cắt bằng gỗ treo tòn ten trước cửa.

Liền tường nhau, mỗi cửa hàng như một dãy hộp cắt bằng giấy.

Trong nhà, chỗ nào cũng sạch như lau.

Những cuộn dạ, cuộn lụa màu lục, da cam, hồng điều chật trong tủ kính, thành tủ đánh vẹc ni cánh gián.

Áp tường đằng kia lại một chiếc gương to, thoạt nhìn ngỡ gian hàng còn dài rộng ra tít xa xa, cùng với mặt bàn thông liền từ cửa vào.

Những người bán hàng đứng bên trong quầy, đưa vải, đưa lụa ra cho khách chọn.

Tấm lụa màu như cánh bướm sặc sỡ, phấp phới.

Những người bán hàng đều là Tây đen.

Họ tới Hà Nội từ những đất thuộc địa Pháp ở Ấn Độ, những thành phố Mađrat, Mahê, Săngđecnago... thời ấy, Pháp chiếm làm thuộc địa năm thành phố bờ biển nước Ấn Độ.

Những người Ấn Độ nhỏ nhắn, đen dịu.

Họ không bóng nhờn da bồ hóng như lính Tây đen rạch mặt nước Sênêgan hay Marốc.

Họ cũng không đeo cái cặp da to vít cổ xuống như ông nhọ Xetty làm nghề cho vay lãi, lúc nào cũng lầm lì, lừ đừ, lúc đi hai tay vẫn thò vào cặp như đương đếm tiền chưa xong.

Mặt mũi họ nhẵn nhụi, không râu ria rậm rì, cắt tóc gọn, không quấn cái khăn vải như lão Tây đen quấn thừng Oẳn ta la bà chăn dê ở vườn Bàng làng tôi mà người ta đố nhau ai dám đi lúc chặp tối mà gặp lão Oẳn chắc ngỡ gặp ma hiện về.

Ấy vậy lão Oẳn cũng có vợ, hai vợ hẳn hoi, hai chị em cô Gáo làng Bái đã lấy ông Oẳn.

Đến năm kháng chiếm thằng con lớn nhà ông Oẳn đi bộ đội rồi Pháp trở lại chiếm thành phố, cả nhà lão dọn tản cư đi đâu hay đã về Ấn Độ, không biết.

Những người Tây đen bán lụa ở phố Hàng Ngang đều chải chuốt, dong dỏng cao, ngăm đen.

Họ đứng trong quầy hàng, quấn cái xà roỏng kẻ ô - không biết ở trong có quần không, và

mặc áo sơ mi trắng.

Mỗi người đội cái mũ lồng oản nhung đỏ, nhung xanh cao chon chỏn trên đầu.

Răng ai cũng trắng, hay cười cười thò lưỡi đỏ hoe với các bà, các chị vào cửa hàng.

Nhiều người nói tiếng ta chưa sõi.

Có nhiều bà chẳng mua gì cũng vào đứng chơi nói nhại, thế là anh nhe răng cười tít mắt, giơ tay mà lòng bàn tay trắng bệch như tay ếch, cứ tự nhiên anh nắm tay bà khách hàng.

Bà khách để yên không rút tay ra, lại cười nghiêng ngả.

Những người bán hàng các hiệu lụa Bombay đại lý các nhà buôn, các ông chủ hiệu chính ở bên Ấn Độ.

Họ là những người làm công ăn lương được đưa sang đây.

Ông thánh Găngđi thuở còn trẻ cũng đã nhiều năm đi bán hàng cho các đại lý bách hoá như thế ở các thành phố bờ biển Nam Phi.

Phố Hàng Ngang có đến hàng chục hiệu bán lụa Ấn Độ.

Họ đến đây một mình không mang vợ con theo.

Chỉ thấy trong hiệu những đàn ông đứng như bụt mọc.

Lắm hôm đông khách, mà khách mua vải lại chỉ toàn đàn bà.

Các bà các cô vào cửa hiệu, khi mua hàng khi đùa cợt với các chú.

Các chú nói ngọng, nói sai, các bà lại dạy nói nhảm.

Hai con mắt liếc trắng nhả, tay cầm cái thước to, chọc chọc vào lòng bàn tay bà kia.

Bà động lông buồn, nắm cái thước, rồi cười nhắm mắt.

Không thấy họ ra khỏi cửa hàng bao giờ.

Họ không đi chợ, chẳng biết các người này ăn uống ra sao.

Mỗi sáng thứ sáu, họ thong thả, đều đặn như những cái cột sắp hàng đi sang Cống Chéo Hàng Lược.

Phía ấy có cái chùa Tây đen vòm mái tròn quét vôi trắng toát.

Các chú Tây đen đi lễ ra khỏi đầu phố, lũ trẻ con đã trông thấy, chạy theo.

Chúng nó thò tay ra sau lưng, khoanh cái mép vạt áo làm hình tai lợn, qua trước mặt, lom khom giả cách làm ve vảy đuôi.

Chú Tây đen giơ tay toan đánh, chúng nó đã chạy mất.

Đến đầu phố đằng kia, chúng lại thò ra ve vảy cái đuôi vạt áo.

Chú lại đuổi.

Nhưng đuổi thế nào kịp chân trẻ con.

Người ta bảo chùa Tây đen thờ thần lợn, Tây đen kiêng ăn thịt lợn.

Hôm ấy, có một người khách đến cửa hàng.

Chưa chắc đã là người mua nhưng chẳng thể nào phân biệt được khách hàng hay người đến gẫu chuyện.

Ả khoác tai nải nâu, dáng như lái các tỉnh về Kẻ Chợ.

Cũng chưa chắc.

Cách ăn mặc nửa quê nửa tỉnh, áo nâu đồng lầm, chít khăn vuông the đen.

Buổi sớm chưa có người nào mở hàng nhưng chắc đã biết lệ cửa hàng Tây đen không kiêng, không phải đốt vía.

Khách đặt cái tay nải xuống quầy, tụt khăn vuông xuống cổ, rõ hơn khuôn mặt trắng xanh.

Chú Tây đen trong quầy bước ra, cầm cả hai bàn tay người khách vừa đến.

Cứ đứng mân mê như hai con cóc ôm nhau ngày mưa đầu mùa hạ.

Thế thì lại không hiểu ra thế nào nữa.

Là người muộn hiếm, đi bắt nhân tình với chú Tây mờ để lấy giống, hay là nhà thổ đói đi kiếm mồi sớm.

Ở các cửa hàng chỉ có đàn ông, đàn bà những đâu đâu kéo tới đánh ghen nhau, chẳng mấy hôm không ầm ĩ loạn cả phố.

Ở đầu phố đi tới, cũng một ả áo nâu non, khăn vuông mỏ quạ láng đen, đi vung vẩy tay không.

Vừa bước vào cửa, chị ta cũng kéo cái khăn vuông xuống mặt đỏ gay, không biết đương cơn tức hay đương say trầu, say rượu.

Ả quát:

- Con kia!

Rồi xông vào.

Người Tây đen quay mặt ra.

- Không được đánh nhau trong nhà tôi.

Tôi gọi ông đội xếp.

Chị đứng sững lại, vỗ đôm đốp hai bàn tay, xỉa xói:

- Con đĩ làm tiền, hai con chó lẹo nhau trước mặt bà à?

Mày lừa của bà ba trăm bạc, muốn sống thì mửa ngay ra.

Ả nọ thản nhiên, vẫn nắm tay người Tây đen.

Ả chửi như nói một mình:

- Tiên nhân con thần nanh đỏ mỏ.

Ai nợ nần nhà mày, quân ăn không nói có.

- Còn già mồm hả!

Hả!

Hả!

Chị ta lại thốc vào.

Nhưng người Tây đen túm vai áo, đẩy ra.

Mấy người Tây đen nữa ở nhà trong ra chắn lối đi.

Xem chừng không thể lọt qua được bọn này.

Ngoài cửa đã lố nhố người ngó nghiêng nhòm.

Chị thình lình hét to:

- Chúng bay đâu!

Chúng bay...

Chẳng thấy ai xông vào.

Cơ chừng gọi doạ thế thôi.

Trong khi ấy, người đàn bà đeo cái nải đã chạy tọt vào nhà trong.

Tiếng cài then cửa lanh canh.

- Á, cái thằng nhọ này làm nhà thổ, chứa nhà thổ à?

Tao đi báo nhà mày chứa nhà thổ thì có mà ngồi tù cả nước nhà chúng mày.

Chị ta còn kể lể chửi dài dòng nữa.

Những người Tây đen dường như chưa hiểu hay làm ra vẻ thế, cứ nhăn những hàm răng trắng tởn ra cười.

Rồi ngây ngô hỏi lại:

- Bà làm nhà thổ à?

Hôm nọ bà đã vào làm nhà thổ với tôi rồi mà, muốn làm nữa à?

Ả gào lên:

- Câm ngay!

Câm ngay!

Bà thì nhét cứt vào mồm bây giờ!

Ngoài cửa đã lại thêm nhiều người đến đứng xem.

Rồi bỗng nghe các nhà hai bên hè lên cánh cửa rốp, rốp.

Các hiệu Tây đen đều một loạt đóng cửa.

Các hiệu ta thì ra đứng ngoài hè, nhìn lên nhìn xuống.

Có phải là đám đánh nhau tranh mồi hay là mới sáng ngày ra đã mất trộm mất cướp thế nào.

Thì ra khi thấy mấy người đội xếp đi tuần đường tới đỗ xe đạp đầu ngã tư, mấy cửa hàng Tây đen hốt hoảng lên cánh cửa, các nhà khác cũng không dám thò đầu ra nữa.

Chúng nó mà choảng nhau, những con đĩ dại chui vào nhà ngả vạ, chẳng phải đầu phải tai, thì khốn.

Họ ngồi trong nhà nhìn những cái xe đạp của các nhà chức trách đương thong thả qua.

Ba đội xếp, một người Tây lai mép ria ghi đông hung hung đỏ ngoắt lên, quần áo ka ki vàng, mũ vàng, khẩu súng lục trong bao da bóng nhoáng đeo trên cái thắt lưng da to bản.

Một đội xếp ta có cái dùi cui sơn trắng treo cạnh sườn.

Một người lon ton đi lên trước, hẳn cũng là lính đội xếp, tay chăm chắm giơ cái dùi cui.

Ở trong cửa, ả nọ gọi to:

- Ối các ông đội xếp!

Lại cả ông đội con gái đi bắt nhà thổ nữa kìa!

Mời ông vào ngay cho.

Phen này thì chúng mày có mà rũ tù!

Người đội xếp ta đứng hỏi:

- Việc gì mà mới bảnh mắt đã ầm lên là thế nào?

- Bẩm quan, oan ức thì con phải kêu giời, con kêu các ông đến chứ con có làm ầm đâu.

Con đĩ này nợ con năm trăm bạc, con đuổi theo nó đòi nợ, nó trốn, nó chui vào trong bếp kia.

Các ông nhọ này không cho con vào bắt nó, các ông nhọ này chứa cả nhà thổ, chứa gái nhà thổ ạ.

Ông Tây đen nói:

- Tôi không làm nhà thổ.

- Con đĩ nhà thổ trốn trong bếp kia kìa.

Thế là làm nhà thổ rồi.

Phải lôi nó ra đây...

Người đội xếp Tây lừng lững bước vào cửa buồng trong.

Ả nọ chạy theo.

Nhưng mấy người Tây đen đã túm cổ áo ả, lôi lại - Mày không được vào, mày vào ăn cắp à?

Đội xếp Tây đẩy cái cánh cửa, cánh cửa đã mở từ lúc nào.

Gian buồng trống hốc, dựng lổng chổng mấy cái ghế xếp như giường ngủ.

Ả nọ kêu to:

- Con đĩ chui dưới gầm, cái chân nó kia kìa.

Các ông khua nó ra cho tôi, các ông khua nó ra

Nhưng những người đội xếp chỉ đứng nhìn vào cái buồng tối ẩm thấp rồi quay ra đuổi những người ngoài hè đã lấn vào trong hiệu.

Đội xếp Tây nói gì, đội xếp ta nói lại:

- Con kia vu cho các ông chủ này nuôi gái nhà thổ.

Quan đã khám, không có gì cả.

Mày phải nộp phạt về tội nói dối.

Người đàn bà bỗng dưng trợn ngược mắt rồi bỗng nhiên ngã lăn đùng ra, mép phòi bọt từng cục vàng khè.

Không biết mụ lên cơn động kinh hay mụ đùn nước bọt ra, giả vờ.

Những người đội xếp lại nói với nhau, như không biết.

Rồi người đội xếp ta giơ dùi cui dõng dạc từng câu:

- Bây giờ nhà nước phạt vi cảnh hai bên vì tội làm mất trật tự đường phố.

Mỗi bên nộp phạt hai hào, nộp ngay bây giờ.

Ả nặc nô đã ngồi dậy từ lúc nào.

Ả vấn tóc, im lặng, mặt vênh váo xưng lên.

Người đội xếp lại nói:

- Không nộp phạt thì trói lại, giải về bóp giam.

Người đội xếp rút cuộn thừng đay vẫn giắt trong bụng áo.

Người Tây đen đương lúi húi lấy tiền nộp phạt, những tiền chinh tiền xu, đếm lại đủ hai hào, trong khi một ông đội xếp cúi lom khom viết cái biên lai và ả nọ vẫn ngồi bần thần đấy.

Về bóp phạt giam hai mươi bốn tiếng thì không mất hai hào.

Chưa biết nên thế nào.

Không biết cái ả lúc nãy đã chuồn sang phố khác đằng sau nhà hay còn núp dưới gầm ghế.

Nhưng cảnh đi đánh ghen, ghen thật, ghe vờ ở các cửa hiệu Tây đen phố Hàng Ngang thì chẳng mấy hôm không ồn ã lên.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
111. Vườn hoa


Vườn và hoa, thú tao nhã đã bao đời thành nền nếp trong sinh hoạt mỗi người.

Trên cửa khu nhà, ở đường phố lối đầu xóm, buông xuống dây phong lan, khóm vạn niên thanh, cây ớt quả tròn quả dài đỏ lừ, lại cây mào gà tía, cây ngọc lan... chật chội hay thoáng đãng, những điểm xuyết ấy làm cho cảnh có duyên hơn.

Vườn hoa, luống hoa, cây cỏ hoa lá với kiến trúc xây dựng mới hòa nhịp, không thể thiếu.

Trước cổng doanh trại, nhà máy, cửa trụ sở, quanh nhà bia nghĩa trang, sân bệnh viện, trường học.

Ở tỉnh lị, các thị trấn, mỗi vùng sản xuất đang xây dựng đã mọc lên những vườn hoa, những vườn cây.

Vườn hoa là bài thơ cuộc sống.

Hãy sáng tạo và phát triển những vườn hoa cốt cách Việt Nam.

Mọi loài hoa nhập nội thích hợp với thổ ngơi đều được trân trọng, nhưng trước nhất làm cho thích ứng với phong cách vườn hoa mình.

Những người khéo tay, những người thợ cả nước đã dày công làm nên những ngự uyển của các triều đại.

Thăng Long đã có hoa viên vườn ngự, cả kinh thành tráng lệ từ văn miếu ra đến sông Hồng mà hồ Tây là tấm gương nước giữa ngự uyển, bao quanh những lăng tạ, chùa chiền những cung cấm, miếu mạo và dậu trúc.

Trong con mắt, tình cảm và tâm hồn, mọi hoạt động đời sống đều quyện với hình ảnh thiên nhiên.

Bóng mát cây đa, cây si, cây muỗm cho người nghỉ chân đầu làng.

Cây đề, cây trôi, cây gạo che mái cầu quán giữa đồng.

Mỗi người tự nhiên, tưởng như đã từ trong vui buồn kỷ niệm của đời mình đều mang hình ảnh quang cảnh ấy.

Cái cây ở quê nhà sao mà đầm ấm.

Cây kia dù đẹp, dù lạ gặp ở nơi đất khách, không để lại mấy nghĩ ngợi.

Tàu hỏa từ phía Bắc xuống, vừa qua cửa khẩu vào Đồng Đăng nhìn những rặng tre xanh xanh đã bồi hồi.

Cây đại, cây đa cửa miếu, cổng đình người đi qua tấm bia đá có hai chữ "hạ mã", cảm thấy uy nghiêm.

Bụi hoa sói và cây mộc già sau cái giại bể nước mưa ở nhà hậu chùa làng, thoảng thơm lẫn mùi đất ẩm nước mưa đem lại cảm tưởng tĩnh lặng.

Có người, có cây, có hoa.

Cây cỏ và hoa thơm đã vào ca dao, bóng dáng nó đã nên thơ, đã là thơ.

Vườn của ta đậm đà thổ ngơi cây cỏ nhiệt đới.

Vào công viên giữa thành phố dù tấp nập đến đâu cũng được thấy như đang trong vùng tươi xanh, gặp ở đây, đã quen ở đâu, có dễ từ tuổi thơ, từ trong câu chuyện hoa ngọc lan bà kể.

Trồng cây lấy bóng mát là phong tục lâu đời.

Công viên của ta không chỉ có hoa luống, hoa vụ theo mùa, mà có hoa giàn, hoa leo bên những cây đại thụ.

Quanh nhà trồng cây ăn quả, nhà ngói cây mít...

Ở đâu có mái nhà hay cái cầu, cái quán giữa đồng cũng bên cạnh đều có cây.

Không để cái điếm canh cống mở nước nông giang chơ vơ đầu đê không bóng cây.

Không để chuồng trại nuôi lợn, nuôi bò, nuôi dê và gà ngỗng cứ trơ trẽn như đống gạch phơi giữa cánh đồng.

Ý nghĩa vườn và hoa, cây trồng đời này cho bóng đời khác - lối sống văn hóa Việt Nam.

Cây vườn hoa không như cây cảnh gò uốn núi non bộ mà đây đời sống tự nhiên của thảo mộc.

Cái đẹp của những thân cây cổ quái, cây đại, cây đào, cây mai, những cây si, cây sanh buông rễ chùm, những cây lựu hoa đỏ hồng, những bành vè gốc cây sấu, rễ cây đa lượn sóng quanh gốc.

Hàng cây chò nâu, chò chỉ, cây ban, cây bằng lăng trên đường.

Một góc tre trúc mọc thành bờ dậu trong vườn tạo nên những nét thanh tao.

Trên quảng trường lăng Bác Hồ, những ô cỏ vuông với những hàng cây vạn tuế hai bên cánh lăng quen thuộc và thành kính.

Vườn hoa của ta có những bãi cỏ phẳng lặng như mặt hồ.

Hoa và hương trong vườn hoa Việt Nam.

Cả những hoa đậm màu, nhạt hương như đào, mai, các loại cúc và trà, những loại hoa và mùi hoa từ các loài khác nhau đều làm cho vườn ngào ngạt.

Những luống hồng chen gốc đào, hoa ở vườn tỏa hương ngây ngất cả tới khi cánh rụng như tơ hương bay.

Một dây móng rồng leo trên dậu trúc hoa vàng, lá xanh, ý nhị khác hoa lila.

So với móng rồng thì lila như bụi cúc tần.

Những giàn thiên lý vàng hây, hoa mộc lấm tấm trắng, hoa ngâu và hoa lan tới độ chín đứng gần chỉ thoang thoảng thế mà đằng cuối gió còn sực mùi hoa mát cả ánh trăng đêm hè.

Hoa sói thơm ngọt, hoa nhài gời gợi.

Vườn hoa bốn mùa thơm.

Trong các công viên ở thành phố hiện nay mùi hoa chưa được để tâm xứng đáng.

Khi những công trình thế kỷ để lại đời sau, thì cây cối và hoa cỏ còn có cuộc sống và lịch sử lâu dài như thế, hơn thế.

Đền Voi Phục và chùa Láng hôm nay có những cây muỗm từ bao giờ càng chan hòa ý nghĩa thiên nhiên với văn hóa và đời sống.

Ở nước ta, phong tục trồng cây, chơi cây có từ rất xa xưa.

Ta vốn yêu màu hoa đẹp và quý mùi hoa thơm.

Màu hoa trà, màu hoa đơn trắng đơn đỏ.

Mùi hoa lý, hoa mộc kín đáo.

Một gốc thiên tuế, một bụi trúc lơ thơ.

Vườn và cây, thú chơi tao nhã đã thành thói tục mọi nơi.

Vào vườn chùa, vườn đền vừa trang nghiêm vừa thân thuộc như khi thấy gốc cau bên bể nước mưa.

Có thói quen, có điều kiện mà chẳng có thì tạo ra điều kiện, người ta chăm chút chậu cúc chi, một giàn kim ngân, có khi là cây ớt hay một giàn gấc mà mùa đông tới, quả gấc chín như một chấm hồng buông lơ lửng.

Chơi cây, chơi hoa thú chơi tao nhã lâu đời.

Những tên đường, tên phường tên trại, tên hồ đến nay vẫn còn gọi: đường liễu (Liễu Giai), đường hòe (Hòe Nhai), trại Hàng Hoa, ngõ hồ Liên Hoa, phố Liên Trì...

Pháp chiếm nước ta, Hà Nội cũng như Huế và Sài Gòn rập khuôn về cây, về vườn hoa cây cảnh theo tập tục Pháp.

Thú chơi cây và chơi hoa của ta lặng lẽ rút vào trong nhà, trước sân, quanh hòn non bộ, ở vườn đền, vườn chùa.

Trại Hàng Hoa trồng luống cúc vạn thọ, sói, ngâu, đơn đỏ, hoa hồng ta bán làm hoa cúng.

Chưa mấy ai chơi hoa tết, hoa cưới, hoa sinh nhật như bây giờ.

Vừa rồi, vãn cảnh chùa Tây Phương, thấy bờ tường bên bể nước sân chùa, trồng những cây lá đuôi lươn, lá đốm.

Hỏi nhà chùa, chú tiểu cười thưa rằng: thấy cây khỏe, thì trồng, chẳng biết cây gì.

Am thanh cảnh vắng chùa chiền ngát mùi hoa mộc, hoa ngâu, hoa móng rồng nay để cây và hoa sơ sài thế sao đang.

Cứ kể chơi hoa, trồng hoa bây giờ cũng là mốt, nhưng cũng đại để cứ vô tâm như ở vườn hoa chùa Tây Phương.

Nhiều cơ quan, nhà máy khu công nghiệp, khu chế xuất được xây dựng khang trang, bao bọc những công viên trồng luống hoa và hàng cây gọn ghẽ.

Có cây xén lùn tịt như mâm xôi, lại như cái nấm lùn tròn xoe.

Đấy là cây trồng trang trí kiểu của Pháp.

Trên thế giới, một số vườn hoa các nước được bắt chước phổ biến ở nơi công cộng.

Vườn hoa kiểu Pháp đường đi ngang dọc ngay ngắn, vòm cấy gọt tròn, gọt vuông kỳ quặc.

Vườn hoa Nhật có suối chảy, cầu tre liễu rủ, tảng đá dưới bụi trúc, bên gốc anh đào.

Vườn hoa kiểu Anh thì rậm rạp cây cỏ hoa lá như hoang sơ thiên nhiên.

Ta cũng có vườn hoa kiểu ta.

Tuy chưa là công viên có cơ hội làm kiểu cho quốc tế, nhưng bao đời tổ tiên ta đã chơi vườn hoa cây cảnh độc đáo nét riêng đã thành nền nếp, truyền thống.

Vườn hoa, cây hoa, chậu hoa, giỏ hoa, giàn hoa của ta bao giờ và ở đâu cũng đi đôi với màu và mùi, màu hoa đẹp thì hoa cũng thơm hương, khác vườn hoa Pháp mà dấu vết còn lại ở nhiều công viên các thành phố nước ta, chỉ trọng màu sắc.

Cũng có hoa không thơm, như hoa trà, hoa đơn, hoa đào, nhưng hoa thơm trong vườn bao giờ cũng xôn xao màu đẹp với hương.

Hoa hồng, hoa ngâu, hoa lan, hoa lý, hoa nhài, hoa mộc, lan đất, lan treo tỏa mùi ngát, sáng sớm đêm khuya đưa thơm dậy một vùng.

Người chơi cây cảnh đặt cây cổ thụ thu nhỏ trên hòn non bộ tí hon, uốn cây lộc vừng, cây sanh, cây si...

Có điều đặc biệt là uốn cây, gò cây, chiết cây nhưng không cắt cành là hình thù cái cây trọc đầu, cây giống con hươu con công như ở vườn hoa Bờ Hồ.

Phong tục chơi cây của ta kiêng cắt cành, cho rằng làm như thế đau cây và sái.

Tôi đã nhiều khi trò chuyện với công nhân trông nom vườn Bách Thảo, vườn Thống Nhất.

Những cây ngâu, những khóm hoa giấy, hoa ti gôn được uốn công phu khéo léo.

Người công nhân nghề vườn, nghề cây ở sở ươm cây thành phố bây giờ vẫn phần đông là con cháu các cụ ở sở này thời Pháp.

Sở ươm cây trước kia lo việc ươm cây, trồng cây và bồn hoa các công sở, các công viên và đường phố, đến nay ta vẫn một công việc ấy, trồng và bảo vệ cây cối, vườn hoa thành phố.

Các nhà chuyên môn vườn hoa này cũng nghĩ như tôi là vườn hoa kiểu ta từ cha ông truyền lại là hoa đi đôi với hương.

Trồng hoa chỉ chú trọng màu sắc và xén bờ rào, cắt cây làm cảnh là do người Pháp dạy làm thế.

Nhưng bây giờ chuyển sang để cây tự nhiên, cây chỉ uốn, chỉ hãm không cắt gọt và chọn mẫu hoa thơm theo phong tục và cái thích quen thuộc của ta cũng không phải dễ và có thể ngày một ngày hai.

Bởi vì làm cho có được hàng triệu cây hoa, hàng triệu cây cảnh, cái thứ hoa đơn trắng, đơn đỏ, hoa ngâu, hoa lý, hoa lan, hoa hồng ở tất cả các công viên đâu đâu cũng hoa đưa sắc và mùi thơm thành một công nghiệp thì mới có thể sản xuất đại trà được.

- Người nghề vườn chúng tôi đã đặt tên cây và hoa, bắt chước hình thù cho những cây và lá hoa nhập nội: lá đốm, lá đuôi lươn, hoa lay ơn, hoa loa kèn, hoa lép dê, hoa mõm chó, hoa giấy.

Những hoa này đã được ươm giống, chọn đất, chăm bón có kinh nghiệm cả trăm năm nay.

Hoa sói, hoa lý của ta, bấy lâu trồng chơi vài cây, giàn ở vườn khác với ươm và trồng cả vạn cây khắp công viên thành phố.

Trồng đại trà, phải có chủ trương, có kế hoạch và tổ chức.

Không thể bỗng dưng chỉ trồng vài cây mà khác ngay được.

Hoa đẹp và thơm hương, vườn hoa đậm đà bản sắc của vườn ta là một quan niệm bảo tồn và đổi mới cách thưởng thức hoa và cũng là công nghiệp và hiện đại thú chơi dân tộc.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
112. Chiếc áo dài


Ở nước ta, các dân tộc, Kinh, Thái, Mường,Tày, Nùng, Dao và một số dân tộc anh em khác, trong trang phục có cái áo dài mà cả đàn ông và đàn bà xưa kia đều mặc.

Cái áo dài của mỗi người ở mỗi thời kỳ đều có thay đổi.

Bởi quần áo, khăn mũ, giày dép không đơn giản chỉ che thân và sạch sẽ mà mọi thứ sắm sửa còn điểm trang làm vui làm đẹp cho con người các lứa tuổi.

Đầu thế kỷ, đàn ông mặc áo dài trong mọi dịp, từ đi lại ngoài đường đến trong giao tiếp.

Bây giờ áo dài nam giới chỉ thấy ở làng quê và các cụ trong đám thứ, tế lễ, hò hát, ca nhạc dân tộc.

Áo dài của các bà, các cô, một thời ở một số nơi cũng không mặc, vì điều kiện sinh hoạt và làm ăn, vì có sự bài bác cho là cổ hủ.

Nhưng nay thì đã mặc nhiều.

Tuy nhiên, cũng không nhiều khắp lượt, và ở đâu cũng có như trước kia mà phần nhiều chỉ thường ở phường phố và những dịp long trọng đi họp, dự liên hoan đám cưới.

Có thể do nay sẵn vải vóc mới, lắm mốt ăn mặc và mọi điều kiện khác trước, cái ăn, cái mặc cũng không đứng yên một chỗ.

Chuyện cái áo dài cũng là một ghi nhớ đáng chép lại cho lịch sử ăn mặc.

Cũng là áo dài, nhưng không phải cái nào cũng giống cái nào.

Ở mỗi vùng, ở mỗi tầng lớp, may mặc đều khác nhau.

Ở đây lấy làm ví dụ cái áo dài của phụ nữ Hà Nội và các làng mạc xung quanh mà tôi được biết.

Xưa kia, áo dài của giới nữ, áo dài trong làng không như cái áo dài hàng phố, nơi phồn hoa đô hội ganh đua, nơi chuộng ăn chắc mặc bền, và áo của người giàu có, sang trọng không mảy may, đơn giản như áo người nghèo khó.

Kiểu cách và màu sắc, cái áo ở tuổi con gái khác tuổi nạ dòng, khác tuổi già.

Có điều không phải là khác hẳn, mà lứa tuổi cũng như trong làng ngoài phố đều lai nhau, bắt chước nhau, cái chính là trong làng bắt chước phố phường.

Các cô trong làng, lớn lên, mặc áo tứ thân và váy chồi - về sau mặc quần, còn cái váy thì dần dần biến mất.

Có nhà khá giả, con gái tóc trên đầu còn để trái đào đã mặc áo tứ thân, thắt lưng con cón.

Gọi áo tứ thân vì đằng trước hai vạt dài, một vạt con và vạt lưng áo, cả thảy bốn mảnh.

Thường thì áo the, áo lụa, có thắt lưng buông vạt trước.

Còn áo tứ thân nâu non, nâu già - áo đi đường, đi chợ, hai vạt trước thắt lại thả xuống gọi là áo dài thắt quả găng.

Những dịp hội hè, đình đám, tết nhất, quần áo và thắt lưng mới "mớ ba mớ bẩy".

Cho đủ mớ thắt lưng rườm rà này thì đếm lần lượt mới ra.

Trong cùng là hai dải yếm - yếm đeo trên cổ, trên ngực nhưng hai dải tỏa dài xuống làm cái thắt lưng màu hoa cau, hoa hiên - có thể cái yếm trắng nhưng dải yếm thì không bao giờ để vải trắng, lụa bạch.

Thứ đến thắt lưng bao - các cô tuổi đã chín hay các bà nạ dòng, thắt lưng trong vạt áo dài sau lưng cũng như trước mặt, quấn một vòng.

Thắt lưng bao bằng chồi và đũi màu mỡ gà phải là lượt hay đũi dày bởi nó là cái bao thật, đôi khi trong bao giắt cái gương, khăn mặt, túi tiền, hào tiền giấy.

Rồi ngoài cùng mới là dải thắt lưng dài nhất bằng lụa chuội hay nhiễu tam giang.

Chân bước đi, các đầu thắt lưng và những tà áo, có đến mười đầu thắt lưng và tà áo phất phới "mớ ba mớ bẩy".

Dải yếm và thắt lưng giữ cho tấm áo đứng thân.

Khuy nách áo là khuy để hờ, ít khi cài vào khuyết.

Cổ áo có khuy, có khuyết cũng không đóng.

Nhưng không phải thế là để hở ngực, bởi vì trong ngực áo không cài khuy cũng đã có yếm che.

Yếm cổ xẻ hay cổ xây là vuông vải chúc bâu trắng, vuông lụa nhuộm nâu non, màu đào, màu mận chín với hai dải thắt lưng hoa cau nền nã.

Những người tuổi đã đứng và con gái nhà phong lưu đều mặc áo đóng khuy.

Sau này, làng xóm cũng hơi hướng thành thị, bỏ bớt thắt lưng rồi bỏ cả.

Áo dài chiết tà, bỏ ống tay, xiết lưng cho "xanh tê", bó thon lại, đã đóng khuy lại thêm khuy bấm ở nách, ở cửa tay.

Cô gái làng ra tỉnh ít lâu trở về mặc áo dài mới, anh nhân tình trông thấy người bỗng vừa mừng vừa lo.

Áo dài khuy bấm em làm khổ tôi (Nguyễn Bính).

Cũng áo tứ thân còn áo dài đổi vai.

Áo đổi vai không phải diện đi hội, đi chơi.

Nhưng cái áo đổi vai có cái đẹp riêng được hiểu theo nghĩa đen và nghĩa bóng.

Nghĩa đen thì áo nâu áo the mặc đi chợ, đi đường xa mưa nắng, đeo tay nải hay gồng gánh, mồ hôi rầu rã, vai áo chóng bạc, chóng rách cho nên phải đổi vai, thay từ nửa lưng lên vai bằng miếng vải nâu non mới, trên vạt the nâu, nổi lên hai màu khác nhau.

Nhưng cái áo đổi vai cũng còn có ý khéo của người con gái biết làm duyên cả những khi đang xốc vác quảy gánh.

Hai mảnh vải thay vai áo, có khi khâu thẳng ngang đều, cũng có khi cố tình khâu so le miềng dài miếng ngắn một chút.

Ở nhiều làng quê, các chị nhàng nhàng đứng tuổi vào mùa hè cắp rổ hay quảy gánh lên chợ mặc áo đổi vai khá táo bạo.

Không mặc mà cái áo chỉ vắt vai, trước ngực có yếm, nhưng cả tấm lưng và vai đều trần.

Đấy là các người đã có chồng con, chứ con gái thì không dám mặc áo hở lưng ra thế.

Áo dài trong làng dần dần được cải tiến theo áo dài thành thị.

Cho tới giữa thế kỷ, kinh tế và cuộc sống con người phố phường nhộn nhịp mở mang hơn.

Buôn bán thông thương vào nam ra bắc, đi Hồng Kông, sang Vân Nam, sang Pháp.

Xống áo cũng thay đổi theo thời.

Không phải chỉ có the lụa, mà may áo dài có hàng kép xuyến, nhung, đoạn, xát xi, lụa Bom bay...Không phải chỉ có bác phó may đeo tay nải đựng đồ nghề cái kéo, cái vạch, cái đê, đi làm hàng theo vụ, theo mùa, không chỉ may tay, mà các lò may, hiệu may sắm máy khâu Sanh - dê nhập bên Pháp sang.

Các bác phó may khéo tay câu khách giỏi đã nghĩ ra những cải tiến cái áo dài.

Không biết bác phó tài hoa nào đã sáng tạo những cung cách tân thời ấy chỉ thấy khắp chợ thì quê, cái lúc mốt mới tràn đến như thế thì đua nhau bắt chước.

Hàng tốt, hàng đẹp, lại mốt mới, chiếc tà áo, cánh tay, lưng lượn bó, bỏ vạt con, bỏ cái lá sen quanh cổ, đầu tiên thấy chống chếnh rồi cũng quen mắt.

Rồi cạnh cái khuy đồng khâu để làm vì thêm khuy bấm cho thật sát nách, chặt chẽ cổ tay, dựng cái áo nổi mình hơn.

Những chiếc thắt lưng và yếm đã bỏ đi từ lúc nào, cái thắt lưng đã giản dị thay bằng cái cạp quần dải rút, thay yếm là cái áo lót cộc tay ba lỗ (áo này chưa phải là coọc xê).

Thế nhưng dẫu đến khi khâu máy đã thắng thế mạnh mẽ - mở lò khâu phải có máy khâu và trong thành phố, số lò khâu có máy khâu phải tính hàng trăm trở lên, hầu như phố nào cũng có và nhiều lò nhất là ở phố Khâm Thiên.

Vẫn phải có bác phó khâu tay, ở thời máy khâu nhưng đường kim mũi chỉ dựng nách, viền cổ, lườn áo và thùa khuyết vẫn là bàn tay bác phó.

Cho đến hiện nay, may lót áo kép, áo bông dài nhiều người vẫn may tay.

Trong phong trào máy may, phó may cải tiến có nhà cải tiến nổi lên thành tên là họa sỹ Cát Tường.

Cát Tường là nhà cải tiến áo dài tân thời có trình độ, ông đã tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, trường ấy không dạy cắt may nhưng vốn mỹ thuật giúp ông hiểu biết và phát huy cải tiến mốt quần áo.

Cái tiếng nhà nghề của ông là bác phó mốt, phó cắt, chứ không phải phó may, nhưng được tiếng tăm nhờ tờ báo Phong Hóa, báo Ngày Nay của văn đoàn Tự lực đương chủ trương cải lương nếp sống (Nhà tranh kiểu Ánh Sáng, quần áo tân thời v.v...).

Áo dài Cát Tường cải tiến có cái được cũng có cái trải qua sử dụng rồi nhạt dần.

Dáng áo Cát Tường vạt rộng, vừa buông chùng xuống vừa thắt lưng ong lại nâng ngực cao lên và cổ áo cao hơn một phân thì bây giờ vẫn đương thịnh hành.

Nhưng không phải tất cả áo dài bây giờ đều kiểu ấy.

Có áo dài vạt không chiết và ngắn dưới gối một chút, tay áo rộng, các cô gái Sài Gòn, nhất là những nữ sinh áo tím thành Huế ưa mặc và đấy cũng là một kiểu phổ biến ngày nay như bóng dáng Cát Tường.

Nhưng các mẫu áo cho học sinh nam nữ mặc đi học, đi cắm trại của Cát Tường đã giới thiệu trên báo thì không còn sống kiểu nào.

Và ở áo dài, những cải biến, cổ bắt chéo thêu hoa, khuy tết, hai vai áo cắt dời để khâu bồng vai áo lên, gọi là vai bồng, mốt đặc biệt của họa sỹ Cát Tường đã tung ra, mà các báo của Tự lực Văn đoàn cổ động.

"Công tử vai long đình, tiểu thư vai bồng" chỉ háo hức lúc ấy rồi mai một dần vì nó Tây quá, không hợp.

Phụ nữ châu Âu và Ả Rập cao lớn, vai và ngực đồ sộ, áo vai bồng càng tôn cái rực rỡ lên.

Phụ nữ Việt Nam mảnh dẻ, thêu hoa lá và khuy tết rườm rà, hai cái vai áo bồng lởm chởm che mất vẻ đẹp của đôi vai nhỏ nhắn.

Vai tròn, vai lẳn, cái áo dài mượt mà càng thêm ý nhị, duyên dáng con người.

Các mốt đều một thời, lâu nay mau rồi tàn tạ, chỉ kiểu nào thích hợp thì tồn tại lâu.

Cũng như cái khăn, cái khăn "hoàng hậu" của nhiều hoa hậu và cô dâu đội ngày cưới bây giờ.

Nó có tên là "hoàng hậu" bởi gốc nó là mốt cái khăn vàng cao nhiều nếp của bà Nam Phương vợ vua Bảo Đại đội những khi có tiệc, có lễ, trông có vẻ gọn, nhưng thật lại kềnh càng bây giờ làm nếp cao hơn khăn hoàng hậu nhiều như thế chắc cũng chỉ có thời.

Trong khi các bà các cô chít khăn, nhã và đẹp từ xưa kia tới bây giờ, là khăn vành dây.

Khăn nhung chỉ điểm trang nhỉnh hơn mái tóc một chút, hợp với khuôn mặt.

Chị em dân tộc Tày ở Cao Bằng chít khăn nhung ăn với nước da trắng, thật yểu điệu, đội lúc nào cũng được, không phải đội mốt.

Gần đây, ở các cuộc thi thời trang đã thấp thoáng có người đẹp chít khăn vành dây.

Mà ôi thôi, đương cái áo dài lại lan man sang cái khăn.

Nhưng mà kể ra cái ăn, cái mặc, cái nói, cái đi đứng, những quan hệ và giao tiếp của người ta là việc của nền nếp văn hoá con người rất thân thiết, nên bàn.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
113. Tết rằm Trung thu


Tháng tám mỗi năm, nếu chẳng kể tết Nguyên đán, thì tết Trung thu vui nhất.

Phá cỗ và trông trăng có một đêm rằm, nhưng việc sắm sửa - dù nhà có nhà không có, chỉ đủ tiền mua quả bưởi bày cỗ, ai cũng đếm từng ngày, từ hôm đầu tháng.

Không chỉ tết của con trẻ, mà người lớn cũng nao nức.

Mà lạ thay, trong một năm, trời đất đến quãng ấy vừa đẹp vừa dễ chịu.

Đã hết những trận mưa rào trút nước, chớp giật những cơn sét hòn lăn ra xanh lè.

Chặp tối trông ra khe cửa, thấy lập lòe không biết là đom đóm hay ma trơi.

Biết bao nhiêu cái sợ.

Mùa thu trong xanh, làn mây trắng tơi trôi bồng bềnh.

Ngoài đồng xa, gió giải đồng thổi vào, đem theo hơi mát và mùi lúa đương chín.

Chân tay chúng tôi cứ nhẹ tênh, hoa lên từ trong cổng chạy ra.

Ở chợ, đã bày bán những chiếc trống nhỏ, mặt trống kêu tong tong.

Tiếng trống vang động các phố, các ngõ, trông giục tết Trung thu hãy tới, mau lên.

Các đồ chơi rằm, nhiều thứ đèn thắp nến, thắp dầu lạc, thắp dầu hạt bưởi.

Đèn ông sư, mũ sư quay tròn, ngọn nến lung linh ở giữa.

Cái đèn trống có cán cầm, hai mặt trắng tròn vành vạnh.

Đèn củ ấu giấy tàu bạch treo ngoài hiên.

Đèn kéo quân đặt trên bậc cửa cao.

Đứng xa cũng nhìn được đĩa dầu bấc thắp sáng, quân đèn cù in bóng chập chờn chạy bốn mặt, nào con voi, nào người gồng gánh, nào học trò cắp sách.

Các hàng đầu ô không bán đồ chơi bằng thiếc đắt tiền.

Cái tàu thủy thả xuống nước, cái ô tô có dây kéo chạy được, người lớn phải mua ngoài phố Hàng Thiếc.

Nhộn nhịp từ phiên chợ mười bốn, mẹ đi sắm quả bày cỗ.

Sớm nhất, đem về những quả bưởi đào, rồi quả hồng, quả dừa.

Có khi được bổ quả bưởi ăn trước, lấy nhân hạt bưởi đem phơi nắng ngoài thành bể rồi xâu lại làm nến thắp đèn con thỏ, con thiềm thừ.

Gần đến rằm, mẹ mới mua phong bánh dẻo.

Bàn bày cỗ thì ông đã kê cho ở ngoài hè.

Đầu bàn, ngồi cao cao một ông tiến sỹ mặt trắng bột, áo thụng giấy vàng, đầu đội mũ cánh chuồn, mũi đôi hia có trang kim nhấp nhánh.

Đấy là mơ ước của mẹ tôi, mong cho tôi học giỏi, sau này tôi được nên ông tiến sĩ.

Tết rằm, chơi tiến sĩ thanh tao và mơ mộng còn có ở những người lớn tuổi và thú chơi tiến sĩ cũng lác đác đến tận bây giờ.

Mỗi năm, đi chợ Trung thu, dạo phố Hàng Mã, cụ Vạn Lịch bạn tôi lại mua cho tôi một ông tiến sĩ.

Cả phố Hàng Mã chỉ còn mỗi một hàng ở góc tường treo hai ba ông tiến sĩ cỡ vừa.

Cũng có đôi ba người mua, nhà hàng chỉ làm ngữ thế, bởi cả người bán người mua cùng hiếm mà giá thì đắt.

Từ năm cụ Vạn Lịch quy tiên, tôi cũng bỏ thói quen dạo Hàng Mã sắm ông tiến sĩ chơi rằm.

Chẳng biết phố chợ tết rằm này có còn bán ông tiến sĩ?

Không nhớ từ hôm nào, chặp tối, trên đầu chợ đã túm tụm đám hát trống quân.

Trai gái đứng xúm xít, trẻ con không chen được vào, chỉ nghe tiếng cất lên í a, ạ ừ và chốc chốc điểm nhịp thì thùng thanh tre gõ sợi dây thép, hai đầu buộc vào thùng sắt tây.

Hôm rằm thì hầu như buổi chiều cái tết tụ lại từ đầu ngõ vào trong sân.

Ông trăng tròn xoe vừa lên đằng sau bụi tre, hãy còn ban ngày nên trắng bệch như tờ giấy bản.

Tiếng trống bốn bên hàng xóm khua lên, đụng đậy cả đến ông trăng và ông trăng mỉm cười.

Khi trời đã tối hẳn, ánh trăng trong leo lẻo, bấy giờ trông rõ ông trăng cười như sắp bước xuống chơi "dung dăng dung dẻ" với chúng tôi giữa tiếng trống múa sư tử, những cái đầu sư tử cỏn con hủn hoẳn không có đuôi, chỗ nào cũng thấy lấp ló.

U tôi bưng dưới bếp lên một rổ ốc luộc còn nghi ngút khói.

Có nhà làm bún ốc, chuối xanh bung ốc nhồi, ăn với bánh đúc sắt từng miếng.

Mẹt bánh đúc to bằng mặt trăng trên kia.

Bánh đúc quấy với lá gừng xanh mát mắt.

U tôi đã mua mớ ốc vặn từ phiên chợ trước, đem bỏ vào chậu nước vo gạo.

Ốc ngâm nước vo nhả hết bùn nhớt, ốc mỡ màng hơn.

Ốc vặn, ốc biêu luộc rồi lấy gai bưởi nhể ra, chấm nước mắm dầm ớt giã vào một miếng gừng cay vừa ăn vừa húp giấm, lại suýt soa.

Tháng bảy, tháng tám, ăn ốc hồ Tây trông trăng lại nhớ mùa này, ốc các đầm hồ đương béo.

Chúng tôi châu đầu nhể ốc.

Những con ốc vặn, ốc biêu xanh trơn - đương cữ ốc đầy, khói luộc đượm mùi lá chanh bốc hơi thơm ngát.

Một nhà nào phá cỗ, tiếng cười ánh ỏi lan sang láng giềng.

Không nhà nào phá cỗ một mình.

Những múi bưởi, những miếng hồng và bánh dẻo, bánh nướng nhà này đem nhà khác cùng ăn.

Trong tiếng trống sư tử, tiếng reo hò đã rộn rã xa xa.

Chẳng mấy lúc, rổ ốc đã thành một đống vỏ và trên bàn cỗ chỉ còn quả bưởi chưa bóc và ông tiến sĩ vẫn ngồi nguyên chỗ ấy.

Đã hết nến, những xâu hạt bưởi cũng không còn.

Nhưng ánh trăng thì rời rợi.

Không biết ai đứng lên, nói to:

- Bây giờ ra Hàng Đào xem múa sư tủ thì đương vui đây.

Cũng thuận chân và phải lúc thôi, hầu như đêm rằm nào, khi phá cỗ xong, cả người lớn và trẻ con đều ra Hàng Đào, có khi chơi ngoài ấy quá nửa đêm mới về.

Chúng tôi đi trong ánh trăng trước sân ra đường cái rồi chạy thi xem ai nhanh hơn.

Bên đường lúc nào cũng inh ỏi tiếng trống hội múa sư tử, những đám trẻ ngẩn ngơ vỗ tay hát trong ánh trăng.

Đến lúc trông thấy mặt nước hồ Tây sáng lên, biết đã ra tới phố Quan Thánh.

Tiếng trống sư tử vẫn rải rác theo chân chạy của chúng tôi.

Nhiều chỗ nghe tiếng trống, rồi mới thấy người giơ lên cái đầu sư tử rung rung.

Càng đông, qua chợ Đồng Xuân thì hầu như thấy cả thành phố đổ ra đường, xung quanh không chỉ có trống con nhảy nhót, mà là trống cái, tiếng trống cái đánh lẫn tiếng thanh la, chũm chọe...

Đoàn người múa sư tử, nhịp chân hoa lên đi về phía phố Hàng Ngang, Hàng Đào.

Hội sư tử kéo về đây đông nhất.

Ngoài đường ồn ã, nhưng các cửa hàng cửa hiệu hai bên đã đóng cửa.

Vừa là nghỉ bán hàng tết rằm, vừa cũng hãi người nhốn nháo các cửa ô vào xem rước sư tử, múa sư tử, sư tử giật giải.

Biết đâu, cả kẻ trộm kẻ cắp lẫn lộn, lại nữa bởi đội sư tử là những tay anh chị từ dưới bãi, những tay chơi có hạng của các đội Ba Đen, đội Phó Lừ sừng sỏ nức tiếng bãi sông Hồng.

Vào thời ấy dưới bãi chưa có phố, không có nhà lợp ngói, tường gạch, mà chỉ lơ thơ chiếc lều tạm bợ, không mấy khi thấy người, cả buổi trưa, những con bói cá đứng gật gù canh chừng mặt nước, chốc lại lao xuống, bay biến đi.

Đứng trên đê nhìn ra bãi sông, chỉ thấy dòng nước đỏ rực hai bên bờ bãi xanh mờ những bụi lau chen bãi dâu, bãi ngô.

Rồi mỗi mùa lũ, nước sông lên ngập các bãi Nghĩa Dũng, Phúc Xá vào tận lưng đê bến Nứa, tất cả mọi thứ, cái lều, con lợn, gồng gánh trôi băng chỉ còn sống sót người ôm bọc quần áo thoát lên đê.

Người làm cu li, làm phu, người thất cơ lỡ vận bỏ làng lên tỉnh kiếm ăn chui rúc nương náu ở bãi.

Lại những bọn đánh nhau thuê, khóc mướn, những tay chân các sòng bạc Hai Cua, Ba Sinh, những du côn đứng bến tranh khách cho các hãng ô tô Thỏ Trắng, Ngựa Vằn và những thầy dạy võ, khăn gói quả mướp trên vai nay đây mai đó, những người ấy đến trú ngụ trong bãi dăm bữa, nửa tháng rồi lại đi.

Và đêm rằm tháng Tám, từng bọn nhập cuộc đám sư tử lên múa giật giải lấy thưởng của các cửa hiệu buôn bán to ở phố Hàng Ngang, phố Hàng Đào.

Các đội sư tử cũng sửa soạn tết rằm.

Những chiếc khung đầu sư tử bằng tre cật buộc mây gác bếp được lôi xuống gột cọ bồ hóng.

Vuông vải điều, vuông lụa thiên thanh đem giặt phơi nắng cho lại màu.

Rồi đội cái khung đầu sư tử lên Hàng Mã thuê bồi giấy, đắp má, cắm râu, gõ mặt, quét sơn đỏ, sơn đen, lắp đôi mắt lồi lung lay và làm cái côn gỗ đầu buộc quả ngọc ngũ sắc.

Chẳng mấy hôm mà đầu sư tử và chiếc côn đính hòn ngọc, tấm vải điều đuôi sư tử - đồ chơi cũng là đồ nghề kiếm ăn của các tay anh chị - đã được đem về để trên nóc lều, bụi lau.

Mọi thứ vằn xanh vằn đỏ rực rỡ cả mái nhà.

Từ chập tối, những đội sư tử đã lần lượt đi.

Trẻ con các bãi theo lên làm vui tết các phố, còn ở nhà thì chỉ nhìn thấy trăng rằm.

Phải đợi xem các đội sư tử giật được giải khuya về, bấy giờ mới được có tết phá cỗ, đôi khi tụ tập trên bãi cát trẻ con ăn bánh, người lớn uống rượu trông trăng.

Người giơ hai tay vác đầu sư tử, ống quần quấn xà cạp điều, đi giày ba ta nâu, mắt đeo kính rợp - mặc dầu trời tối, có đeo kính thế mới ra người tài tử, bước đi làm rung bộ râu sư tử nghênh ngáo.

Người cầm côn hòn ngọc đi trước, người cầm vạt đuôi đi sau cũng múa lên, múa lên.

Những người cầm gậy đi hai bên ăn mặc hệt nhau, áo lụa đen, thắt lưng và xà cạp điều, đầu chít vuông lụa lá mạ, những đôi mắt cũng kính râm.

Hai người khiêng chiếc trống cái, đòn tre kẹp tang trống.

Người đánh trống và người đập chũm chọe đã nổi trống, nổi phèng phèng, từ lúc lên đê.

Tiếng trống, tiếng chũm chọe... tùng xòe... tùng xòe... vang vào, các phố bờ sông đều biết hiệu đội sư tử rằm năm nay đã lên.

Mấy phố ven đê đã nhộn nhịp.

Đội sư tử đã bắt đầu chơi.

Không phải chỉ đến múa ở phố Hàng Đào mà các đội múa từ lúc bước sang bên kia vỉa hè.

Trong ánh điện đèn quanh cột Đồng Hồ, người đổ ra xem.

Mỗi sư tử, người đội đầu người cầm đuôi, người múa hòn ngọc nhử mồi.

Những đội nhỏ xuống phố Hàng Buồm, khi người cầm ngọc hoa trên chiếc côn lên, ấy là hiệu cho sư tử múa mừng.

Nhà hàng được sư tử dừng lại, mở toang cửa, bắc ghế ngồi xem.

Người múa ngọc uốn mình đi một đường côn, đầu sư tử rượt theo liệng một vòng kéo theo người hai tay nắm đuôi, phất phất.

Thế là đã nới được người rộng ra cho cánh khiêng trống, đánh trống vào.

Sư tử vờn cao đầu chào gia chủ trong tiếng trống múa.

Tiếng chũm chọe đinh tai... tùng tùng xòe... tùng xòe... xòe... chiếc côn ngọc lại vi vút quăng.

Sư tử đuổi đớp ngọc, hòn ngọc và đầu sư tử quần nhau vừa mười vòng thì được một đợt.

Hơn chục người trong đội hoa quyền xuống tấn, múa bái tổ ngước vào cửa hàng.

Chủ hiệu bước ra phong bao tiền rơi tọt vào trong mõm, rồi... tùng xòe... xòe... chiếc côn ngọc lại giơ lên, múa tiếp.

Nhưng chủ nhà đã cười cười, chắp tay vái:

- Thôi... thôi... vui rồi, được lộc rồi...

Để dành vui sang năm.

Chẳng biết ai được lộc, đội sư tử hay chủ nhà.

Cái đầu sư tử hạ xuống, đội lần lượt sang nhà khác, kéo theo đám đông đường phố.

Nhưng không phải đến cửa nhà nào cũng được múa để có tiền thưởng.

Nhiều nhà đã đóng cửa từ chặp tối.

Tiếng trống chỉ đi qua.

Các phố có hàng chục đội sư tử đang đi diễu, đương múa, những người năm nào cũng xem múa sư tử đã biết đến chỗ nào náo động có những đội có sừng sỏ chơi, người ta đã đợi trước cửa hàng tơ lụa cạnh nhà bánh trung thu Hanh Hiên trước cửa treo chiếc đèn con thiềm thừ xanh mướt to nhất phố.

Nhà Cúc Hương, các tay thợ bột, thợ khuôn mũ trắng áo trắng lốp đứng đóng bánh, được chiếc nào có khách đợi lấy ngay.

Nhà hàng này bán đến tận chiều rằm mới tháo nước rửa cửa, nhiều nhà khác chỉ ngày mười bốn đã cạn khách.

Tối rằm, mấy nhà ở khóm ấy treo giải múa sư tử thật to khác đời, bởi làm ăn phát tài bấy lâu.

Một cây pháo bông buông từ lan can gác xuống thềm hè.

Đội sư tử đến, bắt đầu châm lửa đốt cây bông, bông phun ra hoa cà hoa cải, con chuột chạy, màu tím màu vàng viết lên ba chữ phúc, lộc, thọ, hết cây bông thì đến múa sư tử.

Trên chỗ buộc đầu cây pháo bông treo bọc giấy bóng đỏ tiền thưởng.

Tiền thưởng cũng không ai biết đích xác bao nhiêu, bởi chủ nhà không niêm yết số tiền mà cũng chẳng ai được cầm đến bọc tiền.

Tiếng đồn giải hàng trăm bạc trở lên.

Chỉ đem hai mươi đồng bạc về quê đã tậu được một sào ruộng thượng đẳng.

Mỗi nhà có hai giải, giải đầu thưởng đội múa tài nhất, đội nhì cũng được ăn giải không phải về không.

Giải nhất giải nhì đội nào giật được phải ra sức cả lúc côông kêêng đứa vác đầu sư tử lên đớp giải.

Có nghĩa là hai tay giỏi võ của hai đội ngồi đánh nhau trên vai mấy tầng người chồng lên.

Có người ngã gãy tay, ộc máu, đội xếp đến làm biên bản bắt về bóp, chủ nhà treo giải cũng bị liên lụy.

Thế là năm sau thôi lệ tranh giải, mà múa xong nhà chủ phát giải nhất nhì cho hai đội đưa đầu sư tử lên đớp phần đã định và điều đình với nhau.

Những đội tép nhàng nhàng chỉ lấy giải quanh quanh các nhà treo tiền thưởng cò con.

Vào đến giải mấy nhà chỗ hiệu Hanh Hiên, vài năm nay chỉ còn có hai đội Phó Lừ và Năm Đen.

Đội nào lớ quớ kéo vào đã bị chặn đầu phố.

Người cầm gậy gác vừa rút con dao mổ lợn ra vừa ghé đầu rỉ tai hỏi tí tiết rồi nói: "Cút ngay!".

Thế là chịu thua, chỉ xin đàn anh cho đứng đánh trống, múa vòng ngoài góp vui.

Nhà chủ đã đem cơi trầu và chai rượu ra mời.

Chưa đội nào ngo ngoe dám vượt mặt hai đội thủ chỏm Phó Lừ, Năm Đen.

Đến rằm năm ngoái, hai đội đầu trò vừa dứt hồi trống thu ngọc bái tổ rồi đến mục cùng vươn lên lan can gác đớp giải.

Người nhảy lên vai nhau, chồng như bậc thang để người thứ năm đội đầu sư tử thoăn thoắt trèo lên hớp.

Đã phân chia đội nào giật giải ấy.

Nhưng cũng mấy lần ngã mới lên được.

Người xem reo hò, hồi hộp ngước mắt.

Người hai đội đương leo.

Người đội Ba Đen đứng lên vai, đầu sư tử nghiêng ra đớp giải ngoài lan can.

Vừa lúc ấy, đội Phó Lừ đã giật giải bên kia rồi lại nhoài người đưa đầu sư tử sang huýnh ngang giật bọc giải nhất.

Đội Ba Đen còn đương chới với.

Đội Ba Đen bị cướp thình lình, đám người loạng choạng mất đà, ngã rúi xuống.

Tiếng reo à à như vỡ chợ.

Giải đã định, được xướng danh từ lúc vừa múa xong.

Không ai rõ tại sao lại có chuyện cướp giải.

Nhà chủ đã vào ngồi trong hiên nhìn ra xem, cũng không biết thế nào.

Cái ức ấy đội Ba Đen đã để đến năm nay rửa hận.

Đội Ba Đen lên phố Hàng Đào từ chập tối.

Mỗi người giắt lưng môt con dao găm.

Đợi đến lúc lên nhận giải mà cánh Phó Lừ còn chơi đòn ngầm thì cả đội sẵn sàng một phen.

Mà năm nay chúng nó có tử tế chăng nữa, những con dao này cũng phải dây máu, vì còn phải hỏi tội đòi cái tiền thưởng giải nhất năm ngoái.

Người xem rước sư tử các phố đã dồn đến.

Nhiều nơi đã kháo nhau đêm nay ở giải Hàng Đào có trận đòn thù khiếp lắm đây.

Người tới càng đông.

Chiếc trống cái của đội Ba Đen hai người khiêng đặt xuống vỉa hè, gõ gióng một, tiếng gọi, tiếng giục, nhịp với thanh la.

Tùng... tùng... xòe... người cầm ngọc chốc lại ngứa tay, huơ ngọc lên.

Người cầm đầu sư tử giơ tay đẩy hàm râu, lưỡi sư tử lắc lư đưa ra đưa vào như thèm đớp hòn ngọc để bên kia.

Vừng trăng đã lên cao đằng Bờ Hồ, như chiếc bóng điện to treo giữa trời.

Chủ hiệu ra bảo đội Ba Đen tìm đội nào múa đôi.

Nhưng không đội đàn em nào dám ló mặt.

Sợ đương chừng, đội Phó Lừ tới thì sao.

Thế là sư tử Ba Đen phải múa một mình.

Đội Ba Đen bắt đầu múa, người xem có phần vắng hơn mọi năm.

Nhưng đội múa không có ganh đua, cũng nhạt.

Đến lúc chồng người lên, đầu sư tử lên đớp cả hai giải nhất, giải nhì ngoài lan can.

Tiếng reo cũng thưa thớt.

Chúng tôi lại chạy từ ngoài phố về đến nhà, trăng sáng như ban ngày suốt đường.

Ít lâu sau, nghe được chuyện tại sao Phó Lừ không đến giải.

Giữa năm, Phó Lừ được các chủ dó thuê lên ngược đẩy bè cây dó từ Yên Bái về bến Chèm.

Xuôi đến quãng ngã ba Hạc, phải cơn lũ lật bè, Phó Lừ bị chết trôi mất xác.

Thế là tan hội.

Rằm tháng tám năm sau, cả đội Ba Đen ở dưới bãi cũng không thấy lên phố Hàng Đào giật giải múa sư tử.

Không biết đi đâu.

Người lam lũ ở dưới bãi, cái vui cũng là đi làm vui cho người, còn đời mình thì lang bạt.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 2) - Tô Hoài
114. Cửa thiền


Nhà thơ Thôi Hữu có kể tôi nghe một chuyện anh trừ gian ở vùng Bưởi – khu vực anh phụ trách trước năm 1945, thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Sáng sớm, trên đường vào thành phố.

Sương mù hồ Tây dày đặc tỏa lên, loáng thoáng bóng người.

Anh đạp xe đằng sau cai Long.

Qua cống Đô, đến chỗ tránh tàu điện ở cổng Rong, đường thật vắng.

Anh dấn lên, rút súng, bắn một phát vào lưng tên mật thám.

Cai Long ngã vào đường tàu điện.

Anh nhảy theo, bồi một phát nữa.

Rồi ra lên xe đạp đi.

Ngay trước mặt, lính Nhật đóng trong nhà dầu cù là Tam Đa nghe tiếng súng.

Chúng xách súng chạy xổ ra.

Xe đạp của anh lướt qua mấy toán lính.

Vào đến đầu làng Thụy, anh cúi xuống mới giật mình.

Một bên ống quần, một vệt đỏ lòm, máu tên mật thám bắn vào.

Thế mà bọn Nhật nhớn nhác không trông thấy.

Anh không thể cứ cái quần vấy máu tươi ấy đi giữa đường.

Anh trông thấy một ngôi chùa bên kia sông Tô Lịch.

Anh dắt xe qua cái cầu nơi vào ngôi chùa nhỏ có ba gian.

Một sư bà đương xách nước ngoài giếng lên.

Anh nói: "Tôi là Việt Minh, tôi vừa trừ tên gian ngoài cổng Rong..."

Nghe đến đấy, nhà sư đưa anh vào ngôi nhà hậu sau chùa.

Nhà sư lấy bộ quần áo nâu đưa cho anh.

Anh vội vã thay chiếc áo cánh và cái quần nâu rồi chào nhà sư.

Anh đạp xe vào thành phố.

Quần nâu áo vá, anh cũng như người thợ nề, người cu li trên đường giữa mọi người đi làm buổi sớm.

Năm 1954, trở lại Hà Nội.

Tôi có ý muốn đến thăm ngôi chùa và nhà sư đã cứu giúp Thôi Hữu.

Từ ngày ấy tới bây giờ, đã ngoài mười năm, Thôi Hữu cũng đã mất rồi.

Tôi vốn quen thuộc vùng này từ trước.

Những bè rau muống bên bờ sông cạn.

Cái cầu tre một gióng bắc qua có tay vịn.

Cái nhà hậu đã bị dỡ.

Những gian chùa trên đã đổ nát, ủ ê, như cây rơm mục ngày mưa dầm.

Không đèn nhang, không tiếng chuông mõ, chỉ còn mùi hoa mộc ngoài sân cho thấy được vẻ thanh khiết nơi chùa chiền.

Trong gian giữa, một cụ sư ngồi tựa cột.

Có người vào đánh tiếng, cụ lọm khọm quay mặt ra, nhưng vẫn nhắm mắt.

Tôi vào bàn thờ Phật thắp hương, thỉnh một hồi chuông rồi ra ngồi trước mặt cụ.

Cụ sư già lẫn bóng cột với mặt đất ẩm thấp.

Nghe chuyện tôi, cụ chỉ im lặng.

Rồi tôi hỏi:

– Bạch cụ, cụ có còn nhớ ngày ấy không?

– Nam mô a di đà phật, lâu quá, lâu lắm, già không nhớ nữa.

Trước sau, cụ chỉ nói một câu ấy rồi rì rầm niệm Phật.

Tôi đâm ra ngờ ngợ, không biết có phải đây là sư bà ngày trước đã giúp Thôi Hữu.

Tôi hỏi những nhà láng giềng đều nói chỉ có cụ sư đã ở ngôi chùa này từ khi cụ còn trẻ và ở một mình, chùa nghèo không có tiểu, không có vãi.

Của nả nhà chùa chỉ có bè rau muống ngoài bờ sông.

Có phải nhà sư đã quên hay vẫn còn nhớ cả.

-------------HẾT----------------
 
Back
Top Bottom