Cập nhật mới

Khác Chẩm thạch miên (Gối đầu lên đá say giấc nồng)

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
393931467-256-k350378.jpg

Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
Tác giả: JulieLe627
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Bị liên lụy từ vụ trọng án diễn ra trong triều đình, gia đình đều chịu án tử, vị tướng quân Cao Huân lưu lạc đến xứ Đào Nguyên - vùng đất nổi tiếng với những đồi chè xanh ngát.

Chàng được nàng thiếu nữ Quế Hoa cứu mạng.

Suốt những tháng ngày dưỡng thân bệnh và tâm bệnh dưới mái nhà của Quế Hoa, chàng nhớ lại giấc mộng tang bồng thuở thiếu thời lẫn quá trình nó vỡ vụn theo thời gian.

Cả cuộc đời người gói gọn trong một cuộc chè nước, như giấc mộng hư ảo theo cánh hồ điệp của Trang Chu.

Câu chuyện này mượn nhân vật để kể về chén trà, mà cũng là mượn chén trà để kể về nhân vật.

Cảnh báo nội dung: Các tình tiết, địa danh và nhân vật trong truyện đều là sản phẩm hư cấu không liên quan đến bất kỳ sự kiện hay con người thực tế nào.

Mọi sự trùng hợp về tình tiết, địa danh và tên tuổi đều là ngẫu nhiên, tác giả không chịu trách nhiệm cho sự trùng hợp này.

Các quan điểm được thể hiện trong truyện chỉ phù hợp với thế giới lẫn bối cảnh hư cấu diễn ra câu chuyện, không đại diện cho quan điểm của tác giả đối với các vấn đề diễn ra trong thế giới thực.



lichsu​
 
Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
0.


Dành tặng cho chúng ta ở một thực tại khác.

Hẹn khi hữu duyên sẽ dùng rượu ngon cùng túy lúy say sưa.
 
Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
1. Một chuyện đã qua


Bóng xiêu xiêu

Quân yêu yêu

Tịch liêu trông ngóng mỗi sớm chiều.

Chiến loạn năm thứ bảy.

Mưa tháng Giêng lất phất giăng khắp một vùng Đào Nguyên.

Đất trời theo đó cũng được phủ một màu xam xám ảm đạm.

Từng cơn gió lạnh quét qua những đồi chè xanh non mang theo hương hoa xoan thoang thoảng lẫn trong cái rét ngọt buốt đến tận xương.

Thời ấy tiết ấy, ví thử là vào thuở thanh bình thì hẳn dân vùng này đã nô nức rủ nhau đi chợ, đi hội đầu năm.

Thế nhưng tiếc thay giờ lại là buổi binh đao loạn lạc!

Cao Huân dồn đám tàn binh vào đồi chè.

Chàng lệnh cho binh sĩ quyết không để tên nào tẩu thoát, dẫu chủ tướng đã truyền lệnh tha chết cho những kẻ xin hàng, bởi trời cao còn có đức hiếu sinh.

Cao Huân nhìn nhúm giặc Ngô bỏ chạy như bầy vịt, đạp lên nhau mà thầm hả dạ.

Chàng tự nhủ, quả thực trời cao có đức hiếu sinh, nhưng nào phải cho phường bạo ngược, tàn ác như lũ người phương Bắc này.

Làng mạc ở Đông Giang bị chúng cướp bóc, phá phách.

Người chết dưới đao kiếm của chúng nhiều không kể xiết.

Nếu chàng mềm lòng mà tha mạng cho chúng thì có khác nào là nối giáo cho giặc.

Nghĩ đến đây, Cao Huân càng thêm quả quyết, chàng giục giã lính tráng cứ thẳng tay chém giết, bất kể kẻ địch thất thế có xin hàng hay không.

"Xin ngài nghĩ lại cho, làm thế e không hợp nhẽ trời."

Viên phó tướng dè dặt thưa.

"Đất này dân Đào Nguyên chúng tôi tuyệt chẳng dám để vấy bẩn, nếu giờ tuân mệnh ngài thì máu chảy thành sông mất thôi..."

"Có gì mà không được?"

Cao Huân gằn giọng, chàng ghì cương ngựa mà nhìn sang viên phó tướng.

"Lũ chúng nó bị phanh thây xẻ thịt ta mới thỏa lòng."

Nói rồi chàng thúc vào bụng ngựa, phi nước đại chạy vào đồi chè, hào hứng như người ta đương chuẩn bị đi săn trong rừng.

Mà kỳ thực thì cuộc truy đuổi này cũng chẳng khác chuyến đi săn là bao, khi chàng cùng lính tráng tua tủa vũ khí tiến những lối đi giữa các hàng cây chè.

Chỉ hơi thấy động hay thoáng có bóng người là gươm giáo đâm xỉa thẳng tay.

Ngày hôm ấy, cả đồi chè xanh non mơn mởn vang tiếng than van, rên rỉ của những kẻ bại trận phương Bắc.

Và cho đến buổi cuối ngày, ai đặt chân lên đồi đều rùng mình kinh hãi trước cảnh máu đỏ tưới đẫm cây còn thây người chất thành đống dưới gốc cổ thụ.

*

* *

Đồi chè Tâm Châu ở xứ Đào Nguyên có một cây chè cổ thụ.

Tục truyền rằng cây ấy là cây tổ của giống chè thanh ngọt, xanh nước xứ này.

Cây mọc sừng sững giữa đồi chè từ một lâu lắm rồi, đến mức những người già cả trong làng, các bậc bô lão tóc đã trắng màu sương cũng chẳng rõ nó được trồng từ bao giờ.

Người ta chỉ biết rằng từ khi còn sinh cho đến lúc chết đi, cây chè cổ thụ ấy đã mọc xanh rì, sừng sững phủ bóng một góc đồi Tâm Châu.

Cây ấy thiêng lắm, đời nối đời dân Đào Nguyên kháo nhau như thế, đã bao bận sấm rền chớp giật đánh xuống cũng không hạ được nó.

Rồi cũng vì cái sự xanh tươi đời nối đời đó mà cây được dân chúng kính ngưỡng như thành hoàng, chúa xứ.

Không ai dám làm điều xằng bậy hay để thứ gì mà họ cho là dơ dáy đến gần cái cây.

Tựa hồ cái sự thờ phụng bất thành văn đó đã thành cái lệ, cái hèm của làng, và cũng bởi thế mà khi hay tin Cao Huân giết người trên đồi chè, dân làng Tâm Châu tất thảy đều rùng mình hãi hùng.

"Khéo lo nghĩ hão huyền.

Ta giết phường gian ác, đấy là theo lẽ trời."

Chàng thản nhiên đáp, chẳng mảy may bận tâm đến việc dân không cho đoàn quân của chàng tá túc trong làng.

"Các người không cho binh lính nghỉ lại trong đình thì cứ để chúng ta nghỉ lại ở đồi chè một đêm, sáng mai chúng ta vượt sông hội quân với chủ soái."

Nói rồi chàng lệnh cho binh lính dọn lấy một khoảnh đất để làm chỗ dựng trại nghỉ qua đêm.

Tối hôm ấy, chàng còn mua thịt trâu cùng rượu ngon về khao quân.

Đoàn quân của chàng đốt lửa, ăn uống rồi lăn ra ngủ ngay trước gốc cây thiêng, sau khi đã dọn sạch xác những tên giặc Ngô.

Cao Huân thức khuya hơn một chút, chàng vẫn giữ thói quen đọc binh pháp trước lúc đi ngủ.

Đến giờ tý, khi bấc đèn cháy tận, chàng mới vươn vai, xếp sách lại cẩn thận rồi chậm rãi bước ra ngoài dạo quanh bởi cũng chưa có ý muốn nghỉ ngơi.

Trời tháng Giêng về đêm trời lạnh và buốt hơn.

Cao Huân rảo bước giữa những dãy chè, đôi mắt chàng thả vô định lên nền trời sáng trăng vằng vặc.

Trăng này nom thật giống như ở Đông Giang quê chàng.

Lòng chàng chợt vì thế mà mềm đi đôi chút, man mác nỗi nhớ nhà.

Cha mẹ chàng, các em chàng, và cả nàng Mai đều đang đợi chàng trở về.

Độ này ở quê chàng, đoán chừng họ đều đang tất bật chuẩn bị cho lễ nguyên tiêu.

Lễ lạt cả năm sao bằng được ngày rằm tháng Giêng.

Cả chủ soái cùng các anh em ở Thanh Sơn nữa, hẳn sau trận phá một thôi ba thành ở Khuê Châu, ai cũng rất phấn chấn vui mừng.

Tư Minh tướng quân chẳng đã truyền thư cho chàng thúc giục sớm về tụ hội với ngài và chủ soái, đặng ăn rằm đấy sao?

Lòng Cao Huân khi nghĩ đến những người, những sự ấy đều vui vẻ cả.

Chàng thật nóng lòng muốn kể cho họ nghe đám giặc bạo ngược phương Bắc thua trận rồi bỏ chạy như lũ vịt về Đào Nguyên, rồi van xin tha mạng hèn nhát thế nào.

Đến đây chàng dừng lại và nhận ra mình đang đứng trước cái cây chè cổ thụ.

Thân cây vẫn còn rớm vệt máu người, hình như hôm qua chàng đã kết liễu vài tên giặc ở đấy...

Gió đêm thổi nhẹ, cả biển chè xung quanh Cao Huân lao xao gợn sóng lăn.

Chàng nhìn bóng cây đổ xuống mặt đất, nhìn ánh trăng luồn qua những kẽ lá khảm thành vô vàn hình thù sáng bạc điểm trên nền đen mịn ấy.

Đêm thanh thanh

Tiết hàn hàn

Bốn bề văng vẳng sương tợ giăng.

Cao Huân xoay người lại, một tay chàng đặt lên thanh bảo kiếm đeo bên hông, cặp mắt đôi tai đều tập trung cao độ để tìm xem giọng người ngâm thơ ở đâu ra.

Bốn bề chỉ có cảnh đêm khuya thanh vắng, ngoài chàng ra thì như chẳng còn ai khác.

Tiết trời thêm lạnh, Cao Huân lại chỉ mặc một manh áo mỏng, chàng rùng mình đôi chút vì lạnh.

Tay đặt lên chuôi kiếm lại buông lỏng, chàng quả quyết những chuyện kỳ quái đang hiện ra trong đầu chỉ là trò nhát cáy của đám choai choai và tự chế giễu mình.

Thế rồi chàng lại quay về đối diện với cái cây cổ thụ.

Và chính trong cái thời khắc ấy, chàng nhìn thấy một bóng người ngồi nghỉ dưới gốc cây.

Đấy rõ là tướng phụ nữ, suối tóc dài đen mượt tuôn dài như thác đổ xuống vai, còn áo quần lụa là buông rủ mềm mại, nom rất mực đoan trang.

Chàng toán tiến lại hỏi thì người đàn bà ấy đã cất lời, tiếng thanh nhẹ, êm ái như tiếng đàn mà trách móc rằng chàng khiến nàng ta không về được nhà.

Sáng hôm sau, Cao Huân tỉnh giấc và nhận ra chàng đã ngủ quên dưới gốc cây cổ thụ.

Chàng nhớ đến người đàn bà nhưng lại tự nhủ đó là một giấc mơ quái đản rồi nhanh chóng quên nó đi.

Đoàn quân của chàng được lệnh nhổ trại chuẩn bị vượt sông Tương.

Họ lục đục kéo nhau rời khỏi đồi chè Tâm Châu lúc trời trời vừa tảng sáng, bỏ lại cái cây vẫn còn loang lổ vệt máu người.
 
Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
2. Nhất thủy (thứ nhất là nước)


Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai. [1]

Năm Thiên Đức thứ mười, Yên Kinh nổi trận can qua.

Thượng thư bộ lại, tên gọi Khanh Sơn, theo hầu Cao Hoàng Đế di giá về Lăng Kinh chuẩn bị cho tế tổ lại mang lòng bất chính, nghe kẻ khác xúi bẩy mà lập mưu giết vua.

Hắn bị bắt ngay khi đương cấu kết cùng một viên thái y toan hòa bột chu sa vào trà nóng dâng lên cho Cao Hoàng Đế.

Phép nước bất dung tội mưu phản tày đình như vậy, thế là ngay trong đêm ấy, liền đến ba đạo thánh chỉ được sứ quan truyền về Yên Kinh, giao cho quan hành khiển họ Nguyễn dẫn quân tróc nã khắp nơi để lùng bắt cho hết phường phản tặc.

Tháng bảy trời đổ mưa.

Ào ạt hung hãn chứ chẳng có còn phơ phất như giăng sương như tháng giêng.

Nước lạnh trút từ muôn tầng cao xuống mặt đất, tưới mát cho cây cỏ, gom góp thành dòng chảy đổ vào sông và làm nó dậy sóng.

Giọt nhỏ tí tách, đẩy nước trong chậu đồng chạm đến nấc nhỉnh hơn một chút.

Cao Huân gác lại quyển binh thư khi bị tiếng sấm chớp bên ngoài làm cho giật mình.

Chàng toan gọi thằng hầu đóng cho chặt mấy ô cửa sổ bên chái nhà phía đông thì không thấy nó đâu, ngẩn ngơ một lúc rồi nhìn sang lậu hồ mới hay giờ đã là nửa đêm canh ba.

Kẻ hầu người hạ lệ thường đến giờ này đều đã được nghỉ ngơi, nào còn ai túc trực ở thư phòng.

Vậy là chàng nhổm người đứng dậy, đi đến chỗ cửa để nhìn xem trận mưa này hung đến đâu mà tiếng cây xào xạc, rồi cả tiếng gió rít giữa đêm lại át được cả tiếng guốc gỗ của chàng khua trên nền gạch.

Dễ phải đến dăm ba năm nay rồi mới có một trận gió mưa tan tác đến nhường này, chàng tự nhủ, cơ chừng là đám dân phu đắp đê phải thức trắng đêm nay.

Đoạn chàng cẩn thận đi dạo một vòng khắp gian nhà, tự tay kiểm xem đám người ăn kẻ ở đã đóng cửa nẻo chắc chắn hay chưa.

Chái nhà đông là mấy gian buồng ngủ của cha mẹ và vợ chàng nên hẳn chúng cũng chẳng dám lơ là, còn ở gian này, thường chàng không hay cho đám con Mơ con Mận bén mảng đến, nên cũng thật chột dạ đôi chút vì thằng Mỡ - cái đứa nhận phần dọn dẹp, hầu cận chàng – lắm khi quen thói đánh trống bỏ dùi mà quên sập cửa hay cài then.

Thư phòng này chất toàn sách vở, chỗ này vài quyển binh thư, chỗ kia lại dăm tờ sớ tấu đương soạn dở, chỗ kia nữa lại có ngự bút của quan gia,...

âu cũng toàn là thứ chữ nghĩa đáng giá hơn cả bạc vàng, cái đống này mà dính vài giọt nước mưa mười mươi sẽ hỏng hẳn.

Chàng chậm rãi đi lại trong phòng mà nghĩ ngợi như một ông quan văn lẩm cẩm như vậy, dù kỳ thực cái chức đô chỉ huy đồng tri tòng tam phẩm chàng mới giữ có hơn hai năm và chàng mới chỉ đang ở tuổi ngoại tam tuần sung sức, minh mẫn.

Song, Cao Huân lại nghĩ thêm rằng có cẩn trọng chẳng phải là đúng lời dạy của Quận vương hay sao?

Từ ngày các tướng lĩnh và văn nhân theo phò trợ cho quan gia thời còn ở Thanh Giang được ban thưởng, phong tước, khoác lên cân đai áo mão rồi dựa vào đó mà phân ra cao thấp lễ nghi thì đã chẳng khác gì là thay da đổi thịt.

Quan trường nào giống như chiến trường, chỉ sơ suất nhỏ cũng sẽ mất mạng, mà còn chẳng phải mất riêng mạng mình.

Đột nhiên, lúc giơ tay định quạt tắt ngọn đèn leo lét, Cao Huân nghe thấy như có tiếng đập cửa inh ỏi lẫn trong tiếng gió rít mưa rơi.

Ai đó đang gọi tên chàng thì phải.

Đoạn rồi chàng mở cửa phòng mà rảo bước ra thềm, ngóng xem lão giúp việc già dẫn khách nào vào bái phỏng lúc đêm hôm như vậy.

"Cao Huân tướng quân, là tôi đây, là tôi đây."

Cửa vừa mở thì kẻ kia xô ngã ông lão mà chạy thục mạng vào, vừa chạy vừa gào lên.

"Nhà anh là ai?"

Chàng nheo mắt, cố nhìn qua màn mưa như trút khuôn mặt mếu máo của hắn.

"Là Doãn Hạc, Lê Doãn Hạc, bạn của ngài đây."

Kẻ kia nghe thấy tiếng chàng nói vọng ra thì tìm được hướng, liền chạy vội đến trước thềm quỳ sụp.

Cao Huân vừa lọt tai tên khách đã giật nảy mình mà lao ra đỡ hắn dậy.

Lê Doãn Hạc vừa là bạn đồng mông, vừa là bạn đồng hương của chàng, vì thế nên hắn như khách quý của chàng vậy.

Thế nhưng, khi lại gần hơn, chàng mới phát hiện ra cả thân hắn bốc mùi máu tanh mà nước mưa không thể gột sạch được.

Tóc búi gọn gàng thường khi của đám học trò ở Văn Viện giờ bị xổ tung, rối bù.

Còn quần áo hắn khoác trên người thì rách nát tơi tả vì bao vết gươm giáo chém vào.

Nom bộ dạng này nào đâu phải của một giám sinh nho nhã của Văn Viện mà giống kẻ tội nhân khốn khổ bị tróc nã hơn.

Cao Huân là tay đã kinh qua bao phen chiến trận, lại vùng vẫy mấy thuở trai trẻ nên tức thì đoán được có chuyện chẳng lành.

Chàng cố đỡ bạn dậy để hỏi cho ra nhẽ, song Doãn Hạc một mực cứ quỳ sụp mà dập đầu xuống nền gạch lênh láng nước mưa.

"Tôi xin ngài, tôi xin ngài cứu các em tôi, cứu thầy tôi với."

Doãn Hạc sụt sùi, nức nở như vậy.

"Anh đang nói gì thế?

Anh đứng lên, đứng lên nói rõ mọi sự cho ta hay."

Chàng túm lấy vai kẻ thư sinh mảnh khảnh, dùng hết sức võ biền mà lay cho hắn tỉnh táo lại.

"Khanh Sơn bị gán tội giết vua, nửa đêm qua đã bị giải về kinh thành."

Gã thư sinh nấc lên.

"Khốn nạn cho thầy tôi, sáng nay binh lính của quan hành khiển ập đến nhà, vu cho thầy tôi đồng lõa rồi trói gô đi rồi.

Anh em tôi khi ấy không có nhà nên mới chạy thoát được..."

"Nhưng sao lại ra cơ sự này?

Khanh Sơn nhẽ gì lại mang tội giết vua?

Còn thầy của anh nữa, cụ đồ Vân Tiêu ăn ở đức độ đến nhường ấy cơ mà?"

Cao Huân choáng váng trước những gì mà Doãn Hạc kể, chàng không tin vào điều vừa nghe nên dồn dập hỏi lại.

Khanh Sơn là đồng liêu với chàng, khí khái ngay thẳng lại cúc cung tận tụy, chàng có thể thề độc với trời hắn chẳng có gan mưu toan chuyện phản nghịch như thế.

"Ngài còn lo cho Khanh Sơn sao?"

Doãn Hạc gào lên, gã quát vào mặt chàng.

"Quan hành khiển rồi cũng sẽ điểm tên ngài, ngài phải mau chạy đi, trốn đến chỗ Quận vương mới có cơ sống sót.

Nhanh lên, ngài phải cho ngài ấy biết Yên Kinh sắp thành bể máu rồi."

Doãn Hạc dứt lời, sấm chớp trên trời lại giáng xuống liên hồi.

Cao Huân choáng vàng, chàng thẫn thờ buông thay khỏi người bạn.

Từng đấy thôi cũng đủ để chàng rõ cơ sự này rồi.

Trong nhà, đám người ăn kẻ ở, cả vợ cùng cha mẹ chàng đều đã lục đục dậy châm đèn.

Tựa hồ họ đã nghe thấy chuyện ồn ào ngoài này.

Rồi Doãn Hạc giật thót, gã áp tai xuống nền gạch.

Có tiếng bước chân, cả tiếng vó ngựa nện đều đều nữa, gã thính lắm nên không sai khác được.

Lần này đến lượt gã túm lấy Cao Huân để lay cho thoát khỏi cơn sững sờ, gã luôn miệng giục chàng bỏ trốn đi vì quân lính đang đến đây.

Gã tả cho chàng hay cảnh tượng bắt bớ, chém giết sắp diễn ra, cả cái dinh cơ này sẽ tan hoang trong đêm nay thôi.

Và nếu chàng còn chần chừ ở lại nữa, thì sẽ chẳng có ai báo tin được cho Quận vương ở ải nam.

Gia đình chàng, gia đình hắn, gia đình của bao bạn bè đồng liêu sẽ tan nát hết thảy, cả bãi đất phía tây thành sẽ nhuốm đỏ máu oan khiên.

Tai chàng ù đi.

Mưa vẫn quất vào mặt, vào người chàng những nhát đau rát.

Chàng nghe có tiếng guốc gỗ bước đến bậc thềm, vợ chàng đang đứng đó.

Đôi mắt nàng ngập nỗi bất an, có lẽ cái linh tính của một người đàn bà đã cho nàng hay giông tố đang ập đến nơi này.

Nàng đứng lặng ở đó và nhìn chàng đầy hoang mang.

Còn Doãn Hạc, gã vẫn cuống cuồng thúc giục chàng chạy trốn.

Cao Huân lắc đầu quầy quậy, chàng nào có thể đành lòng mà bỏ mặc người vợ hiền và song thân ở lại?

Chàng hất ngã Doãn Hạc.

Chàng quát nạt hắn và khướt từ trốn chạy.

Chàng không tin chuyện đổi trắng thay đen tráo trở, biến người hiền lương thành kẻ gian ác trong chớp nhoáng như thế.

Nhưng Doãn Hạc cũng không chịu thua, hắn lôi chàng đi.

Lẫn trong tiếng mưa, tiếng người ngựa đã rầm rập rõ ràng.

Binh lính đang ùa đến đây.

"Đi đi, Cao Huân.

Ngài cứ ra cửa, ngựa của tôi còn ở đấy, ngài cứ cưỡi nó mà chạy về phía nam.

Nhanh lên Cao Huân, ngài có đi mới cứu được thầy tôi, cứu được các em tôi, cả bạn bè của chúng mình nữa."

"Ta sẽ đi, nhưng đưa cả vợ và cha mẹ cùng đi."

Cao Huân nắm chặt tay thành nắm đấm chàng nặng nề thốt ra quyết định của mình.

Kế đó, chàng ra lệnh cho đám người ở chuẩn bị xe ngựa, lại căn dặn thu xếp chuyện tiền công cho chúng.

Dinh cơ chỉ canh trước còn êm đềm chìm trong mộng mị, giờ tán loạn như tổ ong vỡ.

Kẻ tìm đường thoát thân, kẻ vơ vét kiếm thêm đôi đồng bạc.

Còn Cao Huân, chàng thúc giục vợ thu dọn tay nải để theo lối cửa sau toan bỏ trốn.

Thế nhưng, cái sự tính toán của chàng hóa ra chẳng được như ý, binh lính ập vào khi gia đình chàng chỉ vừa bước ra sân.

Còn Doãn Hạc, gã đã bị trói nghiến lại, nằm lăn lộn trên nền gạch.

Quan hành khiển họ Nguyễn nhìn Cao Huân, nhìn cả tay nải trên tay vợ chàng, khuôn mặt ông lạnh tanh.

Chàng chẳng còn đường nào để chạy nữa rồi, binh lính bao vây khắp trong ngoài nhà, trên tay chúng gươm đao đều đã tuốt vỏ sẵn.

Ánh chớp lại lóe lên lần nữa, quan hành khiển chậm rãi rít qua khẽ răng.

"Đô chỉ huy đồng chi Cao Huân, can dự vào việc bày mưu hại thánh thượng.

Lệnh trên ban xuống, bắt cả nhà về chịu tội."

*

* *

Nhất thủy.

Thứ nhất là nước.

Trà muốn ngon, ắt nước phải sạch.

Thiếu nữ vừa nghe mưa gõ lộp độp trên mái nhà liền vào trong bếp lấy ra chiếc thau sạch đem ra để trên nắp cái lu rỗng kê sẵn ở giữa sân.

Cả năm nay, mỗi bận trời đổ mưa, nàng đều làm vậy trong sự hiếu kỳ của Cao Huân.

Nhớ độ một năm trước, lúc chàng trèo tường trốn vào vườn kia, lúc mắt mũi hoa lên hình như cũng là thấy nàng khoác áo tơi, đội nón lá sen tay cầm thau giống thế.

Trời mưa ngày một lớn, chàng nhìn cảnh đất trời u ám như vậy thì trong lòng lại trộm nghĩ về cảnh thảm sầu vào cái đêm Doãn Hạc chạy đến báo tin.

Cao Huân thẫn thờ xỏ chân vào đôi guốc gỗ, chàng gieo từng bước về phía khung cửa gỗ, bước qua bậc mà ngước lên trời cao.

Đêm ấy chỉ có mình chàng trốn được khỏi dinh cơ, còn Doãn Hạc, còn vợ và cha mẹ chàng bị đeo gông giải đi.

Chàng không nhớ mình làm cách nào mà đến được vùng Đào Nguyên heo hút này, rồi làm cách nào mà tấm thân tàn dại vì thương tích cung kiếm lại vượt qua được bức tường bao kia để nằm ngất trong vườn cây của chủ nhà này.

Chàng cũng chẳng nhớ từng nằm mê man bao lâu trên chiếc giường kê ở góc nhà nữa, chỉ biết rằng khi tỉnh lại mới hay đã quá muộn mằn.

Bạn bè chàng, thầy dạy của chàng, cả cha mẹ lẫn nàng Mai đều đã bị xử tử cùng ngót đến vài trăm mạng người nữa.

Quận vương ở ải nam không kịp về Yên Kinh, thánh thượng trong cơn nóng giận lại nghe lời đơm đặt đã hạ lệnh ban án tru di tam tộc những kẻ có liên quan.

Chàng khi đó chỉ vừa đứng dậy được, hay tin dữ ấy thì phun ra một ngụm máu tươi rồi ngã quỵ, tiều tụy cho đến tận bây giờ.

Nếu không phải số trời chưa tận mà có người cưu mang, có lẽ cũng đã thác xuống tuyền đài gặp lại gia quyến, bằng hữu rồi.

"Trời mưa lạnh thế này, ngài đừng đứng mãi ở đấy."

Thiếu nữ chỉnh lại dây quai nón, thoáng thấy bóng chàng đứng ở bậc thềm thì cất lời nhắc như thế.

"Múc cho tôi một bát, tôi uống cho đỡ xót ruột."

Cao Huân thều thào.

"Ngài làm sao mà uống được nước mưa, ví thử bệnh trở nặng khéo cụ lang lại quở tôi mất."

Nàng đáp.

Tay bưng lấy chậu nước trong veo.

"Với lại nước này cũng chẳng phải để ngài uống sống."

"Thật là tôi xót ruột lắm.

Cô thương tôi thì cho tôi xin một bát."

Chàng nài người thiếu nữ.

"Không thì một vốc thôi cũng được."

Thiếu nữ nghĩ ngợi đôi chút, đoạn, nàng cởi áo tơi, bước vào nhà lấy cái chén mắt trâu nhỏ để múc nước đưa cho chàng uống.

Thứ nước ấy quả thực mát lành, nhấp thử một ngụm thôi, cả khoang miệng đắng ngắt bỗng thấy vị ngọt thanh, trôi qua cổ họng khô cháy thấy như ruộng hạn được tưới tắn, đi vào bụng lại tức thì xoa dịu được cơn nóng ruột cồn cào.

Cao Huân uống hết chén nước, vẫn còn háo thêm liền đưa tay ra, người thiếu nữ thì chỉ lắc đầu bê chậu cất đi.

Nàng nói, nước này là để dành pha trà cả năm.

Còn chàng nhìn màn mưa, nhìn những giọt gianh tuôn ngắn dài trước mắt, trong lòng chợt thấy phảng phất tiếc nuối.

Chú giải:

[1] Vế đối của Đặng Trần Thường đưa ra cho Ngô Thì Nhậm.
 
Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
3. Nhị trà (thứ hai là trà)


Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế. [2]

Đào Nguyên là xứ trồng trà.

Khắp Nam Bắc, cứ hễ nghe đến danh trà từ Đào Nguyên thì lấy làm quý lắm.

Cao Huân tuy chẳng phải kẻ thích nhẩn nha đối ẩm thưởng trà, ngâm thơ xướng họa như đám đồng bạn theo nghiệp bút nghiên, song thuở trước cũng đôi lần được nghe Quận vương ngợi khen ngợi vị trà này.

Khi ấy, chàng có hỏi ngài xem trà thế nào là ngon.

Quận vương chỉ cười hiền mà đưa cho chàng hai chén trà, bảo cứ nhấm lấy thử sẽ tự phân biệt được.

Cao Huân làm theo vậy, thật là chàng cũng mơ hồ nhận ra từ vị, hương đến sắc đều không giống nhau.

Gã Khanh Sơn, cái tay luôn tự nhận sành sỏi thú thưởng trà, thấy chàng đăm chiêu nhìn hai chén nước mới giở giọng cười cợt kẻ cả, hắng giọng giải giảng cơ man nào là trà, là đất, là ấm,...

Tựa hồ trong bụng gã có bao nhiêu chữ nghĩa đều mượn dịp ấy để xổ ra cho bằng hết.

Nhưng cũng buồn cho gã, từng đó sự tâm đắc đều không đọng lại được nửa chữ trong đầu chàng, tính ra chẳng bằng được dăm câu đưa chuyện lúc nông nhàn với người thiếu nữ đã cưu mang chàng đây.

Người chàng hay gọi là Quế Hoa.

"Này Quế Hoa, sao tôi lại nghe đám đàn bà con gái trong làng mỗi sáng đều rủ nhau đi về phía Nam núi để hái trà.

Đằng Bắc chẳng phải cũng bao la bát ngát đấy sao."

Chàng vừa cầm kéo tỉa đi những cành lá hỏng trên cái cây trồng trong chậu cảnh ngoài sân, vừa cất tiếng hỏi nàng như vậy.

Bấy giờ đã là tháng hai, trời tạnh ráo hơn, dân Đào Nguyên mới rục rịch lên núi hái trà.

Thiếu nữ cũng đi cùng với họ, duy có hôm nay vì biết sẽ có khách đến chơi nên nàng mới nghỉ một buổi để lo việc tiếp đón.

Khi Cao Huân hỏi, nàng đương mải trải trà vừa sấy xong ra sàng tre, đợi nguôi nóng đôi chút sẽ bọc vào giấy khô.

Mùi trà vừa sấy xong bốc lên thơm thoang thoảng, lan đến tận chỗ chàng đang đứng.

"Phía Nam có đất lạn thạch, lại có rừng che phủ râm mát.

Trà lá tía mọc ở đó là giống thượng đẳng.

Người ta muốn bán về Yên Kinh thì phải đến đó hái."

Thiếu nữ ngơi tay một chút, nàng đáp lại như vậy.

"Còn trà ở phía Bắc, người rành rẽ sẽ biết là loại hạ đẳng.

Tính hay ngưng trệ, uống vào sẽ thấy khó tiêu, có khi còn kết sỏi trong người."

"Ra cũng là cái nghề lắm công phu đấy nhỉ?"

Cao Huân dừng lại, chàng gật gù thành thật sau khi nghe câu trả lời.

"Lại chả.

Trà ngon ngàn vàng cũng có kẻ bỏ tiền mua, tất phải có chỗ quý chứ."

Thiếu nữ cao giọng.

"Ngày trước nhà tôi có một khoảnh đất nhỏ ở đồi Tâm Châu, trà trồng ở đó chỉ cần bán dăm cân là đủ ăn cả năm.

Cơ mà từ ngày có ông tướng phụng mệnh thánh thượng tróc giặc trên ấy, chẳng ai còn uống nổi trà nữa."

Tay cầm kéo của chàng khựng lại.

Chẳng rõ nàng ta có biết thân thế của chàng hay không mà thản nhiên nhắc tới chuyện năm xưa chàng mặc lời can ngăn, lùa giặc lên đồi rồi thảm sát không sót tên nào.

Nhưng rồi nhìn bộ dạng nàng mải mê gói ghém những mảnh giấy trải sẵn trên chõng tre thì chàng lại tự trấn an rằng đấy chỉ là lời vô tâm mà thôi.

Nàng ta là phận đàn bà con gái, năm ấy khéo mới chỉ vừa lên mười hai mười ba tuổi, giá thử có thực chứng kiến thì cũng chẳng dễ gì mà nhớ được mặt chàng.

Huống hồ ở cái xứ Đào Nguyên heo hút này, phong ba bão táp chốn kinh kỳ cũng chỉ như gió thoảng qua tai, dân thì thiện lương chất phác, khó lòng nghĩ được đến chuyện cái gã tướng quân hung hãn năm xưa giờ đã thành tội nhân bị truy lùng, phải bỏ xứ đến đây lẩn trốn.

Quế Hoa có lẽ cũng chỉ đang thuận miệng kể chuyện, tính nàng ta gặp người lạ thì kiệm lời giữ kẽ, song với người thân quen thì luôn có chuyện để kể, âu nhờ thế mới giúp chàng khuây khỏa được ít nhiều.

Nàng đã rộng lòng mà cho chàng tá túc đến hơn một năm, chẳng đả động gì đến gia thế hay quá khứ của chàng thì cũng nào cần phải sợ nàng mượn chuyện thăm dò cơ chứ.

Huống hồ, mỗi đêm nằm mộng hoặc vào khắc mê man chàng hẳn cũng buột miệng đôi lần nhưng cũng chẳng thấy nàng tỏ ý nghi ngờ, hiếu kỳ gì.

Nghĩ ngợi đôi chút, chàng lại tiếp tục tỉa cái cây cho gọn ghẽ và ngẫm lời của thiếu nữ.

"Thế nhà cô bỏ đám đất ấy rồi à?"

Chàng hỏi, trong lòng cũng thấy áy náy khi nghĩ đến chuyện làm mất niêu cơm của kẻ khác.

"Trà trồng ở đấy sao lại không ai uống nổi?"

Thiếu nữ lúc này đã làm xong việc, nàng đứng dậy, bước chân trần vào nhà cất mấy gói trà vừa sấy thật cẩn thận ở chỗ mát mẻ.

Đoạn lại châm một bình trà, đem ra sân bày biện thật cẩn thận trên chõng tre.

Cao Huân đoán là để mời khách.

"Đất nhuốm đầy máu như thế, lại có hơi người chết.

Trà pha lên nhìn sắc nước đỏ ối, vị không còn thanh ngọt mà chuyển sang gây gây, lợm họng.

Năm đấy làng này nhiều nhà suýt chết đói vì không bán được trà cơ."

"Chắc là người ở đây ghét cái ông tướng đấy lắm nhỉ?"

Chàng hỏi, đôi môi khô hơi hiện ý cười.

"Người năm bẩy đấng, của ba bẩy loài.

Tiếc thì tiếc thật đấy, nhưng ông ấy theo tiên quân đánh giặc, người làng không ghét ông ấy được."

Cao Huân nghe thế thì im lặng hẳn.

Chàng ngoảnh lại nhìn thiếu nữ đang tỉ mẩn gói trà.

Đánh giặc, đánh giặc... bao lâu rồi mới có người nhắc lại cho chàng nghe hai tiếng này?

*

* *

Chén trà đầu tiên mà Cao Huân uống là vào một ngày đông rét mướt.

Khi ấy, chàng mới mười bảy tuổi, đương độ trai tráng, ôm theo tay nải mà tìm đến La Thành.

Giữa thời tao loạn, người ta bỏ làng mạc, chạy vào rừng lánh thân chẳng được, chàng đang sống yên lành ở Quan Sơn lại lần về chốn lao xao.

Thầy chàng chê trách, còn mẹ chàng khóc lóc, nhưng chàng vẫn quyết chí đi.

Thế là chàng từ biệt họ để lên đường, hẹn vẫy vùng thỏa chí rồi sẽ quay về làm trọn hiếu đạo.

Mùa đông ở La Thành khác Quan Sơn nhiều lắm, tiếng khóc lóc ai oán rấm rức cứ thấp thoáng lẩn khuất trong tiếng mái chèo khua nước của ông lão lái đò.

Lúc chàng bước lên bờ, vừa lúc quan quân hành hình xong độ mươi người.

Nam phụ lão ấu đều chịu trảm thủ.

Máu đỏ tươi hẵng còn vương trên đất, thẫm đấm thành một mảng to.

"Nhà cậu là người nơi khác hử?"

Bà lão hàng nước hỏi.

Đôi mắt già nua ráo hoảnh nhìn người ta ném xác phạm nhân xuống sông.

"Vâng ạ."

Đang lúc lạ nước lạ cái, chàng bám vào câu hỏi ấy để nghe ngóng.

"Quê cậu ở đâu?

Sao lại dạt về đây?"

Bà lão lại hỏi, bàn tay nhăn nheo lần đến ấm đất, rót cho chàng một chén nước.

"Cháu xin ạ.

Chả giấu gì bà, cháu là người Quan Sơn.

Cháu đến La Thành để tìm anh bạn cùng quê, biết đâu lại lập thân lập nghiệp ở đây được."

Chàng nâng chén nước, thật thà đáp.

"Dào ôi, ở Quan Sơn đang yên lành thì cứ ở đấy chứ chạy đến đây làm gì.

Khéo lại tai bay vạ gió, khổ thân ra."

Dường như bà lão tiếc rẻ.

Chắc là thế, so với Quan Sơn đất rộng người thưa, quan binh chê là đất chó ăn đá gà ăn sỏi, thì La Thành nào được yên ổn bằng.

"Đấy, cậu nhìn đằng kia kìa, hôm qua chết đói mấy người, dân họ vừa chôn sáng nay.

Ban nãy, lại thêm mươi người nữa bị trảm thủ.

Cha khóc con, vợ khóc chồng, nghe nẫu cả ruột."

Chàng hớp một ngụm.

Vị đắng chát xoắn xuýt lấy cả đầu lưỡi, nhưng cũng gọi là còn vương hơi ấm.

Nuốt qua cuống họng, vị chát làm nước bọt trong mồm tứa ra hơi ngọt.

"Chè Tầu ngon đấy nhé.

Chả phải anh ả nào đến đây cũng được uống đâu."

Thấy chàng hơi chép miệng, bà lão nửa đùa nửa thật, tay têm trầu thoăn thoắt.

Chè Tầu đấy là của một tay khách để lại.

Nghe đâu, ông ta bị làm chân buôn chè, theo hầu các quan người Ngô, giàu có khệnh khạng.

Cách đây mấy tháng, nhà ông ta đánh một chuyến hàng mới từ Lạng Giang xuống La Thành, dọc đường gặp cướp thế là trắng tay.

Quan trên niệm tình đồng hương không bắt tội, nhưng của nả trong nhà thì phải bỏ ra đền đến khánh kiệt.

Sau dạo ấy, ông ta thù quân kẻ cướp kia lắm, nên quyết phải tận mắt thấy cả lũ bị xử trảm mới hả dạ.

Bọc chè ông đưa cho hàng nước chỉ để đổi lấy cặp bánh nếp ăn cho đỡ xót ruột trong lúc ngồi chờ xem cái cảnh hành hình kia.

Cao Huân chưa uống chè Tầu bao giờ, người quê quen uống nước lá vối, quanh năm suốt tháng chỉ một loại đấy thôi.

Thế nhưng, chàng biết chè Tầu là thứ quý phải có tiền mới mua được.

Ra cái vị mà dân đen chân lấm tay bùn như chàng nằm mơ cũng chẳng dám mơ đến ấy lại đắng chát đến quặn cả ruột gan nhường này.

Chàng lần tay vào trong nải, rụt rè chạm vào mấy đồng bạc lẻ, rồi dứt khoát lấy ra một đồng trả cho bà lão.

"Cháu gửi tiền nước ạ."

Chàng nói.

"Thôi, tiền nong gì, chè hãm đến nước thứ ba rồi."

"Bà già cả rồi, cháu không dám lấy của bà..."

Chàng ngại ngùng đưa tay gãi đầu.

"Nhịn miệng đãi khách đường xa, cũng bằng gửi của chồng ta ăn đường.

Tôi cho."

Bà lão bỏm bẻm nhai miếng trầu, xua tay không nhận.

"Nom cậu cũng trạc tuổi thằng cháu trai nhà tôi."

"Thế... cháu bà đi đâu mà không ra đây phụ bà ạ?

Đương lúc loạn lạc thế này..."

"Nó à, vừa bị trảm thủ, chết rồi."

"Chết nỗi..."

"Quan bắt nó đi làm phu xây thành, nó bỏ lên Thanh Sơn theo ông tướng nào trên ấy đấy, thế là thành thổ phỉ."

Đến đây, bà lão khịt mũi.

Có một thoáng, chàng nhìn thấy hai mắt đã đục đi của bà nhìn xuống dòng sông phẳng lặng.

"Đi cũng chết, không đi cũng chết, giống thằng bố nó.

Chả bằng cứ liều một phen, lành làm gáo vỡ làm muôi.

Nó bảo thế."

Những ngón tay chàng siết chặt vào cái bát đất, rồi đưa lên uống cạn một hơi.

Vẫn là cái vị đắng chát ấy, nhưng giờ chè nguội, chẳng còn mùi lá mà chỉ còn một mùi máu nồng bám chặt vào khí lạnh mà thôi.

Vừa đắng vừa tanh.

Bên tai chàng, có tiếng hát văng vẳng của kẻ điên đang vùng vẫy giữa đám cỏ lau lúc khói chiều lảng bảng.

Lác đác mưa ngâu

Sình sịch mưa ngâu

Lá ngâu rụng xuống

Bông lau phất cờ

Nước trong xanh lặng ngắt như tờ

Một đàn cá lớn nhấp nhô đầu ghềnh. [2]

* *

Nước trong xanh lắng ngắt như tờ

Một đàn cá lớn nhấp nhô đầu ngềnh.

Kìa ai đứng ở đầu ghềnh.

Tiếng hát trong trẻo được đệm bằng tiếng móng ngựa gõ lộc cộc chậm rãi xuống con đường đất.

Cao Huân định thần lại, chàng nghểnh đầu nhìn qua hàng rào tre xanh xum xuê những thứ cây leo tươi tốt.

Chắc là khách của Quế Hoa đến rồi.

"Em Quế Hoa có nhà không đấy?"

Người khách cất giọng, êm dịu nghe như hát.

"Có, có ạ."

Nét mặt thiếu nữ hớn hở, nàng vội để gói trà xuống chõng tre.

Đoạn, nàng đứng dậy chỉnh trang lại áo váy tóc tai rồi mới ra đón khách vào nhà.

Cao Huân đứng trơ ngoài sân, chàng bối rối không biết nên vào nhà lánh mặt hay cứ cắt tỉa cây tiếp.

Chủ nhà một thân một mình, quanh năm chẳng mấy người đến chơi.

Lúc trước, chàng ốm liệt giường nên thế nào cũng xong, nhưng giờ thì...

Nghe tiếng người khách tíu tít, chàng dứt khoát trở vào nhà lánh mặt để tránh cho Quế Hoa phải khó xử.

Vả lại, cái phận tội nhân của chàng cũng vẫn còn đấy.

"Ái chà, nhà cửa của cô em đẹp quá đi thôi."

Khách xuýt xoa.

"Tôi mà biết nhà cô em ở chốn sơn thủy hữu tình thế này thì tôi đã đến thăm từ năm ngoái rồi chứ chẳng để chị Tố Hà của cô đi đâu."

"Chị Lệ Mai cứ trêu em.

Phận út ít như em phải về thăm các chị và bà mới phải nhẽ, ai lại để các chị phải lặn lội đường xa thế này."

Quế Hoa đáp, giọng nàng nghe có vài phần áy náy.

"Trà này là trà vụ năm nay, em mời chị Lệ Mai xơi thử xem có được ngon bằng trà của chị Tố Hà làm hay không."

Nghe đến hai chữ "Lệ Mai", Cao Huân sững người, chàng lần đến sát tường.

Qua khe cửa trổ trên vách đất, Cao Huân thấy thấp thoáng bóng dáng một thiếu nữ khác đang đội nón dâu.

Vẻ như là nàng lớn tuổi hơn Quế Hoa, mà cũng là chỗ chị em thân thiết với nhau.

Thiếu nữ mời khách ngồi xuống chõng tre, sau đấy tất tả đi pha trà rót nước, bày cơi trầu.

Người khách lúc này mới với đưa tay cởi nón, mái tóc đen tuyền vấn gọn thành một búi, nàng ngồi xoay lưng về phía chàng nên không rõ được dung mạo.

Tay nàng đón chén trà Quế Hoa mời.

Bóng hình nàng ngồi thưởng trà nom thướt tha yểu điệu.

Cả người Cao Huân run lên bần bật, khóe mắt cay cay.

Xuân lai u cốc thủy sàn sàn,

Đích lạc mai hoa thảo cức gian.

Nhất dạ đông phong xuy thạch liệt,

Bán tuỳ phi tuyết độ quan san. [3]

Người khách uống một ngụm, cao hứng ngâm mấy câu thơ cổ.

Đoạn, nàng hết lời khen Quế Hoa xao trà khéo hơn Tố Hà.

Bốn câu ấy lọt vào tai Cao Huân, chàng thẫn thờ đến nỗi ngã sụp xuống đất.

Cõi lòng vốn trơ như đá của chàng, giờ bỗng nổi lên một trận phong ba.

Phía bên ngoài, cuộc chuyện trò giữa hai chị em lại một hồi rôm rả.

Lệ Mai đem cho Quế Hoa vài thang thuốc, dặn dò nàng sớm đến thăm bà, thăm những người chị em khác.

Đến gần trưa, Lệ Mai đứng dậy, toan cáo từ để về cho kịp trước lúc trời tối.

Đúng vào lúc nàng đội lại nón, Cao Huân không kìm lòng được mà vội vã chạy ra sân, níu lấy tay nàng.

Lệ Mai.

Lệ Mai.

Người vợ không thể cùng chàng trốn khỏi Yên Kinh trong đêm mưa kia.

Nàng chưa chết, nàng đang đứng ở đấy cười nói vui vẻ.

Giống hệt như nàng của rất nhiều năm về trước, của buổi sáng mùa xuân đầu tiên họ gặp nhau ở Thanh Sơn.

Nàng chưa chết, trong đầu chàng giờ chỉ còn độc một tiếng nhủ lặp đi lặp lại.

Chú giải:

[1] Vế đối của Ngô Thì Nhậm.

[2] Trích trong Những làn điệu chèo cổ chọn lọc của Hoàng Kiều, Hà Hoa, tr.

28, NXB Văn hóa - thông tin, 2007.

[3] Mai hoa kỳ 1 của tác giả Tô Thức.

Phần dịch nghĩa tham khảo tại thivien.net:

Xuân đến nơi hẻm núi thâm u, nước chảy róc rách

Thấy hoa mai rụng trong đám cỏ gai

Một đêm gió xuân thổi mạnh muốn nứt đá

Một nửa hoa theo tuyết bay đến chốn quan san.
 
Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
4. Tam pha (thứ ba là cách pha)


Nhẽ trời đất thường khi gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Xanh kia thăm thẳm tầng trên,

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này? [1]

"Nhà anh nghĩ kỹ chưa?"

Quận vương rót trà vào chén quân mời Cao Huân.

À... cũng không phải, quận vương của năm ấy chưa phải là quận vương.

Người chỉ là cậu cả mà thôi.

Cậu cả, con trưởng của chủ soái.

Gia thần, nô bộc trong nhà chủ soái gọi người như thế, nên đám tướng lĩnh trẻ tuổi mới đầu quân về Thanh Sơn như Cao Huân cùng bắt chước theo.

Dẫu cho, cậu cả không thích cách gọi này.

Đôi lần, cậu nửa đùa nửa thật trong bữa rượu nhạt, rằng mọi người cứ gọi bằng tên.

Thời tao loạn, họ đều xông pha trận mạc, chia ngọt xẻ bùi, tình nghĩa nào khác gì anh em một nhà, cớ gì cứ phải giữ lễ.

Chàng quý cậu cả, quý cái lý lẽ đấy.

Nhưng nghe theo lời lão tướng họ Nguyễn nên chẳng đổi cách xưng hô.

Lâu dần thành quen, cậu cả cũng không còn nhắc đến chuyện sửa lại nữa.

Khanh Sơn thầm bàn sau lưng, lão tướng thật có đôi mắt tinh tường, hiểu thấu cách đối nhân xử thế.

Sau đấy rất nhiều năm, chàng mới vỡ lẽ kỳ thực không phải đôi mắt lão tướng tinh tường, mà là ông không muốn để chàng thân thiết với cậu cả.

Sóng gió nổi lên từ khi ấy, trong lòng quân, giữa các tướng lĩnh.

Cậu cả thích uống chè.

Giống Khanh Sơn và Doãn Hạc.

Cậu cũng có cái thú tự tay pha chè mời khách đến chơi.

Cao Huân biết tính cậu, chàng cũng vui vẻ uống, vui vẻ nghe cậu bình phẩm nước chè ngon hay dở.

"Bẩm cậu, tôi đã nghĩ kỹ rồi.

Tôi muốn hỏi cưới cô Lệ Mai, em họ cậu."

Chàng thanh niên Cao Huân dõng dạc đáp.

Dẫu ngồi trên chõng tre ngoài sân, nhưng chàng vẫn có cảm giác nàng đang nấp ở đâu đấy mà nhìn lén ra chàng, xem chàng thưa chuyện với cậu cả ra làm sao.

Cậu cả không đáp lại ngay.

Cậu uống hết chén chè, đôi mắt đồng thau của cậu ngước lên nhìn tán cây.

Dường như cậu đang nghĩ lung lắm.

Cái dáng vẻ ấy làm Cao Huân ái ngại, chàng sợ cậu sẽ cấm cản mối duyên này.

Dẫu sao...

Lệ Mai cũng là em họ của cậu, cháu họ của chủ soái.

Kể từ sau trận hãm ở Kim Lăng vào năm Dậu, cô cả bị giặc bắt đi, cả cậu lẫn chủ soái đau đớn khôn nguôi nên bao sự thương yêu, chiều chuộng cho cô cả họ đều dồn hết cho Lệ Mai.

Chàng lo lắm.

Trong số các tướng lĩnh, chàng không phải người sang quý gì, cũng chẳng giàu có, tài học thua kém đám văn nhân như Khanh Sơn, Doãn Hạc.

Liệu rằng bậc tôn trưởng có bằng lòng gả nàng cho chàng chăng?

Hay là họ lại chê chàng đũa mốc đòi chòi mâm son?

"Cao Huân này, dựng vợ gả chồng là chuyện đại sự cả đời người.

Đáng lý ra, anh phải hỏi ý song thân mới phải."

Cậu cả rót thêm một chén nước chè nữa, nhẹ nhàng nói.

"Bẩm cậu, tôi theo quân đến nay cũng đã năm năm có lẻ.

Thầy mẹ tôi ở Quan Sơn, đường xá xa xôi, lại vướng bận việc quân nên quả thực tôi chưa hỏi ý họ được.

Nhưng tôi cho là họ cũng sẽ ưng thuận thôi."

Cao Huân thận trọng đáp.

"Còn về lễ nghĩa, tôi đã nhận Nguyễn tướng quân làm thầy, ông ấy thay mặt thầy mẹ làm chủ..."

"Thế nhà anh đã hỏi ý Nguyễn tướng quân chưa?"

Cậu cả ngắt lời chàng.

Khuôn mặt tuấn tú có nét bất đắc dĩ.

Cao Huân khẽ lắc đầu.

Chàng chưa hỏi ông ấy, nhưng chẳng phải ông ấy đã ra mặt làm mai cho vài người trong quân rồi hay sao?

Đều xuôi chèo mát mái cả, chàng có gì khác với họ đâu nào.

"Anh..."

Cậu cả thở dài, uống một ngụm nước chè nữa.

"Cậu mợ tôi mất từ lúc nó còn nhỏ, bố mẹ tôi nuôi cái Mai từ đấy đến nay, không khác em Ngọc Trúc của tôi là mấy.

Nó có ý với anh, tôi đã biết, cũng không muốn cấm cản.

Có điều... nếu anh lấy nó làm vợ thì tức là cũng sẽ thành em rể tôi, thành con rể họ Triệu.

Anh phải nghĩ cho kỹ."

Phải mất một lúc, đến tận khi cậu cả châm nước lần thứ ba, Cao Huân mới hiểu được ý trong lời cậu.

Nguyễn tướng quân không ưa họ Triệu.

Khanh Sơn từng nói thế.

Tay ấy vẽ ra đủ thứ hươu vượn về Nguyễn tướng quân, về họ Triệu, về những co kéo ngả nghiêng giữa họ.

Năm nay đã sang năm thứ sáu của chiến loạn.

Tin thắng trận từ Ải Bắc, từ La Thành, Kim Lâu được truyền về nối nhau.

Ngày thiên hạ thái bình chẳng còn xa nữa, nhưng khi ngày ấy đến...

Chàng mơ hồ là người xung quanh mình đều sẽ khác đi nhiều.

"Bẩm cậu, năm xưa tôi tìm lên Thanh Sơn đầu quân dưới trướng chủ soái là để đánh giặc.

Giờ vẫn thế."

Cao Huân thành thật.

Lòng chàng ngoài những chuyện trận mạc binh đao ra thì chẳng còn gì nữa.

Họ Triệu hay Nguyễn tướng quân cũng đều là quân mình chứ nào phải giặc, sao chàng phải kiêng dè, phân bì họ?

Rồi chàng nói thêm.

"

Sau này chủ soái làm lên nghiệp lớn, tôi cũng chẳng muốn khác đi."

Cậu cả nhìn chàng.

Cơ hồ cậu đang cân đo đong đếm kỹ lắm, xem lời chàng vừa nói có mấy phần thật mấy phần dối.

Nhưng rồi cậu cũng thở hắt ra, tay đưa lên xua xua như thể không muốn tính toán nữa.

Cậu quay vào trong nhà, gọi cô em họ đang đứng nấp sau cánh cửa bức bàn ra pha cho mình một ấm nước chè mới.

"Khôn ngoan chẳng lọ thật thà.

Nhà anh thật như đếm, tôi còn biết khuyên can thế nào nữa đây?

Thôi thì gả cái Mai cho anh đấy.

Về mà sửa soạn trầu cau đem sang nhà tôi thưa chuyện, chỗ bố tôi, mẹ tôi sẽ nói hộ cho vài câu."

Nói rồi, cậu cả nhìn sang cô em họ đang thẹn thùng đứng ở đầu chõng tre.

"Anh chiều ý cô cũng chỉ đến thế này thôi.

Sau này sướng khổ gì cô tự chịu lấy."

Sau này của Lệ Mai là khổ.

Nàng cứ héo hon dần, vì bệnh tật, vì những lo toan cho con đường đi gập ghềnh chàng lựa chọn, vì nàng mang họ Triệu.

*

* *

"Nhà anh là ai?"

Giọng ráo hoảnh, xa lạ làm Cao Huân dứt khỏi những chuyện xưa.

Chàng nheo mắt, khuôn mặt người khách vừa như là nàng lại vừa như không phải.

"Chị Lệ Mai, ông ấy là cái người em đã thưa với bà và các chị hồi trước đấy ạ."

Quế Hoa vội đỡ lời.

Nàng ngồi xuống bên cạnh, đưa tay cho chàng vịn vào để đứng dậy.

"Chị đừng giận ông ấy, chắc nghe tên chị ông ấy lại nhầm sang người nhà."

Người khách liếc nhìn chàng một lượt, ánh mắt dò xét.

"Ba đồng một mớ đàn ông.

Mua về bỏ lồng cho kiến nó tha."

Lệ Mai đội nón lên, nàng nguýt dài giễu cợt.

"Em tôi cưu mang ông chứ chả phải tôi.

Ông ăn ở làm sao cho không thẹn với lòng, ngày sau đừng thấy trăng quên đèn mà uổng công nó...."

"Kìa, chị Lệ Mai."

"Tôi nhận nhầm cô Lệ Mai với cố nhân nên mới sỗ sàng thất lễ, xin cô thứ tội cho."

Cao Huân chắp tay, cúi người.

Người khách quả thật không phải vợ chàng.

Nàng ấy không ngoa ngoắt thế này.

"Ôi chao, nhầm sao mà nhầm khéo thế.

Nhưng thôi, em tôi đã nói ông nhầm thì là nhầm."

Người khách bước đến bên nàng thiếu nữ và dặn dò.

"Lần sau, tôi sẽ lại ghé thăm cô em.

Bà dặn tôi chuyển lời cho cô em, rằm tháng này đừng ra khỏi nhà."

Nói rồi Lệ Mai lại leo lên ngựa ra về.

Tiếng hát trong trẻo của nàng, cả tiếng vó ngựa lộc cộc thoáng chốc im ắng hẳn.

Cao Huân vẫn đứng ngoài sân, chàng thất thần nhìn theo hướng nàng đi, nhưng chẳng biết từ bao giờ hình bóng nàng đã tan biến dưới cái nắng ban trưa.

Ngày hôm ấy, chàng không nói thêm lời nào với Quế Hoa.

Buổi tối, Cao Huân nằm trằn trọc trên giường tre.

Chàng trở mình hết bên này sang bên kia, trong đầu nhớ lại người khách buổi sáng.

Nhưng chàng không thể hình dung ra được khuôn mặt của Lệ Mai, dẫu chàng đã nhìn thấy rõ lúc nắm lấy tay nàng.

Khuôn mặt ấy giờ dường như bị sương khói che phủ đi mất, chỉ còn lại vài nét mờ nhạt mà thôi.

Đấy không phải vợ chàng, thế nhưng sao chàng vẫn có cảm giác như đã quen biết từ lâu.

Đột nhiên, mấy lời Quế Hoa nói với Lệ Mai cũng văng vẳng bên tai chàng.

Từng câu từng lời rõ mồn một.

Mồ hôi túa ra trên trán Cao Huân, chàng nhẹ nhàng bước xuống giường, tay với lấy thanh đoản kiếm vẫn thường đặt dưới gối thật thận trọng.

Quế Hoa hay thức đêm để xao lá chè.

Trước khi làm bắt chảo rang, nàng hay pha một ấm chè để uống cho tỉnh ngủ.

Nàng ngồi trên chõng tre, tay phe phẩy quạt mo cau, vừa nâng chén quân vừa ngắm trăng mười tư sáng vằng vặc trên trời.

Tóc nàng thả xõa xuống một bên vai, ống tay áo màu chàm phất phơ theo từng nhịp đưa quạt.

Nàng lén nhìn về phía chái nhà đằng đông, nơi Cao Huân đang nằm.

Đèn đã tắt, ắt là chàng đi ngủ rồi.

Thế cũng tốt, nàng cứ lo chàng sẽ nghĩ ngợi về chuyện với chị Lệ Mai.

Trong số các chị em ở sơn trang, chị ấy là người nóng tính, cay nghiệt nhất, nhưng cũng hay thương người.

Chị thương nàng phải lặn lội vất vả nên mới không ưa chàng.

Cao Huân nghe tên chị hẳn nhớ đến người vợ kia.

Nàng thoáng ủ dột, chàng còn nặng lòng với chị ta lắm mới tha thiết gọi tên chị ta cả lúc thức lẫn lúc nằm mê.

Ấy thế mà... nàng ngả người xuống chõng, chống tay tựa đầu, vừa hờn vừa tủi.

Rồi nàng thiếp đi lúc nào không hay.

Trong giấc ngủ chập chờn, nàng thấy mình tựa con diều giấy, theo gió phiêu du đi khắp chốn.

Nàng thấy chị em ở sơn trang đang dựng lầu gác, đang vây quanh hầu trầu nước cho bà, đang đàn hát vui chơi quên tháng ngày.

Ai nấy cũng mang một vẻ dịu dàng, thanh tân thoát tục, không cục mịch thô lậu như nàng.

Rồi nàng lại đi theo cơn gió mát, về đến chốn xưa, nơi có căn nhà, có mảnh vườn, có cô con gái độ trăng rằm ngồi thưởng trà dưới tán cây hoa mộc đang nở rộ, bên chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú.

Đôi mắt nàng con gái ấy trong veo, chăm chú nhìn chàng thanh niên chậm rãi tráng ấm, châm nước, rót trà.

"Pha trà kỳ thực là biết nước nào vừa với trà nào, nóng lạnh ra làm sao.

Trà ngon cũng phải thuận theo đất trời.

Xuân, hạ, thu, đông mỗi mùa mỗi thức, hợp cảnh hợp thời uống vào mới khoan khoái, khỏe mạnh được."

"Sao chàng phải dặn dò em kỹ thế này?"

"Tôi sợ không dặn em thì lúc tôi tòng quân vắng nhà, em lại bỏ uống mất lạng trà ngon của tôi."

Nàng đứng dưới gốc cây hoa mộc nghe người con gái và người con trai chuyện trò với nhau.

Thế rồi... thế rồi chỉ còn lại người con gái ngồi đấy.

Chơ vơ, đơn độc.

Những giọt lệ trào ra từ khóe mắt của nàng làm nhà cửa, vườn tược lẫn cả người con gái đều nhòe nhoẹt đi.

Nàng lảo đảo bước thêm vài bước, muốn chạm vào nàng ta, nhưng đúng vào lúc ngón tay nàng vươn đến, cái lạnh ngắt của lưỡi kiếm kề sát vào cổ làm nàng giật mình.

Thoáng chốc, giấc mộng tan biến.

Trước mặt Quế Hoa là Cao Huân đang cầm đoản kiếm chĩa về phía nàng.

"Cô là ai?"

Chàng lạnh giọng hỏi.

Ánh mắt chàng lóe lên một tia hung hãn, hệt như chàng đang đứng trước quân giặc trên chiến trường năm nào.

"Người dưng nước lã, bèo nước gặp nhau, nhưng sao cô lại biết trong nhà ta có người tên Lệ Mai?"

Quế Hoa ngơ ngác nhìn người đàn ông đang kề kiếm vào cổ nàng.

Lưỡi kiếm sắc tì vào da thịt mềm mại đã cứa thành vệt, nhoi nhói giống kiến cắn.

Nàng là ai?

Nàng là ai ư?

Hình như nàng cũng chẳng còn nhớ được bao nhiêu.

Hoặc giả là nàng không quên, nhưng nàng không muốn nhớ lại nữa.

Chú giải:

[1] Trích Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, do Đoàn Thị Điểm dịch.
 
Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
5. Tứ chén (thứ tư là chén uống)


Tiêu điều nhân sự đã xong,

Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.

Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ,

Quán thu phong đứng rũ tà huy.

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy,

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau!

Trăm năm còn có gì đâu,

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì. [1]

Quế Hoa cứ ngước nhìn Cao Huân.

Nàng ngập ngừng, nửa muốn nửa không nghĩ đến chuyện trả lời chàng.

Lòng chàng thiện lương, ắt sẽ chẳng vì những lời nghe hoang đường ấy mà lấy mạng nàng.

Thiếu nữ ậm ừ, toan cất lời, nhưng nghe thấy tiếng người đàn ông ho húng hắng vì cơn bệnh, nàng lại thôi.

Chàng đau thương nhường này rồi, cứ gì phải cứa thêm một nhát dao nữa.

Nàng mím môi, quay mặt đi, để mặc chàng tùy ý xử trí mình.

Tay Cao Huân thêm lực, gằn lưỡi kiếm mạnh hơn nửa phần, cốt là dọa nàng chứ chẳng phải chủ tâm muốn làm hại.

Chàng cứ nghĩ thân gái như nàng sẽ kiêng sợ đao kiếm mà nói hết ra những gì còn giấu diếm.

Ngờ đâu nàng gan lì, cứ ngồi cam chịu chứ không hé răng nửa lời.

Mãi đến khi ngửi thấy mùi máu tanh thoảng trong hơi lạnh của sương đêm, chàng mới giật mình, vội hạ kiếm xuống.

Quế Hoa len lén nhìn chàng, đôi mắt nàng trong veo, không có nỗi khiếp sợ lẫn hờn giận, chỉ có một nỗi buồn man mác.

Một năm trước, hình như lúc chàng mở mắt sau cơn mê man, nàng cũng nhìn chàng giống thế.

Cõi lòng Cao Huân nhói lên, chàng hổ thẹn với nàng, bàn tay đang siết chặt chuôi thanh đoan kiếm dần thả lỏng.

Chàng ném thứ từng nhuốm máu bao kẻ ấy ra xa một quãng.

Vị tướng quân không biết phải làm gì với nàng thiếu nữ.

Chàng ngồi xuống đầu chõng tre còn lại. hai tay đưa lên vò đầu.

Cao Huân hối lắm, nàng nào đã làm hại gì đến chàng.

"Ông..."

Quế Hoa ngồi thẳng người dậy.

Nàng rụt rè thu người về đầu chõng còn lại.

Trên cần cổ thon dài của nàng, máu tươi đang rỉ ra.

Cao Huân ngẩng đầu, chàng lấy ra cái khăn lụa quý giá vẫn luôn đem theo bên người, dè dặt đưa cho nàng, ra dấu là để nàng rịt vào vết thương kia.

"Cái thân tôi thì còn gì nữa đâu để phải sợ bị người ta hãm hại."

Chàng tự giễu.

Quế Hoa không đáp lời, nàng cầm cái khăn, ngắm nghía đường thêu trên đấy.

Có một cành mai nom cũng khéo lắm.

Nàng cũng biết thêu, nhưng chắc không đẹp được như vợ chàng.

"Cô có giận mà gô cổ tôi nộp lên quan thì cũng đành."

Không thấy Quế Hoa nói gì, Cao Huân càng rối hơn, chàng bực dọc với chính mình.

"Tôi không nộp ông lên cửa quan đâu."

Giọng nàng khe khẽ.

"Thế... cô có biết tôi là trọng phạm triều đình không?"

Cao Huân hỏi, chàng bồn chồn như ngồi trên đống lửa.

Nàng thiếu nữ gật đầu.

Sao mà nàng không biết cho được.

Cả năm qua, cáo thị rồi cả mõ rao khắp chiềng chạ các đạo, nàng cũng nghe phong thanh ít nhiều.

"Cô không sợ tôi à?"

Cái sự thật thà của nàng càng làm chàng thêm giận.

Chàng giận nàng, rồi giận đến chính mình.

"Ông là người chứ có phải ma đâu mà phải sợ."

Nàng đưa tay che miệng, bật cười khúc khích.

"Vả lại, đến ma tôi cũng còn chả sợ, huống hồ người sống như ông."

"Lắm lúc ma còn lành, còn có tình có nghĩa hơn người."

Chàng cay đắng thốt lên.

Chợt, nàng than nhẹ một tiếng.

Cao Huân nghiêng đầu nhìn kỹ hơn vết thương trên cổ nàng, chàng sững người khi thấy máu đã thấm vào cổ áo, loang thành mảng bằng ba đồng xu.

Sốt ruột, chàng nhích lại gần, nhoài người kéo cái khăn nàng cầm hờ hững trên tay mà tự rịt vào thấm máu cho nàng.

Mùi lá trà thơm thoang thoảng nhẹ chạm vào cánh mũi của chàng.

Đấy là lần đầu tiên chàng chạm vào người thiếu nữ.

Da thịt nàng mềm mại, nhưng lạnh đến nỗi chàng khẽ rùng mình.

Chắc do sương đêm giăng xuống mà nàng lại mặc phong phanh, chàng tự nhủ.

Đúng vào lúc chàng thất thần ấy, Quế Hoa ngả vào lòng chàng.

Đôi môi thắm sắc trầu của nàng run rẩy hôn lên lồng ngực chàng.

Hơi lạnh giờ trở thành một cơn buốt giá làm chàng sững sờ.

Chàng đẩy nàng ra, luống cuống đứng bật dậy.

"Trai đơn gái chiếc ở chung nhà đã là phi lễ."

Trống ngực Cao Huân đập dồn.

Chàng nói một hơi.

"Đẹp người đẹp nết như cô, nên chọn người tử tế mà gửi gắm... cần gì..."

Đêm thanh tĩnh đến quạnh quẽ, chỉ có tiếng côn trùng rền rĩ.

Quế Hoa bẽ bàng bước xuống chõng, nàng cúi người nhặt khăn lụa vừa bị đánh rơi, thẫn thờ đem đến đặt vào tay chàng.

Hàn khí tỏa ra từ người nàng ám cả vào khăn.

Đoạn, nàng xoay người đi vào bếp sao lá trà.

Đôi vai nàng khẽ run lên, nàng ngâm nga mấy câu hát bằng một giọng nghèn nghẹn.

Đêm đêm tưởng dạng Ngân Hà,

Bóng sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,

Tào khê nước chảy lòng còn trơ trơ.

Cao Huân nhìn xuống cái khăn lụa, máu thấm vào cành mai, vừa khéo trông tựa bông hoa đang nở rộ.

Chàng thấy lòng mình trĩu nặng.

Có một thoáng, chàng toan níu tay Quế Hoa lại, nhưng hơi lạnh còn vương trên khăn làm chàng không thể cất bước nổi.

Trên khoảng sân sáng trăng vằng vặc, cái chén men xanh quý nhất trong nhà đã vỡ tan thành từng mảnh tự bao giờ, nằm ngổn ngang dưới đất, lẫn vào với những sỏi đá chẳng đáng tiền.

*

* *

Cao Huân thức trắng đêm.

Cũng trọn cả đêm ấy, chàng nghe thấy tiếng Quế Hoa sao trà.

Mấy câu hát của nàng cứ lởn vởn trong đầu chàng, như gần như xa, như có như không.

Đến lúc gà gáy, chàng tựa người tỉnh khỏi cơn mê mới nghĩ đến cái chén men xanh bị vỡ của nàng.

Quế Hoa thích cái chén đấy lắm.

Nàng cất nó trong một cái hộp gỗ thị có lót vải điều, chỉ thỉnh thoảng mới đem ra dùng.

Nỗi áy náy vần vò đầu óc chàng.

Sau rốt, khi không chịu được cái sự vần vò ấy nữa, chàng đội nón, trùm manh áo tơi mà rời khỏi nhà.

Ngày mười tư là phiên họp chợ.

Cao Huân đi theo người làng tìm đến chỗ người ta bán buôn đấy.

Chàng từng làm quan nên biết rõ cái thói dửng dưng của dân gian.

Trọng phạm triều đình thì cũng chỉ dăm bữa nửa tháng là thành gió bay lên giời cả thôi.

Dân còn lo làm lụng kiếm cái ăn, lòng dạ nào nhớ đến cái bản mặt vẽ trên tờ cáo thị mà họ đọc chẳng thông.

Chợ quê dẫu không được như chốn kinh kỳ nhưng cũng nườm nượp người mua bán.

Cao Huân bước chầm chậm, mắt trông kỹ những hàng quán hai bên.

Gà qué, quả hoa, giấy mực... bày la liệt khắp nơi.

Lâu lắm rồi chàng mới đến chỗ đông đúc nhường này.

Tiếng người nói cười, ngã giá, mời mọc nhau bỗng thật lạ lẫm.

Chàng đi quanh chợ, cố tìm xem có hàng nào bán trà cụ hay không.

Đào Nguyên là xứ trồng trà, lẽ cố nhiên, những thứ để pha, để uống thức ấy cũng phải có chứ?

Thế rồi chàng cũng gặp được hàng bán.

Sạp bày ra nhỏ thôi nhưng gọn gàng.

Chủ ông dáng người tầm thước, nhanh nhẹn, vừa thấy chân chàng bước chậm lại đã vội mời chào ngay.

Nào liễn nào niêu, cả ấm pha trà và mấy cái chén quân con con bằng gốm thô.

Đoán rằng Cao Huân là tay sành sỏi, không ưng những thứ dân quê hay hỏi, ông ta lấy ra vài món đẹp hơn.

Vẫn không phải thứ chàng cần.

"Ông có bán trản không?"

Cao Huân ngập ngừng hỏi.

Phải mất một lúc chàng mới nhớ ra loại bát miệng loe rộng nhưng nông lòng đấy gọi là gì.

Người chủ gật đầu, lấy trong thúng ra ba cái tráng men, hơn gốm thô một tí nhưng vẫn không bằng được cái chén của Quế Hoa.

Chàng lắc đầu.

"Thế thì đây?"

Chủ chiều lòng khách, bày thêm đôi cái nữa.

"Phải là loại tráng men xanh ngọc mới được."

Chàng vẫn không ưng.

"Loại đấy giá đắt lắm."

Chủ ông nhìn một lượt khách từ trên xuống dưới.

"Giá nào cũng xong, lấy ra cho tôi xem thử."

Cao Huân sốt sắng, chàng lấy ra xâu tiền dắt bên hông.

Thấy tiền, chủ ông nhanh nhẹn lục xuống đáy thúng, lấy ra bọc vải trắng.

Cái chén men xanh được cất kỹ trong đấy.

Không giống hẳn nhưng cũng được bảy tám phần của cái kia.

Người khách nom hài lòng, chàng đem hết tiền mang theo trả cho chủ hàng.

Xâu tiền ấy là tiền chàng bán đi thanh đoản kiếm của mình.

*

* *

"Gượm đã."

Cao Huân rời phiên chợ, chàng nghe thấy tiếng có người gọi với theo.

Sợ bị người khác nhận ra, chàng kéo cái nón xuống thấp hơn, chân dảo bước đi vòng theo hướng ra ngoài đê.

"Gượm đã.

Nhà anh bị yêu tà quấy nhiễu, sắp chết đến nơi rồi, đứng lại cho tôi hỏi mấy câu."

Người kia cũng nhanh chân hơn, vừa đi vừa nói.

"Ăn nói hàm hồ!"

Trước giờ vốn ghét bói toán, đạo sĩ, Cao Huân quay lại quát người kia.

"Thần sắc nhà anh suy kiệt, thiếu dương khí nhường này còn không tin lời tôi?"

Người kia mắng.

Ban trưa trời nắng gắt, lại ở giữa chốn đồng không mông quạnh, Cao Huân nheo mắt nhìn kỹ lại cái kẻ bám theo mình.

Ông ta như ngoài tứ tuần, dáng người dong dỏng cao, khoác áo the đen.

Nom ông ta cũng có nét nghiêm nghị của đạo gia, chàng nghĩ.

"Tôi biết."

Cao Huân thản nhiên.

"Chuyện ông nói, tôi biết cả rồi."

"Thế sao anh không tìm đường mà giữ mạng?"

Lần này đến lượt vị đạo sĩ kinh ngạc.

Cao Huân bật cười.

Mạng của chàng giữ để làm gì nữa đây?

Thầy mẹ, vợ con, bạn bè đều mất rồi.

Chàng còn sống nhưng tâm can như đã chết theo họ.

Thân xác tiều tụy này còn vương chút hơi tàn chẳng phải do chàng lưu luyến chốn hồng trần, mà chỉ vì cái thứ đạo sĩ kia gọi là ma tà yêu mị đang cố níu chàng lại đấy thôi.

"Có duyên nợ với nhau, trốn cũng chả được.

Ông chớ nên lo chuyện bao đồng."

Chàng xoay người bước tiếp, để mặc đạo sĩ đứng như trời trồng giữa đồng.

Không nghe thấy tiếng bước chân theo sau nữa, Cao Huân mới đủng đỉnh đi men theo triền đê về nhà.

Chẳng biết từ lúc nào, chàng đã xem căn nhà của Quế Hoa là nhà của mình.

"Ông..."

Vừa thấy chàng bước vào sân, nàng thiếu nữ đã hớt hải chạy từ trong bếp ra.

Nàng nói như sắp khóc.

"Tôi tưởng ông giận tôi mà bỏ đi rồi."

Cao Huân khẽ lắc đầu.

Chàng lấy ra cái chén men xanh được gói ghém cẩn thận trong mấy lần vải gấm.

"Cái này cho cô đấy, xem như cảm tạ ơn cứu giúp lúc hoạn nạn."

"Thứ này đắt lắm, ông lấy đâu ra tiền mà mua?"

Nàng buột miệng, rồi nàng nhớ đến thanh đoản kiếm chàng cầm hôm qua.

"Ông bán thanh kiếm để mua thứ này?"

"Không cần dùng đến thì tôi giữ làm gì."

Cao Huân ngồi xuống bậc thềm, chàng cởi nón, quạt lấy quạt để như lão nông đi làm đồng về.

"Không được, tôi không lấy của ông được.

Ông mua ở hàng nào, tôi tìm người ta trả lại."

Quế Hoa khăng khăng, nàng vừa nói vừa gói cái chén thật cẩn thận.

Vị tướng quân không đáp, chỉ cười xoà, xem như chẳng đáng nhắc đến.

Nếu là chàng của mấy năm trước, thứ này thật chẳng cần bận tâm.

Lụa là gấm vóc, vàng bạc trong phủ nhà chàng chất thành rương.

Lúc mới nhậm chức, Khanh Sơn từng tặng cho chàng một đôi trản bằng ngọc làm quà mừng.

Khi ấy dẫu biết là quý, nhưng chàng nào có dùng đến.

Giờ thế sự xoay vần, phận người lên voi xuống chó, một cái trản chỉ đáng vài đồng cũng phải vét sạch túi mới mua nổi, chàng nghĩ lại càng xót xa.

Thanh đoản kiếm kia, nếu đến được tay quan hành khiển họ Nguyễn thì thật cũng đúng ý chàng lắm.

"Quế Hoa này, cô hát lại cho tôi nghe mấy câu ngày hôm qua cô hát đi."

Đột nhiên, chàng không kiêng dè gì mà nắm lấy cổ tay trắng ngần của nàng.

Đang là ban trưa, vào chính ngọ, nhưng người nàng vẫn lạnh như thế.

"Sáng nay ông chưa ăn gì, để tôi dọn cơm cho ông xơi cái đã."

Nàng bối rối mà lảng sang chuyện khác.

"Cũng được."

Chàng thở dài, buông tay.

"Cô rót cho tôi bát nước uống cho đỡ khát."

Quế Hoa quay người lấy bát trong thúng, toan đi vào bếp tìm ấm đất.

Nhưng nàng vừa đi được vài bước, chàng đột nhiên cất tiếng gọi.

Chàng gọi cái tên cứ quẩn quanh trong óc mình kể từ lúc nghe mấy câu hát kia.

Quế Nương.

Quế Nương.

Thiếu nữ đứng sững lại, cái bát trên tay nàng bị thả rơi xuống đất.

Hai dòng lệ trào ra từ khóe mắt tưởng như đã khô cạn từ lâu.

Nàng đưa tay lên chạm vào thứ nước âm ấm ấy để chắc rằng mình đang khóc.

Chàng đang gọi nàng là Quế Nương.

Nàng chầm chậm xoay người nhìn thằng vào chàng, vào ánh mắt trìu mến của chàng.

Trên bầu trời, những đám mây đen bỗng từ đâu kéo đến giăng phủ, lấp cả đi dương quang.

"Chàng nhớ ra rồi."

Một hồi lâu sau, lúc mưa bắt đầu rơi lộp độp trên mái nhà, nàng mới nói được thành lời.

"Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, tào khê nước chảy lòng còn trơ trơ."

Đến lượt chàng ngâm nga hai câu hát.

Phải, chàng nhớ ra rồi.

Nhớ ra giấc mơ về nàng Quế Nương, về ngôi nhà có trồng cây hoa mộc và về người từng là chàng.

Chú giải:

[1] Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.
 
Chẩm Thạch Miên (Gối Đầu Lên Đá Say Giấc Nồng)
6. Ngũ quần anh (Thứ năm là người cùng thưởng trà)


Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh buốt xương khô,

Não người thay buổi chiều thu,

Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng [1]

Vào năm thứ hai sau khi Cao Huân đến Thanh Sơn đầu quân cho chủ soái, họ bị vây trên núi Linh Cảnh.

Suốt mấy tháng trời, toàn quân từ tướng đến lính đều lâm vào cảnh đói rét, rệu rã.

Bấy giờ, trong quân có một tướng trẻ tên là Đinh Hạng, người xứ Đại Hoàng.

Anh ta đem thân làm mồi nhử giặc, mở đường cho chủ soái thoát thân.

Trận đánh ấy Đinh Hạng bị bắt, giặc chém đầu anh ta rồi treo xác trước cổng thành Kim Lâu.

Cao Huân cùng bọn Khanh Sơn vâng lệnh cậu cả đi cướp lại di hài Đinh Hạng về.

Lúc đến bến sông Thương, cả đám phải ngủ nhờ nhà ông lão lái đò một đêm.

Chàng nhường chỗ cho Khanh Sơn nằm nên nhận phần thức đêm canh gác.

Đêm đấy hình như cũng là đêm sáng trăng, chàng ngồi tựa vào gốc cây hoa mộc rồi thiếp đi lúc nào không biết.

Cao Huân mơ giấc mơ dài.

Trong giấc mơ ấy, chàng thấy mình trở thành một kẻ khác.

Cuộc đời của kẻ đấy êm đềm, bình lặng quẩn quanh bên những cái bình gốm, chén sứ, ấm đất...

Đôi bàn tay kẻ ấy chỉ quen đưa bàn xoay, nhào nặn khối đất dẻo thành muôn hình vạn trạng.

Kẻ ấy sống dưới một mái nhà tranh, ngày qua ngày thưởng trà, bầu bạn với nàng Quế Nương.

Thế rồi giặc tràn đến, những chén men ngọc, những bình gốm y dồn cả tâm sức vào để tạo tác ra bị cướp đi, bị đập nát.

Đôi tay khéo léo của y không còn nặn đất nữa, chúng nắm chặt lấy chuôi kiếm.

Kẻ ấy, cũng giống chàng, ôm lòng căm giận mà dấn thân vào nghiệp binh đao.

Y rời khỏi quê hương, rời xa nàng Quế Nương.

Người y dần nhuốm đầy máu, mùi trà thơm, mùi hoa mộc thoang thoảng bị hơi tanh hôi át đi.

Kẻ ấy bước qua những chiến trận, y quay về nhà tìm lại Quế Nương, nhưng nàng chẳng còn ở đấy nữa.

Y cứ đi mãi, đi mãi, mải miết kiếm tìm nàng...

Giấc mơ dưới gốc cây hoa mộc thật đến nỗi khi tỉnh dậy, Cao Huân vẫn cảm được buồn đau quặn thắt ruột gan của kẻ kia.

Ông lão lái đò nghe chàng thuật lại khẽ thở dài mà chỉ vào một ngôi miếu nhỏ nằm lẫn giữa những bụi lau ven sông.

Không tên, không bài vị, nhưng đời này sang đời khác dân xứ ông nói với nhau miếu đấy thờ vị tướng quân đã chết trận từ lâu.

Vị tướng ấy mang một thân đầy thương tích cưỡi ngựa từ tận Ải Bắc lần tìm trở về cố hương rồi cả người lẫn chiến mã đều gục xuống ngay lúc vừa đến bến đò.

"Ngài ấy không về được bên kia sông."

Ông lão thuật lại, tay chỉ về phía xa xa.

Bên kia con sông Thương chảy lững lờ là xứ Đào Nguyên, quanh năm đều mịt mờ sương khói.

*

* *

Mưa mỗi lúc một nặng hạt rồi cuối cùng như trút xuống mái nhà tranh của Quế Hoa.

Nàng ngồi bên Cao Huân, rót cho chàng một bát trà.

Là mẻ lá trà hái trước tiết thanh minh mà nàng mới sao mấy hôm trước.

Nàng và chàng không nói với nhau thêm lời nào, tựa hồ đôi bên đều đã hiểu thấu hết mọi sự.

Hiểu rồi lại để màn mưa rửa trôi tuột đi.

Hai kiếp người của chàng, vài trăm năm dài đằng đẵng đợi chờ của nàng, âu cũng chỉ mong đổi lại được thế này thôi.

Trà mới hãm, hơi ấm bốc lên theo làn khói trắng mỏng tang mang theo mùi thơm của cỏ cây đang mơn mởn nhựa xuân, hơi ấm ấy cũng thấm qua lớp gốm xù xì, xua đi cái giá lạnh trên da thịt con người.

"Nàng đừng lưu luyến giấc mộng này nữa."

Bên tai chàng nghe có tiếng vó ngựa dồn dập của một quan binh vọng lại từ nơi xa thăm thẳm.

"Chàng uống trà này có ngon như xưa không?

Em học theo chàng, dùng củi gỗ thơm sao trà, đun nước mưa sạch để pha...

Hiềm nỗi, em không nhớ được hết lời chàng để pha cho đúng."

Nàng cũng nghe thấy tiếng vó ngựa đang mỗi lúc một rõ hơn nhưng nàng vờ như đấy chỉ là tiếng mưa lộp độp trên mái nhà.

"Có, trà nàng pha khéo lắm."

Chàng cười, đưa tay cầm một miếng trầu bỏ vào mồm nhai.

"Trầu nàng têm cũng đẹp."

Mưa nặng hạt hơn nhưng vẫn không át đi được tiếng quan binh bước rầm rập bên ngoài.

Cao Huân nhổ bã trầu chỉ vừa thắm lại vào ống, chàng uống hết chén trà.

"Ta phải đi rồi."

Chàng điềm nhiên, chân xỏ vào đôi guốc mộc, đứng dậy khỏi bàn.

"Nàng cũng cần phải đi."

Quế Hoa vội đứng dậy theo, nàng ôm chặt lấy lưng chàng, cố giữ chàng ở lại.

Khí lạnh trên người nàng làm chàng nổi gai ốc, tay chàng khẽ đưa lên vỗ về rồi dứt khoát đẩy nàng ra.

Bước xuống sân, Cao Huân ngước lên nhìn trời.

Âm u, xám xịt, mưa quật vào mặt chàng từng nhát đau buốt, hoà làm một với hai hàng lệ.

Chàng hít thật sâu, mí mắt từ từ khép chặt lại.

Sấm rền vang hệt tiếng đất trời sụp đổ, chôn vùi cả tiếng gào thét của người thiếu nữ.

Bóng tối bao trùm.

Khi Cao Huân mở mắt, xung quanh chàng là đêm đen.

Không còn mái nhà tranh, không còn Quế Hoa mà chỉ rặt những cây trà sum suê, tươi tốt.

Trên tay chàng là thanh đoản kiếm đã gãy đôi.

Mưa vẫn như trút, nước mưa lạnh ngắt tuôn xuống dồn dập làm người ta cay mắt, ù tai.

Chàng loạng choạng vịn vào thân cổ thụ mà đứng dậy, mặt đối mặt với độ vài chục quan binh đang vây tứ phía.

Vài người trong số họ từng cùng chàng đồng cam cộng khổ lúc thế thời tao loạn, có vài người chàng biết hình dong không rõ tên tuổi.

Họ đều từng cùng chàng xông pha trận mạc.

Quân mình.

Là quân mình đấy.

Nhưng giờ, với họ, chàng đã thành giặc, thành quân phản trắc.

Họ nhìn chàng, vừa e sợ vừa ngập tràn sát ý.

"Mày còn không khoanh tay chịu trói?"

Quan hành khiển họ Nguyễn ghì cương con ngựa, chiến mã của ông hí lên một tiếng.

"Cả nhà mày bị giải đi hết rồi, đợi quan gia hồi kinh sẽ đích thân xét xử.

Mày bỏ chạy lấy mỗi thân mình, quân bất nhân bất nghĩa."

"Trước nay Huân tôi chưa từng ăn ở hai lòng.

Trên giữ chữ trung với quan gia, dưới một lòng lo cho lê dân bá tính.

Nay tai vạ giáng xuống đầu, tôi tìm đường giữ mạng, đợi ngày đánh trống kêu oan lên ngôi cửu trùng chứ quyết chẳng phải tham sống sợ chết."

Chàng gào lên.

Nỗi phẫn uất dồn thành cục ứ nghẹn trong lồng ngực.

"Bọn Khanh Sơn, Doãn Hạc, cả lão Vân Tiêu đều đã điểm chỉ nhận tội, mày còn già mồm?"

Quan hành khiển quát.

Đoạn, ông thét lính lao đến bắt chàng.

Cao Huân cười.

Chàng cười như điên dại rồi phun ra một ngụm máu tươi.

Hai chân chàng khuỵu xuống trước đám quan binh.

Không anh lính nào dám tiến thêm một bước, họ chần chừ nhìn nhau đầy ái ngại.

Cao Huân từng là tướng, cái uy của chàng, dẫu vào lúc đường cùng thất thế vẫn khiến họ khiếp sợ.

"Bắt lấy nó.

Gô cổ nó lại đi, đứa nào nương tay là cùng phường phản nghịch với nó."

Chợt có người cất tiếng.

Tức thì đám lính lao đến chỗ chàng, đương rối vì cơn lúng túng lẫn với sợ sệt, chẳng ai bảo ai, tất cả đều dồn sức đâm giáo bất phân phải trái.

"Cả đời tôi ăn ngay nói thật.

Tôi không làm điều bất trung với quan gia.

Nay xin được dùng cái chết làm chứng cho lòng này."

Cao Huân không phản kháng, những vết thương vì đao kiếm, giáo mác cung tên làm cả người chàng tanh một mùi máu tươi, nồng và dai dẳng đến nỗi nước mưa cũng không gột được hết.

Chàng ngã gục xuống đất, đè lên những cây trà, miệng thều thào.

Đôi mắt đang mờ dần đi của chàng hướng về phía quan hành khiển.

"Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy..."

Trời đêm đen đặc, sấm rền chớp giật từng hồi, ánh sáng nhấp nhoáng vừa đủ cho người ta nhìn thấy mặt nhau trong thoáng chốc.

Quan hành khiển vẫn ngồi nguyên trên yên ngựa, khuôn mặt ngoài ngũ tuần vốn quắc thước, nghiêm nghị đến tàn nhẫn của ông giờ bị những mảnh sáng tối xen kẽ nhau choáng kín.

Ông nheo mắt nhìn chàng.

Tai ông đã kém đi rất nhiều so với lúc còn theo tiên quân đánh giặc, nhưng lạ lùng thay, bây giờ ông lại nghe được rõ tiếng thều thào của chàng.

Thầy.

Thằng con trai mười bảy tuổi tìm đến Thanh Sơn đòi đầu quân đánh giặc.

Đứa lính cầm cờ hiệu từng đỡ cho ông một mũi tên.

Học trò đầu tiên ông dạy cách cầm kiếm, bắn cung sao cho đúng.

Mười mấy năm nếm mật nằm gai, giương cung bạt kiếm, tung hoành trên lưng ngựa để dựng lên thiên hạ thái bình như trôi qua trước mắt ông trong sát na.

Nguyễn tướng quân có bảy học trò, quá nửa trong số đấy đều đã tử trận, giờ ông lại đang nhìn một đứa nữa thoi thóp.

Cao Huân có tội hay không, ông biết rõ nhất.

Chàng chỉ có cái tội là đã cãi lời ông mà quyết cưới cho bằng được con gái nhà họ Triệu thôi.

Tay ông siết chặt lấy dây cương, ghìm lại con ngựa đang chực chồm người tung vó.

"Dừng tay."

Quan hành khiển ra lệnh.

Một ánh chớp lóe lên, Cao Huân giờ đã nằm mê man, người ngợm đầm đìa máu.

"Đô chỉ huy đồng tri Cao Huân bỏ trốn đến Tâm Châu, kháng cự lì lợm, bị quan binh đánh chết tại chỗ.

Còn chúng mày, theo ta về kinh phụng lệnh quan gia."

Đám lính ngơ ngác, nhưng thấy quan trên quay ngựa phi đi, họ cũng ngờ ngợ lĩnh được thâm ý nên lũ lượt kéo nhau rời khỏi đồi trà, bỏ mặc tên trọng phạm triều đình nằm lại.

Nước mưa tạt vào mặt làm Cao Huân mơ màng, chàng mở to mắt mà nhìn lên tán cây trà cổ thụ.

Quế Hoa, Quế Nương... nàng chưa khi nào rời khỏi căn nhà xưa kia.

Nàng đợi kẻ trong giấc mơ của chàng ở đây, hồn phách của nàng nương náu nơi thân cổ thụ này.

"Chàng đừng chết."

Khuôn mặt vốn đã mờ nhạt trong tâm trí Cao Huân bỗng lại hiện lên rõ ràng, chân thật.

Hai bàn tay lạnh buốt của nàng ôm lấy chàng mà lay gọi.

Quế Hoa vừa khóc vừa cố dựng cho chàng ngồi dậy.

"Em không để chàng chết đâu, em đưa chàng đi gặp bà, gặp các chị, em..."

Quế Hoa chưa kịp dứt lời, từ trên trời, một tia sét đánh thẳng xuống tán cổ thụ.

Cả thân mình mảnh mai của nàng giật lên rồi ngã sõng soài xuống đất.

Nàng chống tay bò dậy, nhưng lại thêm một tia sét nữa đánh xuống làm cành cây bốc cháy.

Quế Hoa ôm đầu, nàng kêu gào vì đau đớn dày vò.

"Tao biết ngay là mày ở đây hại người."

Cao Huân nghe thấy tiếng người, chàng nhận ra vị đạo sĩ đang đứng trước mặt Quế Hoa, trên tay ông ta một bên cầm bùa, một bên cầm kiếm gỗ đào.

"Con ma nữ này sống trên cây, bao lâu nay hưởng hương khói của dân.

Mày nhập vào mộng dụ hoặc đàn ông, phạm tội tày đình, tao không tha cho mày tác oai tác quái nữa."

"Đừng...

đừng..."

Cao Huân lết đến bên Quế Hoa, chàng ôm lấy thân mình đã mềm oặt của nàng vào lòng, che chắn cho nàng trước vị đạo sĩ.

Cổ họng chàng khô khốc, hơi thở đứt quãng không thể nói nổi được một câu.

Chàng lắc đầu quầy quậy.

Quế Hoa chưa từng làm hại ai.

"Ông tránh ra để tôi diệt trừ con ma nữ này.

Đừng lẫn lộn âm dương mà làm trái với luật trời."

Đạo sĩ đẩy Cao Huân sang một bên, ông ta giương thanh kiếm gỗ chỉ vào Quế Hoa.

Nàng như con thú bị dồn đến đường cùng, run rẩy nằm co quắp dưới gốc cây.

Sét tiếp tục đánh xuống cổ thụ, lửa bùng to lan từ cành này sang càng khác, sau cùng biến cả cái cây thành ngọn đuốc lớn soi sáng cả đồi trà.

Nghe thấy tiếng Cao Huân rên rỉ vì đau đớn, Quế Hoa nấc lên một tiếng, lê thân về phía chàng, Những cành cây thường ngày mềm mại, yếu mềm, giờ như gai sắc nhọn vươn ra tua tủa, cào cấu vào thân người.

Tay nàng vươn ra, cố nắm lấy tay Cao Huân.

Chàng dốc hết hơi tàn của mình, đưa tay về phía nàng.

Những ngón tay lấm lem bụi đất đan vào với nhau, chàng nhìn thấy Quế Nương đang đứng trong biển lửa, xung quanh nàng, xác quân giặc nằm la liệt lẫn mới vò rượu đã vỡ nát.

Quế Nương của kiếp trước chết như thế, hóa thành tro bụi như thế.

Nước mắt chàng trào ra.

Quế Nương.

Quế Hoa.

Nàng.

Kiếp trước.

Kiếp này.

Cả chàng và nàng đều chẳng thể ở bên nhau.

Thế rồi sấm rền vang, đúng vào lúc đạo sĩ định vung kiếm trảm yêu của mình, bỗng từ phía chân trời đằng Đông có cỗ xe ngựa rẽ mây đen đi xuống.

Xung quanh cỗ xe là các thiếu nữ đoan trang, thướt tha xiêm áo.

Mùi cháy khét, mùi máu tanh không còn nữa, chỉ còn một hương thơm ngan ngát, khiết tịnh.

Tiếng vó ngựa gõ đều đều chậm rãi, hoà cùng với tiếng lục lạc vang lên rõ mồn một.

Mắt Cao Huân giờ đã nhoè hẳn đi, đầu óc mụ mị dần, nhưng âm thanh ấy lại níu giữ vài phần thần trí chàng, không để chàng chìm vào cơn mê man.

"Tiên chúa ngự ở sơn lâm, cớ sao đêm nay loan giá lại ngang qua chốn này?"

Đạo sĩ kính cẩn chắp tay hành lễ.

Người ngồi trong xe không đáp.

Qua tấm màn che, chỉ thấy hình bóng thấp thoáng mờ ảo đang đưa quạt.

"Khổ thân.

Nào, các chị đến đón cô em về đây, đã dặn là đêm rằm đừng có ra ngoài rồi."

Cao Huân nghe thấy tiếng trong trẻo như đang hát thì nhận ra đấy là Lệ Mai.

Nàng đi đến bên Quế Hoa, khẽ chép miệng.

"Tiên cô có biết nó là ma hay không?"

Thấy các nàng thiếu nữ đi theo hầu bên cỗ xe đều thương xót cho Quế Hoa, đạo sĩ bước lên một bước, sốt sắng hỏi.

"Chúng ta đều biết."

Nàng khác trong hội đáp.

"Thế sao các vị lại dung túng cho nó làm hại người?"

Đạo sĩ không kìm được bất bình.

"Quế Hoa vốn có tên trong sổ tiên tịch.

Nó đã trả xong nợ trần, giờ chúng ta vâng lệnh tiên chúa đến đưa nó đi."

Lệ Mai liếc nhìn đạo sĩ rồi bĩu môi.

"Cứ khéo lo, nó tự hại nó chứ nào hại được ai."

Trong xe vọng ra một tiếng cười nhẹ.

Biết ý tiên chúa đã chấm chọn nàng Quế Hoa theo hầu, vị đạo sĩ lùi lại mấy bước, cúi đầu nhường đường cho Lệ Mai dìu người đến trước cỗ xe.

"Bẩm tiên chúa, còn chàng..."

Quế Hoa ngoái nhìn Cao Huân.

Ánh mắt nàng lưu luyến không nỡ rời đi.

"Xin tiên chúa gia ân...

ơn đức của tiên chúa, tôi xin kết cỏ ngậm vành."

"Người này có công thủ hộ sơn hà."

Bóng người ngồi trong xe vẫn chầm chậm đưa quạt, bốn bề văng vẳng giọng nói êm dịu nhưng uy nghi.

"Tự cao xanh đã an bài cho nó rồi, chẳng cần đến ngươi phải bận lòng."

Tức thì, Quế Hoa quỳ sụp xuống tạ ơn.

Cao Huân nằm một chỗ, mờ mờ ảo ảo thấy hết từ đầu đến cuối, chàng giơ tay muốn với đến gần Quế Hoa, đến đoàn người ngựa, hiềm nỗi mắt chàng cứ tối dần, tối dần cho đến khi chàng chẳng còn nghĩ hay nhìn được gì nữa.

*

* *

"Bạch thầy, thế ra cô Quế Hoa đấy là thành tiên về trời ạ?"

Chú tiểu mới lên mười nghe xong câu chuyện, vội vàng hỏi.

Thầy của chú khẽ gật đầu.

Thầy rót thêm một chén trà cho chú và một chén cho mình.

Chú tiểu nghiêng đầu nhìn tách trà, đưa bàn tay lên lẩm bẩm bấm đốt.

"Chú đang bấm đốt gì thế?"

"Bạch thầy, con đang tính lại ạ."

"Chú tính lại cái gì?"

"Nhất thủy, nhì trà, tam pha, tứ chén..."

Chú tiểu ngập ngừng, tay đưa lên gãi đầu.

"Thầy ơi, con nhớ thầy dạy con trà ngon phải đủ năm... năm... nhưng mà con đếm chỉ có bốn..."

"Ngũ quần anh."

Thầy cười xòa, nhắc cho chú nhớ.

"Nghĩa là uống trà cần có bạn hiền, chú nhớ chưa?"

Chú tiểu gật đầu, uống thử một ngụm trà.

Trà của thầy chú pha không bị đắng chát như chú tự pha.

Vừa lúc đấy, sư huynh của chú đi vào, khoanh tay lễ phép thưa rằng thầy có khách đến xin gặp.

Chú tiểu đã quen việc, biết tính thầy, đứng lên dọn dẹp ấm và chén rồi bê khay đi.

Một lúc sau, chú pha ấm trà mới, bày hai chén mới, mang ra cho thầy tiếp khách.

Thầy bảo chú cứ đứng ở bên, đợi nghe thầy sai châm nước.

Chú len lén nhìn người khách.

Ông ta nom còn trẻ, chỉ độ ngoài hăm mươi, vóc dáng, cử chỉ lẫn lời nói đều toát ra vẻ thư sinh.

Khách cung kính với thầy lắm.

"Bạch thầy, tôi đến tìm thầy, trước là để chuyển lời của quan gia, xin rước thầy vào cung làm chứng rửa oan cho Khanh Sơn tiên sinh, sau là được lệnh bà nhờ cậy, hỏi thăm sức khoẻ của thầy."

Vừa nói, người khách vừa lấy trong tay nải đem theo bên mình ra một phong thư và một cái hộp gỗ cẩn xà cừ, đẩy về phía thầy.

"Tân quân nối ngôi, nhớ nghĩ án oan năm xưa mà phải lao tâm khổ tứ nhường này, chúng dân trăm họ ắt sẽ được hưởng đức của thiên tử."

Thầy điềm đạm, tay cầm phong thư lên đọc qua một lượt.

Chú tiểu thoáng thấy trên thư có đề ba chữ Lê Thị Ngọc Nhàn là tên người viết.

Lê Thị... hình như ban nãy lúc thầy kể chuyện cho chú nghe, có một người mang họ Lê...

Lê Doãn Hạc.

Dưới người ấy còn hai cô em gái nữa.

Ngọc Nhàn và Ngọc Cơ.

"Mẹ hiền dạy ra con thảo, âu phải là nhờ công lao của lệnh bà suốt mấy năm qua.

Doãn Hạc và cụ đồ trên trời biết lệnh bà vẫn giữ được nếp nhà thế này thế này cũng bớt tủi vài phần."

"Bạch thầy, thế còn chuyện vào cung..."

"Cao Huân bị quan binh đánh chết ở Đào Nguyên rồi, người đã chết sao còn vào cung diện thánh được?"

Thầy mở trong hộp gỗ, chỉ thấy có lót vải điều đỏ chót, giữa hộp là đôi trản ngọc đặt ngay ngắn.

"Xin ông về tâu lên với lệnh bà và quan gia như thế."

Người khách cũng không nài thêm, chỉ cung kính đứng dậy hành lễ rồi cáo từ.

Thầy giục chú tiểu pha thêm một ấm trà mới.

Lúc chú trở lại, thầy đã lấy đôi trản ngọc ra khỏi hộp gỗ, bày biện trên mặt phiến đá nhẵn nhụi dùng làm bàn thưởng trà của mấy thầy trò.

Lần này, thầy không để chú rót trà nữa mà tự tay rót trà vào trản ngọc.

Đôi mắt thầy hơi ửng đỏ, thầy nhìn lên tán cây đang che bóng rợp mát phía trên đầu.

Hoa mộc đang vào độ nở rộ, từng chùm vàng rực khoe sắc dưới ánh nắng nhàn nhạt của tiết trời thu, tỏa ra mùi hương thoang thoảng, nồng ấm, dễ chịu.

Dường như trong một sát na, chú tiểu thấy phảng phất có bóng người ngồi xuống trước mặt thầy, chỗ đặt cái trản ngọc còn lại.

Chú thích:

[1] Trích Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.
 
Back
Top Bottom