Cập nhật mới

Khác [Cảm hứng lịch sử] Hạ Cháy

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
345540238-256-k156242.jpg

[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Tác giả: motdongbonhao
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Tựa: Hạ Cháy
Tên khác: 04/72

Tác giả: Từ Đông
Beta: Nắng

Giới thiệu:

Anh nhớ mãi những đêm ấy, những đêm không ngủ, những đêm hành quân đánh trận, những đêm không nguôi nước mắt vì nhớ nhà.

Anh nhớ mãi những ngày ấy, những ngày cùng đồng đội kề vai sát cánh, những ngày lời thề quyết chiến vang vọng trong tim, những ngày mỉm cười nghĩ về thuở trẻ con.

Anh nhớ mãi, nhớ mãi.

Nhớ từng mùa xuân, hạ, thu, đông, nhớ từng năm lặp lại.

Cho đến khi anh vĩnh viễn dừng lại ở tuổi đôi mươi.

***

Lời nhắc nhẹ:
- Đây là một câu chuyện HƯ CẤU được viết dựa trên bối cảnh thời chống Mĩ.

- Truyện là thành quả của trí tưởng tượng, cảm nhận và những nghiên cứu, tìm hiểu của tác giả về thời kỳ này.

- TRUYỆN BA KHÔNG: Không phải là chính sử, không nên đánh đồng nó với chính sử, không chắc chắn đúng lịch sử hoàn toàn.

- CẢNH BÁO: trong truyện có xuất hiện chi tiết đào ngũ, có một nhân vật lính Ngụy không tên và một ít yếu tố LGBT.

- Hãy cân nhắc và đọc thật kỹ lời nhắc nhẹ trước khi đọc.

***

Chiếc "ổ mốc" của tác giả: page Một Đồng Bốn Hào



kháng-chiến-chống-mĩ​
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 1: Hạ


[Tháng 6/2022]

"Tôi ra đi khi hồn còn tươi trẻ

Chói như nắng hạ, nóng tựa gió hè

Tôi ra đi khi hai mươi tuổi tròn

Tuổi của mùa hạ, tuổi để yêu em"

***

Ngày mùa xuân, mưa rơi lất phất, khe khẽ rả rích ngoài hiên nhà, rưới thêm sức sống cho từng nhánh cỏ cây trong vườn.

Gió lướt qua thật nhẹ, mang theo một ít lành lạnh còn vương lại từ mùa đông.

Có một người thanh niên trẻ, người mặc vài lớp áo khoác cũ mèm, ngồi viết giấy trên bàn gỗ trước cửa sổ đã rỉ sắt, thi thoảng ngẩng đầu lên nhìn khung cảnh bên ngoài.

Vườn cây mới nhú lá, xanh mướt, đâu đó trong không khí thoang thoảng mùi hương tươi mới.

Anh đặt bút xuống, chống cằm nhìn ngắm, miên man suy nghĩ những điều xa thật xa.

Bỗng, một người phụ nữ, nom đã sắp tới tuổi năm mươi, đẩy cửa phòng, tiếng cửa kẽo kẹt phá tan bầu không khí tĩnh lặng.

Người phụ nữ đó thấy anh vẫn ngồi bất động bên bàn gỗ ngẩn người, mỉm cười, nói:

- Ôi ông tướng ạ, trưa trầy trưa trật rồi, ra ăn cơm thôi.

Anh giật mình, lập tức quay đầu nhìn ra phía cửa.

Thấy người tới, anh thở dài một hơi, sau đó đáp:

- Vâng.

Mà lần sau mẹ gọi con, làm ơn gõ cửa một cái được không.

Mẹ tự dưng đẩy cửa xong đứng ở đấy, dọa con hết hồn.

Người phụ nữ mắng:

- Nỡm ạ, hồn vía anh có mấy khi ở nhà đâu.

Mà anh không thấy cái cửa yêu dấu của anh kẽo ca kẽo kẹt rồi à.

Người thanh niên không nghe thấy thật, mà cũng không cãi lại được.

Anh cười cười, đứng lên, đẩy vai người phụ nữ ra ngoài:

- Vâng, vâng, vâng.

Rồi con sẽ tìm cách sửa nó sau.

Giờ con đói rồi, mẹ cho con ăn gì thế.

Người phụ nữ lườm nguýt anh, lầu bầu:

- Cơm trắng chan với nước mắm.

Ăn thì ăn, không ăn thì bắt phải ăn cho hết.

Người thanh niên cười hớn hở, dường như anh rất đỗi hứng thú với mâm cơm đạm bạc kia.

Thực ra, anh biết mẹ anh chỉ nói thế, chứ mâm cơm vẫn còn đĩa thịt luộc nhỏ, một đĩa rau luộc đầy ụ và tí mắm muối chấm, cùng với một bát củ kiệu muối con con.

Anh gắp lấy gắp để, chất lên bát mình một ụ thức ăn đầy ự, rồi cũng gắp một đống đặt vào bát của mẹ.

Anh bảo:

- Mẹ phải ăn thật nhiều, ăn nhiều sống lâu, kịp chờ con về.

Người phụ nữ hết nói nổi, chốc lát sau liền nạt lại anh:

- Lý lẽ vớ vẩn học ở đâu thế không biết.

Anh cười hì hì, tiếp tục gắp thịt cho vào bát của mẹ.

Người phụ nữ chậm rãi ăn, ăn được mấy miếng, bà lại không nuốt trôi được nữa.

Bà đặt bát đũa xuống, vẻ mặt tràn đầy lo lắng, hỏi:

- Con... tính đi thật à?

Người thanh niên biết mẹ anh đang nói về vấn đề gì.

Anh cúi đầu nhìn chăm chăm bát cơm tẻ, bàn tay phải nắm chặt đôi đũa.

Trong một khoảnh khắc kia, anh nghĩ đến rất nhiều thứ.

Đâu chỉ có mẹ, gia đình của anh, mà còn có cả ngôi nhà, cái bếp trong góc, cái cây trước sân vườn.

Rồi anh nghĩ đến tuổi thơ anh với sân trường lộng gió, lớp học lụp xụp, bảng đen, phấn trắng, chiếc khăn quàng đỏ và nhóm trẻ con đùa nghịch dưới cột cờ.

Những khung cảnh quen thuộc ấy, sau này anh chắc gì được nhìn thêm một lần, trừ phi may mắn lắm.

Và sau cuối anh nghĩ đến những nấm mồ, chẳng vì gì cả, đột nhiên nghĩ tới thôi.

Con người ai mà không thích "lá rụng về cội", anh cũng không khác mấy.

Lần này anh đi xa, khả năng bỏ mình cao hơn trở về nhà.

Anh sợ lắm chứ, sợ chết là một chuyện, sợ mình không thể về nhà là chuyện khác.

Anh hoang mang trước lựa chọn của mình.

Liệu có đáng để anh bỏ hết tất cả, kể cả mạng sống để đến một nơi xa lạ không?

Tương lai chẳng ai biết tới, không ai gọi tên, có khi còn không được ra đi một cách đàng hoàng, có đáng để anh bỏ hiện tại nữa không?

Đáng chứ.

Anh bình tĩnh trở lại, chậm rãi đối diện với gương mặt của mẹ.

Nơi khóe mắt bà có vài vết chân chim nho nhỏ, làn da bà đã sạm màu bấy lâu mà anh vẫn chưa từng để ý đến.

Họa chăng, khi con người ở gần một ai đó trong khoảng thời gian dài, họ sẽ rất khó để nhận ra sự thay đổi nho nhỏ của đối phương.

Thật vậy, giờ đây anh cũng chỉ mới nhận ra, hai bên tóc mai của bà đã bạc màu sương khói tự bao giờ.

Tất cả chúng như đang kể cho anh một câu chuyện dài về một người phụ nữ, một người phụ nữ của thời buổi chiến tranh.

Rồi chúng khẳng định một điều: mẹ anh đã già.

Và hình như, mẹ anh vẫn luôn u buồn, chỉ khi đối diện với anh và đứa em gái, bà mới lộ ra chút khiếu hài hước trời sinh của mình.

Anh nhìn mà lòng đau quặn thắt, song cũng không chắc nên nói sao cho phải.

Im lặng thật lâu, đến mức người mẹ tưởng rằng con mình không muốn nhắc tới chuyện này nữa, anh mới mở miệng, không trả lời câu trên mà lại dặn dò:

- Con không ở nhà, mẹ phải trông em con thật kỹ.

Với cái bản tính của nó, lúc con không ở đây, có khi nó quậy cái xóm làng này đến gà bay chó sủa mất thôi.

Tuy rằng anh vẫn giữ nụ cười trên môi, nhưng không hiểu sao, giọng anh nghẹn ngào như đang giấu một thứ cảm xúc vào trong lòng.

Anh mím môi, cắm đầu lùa cơm vào miệng ăn tiếp, mắt nhìn ra phía ngoài sân.

Trời đã ngớt mưa phùn rồi, chỉ còn lại gió se.

Hương hoa mới nở thơm phức, chắc hẳn nhà hàng xóm sẽ mừng lắm đây.

Chậu đào nhỏ vẫn ở trong vườn, từ hồi Tết đến giờ vẫn chưa trang trí hay cắt tỉa gì mà nó vẫn nở bung ra, tựa như những đốm lửa hồng tràn trề sức sống mới, nhìn qua thấy đẹp biết mấy.

Người phụ nữ hơi sững người, chậm chạp bưng bát cơm lên.

Hai người kết thúc bữa cơm trong im lặng, rồi người thanh niên đứng dậy, phụ mẹ dọn mâm cơm.

- Đã quyết định đi thì anh đừng mong trở về.

Anh mà về trước khi đất nước độc lập thì liệu hồn đấy!

Người phụ nữ ở đằng sau, dõi theo anh đang bê mâm xuống bếp.

Anh khựng lại, không có quay đầu, chỉ nói:

- Vâng, con biết rồi.

Còn mẹ đấy, mẹ phải giữ gìn, cố đợi con về.

Nói rồi, anh tiếp tục bê mâm cơm bước đi, mãi vẫn không quay lại để thấy được gương mặt khi đó của mẹ.

Anh xuống tới bếp, thoáng liếc thấy cái ấm nước đang sôi ùng ục.

Dưới ấm là một nhúm rơm rạ cùng củi khô đang cháy, ánh lửa không lớn là bao nhưng lại dấy lên trong anh một cảm giác thật lạ.

Anh không biết mô tả như thế nào, càng không biết nó tên là gì.

Một ngày kia, ngày anh rời khỏi, cô em gái há to miệng khóc bù lu bù loa, nức nở:

- Anh...

Anh nhớ, nhớ mang chồng về cho em!

Khoảnh khắc cô bé nói xong câu ấy, bao cảm xúc buồn tủi vì sắp sửa đi xa của anh bỗng bay biến đâu hết.

Anh chọt chọt trán cô, trêu đùa:

- Ô hay cái con này, anh mày đi đánh giặc chứ có phải kén rể cho mày đâu.

- Ứ biết đâu, ứ biết đâu!

Hu hu...

Cô nhóc giãy đành đạch lên, gào một tiếng rồi chạy đi mất.

Anh bất đắc dĩ nhìn theo, kêu cô bé chạy chậm chút kẻo ngã.

Người mẹ mang từ trong nhà ra một chiếc khăn quàng cũ sờn, cẩn thận quàng lên cổ anh, dù cho bây giờ không phải là mùa lạnh.

Tuy rằng bà đã nghe thấy hết từng câu nói của cô con gái nhỏ, miệng nhoẻn cười nhưng vẫn không cầm được những giọt nước chực trào nơi đáy mắt.

Bà cầm chặt tay anh, dặn dò thật nhiều điều.

Anh rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào đáp ứng từng lời một.

Sau cùng, trước khi quay lưng rời đi, anh nói:

- Thưa mẹ, con đi.

Mọi thứ xung quanh dần hòa lại với nhau, hóa thành một màu trắng nhạt nhòa.

Chỉ có một âm thanh hiền hòa, quyến luyến còn vang vọng bên tai:

- Mẹ chờ con, sẽ luôn chờ.

Chỉ mong con cùng bố, cùng anh, cả ba người đều mạnh khỏe về với mẹ.

***

Sáo tỉnh lại sau giấc ngủ ngắn.

Anh bần thần đưa đôi tay đen nhẻm lên mặt sờ soạng, phát hiện ra cả gương mặt đã ướt nhẹp.

Anh không ngạc nhiên mấy, bởi anh xa nhà bấy lâu nay, đã quen với việc thi thoảng nằm mơ, thường là những ký ức khi còn ở nhà.

Giấc mơ vừa rồi là những ngày cuối cùng trước khi anh ra lính.

Lời của mẹ ở đoạn cuối cùng vẫn đọng lại trong trí óc, vang lên không ngừng.

Anh nằm thừ người, lẩm bẩm:

- Bố không về được, anh con cũng thế.

Chỉ có con, không biết có còn thời gian đi sửa cửa nữa hay không.

Lỡ để cửa kẽo kẹt mãi thế, mẹ nhìn xong lại mắng con.

Anh ngồi bật dậy, dùng vai áo lau khô nước mắt trên mặt, rồi đờ người ra, nhìn thật sâu vào bóng đêm đen ngòm.

Thực ra, nhìn thì nhìn, anh lại không thể thấy được cái gì thú vị.

Anh chỉ cảm thấy lòng mình thiếu thốn rất nhiều, nhiều đến vô tận, như là đêm đen kia.

- Ô kìa, chú không ngủ à?

Có tiếng bước chân nhẹ nhàng lại gần, có vẻ người nọ cũng không vào giấc được.

Sáo ngẩng đầu, nheo mắt nhìn thật kỹ, đến khi nhận ra người kia là ai thì trả lời:

- Vừa tỉnh thôi, giờ chưa muốn ngủ lại.

Anh đó, lại đi kiếm ăn hả?

Bóng đêm thăm thẳm không một gợn đèn làm Sáo không nhìn rõ biểu cảm của Lơn, chỉ nghe được anh nói bâng quơ:

- Chú và các anh em đều hiểu tính anh mà, lúc rảnh không có gì nhai thì ngứa miệng lắm.

Mà này, không ngủ được tiếp thì qua đây chơi với anh.

Lơn xoay người, hướng đến một góc không ai nằm rồi ngồi xuống.

Sáo chần chừ giây lát, xong cũng đi theo.

Đêm khuya, loáng thoáng nghe thấy tiếng ai đó ho khan, chắc là bị lạnh rồi.

Hai anh em biết thế, ngồi sít sịt lại với nhau, vừa để ấm, vừa để tiện thì thầm trò chuyện.

Lơn móc ra một nhúm cỏ từ trong cái túi áo rách của mình, không biết là đào được từ chỗ nào.

Sáo nhìn lom lom nhúm cỏ dại trên tay anh, có chút băn khoăn liệu cho thứ kia vào miệng có ổn hay không.

- Ngậm đi, không sao đâu, anh thử rồi.

Lơn nói một cách chắc chắn, dúi vào tay Sáo một cọng nhỏ.

Sáo vẫn còn hoài nghi, liếc anh mấy cái, thấp giọng quở trách:

- Sớm muộn gì anh cũng đi đời nhà ma vì ngộ độc thực phẩm.

Lơn toét miệng cười, chính ra anh thôi học khi vừa học xong cấp một, không hiểu cụm "ngộ độc thực phẩm" trong lời của Sáo cho lắm, nhưng chắc không phải điều tốt.

Sáo nheo nheo mắt, trông cái bộ dạng ngờ nghệch của Lơn liền biết anh ấy chỗ hiểu chỗ không lời mình nói.

Sáo thở hắt ra, thôi kệ vậy, anh không phải là anh Sĩ, không giỏi việc kiên nhẫn giảng cho người khác ngữ nghĩa.

Sáo chậm rì rì đưa cọng cỏ kia lên miệng, ngậm lấy.

Ngay sau đó, anh nhăn mặt, nhè ra.

Anh gắt gỏng hỏi:

- Cái gì đây?

Lơn giơ bàn tay lấm đất của mình, bịt miệng Sáo lại, nói:

- Nhỏ giọng thôi, chú định đánh thức cả đơn vị à.

Sáo biết mình lỡ miệng, nhưng vẫn kéo mạnh bàn tay của Lơn ra, đè thấp giọng xuống, than vãn:

- Eo ôi, anh dùng tay không đào đất đấy hả, bẩn khiếp còn đưa lên miệng tôi.

Còn nữa, thứ của nợ gì kia?

Thứ của nợ mà anh muốn nói đến là cọng cỏ quý báu của Lơn.

Anh Lơn liếc trước liếc sau, mãi mới chịu ghé vào tai Sáo:

- À thì... vị nó hơi lạ tí.

Chú quen rồi thì sẽ không sao đâu.

- Tí?

Tí chỗ nào?

Với cả, anh bảo tôi quen, quen thế quái nào được mùi vị đáng quên này!

Sáo nhỏ giọng giãy nảy lên.

Thức cỏ kia vốn không có mùi gì, vừa cho vào miệng lại nếm ra hương vị khó quên của nước cắm hoa cùng với vị chua loét của quả quýt xanh, còn đề thêm chút vị đắng của quả mướp, ấy là còn chưa kể đến vị hăng hắc của mấy con kiến đang bám trên thân cỏ nữa.

Sáo nhai lần này liền biết, cái vị kia anh nếm được một lần là nhớ mãi một đời.

- Thì không quên được, vậy cứ quen đi thôi...

- Anh Lơn nói.

Giọng anh càng lúc càng nhỏ lại, hệt như một đứa trẻ biết sai và chẳng thể nào cãi nổi cha mẹ nhưng vẫn không chịu thừa nhận ngoài miệng rằng, mình đã sai.

Sáo lườm Lơn, hít sâu một hơi, sau đó gắt giọng:

- Sao không nói sớm để tôi còn kịp chuẩn bị tinh thần!

- Hả?

Anh vẫn chưa nói cho chú?

Giọng điệu bất ngờ, ngạc nhiên, hoang mang và ngơ ngác như con nai tơ của Lơn chính thức khiến Sáo, một chàng trai vốn nổi danh trầm tính, vừa nghe đã muốn đấm cho cái.

Ấy là còn chưa kể cái giọng điệu đó vô cùng sượng sùng và giả tạo.

Cái miệng của anh Lơn là như thế đấy, đã ăn thì thôi, mà khi không ăn thì người khác chỉ ước trong tay có một miếng thịt thật to, nhanh chóng đốp ngay vào mặt anh, để anh luôn miệng nhai chóp chép và không nói được gì nữa.

Bây giờ, Sáo cũng mong rằng trên tay mình có một cái gì đó ăn được, dùng để nhét vào miệng và mũi của Lơn.

Nhiều khi, Sáo và các anh em khác cũng thắc mắc, phải chăng mấy lời vớ vẩn được nhả ra từ miệng của Lơn là vì anh ấy đang đòi ăn hay không?

- Ăn gì đấy?

Xin miếng.

Một người nhỏ con nhảy xổ ra từ thân cây cạnh đó, cà lơ cà phất chen vào giữa Lơn và Sáo.

Lần này Lơn bất ngờ thật, bị dọa cho ngã bẹp xuống đất.

Còn Sáo thì như đã biết trước, thản nhiên xê người ra chừa chỗ.

- "Út tăng", đêm hôm không ai làm thế cả!

Hơn nữa, chỗ này có phải vị trí đội chú đâu?

Thiều không cùng đội với bọn Lơn và Sáo, cậu ấy còn không phải là bộ binh.

Thiều là chiến sĩ của một tiểu đoàn xe tăng, chẳng qua trước đó cậu có quen biết với Sáo, hai đứa khá thân thiết với nhau nên từ khi ngẫu nhiên gặp lại vào mấy hôm trước, biết cả hai cùng tham gia một chiến dịch, Thiều cứ bám lấy Sáo không thôi, lượn qua lượn lại từ đơn vị của mình cho tới đơn vị của Sáo.

Gặp nhiều rồi cũng mến, và bởi vì tuổi Thiều nhỏ nhất đám nên đơn vị của Sáo cũng ưu ái tặng cậu biệt danh "út tăng", coi như là "thành viên ngoài biên chế".

Cậu Thiều "út tăng" bĩu môi, mỉa mai:

- Biết rồi mà, qua chơi tí thôi, có gì đâu chứ.

Với lại, anh nhìn anh kìa, làm như người khác cho vào mồm cái gì cũng được ấy.

Lơn nhăn mặt, phủi mông đứng dậy, không hề có ý định cãi, mà có cãi thì chắc cũng sẽ bị bắt bẻ ngược lại.

Dù anh không sợ không cãi lại được, nhưng đêm rồi mà, anh sợ phiền lắm.

- Thế hai anh đang ăn gì đấy, cho em ăn với.

Lơn nghe thế liền cười niềm nở, đưa cho Thiều một nắm cỏ thật to, dâng bằng cả hai tay lên luôn.

Sáo nhìn không nổi, vươn tay ra ngăn lại:

- Ai vừa nói "không phải ai cho vào mồm cái gì cũng được" thế hả?

Tên kia vừa cho thứ gì liền ăn là sao?

Dù móc mỉa một vài thành phần dở dở ương ương là sở thích thường nhật của Thiều, song nhóc ta tôn trọng những người khác lắm.

Được Sáo nhắc nhở, cậu nhóc nhanh chóng rụt tay về, kiên quyết không nhận đống cỏ kia.

Lơn bực bội vì mục đích trả thù không thành, hỏi tại sao.

Thiều đáp:

- Không giấu gì anh, em vừa đi toa-lét xong.

Lơn vừa nhai một nhánh cỏ, vừa nói:

- Thế liên quan gì đâu.

- Đúng là sẽ không liên quan nếu em chỉ đi nhẹ.

- Thiều nói.

Cậu chàng cảm thấy có hơi thiêu thiếu gì đó, bèn bổ sung thêm cho đầy đủ.

- À, em còn chưa rửa tay nữa.

Thiều nhún vai, còn nhấn mạnh ở bốn tiếng cuối cùng.

Dường như cậu chàng cố ý chờ đến khoảnh khắc này để nói như vậy.

Cậu nhóc vừa dứt lời, phía của anh Lơn truyền đến tiếng ho sặc sụa không dứt, rất nổi bật trong không gian vắng lặng của doanh trại.

Sáo đang thẩn thơ ngồi tại chỗ, tay vuốt cằm như đang tính toán cái gì.

Vừa nghe thấy tiếng ho, anh giật mình, sợ tái cả mặt, vội vàng kéo theo Thiều đang hoang mang lủi đi mất, bỏ lại tiếng gọi không ra hơi của Lơn ở sau lưng:

- Hai, khụ khụ, thằng kia, khụ, đợi anh với, khụ khụ khụ...

Thiều chuẩn bị lén lút trở về đơn vị trước khi bị bắt quả tang trốn đi chơi.

Cậu chàng do dự mãi, cuối cùng vẫn đi qua chỗ của Sáo, hỏi nhỏ:

- Bỏ anh ý ở lại liệu có ổn không thế?

Sáo cau mày, suy nghĩ một lúc, lắc đầu:

- Chắc không sao.

Thiều không chắc chắn lắm:

- Thật không sao chứ?

- Thật!

Đây có phải lần đầu tiên có người ho giữa đêm trong đơn vị đâu.

Thiều ngồi xổm, vuốt cằm nghĩ ngợi, đột nhiên thấy hợp lý đến lạ.

Đã là người thì ai mà chẳng phải ho.

Nhỡ đâu trời lạnh quá, họng khó chịu thì ho thôi, cũng đâu phải chuyện lạ gì.

Thiều nghĩ thế, rồi gật đầu cái rụp, rất đồng tình với lời của Sáo.

Sáo cười khì.

Anh vỗ vỗ vai Thiều, bảo:

- Đừng để ý, anh nói thế thôi chứ tất nhiên ông anh kia của chú rất có sao rồi, kiểu gì cũng bị mắng té tát cho xem.

Thiều thở phào nhẹ nhõm, rồi lập tức nhận ra có điều gì đó không đúng.

Cậu chàng không giấu giếm sự khó tin và nghi ngờ của mình:

- Anh vừa cười đó hả?

Anh vừa đùa em đúng không?

Thật luôn à?

Lúc này á?

Cũng không thể trách Thiều thắc mắc thẳng thừng như thế được.

Bình thường tính của Sáo hiền lắm, có thể nói là trầm lặng, ít nói.

Nếu là ngày khác thì anh còn bông đùa đôi câu, nhưng không phải câu nào cũng gây cười.

Chẳng qua một tuần nay Sáo đột nhiên trầm hơn trước nhiều, ngày nào cũng trưng một mặt ủ rũ chán chường.

Thiều lấy làm lạ lắm, đi hỏi những anh lính khác.

Các anh liếc qua Sáo đang ngẩn người, lắc đầu thủ thỉ bảo Thiều:

- Cứ tầm thời gian này lại thế, mấy năm rồi.

Chú kệ Sáo đi, nó không sao đâu.

Thiều vẫn hiếu kỳ, mà mọi người đã nói thế rồi thì cậu đành thôi.

Cậu cứ tưởng Sáo sẽ trầm thêm một thời gian, ai ngờ hôm nay lại làm cái trò quái ác này.

Sự việc đột ngột quá khiến cậu bất ngờ, buột miệng nói luôn.

Nụ cười của Sáo chợt tắt, tựa như ký ức vừa chợt hiện lên một hình ảnh nào đó.

Anh lặng mình một thoáng, rất nhanh liền tỉnh táo lại.

Sáo giấu đi thứ cảm xúc vừa rồi, bày ra một gương mặt nhăn nhó, dỗi nói:

- Anh nói này, dù anh có ít nói đi chăng nữa thì thi thoảng vẫn nên hiện tí khiếu hài hước để đùa với mọi người chứ.

Bóng đêm che đi từng biểu cảm thay đổi trên mặt anh, Thiều chỉ nghe thấy giọng điệu hờn dỗi trẻ con đó.

Cậu biết bản thân lỡ miệng, càng không tiện nhắc lại vấn đề tầm này tầm nọ gì nữa, vội vàng nói:

- Cái đó cũng đúng, chẳng qua mọi người thấy anh trầm tính, trò đùa còn nhạt toẹt nên toàn gọi anh là 'ốc luộc' ở sau lưng anh thôi.

- Gì cơ?

Thiều nhanh tay bụm miệng mình lại, chết chửa, miệng nhanh hơn não lúc nào cũng là một nỗi đau.

Chuyện các đồng đội đặt cho Sáo một cái biệt danh 'ốc luộc' là chuyện mà anh chị em cô dì chú bác nào cũng biết, chỉ mình Sáo không biết.

Thực ra, có không ít lần các anh em tí nữa thì gọi Sáo bằng biệt danh ấy, nhưng chẳng biết thằng ranh nào phao tin đồn nhảm (thấy tự xưng là đồng hương của Sáo), rằng mấy người lầm lì, tầm ngẩm tầm ngầm như Sáo thường là kẻ đáng gờm, có phong cách người xấu, cộng thêm dẫn chứng là cái "chiến tích" từ thời xưa xửa xừa xưa của anh, khiến không ít người tin anh là thành phần nguy hiểm nên không dám trêu chọc hay gọi anh bằng cái tên buồn cười đó.

Thấy Sáo định hỏi thêm, Thiều liền đứng phắt dậy, chạy biến về chỗ đơn vị của mình.

Nửa đường thì bị tuột dép, ngã dập mặt, sau đó đứng dậy đi nhanh, mất dạng trong màn đêm thăm thẳm.

Sáo làu bà làu bàu gì đó, song vẫn bỏ qua, chuẩn bị vào giấc lần nữa.

Lại là một đêm thật dài.

***

Nhà hát "hài" kịch Nhân Vật:

Sáo "ốc luộc": Người ít nói cũng có khiếu hài hước mà!

Thiều "út tăng": Are you sure about that?
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 2: Hạ


- Bố tiên sư thằng nào đêm qua ho suốt mấy phút liền, hại tao mất ngủ đến sáng!

Tao mà biết mày là ai, chớ nói đến người khác, tao sẽ cho mày nếm trải cảm giác muốn ngủ mà ngủ không nổi, muốn thức mà thức không xong, mày xem mà liệu cái thần hồn đấy nhá!

Chừng khoảng ba, bốn giờ, trời chưa hửng sáng, chỉ loáng thoáng thấy được một góc nho nhỏ nào đó cuối chân trời hiện lên một ánh xanh nhạt.

Tuy còn sớm nhưng hầu như ai nấy đều đã dậy, đánh một cái ngáp và vươn vai.

Khung cảnh yên bình diễn ra chưa được bao lâu thì đã bị một tiếng rú lên của anh nào đó phá tan hoàn toàn.

Tiếng gào ấy chất chứa một sự giận dữ kìm nén đã lâu, hình như nén từ đêm qua tới giờ, đến lúc này bùng phát hết ra.

Nghe qua liền biết cơn giận này thật khủng khiếp.

Có anh bình tĩnh dùng tay bịt tai, có anh chậm rãi dụi mắt, có anh thản nhiên cài khuy áo, cũng có anh bực bội càm ràm.

Sáo bị tiếng gào kia làm cho tỉnh ngủ, ngơ ngác nhìn sang người ngủ ở chiếc võng phía đối diện mình.

Phải vậy, tiếng gào vừa rồi được phát ra từ đằng đó.

- Năng à, có chuyện gì thế?

Nhìn Năng với bộ dạng nhếch nhác, mặt trắng hếu, nước mũi chảy thò lò, bọng mắt thâm quầng và khuy áo cài lệch, Sáo nhịn không được mà hỏi han.

Năng khụt khịt, hiển nhiên anh bạn đã bị cảm lạnh rồi.

Da mặt của Năng vốn có màu trắng bệch của người bệnh lâu năm, nếu không nhờ tiếng mũi khụt khịt kia thì sẽ không ai phát hiện ra anh ấy bị cảm.

Năng gãi gãi mũi, hắt hơi hai, ba cái rồi mới đáp:

- Chả biết là cái thằng mẹ cha nào, đêm hôm đang yên lành thì ho sặc sụa mấy phút liền, hại tớ ngủ không nổi, mũi tớ lại thành như này.

Anh chỉ lên cái mũi đỏ chót, vài giây sau có dòng nước chảy xuống.

Năng hít mũi, dùng tay lau lau.

Mũi của Năng nhạy cảm lắm, chỉ thay đổi thời tiết thôi mà đã sụt sịt rồi.

Hồi mới từ ngoài Bắc vào, chẳng mấy khi mũi của Năng để cho chủ nhân nó yên ổn.

Đến giờ thì đỡ hơn, cơ mà bị lạnh thì vẫn sổ mũi như chơi.

Năng hay nói đùa rằng, hệ thống hô hấp của anh rất tệ, đôi lúc, việc thở đối với anh cũng khổ lắm đấy.

Không rõ anh học được điều này từ đâu, kiểm chứng từ khi nào, chỉ thấy anh hay đi ngủ, rảnh cái là ngủ vì anh nghĩ chỉ khi đi ngủ, mũi anh mới giống mũi người ta, thế nên anh rất quý trọng giấc ngủ của mình, vô cùng căm ghét những ai phá bĩnh giấc ngủ của anh.

Tiếng ho hôm qua làm Năng mất ngủ, hại anh "thở cũng không xong", khiến anh giận cũng phải.

Sáo nghe xong thì chột dạ, lặng lẽ lia mắt đi chỗ khác.

Anh biết hiện tại có ba "thằng mẹ cha", trong đó, thủ phạm trực tiếp là anh Lơn, thủ phạm gián tiếp là chính mình và Thiều.

Đáng lý ra anh nên bịt miệng anh Lơn rồi mang người đi chỗ khác mới phải.

Lúc đó Sáo hoảng quá, đầu chỉ kịp hiện lên ý tưởng chạy và mặc kệ anh Lơn, coi đó như trêu anh ấy tí thôi.

Giờ nghĩ lại thì thấy mình ác thật, chắc anh nên đi xin lỗi người ta, nhưng mở lời ra sao thì anh chịu.

- Năng này...

- Anh Sáo cứu em!

Đợi đến khi Sáo hạ quyết tâm khai thật thì bất chợt bị một tiếng kêu cứu cắt ngang.

Sáo ngậm miệng lại, ngoảnh sang trái, thấy Thiều đang xách ống quần, để chân trần lao đến, núp sau lưng mình.

Còn người đuổi theo cậu chàng là anh Lơn.

Mặt anh Lơn đỏ bừng, thở hồng hộc, không biết bằng cách nào mà tay áo xắn đến tận vai, để lộ hai cái cẳng tay rắn chắc, trông đô hơn hẳn bao nhiêu anh lính gầy như que củi.

Anh giơ nắm đấm lên, quơ quơ trước mặt Sáo, hàm ý đe dọa rõ rành rành.

Anh Lơn không nói gì, chắc họng anh gặp vấn đề nên không dám mở miệng trước mặt Năng, sợ bị lộ.

Tiếc rằng Năng là người lõi đời, lập tức phát hiện ra có điều khác thường.

Cái miệng của anh Lơn không phải ăn thì là nói, nay khép chặt thế là có gì đó rồi đây.

Năng híp mắt, hai tay chống nạnh, nói bóng nói gió:

- Hôm nay trời lạ ghê nhỉ.

Lơn vẫn nín thinh, như là không hiểu ý của Năng, hoặc là bản thân anh cố tình làm lơ đi.

Sáo nhìn biểu cảm của Năng, lại nhòm điệu bộ của Lơn, trong lòng có hơi sợ.

Dù sao thì cũng tại mình cả, đi "đầu thú" còn có khả năng được khoan hồng.

Nghĩ như thế, Sáo liền xen vào giữa, cất tiếng:

- Đêm hôm qua là...

- Á à, chú còn dám nhắc đến đêm qua nữa cơ à.

Lại một lần nữa bị ngắt lời, Sáo vẫn không có cách nào khác ngoài bảo trì im lặng.

Anh thì trầm mặc được, cậu út Thiều thì không.

Thiều vừa nghe Lơn mở miệng nói vậy, giọng không được tốt nhưng cậu nhóc không quan tâm, lập tức giở tính cáu kỉnh, vứt ngay dáng điệu chạy trối chết vừa rồi vào dĩ vãng.

Thiều đứng thẳng lưng, vểnh mặt lên trời, ưỡn ngực, trông cái vẻ lùn lùn choai choai mà oai như cóc:

- Còn không phải tại anh cho anh Sáo ăn linh tinh ư?

Anh ấy chỉ trả đũa thôi.

Sáo chớp thời cơ xen miệng:

- Hơi ác tí nhưng...

Lơn không để ý tới Sáo, cãi lại Thiều:

- Chỉ là anh thấy chú ấy có vẻ buồn, muốn chọc chút cho vui thôi mà.

Thiều vẫn không tin, cậy đang có chống lưng mà lớn tiếng chỉ trích Lơn đùa dai.

Cậu nhóc kiên quyết cho rằng việc Sáo trả đũa là bình thường và việc Lơn hầm hố dọa đánh người là bất bình thường.

Lơn thì bảo rằng, anh muốn làm Sáo vui chứ chẳng có ý gì khác, sự cố của đêm qua mới là trò đùa do Sáo bày ra, hại anh trời chưa sáng đã bị kỷ luật.

Hai người hai ý trái ngược nhau, chẳng ai chịu ai cả.

Mấy lần Sáo muốn chen vào giải thích đôi câu để làm hòa, nhưng liên tục bị hai người này cắt ngang giữa chừng.

Sáo thở dài thườn thượt, định bụng thử thêm nốt một lần nữa xem sao.

Lơn lại không cho Sáo cơ hội đó.

Anh nói:

- Chú ấy biết đùa thì cũng thôi, sao đến chú cũng hùa theo?

Thiều cũng không vừa.

Cậu hất mặt lên trời, kênh kiệu đáp:

- Tôi thích đấy, kệ tôi!

Hai tên lớn người rồi vẫn còn trẻ con là Thiều và Lơn tiếp tục chí chóe nhau, khơi dậy bản chất hóng chuyện của các anh lính trẻ khác.

Các anh lính rảnh rỗi kéo nhau vây xem, đứng thành vòng tròn, liên tục xì xào bàn tán xem nguyên nhân, thậm chí có người tường thuật trực tiếp diễn biến cuộc cãi cọ.

Ở giữa vòng tròn, ngoại trừ hai người Lơn, Thiều đang đấu khẩu ra thì còn Năng và Sáo.

Năng nhíu mày nhăn mặt, không quá rõ chuyện đang và đã xảy ra.

Còn Sáo, sau bao lần bị làm ngơ khiến anh nói một câu cũng không xong, anh nổi cơn thịnh nộ, gân cổ gầm lên:

- Mả cha chúng mày, im hết cho ông!

Mọi người ở đó hết hồn, nhanh chóng im bặt.

Bao nhiêu con người, gấp đôi con mắt đều nhìn chăm chăm Sáo, có sửng sốt, có kinh ngạc, càng nhiều hơn là thắc mắc và khó hiểu.

Sáo bình tĩnh hít sâu, trước tiên nói lời xin lỗi với anh Lơn và Năng, sau đó nghiêm túc giải thích mọi chuyện theo góc nhìn cá nhân của mình.

Anh thừa nhận:

- Hẳn mọi người cũng biết, dạo này tôi cảm thấy hơi buồn, đêm qua không vào giấc được.

Anh Lơn đi ngang qua, rủ tôi qua một góc ngồi chơi cùng anh.

Đúng là khi anh Lơn cho tôi nếm cái thứ 'mỹ vị' kia, tâm trạng của tôi thoải mái hơn rồi, chẳng qua vẫn còn ghi thù, muốn tìm cơ hội trêu lại anh ấy.

Chỉ không ngờ trò này ác quá, ảnh hưởng tới mọi người.

Thực xin lỗi.

Thiều bĩu môi, nói nhỏ:

- Chung quy cũng tại ông Lơn "thiếu nặng" cả.

Sáo lườm nguýt Thiều, cậu chàng ngậm miệng một cách không tình nguyện.

Năng biết được nguyên cớ thế nào, cộng thêm mối quan hệ với Sáo cũng không tệ, liền bỏ qua.

Anh đặt tay lên vai Sáo, vỗ nhẹ:

- Không sao, đều là anh em với nhau, Sáo đã thẳng thắn thế thì sao tớ trách Sáo được.

- Năng dừng một thoáng, lại nói tiếp - Lần sau chú ý thời điểm là được.

Sáo thở phào nhẹ nhõm, đinh ninh rằng mọi việc đã ổn thỏa rồi.

Nào ngờ anh chưa nhẹ nhõm được mấy giây, Năng đã nói:

- Đấy là với Sáo chứ không phải với ông Lơn "thiếu nặng" rồi.

Tóm lại là Năng vẫn ghim anh Lơn.

Sáo hơi hãi hùng, âm thầm tụng ngàn câu xin lỗi anh Lơn.

Lơn nhăn mặt, cảm thấy rất bất công:

- Thiên vị, rõ ràng là thiên vị mà!

Năng khoanh tay, dựa vào thế mạnh chiều cao của mình, lườm Lơn một lượt từ đầu đến chân.

Chắc do Năng ngủ nhiều nên dáng người anh cao vổng lên, cao hơn cả anh Lơn.

Khỏi cần phải nói, động tác này của Năng có hiệu quả rõ rệt, làm anh Lơn bị lườm mà co rúm người lại.

Anh Lơn lí nhí:

- Đúng là thiên vị còn gì nữa...

Thiều cậy mình có Sáo chống lưng, hất mặt nói:

- Đến lúc anh cũng được thiên vị thì cả bọn héo queo thành bò nhai cỏ hết rồi.

Anh Lơn không dám cãi lại Năng, người cao tồng ngồng, nhưng anh dám bật lại Thiều, người lùn nhất chỗ này ở hiện tại.

Anh mặc kệ cái họng của mình, giãy nảy đấu võ mồm với Thiều.

Hai bên lần nữa không ai chịu thua ai, cãi đến mức bắt đầu động tay chân.

Họ không định đánh nhau thật, chỉ lấy tay phẩy phẩy người kia như vừa phủi bụi vừa đuổi ruồi, làm các anh khác nhìn mà nẫu cả ruột.

Người hóng chuyện thấy vậy đều chán nản rời đi, tập trung tiếp vào việc thu dọn chuẩn bị hành quân tiếp.

Không hiểu sao, chợt có một anh lính đứng ngẩn ra, chưa chịu đeo ba lô lên.

Đồng đội bên cạnh dọn xong rồi, nhìn anh lính nọ ngơ người một lúc, mới thắc mắc:

- Sao thế?

Anh lính nọ giật mình, lại hơi ngơ người một lát như để hiểu đồng đội vừa nói gì, trả lời:

- Chỉ là đang nghĩ Sáo "ốc luộc" thế mà bình thường lại rồi.

Tôi còn nghĩ nó phải buồn thêm một đoạn thời gian nữa, như những năm trước ấy.

Đồng đội dừng động tác một lúc, cẩn thận suy nghĩ, hình như đúng thế thật.

Trong mấy năm đi lính, từ sự kiện lần đó đến bây giờ đã bốn, năm năm rồi, năm nào Sáo cũng lặng người ít nhất hai tuần.

Mà đợt này, nhờ có Lơn nên thời gian rút ngắn lại chỉ còn hơn một tuần thôi.

Người đồng đội cười, nói một nẻo:

- Tự dưng muốn ăn ốc luộc quá, hay là mình bảo anh nuôi (1) bắt ốc đi luộc nhỉ.

Không thì bọn mình cùng nhau bắt, mấy thằng tụ lại đi mò, kiểu gì cũng được cả rổ.

Những người bên cạnh cũng hùa theo:

- Ấy, được đấy, nếu có đi qua đồng thì mò thử xem.

Nhưng dạo này mấy anh nuôi khó ở lắm, chắc Lơn "thiếu nặng" lại lấy lưỡi lê thó đồ ăn rồi.

Năng khoác ba lô, đi tới đứng bên cạnh Sáo, nhìn cách anh quen tay nhanh chóng sắp xếp đồ đạc.

Năng cũng nghe thấy những người kia nói gì, chủ đề còn sang tận phương pháp bắt ốc chuẩn nhất rồi, chắc lúc sau là công thức pha nước chấm ốc mất.

Anh khoanh tay cười hề hề, nói:

- Không ngờ Sáo điều chỉnh tâm lý nhanh hơn rồi.

Sáo cuộn võng lại, không mấy để ý mà trả lời:

- Nhờ ông Lơn "thiếu nặng" cả.

Mà kể ra thì không thể chìm đắm mãi, phải không?

Năng gật đầu ngầm đồng ý.

Chốc lát sau, anh hít hít mũi, vờ đáng thương nói với Sáo:

- Mấy thằng kia bắt đầu kể tên các món được làm từ ốc kìa, tớ thèm quá Sáo ơi.

Bởi mấy năm anh Én đi lính nên Sáo cũng có một khoảng thời gian trông em, tính tình trưởng thành hơn tuổi đôi chút, đâm ra những bạn cùng tuổi như Năng hay bé hơn như Thiều đều dựa dẫm vào anh cả.

Tuy biết là họ hay giả vờ giả vịt đấy nhưng Sáo cũng kệ, cứ coi như cả bọn chơi trò gia đình đi, dĩ nhiên anh là người đóng giả làm phụ huynh rồi.

Sáo nhét nốt cái quần bẩn vào trong ba lô, ngầm liên tưởng đến một bàn toàn món ốc.

Anh chép miệng, thèm thật đấy, tưởng tượng thôi mà như đã ngửi thấy mùi rồi.

Anh lặng lẽ xua đi hết mọi hình ảnh trong đầu, bảo Năng:

- Thế Năng đi ngủ đi, trong mơ cái gì cũng có, đảm bảo Năng ngủ không chỉ được ăn một bàn toàn ốc, còn được thêm hẳn một mâm cầy tơ bảy món Năng thích nhất luôn.

Năng cười khằng khặc, vỗ lưng Sáo bôm bốp.

Sáo than phiền:

- Đừng vỗ nữa, vỗ gãy lưng thì không vác nổi cái cục này đâu.

Anh trỏ vào cái ba lô màu xanh đã phình lên của mình, vừa nhìn đã biết cái ba lô này khá nặng.

Năng chưa ngừng cười hẳn, nhưng không còn vỗ mạnh tay lên lưng của Sáo nữa.

Sáo đeo ba lô lên, xếp thành hàng cùng các đồng đội rời đi.

Mọi người vừa đi vừa nói, thi thoảng chọc ghẹo lẫn nhau, dường như tiếng cười chưa từng dứt.

Một tay cầm gậy chống lên mặt đất, tay kia vác súng trên vai, miệng ngân nga vài câu hát.

Mà đột nhiên, ở xa xa, không rõ là hướng nào, tiếng bom đạn văng vẳng lại đây.

Khói bốc lên, đứng ở chỗ này đã thấy loáng thoáng mấy cột khói xám mờ rồi.

Chẳng qua trời kia lớn thế, khói lửa chiến tranh không tài nào che đậy được.

Vài ba chiếc máy bay ù ù bay qua bay lại, chốc chốc lại bổ nhào, trải một lớp thảm bom xuống đất.

Bom nổ, mặt đất nổi lên tầng tầng khói bụi, tiếng nổ ầm ầm chưa dứt.

Một đợt bom vừa qua không lâu, bọn chúng liền bắn đại bác.

Đạn đại bác nã vào cánh rừng thăm thẳm, đánh bật thân cây gỗ già cỗi.

Ở nơi cách một khoảng như này, bọn họ vẫn nghe phong thanh được tiếng vụn gỗ vỡ nát, âm thanh lửa bén trên gỗ, cháy khét, như thể góc rừng đó đang khóc trong nỗi đau khó tả.

Sáo thoáng dừng bước chân, ngẩng đầu lên ngó quanh.

Từ góc độ của Sáo, anh chẳng rõ chúng nó tính bắn đến chỗ nào.

Chắc chúng nó bắn nhầm, anh tự nhủ, chứ ở đó làm gì có quái gì.

- Chúng nó bắn vui hay gì mà lắm thế nhỉ.

- Anh Lơn lầu bầu.

Mặt anh nhăn nhó, nom khó chịu lắm, chắc lại bị đau bụng rồi.

Thiều vẫn bám theo bọn họ, mặc dù các đồng đội đã giục cậu mau quay về vị trí.

Thiều ngang ngược như thế đấy, nếu không phải đồng đội bên đó cũng biết rõ tính cậu thì họ đã đột kích xách cậu về từ lâu rồi.

Thiều đi ngay sau anh Lơn, nghịch cây gậy trong tay, hết chọc chọc lại quệt quệt xuống đất, rồi xoay xoay như đang múa mấy chiêu võ mèo.

Nghe được lời anh Lơn, cậu cười cười, nói vu vơ:

- Bắn vui gì, bom của chúng nó khác gì nước trong bình đâu, đầy quá thì đổ bớt thôi.

Năng nghe vậy, cứ có cảm giác không thoải mái.

Anh ủn ủn vai Thiều, chê cậu đi chậm, miệng mắng nhỏ:

- Cậu út à, trò đùa này không vui đâu đấy.

Lần sau đừng nói những lời như này nữa, người ta lại tưởng cậu út là Ngụy thì dở rồi.

Nói vậy có hơi quá.

Câu nói vu vơ của Thiều nhiều lắm thì bị coi là làm giảm sĩ khí quân ta.

Nếu thủ trưởng nào nghe thấy, tất nhiên sẽ phạt Thiều, nhưng sẽ không khai trừ cậu đâu.

Ai cũng hiểu Thiều đang đá xéo quân địch, chứ thằng ngố nào bảo Thiều là Ngụy thì có khướt mới tin vào.

Trong từ điển của nhóm lính này, "Thiều" và "Ngụy" là hai từ trái nghĩa nhau.

Thiều bĩu môi, cậu chàng ngậm miệng lại, không đáp lời Năng.

Có lẽ cậu chàng cũng biết bản thân nhỡ miệng, chỉ cúi gằm mặt, chăm chăm cầm gậy nghịch đất.

Sáo đang đi đằng sau, nghe thấy, cũng nhìn thấy hết mọi chuyện vừa diễn ra.

Anh lắc đầu, lặng lẽ cất bước đi tiếp, vừa đi vừa suy nghĩ vẩn vơ.

Chừng vài phút sau, đột nhiên có chiếc máy bay rú trên đỉnh đầu bọn họ.

Cả đám hoảng hồn, từng sợi thần kinh trong cơ thể căng chặt, trái tim đập loạn không theo nhịp.

Họ gắng sức bình ổn hơi thở, người chầm chậm cúi thấp, rụt xuống dưới những tán cây xum xuê, để lớp ngụy trang trên lưng và tàng cây rừng lấp lấy thân mình.

Hết một phút, lại hai phút, máy bay vẫn rù rù trên đó.

Nhóm người nhìn nhau, căng thẳng.

Lại thêm chừng ba phút nữa, hoặc là năm, sáu phút, chiếc máy bay kia mới rầm rì bay xa dần, bỏ lại khoảng trời lần nữa tĩnh lặng.

May mắn làm sao, máy bay của địch cũng chỉ bay ngang qua, hẳn là làm nhiệm vụ trinh sát thôi.

Nhưng nhóm lính vẫn chưa định đi tiếp, cẩn thận nghe ngóng thêm một lúc nữa.

Quả nhiên, tiếng nổ rền vang như sấm trên đất lại lần nữa phát ra từ một góc rừng khác, không biết lại nhắm vào cái gì.

Sáo tặc lưỡi, nhỏ giọng lầm bầm, tựa như đã quen thuộc, lại như đã mỏi mệt:

- Chúng nó lại phá.

***

Đến tối muộn, đoàn quân dừng lại nghỉ ngơi, anh nuôi dựng bếp nấu cơm.

Vận động gần nguyên ngày, ai nấy đều mệt bở hơi tai.

Mệt là thế, lại không có anh nào than thở.

Có hỏi thì các anh còn đùa rằng mệt quá, than thôi cũng mệt thêm nhiều lắm, thế là không than nữa.

Thật ra, cuộc sống như này họ đã quen từ lâu rồi, muốn than cũng đã than xong hết.

Bát cơm trắng nóng hôi hổi cùng với một đĩa rau, một ít thịt săn được trong rừng, đơn giản nhưng lấp được cái bụng đói.

Khi đói thì cái gì ăn cũng ngon hết, anh nào anh nấy đều lùa cơm mà ăn, miệng phồng lên, hạt cơm dính ở bên mép.

Anh Lơn ăn còn quá đáng hơn, mọi người ai cũng dùng đũa ăn, chỉ có anh ụp thẳng mặt vào bát cơm, ăn ngấu nghiến.

Những tưởng anh ăn như thế sẽ lãng phí lắm, ai dè anh ăn được hết, bát anh sạch bong chỉ trong chốc lát, sạch đến nỗi khỏi cần rửa.

Các đồng đội đồng loạt lắc đầu, thầm nhủ, đúng là Lơn "thiếu nặng" mà.

Sau bữa cơm, mọi người được nghỉ ngơi.

Chưa đến ngày diễn ra chiến dịch, các anh đều khá thoải mái, còn rất lạc quan và tự tin, thậm chí là chủ quan.

Hình như sự chủ quan đó khiến các cán bộ chỉ huy không hài lòng, họ luôn làm công tác tư tưởng, khuyên các chiến sĩ đừng vì chủ quan mà lơ là cảnh giác.

Các anh chiến sĩ hiểu, cơ mà vẫn không che giấu được sự hào hứng, phấn khởi trước trận đánh.

Đêm nay, Sáo là một trong những người gác đêm.

Đứng gác bên cạnh anh là chàng Sĩ, một người anh lớn hơn Sáo hai tuổi, cũng là chàng "tài tử" có tiếng trong đội.

Sĩ lớn lên đẹp trai lai láng, dù cho sở hữu một mái tóc ngắn cụt lủn vì đi lính thì chàng vẫn rất đẹp, và chỉ riêng cái vẻ ngoài của chàng thôi cũng đã hớp hồn bao nhiêu cô thiếu nữ trẻ.

Bấy lâu nay, có bao cô ngỏ ý, chàng đều từ chối cả.

Hỏi tại sao thì chàng đáp:

- Nhà tôi sẽ không vui.

Biết Sĩ có vợ, không ít cô gái tiếc hùi hụi, rồi cũng đành từ bỏ.

Chỉ có các anh em trong đơn vị cho rằng Sĩ chưa lấy vợ, cũng không rõ chàng đã từng có nổi một mảnh tình vắt vai nào chưa bởi chưa từng thấy Sĩ khoe khoang hay đọc thư trước mặt họ.

Các anh em rất thắc mắc, chẳng lẽ Sĩ gặp phải vấn đề gì đó không dễ nói ra.

Chàng Sĩ nghe xong chỉ cười, nói:

- Trong lòng có người, người đó là nhà.

Mỗi lần hỏi, chàng đều đáp như thế.

Riết rồi không phân biệt được chàng đang nhớ nhà, hay là đang thật lòng thương một cô nào đó.

Sáo là người hướng nội nửa vời, tuy rằng có tò mò, song cũng không đến nỗi há miệng ra liền hỏi thẳng thừng.

Anh cùng Sĩ đứng cạnh nhau, mắt nhìn vào màu đen thăm thẳm của núi rừng bạt ngàn, hứng cơn gió lạnh buổi đêm.

Màn sương đêm lởn vởn lượn quanh, tựa như khu rừng này đang ăn diện, khoác lên một tấm lụa mỏng màu trắng.

Không gian trong rừng yên ắng càng làm nổi bật tiếng máy bay địch ù ù trên đỉnh đầu.

Dạo này chúng nó ít dùng đến máy bay rồi, nhưng không có nghĩa là không còn, chẳng qua không còn oanh tạc nhiều như trước nữa.

Đã bao lần nghe tiếng máy bay của địch, Sáo vẫn không cách nào giấu được sự căng thẳng của mình.

Người anh cứng đờ, không dám nhúc nhích, sợ bị địch phát hiện mà bổ nhào xuống, cắt cho mấy quả bom.

Sĩ thấy dáng đứng buồn cười nọ, bèn tìm một chủ đề để tán gẫu:

- Nếu chiến dịch lần này thành công, chắc chắn sớm thôi, mình sẽ không còn nhìn hay nghe thấy những chiếc máy bay đó nữa đâu nhỉ.

Được gợi chuyện, Sáo cũng đỡ căng thẳng phần nào.

Anh gật gật đầu, trong lòng tràn đầy niềm tin chiến thắng, nói:

- Chứ sao nữa, đã cố gắng đến vậy rồi mà!

Hai người trò chuyện câu được câu chăng, một lát sau lại im lặng.

Sáo đứng đến mỏi chân, liền ngồi phịch xuống đất, khoanh chân lại, một tay gác lên, chán nản chống cằm.

Chốc sau, anh mò mấy cành cây cùng lá rụng ở xung quanh mình, định bụng dựng lên một ngôi nhà nhỏ.

Đây là sở thích của Sáo, khi không có gì làm thì nhặt nhạnh mấy thứ linh tinh, xây dựng một cái gì đó.

Có lần anh dựng được một ngôi trường lớn, làm đồng đội trố mắt nhìn, khen không dứt miệng.

Tuy nhiên, lúc này đang là đêm khuya, ánh trăng khuất sau đám mây dày, gần như không thấy gì cả.

Chẳng qua anh đã làm quen được với bóng tối một lúc lâu, lại dựa vào chút ánh sáng nhạt nhòa của những vì sao nên giờ cũng không đến nỗi không nhìn được gì.

Sĩ bất chấp việc có thể bị coi là lơ là nhiệm vụ mà ngồi xuống theo, lom lom nhìn anh dựng nhà.

Chàng đùa:

- Lại nhớ cái cửa hả?

Sáo từng mấy lần bâng quơ kể lại cái cửa nhà mình, cái cửa quanh năm suốt tháng kêu kẽo kẹt mà anh mãi vẫn chưa chịu sửa.

Sĩ thấy Sáo khá thích cái cửa đó, thỉnh thoảng lại lôi ra trêu.

Sáo đáp:

- Không phải, tôi nhớ cái bếp ở nhà thôi.

Sĩ cười cười, nói tiếp:

- Ồ?

Chú đói rồi à?

Mấy nay ở với Lơn "thiếu nặng" nhiều quá nên học nó cách làm ma đói đấy hả.

Sáo cắm mấy cái que xuống đất, phủi bụi trên tay rồi mới trả lời:

- Có làm ma đói không thì tôi không biết, tôi chỉ biết cái Sẻ em tôi tự tìm được chồng, sắp cưới rồi, mà mẹ tôi thiếu hai đứa con dâu để nấu cỗ cùng.

Nói rồi, anh chuyển tầm nhìn sang Sĩ, nhớ đến tin đồn về việc chàng cũng chưa có người yêu, bèn nhân cơ hội nhỏ giọng hỏi:

- Tôi thế nào thì các anh biết đấy, còn anh, anh hay nói "trong lòng có người", thế có người thật không?

Sĩ sững sờ, bần thần một lúc thật lâu, hồi tưởng lại chuyện cũ đã qua.

Mãi sau, chàng khẽ cười, hướng về nơi quê nhà, dịu dàng nói:

- Có một người.

***

Nhà hát "hài" kịch Nhân Vật:

Sĩ "tài tử": Lơn thiếu nặng, nghĩa là Lơn cần thêm dấu nặng.

Cùng anh đánh vần nào mấy đứa.

Ơ nờ ơn, lờ ơn lơn, lơn nặng...

Năng "cột điện": Lợn!

Chú thích:

(1) Anh nuôi là cách gọi tôi tìm thấy trong sách "Hồi ức lính" của Vũ Công Chiến.

Trong một đại đội có một tổ anh nuôi.

Theo những gì tôi hiểu thì có lẽ anh nuôi chỉ những anh lính nuôi quân, đứng bếp nấu cơm.

Tác giả tám nhảm:

Sách "Hồi ức lính" hay lắm, dù tôi chưa đọc hết.

Sách có hơi dày và giá khá chát, nhưng đáng mua.

Cái chi tiết Lơn lấy lưỡi lê thó đồ ăn được tôi lấy ý tưởng từ câu chuyện của bố.

Bố tôi cũng từng đi bộ đội, chẳng qua không phải ở thời chống Mỹ.

Ông kể ngày xưa có đợt ông dùng lưỡi lê chọc miếng đậu phụ, mang đi ăn vụng.

Tôi thấy cũng khá thú vị và hài hước nên cho vào truyện.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 3: Hạ


Hương hoa thơm ngát khắp đồng, men theo chiều gió mơn man trong buổi chiều muộn, thoang thoảng nhẹ nhàng mà đắm say lòng người khách phương xa.

Nắng vàng chiều hạ khẽ khàng đáp lên từng nhành hoa, như một lớp phấn mỏng tô điểm làn da người thiếu nữ.

Đôi chim ríu rít chuyền cành, lanh lảnh hót vang khúc ca của buổi chiều tà.

Người trên đồng nhìn lên sắc trời, thầm nghĩ giờ cũng đã muộn rồi, liền chuẩn bị ra về.

Họ vừa đi bộ dọc trên đường, vừa phe phẩy chiếc nón lá trên tay, vừa trò chuyện với người cùng làng, không hề để ý trên đường còn có một cậu thiếu niên chừng mười sáu, mười bảy tuổi, mặc trên người một cái áo sơ mi cũ, cái quần kaki sờn màu và đôi dép nhựa to.

Cậu thiếu niên dắt theo một chiếc xe đạp cao non nửa người mình, trong giỏ xe có để hai quyển sách và cây bút, lốp xe xẹp lép, xích xe thì bị tuột, hiển nhiên là không đi được.

Cậu thiếu niên hoang mang, không biết nên sửa xe như thế nào.

Nhiều lần định gọi người dân hỗ trợ, rồi lại sợ họ không giúp được nên thôi.

Bất chợt, một cô thiếu nữ bước lại gần, cất giọng hỏi:

- Đằng ấy muốn mình giúp gì không?

Cậu thiếu niên quan sát thiếu nữ nọ, trong phút chốc ngây ngẩn cả người.

Thiếu nữ có một mái tóc đen nhánh, thắt thành hai bím dễ thương và năng động; đôi mắt em tròn xoe, đen láy, hồn nhiên và vui vẻ như một cô tiên nhỏ; đôi má em hồng hào, không biết là do đứng dưới nắng nhiều giờ, hay là do ánh vàng kia thơm nhẹ lên má em.

Thiếu nữ không thấy người đối diện trả lời, đành lặp lại câu hỏi thêm một lần nữa.

Lúc này, cậu thiếu niên mới hoàn hồn, ngượng ngùng đáp lại:

- Có, có chứ.

Nhưng cậu có biết sửa không?

Thiếu nữ trầm ngâm nhìn chiếc xe một lúc, dường như đang cân nhắc nên sửa như thế nào, rồi vỗ ngực, chắc nịch bảo:

- Cái này mình sửa được, cậu cứ yên tâm đi.

Giờ dắt xe đi theo mình.

Người thiếu nữ dẫn đường đi về phía trước, mặc dù thiếu niên không tin lắm, song cũng chỉ còn cách dắt xe theo sau.

Đi được một đoạn, thiếu niên không nhịn được tò mò, chạy đến bên cạnh thiếu nữ, hỏi:

- Cậu là con gái mà cũng biết sửa xe à?

Thiếu nữ cười, nụ cười của em như những đóa hoa mùa hạ dưới nắng kia, trong sáng đẹp đẽ, khiến thiếu niên cảm tưởng bản thân đã nhận ra được điều gì rồi lại như không.

Thiếu nữ nói:

- Mình cái gì cũng tệ, chỉ có mỗi sửa xe đạp là làm ra hồn thôi.

- Vậy ai dạy cậu sửa xe thế?

- Thiếu niên lại hỏi.

Thiếu nữ chỉ về một căn nhà cách nơi họ đang đứng một khoảng.

Đó là một ngôi nhà nhỏ lụp xụp, xung quanh vứt lung tung những thứ phụ kiện, từ xa đã trông rất bừa bộn.

- Đó là nhà mình.

Bố mình rất thích mấy cái xe cộ này nên tìm hiểu, học được chút cách sửa.

Mình học theo bố nên biết.

Thiếu niên ngạc nhiên, dắt xe đạp đến nhà của thiếu nữ.

Nhà thiếu nữ không có ai cả, theo như lời của em thì bố mẹ đi làm chưa về.

Nơi này là làng hoa, mẹ em cũng là một người trồng hoa.

Hàng ngày, bố con em sẽ bớt thời gian ra đồng hoa phụ mẹ.

Hôm nay, mẹ em bảo em về trước để nấu cơm cho cả nhà, bố mẹ em muốn ở trên đồng làm nốt việc.

Người thiếu nữ kể xong, đi quanh nhà lục tung đồ đạc để tìm đồ nghề, sau đó tập trung sửa xe.

Động tác của em còn hơi trúc trắc, hẳn là em chưa quá thuần thục trong việc này.

Lúc sau, em đứng dậy, thở phào một hơi, đưa cẳng tay lên lau mồ hôi lấm tấm trên trán.

Bàn tay cùng gương mặt của em đều lấm lem vết bẩn, vậy mà em không thèm để ý đến vết bẩn này, chỉ cười nói:

- Xong rồi đó, miễn phí nhé.

Thiếu niên ngồi một bên chờ nãy giờ, lúc này mới tiến lên xem thử, quả thực xe đã được sửa xong rồi.

Thiếu niên mừng rơn, liên tục nói lời cảm tạ.

Thiếu nữ ngại ngùng cười, xua xua tay, nói:

- Không có gì đâu.

Cũng muộn rồi, cậu về đi kẻo người nhà lo.

Cậu thiếu niên còn muốn nán lại thêm chút, nghe vậy thì từ bỏ ý định.

Chàng dắt xe ra ngoài, đến cổng liền dừng lại, quay đầu hỏi:

- Mình có thể biết tên cậu không?

Thiếu nữ ngơ ngác gật đầu:

- Mình tên là Lài.

Cậu thiếu niên mỉm cười, cũng giới thiệu cho thiếu nữ tên của mình:

- Còn mình là Sĩ, hân hạnh được làm quen với cậu.

Cái kiểu kết giao bạn bè phong cách sách giáo khoa này mặc dù cứng nhắc nhưng cũng không đến nỗi nào.

Lài cười khúc khích, vẫy tay với Sĩ:

- Ừ.

Thôi về đi, lần sau gặp lại.

- Lần sau gặp.

Sĩ lên xe, đạp xe rời khỏi.

Chàng nhìn mặt trời đỏ cam chói mắt nơi cuối trời, trái tim trong ngực đập rộn ràng, trong tâm trí còn vấn vương mãi những hình ảnh của người thiếu nữ tên Lài mới gặp.

***

Kể từ hôm ấy, mỗi khi có thời gian rảnh, Sĩ đều từ chối đi chơi cùng đám bạn đồng lứa, thay vào đó, chàng leo lên xe đạp đến làng hoa tìm Lài.

Có những lúc, chàng ngồi không, nhìn Lài nghịch những phụ kiện xe đạp.

Cũng có những lúc, Lài dẫn Sĩ ra đồng hoa của nhà em, chỉ cho chàng cách chăm sóc những bông hoa.

Rồi có khi, Sĩ đèo Lài trên chiếc xe đạp cà tàng, mang em đi đón những cơn gió trong lành dưới bầu trời quê hương.

Không biết bắt đầu từ khi nào, tình cảm mà Sĩ dành cho Lài đã không chỉ đơn thuần là tình bạn nữa.

Là một chàng thư sinh hay văn vở, Sĩ không cần mất quá nhiều thời gian để gọi tên thứ tình cảm này.

Có điều, chàng lại là kiểu người nhát cáy.

Bao nhiêu lần chàng nhìn Lài, nhìn nụ cười như hoa mùa hạ của em, nhìn ánh mắt chất chứa cả biển sao đêm kia là bấy nhiêu lần chàng nghe tiếng lòng mình nóng rực lên, trái tim mình nhộn nhạo như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

Những lần như vậy, chàng liên tục há miệng, muốn nói lại thôi, chỉ đành giấu diếm tất cả trong những con chữ tương tư mà chàng viết.

Từng tờ từng tờ được gấp gọn trong những phong thư, ngày qua ngày, chồng thư càng dày thêm.

Sĩ từng tự hào với học thức của mình lắm, mà giờ đây chàng lại sợ sệt, sợ rằng những con chữ ấy là chưa đủ, sợ rằng Lài sẽ không chấp nhận chàng.

Chàng trộm cầm tay Lài cùng bỏ chạy những khi hai đứa nghịch ngợm trêu chọc một con chó dữ của nhà ai đó.

Chạy được một đoạn xa, họ dừng lại nhìn nhau, nở nụ cười nghịch ngợm.

Lúc ấy, Sĩ sẽ khẽ vén tóc em mỗi khi mái tóc kia bị gió thổi tung.

Và chàng cũng hái những bông hoa đẹp nhất rồi cài lên tóc em, dù sau đó chàng liền bị Lài mắng.

Chàng từng không chịu được nỗi tương tư, hỏi Lài vào năm em mười tám tuổi, rằng liệu Lài có ý định lấy chồng chưa.

Lài suy nghĩ một lát, rồi em lắc đầu.

Em cho rằng bố mẹ chỉ còn lại mình em là con, bản thân em chưa hoàn thành nghĩa vụ làm con của mình, em định đợi thêm vài năm nữa.

Em lo khi em về nhà chồng rồi, không thể thường xuyên về thăm bố mẹ, mà mẹ em hay bị bệnh nên em lo cho mẹ rất nhiều.

Sĩ cũng hiểu, đinh ninh phải tiếp tục giấu đi tình cảm của mình, đợi đến khi Lài đã sẵn sàng.

Chàng vẫn đều đặn đến tìm Lài, cùng em đến đồng hoa, cùng em dạo chơi nơi làng nhỏ.

Thế nhưng, đến một ngày nọ, chàng phát hiện ra Lài được một chàng trai cùng làng ngỏ lời yêu.

Chàng trốn sau thân cây to, dỏng tai lắng nghe từng câu, bàn tay nắm chặt, vò nhăn chiếc áo vốn thẳng thớm.

Đến khi nghe được Lài đã từ chối chàng trai nọ, chàng mới thả lỏng tay.

Sau hôm đấy, Sĩ cảm thấy nếu còn chưa làm gì, chắc chắn chồng của Lài sẽ là người khác.

Chàng ở nhà, cắn bút suy nghĩ nên bày tỏ như thế nào, nghĩ đến mức mất ngủ mấy hôm.

Lài thấy chàng bơ phờ, mệt mỏi, liền quan tâm hỏi thăm.

Sĩ mím môi không trả lời, mất một lúc lâu cũng chỉ rút ra một tờ giấy nhăn nhúm từ trong túi quần, nhìn những nét chữ viết ngoáy xiêu vẹo trong đó, căng thẳng đọc lên:

"Wenn ich bei meiner Liebsten bin

Dann geht das Herz nur auf

Dann dünk ich mich reich in meinem Sinn

Und frag: ob die Welt zu Kauf?"(1)

(Tạm dịch:

Khi tôi ở bên người tôi yêu

Con tim tôi rộn ràng

Tôi tưởng rằng mình giàu có

Tự hỏi: liệu mua được thế gian chăng?)

Trước ánh mắt mờ mịt khó hiểu của Lài, Sĩ đứng thẳng lưng, trịnh trọng đem tờ giấy để vào tay em.

Chàng hắng giọng, dịch lại đoạn thơ một lần rồi cố gắng nói dõng dạc:

- Anh không biết nhiều về tiếng Đức, anh chỉ biết rằng anh yêu em.

- Chàng rụt rè cầm tay Lài, không che giấu nổi sự thấp thỏm mà đặt câu hỏi được giấu ở trong lòng đã lâu - Liệu em có thể biến anh thành kẻ giàu sang trong tình yêu không?

Lài im lặng, sự im lặng của em khiến Sĩ càng thêm lo lắng và sợ hãi.

Chàng tự nhủ, vậy coi như xong hết rồi, đi luôn cả tình yêu lẫn tình bạn.

Đương khi chàng định bỏ tay em ra để nói lời xin lỗi thì thình lình, Lài trở tay nắm chặt tay chàng.

Em nhẹ nhàng đưa tay chàng đặt lên má em, cười tủm tỉm:

- Có chứ, có chứ!

Em chờ anh mãi, cứ tưởng sắp nghèo đến nơi rồi.

Sĩ ngạc nhiên, lắp bắp:

- Không, không phải em chưa định lấy, lấy chồng sao?

Lài bĩu môi, tinh nghịch trả lời:

- Người ta chưa muốn lấy chồng, điều đó không đồng nghĩa với việc người ta không muốn có người yêu nhé.

Sĩ vui mừng, cảm giác hạnh phúc lâng lâng khó tả, như thể bản thân chàng vừa được đón lên trời chơi.

Chàng ôm chầm Lài một lúc lâu thật lâu, sau đó cùng em ngồi dưới một gốc cây già, chuyện trò tâm tình của những người trẻ mới yêu.

Bấy giờ, Sĩ mới biết thì ra Lài đã để ý chàng từ đầu.

Buổi chiều ngày hôm ấy, khi thấy chàng đứng ngơ người cạnh cái xe đạp, hoang mang nhìn trước ngó sau, trên chân lại đi đôi dép to tổ chảng lệch tông với bộ đồ trên người, Lài đã nghĩ, cậu thiếu niên đó thật đáng yêu.

Nhớ đến đôi dép hôm đó, Sĩ ngượng chín mặt, gãi đầu giải thích:

- Lúc ấy, buổi sáng vội đi học quá, xỏ nhầm dép của bố.

Lài gật đầu tỏ vẻ đã hiểu.

Hai người ngồi sát cạnh nhau, tiếp tục trò chuyện cho tới khi ánh dương dần tắt mới quyến luyến ra về.

Niềm hạnh phúc ở cùng người yêu chỉ kéo dài được hơn một năm.

Năm tiếp theo, như bao thanh niên trai tráng khác, Sĩ lên đường chiến đấu theo tiếng gọi của Tổ quốc, buộc phải bỏ lại mối tình thanh xuân của mình tại nơi quê nhà.

Dù luyến tiếc, chàng vẫn tươi cười ở bên cạnh Lài những ngày còn lại, cố hết sức lưu giữ thêm một ít kỷ niệm mà chẳng hề hay biết, Lài đang chuẩn bị cho chàng một điều bất ngờ.

Hơn một tháng trước ngày Sĩ đi, gia đình chàng đột ngột trang trí lại nhà cửa, kiểu trang trí như ai đó sắp làm đám cưới.

Chàng có hỏi thì không nhận được câu trả lời chính xác.

Hôm sau, mẹ chàng gọi chàng dậy sớm, để chàng ăn mặc chỉn chu giống chú rể.

Sĩ bắt đầu ngờ ngợ, muốn từ chối, lại bị mẹ bắt buộc, chàng đành phải hỏi:

- Mẹ sợ con không về nên kiếm đại cho con một cô vợ sao?

Mẹ chàng đánh chàng một cái, quở trách:

- Gì mà kiếm đại, con dâu mẹ chẳng phải là người yêu anh à.

Sĩ giật mình, mãi sau mới run rẩy hỏi lại:

- Lài, Lài chịu gả hở mẹ?

Mẹ chàng thở dài, nói:

- Con bé tiếc anh.

Lài biết người yêu đi lính, trong lòng rất lo lắng.

Em hiểu tuổi thanh xuân của con gái không có nhiều, nghĩ rằng không thể cứ luôn đợi chàng với thân phận người yêu được.

Tuy rằng một mình dùng thân đàn bà con gái gồng gánh cả hai gia đình rất vất vả, nhưng em tình nguyện làm như vậy.

Em mong muốn được làm hậu phương của Sĩ để chàng có thể yên tâm xa nhà.

Sĩ cảm động, dù lễ cưới làm rất gấp gáp nhưng vẫn cố gắng cẩn thận hết mức có thể.

Suốt đám cưới, chàng cười không khép miệng được, để rồi đến tối bị vợ trêu.

Ngày chàng đi, Lài cùng mẹ tiễn chàng.

Lài tự mình chỉnh trang lại trang phục của chàng, dặn dò:

- Nhớ viết thư đều đều, giữ mối quan hệ tốt với đồng đội, phải đảm bảo an toàn cho bản thân và cấm được léng phéng với cô nào đấy.

Sĩ cười hì hì, nói:

- Làm gì có cô nào bằng được vợ anh.

Lài lườm nguýt chàng một cái, cũng cười.

Em đứng đợi đến khi chàng đi xa mới lạc lõng trở lại nhà.

Sĩ nhìn khung cảnh dần qua, đã không còn thấy mái nhà cùng con người thân thuộc nữa.

Chàng buồn buồn, lòng hụt hẫng, thầm mong rằng thời gian sớm trôi, chàng cũng nhanh về được.

Người đồng chí bên cạnh an ủi, lấy đâu ra một cây đàn, cùng ngân vang bài ca quê hương.

***

- Vậy là anh có vợ thật?

Sáo sửng sốt, suýt chút nữa thì to tiếng thốt lên.

May thay, anh kịp thời che miệng mình lại.

Anh ngó nghiêng xung quanh, thấp giọng oán trách:

- Sao không thấy anh kể gì cả.

Sĩ nhếch miệng cười, điệu cười tự mãn vô cùng.

Chàng nói:

- Tôi nói suốt còn gì, chẳng qua các chú không tin tôi thôi.

Sáo lại không cho là phải:

- Tại anh không khoe hẳn ra trước chứ!

Anh nhìn anh Giàn xem, ông ý lúc nào cũng khoe vợ, cả đơn vị ai cũng biết xấu như ông ý cũng có vợ rồi.

Trong đơn vị, Giàn được coi là một người anh có ngoại hình xấu thậm tệ.

Da anh đen nhẻm, mắt lồi, răng hô, lưng hơi gù, người gầy như que tăm, nhìn qua trông không khác mấy một Thị Nở phiên bản nam.

Mới đầu, ai cũng nghĩ người như anh Giàn chắc chắn không có ai thèm yêu.

Cho tới khi anh Giàn giơ tấm ảnh lên khoe, cả đám mới nhận ra anh đã có vợ, cũng có hai người con rồi, đủ nếp đủ tẻ cả.

Sĩ vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, còn nói:

- Vợ của tôi, tôi nhìn là được, mắc mớ gì các chú cũng muốn nhìn hình vợ tôi.

Nhỡ đâu các chú nhìn rồi muốn cướp vợ tôi thì tôi sống sao.

Sáo liếc anh đầy khinh bỉ, không thèm quan tâm nữa.

Sĩ trông đạo mạo tử tế như phần tử trí thức thế mà lại là một tên đàn ông lúc nào cũng có máu ghen tuông trong người.

Sáo chép miệng, lẩm bẩm:

- Thật là mất mặt.

Sĩ ngồi bên cạnh không nghe rõ, tưởng là Sáo định nói với mình cái gì, bèn hỏi ngược lại:

- Gì cơ?

Sáo lắc đầu, bào không có.

Trong bóng đêm mịt mùng, nương theo chút ánh sáng nhỏ lẻ, anh tiếp tục vùi đầu nghịch ngợm những cành cây nhỏ trên tay.

Được một lúc, đột nhiên gần đó xuất hiện âm thanh sột soạt, rì rào của cành lá rung động, va chạm vào nhau, xen vào đó là tiếng đất đá lún xuống.

Sáo ngẩng đầu, chau mày nhìn qua phía Sĩ, phát hiện Sĩ cũng đang cảnh giác.

Chàng đứng lên, cảm nhận một chút, quay sang nói nhỏ với Sáo:

- Không khí vẫn bình thường, không thấy gió.

Sáo cũng nói:

- Giờ đang là tháng ba, không phải mùa mưa, theo lý thì sẽ không xuất hiện sạt lở.

Hai người nghĩ đến một trường hợp khác ngoài hiện tượng tự nhiên, lập tức căng cứng cả người.

Sáo buông mấy thứ trên tay xuống, cầm chắc cây súng, nhanh chóng cùng Sĩ phân chia ra, chạy đến núp vào sau thân cây to, tư thế sẵn sàng, âm thầm quan sát tình huống.

Từ phía cành lá xum xuê, một bóng người dong dỏng cao xuất hiện đi tới.

Trong không gian tối tăm này, cả Sáo và Sĩ đều không thể nhìn rõ đối phương là ai.

Người nọ đi loạng choà loạng choạng, chân trước đá vào chân sau, ngã sấp mặt.

Cảnh tượng này khiến Sáo cảm thấy hơi sai sai, nhưng vẫn hắng giọng, hô lớn kêu người kia dừng lại, sau đó đọc mật mã.

Đối phương vội vàng đáp lại, là mật mã đúng, chắc hẳn là một cán bộ chiến sĩ bên mình chứ không phải là người dân hay tên địch đi lạc.

Sáo hơi buông lỏng, hỏi:

- Đồng chí là ai, thuộc đơn vị nào, nhiệm vụ là gì?

Người đó đáp:

- Tôi tên Miễn, là một phóng viên chiến trường, đến đây để tác nghiệp.

Sáo liếc qua vị trí Sĩ đang đứng.

Sĩ ra hiệu đã hiểu, rời khỏi thân cây to, tiến lên kiểm tra giấy tờ của người phóng viên tên Miễn.

Miễn thật thà, vụng về lôi ra chứng minh thư cùng vài giấy tờ khác, không cẩn thận làm rơi mất bao nhiêu đồ đạc lỉnh kỉnh trên người.

Sáo cũng đi lên, giúp Miễn nhặt đồ.

Miễn rối rít nói cảm ơn, kiểm tra kỹ lưỡng vài lần rồi suýt xoa âu yếm chiếc máy ảnh vừa rơi xuống.

- Được rồi, xác thực là phóng viên.

Sĩ trả lại giấy tờ cho Miễn, chàng ta lễ phép nhận lại bằng cả hai tay.

Sáo lờ mờ nhìn ra tuổi đời của Miễn còn rất trẻ, chắc không hơn cậu út Thiều bao nhiêu.

Miễn cất gọn giấy tờ, có chút nhát gan hỏi:

- Chỗ này có phải là vị trí hiện tại của F308 (2) không?

Sĩ liếc qua Sáo, trả lời:

- Đúng vậy, chúng tôi đều là chiến sĩ của Sư 308.

Miễn gật gật đầu, lí nhí nói:

- Vậy thì đúng rồi, vậy thì đúng rồi.

Sáo móc chiếc đồng hồ trong túi quần ra, đó là một chiếc đồng hồ đứt dây đeo, mặt đồng hồ chằng chịt những vết nứt vỡ, ấy vậy mà kim đồng hồ vẫn chạy chầm chậm, không biết nó còn có thể hấp hối được bao lâu nữa.

Anh nương theo chút ánh sáng nhạt nhòa nhìn giờ, nói:

- Vừa lúc hết ca gác, để chúng tôi dẫn Miễn vào.

Miễn không đáp lại, lặng lẽ theo sau.

Sĩ nhìn dáng vẻ nhút nhát của chàng ta, thở dài.

Ba người đang đi trên đường thì gặp được đồng đội đến gác thay, hai bên giới thiệu sơ qua rồi Sáo tiếp tục dẫn đường cho Miễn.

- Kể cũng lạ, hôm nay chúng tôi mới đến được chỗ này, mà Miễn đã tới được ngay trong đêm rồi.

Sáo hỏi ra băn khoăn của mình, nghe Miễn trả lời:

- Cũng không có gì, tôi chỉ thông tin nhạy bén chút thôi.

- Nhạy này hơi nhanh, tôi còn nghĩ Miễn đuổi theo chúng tôi ấy chứ.

Sĩ cười đùa.

Ai ngờ Miễn cúi gằm mặt, lại lí nha lí nhí:

- Thì, thì đúng là tôi đuổi theo mọi người thật.

Sáo chẹp miệng, Sĩ thì trầm mặc, hiển nhiên hai người này không còn lời gì để nói, hoặc muốn nói nhưng không biết nói gì.

***

Chú thích:

(1) Trích từ bài thơ "Wenn ich bei meiner Liebsten bin" (khi tôi ở bên người tôi yêu) của Heinrich Heine (1797 - 1856).

Bản tạm dịch do tôi, Từ Đông, dịch.

(2) F308: Sư đoàn 308 hay Đại đoàn Quân Tiên phong trực thuộc Quân đoàn 1, là Sư đoàn bộ binh chủ lực được thành lập đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1949 tại thị trấn Đồn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Wikipedia).

F là gọi tắt của "Sư đoàn".

Nhà hát "hài" kịch Nhân Vật:

Giàn "răng chuột": Lan tỏa niềm tin "người xấu xí vẫn có người yêu" tới mọi người, mọi nhà :3

Sĩ "tài tử": Lan tỏa niềm tin "trai đẹp đều đã có người yêu" tới mọi người, mọi nhà.

Giàn "răng chuột": 🙂

Tác giả tám nhảm: Nửa sau của chương được viết từ nguồn cảm hứng và một tí hiểu biết lúc đi học quân sự của tác giả.

Có mấy hôm tôi phải đi gác đêm, chừng một tiếng thôi, mà lúc nào cũng là rạng sáng chủ nhật lúc 2 hoặc 3 giờ, có hôm 1 giờ.

May là chủ nhật được ngủ nhiều hơn ngày thường chứ không chắc tôi thài quá.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 4: Hạ


Trời khuya vắng lặng.

Tấm vải nhung đen trên thiên không được điểm xuyết vài đốm sao nhỏ, lóng la lóng lánh tỏa sáng.

Trong bụi cỏ gần nhà phát ra tiếng côn trùng kêu, giữa không gian yên ắng này lại thanh bình đến lạ.

Đèn dầu được đặt bên cửa sổ, yếu ớt chiếu sáng một góc phòng.

Gần chiếc đèn dầu là một chồng sách vở bừa bộn, sắp xếp lung tung, chật kín hết chiếc bàn.

Mà chủ nhân của chúng, cậu nhóc Sáo nhỏ tuổi, đang nằm bò lên bàn, ngủ chảy nước dãi.

Bỗng, một bàn chân đạp tung cánh cửa, đánh thức cậu nhóc Sáo còn đang say giấc nồng.

Nhóc Sáo ngơ ngác nhìn lên, thoáng nhận ra người tới là ai.

Nhóc ta sợ nhảy dựng, cuống quýt ngồi thẳng, cầm bút lên định viết bài, lại phát hiện ra giấy vở đã ướt nhẹp.

Cậu nhóc lúng túng dùng áo lau lau, càng lau càng làm giấy vở rách ra.

Người ngoài cửa nhìn không nổi nữa, chống nạnh mắng:

- Tao đến lạy mày luôn đấy Sáo ạ!

Mày ngủ từ khuya tới sáng, từ trưa đến cuối chiều, từ tối đến bây giờ mà còn chưa đủ hả!

Nhóc Sáo túm chặt góc áo mình, bĩu môi làu bàu:

- Tại học bài buồn ngủ mà...

Người kia vẫn mắng:

- Mày vừa cãi tao đấy à?

Nhóc Sáo co rúm người, cúi gằm mặt nhìn chăm chăm vào trang giấy ướt.

Tay nhóc căng thẳng vò vò áo, mãi sau mới chịu giải thích đàng hoàng:

- Em đâu có cãi anh đâu.

Bài khó quá, em nghĩ không ra, càng nghĩ càng mệt, thế là ngủ luôn.

Người kia hòa hoãn lại, cố gắng dịu giọng:

- Bài nào?

Nhóc Sáo chỉ cái đề bài cuối cùng.

Người kia đi tới, đọc qua đề bài vài lượt, chăm chú giảng bài cho nhóc Sáo.

Nhóc ta còn hơi mơ màng, nghe chỗ thủng chỗ không, đành phải nhờ anh trai giảng lại thêm một lượt.

Anh trai nhóc giảng rất kiên nhẫn, giảng đến khi Sáo đã hiểu hết rồi mới thôi.

Anh nhóc còn hỏi:

- Có chỗ nào không hiểu nữa không?

Nhóc Sáo lắc lắc đầu, nghiêm chỉnh cầm bút lên giải.

Anh của nhóc lo rằng nhóc sẽ lại nằm bò ra ngủ, liền đứng bên cạnh canh nhóc làm xong bài tập mới thôi.

Nhóc Sáo viết ra đáp án ở cuối bài giải, quay sang nhìn anh trai, mong được anh khen ngợi.

Anh của Sáo xoa xoa cái đầu tóc rối của nhóc, nói:

- Giờ đi ôm cái giường yêu dấu của mày được rồi đấy.

Nhóc Sáo cười hì hì, gấp gọn lại sách vở.

Xong xuôi, cậu nhóc chuẩn bị tắt đèn lên giường, chợt nghĩ đến cái gì mà dừng lại.

Cậu nhóc nhìn gương mặt giống hệt mình nhưng trưởng thành hơn trước mặt, nghiêm túc hỏi:

- Bao giờ em lớn được như anh Én đây?

Anh Én của nhóc là một người rất giỏi, học tập giỏi, thể lực tốt, nhận được không ít giải thưởng, chỉ phải mỗi cái tội là quá mức nghiêm khắc, nhất là đối với thằng em kém sáu tuổi thì càng nghiêm khắc đến đáng sợ.

Sáo sợ anh, cũng rất ngưỡng mộ anh.

Không ít lần, Sáo coi anh Én là hình mẫu mà bản thân theo đuổi.

Dần dà, cậu nhóc không chỉ mong muốn trở thành một người học trò ưu tú, mà còn muốn được trải nghiệm cảm giác nghiêm mặt bắt nạt người khác, thành ra mới có tí tuổi đầu đã nhận được danh hiệu "ông tướng con".

Én suy ngẫm một lát, trả lời:

- Chừng nào cái Sẻ lớn bằng mày thì mày sẽ lớn được như anh.

Bố mẹ Sáo khéo đẻ, anh Én lớn hơn Sáo sáu tuổi, cái Sẻ nhỏ hơn Sáo sáu tuổi, nên đúng là khi Sẻ bằng tuổi Sáo, Sáo sẽ lớn bằng anh Én bây giờ.

Nhưng đó là khi tính về độ tuổi mà!

Én cười cười ngắm gương mặt nhỏ nhắn nhăn nhó của cậu nhóc Sáo, vươn tay lên, đẩy nhẹ vai nhóc về phía trước, dịu dàng nói:

- Đi ngủ thôi.

***

Rất lâu về trước, bố đã đi lính rồi.

Sáo chưa thấy mặt bố được mấy lần, ngay cả cái Sẻ còn chưa biết mặt bố như thế nào.

Từ ngày bé, mẹ thường xuyên phải đi làm lụng nuôi ba anh em.

Anh Én ở nhà trông em nhỏ, vừa tập làm anh lớn, lại còn phải tập làm cha làm mẹ.

Bởi vì cậy vào việc ở phía trước mình có một người anh trai che chở nên từ nhỏ nên Sáo sống rất thoải mái, đến nỗi mỗi ngày với cậu nhóc đều là những ngày tháng đẹp thật là đẹp.

Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, khi người ta lớn sẽ phải rời mái ấm gia đình.

Năm Sáo mười bốn tuổi, anh Én nhập ngũ.

Khi đó, Én đã hai mươi rồi, lòng ôm theo bao hoài bão cùng hăng hái mà theo đoàn quân đi đánh giặc.

Ban đầu, Én thường hay gửi thư về nhà, cách mấy tháng lại có một lá, như thể anh chỉ ngồi viết thư thôi vậy.

Thư anh viết đều là văn mô tả hoàn cảnh sống của anh, cũng kể ra một vài cái tên lạ lẫm, chắc hẳn là người đồng đội mới quen.

Có một lần, anh viết ra tên của một người con gái, làm cả nhà mừng rỡ vì tìm được nàng dâu cả rồi.

Càng về sau, thư càng ít dần, lời trong thư cũng càng thưa thớt, dòng chữ càng khó đọc.

Sáo biết hoàn cảnh sống giữa chiến tranh rất gian khổ, song lại không nghĩ khổ đến mức viết một bức thư hoàn chỉnh cũng không nổi.

Anh Én đi lính vài năm liền không về, đến khi Sáo nhập ngũ vẫn chưa được gặp lại anh.

Lúc ấy, Sáo vẫn chưa biết ngày tiễn anh Én đi là lần cuối cùng được nhìn thấy anh còn sống.

Sáo đi lính năm mười chín tuổi.

Dù đáy lòng còn hiện hữu nỗi sợ không tên, Sáo vẫn quyết tâm dứt áo ra đi, đuổi theo bước chân của bố và anh, nuôi dưỡng hi vọng về độc lập và hạnh phúc.

Đời lính vui mà khổ quá.

Sáo sống, chiến đấu và tìm mãi, đuổi theo mãi mà chưa tìm thấy bố cùng anh Én đâu.

Cho đến một ngày kia, đơn vị của Sáo chạy đến một trận địa.

Nơi ấy đã tạm ngưng pháo đạn, sắc trời đen nghịt, các chiến sĩ quân ta đang cùng khuân trên vai những vật dài dài, nhìn từ xa trông như những viên đạn lớn.

Có tay lính trẻ lớn gan hỏi, người chỉ huy nghe xong, thở dài bảo với bọn họ:

- Xác người đấy.

Cả đám rùng mình, tim Sáo cũng thịch một cái.

Nỗi sợ không tên lúc trước lần nữa trỗi dậy, lý trí của Sáo phải gắng gượng lắm mới át được nó xuống.

Trán anh đổ mồ hôi đầm đìa, những cọng tóc ngắn củn ướt nhẹp hết cả.

Anh đi đường không để ý nhiều, bất ngờ vấp chân ngã một cái.

Sáo hoảng hốt quay người nhìn, mắt mở to, miệng há hốc vì sợ hãi, không cách nào thốt được nên lời.

Đó là một xác người, anh vấp phải một xác người, một cái xác đã lạnh.

Gương mặt của cái xác đó, anh quen đến không thể nào quen hơn được.

Gương mặt ấy nhầy nhụa máu khô cùng khói bụi đen nhẻm, cặp mắt trợn trừng đầy vẻ không cam và đau đớn.

Người ấy tương tự Sáo mấy phần, già dặn hơn Sáo, cũng gầy hơn Sáo.

Anh Én!

Là anh Én!

Đồng đội thấy anh thất thần ra đó, vội kéo anh dậy, lại kéo anh chạy tiếp một đoạn.

Sáo mặc cho bạn mình kéo, trong đầu không nghĩ nổi một điều gì cả, chỉ lặp lại hình ảnh thân xác của anh Én, rồi lặp lại những ký ức khi hai anh em còn ở nhà, cứ lặp lại mãi thôi.

Bỗng, phía trên đầu lóe sáng, người chỉ huy lập tức ra lệnh:

- Nằm xuống!

Tất cả mau nằm xuống!

Những người lính trẻ vội vàng nằm úp sấp, bị động nghênh đón một trận bắn pháo của địch.

Những quả pháo rơi xuống chỗ nào, chỗ đó nổ vang, đất đá văng tung tóe, nếu ở gần thì có khi còn cảm giác được mặt đất có sự rung chuyển không nhẹ.

Những người lính khuân xác đồng đội cũng chạy nhanh trong đợt bắn pháo này.

Có người may mắn tránh thoát, có người thì không được may như vậy, bị pháo bắn trúng, cái xác trên vai cũng nổ tung. (1)

Đó là hiện thực.

Trong một khoảnh khắc ngắn, trái tim của Sáo đau đớn dữ dội, trợn mắt nhìn khu vực mình vừa đi qua bị bom đạn oanh tạc.

Đất đá bay ra, văng khắp chốn, khói bụi mịt mùng, không khí thoảng mùi súng đạn và xác chết khó ngửi.

Dưới bầu trời này, không ai thấy rõ được điều gì, nhưng với Sáo, dường như anh thấy thân xác của anh Én cũng như đám đất kia rồi.

Sáo nắm chặt nắm đất dưới thân, để hòn đá nhọn hoắt cứa vào tay, máu nhỏ ra, thấm xuống đất.

Anh nghiến răng nhẫn nhịn, đến khi chịu không được nỗi đau trong lòng này thì gào khóc, tiếng gào mỗi lúc một lớn hơn, càng lúc càng đau đến xé lòng:

- Anh Én!

Anh Én ơi!

Anh ơi!

Anh theo bản năng muốn lao về phía bom đạn tìm anh trai.

Đồng đội bên cạnh bị dọa, gấp gáp giữ chặt lấy anh, vỗ vai an ủi, quyết không để anh trong cơn hoảng loạn mà chạy ra giữa trận địa.

Các đồng đội khác cũng xúm lại, lo lắng hỏi han anh bị làm sao.

Sáo không đáp lại lời họ, dùng hai tay ôm chặt lấy thân mình, vừa khóc vừa nói:

- Anh tôi, anh ấy mất rồi, anh tôi tan xác rồi!

***

Sáo ngồi bật dậy, thở hổn hển, tâm trí chưa hoàn toàn thoát khỏi nỗi đau trong giấc mơ vừa rồi.

Anh đột ngột ngồi dậy như vậy, dọa cậu út Thiều, người vừa ghé qua chơi, giật nảy mình.

Thiều ngã phịch xuống đất, nói:

- Anh Sáo, sao anh bật dậy thế, cứ như con ma đội mồ sống dậy ấy, dọa em sợ hết hồn.

Sáo trầm mặc, chầm rì rì quay qua nhìn Thiều.

Thiều phát hiện tâm lý anh không ổn định, nhanh chóng phủi mông đứng dậy, đến bên cạnh Sáo, quan tâm hỏi anh:

- Anh sao thế?

Cảm thấy không khỏe sao?

Năng ở phía đối diện đang cầm tờ lịch xem ngày, chợt nói:

- Hóa ra là thế.

Anh Lơn vác súng đi ngang qua, hẳn anh vừa kết thúc ca gác của mình.

Anh nhìn tờ lịch trên tay Năng, hùa theo:

- Đã đến hôm nay rồi à.

Thiều hoang mang nhìn hai người bọn họ.

Năng liếc qua Sáo, vẫy tay gọi Thiều lại gần.

Thiều vẫn còn lo lắng, dù vậy, cậu cũng muốn biết nguyên do anh Sáo trở nên khác lạ.

Thiều là "thành viên ngoài biên chế" của đơn vị, đồng thời cũng là một người trẻ tuổi mới nhập ngũ được bốn năm.

Cậu gặp Sáo ở bệnh xá trong một sự kiện hai năm trước đó, sau đó cũng không qua lại nữa bởi mỗi người mỗi đơn vị khác nhau, địa điểm thực hiện nhiệm vụ cũng khác.

Nhưng ấn tượng của Thiều về Sáo rất tốt, tốt đến nỗi khi gặp lại lần này, cậu không ngần ngại chạy từ vị trí của mình tới vị trí của Sáo để chơi.

Do khác đơn vị là một, tiếp xúc không nhiều là hai nên có nhiều thứ mà Thiều không biết, điển hình như "ngày hôm nay".

- Rốt cuộc là sao?

Năng ra hiệu để Thiều nhỏ giọng xuống, cẩn thận chỉ cho Thiều xem ngày hôm nay trên tờ lịch.

Thiều gật gật đầu, ngỏ ý để Năng giải thích tiếp.

Năng nói:

- Hôm nay là ngày giỗ anh trai của Sáo.

- Vậy sao?

Dường như Thiều không ngạc nhiên lắm.

Đối với cái chết, Thiều quen thuộc không khác gì những người anh đi trước.

Cậu là một người lính trẻ, cho dù có lái xe tăng thì cũng từng tận mắt chứng kiến đồng bạn bằng tuổi lần lượt ngã xuống trước mặt.

Với cậu, một ngày mất mấy người thân thiết là điều bình thường, để giờ đây, tấm lòng này đã không còn đau đớn bao nhiêu, thay vào đó chỉ có chai sạn và những vết sẹo không cách nào xóa đi.

Và cả một nỗi tức giận bị kìm nén trong lòng.

Lơn ngầm oán trách Thiều lạnh lùng, kể thêm cho Thiều nghe những chuyện xảy ra năm năm trước đó, chuyện về một người lính trẻ chưa tới hai mươi tận mắt nhìn thân xác người anh máu mủ ruột rà không còn nguyên vẹn dưới làn mưa đạn.

Thiều nghe xong, im lặng.

Dường như cậu chàng đã nhớ và hiểu ra cái gì.

Hai người Lơn và Năng chỉ dặn cậu cứ để Sáo yên tĩnh trong không gian riêng của anh ấy rồi không nói thêm gì, tự trầm mình vào trong suy nghĩ.

Người trong đơn vị đã nằm lòng ngày này, thống nhất với nhau rằng sẽ để Sáo được một mình.

Đến cả anh Lơn cũng không có ý định đi an ủi Sáo bởi việc này sẽ chỉ làm tâm trạng Sáo càng thêm tệ hơn.

Sáo tự có cách dỗ dành bản thân vào ngày này, mọi người tin chắc điều ấy.

Ba người đồng thời thở dài một hơi, bất chợt bên tai vang lên một giọng nói lạ lẫm:

- Nếu tôi mà là Sáo thì tôi cũng lặng người vào ngày này.

Năng cảnh giác quay sang nhìn, gằn giọng hỏi:

- Ai đây?

Miễn giơ chiếc máy ảnh đeo trên cổ lên, để nó thay mình giới thiệu.

Ba người kia tự hiểu:

- Ra là nhà báo.

Anh đến từ bao giờ đấy?

Đột nhiên, Sĩ xuất hiện từ đâu đó, xen miệng vào:

- Đêm qua.

Thiều nhăn mày, khó hiểu hỏi:

- Sao không để sáng nay hẵng tới?

Làm gì có ai nửa đêm nửa hôm vào doanh trại người ta bao giờ.

Nghe lời này, cả Lơn, Năng và chàng Sĩ đều quay ra nhìn Thiều.

Dưới ánh nhìn nghi ngờ của họ, Thiều chợt nhận ra điều gì đó.

Chẳng phải cậu cũng là thành phần đêm hôm khuya khoắt ghé doanh trại của người ta sao.

Nghĩ vậy, cậu ngậm miệng lại, ngoảnh đầu ra chỗ khác huýt sáo, giả đò bản thân không liên quan gì hết.

Miễn không để ý, chàng chỉ mải mê vuốt ve cái máy ảnh trên cổ, mặt đỏ lựng như quả cà chua, lí nhí:

- Tôi sợ trong rừng có ma, ở một mình mà gặp ma thì chết ngắc.

- Thế sao ông làm lính được vậy?

Bốn người đồng thời hỏi làm Miễn đã ngượng càng thêm ngượng.

Chàng ta cầm chiếc máy, đáy lòng tự an ủi chính mình, nói:

- Nếu tôi nói tôi nhập ngũ được là dựa vào một niềm tin cháy bỏng và lòng yêu nước nồng nàn thì mọi người có tin không?

Thiều thẳng thắn đáp:

- Có thể đấy, nhưng chưa chắc.

Người như cậu thì ít lắm, đâu phải ông nào cũng sợ ma đâu, còn sợ đến mức phải đi tá túc ở nơi đóng quân của người ta ngay đêm khuya nữa chứ.

Miễn nói thầm:

- Không tin thì thôi.

Sáo yên lặng nhìn năm người bọn họ chụm đầu lại với nhau, tìm trong túi áo của mình một tấm ảnh nho nhỏ.

Đó là một tấm ảnh đen trắng, to cỡ một bàn tay.

Trong ảnh là ba người, chính là ba anh em Sáo.

Họ đứng trước một ngôi nhà nhỏ, sân không lát gạch, xung quanh trồng vài cái cây nhỏ thưa thớt lá.

Thời gian chụp ảnh là vào mùa đông, ba người trong ảnh bọc thành ba cục bánh trôi tròn tròn.

Ba đứa trẻ ấy, người lớn nhất là anh Én năm mười lăm tuổi, bên cạnh là Sáo chín tuổi.

Hai anh em cùng nhau ôm một bé gái nhỏ, là cái Sẻ ba tuổi.

Sáo trong hình cười tươi roi rói, cái Sẻ khóc ngoác miệng, để lộ ra hàm răng sún xinh xinh, còn anh Én thì nhăn mày, gượng gạo cười, kiểu cười đã xấu khủng khiếp rồi còn kinh dị khó tả.

Sáo nhớ, khoảnh khắc người thợ chụp ảnh chuẩn bị bấm máy, cái Sẻ đột nhiên đái dầm, người hứng chịu trực tiếp là anh Én, Sáo chỉ bị dính một chút thôi.

Sau khi chụp xong, Sáo nhìn bộ dạng thảm không tả nổi của anh Én mà cười đến đau cả bụng, bị anh dùng bàn tay dính dớp của mình bôi lên mặt lên đầu.

Quá đáng.

Sáo ngắm nghía tấm ảnh thật lâu, lầm bầm

- Anh là anh cả, kinh nghiệm chăm em bé đầy mình, thế mà chưa kịp để lại cho em một đứa cháu đã vội đi rồi.

- Anh ngừng lại một chốc, lại nói - Muốn nhìn thấy cháu em trải nghiệm cảm giác bị anh đuổi theo dí sách vào đầu quá đi mất.

Nói rồi, Sáo hít hít mũi, gạt đi giọt nước mắt đọng trên mi, cẩn thận cất tấm ảnh vào túi áo trước ngực, vỗ về mấy cái.

Anh đứng lên, thông qua tán cây nhìn lên vòm trời cao rộng, nhìn đàn chim chao liệng cành.

Anh tự hỏi, không biết bản thân anh còn có cơ hội về nhà gặp mặt em rể không.

Em gái anh đanh đá, không biết là ông tướng nào chịu được con nhóc này nữa.

Còn có mẹ và cả cái cửa kẽo kẹt trong phòng...

Cứ hi vọng là có đi, dù sao cũng đã trải qua bao nhiêu chiến dịch rồi.

Sáo xoay người, dạm bước đi qua chỗ những người bạn đang tụm lại, thản nhiên ngồi xuống, nghe bọn họ tán gẫu.

Đúng lúc này, cả bọn đang ép buộc Miễn khai thật về bản thân.

Tính Miễn nhút nhát, lại thêm cái mặt trẻ con búng ra sữa, tất cả mọi người, kể cả Thiều, đều cho rằng chàng ta nhỏ tuổi nhất bọn.

Chỉ có Sĩ là lắc đầu không đồng tình với họ.

Cũng đúng thôi, vì Sĩ là người kiểm tra chứng minh thư của Miễn mà.

Sĩ thấy Sáo qua đây, thấp giọng hỏi:

- Không sao chứ?

Sáo mỉm cười, nhặt một cành cây lên nghịch:

- Không sao rồi, ngồi đần ra là ổn thôi.

Những người khác cũng để ý tới, lũ lượt hỏi thăm.

Câu trả lời của Sáo vẫn y như lúc ban đầu, nói mãi thành thuận miệng, làm người ta dần tin tưởng hơn.

Mọi người quay trở về vấn đề còn dang dở, tiếp tục dồn dập tra hỏi Miễn.

- Thật mà, mọi người phải tin tôi, tôi ba ba tuổi rồi!

Sáo kinh ngạc, lỡ tay bẻ gãy cành cây đang cầm.

Anh không quan tâm đến dáng vẻ khẩn thiết cầu xin mọi người tin mình của Miễn ra sao, chỉ quay sang đòi hỏi đáp án chính xác từ phía Sĩ.

Sĩ biết anh muốn hỏi gì, không do dự mà gật đầu.

- Miễn đừng có điêu, Miễn trông trẻ hơn tớ đó!

Cậu út Thiều nhất quyết không tin, khăng khăng cho rằng Miễn bằng tuổi mình.

Dường như Miễn đã quá quen thuộc với tình cảnh này, định giải thích cái bản mặt trẻ mãi không già của mình là do di truyền mà có, cuối cùng lại quyết định rút ra tờ chứng minh thư.

Thiều nhìn qua, lại nhìn thêm một lần, vẫn tỏ vẻ không tin.

Cậu chàng còn nói:

- Nhỡ đâu cái này làm giả được thì sao?

Miễn giơ tay chịu thua, cất tờ chứng minh thư đi, mặc kệ Thiều.

Anh Lơn, người ngồi ngậm cỏ nãy giờ, cười hềnh hệch an ủi Miễn.

Anh đưa cho Miễn một dúm cỏ nhỏ mới hái, bên trên còn đọng lại vài hạt sương mai, bảo:

- Tính bé "út tăng" là thế đấy, thích tự cho mình là đúng không khác nào cậu ấm.

Thôi, kệ thằng nhỏ, ngậm cọng cỏ cho đỡ bực.

Miễn chần chừ nhìn nhúm cỏ nọ, chỉ nhìn qua chứ không động tới.

Chàng không có thói ngậm cỏ như những chàng trai thơ mộng, đành khéo léo từ chối không nhận.

Anh Lơn bị từ chối cũng không bực, tự mình lấy thêm một cọng ngậm chơi.

Anh ngả lưng trên nền đất ẩm, tay gác lên khẩu súng bên cạnh, rung rung chân, trông thích chí cực kỳ.

Năng ngồi bên cạnh nhìn anh ngứa mắt quá, đạp lên chân anh một cái rồi gối đầu lên đó, làm một giấc ngủ.

Đùi của anh Lơn nhiều thịt, gối lên rất êm, làm Năng khen ngợi bằng cách gối trên đó ngủ say.

Thiều mò tới bên cạnh Sáo, thỉnh thoảng chạy qua chạy lại nhặt giúp Sáo mấy cành gỗ nhỏ, xem Sáo dựng lên một tòa tháp con.

Sĩ thì ngáp ngắn ngáp dài, mở quyển sổ nhỏ mang theo bên người ra vẽ vời.

Chàng nhìn những khuôn mặt quen thuộc bên cạnh, chăm chú phác họa lên trang giấy trắng từng nét.

- Đang chiến tranh mà mọi người vẫn thanh thản nhỉ.

Miễn nói, chàng thấy các chiến sĩ ở đây thoải mái như thế này là không ổn cho lắm, tính khuyên bọn họ một hồi.

Dù cho bây giờ không có nhiệm vụ nào thì cũng không nên thả lỏng như vậy.

- Không đến nỗi như vậy, chúng tôi vẫn cần tập chiến thuật đó chứ, chẳng qua không phải lúc này thôi.

Không tập đàng hoàng thì khi đi đánh nhau, có khi còn đánh không lại chúng nó, thế là toi cả lũ.

Người nói là anh Giàn, người anh "ba tá tuổi" thích nhất là khoe vợ.

Anh Giàn nhập ngũ nhiều năm, đứng vào hàng thủ trưởng của bọn lính như Sáo.

Mỗi khi ông anh này xuất hiện, không phải thông báo nhiệm vụ thì chính là đi khoe khoang câu chuyện tình yêu.

Đám lính trẻ, trừ Sĩ thật sự đã có vợ và Sáo ế chổng mông đến mức buông bỏ sự đời ra, nghe xong đều tức điên người.

Dạo gần đây, anh Giàn hay nhắc nhở mọi người phải bình tĩnh, không được lơi lỏng cảnh giác, đồng thời phải giữ bí mật đến giờ G ngày N (2).

Anh cứ nhắc mãi, thành ra ai cũng thuộc nằm lòng, sau này không còn thường xuyên nhắc tới nữa.

Hôm nay anh đột nhiên xuất hiện, chắc chắn không phải thông báo, nhắc nhở hay "ăn giỗ" anh trai Sáo, mà dĩ nhiên là đi khoe vợ rồi.

***

Chú thích:

(1) Chi tiết này được mượn ý tưởng từ một phân đoạn ngắn trong phim "Mùi cỏ cháy".

Thật lòng khuyên mọi người nên xem thử phim một lần.

(2) Theo như tôi tìm hiểu thì trước khi chiến dịch Trị - Thiên 1972 (bối cảnh trong truyện) bắt đầu, quân ta đã giữ bí mật về ngày giờ nổ súng nhằm tấn công quân địch bất ngờ.

Nhà hát "hài" kịch Nhân Vật:

Miễn "nhi đồng": Người ta thật sự ba mươi ba rồi mà :')

Thiều "út tăng": Éo tin.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 5: Hạ


Ông mặt trời lên, chậm chạp đi trên nền trời.

Nắng tháng ba vàng dịu, hiền hòa mà vẫn rực rỡ chiếu rọi xuống mảnh rừng đang dần hồi sinh.

Không thấy những thân cây gãy đổ, không có những giọt nhựa rỉ ra, chỉ thấy những gốc cây nhỏ, cành lá thưa thớt nhưng lại tựa như đám trẻ thơ đang mơ ước làm người lớn.

Qua mấy ngày mưa, đường đi ẩm ướt, đều là bùn đất cả.

Nay được dịp nắng lên, từng mảng đất thấm đẫm nước mưa mau chóng khô ráo, những nhánh cây hùa nhau đi đón nắng, còn những anh lính cũng được dịp phơi áo.

Anh Giàn mặc một cái áo cộc tay màu xanh lá đậm, chiếc áo có vẻ hơi rộng, khiến phần cánh tay lộ ra ngoài của anh càng nhìn càng thấy giống một cái que.

"Cái que" loe ngoe đong đưa, phe phẩy trước mặt những anh lính khác một tờ giấy trắng ghi chi chít chữ.

Nội dung ra sao thì nhìn không rõ, song ai cũng để ý thấy dòng chữ cuối cùng, trước phần ký tên của người gửi.

"Trao anh ngàn cái hôn."

Trời ơi, ra đây mà xem này, nó sến quá đi thôi.

Có mấy anh lính, những người chưa từng vắt vai một mảnh tình, đều lộ ra biểu tình đau đớn vì tâm hồn bị tổn thương nặng nề, trừ Sáo ra.

Mặc dù Sáo chưa yêu ai bao giờ, anh lại không cảm thấy quá khó chịu, chắc do anh nhìn nhiều nên quen rồi, hoặc do anh chỉ thích ngồi nhìn người ta hú hí với nhau thay vì tự mình yêu đương.

Anh xem thường liếc anh Giàn một cái, chê trách anh Giàn không khoe ra cái gì thú vị hơn:

- Dào ôi, tưởng gì chứ.

Anh Giàn bỏ ngoài tai lời của Sáo, lăm le đến gần Sĩ, nhất quyết cho chàng xem những lời lẽ tâm tình trong thư.

Những người khác thấy vậy thì chỉ chép miệng, tỏ vẻ ghét bỏ vô cùng.

Ai ai cũng biết anh Giàn không hề thích cái mặt của Sĩ chút nào, nói trắng ra thì là ghen tị, thế nên anh hay so đo đủ kiểu với Sĩ.

Tiếc rằng Sĩ là "tài tử" có tiếng, biết viết văn làm thơ, biết ngân nga sáng tác nhạc, biết vẽ tranh, cũng biết một vài ngoại ngữ, thành ra anh Giàn không có nổi một mẩu cửa để mà so, ngay cả bản lề cũng không.

Anh Giàn ức lắm, tìm đủ mọi khía cạnh để có thể chứng minh mình vẫn có chỗ hơn.

Sau đó, bởi vì Sĩ liên tục từ chối các cô gái mà anh Giàn đã cầm đầu một vài anh em, tin chắc rằng Sĩ chưa có người yêu.

Kể từ đấy, mỗi khi anh Giàn nhận thư từ vợ, anh liền đem đi khoe với các anh em một phần, để dành chín phần còn lại tặng cho Sĩ.

Sáo hết nói nổi, thầm suy đoán nếu như anh Giàn biết Sĩ lấy vợ rồi, còn lấy từ mấy năm trước nữa thì chắc anh sẽ nổi điên mất, hoặc là ngay lập tức đi tìm hiểu xem Sĩ có con chưa.

Sĩ không thèm quan tâm đến anh Giàn, tập chung vẽ phác họa trên tờ giấy nhỏ.

Anh Giàn hoàn toàn không hài lòng về thái độ này, bắt đầu bô bô kể về câu chuyện đôi lứa của anh cùng vợ:

- Hồi đó ấy à, vợ anh nghèo lắm, cũng chẳng đẹp lắm đâu, nhưng được cái chịu thương chịu khó, cần cù chăm chỉ, có tiếng hiền dịu ở làng anh.

Trai làng rõ đông, nghe tiếng vợ anh nên xếp hàng dài dằng dặc hỏi cưới, thế mà vợ anh chẳng chịu ưng ý ai, khăng khăng đòi gả cho anh cơ.

Anh Giàn say sưa kể lại, mặt bày vẻ tự hào thôi rồi, làm các anh lính xung quanh nghe xong mà khinh thường.

Dù sao thì cái đoạn kia ai cũng nghe đến chai cả tai, nói là thuộc nằm lòng luôn cũng không ngoa.

Ban đầu mọi người còn tin ráo, ghen tị lắm, nghe nhiều rồi liền nhận ra điểm bất thường, đoán được ngay là anh Giàn lại dùng biện pháp tu từ phóng đại lung tung.

Có anh hô lớn:

- Cả bọn thuộc hết rồi anh ơi, không cần nhắc lại bài cũ đâu!

Các anh còn lại đồng loạt cười lớn, hùa theo giục anh Giàn:

- Đúng đấy, anh ơi, giảng bài mới đi, bài cũ thuộc làu rồi.

Bởi anh Giàn cứ hay nhắc đến vợ của mình, tuy là trắng trợn khoe khoang mà cảm giác lại cứ như là mở lớp dạy "kế sách sống cùng vợ" vậy, thành ra không ít người đùa rằng mỗi lần anh Giàn khoe vợ là một lần lên lớp dạy học.

Cặp mắt ếch lồi của anh Giàn đảo qua một lượt, hằm hè dọa các anh lính một trận.

Mấy anh kia không những không sợ, còn cười hềnh hệch, rặt một vẻ nhơn nhơn thiếu đánh.

Anh Giàn tức cái mình, thật sự đi tìm một câu chuyện cũ nào đó để chọc cả bọn luôn.

Anh cẩn thận hồi tưởng lại, bất giác tìm về một ngày trời đông lạnh giá, kể lại cho các anh em nghe cùng.

Mùa đông năm đó, cái rét cắt da cắt thịt, gió lạnh thổi từng đợt xuyên qua những lớp áo mỏng manh.

Không gian âm u, tưởng chừng như sẽ sập tối lúc nào không hay.

Mùa đông năm nào cũng thế, rét, tối và có chút gì đó cô đơn.

Anh Giàn bọc cho mình một lớp quần áo thật dày, ngồi co ro trong góc lều lụp xụp chỗ thủng chỗ dột, hứng hết mọi cái rét mướt của mùa đông Bắc Bộ.

Nhà anh nghèo nhất nhì làng, một viên gạch để xây nhà cũng không có, phải dùng tranh dùng lá để lợp làm một túp lều nhỏ.

Những thứ này rất dễ cháy mà mùa đông còn là mùa khô, thế nên anh không dám nhóm lửa sưởi ấm.

Không lâu sau, vợ anh, chị Thùy, hùng dũng đá tấm phên rách bước vào sân.

Người chị tay xách nách mang, ôm đồm một đống thứ chầm chậm vào lều.

Anh Giàn tò mò gặng hỏi, anh chỉ biết buổi sáng chị ra chợ chứ đâu có ngờ được chị mang nhiều đồ về thế, còn không rõ tiền đào đâu ra mà mua được.

Chị Thùy đặt đống đồ xuống, không nói không rằng lựa đồ.

Bấy giờ anh Giàn mới nhìn kỹ, hóa ra những món đồ này đều là đồ cũ, không phải hỏng rồi thì chính là phế một nửa.

Chị Thùy lấy ra một cái áo rách, ném qua cho anh Giàn chùm lên.

- Áo ở đâu ra thế?

Cái áo rách là một cái áo mùa đông dày và ấm, nhìn chất liệu đã biết là hàng tốt rồi.

Anh Giàn không muốn dùng đến, định để dành cho vợ.

Chị Thùy không để ý tới, vẫn đang mải lục đồ, nghe hỏi thì đáp:

- Của cụ ông Khải đấy.

Áo do cháu gái trên thành phố mua cho, dùng được mấy năm thì bị con chó giời đánh gặm nát, tiếc quá nên cho nhà mình.

Anh Giàn vuốt ve cái áo, thấy chị Thùy bận quá, liền hỏi liệu anh có thể giúp được gì.

Chị Thùy từ chối thẳng thừng, mãi sau mới kéo được một cái khăn quàng ra, nom nó sạch sẽ hơn cái áo trên tay anh Giàn nhiều.

Chị Thùy quay người, thấy anh Giàn chưa khoác áo lên, nhăn mặt quở trách:

- Mình bị sao đấy, đang ốm còn cố chịu rét cho ai xem.

Có phải anh hùng đâu mà học đòi.

Chị vừa mắng, vừa đanh đá thít cho anh cái khăn quàng.

Chẳng là mấy hôm liền lạnh quá, anh Giàn bị sốt không làm được việc gì, khiến chị lo lắng lắm.

Anh Giàn bị ăn mắng cũng không buồn, cười cười kéo tay chị, để chị ngồi cạnh mình rồi chùm áo cho cả hai vợ chồng.

Anh nói:

- Mình lo anh lạnh, anh lại không lo mình lạnh sao?

Mình đi cả sáng, về cũng mệt rồi, ngồi xuống đây cho ấm.

Chị Thùy giơ tay, chọc chọc mái tóc lưa thưa của chồng, trách yêu:

- Mình chỉ được cái bày vẽ thôi.

Anh Giàn nắm lấy tay chị.

Hai người tựa sát vào nhau, chen chúc trong chiếc áo rách rưới, tâm sự đôi câu chuyện nhà.

Kỳ thực, khi bên cạnh có một người, dù chỉ một thôi thì mùa đông cũng không rét thế, càng không cô đơn đến vậy.

***

Anh Giàn không hề sử dụng sở trường "biện pháp tu từ phóng đại" của mình, chỉ thành thật thuật lại một đoạn ngắn trong hồi ức.

Ấy vậy mà sự thành thật này lại khiến cả bọn xung quanh nháo nhào hết lên, khóc than số trời bất công.

Anh Giàn không ngờ phản ứng của mọi người thảm thiết thế, nói không hớn hở là sai mà nói hớn hở thì cũng không hẳn là đúng.

Nguyên nhân vì Sĩ vẫn rất ung dung rung đùi quẹt vẽ trên sổ.

Anh Giàn xị mặt, đặt mông ngồi ngay bên cạnh Sĩ, nghía sang nhìn bức tranh trong quyển sổ nọ.

Bức tranh kia mới chỉ quệt được mấy đường, nhìn qua cũng chỉ mang máng nhận ra một người là cậu út Thiều đang lon ton làm chân chạy vặt cho Sáo.

Ba cái hình còn lại thì không biết là cái gì luôn.

Anh Giàn tặc lưỡi, giở giọng chê bai Sĩ.

Sĩ vẫn chẳng xi nhê gì, thong thả hoàn thành nốt hình vẽ, khiến anh Giàn lại buồn bực một chặp.

Sau cùng, anh Giàn buồn chán thở dài, nói:

- Chú đâu cần phải cất công vẽ thế, tìm một anh nhà báo 'tách' một cái, thế là xong.

Sĩ tán thành, song vẫn nói:

- Ảnh thì vẫn phải rửa xong in ra, còn tranh của tôi thì được thấy thành quả luôn.

Anh Giàn nhún vai, kệ vậy.

Chẳng qua trong lòng anh vẫn rất không vui, tại sao Sĩ lại lắm tài đến thế, không phải người ta hay nói "lắm tài nhiều tật" sao, vậy mà càng nhìn Sĩ lại càng thấy chàng ta hoàn hảo là thế nào.

Miễn ngồi ở bên kia, vừa nghe đến việc chụp ảnh cái là hớn hở ngay.

Chàng ta đứng phắt dậy, hào hứng giơ chiếc máy ảnh yêu dấu của mình lên cao, bảo nhóm người xung quanh:

- Này các anh, tôi chụp cho các anh một bức nhé?

Anh Giàn sáng mắt, gật đầu lia lịa:

- Được đấy, được đấy!

Nói đoạn, anh quay người hô hào:

- Mấy đứa ơi, chân đâu nhanh lên, qua đây chụp ảnh cả bọn cái nào!

Mấy cái đầu vội vã ngóc dậy, nhanh chóng xúm lại vây quanh chỗ anh Giàn.

Sáo và Thiều cũng bỏ những thứ trên tay xuống, nhích người dịch lại gần.

Lơn rung chân gọi Năng dậy, túm cổ áo Năng ngồi sát vào Sĩ.

- Bé "út tăng" xen vào làm gì?

- Kệ thằng bé đi, lát đồng đội nó tìm đến thì mách.

- Các anh quá đáng thế.

- Thiều hậm hực bĩu môi, dù sao cũng quen nhau mấy hôm rồi chứ ít gì đâu, cho cậu chụp ké thì làm gì có vấn đề gì, còn bày đặt châm chước xong mách lẻo đồng đội của cậu nữa cơ.

Trẻ con thế không biết.

Các anh xung quanh hí hửng cười cười, lại có thêm vài anh nghe tiếng gió tới chen vào.

- Ê, xê ra cái, chỗ này tôi xí trước rồi.

- Ái ôi, thằng nào vừa dẫm vào chân tôi đấy?

- Nhích ra nữa, nhích ra cho tớ chen vào với.

Các anh lính cố gắng đứng dí sát vào nhau, cật lực làm cho tất cả mọi người cùng xuất hiện chung trong một khung hình.

Tuy vậy, các anh vẫn xô đẩy, hòng tìm cho mình vị trí đẹp nhất, thi đua làm người đẹp trai nhất.

Miễn đợi bọn họ ổn định rồi mới bắt đầu đếm ngược.

Ngay khoảnh khắc tiếng "tách" được vang lên, bức hình trong máy ảnh hiện ra một nhóm người, vài người có tư thế tạo dáng rất kỳ quặc, vài người thì ngồi bệt dưới đất, còn có vài người chân ngắn phải kiễng lên, cố hết sức khiến bản thân cao thêm ít nhất vài centimet cho bằng bạn bằng bè.

Nhưng tất cả bọn họ đều có một điểm chung duy nhất, đó là gương mặt cười tươi roi rói, tràn ngập niềm vui cùng sự tự tin của những chàng trai trẻ tuổi.

Miền hài lòng nhìn chiếc máy ảnh của mình, thầm nhủ nhất định phải giữ nó thật kỹ mới được.

Các anh lính lần lượt tản ra, bá vai nhau nói lời tìm chủ đề tán gẫu.

Bỗng, Thiều vỗ vai Sáo, bày đặt vẻ thần bí, hỏi dò:

- Anh ơi, anh ngửi thấy mùi thum thủm đâu đây không?

Sáo nghe vậy, cẩn thận ngửi thử, sau đó lập tức dùng tay bịt mũi mình lại.

Anh bức xúc:

- Đứa nào làm ra tác phẩm tiếng 'thơm' vang xa thế nhỉ?

Dường như không chỉ có mỗi Sáo và Thiều ngửi được, mà còn có không ít người ở gần đó cũng ngửi thấy.

Ai nấy đều méo xị mặt che mũi, âm thầm đưa mắt tìm kiếm "tác giả".

Mỗi người nhìn ai cũng thấy khả nghi, chẳng hiểu sao khi nhìn đến Lơn liền chắc chắn "tác giả" chính là anh ta.

Có lẽ nguyên do lớn nhất là vì Lơn thiếu nặng là người duy nhất không bịt mũi giữa đám người.

Lơn để ý đến ánh mắt của mọi người, ngơ ngác hỏi:

- Có chuyện gì thế?

Anh Giàn dùng hai ngón tay bóp mũi mình, hành động này của anh khiến giọng nói của anh ồm ồm hơn bình thường.

Anh hất mặt, làm ra vẻ câng câng bố đời của một thằng ranh đầu đường xó chợ:

- Thằng kia, sáng nay mày cho cái gì vào bụng đấy?

Lơn chớp chớp mắt, dường như anh không hiểu vì sao anh Giàn lại hỏi như vậy.

Lơn cố gắng nhớ lại xem từ sáng tới giờ mình đã ăn những gì, nhưng dù có làm cách nào đi chăng nữa thì anh cũng chẳng thể nhớ nổi.

Vậy nên anh thành thật trả lời:

- Không giấu gì anh, em không nhớ.

Nhìn cái mặt ngây thơ lắm tội của Lơn, không ít người vừa bịt mũi vừa lắc đầu ngán ngẩm, định bụng thôi thì tạm thời bỏ qua.

Nào ngờ ý nghĩ này vừa hiện lên trong đầu chưa đầy ba giây, một thứ âm thanh không khác mấy một quả napalm chạm vào mặt đất vang lên.

Dĩ nhiên đó không phải là napalm thật rồi, bởi vì tiếng nhỏ hơn rất nhiều.

Âm thanh đó do anh Lơn tạo ra, từ vị trí nào thì chắc ai cũng biết hết cả.

Sáo yên lặng xê người dịch ra xa, tiện tay kéo theo Thiều còn đang đứng đực người bên cạnh, tự nhủ bản thân chỉ đi tìm không khí thôi.

Anh Giàn không có lời để nói, mặt mày tối sầm lại, nhìn anh như thể đang có tính toán độc ác nào đó.

Những anh khác cũng trầm mặc, lục tục kéo nhau rời khỏi đó.

Thậm chí có một anh rỉ tai nói nhỏ với người bạn bên cạnh:

- Tớ thấy kèo này khéo phải bảo mấy anh nuôi trông chừng, không thì Lơn "thiếu nặng" lại đi ăn vụng rồi ăn linh tinh.

Người bạn trầm ngâm một lúc, đáp:

- Ừ, cứ canh luôn thằng cha này cho chắc ăn, dù có khi tầm này Lơn không đi ăn vụng trong bếp đâu.

Chỉ có chàng Sĩ không có phản ứng quá gay gắt, chàng xé một trang giấy trắng từ cuốn sổ nhỏ, lại xé trang giấy ấy làm đôi, nhét vào trong mũi của mình.

Sau đó chàng lại mở trang đang vẽ dở, quẹt quẹt vẽ tiếp.

Còn Năng ngồi gần anh Lơn nhất cũng bị cái mùi này hun cho tỉnh cả ngủ, nước mũi lại bắt đầu chảy thòng lòng.

Năng bực bội cau có, cởi chiếc dép cao su dưới chân ra, dọa anh Lơn sợ đến mức lập tức chạy té khói.

Năng không chậm một giây nào, nhanh tay cởi nốt chiếc còn lại, hai tay hai dép hùng hổ đuổi theo anh Lơn sát nút.

- Anh đứng lại đấy, anh mà chạy tiếp thì coi chừng tôi.

Năng hét lên, hùng hục đuổi theo Lơn khắp cả doanh trại.

Thân hình Lơn đô vậy mà chạy nhanh khiếp, làm Năng đuổi được hai vòng (đã làm tròn) thì bắt đầu thở không ra hơi.

Thấy vậy, Lơn thả chậm tốc độ, cực kỳ tủi thân nói:

- Kết cục của việc anh chạy hay không chạy thì có khác gì nhau mấy đâu...

Năng bực cái mình lắm mà không còn sức để lia dép.

Anh cúi người, chống đầu gối thở hồng hộc.

Đợi khi nhịp thở trở lại bình thường, Năng mới miễn cưỡng đứng thẳng người, dùng vạt áo quệt mồ hôi trên mặt.

Anh than:

- Khiếp, bẩn quá, đi tắm đây.

- Nói đoạn, anh lại chỉ vào anh Lơn - Anh cũng đi tắm đi, cái mùi tởm chết được, mũi tôi điếc luôn rồi này.

Đợi Năng xỏ dép rồi quay người đi trước, anh Lơn bĩu môi, bắt chước bộ dáng cọc cằn vừa rồi của Năng, chọc mấy người khác nhịn cười đến đau cả ruột.

Hình như Năng tự cảm thấy có điềm nên đột ngột xoay người, lườm anh Lơn một cái.

Lơn rụt vai lại, chầm chậm đi theo Năng, vừa đi vừa huýt sáo.

Anh huýt sáo giai điệu của một bài nhạc do Sĩ sáng tác.

Ấy là một giai điệu hào hùng, tráng lệ mà cũng có phần bi ai.

Giai điệu này vừa vang lên, có người nhịn không được mà ngân nga theo, rồi hai người, rồi ba, rồi tất cả bọn họ cùng nhau hát.

"Ta cất tiếng ca

Giữa trận địa

Lửa lại bùng cháy

Ta ngân vang trong khóm lửa tro tàn

Hóa mình thành người chiến sĩ..." (1)

Năng cùng anh Lơn đi bộ tìm dòng nước nào đó gần vị trí đóng quân.

Đi mãi, không biết đi bao lâu rồi mới thấy một dòng suối.

Nhìn dòng nước trong vắt trước mặt, anh Lơn, người đang khát nước vì vừa bị rượt đuổi, vội vã muốn dùng tay vốc nước lên hớp vài hụm.

Năng để ý không gian xung quanh một chút rồi ngăn anh lại, không cho anh uống nước:

- Không được đâu, mình không dùng nước này được đâu.

- Tại sao?

Anh Lơn không hiểu, rõ ràng nước trong như thế, khi bọn họ hành quân cũng thường dùng nước suối tắm rửa ăn uống mà có bị ngăn lại bao giờ đâu.

- Bởi vì chỗ này quá trống.

Giọng của anh Giàn vang lên từ phía sau.

Hóa ra bọn anh Giàn thấy cái mùi nào đó bám trên người ghê quá nên cũng muốn đi tắm, bèn lon ton đi theo hai người Năng và anh Lơn.

Khi càng đến gần suối, anh Giàn thấy cây cỏ xung quanh ngày càng thưa thớt, hầu như cây nào cây nấy đều héo rũ chết sạch.

Cây cối chết hết, không còn những tán lá rộng lớn phủ lấy bọn họ che đi bầu trời.

Không trung thoáng đãng lộ ra trước mắt bọn họ, đẹp thì đẹp đấy, mà không có tiếng ù ù thì càng đẹp hơn.

- Không giống như bị bom phá.

Sáo lên tiếng nhận xét.

Anh từng thấy khu vực bị bom phá như thế nào.

Đó là mặt đất loang lổ những chiếc hố, cây cối gãy đổ ngổn ngang như vừa bị một cơn bão lớn tàn phá, thậm chí có cả những thân cây bị cháy xém.

Nhưng dù vậy, bằng cách thần kỳ nào đó, bên cạnh từng cái cây gãy đổ có chồi non xanh mướt mọc lên, cố gắng trưởng thành từng chút một.

Ở đây thì khác, nó giống như một mảnh rừng chết không tồn tại sự sống nào khác ngoài mấy người bọn họ.

Anh Giàn lắc đầu, khẳng định:

- Không phải bom phá, là chất diệt cỏ.

- Anh ngừng lại một lúc, rồi dặn mọi người - Nhanh chóng về đi, chịu khó ở bẩn chứ không khéo bị chúng nó thấy thì hỏng.

Nghe đến cụm "chất diệt cỏ" (2), những người lính trẻ đều trở nên căng thẳng.

Họ từng nghe nói đến loại hóa chất này, càng được phổ cập rất rõ về tác hại của nó đối với con người.

- Thôi mình đàn ông đàn ang, bẩn tí thì có hề gì, nên về thôi các anh ơi.

Thiều muốn xoa dịu lại bầu không khí sượng ngắt này, bèn thốt lên một câu nói vui vui.

Những người khác gật gật đầu hùa theo, kéo nhau trở lại khu vực đóng quân.

Chỉ có mình Sáo vẫn đứng yên, nhìn lại mảnh rừng chết chóc kia.

Thời gian đã trôi qua lâu vậy rồi, quân giặc cũng không còn sử dụng chất diệt cỏ nữa, nhưng những sự sống của rừng lại không thể quay về như xưa.

Anh ngước nhìn dòng suối trong veo phản chiếu lại nền trời xanh thẳm, nhìn nắng tháng ba rải xuống mặt đất khô cằn, trong đầu miên man đôi điều.

Một nơi đẹp như thế, lại nguy hiểm đến vậy.

- Đi thôi Sáo ơi!

Anh Giàn lớn tiếng gọi.

Sáo giật mình, vội cất bước đuổi theo đồng đội.

Sau lưng anh, những đám mây dày lũ lượt kéo đến, phủ kín nền trời, dường như sắp đổ một cơn mưa.

***

Chú thích:

(1) Cái đoạn này là tôi dùng hết óc nghệ thuật của mình để viết, là bản original của tôi, không sao chép hay tham khảo ở đâu hết.

(2) Chất diệt cỏ: cách gọi thân quen hơn là "chất độc màu da cam", được quân Mĩ sử dụng quy mô lớn trong chiến tranh Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1971.

Theo như những gì tôi tìm hiểu thì ban đầu chất độc này bị rải ở các tuyến đường giao thông và quanh các căn cứ quân sự của Mĩ và Nam Việt Nam, sau này thì mở rộng ra các vùng nghi ngờ có Quân Giải phóng và các khu vực đồng ruộng ở vùng tranh chấp.

Nhà hát "hài" kịch Nhân Vật:

Năng "cột điện": Sao thằng Thiều vẫn còn ở đây, có thấy vô lý không?

Thiều "út tăng": Tại bà tác giả thích thế 🙂

Đồng đội của Thiều: Không sao, chúng tớ sắp lên sân rồi 😉

Thiều "út tăng": Oh nooo
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 6: Hạ


- Oái, các anh ơi, anh Sáo ơi, cứu em!

Thiều hốt hoảng la toáng lên kêu cứu.

Cậu chàng lại cởi dép, xách quần lên, để chân trần lao đến chỗ Sáo, đuổi theo sau cậu là hai chàng trai lạ mặt, còn đám người anh Giàn lại đứng tụm lại ở một bên, ló đầu ra hóng.

Sáo cũng đang vội theo chân các anh em, suýt thì đâm vào Thiều, cũng may anh dừng lại kịp lúc, giữ được thăng bằng nên không bị ngã dập mặt.

Thiều nhanh nhảu chạy đến trốn sau lưng anh, cảnh tượng này làm anh ngờ ngợ, thấy quen đến lạ.

Hai chàng trai lạ đuổi tới, tẩn ngần dừng trước mặt anh.

Một người gãi cổ nhìn người còn lại, người kia thì ngượng ngập không nói ra lời.

Sáo cau mày, nhìn trang phục của họ, chắc mẩm cả hai đều là người mình.

Anh đưa tay phải lên làm tư thế chào của quân đội, hai người kia cũng vội làm theo.

Thấy họ chỉ chào mình thế, anh lấy làm lạ, hỏi dò:

- Các cậu là?

Chàng trai bên phải, cũng là người vừa rồi không nói ra lời lại láu táu mở lời đáp trước.

Không biết có phải do ngượng hay không mà cậu chàng cứ lúng ta lúng túng, nói nhanh đến mức bị vấp mấy lần:

- Em... em xào, à, chào anh.

Bọn em là tồng...

đồng đội của Thiều, đến đón Thiều về.

Em tên Nữ, ý nhầm, Lữ ạ.

Còn thằng này là Đào.

Người còn lại lườm Lữ, gắt gỏng sửa lại, hẳn cậu này phải làm vậy nhiều lần rồi nên mới nóng nảy đến vậy:

- Lạy bố, là Đảo ạ!

Đảo!

Đờ ao đao hỏi đảo!

- Nói rồi, Đảo quay sang phía Sáo, nghiêm túc nói.

- Chào anh ạ, bọn em đều chung tiểu đội với Thiều.

Chuyện là mấy nay Thiều thường hay ra ngoài, một lần đi là đi khá lâu, đến nỗi cả đám ba người chúng em sắp bao che hết nổi rồi.

Nếu Thiều còn chạy đi chơi nữa thì thủ trưởng sẽ nghi thằng này đi làm đào binh mất.

Lúc này Lữ đã bình tĩnh hơn, gật gật đầu hùa theo bạn mình.

Tuy mặt cậu vẫn đỏ chín như quả cà chua nhưng cậu không còn nói lắp nữa.

Cậu chàng nói thêm:

- Giờ mọi người chỉ nghĩ nó bị bệnh tiêu hóa, chứ không sao suốt ngày đi ngoài rõ lâu.

Nhưng sắp tới chiến dịch rồi, nó không thể tiếp tục lơ là được nữa đâu ạ.

Sáo hiểu ra vấn đề.

Hóa ra dạo này Thiều toàn lén chạy đến chỗ các anh chơi, chỉ có đồng đội chung tiểu đội biết Thiều đi đâu, cùng nhau nghĩ cớ bao che cho cậu.

Nhưng Thiều ham chơi, lén đi nhiều lần, đến nỗi các bạn cũng bắt đầu phát hoảng, người khác sinh nghi.

Vả lại cũng sắp đến chiến dịch thật, Thiều cứ bỏ bê thế này thì cũng không ổn cho lắm.

Chẳng qua anh không quen hai người kia, không biết có nên tin họ hay không.

Anh ngoái đầu, liếc nhìn Thiều đang huýt sáo giả ngu.

Nom cái điệu bộ này của Thiều thì chắc Lữ và Đảo nói đúng sự thật rồi.

Nghĩ vậy, anh bèn vươn tay đẩy "trả" cậu cho đồng đội.

Anh nói:

- Ca này anh không bảo kê cho chú được.

Chú đi đi, đừng có rảnh cái là chạy đến đây, thực sự không tốt đâu.

Mặt Thiều xị xuống, cậu mặc kệ hai đồng đội hết kéo tay rồi lại nói đến hết nước hết cái mà vẫn chẳng chịu nhích chân rời đi.

Cậu chẳng nói chẳng rằng, đặt mông ngồi bệt xuống đất, dùng hành động bày tỏ rằng, cậu sẽ không đi đâu đâu.

Sáo đanh mặt lại, nghiêm giọng mắng:

- Thiều, chơi thế chưa chán à, chú có biết bây giờ là lúc nào rồi không?

Lúc trước chú vẫn đi theo các anh thì thôi đi, giờ đang là lúc quan trọng mà vẫn thích làm theo ý mình là thế nào?

Chú bao nhiêu tuổi rồi, có phải trẻ con nữa đâu, tự động có ý thức một chút đi chứ, chú chỉ về đơn vị thôi mà cứ làm như sắp chia xa là sao?

Thiều nhăn mày, định cãi lại thì Sáo đã cất bước rời đi, kéo theo cả bọn anh Giàn cũng quay người đi khỏi.

Chỉ có anh Lơn không đành lòng, quay lại nói nhỏ với Thiều:

- Trước mắt cứ đi về đi, chừng nào rảnh rỗi thì hãy đi tìm các anh nhé.

Thằng Sáo có vẻ bực rồi, đừng chọc nó nữa kẻo nó nói còn khó nghe hơn.

Thế nhé, bọn anh đi trước.

Rồi anh gọi với theo đồng đội, nhanh chóng đuổi kịp bước chân của họ.

Cả bọn khoác vai nhau, cười cười nói nói, chọc cho Sáo cũng phải nhoẻn miệng cười.

Bọn họ sóng vai đi cạnh nhau, giọng nói càng lúc càng xa, khuất dần trong mảnh rừng mướt mát tháng ba.

Thiều dõi mắt theo bóng lưng bọn họ, đáy lòng khó chịu khôn tả.

Cậu rầu rĩ cúi gằm, miệng lẩm bẩm:

- Mấy anh đâu hiểu, mấy anh có biết được đâu...

Cậu đột ngột đứng dậy, dọa hai người Lữ và Đảo giật nảy người, xém thì ngã sõng soài dưới đất.

Thiều kệ hai người họ, bỏ đi trước, chỉ uể oải quẳng lại một câu:

- Về thôi.

Lữ và Đảo liếc nhau, Đảo buồn rầu lắc đầu, rồi cả hai cũng chậm rãi bước theo sau Thiều.

***

Ngày 30 tháng 3 năm 1972.

Hôm nay là ngày N.

Sáo đứng dưới tàng cây, để từng cành lá rậm rạp chắn đi làn mưa lất phất.

Trời có chút âm u ẩm ướt, làm anh nhớ đến những cơn mưa phùn của cái tiết trời mùa xuân se se ngoài Bắc.

Anh tựa lưng vào thân cây, âm thầm rút chiếc đồng hồ cũ từ trong túi ra, nhẩm đếm từng giây từng phút một.

Càng gần đến mười giờ, cũng tức là giờ G trong kế hoạch (1), anh càng cảm thấy căng thẳng, thay đổi tư thế đứng tại chỗ liên tục.

Lúc nào cũng thế, mỗi khi chuẩn bị chiến đấu, tim anh đều đập nhanh như trống bỏi, hô hấp anh nặng nề, nỗi lo lắng cứ thế bủa vây lấy tâm trí anh.

Anh uể oải ngồi thụp xuống đất, đặt chiếc đồng hồ cũ ở bên tai, lắng nghe tiếng kim giây kêu tích tắc.

Chừng vài giây trôi qua, hoặc có khi là cả mấy phút đồng hồ, Sáo mới bình tĩnh trở lại.

Anh cũng không rõ cái tật xấu này từ đâu ra, chỉ biết rằng từ hồi còn quắn đít ngồi trên ghế nhà trường, anh đều có biểu hiện như vậy trước mỗi kỳ thi.

Cách giải quyết vấn đề nhanh nhất là nghe tiếng kim đồng hồ chạy, do đó anh mới hay mang theo đồng hồ bên người.

Xem giờ cũng là một nguyên nhân khác.

Anh Lơn bước tới, ngồi phịch xuống bên cạnh Sáo.

Anh đảo mắt nhìn xung quanh, dường như đang rất vui vẻ, thoải mái.

Sáo thấy anh lại bắt đầu tưng tửng, cho là anh vừa được ăn no xong, nên Sáo chỉ ngoái sang nhìn một cái, sau đó tiếp tục ngồi trầm ngâm đếm giờ.

Anh Lơn ngồi rung đùi, lắc lư cái đầu, nom phởn đời lắm.

Mãi không thấy Sáo nói gì, mà anh Lơn ngồi không đến chán rồi, bèn quay sang mở lời:

- Lâu rồi chưa thấy Thiều "út tăng" nhỉ.

Sáo gật đầu, thành thực nói:

- Chắc thằng bé dỗi tôi, dẫu sao hôm đó tôi hơi nặng lời, còn bỏ đi trước mặt nó nữa.

Nhưng như thế là tốt nhất, giờ tiến vào giai đoạn quan trọng rồi còn đâu.

Anh Lơn ngửa người ra sau, dùng hai tay gối đầu, nằm xuống.

Anh "hừm" một tiếng dài, như là đang suy ngẫm triết lý nhân sinh.

Sáo nghe tiếng "hừm" của anh, không khỏi suy nghĩ miên man theo.

Anh quen Thiều một năm có lẻ rồi, thời gian gặp nhau không nhiều nhưng mối quan hệ lại khăng khít đến lạ.

Chính ra, anh không rõ vì sao Thiều lại bám anh đến vậy.

Khi hỏi, Thiều chỉ đáp rằng, anh và một người bạn cũ của cậu khá giống nhau.

Sáo không biết người bạn cũ đó, chưa từng gặp bao giờ, lại đã từng nghe Thiều nhắc tới vào lần đầu nói chuyện.

Lần đầu anh gặp Thiều, cả hai cùng nằm trong một cái bệnh viện dã chiến.

Thiều là người nằm trên cái giường bệnh cạnh giường của anh, hôn mê mấy ngày mới tỉnh.

Lúc anh được đồng đội dìu đến, Thiều đã nằm ở đó được hai hôm rồi.

Gương mặt Thiều lúc ấy xanh xao hốc hác, đôi mày lúc nào cũng nhíu lại, hơi thở khi chậm khi nhanh.

Cánh tay lẫn cẳng chân đều nhỏ khỏi nói, lính nào cũng gầy cả, điều đáng nói là Thiều hay gặp ác mộng rồi nói mớ.

Mãi đến khi tỉnh lại, Thiều cũng không yên ổn chút nào.

Lại nói, hồi ấy anh vừa trải qua một trận chiến căng thẳng, bị một viên đạn bắn trúng chân.

May sao các cụ phù hộ cho vết thương không nặng, anh lại được đồng đội xách đi kịp thời, quân y cũng bảo anh nghỉ ngơi một thời gian là vác súng đi tiếp được rồi.

Anh nhàm chán nằm trên giường, cằn nhằn về sự nhàm chán của mình cho Năng nghe.

Năng nghe anh càm ràm được một ngày tròn, ngày hôm sau liền thậm thà thậm thụt đến xem anh, tay cứ che đậy cái túi áo trước ngực, không biết là đang giấu cái gì.

Thấy anh tò mò, Năng làm động tác "suỵt" rồi nhìn ngang ngó dọc, sau đó rón rén đến cạnh anh, dùng thân mình che đi tầm nhìn của những quân y ở đằng sau.

Năng móc ra một con dế từ trong túi, để vào tay Sáo cho Sáo chơi.

Sáo bất ngờ, thấp giọng hỏi:

- Bắt được từ bao giờ đấy?

Năng nháy mắt, cười khì, không có trả lời.

Sáo biết anh lại rảnh rỗi không muốn ngủ nên đi chơi long nhong, tiện thể kiếm gì đó để chơi.

Rồi bọn anh Giàn cũng nghe nói đến, nhao nhao đi bắt dế, đem đến bệnh xá để Sáo chiêm ngưỡng.

Ban đầu là thi thố xem con dế nào đẹp nhất, kêu hay nhất, dần dần biến thành những cuộc chọi dế gay cấn.

Sáo hứng khởi xem chọi dế cùng những người đồng đội, đôi khi sẽ cổ vũ cho con dế "chiến tướng" thắng liền mấy trận nào đó.

Ngay cả các chiến hữu nằm trên giường bệnh gần đó cũng góp vui, tổ chức thành một nhóm bình luận chuyên nghiệp, vừa nghe đã biết đây đều là những tay chọi dế già đời.

Khi đồng đội phải rời đi, anh lại buồn chán nằm trên giường, cầm đồng hồ lên đếm xem kim giây có chạy đúng sáu mươi lần trong vòng một phút không.

Tối muộn, khi anh mơ màng sắp vào giấc ngủ, Sáo lại bị đánh thức bởi những âm thanh hỗn độn từ giường bên cạnh.

Thế nào gọi là những âm thanh hỗn độn?

Nếu phải miêu tả, Sáo sẽ kể ra những âm thanh như tiếng sột soạt của vải vóc, tiếng kẽo kẹt của giường bệnh, tiếng thùm thụp của nắm đấm nện mạnh lên giường, và cả tiếng khóc rấm rứt không ngơi.

Sáo vừa bực vừa thấy lạ.

Người nằm trên giường lăn qua lộn lại tạo ra tiếng sột soạt và tiếng kẽo kẹt, điều này là bình thường rồi.

Nhưng còn tiếng nện thùm thụp và tiếng khóc thì sao?

Nghe cứ như một ai đó cực kỳ tức giận, đồng thời cũng cực kỳ buồn bã vậy.

Anh nghe những âm thanh hỗn độn đó một hồi, chợt phát hiện hồi anh Én mới mất, anh cũng làm mấy hành động giống như người anh em giường bên vậy.

Đương khi anh hồi tưởng lại chuyện xưa, anh Lơn ngồi dậy từ lúc nào, lắc lắc tay anh hòng lấy lại sự chú ý.

Sáo giật mình, quay sang hỏi:

- Sao vậy?

Anh Lơn chỉ vào chiếc đồng hồ mà Sáo chưa kịp cất vào túi, giọng nói đầy vẻ lo lắng:

- Đã mười giờ rồi đó mà anh vẫn chưa nghe thấy gì cả.

Sáo nhìn đồng hồ trên tay, quả đúng đã mười giờ hơn rồi.

Anh lấy làm lạ, muộn rồi mà sao vẫn chưa có tiếng pháo tấn công.

Sáo lắc đầu tỏ vẻ bản thân cũng không biết, rồi nhổm người dậy, đi tìm vị trí của anh Giàn.

Anh Giàn đang ngồi thu lu một mình một góc, tay cầm một xấp giấy mỏng ghi chi chít chữ, có vẻ là thư nhà của anh.

Dường như gia đình anh Giàn yêu thương nhau nhiều lắm, cũng rất nhớ anh, vậy nên người nhà anh Giàn thường xuyên gửi thư tới, kể dông dài những chi tiết dù là vụn vặt nhất trong cuộc sống của họ.

Anh Giàn chăm chú đọc thư, tay vuốt ve từng con chữ, thi thoảng lại nhoẻn miệng cười.

Nhìn khung cảnh ấm áp của tình thân gia đình như vậy, Sáo không nỡ làm phiền anh, đành đứng như trời trồng tại chỗ.

Chẳng qua tiếng bước chân của Sáo đã gây được sự chú ý của anh Giàn.

Anh ngẩng đầu lên khỏi những dòng thư, hỏi Sáo có chuyện gì.

Sáo nói:

- Đã quá giờ theo kế hoạch rồi mà sao vẫn chưa thấy tấn công hả anh?

Anh Giàn trầm ngâm giây lát, nom như đang nhớ lại gì đó.

Anh chỉ tay lên trời, đáp:

- Trời như này thì bắn kiểu gì, nên hoãn chứ sao.

Sáo nhìn sắc trời, mờ mờ xam xám, đúng là không thích hợp để tấn công.

Dưới trời này, dù mắt tinh cách mấy cũng không thể ngắm rõ bất kỳ một mục tiêu nào được.

Anh gật đầu đã hiểu, định quay người về chỗ cũ.

Song không biết anh nghĩ đến điều gì, vẫn đứng yên tại vị trí, nhìn chăm chăm bức thư trên tay anh Giàn, muốn hỏi lại thôi.

Anh Giàn thấy Sáo ngập ngừng mãi, giục Sáo muốn hỏi tiếp cái gì thì hỏi nhanh lên.

Sáo chẹp miệng, chần chừ một lát mới nói ra thắc mắc của mình:

- Đó không phải là thư chị nhà gửi đúng không?

- Hở?

Sao chú biết?

Anh Giàn ngạc nhiên lắm, có vẻ như anh ấy hoàn toàn không biết tại sao Sáo đoán ra được hay vậy.

Sáo ngoảnh mặt đi, lặng lẽ bĩu môi.

Anh dám chắc cả đơn vị này không ai không đoán được điều đó, chẳng phải nó đã quá hiển nhiên rồi hay sao.

Mỗi khi anh Giàn nhận được thư của vợ, anh đều phải "thong dong" mở ra trước mặt tất cả mọi người, hai tay cầm bức thư đi dạo quanh khu này hai vòng, chắc chắn tất cả mọi người đã đọc được câu sến rện nhất thì anh mới hài lòng ngồi một góc đọc nốt.

Dù cho bức thư hôm nay nhận được không phải do vợ gửi, anh Giàn vẫn vui vẻ khoe khoang với Sáo – người đã chủ động hỏi thăm:

- Anh không cần biết tại sao chú lại biết.

Anh chỉ biết được giai cả nhà anh biết quan tâm bố nó, đạt được danh hiệu học sinh giỏi trong kỳ học vừa qua.

Thậm chí anh cu này cũng phụ mẹ gánh hàng, trông em, chăm sóc ông bà nữa đấy.

Còn cô gái bé nhỏ nhà anh bắt đầu học lớp vỡ lòng rồi đấy, biết cầm bút đánh vần rồi đấy.

Ôi chao, hai đứa nó thật giỏi giang ngoan ngoãn làm sao!

Cứ thế này thì dù anh đang ở tiền tuyến cũng thấy vui lòng như đang ở nhà quá.

Bao giờ vụ này mới kết thúc nhỉ?

À chú có nhớ anh nghỉ phép mấy lần rồi không?

Anh còn lần nghỉ nào nữa không nhỉ?

Hôm nay ngày mấy nhỉ?

Thằng Năng cầm lịch, thế chú có thấy thằng Năng đâu không, chú thân với nó lắm mà.

Ban đầu anh Giàn khen con không dứt miệng, câu nào câu nấy đều luyến láy đầy cảm tình lớn lao của một người cha xa con đã lâu.

Sáo đờ người đứng một bên, cam chịu nghe anh Giàn nói liên miên không ngừng, chẳng hiểu sao chủ đề lại bị kéo qua vấn đề huyên thuyên nào.

Sáo chán nản, nhân vì anh Giàn không chú ý đến, anh dùng tay bụm mặt mình, than dài:

- Dại quá tôi ơi.

Khi không đi hỏi làm gì cơ chứ!

***

11 giờ trưa.

Gió thổi mây tan, từng hạt mưa tí tách trút xuống giờ chỉ còn đọng lại trên cành lá.

Tiết trời không còn nhờ nhờ như một tiếng trước đó, không gian thoáng đãng khiến nhiều mục tiêu của bên địch hiện ra rõ hơn, thuận tiện cho quân ta ngắm bắn.

Ngay sau lệnh "Bão táp I" của Tư lệnh Lê Trọng Tấn (2), pháo bắt đầu nổ vang, lại thêm một chiến dịch mới được mở màn.

Âm thanh pháo vang cắt ngang lời lải nhải dong dài của anh Giàn, cả anh cùng Sáo đều nghiêm túc lắng nghe, mắt dõi theo hướng pháo được đặt.

Anh Giàn cất lá thư trên tay đi, đứng dậy, vỗ vai Sáo rồi hỏi:

- Cũng sắp đến lượt chúng ta rồi đấy, chú đã sẵn sàng chưa?

Một tay Sáo lục tìm chiếc đồng hồ con con, nắm chặt lấy.

Anh gắng sức giữ lấy vẻ bình tĩnh của mình, gật đầu, chắc nịch đáp một tiếng:

- Sẵn sàng!

Sau đợt bắn pháo đầu tiên, liên tiếp những khẩu pháo khác cũng lên nòng.

Bên tai dồn dập những tiếng pháo.

Pháo quân ta bắn liên tiếp, thi thoảng xem lẫn những tiếng ở phía xa hơn, có lẽ là tiếng đáp trả của bên địch.

Những anh lính quây lại một chỗ, chen chúc nhau ngóng cổ xem pháo bắn ở chỗ nào, rồi lại tụm đầu bàn tán xem liệu trận này chắc thắng không.

Sáo lại thầm nhẩm đếm từng phút, giữ bình tĩnh chờ đến lúc mình ra trận.

Không biết sao anh lại có một linh cảm lạ lùng, rằng anh không còn nhiều thời gian nữa.

Anh xua đi ý nghĩ đó, tự mắng mình, chuẩn bị đánh nhau mà cứ nghĩ linh tinh gì đâu, mà nghĩ gì không nghĩ lại toàn nghĩ điềm xấu không.

Pháo của quân ta bất ngờ, đánh cho bên địch tá hỏa, hoảng loạn, sau đó lại đáp trả một cách yếu ớt.

Hình như bên chúng nó cũng dùng pháo đấy, cơ mà mọi người mãi cũng chỉ nghe được vài tiếng lẻ tẻ.

- Khéo chúng nó cam chịu rồi cũng nên.

Anh Lơn nói, vài anh đứng gần cũng hùa theo hưởng ứng.

Nhưng cũng có người không cho là phải, điển hình như Sĩ với Miễn.

Dù sao cũng đang ở giữa lúc chiến trận căng thẳng, vả lại chiến dịch này mới bắt đầu có vài phút, huống chi đã qua bao nhiêu năm rồi, bên lãnh đạo của quân địch còn chưa chịu từ bỏ thì sao đám lính bên dưới lại nhận thua nhanh như vậy cho được.

Anh Sĩ lại bảo:

- Có khi pháo nó có vấn đề hoặc tịt luôn rồi ấy.

Điều này lại có khả năng hơn rất nhiều.

Bởi vì quân ta nã pháo quá đỗi bất ngờ, quân địch không kịp phản ứng, dẫn tới rối loạn và xuất hiện vài vấn đề với mấy khẩu pháo cũng phải thôi.

***

11 giờ 10 phút trưa.

Lúc này đây, tất cả các trận địa pháo của quân ta với tổng cộng 247 khẩu pháo, súng cối các loại đều bắn vào mục tiêu là 19 căn cứ trên tuyến phòng thủ vòng ngoài của quân địch (3).

Tiếng pháo rền vang như tiếng trống trận, từng đợt từng đợt làm lòng người sục sôi.

Không ít người tại nơi đóng quân đều đứng dậy, hi vọng bản thân không bỏ lỡ bất cứ tin tức mới nhất từ tiền tuyến.

- Được rồi, mấy thằng chúng mày còn đứng đó làm gì, có gì để ngóng đâu, kể cả có cô nào thì cũng cấm được nhìn.

Nhanh chân lên, nhanh cái chân lên, chuẩn bị súng đi, chúng ta sẽ tập hợp sau hai phút nữa.

Đột nhiên anh Giàn vỗ tay bồm bộp, vừa vỗ vừa hô thật lớn, dọa mấy anh lính xung quanh giật cả mình.

Có anh xoa ngực kêu hết hồn hết vía, có anh lại thở dài thườn thượt, cả người xìu xuống như cọng bún thiu.

Thiều dẩu môi, nom trẻ con hết sức, mà cậu chàng chẳng nói chẳng rằng nhanh chóng đi chuẩn bị súng.

Năng thì lại há miệng ngáp một cái, mệt mỏi cằn nhằn:

- Gớm quá cơ, cứ làm như ai cũng có vợ như ông anh vậy.

Có con gái mà không ngắm thế ngắm gì?

Ngắm anh à?

Anh Giàn trợn mắt, nhưng không có vẻ tức giận gì.

Anh khoanh tay ưỡn ngực, cất giọng sang sảng:

- Được chiêm ngưỡng dung nhan trời ban của anh là vinh hạnh của mấy đứa còn gì.

Anh nào ở gần đều nghe thấy câu đấy hết, mấy đôi mắt ngờ vực đảo quanh anh Giàn và Sĩ, vuốt cằm hoài nghi gu thẩm mỹ của anh Giàn.

Riêng Năng thì ôm ngực, giả đò như mình vừa bị trúng đạn ngay vị trí ấy, "đau đớn" ngả người ra phía sau, đúng lúc đụng trúng Sáo đang đi tới.

Sáo nhanh tay khoác súng lên vai, đỡ lấy Năng, tưởng Năng bị sao nên lo lắng hỏi:

- Sao thế Năng, lại đau ở đâu à, hay thay đổi thời tiết nên khó chịu?

Có anh lính phì cười, ôm súng đứng một bên, trêu ghẹo:

- Thằng Năng có làm sao đâu, chắc là đau mắt ý mà.

Sáo nhăn mày, khó hiểu hỏi lại:

- Đau mắt thì ôm ngực làm gì?

- Tớ chịu. – Người đó nhún nhún vai, nói tiếp. – Cơn đau từ mắt theo đường nào đó lan xuống tim chăng.

- Hả?

Đường nào thế?

Sao anh không biết?

Rốt cuộc là sao thế?

Anh Lơn cũng đi tới, miệng lại ngậm một cọng cỏ lạ lùng nào đó.

Có điều cọng cỏ này không còn bị dính đất, thay vào đó là những hạt nước nhỏ li ti, có vẻ như anh Lơn mới hái nó sau khi mưa tạnh.

Anh nghe được những lời của anh lính nọ, mặt hoang mang lắm, hỏi liên tục, đến mức ngay cả Năng đang giả ngất cũng không chịu được nữa.

Năng bật dậy, mặt đỏ choét, hằm hè rời đi, chỉ bỏ lại một câu gắt gỏng:

- Tôi bị hạ đường huyết!

Được chưa!

Sáo ngơ người, anh lính kia và anh Lơn cũng ngơ người.

Miễn ghé đầu sang, chốt một câu mà hầu như ai cũng thắc mắc:

- Thế sao nó khỏe re vậy ta, đi đường thẳng tưng luôn kìa?

Anh Giàn gãi đầu, cũng không hiểu cuộc hội thoại vừa rồi nói về điều gì nữa.

Anh bảo:

- Thôi, kệ nó đi. – Sau đó anh dùng tay làm loa, hét lên với mọi người. – Tất cả chú ý, tập hợp!

***

Khoảng 12 giờ trưa.

Bên dòng Bến Hải, dập dìu sóng vỗ.

Sáo lướt qua những người đứng phía trước mình, lặng người trông ngắm dòng sông yên ả, lại nhìn đến ranh giới đang chia cắt hai miền – khu phi quân sự vĩ tuyến 17 (4).

Cạnh anh là những người lính, những đồng đội cùng nhau băng qua bao trận chiến.

Họ nhìn nhau, mặc dù nét mặt hãy còn căng thẳng, nhưng họ vẫn cười một cái thật tươi, bông đùa một câu nhạt nhẽo, rồi lại quay đầu hướng về phía trước.

Chợt nghe tiếng pháo vang lên lần nữa, đạn xẹt ngang đầu, lao về phía bên kia.

Khói nổi lên, xám xịt một góc trời con, lửa chập chờn bùng cháy trong tiếng thét khản đặc.

Không biết là ai hô hào trước tiên, những người lính ấy bắt đầu cất bước, chạy nhanh trong cơn mưa đạn ngập trời.

Dưới sự hỗ trợ của xe tăng và pháo binh, các anh vượt sông Bến Hải, qua vĩ tuyến 17, tấn công vào các căn cứ của địch. (5)

Vì Tổ quốc vĩ đại!

Vì Hồ Chủ tịch vĩ đại!

Xung phong!

***

Chú thích:

(1) Ngày N là ngày 30/03/1972.

Tuy nhiên, trên Wikipedia của chiến dịch Trị - Thiên ghi giờ G là 16 giờ chiều, còn trong quyển "Nhật ký Quảng Trị 1972" (Lê Quang Đạo) lại ghi giờ G là 10 giờ.

Trong quyển này còn ghi rõ lý do không tấn công vào đúng giờ G mà đổi sang một tiếng sau (tức 11 giờ thay vì 11 giờ 30 như trên Wiki) là vì trời mù, có mưa nhỏ, không nhìn rõ mục tiêu.

(2) Lê Trọng Tấn (1914 – 1986) là một .

Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên.

(3) Trong "Nhật ký Quảng Trị 1972" chỉ nói đến 11h10, tất cả các trận địa pháo đều bắn.

Trên Wikipedia mới kể rõ là bao nhiêu pháo, bao nhiêu mục tiêu.

(4) Khu phi quân sự vĩ tuyến 17: Theo Hiệp định Genève về Đông Dương 1954, khu phi quân sự vĩ tuyến 17 dọc theo hai bờ sông Bến Hải được lập ra nhằm làm một giới tuyến quân sự tạm thời ngăn cách các cùng tập kết giữa một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với một bên là Pháp và đồng minh, sau này là Mỹ.

(5) Cùng là trưa 30/03/1972, theo trang Wikipedia của chiến dịch Xuân – Hè 1972, ở Mặt trận Trị Thiên Huế (cũng là chiến dịch Trị - Thiên), sư 308 cùng với sư 304 vượt qua giới tuyến 17 với sự hỗ trợ của trung đoàn pháo binh và trung đoàn xe tăng.

Nhưng theo trang Wiki của chiến dịch Trị - Thiên 1972, cánh Tây (cánh quan trọng nhất) do sư 304 đảm nhiệm, ngoài ra tôi không thấy các đơn vị khác được nhắc tới trong cánh này.

Còn Wiki của Mặt trận Trị Thiên Huế lại ghi đầy đủ hơn, do khá dài nên tôi không viết vào đây.

Tác giả tám nhảm: Diễn biến chi tiết các trận chiến được tôi tham khảo từ trên Wikipedia là chủ yếu và một vài tài liệu khác về thời đó.

Dù vậy thì tôi vẫn không chắc chắn mình viết đúng hoàn toàn.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 7: Hạ


"...

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả

Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông

Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển

Vẫn trở về lưu luyến bên sông

Hình ảnh cô em đôi má ửng hồng..." (1)

***

Trời chiều còn vương ánh nắng, không khí thoang thoảng mùi rêu ướt sau mưa.

Nắng tà tà rọi vào căn phòng nhỏ, ngả lên bức tường màu vàng, chiếu lên chiếc bàn học gỗ cũ kỹ.

Cánh cửa sổ mở toang, song cửa bằng sắt đã nâu rỉ tự bao giờ.

Cái cây cạnh nhà thật tinh nghịch làm sao, để cành của mình len qua song cửa, khẽ chạm lên cái lọ hoa con con trên bệ cửa.

Cậu bé rảo bước đi tới, một tay cầm một nhành hồng nhỏ, tay kia cầm một cốc nước lã.

Cậu đổ nước vào trong lọ, sau đó cẩn thận cắm nhành hồng.

Cánh hoa đỏ thắm, chiếc lá chìa ra về hướng cửa sổ như đang dang tay đón lấy ráng chiều.

Cậu bé mỉm cười, láu ta láu táu đi cất cái cốc.

Chẳng may, cậu bị trượt chân, chiếc cốc vuột khỏi tay, rơi xuống đất, rồi "choang" một tiếng, vỡ thành từng mảnh.

Cậu bé chống tay đứng dậy, chống nạnh nhìn "thảm họa" trước mặt, tặc lưỡi:

- Chậc, may giờ chỉ có mỗi mình mình, không thì...

Cậu mò tìm cây chổi ở góc nhà, dùng gầu hót rác hót hết những mảnh vỡ dưới đất, mang đi đổ vào sọt rác.

Xong xuôi, cậu lau tay lên quần đồng phục, vừa đi tới bàn học, vừa cởi chiếc khăn quàng đỏ trên cổ.

Ngồi trước bàn, cậu đặt khăn quàng đỏ ở một bên, rút quyển vở mỏng từ bên khác ra, lật đến trang cuối cùng.

Đằng sau những trang chữ viết ngoáy chi chít kia là một tờ giấy được gấp nhỏ bằng hai ngón tay.

Cậu bé hít sâu một hơi, nghiêng trái ngó phải, đảo mắt nhìn khắp nơi trong phòng.

Sau khi xác định ở đây không có ai, cậu mới chậm rãi cầm tờ giấy kia lên, mở ra.

Bên trong tờ giấy ấy cũng không có gì ngoài một bức tranh vẽ nguệch ngoạc.

Trong tranh là một chiếc xe tăng to đùng, méo chỗ này mó chỗ kia, đen xì xì choán hết không gian trên giấy và một người tí hon trông hơi vẹo, cũng đen xì xì "ngồi" vắt vẻo trên nóc xe.

Vừa nhìn đã biết người vẽ chẳng có tài năng gì, không vẽ được chi tiết nào nên chỉ đành dùng chì để tô hết tất cả sự vật trong tranh.

Cậu bé chăm chú nhìn bức tranh chính tay mình vẽ, tự hào lúc lắc cái đầu, ngón tay miết miết góc giấy.

Đây là ước mơ của cậu.

Một ước mơ được gói gọn trong bức tranh chì.

Chợt, bên ngoài vang lên tiếng gọi lớn, làm cậu hết hồn, thiếu chút nữa là xé luôn "vật báu" của cậu.

- Thiều ơi, đi chơi!

Cậu bé Thiều gấp gáp lấy quyển vở che đậy bức vẽ nọ, đứng lên, ngó đầu nhìn ra bên ngoài cửa sổ.

Dưới gốc cây, một cậu trai khác cũng mặc đồng phục, áo trắng luộm thuộm mấy vết bùn đất, quần xắn ống thấp ống cao, chân đi đất, cái đầu rối bù, tay cầm hai cành cây trụi lá.

Trông thì bẩn bẩn thế thôi chứ được cái, cậu trai kia có một gương mặt khá dễ nhìn, nụ cười lúc nào cũng tươi roi rói, nom thân thiện và dễ mến lắm.

Nhiều khi, Thiều cảm thấy bạn mình chỉ cần cười một cái thôi là không ai có thể ghét cậu ấy được.

Dịch đứng dưới nhà, huơ huơ hai cái cành trên tay, nhón chân nhảy nhót, chẳng biết đang làm cái trò mèo gì nữa, hoặc có khi cậu ấy lại lên cơn phởn đời, chắc vừa gặp chuyện vui gì rồi.

Cậu bé Thiều thấy vậy, bật cười, hét bảo:

- Đợi tí, tớ xuống liền.

Cậu nhanh tay gấp lại bức tranh, nhét xuống cuối quyển vở, giấu cả quyển dưới đống sách vở dày đặc.

Thiều nhìn vị trí giấu, tự tin nắm chặt hai bàn tay.

Cậu lại lớn thêm một ngày, và sẽ càng ngày gần hơn với tương lai mà cậu mong chờ.

Rồi cậu xỏ dép, hí hứng chạy xuống dưới tầng.

Dịch vẫn đang đứng tại chỗ nghịch cành cây, thấy Thiều chạy tới thì quẳng cành cây đi, không buồn phủi bụi mà vươn tay ra, hưng phấn bảo:

- Đi thôi, đi thôi, cái Thảo với thằng Học đang đợi hai đứa mình ở bờ đê đó.

Nghe cái tên Thảo, Thiều liền hiểu sao Dịch vui đến thế.

Cậu tủm tỉm, nắm lấy tay Dịch, để Dịch kéo cậu chạy nhanh trên con đường hãy còn đọng lại những vũng nước mưa.

Ráng chiều rơi xuống ven sông, sóng gợn lăn tăn, lấp lánh.

Nước sông soi lên nền trời, cũng soi cả hình dáng những đứa trẻ đang tung tăng nô đùa.

Tiếng cười vang vọng nơi quê cũ, ở lại trong ký ức của Thiều rất nhiều năm sau.

Vốn là những đoạn ký ức vui lắm thay, đẹp lắm thay, nhưng giờ, mỗi khi nhớ lại quãng thời gian ấy, Thiều lại lặng lẽ ngồi thu mình ở một góc, một mình gặm nhấm nỗi đau xót khôn nguôi.

***

Ngày 30 tháng 3 năm 1972.

Xuống sông, sang bờ bên kia, tấn công Cồn Tiên và Bái Sơn, sau đó tiến về Đông Hà, đây là nhiệm vụ của Trung đoàn 36 thuộc Sư đoàn 308 và Tiểu đoàn tăng 512 thuộc Trung đoàn tăng 202 trong giai đoạn đầu của chiến dịch. (2)

Tiếng nã pháo vang lên liên tục bên tai, trở thành những tiếng sấm báo hiệu một cơn mưa sắp sửa che trời.

Đạn sượt qua đầu, bay thẳng về phía kẻ địch bên kia, cũng không biết có trúng thằng nào không nữa.

Đạn pháo bay lạc khắp nơi trên chiến trường, chạm lên đất, rơi xuống sông, bắn trúng người.

Chân bước lên bờ Nam sông Bến Hải, cảm giác lâng lâng sao sao, giống như chỉ cần anh bước lên thêm vài bước nữa, đôi bờ lại trở về làm một vậy.

Nhưng anh nào còn thời gian để nghĩ nhiều, càng cầm chắc súng trên tay, bước chân càng vững vàng đi từng bước, rồi tăng tốc lên, và nhanh hơn nữa.

Ầm...

ầm...

ầm...

Nòng súng nóng ran, bốc lên màu khói xám nhạt.

Từng tiếng hô vang lên không ngừng, mồ hôi chảy ròng, gương mặt sạm đi vì khói đạn.

Lại "ầm" thêm vài tiếng, đất đá dưới chân nổ tung, cát bụi đầy trời.

Đôi chân của họ vẫn không dừng lại, tiếp tục tiến về phía trước, hòa mình vào trong đám khói đen ngòm.

Rào... rào... rào...

Vài viên đạn pháo bắn vào mặt sông, tạo thành những cột nước cao, nước văng tung tóe, từng con sóng xô đẩy nhau đánh mạnh vào bờ.

Cả con sông như đột nhiên nổi giận, rung lắc dữ dội, muốn lật đổ bất cứ sự vật nào trên sông, nhấn chìm nó dưới sóng nước cuồn cuộn.

- Không sao đâu!

Đừng sợ!

Tiếp tục đi đi!

Có người lính trẻ, hẳn mới nhập ngũ không lâu, bị lạc mất đồng bạn thân thiết.

Cậu lính hoang mang, rối loạn, sợ hãi chạy theo sau những người đồng chí.

Mồ hôi tay túa ra, trơn trượt đến nỗi súng suýt bị rơi xuống mấy lần.

Người bên cạnh liếc mắt thấy, không đành lòng, hét lên để động viên cậu lính trẻ.

Đối với cậu lính trẻ, tiếng hét đó xen lẫn tiếng đạn không khác nào tiếng mắng cả.

Mặt cậu lính bệch ra, đã sợ càng thêm sợ, run rẩy chẳng dám đi tiếp.

Người bên cạnh nhìn cậu với ánh mắt khó hiểu, rồi cũng vì vội vã mà kệ cậu ở lại đó.

Bỗng, có viên pháo của bên địch rơi gần vị trí cậu đứng.

"Đoàng" một tiếng, bên chân truyền đến cảm giác nhức nhối.

Cậu lính ngã lăn trên mặt đất, hoảng hốt nhìn dòng máu đỏ tươi chảy dọc bắp chân, thấm lên ống quần, nhỏ tong tỏng xuống đất.

Cậu ta thét lên vì đau đớn, thu hút sự chú ý của những người lính khác quanh đó.

Một người chạy tới, đỡ cậu ta lên, luôn miệng hỏi thăm tình trạng của cậu.

Mà khổ nỗi, miệng cậu ta chỉ biết há ra kêu đau, còn đau như thế nào, cảm thấy ổn không, có đi được không thì chắc cậu ta cũng không biết.

Người lính kia có hơi sốt ruột, nhưng anh biết tuổi đời người ta còn trẻ, không nỡ trách mắng gì nên chỉ đành dìu cậu đi tiếp.

***

Thiều ở bên trong xe tăng, tập trung thực hiện động tác nạp đạn cho đại bác.

Nạp đạn và bắn súng máy phòng không trên tháp pháo là nhiệm vụ của một tay pháo thủ số hai như cậu.

Lúc này, quân ta đang tấn công bất ngờ, tuy địch có bắn trả nhưng chung quy vẫn chưa thấy con chim sắt nào đến, cũng chẳng thấy bóng thằng bộ binh giặc nào, nên bây giờ cậu chỉ cần tập trung nạp đạn thôi.

Những viên đạn to bằng cả bắp chân người lớn, cần kha khá sức lực để nạp đạn liên tục.

Là người thì làm gì có ai không biết mệt, Thiều cũng có thể bị kiệt sức nếu chiến trận diễn ra quá lâu.

Lúc trước có một trận, là đợt Thiều mới nhập ngũ chừng hai năm.

Lần đó cậu bị sốt nặng, cả người nóng hầm hập như cái lò nướng, nhưng cậu vẫn kiên quyết lên chiến trường.

Kết quả là, chẳng được bao lâu thì cậu mệt đến ngất.

May mắn là các đồng đội nhanh chóng đưa cậu ra ngoài, nếu không thì cậu xong luôn.

Có điều, ốm sốt chỉ là một trong những lý do thôi.

Lý do còn lại thì Thiều không muốn kể ra làm gì.

Cái lý do ấy cứ như một cái dằm, cắm vào thì nhói đau từng cơn, rút ra thì máu chảy không ngừng.

Thà rằng cứ để đấy, có lẽ quen rồi thì hết đau thôi.

Chiến trường nổi lửa, khói bốc ngút trời.

Không gian xe tăng chật hẹp, bên tai là tiếng động cơ gầm rú cùng giọng nói của trưởng xe.

Nhiệt độ trong xe nóng phừng phừng, cho dù bên ngoài mát mẻ cách mấy thì vào trong xe rồi, ai cũng tưởng như nhiệt độ lên đến đầu bốn tới nơi.

Cả người Thiều mướt mồ hôi, quần áo ướt nhẹp, dính sát vào thân.

Các bạn của cậu cũng không khá hơn là bao.

Trong xe có bốn người (3), người nào người nấy đều đổ mồ hôi như mưa.

Thỉnh thoảng cả bọn liếc nhau một cái, tự trêu rằng, trông mấy thằng như mấy con lợn gầy bị đem đi nướng, vừa đỏ vừa bóng nhẫy, "thơm" phức.

Chính ra, Thiều quý đồng đội của mình lắm, dù gì cũng ở cạnh nhau mấy năm, cùng ăn cùng ngủ, cùng ngồi trong một cái xe tăng, cùng nhau tìm cách khám phá những tác dụng bên lề của xe tăng.

Chẳng qua, sau ngày ấy, cũng như kể từ khi gặp lại Sáo, Thiều chỉ muốn ngày ngày ngồi ở đại đội bộ binh, cả ngày theo chân Sáo.

Nếu không, một ngày nào đó, cậu sẽ không được gặp anh với tư cách là một người bạn thân thiết, càng không thể thông qua anh mà thấy bóng hình người đó một lần nữa.

Anh Sáo có thói quen đó, rất giống Dịch.

Thật đáng ghét làm sao, khi nguyên nhân chính để cậu kết bạn với Sáo là vì anh có một thói quen giống với Dịch, người bạn thân quá cố của cậu.

Thiều nghĩ đến ngẩn người, lặp lại động tác một cách máy móc, mãi tới khi trưởng xe bỗng nhiên cười hơ hớ mới tỉnh táo lại.

Cậu ngồi thẳng lưng, cứ tưởng tay trưởng xe sắp sửa nói cái gì quan trọng, sẵn sàng nghe hiệu lệnh bất cứ lúc nào.

Có điều, hiệu lệnh thì chẳng thấy đâu, chỉ thấy mấy lời nhảm nhí của trưởng xe.

Bốn người cùng ngồi trong xe tăng, chán quá thì lại nói dóc vài câu, người khởi xướng luôn là trưởng xe, tên Niên.

Chàng này hơn Thiều có ba tuổi thôi, là người già nhất đám.

Cứ nghĩ chàng ta thế nào chứ tên này là thằng cháu "đít nhôm" trong nhà đấy.

Chắc vì thế nên chàng ta không biết cách bao che người khác kiểu gì, cái cớ "đi vệ sinh" để lấp liếm việc Thiều trốn đi chơi là người này nghĩ ra.

Khi Lữ và Đảo hỏi tại sao lại lấy cớ này, Niên đáp:

- Tại dễ chứ sao.

Mấy cậu thử nghĩ xem, còn cái nào khác không?

Lữ và Đảo vuốt cằm nghĩ một lúc, gật gật đầu đồng tình.

Công nhận, chẳng còn cái cớ nào có lý hơn cái cớ này.

Nhưng mà có mỗi một cái cớ thôi mà nhai đi nhai lại bảy, tám lần, lần nào cũng trùng nhau, một chữ cũng chẳng chịu đổi, đến khi có người nghi rồi mới vội lôi Thiều về, kể ra cũng tài.

Mà thanh niên tên Niên này còn bị ngọng âm "l" và âm "n", có chỉnh bao lần vẫn thế, không sửa được.

Tên của mình thì đọc là "Liên", tên của Lữ thì đọc là "Nữ", làm cậu Lữ rầu lắm.

Đâm ra Lữ lại thích đọc lái tên hai người còn lại, nghe sao cho nó "gái tính" tí, khiến Đảo cũng phải phát bực theo.

- Ối giời, nũ trẻ tầm lày sao mà nhát thế chứ nị.

Niên nói, chắc thấy gì ngoài đó nên chép chép miệng, cảm thán một câu.

Đảo là tay lái xe, nghe thế thì hỏi:

- Anh trưởng thấy gì à?

Thay vì gọi là "anh Niên" hay "Niên", đội của Thiều chuộng gọi Niên là "anh trưởng" hơn.

Một phần bởi Niên lớn tuổi nhất, đã thế còn làm trưởng xe.

Phần còn lại cũng tại Niên bị ngọng, nếu bọn họ cứ gọi "anh Niên" hoặc "Niên" mà Niên đáp lại là "Liên" thì có khi người ngoài nghe xong cũng hoang mang không biết Niên tên Niên hay Liên luôn mất.

- Tớ thấy một thằng bé, chắc mới ra đây, lom người ló thê thảm nắm, khóc bù nu bù noa bên ngoài kìa.

Lữ ở một bên ngắm bắn, nã thêm mấy phát đại bác, dành chút thời gian hỏi bâng quơ:

- Ồ, sao nó khóc thế?

- Chịu.

Hình như ló bị trúng đạn, đau với hoảng quá lên khóc ấy mà. – Niên nhún vai.

Chàng ta phải quay ngang quay ngửa theo cái tháp pháo để quan sát mọi nơi, để ý kỹ với tinh mắt lắm mới hóng được một thằng nhõi con khóc sướt mướt vì đau.

Thiều thầm lắc đầu.

Có vài người nhát gan, hồi mới lên chiến trường cũng đều giống cậu lính kia cả, hoảng hốt, sợ sệt đến độ khóc lóc không ngừng.

Họ kiên trì ở lại chiến khu, nỗ lực chiến đấu, vượt qua nỗi sợ, không xách dép chạy về nhà với mẹ là tốt lắm rồi, rất đáng khen.

Thiều hi vọng cậu lính kia mau chóng vượt qua, không để những cảm xúc tiêu cực chi phối bản thân, trở thành gánh nặng của những người xung quanh.

Chẳng may biến thành "cục nợ" hình người, không những hại người mà còn hại mình.

***

Tối ngày 30 tháng 3, tin địch bỏ vài vị trí, bị diệt và đánh tan năm đại đội truyền về Sở Chỉ huy.

Ngày đầu tấn công, nghe được tin chiến thắng thì ai mà không vui mừng.

Không biết Miễn đi đâu mà nghe phong thanh được rằng, giờ bọn địch đang hãi lắm, giẫm đạp lên nhau khi chạy trốn luôn cơ.

Tuy vậy, quân ta vẫn không nên chủ quan, vẫn cần chuẩn bị các phương án tác chiến thích hợp, đề phòng có biến.

Dẫu gì cũng là ở chiến trường, có mấy ai biết được tiếp theo sẽ xảy ra những gì.

Chắc chắn khi địch tỉnh táo lại, chúng sẽ bắt đầu phản công mạnh mẽ, mà nếu quân ta không kịp phòng bị thì cũng sẽ bị chúng nó đánh tan như chơi.

Do đó, quân ta cần tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tiến công, bao vây áp chặt quân địch.

Ngày 31 tháng 3 năm 1972.

Tin thắng lợi liên tiếp truyền về.

Nào là diệt được ba, bốn đại đội địch.

Nào là diệt điểm cao 544 vào lúc 10 giờ sáng, hơn ba tiếng sau, cứ điểm Đầu Mầu cũng bị diệt.

Địch bị vây chặt ở Động Toàn.

Ngay cả cái vỏ ngoài của tuyến phòng thủ phía Tây cũng bị phá vỡ gần hết.

Phía Đông, nhân dân đứng lên nổi dậy ở mấy xã, giải phóng toàn bộ khu vực Bắc sông Cửa Việt.

Ở Ái Tử, cháy to, tận những chín chiếc máy bay địch bị bắn rơi. (4)

Địch cũng bị đánh cho thiệt hại nặng ở Cồn Tiên, thằng nào thằng nấy bỏ của chạy lấy người, không thì cũng tự nguyện đầu hàng.

Sáo và những người anh em khác hồ hởi hô lên, dù biết đây mới chỉ là bắt đầu nhưng cũng không thể ngăn cản họ phấn khởi vì đã chiến thắng trận đánh.

Sĩ bắt đầu đánh nhịp, cả bọn tụ lại cùng nhau, ngân nga ca lên khúc hát, nhảy nhót mừng thắng lợi.

"Đời này ta có tuổi thanh xuân sáng nhất

Dùng nó thắp lên ngọn lửa hoang dại

Ta nhảy múa trong niềm đam mê cháy bỏng

Điên cuồng đưa mình đến thế giới mơ ước."

Lại là bài hát do Sĩ sáng tác, hát đi hát lại mấy lần mà chưa biết chán.

Tiếng hát vang vọng trên đống đổ nát nơi trận địa, mạnh mẽ hào hùng.

Khói tản dần, bầu trời lộ rõ.

Nó vốn sáng sủa và bao la như vậy đấy.

Dưới đất là những người lính gầy gò, ốm nhom, ai nấy đều luộm thuộm, bẩn thỉu với bộ trang phục lấm lem vết rách, khói súng, mồ hôi, đất và máu.

Nhưng nét rạng rỡ trên gương mặt họ chưa từng bị che lấp, cứ mãi tươi tắn như những đứa trẻ được kẹo.

Đến những lời ca cuối cùng, mọi người đồng loạt giơ tay lên, dù lành lặn hay quấn băng gạc trắng, đều hướng về một phía.

Phía đó là tương lai thắng lợi của chúng ta.

***

Nhà hát "hài" kịch Nhân Vật:

Ba thành viên khác của xe tăng: (pose dáng kiểu idol) Chúng tôi đã chính thức debut!

Anh trưởng: Thìu, vào tạo dáng nàm kiểu ảnh lào!

Thiều "út tăng": Mau biến hết vào xe tăng đi!!!

Chú thích:

(1) Trích bài thơ "Nhớ con sông quê hương" của Tế Hanh (1921 – 2009).

(2) Trích Wikipedia của Mặt trận Trị Thiên Huế năm 1972: "...

12h30, từ hướng Tây: Trung đoàn 27 (phối thuộc Sư 320B) đánh chiếm (544); Trung đoàn 24 (Sư 304) đánh cứ điểm Tân Lâm (241), Trung đoàn 9 (Sư 304) tấn công Xa Mưu, Ba Hồ (597), Trung đoàn 66 (Sư 304) đánh Động Toàn (548).

Tại hướng Bắc: Trung đoàn 48 (Sư 320B) và Trung đoàn 102 (Sư 308) vượt tấn công ; Trung đoàn 36 (Sư 308) và Tiểu đoàn tăng 512 (Trung đoàn 202) cũng vượt sông Bến Hải tấn công , , phát triển về ; Trung đoàn 27 và Trung đoàn tăng 202 (thiếu) đánh qua , , chiếm cảng .

Tại hướng Nam, Trung đoàn 1 (Sư 324) đánh Động Ngô (655), Trung đoàn 2 chia quân đánh Động Ông Do và điểm cao 440, giữ bàn đạp cho giai đoạn II."

(3) Bởi vì bài "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" quá nổi tiếng, hẳn nhiều người cũng bị nhầm giống tôi, tưởng trong một kíp xe tăng sẽ có năm người.

Thực tế, theo những gì tôi tìm được, khi nhà thơ Hữu Thỉnh sáng tác bài này, ông đã đến thăm đơn vị xe tăng T-34 và cảm hứng của ông bắt nguồn từ năm người trên xe.

Đến nay thì xe tăng T-34 không được sử dụng trong biên chế quân đội ta nữa.

Trừ xe tăng T-34 ra, thông thường sẽ có bốn người trong một kíp xe tăng, gồm trưởng xe, pháo thủ số một (phụ trách bắn đại bác), pháo thủ số hai (phụ trách nạp đạn và bắn súng máy phòng không trên tháp pháo) và lái xe.

Loại xe tăng T-34 cũng có bốn vị trí như thế, nhưng có thêm một ghế lái phụ nên mới có năm thành viên.

(4) Những thông tin ở cả ba đoạn đều được tham khảo từ "Nhật ký Quảng Trị 1972" của Lê Quang Đạo.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 8: Hạ


Miễn mở bừng mắt, trầm mặc ngước nhìn khoảng không đen ngòm.

Đã là lần thứ mười chàng tỉnh giấc trong đêm, trung bình sáu mươi giây lại mở mắt một lần, ấy vậy mà trời bên ngoài mãi chưa sáng, dù chỉ hưng hửng một chút thôi cũng không có.

Miễn buồn bực kéo áo trùm kín đầu, co người ôm bụng, cố hết sức nhịn xuống "nỗi buồn đời người", thầm nhủ chừng nào trời tảng sáng hẵng đi.

Chưa được vài giây sau, chàng lại bỏ áo xuống.

Chàng đã mót lắm rồi, thực sự không nhịn nổi nữa.

Không gian vang vọng âm thanh lá cây xào xạc, loáng thoáng nghe ra chân ai giẫm lên sỏi đá, chắc là thay ca đi gác hoặc là đi toa-lét đêm.

Chàng đảo mắt nhìn sang bên cạnh.

Lơn "thiếu nặng" đang nằm ngủ lăn quay dưới đất.

Vừa rồi anh xoay người một cái, bằng cách nào đó mà rơi bộp xuống, dọa Miễn sợ hết hồn.

Lơn nằm úp sấp, ngáy khò khò, ngủ đến trương người, cũng không biết mình bị rơi khỏi võng.

Năng lại bị ngạt mũi, sụt sà sụt sịt nằm bên kia, mơ màng dùng áo lau nước mũi.

Anh Giàn thì ngủ mơ, miệng lẩm bẩm nói mớ, thi thoảng cười hềnh hệch, nhìn ngố lắm.

Thấy mấy thanh niên vẫn ngủ ngon lành, Miễn thoáng yên tâm hẳn.

Có mấy người này ở đây, ma nào cũng không làm gì chàng được.

Miễn nuốt nước miếng, nhỏ giọng tự an ủi:

- Không sao, không sao, nhà mi ba ba tuổi rồi, hai cái ghi-đông còn không đập được một con ma sao.

Chàng ngồi dậy, rón rén đi tới võng của Sáo, lục lọi tìm đồng hồ.

Đêm nay lại đến tiểu đội của anh Giàn gác đêm, giờ này là ca của Sáo, anh đã vác súng đi gác rồi.

Sáo là một trong những người hiếm hoi có đồng hồ trong cả bọn, thấy bảo là kỷ vật còn lại của anh trai Sáo, nay thành vật tùy thân của Sáo.

Bình thường ai đi gác đêm cũng hay mượn đồng hồ xem giờ, nhiều quá mức khiến mấy thằng có đồng hồ khác bị làm phiền đến phát bực, mà riêng Sáo lại chẳng thấy phiền gì, cứ để bọn họ móc túi xem đồng hồ, mình thì tiếp tục gác tay lên trán ngủ li bì.

Nên người trong đơn vị thích mượn đồng hồ của Sáo lắm, thậm chí có người còn luyện ra kỹ năng móc túi êm ru, đảm bảo giấc ngủ của Sáo coi như cảm ơn.

Khổ nỗi, nếu người gác đêm là Sáo thì cái đồng hồ sẽ không còn ở trên võng nữa, bởi anh mang nó cùng đi gác luôn.

Miễn buồn bực ngồi xổm xuống, vò đầu bứt tai.

Chàng không biết bây giờ là mấy giờ, nhỡ đâu lúc này là ba giờ sáng, chàng ra ngoài một cái rồi bị ma bắt mất hồn thì làm sao đây.

Nghĩ thôi cũng tự thấy mình nín thêm mấy tiếng nữa cũng được.

Nghĩ thì dễ, làm được lại khó.

Miễn đành cắn răng về chỗ tìm đèn pin.

Phóng viên chiến trường như chàng được trang bị một chiếc đèn pin cơ động bỏ túi, rất tiện cho một người sợ ma như chàng.

Miễn mở đèn, nhưng vì sợ nên vẫn cẩn thận bước từng bước nhỏ, rề rà tìm chỗ để "giải quyết".

Đội của anh Giàn không dựng cầu tiêu, muốn đi đại tiện cũng phải đi ké đội bên cạnh.

Ban đầu Miễn thấy phiền phức, khuyên anh em thử dựng một cái xem.

Nào ngờ họ từ chối hết, ngay cả Sáo hiền lành cũng không chịu làm.

Về sau Miễn trổ tài phóng viên, lân la hỏi dò mọi người mới hiểu tại sao.

Năm đó, khi anh Giàn mới vào lính, phải cùng đồng đội dựng nhà cầu.

Anh không chịu, còn hùng hồn nói thế này:

- Đời tớ đây dựng đủ hai thứ rồi, dựng nhà và dựng vợ, nên tớ không dựng cầu tiêu đâu.

Thằng nào thích thì dựng đi, để tớ đây hưởng sái một thể.

Hồi xưa anh Giàn có tính ngứa đòn, hình như từng làm một dân anh chị nức tiếng trong vùng.

Trong một lần tình cờ, anh gặp được chị Thùy, một cô gái ế có tiếng đanh đá, chanh chua.

Có lẽ nhờ sức mạnh của tình yêu mà tính anh dần dịu đi, không còn ngả ngớn khó ưa như trước nữa.

Hoặc cũng có thể do nắm tay của chị Thùy quá đáng sợ.

Có điều bản tính anh đã ăn vào máu.

Lần đầu vào lính, lại còn gặp toàn đàn ông, thế là anh lại giở thói cũ.

Vốn mọi việc cũng không quá nghiêm trọng, cho tới khi anh nói những lời trên.

Những người khác nghe xong thì tức lắm, nhất là anh trung đội trưởng bấy giờ của anh Giàn.

Anh trung đội trưởng tuyên bố trước mặt cả đội rằng:

- Thằng Giàn đã nói thế thì không cần phải dựng bất cứ cái gì với những người khác nữa.

Sau này nằm ngoài lán ngủ, trời mưa thì trùm áo mà ngủ, bất kể thế nào cũng không cho vào.

Có muốn đi ngoài thì chịu khó ra xa chút, giấy cũng không được dùng.

Mấy đứa phải canh cho kỹ, nhất là những thằng có ca gác đêm.

Tôi sẽ đề cập với các B (*) khác, không cho Giàn đi nhờ bên họ luôn.

Tuy cái hình phạt này có hơi oái oăm, được cái hiệu quả khôn kể.

Sau lần đó, anh Giàn ngoan hẳn ra, làm gì cũng góp công sức đầu tiên.

Không bõ công anh Giàn thể hiện trước mặt hai người trung đội trưởng và tiểu đội trưởng, anh được phép vào lán ngủ, mỗi tội những người khác vẫn bắt anh đi ra chỗ khác để đi vệ sinh.

Các đồng đội mới cũng không thèm nể mặt anh, thà đi ké của đội khác còn hơn dựng cầu tiêu cho anh dùng.

Miễn thấy anh Giàn đáng bị như vậy, ai bảo tự dưng vạ mồm vạ miệng làm gì.

Tính ra, so với việc nhìn người khác ăn khổ từ cái miệng thì đi thêm mấy bước chân còn hời chán.

Nhưng chỉ khi đi ngày, Miễn mới thấy hời thôi.

Tay cầm đèn pin của Miễn run rẩy, ánh đèn leo lắt dẫn trước bước chân chàng, chỉ chiếu sáng được một góc nhỏ.

Đèn hơi yếu pin rồi, thỉnh thoảng chớp tắt một cái, hại Miễn cứ đi được một bước lại phải dừng một hồi.

Gió đêm vi vu, âm thanh lạo xạo dưới chân vọng lại trong quang cảnh hiu hắt.

Cành lá đong đưa, nhìn không rõ còn tưởng đó là một nhóm người đang chen chúc nhau lắc lư vẫy tay.

Miễn rọi đèn pin khắp nơi, bước đi trong nơm nớp lo sợ.

Giả như bây giờ có một con gì xuất hiện đột ngột, chắc chàng ôm tim nằm lịm luôn mất.

Chàng ngoảnh đầu nhìn xung quanh, hễ nghe ra một tiếng động nhỏ cũng phải lia đèn pin sang nhìn qua cho chắc.

Đi thêm một lúc, cuối cùng nhà cầu cũng ở trước mặt.

Miễn thở phào một hơi, định bụng cất đèn pin đi để ngồi.

Đêm nay mây dày, nếu đèn pin tắt đi thì cả không gian sẽ không khác nào một chiếc thùng khổng lồ đóng kín.

Miễn hơi lo lắng, lưỡng lự không biết có nên tắt đèn hay không.

Trong trí tưởng tượng của Miễn, bóng tối là một con quái vật khổng lồ, nó suốt ngày chỉ biết há miệng, chực chờ nhả ra những con quái vật bé hơn.

Bên trong nó chứa rất nhiều loại quái vật khác nhau, loại nào cũng có thể nhảy xồ ra hù chàng một vố, loại nào táo bạo khéo còn quắp chàng đi được luôn.

Ghê rợn nhất là mấy con ma lấy hù người làm thú vui, đơn giản vì ngoại hình chúng nó rất khó tả.

Không biết bao nhiêu lần Miễn bị trí tưởng tượng phong phú của mình làm hại, nằm mơ ác mộng về mấy con ma này rồi.

Đương khi chàng suy nghĩ lung tung, đèn pin trên tay nhấp nháy vài lần rồi tắt ngúm, hiển nhiên nó đã cạn sạch pin rồi.

Miễn nhìn bóng đêm vô ngần trước mắt, đờ người mất một lúc.

Khoảng chừng vài giây sau, chàng hốt hoảng, mặc dù đôi mắt đã kịp thích ứng với bóng đêm, chàng vẫn hết đập lại vỗ chiếc đèn pin nhỏ, hòng làm cho nó "tỉnh" thêm một lúc nữa.

Biết sao được, một mình ở chỗ tối đáng sợ lắm.

Loạt xoạt.

Miễn ngẩng phắt đầu, lo lắng nhìn quanh.

Bàn tay chàng nắm chặt chiếc đèn pin, mồ hôi túa ra.

Gió đêm vẫn thổi vù vù, cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng làm Miễn rùng mình.

Chàng ngoảnh đi ngoảnh lại mấy lần vẫn không rõ âm thanh kia phát ra từ phía nào, lòng càng hoảng loạn hơn trước.

Rì rào.

Miễn chuyển hướng nhìn sang những bóng cây, chăm chú quan sát.

Bỗng, một bóng đen hiện ra trong tầm mắt.

Bóng đen đó có hình người, khập khiễng bước đi, lưng cong xuống như đang lén lút lẩn trốn sau những bóng cây đen ngòm.

Những âm thanh vừa rồi nhất định là do thứ đó phát ra.

Miễn sợ hãi, thầm nghĩ đó là một con ma lang thang quanh quẩn chỗ này.

Chàng không ngừng liên tưởng đến mấy hình ảnh ghê rợn, lồng ngực phập phồng, cả người căng thẳng.

Miễn nhìn chằm chặp bóng đen kia, rụt rè lùi lại hai bước, sau đó không nghĩ ngợi gì mà vội vã quay lưng bỏ chạy, la toáng lên:

- Á!

Có ma!

Tiếng thét thất thanh vang lên trong đêm đen tĩnh mịch.

Không ít người giật mình tỉnh giấc, thoạt đầu hãy còn gật gù lim dim, sau đó họ lập tức lên tinh thần.

Có người nhanh chân chạy đi xem có chuyện gì, những người khác cũng ngồi thẳng dậy, duỗi cổ ra ngóng.

- Gì thế nhỉ?

Không phải địch tập kích đâu đúng không?

- Ừ, không phải đâu.

Tớ nghe láng máng cái gì mà ma miếc ấy.

- Giời ơi, ma nào nữa, tầm này ma cũng phải để người ta ngủ chứ.

Ma như vậy là thất đức lắm đấy, sau này khó đầu thai cho xem.

- Có khi anh phóng viên lại thấy con rắn trong bụi cỏ hay thằng nào khác cũng đi đêm chứ gì, tớ thuộc bài luôn rồi.

Các anh xì xào bàn tán, chỉ cho là có vụ gì đó trong nội bộ, ví dụ như anh giai phóng viên lại gặp ma.

Hồi trước cũng có mấy lần Miễn hò hét bảo có ma, dĩ nhiên chẳng có ai tin cả, chỉ khổ các anh đang ngủ mơ về người yêu (không có thật) thì bị hét cho tỉnh.

Các anh cũng bực, cũng chống nạnh than phiền rồi, nhưng bản tính sợ ma của Miễn sao nói đổi là đổi được, nên các anh lính đành phải chịu thôi.

Không lâu sau anh lính hóng chuyện trở lại, tay đút vào túi quần, thong dong về võng nằm.

Người nằm võng bên cạnh thấy thế, quay sang hỏi dò:

- Chuyện gì thế?

Người kia ngoác miệng ngáp dài, gác tay ra sau gáy, nhắm mắt trả lời:

- Chả có gì đâu.

Ông anh phóng viên ấy, kêu là gặp ma, thực ra là có thằng đào ngũ.

Mọi người xôn xao, không biết thằng cu nào bị thần kinh, ngay lúc này lại quắp dép bỏ về quê.

Thực ra không phải không có những vụ đào ngũ, chẳng qua việc đó không hay ho gì, không đáng để tuyên dương, mà cũng không bõ để bêu riếu.

Dù sao riêng việc quẳng gánh giữa chừng trên chiến trường cũng khiến người ta thất vọng lắm rồi, đâu còn sức đâu mà chê bai, chế giễu nữa.

Những người lính này nghe tin thì có tức giận, song cảm giác thất vọng và buồn bã nhiều hơn hẳn.

Mọi người đều là đồng đội, sao người đó lại nỡ bỏ họ lại.

Mặc dù ở chiến trường, mọi người lo cho bản thân còn chưa xong, khá khó khăn để lo cho đồng đội.

Thế nhưng, cả bọn đã từng cùng nói cùng cười, là đồng đội, là bạn bè, càng là chỗ dựa tinh thần khi người thân không ở bên cạnh.

Một người đột ngột rời đi, người ở lại buồn cũng đúng thôi.

Mọi người đều là người lính, sao người đó lại có thể về nhà khi đất nước vẫn còn gian nguy.

Thà rằng khi trở về, cả người mang đầy thương tích, có cái lớn có cái nhỏ.

Đau thì đau đấy, nhưng mỗi vết là một câu chuyện, cả hành trình trên chiến trường cũng đong đầy ý nghĩa, đủ để họ trở thành mấy ông cụ ba hoa về tuổi trẻ của mình.

Giờ có một người vứt lại hết thảy trách nhiệm, bảo những người khác không thất vọng sao được.

- Rồi sao, thằng đó bị tóm về rồi hả?

Một người khác hỏi.

Giọng anh chàng đều đều, bình tĩnh đến lạ.

Có lẽ anh chỉ thuận miệng hỏi vậy, dù là đáp án nào đi chăng nữa thì cũng không làm anh bất ngờ là bao.

Người lính kia mở mắt, nhìn chòng chọc vào màn đêm vô định, vẻ như là não nề, lại như là thẫn thờ.

Anh ta thở dài, đáp:

- Chứ gì nữa, thậm chí còn bị đập một trận ra trò.

- Hở?

Sao bị đánh thế?

Bọn họ không được gây gổ với nhau, điều này ai cũng biết.

Nếu đang đánh nhau mà bị thủ trưởng bắt gặp, kiểu gì cũng phải chịu kỷ luật.

Hình phạt của các thủ trưởng rất khó diễn tả, được cái ám ảnh về lâu về dài.

Do đó, nếu bọn họ muốn gây nhau, tốt nhất là cãi tay đôi một trận, đuổi nhau hai vòng, sau đó bắt tay làm hòa.

- Thiều "út tăng" lại lén đến đây, trùng hợp nghe được tiếng hét nên bắt thằng kia ngay tại trận.

Các cậu cũng biết tính Thiều mà, thằng bé chúa ghét những tên đào binh, mức độ căm thù xếp sau bọn Ngụy.

Nếu không có Sáo ngăn cản, khéo Thiều sẽ đánh gãy luôn cái chân còn lành của tên lính đào ngũ kia.

Người lính nọ kể.

Dù anh có cố gắng tỏ vẻ không quan tâm đến thế nào, cuối cùng vẫn lộ ra vẻ rầu rĩ phiền muộn.

Lúc ấy, anh tận mắt chứng kiến Thiều đè cậu lính đào ngũ xuống, tay đấm chân đá, không ngừng mắng chửi.

Những lời lẽ cay nghiệt tuôn ra từ miệng người lính trẻ, bàn tay hung tàn đánh liên tiếp lên người đối phương.

Cậu lính kia lại không né tránh, không đánh trả, cũng không giải thích lấy một lời, chỉ khóc sướt mướt chịu đòn.

Chắc đau lắm, anh nghĩ thế.

Anh để ý thấy một chân của cậu lính được quấn băng gạc trắng.

Gạc được quấn quanh cẳng chân cậu.

Hẳn vết thương trên chân đó phải to lắm, chứ không sao lại bó cả cái giò thế kia.

Trong đêm tối, màu trắng cực kỳ nổi bật, tựa như giữa một tờ giấy thấm đẫm màu đen của mực nước là một vệt trắng tinh khôi vậy.

Nhưng nay sắc trắng đã nhuốm sang đỏ, vết thương kia rách ra rồi.

Anh lính đau lòng, toan đi ra can ngăn thì có người nhanh hơn một bước, dùng hết sức ngăn cản Thiều.

Đó là Sáo.

Ngay từ lúc nghe được tiếng la của Miễn, Sáo tăng hết tốc lực chạy tới từ vị trí gác của mình.

Lối đi không đẹp đẽ gì, đã vậy trời còn tối om om, anh kịp thấy cảnh Thiều ra tay đánh người khác khi vừa đến nơi đã là nhanh nhất rồi.

Sáo không nghĩ nhiều, cứ thế bắt lấy hai cánh tay của Thiều.

Mặc cho cậu vùng vẫy, mặc cho cậu nói những lời không hay ho, anh vẫn kiên định kéo cậu rời khỏi.

Anh lính không biết chuyện xảy ra sau đó.

Chỉ biết tiểu đội trưởng của cậu kia nghe tin nên đi tới xem, quân y cũng đi theo, khiêng cậu lính trẻ kia về.

Cậu lính vẫn khóc, mặt mũi nhem nhuốc đất cát cùng nước mắt, giọng khàn khàn, nói với tiểu đội trưởng:

- Anh ơi, em sợ.

Em sợ lắm, em muốn về.

Em nhớ nhà, anh ơi, em muốn về.

Em không muốn chết, em muốn về.

Cậu lính liên tục lặp lại câu "em muốn về".

Tiểu đội trưởng không khuyên nhủ cậu lính phải ở lại hay mắng mỏ gì cả, anh vươn tay vuốt tóc cậu lính, dịu dàng nói:

- Ừ, anh biết, anh thấy được mà.

Chỉ là anh không ngờ nhóc sẽ chạy.

Sợ không có gì sai, muốn về cũng không sai, chỉ có đào ngũ là sai.

Điều này nhóc có biết không?

Đáp án quá hiển nhiên rồi.

Cậu lính trẻ gật đầu, nhỏ giọng đáp:

- Em biết ạ.

- Anh sẽ không hỏi tại sao biết mà vẫn làm.

Anh chỉ muốn hỏi, nhóc có biết đường về nhà không?

Anh tiểu đội trưởng hỏi tiếp.

Lần này cậu lính trẻ im lặng, rất lâu sau vẫn chưa mở miệng trả lời.

Cậu biết địa chỉ nhà mình ở đâu, nhưng đi hướng nào thì không rõ lắm, đã vậy cậu còn bị thương ở chân.

Cậu vẫn là lính trẻ, tuổi quân chưa được bao nhiêu, đi rừng còn chưa thành thạo thì sao dễ dàng về nhà đến thế.

Bỗng nhiên, một câu hỏi lóe lên trong đầu cậu, liệu việc đào ngũ có thể giúp cậu về nhà không?

Dường như chính tiểu đội trưởng cũng không cần câu trả lời của cậu.

Anh chọt chọt trán cậu lính, vờ trách cứ, nói:

- Thằng nhóc này, chú mày còn non lắm.

Đào ngũ chẳng những nguy hiểm, về đến nhà hay không còn phải xem chú mày có cứng không.

Nhìn èo uột thế này thì chắc có khướt mới về được.

Quan trọng là, chú mày có từng nghĩ đến chưa, khi trên lưng mình treo một cái danh "đào binh" ấy?

Cậu lính trẻ tiếp tục im lặng.

Cậu chỉ nghĩ mình muốn về, từ khi ở trận địa, cho đến khi nằm trên giường ở bệnh xá, ý nghĩ này cứ lớn dần, lớn dần.

Đến một mức độ nhất định, nó thôi thúc cậu hãy mau chóng rời khỏi đây, mau chóng về nhà.

Ngoài ra, cậu không nghĩ gì khác.

Cậu không biết đường nào dẫn về nhà mình, cậu sẽ đi như thế nào, rồi điều gì sẽ xảy ra nếu mình thành công làm đào binh.

Cậu không nghĩ gì cả.

Cậu lính trẻ xấu hổ, nghiêng đầu sang chỗ khác, không dám nhìn tiểu đội trưởng nữa.

Cậu hiểu việc mình làm là sai, nên khi bị bắt gặp, bị đánh, cậu không tránh, không đáp lại, không giải thích.

Cậu đáng bị trận đòn đó.

Mình bị bắt quả tang rồi, đây là ý nghĩ duy nhất của cậu lúc bấy giờ.

Hiện tại nghe những lời tiểu đội trưởng nói, cậu càng rõ ràng hơn mình đã ngu ngốc đến nhường nào.

Cậu liếc nhìn quần áo xộc xệch, mái tóc rối bời của tiểu đội trưởng, lòng nghẹn lại.

- Đừng sợ, có sai thì nhận thôi, sẽ không ai làm khó người biết sai đâu.

Tiểu đội trưởng tưởng cậu sợ, vỗ vai cậu an ủi.

Thực ra cậu không còn sợ nữa, phạt gì cậu cũng chịu, cậu đã sẵn sàng rồi.

Chỉ là khi thấy tiểu đội trưởng như này, cậu mới biết mình không một mình, cũng như khoảnh khắc ở trên chiến trường ấy, cậu không hề bị bỏ mặc chút nào.

Cậu bị lạc mất đồng đội, hoảng loạn nhìn khung cảnh rực cháy.

Không khí ngột ngạt, quanh mũi là mùi súng đạn, mùi mồ hôi và máu.

Cậu run rẩy cất bước, chốc chốc tiếng pháo lại vang lên bên cạnh làm cậu càng hoảng hơn.

Có người khác bước tới, nói gì đó mà cậu không còn nhớ nữa, hình như là kêu cậu đừng sợ.

Rồi một người khác cũng tới, dìu cậu đi.

Nay tiểu đội trưởng cũng bảo cậu đừng sợ.

Những anh khác trong đội vội tới hỏi han, không ai mắng cậu hết.

Cậu lính hít mũi, lấy hết can đảm, hỏi tiểu đội trưởng:

- Anh không giận em sao?

Tiểu đội trưởng lườm cậu, hằm hè nói:

- Có chứ.

Đợi chừng nào chú mày khỏe thì anh đây sẽ tính sổ cả thể.

Cậu lính nhoẻn cười, lộ ra hàm răng trắng bóc.

Cậu nói, đáy mắt đỏ hoe:

- Anh ơi, em xin lỗi.

Em xin lỗi, rất nhiều.

***

Chú thích:

(*) B là cách viết tắt của trung đội.

Tác giả tám nhảm: Cảm hứng của chương bắt nguồn từ vụ đào ngũ tập thể được viết trong "Hồi ức lính".

Tâm trạng, hành động cùng lời nói của các nhân vật là suy nghĩ của tôi về vấn đề này, có thể đúng, có thể sai.

Với tôi, sẽ có những người như Thiều, giận điên lên, đến mức đánh người.

Cũng có người như anh lính hóng chuyện và các bạn của anh ấy, buồn bã cùng thất vọng là nhiều.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 9: Hạ


- Anh Sáo, anh bỏ em ra!

Thiều giãy dụa kịch liệt, không ít lần giằng ra khỏi đôi tay đang túm chặt mình của Sáo.

Sáo cũng không chịu thua, kéo tay không nổi thì quay sang kéo áo Thiều, nhất quyết không cho Thiều đi.

Đừng nhìn hai người lính bọn anh đều gầy rộc người, trông không khác mấy thư sinh tay trói gà không chặt, thực chất các anh đều khỏe như voi, nhất là cậu Thiều "út tăng" thì khỏe thôi rồi.

Cậu là một tay lính nạp đạn, mà đạn này là đạn pháo của xe tăng, mỗi viên đều vừa to vừa nặng.

Cả xe chỉ có mình cậu là người nạp đạn, trận chiến diễn ra bao lâu thì có thể cậu cũng phải nạp đạn bấy lâu.

Riết rồi lực tay của cậu cũng đáng gờm, so ra thì cái bắp tay của anh Lơn chẳng là cái đinh gì với cậu đâu.

Sáo có hơi quá sức để giữ Thiều, đặc biệt là khi Thiều đang tức đến điên người.

Dưới màn đêm mịt mùng, Sáo không thể nhìn rõ sắc mặt của Thiều, nhưng thông qua âm thanh vải áo bị xé toạc cùng tiếng nghiến răng kèn kẹt, anh đoán chắc hiện giờ mặt cậu đỏ gay, mắt trợn lên vì giận dữ.

Nếu kéo nữa thì áo sẽ rách hoàn toàn.

Tuy các anh có thể tự vá lại, dù không đẹp lắm, song rách áo cũng không phải chuyện vui gì, mà mặc áo rách bươm đi long nhong giữa đêm càng không phải chuyện hay.

Sáo thở dài, chỉ đành thả tay ra.

Thiều nhân cơ hội này chạy mấy bước, hòng quay lại chỗ cũ để tiếp tục đánh người.

Sáo biết ý đồ của cậu, lập tức chạy nhanh lên đằng trước chặn lại.

- Khôn hồn thì không được qua đó nữa!

Chú muốn lên Tòa án binh à!

Anh đanh giọng nói.

Nếu là bình thường, có lẽ lúc này Thiều sẽ nơm nớp mà ngồi xổm xuống, cậu không muốn bị Sáo mắng chút nào.

Có điều, bây giờ Thiều lại đang giận đến mất khôn.

Cậu không chỉ không cảm thấy lo sợ, mà còn đẩy ngã Sáo một cách thô lỗ.

Thiều tiếp tục chạy, đầu không buồn ngoảnh, chỉ lớn tiếng để lại một câu.

- Em phải đánh nó, nhất định phải đánh nó!

Sáo bực mình.

Thiều cứ như bị cái gì kích thích, cố chấp đòi đánh người làm anh khổ não không thôi.

Anh chống tay đứng dậy, mau chóng đuổi theo bắt kịp Thiều.

Thôi thì rách áo chứ làm quái gì còn hậu quả nào tốt hơn, nghĩ thế, anh vươn tay tóm lấy cổ áo Thiều, kéo ngược cậu trở lại.

Thiều thét lên, tay chân vùng vẫy không ngừng, mà vết rách của chiếc áo lại càng ngày càng lớn.

Sáo có hơi mệt rồi, cả tai cả mắt đều thấy lưng áo của Thiều sắp thật sự hỏng đến nơi, anh chỉ còn cách vật Thiều ra đất mà giữ.

Nghĩ là làm, anh kéo ngã Thiều, sau đó đè người xuống, dùng tay ghì cậu thật chặt.

- Thiều, bình tĩnh lại đi!

Sáo thở hồng hộc.

Tuy tuổi anh và Thiều cũng xêm xêm nhau, anh chỉ hơn Thiều có ba, bốn tuổi chứ mấy, nhưng sức Thiều đúng như lời đồn, hại anh khổ không sao kể xiết.

Sáo lấy làm lạ, bình thường Thiều ngoan lắm mà, chí ít trước mặt anh là vậy.

Hiện tại anh có nói gì cậu cũng không nghe, cứ như nước đổ lá khoai.

Thiều giãy thêm một lúc, cho đến khi càng giãy càng thấy khó chịu thì mới thôi.

Dường như chính sự khó chịu này làm Thiều tỉnh táo hơn đôi chút.

Cậu lặng yên ngước mắt nhìn trời, đôi con ngươi đen như đêm trên đỉnh đầu, vô ngần vô tận, tựa như sâu bên trong chỉ là hư vô mờ mịt, lại tựa như cất chứa một ngọn lửa đang cháy âm ỉ, mãi vẫn chưa chịu lụi tàn.

Thiều nằm im rồi, Sáo hãy còn lo xa, tiếp tục ghìm cậu dưới đất, dù chính anh cũng không mấy dễ chịu.

Buổi đêm tĩnh lặng như trước, mọi người đều quay về ngủ hết rồi, có nghe thấy âm thanh lạ cũng sẽ không ra ngó nữa, trừ phi là tiếng báo động có địch tấn công.

Mãi chưa thấy Sáo định nói gì, Thiều mở lời trước.

Giọng nói của cậu nào còn vui tươi giống ngày thường, cậu cũng không gầm lên giận dữ như vừa rồi, giờ chỉ còn lại sự bình tĩnh cùng với chút gì đó khinh thường và giễu cợt:

- Anh Sáo, sao anh có thể mặc kệ nó được chứ?

Nó đào ngũ, với em nó chẳng khác nào bọn Ngụy cả.

À, khéo chính bản thân nó là Ngụy luôn ấy chứ.

Sáo khó hiểu:

- Sao chú lại nghĩ như thế?

Không phải đâu, anh quen đội bên đó, cậu nhóc kia chỉ có gan bé thôi chứ làm gì còn lòng dạ khác.

Gan bé?

Lá gan kia phải bé đến mức nào để có thể đào ngũ vậy?

Thiều không biết, chỉ là trong khoảnh khắc Sáo nói ra câu đó, một đoạn ký ức cũ bị giấu kín chợt hiện ra.

Ngày đó, khi một nhóm người dám quay lưng mà đi nào đó trở thành nhân vật chính của một cuộc bàn tán, cũng là khi chiến tranh cướp đi hết tất cả của Thiều.

Thiều nhắm chặt mắt, tay siết lại.

Cậu không muốn nhớ về hồi đó, không hề chút nào cả.

Nhưng dẫu cậu có muốn làm ngơ thế nào đi chăng nữa, khung cảnh ngày ấy vẫn không thể tan biến.

Những lời nói, những hành động đó không ngừng lặp đi lặp lại.

Chúng nó ám ảnh Thiều đã từng ấy năm, cậu đinh ninh cho rằng bản thân rồi sẽ quen thôi, chẳng ngờ cậu vẫn như cũ, vẫn nhói đau rồi trốn tránh.

Linh hồn cậu như bị xé thành từng mảnh, cơn đau khiến cậu muốn phát điên lên.

Cậu bỏ trốn giữa dòng chảy ký ức, tìm mọi cách để tìm một chỗ dựa thật vững chãi, một bức tường thành có thể bảo bọc cậu.

- Ê này, mọi người nghe được gì chưa?

Ở một đơn vị nọ, có vụ đào ngũ tập thể đó.

Thiều muốn bịt tai lại, song không thể.

Sáo ghìm cậu quá chặt, cậu chỉ có thể động đậy giãy dụa chứ không cách nào làm động tác như bịt tai được.

Cậu bị buộc phải nghe lại những câu nói đó, phải quay trở về ngày hôm đó.

Thiều muốn hét lên, và cậu làm thế thật.

Cậu hét rất lớn, hét để át hết tất cả những âm thanh trong đầu.

Chỉ là, hành động này không hiệu quả lắm thì phải.

- Cơ mà xui rủi thế nào, vụ này bị phát hiện bởi một tay tân binh.

Mà những người đào ngũ là lính "già", thấy bảo lý do đào ngũ là không chịu nổi cái cảnh sống trên chiến trường "nay sống mai chết" nữa.

Với kinh nghiệm của bọn họ thì dĩ nhiên họ thoát được tân binh rồi.

Chẳng qua cu cậu tân binh cũng nhọ, đang đuổi theo thì đụng phải ba thằng giặc đi lạc, rồi... hầy...

Vẫn còn một cái may là vị trí đóng quân chưa bị lộ.

Quanh đi quẩn lại bên tai vẫn là những câu ấy, cái giọng ấy.

Cậu biết giọng nói đó, là Lữ.

Lữ và anh trưởng đều thích tám nhảm, bốn thằng cùng ngồi tán dóc mà chỉ có hai người này là nói nhiều nhất.

Thiều vốn thấy bình thường thôi, nghe hàng ngày còn thấy vui vui, chẳng qua bây giờ, mỗi lần Lữ mở miệng nói chuyện, Thiều sẽ tự động nghe tai này lọt tai kia, làm ngơ những gì Lữ nói.

Không phải cậu ghét Lữ, cậu biết, cậu chỉ không muốn nghe giọng của Lữ mà thôi.

Bởi mỗi lần nghe giọng của Lữ, cậu lại nhớ đến cách người kia ra đi như thế nào, cách mà Lữ thuật lại vụ việc ngày đó ra sao.

Cơ mà ngay lúc này, Thiều vẫn phải nghe tiếp, nghe cho hết.

Cậu không còn dừng lại ở những tiếng hét nữa, thay vào đó, cậu hô lên, phản bác lại những gì mà Lữ trong ký ức đã nói:

- Không phải!

Sáo chẳng hiểu ra làm sao, từ lúc Thiều bắt đầu la hét là anh đã không biết có chuyện gì xảy ra với Thiều rồi.

Anh cho rằng cậu bị đau hoặc thấy khó chịu nên buông lỏng tay ra, lăn sang một bên để Thiều có thể thoải mái hơn.

Anh quan tâm hỏi:

- Thiều, sao thế?

Có chuyện gì thế?

Khó chịu ở đâu à?

Nói anh nghe xem nào.

Thiều không đáp lời anh.

Căn bản cậu không nghe được anh nói gì, cậu còn đang bị mắc kẹt trong những ký ức nọ.

Thậm chí, cậu nghe thấy giọng của mình, nghe được bản thân bâng quơ:

- Kể ra ai cũng lờ mờ biết rồi sẽ xuất hiện một hai vụ đào ngũ, chỉ không ngờ lại có trường hợp như kia.

Cũng tội anh cu tân binh phết đấy.

Một dòng nước lăn dài từ khóe mắt, Thiều nức nở khóc.

Tinh thần cậu gần như sụp đổ, đáy lòng nhói đau, rỉ máu từng chút một.

Thiều oằn mình nằm nghiêng, nghẹn ngào lẩm bẩm:

- Không phải mà...

Đêm tĩnh lặng, bất kỳ âm thanh nào đều như được gắn thêm một cái loa phát thanh, cho dù là tiếng lẩm bẩm cũng có thể nghe được láng máng.

Sáo kinh ngạc, anh lật đật đi tới bên cạnh Thiều, ngồi xuống, lay lay cậu:

- Thiều, sao thế Thiều?

Lần này Thiều đã nghe được tiếng của Sáo.

Cậu sững sờ một hồi, đến khi Sáo lặp lại câu hỏi mới lấy lại tinh thần.

Thiều gạt tay của Sáo ra, cọc cằn gằn giọng:

- Em chả sao cả, đừng chạm vào em!

Rồi cậu đứng lên, quay người bỏ đi.

Nhìn hướng đi của cậu, có lẽ cậu định trở về vị trí của bên xe tăng.

Sáo thầm thở phào, chỉ cần không đòi đi đánh người khác là anh yên tâm rồi.

Dõi mắt nhìn theo bóng Thiều khuất dần trong đêm, Sáo cũng đứng dậy, lấy đồng hồ ra xem giờ.

Vẫn chưa hết ca gác, anh cần phải nhanh chóng về vị trí, không thì sẽ bị mắng mất.

Sáo quay sang nhìn qua hướng Thiều rời đi, thầm nhủ nếu có dịp thì lại hỏi thăm vậy.

Thiều đi chưa được bao xa, bất chợt có hai người lao nhanh về phía cậu, trông rất gấp gáp.

Bọn họ nhác thấy có bóng người ở phía đối diện nên vội vàng vọt tới.

Thiều toan tránh đi chỗ khác, hiện giờ cậu không muốn dây dưa lằng nhằng với người khác.

Một người trong số đó bỗng nhiên chạy tới trước mặt Thiều, là anh trưởng Niên đang đi tìm Thiều.

Niên cũng nhận ra Thiều, chàng ta mừng húm ra mặt.

Nhóm bọn họ đợi cả đêm vẫn chưa thấy Thiều về, dù biết cậu đi đâu thì cũng vẫn lo lắng nên Niên dẫn theo Đảo cùng nhau lén lút đi gọi Thiều về.

- Thiều đây rồi, mau mau về thôi kẻo muộn giờ.

Niên hào hứng nói.

Chàng ủn ủn Thiều, cậu cũng không phụ lòng mà rề rà cất bước.

Nãy giờ cậu vẫn giữ im lặng, Đảo thấy là lạ, hỏi thăm:

- Có vấn đề gì không Thiều, sao cậu im thế?

Ngày trước, cái lúc mà bọn họ mới quen nhau, Thiều cũng ít nói thế này.

Thiều tự nhận bản thân là kiểu người hướng nội, chỉ thoải mái với những người thân thiết nên ba người còn lại cũng thông cảm cho.

Sau những ngày tháng cùng sống và chiến đấu, Thiều dần mở lòng hơn với bọn họ, cậu cũng chen vào đôi ba câu khi cả nhóm nói chuyện phiếm.

Chỉ cho tới khoảng hai năm gần đây, Thiều đột nhiên xa cách với họ hơn hẳn.

Tuy cậu có giao tiếp với bọn họ, nhưng Đảo và cả Niên, Lữ đều nhận thấy cậu nói ít đi rất nhiều.

Cả ba rất lo lắng, lặng lẽ quan sát Thiều từ phía sau.

Rõ ràng vẫn là người đó, hành động đó, lối sống đó, không hiểu sao bọn họ lại cảm nhận được có đám mây âm u trên đỉnh đầu Thiều, lúc nào cũng có thể có cơn giông, rồi lại chỉ toàn sấm chớp và gió giật.

Bọn họ tìm đủ cách để Thiều vui, vui thì cũng có, cơ mà là vui cho có thì đúng hơn.

Gần đây Thiều qua lại với một đại đội bộ binh, cảm xúc của cậu cũng tốt lên trông thấy.

Ba người đều thấy hết, thầm mừng thay cho Thiều nên mới mắt nhắm mắt mở, bao che để cậu đi chơi.

Thế nhưng mấy ngày này cậu lại về với dáng vẻ "mây âm u sắp mưa mà không mưa" trước kia.

Niên đắn đo một lúc lâu, vẫn quyết định khuyên cậu đi tìm đại đội bộ binh chơi, đến muộn thì sẽ gọi cậu về.

Thiều đồng ý.

Những tưởng khi đón cậu, Niên và Đảo sẽ thấy cậu tươi tỉnh hơn chút, cuối cùng trông cậu còn xụ mặt không vui, có lẽ gió giật lên đến cấp mười rồi.

- Không sao, mấy cậu đừng lo.

Thiều nhẹ giọng đáp, sau đó đi thẳng, mặc kệ hai người còn lại ở phía sau.

Niên vươn tay định bảo cậu chờ họ chút, lại bị Đảo ngăn lại.

Đảo nói:

- Đừng, cậu ấy đang khó chịu.

Niên nghe vậy, buông thõng tay, khe khẽ thở dài.

Rốt cuộc, tại sao bạn của bọn họ lại thành thế này, mà lâu vậy rồi, bọn họ vẫn chưa thể thay đổi được tình hình.

***

Đầu tháng tư, trời mưa đến chừng mùng sáu mới dứt hẳn.

Đợt một chiến dịch vẫn chưa kết thúc, không ít tin thắng lợi truyền về, bên cạnh đó cũng có những hạn chế cùng thiếu sót trong các đơn vị.

Tuy vậy, các nơi vẫn chuẩn bị kỹ càng cho những trận đánh cam go tiếp theo.

Địch điều thêm quân, chia ra giữ ở những điểm còn có thể giữ được.

Chúng bắt đầu chuyển sang phòng thủ, ngăn cản quân ta tiến công, có vẻ chúng nó đã nhận thấy nguy cơ bị tiêu diệt và mất Trị - Thiên Huế.

Tuy nhiên, hành động kéo quân đến chiến trường Trị - Thiên của chúng đã dẫn tới những đợt tấn công mạnh hơn của quân ta ở chiến trường miền Nam.

Ngày 6 tháng 4 năm 1972, địch tăng cường máy bay tấn công lên miền Bắc.

Khoảng chừng vài trăm chiếc máy bay thay phiên xuất hiện trên bầu trời Bắc Bộ và Quảng Trị.

Những con chim sắt thoắt ẩn thoắt hiện sau những tầng mây, chớp thời cơ bổ nhào xuống, cắt bom.

Hiển nhiên chúng muốn chặn tiếp tế từ Bắc vào Nam và cố thể hiện lại "phong độ" của mình sau những trận thua đau ở Nam Bộ.

Không may cho chúng, trong số trăm chiếc máy bay kia cũng phải có chục chiếc bị bắn rơi ở ngoài Bắc và bảy chiếc rơi ở Quảng Trị.

Dẫu vậy thì địch sẽ không chịu bỏ cuộc, rất có khả năng không quân sẽ tiếp tục tấn công lên Bắc.

Trước tình hình địch đang tăng cường quân lực ở Trị - Thiên, có thể xảy ra hai trường hợp.

Thứ nhất, nếu quân ta đánh mạnh, giành được nhiều trận thắng một cách nhanh chóng, đánh cho địch trở tay không kịp trong thời gian ngắn, giải phóng được toàn bộ Quảng Trị và sau đó là Thừa Thiên – Huế.

Đây được coi là trường hợp tốt nhất.

Trường hợp thứ hai, nếu quân ta đánh chưa được tốt, không có đủ điều kiện để giải phóng Trị - Thiên thì chí ít cũng phải giải phóng Quảng Trị, biến đó làm bàn đạp để tiến tới Thừa Thiên – Huế. (1)

***

Ngày 4 tháng 4 năm 1972.

Mưa.

Toàn bộ trung đoàn 36 (2) bị bao trùm bởi một bầu không khí ảm đạm.

Trung đoàn trưởng và chính ủy bị trúng cùng một đạn pháo của địch ở bờ sông Cam Lộ.

Trung đoàn trưởng bị thương nặng, chính ủy không may không qua khỏi.

Sau đó, trung đoàn trưởng cũng hi sinh trên đường trở về. (3)

Cùng một lúc mất đi hai cán bộ trung đoàn, dù là ai thì tất cảm thấy bàng hoàng.

Sáo cũng không ngoại lệ.

Khi hay tin từ chỗ anh Giàn, lúc đầu Sáo ngỡ ngàng, rồi không tin, cuối cùng mới chậm rãi chấp nhận sự thật này.

Cán bộ cấp trên là những người dẫn dắt, chỉ huy, như ngày xưa chắc cũng phải gọi là tướng quân.

Mà một khi không còn vị tướng dẫn đầu, không sớm thì muộn cả đám lính nhãi nhép sẽ phải tan đàn xẻ nghé.

Dĩ nhiên bên trên sẽ sớm cử cán bộ mới tới, có điều là ai thì cũng không biết nữa.

- Bọn nó bắn ác thật.

Sau trận chiến hôm nay, anh Lơn uể oải ngồi bệt xuống đất, dùng vai áo lấm lem khói súng quẹt đầy lên mặt.

Nhìn cái mặt tròn tròn nhem nhuốc, Năng nhăn mày, chửi đổng một trận rồi mới bắt anh phải dùng mặt trong của áo để lau.

Lơn khó chịu ra mặt, song chẳng dám cãi cọ gì, đành cởi áo ra.

Đúng lúc này, anh Giàn đi tới, dặn dò cả bọn:

- Mình đang đánh đến Đông Hà rồi đấy, chắc kèo chúng nó sẽ bắn căng.

Mấy đứa cố phối hợp với xe tăng, nghe theo chỉ huy, chứ giờ cả đám chúng mình bị chê là đánh không ra gì đấy.

Sĩ khoanh chân ngồi cạnh Năng, nghe anh Giàn nói xong thì hỏi:

- Sao bị chê thế anh?

Anh Giàn tặc lưỡi, kêu ca:

- Cũng tại người mình chủ quan, kém khoản tùy cơ ứng biến nên cứ gặp phải tình huống lạ là không biết xử lý đấy thây.

Sáo nói:

- Về cơ bản thì chủ quan là nhược điểm của quân mình rồi.

Anh Giàn gật đầu tán đồng, lại hỏi bọn họ còn gì muốn nói nữa không.

Lơn đột nhiên giơ tay lên, ra chiều có điều muốn hỏi.

Anh Giàn thấy thế, trỏ vào Lơn, bảo anh mau đặt câu hỏi.

Lơn cười hềnh hệch, gãi gãi đầu, chần chừ mãi mới nói:

- "Tùy cơ ứng biến" là gì thế anh?

Anh Giàn liếc sang Sĩ, Sĩ cười cười, từ tốn giải thích cho Lơn nghe.

Anh Lơn gật gà gật gù, không biết có hiểu gì không nữa, dù sao học vấn của anh cũng khá thấp.

Cũng may anh không phải người cọc tính, nếu không cả nhóm sẽ phải lắng tai nghe mấy câu chửi tục tĩu suốt ngày, chứ không có kiểu (khá) nhẹ nhàng và (chắc là có) văn hóa giống Năng đâu.

***

- Nếu còn cơ hội, tớ sẽ kể cho các cậu nghe.

Ngày mùng 9 ấy, lửa rực chạm trời, hằn in trong đáy mắt người chiến sĩ.

Bốn người nắm chặt tay nhau, mồ hôi ướt đẫm, trơn tuột, ấy thế mà chẳng ai chịu bỏ ra cả.

Nụ cười vẫn đọng trên môi, chỉ là gương mặt họ đã trắng bệch vì mệt mỏi cùng đau nhức.

Lời nói của người trai trẻ tan vào trong đám lửa.

Thêm một phát đạn từ pháo xe tăng địch, tiếng nổ vang nhức óc, xe tăng hoàn toàn bốc cháy, ngọn lửa tựa như phát khùng mà cắn nuốt toàn bộ chiếc xe, nuốt cả bốn bóng người trong đó.

Lửa thiêu đốt từng tấc da thịt, bỏng rát, đau đến tận tâm can.

Bốn người nghiến răng nhẫn nhịn, bàn tay vẫn không rời bỏ bạn mình.

Họ nhìn nhau lần cuối, nở một nụ cười khó nhìn đến ma cũng phải chê.

Để rồi đến sau cùng, họ nhắm mắt lại, cùng nhau bỏ mình nơi biển lửa.

Buổi tối, đạn pháo tạm ngừng, trả lại một khoảng lặng hiếm hoi cho những người lính.

Sáo mệt mỏi thở dài, chưa kịp ngả lưng nghỉ ngơi một chặp đã thấy Lơn hốt hoảng chạy lại, trông như đang rất gấp.

Lơn dừng không kịp, cứ thế đâm thẳng vào Sáo, làm anh ngã ngồi xuống đất.

Anh chỉ vừa kêu đau một tiếng, Lơn ngay lập tức nắm lấy vai anh, lắc mạnh, vừa lắc vừa nghẹn ngào:

- Sáo ơi, bé út, "út tăng" của chúng mình, thằng bé hi sinh rồi...

Sáo ngơ ngác, tròn mắt nhìn Lơn.

Anh cho rằng mình mệt quá nên bị lãng tai rồi.

Sao có thể chứ, anh vừa gặp Thiều mấy hôm trước mà, còn vật lộn với cậu ấy nữa.

Một thanh niên có sức khoẻ ngang con trâu đực như Thiều sao có thể ra đi sớm vậy được?

Ấy chưa kể Thiều còn là một chiến sĩ trong xe tăng.

Xe tăng cứng cáp như thế mà...

Thế nhưng đôi mắt anh Lơn đỏ hoe, rất hiếm khi nào thấy anh như này.

Sáo bần thần, sống mũi cay cay.

Một lúc lâu sau, anh lắp bắp hỏi, dường như vẫn không thể tin tưởng được:

- Thật... thật không?

Thiều thật sự...

đã...?

Anh không dám nói lên từ đó.

Anh nhìn vào mắt Lơn, muốn bảo anh Lơn ít nói xạo đi, bớt diễn lại đi, rồi lại mím môi không nói gì.

Sáo thẫn thờ nhớ lại những khoảnh khắc ở chung với Thiều, không nhiều lắm, mà cũng không đủ.

***

Chú thích:

(1) Thông tin được tham khảo từ "Nhật ký Quảng Trị 1972" của Lê Quang Đạo.

(2) Trung đoàn 36: Hay còn gọi là trung đoàn Bắc Bắc, trực thuộc sư đoàn 308.

(3) Thông tin này cũng được tham khảo từ "Nhật ký Quảng Trị 1972" của Lê Quang Đạo.

Tác giả tám nhảm: Phần Hạ sắp kết thúc rồi, nội dung của phần Cháy sẽ khá nặng nề, đề nghị mọi người cân nhắc trước khi đọc tiếp.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 10: Hạ - Mùa hạ trên chiến trường


Trên chiến trường, xe tăng có thể coi như là lực lượng xung phong tuyến đầu.

Sau những đợt bắn pháo mở màn trận chiến, xe tăng sẽ tấn công đằng trước, mở đường cho bộ binh ở phía sau.

Xe tăng vừa công vừa thủ, thật không khác gì những chú voi chiến bằng sắt thép.

Do đó, xe tăng luôn là mục tiêu đầu tiên của địch, hỏa lực từ pháo và vũ khí chống tăng thường xuyên nhắm thẳng xe tăng mà bắn.

Mấy món này không phải dạng vừa, pháo địch bắn tới tấp, những đường đạn kia phải nói là "xảo quyệt" hết sức.

Mà những thứ này hiển nhiên không phải đồ chơi của nhóm trẻ ranh ngoài đường, nhất là tên lửa chống tăng.

Cái tên của nó nói lên tất cả, tên lửa chống tăng (còn gọi là pháo tự hành chống tăng) là loại vũ khí dùng để chống lại xe tăng và các xe thiết giáp hạng nặng.

Nếu như xe tăng được phát triển và nâng cấp liên tục thì tên lửa chống tăng cũng vậy.

Dẫu sao thì trên đời này, cái gì cũng có khắc tinh của nó.

Hiển nhiên Thiều và các thành viên khác của xe tăng đều là những kẻ đã quá quen mặt với "đối thủ truyền kiếp" - tên lửa chống tăng.

Không ít lần bọn họ gặp phải tình cảnh nguy cấp khi bị cả một dàn pháo và tên lửa chống tăng bao vây, trên đầu còn có vài chiếc máy bay ném bom.

Mỗi lần đánh xong trận như này, Niên đều mệt bở hơi tai, vỗ vỗ ngực mình, nói:

- Hú hồn hú vía.

Cứ đà lày thì trước khi bị tên nửa chống tăng bắn trúng, tớ đã bị ló dọa cho linh hồn nắc nư bay khỏi xác rồi.

Nhiều lúc Thiều cũng phải tự nhủ, chắc lúc đó số phải đỏ chóe mắt người thì cả bọn mới thoát chết trong gang tấc, chứ với cái kiểu rảnh hơi thì hú hét của anh trưởng và kỹ năng lái xe "điệu nghệ" hết chỗ nói của Đảo thì sao thoát được màn mưa đạn kia.

Trước kia, có đôi khi Lữ sẽ kéo Thiều ra một góc riêng, chụm đầu với nhau, rủ rỉ nói xấu hai người còn lại.

Hai tên pháo thủ, nghe gì bắn nấy, chỉ là hơi sợ xe tăng rung lắc mạnh và tiếng hò hét thất thường của trưởng xe.

Thành thật mà nói, không mấy ai thích cái cảm giác đang tập trung thì bị giật mình và buộc phải nghiêng người theo quán tính đâu.

Lữ còn từng than thở:

- Rồi xong hai đứa mình, có đi sớm thì cũng chả ngạc nhiên mấy.

Lâu rồi cũng quen, tầm này cả Lữ và Thiều đều đã rèn được tuyệt kỹ.

Mặc cho tên trưởng xe có hú hét như thế nào, hay tên lái xe múa tay bẻ lái ra sao, hai tên pháo thủ vẫn làm việc cá nhân như cũ, bắn pháo thì cứ bắn, nạp đạn thì cứ nạp, chẳng ảnh hưởng gì nhiều.

Kể ra, trong xe có Niên như một chiếc loa báo động và cái phong cách lái xe bất chấp tất cả của Đảo thì khả năng thành công chạy thoát của họ khá cao, ít nhất trong lòng Thiều là như vậy.

Thiều đinh ninh, chắc các trận tiếp theo họ vẫn có thể trở về, thể nào khi chiến tranh kết thúc, cả thảy bốn người bọn họ cũng được vẹn nguyên về nhà.

Không phải Thiều tự tin hay gì, cậu chỉ đặt toàn bộ niềm tin của mình vào ba người đồng đội bên cạnh mà thôi.

Có anh trưởng Niên, bên ngoài có cái gì, người bên trong biết hết.

Có pháo thủ Lữ, dù chưa chắc bắn phát nào trúng phát đó, ít nhất xe bọn họ vẫn góp công phá vỡ phòng tuyến địch.

Có lái xe Đảo, nguy hiểm cách mấy thì cả bọn vẫn chạy thoát được.

Chỉ có mỗi mình Thiều...

Đôi lúc, Thiều không biết cậu ở đây làm gì nữa.

Cậu như lạc lõng vào một cõi vô định nào đó, lặng thầm sống cho qua ngày, đến được ngày nào hay ngày nấy.

Cậu vẫn là một anh lính nạp đạn, lâu lâu thì lên dùng súng máy, chẳng qua sau đó cậu là gì, Thiều cũng không rõ.

Cậu thấy mình thật thừa, cuộc sống của cậu thì vô vị vô cùng.

Thiều đạt được ước mơ của mình thì sao chứ, nó cũng chẳng phải người.

Thiều bị chính suy nghĩ của mình ảnh hưởng rất nhiều, con người cậu cứ thích miên man nghĩ ngợi thế đấy.

Nhất là sau sự kiện lần đó, Thiều lại thu hẹp mình lần nữa.

Cậu đã vô tình đẩy ba người đồng đội ra xa, để lại một mình cậu trong cái góc ọp ẹp của xe tăng cùng chiếc hộp đạn và một cái bóng mờ mờ của ai đó.

***

Ngày 9 tháng 4 năm 1972.

Bốn giờ sáng.

Trời còn hơi mờ, xa xa thấp thoáng chút ban mai.

Những người lính tăng - thiết giáp thức giấc từ sớm, nay đang sôi nổi chuyện trò, vận động cơ thể giữ sức khỏe.

Thiều đứng đợi bên cạnh, lẳng lặng nghe ba người đồng đội nói chuyện.

Hôm nay bọn họ sẽ đánh hướng Đông Hà.

- Nần này sẽ có hai C (1) xe tăng cùng tấn công với E36 và E102 (2) của F308, chưa đến nượt bọn mình lên cứ bình tĩnh đi.

Niên khoanh tay nói.

Chàng ta có vẻ thong thả đáo để, chắc do bọn họ chưa cần ra trận nên vậy.

Đảo không nói gì, nom không quan tâm hôm nay làm gì.

Lữ lại hỏi:

- Anh trưởng biết họ tấn công chỗ nào không?

Niên đáp:

- Hình như nà mấy điểm cao phía Tây Đông Hà, điểm nào thì quên rồi.

Lữ bĩu môi, ai mà chẳng biết đánh ở Tây Đông Hà, cái cậu muốn hỏi là địa điểm cụ thể để cậu kịp hóng hớt cho ngày này bớt chán.

Giờ thì hay rồi, hỏi cũng như không vậy.

Lữ bực mình phồng má, quay sang nhìn hai người còn lại.

Đảo duỗi người, đánh một cái ngáp rồi mới chậm rãi lắc đầu.

Thiều ngoảnh mặt sang chỗ khác, chăm chú nhìn vào những chiếc xe tăng xếp thành hàng, nói:

- Tớ chỉ nhớ điểm cao 35 gì đó, những chỗ khác không nhớ lắm.

Lữ cười toe toét, sáp lại ôm vai Thiều.

Cậu chàng hí hửng:

- Ây dà, nhớ một điểm là tốt rồi.

Tớ nghe được cái gì đều kể cho cậu hết luôn.

Thiều cứ yên tâm đi, bao sống động, bao đặc sắc nhé.

Thiều mím môi, gật gật đầu đáp ứng.

Cậu không mong chờ được nghe Lữ kể chuyện cho lắm, cứ gật đầu cho có trước thôi.

Lữ và Niên lại mỗi người một câu, trò chuyện đến quên cả trời đất.

Đảo lim dim nghe hai người họ tán gẫu, không biết có vào tai được câu nào không.

Thiều chần chừ một lúc, sau đó gạt nhẹ tay Lữ xuống.

Thấy Lữ có vẻ bất ngờ nhìn mình, Thiều nói:

- Tớ hơi mỏi người, đi ra kia hít thở chút đã.

Nói rồi, cậu không chờ Lữ đáp lời mà cứ thế rời đi.

Lữ nghiêng đầu, không biết Thiều lại làm sao.

Cậu rầu rĩ nói với hai người còn lại:

- Không biết hai người để ý không, hai năm nay Thiều đều tránh tớ.

Đảo đã tỉnh ngủ hơn chút rồi, cậu dụi dụi mắt, cũng nói:

- Cả ba đứa đều bị tránh cả, không phải chỉ mình cậu thôi đâu.

Lữ phiền muộn lắc đầu, thở dài:

- Không giống nhau.

Ít ra Thiều còn nói đôi ba câu với các cậu, với tớ á, cậu ấy như thể sợ phải nói thêm câu nữa ấy chứ.

Niên mở miệng an ủi Lữ, thấy cậu ỉu xìu gục đầu thì cũng buồn.

Chàng gõ đầu mình cân nhắc một hồi, thử gợi ý:

- Hai lăm rồi mà ba đứa mình chưa nàm được trò gì, chẳng bằng hôm lày hỏi nuôn một thể đi, đằng lào chả rảnh.

Đảo chau mày tỏ vẻ không đồng ý.

Cậu nói:

- Có hỏi cũng chẳng được gì, hoặc Thiều sẽ trốn, hoặc cậu ấy sẽ đáp qua loa để qua mặt cả ba thằng đấy.

Cậu ấy không muốn nói thì thôi, mình cứ ở cùng cậu ấy là được rồi.

Hai năm qua đã thế, thêm hai năm, năm năm cũng chẳng hề gì.

Rồi cũng tự cậu ấy nói ra thôi.

- Cậu nạc quan ghê nhỉ.

Đâu phải cậu không biết, Thiều đã không muốn lói thì đời nào cậu ấy chịu lói ra.

- Niên buồn bực giậm chân.

- Chuyện của Thiều chỉ mình Thiều rõ, chắc bạn thân của cậu ấy cũng biết chun chút, cơ mà nghe đâu anh bạn lày hi sinh rồi.

Đảo quay mặt đi, không đáp lời mà chỉ khẽ thở dài.

Dường như chính cậu chàng cũng mơ màng không rõ tiếp theo nên làm thế nào.

Cả ba trầm mặc đứng đó, mãi đến khi tiếng pháo lại vang lên.

Lữ giật mình, một suy đoán táo bạo đột nhiên hiện lên trong đầu.

Cậu ngập ngừng cất tiếng:

- Có khi nào...

Cậu lần lừa mãi, không chịu nói cả câu khiến Niên càng bực bội vì sốt ruột.

Chàng hít một hơi thật sâu, sau đó túm áo Lữ lắc lắc mấy lần, giục cậu mau nói.

Lữ rụt rè gỡ tay Niên khỏi cổ áo mình.

Cậu chần chừ mở miệng, giọng nhỏ xíu, đến nỗi chỉ Niên ở gần nhất mới nghe được:

- Có khi nào...

Có khi nào bởi vì sự hi sinh của bạn thân mà Thiều...

Lữ không nói hết câu, nhưng cũng vừa đủ để Niên hiểu.

Chàng sững người, có vài chuyện chàng chưa từng nghĩ đến nay lại hiển hiện rõ ràng đến vậy.

Đảo thấy hai đứa bạn thẫn thờ, tò mò ghé vào hỏi thử, Niên đành thấp giọng giải thích.

Đảo im lặng một hồi, chợt hỏi:

- Nếu đã vậy, thế thì làm sao để Thiều mở lòng với bọn mình đây?

***

Làn khói thuốc hòa vào trong không khí sớm mai, lượn lờ quanh chóp mũi Thiều.

Cậu kẹp điếu thuốc giữa hai ngón tay, hơi nghiêng đầu, lắng tai nghe từng tiếng pháo vang rền.

Thiều hút vào một hơi thuốc, lấp đầy lá phổi bằng những mảnh khói xam xám, rồi thở ra.

Khói thuốc mờ ảo như làn sương mỏng, phủ che tầm mắt cậu, lại tản ra theo chiều gió bay.

Đứng hút thuốc một lúc lâu, Thiều mới quăng đầu thuốc xuống đất, dùng mũi chân dụi tắt.

Cậu ngước mắt nhìn ra xa.

Dưới những rặng mây sớm xếp chồng lên nhau, giữa âm thanh rền vang như sấm dậy, từng chiếc xe tăng rời khỏi vị trí, từ từ tiến về trận địa.

Chẳng mấy chốc nữa, những chiếc xe kia sẽ lao đi thật nhanh, khuất khỏi tầm mắt.

Có khi sẽ quay về, có khi sẽ vĩnh viễn ở lại chiến trường, cũng có khi sẽ bị địch bắt lấy.

Trước khi ra trận, mỗi người bọn họ đều chuẩn bị sẵn tinh thần cho những biến cố có thể xảy ra, chẳng qua vẫn không tránh khỏi lo lắng trong lòng.

Thiều ngẩn ngơ đứng tại chỗ lâu thật lâu, đến tận khi trời sáng hẳn mới rời khỏi.

Mùi thuốc quanh người cậu đã bị gió thổi tán đi rồi, họa chăng vẫn còn ám một chút ở trên quần áo.

Lữ tinh mũi, ngửi ra được mùi thuốc còn vương trên người Thiều.

Cậu ngạc nhiên hỏi:

- Thiều còn biết hút thuốc nữa hở?

Thiều gật đầu một cái coi như đáp lại.

Trong đám lính bọn họ, kiểu gì cũng có ông giấu gói thuốc, có ông giữ bật lửa, thậm chí có ông chôm được bộ bài tây từ chỗ thằng địch nào đó.

Biết hút thuốc cũng không lạ lắm, đặt ở trên người Thiều thì khác.

Vốn trong ấn tượng của ba người đồng đội, Thiều ngoan với ít nói, sang đại đội bộ binh có năng động hơn chút, nhưng chưa ai từng thấy Thiều hút thuốc bao giờ.

Ngay cả khi từ đại đội bộ binh trở về, Thiều đã từng mang theo mùi khói thuốc bao giờ đâu.

Chứng tỏ bên đó các anh cũng không hoặc hiếm khi hút, vậy nên cũng không biết là ai đã dạy Thiều trò này.

Lữ nhìn Thiều một mình ngồi bó gối cạnh chiếc xe tăng, đáy lòng âu sầu không thôi.

Chừng hai tiếng sau, hai trung đoàn 36 và 102 thành công chiếm vài mỏm đồi, song chưa ai kịp mừng rỡ, quân địch đã lập tức phản công.

Chiến trận tiến vào giai đoạn căng thẳng, bầu trời nơi chiến trường xám ngoét những mảng khói chồng chéo lên nhau, mùi máu tươi thấm đượm cả súng đạn.

Gương mặt ai nấy đều nhễ nhại mồ hôi, lấm lem vệt khói đen nhẻm.

Giữa trời, những tia sáng màu trắng xẹt ngang, tựa như những viên sao băng lao xuống mặt đất giữa ban ngày.

Tiếng nổ vang rền, đất đá bắn tóe lên, che đi thân hình những người lính.

Cột khói xám đen bốc cao, chạm tới tận trời.

Mùi thuốc súng nồng nặc pha thêm mùi máu tanh tưởi lan tỏa trong không khí, mồ hôi thấm đẫm lưng áo.

Những người lính nấp sau những vật cản, chốc chốc vươn người ra bắn vài phát đạn.

Mưa đạn rợp trời, có người may mắn tránh được, có người lại vĩnh viễn bỏ mình ở đó.

Chỉ là chưa có ai tiến thêm được bước nữa, địch đánh trả quyết liệt quá.

- Không được rồi, phải điều thêm xe tăng đến đột phá thôi.

Niên nhận được thông báo, hớt ha hớt hải chạy tới tìm các đồng đội.

Bốn người ngay lập tức chuẩn bị, đội lên mũ bảo hiểm, nhanh chóng vào vị trí trên xe tăng.

Từng người kiểm tra thiết bị, theo lệnh của các trưởng xe, một phân đội xe tăng chậm rãi rời hầm, sau đó tăng tốc chạy đến chiến trường.

- Lay địch đang bắn trả kịch liệt, E36 muốn phá vỡ cục diện giằng co.

Do đó chúng ta đến mở đường cho họ, tấn công lên điểm cao.

Niên nghiêm túc tóm tắt lại tình hình, mắt không rời kính ngắm trưởng xe, thỉnh thoảng lại lên tiếng chỉ đường cho Đảo.

Thiều nghe đến "E36", chợt thấy căng thẳng cùng lo âu, không biết bọn anh Sáo ra sao rồi.

Cậu túm chặt ống quần mình, tiếp tục nghe Niên nói.

Tình hình nguy cấp, ngay cả Niên cũng không rảnh rỗi để ngắm cảnh với nói đùa.

Chàng toàn nói đến nhiệm vụ trước mắt, luôn miệng dặn dò họ phải nghe theo chỉ huy, không được để hồn bay trên mây, cố hết sức hoàn thành nhiệm vụ.

Nói đến mức khát khô họng, Niên nuốt một ngụm nước miếng rồi im lặng, tập trung quan sát bên ngoài.

Trong xe giờ chỉ còn tiếng động cơ xe tăng gầm rú, tiếng hít thở đầy căng thẳng của bốn người bọn họ.

Phải biết, tình thế phải khẩn trương cỡ nào thì trung đoàn 36 mới phải điều thêm phân đội xe tăng tới.

Thiều không tính hỏi thêm về tình huống, tự nhủ chừng nào đến được chiến trường rồi biết.

Ai ngờ bầu không khí im ắng trong xe tăng không kéo dài được bao lâu, Lữ đột nhiên mở lời:

- Thiều ơi, tớ muốn hỏi này.

Tại sao hai năm nay cậu lại tránh chúng tớ thế?

Nếu chúng tớ có gì không tốt, cậu có thể nói thẳng mặt mà, chúng tớ sẽ không giận đâu.

Ba người còn lại ngạc nhiên ra mặt.

Niên trợn to mắt lườm Lữ một cái, lại liếc nhìn thử biểu cảm của Thiều.

Thấy Thiều có vẻ hơi khó chịu, chàng hắng giọng, nói:

- Khụ...

Đang núc cần nghiêm túc, vấn đề cá nhân để sau hẵng lói đi.

Lữ từ chối.

Cậu ngồi thẳng lưng, chăm chú nhìn vào ống ngắm xạ thủ của mình, dù cậu biết ngoài kia làm gì có mục tiêu.

Lữ cảm thấy hồi hộp, mặt ửng đỏ như cà chua, cậu lại không giữ được cái vẻ muốn nghiêm túc tâm sự.

Cậu lắp bắp:

- Ph...

Phải là lúc này cơ!

Nếu... nếu để ra ngoài mới hỏi, kiểu... kiểu gì Thìu...

Thiều cũng sẽ trốn tránh.

Chẳng bằng hỏi bây giờ, không ai rời se... xe tăng được.

Không sai, nếu cứ phải ở bên ngoài mới hỏi, chắc chắn Thiều sẽ bỏ chạy, trốn ở một góc mà họ không tìm thấy.

Còn ở trong xe tăng này, tuy rằng có thể xảy ra một trận cãi vã, hoặc là Thiều giấu nhẹm đi không nói, nhưng ít nhất, cả bốn người bọn họ đều bị bó buộc ở đây mấy tiếng đồng hồ, không ai đi được.

Đảo lựa chọn im lặng lái xe, Niên cũng vờ như đang tập trung nhìn bên ngoài, tai lại dỏng lên nghe ngóng.

Tiếc là, dẫu bọn họ có trông chờ thế nào, Thiều vẫn ngậm chặt miệng không nói gì.

- Thiều à...

Lữ gọi, giọng điệu nài nỉ.

Trong bốn người bọn họ, Lữ được coi là kiểu người dát nhất, cũng lắm lời nhất.

Chẳng hiểu sao một người dễ ngượng như Lữ lại thích láu ta láu táu mở đầu các câu chuyện nữa.

Đối với người quen lâu năm thì không nói làm gì, chứ với người lạ thì cứ kỳ cục sao sao.

Chẳng qua, nhờ cái tính này của Lữ mà ba người có can đảm chờ Thiều đáp lời.

- Các cậu biết để làm gì?

Thiều hỏi ngược lại, nom khá bực dọc.

Cậu không muốn kể lể gì cả, cảm thấy không cần thiết, cũng không nhất thiết phải kể cho ba người này.

Lữ gượng cười, dường như đang tự tiếp thêm tự tin cho mình.

Cậu cúi đầu, mân mê những ngón tay, nhẹ giọng nói:

- Thì bốn đứa mình đâu chỉ là đồng đội thôi đâu, bọn mình còn là bạn nữa mà.

- Lữ ngoảnh đầu lại, cười với Thiều, nói tiếp.

- Cậu chỉ cần biết là bọn tớ luôn quan tâm đến cậu, có những thứ cậu không cần gánh một mình đâu.

Có chúng tớ đây rồi, cậu cứ thoải mái chia sẻ thôi.

Bạn bè không phải là như vậy sao?

Việc đặt câu hỏi như bình thường từ lâu đã không còn hiệu quả, để dẫn Thiều từng bước tâm sự với bọn họ, Lữ đành phải đánh đòn tình cảm.

Trông cậu út Thiều loắt choắt vậy thôi, thực chất Thiều thuộc kiểu người đặt nặng tình nghĩa.

Vì thế mà Thiều cùng lắm là nổi nóng, xa lánh bọn họ chứ không quát nạt, mắng mỏ, chửi bới hay lao vào đánh nhau.

Vào những khoảnh khắc cần sự cảm động thế này, anh trưởng Niên thường ngồi ngoài quan sát, để Đảo lên tiếng nói thay.

Bốn người làm việc ăn ý với nhau một thời gian dài, lúc này đây cũng vậy, Đảo tự động hiểu ý mà vừa lái xe, vừa nói:

- Đúng đó Thiều.

Cậu có nhớ không, cái hồi bọn mình từ bốn thằng lạ hoắc lạ huơ dần trở thành một đội với nhau ấy.

Hồi đó, tớ không nghĩ mình có thể sống với ba thằng ất ơ các cậu lâu đến thế.

Đến nay thì có gì của tớ mà các cậu không biết nữa không?

Lữ vặc lại, cậu chúa ghét cái từ "ất ơ" này nên thuận miệng kể tuốt luốt cái quá khứ khó tả của Đảo.

Ngày mới quen, Đảo là một thằng oắt loai choai tự giới thiệu là mười tám tuổi, thực tế phải trừ đi một tuổi mới ra tuổi thật của Đảo lúc bấy giờ.

Đừng nhìn bây giờ Đảo kiệm lời, biết quan tâm người khác mà lầm, cách đây chừng bốn năm trước, Đảo là một tên nhóc biết ảo tưởng đáo để.

Cậu từng khoe bản thân nằm mơ lái tiêm kích bắn rơi máy bay địch, sau lại đổi thành có tiềm năng lái xe ở đường Trường Sơn.

Cuối cùng thì đúng là đi lái xe thật, cơ mà là lái xe tăng.

Kể ra cũng ngầu.

Bị người khác kể lại quá khứ đáng quên, Đảo ngượng đến phát cáu.

Cậu không chịu thua, cũng đào lại chuyện ngày xưa của Lữ.

Trước giờ Lữ cái gì cũng dát, chỉ mỗi chơi dại là không.

Có hồi nọ, Lữ nghe ngóng đâu là các anh bộ binh có bộ bài tây để giải trí, thế là chú bé Lữ nằng nặc đòi cả bọn cũng phải có.

Ba đứa còn lại tưởng cả bọn sẽ đi hạ một cái xe tăng địch, cuỗm luôn đồ của chúng nó nên mới đồng ý.

Ai dè vào một đêm hôm khuya khoắt nào đó, Lữ lén dắt cả bọn đi "mượn" một bộ bài của quân mình.

Kết quả, đi chẳng được mấy bước, cả bọn bị bắt ngay tại trận, hại bốn thằng cùng bị kỷ luật, ngại chết đi được.

Nhớ lại ngày đó, Lữ đỏ chín mặt.

Cậu cãi lại, rõ ràng hôm đó cậu căn chuẩn "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" rồi, đâu biết được thủ trưởng bị khó ngủ nên thức đến nửa đêm đâu.

Thấy hai người Lữ, Đảo chí chóe với nhau.

Niên thích chí cười hô hố, vỗ đùi đen đét.

Thiều cũng nhoẻn miệng, sau đó lập tức bày vẻ làm thinh.

Cậu lặng mình nhìn Lữ thuật lại sự tích nhát gái của Niên, Đảo còn thêm mắm dặm muối cho câu chuyện đó, làm Niên cũng bực cả mình.

Ba người họ bắt đầu thi nhau lật lại mấy chuyện xưa xửa xừa xưa, không chọc cho người kia tức cái ngực thì không chịu thôi.

Thiều vẫn ở chỗ của lính nạp đạn, buồn bã quan sát tương tác của ba người đồng đội.

Nhìn họ, Thiều nhớ tới năm đó, khi cậu và Dịch đều chưa đi làm bộ đội, hai đứa bọn cậu cũng như bọn Niên bây giờ vậy.

Bất giác, Thiều cảm thấy tủi cho cái thân mình.

Cậu không tin tưởng lời Lữ nói, chủ yếu là vì tâm lý của cậu thôi.

Sau khi Dịch mất, chính cậu chưa từng xem ai là bạn cả, chắc chỉ có mỗi mấy người anh Sáo là ngoại lệ.

Cậu không tham gia vào câu chuyện của đồng đội mà chỉ im ỉm ngồi đó, lặng lẽ nhớ lại quá khứ đã lâu.

Thiều sụt sịt, cúi mặt xuống hòng che đi hốc mắt hoe đỏ từ lúc nào.

- Còn Thiều nữa!

Nghe Đảo đột nhiên nhắc đến tên mình, Thiều ngẩng mặt lên, ra chiều khó hiểu.

Ba người kia không để ý thấy vẻ mặt của cậu, vẫn mải mê nói chuyện.

- Ừ phải rồi, năm đó Thiều lần đầu ôm viên đạn pháo xe tăng, ngơ ngơ hỏi bọn mình một câu rất ngớ ngẩn.

Hai người có nhớ không?

Câu này là Lữ nói.

Niên hất cằm, ngả ngớn đáp lại:

- Nhớ chứ, nhớ chứ!

Niên kể lại, ngày đầu tiếp xúc với xe tăng thật sự, Thiều như đang nằm mơ, cả người lơ lửng suốt một ngày, đôi lúc còn cười ngu với người khác.

Khi ôm viên đạn pháo vào lòng, cậu ngơ ngác nhìn trời, nhìn đất, nhìn người ta, cuối cùng mới nhìn viên đạn.

Đạn pháo của xe tăng T-54 (3) dài ngang chân người, nặng chừng hai cân, không biết có đập vào mạch não nào của Thiều không mà cậu hỏi bọn họ:

- Cái này dùng làm bóng đá được không thế?

Để diễn tả lại chính xác ngữ điệu của câu này, Niên phải ho khù khụ vài tiếng, bóp mũi của mình, cố không để bản thân nói ngọng.

Lữ và Đảo cười nghiêng ngả như được mùa, còn kể ngày đó Thiều bị đám bọn họ trêu thế nào.

Đảo kể, có lần thấy Thiều lén ôm một viên đạn, bế nó đi qua đi lại như dỗ em bé, miệng lẩm bẩm mấy câu hát ru.

Lữ chêm thêm vào, hôm đó cậu cùng Thiều nghe một chị du kích (nghe bảo đã có ba con rồi) tả cách ôm em bé, Thiều tò mò nên muốn thực hành thử xem.

Thiều bụm mặt, nỗi tủi thân vừa rồi bay biến đâu hết, chỉ để lại nỗi nhục khó quên, cùng với đó là một niềm vui be bé.

Cậu không ngờ mấy chuyện cũ như thế mà nhóm người này vẫn chưa quên, hay là nói, chuyện xấu của người khác thì không ai quên được cả.

Chẳng qua, Thiều nhận ra ba người không có ý gì khác, chỉ đơn thuần kể lại, thuận tiện trêu chọc cậu mà thôi.

Như những người bạn vậy ấy.

Thiều ngẩn người, thầm lặp lại từ "bạn bè".

Sao ba người đồng đội lại đối xử với cậu như bạn bè thế nhỉ?

Là họ giờ mới như thế, hay tại cậu chưa từng để ý nhỉ?

Thiều giật mình, tự hỏi liệu đồng đội có phải là bạn của cậu không, cậu có thể tiếp nhận họ không.

Thiều không chắc nữa.

Ba người họ sống cùng cậu bốn năm, cùng chung một chiếc xe tăng, cùng ăn ở, cùng tắm rửa rồi cùng chiến đấu.

So ra, thời gian cậu ở cạnh họ không ít hơn Dịch là bao, có khi còn nhiều hơn chút.

Thiều hồi tưởng lại những ngày ở cùng với đồng đội, phát hiện cậu đã thực sự cảm thấy vui vẻ, cho dù có lên chiến trường, cậu vẫn chẳng thể sợ hãi nổi vì Niên pha trò cho cả bọn.

Ngay cả hai năm này, cậu lảng tránh bọn họ, những người đồng đội vẫn lặng lẽ đi theo để quan tâm cậu, không bỏ ngày nào cả.

Những người đồng đội này là bạn của cậu, luôn là vậy.

- Thiều ơi, có nhớ tớ đã lói gì không?

Từ bao giờ, bầu không khí trêu chọc lẫn nhau trở về với vẻ hồi hộp, nghiêm trang như lúc ban đầu.

Theo lời của Niên, câu nói năm xưa dần xuất hiện trong đầu của Thiều.

Nó như bị cậu phủ bụi lâu ngày nên sốt ruột muốn nhảy xồ ra đánh vào đầu cậu một cái để cậu tỉnh người lại, nhìn lên hiện tại một chút thôi cũng được.

- Chúng mình nà một đội, còn nà một nhóm bạn đó, thiếu một thì hỏng rồi.

Thiều nén những tiếng nghẹn dưới đáy lòng.

Cậu quay mặt đi, bối rối không dám nhìn đồng đội.

Có lẽ bọn họ đã đoán được phần nào, không thì cũng cảm giác được đôi chút rồi.

Thiều chán nản nghịch hai bàn tay mình.

Thì ra trước giờ cậu đều tự nghĩ lung tung đâu đâu, cứ nhớ về cái quá khứ cổ lỗ sĩ không thể quay lại.

Dịch là một người rất quan trọng với cậu, là lý do khiến cậu trân trọng cái gọi là "tình bạn" nhất, cũng là lý do khiến "tình bạn" trở thành cột chống quan trọng nhất trong đời cậu.

Nhưng sau cùng, Dịch đã là quá khứ rồi, điều cậu cần làm bây giờ là nghiêng đầu sang bên cạnh, nhìn xem hiện tại cậu đang có những gì.

Ồ, vậy ra ở cái góc xe tăng ọp ẹp nọ, có cậu, có hộp đạn và bóng dáng Dịch quanh quẩn.

Nay, cái góc đó mở rộng ra, bóng hình của Dịch dần mờ nhạt.

Không gian trong xe tăng trở nên hoàn chỉnh, nó chật hẹp, bí bách với hàng loạt thiết bị cồng kềnh, nhưng cậu không còn ở một mình, bởi trong không gian này, ba người đồng đội cùng ngồi chung với cậu.

Và ở ngoài xe tăng, một đại đội bộ binh cũng vẫy tay chờ cậu ghé chơi.

- Cậu có thể chia sẻ cho chúng tớ, biết đâu chúng tớ giúp được gì thì sao.

Lữ nói.

Thiều xoa xoa mặt mình, không gật đầu, cũng không đáp lại.

Ba người biết cậu đang suy nghĩ, dù hiện tại Thiều không ngồi xổm, họ bèn cho cậu không gian riêng tư để cậu tự cân nhắc.

Thình lình, một tiếng nổ uỳnh vang bên ngoài xe tăng.

Hình như là có viên đạn nào va chạm vỏ xe, làm toàn bộ xe rung lắc dữ dội.

Đảo vội đánh tay lái, Niên hốt hoảng dùng kính ngắm nhìn xung quanh, hô lên:

- Không xong, M48 Patton (4)!

Lữ cũng nhìn qua ống ngắm.

Cách chiếc T-54 của bọn họ không xa là một xe tăng M48 Patton của quân địch đang đậu, có vẻ đã ở đó đợi sẵn từ lâu.

Từng chiếc M48 Patton lần lượt khai hỏa, mục tiêu là phân đội T-54 bọn họ.

Lúc này ai cũng vội vàng, Thiều lập tức xua hết những suy nghĩ luẩn quẩn trong đầu, nhanh chóng nạp đạn, để Lữ bắn đáp trả.

- Mai phục?

Trong lúc ngơi tay, Thiều tranh thủ đoán thử.

Niên gật đầu, căng thẳng nói:

- Có thể.

Đảo ngồi vặn vặn cổ tay, vẻ như sẵn sàng lái xe chạy lấy người bất cứ lúc nào, hỏi một câu không đầu không đuôi:

- Mấy?

Niên không trả lời vội mà nheo mắt nhìn qua ống ngắm trưởng xe, miệng lầm bầm mấy tiếng khó hiểu, hẳn thanh niên này đang chửi thề.

Lúc sau, nét mặt Niên dần trở nên khó ở.

Chàng đáp:

- Chỉ thấy một, hiên ngang gớm.

Cơ mà ở gần đó có cái công sự, chắc bên trong giấu thêm. (5)

- Có bộ binh không?

- Lữ hỏi.

Kính ngắm của xạ thủ không giống với kính ngắm của trưởng xe.

Cậu chỉ có thể nhìn được mục tiêu, những thứ khác khá khó.

Trưởng xe lại có thể nhìn được nhiều hơn, thậm chí trực tiếp chỉ định mục tiêu cũng được.

Ví dụ như bây giờ, Niên nhắm vào một mục tiêu gần nhất, nhấn nút trái.

Tháp pháo di chuyển hướng thẳng vào mục tiêu, Lữ lên tinh thần, bắt đầu ngắm bắn.

Thiều nạp đạn liên tục, để Lữ bắn trả vài phát.

Niên lo lắng lên tiếng:

- Mỗi xe tăng thôi.

Thiều không cần nên dùng súng máy đâu, cái đó chẳng ăn nhằm gì bọn này.

- Niên quan sát kỹ lưỡng, phân công nhiệm vụ trước mắt cho mỗi người.

Nói xong, chàng méo mặt dặn thêm.

- Mà bắn vừa phải thôi, cả xe chỉ có ba mươi tư viên (6) cho pháo chính thôi đó.

Lữ phản bác:

- Rồ à.

Không biết bên kia có bao nhiêu, giờ không bắn cản chúng nó, bị nó bắn nổ thì chết cả lũ.

Đảo cũng hùa theo:

- Thật chứ, bùm cái là cả bốn thằng khỏi thở tiếp luôn đấy.

Riêng Thiều tán thành với ý của trưởng xe.

Trên chiến trường, số lượng đạn còn bao nhiêu cũng quan trọng lắm.

Bản thân cậu là một lính nạp đạn, pháo thủ, hết đạn bắn thì chỉ còn cái mạng này dùng để liều thôi, mà liều xong có sống nổi không thì cậu không biết được.

Thiều đợi mọi người nói xong mới rụt rè giơ tay, nêu ý kiến của mình:

- Bắn thì bắn, mình vẫn nên giữ chút đi.

Nếu nó có đuổi theo, mà cũng chưa chắc đâu, thì mình lại bắn thêm vài viên.

Đằng nào mình vẫn cần phải giữ lại một ít để còn mở đường cho E36 nữa chứ.

Niên gật đầu đồng ý, nhân tiện giải thích thêm về cái lợi của việc tiết kiệm đạn, thành công thuyết phục hai người kia không nên ham chiến quá.

Hai người bọn Lữ chịu lắng nghe, không phản bác nữa, tiếp tục tập trung vào việc của mình.

Ầm...

Đoàng...

Qua kính ngắm trưởng xe, Niên có thể nhìn thấy hết những gì diễn ra bên ngoài.

Cái xe tăng M48 Patton đứng đợi bọn họ đã chạy mất tăm mất tích, giờ chỉ thấy đạn pháo đang bắn đến đây.

Niên không định đuổi theo, đề phòng lại mắc thêm cái bẫy nữa thì dở.

Chàng dặn Đảo phải di chuyển sao cho không bị chúng nó bắn trúng, lại nhắc Thiều sẵn sàng nạp đạn bổ sung và Lữ phải tập trung nhìn vào ống ngắm.

Chỗ hiện tại của bọn họ là một chốn đồng không mông quạnh, chỉ độc một cái công sự đang giấu không biết bao nhiêu xe tăng địch.

M48 Patton của Hoa Kỳ được trang bị một máy đo khoảng cách chuyên dụng, khiến cho loại xe tăng này có khả năng bắn chính xác mục tiêu cao hơn T-54.

Có thể nói địch đang áp dụng lợi thế này một cách triệt để, bởi thường thì máy đo khoảng cách sẽ được lắp cho các món vũ khí thiên về phục kích và tác chiến từ xa như tên lửa chống tăng, trong khi xe tăng cần di chuyển liên tục, không thể đứng yên làm bia ngắm được.

Rõ ràng, chúng nó chờ đội xe tăng này tới để mai phục tiêu diệt.

Đáy lòng nặng trĩu, Niên đăm đăm nhìn về hướng công sự.

Thêm một viên đạn bay tới, lao thẳng tới chỗ bọn họ.

Niên thấy bất an, lập tức bảo Đảo lái xe tránh khỏi.

Viên đạn sượt ngang vỏ ngoài, tạo thành âm thanh ken két chói tai.

Chiếc tăng nghiêng ngả tránh thoát, xích xe cào lên mặt đất.

Vì để đảm bảo tầm nhìn tốt hơn, Niên mạo hiểm mở nắp tháp pháo, ló nửa người ra bên ngoài.

Trời bụi mù, mặt đất toàn là vết lõm, vết xích xe tăng chồng lên nhau.

Cỏ cây bẹp rúm, đá sỏi bị nghiền thành vụn.

Mùi súng đạn xộc thẳng vào mũi, khét lẹt khó ngửi.

- Toàn mùi chì cháy.

Niên bịt mũi, nom ghét bỏ ra mặt.

Không ít trưởng xe cũng giống như Niên, vươn người khỏi tháp pháo xem tình hình.

Đùng...

Đoàng...

Nhác thấy có đạn pháo vun vút lao tới, Niên nhanh nhảu cúi người chui tọt xuống, nếu chậm thêm chút nữa thì bay nửa người mất.

Chốc sau, chàng lại ngoi lên lần nữa, kịp chứng kiến một chiếc xe T-54 khác bị trúng phải đạn.

Vốn tưởng sẽ không có việc gì lớn, ngờ đâu đạn bay đến tới tấp, bắn nổ chiếc T-54 nọ.

Bùm...

Tiếng nổ inh tai, đâm từ màng nhĩ vào tận tim người lính.

Xe tăng nọ bốc cháy, ngọn lửa cao vút đốt tới tận mây.

Ánh lửa cam đỏ cháy hừng hực, lan khắp chiếc xe, nuốt trọn.

Ngọn lửa vui mừng nhảy múa, phảng phất như là một tên sát nhân đang cười sung sướng, hằm hè đối mắt với Niên vậy.

Tiếng kêu khóc đau đớn tan đi trong cơn gió tháng tư, mùi khói đạn chết chóc hòa vào khí thở.

Lòng người quặn thắt lại, từng sợi thần kinh căng chặt, mắt mở trừng trừng nhìn đám lửa chiến tranh mang đi những sinh mạng tươi trẻ.

- Cháy...

Cháy rồi!

Niên thảng thốt hô lên, gương mặt hiện rõ vẻ không thể tin được.

So với xe tăng M48 Patton, loại xe tăng T-54 có lớp vỏ giáp ngoài cứng cáp hơn, trọng lượng cũng nhẹ hơn, ắt hẳn có thể chạy thoát.

Rồi hiện thực cho chàng nhận thấy được, dù cái mai rùa có cứng thế nào thì vẫn có khả năng bị đập vỡ, phòng vệ có kỹ cách mấy thì vẫn bị phá hỏng mà thôi.

Chúng nó muốn diệt sạch xe tăng ở đây!

Niên sợ hãi đổ mồ hôi.

Chàng luống cuống lau tay trên ống quần mình, lo lắng nhìn quanh quất.

Giờ đây, chàng bị buộc phải đứng giữa hai lựa chọn, một là chạy thẳng tới chiến trường, hai là tìm cách hạ xe tăng địch.

Hiển nhiên lựa chọn đầu tiên là sáng suốt nhất, song chàng không có can đảm bỏ chạy lấy mình như vậy.

Trong chiếc xe tăng T-54 kia là những người chàng quen biết, chàng không nỡ để bọn họ chỉ ra đi như thế.

Nói chàng tính đàn bà cũng được, bảo chàng ủy mị cũng thế, Niên không thể bỏ mặc người mình ở lại.

Đặc biệt là bên bộ binh vẫn cần đến bọn họ, chàng nên tìm cách giảm thiểu thương vong nhất có thể, đảm bảo vẫn có xe đến được chiến trường.

Đoạn, chàng thấy một cái gì đen đen ló ra từ trong công sự, lòng chắc mẩm đó là xe tăng địch.

Niên ra hiệu cho Thiều nạp đạn, đồng thời cúi người ngồi xuống, điều khiển kính ngắm tới vị trí mà chàng phát hiện.

Trước khi ra lệnh bắn, Niên nghiêm trang hỏi cả đội:

- Lếu chạy không kịp thì các cậu có sợ không?

Cả đội hiểu ý của Niên, rằng bọn họ sẽ phải ở lại chiến đấu sống còn với những chiếc M48 Patton đang phục kích.

Thế thì sao chứ, trưởng xe đã sẵn sàng luôn rồi còn đâu.

Lữ nghe vậy thì bĩu môi, làu bàu:

- Lạy ông, ông đã làm theo ý bản thân trước rồi mới nhớ đến bọn con đó ạ.

Thiều tặc lưỡi, trỏ tay vào hộp đạn, nói:

- Đạn đã lên nòng rồi, không bắn không được đâu đó.

Còn Đảo, cậu chàng đảo mắt nhìn ba người đồng đội, giọng nhẹ bẫng:

- Đó là chạy không kịp thôi đúng không?

Vậy thì hi sinh là vinh quang.

Niên nhoẻn miệng cười.

Đúng thế, sống chết là do số trời cả rồi, để đến được đây, họ đã không dễ dàng gì, còn cần ngại chi việc phải đối diện thần chết một lần nữa.

Chẳng qua, chàng không chắc cả bọn sẽ còn quay về được, không biết còn có thể được nghe Thiều nói cho họ hay về câu chuyện của cậu ấy hay không.

Nghĩ thế, chàng lẳng lặng chuyển tầm nhìn sang hướng Thiều.

Thiều để ý ánh nhìn của anh trưởng, ngầm hiểu nỗi băn khoăn của Niên.

Cậu rũ mắt, cậu đã biết tấm lòng của ba người đồng đội, đằng nào thì họ cũng nói đến vậy rồi.

Thiều cũng biết vấn đề là ở chỗ cậu, cậu nên tự mình giải quyết cho tốt, giống như anh Sáo năm đó từng nói với cậu.

- Nếu có cơ hội, tớ sẽ kể cho các cậu nghe.

Thiều mỉm cười, như là mây tản nắng lên.

Trước sự ngạc nhiên của đồng đội mà lặp lại câu nói ấy một lần nữa.

Niên gạt sự vui mừng sang một bên, vội vàng hô lệnh bắn.

Lữ hăng máu ngắm bắn thật chuẩn, đạn pháo rơi trúng mục tiêu, trông qua vẫn không thấy xi nhê gì.

Niên nhíu mày, lại lệnh bắn thêm lần nữa.

Uỳnh...

Chiếc xe tăng của họ đột ngột lắc lư mãnh liệt, cảm tưởng như một chiếc thuyền sắp bị sóng bão ào tới lật nghiêng đến nơi.

Đạn bay ra từ phía công sự, lao thẳng đến chỗ bọn họ.

Cả một hàng đạn pháo xe tăng vây kín bọn họ, gần như không có đường thoát.

Đảo hoảng hốt cầm lái, gầm lên giận dữ:

- Mẹ kiếp!

Niên bình tĩnh hơn, cẩn thận nhìn ra bên ngoài:

- Cháy thêm một xe tăng rồi.

Lữ xị mặt, than vãn:

- Khiếp, như thể canh sẵn vậy ý.

- Chúng nó mai phục mình mà, dĩ nhiên là canh sẵn rồi.

Anh trưởng, giờ sao đây?

- Thiều hỏi.

Sắc mặt Niên kém đi trông thấy, chắc bên ngoài lại cháy thêm một xe tăng, hoặc chàng cũng phát hiện mình và đồng đội đã rơi vào cái lưới khác do địch giăng sẵn.

Lòng những người còn lại chùng xuống, nặng nề thở dài.

Nói là thấy mục tiêu chui ra, chẳng bằng nói là chúng nó nhử mồi hấp dẫn hỏa lực, dẫu sao thì cũng không ai chơi phục kích mà ngu tới mức để lộ mình ra cả.

Niên nhắm mắt, chốc sau mở ra, hạ quyết tâm nói:

- Niều thôi.

Nghĩa là cả bọn sẽ dùng toàn bộ đạn pháo, bắn sập được cái công sự thì tốt, bằng không thì cũng gắng chạy thoát thân.

Trưởng xe đã ra quyết định, người còn lại chỉ có nước nghe theo.

Ba người mím môi gật đầu, im lặng làm việc mình.

Thiều đếm số đạn còn lại, báo với Niên.

Niên hít sâu một hơi, chỉ huy các thành viên nã pháo về hướng công sự.

Nơi này là chiến trường của xe tăng.

Khoảng đất trống không, mọi sự vật bị tàn phá bởi pháo đạn, lửa và xích xe tăng.

Tháp pháo xoay quanh, bắn tới tấp vào công sự.

Bức tường thủng lỗ chỗ, dần dà chẳng trụ được lâu mà đổ sập xuống.

Cát bụi mù mịt bay tung trời, sau đó tán đi, lộ ra vài chiếc xe tăng địch trong đó.

Đếm sơ qua cũng phải tám chiếc.

Thiều báo lại số đạn không còn nhiều, nếu hết cách thì cậu ấy sẽ phải lên tháp pháo dùng súng máy.

Niên không đồng ý, lúc này bọn địch bắn như không thiếu đạn, Thiều lên tháp pháo không khác nào nộp thêm một mạng cho chúng nó, ngay cả Niên cũng đã yên vị ngồi trong xe tăng rồi.

Bọn giặc này rất ưa phóng đại sự việc.

Chỉ bắn hỏng một xe tăng mà chúng nó còn có thể huênh hoang kêu đã bắn cháy sạch mười xe tăng, huống chi là số lượng lính quân ta thương vong dưới tay chúng nó cũng không ít.

Mắt thấy chỉ còn hai xe ở lại, trong đó có xe họ, Niên chuẩn bị nhắc Đảo phóng hết tốc lực chạy đi.

Ngay lúc này, bọn địch lại nã một đợt đạn, bắn cháy chiếc xe tăng thứ tư.

Ngồi trong xe tăng, Niên không nghe thấy, cũng không ngửi thấy mùi gì.

Thế nhưng, khi nhìn cột khói đen thùi lùi, cùng với cảnh tượng của chiếc xe tăng cháy đầu tiên, Niên tưởng như đã ngửi được mùi khét và sự tuyệt vọng của người bên trong.

Mắt chàng đỏ au, Niên kìm lại cơn giận vừa nổi lên, khàn giọng hỏi Thiều còn bao nhiêu đạn.

- Đ** m* chúng nó!

- Thiều chửi thầm một câu rồi hét lên với Niên.

- Mình vừa bắn hết rồi, thế mà chỉ mới làm lủng một bức tường!

Lữ cũng gào toáng họng:

- Làm sao bây giờ?

Chạy?

Lữ vừa dứt lời, đạn của địch đúng lúc bay tới,không biết có phải đã chờ đợi khoảnh khắc này rất lâu không nữa.

Đường đạn rơi ở phía trước bọn họ, đương khi cả bọn bất ngờ không kịp phản ứng thì chúng lại thừa cơ nã thêm mấy phát.

Đảo luống cuống điều khiển xe tránh đạn, còn vừa đánh lái vừa văng tục.

Trúng bẫy rồi!

Bọn chúng biết chắc mình sẽ niều nên chờ mình hết đạn đây mà!

Niên tự nhủ, giờ phải nàm sao đây?

Lại thêm hai làn đạn pháo lao tới xe tăng bọn họ, lần này ngắm vào vị trí thùng nhiên liệu.

- Chết!

Niên thét lên.

Ba người còn lại cũng biết là không xong rồi.

Đảo nhanh tay lái xe chuyển hướng, né tránh viên đạn trong gang tấc.

Cậu muốn xoay chuyển tình huống, gào lên bảo Niên mau chóng tìm đường thoát.

Niên định vươn người khỏi tháp pháo, Lữ lại hét lớn ngăn cản:

- Niên!

Có tìm thì tìm ở kính ngắm, đừng đi lên!

- Không còn cách nào cả!

Niên đáp lại.

Điểm nhìn qua kính ngắm không rộng rãi bằng tự mình ra khỏi tháp pháo, việc vươn người khỏi tháp pháo giúp chàng chỉ huy tốt hơn nhiều.

Vả lại, Niên là trưởng xe, chịu chút nguy hiểm để trợ giúp các đồng đội thì có sao đâu.

- Niên, đúng đó, đừng ra!

- Thiều cũng lớn tiếng bảo.

Có biết bao nhiêu trường hợp trưởng xe vừa ló người ra đã bị bắn hạ rồi, mà một khi thiếu trưởng xe, các thành viên khác sẽ dễ rơi vào hoảng loạn.

Trước kia họ bạo gan thì cũng thôi, vì ai cũng dám chắc Niên có thể an toàn vào xe nấp.

Bây giờ đã khác trước, kẻ địch bắn tứ tung, chẳng biết có bao nhiêu đứa đang mai phục, Niên mà đi ra thì hi sinh là cái chắc.

Xe bọn họ cần Niên.

Thiều liếc hộp đạn bên cạnh, lập tức đưa ra quyết định:

- Để tớ...

Cậu chưa kịp nói xong, chiếc xe tăng bảo vệ họ bấy lâu nay lại rung lắc, nghiêng ngả muốn ngã xuống.

Các thiết bị cồng kềnh như định đè hết lên người cả bốn.

Không gian vốn đã bí bách nay lại càng thêm ngột ngạt, thoang thoảng có mùi xăng bị đốt.

Chèn lên tiếng động cơ là những âm thanh rít gào của đám đạn pháo địch, ầm ầm dội thẳng vào xe tăng bọn họ.

Lửa nhen nhóm lên rồi.

Chiếc xe bị lật nghiêng, xích xe như đã tận hết sức lực, lỏng lẻo tung ra.

Bốn người đồng loạt ngã đập vào các thiết bị cứng rắn, bên tai không có gì ngoài những tiếng cồm cộp khi cơ thể trơ xương đập mạnh lên khối sắt thép cứng rắn.

Cơ thể đau nhức, xương không khác nào bị chày cối giã lên, khiến họ cảm tưởng chỉ cần đập thêm vài lần nữa thôi, xương thịt của họ sẽ vỡ vụn thành những bãi nhầy.

Từng người rên rỉ kêu đau, dẫu có chuẩn bị đến thế nào thì khi ngày này đến, họ vẫn chẳng thể tưởng tượng được.

Bốn người gắng gượng bò dậy, lại vì kiệt sức mà trượt ngã.

Họ ngỡ ngàng nhìn nhau, đều thấy được vẻ không cam, bất lực của người đồng đội.

Ánh lửa vây quanh, Niên không quan tâm bên ngoài như thế nào nữa, chàng nhất định phải đưa đồng đội rời khỏi xe tăng.

Niên ở gần nắp tháp pháo nhất, dùng chút lực còn lại trong cơ thể đẩy mở nó ra, nhưng dẫu có thế nào, nắp tháp pháo cũng không mảy may nhúc nhích.

Bị kẹt rồi, nắp tháp pháo kẹt rồi!

Phải chăng xe tăng bị lật ngửa, nắp tháp pháo đè lên mặt đất, bịt kín lối thoát cuối cùng của họ?

Niên thẫn thờ ngước nhìn đồng đội.

Bọn họ đều nằm ngã trên những thiết bị cồng kềnh, cả người run rẩy chịu đựng cơn đau, loáng thoáng thấy vết máu gai mắt sau lớp áo.

Từng người một thấy ánh mắt của Niên, biết chắc lần này bọn họ thật sự xong rồi.

Đứng trước cái chết, họ vẫn theo bản năng sợ hãi, muốn òa lên khóc thật to vì không cam lòng, vì thương cho chính mình cũng như đồng đội bên cạnh.

Song, họ lại không thể không nén xuống, bĩnh tĩnh đối mặt.

Họ là lính mà.

Pháo tự hành chống tăng còn chưa làm gì được họ, chỉ bị lửa thiêu cháy mà thôi, ngoài chết hơi lâu tí thì chẳng có gì phải căng cả.

Bộ dạng ai nấy thật luộm thuộm, chỉ có quân hàm hình xe tăng phản chiếu lại ánh lửa, lóe lên quầng sáng chói lòa.

Niên nhịn đau, vươn tay ra đầu tiên.

Lần lượt những người khác cũng vươn tay tới người gần nhất, nắm chặt.

- Rồi chúng mình chung một nấm mồ nhỉ?

Lữ nói đùa, giọng yếu xìu, cứ cách một lúc là lại kêu đau y đúc cậu ấm lần đầu tập thể thao cả ngày.

Ba người gượng cười, cái kiểu kéo khoé miệng để nặn thành một nụ cười này trông thật kinh khủng nhưng không ai buồn chê cả.

Niên than thở:

- Không ngờ một đời anh hùng của tôi kết thúc bằng cách chung mộ với ba thằng đực rựa.

- Ha ha...

Bốn người tay nắm chặt tay, nói đùa một câu, như là để an ủi, lại tựa như tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội.

Bùm... bùm...

Hai tiếng nổ vang lên liên tiếp, đám cháy hưng phấn chạy khắp xe tăng, nuốt chửng tất cả.

Ánh đỏ cam chạm tới đôi mắt mỗi người, in sâu trong những giây phút cuối cùng.

Nhịp thở khó khăn, lồng ngực như chứa đá tảng và trái tim vì khó thở mà đập càng lúc càng nhanh.

Giọt nước lăn dài theo đường nét gương mặt, không biết là mồ hôi hay là nước mắt.

Giữa ngọn lửa cháy phừng phừng, từng người mấp máy một câu tạm biệt.

Rồi họ chậm rãi nhắm mắt lại, âm thầm chịu đựng nỗi đau bị lửa thiêu.

Chết cháy là một cái chết thật đau đớn.

Ngọn lửa sẽ cắn trọn cơ thể ngay cả khi con người vẫn còn tỉnh táo, bắt buộc con người phải nhận lấy nỗi đau bị lửa liếm qua da thịt, cắn đến tận xương.

Thậm chí, đám cháy sẽ nhồi vào lá phổi một đống khói đen ngòm, ngăn cản luồng không khí lưu thông trong cơ thể, để rồi con người sẽ vì ngạt khói mà ra đi.

Từng giây trôi qua là thêm một tầng tuyệt vọng, cái chết đã chực chờ ngay bên cạnh rồi.

Những hơi thở chậm lại, cảm giác cháy da cháy thịt lại như biến đi đâu mất, thay vào đó là một sự lạnh lẽo lạ lùng.

Cái se này sao mà thân thuộc thế, làm cậu không khỏi nhớ lại những ngày xưa cũ ngoài Bắc.

Người ta vẫn thường hay nói rằng, khi sắp chết, con người sẽ chủ động nhớ về những chuyện đã qua trong cả đời này.

Những ký ức như những thước phim đời sống thường nhật, chiếu lại lần lượt cho tới khung cảnh cuối cùng trong chiếc xe tăng.

Nhiều bóng người vội vã lướt qua, sau cuối chỉ còn lại ba tấm lưng gầy guộc thấm đẫm mồ hôi.

Họ đi trước cậu vài bước, nhưng những bước chân của họ lại nặng nề tưởng chừng như vẫn còn canh cánh điều gì.

Bất chợt họ dừng lại, ngoảnh đầu đợi cậu đuổi theo.

Đã đến lúc Thiều phải đi rồi.

Thiều ra lính năm mười bảy.

Ở độ tuổi mà bạn cùng lứa còn cắp sách tới trường, cậu đã một mình nhập ngũ, ngồi lên chiếc xe tăng cậu hằng ao ước.

Thiều hi sinh ở tuổi hai mốt.

Tuổi đôi mươi, một tuổi đẹp biết mấy, xán lạn và tràn trề sức sống như nắng mùa hạ, lại là thời điểm kết thúc của một sinh mệnh.

Nắng tắt rồi.

Mây giăng kín trời, mưa phủ mặt đất, xóa mờ vết xích xe tăng.

Gió se se, ngọn lửa lụi tắt, chỉ để lại đống đổ nát im lìm nằm giữa mảnh đất hiu quạnh.

Ngày 9 tháng 4 năm 1972, trung đoàn 36 và trung đoàn 102 không thành công tấn công ở Tây Đông Hà, trái lại, quân ta bị tám xe tăng M48 Patton mai phục, bắn cháy năm xe tăng. (7)

***

Chú thích:

(1) C: cách gọi tắt của đại đội.

(2) E102: Trung đoàn 102, hay còn gọi là trung đoàn Thủ Đô, thuộc sư đoàn 308.

E là cách gọi tắt của trung đoàn.

(3) Xe tăng T-54: là một thế hệ xe tăng sản xuất tại Liên Xô và trang bị cho quân đội nước này từ năm 1947. (Wikipedia)

(4) M48 Patton: là tên một loại tăng thuộc thế hệ xe tăng hạng trung Patton do Hoa Kỳ thiết kế.

Nó được các đồng minh của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh, nhất là NATO, sử dụng rất phổ biến. (Wikipedia)

(5) Trên Wiki của chiến dịch Trị - Thiên chỉ ghi ngày 9/4 có 8 chiếc M48 Patton mai phục ở một công sự.

(6) Theo Wiki của xe tăng T-54, loại xe này có thể mang theo 34 viên đạn cho pháo chính, đời xe T-55 mới mang được 43 viên.

Vì trên Wiki của chiến dịch Trị - Thiên có ghi là "phân đội xe tăng T-54" nên tôi để là 34.

(7) Thông tin này được tham khảo cả ở trên Wikipedia và "Nhật ký Quảng Trị 1972" của Lê Quang Đạo.

Tác giả tám nhảm: Ngay từ đầu, Thiều được định là em út nhưng đi trước các anh rồi.

Kể ra tôi đã sửa sự hi sinh của Thiều mười lần có lẻ luôn rồi đó, từ phiên bản lính bộ đến phiên bản lính tăng, bản này có thể coi là bản tôi hài lòng nhất.

Chương 10 hơi dài, ngót nghét 20 trang word của tôi, tôi cũng hãi vì sự bùng nổ ý tưởng này.

Thông tin về xe tăng đều được tôi tìm trên internet, xem vài video và kết hợp với trí tưởng tượng của tôi mới ra cái chương này chứ tôi cũng chưa từng thấy xe tăng bắn nhau bao giờ (họa hoằn lắm thì tôi có xem trailer game War of Tanks 😀), cũng không hoàn toàn nắm chắc kết cấu của xe tăng.

Vậy nên tôi mạn phép để ở đây một câu: nội dung không có tính tham khảo, xin cảm ơn.

Phần Hạ chính thức khép lại, tiếp theo là phần Cháy, mong mọi người tiếp tục đón đọc.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 11: Cháy


“Họ cùng tôi chừng ấy người tất cả

Đưa giấc mộng lớn ẩn giấu trong tim

Chưa kịp nói, cũng chưa từng quên lãng

Mà đã hóa mình trong ngọn lửa đó rồi.”

***

Thiều không có bố, bà ngoại Thiều bảo thế.

Thiều sinh ra là con của một người con gái nghèo và một tay bợm rượu, là bằng chứng cho nỗi ô nhục của mẹ Thiều.

Ngày xưa, nhà mẹ Thiều nghèo lắm, tiền để mua dầu thắp đèn còn thiếu nữa là.

Nhưng mẹ Thiều rất thích học, bà muốn trở thành một cô giáo, vậy nên đêm đêm sẽ ra ngoài bắt đom đóm về, dùng ánh sáng le lói của đom đóm để đọc sách học bài.

Vào một đêm trăng mờ, mẹ Thiều ra ngoài bắt đom đóm như mọi khi, chẳng may đụng mặt với tên bợm rượu đang say quắc cần câu.

Hắn ta bấy giờ đã bốn mươi có thừa, không vợ không con không việc làm, thấy cô con gái trẻ, bản năng của loài thú động dục trỗi dậy, hắn ra tay cưỡng bức mẹ Thiều.

Mười sáu tuổi, mẹ Thiều chưa chồng đã chửa.

Hàng xóm lời ra tiếng vào, dèm pha mẹ Thiều là một con ả lăng loàn, mới tí tuổi đầu đã biết bò lên giường ăn nằm với đàn ông lạ.

Gia đình nhà ngoại của Thiều cũng âu sầu, bà ngoại Thiều đau lòng khóc cạn nước mắt, lại khuyên mẹ Thiều chớ bỏ đứa trẻ, dẫu sao cũng là một mạng người, là miếng thịt của mình.

Mẹ Thiều nghe lời bà ngoại, đành nghỉ học ở nhà sinh con.

Sau khi sinh, mẹ Thiều để con cho bà ngoại nuôi, còn mình thì tay xách nách mang, xa xứ lên thành phố kiếm sống.

Đám trẻ con hàng xóm ghét bỏ Thiều không cha, lại khinh thường Thiều có một người mẹ đi biệt xứ, chẳng đứa nào chịu chơi với Thiều cả.

Mà cha mẹ chúng nó cũng không vừa, mỗi khi thấy Thiều là xì xà xì xầm, chỉ trỏ bàn tán.

Bà ngoại xót cháu, song không làm được gì khác ngoài ôm Thiều vào lòng, vỗ lưng cậu an ủi.

Tâm hồn một đứa trẻ có thể mạnh mẽ bao nhiêu chứ.

Trong những đêm dài hiu hắt, Thiều nằm trong lòng bà ngoại khóc nức nở, hỏi tại sao ai cũng ghét Thiều thế, đến cả mẹ cũng bỏ Thiều đi mất.

Bà ngoại cũng không kìm được nước mắt, ôm Thiều dịu dàng nói:

- Mọi người không ai ghét cu Thiều nhà mình hết, họ chỉ không biết Thiều tốt thế nào thôi.

Thiều thút thít hỏi:

- Thế làm sao để họ biết ạ?

Bà ngoại cười hiền, vuốt tóc Thiều:

- Thiều phải học thật giỏi này, cũng phải thật có ích này, rồi tự nhiên ai cũng thích Thiều thôi.

Bấy giờ Thiều chưa đủ tuổi đi học, nhà bà ngoại cũng không đủ điều kiện cho cậu đi học, nên là Thiều thường suy nghĩ về cách để trở nên có ích.

Bà ngoại dạy cậu rằng, biết hiếu thảo, biết tốt bụng giúp đỡ người khác là hai điều thường thấy ở người có ích.

Có một lần, Thiều vô tình nghe được cuộc trò chuyện của nhóm người hàng xóm xấu tính.

Họ bàn tán về một gia đình anh hùng của thời chống Pháp.

Gia đình đó có cả thảy mười một người con, bảy trai bốn gái, trong đó bảy người con trai cùng cha đều xa nhà ra chiến trường, bốn người con gái thì gả xa hết, chỉ còn mỗi người mẹ ở nhà.

Thật không may là tất cả các con trai cùng người cha đều đã hi sinh, người mẹ liên tiếp nhận được tin dữ mà vẫn nén đau thương gạt nước mắt, tự hào nói với bà con láng giềng rằng gia đình của bà thật tuyệt vời.

Với cái số tuổi bé tí teo đó của Thiều, cậu chưa thể hiểu chiến tranh là gì, sao lại có chiến tranh và chiến tranh tàn khốc như thế nào.

Cậu chỉ để ý thấy ai ai cũng đều tỏ vẻ yêu mến, thương tiếc đối với những nhân vật trong câu chuyện ấy.

Hiếu kỳ, câu mang câu chuyện về kể cho bà ngoại nghe, hỏi bà về lý do vì sao mà mọi người ai cũng thích gia đình kia đến vậy.

Bà ngoại xoa đầu Thiều, nói:

- Vì họ đã quên mình cho Tổ Quốc đấy.

Bà nói với Thiều, thời chiến là một thời kỳ gian khổ, ở thời này người ta mới hiểu độc lập quan trọng đến mức nào.

Bà còn nói, bất cứ ai làm những điều lớn lao cho đất nước đều đáng được trân trọng.

Bà dạy cho Thiều biết về tình yêu nước, khuyên Thiều phải luôn noi theo những tấm gương đi trước.

Thiều gối đầu trên đùi bà ngoại, ngây ngô hứa hẹn:

- Vậy sau này con cũng sẽ làm điều lớn lao cho đất nước!

Bà ngoại tủm tỉm cười, nói rằng sẽ chờ đến ngày đó.

Tiếc là, năm Thiều lên sáu, bà ngoại bệnh mất, mẹ Thiều bèn đón Thiều lên thành phố.

Mẹ Thiều không thương Thiều, thậm chí là căm ghét, Thiều biết chứ, nhưng cậu lại nhịn không được mà ngóng chờ tình thương từ mẹ.

Cậu mong mẹ sẽ đối xử với cậu như cách bà ngoại đã làm.

Có điều, mẹ Thiều thường xuyên đi sớm về khuya, chỉ để lại một ít tiền để cậu tự lo.

Dần dà, Thiều không còn mong chờ gì nữa.

Trước khi được đi học, cậu chỉ quanh quẩn trong nhà, ngồi bên chiếc bàn gỗ vẽ nguệch ngoạc, rồi ra chợ mua ít thức ăn, mang về nấu cơm.

Thiều rất thích xe tăng, cũng không biết tại sao, chỉ là một khắc thoáng qua, hình ảnh của chiếc xe tăng oai vệ đã đi sâu vào tâm trí của cậu bé.

Ở góc nhìn của cậu, xe tăng rất lớn, tháp pháo to đùng, nòng pháo dưới nắng nhìn oách lắm.

Xích xe tăng mạnh mẽ đạp lên đất bằng, hùng dũng, hiên ngang như có thể phá tan mọi vật.

Từ lúc đó, Thiều đã có ước mơ.

Cậu muốn làm một người lính xe tăng.

Thiều chín tuổi, dùng chì tô vẽ ra một bức tranh xe tăng méo mó và con người vặn vẹo.

Cậu coi nó như kho báu, giấu rất kỹ, không ai phát hiện ra cả.

Thiều tự nhủ với lòng mình, ước mơ là phải tự đạt được, thành công rồi hẵng khoe.

Mà cậu cũng chẳng định khoe ai, bởi Thiều vẫn không có bạn chơi cùng, còn mẹ cậu thì lại chẳng quan tâm gì.

Bà chỉ lo kiếm tiền đi học rồi trở thành cô giáo mà thôi.

***

Một sáng tháng sáu, ánh vàng chui qua khe cửa, chạm lên bức vẽ xe tăng méo mó của Thiều.

Một cành cây bị quăng lên, làm chiếc bình hoa cũ đặt sát mép bệ cửa sổ nghiêng ngả rơi xuống đất, vỡ thành mảnh.

Thiều giật mình, lật đật giấu tranh đi, chần chừ một lúc mới ló đầu ra xem “thủ phạm”.

Chỉ thấy cạnh gốc cây, một cậu bé lấm lem bùn đất, miệng cười tươi rói, tay cầm cành cây quơ qua quơ lại.

Cậu bé thấy Thiều chịu ló mặt, phấn khởi hô lớn:

- Đằng ấy ơi, mình kết bạn đi!

Đó là lần đầu Thiều được gặp Dịch.

Dịch bằng tuổi Thiều, là một cô nhi.

Bố mẹ Dịch đã mất vì chiến tranh, sau đó cậu ấy được dì đón về nuôi.

Thiều có ấn tượng khá tốt với dì của Dịch, dì ấy rất tốt bụng, giúp Thiều rất nhiều những khi mẹ vắng nhà.

Thiều không ngờ thằng cu Dịch lại muốn kết bạn với mình.

Nói gì thì nói, cậu quen ở một mình rồi, tự dưng có người hồ hởi xông vào thế giới của cậu, Thiều thấy lạ lắm.

Lúc đó, Thiều không đáp lại Dịch, cậu chỉ chăm chăm đi dọn đống đổ vỡ dưới sàn rồi tiếp tục ngồi vào bàn.

Ấy thế mà Dịch không bỏ cuộc.

Cậu nhóc ngày ngày sang chọc Thiều chơi, hở một tí là rú lên đòi kết bạn.

Thiều bị làm phiền đến khó chịu, đóng cửa kín mít, quyết tâm làm lơ Dịch bằng được.

Tháng chín, nhà trường khai giảng, đứa nào đứa nấy đều phải cắp sách đến trường.

Dù không muốn, Thiều vẫn phải chạm mặt Dịch tại lớp học.

Dịch phấn khích lắm, xin cô giáo cho ngồi cạnh Thiều.

Suốt một tiết học, Dịch truyền giấy cho Thiều vài lần, bị giáo viên bắt gặp cũng không sợ, còn dõng dạc bảo do không hiểu bài nên hỏi bạn.

Nếu là đứa khác thì còn hợp lý, chứ là Thiều, đứa có thành tích kém nhất khối, thì lý do này rất qua loa và không thiết thực.

Đương lúc giáo viên hoài nghi tính chân thực của lời này, Dịch toét miệng cười một cái, lộ ra hàm răng trắng bóc bị lủng một chiếc răng cửa.

Cô giáo thấy vậy, đành cười cho qua.

Thiều từng nghe một ông anh bố đời bảo, không đánh không thành anh em.

Quả đúng là thế, Thiều và Dịch trở thành bạn sau một trận “tụ họp cổng trường”.

Tính Thiều lầm lũi, thành tích kém cỏi, người nhà không quan tâm, đâm ra có ối thằng ỷ mình mạnh mà bắt nạt Thiều.

Chúng nó đợi Thiều ở cổng trường sau giờ tan học, rồi kéo Thiều đến một con hẻm hẻo lánh ít người qua.

Chính ra chúng nó học hành cũng không ra gì, không cam lòng bị đám học giỏi đè bẹp trên mặt thành tích nên mới chèn ép Thiều, làm ra vẻ ta đây mạnh nhất.

Thiều không phản kháng lại được, chỉ có thể chịu bị chúng nó đánh.

Dịch xuất hiện vào lúc không ngờ nhất.

Không ai nghĩ cậu nhóc gầy còm với nét cười dễ gần đó lại biết đánh nhau, mà đánh còn rất hăng.

Một mình Dịch xông vào, đánh cho mấy đứa bắt nạt kêu la oai oái.

Thiều ngã ngồi dưới đất, sững sờ nhìn Dịch lấy một chọi bốn.

- Quỷ tha ma bắt chúng mày, có mỗi thế này mà cũng đòi đi bắt nạt người khác à.

Này thì bắt nạt này!

Này thì ỷ mạnh hiếp yếu này!

Cho chừa!

Dịch vừa đấm vừa đá, luôn miệng mắng mỏ đám bắt nạt.

Có điều, Dịch cũng chỉ chiếm lợi thế ở giai đoạn đầu tiên, ngay sau đó, thằng đầu sỏ (cũng là thằng nặng thịt nhất đám) nhào tới xô ngã Dịch.

Thiều run rẩy lùi ra sau, trơ mắt nhìn Dịch bị bốn thằng bắt nạt hội đồng, nắm tay siết chặt.

Thiều không hiểu tại sao Dịch dám đến cứu cậu.

Trên đời chỉ có bà ngoại đã mất là thương cậu nhất, mà khi cậu bị đánh, bà không thể đi lên cứu cậu, chỉ có thể đứng ở sau giúp cậu xử lý mấy vết bầm.

Chính Thiều cũng phải thừa nhận, cậu ăn đòn nhiều hơn ăn cơm, ăn đòn đến quen luôn rồi, thậm chí cậu thà tự chịu còn hơn chờ một ai đó đến giúp.

Thế nhưng, Dịch đã đến.

Cậu ấy mang theo nắng ban trưa gắt gỏng xông vào con hẻm tối tăm ẩm thấp, trở thành người đầu tiên đứng chắn trước mặt Thiều.

Nói không cảm động là giả, chỉ là Thiều không có can đảm đứng lên, đến bên cạnh Dịch.

Nay Dịch bị bọn nó đánh, ra tay còn ác hơn so với đánh cậu, Thiều sợ hãi, càng nhiều hơn là xót xa.

Xót cho mình, cũng xót cho người dám vì cậu mà ở đó.

Thiều cắn răng, biến sự sợ hãi thành cơn tức giận, rồi từ cơn tức giận trở thành sự can đảm.

Thiều gượng dậy, vươn người chồm qua, kéo chân một đứa trong đám bắt nạt.

Thiều bẩm sinh có lực tay khá tốt, cậu lại không hề nhận ra.

Cậu cho rằng do mình lên cơn nổi đóa nên mới có sức giữ chân được hai thằng cùng lúc, tạo điều kiện cho Dịch trở mình.

Được Thiều trợ giúp, Dịch đạp hai thằng còn lại ra, bật người dậy đánh chúng nó.

Khi đám bắt nạt nằm sõng soài dưới đất, không dám đánh tiếp, Dịch mới uể oải đứng thẳng dậy.

Quần áo cậu nhếch nhác, rách bươm vài chỗ, trên mặt là mấy vết bầm xấu xí, khóe môi còn có vệt máu khô.

Cậu quay qua Thiều, ngoác miệng cười phớ lớ như không biết đau là gì, khen ngợi:

- Cậu “xịn” đấy! – Nói đoạn, Dịch vỗ ngực mình rặt vẻ tự hào gớm, bảo. – Tớ đây con nhà lính, chuyên trị bọn tính nhà quan.

Nếu cậu muốn, hai đứa mình kết hợp với nhau, mấy thằng nhãi như kia chỉ là muỗi thôi.

Đám bắt nạt vừa nghe thấy thế, cả người rúm ró nép sát vào nhau.

Thiều bật cười khoái chí, càng thêm mến cậu bạn tên Dịch này.

Cậu bắt lấy bàn tay Dịch đưa ra, có chút băn khoăn:

- Sao cậu muốn kết bạn với tớ?

Hình như mình chả quen nhau gì sất.

Dịch cười hì hì, đáp:

- Quen rồi thì cần gì ngỏ ý kết bạn nữa.

Tớ thấy cậu một mình, trùng hợp là tớ cũng thế, hai đứa mình quá hợp nhau luôn.

Kết bạn đi!

Với cái lý luận trông thì hợp lý mà cũng khá vô lý này, Thiều có cho mình người bạn đầu tiên.

Dịch luôn ở cạnh Thiều mỗi khi vui vẻ hay buồn rầu, bày nhiều trò hay cho Thiều cùng chơi.

Sau cơn mưa, Dịch sẽ rủ Thiều đạp lên những vũng nước đọng.

Dịch bảo những vũng nước này phản chiếu lại bầu trời, khi mình nhảy lên đó sẽ dễ tưởng tượng ra cảm giác đang bay.

Một lần khác, Dịch kéo Thiều ra sông ngụp lặn, vốc một nắm nước lên cho Thiều nhìn.

- Thấy không?

Mặt trời trong tay tớ này.

Thì ra mặt trời buổi chiều rơi xuống lòng sông, để cậu nhóc năm đó vốc lên được.

Nhìn mặt trời lóng lánh trong làn nước xanh ngắt, Thiều cảm thấy nhiều thứ qua đôi mắt của Dịch thật thú vị, khác xa những gì cậu thấy.

Dường như thế giới của Dịch rất nhiều màu sắc, đẹp hơn thế giới màu xám đơn côi của Thiều nhiều.

Một lúc nào đó, Thiều chợt nhận ra, nhờ có Dịch mà thế giới của cậu đã sáng rỡ hơn từ bao giờ.

Dịch thích nghịch cành cây, xếp cành cây thành mô hình là thú vui thường ngày của cậu ấy.

Đôi lúc, Dịch sẽ cầm một cái que huơ huơ nhảy nhót như ông thầy làm phép, biểu thị cậu ấy đang rất vui.

Dịch chia sẻ với Thiều rằng, sau này cậu ấy muốn làm một kỹ sư xây dựng.

Để có qua có lại, Thiều nói cậu sẽ làm một người lính bảo vệ đất nước.

Lên cấp hai, Thiều cùng Dịch quen thêm hai người bạn nữa là cái Thảo và thằng Học.

Cái tuổi mới chớm này là khi đám trẻ bắt đầu có những mối rung động đầu đời, nhất là khi bên cạnh luôn kè kè một cô bạn.

Dịch tương tư Thảo từ cái nhìn đầu tiên.

Thảo có một mái tóc dài ngang vai, buộc thành hai cái đuôi gà nhìn năng động và dễ thương lắm.

Thảo không xinh đẹp, được cái giọng của Thảo rất hay, nghe trong như tiếng suối reo nơi rừng thẳm.

Tính Thảo bạo hơn nhiều cô gái, dám chơi dám chịu, vậy nên mới thân với ba anh con trai.

Tiếc rằng cái Thảo chỉ coi ba thằng là bạn.

Có một điều khá hay là thằng Học cũng thầm mến cái Thảo.

Khác với Dịch có vẻ ưa nhìn dễ gần, Học là một thằng cu điển trai, khỏe khoắn với làn da ngăm nâu.

Không như cái tên của nó, thằng Học rất ghét học hành, có thể xưng anh em với Thiều là nhờ thành tích học tập cả.

Nó nhiều lần bảo sẽ sớm bỏ học, về quê lập chí làm anh nông dân giàu có, được cả đám ủng hộ hết mình.

Cả Dịch và thằng Học đều biết người kia là tình địch của mình, ngấm ngầm thi nhau lấy lòng cái Thảo.

Thiều thân với Dịch hơn, không ít lần lén lút cho Dịch lời khuyên, dù Thiều chưa có nổi một mối tình.

***

Năm 1965 là năm bọn Mĩ bắt đầu ném bom phá hoại miền Bắc, cứ cách một khoảng thời gian là người ta lại nghe được tiếng loa thông báo máy bay địch đang tới.

Sau mỗi trận bom oanh tạc, nhà cửa ruộng vườn gì cũng đều bị phá hỏng, cả một vùng sầm uất thành một mảnh hoang tàn đổ nát, không biết bao nhiêu mạng người đã mất dưới trời bom.

Đến năm 1968, bom rơi xuống một trường học, nơi mẹ Thiều giảng dạy.

Vì cứu học sinh chưa kịp xuống hầm tránh bom, mẹ đã đi lên, chỉ kịp đưa đứa trẻ đó xuống hầm, mình thì ở lại.

Năm mười bảy tuổi ấy, Thiều không còn gia đình.

Đêm tới, trăng treo giữa trời, Thiều thẫn thờ ngồi bên bàn học, man mác buồn.

Tuy mẹ không phải một người mẹ tốt, nhưng ít nhất mẹ cũng đã hoàn thành nghĩa vụ của một người mẹ rồi.

Thiều quyết định thôi học, đi lính.

Cậu thu xếp đồ đạc, cầm theo những món đồ quý nhất của mình, bao gồm cả bức tranh chì nguệch ngoạc thuở nhỏ.

Đứng dưới nhà Dịch, Thiều ôm lấy người bạn thân, nói về ý định của mình:

- Tổ Quốc gian nguy, cũng đến lúc tớ nên đi bộ đội rồi.

Giờ tớ đi xa, cậu giữ sức khỏe, học cho thật giỏi, sớm ngày rước được Thảo về.

Dịch không nỡ xa bạn, níu lấy tay cậu, do dự bảo:

- Hay là cậu chờ tớ, tớ đi với cậu luôn?

Tớ dọn đồ nhanh lắm, nhoắng cái là xong.

Thiều chỉ cười lắc đầu, khuyên Dịch không cần như thế, dù sao Dịch còn nhiều thứ phải lo toan và có một người dì thương cậu ấy rất nhiều, đâu như Thiều vốn chỉ có tình bạn cùng ước mơ là đáng giá nhất.

Cậu tạm biệt bạn thân, xoay người rời đi, để lại phố nhỏ ngập nắng sau lưng.

***

Thiều được làm một chiến sĩ xe tăng.

Khi biết tin, cậu mừng húm, cả ngày cười hềnh hệch ngắm nghía quân hàm hình xe tăng, khiến các đồng đội mới quen trêu miết.

Trong ba thành viên cùng xe tăng, Lữ là người làm quen với cậu trước tiên, sau đó lần lượt là Niên và Đảo.

Ba người đồng đội của Thiều là những người kỳ quặc, cậu tự nhận xét trong lòng như vậy.

Anh trưởng Niên là cháu đích tôn trong họ, mặc kệ áp lực từ một dòng họ đậm tư tưởng phong kiến, Niên vẫn quyết chí đi lính, còn một nguyên nhân bé tí ti khác là vì bị ép cưới.

Lữ là một thanh niên nhà mặt phố chính hiệu, nói lắm, thích nghịch dại nhưng hay ngượng như thiếu nữ mới gả chồng.

Còn Đảo cùng tuổi với Thiều, là một thiếu niên mới lớn rất biết mơ mộng hão huyền.

Thiều được phân làm pháo thủ số hai trong xe, ngày ngày ôm viên đạn pháo thủ thỉ tâm tình, lâu lâu lại lên tháp pháo dùng súng máy.

Thiều bắn khá dở, tay chân lóng ngóng, mỗi lần huấn luyện dùng súng máy là một lần cậu bị ăn mắng.

Lữ cũng là pháo thủ, đêm đến liền cùng cậu ngồi ngắm trăng, trò chuyện về cách ngắm bắn.

Luyện lâu dần, Thiều bắn cũng lên tay, chỉ là lúc hoảng thì vẫn bị loạn như thường, còn bị đập mặt vào súng luôn cơ.

Ngày đầu lên chiến trường, bốn đứa căng thẳng lắm.

Nhìn khu vực hoang vắng hãy còn bốc lên khói đen, cây cối ngổn ngang, nhà cửa nát tan, mặt bốn người bệch ra vì sợ, cuối cùng vẫn là Niên lên tiếng an ủi cả bọn:

- Không sao đâu, tất cả chỉ nà tạm thời thôi.

Hai năm từ ngày nhập ngũ, Thiều tình cờ gặp Dịch trong một trận đánh.

Lúc ấy Thiều cùng Niên ngồi trên tháp pháo, Niên quan sát tình hình, còn cậu sử dụng súng máy bắn mấy tên bộ binh địch.

Chợt, Niên ngoái đầu nhìn những anh lính bộ binh đang chạy men theo vết xích xe tăng.

Bộ binh được huấn luyện đi lên trên vết xích, bởi vì xích xe tăng di chuyển sẽ đè hết các chướng ngại vật như cây con, nếu lỡ đi ra khỏi vết xích, khéo có anh lính xui xẻo mất nòi mất. (*)

Hai hàng lính thẳng đều tăm tắp, Niên tặc lưỡi, khen nhìn thích mắt lắm.

Rồi chàng chống cằm, vui vẻ hỏi:

- Có cậu lào mệt không thế?

Thiều nghe vậy thì lườm Niên một chặp, nhắc Niên giờ không phải lúc để chơi đùa.

Niên cười hì hì, lại nói:

- Các cậu không cần no đâu ha, có chúng tớ đây rồi.

Chúng tớ nà dân chuyên đấy nhé!

Các anh lính phía sau cười phá lên, Thiều cũng tủm tỉm.

Cậu nghiêng đầu nhìn về phía sau xe tăng, bỗng nhiên một anh lính giơ tay lên vẫy vẫy cậu.

Thiều ngạc nhiên, có chút hiếu kỳ mà nhìn kỹ thêm một chút.

Đó là Dịch.

Sau hai năm, gương mặt cậu ấy không thay đổi nhiều, nét cười vẫn rạng rỡ như xưa.

Gặp lại Dịch, Thiều vui mừng, cũng có chút luống cuống.

Cậu không ngờ mình sẽ gặp lại bạn thân trong trường hợp như thế này.

Thiều ủn ủn Niên, ra hiệu nên tập trung vào nhiệm vụ trước, trong lòng thầm mong trận đánh này kết thúc thật mau.

Khi xe tăng lên đường về nơi tập kết, Thiều gấp gáp bảo đồng đội thả mình ở chỗ bộ binh, cậu muốn gặp lại một người bạn cũ.

Ba người đồng đội không ý kiến gì, chỉ dặn cậu đi sớm về sớm.

Dịch đứng tựa lưng lên thân cây, tay mân mê một nhành cây nhỏ.

Thoáng thấy Thiều dạm bước tới gần, Dịch ngẩng đầu lên, cười nói:

- Ái chà, cậu Thiều ngồi xe tăng nom ngầu phết ấy nhỉ.

Thiều chạy tới thật nhanh, trao cho bạn mình một cái ôm chặt, vỗ vỗ lưng Dịch.

Cậu xoay người Dịch nhìn một lượt, gật đầu khen:

- Ừm, rất khỏe, còn cao lên nữa.

Hai năm không gặp, hai đứa có rất nhiều chuyện để nói.

Dịch kể cho Thiều tất thảy những gì xảy ra sau khi Thiều đi, nào là mọi người đều rất nhớ Thiều, cũng khá yên tâm khi không nhận được bất cứ tin gì về cậu, bởi chiến tranh mà, không tin gì còn tốt hơn tin dữ nhiều.

Rồi Dịch ỉu xìu, buồn bã bảo mình đã thất tình, cái Thảo đã chọn thằng Học, chúng nó còn làm đám cưới luôn rồi cơ.

Thiều an ủi bạn thân, hứa sẽ dựa vào các mối quan hệ hiện tại để làm ông mai cho Dịch.

Dịch chỉ cười, lảng sang chuyện khác:

- Cậu định làm gì sau chiến tranh chưa?

Thiều chưa đáp vội mà hỏi lại:

- Cậu chắc mình thắng hả?

- Dĩ nhiên là mình thắng chứ gì nữa. – Dịch nói một cách chắc nịch. – Đằng nào tớ cũng bỏ ước mơ để đến đây đấy, nếu không thắng được thì uổng lắm đó.

Thiều gật gù, bảo cậu sẽ tiếp tục làm bộ đội.

Dịch lại hỏi cậu vẫn làm lính tăng hay gì, Thiều cười cười trả lời:

- Chớ sao, tớ thích.

***

Nhóm của Thiều có một bộ bài tây, không phải đi trộm mà có, là do Niên năn nỉ ỉ ôi mấy anh bộ binh quen biết mới xin được.

Bình thường, khi rảnh rỗi, bốn thằng lại túm tụm với nhau dưới gầm xe tăng, vừa đánh mấy ván phỏm hoặc tiến liên, vừa hăng say tán dóc.

Lữ đánh ra một quân năm nhép, nhân tiện kể cho cả bọn nghe:

- Ê này, mọi người nghe được gì chưa?

Ở một đơn vị nọ, có vụ đào ngũ tập thể đó.

Chuyện này vừa khơi lên, ba người còn lại ngạc nhiên hẳn ra, nhao nhao hỏi chi tiết.

Lữ buồn bực khi thấy Niên đánh ra luôn con Q nhép, song vẫn nói:

- Cơ mà xui rủi thế nào, vụ này bị phát hiện bởi một tay tân binh.

Mà những người đào ngũ là lính “già”, thấy bảo lý do đào ngũ là không chịu nổi cái cảnh sống trên chiến trường “nay sống mai chết” nữa.

Với kinh nghiệm của bọn họ thì dĩ nhiên họ thoát được tân binh rồi.

Chẳng qua cu cậu tân binh cũng nhọ, đang đuổi theo thì đụng phải ba thằng giặc đi lạc, rồi... hầy...

Vẫn còn một cái may là vị trí đóng quân chưa bị lộ.

Đảo lắc đầu thở dài, tay đánh ra quân hai cơ.

Lữ và Niên thấy quân này, bực mình trông thấy.

Ván này sắp đánh xong rồi.

Trong tay cả bọn, ngoại trừ Thiều, ai cũng còn ít quân lắm, mà toàn quân nhỏ thôi, sao mà chặn được một con hai cơ từ trên trời rơi xuống này được.

Đương khi Đảo đắc ý vì sắp thắng, Thiều đánh ra ba đôi thông cậu gìn giữ nãy giờ.

Biết là không ai chặn được, cậu đánh nốt quân sáu rô cuối cùng, ẵm luôn vị trí số một trước sáu con mắt trố ra của đồng đội.

Thiều xem các đồng đội đánh nốt ván bài, nói:

- Kể ra ai cũng lờ mờ biết rồi sẽ xuất hiện một hai vụ đào ngũ, chỉ không ngờ lại có trường hợp như kia.

Cũng tội anh cu tân binh phết đấy.

Ba người kia cũng cho là vậy, không để chuyện này trong lòng lâu.

Ván bài kết thúc, người về cuối là Niên đành đi xào bài cho ván tiếp theo.

***

Một chiều mưa lâm thâm, Thiều gặp đồng đội của Dịch.

Đó là một cậu trai trẻ lùn tịt, vai khoác súng, lưng đeo ba lô con cóc quá khổ, mũ tai bèo ướt nhẹp nước mưa, vành mũ sụp xuống xe đi một nửa gương mặt.

Cậu chàng đi cùng với ba người khác, có vẻ như là đang di chuyển đến đơn vị mới.

Bốn người họ đi ngang qua đơn vị xe tăng của Thiều, cậu chàng kia dừng lại một chốc, bắt lấy tay một anh lính xe tăng, nói là muốn tìm người.

Cậu chàng đó tìm Thiều.

- Cậu là Thiều hở?

Thiều gật đầu.

Cậu thấy hơi lạ, người này và cậu không quen biết gì, không đến nỗi để người ta đến tận cửa hỏi thăm như vậy.

Cậu chàng đó lôi ra từ trong ba lô con cóc một quyển sổ to chừng một bàn tay, giao cho Thiều.

Cậu đó nói:

- Đây là di vật của Dịch.

Trang đầu ghi nếu cậu ấy có chuyện gì thì gửi nó cho cậu.

Thiều ngỡ ngàng, dường như không tin vào những gì mình nghe thấy, một hồi lâu sau cậu vẫn không bình tĩnh lại được.

Cậu chàng kia chờ đến sốt ruột, dúi quyển sổ vào tay Thiều.

Đến tận lúc này, Thiều mới ngập ngừng hỏi:

- Cậu nói gì?

Di… di vật?

Cậu chàng kia đáp “ừ”, lại kể cho Thiều về vụ đào ngũ tập thể.

Nội dung không khác những gì Lữ kể lại là bao, cũng chỉ thêm vài chi tiết như là có bao nhiêu người thành công thoát và bao nhiêu người bị bắt lại.

Cậu ấy còn nói:

- Dịch hi sinh anh dũng lắm.

Nói thật với cậu nhé, khi bị giặc bắt gặp, Dịch không mang theo súng, bị chúng nó tóm gọn bắt sống.

Chúng nó định hỏi ra vị trí đóng quân của mình nên tra tấn cậu ấy tại chỗ, mà Dịch không chịu, cắn răng nhẫn nhịn đến hơi thở cuối cùng.

Chúng tớ còn nhớ, đêm đó Dịch gào lên, tiếng lớn lắm, cảm giác như vọng cả núi rừng ấy.

Dù cậu ấy toàn hét lên lời chửi bới nhưng cũng kịp để chúng tớ cảnh giác, rút ngay trong đêm.

Cậu lính cũng bày tỏ niềm tiếc nuối khôn nguôi bởi Dịch có mối quan hệ tốt với các đồng đội lắm, nay lại gặp chuyện như này nên ai cũng buồn cả.

Cậu ấy còn dặn Thiều đừng nên quá đau buồn, Dịch là kiểu người vui vẻ hay cười, nhất định không muốn nhìn bạn bè vì mình mà gục ngã đâu.

Thiều thất thần trở về vị trí, trong đầu loạn thành một mớ bòng bong.

Người cậu ướt sũng nước mưa, đến cả quyển sổ nhỏ cũng không tránh khỏi.

Cơn mưa ngày ấy qua đi rất mau, đọng lại trên đất những vũng nước nhỏ.

Cây rừng xanh rì trong gió mát, hương rừng sau mưa vấn vương trong khí trời.

Thiều co mình ngồi cạnh xe tăng, những người đồng đội vây quanh khuyên nhủ cậu giữ sức khỏe, vậy mà cậu chẳng nghe nổi bất cứ điều gì.

Cậu giữ khư khư quyển sổ của Dịch, không chịu mở ra dù chỉ một lần, cũng không có ý định giữ ấm cho cơ thể.

Ba người bọn Niên hỏi cậu có sao không, Thiều chỉ lắc đầu qua loa, lại đi sang nơi khác tiếp tục ngồi một mình.

Ba người kia nhìn nhau, thấy rõ vẻ lo lắng của những người còn lại, song họ biết hiện tại cậu muốn ở một mình, đành bấm bụng để hỏi thăm cậu sau.

Hôm sau, Thiều phát sốt, người cậu nóng hừng hực như thiêu đốt, đầu óc choáng váng, cả người rũ rượi mệt mỏi.

Nhưng cậu không chịu nghỉ ngơi mà đòi lên xe tăng ra chiến trường, cậu cho rằng mình chẳng sao hết và đội không thể thiếu cậu.

Sau cùng, cậu vì quá sức mà ngất xỉu, được đồng đội nâng vào bệnh xá.

Thiều tỉnh lại trong tiếng hoan hô rung trời của các anh lính nằm cùng bệnh viện dã chiến.

Cậu uể oải nghĩ chắc có tin thắng trận gì nên họ vui đến vậy, một lúc lâu sau mới biết mấy anh lính chơi chọi dế trong này.

Thiều nằm nghiêng người, quay lưng với những anh lính kia, nhắm mắt ngủ tiếp.

Khi màn đêm vắng lặng buông xuống, Thiều lại tỉnh một lần nữa.

Lần này cậu không ngủ tiếp được, chỉ đành mở mắt thao láo, nằm lăn qua lộn lại.

Nhìn vào màn đêm trước mặt, bên tai chỉ có tiếng ngáy khe khẽ và âm thanh giường kêu cọt kẹt, Thiều không khỏi nhớ đến Dịch.

Cậu nhớ những ngày mưa rả rích chốn xưa, những buổi chiều tà lội sông chơi đùa, rồi nhớ đến lần cuối khi hai đứa gặp mặt.

Rừng lá xanh mơn mởn, hai người trai trẻ vẫn như thế, chỉ là đã khoác lên mình áo lính.

Chuyện xưa đã qua, thời gian chẳng thể quay lại, cả người cũng vậy.

Trái tim quặn đau, Thiều co người, một tay nắm lấy phần áo trước ngực, tay kia nện mạnh xuống chiếc giường.

Cậu không thể chịu nổi việc Dịch đã đi rồi, không thể chấp nhận nổi sự thật đó.

Giọt nước mắt rơi xuống, Thiều đau đớn khóc thầm.

- Đằng ấy à, nếu cậu không ngủ được thì cũng thôi, đừng ảnh hưởng đến người khác được không?

Một giọng nói đột ngột vang lên bên cạnh.

Hình như người nói đến bên giường cậu từ bao giờ, cúi người xuống nói thầm với cậu.

Thiều thút thít lau nước mắt, nhỏ giọng xin lỗi người nọ.

Người kia không định về giường mình mà ngồi ở mép giường cậu, khẽ giọng hỏi:

- Gặp chuyện buồn gì sao?

Thiều đáp không có gì, cậu chỉ nhớ chuyện cũ nên buồn quá thôi.

Người kia có vẻ không tin lắm nhưng không đào sâu vào, chỉ nói:

- Trông kiểu này của cậu giống tớ năm xưa lắm.

Có phải một người quan trọng với cậu đã qua đời không?

Rồi cả hai rơi vào im lặng.

Người nọ chờ một lúc không thấy cậu đáp, bèn khuyên cậu ngủ sớm, đứng lên về giường.

Thiều bất giác vươn tay kéo áo anh, cũng vì cho rằng anh giống mình nên níu anh lại.

Cậu ngơ ngác, không biết giải thích thế nào về hành động của mình.

Người lính kia không nổi nóng mà kiên nhẫn chờ cậu, còn nhẹ nhàng vỗ vai cậu an ủi.

Hồi lâu sau, Thiều hạ quyết tâm, chần chừ nói:

- Bạn thân tớ hi sinh, tớ… tớ…

Người đó vỗ vỗ mu bàn tay cậu, ý bảo cậu bỏ tay khỏi áo anh, sau đó ngồi xuống mép giường Thiều.

Anh tự giới thiệu mình tên Sáo, hăm hai tuổi, là một bộ binh.

Sáo móc từ túi quần ra một cái cành cây nhỏ, nhét vào tay Thiều, bảo là nghịch cái này vui lắm, dùng để giải tỏa thì không gì tốt hơn được.

Anh còn nói:

- Năm đó, tớ cũng không khác cậu mấy, nhưng tớ nhận ra, bên cạnh tớ không chỉ có một mình người đó.

Thiều ngơ ngác nhận lấy cành cây, khóe mắt hoe đỏ.

Cậu cố gắng nén xuống tiếng nức nở.

Cậu vuốt ve cành cây sần sùi ươn ướt, bên trên còn vương một ít bụi đất, suy nghĩ miên man.

- Đừng quên những người bên cạnh cậu.

Nói rồi, anh dịu dàng xoa đầu Thiều.

Cậu cầm cành cây trong tay, ngẩn ngơ nghe Sáo tâm sự vài chuyện.

Chắc hẳn không ngủ được nên Sáo cũng hơi chán, anh kể nhiều lắm, nhất là những trận chọi dế kịch tính ngày hôm nay.

Thiều chỉ yên lặng lắng nghe, vẩn vơ nghĩ về lời Sáo nói, cả khi anh về giường nghỉ ngơi lúc nào cũng không biết.

Đêm tàn, trời sáng.

Thiều thao thức suốt đêm dài, lòng tự hỏi, liệu bên cạnh cậu còn người khác nữa sao?

Vẫn còn người giống như Dịch sao?

***

Chú thích:

(*) Chi tiết này được tôi tham khảo từ “Hồi ức lính” của Vũ Công Chiến.

Tác giả tám nhảm: Trên kia đội của Thiều đánh tiến lên miền Bắc.

Khoe khoang chút, hồi Tiểu học, tôi là trùm chơi tiến lên miền Bắc đấy, do được chân truyền từ bố tôi cả :v

Ngày đăng chương này trên web là 24/8, mà ngày 20/8 năm ngoái là ngày tôi chính thức đăng truyện lên, vậy nên để kỷ niệm một năm thì tôi sẽ đăng tiếp chương 12 nhé.

Cảm ơn những người đã theo dõi và ủng hộ tôi trong suốt năm vừa qua :3
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 12: Cháy


Sáo đặt bát nước xuống đất, cắm một cành cây ngay bên cạnh rồi ngồi bệt xuống.

Anh ngửa đầu, dõi mắt nhìn về phương xa.

Trên những dãy núi trập trùng là bầu trời sẩm tối, những tảng mây lờ đờ kéo nhau trôi đến chân trời, loáng thoáng thấy vài bóng đen vù vù bay ngang đầu.

Văng vẳng từ đâu những tiếng pháo vang, chẳng biết sẽ kéo dài đến bao giờ nữa.

Những hố bom, vết đạn nối tiếp nhau.

Đá sỏi như đã bị dẫm nát, vung vãi khắp trận địa hoang tàn.

Máu chảy thấm đất, tay ai nằm chỏng chơ trên bãi chiến trường.

Mấy bóng người đi qua đi lại, kéo từ trong đống đổ nát ra những xác người, có thể là quân mình, cũng có thể là quân địch.

Có người gào lên tên của đồng đội, có người dùng tay không bới lên ụ đất đá, lại có người đang cõng đồng đội đã bất tỉnh.

Và ở một góc vắng nào đó, có ai quỳ bên một cái hố mới đào, tay nâng niu những kỷ vật của đồng đội, nhẹ nhàng đặt vào hố.

Sáo ngồi không một hồi lâu, đợi đến khi anh Giàn tới giục mới chậm rãi chống tay đứng dậy.

Anh đổ hết bát nước, sau đó dùng bật lửa đốt cành cây.

Ánh lửa màu cam ấm áp cháy bập bùng, hắt lên mặt anh một vầng sáng nhàn nhạt.

Sáo thở dài, thủ thỉ:

- Thiều thông cảm cho các anh nhé.

Các anh không có nhang khói, cũng không có gạo muối gì cho chú cả, chỉ có bát nước mưa hứng được và cành cây này thôi, chú nhận tạm vậy.

Sáo cất bước rời đi sau khi lửa tắt hẳn, nhúm tro bị gió thổi bay về trời.

Cây lá chung quanh đong đưa, những tiếng rì rào kia không biết có phải đang đáp lời anh hay không nữa.

Sáo thoáng dừng bước chân, ngoảnh đầu nhìn lại phía sau.

Ở vị trí anh vừa ngồi đậu bốn chiếc lá nhỏ, xanh mơn mởn, hẳn mới mọc trên cây không lâu đã rụng xuống rồi.

Sáo dùng tay lau mặt, khẽ nói một tiếng “tạm biệt” rồi tiếp tục bước đi.

***

Sáo vừa trở về đội liền thấy anh Lơn đang khóc sụt sùi, luôn miệng gọi tên Thiều.

Miễn ở bên cạnh vỗ vai Lơn an ủi, Năng thì ngồi ngẩn ngơ, còn Sĩ ở một góc múa bút vẽ tranh.

Riêng anh Giàn sa sầm mặt mày, buồn bực đi qua đi lại.

Nhác thấy Sáo về, anh lập tức gọi Sáo qua, bảo Sáo ngồi xuống cạnh Sĩ.

Anh Giàn nhắc lại vài vấn đề trong chiến đấu, nghiêm giọng miêu tả tình huống hiện giờ.

Địch đã phản kích lại, sư đoàn bọn họ không lập được công, quân ta mất ba pháo cao xạ cùng năm xe tăng.

Bù lại, một tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 258 của địch bị trung đoàn 9 (1) thuộc sư đoàn 304 (2) đánh chạy.

Một tiểu đoàn của trung đoàn 48 (3) cũng thành công chiếm được Tân Vĩnh.

Anh Giàn còn dặn mọi người phải giữ bình tĩnh, tự tin và quyết tâm giành chiến thắng, đừng vì hiện giờ địch đánh căng mà hoang mang. (4)

Không ai đáp lời anh Giàn, tâm trạng ai nấy đều nặng nề không thôi.

Lúc nào cũng thế, khi có một người bạn, người đồng đội hi sinh, bọn họ chẳng thể vui nổi.

Chính anh Giàn cũng không khác mấy, chẳng qua anh là đội trưởng, anh phải làm tấm gương, chỗ dựa cho những người khác, đâu thể cùng họ gặm nhấm nỗi buồn mãi được.

Anh đứng thẳng lưng, cất giọng nói rằng:

- Anh biết mấy đứa buồn.

Có lẽ vì mình chưa làm nên cơm cháo gì trong trận này, cũng có lẽ vì hôm nay nhận tin Thiều hi sinh.

Nhưng dù sao đi chăng nữa, anh hi vọng mấy đứa không chán nản mà gục ngã, bởi chúng ta còn nhiều chuyện phía trước cần phải làm.

Những người ở đây đều hiểu ý anh, gật đầu đáp lại.

Anh Giàn lại nói thêm mấy câu, nghe sơ qua thì thấy văn vẻ lắm.

Không mấy ai chú ý anh nói những gì, tại anh nói lòng và lòng vòng quá, mãi mới thấy mấy từ trọng tâm như “cố lên”, “đừng nản chí”.

Sáo ghé đầu ngó sang trang giấy Sĩ vẽ dở.

Anh cứ nghĩ Sĩ đang hoàn thiện nốt bức vẽ Thiều lon ton làm chân chạy vặt, ngờ đâu Sĩ lại đang vẽ một bức khác.

Một cậu lính tăng đội mũ bảo hiểm trên đầu, mặc chiếc áo lính rách vai, chân đi đất, ống quần xắn đến tận đầu gối.

Hai tay khoanh trước ngực, cậu kiêu ngạo ngồi trên tháp pháo một chiếc xe tăng T-54, trước mặt là súng máy của xe tăng.

Phần mặt trắng trơn, chỉ thấy mấy vết chì mờ mờ, có lẽ Sĩ chưa kịp phác họa lại cả gương mặt cậu.

Ấy thế mà, Sáo vẫn có thể tưởng tượng ra hình ảnh của cậu, một cậu lính tăng tự tin, cười tươi roi rói sau khi chiến thắng trở về.

Lùn lùn choai choai mà oai như cóc, đây là nhận xét của hầu hết anh em về cậu lính tăng của họ.

- Anh từng đến xem đội tăng rồi à?

Sáo thắc mắc.

Mặc dù đợt này anh gặp Thiều khá nhiều, nhưng lần nào cũng là Thiều chủ động tới chỗ các anh chơi, chứ anh chưa từng thấy Thiều khi ở đội tăng như thế nào.

Nhìn từ trong tranh, cho dù không có gương mặt, nom Thiều ra vẻ hơn bình thường nhiều lắm.

Sĩ siết chặt cây bút chì trên tay, sau đó từ từ thả lỏng ra.

Chàng gượng cười, đáp:

- Ừm, ba năm trước có ngẫu nhiên thấy một lần.

Sáo có chút ngạc nhiên, như muốn hỏi sao chàng nhớ kỹ thế.

Sĩ cúi đầu vuốt phẳng trang giấy, chậm rãi đóng quyển sổ lại.

Chàng ngước lên bầu trời đã tối mù từ bao giờ, rầu rĩ ngân nga câu hát đầu tiên.

- Ấn tượng khá sâu. – Một lúc sau, chàng nói.

Cũng vì hồi ấy Sĩ đang tìm kiếm ý tưởng, mới ngẫm ra được chút ít thì tình cờ gặp được đội của cậu út Thiều.

Trên trận địa, một chiếc xe tăng xông xáo lao về phía kẻ địch.

Gió lớn sượt qua lớp sắt thép bên ngoài, thổi bay phần lá ngụy trang, lộ ra những “vết thương lâu ngày” trên thân xe.

Chiếc xe đột ngột rẽ ngoặt, quán tính làm cho xe như xoay thêm một vòng.

Xích xe tăng đạp lên cây cỏ, nghiền nát mặt đất, mạnh mẽ đến tưởng chừng không gì có thể ngăn cản.

Nóc tháp pháo bật mở, lần lượt có hai người “ngoi” lên.

Một người thét lên chỉ huy, người còn lại thành thạo dùng súng máy ngắm bắn.

Giữa cơn mưa bom bão đạn, hai người lính tăng lạ mặt ấy kiên trì ngồi trên tháp pháo, mặt đối mặt với hiểm nguy, dường như chẳng mấy quan tâm cái chết đang lăm le đến gần.

Cảnh tượng này thôi thúc Sĩ cất bước, mỗi lúc một nhanh hơn.

Chàng phấn khởi cầm súng, chạy theo chiếc xe tăng nọ, miệng lẩm bẩm mấy ý nghĩ linh tinh trong đầu.

May mà đồng đội không nghe được, nếu không họ sẽ nghĩ chàng bị hâm.

Đêm ấy trăng mờ, Sĩ lén dùng đèn pin nhỏ, trốn trong một góc cầm bút viết câu đầu tiên.

Xong xuôi, chàng hài lòng ngắm nghía, lắc lư theo giai điệu mình tưởng tượng ra.

“Đời này ta có tuổi thanh xuân sáng nhất…”

***

Dạo gần đây trời nhiều mây, được một chốc sẽ có mưa rơi.

Gió mùa Đông Bắc lại về đến chỗ này, chắc là đợt cuối cùng đây, đằng nào thì tháng tư rồi mà, tính theo lịch âm cũng là tháng ba, sắp sang hè đến nơi.

Tiết trời ở miền trong không lạnh bằng ngoài Bắc, mà nếu không cẩn thận thì vẫn dễ ốm.

Được cái trời này mát mẻ, ít muỗi, giấc ngủ cũng vì thế mà được cải thiện nhiều.

Năng thích những ngày trời đầy mây như thế này nhất, chỉ vì dễ ngủ mà thôi.

Hôm nay anh Giàn hí hửng lắm, cả ngày há miệng cười hềnh hệch, lúc ăn cơm còn suýt bị sặc vì cười nữa kìa.

Nhìn cái mặt gầy nhom nhem nhuốc khói đen, khi cười lên lộ ra hàm răng vẩu vàng khè trông nổi bật cực kỳ của anh Giàn, anh nào anh nấy cũng hết hồn.

Được hai hôm như thế, mọi người đẩy Lơn đi hỏi thăm xem xem anh Giàn mấy hôm nay bị gì.

Anh Lơn chẳng ngại điều chi, nhảy lò cò đến thẳng chỗ anh Giàn hỏi thử thì được anh đáp với cái giọng khoe khoang khoác lác, rặt vẻ đắc ý lắm:

- Chị nhà mày lại gửi thư cho anh đấy!

- Ờ, thế à. – Anh Lơn nói, tự dưng thấy là lạ. – Thế sao anh chả khoe luôn, cứ để hỏi rồi mới kể cho các anh em.

Anh Giàn toét miệng cười phớ lớ đến tít cả mắt lại, nom cái mặt như thể mưu kế đã thành công vậy, gian xảo ghê nơi.

Sáo liếc mắt nhìn qua, chợt có cảm giác không ổn lắm.

Quả nhiên, ngay sau đó anh Giàn vỗ vai Lơn, tỏ vẻ bất đắc dĩ:

- Chúng bay chẳng chê anh còn gì, anh giữ cho bản thân để mấy đứa vừa lòng đấy thây.

Thế mà chúng mày quan tâm anh quá cơ, thôi thì để anh nói cho nghe nhé.

Lơn lắc đầu nguầy nguậy, muốn từ chối.

Nhưng anh Giàn nhanh miệng, chẳng mấy mà kể hết cả cái bức thư chị Thùy gửi.

Trong thư chị toàn viết mấy thứ lặt vặt trong cuộc sống, nhiều nhất là về các con.

Nào là anh lớn học giỏi được khen thưởng, em gái xinh xắn hiểu chuyện.

Rồi là nhà bắt đầu nuôi một con chó, gần đây cuộc sống rộn ràng hẳn.

Cuối cùng chị dặn dò chồng phải biết tự chăm sóc, không phải lúc nào cũng chỉ biết gửi mấy thứ linh tinh về nhà.

- Bảo sao cứ thấy anh xin đồ thủ công tôi làm, hóa ra là gửi về nhà.

Làm thế cũng được phỏng?

Sáo hỏi.

Anh em chung đội đều biết Sáo là một chàng trai khéo tay, làm thủ công rất giỏi.

Ai mà chẳng biết sự tích Sáo dựng được nguyên một ngôi nhà bằng cành cây chứ, còn đẹp nữa cơ, thế nên nhiều người muốn xin về làm kỷ niệm.

Ngoài ra, Sáo cũng làm mấy món nhỏ nhỏ, bảo là ngứa tay thì làm chơi chơi.

Anh Giàn xin mấy cái, mỹ kỳ danh là “lấy làm tài liệu học tập”.

Sáo thắc mắc tại sao anh Giàn không nhờ chính Sáo chỉ dạy luôn, mà cứ nhất quyết đòi làm theo mẫu có sẵn.

Khi ấy anh Giàn không đáp, cười cười đổi sang chủ đề khác.

Anh Giàn móc từ trong ba lô con cóc món đồ chơi bằng lá cây bị bép dí, nát bươm, chỉ vào nó rồi bảo:

- Đâu có, đồ chú làm anh vẫn còn giữ đây, cái thứ gửi về nhà là anh làm, cơ mà chả được đẹp như chú.

Sáo bĩu môi, làu bà làu bàu oán trách, thứ kia đã bẹp đến thế rồi, có ma mới biết đó là do anh làm hay anh Giàn làm.

Thực ra, trong lòng anh cũng hiểu, nếu do anh Giàn làm thì anh ấy sẽ giữ kỹ hơn, dù sao cũng muốn gửi về cho con chơi mà.

- Thôi, của ít lòng nhiều.

Bọn trẻ thích là được, không phải sao?

Cứ coi như mình tạm có ngón nghề, sau này biết cách chơi với cháu rồi đấy.

Miễn cười bảo, các anh em ở quanh gật gù tán đồng, lại bắt đầu đua nhau tưởng tượng cuộc sống sau chiến tranh.

Điều đầu tiên là phải cưới về một cô vợ, sống trong một mái nhà tranh đủ để che mưa chắn gió, bước tiếp theo là sinh một đàn con cho vui nhà vui cửa, rồi cả nuôi một bầy gà con bên đống rơm rạ.

Sáo hớn hở nghe họ kể về tương lai trong tưởng tượng, cũng háo hức nghĩ đến nếu có ngày mình được về nhà.

Rồi anh tự hỏi, liệu mẹ ở nhà có khỏe không?

Cái Sẻ làm đám cưới rồi, không biết có hạnh phúc không, với cả con bé đã có bầu chưa nhỉ?

Nghĩ đến việc mình kiểu gì cũng lên chức bác, anh mừng lắm, đó giờ đã làm bác bao giờ đâu.

Sáo phấn khởi định hỏi chuyện Lơn, lại phát hiện anh Lơn đang bần thần vuốt ve nhúm cỏ dại.

Trông anh hơi lạc lõng trong đám bọn họ, như là chẳng mấy để tâm đến tương lai, thế nên không cùng gia nhập câu chuyện.

Có lẽ anh biết có người nhìn mình, bèn quay ra cười với Sáo.

Chẳng qua, Sáo nhận ra có một nỗi buồn man mác ẩn trong nụ cười đó của anh Lơn.

Anh ấy sao thế nhỉ?

Nhớ Thiều sao?

Sáo nghĩ.

Đương khi cả bọn còn hăng say tán gẫu, một anh lính hối hả chạy tới, thúc giục mọi người nhanh chân chuẩn bị, lại sắp phải lên chiến trường tiếp rồi.

Sáo khoác súng trên vai, quay sang dìu Lơn đứng dậy.

Trong trận đánh hôm trước, một thằng địch giả chết, đùng lưỡi lê đâm bị thương chân của Lơn nhân lúc Lơn đi qua.

Nếu không phải Năng ở gần đó phát hiện kịp thời, không khéo Lơn đi tong luôn cả cẳng chân mất.

- Bảo nghỉ đi thì không chịu, một mực thích làm thằng què chiến trường cơ.

Đấy, thấy chưa, sướng chưa, được người dìu đi đánh nhau đấy, ngầu quá cơ.

Năng đủng đỉnh đi tới, nâng tay giúp Sáo đỡ Lơn đứng thẳng, còn không quên nói hai câu móc mỉa Lơn.

Người ngoài chỉ biết Lơn “không may mắn gặp phải thằng địch khôn lỏi” chứ nào hay, Lơn đi giữa những xác người là để giúp người ta được chôn cất đàng hoàng.

Tính tình Lơn chân chất, tốt bụng, chắc hẳn vì phần tính cách này nên anh mong những người ở đây, giữa chiến trường này, bất kể là bạn hay thù đều được an nghỉ.

Thiều từng nổi cáu với Lơn vì việc này, vậy mà Lơn chỉ gãi đầu gãi tai, cười hi hi nom ngờ nghệch vô cùng.

Nay, Thiều mất rồi, đến lượt Năng quở anh.

Năng tưởng Lơn sẽ cười cho qua như mọi khi, nào ngờ Lơn chỉ ngước mắt nhìn sang bãi đất hoang vắng, đáy lòng tràn ngập nỗi u sầu.

Chẳng mấy chốc nữa, âm thanh của hỏa lực sẽ lại vang lên, gấp gáp và dồn dập.

Người người tiến lên, như thể chẳng biết chết là gì.

Rồi ngay sau đó, người người lại ngã xuống, nằm cách xa đồng đội, nằm tại nơi không phải quê hương mình.

Người hai phe, ai cũng vậy cả.

Chiến tranh chỉ thế thôi!

Nó chỉ là một quá trình, quá trình mà những con người can đảm xông lên vì một mục đích nào đó, sống thì sống mà chết thì chết, không khéo còn nửa sống nửa chết.

Thiều là kiểu chết, mà ông nội của Lơn là kiểu nửa sống nửa chết đó.

Bọn họ vẫn còn sống đấy, nhưng cứ đà này, biết đâu được…

Lơn chớp mắt, lặng lẽ xua đi những suy nghĩ mới nổi lên trong đầu.

Anh khẽ thở dài, đẩy hai đồng đội ra, chống báng súng xuống đất, lê từng bước chân đi về phía trước.

Đồng đội nhìn theo bóng lưng anh, đột nhiên cảm giác anh Lơn ham ăn ngày nào đã gầy sọp đi nhiều.

Nhìn kỹ lại, bấy giờ Sáo mới hay, thật ra anh Lơn không béo, anh chỉ đầy đặn hơn những người lính khác mà thôi.

Nhưng những người lính khác thì được bao nhiêu thịt, đều chỉ nặng vì xương, ngay đến Sáo cũng mới bốn mươi cân chứ mấy, chắc anh Lơn nặng đến tầm hơn năm mươi cân đã là kịch kim rồi.

Sáo thấy anh đi lục lọi ba lô con cóc của mình, lôi ra một chiếc mũ nan từ thời chống Pháp.

Rõ ràng giờ đây, anh chỉ cần đội một chiếc mũ cối hoặc mũ tai bèo là được, ấy thế mà anh cứ giữ khư khư cho mình một chiếc mũ nan cũ mèm, lần nào ra trận cũng đội nó lên đầu.

Sáo chỉ biết chiếc mũ đó rất quan trọng với Lơn, ngoài ra thì không còn gì khác nữa.

Nhiều người hay đùa, bảo rằng chỉ cần một ngày anh Lơn còn đội mũ nan trên đầu, thể nào cũng không bao giờ lạc anh được.

Vốn mọi người đùa vui thôi, ai dè mấy lần Lơn nghe thấy thế, chắc anh hiểu sai cái gì nên cười trừ đánh trống lảng sang chuyện khác.

Anh Lơn ngâm nga một câu hát cũ, cẩn thận đội mũ nan lên.

Anh bình thản nhấc súng, thử đi lại vài bước.

Chân không quá đau, nhịn chút là được, mỗi tội tướng đi có hơi tập tễnh, hơi xấu nhưng không sao.

Lơn giậm chân vài cái, ngoảnh đầu nói với Sáo và Năng:

- Mình đi thôi?

Sáo giật mình, gật gật đầu, vội vàng chạy đến bên cạnh Lơn.

Năng thì vẫn giữ y nguyên cái vẻ mặt cáu bẳn khi nãy, không buồn động đậy.

Lơn hết cách, đành phải giải thích:

- Đều cùng một giống loài với nhau, sao nỡ nhìn người ta trơ trọi nơi ấy.

Kể ra thì cũng đúng, đều là con người như nhau, chắc hẳn họ cũng không muốn chết trong cái trường hợp này đâu.

Nhưng có những khi Năng biết thế, đến Thiều cũng hiểu, lại cứ nhủ trong lòng rằng sao có thể để nó nghỉ ngơi bình thản được, chúng nó là quân xâm lược mà.

Nhân nhượng với chúng nó, chắc gì nó đã nhân nhượng với mình.

Nghĩ thì nghĩ vậy, Năng vẫn không nói ra, tạm chấp nhận câu trả lời của Lơn.

Anh điều chỉnh lại quai mũ sao cho vừa vặn, kiểm tra lại cây súng rồi mới sóng vai đi cùng Sáo.

Anh vẫy vẫy tay về phía sau, dùng giọng điệu bất cần đời nói:

- Đi trước đây, anh nhớ cẩn thận đấy.

Lơn chậm rãi đi sau cùng, nhìn đến những người đồng đội chạy trong mưa đạn.

Chân người rầm rập băng qua chiến hào, nhảy qua dây thép gai, mũi súng nhắm tới quân thù.

Thấp thoáng đằng trước là lá cờ của quân giải phóng, hình ảnh sao vàng trên nền đỏ và xanh dương khi ẩn khi hiện sau làn khói súng.

Chỉ là không biết tên ngố tàu nào cầm ngược cờ, ai đời để phần nền màu xanh phía trên bao giờ.

Lơn nghe ai đó phì cười, lớn tiếng trêu chọc anh lính ngố tàu nọ một câu.

Anh lính ngố tàu bị đồng đội nhắc, luống cuống xoay lại lá cờ.

- Thằng này mới vào chắc luôn.

Nhìn điệu bộ nó loay hoa loay hoay kìa.

Một anh tặc lưỡi nói, những anh khác cười tủm tỉm đầy vẻ chọc ghẹo, làm anh lính ngố tàu ngượng đỏ cả mặt.

Đột ngột ánh lửa lóe lên, đạn pháo rời nòng, xé không, ngân lên một tiếng dài.

Hàng loạt pháo đã lên nòng, thêm một đợt, hai đợt đạn bắn ra, chúng nhanh như chớp phi thẳng đến chỗ quân giải phóng.

Đạn xoáy nhanh và mạnh, đầu đạn đâm xuống, nổ ầm ầm, tạo thành những cơn rung chấn nhẹ.

Mắt thấy hỏa lực của địch đang tập trung về phía bên này, mọi người hô hào nhau mau nằm xuống tránh đạn.

Những người lính đeo súng trên lưng, dùng tay và chân bò lết trên mặt đất, chốc chốc lại cúi mặt xuống, tránh để cát bụi bay vào mắt.

Khi đợt pháo này tạm ngừng, họ tranh thủ nhổm dậy, hướng nòng súng đến những kẻ địch sau làn khói đạn.

Một hàng xe tăng xuất hiện, chúng gầm lên những tiếng ồm ồm đến nhức cả óc, xồng xộc chồm lên trước như những con thú săn mồi.

Tháp pháo xoay vòng, toàn nhắm đến những vị trí nhiều người nhất mà bắn.

Pháo đạn vẫn chưa ngừng, chúng tiếp tục khạc đạn cùng với xe tăng, cứ như thể đang “chung tay góp sức” tạo ra một hàng rào bằng đạn vậy.

Rồi thình lình, có ai gào lên thất thanh tên một người.

Tiếng kêu xé lòng, dường như đã chạm tới cảm xúc của từng người có mặt ở đây.

Ai nấy chợt hốt hoảng, ngoảnh nhìn về hướng âm thanh phát ra, lại thấy người lính cầm cờ lảo đảo ngã khuỵu.

Cờ đỏ thấm máu đào, cũng chẳng nhớ rõ đây là người thứ bao nhiêu.

Miễn sửng sốt một hồi, bỗng cảm thấy có một sự hụt hẫng thoáng qua.

Chàng tăng tốc chạy, chật vật tránh làn mưa đạn đang vun vút lao tới.

Ống kính của chàng đã bị sỏi đá dưới đất làm xước xát rồi, có dấu hiệu sắp bị vỡ đến nơi, hình ảnh chụp lên cũng chẳng ra hồn.

Vậy mà Miễn không quan tâm, chỉ chăm chăm chờ lúc đạn ngừng.

Ngờ đâu Sĩ vọt lên trước, hiên ngang đứng giữa chiến trường đầy khói lửa đạn mạc, một tay cầm súng, tay kia nhặt cờ lên, giơ cao.

Chú thích:

(1) Trung đoàn 9: còn có tên là trung đoàn Quang Trung, thuộc sư đoàn 304.

(2) Sư đoàn 304 (tên khác: Đoàn Vinh Quang) là 1 trong 6 đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, thuộc biên chế của Quân khu 2 (theo Wiki)

(3) Trung đoàn 48: còn được gọi là trung đoàn Thạch Hãn, thuộc sư đoàn 320B.

(4) Những thông tin trong đoạn được tham khảo từ “Nhật ký Quảng Trị 1972” (Lê Quang Đạo)
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 13: Cháy


Cờ giải phóng lần nữa giương cao, mọi ánh mắt đổ dồn lên đó.

Có ngẩn ngơ, có vui sướng, có niềm tin và hi vọng, ngay cả nỗi buồn cũng hiện hữu quanh quẩn đâu đây.

Cảm xúc nào cũng có, nhưng tuyệt nhiên chẳng ai lùi bước lại.

Gương mặt điển trai của Sĩ bị khói đạn hun cho đen nhẻm, chàng đứng trên mỏm đất cao cao, thở hổn hển.

Có viên đạn sượt qua eo chàng, cứa rách áo, một vệt máu nhỏ xuất hiện trên phần eo lộ ra ngoài, trở thành một phần của những vết sẹo chằng chịt trên làn da sạm đi vì nắng và lửa.

Đã có một viên, dưới cơn mưa đạn lạc này thì ắt sẽ có viên thứ hai, thứ ba bay qua người chàng, để lại vết thương cứa lên da.

Chàng một tay cầm cờ đi đầu, một tay cầm súng, muốn ngắm bắn thì khá khó, đằng nào thì súng cũng không còn bao nhiêu đạn nên chàng cũng chẳng quan tâm mấy.

Sĩ nhảy qua chiến hào, chạy lên phía trước.

Những người lính phía sau hò reo nhiệt liệt, tưởng chàng chỉ hiếu thắng lại muốn lập công lớn, nào ai hay tâm hồn chàng lại bay bổng treo ngược cành cây lần nữa.

Biết đâu được, ai bảo chàng có một tâm hồn của người nghệ sĩ kia chứ.

Sĩ có cảm giác hình như lá cờ trên tay chàng ấy không chỉ phấp phới hướng gió bay, mà còn theo bước chân của người chiến sĩ can trường, theo sự quyết tâm hướng về ngày hòa bình của hàng ngàn hàng vạn con người trên đất nước này.

Hay, hay quá!

Chàng phấn khích nhẩm đi nhẩm lại ý tưởng trong đầu, càng nghĩ càng thấy thích không thôi.

Thế nhưng, chẳng mấy chốc niềm vui khi có ý tưởng sáng tác mới của chàng lụi tắt.

Một thằng địch cầm súng chặn trước mặt chàng, da nó xanh xao, người nó khô gầy làm lớp áo ngoài của bọn lính Ngụy trông cồng kềnh đến lạ.

Nó thốt lên chất giọng địa phương của người miền trong mà Sĩ nghe không hiểu, chẳng biết là đang khuyên chàng đầu hàng bỏ cuộc hay nói tục chửi bậy nữa.

Hoặc cũng có khi là tâm sự đôi câu nào đó.

Nghe lạ nhỉ, người ở hai chiến tuyến sao lại tâm sự với nhau được cơ chứ, còn ngay giữa chiến trường thế này.

Thế mà Sĩ đã từng gặp một lính Ngụy như vậy đấy.

Đó là vào một đêm dài, chàng đang đứng gác một mình.

Làm mấy nhiệm vụ kiểu đứng gác một mình thường chán lắm, dưới trời đêm mênh mông chỉ có một người lính đứng giữa rừng cây bạt ngàn bất tận, thỉnh thoảng lại văng vẳng vài âm thanh lạ.

Chắc là tiếng thở của chàng, hay tiếng gió, tiếng côn trùng, thậm chí cả tiếng của vài con thú hoang đi săn đêm, thấy sao cũng rợn rợn mà kỳ quặc thế nào.

Sĩ đá viên sỏi dưới chân, thơ thẩn lẩm bẩm mấy câu thơ mua vui cho bản thân, ai mà ngờ lại láng máng nghe được tiếng bước chân xào xạc giẫm lên lá khô.

Sĩ im bặt, cơ thể căng cứng, ôm chặt súng mò đến thân cây gần đó, phát hiện một bóng người thất tha thất thểu, loạng choạng chống báng súng đi từng bước.

Bóng dáng người đó trông nho nhỏ, cái lưng còng quèo đến lạ.

Phần đầu nhìn hơi to so với bình thường, hẳn do trên đầu đang đội cái mũ to quá khổ đây mà.

Chẳng qua hình dáng cái mũ hơi lạ, không phải mũ tai bèo, càng chẳng phải mũ cối, mà ở cái khu này chỉ có mỗi Lơn đội mũ nan, loại trừ hết những phương án trên thì chỉ còn mỗi mũ của bọn Ngụy, bọn Tây thôi.

- Đứng lại!

- Chàng quát khẽ.

Dường như người kia bị dọa hết hồn, giật nảy mình ngã ngửa ra sau, còn không quên kêu oai oái mấy tiếng.

Sĩ xông ra, chĩa súng vào mặt người đó, quát hỏi chú ta là ai.

Đêm đen tối mịt, không có lấy một tia sáng mờ, Sĩ không thể nhìn rõ được mặt của người đó, chỉ nghe ra được chất giọng ồm ồm của người đàn ông trưởng thành.

Nghe kỹ chút, chàng thấy người này cũng đứng tuổi rồi, quê ở miền trong, tỉnh nào thì không rõ nữa.

Người kia như biết có mũi súng chĩa vào mình, vội vàng giơ hai tay lên tỏ ý đầu hàng, ngọng nghịu nói:

- Ấy chít, ấy chít!

Anh chi ới, anh bình tĩnh chút he, nghe em giải thích đã.

Chẳng đợi Sĩ nói thêm gì, chú ta đã khai hết tất cả ra rồi.

Chú đó kể chú người Quảng Nam, nói nhà nghèo rớt mồng tơi là còn đang khen người ta giàu đấy, chứ riêng chữ “nghèo” cũng chưa đủ để miêu tả gia cảnh của chú đâu.

Năm nay chú lên bốn chục, góa vợ gần mười năm, con lớn mười hai tuổi, mẹ già đã tám mươi, có mười mấy anh chị em nhưng phân tán hết cả.

Sĩ vẫn không buông lỏng cây súng trên tay, nghiêm túc nghe chú nói hết, rồi sẵng giọng hỏi:

- Thế đêm rồi, sao mày lại đến đây?

Nói mau, có phải bọn mày có mục đích gì không, phái mày đến đây lấy niềm tin của quân giải phóng để trà trộn vào?

Thứ cho Sĩ nghĩ đến tận kịch bản này.

Nói thật, chiến trường làm con người ta không tin nổi ai, ngay cả đồng đội cũng phải tự lo cho bản thân trước đã, sao lo cho người khác được.

Nghe Sĩ hỏi thế, chú kia lắc đầu nguầy nguậy, còn sợ Sĩ nhìn không rõ, miệng lặp lại chữ “không” mấy lần liền.

Chú ta để ý cây súng bên cạnh mình, tiện tay quẳng nó ra xa, quỳ sụp xuống đất, giơ hai tay lên đầu.

Chú ta nói, giọng buồn rười rượi:

- Em chỉ là một thằng binh nhì, nào có chức có quyền chi, đừng nhìn tuổi em lớn mà nghĩ em “lớn” thật đấy.

Nói thật với anh, em là đào binh của chúng nó, đang trên đường chạy thôi.

Bộ anh không thấy chân em bị thương đó à, bị chúng nó bắn bỏ đó.

Sĩ nheo mắt, tặc lưỡi tỏ vẻ không tin lắm.

Thú thật, chàng chẳng thấy rõ đâu, một là vì trời tối quá, hai là vì đối phương là lính Ngụy, có nói gì thì chàng cũng không chịu tin là thật.

Có lẽ chú lính Ngụy kia ngầm hiểu được, chỉ thở dài, không buồn giải thích nữa.

Im lặng hồi lâu, chợt, Sĩ cất giọng hỏi:

- Sao mày lại làm Ngụy?

Rõ là cùng một dân tộc với nhau, sao phải chia thành hai phe, bắn nhau tùm lum trên chiến trường thế nhỉ?

Chỉ đơn giản là kế sách của bọn Mĩ, hay còn phải xuất phát từ chính những người tự xưng là Việt Nam cộng hòa đó?

Câu hỏi này quanh quẩn trong đầu Sĩ từ rất lâu, từ khi chàng ra lính, mà đến tận bấy giờ chàng vẫn chẳng hiểu nổi.

Trên mặt trận, khi trời quang đãng, chàng thoáng nhìn những gương mặt của người châu Á, người Việt mình cầm súng ở chiến tuyến bên kia, ánh mắt ánh lên sự giận dữ như thể đứa bị cướp nước là bọn họ.

Ơ kìa?

Chàng lấy làm lạ, tự hỏi, tự lý giải, mãi chưa xong được.

Không bằng thử hỏi một vài đứa giặc xem.

- Không anh ơi.

Em không theo cộng sản, nhưng em cũng không muốn theo cộng hòa.

Em yêu nước, yêu nhà, yêu gia đình em, thế thôi, chứ có ai bắt em phải theo cộng sản mới là yêu nước đâu anh.

Chỉ là cái số em rõ khổ, một ngày chẳng biết trời giăng mây gió chi, nhà em tan cửa nát nhà, rồi bị chúng nó bắt đi theo Ngụy.

Chúng nó bảo cộng sản làm đấy, em ứ tin đâu.

Vì sao ấy hả, vì em không biết đó.

Em không biết kẻ nào làm, cộng sản hay cộng hòa, em cũng không quan tâm, em chỉ biết, tất cả là do chiến tranh làm.

Kẻ thù thật sự là chiến tranh, chỉ chiến tranh thôi!

Em muốn sống cuộc đời bình yên, phụng dưỡng mẹ già, nuôi con khôn lớn, mà chiến tranh đâu có cho em.

Em cũng hết cách rồi…

Chú lính Ngụy đáp.

Chú ta ủ rũ cúi đầu, bất lực nói cho hết, giọng nghẹn ngào.

Đàn ông không dễ rơi nước mắt đến thế, nhưng thật sự, chú ta chịu quá đủ rồi.

Chú ta đã mất đi tất cả, kể từ khi cuộc chiến nổ ra, từ thời của bọn thực dân Pháp đến bọn đế quốc Mĩ, chú đã bao giờ được sống yên ổn đâu.

Chú ta chỉ là một người dân bình thường, muốn sống một cuộc đời tầm thường, thứ bất thường duy nhất trong cuộc đời chú chỉ có cuộc chiến tranh dai dẳng này thôi.

Chú nức nở, chậm rãi kể lại cuộc đời chú.

Lúc ấy Sĩ mới hiểu được, thì ra ở thời buổi chiến tranh bây giờ, ai cũng khổ như ai, hoặc có khi còn khổ hơn thế nữa.

Chàng được sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, tuy lúc đó còn bọn thực dân Pháp đô hộ, nhưng chí ít sau trận Điện Biên Phủ, miền Bắc còn tốt hơn hai miền còn lại một chút.

Âu chàng cũng đã may mắn hơn người đàn ông khốn khổ này rồi.

Chú ta tâm sự hết một lượt, lại hít vào thật sâu.

Chú ta ngẩng đầu, mắt nhìn vào bóng dáng của Sĩ.

Chú ta nói:

- Thôi thì... anh bắn bỏ em luôn đi, giờ em chẳng còn chi, chẳng tiếc chi nữa.

Để anh bắn, em còn được chết yên lòng.

Chân cẳng em đã ra nông nỗi này rồi, nếu bị chúng nó bắt về, sợ là em chẳng còn toàn thây đâu.

Đó là nguyện vọng cuối cùng của chú, chú muốn chết một cách thanh thản, với một cơ thể vẹn toàn.

Bởi chú nghĩ, nếu thật sự có kiếp sau, chú vẫn được làm một người bình thường như bao người khác.

Vậy cuối cùng Sĩ có bóp cò không?

Không, chàng đã thả chú ta đi.

Chàng coi như chưa gặp chú ta bao giờ, quay lưng về lại vị trí gác đêm, giữ kín chuyện này trong lòng không kể cho ai.

Chuyện sau đó ra sao, chàng không rõ nữa, không rõ chú ta chạy đến đâu, càng không rõ liệu chú ta còn sống không.

Sau cuộc trò chuyện đó, Sĩ thấy mình không còn ghét bọn Ngụy đến vậy.

Cái thứ đáng giận hơn cả, còn không phải là chiến tranh hay sao.

Chàng bước ra khỏi những dòng hồi ức, nhìn đăm đăm vào kẻ địch trước mặt.

Chắc nó hết đạn rồi, tay nó lăm lăm cái lưỡi lê, chực chờ xiên chàng một vố.

Sĩ không sợ hãi, tay cầm súng của chàng giơ lên, nhắm chuẩn thời cơ, dùng sức đập báng súng vào hạ bộ nó.

Thằng địch rú lên, ngã khuỵu xuống.

Nhân lúc này, chàng chạy vượt qua người nó.

Thằng địch không tha, mặc kệ cơn đau mà rướn người ra, bắt lấy chân Sĩ.

Chàng bất ngờ, xém chút thì ngã xuống.

Sĩ lắc chân, cố gắng tránh khỏi tay nó.

Không biết bọn Mĩ Ngụy cho thằng này ăn gì mà khỏe gớm, Sĩ có làm cách nào cũng không thoát ra nổi.

Đột nhiên từ sau đám khói xông ra một thằng Ngụy khác, đạn nó bắn ra găm trúng vào bàn tay cầm cờ của Sĩ.

Đạn xoáy từng thớ thịt, máu túa ra, đau rát, cơn đau như buộc Sĩ phải buông lỏng tay, thả lá cờ xuống.

Nhưng đó là cờ của quân giải phóng, là biểu tượng, là hi vọng một mai đất nước độc lập.

Nếu nó rơi xuống, vậy là điềm gở đấy, điềm gở cho sự thất bại.

Thất bại, vậy chẳng phải chiến tranh vẫn sẽ tiếp tục sao, còn kéo dài thêm mười năm, hai mươi năm, thậm chí là trăm năm nữa!

Không!

Chàng nhất quyết không để nó rơi xuống đất!

Kể cả khi chàng có chết đi chăng nữa.

Thằng lính Ngụy kia không hề lơi lỏng, bắn thêm vài phát đạn về phía này.

Chẳng qua khả năng ngắm bắn của nó kém cỏi quá, bắn mãi chưa trúng thêm viên nào.

Sĩ cắm mạnh cờ xuống đất, lên nòng súng, nhắm thẳng vào tên lính Ngụy mới tới.

Chàng bắn liền hai phát, thấy nó đã gục, chàng cúi xuống, nhắm vào thằng lính Ngụy dưới chân.

Bằng...

Bằng...

Bằng...

Người nó giần giật theo từng phát bắn, dòng máu nóng loang ra trên đất.

Nó thoi thóp, thế mà nó vẫn dùng hết sức bình sinh níu chân Sĩ lại, chẳng bao lâu thì tắt thở.

Sĩ nhìn xác nó một lúc, trầm mặc.

Nó đã lẩm bẩm gì đó trước khi chết, có thể là di ngôn, cũng có thể là câu chửi thói đời ngày nay.

Chàng ngẩng đầu, quan sát bãi chiến trường mù mịt.

Một không gian lặng gió, đất cát bay đầy trời, tiếng súng chẳng bao giờ dứt và mùi máu tươi tanh nồng.

Pháo nổ vang dội, chàng ngước nhìn mỏm đồi phía xa xa, mím chặt môi, xoay người cầm cờ lên, tiếp tục lên đường.

***

Lài vui vẻ trang điểm trước gương, đánh phấn cho đôi má đào, tô son môi màu đỏ thắm.

Thực ra em vẫn luôn xinh xắn lắm, chẳng cần phấn son gì đâu nhưng ngày cưới hôm ấy, Sĩ đã sững sờ ngắm em rất lâu rất lâu, còn nói là muốn vẽ lại em của ngày đó.

Lúc đó em đã nói gì nhỉ?

À phải rồi, em cười tủm tỉm, thủ thỉ bên tai chàng một lời hẹn ước nào đó.

Lài hồi tưởng lại, đắm chìm trong sự hạnh phúc những ngày đầu mới về nhà chồng.

Bỗng, những tảng mây đen từ đâu kéo đến, che mất nửa góc trời.

Ánh chớp lóe lên rồi lại tắt, tiếng sấm khi xa khi gần, làm Lài giật mình, vội đứng dậy dọn đồ từ ngoài sân vào trong nhà.

Xong xuôi, Lài nhìn trời, thầm nhủ quái lạ, mới tháng tư mà sắp có mưa to đến vậy ư?

Lài chau mày, đột nhiên thấy lòng mình quặn thắt lại.

Rất đau, đau không tả nổi, như một miếng thịt trong tim bị khoét đi mất.

Trái tim trong lồng ngực đập thình thịch, tiếng vang như đang bên tai em.

Em có dự cảm không lành, bất giác hướng mắt về hướng Nam, như muốn từ đó nhìn tới một nơi xa xôi nào, tìm bóng hình chàng trai của em.

Tia chớp lần nữa rạch ngang trời, chẳng có ai ở đó, chỉ có hàng cây xào xạc, gió thổi vù vù cùng những lớp mây đen dày đặc.

Em tưởng mình đã nghe thấy tiếng máy bay trên đầu, tiếng bom rơi rồi phát nổ, tiếng than đầy đau thương vang lên từ bốn phía.

Em nghĩ mình đã chứng kiến những khu đất vắng hoang tàn, có những người quay lưng về phía em đang ở nơi ấy.

Nhưng chẳng có ai là chàng.

Tiếng sét đánh xuống cánh đồng quạnh hiu đánh thức em từ nỗi sợ mơ hồ.

Em đưa tay sờ má mình, ẩm ướt.

Hình như em đã đoán được điều gì, nhưng vẫn cố kìm nén lại nỗi đau đang giằng xé trong lòng mình.

Chẳng qua, có lẽ em không mạnh mẽ như em đã nghĩ, em không thể chịu đựng được cơn đau này dù chỉ một giây.

Lài lảo đảo bước từng bước, bất chợt khuỵu gối ngã xuống đất, lại chật vật bò dậy.

Em nắm chặt phần ngực áo mình, nghẹn ngào gọi tên chàng trai của em.

Chồng của em, có phải đã...

***

Sĩ bị địch bắn, chỉ có một viên trúng vai, với chàng thì đây chẳng nhằm nhò gì.

Chàng kệ vết thương ở đó, vượt qua cơn mưa đạn, bắt gặp Lơn đã đến được đây bằng cách nào đó.

Cùng với cả chàng phóng viên chiến trường tên Miễn nữa.

- Gớm đấy Lơn, què mà nhanh hơn cả tôi nữa.

Chàng buột miệng bông đùa một câu, chỉ có Miễn che miệng cười khúc khích, còn Lơn thì nghiêm mặt.

Lạ thật đấy, Lơn mà cũng biết nghiêm mặt.

- Anh lo cho cái tay anh đi thì hơn, không khéo ngày mai về vườn giờ.

Lơn tự nhiên gằn giọng, làm Sĩ và Miễn chẳng hiểu sao.

Pháo nổ một lần nữa, Sĩ vội cúi người nằm sấp xuống, lăn trên đất tránh đạn.

Không biết chúng nó lấy lại sức từ bao giờ, chỉ biết lúc này chúng nó bắn như điên, bắn như chẳng có gì luyến tiếc.

Lắm đạn phết đấy.

Chàng thầm nhủ, lật đật nhỏm người dậy, cẩn thận quan sát.

Thấy Miễn chống tay đứng thẳng, dự định cầm camera chụp một pô, chàng bèn lên tiếng nhắc nhở:

- Anh nhà báo cẩn thận đó.

Đứng như thế thì làm bia ngắm sống cho chúng nó rồi đấy.

Miễn lại chẳng thấy đó là điều gì to tát.

Đây là nhiệm vụ của chàng, so với cái mạng, những bức ảnh tư liệu này quan trọng chẳng kém, có khi còn quan trọng hơn đấy.

Những bức ảnh này chẳng những để đăng lên các trang báo, tuyên truyền về diễn biến của cuộc chiến hiện tại; mà mỗi bức ảnh còn ẩn chứa những câu chuyện khác nhau, nên được giữ lại để cho đời sau cũng được biết về quá trình chiến đấu của những người đi trước như nào.

Miễn chép miệng, nhún vai, lắc đầu tỏ vẻ chẳng sao cả.

Nòng pháo bốc hơi nghi ngút, sau một tiếng hô to, một loạt pháo lên nòng, đạn pháo bắn ra, bay về phía những người lính quân giải phóng.

Sĩ trợn to mắt, nhanh chóng đứng bật dậy, lao đến chỗ Miễn để kéo Miễn nằm xuống.

Suy cho cùng, tuy trên chiến trường mạng ai cũng khó giữ, nhưng chàng vẫn chưa bỏ được tính người, không thể trơ mắt nhìn đồng đội hi sinh.

Lơn nhanh hơn chàng, dù sao thì anh cũng đang ở ngay bên cạnh Miễn.

Anh dùng sức nặng của cơ thể mình, đè Miễn nằm xuống đất.

Cùng lúc đó, đạn pháo to oành lao nhanh về phía này, thật chẳng biết trước hôm nay lại xấu ngày đến thế.

Nó lao nhanh như cắt, cả ba người không kịp tránh né.

Chỉ thấy ánh sáng trắng chói mắt lóe lên, tiếng nổ vang trời, tia lửa bắn tung tóe.

Khi mọi thứ lặng dần, người ta mới phát hiện ba người nằm chồng lên nhau, dưới đất loang lổ vài vũng máu đọng.

Sĩ ở bên ngoài cùng, thương tổn phải hứng chịu cũng nhiều nhất.

Lớp áo lính bên ngoài rách tươm, máu thịt trên lưng nát bấy chẳng rõ hình dạng ban đầu.

Mặt chàng trắng bệch vì đau, hơi thở nặng nề.

Hơn ai hết, chàng biết cơ thể mình không chịu được nữa.

Từ lúc bị đạn bắn vào tay, rồi vào vai, chàng không chịu sơ cứu, vốn đã mất nhiều máu, trụ được đến lúc trúng đạn pháo đã là giỏi rồi.

Chỉ còn vài giây cuối cùng của cuộc đời, Sĩ chợt nhớ ra có phải lá cờ đã rơi xuống đất rồi không.

Chàng cố liếc mắt nhìn sang bên cạnh, thấy một bàn tay đẫm máu cầm cờ lên.

Đó là Sáo, phần mặt bên trái của anh dùng vải áo rách quấn lung ta lung tung, bên ngoài còn dính máu, trông thật kinh khủng và đáng sợ.

Sáo phát hiện chàng nhìn mình, anh sờ lớp vải trên mặt, sờ lên con mắt đã mất, anh gượng cười, khẽ nói:

- Tệ thật nhỉ, mà trông anh thảm quá, đợi chút nhé, có cáng đến liền.

Không kịp đâu, quá muộn rồi, chàng thầm nghĩ.

Chỉ cần biết lá cờ chưa rơi, với chàng là đã đủ.

Chẳng qua chàng nhớ nhà quá, còn chưa kịp nói lời vĩnh biệt với họ.

Chàng nhớ cha mẹ, bạn bè, nhớ người con gái mà chàng đã yêu trọn thanh xuân này.

Từ khi làm một người lính, chàng chưa về thăm nhà lần nào, mọi tình hình chỉ được biết qua dòng thư tay của vợ.

Rồi chàng sực nhớ ra, hồi sáng Năng có nói hôm nay ngày bao nhiêu thì phải.

Ngày kết hôn của chàng và Lài.

Thật tiếc quá...

Chàng khép mắt lại, bên tai văng vẳng một câu nói.

“Chẳng bằng anh thơm em thêm một cái, yêu em thêm một đời, thế là đủ rồi.”

Ngày thứ hai sau khi kết hôn, Lài tươi cười thủ thỉ bên tai chàng như vậy đấy.

Mà câu nói này cũng là thứ cuối cùng chàng nhớ lại trước lúc ra đi.

Biết thế đã hôn em nhiều hơn rồi.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 14: Cháy


Khoảnh khắc bị lưỡi lê của địch chọc vào con mắt trái, rút ra, Sáo lần đầu được trải nghiệm một cảm giác mang tên “tuyệt vọng”.

Mắt phải còn lại của anh thấy rõ con mắt kia của mình bị chọc mù như thế nào: lưỡi lê găm sâu vào tròng mắt, máu tuôn ào ào như thể chỉ ngay giây tiếp theo thôi, máu trong cơ thể anh chảy sạch, và anh sẽ nằm chết ở nơi này.

Anh hoảng hốt, sợ hãi đến cùng cực.

Anh nào đã muốn chết đâu!

Anh chưa muốn chết!

Đầu óc anh trống rỗng, tựa như không thể tiếp tục điều khiển cơ thể mình được nữa.

Thế nhưng mà bằng một cách nào đó, cây súng trong tay anh bỗng chốc như hóa thành hình người, bắn chết thằng giặc lúc nào mà anh không hề hay biết.

Sáo mệt mỏi khuỵu gối, ngã gục vì cơn đau từ con mắt.

Anh vô thức vươn tay, che lên con mắt đã hoàn toàn mù lòa.

Thứ chất lỏng màu đỏ vẫn chưa ngừng tuôn rơi, len qua các kẽ tay, chảy tong tỏng.

Thẫn thờ một lúc, Sáo mới thét lên vì đau, cơn đau tê dại dày vò cả thể xác lẫn tinh thần anh.

Sáo quằn quại, thở hổn hển, chậm chạp lấy tay ra nhìn thử.

Một bàn tay đỏ máu tươi!

Sáo ngẩng đầu, gượng chống đỡ bản thân ngồi dậy.

Một đồng đội chạy qua, thấy nửa mặt anh chỉ toàn vết máu bị lau qua quýt thì hoảng lắm, nhanh chóng hạ gục tên địch vừa nhảy tót lên định đánh lén sau lưng anh, rồi không nghĩ ngợi nhiều mà kéo anh dậy, dùng sức xé thật mạnh áo ngoài, lấy mặt trong còn sạch của áo để sơ cứu vết thương cho anh.

Máu Sáo còn đang chảy, thấm dần qua từng lớp vải bọc bên ngoài.

- Không sao rồi, không sao rồi.

Đừng lo lắng, để tớ đưa cậu đi bệnh viện dã chiến nhé?

Đồng đội vỗ lưng an ủi, giọng đầy vẻ quan tâm.

Sáo gắng gượng đứng vững, báng súng chống xuống đất, lưng cong xuống, run rẩy chống chọi với cái đau.

Một chốc sau, anh hít thở sâu, cố gắng bình tĩnh lại.

Anh gượng cười, nói:

- Thôi, tớ vẫn đánh được, chút đau này có là gì chứ.

Rồi anh đứng thẳng dậy, tay nắm chắc cây súng, phăm phăm lao lên giữa làn đạn.

Có lẽ hiện giờ, vết thương ở mắt với anh chỉ là một vết muỗi đốt tầm thường, để thêm một lúc nữa sẽ hết đau thôi.

***

Chiến trận tạm ngừng, Sáo lặng lẽ đứng từ xa nhìn các đồng đội nâng xác của Sĩ sang chỗ khác, lại kéo hai người Lơn và Miễn dậy, nhanh chóng cõng họ chạy về hướng bệnh viện dã chiến.

Có cơn gió thổi qua, lá cờ khẽ bay phấp phới, giống như hành động vẫy tay chào tạm biệt vậy.

Một đồng đội khác thấy anh đứng đực ra, cũng thấy nửa gương mặt anh bị vải xanh che phủ, bèn quan tâm ngỏ ý muốn giúp anh tới chỗ bác sĩ.

Sáo lịch sự từ chối, đưa lá cờ trong tay cho đồng đội rồi tự mình bước từng bước mệt nhọc vào bệnh viện dã chiến.

Bệnh viện dã chiến đợt này có thêm hai bác sĩ, đều là những quân y tham gia kháng chiến nhiều năm, nay chuyển công tác đến đây âu cũng vì lượng thương vong càng lúc càng lớn.

Hôm nay vẫn như mọi ngày có trận chiến khác, các quân y tất bật ngược xuôi, thăm khám cho từng chiến sĩ một.

Sáo dùng con mắt còn lại nhìn quanh, quyết định đứng sang một góc chờ đợi.

- Tránh đường!

Tránh đường nào!

Lại thêm ba thương binh nữa được nâng đến chỗ này.

Một chị quân y vội vã sắp xếp giường cho ba người họ, nhanh nhẹn khám cho từng người, đưa ra phán đoán sơ bộ.

Tuy nói là khám cho bệnh nhân, nhưng thật tình nữ quân y kia như là người mẹ già, nhắc đi nhắc lại bao lần phải chú ý vết thương, phải nghỉ ngơi như nào cho chóng khỏe.

Hồi sau chị lại quay đi thăm khám những thương binh nặng, vừa hỏi thăm thương tích, tay chân lanh lẹ kiểm tra sức khỏe hiện tại của họ, lại phải tranh thủ lớn tiếng mắng những người không chịu nằm yên mà cứ ngóc người trêu ghẹo những nữ quân y khác.

- Một thằng lại hai thằng, nói mà chả đứa nào thèm nghe, có chết thì cũng chả đến lượt chị cúng chúng mày đâu!

- Nữ quân y cáu kỉnh chống nạnh, quắc mắt sang một anh lính quấn băng trắng kín bụng.

- Ối giời ơi, cái thằng kia!

Mày nằm thẳng cho chị!

Bụng mày lủng cả cái lỗ thế rồi, gái nó cũng chẳng hứng nhìn nội tạng của mày đâu!

Muốn có vợ thì để chị tìm cho, mày mau nằm xuống đi!

Khổ thân tôi quá, ơi là giời, bụng ăn hai phát đạn mà nó vẫn cứ là đi tán tỉnh người ta cho được, sống dai quá lại bắt đầu muốn tận hưởng đây mà.

Nữ quân y đi quanh bệnh viện dã chiến một vòng quát một lượt mấy anh lính nghịch ngợm, mãi sau mới để ý thấy Sáo đang đứng thu lu ở một góc.

Ai ở đơn vị cũng biết thằng Sáo ít nói, chẳng qua chị không ngờ Sáo ít nói đến này, bị thương như kia mà không chịu gọi một ai ra giúp đỡ cả.

Nữ quân y càng nghĩ lại càng bực, hùng hổ đi tới chỗ Sáo, nắm đầu anh kéo xuống để quan sát.

Sáo bị túm đầu, kêu đau oai oái mà nữ quân y chẳng mảy may để bụng, chỉ tập trung tháo lớp vải băng bên ngoài, kiểm tra vết thương của anh.

- Sao mày lại thành ra thế này?

Nữ quân y chau mày, dặn Sáo ngồi chờ chị một lúc rồi đi tìm dụng cụ.

Trong suốt quá trình băng bó, mặt chị cứ cau có đầy khó chịu, tỏ vẻ không hài lòng với trình độ quấn băng sơ cứu của anh lính nào đó, hoặc là lại giở tính cáu kỉnh vì mấy ngày trời bận quá không được ngủ nhiều.

Sáo cười gượng, tóm tắt lại hoàn cảnh chiến đấu lúc ấy.

Bây giờ nhớ lại, nỗi sợ hãi kinh hoàng và tuyệt vọng đó như là thứ cảm xúc chỉ xuất hiện trong cơn ác mộng bất chợt, chẳng còn đọng lại trong anh chút ảnh hưởng nào.

Sáo tự nhủ tinh thần của anh hiện giờ thật mạnh mẽ, hoặc có lẽ cảnh đồng đội thân thiết hi sinh trước mắt hãy còn rõ mồn một, làm anh cảm thấy cái chết đến với mình cũng chỉ có vậy.

Bùm!

Hết đời!

Nhanh đến mức anh nghĩ rằng khéo đến lúc đó mình còn không kịp cảm nhận được nỗi sợ thì đã tắt thở.

Nữ quân y chẳng nói chẳng rằng, băng vết thương cho anh xong thì dặn dò anh nên chăm sóc, nghỉ ngơi như thế nào.

Tình huống của Sáo còn khá ổn, nếu không có gì bất ngờ thì anh vẫn đủ năng lực tiếp tục lên chiến trường, không cần phải ngồi đần người trong bệnh viện dã chiến hoặc lên xe về hậu phương.

- Chị Trung Anh, chị chờ chút cho em hỏi cái.

- Mắt thấy nữ quân y định rời đi, Sáo vội đứng lên gọi chị lại, gặng hỏi.

- Tình hình anh Lơn với anh Miễn thế nào rồi ạ?

Chị Trung Anh nhìn Sáo thật chăm chú, khẽ lắc đầu, làm anh sợ quá đỗi, mặt tái mét lại vì tưởng cả hai người họ đều không qua khỏi.

Chị ghé lại gần, nghiêm túc hỏi:

- Chị có hai tin, một tốt một xấu, mày muốn nghe cái nào trước?

Sáo thở phào nhẹ nhõm, dù anh biết cái cần biết thì chưa biết, nhưng ít ra chị Trung Anh đang để anh có thời gian chuẩn bị tâm lý, huống chi đây là một tin tốt và một tin xấu chứ không phải hai tin xấu cùng một lúc.

Anh lặng lẽ liếc chị Trung Anh, bà chị này lại giở thói cũ rồi.

Chị Trung Anh là một nữ quân y theo đại đội bọn họ một khoảng thời gian khá lâu rồi, tuổi gần ba mươi, là gái ế chưa chồng.

Bình thường chị khá thân thiết với nhóm lính này, cũng rất hay bày trò trêu bọn họ.

Theo lời giải thích của chị, mấy tay lính trẻ lúc ăn không ngồi rồi toàn trêu các em gái của chị, các em các cô lại đi mách chị làm chị bực mình lắm, nên chị phải trêu lại mới hả lòng.

Sáo muốn kêu oan mà chẳng dám, cả đời anh chỉ tiếp xúc với đúng hai người phụ nữ, cùng lắm có thêm chị Trung Anh là người phụ nữ thứ ba, ấy vậy mà lại bị gom vào chung với đám kia làm anh mang tiếng quá chừng.

Anh lí nhí nói ra lựa chọn của mình:

- Tin tốt trước đi ạ.

Chị Trung Anh gật đầu, thong thả nói:

- Ừ, thật là một sự lựa chọn sáng suốt.

Tin tốt là một người sống lâu trăm tuổi.

Sáo nghe câu đầu thì vừa bực vừa buồn cười, nghe tới câu sau…

Anh sững sờ, như không thể tin vào tai mình mà nhìn chị Trung Anh chằm chằm.

Chị cũng biết mình hơi quá trớn, khẽ hắng giọng, vẻ mặt chị nghiêm túc, giải thích rằng:

- Miễn thương nhẹ nhất trong ba người bọn họ nhưng mà cũng khó tiếp tục ra tiền tuyến lắm, sớm ngày mai sẽ được đưa về hậu phương.

Sáo cúi gằm mặt, chẳng nói chẳng rằng, không rõ đang suy nghĩ gì.

Chị Trung Anh khẽ thở dài, lưỡng lự không biết có nên nói tiếp hay không.

Ai ngờ Sáo chỉ im lặng chưa tới một phút đồng hồ, sau đó lại ngẩng phắt dậy, cố ra vẻ bình tĩnh mà yêu cầu chị nói nốt tin còn lại.

- Chị nói nhé, mày đừng buồn.

Lơn ấy à... sợ là khó qua đêm nay.

Chị Trung Anh cẩn thận quan sát nét mặt Sáo.

Tiếc là gương mặt anh đã bị che kín một nửa, nửa còn lại nhìn sao cũng thấy quai quái.

Trên gương mặt sạm đen đi vì bom đạn và nắng trời đó, từng thớ cơ như dính lại với nhau, cả nửa gương mặt co rúm lại, con mắt còn lành lặn thì hoe hoe đỏ, đường tơ máu nơi đáy mắt trông như muốn đâm xuyên con ngươi.

Vốn mặt Sáo cũng không tới nỗi nào, ngày trước cũng coi như là trắng trẻo đẹp trai.

Chỉ là đi lính lâu rồi, ở với cái khổ đủ lâu, đến cả Sĩ cũng chẳng giữ nổi nhan sắc ngày chưa đi lính thì nói gì đến Sáo, vả lại còn ở tình huống như thế này.

Chị thầm nghĩ, không chắc đây là do vết thương lại nhói đau hay nỗi đau xuất phát từ tận sâu đáy lòng.

Chị Trung Anh khẽ thở dài, vỗ vỗ vai Sáo an ủi:

- Bọn chị sẽ cố hết sức, nếu qua đêm nay thì không sao rồi.

Sáo cũng chỉ còn cách tự an ủi bản thân như thế, lại bày tỏ mong muốn đi thăm hai người Miễn và Lơn.

Chị Trung Anh nhìn anh một lúc, đảm bảo cảm xúc của anh đã ổn định hơn rồi mới gật đầu bảo:

- Nhìn một lúc thôi nhé, đừng ảnh hưởng bọn chị làm nhiệm vụ.

Sáo vội vàng cảm ơn chị, bước những bước thật dài đến giường bệnh.

Miễn đã tỉnh từ lâu rồi, đang thẫn thờ nhìn lên trần bệnh viện dã chiến, trông chẳng hề có chút vui mừng vì còn giữ được mạng gì cả.

Bên cạnh chàng là Lơn bị quấn trong một đống băng trắng, vài chỗ lấm tấm vết máu do vết thương nứt ra.

Sáo chậm rãi đi tới, vươn tay nắm lấy ngón tay Lơn.

Đúng là tình hình của Lơn rất nghiêm trọng, thậm chí còn nghiêm trọng hơn anh tưởng tượng nhiều lắm.

Lơn hít vào rất ít, chẳng mấy khi thấy ngực anh phập phồng hít thở.

Có nhiều lúc, Sáo tưởng rằng Lơn chẳng chống nổi được nữa, cứ vậy mà đi rồi.

***

Lơn mơ màng hồi tưởng lại cả cuộc đời mình.

Anh biết bản thân anh cũng như đa số người khác trên mảnh đất này: thật bình thường.

Anh không phải một người lính tài giỏi gì, cũng chẳng phải một chàng trai đa tài.

Anh không có vẻ bề ngoài đẹp đẽ, không có bộ não sáng suốt, anh chỉ là một thằng nông dân nghèo lại ham ăn mà thôi.

Nhưng anh vẫn yêu cuộc đời này biết mấy.

Lơn tự thấy mình chẳng hơn được ai, nhưng lại tự hào bản thân có một gia đình phi thường, bởi lẽ từ già tới trẻ, từ trai tới gái, ai cũng tham gia cách mạng cả.

Ở nhà, Lơn là con một, theo lời ông nội Lơn kể thì gia đình cũng muốn đẻ em cho Lơn có người cùng chơi lắm mà không thể.

Bố mẹ Lơn bận đi đánh giặc, đánh mãi đánh mãi vẫn chưa thấy về.

Lơn được ông nội nuôi lớn, được bà con láng giềng hỗ trợ cho ăn cho học đến ngày ra lính.

Kỳ thực, Lơn không nhớ bố mẹ mình trông như thế nào nữa.

Anh chỉ nhớ, một ngày kia đột nhiên có một người lính đến nhà, ông nội đuổi Lơn đi ra ngoài chơi để ông tiếp khách.

Chờ đến khi Lơn về, trên bàn thờ trong nhà đã bày thêm hai tấm ảnh mờ tịt.

Ông nội gọi Lơn lại, chỉ cho anh biết người trên hai tấm ảnh đó là bố mẹ anh.

Mà ảnh mờ quá, dẫn tới hình ảnh bố mẹ trong lòng anh cũng mờ theo.

Ông nội là thương binh từ thời chống Pháp, hai chân của ông đã bị liệt hoàn toàn vì bom đạn chiến tranh.

Không chỉ cơ thể tàn tạ mà ngay cả tinh thần ông cũng bất ổn.

Khi ông tỉnh táo, ông sẽ vui vẻ ôm Lơn, kể cho Lơn nghe những chuyện thời trai trẻ của ông.

Còn khi ông mơ màng, ông sẽ ngồi ở hiên nhà, vừa vỗ tay tự đánh nhịp, vừa hát bài ca đời lính.

Ai gọi ông ông cũng không đáp, dường như ông không nghe thấy gì ngoài tiếng hát của mình.

Lơn nhớ, vào những đêm mưa dầm, chẳng mấy khi ông ngủ được.

Mỗi lần ánh chớp lóe lên, tiếng sấm đùng đoàng khi xa khi gần, ông lại ngồi bật dậy, gào lớn:

- Địch tập kích!

Bảo vệ căn cứ!

Một tia sét đánh xuống, đánh bật gốc cây bưởi trong vườn, cũng đánh tỉnh tâm trí ông.

Gần như là ngay lập tức, người đàn ông ấy đã bật khóc.

Ông khóc như một đứa trẻ.

Lơn khi ấy thấy lạ lắm, bởi khi biết tin anh chị em, con cháu trong gia đình lần lượt hi sinh, ông chỉ nói một câu “biết rồi”.

Ấy thế mà, trong đêm mưa nặng hạt, ông đã khóc.

Thật không biết chiến tranh đã làm gì người đàn ông ấy nữa.

Lơn thương ông nhiều lắm, hỏi ông tại sao lại tham gia chiến tranh.

Rõ ràng, ngày ấy Lơn chưa được bao lớn mà đã hiểu “chiến tranh” chẳng phải là cái gì hay ho đáng để chơi.

- Làm gì có ai muốn sống trong chiến tranh đâu con ơi.

Ông nội Lơn cầm kéo, tỉ mẩn tỉa cành hoa, cắm vào bình rồi đặt bình hoa lên bàn thờ.

Ông nhìn chăm chú đôi vợ chồng trẻ trong bức ảnh, đôi mắt già nua như đong đầy ánh nước, tấm lưng lọm khọm bỗng chốc còng hẳn xuống, không biết ông đã gánh trên mình điều gì, được bao lâu rồi.

Rõ là ông đang nhìn di ảnh của con trai và con dâu, vậy mà Lơn lại cảm thấy hình như ông cũng đang nhìn những người khác nữa, rất nhiều rất nhiều người là đằng khác.

Rồi ông bỗng quay đầu, bàn tay nhăn nheo vươn tới, dịu dàng xoa đầu của cậu nhóc Lơn.

Ông nói, giọng nghẹn lại:

- Nhưng chúng ta muốn được hòa bình.

Mà hòa bình ấy à… mình không còn cách nào khác nữa, chỉ còn cách này, cầm súng đứng lên, dùng chiến tranh và xương máu để giành lại độc lập, giành lại hòa bình.

Cậu nhóc Lơn chưa hiểu nhiều nhưng điều này cũng không ngăn cản Lơn lặng lẽ ghi nhớ những lời ông nói.

Một lần nhớ là nhớ thật nhiều năm.

Về sau, chính những lời nói năm ấy của ông nội đã đưa anh vào con đường giải phóng, mà theo anh hiểu là con đường tìm lại hòa bình cho đất nước.

Hồi Lơn đi lính, ông nội của anh buồn rất lâu.

Có lẽ ông đoán trước rằng ngày này sẽ tới, ngoài mặt vẫn tỏ vẻ bình tĩnh dặn dò Lơn đủ điều nhưng anh biết, nửa đêm ông nội không ngủ được, cặm cụi thắp nhang khấn tổ tiên, bố mẹ Lơn phù hộ Lơn bình an trở về.

Ngày anh nhập ngũ, ông nhìn Lơn cài từng khuy áo một, tự mình đưa anh chiếc mũ nan ông từng đội, dù cho thời chống Mĩ không còn dùng đến nó nữa.

Ông dõi theo bước chân của Lơn ra tới cổng, chợt lớn giọng hỏi anh tham gia vào cuộc chiến này làm gì?

Ông nói, không ai bắt anh phải góp mặt vào cuộc chiến vô nghĩa này, dù cho có là vì hòa bình đi nữa thì liệu bỏ ông ở lại, bỏ gia đình và quê hương ở lại liệu có đáng không?

Nếu không đi lính, anh vẫn là một chàng thanh niên khỏe khoắn, dù tương lai không hứa hẹn lắm thì muốn sống một cuộc đời bình yên giữa bối cảnh này cũng không phải không thể mà.

Lơn không đáp lại lời ông.

Anh tiện tay bứt một bông hoa trên cành, ngậm vào miệng mà mút.

Hương vị chua chát đến là lạ, cơ mà anh chẳng bận tâm mấy vì vị có lạ đến đâu thì anh cũng sẽ ăn được hết thôi.

Anh chỉ ngoác miệng cười một cái thật tươi, cà lơ cà phất vẫy tay chào ông:

- Ông yên tâm, ngày chiến tranh qua đi, con sẽ trở về mà.

Ông hãy giữ gìn sức khỏe, sống lâu trăm tuổi, chờ đến ngày con mang hòa bình về cho ông.

Hòa bình chắc đẹp lắm ông ạ.

Năm xưa ông nội cũng tham gia chiến tranh rồi đấy thôi, nhiều người khác cũng tham gia chiến tranh rồi đấy thôi.

Mục đích mỗi người nhập ngũ là gì, Lơn không biết.

Anh không có ước mơ gì cao sang, chỉ muốn được biết “hòa bình” mà từ nhỏ đến lớn anh hằng nghĩ tới là cái gì, trông như thế nào.

Mà như ông nội nói rồi đó, thời buổi bấy giờ, muốn có hòa bình thì phải dùng chiến tranh mà giành lấy.

Anh tham gia chiến tranh, âu cũng vì muốn thấy một ngày kia, dù là người Việt Nam hay người nước nào khác đều có thể cùng nhau ngồi một bàn, nhậu một bữa no nê, chán chê mê mỏi đi làm lụng kiếm tiền mà không phải sống trốn chui trốn nhủi dưới mưa bom bão đạn.

Hòa bình đẹp lắm không?

Có chứ, anh chưa thấy nhưng anh biết chắc là nó đẹp, rất đẹp, ít nhất cuộc sống dưới bầu trời hòa bình sẽ tươi đẹp hơn bây giờ nhiều.

Chỉ có điều, anh không còn cơ hội chờ tới ngày đó mất rồi…
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 15: Cháy


- Bác sĩ!

Chị Trung Anh ơi!

Cứu anh Lơn với!

Sáo cảm nhận được ngón tay anh Lơn từng chút một lạnh dần, từ từ buông thõng xuống.

Tim anh hẫng một nhịp, chẳng kịp suy nghĩ nhiều mà vội vã chạy đi gọi quân y đến giúp.

Sáo đã thấy rất nhiều sự hi sinh.

Anh trai anh hi sinh, đồng đội anh hi sinh nhiều vô kể.

Thế nhưng, anh vẫn mãi không thể chịu đựng được cảnh một sinh mạng cứ thế biến mất trước mắt mình như vậy, nên anh không ngần ngại chộp lấy dù chỉ một cơ hội nhỏ nhất để cứu lấy Lơn.

Sĩ hi sinh mất rồi, chàng không kịp chờ cáng đến, đội của họ không thể lại vắng bóng một người nữa được.

Chiến tranh mà, có hi sinh cũng là chuyện bình thường.

Gần như ai nằm lại trên chiến trường đều không còn cơ hội quay về.

Chẳng qua cùng nhau chinh chiến bao lâu nay, mọi người ít nhiều gì cũng có tình cảm anh em đồng chí với nhau, thắm thiết như thể tay chân vậy, bây giờ bất kỳ ai trong số họ mất đi cũng là nỗi đau day dứt trong lòng những anh em ở lại.

Nghe tiếng Sáo hớt hải gọi lớn, chị Trung Anh đang thăm khám gần đó vội vàng chạy tới xem tình hình.

Các quân y khác cũng xô tới, một người trong số đó đẩy Sáo ra ngoài.

Hình như miệng anh chàng quân y đó mấp máy điều gì, cơ mà Sáo không nghe được gì cả.

Mắt phải còn lành lặn của anh liếc thấy nửa sườn mặt của Miễn, thấy được giọt nước mắt chảy dài từ khóe mắt xuống gối, thấy đôi môi trắng bệch mím chặt như đang cố kìm nén lại.

Chỉ cần nhìn thế thôi, Sáo đã biết được kết quả cuối cùng rồi.

Anh vẫn biết, biết từ lúc chị Trung Anh báo trước rồi, đó là một kết quả không thể tránh khỏi.

Cơ mà anh không chấp nhận được, như ngày anh Én mất, như ngày Thiều hi sinh, và cả khi nãy khi Sĩ gục xuống.

Sáo thất thểu rời khỏi bệnh viện dã chiến, bất giác đi tới một góc vắng hoang tàn trước chiến trường.

Chiến hào ngoằn ngoèo trải dài, trên hàng rào thép gai mắc vài ba mảnh vải rách rưới bẩn thỉu.

Khói vẫn bốc lên ở vài điểm xa xa, như tô lên thêm một màu xám cho bầu trời xầm xì.

Trời sắp tối.

Lại sắp tới tối.

Năng khẽ khàng tiến lại gần, vỗ vỗ vai Sáo an ủi.

Anh không nói lời nào nhưng Sáo hiểu, anh đã biết được chuyện đó rồi.

Hẳn chị Trung Anh không tìm thấy Sáo đâu nên đã thông báo cho cả Năng và anh Giàn.

Chẳng cần đợi tới đêm, trời còn chưa tối hẳn mà Lơn đã lặng lẽ ra đi chẳng một lời từ biệt.

Còn nhớ ngày nào anh còn lớn miệng nói mình không muốn làm ma đói, vậy mà hôm nay chẳng kịp ăn miếng cơm đã hi sinh, thế thì làm ma no kiểu gì không biết.

Sáo vuốt nửa bên phải mặt mình, ngửa đầu, thở hắt ra một hơi thật dài.

Hôm nay tiểu đội của họ hi sinh hai người.

- Về thôi, còn phải sắp xếp đồ cho hai anh nữa.

Năng nói.

Hiếm khi nào Sáo thấy anh có vẻ dịu dàng đến vậy.

Có lẽ Năng vốn có sẵn vẻ này, chỉ là chiến tranh và những người đồng đội như những đứa trẻ chưa lớn cứ khiến anh bực mình, làm anh giấu hết mặt hiền hoà của bản thân đi mất.

Sáo gật gật đầu, cùng Năng đi bộ về đơn vị.

Có chiến sĩ trong đơn vị vẫn ồn ào đòi đi đánh trận, hình như không chấp nhận kết quả ngày hôm nay cho lắm.

Mà chẳng gào được mấy câu đã bị tiểu đội trưởng đánh một cú vào đầu đau điếng, anh chàng đành hậm hực ôm đầu chạy tót ra chỗ khác ngồi.

Có người hi sinh, nhưng cuộc sống vẫn cứ tiếp tục vậy đấy.

Anh Giàn đã sắp xếp xong đồ của Sĩ, còn tiện thể khắc luôn thông tin của hai anh Lơn và Sĩ vào hai chiếc thìa các anh thường dùng, chuẩn bị chôn cùng hai người họ.

Có điều lúc Sáo và Năng đến gần lại phát hiện anh Giàn đang ngơ ngác đứng đọc những bức thư Sĩ giấu kín trong quần áo thường mặc.

Sáo vừa nhìn đã biết ngay, anh Giàn phát hiện Sĩ cưới vợ rồi.

Quả không sai, anh Giàn vừa nhác thấy hai người về, hoảng hốt giơ một bức ảnh lên, miệng ngoác ra gào lên cho cả đơn vị biết rằng Sĩ đã lấy vợ.

Các anh chiến sĩ ai nấy đều giật mình thon thót, ngay sau đó lại không cảm thấy khó tin hay bất ngờ lắm.

Sĩ đã nói với họ rồi còn gì, chẳng qua không nói nhiều nên ít người tin.

Giờ đây chứng cứ rõ rành rành ra đó, họ tin ngay tắp lự, chỉ thắc mắc phải là người đẹp đến mức nào mới có thể cưới được chàng Sĩ đẹp trai lại tài hoa về làm chồng.

Thế là một đám người đổ dồn đi xem bức ảnh nọ, chen lấn xô đẩy nhau, giành lên hàng trước chỉ để nhìn cho rõ mặt của vợ Sĩ.

Sáo thấy cảnh này mà phải ngầm thừa nhận Sĩ nói đúng thật, vợ chàng để mình chàng ngắm thôi, cái đám kia vừa biết chàng có vợ là như anh Lơn thấy đồ ăn liền.

- Đừng thấy vợ nó đẹp mà lầm, gái bán hoa đấy.

Anh Giàn đảo đôi mắt ếch, dùng một cái giọng phải gọi là sặc mùi ghen ăn tức ở nói ra sự thật này.

Các anh lính nghe xong thì ngơ ngác lắm, có người hiểu, cũng có người không hiểu câu đó ý là gì.

Sáo nghe mà khó chịu.

Sĩ chưa mất thì thôi, anh Giàn có nói thế nào thì Sĩ vẫn giải quyết ổn thoả được.

Đằng này Sĩ vừa hi sinh xong, anh Giàn vẫn chẳng buông tha là thế nào.

Năng quan sát vẻ mặt anh Giàn một hồi là biết tỏng anh lại chơi xấu Sĩ rồi.

Cộng thêm dòm Sáo cứ sai sai thế nào, biết Sáo nhát nên Năng lập tức quyết định ra mặt thay bạn.

Tuy anh không rõ sự thực ra sao, nhưng điều đó cũng không cản anh chen lên hàng đầu, hai tay chống nạnh, hùng hồn nói lớn.

- Anh một vừa hai phải thôi nhá!

- Rồi Năng chỉ vào mặt anh Giàn, quát.

- Sĩ mất rồi, anh có biết tôn trọng liệt sĩ không thế hả?

Những anh lính khác cũng gật gù đồng tình.

Không cần biết vợ Sĩ có phải "gái bán hoa" thật hay không, chỉ cần biết hiện tại Sĩ đã là liệt sĩ hi sinh vì Tổ quốc, vậy thì người nhà của chàng đều đáng được tôn trọng.

Anh Giàn ấm ức cực kỳ:

- Vợ nó là gái bán hoa thật mà!

Sáo hết nhịn nổi, lớn tiếng nói:

- Thì người ta cũng là người trồng hoa mang đi bán bình thường thôi, anh đừng có dùng giọng điệu dễ gây hiểu lầm thế được không?

Đoạn, Năng chộp lấy bức ảnh và những lá thư trên tay anh Giàn.

Năng cẩn thận vuốt phẳng, sắp xếp lại cho thận gọn gàng, cất kỹ, chờ có dịp thì gửi về cho gia đình Sĩ.

Anh quay sang lườm anh Giàn, gắt gỏng hỏi:

- Sĩ có phải đồng đội của anh không thế hả?

Lúc này là lúc nào mà anh còn muốn đùa kiểu này?

Anh Giàn không đáp, đầu anh cúi xuống như một đứa trẻ đã biết sai vậy.

Năng không mấy tin tưởng vẻ hối lỗi này của anh, ai trong đơn vị mà chẳng biết một thời huy hoàng coi trời bằng vung của anh Giàn kia chứ.

Thật lòng, nhiều khi Năng không tin mình đã làm đồng đội với thằng cha này bao năm qua, và thằng cha đó đã hơn ba mươi tuổi chứ ít gì đâu.

Càng nghĩ lại càng bực, Năng cộc cằn đưa xấp thư cho Sáo cầm, mình thì đi dọn nốt đồ của Lơn và Sĩ, vừa dọn vừa càu nhàu:

- Thôi thôi, nghỉ mẹ đi!

Chỗ còn lại đâu, đưa nốt đây.

Đồng đội của chúng tôi, chúng tôi tự chôn, chẳng phiền cái ngữ dở hơi như anh đâu!

Năng dọn xong thì quay lưng đi một mạch, còn không thèm đợi Sáo nữa kìa.

Sáo nhìn anh Giàn muốn nói lại thôi, rồi nhìn bóng lưng cao gầy đang đi xa dần của Năng, đắn đo một hồi cuối cùng vẫn lon ton chạy theo hướng Năng rời khỏi.

Các anh lính ở lại tặc lưỡi, không biết lần này Năng giận đến mức nào nữa.

Năng vốn nóng tính nhưng thường thể hiện ra bằng việc nói mát hoặc nặng hơn thì nói tục, để đến mức làm ngơ luôn như thế này chắc cũng phải cỡ tức cái lồng ngực lắm đây.

***

Tiết trời tháng tư vẫn chưa quá nóng nực, thỉnh thoảng vẫn còn những cơn gió xuân phà vào mặt, mang theo mùi hương của cỏ cây vừa đâm chồi từ rừng rậm xanh mướt, như mang tới cho những người lính còn trên chiến trường hi vọng vào tương lai thống nhất.

Cách chiến trường không xa là một khoảng đất trống lô nhô mấy ụ đất còn ẩm.

Không cần nghĩ cũng đoán ra được nơi đây là "nghĩa trang" tạm thời mà các anh lính chôn những người đồng đội đã hi sinh của mình.

Sáo cùng Năng hai người chung tay đào hai cái hố vừa đủ cho người nằm, bên cạnh hố là xác của Sĩ và Lơn đã được bọc trong áo mưa cùng những vật dụng chôn cùng.

Nhớ ngày ấy mỗi lính mới đều được phát một cái xẻng.

Hỏi thì thủ trưởng bảo để cho mấy thằng nhóc làm việc đồng áng, trồng rau nuôi quân nữa chứ, không thể cứ dựa vào tiếp tế của hậu phương mãi được.

Mãi tận khi ra tới chiến trường rồi, công dụng lớn nhất của cái xẻng lại là đào mả chôn đồng đội từng kề vai sát cánh chiến đấu.

Đã từng rất nhiều lần Sáo muốn đập nát cái xẻng của mình, bởi cứ nhìn, cứ chạm vào nó là những ký ức về từng cái chết lại hiện lên trong đầu anh.

Nhưng đập nó rồi thì được cái gì kia chứ?

Nó chỉ là một cái xẻng, không phải là người anh hùng bảo vệ hoà bình.

Đập nó rồi thì anh vẫn phải đào hố thôi, chẳng qua từ đào bằng xẻng chuyển sang đào bằng tay.

Nếu như vậy, không lẽ anh sẽ ghét lây sang cái tay của mình, muốn chặt cụt luôn sao?

Dĩ nhiên không rồi.

Vậy nên anh cố nghĩ thoáng ra một chút, rằng ít nhất cái xẻng này là thứ giúp đồng đội của anh được yên giấc, là món đồ giúp anh tiễn đồng đội đi chặng đường cuối cùng.

Cứ nghĩ như vậy, chẳng mấy mà anh không còn ghét cái xẻng đến thế, chỉ là nỗi đau buồn nơi đáy lòng vẫn dai dẳng không dứt.

Buổi tối sao mờ, xung quanh bãi đất trống chỉ có vài chấm sáng nhạt nhoà từ rừng cây rọi tới.

Nếu không phải góc này nằm khuất trong tầm nhìn của căn cứ địch, có lẽ bên ta đã bị tập kích mấy lần rồi cũng nên.

Sáo dùng tay áo lau mồ hôi lấm tấm trên trán, đoạn, anh đặt cái xẻng sang một bên rồi cùng Năng nâng xác anh Lơn đặt vào hố.

Vốn là rất nhiều người sẵn lòng hỗ trợ họ nhưng không biết Năng nghĩ cái gì mà đuổi hết những người tới hỗ trợ đi, để hai thằng tự lo việc an táng đồng đội giữa chốn đồng không mông quạnh này.

Sáo thầm nhủ, may mà Miễn đang nằm bệnh viện dã chiến, nếu chàng ở đây ngay lúc này thì chắc sợ chết khiếp luôn quá.

- Cái mũ nan này là cục vàng cục bạc của anh Lơn đấy, cho anh ý mang theo cho yên lòng.

Năng đưa mũ nan cho Sáo, anh thở dài, "ừ" một tiếng đáp lại, chậm rãi đặt mũ nan vào trong hố.

Năng lại đưa cho anh mấy món đồ Lơn thường dùng, lần lượt xếp vào phần mộ nhỏ.

Trước khi lấp hố, Sáo đặt thêm một nhúm cỏ dại hái đại trên đường, lẩm bẩm:

- Quà chia tay cả bọn tìm cho anh đấy.

Dù cả bọn bây giờ chỉ còn có ba người.

Sáo im lặng một chốc, rồi với tay lấy cái xẻng, xúc đất lấp hố.

Đất nâu cùng đá sỏi theo từng động tác của anh dần dần vùi đi thân xác người chiến sĩ nọ, và chẳng bao nhiêu năm nữa, xương máu người chiến sĩ ấy sẽ hòa làm một với đất mẹ.

Sáo đột dưng thấy mình có máu nghệ sĩ hẳn, bởi anh chợt nghĩ tuổi trẻ của anh và những người đồng đội đã dành cho Tổ quốc rồi, tới lúc đối mặt với cái chết thì cũng là Tổ quốc dang tay đón các anh vào lòng.

Thật là vinh hạnh biết bao...

Hoàn tất việc chôn cất cho anh Lơn, Sáo và Năng quay sang bắt tay vào việc nâng xác Sĩ đặt xuống hố.

Động tác hai người chậm rì rì, cẩn thận nhích từng bước đến bên hố.

So với anh Lơn to con, rõ ràng việc chôn cất Sĩ nát nhừ phần lưng bởi bom đạn khó hơn rất nhiều.

Chốc chốc Năng lại phải ngó xuống, nheo mắt kiểm tra xem xác Sĩ đã được bọc kỹ chưa, có bị rơi mất miếng thịt nào của Sĩ không.

Xong việc, Năng thở phào một hơi nhẹ nhõm, phủi tay vào áo.

- Sáo giữ thư nhé, mai Miễn về Bắc thì nhờ anh ý gửi hộ về cho gia đình anh Sĩ.

- Năng đặt những di vật của Sĩ vào hố, không quên nhắc tới một chuyện.

- Hồi nãy kiểm tra thư của anh ý, tớ thấy một bức viết từ ba năm trước luôn cơ.

Sáo lấy làm lạ, bâng quơ hỏi thư viết gì mà viết ba năm trời rồi vẫn chưa gửi.

Năng khựng lại, lát sau tỏ vẻ như không có chuyện gì, trả lời:

- Anh Sĩ bảo chị đừng phí thanh xuân chờ một người chết là anh mà hãy chọn người chồng phù hợp hơn để gắn bó cả đời.

Sáo không để ý một thoáng suy tư của Năng, anh cho rằng Năng vừa cố nhớ lại nội dung thư rồi tóm tắt cho anh hay.

Anh nào biết trong một thoáng kia, Năng hồi tưởng lại cuộc sống của mình ngày chưa ra lính.

Năng nhủ thầm mãi từ "cả đời", anh chỉ nhẩm như thế thôi, đến bản thân anh còn chẳng biết là cả đời gì, cả đời ai nữa là.

Sáo cầm trên tay bức ảnh vợ của Sĩ, căng con mắt phải để được chiêm ngưỡng nhan sắc của người con gái làm điêu đứng chàng lính điển trai nhất đơn vị họ.

Anh xuýt xoa khen ngợi:

- Trời tối um thế này mà vẫn nhìn ra chị nhà anh Sĩ xinh đáo để.

Năng ậm ờ đáp lại.

Bấy giờ Sáo mới để ý một chi tiết nhỏ trong lời tóm tắt vừa rồi của Năng, bèn quay sang hỏi:

- Nghe Năng nói, chắc đó là di thư của anh Sĩ nhỉ, cái loại thư chỉ gửi người thân khi mình chết ấy?

Năng cũng ậm ừ cho qua.

Đột nhiên thấy Năng ít nói thế này, Sáo thấy lạ lắm.

Mọi khi anh hỏi gì thì Năng trả lời ít nhất cũng là một câu mà không phải một chữ "ờ" rồi "ừ" như thế này.

Cơ mà anh đoán chắc lúc này không phải là lúc nên hỏi thăm, không biết vì sao nhưng chắc chắn hiện tại tâm trạng Năng không được tốt lắm.

Anh không muốn mình đang buồn thì phải chịu ăn chửi đâu.

Sáo chuyển hướng đề tài.

Cầm bức ảnh trong tay, anh đề nghị:

- Tớ nghĩ thế này, không bằng để bức ảnh của chị cùng với anh Sĩ đi.

Anh Sĩ yêu chị đến thế, lại vì nhiệm vụ mà lâu rồi chưa về nhà, hẳn muốn nhìn thấy hình chị lắm đấy.

Lần này Năng không đáp lại.

Sáo không rõ sự im lặng này là đang suy nghĩ đề nghị của anh hay đang muốn từ chối nhưng không biết nói ra sao đây.

Toan nói để anh kẹp chung vào xấp thư, gửi chung về hậu phương thì từ đằng sau vọng tới một giọng nói oang oang quen thuộc.

Đúng là chất giọng ồm ồm đặc trưng của anh Giàn rồi, có điều lần này không phải là thông báo nhiệm vụ hay khoe vợ con, mà là một lời đồng tình:

- Anh nghĩ Sáo nói đúng đấy.

Vừa nghe thấy giọng này, Năng lập tức cáu lên:

- Ông anh ra đây làm gì thế?

- Anh...

Anh...

- Anh Giàn ngập ngừng, hết gãi má rồi lại gãi cổ.

- Anh xin lỗi...

Thái độ của Năng vẫn không khá hơn là bao.

Nếu không phải có Sáo kéo lại thì chắc lúc này anh đã quẳng gánh mà đi rồi.

Anh thà để Sáo một mình lấp đất chôn Sĩ còn hơn đứng chung một khoảnh đất, hít chung một bầu không khí với tên đàn ông có lớn mà không có khôn như anh Giàn.

- Ô kìa, ông anh có lỗi gì vậy?

Năng khoanh tay, cái mặt hất lên trông rất ngứa đòn.

Dù vậy, người lớn nhất ở chỗ này là anh Giàn cũng không định trách mắng gì.

Anh Giàn suy nghĩ một lát, cân nhắc hồi lâu rồi mới đáp:

- Anh không nên đùa cợt như vậy, nhất là khi đồng đội đã hi sinh anh dũng...

Anh biết mình không phải người giỏi ăn nói, càng biết tính mình từ xưa đã không có bao nhiêu người yêu thích.

Người cùng làng nói rằng anh lớn lên xấu tính xấu nết đến vậy, chỉ có mình chị Thùy đanh đá bẩn tính mới chịu lấy làm chồng thôi.

Từ ngày đi lính, anh đã cố gắng hạn chế những lần mình lỡ miệng rồi, chỉ là sự ghen tị và tự ti khi đứng cạnh Sĩ luôn làm anh bất giác nói ra những lời không hay, những trò đùa mất dạy.

Lần dựng nhà xí đã vậy, lần này cũng thế.

Nói anh không để ý là không thể nào.

Dẫu sao khi bên cạnh có một người "sắc đành đòi một tài đành họa hai" như Sĩ, một người chẳng có gì ngoài một gia đình êm ấm như anh Giàn không ghen tị hay tự ti sao mà được.

Vậy nên anh không ngần ngại khoe khoang mình vợ con đuề huề suốt bao năm, chỉ để tìm được một điểm duy nhất mình hơn Sĩ.

Nhưng đến cuối cùng, sự thật lại giáng cho anh một cú tát.

Sĩ chẳng những đã lấy vợ, vợ chàng còn là một người con gái xinh đẹp, hiền huệ lại nết na.

Trong cơn sửng sốt khi ấy, anh đã buột miệng nói toạc ra vợ Sĩ là một cô gái bán hoa.

Đúng là em bán hoa thật, cơ mà là bán hoa hồng, hoa mai ấy.

Vốn mang mục đích đùa cợt thôi, để rồi cuối cùng các anh em đồng chí đồng đội đều quay lưng, trách móc sao anh lại giở trò vào ngay lúc này.

Phải rồi, anh bị chính cảm xúc của mình che mờ lý trí, quên mất rằng Sĩ đã hi sinh vì đất nước.

Cái chết của chàng đau đớn đến thế, vậy mà anh đã làm ngơ, còn bày trò lan truyền tin đồn thất thiệt nữa chứ.

May là anh bị các anh em mắng cho một trận để tỉnh người, may là thủ trưởng còn chưa hay biết gì.

Nếu thủ trưởng biết, e rằng ngày mai anh phải cuốn gói về nhà, gia đình cũng vì hành động ấy của anh mà phải chịu những lời đàm tiếu suốt nhiều năm liền mất thôi.

Sáo không thể thấy rõ nét mặt của anh Giàn lúc này.

Trời tối quá, anh chỉ kịp nhìn thấy tấm lưng còng đầy vẻ ủ rũ của anh Giàn cùng giọng nói càng lúc càng nhỏ.

Chắc anh biết sai rồi.

Sáo cả tin lại nhẹ dạ, không mấy mà đã bỏ qua cho anh Giàn.

Anh vội khuyên Năng:

- Thôi thì anh ấy biết lỗi rồi.

Giả mà giờ anh Sĩ còn sống sẽ không trách anh ấy đâu.

Mâu thuẫn có thể giải quyết ngay lúc này là tốt nhất.

Ngày mai họ phải tiếp tục chiến đấu, nếu không có đồng đội sát bên, đoàn kết cùng nhau đánh giặc thì chưa cần hỏi bao giờ miền Nam được giải phóng, cứ lo viết di chúc đi cho rồi.

Sáo hiểu điều này, sao anh Giàn lại không hiểu được kia chứ.

Anh nhớ lại dáng vẻ của anh Sĩ, nhớ từng lần chàng chẳng để trò đùa dai của anh vào mắt, vẫn cứ bình thản cặm cụi vẽ tranh rồi lại viết thơ.

Anh Giàn chợt bật cười, giọng nói đượm vẻ hoài niệm:

- Nếu Sĩ còn sống à...

Có lẽ giờ nó chỉ nhìn anh, cười một cái rồi bảo hoa nhà vợ nó tươi lắm, đẹp lắm, cứ tới mùa sẽ nở rộ lên, đủ để bán sỉ cho cả đơn vị luôn ấy chứ.

Năng nghe vậy chỉ "hừ" một tiếng.

Anh vẫn còn bực bội lắm, nhưng việc nào ra việc đó.

Đến nước này, anh vẫn phải suy nghĩ cho việc chung của đất nước, gạt vấn đề mâu thuẫn giữa các đồng đội sang một bên, đợi chừng nào hòa bình rồi thì anh phải đánh anh Giàn một trận ra trò mới được.

Năng hậm hực nói:

- Đúng là lời anh Sĩ có thể thốt lên được thật.

Sáo bật cười thành tiếng.

Anh mừng vì các đồng đội của mình đã giải quyết xong mâu thuẫn rồi, cũng mừng vì nhờ có lời nói của họ mà anh bước ra khỏi nỗi buồn khi có đồng đội hi sinh.

Ừ đấy, đồng đội đã ra đi mất rồi, nhưng trong ký ức của những người ở lại như họ, đồng đội vẫn còn sống.

Vẫn có người nhai cỏ như bò, vẫn có người tung tăng chạy nhảy, và vẫn có người ngồi thẩn thơ tắm nắng trong rừng.

Họ từng sống và chiến đấu, từng hi sinh vì hòa bình của đất nước, cái tên của họ không được khắc ghi vào sách sử nhưng mãi mãi còn đọng lại trong lòng những người thân yêu nhất.

Cuối cùng cả ba vẫn mở phần ni lông bọc xác của Sĩ, đặt bức ảnh vợ chàng vào trong túi áo.

Khi xúc đất chôn Sĩ, Sáo bật mí rằng anh là người đầu tiên và duy nhất của đơn vị được nghe về câu chuyện tình yêu của Sĩ.

Anh Giàn ngạc nhiên lắm, nài Sáo kể cho bằng được.

Dù Năng không nói gì nhưng Sáo thấy rõ cái tai Năng dỏng lên rõ cao, vừa nhìn đã biết là một tên nhiều chuyện già đời.

Sáo chỉ tủm tỉm cười, nói rằng đợi quay về rồi kể cho cả đám cùng nghe, hẳn mấy anh giai kia cũng muốn biết chàng tài tử tên Sĩ ấy đã rước được vợ về như nào lắm.

- Hai anh hoàn thành nhiệm vụ rồi, cứ yên nghỉ đi nhé.

Mảnh đất này lại có thêm hai liệt sĩ.

Sáo ngồi xuống, vỗ vỗ hai ụ đất nhỏ, thầm thì.

Sau đó anh đứng dậy, bước theo sau hai người đồng đội, con mắt phải lành lặn không khỏi quay lại nhìn hai ụ đất mới toanh giữa hàng loạt những ụ đất khác, nhìn bầu trời đêm không một tia sáng kia, anh tự hỏi bao giờ những ngày như này mới kết thúc đây?

Tác giả tám nhảm: Chương mới ra lò, nóng hổi vừa thổi vừa ăn ei (⁠づ⁠ ̄⁠ ⁠³⁠ ̄⁠)⁠づ

Thật tình thì lúc check số từ thấy lên 4k1 rồi, tôi có hơi hoảng.

Tại hiện tại không đăng lên W bằng máy tính được, tôi phải ôm con điện thoại cù lỏ để copy từ bản thảo đã gõ trên laptop ra.

Mà con điện thoại nó cù lỏ tới mức nó giới hạn số từ copy trong bảng nhớ 🤡.

Tôi cứ lo viết hơi lố, nó không copy được hết là mình lại phải đi dò chữ rồi cứ kéo xuống như không có ngày mai.

Và quan trọng là viết lố quá thì không thể "chọn tất cả" được.

May thay con điện thoại cho phép tôi copy >4k chữ 🥹
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 16: Cháy


Ngày 14 tháng 4 năm 1972.

Mấy ngày này trong chợ mới mở một hàng hoa.

Nghe bà bác bán thịt ở cổng chợ nói chủ hàng hoa là một cô gái rất xinh, nhà ở xã bên, cách chợ tương đối xa mà xâm xẩm sáng đã lóc cóc lấy xe chở hoa tới nơi này bán rồi, chỉ vì được người ta mách nước là nơi này đất chật người đông, bán buôn ở chợ thể nào cũng được nhiều lộc.

Chị Thùy nghe bà bác nói một thôi một hồi, bỗng thấy thương cô chủ hàng hoa đó quá.

Thời buổi này trừ thành phố ra, làm gì có nơi nào là đất chật người đông chân chính.

Âu cũng là do xã này nhiều hơn xã kia vài mống người mà thôi.

Ngày thường chẳng ai đi mua hoa cả.

Tiền mua gạo mua thịt nhà người ta còn không đủ, lấy gì chơi hoa hoè cây cỏ.

Hôm nay lại đúng mùng một âm lịch nên trộm vía hàng hoa vẫn có khách tới mua.

Có thờ có thiêng, cứ đầu tháng hoặc rằm, dù không đủ tiền mua thịt thì cũng phải có bìa chả, có ít hoa quả thắp hương cúng các cụ mới phải đạo con cháu.

Chị Thùy nghe tiếng hoa nhà đó vừa tươi vừa đẹp, lại đa dạng chủng loại, mang đi bày để cúng hay để đẹp nhà đẹp cửa đều ổn lắm, bèn đi qua ngó thử.

Lời đồn không sai thật, chị Thùy nhìn mà thích mê, cũng xếp hàng chen chúc muốn mua một bó mang về.

Cô chủ hàng hoa trông cũng xinh thật, tuy không đến mức đẹp nghiêng nước nghiêng thành như sách miêu tả nhưng cũng đủ nhìn ưng mắt, càng nhìn càng khiến người ta xao xuyến không thôi.

Chị thầm nghĩ, phải mà lão chồng chị còn ở đây, cộng thêm cái tuổi thích ăn chơi chè chén nữa thì thể nào cũng phải đùa cô nàng này mấy chục câu mới vừa.

- Cô em xinh quá!

Có chồng chưa em?

Đương khi chị nghĩ như vậy, có thằng nhóc đầu đường xó chợ nức tiếng trong xóm xuất hiện.

Thằng nhóc râu còn chưa mọc mà đầu đã cạo trọc, lấy một cái quần thủng đít làm áo, lại lấy một cái áo dài tay quấn ngang hông, chân xỏ dép tông, quần soóc ngắn cũn.

Chị Thuỳ trông mà cay mắt ghê nơi, chắc ông cu con nghĩ thế là mốt chứ không phải điên.

Nhưng nghĩ gì thì nghĩ, nhìn cô chủ hàng hoa như thế kia, lòng chị chắc mẩm em gái này dễ bị bọn nhóc ất ơ bắt nạt lắm.

Mà không chỉ mình chị, các bà các cô quanh đó cũng đã xắn tay áo lên để chửi thằng nhóc một chặp.

Dè đâu chưa ai kịp nói gì, cô chủ hàng hoa đã lên tiếng trước, giọng nói đậm vẻ mỉa mai:

- Ông em đẹp trai quá!

Mọc đủ lông chưa em?

Cô em này được đấy!

Chị Thuỳ thẳng thắn vỗ tay khen ngợi.

Lâu lắm rồi, thực ra là lần đầu, chị bắt gặp một cô gái vừa trẻ vừa đẹp, lại vừa đủ mạnh mẽ để dám lên tiếng mắng lại đám nhóc loi choi kia.

Chị đã chứng kiến biết bao nhiêu người nhác thấy mấy đứa mất nết nghênh ngang đi tới đã sợ rúm người, chỉ muốn trốn đi luôn chứ không dám chạm mặt.

Giờ đây cuối cùng cũng có người chẳng nề hà gì mà chỉ tay chửi thẳng mặt, làm chị mát lòng mát dạ hộ gia đình cô chủ hàng hoa quá chừng.

Ông em kia cũng đâu có vừa.

Ngoại trừ lúc ban đầu còn khá bất ngờ ra, ngay sau đó nó đã hùng hổ kéo tay áo (ống quần) lên, nhăn mặt nhe răng hằm hè:

- Á à!

Mày láo!

Cô chủ hàng hoa phì cười, bỗng móc từ trong góc ra một cây gậy gỗ to tổ bố.

Hình như cô chủ hàng hoa biết vài miếng võ, mới quơ cây gậy gỗ thôi mà chị Thùy đã nghe thấy tiếng vùn vụt rất vang rồi.

Hiển nhiên thằng nhóc kia cũng nghe thấy, nhưng nó nào dám sợ ra mặt.

Với nó, sợ hãi một người con gái chân yếu tay mềm là một sự sỉ nhục cánh đàn ông.

Nó cố lấy can đảm, gân cổ gào lên:

- Ngon thì nhào lên đi!

Ngon thì đánh tao đây này!

Chỉ chờ có thế, các bà các cô đứng dạt sang một bên hết, chừa một khoảng trống giữa chợ cho cô chủ hàng hoa và thằng nhóc.

Cô chủ hàng hoa xoay tay, quất một cái, cây gậy đập thẳng vào mặt thằng nhóc.

Thằng nhóc chưa hiểu mô tê gì đã bị đánh ngã chổng vó.

Nó ôm đầu kêu oai oái, hét lên cái gì mà "đánh người kìa", "cứu cháu với".

Khổ nỗi dân nơi này biết tỏng tính thằng nhóc, đến bố mẹ nó còn chẳng quan tâm nó sống chết ra làm sao thì nào tới lượt bà con láng giềng.

Ai nấy thấy cảnh này đều lấy làm hả hê lắm, họ ngứa mắt thằng nhóc này lâu lắm rồi, không có ai thèm vươn tay ra giúp đỡ nó.

- Câm mồm vào và cút ra chỗ khác!

Ghê gớm nhỉ, chỗ người ta làm ăn buôn bán mà mày chõ mỏ vào làm cái đếch gì.

- Cô chủ hàng hoa quăng cây gậy đi.

Cây gậy gỗ rơi xuống đất vang lên tiếng lộp bộp, doạ thằng nhóc sợ xanh mặt.

Thằng nhóc không cam lòng mấy, nó liếc mắt nhìn cô chủ hàng hoa như thể muốn nhìn thật kỹ, nhớ rõ gương mặt này để sau này còn báo thù vậy.

Cô chủ hàng hoa thấy vậy, tay nhặt gậy, tay cởi dép, giọng còn hùng hổ hơn thằng nhóc lúc ban đầu.

- Lườm gì mà lườm!

Tin bà mày phang thẳng cái dép vào mặt không!

Bố láo bố lếu.

Thằng nhóc chẳng dám nói năng gì, vội đứng dậy chạy mất dạng.

Khéo phen này nó sợ đến hết kiếp.

Chị Thùy cười hô hố, vỗ tay bôm bốp, không ngớt lời khen ngợi:

- Em gái giỏi quá.

Dân chỗ này chả ai làm gì được nó, em mới tới mà đã đánh nó đến tái hết mặt mày luôn kìa.

Gớm, đi đêm lắm có ngày gặp ma thôi, đánh một trận như thế cho nó chừa.

Cô chủ hàng hoa ái ngại đi lại dép cho đàng hoàng, khiêm tốn đáp lại từng lời khen ngợi.

Cô bỗng chốc từ một con hổ cái về làm mèo nhà, ngoan hiền như ấn tượng ban đầu của mọi người về em vậy.

- Thật ngại quá, để các cô các chị thấy cành như vậy...

Không thì hôm nay em giảm giá cho mọi người nhé, coi như em xin lỗi mọi người.

Mọi người thích hoa nhà em thì sau này đến ủng hộ lâu dài ạ.

- Ấy chết, thế thì ngại lắm em ơi.

- Chị Thùy là người đầu tiên không đồng ý.

Chị cũng là người làm lụng vất vả kiếm sống qua ngày, biết mấy đồng tiền với mình có ý nghĩa gì, với những người khác có ý nghĩa nào.

Thế nên chị không thích nhận những món hời, đặc biệt là những món hời từ trên trời rơi xuống như này.

Chị mặc kệ hành động can ngăn của bà cô bên cạnh, kiên quyết phản đối.

- Cũng có mấy đồng đâu, chị trả được hết.

Khổ thân, đi làm vất vả kiếm sống, còn từ xã khác qua đây buôn bán thế này, em còn bớt mấy đồng làm gì cho thiệt mình ra.

Cô chủ hàng hoa còn muốn đưa đẩy vài câu, chị Thùy đã dúi vào tay em mấy đồng tiền rồi tiện tay cầm một bó hoa mới được gói xong đi mất.

Cô chủ hàng hoa nhìn số tiền trong tay, rõ ràng bị thừa một ít, vậy mà em lại không thể lớn tiếng gọi người chị tốt bụng kia lại.

***

Ngày 15 tháng 4 năm 1972.

Sang đến mùng hai, hàng hoa ế khách.

Lài cầm một quyển sách theo, ngồi đọc giết thời gian, nhẩm bụng chờ đến chiều mới về.

Dạo gần đây em không dám ở nhà, không dám đối diện với gia đình chồng, càng không dám cun cút cuốn gói về nhà ngoại.

Mới độ ba hôm trước có cán bộ ghé qua nhà, dĩ nhiên mang theo tin báo tử của Sĩ.

Em vốn có cảm giác từ ngày kỷ niệm ngày cưới, song khi nghe rõ được ngày tháng năm, và cả giờ từ trong miệng cán bộ, trái tim em như ngừng đập hẳn.

Cán bộ kể rõ sự hi sinh của Sĩ, từng câu từng chữ như con dao sắc bén cắm phập vào lòng em, làm em cảm thấy như cõi lòng mình đang nhỏ máu, từ ấy mang theo vết thương không bao giờ lành lại.

Mẹ chồng chờ cán bộ rời đi mới ôm mặt khóc nức nở, bố chồng thở dài thườn thượt.

Còn em, em thất tha thất thểu đi lại trong sân vườn, sau đó lang thang nơi đầu đường cuối ngõ suốt ngày dài, rồi ngất lịm đi lúc nào không hay.

Khi tỉnh dậy, mẹ chồng đã khóc đến đỏ mắt, vậy mà vẫn an ủi em, nói cho em biết đó là chuyện không ai ngờ tới, và rằng bà cùng gia đình, cùng Sĩ sẽ không bao giờ trách em cả.

Không trách em không thèm ra mắt hay lễ hỏi gì đã gả mình vào nhà, không trách em bỏ tuổi xuân chờ Sĩ, cũng không trách em chọn ngày đó làm ngày cưới.

Lài biết, Lài hiểu chứ.

Nhưng em tự trách chính mình.

Em không thể tha thứ cho bản thân được.

Bao đêm dài không ngủ, em từng nghĩ rằng nếu như năm đó, em nói trước với Sĩ một lời, bảo bố mẹ chọn lựa ngày lành tháng tốt, thì có phải ngày vui không trở thành ngày buồn không.

Em tự trách bản thân có phải đã quá nóng vội không, cứ chọn bừa một ngày rồi làm đám cưới qua loa như thế.

Rồi em lại tự hỏi rằng có phải mình đã quá chậm chạp rồi, rõ ràng em và chàng từng có rất nhiều thời gian trước đó để ở bên nhau lâu hơn kia mà.

Và có đôi khi em chợt nghĩ, không biết lúc hi sinh Sĩ đã nghĩ những gì.

Chàng cảm thấy sao khi khoảnh khắc mình rời khỏi cuộc đời này lại chính là lúc cuộc hôn nhân của họ bắt đầu.

Chàng có thấy buồn, thấy tiếc nuối, hay than phận đời đỏ đen?

Em nghĩ rất nhiều, nghĩ rất xa, nghĩ rất lâu.

Sau đám tang Sĩ, Lài tình cờ nghe được lời bà con xóm làng bàn tán sau lưng mình.

Dĩ nhiên chẳng có lời nào hay ho cả.

Hàng xóm nói em thân gái một thân một mình, chăm sóc bố mẹ đẻ xong còn lo bố mẹ chồng.

Ban đầu ai cũng khen lấy khen để, nhưng em mãi chưa có một mụn con, mãi chồng em vẫn chưa về, mà cả nhà chưa chờ được đến ngày chồng em về thì chồng em đã mất.

Vậy là hàng xóm nói em gái độc không con, ai mê tín thì bảo số em khắc chồng.

Bố mẹ chồng không để trong lòng những lời bàn ra tán vào kia, em thì có.

Nếu em không miên man suy nghĩ, trong đầu em sẽ luôn văng vẳng lời của họ.

Thế nhưng chính em lại không nhận ra, những dòng suy nghĩ của em đã lẩn quẩn xoay theo lời ra tiếng vào của hàng xóm mất rồi.

Dù cho em có đi đâu, dù cho em có trốn tránh bằng cách đến nơi khác buôn bán thì thứ em thoát khỏi cũng chỉ là lời bàn tán ngoài miệng, còn chính em vẫn tự giam mình trong những dòng suy nghĩ vẩn vơ.

- Ôi em gái, vẫn mở hàng à?

Một giọng nói vang lên khiến Lài sực tỉnh.

Em ngước lên khỏi những trang sách, phát hiện người đến là chị gái hào phóng ngày hôm qua.

Trong mắt em, chị gái hào phóng nọ không phải là một người xinh đẹp.

Chị như bao người phụ nữ nội trợ khác.

Chị ăn mặc xuề xòa, không mấy chăm chút bản thân, người chị không quá gầy mà khá chắc nịch.

Giọng chị nghe có hơi chua, người nào nghe vào cũng biết chắc chị là một người đàn bà đanh đá.

Nếu không có sự việc ngày hôm qua, ắt hẳn Lài cũng có suy nghĩ trông mặt mà bắt hình dong như vậy.

Em niềm nở đứng dậy đón chị, cố nở một nụ cười thật tươi, nói đùa:

- Dạ, ở nhà cũng không có việc gì mà lứa hoa này lại đẹp thế kia, không bán bớt đi thì phí lắm chị ạ.

Chị gái hào phóng kêu “ôi giời”, trách:

- Tầm này ai mua nữa đâu em.

Lài chỉ cười trừ.

Thường người ta chỉ mua hoa để cúng, muốn tặng ai thì hái đại trên đường cũng được, thành ra hàng hoa chỉ đắt khách nhất lúc dịp lễ lạt hoặc đầu tháng, rằm.

Thỉnh thoảng nhà nào làm đám cưới cũng sẽ mua hoa về bày, ai đi đám tang sẽ đặt vòng hoa.

Cơ mà loại hoa đặt với người dân thường hiện giờ khá đắt đỏ, không có mấy nhà chịu bỏ tiền ra mua.

Người ta vẫn thà rằng hái trên đường còn hơn.

Huống chi dân cư cũng chẳng đông đúc, ai cũng bận việc nông, ngoài lễ tết ra, chẳng ai có thú chơi hoa cả.

- Cũng chưa chắc mà chị.

Lài nhìn chị khách hào phóng.

Dường như chị gái hiểu ý, cười phá lên.

Đúng là chị tới để mua hoa, tuy rằng ngày hôm qua chị đã mua một bó rồi.

Chẳng là con gái chị thấy hoa đẹp, nằng nặc đòi cắm thêm một lọ để trang trí nữa.

Anh trai con bé tiếc tiền, muốn sang nhà hàng xóm xin mấy bông mà con bé con nhất quyết không chịu, đâm ra mới sáng mà chị đã phải ra chợ tìm mua.

Cũng may, hôm nay Lài vẫn mở hàng.

Lài nhớ hôm qua chị gái hào phóng đã đưa thừa tiền nên lần này chị tới, em tặng chị miễn phí một bó to, mỹ kỳ danh là cảm ơn chị đã giúp Lài “mở hàng” ngày hôm qua.

Vốn chị gái còn muốn từ chối, lại bị Lài dùng chính lời chị nói ngày hôm qua để đáp lại.

Ngữ điệu rồi từ ngữ đều y xì đúc, làm chị chẳng nói lại được, đành nhận lấy bó hoa mang về.

Dõi theo bóng lưng chị rời đi, đột nhiên Lài nghe thấy cô hàng rau bên cạnh, hình như mãi chưa có khách nên chán quá, nhiều lời một câu:

- Ô!

Con Thùy đợt này hiền thế nhỉ?

Từ ngày chồng nó đi lính là nó đanh đá lắm mà, à kể cả có chồng ở nhà thì nó vẫn đánh chồng như thường.

Vậy ma hai hôm nay sao sửa tính như gái mới về nhà chồng vậy nhỉ?

Lài bất ngờ.

Em không ngờ chị gái hào phóng đó cũng là một người vợ ở nhà chờ chồng như em.

Em bỗng có cảm giác, loại cảm giác bồi hồi như thấy được người cùng cảnh ngộ vậy.

Hình như chị Thùy cũng có cảm giác đó, hoặc đơn giản chị chỉ thích hàng hoa, thích tính cách của cô chủ hàng hoa nên đã giấu tính cách thật đi thôi.

***

Ngày 16 tháng 4 năm 1972.

Một ngày chủ nhật thật bình thường.

Phiên chợ sáng bắt đầu từ sớm, đến giờ vẫn nườm nượp người lại qua.

Tiếng người bán hô, tiếng người mua chửi, còn có tiếng ai ngân nga hát làn điệu dân ca, tiếng trẻ con khóc la và tiếng mấy bà cô chanh chua đánh nhau chỉ vì tí thức ăn giảm giá.

Lài chậm rãi ăn một bán bún.

Từ sáng sớm tới giờ, em chưa cho cái gì vào bụng cả, thành ra cái bụng đói meo, xẹp lép lại như sắp dán vào lưng đến nơi rồi.

Em vừa ăn vừa chăm chú quan sát cảnh đời nơi này.

Có vẻ như chiến tranh nơi phía Nam không mang lại ảnh hưởng tới tình hình đời sống ở phía Bắc cho lắm, hoặc là có nhưng chỉ ẩn hình ở đâu đó thôi.

Chẳng hạn như em, một goá phụ mất chồng vì chiến tranh.

Thực ra cái tai hại của chiến tranh vẫn luôn hiện hữu, chỉ là giờ đây không mấy ai quan tâm đến, bởi lẽ cuộc chiến đã kéo dài rất nhiều năm, một quãng thời gian đủ để cái khổ ăn sâu vào máu thịt người ta.

Không ai thích chiến tranh cả, chẳng qua sống quen rồi thôi.

Em đột nhiên ghét chiến tranh quá.

Nếu không có chiến tranh, em và chồng đã hạnh phúc bên nhau tới già.

Nếu không có chiến tranh, có lẽ đời sống của mọi người sẽ không quá khó khăn như bây giờ.

Nhưng em chỉ có thể ghét thế thôi, em còn biết làm gì khác nữa đâu.

Đến cả chồng em cũng đã bị chiến tranh cướp đi mất rồi, một người phụ nữ lại có thể làm gì hơn đây.

Tưởng chừng như cuộc sống vẫn sẽ êm đềm trôi cho tới khi chợ vãn.

Thế nhưng vào một khoảnh khắc kia, loa phát thanh bỗng nhiên hú lên báo động.

Những âm thanh đinh tai nhức óc như xẹt qua không gian, phá vỡ sự yên bình mà ồn ã của khu chợ nọ.

Giọng nữ trong loa vốn rất dễ nghe, chỉ là nội dung lại khiến mọi người hốt hoảng không thôi.

- Bà con chú ý, máy bay địch hiện cách...

Tiếng loa lặp lại ba lần liên tục.

Cùng lúc ấy, Lài nghe mang máng được tiếng gầm rú ù ù của máy bay chiến đấu.

"Con chim sắt" gầm thét, âm thanh vang và kéo dài hơn cả tiếng sấm ngày bão.

Chúng nó rú lên như điên, như là lên cơn giận dữ bởi thua đau ở chiến trường.

Lài sợ hãi, mặt tái đi.

Thực sự có máy bay đang tới đây!

Cô bán rau bên cạnh hoảng quá, đạp đổ cả mẹt rau của nhà mình.

Cô ôm đầu chạy loạn, hét lên thất thanh:

- Máy bay Mĩ tới rồi!

Máy bay Mĩ tới rồi!

Bà con mau chạy đi!

Có một người mở đầu, lập tức có người thứ hai quẳng gánh bỏ chạy.

Mọi người xô đẩy, giẫm đạp lên nhau, vẻ mặt không giấu nổi sự hoảng hốt và sợ hãi.

Cả đời họ có lẽ chưa bao giờ cách cái chết gần như thế, dù là người can đảm nhất, tò mò nhất cũng không dám nhìn mây bay chiến đấu của địch bay đến gần mình.

Lài không dám ở lại dọn hàng.

Em hoà vào dòng ngày chạy tứ phía, cố gắng hỏi cho ra hầm trú bom gần nhất.

Cơ mà ai nấy đều hoảng quá, có hỏi cũng không nói nên lời.

Mãi mới thấy một chú tốt bụng dẫn đường, Lài không ngần ngại mà chạy theo.

- Mẹ ơi...

Hu hu hu...

Con sợ quá...

Mẹ ơi...

Trong tiếng la hét hoảng loạn đó, giữa dòng người xô đẩy nhau, Lài thoáng thấy một cô bé mặt mũi lấm lem, khóc đến nước mũi chảy thành dòng.

Cô bé liên miệng gọi mẹ, chắc là trong lúc chạy giặc đã lạc mẹ mất rồi.

Lài vội vàng chen qua dòng người, bế cô bé chạy tiếp.

Tiếng máy bay bay càng lúc càng gần, chỉ vừa chớp mắt một cái đã nghe thấy tiếng nổ đinh tai ở khoảng cách gần.

Mọi người càng lúc càng hoảng loạn.

Họ la hét, gào thét xong lại khóc lóc, dường như quên mất bản thân phải chạy để giữ lấy tính mạng.

Chúng nó ném bom rồi!

Máy bay địch tới rồi!

***

Tác giả tám nhảm:

Vốn ban đầu chương này không có trong cốt truyện gốc, chỉ là ngẫu nhiên nghĩ ra thôi.

Tôi thấy truyện này và Sớm Mai đều kể rất nhiều về những người lính, tôi chợt muốn viết về hậu phương của họ nên mới có chương này.

Ý tưởng chính của chương dựa trên chi tiết Mĩ ném bom ở Hà Nội và Hải Phòng vào 16/04/1972.

Chi tiết này được ghi trong "Nhật ký Quảng Trị 1972" của bác Lê Quang Đạo.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 17: Cháy


Từ ngày 12 đến ngày 25, Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ chốt giữ Tây Trì [1], đồng thời tổ chức các trận đánh tập kích nhằm tiêu hao lực lượng bộ binh và xe tăng địch, từ đó tiếp tục tiến lên tiêu diệt địch ở các điểm cao 30 và 28.

Có thể thấy đánh tập kích, đánh tiêu hao là thế mạnh của quân ta, luôn được quân ta áp dụng một cách linh hoạt trong chiến tranh.

Không những vậy, ở đợt tiến công này, quân ta được sử dụng "pháo lủi" [2], B-40 [3], B-41 [4], ĐKZ [5], sơn pháo 85 ly [6] để diệt xe tăng địch.

Chẳng mấy khi các anh lính được sử dụng vũ khí nào khác ngoài "người vợ" AK-47 và "con cả" lựu đạn, nay được cầm trên tay mấy khẩu súng chống tăng này thì sướng phải biết.

Thực ra không có loại vũ khí nào nhẹ nhàng cả, nhất là vũ khí nóng, bởi ngoại trừ súng và pháo thì còn phải mang vác theo cả đạn để sử dụng.

Chỉ là dù hỏa lực quân ta được tăng cường thêm thì bên địch cũng có phương pháp đáp trả lại.

Qua vài trận chiến nhỏ lẻ, quân ta vẫn chưa thành công đẩy lùi được quân địch.

Hiển nhiên bên địch cũng "bắt bài" được quân ta, hoặc chúng đã quá hiểu chiến lược chiến tranh giữa hai bên.

Quân đội Sài Gòn lựa chọn phòng thủ kết hợp giữa xe tăng và bộ binh, tạo thành từng cụm phòng ngự di động, di chuyển liên tục, thay đổi vị trí để tránh bị quân ta tập kích tiêu diệt.

Trước tình hình này, quân ta tạm ngừng tiến công.

Thay vào đó, quân ta tiến hành tổ chức các trận đánh nhỏ nhằm tiêu hao sinh lực địch, đồng thời phải kiên trì đợi thời cơ và chuẩn bị cho đợt tiến công quyết định của chiến dịch.

Mọi thứ vẫn theo đúng kế hoạch.

Đã gần một tháng kể từ ngày chiến dịch bắt đầu, tuy rằng quân ta có một vài lợi thế nhất định, ai cũng tự tin bảo rằng chiến dịch này sẽ toàn thắng, ngày độc lập của đất nước càng lúc càng gần thêm một bước.

Thế nhưng Sáo vẫn luôn thấy rõ bầu trời mịt mờ không một tia sáng, ánh mặt trời chẳng mấy khi ló dạng dù đã là tháng tư.

Anh không khỏi bồn chồn lo lắng, nhất là khi những người đồng đội thân thiết nhiều năm lần lượt ra đi.

***

Ngày 26 tháng 4 năm 1972, nhân một khoảng lặng hiếm thấy, một mình Sáo đi tìm mảnh cơ thể nát bấy của anh Giàn.

Đúng thế, anh cả của đội hi sinh rồi, một cái chết vừa thảm khốc vừa cô đơn biết mấy.

Từ khoảng ngày 20, trong đơn vị được nghe về một tin tức không hề tốt đẹp gì.

Tin tức từ hậu phương truyền về, báo rằng ngày 16 có máy bay địch thả bom ở Hà Nội và Hải Phòng.

Ai nghe xong cũng đều "ồ" lên, người nào người nấy tranh nhau mắng chửi quân địch.

Bởi lẽ ai cũng rõ ràng, chúng nó không "nhai" được bộ đội ta trên chiến trường nên mới liều một phen, cho máy bay tấn công khu dân cư.

Thủ trưởng chẳng nói gì về thương vong, nhưng đã bị ném bom rồi thì không có thương vong sao cho được.

Chỉ riêng một đường Trường Sơn cũng đã vùi bao người dưới vỏ đạn, huống chi là khu dân cư.

Trong nhóm lính, người lo lắng nhất có lẽ là anh Giàn.

Khi nghe được tên địa danh, anh đứng phắt dậy, sốt sắng hỏi cụ thể khu vực bị ném bom, có bao nhiêu người chết, nhà nào chết những ai.

Không cần nói thì ai cũng đoán ra được, một trong những nơi bị ném bom có quê nhà của anh Giàn.

Mọi người đều im lặng, thủ trưởng cũng vậy, mặc anh nói xong thì đột ngột ngã khuỵu xuống.

Anh biết kết quả rồi, hoặc chí ít anh cảm nhận được cái gì đó từ sự im lặng ấy.

Sáo không đành lòng, anh ôm chặt anh Giàn, vỗ lưng anh ấy để an ủi thay lời nói.

Các đồng đội xung quanh cũng không trơ mắt nhìn, lần lượt ôm chầm lấy anh Giàn.

Không ai nói với ai câu nào cả, còn anh Giàn vừa thoát khỏi sự bàng hoàng và sợ hãi trước tin tức đột ngột đó thì gào lên.

Tiếng gào như xé nát ruột gan, cất chứa biết bao nỗi đau và cơn giận của một người đàn ông.

Và không biết ai bắt đầu, lần lượt có những người nức nở khóc như trẻ con.

- Hiện tại chúng ta vẫn phải tập trung vào nhiệm vụ trước mắt.

- Thủ trưởng đợi mọi người bình tĩnh lại, nói.

- Các anh có muốn về nhà không?

Các anh có còn muốn thấy ngày chúng nó ném bom vào nhà của các anh không?

Nếu không, các anh vẫn phải tiếp tục chiến đấu!

Nhiệm vụ của chúng ta là giải phóng Quảng Trị, các anh phải nhớ lấy!

Giải phóng mảnh đất này, giữ lấy nó, bảo vệ nó!

Chỉ có như vậy, ngôi nhà của các anh mới không phải sợ giặc phá nữa!

Dường như được câu nói của thủ trưởng tiếp thêm động lực, mấy ngày sau đó, anh Giàn chiến đấu rất quyết liệt.

Quân ta không ngừng áp sát địch, dù là mở những trận đánh nhỏ cũng có thể tiêu diệt không ít tên giặc, mở rộng lợi thế sẵn có từ đầu chiến dịch.

Cơ mà trong chiến trận vẫn luôn không lường trước được điều gì.

Anh Giàn rất không hài lòng với Sáo và Năng trong những trận này.

Vì phải đối đầu trực diện với xe tăng địch, cả Sáo và Năng đều dựa dẫm rất nhiều vào pháo.

Điều này dẫn tới họ có thể tiêu diệt xe tăng nhưng đồng thời bỏ sót bộ binh địch, thế nên anh Giàn không vui.

Nhiều lúc rảnh rỗi, Sáo nghĩ tính cách anh Giàn thay đổi rất nhiều.

Anh thoáng thấy bóng dáng Thiều "út tăng" trên người anh Giàn, sự căm hờn đến tận xương tủy đối với quân địch ấy quả thực không khác nhau bao nhiêu.

Cơn giận của anh Giàn đã lên tới đỉnh điểm.

Anh ít nói hẳn, cũng không lấy thư nhà ra để đọc nữa.

Anh chỉ chăm chú giữ gìn khẩu súng trong tay, mải miết đuổi theo mấy tên giặc, đánh đến mệt thì tự tay moi viên đạn găm trong người mình ra.

Anh chưa bị cơn giận che mờ lý trí, nhưng cũng không khá hơn là bao.

- Tớ thấy cứ thế này thì không ổn.

Ngày định mệnh đó, Năng lặng lẽ kéo Sáo ra một góc đứng nói chuyện.

Hai người nhìn về phía anh Giàn, người anh quặm mặt kiểm tra băng đạn, cứ không hài lòng chỗ nào là chân tay đập đùng đùng xuống mặt đất, nhìn vừa thấy buồn cười mà vừa thấy xót xa vô cùng.

Sáo đồng tình, chẳng qua cả hai biết vậy thôi chứ cũng không biết nên làm sao.

Nếu đổi lại là Năng trong tình huống của anh Giàn, có lẽ Năng cũng sẽ giống anh Giàn thôi.

Còn Sáo là trường hợp đặc biệt rồi.

Nếu đặt vào mấy năm trước, Sáo sẽ thấy đau, sẽ thấy giận, sẽ căm hận.

Hiện giờ, tuy Sáo chưa tự tin nói rằng mình có thể bình tĩnh được, nhưng ít nhất cũng chỉ cảm thấy buồn thôi.

- Nhìn gì?

Nhìn chán rồi thì đứng vào vị trí đi!

Anh Giàn cộc cằn lườm Năng và Sáo, dọa Năng đang thì thầm nói xấu sợ giật thót tim.

Anh Giàn thấy vậy, tặc lưỡi một tiếng rồi lại quay đi, tiếp tục lau súng.

Sáo lắc đầu thở dài, chỉ trong một thời gian ngắn như thế, anh gần như không thể nhận ra anh Giàn ngày xưa nữa.

Hoặc phải nói, cho dù có làm đồng đội kề vai sát cánh chiến đấu bao nhiêu năm, anh vẫn chưa thể hiểu hết tất cả đồng đội của mình.

Sáo không biết Sĩ đã có vợ, không biết đồng đội cùng kíp xe tăng của Thiều, không nắm rõ hoàn cảnh gia đình của anh Lơn và Năng.

Và nay, Sáo lần đầu được thấy một con người khác của anh Giàn, một người đàn ông gai góc, có thể làm bất cứ điều gì mà không màng thứ gì hết, kể cả bản thân mình.

Hoạ chăng anh đã thay đổi bởi vì vợ con, có điều giờ vợ con anh đều không còn...

Song, các đồng đội đều hoặc đã từng nghe, hoặc từng chứng kiến câu chuyện của Sáo.

Họ biết rõ anh, họ hiểu anh, mà dường như anh chỉ hưởng thụ sự quan tâm từ họ và không đáp lại.

Sáo chợt thấy lòng mình nặng trĩu mà chẳng rõ tại sao.

***

Lại một trận chiến bắt đầu.

Nói là trận đánh nhỏ, bản chất nó vẫn là một trận đánh trong một cuộc chiến tranh thực sự.

Giữa chiến trường chỉ có đạn bay qua bay lại, đường đạn đi tới đâu là người ngã như ngả rạ tới đó.

Khói súng bốc lên cao đến tận trời, xe tăng lao vù vù qua những gò đất, tháp pháo xoay vòng bắn ra từng viên đạn to bằng cả chân người.

Vút...

Vút...

Viu...

Đùng đoàng...

Những âm thanh đó liên tục vang lên, chói tai như sắp đâm thủng màng nhĩ của những người đang có mặt trên chiến trường.

Đạn nổ ánh lên chùm tia lửa sáng lóa mắt, mùi thuốc súng trong không khí thật khó ngửi làm sao.

Máu bắn văng ra tung toé, tay chân người lính rã rời vì mỏi mệt.

Đá sỏi lăn long lóc trên mặt đất, bước chân người lính dẫm lên đá vang lên từng tiếng lạo xạo.

Dẫu đã sống ở môi trường như thế này nhiều năm, Sáo vẫn mãi chẳng thể quen được tiếng đạn bom đùng đùng.

Mỗi lần nghe thấy tiếng đạn pháo nổ vang, máy bay chiến đấu lao trên bầu trời, xe tăng cày nát đất đá, anh luôn giật mình thon thót, nhiều lúc suýt làm rơi cả cây súng trên tay.

Trái ngược với anh, Năng lại như đã bịt kín cả hai tai lại.

Ngay từ ngày đầu ra chiến trường, dường như Năng chưa từng thấy sợ hãi là gì.

Anh luôn bình tĩnh trong mọi tình huống, bị mấy thằng ngụy mắng là thằng mặt mo luôn kia mà.

Nhưng hôm nay hai người đổi tính nết cho nhau.

Sáo cố giữ bình tĩnh ôm chặt lấy Năng đang máu chảy đầm đìa nhưng vẫn cố vùng vẫy tay chân, không để anh liều lĩnh lao lên đâm vào họng súng địch.

Anh Giàn đứng chắn trước hai người, một tay rũ xuống, rõ ràng đã gãy rồi mà còn cố giữ lấy cây súng đã hết đạn.

Tay còn lại cầm chắc quả lựu đạn đã giữ chốt, sẵn sàng ném nó xuống đất bất cứ lúc nào.

Đối diện ba người là một đội địch.

Thằng nào thằng nấy nhếch mép cười khinh ba anh lính giải phóng lạc mất đồng đội.

Nói là lạc thì cũng không hẳn, đồng đội của họ vẫn đứng rải rác quanh đây, song hầu như ai nấy đều đang vướng tay vướng chân.

Trên chiến trường ấy mà, đâu phải chỉ mỗi bắn nhau đùng đùng, người ta bắn hết băng đạn thì phải dùng đến lưỡi lê, lưỡi lê mòn thì trên người có gì đánh được phải lấy ra tất.

Ai còn lựu đạn thì ném, ai không có gì thì đánh tay đôi, chỉ đơn giản thế thôi.

Anh Giàn gãy tay là vì thế.

Vốn ban đầu một mình Năng đối diện mấy tên địch.

Chúng nó cậy Năng có một mình còn chúng nó có một đám nên cùng lúc lao lên đánh Năng thừa sống thiếu chết.

Thằng bắn vào chân Năng làm anh khuỵu gối, thằng khác thụi vào bụng Năng làm anh trở tay không kịp, thằng nữa lại lấy cái mũ đập vào đầu Năng làm anh váng đầu.

Mắt anh hoa lên, tay quơ quào loạn xạ, cuối cùng bị cả lũ chúng nó đè xuống đất mà đánh.

Chúng nó chẳng vội gì giết Năng đâu, chúng nó thừa biết dù có thật sự có bao nhiêu người chết đi chăng nữa thì khi công bố ra ngoài, con số thương vong đã nhân lên gấp mười rồi.

Chúng nó muốn bắt sống một người lính Việt Cộng, nhốt anh lại, tra tấn anh.

Cái chúng cần là bộ đội Bắc Việt Nam rút quân khỏi chiến trường Quảng Trị, hoặc chí ít cũng phải biết được hướng đi của chiến dịch này.

Do đó mấy thằng địch không chọn giết Năng, chúng nó phải bắt anh làm tù binh!

Anh Giàn là người đầu tiên phát hiện vấn đề.

Ngay khoảnh khắc chúng nó chuẩn bị trói gô Năng lại, anh Giàn xồng xộc chạy tới bắn chết một thằng, cầm báng súng đập ngã một thằng, chân đá thẳng vào hạ bộ một thằng khác.

Chỉ trong thời gian ngắn, một mình anh hạ được ba tên địch.

Anh hét lớn gọi tên Sáo đang lon ton chạy sau mình, dặn Sáo giữ Năng, lúc cần thiết phải đưa Năng vào bệnh xá ngay.

Rồi anh quay lại gườm gườm ba thằng giặc còn đứng đó.

Chúng nó giơ súng nhắm thẳng vào anh, thủ sẵn tư thế chuẩn bị hạ gục anh bất cứ lúc nào.

Mắt anh Giàn long sòng sọc, gầm lên đầy giận dữ:

- Bố mấy thằng bán nước!

Một mình anh lao lên trước.

Không có cuộc đấu súng nào ở đây cả, súng anh Giàn đã hết đạn kể từ khi anh bắn chết thằng giặc nọ.

Anh chỉ cầm cây súng như vũ khí cận chiến, một mình đánh tay bo với ba thằng.

Ấy thế mà chúng nó không thể làm gì được anh, chúng nó chỉ có thể giữ chặt anh được một lúc, sau đó bị anh giãy ra.

Chân anh đá thằng này, người cúi xuống tránh đòn tấn công của thằng khác, tay giơ báng súng đập thẳng vào mặt của thằng thứ ba.

Sáo quan sát đến đơ cả người, anh chẳng hề hay biết rằng anh Giàn giỏi như thế.

Cả đơn vị ai cũng biết anh Giàn giỏi võ lắm.

Anh Giàn giỏi đến mức mà mấy lời tưởng như bốc phét của anh lại là thật hết.

Cơ mà chưa ai từng thật sự chứng kiến anh Giàn đánh võ cả, chỉ từng thấy anh tay không đánh ngã một tên địch, bắt sống nó thôi.

Thủ trưởng không tiếc lời khen bao giờ.

Ông tặng anh Giàn những lời khen có cánh nhất, để anh hướng dẫn mấy người lính gầy như gà luộc vài miếng võ phòng thân.

Sáo là một trong số đó.

Để mà nói tại sao anh Giàn đánh đấm giỏi đến vậy, chắc phải kể đến gốc gác của anh Giàn.

Phải rồi, tổ tiên xa lắc xa lơ của anh Giàn ở Bình Định cơ.

Vậy mà Sáo quên mất.

Đương khi Sáo miên man suy nghĩ, Năng đã tỉnh táo lại.

Anh giãy dụa muốn đứng dậy, lại bị Sáo ghì chặt không cho nhúc nhích.

Sáo thấp giọng hỏi thăm Năng, an ủi Năng rằng đợi hạ được ba thằng kia, Sáo sẽ đưa Năng về bệnh xá.

Nói rồi, Sáo đứng thẳng dậy, chuẩn bị tiến lên giúp anh Giàn một phen.

Thế mà anh Giàn không chịu, còn quát lớn:

- Mày ở yên đó!

Anh lo được!

Sáo định giải thích rằng trông anh Giàn càng lúc càng đuối rồi.

Chỉ là chưa kịp nói đã bị anh Giàn gạt phăng đi.

Anh Giàn nghiến chặt răng, gằn từng chữ:

- Anh lo được!

Anh phải tự tay xử mấy thằng này!

Mắt Năng đỏ au.

Anh mím chặt môi, cố gắng không thốt ra lời.

Sáo không thể đáp lời anh Giàn.

Sáo kinh ngạc quá, đồng thời trong lòng cũng dâng lên một nỗi bất an khó tả.

Anh biết anh Giàn đang rất không ổn.

Anh càng biết chắc nếu giờ anh tiến lên thêm, anh Giàn sẽ không nương tay mà đánh cả anh luôn.

Sự thật chứng minh, anh Giàn có thể đánh được ba thằng thật, nhưng đó là nhất thời.

Chung quy cũng chỉ có một mình anh đánh, theo thời gian, cơ thể anh dần mỏi mệt.

Ba thằng địch nhân cơ hội này đẩy ngã anh.

Anh Giàn vẫn chống trả quyết liệt, rồi bất cẩn bị đánh gãy tay.

Thế là thành ra tình huống hiện giờ.

Sáo giữ Năng, anh Giàn dùng răng rút chốt một quả lựu đạn, đối diện là ba thằng địch cũng đã mệt lử người.

Động cơ gầm rú như con thú hoang săn mồi, từng chiếc xe tăng vọt lên chiến trường.

Lớp vỏ ngoài bám đầy bụi bặm, con số sơn trên thân hẵng còn mới cóng, nòng tháp pháo bốc lên làn khói mờ mờ, rõ ràng mới nổ vài phát đạn.

Ba thằng địch liếc nhau, đồng loạt chạy theo xe tăng.

Năng chửi một câu, giục Sáo mau đỡ anh đuổi theo.

Chúng nó lại bắt đầu chiến thuật kia rồi.

- Về đi!

- Anh Giàn quát.

- Về ngay đi!

Nói rồi, anh phăm phăm chạy đi mất, tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn.

Anh dừng lại ở một vị trí không đẹp lắm.

Mặt đất lỗ chỗ những cái hố to, quân số hai bên địch ta chênh lệch rõ rệt.

Cái xe tăng nọ như tự có ý thức của nó, nòng pháo đã chực chờ "gặm" con mồi tự đưa mình tới cửa.

Anh chẳng để tâm tới nó.

Anh chỉ để ý ba thằng giặc hèn mọn đứng dính sát rạt vào xe tăng thôi.

Các thớ cơ trên người anh Giàn căng chặt.

Anh hít một hơi thật sâu, đôi mắt sắc lẻm nhìn chằm chằm vào kẻ địch trước mặt.

Anh vung tay, quả lựu đạn bay theo đường cong về phía trước.

Cùng lúc đó, một viên đạn xe tăng rời nòng.

Ngay khi lựu đạn chạm đất, tia lửa lóe lên, bùm một tiếng vang rền.

Lựu đạn đã nổ.

Vụ nổ dĩ nhiên không đủ to để đánh bật xe tăng, lại đủ to để gây thương vong lên cơ thể của tên giặc.

Thế nhưng chẳng kịp vui mừng, đạn pháo phi nhanh từ phía đó, giáng thẳng xuống cơ thể còm cõi của anh Giàn.

Liên tiếp mấy viên đều nhắm vào quân giải phóng, chẳng cho ai có cơ hội kịp phản ứng cả.

Lại nổ.

Bùm...

Bùm...

Bùm...

Cứ vang lên vài tiếng nổ như thế, như tia chớp chợt lóe lên, ngay sau đó là sấm giật đùng đùng.

Làn khói mịt mù bốc lên, mùi khói gay gắt làm cay cả mũi.

Sau đám khói đen như mây giông giữa trời đó, cơ thể người lính tan biến đi đâu mất rồi.

- Anh Giàn!

- Năng gào lên.

Anh vùng vằng thoát khỏi sự kìm kẹp của Sáo, khập khiễng đi từng bước tới vị trí đứng vừa rồi của anh Giàn.

Nhưng không thấy anh đâu.

Năng ôm đầu hét lớn.

Anh không thể tin nổi rằng chỉ trong một khoảnh khắc như thế, ngay cả xác mà anh Giàn cũng chẳng để lại.

Thế thì làm sao an táng?

Làm sao yên nghỉ bây giờ?

Họ phải thông báo cho gia đình anh như nào bây giờ?

Ơ?

Ờ...

Anh Giàn làm gì có gia đình, như Năng cũng đâu còn nhà nữa!

Năng như phát điên lên rồi.

Lúc trước anh rú lên vì đau buồn, lúc sau đã cười hềnh hệch như thằng dở hơi.

Sáo hoảng sợ tột độ, anh chỉ kịp thấy đạn pháo vẫn bay đầy trời kia kìa.

Anh mặc kệ Năng lên cơn thần kinh gì, một hai phải đè Năng xuống đất, liên miệng nói lớn:

- Năng!

Nằm xuống!

Bình tĩnh nào!

Hai đứa chết bây giờ!

Pháo nổ vang ngay bên cạnh.

Tiếng vang đinh tai nhức óc, làm Sáo tưởng như tai mình đã thủng.

Pháo nổ liên tục, không một khoảng lặng giữa chừng.

Đột nhiên có nước tí tách nhỏ từ trên trời xuống, đáp vào bên má người lính.

Giọt nước lăn dài theo sườn mặt, gột rửa đi một ít khói bụi trên đó.

Sáo nghiêng đầu nhìn qua, hình như lại có một cơn mưa.

Mà mưa nhỏ tí, lại chỉ diễn ra trong mấy phút ngắn ngủi, chẳng đủ để dập tắt một ngọn lửa nhỏ.

Còn anh cả của họ thì hi sinh mất rồi.

***

Sáo trắng tay trở về.

Anh không tìm thấy phần cơ thể nào của anh Giàn, không chút dấu vết gì dù là vết máu nhỏ nhất, tựa như trên đời này làm gì có anh Giàn nào đâu.

Nếu không phải đồ đạc của anh Giàn còn đó, có lẽ chính Sáo cũng tưởng mình đang nằm mơ một cơn ác mộng không hồi kết.

Sáo thoáng thấy Năng bần thần ngồi trên một đống đổ nát.

Sức khỏe của Năng thường không tốt lắm, sáng sớm hay bị cúm vặt, mấy ngày này vì đủ thứ lý do trên trời dưới đất mà bị sốt luôn rồi.

Mặt anh đỏ bừng như nốc cả mười lít rượu, đôi mắt rã rời nhìn ra xa, môi tái mét, khô đến tróc cả da.

Chị Trung Anh hớt hải chạy tới kéo Năng dậy, muốn lôi anh vào trong bệnh xá nằm.

Ấy thế mà chị Trung Anh có làm thế nào cũng chẳng thế kéo Năng được một li, còn Năng vẫn cứ ngồi trơ ra như tượng đá.

Sáo toan bước đến giúp chị Trung Anh một tay, lại thấy Năng nổi điên lên hất chị Trung Anh ra.

Sáo hốt hoảng đỡ lấy chị, tận mắt chứng kiến cảm xúc của Năng thay đổi liên tùng tục hệt như lúc anh Giàn hi sinh vậy.

Lúc thì khóc, lúc lại cười, lúc nổi giận, lúc bình tĩnh đến lạ.

Bao cảm xúc của con người cùng lúc xuất hiện trên một gương mặt, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.

Đôi khi cảm xúc thay đổi mà cơ mặt chưa theo kịp, trông Năng thật sự rất đáng sợ.

Ví dụ như lúc nổi giận xong, anh gầm thét xong lại phì cười.

Đôi mày cau chặt lại với nhau, mắt trừng trừng, miệng lại ngoác ra cười phá lên, doạ Sáo phải lùi lại vài bước.

Chị Trung Anh lắc đầu:

- Điên rồi.

Rồi chị ghé tai Sáo nói nhỏ:

- Để chị báo lên trên cho Năng về.

Cứ đà này thì đừng nói đánh nhau, đến cả tự lo nó cũng làm không nổi đâu.

Sáo không muốn vậy.

Anh níu chị Trung Anh, thấp giọng năn nỉ chị tìm cách cứu giúp Năng.

Năng còn trẻ, lại đang ốm nữa, nhỡ đâu anh chỉ bị sốt nóng đầu, không khống chế được thì sao.

- Cái này chị không chữa được.

Nó bị điên rồi.

- Chị Trung Anh khẳng định chắc chắn.

Đây không phải lần đầu tiên chị gặp trường hợp như này.

Chiến tranh là thứ gì đó thật khủng khiếp.

Nó chẳng những gây ảnh hưởng tới cơ thể con người, làm xáo trộn cuộc sống của con người, mà còn đẩy người ta đến bước đường cùng.

Người không ăn được khổ thì chạy đứt dép từ lâu rồi.

Người ăn được khổ thì chết, không thì cũng sống dở chết dở, nặng hơn là sống mà như chết - đây chính là trường hợp của Năng.

Người còn lành lặn như mò kim đáy bể.

Sáo cũng được tính là còn "lành lặn".

Ngoại trừ một con mắt đã mất ra, cái gì của anh cũng bình thường.

Chân tay bình thường, sức khoẻ bình thường, tinh thần cũng bình thường.

- Mày giỏi thật đấy Sáo ạ.

Chị khen thật.

Bao nhiêu chuyện như thế, mày vẫn đứng được ở đây.

- Chị Trung Anh thật lòng nói.

- Đến cả Năng...

Nó đã thua ở trận này rồi.

Thua ở mặt trận tinh thần.

Nhìn bề ngoài, ai cũng nghĩ rằng Năng không mấy quan tâm sự đời.

Ngoài chiến đấu, Năng không phải đang ngủ để giữ sức khoẻ thì cũng là lật quyển lịch xem gì đó, hệt như một ông thầy đang chọn ngày hoàng đạo để làm được việc vậy.

Cách sống hệt như tiên.

Đâu ai nghĩ anh sẽ gục ngã như thế này.

Ai cũng có thể phát điên.

Cả Lơn, Sáo và những người khác đều có khả năng hết.

Chỉ trừ Năng thôi.

Cuối cùng anh Giàn muốn điên lên thật, âu cũng bởi vợ con anh dù ở nhà cũng phải chịu khổ.

Năng cũng phát điên lên rồi, không hiểu tại sao nữa, trong khi Sáo vẫn còn rất ổn (ít nhất ngoài mặt là vậy).

Sáo không chịu tin.

Anh chắp tay xin chị Trung Anh làm ơn làm phước giúp Năng, chữa khỏi được cơn sốt của Năng thôi cũng được.

Sáo đinh ninh rằng chỉ cần hết sốt, Năng vẫn là một anh lính thích ngủ, thích xem lịch thôi.

Cả hai vẫn là đồng đội cùng nhau chiến đấu, cùng ăn cùng ở, cùng sống rồi chết vì đất nước.

Sáo không muốn đơn độc một mình đâu.

Giờ những người thân quen của anh đều đi hết cả rồi.

Đi sạch.

Dù có những đồng đội khác thì sao, họ cũng đâu thể so sánh được với Năng cùng tiểu đội với anh bao lâu nay.

Nghĩ đến đây, con mắt còn lại của anh hoe đỏ, rưng rưng chực trào nước mắt.

Chị Trung Anh không đành lòng.

Chị nhắm mắt, quay mặt đi, đôi vai chị run run.

Chị cố nén tiếng nức nở, vờ là bản thân vẫn còn mạnh mẽ, giọng đanh thép bảo:

- Không lè nhè.

Nó phải về thôi, đây là vì tốt cho nó!

Sáo biết không thể làm gì hơn được nữa rồi.

Chị Trung Anh rời đi đã lâu, còn anh thì đi quanh đơn vị xin một điếu thuốc, sau đó ra góc vắng hút thuốc một mình.

Sáo chưa từng thử món này bao giờ.

Đây là lần đầu tiên anh hút thuốc.

Hơi thuốc như bị anh nhồi thẳng vào phổi, nghẹn ứ trong đó.

Anh ôm ngực ho sặc sụa, cố làm sao cho ho ra được những gì mình vừa hút vào.

Sáo không thích hương vị đắng chát này chút nào.

Anh không thể hiểu nổi sao thứ này được cho là có thể giúp người ta bình tĩnh được nữa.

Sáo quăng điếu thuốc không hút được bao nhiêu xuống đất.

Anh vuốt mặt, thở dài não nề.

Sau cùng, tất cả bọn họ đã thành ra như thế này.

Anh chậm rì rì quay trở lại, trong lòng cân nhắc biết bao nhiêu lời hay ý đẹp để khuyên nhủ và an ủi Năng.

Kết quả là vừa thấy mặt nhau, Sáo đã nói thẳng tuột ra rằng chị Trung Anh bảo Năng bị điên, phải cho Năng về nhà rồi.

- Không!

Không về!

Tớ sẽ không bao giờ về đâu!

Năng lắc đầu nguầy nguậy.

Điều lạ là anh không phản đối chuyện mình bị nói là điên, giống như chính bản thân anh đã tự chấp nhận rằng mình bị điên rồi.

Anh chỉ kiên quyết không muốn về nhà.

Sáo thấy lạ lắm mà không dám hỏi tại sao, chỉ cố gắng an ủi để Năng bình tĩnh lại.

- Sáo này, chúng ta chiến đấu vì cái gì?

- Sau một lúc thật lâu, Năng chợt hỏi một câu chẳng liên quan gì.

Sáo không suy nghĩ nhiều, lập tức trả lời:

- Vì độc lập, vì tự do và hạnh phúc, không phải sao?

Một câu trả lời có thể xem là tiêu chuẩn.

Người lính nào ra đến đây rồi mà chẳng chiến đấu vì độc lập, tự do đâu chứ.

Ai cũng ngóng trông vào một mai thống nhất, vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Sáo cũng vậy thôi.

Chẳng qua sâu xa hơn nữa, anh muốn mẹ và em gái anh không phải chịu khổ bởi cuộc sống thời chiến này.

Mẹ anh vốn đã đủ khổ rồi, anh muốn mang hoà bình và hạnh phúc về cho bà, để bà sống vui tới già.

Thế nhưng không biết câu trả lời ấy động chạm gì Năng mà Năng phá lên cười.

Cái cười của Năng trông sao mà xót xa quá.

Năng cười mà như khóc, giọng điệu lại gay gắt đến lạ:

- Ờ...

Ha ha ha...

Đúng, đúng!

Vì độc lập.

Nhưng mà, độc lập rồi thì anh Giàn còn hạnh phúc không?

Tớ còn tự do không?

Còn không!

Trước ánh mắt ngỡ ngàng của Sáo, Năng lẩm bẩm mấy câu vô nghĩa nào đó.

Ban đầu anh chỉ thủ thỉ tự nói với bản thân thôi, rồi tông giọng anh dần lớn hơn, như thể thét vào mặt Sáo vậy.

- Làm gì có nữa đâu!

Vợ con anh Giàn chết cả rồi, chết sạch rồi, anh ấy làm gì còn hạnh phúc nữa đâu!

Giờ anh ấy cũng chết rồi!

Chết mất xác!

- Và Năng bật khóc.

Anh gào khóc thảm thiết, như đào hết tim gan phèo phổi của mình ra mà khóc vậy.

Được một lúc, mắt Năng đã đỏ quạch, mặt anh nhăn rúm lại.

Nước mắt chảy đầy mặt anh, anh chẳng thèm lau nữa.

Năng mếu máo:

- Tớ cũng sắp chết rồi!

Tớ điên mất thôi!

***

Chú thích:

[1] Tây Trì: thuộc thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ngày nay

[2] Pháo lủi: tên lửa chống tăng AT-3 Sagger, là tổ hợp tên lửa chống tăng mang vác 9M14 Malyutka hay còn có tên khác là 9K11 (tên đầy đủ trong tiếng Nga là Протитанковий керованийракетний комплекс "Малютка") (tên ký hiệu của NATO là AT-3 Sagger, tên gọi ở Việt Nam là B-72 hay Pháo lủi) là loại tên lửa chống tăng, điều khiển thủ công bằng dây (MCLOS) của Liên Xô.

Nó là loại tên lửa chống tăng vác vai có điều khiển được sử dụng rộng rãi nhất.

Trong thời gian từ 1962 - 1970, số tên lửa được sản xuất đã đạt đến đỉnh cao nhất là khoảng 25.000 quả mỗi năm.

Nhiều phiên bản sao chép của AT-3 Sagger đã được chế tạo với tên gọi khác nhau ở một số nước.

[3] B-40: là súng chống tăng không giật dùng cá nhân RPG-2 , còn được gọi tại Việt Nam là B-40.

Loại súng này được sử dụng rộng rãi trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau đó dần dần thay bằng đời sau RPG-7 hay B-41.

Trong tiếng Nga súng này có tên là ручной противотанковый гранатомёт, viết tắt là RPG-2 (РПГ-2), có nghĩa là "phóng lựu chống tăng xách tay".

Phương tây thường dùng thuật ngữ anti tank rocket launcher (có nghĩa là "súng phóng rốc két /tên lửa chống tăng") cho súng này, tuy rằng ở B-40 thì phần "tên lửa" rất yếu, chỉ là cái ngòi.

Tại Việt Nam, súng có ký hiệu là B-40 vì tên tiếng Việt của súng này là "Bazooka 40 mm" nên được viết tắt là B-40.

Súng được gọi là "Bazooka" vì cùng loại với loại súng chống tăng tự chế rất nổi tiếng trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất theo nguyên mẫu là 2 khẩu bazooka 1944 của Mỹ mà OSS cung cấp cho Việt Minh.

Việt Nam có hai phiên bản là B-40 và B-50.

Vì B40 có thể bắn phiên bản đạn PG-2 của Trung Quốc có tên "Kiểu 50".

[4] B-41: một loại súng chống tăng không giật dùng cá nhân RPG-7 , còn được gọi tại Việt Nam là B-41.

Gọi là B-41 vì loại súng này là đời sau của B-40, dù cho nó vẫn có đường kính là 40 mm.

Trong tiếng Nga súng này có tên là ручной противотанковый гранатомёт, viết tắt là RPG-7 (РПГ-7), có nghĩa là "súng phóng lựu chống tăng xách tay" (nhưng một số người lại cho đó là viết tắt của реактивный противотанковый гранатомёт, tức "súng phóng lựu chống tăng phản lực").

Thuật ngữ quân sự trong tiếng Anh là anti tank rocket launcher (có nghĩa là "súng phóng tên lửa chống tăng"), tuy nhiên, RPG-2 dùng kỹ thuật tên lửa rất ít, chỉ đến RPG-7 thì kỹ thuật này mới đóng vai trò lớn trong đẩy đạn.

[5] ĐKZ: Pháo không giật B-10 (Tiếng Nga: Bezotkatnoye orudie-10) hay còn được biết đến với tên gọi RG82 ở Đông Đức,[5] là loại pháo không giật nòng trơn cỡ 82 mm[6] do Liên Xô thiết kế và sản xuất, được đưa vào sử dụng từ năm 1954 đến nay.

Loại súng không giật này được thiết kế nhằm thay thể cho khẩu SPG-82 sử dụng từ Thế chiến thứ hai.

Đến đầu những năm 1960, B-10 được bổ sung và thay thế bằng súng chống tăng không giật SPG-9 cỡ nòng 73 mm.

Loại pháo này có thể mang trên xe bọc thép BTR-50 và thích hợp trang bị cho các đơn vị dù.

Mặc dù khá lỗi thời, nó vẫn được các quốc gia trên khắp thế giới sử dụng xuyên suốt Chiến tranh Lạnh.[7][8] Giống như các loại súng không giật khác, ở Việt Nam, B-10 được gọi chung là súng DKZ hoặc SKZ, tên định danh của nó trong Quân đội Nhân dân Việt Nam là DKZ82-B10 (súng DKZ cỡ nòng 82 mm tên B-10).

[6] Sơn pháo: là loại pháo xuất hiện cuối thế kỷ 19, dùng đến đầu thế kỷ 20, nay đã bỏ.

Đặc điểm phân biệt pháo với sơn pháo là việc đường đạn của nó có dạng cầu vồng đặc trưng. cũng vì vậy mà ngày nay sơn pháo đã bị thay thế bởi các loại cối.

[2] -> [6] đều là thông tin trên Wikipedia
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 18: Cháy


Năng chưa về hậu phương.

Không phải vì người ta không tính cho anh về, mà là anh nhất quyết không chịu về.

Hơn nữa, ở thời buổi bây giờ, khái niệm “điên” này vẫn còn khá mơ hồ.

Điên là như thế nào?

Điên ra làm sao?

Tự mỗi người lại có những kiến giải khác nhau.

Với chị Trung Anh, Năng không thể kiểm soát được cảm xúc của bản thân nên anh bị điên rồi.

Nhưng với những người khác, Năng đâu có làm gì trái với lẽ thường mà phải bị coi là điên?

Những gì Năng thể hiện ra ngoài khiến gần như không ai trong đơn vị tin Năng bị điên cả.

Không chỉ một lần thủ trưởng hoài nghi lời chị Trung Anh nói, ông chỉ suy nghĩ kiến nghị của chị vì chị là bác sĩ mà thôi.

Qua vài ngày quan sát, ông không cho rằng Năng cần phải trở về hậu phương.

Ngày ấy, chị Trung Anh lại bỏ một đống việc ở bệnh viện dã chiến để tới chỗ thủ trưởng, mang theo một lô giấy tờ để xin cho Năng về.

Thủ trưởng vừa nhác thấy bóng chị đã biết chị lại tới làm gì, ông thở dài thườn thượt.

- Đồng chí Năng không thể về hậu phương.

- Thủ trưởng khẳng định.

- Cá nhân đồng chí Năng nghĩ rằng bản thân vẫn có thể chiến đấu được, và dĩ nhiên chúng tôi cũng vậy.

Dù giờ cô có nói thế nào, chưa cần nói đến tôi, bên trên nhất định không để đồng chí Năng quay về hậu phương.

Tất nhiên ban chỉ huy rất thương các chiến sĩ của mình.

Không ai muốn số lượng thương vong trong chiến tranh càng lúc càng tăng cao cả.

Thế nhưng, đây là chiến tranh, một cuộc chiến trường kỳ cần sự chung tay của rất nhiều người để giành thắng lợi.

Bất cứ ai còn khả năng chiến đấu đều không thể quay về hậu phương vào lúc này được, và tương đương với đó, hậu phương cũng thường đưa những người lính trẻ ra tiền tuyến.

Đây là thời khắc quyết định.

Cuộc chiến chống Mĩ đã kéo dài gần hai mươi năm rồi, cũng đến lúc chuẩn bị kết thúc thôi.

Chị Trung Anh là một quân y ở tiền tuyến đủ lâu để hiểu được tầm quan trọng của những người lính như Năng.

Năng đã đi lính nhiều năm, anh còn sống sót đến bây giờ không chỉ bởi may mắn mà còn có cả kinh nghiệm chiến đấu, khả năng tuân theo mệnh lệnh của cấp trên, sự dũng cảm và “nhờn” trước chiến tranh.

Chiến trường cần những tay lính “già” như anh để dẫn dắt lính trẻ mới nhập ngũ.

Nhưng hiểu là một chuyện, còn chấp nhận được hay không lại là một chuyện khác.

Chị không thể lên giọng với cán bộ cấp trên được, đành cố gắng giải thích tình huống của Năng cho thủ trưởng nghe:

- Vấn đề là hiện tại đồng chí Năng không thể kiểm soát cảm xúc của bản thân được.

Đây là một căn bệnh về tâm lý chứ không phải thể xác, tôi không thể giải thích kỹ hơn nhưng tôi chắc chắn điều này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới đồng chí ấy.

Tôi biết sự góp mặt của đồng chí Năng là cần thiết cho những cuộc chiến sắp tới, có điều với tình hình hiện tại, tôi cho rằng đồng chí Năng không thể lên chiến trường được nữa.

Khoan nói tới việc đồng chí ấy có giết giặc được không, chỉ riêng việc tự lo cho bản thân thôi đã khó rồi.

Tôi mong rằng đồng chí và các lãnh đạo có thể xem xét thêm, cho đồng chí Năng về hậu phương.

Thủ trưởng rất khó xử.

Thú thực, ông chưa từng gặp tình huống như hiện tại nên không thể tự ra quyết định được.

Ông bảo chị Trung Anh rằng cần phải bàn lại với cấp trên, cũng như cần phải nói chuyện riêng với Năng nữa.

Chị Trung Anh thì nghĩ, bàn bạc thêm với cấp trên cũng được thôi, nhưng không thể nói chuyện riêng với Năng được.

Chị biết thừa Năng sẽ không thừa nhận bản thân bị bệnh, càng không chấp nhận chuyện mình phải về hậu phương.

Nào ngờ chưa cần chị phải thốt ra lời phản bác, Năng đã chủ động tới gặp thủ trưởng.

Anh đứng nghiêm, giơ tay chào, giọng nói đanh thép:

- Báo cáo đồng chí thủ trưởng, hiện tại cảm xúc của tôi đã ổn định trở lại, sẽ không gây cản trở kế hoạch tiếp theo của quân ta đâu ạ.

Hiển nhiên anh đã đứng ở ngoài nghe nãy giờ, biết chị Trung Anh lo lắng điều gì.

Anh đợi chị Trung Anh nói xong mới bước tới, thẳng thắn nói luôn suy nghĩ của mình mà không thêm thắt chi tiết nào.

Thủ trưởng lấy làm vui mừng lắm, ông liên miệng khen ngợi Năng, còn nói chị Trung Anh nghĩ nhiều rồi.

Có lẽ Năng từng không ổn, chỉ “từng” thôi, còn bây giờ anh đã khá hơn nhiều, có đủ khả năng để tiếp tục ra tiền tuyến.

Ông vỗ vai Năng, thông báo một tin có thể xem là tin tốt:

- Sắp tới sẽ có lính mới.

Hai đồng chí Năng và Sáo được chúng tôi đánh giá cao, vậy nên chúng tôi quyết định phân công cho hai đồng chí nhiệm vụ tiếp nhận và hướng dẫn họ.

Năng lễ phép nói cảm ơn vì bên trên đã tin tưởng và cho cơ hội, anh sẽ cố gắng đảm nhiệm tốt vai trò mới của mình, còn bảo rằng khi quay lại sẽ nói cho cả Sáo biết.

Chị Trung Anh thấy vậy thì biết bản thân không thể làm gì khác hơn.

Chị hậm hực vò mấy tờ giấy trong tay, gườm gườm nhìn Năng, tức đến nghiến răng nghiến lợi.

Chị nổi cáu, nói:

- Chị đã làm tất cả những gì chị có thể rồi.

Sau này mày sống chết ra sao chị cũng kệ mẹ mày.

Lúc chết thì đừng về tìm chị!

Nói rồi, chị bực bội đá viên sỏi dưới chân, quay lưng rời đi.

Năng dõi theo bóng lưng chị, rồi quay sang nhìn vẻ mặt khó nói thành lời của thủ trưởng, anh cố nén xuống sự khó chịu nơi đáy lòng.

- Chậc.

Bảo sao mãi không có chồng.

- Năng bĩu môi, cố tình lớn giọng nói.

- Tính như con cọp cái ấy, ai mà thèm lấy.

Không ai đáp lời anh, không biết có phải chị Trung Anh giận nóng đầu rồi hay không nữa.

Thủ trưởng chỉ đành gượng cười, dặn anh quay lại chuẩn bị thật tốt cho cuộc chiến sắp tới.

Khi quay Năng trở lại, Sáo đã đứng đợi anh từ lâu.

Sáo quan sát Năng một lượt từ trên xuống dưới, ngập ngừng hỏi:

- Năng có sao không Năng?

Năng gật đầu, chọn đại một chỗ trống rồi ngồi bệt xuống.

Như sợ Sáo không tin, hoặc như thuyết phục bản thân mình, anh liên tục khẳng định:

- Tớ rất ổn, cực kỳ ổn.

Sáo không tin nhưng không nói ra, cũng không hỏi lại nữa.

Bản thân anh không muốn Năng về hậu phương, tận sâu bên trong vẫn mong Năng còn bình thường, song tự anh vẫn hiểu rằng Năng đã có cái gì đó khang khác.

Anh ngồi xuống bên cạnh Năng, nghe Năng bảo hai thằng được thăng chức rồi, sắp được dẫn dắt một đám lính trẻ rồi.

Nói thật, Sáo không muốn nhận nhiệm vụ này cho lắm.

Anh có linh cảm không lành về cuộc chiến sắp tới.

Chiến dịch này tưởng chừng như đã đến hồi kết, thế nhưng quãng đường tới chiến thắng vẫn còn rất dài và rất gian nan, có khả năng quân ta sẽ chỉ giành được một chiến thắng sít sao với sự đổ máu của biết bao nhiêu con người, đặc biệt là lính trẻ.

Sáo nghe ra một chút gì đó từ giọng điệu của Năng.

Chắc hẳn Năng cũng có cảm giác như anh, hoặc Năng đã biết trước chuyện gì.

Ngoài mặt, Năng tỏ vẻ rất hứng khởi vì mình được lên làm “thủ trưởng” của nhóm lính trẻ.

Mặt khác, giọng điệu của anh lại rất bất cần, dường như anh chẳng mấy đặt chuyện này trong lòng.

Cứ như thể anh biết chắc mình không bao giờ có cơ hội được gặp “cấp dưới” vậy.

- Năng chiến đấu vì cái gì?

Sau một thoáng im lặng vì hết cái để nói, Sáo đột ngột hỏi một câu không liên quan đến chủ đề vừa rồi.

Đó là câu hỏi mà Năng từng hỏi Sáo mấy hôm trước, nay Sáo cũng hỏi ngược lại Năng y chang vậy.

- Hôm đó Năng hỏi tớ rằng chúng ta chiến đấu vì cái gì.

Tớ đã trả lời rồi, nhưng có vẻ như câu trả lời của tớ không giống với đáp án của Năng.

- Thấy được vẻ bất ngờ của Năng, Sáo đành giải thích.

- Vậy nên tớ muốn hỏi Năng: Năng chiến đấu vì cái gì?

Năng thở dài não nề.

Anh không nói gì một hồi lâu, chỉ cúi đầu nhìn mảnh đất dưới chân mình.

Anh đang suy nghĩ xem có nên nói cho Sáo biết hay không.

Đây là bí mật anh muốn giấu cả đời, chỉ trừ anh và những người anh cho là đặc biệt ra, anh không muốn nói cho ai khác biết cả.

Cơ mà giờ Sáo đã hỏi rồi, Sáo lại còn là người đồng đội thân thiết duy nhất còn sống nữa nên anh lưỡng lự lắm.

Thấy vậy, Sáo cũng không nài ép anh nữa.

Ai mà chẳng có bí mật muốn giấu kín cho riêng mình, Sáo tôn trọng điều đó, bản thân anh cũng không nhất định phải biết quá nhiều làm gì.

Thế mà ngay khi Sáo tính đổi đề tài khác, Năng lại trả lời:

- Tớ…

Tớ muốn đi tìm tự do.

Tự do cho dân tộc, và tự do cho cả chính tớ.

Sáo kinh ngạc lắm.

Anh đã nghĩ tới rất nhiều nguyên nhân, cũng có thể hiểu được vế đầu trong câu trả lời của Năng.

Người lính nào ra chiến trường mà không phải vì một mai hòa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc kia chứ.

Tất cả bọn họ đều ra đi vì đất nước, hiếm có ai lựa chọn đi vì chính bản thân mình lắm.

Mà nay, Năng lại nói rằng anh chiến đấu không chỉ vì dân tộc mà còn vì bản thân, lại còn là vì tự do cho bản thân nữa chứ.

Sáo không khỏi thắc mắc:

- Ơ?

Tại sao vậy?

Năng cúi gằm mặt, buồn bã đáp:

- Bởi vì tớ chưa từng có tự do.

Anh không kịp giải thích gì thêm, tiếng pháo nơi chiến trường lại nổ vang rồi.

Gió lớn thổi tới, cuốn theo khói súng bốc lên trời.

Sự yên bình chỉ còn trong giấc mơ đêm qua.

Một cuộc chiến khác lại bắt đầu.

Hai người lập tức đứng bật dậy, cầm súng lên, chạy ra chiến hào trong tiếng hô vang của những người đồng chí đồng đội khác.

***

Gia đình Năng là một gia đình truyền thống, nhưng truyền thống theo kiểu phong kiến.

Chị gái của Năng từng nói rằng, nếu đặt vào thời Nguyễn, gia đình họ có thể xem là một gia đình kiểu mẫu.

Tiếc là nhà Nguyễn đã sụp đổ, miền Bắc hiện tại đang xây dựng xã hội chủ nghĩa chứ không phải xã hội phong kiến.

Mà dù có là xã hội phong kiến, thì e nhà Hậu Lê còn cấp tiến hơn gia đình của Năng nữa.

Bố của Năng là một người đàn ông đúng chuẩn tiêu chí của một người đàn ông gia trưởng miền Bắc.

Ông cưới tổng cộng sáu đời vợ, đến tuổi năm mươi đã có mười một đứa con, trong đó chỉ một đứa con trai là Năng, còn mười người con còn lại đều là con gái.

Tuy vậy, đến khi Năng nhận thức được thế giới xung quanh, anh chỉ thấy mình có một người chị gái tên Sen mà thôi.

Còn những chị em gái khác đi đâu, Năng không biết nữa.

Mãi đến một ngày nọ, Năng tình cờ thấy cảnh bố mình nạt mẹ kế.

Lúc đó ông cụ đã sáu mươi tuổi rồi, vậy mà vẫn còn sung sức ghê gớm, vẫn khiến con gái mới ngoài hai mươi nhà người ta có bầu được.

Ông cụ chỉ vào cái bụng tròn của cô mẹ kế, nói nếu mẹ kế lại sinh con gái nữa, ông cụ sẽ không bán đi mà vứt quách ra ngoài ruộng cho chó ăn.

Năng nhớ như in lời ông cụ nói:

- Toàn lũ vịt trời, ăn cơm của ông xong bay đi hết, giữ lại làm chó gì.

Khỏi phải nói khi ấy Năng sợ đến nhường nào.

Là đứa con trai duy nhất của ông cụ nên từ nhỏ, anh được hưởng rất nhiều sự ưu ái.

Nhà có cái gì ngon, cái gì tốt, anh đều được hưởng hết.

Anh được ông cụ cho đi học, còn chị gái anh thì phải ở nhà làm việc như con hầu.

Dẫu vậy, anh vẫn thương chị lắm.

Có lẽ cô giáo trên trường đã dạy anh rất tốt, giúp anh phân biệt được đâu là đúng và đâu là sai.

Năm mười tuổi ấy, anh biết bố của mình không phải người tốt lành gì cho cam, hay phải nói là tên ác ôn đội lốt con người.

Ông ta có thể bán được cả con ruột của mình chỉ bởi đó là con gái, thậm chí vứt nó đi để nó tự sinh tồn trên thế giới này.

Trọng nam khinh nữ chỉ đến thế là cùng ư?

Không phải đâu, ông ta còn quá đáng hơn nhiều lắm.

Ngay khi biết được các chị em gái khác đều bị bố bán đi rồi, Năng vội vã đến tìm người chị duy nhất còn lại của mình.

Chị Sen là một cô gái không xinh xắn mấy.

Dáng người chị thô kệch, bắp tay và bắp chân to bằng nhau, chiều cao không phát triển bằng chiều ngang.

Mặt chị lúc nào cũng có vết đen nhẻm của nhọ nồi, tóc tai thì như cái tổ quạ.

Chẳng những thế, bố còn bắt chị nhuộm răng đen, nhai trầu bởi vì đó là vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt.

Lúc Sen nghe Năng hỏi tại sao mình không bị bán, chị đang một mình ngồi rửa hai chồng mâm bát của ngày hôm đó.

Năng ngó nghiêng bên ngoài một lúc rồi vội vàng tới giúp chị.

Anh sợ bố phát hiện rồi lại mắng chị lắm.

Chị Sen chỉ liếc Năng một cái, tiếp tục công việc trong tay, bình thản đáp:

- Mày không biết hả?

Lão giữ chị lại là bởi cụ thầy bói đầu chợ nói tướng chị là tướng có phúc, sau này kiểu gì cũng lấy được chồng giàu.

Lão chỉ thấy chị có ích cho lão, dẫu có là con vịt trời thì cũng mang về được cho lão một thằng rể ra hồn mà thôi.

Nghe vậy, Năng điếng người.

Thật lòng mà nói, kết quả này so với bán con thì không khác nhau là mấy.

Điểm khác duy nhất là những chị em gái khác bị bán như một món hàng không mấy giá trị, còn chị Sen bị xem như có tiềm năng làm con dâu nhà giàu.

Mắt Năng hoe đỏ, anh thương chị mình quá đỗi.

Chị Sen thấy Năng như sắp khóc đến nơi thì tặc lưỡi một cái, dí ngón tay còn ướt nước vào trán Năng, nạt:

- Trời đất ơi.

Mày còn giống con gái hơn tao nữa đấy.

Năng ghét bố vì rất nhiều lý do khác nhau, không chỉ vì cách ông đối xử với con gái của mình.

Anh ghét ông ta tới nỗi dù là con trai lớn, là đứa ban đầu nhận được nhiều yêu thương nhất, anh vẫn đoạn tuyệt quan hệ với gia đình mình.

Đứa con thứ mười hai của ông cụ là một bé trai kháu khỉnh.

Vì tuổi già mà vẫn có con út nên ông cụ sướng lắm, yêu thương chiều chuộng hơn cả Năng.

Để rồi lớn lên, tính cách nó chẳng ra hình dạng nào cả.

Em út của Năng tên là Khoa.

Ông cụ nói thằng Khoa từ khi mới đẻ đã khôn ranh đáo để, sau này chắc chắn làm được việc lớn.

Mà việc lớn trong mắt ông cụ là việc làm giàu cho dòng họ, hoặc chí ít cũng làm rạng danh dòng họ được.

Thế nên ông cụ đặt nó tên Khoa, với mong muốn sau này nó học hành thành tài, “vinh quy bái tổ”.

Thằng Khoa nhìn qua cũng thông minh xán lạn, Năng lại thấy nó khôn lỏi nhiều hơn.

Nó biết mẹ đẻ nó không được ông cụ thương nên nó làm trời làm đất, không ưa cái gì là lại đánh mẹ nó.

Nó biết chị Sen chỉ là đứa ở nhờ nhà mình cho tới tuổi lấy chồng nên thường xuyên bắt nạt chị, bày trò chọc phá khiến chị bị bố cho ăn no đòn.

Được cái nó sợ Năng, đơn giản vì Năng là con trai cả trong nhà.

Dẫu ông cụ có thiên vị nó tới đâu thì vẫn trông cậy vào Năng nhiều hơn, để Năng dạy em thì ông cụ cũng yên tâm.

Nhiều lúc Năng phát hiện nó lại bắt nạt chị Sen, anh lập tức lấy cớ nó láo toét với anh (chị) mà bắt nó làm việc nặng, ông cụ thấy vậy cũng không ý kiến gì.

Qua vài lần như thế, thằng Khoa cũng biết Năng quý chị Sen, sẽ luôn bất chấp bảo vệ chị.

Nó không dám bắt nạt chị quá đáng quá, toàn canh lúc Năng không ở nhà mới làm mình làm mẩy thôi.

Mà nó sợ thì sợ, còn ghét thì vẫn ghét.

Chẳng là mẹ nó thường xuyên khóc than, nói nó là con út, có là con trai thì cũng không được ông cụ chia đất chia tiền cho nhiều bằng Năng, đâm ra nó ghét.

Đỉnh điểm là khi Năng mười bảy tuổi, thằng Khoa bảy tuổi.

Năm ấy cũng là năm Năng chạy khỏi nhà mình để nhập ngũ, còn chị Sen đi lấy chồng.

Cuộc đời của Năng không có nhiều lựa chọn.

Anh học ở đâu, trưởng thành như nào, ra đời làm gì, cưới con gái nhà ai, đều do bố anh quyết định hết.

Những gì anh có thể làm là lén lút giúp chị Sen làm việc nhà, tận hưởng thú vui khi đêm khuya ngồi một mình.

Chẳng biết ông trời ưu ái thế nào mà cho anh cái sở thích xem tướng, xem bói cho người ta.

Cụ thầy bói đầu chợ quý anh lắm.

Cụ tám mươi tuổi, làm cái nghề mê tín này hơn bảy mươi năm.

Đôi mắt cụ nhìn còn chẳng rõ, ấy thế mà lại nhìn ra Năng có khiếu làm đồng nghiệp của cụ.

- Cái này cụ với anh biết thế thôi, anh thích thì tự tìm hiểu chứ cụ không dạy anh đâu.

- Cụ nói.

Sáng nọ, Năng đột dưng nổi hứng muốn hỏi cụ vài vấn đề.

Cụ thầy bói lại xách ghế ngồi ở đầu chợ, theo lời cụ là cụ đang chờ người có duyên tới xem.

Cơ mà người thì rõ nhiều, còn có duyên hay không thì không ai biết.

Cụ thầy bói lấy từ trong túi áo một cái kính râm mắt tròn cũ mèm, lóng ngóng đeo lên.

Nghe lý do Năng ghé tìm cụ, cụ lại giận dỗi, không vui vẻ mấy.

- Ô hay cái anh này, đã bảo cụ không dạy anh đâu mà.

- Cụ thầy bói cáu kỉnh quay lưng đi, nhưng vẫn nói.

- Mà cụ tiếc tài anh lắm.

Thôi, cụ nói cho anh hay: số anh chết trẻ, có tài nhưng không hợp học đâu.

Năng chỉ cười cười, không cho là phải.

Cả nhà đều biết sức khoẻ anh hơi kém, hễ trái gió trở trời là lại ốm vặt.

Thực ra đó không phải chuyện to tát gì, không quá ảnh hưởng đến cuộc sống của anh nên chẳng ai nghĩ anh ốm yếu, sẽ chết sớm cả.

Cụ thầy bói biết tỏng Năng không tin nhưng không giải thích thêm.

Cụ chỉ lắc đầu, thở dài bảo:

- Cụ nói thế, anh tin thì tin, không tin thì cụ kệ thây anh.

Nếu anh đi xem thầy khác, kiểu gì họ cũng nói y chang cụ thôi.

Bỗng nhiên có ai đó phá lên cười, cắt ngang lời của cụ thầy bói.

Năng ngẩng đầu lên, thấy đó là một gương mặt lạ lẫm mà anh chưa gặp bao giờ.

Chàng trai ấy đeo một cặp kính dày trông rất tri thức, chỉ là tóc hơi loà xoà, gương mặt tái mét, đôi mắt thâm quầng vì lâu rồi không ngủ một giấc ngon.

Nhìn tổng thể, chàng trai đó là một người rất điển trai, nhưng nhờ cách ăn mặc chải vuốt làm bề ngoài chàng xấu đi theo một cách lạ kỳ.

- Em trai đừng tin, lát nữa ông già này lại bày cách hoá giải vận xui bây giờ.

- Chàng trai nói.

Như sợ Năng không tin lời mình, chàng bổ sung.

- Hôm trước anh nghe người nhà giới thiệu, đi xem tình duyên ở chỗ ông già.

Thế mà ông già bảo cả đời anh không có vợ, còn yêu đàn ông!

Em trai nói xem, có đáng đánh hay không cơ chứ!

Anh đẹp trai thế này, sao không có vợ cho được!

Năng cười ha hả, lại đùa bảo ít ra chàng trai còn có người yêu, Năng đây chẳng những ế mà còn chết trẻ đây này.

Chàng trai thấy vậy cũng phì cười, giới thiệu bản thân tên là Điện, là một sinh viên trường y mới từ thành phố về.

Năng thấy chàng trai đó sao mà giỏi giang quá thể đáng, ít nhất giỏi hơn tất cả những người mà Năng biết nhiều.

Trò chuyện đôi câu, hai người như thể là bạn cũ đã quen nhiều năm, chưa gì mà đã khoác vai nhau trò chuyện từ trên trời đến dưới đất, từ bản thân đến cuộc sống thường ngày.

Chẳng mấy hai người đã dắt díu nhau rời đi, hai cái miệng vẫn cười nói không ngừng, có vẻ hợp cạ lắm đây.

- Cụ đã xem cho, ít khi sai lắm.

Cụ thầy bói lẩm bẩm đọc một câu thơ tình, tay cầm quạt mo phe phẩy.

Cụ trông thế mà đỏm dáng đáo để.

***

Năm đó chị Sen phải đi lấy chồng.

Không biết làm cách nào mà bố tìm được cho chị một nhà chồng có của ăn của để, giàu có ba đời.

Tuy chị không quá xinh xắn, cơ mà nhà chồng chị, từ trên xuống dưới, đều rất hài lòng về chị.

Mẹ chồng chị đến nhà nhìn chị vài lần, lần nào lần nấy đều gật gù:

- Con bé này mông to, dễ đẻ.

Lại còn tháo vát, chăm làm việc nhà.

Nói chung tôi ưng lắm.

Bố chồng chị nói thêm vào:

- Thấy nhà ông ba con, lại có hai đứa con trai thì nhà tôi yên tâm rồi.

Ai ai cũng hài lòng về cuộc hôn nhân này, chẳng ai hay biết chị Sen đêm nào cũng nằm trong chăn khóc hết nước mắt.

Nhà chồng tuy giàu có, nhưng chồng chị đã sắp bốn mươi, đã hai đời vợ và ba mụn con rồi.

Chị qua nhà đó chẳng những làm dâu, làm vợ, còn phải làm mẹ kế, làm người hầu, làm người đẻ cháu đích tôn cho người ta.

Đời chị đến cùng vẫn phải khổ, chẳng sung sướng gì đâu.

Mà hơn thế nữa, chị đã lỡ đem lòng thích người khác rồi, không cách nào nhịn xuống mà đi lấy chồng được.

- Chị không muốn lấy chồng.

Em có cách giúp chị không?

Chị Sen là người con gái mạnh mẽ, Năng gần như chưa thấy chị khóc bao giờ.

Thế nhưng đêm đó, chị Sen nắm lấy tay Năng, khóc rấm rứt.

Chị thật lòng chia sẻ với Năng rằng chị lỡ thích chàng Điện mới từ thành phố về chơi.

Dĩ nhiên đó là một cuộc tình đơn phương, bởi chị càng biết rõ rằng lòng chàng Điện đã trót thương Năng rồi.

Năng vừa bất ngờ lại vừa sợ hãi.

Bất ngờ bởi giờ anh đã biết chuyện tình đơn phương của chị Sen, sợ hãi cũng bởi chuyện tình bí mật của anh bị phát hiện.

Thực ra đây là điều chẳng ai trong số họ ngờ tới, thậm chí chưa từng nghĩ tới bao giờ.

Đâu ai nghĩ chị Sen chỉ gặp chàng Điện có ba lần mà đã tương tư người ta.

Cũng chẳng ai hay Năng và chàng Điện quen nhau có hai tháng mà đã động lòng.

Đến giờ Năng vẫn còn nhớ ngày con tim mình chẳng thèm nghe theo lý trí nữa.

Ấy là một ngày mưa rào.

Mới vừa hôm trước còn nắng chang chang, nóng tới độ nước ao sôi sùng sục vào ban trưa, mà vừa tới đêm trời đã đổ một cơn mưa nặng hạt rồi.

Cứ thế, Năng lại nằm bẹp trên giường vì ốm.

Hôm đó anh ngủ nhiều, tới chiều lại tỉnh như sáo, dù mệt cách mấy cũng không nhắm mắt ngủ tiếp được.

Anh quơ đại một trong những quyển sách mình đặt đầu giường, chưa kịp xem bìa đã mở ra đọc rồi.

Vừa mới mở ra đã thấy những dòng kẻ ô ly và chữ viết như gà bới của một ai đó.

Rõ ràng trong tay anh đâu phải quyển sách nào, đây là một quyển vở kia mà.

Ban đầu Năng rất hoang mang, anh cứ đinh ninh đầu giường mình chỉ có sách chứ đâu có vở đâu.

Để ý kỹ mới thấy, quyển vở này còn chẳng phải của anh nữa.

Vài phút sau Năng mới nhớ ra, dạo gần đây anh gặp khá nhiều vấn đề với bài học trên lớp.

Có nhiều cái anh học mãi, nghe giảng mãi mà vẫn không hiểu được, ở nhà lại chẳng ai giúp được anh, nên anh đành đi tìm Điện nhờ giúp đỡ.

May sao Điện vẫn còn giữ rất nhiều vở ghi chép, hỗ trợ anh rất nhiều trong việc học hành.

Bố Năng vừa nghe thành tích của con trai lớn tiến bộ đáng kể nhờ anh chàng sinh viên y thì mừng lắm, còn khuyến khích anh tiếp xúc với Điện nhiều hơn.

Ông ta không mong anh có thể làm được bác sĩ, nhưng chí ít cũng phải là trí thức chứ không phải làm việc tay chân.

Điện dạy Năng học rất nhiều.

Từ bài vở trên trường, cho tới những kiến thức bên lề mà chàng từng nghe qua.

Bản thân Điện nào phải anh chàng vui tính gì, cả đời chàng chỉ biết đọc sách, chuyện vui cũng chỉ từng thấy trong sách vở thôi.

Vậy mà Năng nghe đến mê mệt, ngày nào cũng mong chàng kể cho nghe.

Năng nhìn quyển vở trong tay mà tiếc nuối lắm thay.

Anh bị ốm nên chẳng thể nào sang nhà Điện được.

Đâu ngờ rằng Điện không thấy anh tới chơi bèn chạy sang nhà anh hỏi thăm, lúc ấy mới biết Năng bị ốm rồi.

- Sốt rồi hả?

- Biết chuyện, Điện vội đi vào thăm hỏi.

Chàng vươn tay sờ trán Năng, lại chỉ thấy om om chứ không quá nóng.

Có vẻ anh bị bệnh không nghiêm trọng lắm.

Năng lắc đầu, đáp rằng chỉ cúm thôi chứ không sốt.

Anh đã quá quen với cơ thể mình, cứ mỗi khi thời tiết thay đổi đột ngột là lại nằm bẹp một hôm.

Điện biết nguyên do bởi cơn mưa rào đột ngột đêm qua.

Chàng vuốt cằm suy nghĩ một lúc, không nói không rằng đã lấy quyển vở trong tay Năng, xé một trang cuối rồi gấp thành hai con ếch nhỏ.

Chàng đặt ếch ở đầu giường Năng, cười bảo:

- Đợi ếch kêu một cái, mưa sẽ ngớt ngay thôi.

Lúc đó Năng cũng khoẻ liền đó.

Năng phì cười, chỉ ra lỗi sai trong lời của chàng:

- Cóc kêu chứ.

Các cụ bảo con cóc là cậu ông trời, cũng có sự tích con cóc chứ có phải sự tích con ếch đâu.

Điện lại thấy giờ này còn phân biệt ếch với cóc làm gì, đều là loài lưỡng cư, cùng họ với nhau cả mà.

Vả lại, cứ trời mưa thì dù là ếch, nhái hay cóc đều kêu ồm ộp hết thôi.

Năng lại đùa:

- Thế hết mưa rồi em lại ốm thêm thì sao?

Điện hãnh diện ưỡn ngực, tự tin nói:

- Thì anh chữa cho.

Anh đây là bác sĩ tương lai mà lại.

Chỉ cần Năng chưa bệnh nặng quá, bệnh gì anh cũng chữa được hết.

Ngay tại khoảnh khắc ấy, hình như trong Năng có cái gì rơi bộp xuống.

Cảm giác ấy hơi khó tả, lại rất đột ngột làm Năng không hiểu ra sao cả.

Điện chỉ nói mấy câu thôi mà, sao trong Năng lại như nổi trống trận thế này.

Năng cầm con ếch nhỏ, ngồi trầm tư suy ngẫm mấy hôm liền mới phát hiện đó là sự rung động đầu đời.

Ngay sau đó, anh lại ngồi tự vấn bản thân xem tại sao giới tính người kia lại lạ như thế.

Và rồi Năng nhận ra, vấn đề hẳn không nằm ở giới tính, mà ở chính bản thân anh.

Hoạ chăng anh động lòng với một người học giỏi, ưa nhìn lại tự tin nhưng không có khiếu hài hước thì sao.

Nghĩ như vậy, Năng thử tiếp xúc với mấy bạn học nữ có những tiêu chí trên, để rồi anh lại phát hiện, tất cả những điều trên không quan trọng.

Quan trọng là bản thân Điện mà thôi.

Khỏi phải nói Năng ngỡ ngàng đến mức nào.

Anh đứng cũng nghĩ, ngồi cũng trầm ngâm, ngủ cũng mơ thấy, mất cả nửa tháng trời mới chấp nhận mình thầm thương một người con trai.

Trong nửa tháng đó, rồi sau đó nữa, ngày nào anh cũng gặp Điện.

Chẳng ai biết Năng vật vã thế nào khi liên tục phải dùng quyển vở úp đầu, cố làm sao cho Điện không phát hiện chuyện lạ.

Năng chắc mẩm mối quan hệ bạn bè của anh và Điện chỉ đến thế thôi.

Cho tới một ngày kia, Điện thấy anh không ngồi học bài, cũng không nằm ngủ trương thây, mà đang ngồi nghịch con ếch giấy mà chàng từng gấp.

- Nếu em thích, anh dạy em.

- Điện bước tới, cầm lấy tay Năng, thản nhiên đưa ra một đề nghị khiến người đời phải bật ngửa.

- Hoặc nếu em thích anh, anh dạy em.

Năng chỉ bất ngờ trong một thoáng, rồi lặng lẽ chấp nhận.

Hai đứa đã chẳng còn là bạn bè nữa rồi.

Đó thật sự là một tình yêu rất kỳ diệu.

Chẳng ai nói với ai lấy một lời, mà tình yêu vẫn lan toả từ con tim tới đôi bàn tay đang nắm chặt.

***

Nửa đêm, thằng Khoa tỉnh dậy vì khát nước.

Ngay khi đi ngang qua phòng chị Sen, nó lập tức nghe thấy toàn bộ lời chị nói.

Nó bất ngờ, càng nhiều hơn là mừng như điên.

Nó gần như chẳng sợ gì nữa, ngoác mồm gào lên:

- Bố ơi!

Mẹ ơi!

Anh Năng yêu con trai!

Bố Năng vốn ngủ không sâu, nghe tiếng gào của cậu quý tử thì bật dậy ngay tức thì.

Thằng Khoa hí hửng chạy vào phòng bố mẹ, thêm mắm dặm muối kể lại toàn bộ cuộc hội thoại của hai chị em.

Chuyện Sen không muốn lấy chồng hay đã trộm thương người khác vốn không phải điều gì quá to tát, thậm chí là rất đỗi bình thường.

Sen thương ai mà chẳng thế, kiểu gì chị cũng phải làm vợ người khác chứ không bao giờ làm vợ của người mà chị thương.

Nhưng chuyện của Năng thì ngược lại hoàn toàn.

Đối với bố Năng, mối tình của Năng trái với thuần phong mỹ tục, trái với tư tưởng cha ông truyền lại.

Ông ta không tài nào chấp nhận nổi thằng con lớn của mình lại đi yêu đương với một thằng con trai khác được.

Giả như Điện là con gái đi, thì ông ta còn chấp nhận, còn mắt nhắm mắt mở nhận một đứa con dâu hơn tuổi con trai mình.

Giả như chung quy cũng chỉ là giả.

Và chắc chỉ có ông trời mới có cách đổi giới tính của Điện.

Thằng Khoa gào lên làm hai chị em trở tay không kịp.

Năng chưa nói được câu giải thích nào, bố Năng đã phăm phăm đi tới cùng một cây sào trong tay rồi.

- Mày bảo mày học cơ mà!

Mày học cái gì đây?

Bố Năng tức điên đầu, không màng tới lời giải thích của Năng hay sự ngăn cản của Sen.

Ngay lúc này, ngay bây giờ, tất cả đều chỉ là mấy lời sáo rỗng, mấy hành động vô nghĩa.

Chẳng có thứ gì thiết thực bằng cây sào trong tay ông ta cả.

- Trời ơi là trời!

Con ơi là con!

Ông ta gầm lên, có vẻ như thật sự cảm thấy đau lòng.

Ông ta quất tới tấp vào người Năng, rồi lại thấy phòng của Sen quá nhỏ, không đủ chỗ cho cây sào của ông ta phát huy.

Bố Năng sai thằng Khoa lôi cổ Năng ra sân, thằng Khoa thích chí lắm mà cỡ nó nào có đủ sức chứ.

Nó bị Năng đẩy ngã lăn quay ra đất, mẹ nó hốt hoảng chạy tới kiểm tra thằng quý từ có bị thương hay không.

Hiển nhiên thằng nhóc đó đâu có bị làm sao, cơ mà nó cứ giả ngất ra đó, làm bố Năng càng tức hơn nữa.

- Tao cho mày ăn cho mày học, để mày trả ơn tao thế này đây hả?

Mẹ thằng Khoa cũng khóc lóc, nước mắt nước mũi đầm đìa trông sao mà thương quá.

Mấy đời bánh đúc có xương, mẹ thằng Khoa chỉ thương mỗi mình thằng Khoa, biết thừa con mình giả vờ giả vịt mà vẫn cứ rơi nước mắt ào ào, than thân trách phận đời hai mẹ con bạc bẽo.

Mẹ thằng Khoa càng khóc, chị Sen càng van nài, Năng càng cố biện hộ càng làm bố Năng điên đầu.

Ông ta túm cổ áo Năng, xồng xộc lôi anh ra ngoài sân.

Sấm chớp giật đùng đùng, chỉ trong chốc lát trời đã đổ một cơn mưa.

Mưa rào xối ướt cơ thể Năng, chỉ cần vậy thôi, Năng biết chắc ngày mai anh không thể rời giường được rồi.

Hoặc phải nói, không biết anh có thể lên giường được không nữa.

Bố Năng bắt Năng quỳ giữa sân, giơ cây sào lên đập vào người anh.

Đánh một cái, ông ta mắng một câu, có vẻ như đang dùng phương pháp bạo lực nhất để anh nhớ cho rõ bài học này.

Giờ đây mọi lời giải thích không còn ý nghĩa gì.

Năng cắn răng chịu đựng cơn đau trên lưng, cái lạnh thấm từ da vào tận xương cốt.

Thành thực mà nói, Năng không phân biệt được đâu là cái lạnh vì ướt mưa, đâu là sự lạnh lòng nữa.

Đúng là anh đâu có ưa gì bố mình, nhưng nói gì thì nói, đó vẫn là bố anh mà.

Bố đẻ đấy!

Không thấy Năng bật lại mình mà chỉ yên lặng chịu đòn, bố Năng nghĩ anh đã học được một bài học nhớ đời rồi.

Ông quẳng cây sào đi, làm như chưa từng xảy ra chuyện gì, vội vã tuyên bố:

- Đợi xong đám cưới con Sen, tao sẽ cưới vợ về cho mày.

Con dâu tao chọn sẵn rồi, mày cứ cưới về thôi.

Năng ngẩng phắt đầu lên, không thể tin nổi mà nhìn ông ta.

Anh nén đau, loạng choạng đứng dậy.

Dẫu từ trước đã biết mình không có bao nhiêu lựa chọn, dẫu đã rõ ràng cuộc đời của bất kỳ người con nào trong gia đình cũng đã được sắp đặt rõ ràng…

Nhưng anh vẫn không thể chịu nổi hiện thực này.

Năng đứng thẳng dậy.

Bấy giờ, bố Năng mới thấy Năng đã cao vổng lên rồi, còn cao hơn cả ông ta.

Anh chăm chú nhìn vào bố mình, kiên định nói:

- Con không cưới!

Bố thích thì cưới cho bố ấy, dù sao thêm một người vợ với bố cũng chẳng là gì!

Cái miệng của Năng, từ bé tới lớn, chưa mấy khi séo xắc tới vậy.

Cuộc đời anh vốn dĩ xuôi gió xuôi nước, tuy bị sắp đặt nhưng cũng không quá khó sống.

Ít nhất, Năng biết hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình.

Chỉ là giờ anh sực nhận ra, có lẽ ở cuộc đời này, anh chưa từng được làm chính bản thân mình.

Anh không có quyền quyết định cuộc đời mình sẽ đi về đâu, anh bị bố ruột ép buộc phải ở trong một cái khuôn khổ cuộc đời mà ông ta đã chuẩn bị sẵn cho anh.

Vậy thì anh còn hài lòng ở đâu nữa?

Vậy thì anh có tự do ở đâu không?

Dường như chị Sen đã tự hiểu ra tất cả.

Chị biết từ rất lâu rồi.

Một mình chị chịu đựng số phận nghiệt ngã, câu hỏi hồi nãy của chị chỉ như một sự giãy dụa không đáng kể, như để chứng minh rằng chị đã cố, cố lắm rồi, song mãi chẳng thể thoát được sự áp đặt này.

Chị cần sự giúp đỡ, và Năng thì chẳng thể vươn tay ra được.

Giờ ngược lại, Năng cần giúp, còn chị chỉ có thể trơ mắt đứng nhìn.

Cơn giận dữ của Năng xộc thẳng lên óc.

Anh hét vào mặt bố mình, nói chắc nịch rằng cả đời anh không bao giờ lấy vợ bởi vì anh thích đàn ông, hiện tại đang yêu một người đàn ông.

Dù bây giờ bố có bắt cưới, anh cũng chẳng thể sinh con với phụ nữ được!

Bố Năng ngây người trong một chốc.

Khi hiểu ra ý anh là gì, ông đã giáng cho anh một cú tát đầy đau điếng.

“Bốp” một tiếng, mặt Năng nghiêng sang một bên, bên má bị đánh lập tức hằn một dấu tay đỏ sẫm.

Dưới ánh chớp chợt loé, dấu tay ấy chói mắt đến lạ.

Năng ôm mặt, không cam lòng liếc nhìn bố.

Ông ta run rẩy chỉ vào mặt Năng, quát tháo:

- Đó là vợ mày!

Mày phải cưới cho tao!

Tao có dạy mày cãi láo với bố thế à?

Hả?

Con với chả cái!

Năng lớn tiếng đốp lại:

- Đó không phải vợ con!

Con không cưới!

Không bao giờ!

Bố Năng tức đến mụ đầu.

Ông ta giơ tay tát thẳng vào phần mặt còn lại của Năng, rồi lại thấy hình như vẫn chưa đủ, ông ta bèn nắm chặt tay thành nắm đấm, đánh tới tấp lên đầu, lên người Năng.

Có vẻ ông ta tức quá rồi, tức đến không không thèm mắng gì nữa mà chỉ đánh thôi.

Năng không dám đánh trả lại.

Anh nhất quyết không chịu nghe lời ông ta nữa, nhất định không làm theo những gì ông ta sắp đặt nữa.

Anh thà ăn đau, thà bị đánh, bị mắng, còn hơn phải sống cuộc sống tẻ ngắt đã được sắp xếp rõ ràng.

Bố Năng không nghĩ rằng anh kiên cường tới thế.

Anh liên tục bị ông ta đánh, cả người bầm dập, không chỗ nào không có vết thương.

Mặc dù không đến nỗi máu chảy đầu rơi nhưng ai nhìn vào cũng thấy đau kinh khủng rồi.

Vậy mà Năng vẫn cắn răng nhịn cho bằng được.

- Mày điên rồi.

- Ông ta lắp bắp, chỉ thẳng vào mặt Năng.

- Thằng quái thai này!

Mày điên rồi!

Năng thở không ra hơi.

Anh mệt mỏi nhắm mắt lại, cố hít thở đều đặn.

Anh nghe được ông ta nói, sự hoảng loạn của hai mẹ con thằng Khoa, tiếng kêu van của chị Sen.

Tất cả mọi thứ xung quanh đều làm anh phải bật cười:

- À, phải.

Đúng, đúng.

Con điên mất rồi.

Điên vì cái nhà này!

Điên vì bố đấy bố ạ!

Ha ha ha!

Chắc bố mừng lắm nhỉ, mừng vì dạy được một thằng dám sống điên đời thế đấy!

Bố bất ngờ không?

Tự hào không?

Anh mỉa mai thói sống của cái nhà này, xỉa xói tất cả bà con xóm giềng.

Sự bất mãn của anh như đã tích tụ nhiều năm tháng, vẻ ngoan hiền vui vẻ mọi khi lại chẳng khác gì một vở kịch do chính anh tự biên tự diễn mà ra.

Năng đột nhiên cảm thấy thế này mới là con người mình.

Anh cáu kỉnh, anh bẩn tính, không biết giữ mồm giữ miệng lại còn lười chảy thây, đã bệnh tật còn thích mê tín dị đoan.

Chung quy lại là chẳng có gì tốt lành hết.

Bố Năng sợ.

Phải, ông ta sợ thật rồi.

Từ tức điên người thành sợ điếng người.

Ông ta lùi lại vài bước, sau đó nhanh chóng lôi Năng quay lại phòng anh.

Ông ta hốt hoảng sai mẹ thằng Khoa tìm cái khoá to nhất trong nhà, đóng cửa nhốt Năng lại.

Ông ta càng nghĩ càng sợ, sợ mọi thứ đang dần thoát khỏi sự kiểm soát của ông ta, sợ cái nhà này chẳng mấy mà sẽ sụp đổ mất.

Ông ta gõ lên của phòng Năng, không biết là đang tự nói với chính mình hay đang cố khuyên nhủ Năng nghe lời nữa:

- Rồi mày sẽ hiểu, tất cả là vì tốt cho mày thôi.

Năng chẳng thấy tốt ở đâu cả.

Anh mệt mỏi nằm trên giường, mơ màng ngủ thiếp đi.

Cơn sốt tới đúng hẹn.

Năng ngủ không cũng không yên, anh cảm giác tất cả các bộ phận trên cơ thể đều khó chịu, tay chân như muốn rã ra hết.

Năng lúc tỉnh lúc mê, khi thì đột ngột tỉnh giấc, lúc lại ngủ say như chết.

Mệt quá, anh không buồn nhúc nhích lấy một li, đến cả lật người thôi cũng lười quá thể.

Trong cơn mơ, Năng loáng thoáng nghe thấy có người gọi tên mình.

Tiếng gọi rất xa xăm, vang vọng trong ốc tai, thật chẳng khác nào tiếng trời cả.

Hình như có người đang ngồi ngay bên giường anh, chăm sóc anh từng li từng tí.

Đôi bàn tay của người đó cẩn thận chạm vào mái tóc, nhẹ phớt qua gò má đỏ hây hây.

Không biết sao mà tự nhiên Năng thấy ấm quá, thoải mái quá.

Rồi anh nằm mơ thấy mình đang nằm trên bãi cỏ dưới một trời nắng chiều, tận hưởng khoảnh khắc yên bình ngắn ngủi cùng người anh yêu.

Năng bừng tỉnh giấc.

Trước mắt anh đâu còn khung cảnh chan hoà kia nữa, chỉ còn khung cửa sổ trống vắng cùng một bóng người lẻ loi đi xa dần.

Gió mạnh đập cửa vang lên từng tiếng kẽo kẹt, hạt mưa đập lộp bộp lên mái nhà.

Mưa rơi trắng trời, dần che khuất đi hình bóng chàng trai năm ấy.

Cái áo kẻ ca rô ướt sũng nước bọc lấy tấm lưng không rộng rãi gì, bờ vai chàng như bị thứ gì đè nặng mà chùng xuống.

Bóng chàng khuất sau cơn mưa.

Năng lặng lẽ rơi nước mắt.

Từ khi sinh ra, chắc phải tới bây giờ anh mới lại rơi nước mắt.

Năng ngầm hiểu rằng có lẽ chuyện của mình đến đây là hết, có lẽ anh thực sự phải làm một con người như kỳ vọng của bố.

Có lẽ anh phải lấy vợ rồi.

Chẳng ngờ Năng chưa khỏi ốm hẳn, chị Sen đã tới mở cho anh một cánh cửa nhỏ.

Đêm ấy trời không mưa, vũng nước đọng trên mặt đất ánh lên vầng sáng bàng bạc của trăng già.

Chị Sen đứng ở nơi tối nhất trong góc, hẳn hành động mở cửa cho Năng đã tiêu hết tất cả can đảm của chị.

Chị nhẹ giọng:

- Đi đi.

Bàn tay Năng siết chặt lại, rồi buông lỏng.

Anh không suy nghĩ nhiều, không hỏi lại chị Sen rằng giờ anh nên đi đâu.

Anh nương theo ánh trăng, lục lọi tìm giấy bút, viết một lèo hết trang giấy.

Anh cẩn thận đặt tờ giấy lên bàn, tìm cái gì đó chặn lại để nó không bay đi.

Đêm ấy Năng rời nhà, không mang theo tiền, không mang theo quần áo hay đồ dùng cá nhân, chỉ cầm theo một quyển lịch và hai con ếch giấy nhỏ.

Anh ngoái đầu nhìn căn nhà và chị Sen lần cuối, không ngừng tự hỏi liệu quyết định của mình có đúng, liệu tương lai mình sẽ đi về đâu, liệu anh sẽ đạt được thứ mình muốn.

Năng không chắc chắn lắm, nhưng rồi vẫn dứt khoát quay lưng đi.

Rời khỏi cổng nhà, anh bước một bước, lại hai bước, rồi ba bước.

Đôi chân anh dần tăng tốc, và anh đã hòa mình vào màn đêm đen đặc.

Ở đằng sau, chị Sen mãi đứng nhìn Năng đi xa.

Chợt, chị ngước đầu sang một phía, nhỏ giọng gọi:

- Anh Điện, anh ra được rồi đấy.

Năng nó…

đi rồi.

Điện chậm rãi bước ra từ sau hàng cây còn vương nước mưa.

Vai áo chàng đã sẫm màu, rõ ràng chàng đứng nơi đó lâu thật lâu rồi.

Chàng bước đi dưới trăng, ánh sáng nhạt nhoà kia phả lên gương mặt, để lộ ra vài vết bầm dập tím tái.

Mắt chàng bầm tím, môi hẵng còn rươm rướm máu.

Cặp kính gãy mất một gọng, một mắt kính thì nứt vỡ thành mảng.

Thực hiển nhiên rằng chàng bị bị đánh một chặp.

Mà Điện lại như chẳng thấy đau, tấm lưng vẫn thẳng như tùng như bách.

- Anh còn thương nó, sao nỡ để nó đi như vậy?

Thấy chàng còn dõi theo hướng Năng vừa đi, chị Sen lưỡng lự hồi lâu, song vẫn không nhịn được mà hỏi ra lời.

- Vì thương nên phải để em ấy đi.

Chỉ như vậy, em ấy mới có cơ hội trưởng thành.

Hơn nữa…

- Điện cười khẽ, dịu dàng bảo.

- Con đường em ấy đi, tốt nhất không nên có mặt tôi ở đó.

Nói đoạn, chàng ngẩng đầu lên nhìn trăng sáng, để nước mắt lại chảy ngược vào tim.

Đến cùng, chàng cũng đâu có nỡ, nhưng chàng buộc phải giấu hết tất cả, khóa kín mọi thứ ở trong lòng.

- Chỉ mong một mai em ấy sẽ trở về, dẫu là còn hay mất…

Chị Sen im lặng.

Hai hôm nữa chị phải đi lấy chồng rồi.

Bao lời chị muốn chia sẻ với chàng mà chẳng thể nói thành lời, sau cuối chỉ kịp thốt một câu hỏi trước khi trăng tàn:

- Em quên chưa hỏi, vì sao anh lại thương Năng đến vậy?

Điện không trả lời được.

Chàng sao biết được kia chứ.

Rung động chỉ nằm trong một khoảnh khắc, sau đó chính là mối tình đã khắc cốt ghi tâm.

Có lẽ chàng từng rung động khi thấy anh nhăn mặt vì gặp phải bài toán khó, hay anh toét miệng cười vui sướng vì đạt được thành tích tốt, hoặc thậm chí khi anh nằm ngủ gục trên bàn vì môn văn quá chán.

Nói chung là… nhiều lắm.

***

Tác giả tám nhảm: Bất ngờ không?

Yeah phải thế chứ, đời luôn không nói trước được điều gì mà 🐧

Tôi rất sợ mình viết dài.

Chương này lên tới hơn 8k1 từ lận, tôi cầm điện thoại đi copy từ trên docs xuống mà phát mệt luôn á.

Tại sao Wattpad lại bị chặn 😭😭😭
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Hạ Cháy
Chương 19: Cháy - Lửa cháy nơi chân trời


Đất trên chiến trường chưa bao giờ là đất lành.

Nơi ấy vùi thây không biết bao nhiêu người, lại không chỉ là những người lính.

Sau mỗi cuộc chiến khốc liệt, có thể thấy môi trường xung quanh bị tàn phá không ít.

Đất cũng vậy.

Nhiều năm trước kia, đất chỉ là đất, đất có thể để trồng cây hái quả, đất có thể để dựng tường xây nhà, cho người ta một chốn ăn chốn ở, một cuộc sống yên bình.

Bây giờ, đất vẫn là đất, nhưng đất nay đã ôm xác người lính, đất để bảo vệ quê hương.

Mặt đất chẳng còn "lành lặn" nữa, những hàng dài công trình đổ sụp xuống, cây cối trụi lủi bật lên cả gốc rễ.

Thay vào đó là từng hàng từng hàng chiến hào nối tiếp nhau, dây thép gai giăng đầy đất, còn những người lính vẫn hiên ngang đứng vững trước bom đạn.

Năng và Sáo cùng đứng chung một chỗ ở chiến hào.

Từ ngày anh Giàn mất, cả hai thằng cứ dính nhau như sam, thấy người này thì thể nào người kia cũng ở gần đó.

Âu cũng bởi cả đội chỉ còn hai người còn sống, Sáo lại sợ cô đơn nên chỉ đành nhắm mắt bám theo bạn.

Năng biết thừa tính Sáo hơi nhát, cũng mặc kệ anh thích làm gì thì làm.

Sáo tựa nửa người trên lên vách chiến hào, tay nhanh thoăn thoắt lên nòng súng, chĩa mũi súng về phía kẻ thù.

Đạn rời nòng, độ giật làm anh không khỏi nhích lùi về sau.

Tiện đà, anh ngồi thụp xuống, thành công tránh được vài viên đạn lạc.

Đã qua gần hết ngày, trận đánh nhỏ này vẫn chưa kết thúc.

Đây cũng là chuyện bình thường.

Một trận đánh có thể kéo dài tới vài ngày, thậm chí cả tuần mà vẫn chưa kết thúc.

Thời gian để ăn còn không có, huống chi là nghỉ ngơi.

Do đó, trước khi đi lính, anh nào cũng gầy.

Sau khi đi lính, anh nào cũng chỉ còn da bọc xương, khoẻ lắm cũng còn vài miếng thịt chứ chẳng ai béo nổi.

Sáo mệt lả người rồi.

Cả ngày trời anh chưa được ăn một hạt cơm, chỉ biết nuốt nước bọt để giải khát.

Năng không khá khẩm hơn là bao.

Cái bụng đói réo vang, lại bị tiếng pháo át đi mất.

Ai ai cũng thấy đói.

Mà dường như cũng chẳng đói lắm.

Chợt, Năng kéo mạnh cổ áo của Sáo, ra hiệu Sáo mau đứng dậy nhìn ra phía anh chỉ.

Sau đám khói mờ kia là bộ binh địch.

Chúng nó đang bám gót theo sau xe tăng.

- Lên đi!

- Năng mạnh dạn đề nghị.

Sáo lắc đầu nguầy nguậy:

- Điên à?

Có hai đứa mình thôi đó!

Năng giải thích.

Hiện giờ quân mình mải miết đánh bắn xe tăng địch, thành tích nghe thì cũng oách đấy nhưng thực tế chẳng đuổi được bao nhiêu bộ binh địch, dẫn tới cuộc chiến mỗi lúc một dài hơn, hiệu quả tốt cũng không được nhiều.

Anh tự nhận thức được rằng đơn vị của mình không đánh được bằng những đơn vị khác, còn không ít lần bị phê bình.

Lính nào cũng muốn đánh nhanh thắng gọn, cơ mà cuộc chiến này càng lúc càng dai dẳng, vậy thì thắng gọn kiểu gì?

Năng đề nghị hai đứa đi úp sọt mấy thằng bộ binh, hoặc chí ít cũng doạ được chúng nó phải sợ són ra quần mà chạy.

Anh không mong đợi mình bắt được thằng nào hay thằng nấy, hay là tiêu diệt được xe tăng.

Anh chỉ mong mình làm được đúng như kế hoạch đề ra, dùng sức hai người bù đắp được những thiếu sót trước đó.

Sáo thấy ý tưởng này thật viển vông.

Thành công của cuộc chiến đúng là phụ thuộc vào từng cá nhân, thế nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chỉ với hai người lính giải phóng là đánh đuổi được nguyên một đoàn bộ binh cộng hòa.

Đây là tự đào mồ chôn mình luôn rồi!

Họ mà giỏi được như thế, đất nước mình đã độc lập từ đời tám hoánh nào, cần gì phải hộc mặt ra ở chiến trường thế này.

- Sáo biết gì!

Cái này cần phải nghĩ mới làm được, chứ tớ có bảo hai đứa mình đánh giáp lá cà đâu.

Sáo vẫn chẳng tin.

Song, khi thấy Năng quyết định một mình ra khỏi chiến hào, chạy về phía giặc, Sáo vẫn nhắm mắt chạy theo đuôi.

Anh tự nhủ, đằng nào mình cũng là đứa chạy nhanh nhất, có vấn đề cái là phải vác Năng chạy ngay.

Sáo thừa nhận, anh còn sợ chết lắm, sợ hơn cả là thấy thêm một đồng đội nữa hi sinh.

Lại một đợt pháo.

Giữa nền trời xám ấy là những tia sáng màu trắng xẹt ngang, nối đuôi nhau lao xuống đất nơi những người lính giải phóng đang đứng.

Tiếng nổ rền vang, đất đá bắn tóe lên, lấp đi những người bạn.

Sau đó lại có thêm những cột khói xuất hiện, cả những khóm lửa lớn lan rộng.

Cũng dưới nền trời đó, trốn sau những đám khói xám là những chiếc xe tăng đang ù ù lao đến rất gần, rồi có chiếc vọt lên trước những người lính giải phóng, không ngừng nã đạn.

Tiếng nổ này chưa dứt, tiếng nổ khác đã vang lên, liên tục không ngừng nghỉ.

Vút...

Bùm...

Bất chợt có một tiếng nổ đoàng giữa chiến trường, Sáo chỉ kịp nhìn thấy có một ánh lửa lóe lên rồi bùng cháy ngay lập tức.

Ánh lửa đỏ nhuộm lấy con ngươi.

Có vẻ như là một chiếc xe tăng đã bị bắn hạ.

Từ đâu văng vẳng tiếng reo hò, tinh thần anh cũng được khơi dậy theo.

Anh thấy những người khác cầm súng trong tay, hô hào mọi người cùng chạy về phía trước.

Anh không điều khiển được bản thân, từ lý trí cho tới các cơ bắp trên cơ thể đều thôi thúc anh chạy về phía trước, chạy theo người đồng đội của mình.

Đạn lạc sượt qua gương mặt, thân thể của anh, làm chiếc áo của anh rướm máu.

Mà kỳ lạ thay, anh lại không thấy đau chút nào, cứ như thể những dấu vết này đã không còn nhằm nhò gì với anh nữa rồi.

Anh liều mình lao lên, bị viên đạn của giặc bắn sượt qua vai.

Bỗng, Sáo vấp phải một mỏm đất nhô lên, xém chút thì ngã nhào, may là có Năng luôn chờ anh, kịp thời vươn tay ra đỡ.

Sáo bám chặt cánh tay Năng, ngẩng lên, nhìn thấy gương mặt mang vẻ kiên định ấy.

Qua một thoáng sững sờ, anh hít thở sâu lấy lại bình tĩnh, theo Năng nấp sau một bức tường gạch đổ nát gần đó.

- Sao ở đây có cái hố thế nhỉ?

Sáo để ý thấy ngay sau mình có một cái hố sâu to tổ chảng, dài bằng hai cánh tay người lớn giang rộng.

Chẳng hiểu sao Sáo chợt thấy lạnh người, có cảm giác như mình sắp phải trải qua cái gì khủng khiếp lắm.

Năng quay lại nhìn một lát, đột nhiên nhận ra cái gì đó.

- Thấy cái tường không?

- Sau một hồi im lặng, Năng khẽ giọng hỏi.

Nghe Năng hỏi vậy, Sáo gật gật đầu nhưng vẫn chưa hiểu gì.

Năng nói tiếp.

- Trước đây chỗ này là một ngôi nhà, chắc là nhà giàu lắm, tường tuy nát mà vẫn còn kiên cố chán đây này.

Còn hố này hẳn là chỗ người ta chôn của thôi.

Sáo tạm tin lời giải thích này.

Dù sao nghe vẫn đỡ hơn là cái hố được đào sẵn để mai táng người ta.

- Cúi xuống!

Thình lình, Năng đẩy Sáo ngã xuống hố, bản thân cũng nhảy xuống theo.

Thì ra có tên địch phát hiện ra họ, để xe tăng hướng nòng pháo về phía này.

Có vẻ như thế vẫn chưa vừa lòng chúng nó, đạn pháo của xe tăng bắn liên tiếp về phía họ.

Chỉ sau vài tiếng nổ, bức tường vốn đã nát nay càng nát, không chống đỡ được bao lâu, cứ như vậy mà đổ sập xuống.

Gạch vỡ rơi lộp bộp, đập lên cơ thể hai người.

Năng mím chặt môi, nhào lên, dùng lưng mình che cho Sáo ở dưới.

Nhưng dẫu có che chắn đến mức nào, vẫn có một viên gạch rơi xuống đập thẳng vào đầu Sáo, làm anh đau đến ngất lịm đi.

Sáo bị khó thở đến tỉnh.

Anh đang nằm sấp, trên lưng cõng thêm Năng, cả người bị đè xuống sắp bẹp dí tới nơi.

Anh tức ngực, cố cựa quậy lại càng tức ngực thêm, thành ra Sáo từ bỏ giãy dụa.

Anh nghiêng đầu, dùng con mắt còn lành lặn quan sát môi trường xung quanh.

Tiếc rằng anh chẳng thấy gì sất.

Nơi này tối thui.

Rõ ràng họ chỉ ngã vào hố, hố cũng không sâu lắm, vậy tại sao anh lại không thấy gì thế này?

Không cần phải nghĩ nhiều, Sáo lập tức đoán ra nguyên nhân.

Họ bị vùi dưới hố!

Chắc chắn lúc tường đổ sụp xuống, hai người đều bị gạch đá đập cho ngất đi.

Đám giặc tưởng họ chết rồi, tiện tay lấp đất coi như làm trọn nghĩa người đây mà.

Khổ thế cơ chứ lị!

Sáo không cam lòng, lại quơ tay quơ chân, muốn bò ra ngoài.

Mặc cho anh có cố gắng đến thế nào, cơ thể cũng chẳng nhích được một li, còn đôi tay chai sạn thì lại bị đất đá cào rách da, rướm máu.

Sáo tức mình, càng cố động đậy.

- Đừng cố nữa Sáo ơi.

Kiểu gì chả chết.

Không biết Năng đã tỉnh từ bao giờ, cơ mà tình trạng của anh cũng không tốt lắm.

Năng mệt nhoài người, chẳng buồn động đậy, giọng nói đầy vẻ mỏi mệt, như thể sắp đi bất cứ lúc nào vậy.

Sáo lại chẳng nghe ra Năng mệt mỏi thế nào.

Anh thở hồng hộc, tức giận quở trách:

- Nín mỏ và giúp tớ một tay đi!

Chết là chết kiểu nào, phải cố sống tiếp chứ!

Năng lười biếng duỗi thẳng tay, nằm lì trên lưng Sáo.

Anh đã chấp nhận số phận từ lâu, lúc này chỉ uể oải khuyên nhủ Sáo:

- Tớ muốn Sáo tiết kiệm sức để còn sống lâu hơn vài phút đấy

Sáo bỏ ngoài tai lời anh nói.

Chỉ tới khi anh thở không ra hơi, cảm giác hồn sắp lìa khỏi xác tới nơi, đầu ngón tay ướt đẫm máu tươi, Sáo mới chịu dừng lại.

Sáo không tài nào chấp nhận nổi kết cục này.

Anh đột nhiên muốn khóc quá...

- Tớ bảo rồi mà.

Giọng Năng vẫn oải oải như thế, nghe thôi mà cũng thấy mệt hộ.

Sáo hít mấy hơi, đợi lấy đủ sức rồi mới bực bội mắng:

- Năng có làm cái mẹ gì đâu?

Năng cười khì:

- Làm hay không làm cũng như nhau thôi.

Sáo rất không muốn đồng tình với câu này, nhưng rồi hiện thực khiến anh không thể không đồng tình.

Chắc chắn Năng bị thương nặng rồi, chính anh còn chẳng nhúc nhích được thì sao Sáo làm được đây?

- Sao Năng bình tĩnh được hay vậy?

Qua một hồi lâu, Sáo mới chán nản hỏi.

Năng trầm ngâm suy nghĩ trong phút chốc, đáp:

- Tớ phát điên xong rồi mà.

Chính ra Năng cũng chẳng bình tĩnh tới vậy.

Anh cũng từng không thể chịu nổi, từng muốn tìm cách cứu vãn, từng muốn chạy trốn.

Rồi anh sực nhận ra rằng, dù có làm cách nào thì cả anh và Sáo đều không thể tránh khỏi kết cục bi tráng đó.

Họ sẽ phải hi sinh, hoặc chí ít thương tật đầy mình mà về lại quê hương.

Qua mấy ngày nổi khùng nổi điên như thế, Năng đã lấy lại lý trí, đã bình tĩnh, đã dám đối mặt với cái chết của bản thân.

Để sau đó, ở chính khoảnh khắc này, anh trở thành người an ủi Sáo đang bên bờ vực gục ngã.

Sáo khá bất ngờ:

- Năng biết từ lúc đó à?

Năng cười hi hi:

- Có đâu.

Điệu cười thiếu đánh quá thể đáng.

Dẫu vậy, Sáo cũng hiểu được rằng Năng không đoán trước được tình huống này, hoạ chăng anh chỉ có một tí xíu cảm giác về cái chết của mình.

Mà chỉ cần một cảm giác mơ hồ như thế, Năng đã suýt nữa không chịu nổi rồi, huống gì bây giờ Sáo phải đối mặt trực diện với cái chết bất ngờ mà chậm rãi của mình.

Sáo lại hoảng loạn, hoảng loạn tới mức làm anh lúc thì bực bội, lúc thì nhẹ nhõm, lúc lại sầu bi.

Thật chẳng khác nào sắp phát điên đến nơi.

- Trước khi chết thì tớ có đôi lời muốn nói.

Giọng nói của Năng kéo lại chút bình tĩnh của Sáo.

Anh nén tất cả cảm xúc xuống, lắng tai nghe tâm sự cuối đời của bạn.

Chắc phải là cái gì quan trọng lắm, bí mật lắm, bởi khi Năng nói xong rồi thì đến chính Sáo cũng sắp xuống mồ luôn mà.

Và rồi Năng phát ngôn ra một câu khiến Sáo tí thì đâm mặt xuống đất.

- Tớ có người yêu, người yêu tớ là nam.

Thấy Sáo mãi vẫn không thốt nên lời, Năng cười hỏi:

- Bất ngờ hả?

Sáo quên hẳn cơn hốt hoảng vừa rồi, chỉ còn lại sự ngạc nhiên đến tận cùng.

Anh há miệng muốn nói, rồi lại thôi, rồi lại muốn nói, sau đó lại thôi.

Cứ lặp lại như vậy, cuối cùng anh cũng chửi thề:

- Điên đầu mẹ luôn rồi còn bất ngờ khỉ bố gì nữa?

Cả không gian chật hẹp chỉ còn tiếng cười ha hả của Năng.

Sáo cố bình tĩnh lại, suy nghĩ rất lâu.

Dường như anh cảm thấy lời vừa rồi của mình không hay ho lắm, sợ động chạm đến cái tôi của Năng, sợ Năng buồn.

Nói chung, dù trời có sập thì anh em vẫn có nhau, chỉ cần Năng chưa bị lôi ra tòa án binh thì Sáo vẫn xem Năng là bạn.

Thích con trai thôi, có phải cưới con lợn nái về làm vợ đâu mà phải xoắn xuýt nhiều làm gì.

Mỗi tội Sáo nghĩ lâu quá.

Lâu tới mức Năng tưởng Sáo bị bất ngờ quá nên ngừng tim, chết luôn rồi, làm anh sợ phát khiếp.

May sao Sáo còn tỉnh táo, còn lí nhí nói được một câu:

- Ừ thì... có hơi khó chấp nhận một xíu.

Chỉ hơi khó thôi chứ cũng không phải không chấp nhận được.

Năng nhoẻn miệng cười.

Đó là một nụ cười thật lòng, một niềm vui sướng giản đơn mà anh mong đợi bấy lâu đã xuất hiện, sưởi ấm cõi lòng này.

Năng biết mình bị làm sao, biết mình đang làm gì, biết thời đại này coi khinh những người như anh thế nào.

Vốn dĩ anh chỉ muốn ôm sự thật này vào hòm, nhưng rồi anh chợt thấy mệt, chợt muốn tìm một ai đó tâm sự, san sẻ cảm xúc cùng mình.

Một không gian khép kín cùng người đồng đội thân thiết, ngay tại khoảnh khắc phải đối mặt với cái chết, bất kỳ bí mật gì cũng chẳng còn quan trọng.

Kỳ thực, như bao cặp đôi khác, Năng cũng muốn được gia đình và bạn bè ủng hộ cho mối tình của mình, chúc phúc hai người.

Do đó, anh chẳng hề ngần ngại mà chia sẻ bí mật này cho Sáo biết, dù rằng khả năng cao Sáo sẽ giãy nảy lên, sẽ mắng chửi anh thậm tệ.

Nhưng Sáo chỉ chửi tục một câu, rồi lặng lẽ tiếp nhận.

Có lẽ Sáo thật sự không tin nổi, chẳng qua vì anh và Sáo là đồng đội nhiều năm, Sáo hiểu anh cũng như anh hiểu Sáo.

Đối với họ, thật sự không có gì to tát bằng cái chết, mà nhiều lúc cái chết cũng chỉ là việc lông gà vỏ tỏi hàng ngày.

Năng chắc chắn, nếu họ may mắn sống sót, Sáo vẫn sẽ thông cảm cho anh thôi.

- Là anh Lơn hả?

Năng mải chìm đắm trong niềm vui thì chợt nghe Sáo hỏi một câu làm anh muốn đánh cho bạn một trận.

Năng tặc lưỡi, nói đểu:

- Tớ bảo Sáo này, mắt nhìn người của tớ không đến nỗi kém thế đâu.

Sáo lí nhí giải thích:

- Anh Lơn cũng đâu tới nỗi...

Với cả, chẳng phải ngày nào Năng cũng nằm lên đùi anh Lơn ngủ à?

- Tớ đã nằm lên đùi của tất cả mọi người trong đơn vị rồi, có cả của Sáo đấy Sáo ạ.

- Năng đáp.

- Trong tất cả các cái đùi, của ông Lơn là mềm nhất, nằm thoải mái nhất nên tớ hay nằm lên.

Bây giờ Sáo có cho tớ nằm lên đùi Sáo thì tớ xin thôi, tớ gối lên đá còn êm hơn đấy.

Sáo thật chẳng biết nói gì hơn.

Anh nhớ tới những ngày đầu mới gặp mặt, Năng của ngày ấy cũng ham ngủ lắm, hễ có chỗ nằm được là nằm.

Anh không quan tâm có ai nhìn mình hay không, cứ vơ đại một đồng đội đang ngồi rồi gối lên đùi người ta.

Đến nỗi ngày đó đơn vị có một câu nói "chưa để Năng ngủ chưa phải đồng đội" nữa cơ.

Sáo nhớ lại những ngày ấy, phì cười.

Rồi anh bâng quơ hỏi thêm về người yêu của Năng, Năng trả lời một mạch.

Có thể vì đang khá vui, Năng nói rất nhiều, quá đủ để Sáo mường tượng ra cái yêu của tuổi mười bảy của Năng như thế nào.

Sáo chợt thấy hơi thèm.

Cái thời anh còn ở quê nhà, quanh đi quẩn lại cũng chỉ lo cho mẹ cho em, chưa kịp lo cho mình.

Đến lúc đi lính, anh cũng chưa nghĩ tới người mình yêu nên là người như nào nữa.

Giờ nghe Năng kể chuyện của mình, Sáo nghĩ, yêu ai mà chẳng được, miễn sao người đó thương mình thật lòng.

Hai người lại nói chuyện câu được câu chăng, mệt mỏi cũng chẳng dám nhắm mắt nghỉ ngơi.

Cả hai đều biết, nếu bây giờ nhắm mắt, sau này sẽ chẳng còn khả năng tỉnh lại nữa.

Dần dà, Năng cảm thấy mí mắt mình nặng trĩu.

Anh biết thời gian của mình đã tới hạn rồi.

Chống đỡ đến lúc này không biết đã được bao lâu, dù sao chắc cũng khủng khiếp lắm, vì trên lưng anh đâu chỉ có vết thương do gạch đá rơi vào.

Năng chậm rãi nhích người, đưa tay sờ túi trên ngực áo mình.

Trong đó là hai con ếch nhỏ đã được bọc trong ni lông.

Anh thầm nhủ, hi vọng rằng ngày mình mục xương nát thịt, hai con ếch này vẫn còn mãi.

Chí ít, chúng nó cũng phải tồn tại đến ngày được về đến tay người kia.

Anh chẳng kịp nói thêm lời nào với Sáo, bàn tay hãy còn chạm vào ngực áo mà đầu gục xuống rồi.

Sáo không thấy anh nói gì nữa, cố giấu nỗi hoảng hốt trong lòng, hỏi nhỏ:

- Năng ơi, Năng?

Ngủ rồi à?

Sáo lắc lắc thân mình.

Đất đá dưới thân vang lên từng tiếng lạo xạo.

Và chỉ thế thôi.

Không có tiếng nào khác, chẳng ai đáp lại anh cả.

Sáo thừ người, nằm im cảm nhận sức nặng trên người mình.

Chỉ có như vậy, anh mới nhận thức được rằng từng có một người đồng đội cùng anh gắn bó khoảng thời gian cuối cùng này.

Ôi...

- Tớ còn chưa biết Năng tìm thấy tự do chưa nữa.

- Sáo thủ thỉ.

Nhưng anh cũng đâu còn thể làm gì được nữa.

Hơi thở của anh chậm dần rồi, hiện giờ việc hít thở đối với anh thật khó khăn làm sao.

Anh chợt thấy lạnh, chưa bao giờ anh thấy lạnh đến vậy, theo đó cũng là một sự nhẹ nhõm khó tả.

Phải chăng đây là cảm giác khi hồn lìa khỏi xác ư?

Thân xác người bạn còn nằm trên lưng, mà sao anh lại thấy cả người mình nhẹ bẫng thế này, dường như không còn cảm giác nào cả.

Sáo từ từ nhắm mắt lại, cảm nhận trái tim mình đập chậm dần, chậm dần.

Đến lúc Sáo phải đi rồi.

Sáo nhắm mắt lại.

Anh cảm giác mình đã đi một quãng đường rất dài, nhưng dường như anh chỉ mãi dậm chân ở một nơi đồng không mông quạnh.

Xung quanh anh chẳng có cái gì cả, không phải quê nhà nơi anh hằng mong ngày về, cũng không phải chiến trường khói lửa gắn bó với cả tuổi thanh xuân của anh.

Rồi bỗng từ đâu vọng lại tiếng gọi tên mình.

Sáo ngẩn người, anh còn nhớ như in cái giọng nói ấy, giọng nói chỉ xuất hiện trong ký ức của anh những năm qua.

Và chỉ trong một thoáng đó, từ nơi xa xa hình như có tia lửa xé tan không gian.

Giờ đây, trong mắt anh là ánh cam đỏ rực rỡ nơi thiên không ngời ngợi.

Hoàng hôn buông nắng, rọi lấy cả không gian, tia nắng chiều phủ lên mái trường nhỏ thân thuộc nhất.

Sáo nhận ra một chiều này.

Buổi chiều hôm ấy như không muốn cúi mình trước đêm đen sắp ập tới, vậy nên nền trời đỏ hơn bình thường, cuốn theo vạn vật cùng mình tỏa sáng lần cuối.

Cậu nhóc Sáo khi ấy vừa bước chân vào tiểu học, tập đọc được cái bảng chữ cái, còn bé xíu xiu nên gia đình không yên tâm để cậu nhóc tự đi về, hôm nào cũng có người đến đón cậu nhóc, người đó luôn là anh Én.

Như mọi lần, nhóc Sáo ngồi đợi dưới gốc cây bàng lớn, tay chống cằm, dõi mắt nhìn về đường đi ngoài trường.

Cậu nhóc ngâm nga những câu hát nghe được từ cái đài thần kỳ của nhà thằng bạn nào đó, câu nào không nhớ thì chế từ vào, nghe qua cũng thấy hợp lý phết.

Ngồi được một lúc lâu, lâu tới mức cậu nhóc Sáo tự tưởng tượng ra cả chùm rễ mọc dưới mông mình thì bỗng, một cậu thiếu niên hớt hải chạy tới.

Mặt cậu ấy đỏ bừng vì nóng, mồ hôi ướt nhẹp trên trán, mấy cọng tóc ngắn củn cũng vì bị mướt mồ hôi mà dính bết lại với nhau.

Cậu mặc một bộ đồng phục cũ, cái áo sơ mi cộc tay màu trắng ngày nào đã ố màu cháo lòng, quần dài xắn cao đến đầu gối, chiếc khăn đỏ bị gió thổi bay đang treo vắt vẻo trên cổ.

Cậu giơ tay lên quệt mồ hôi, đứng trước mặt nhóc Sáo thở hồng hộc.

Cậu nhóc Sáo nhìn bộ dáng của người tới, chợt cười toe.

Nhóc ta trỏ tay vào người đối diện, giọng nói đầy vẻ trêu tức:

- Bắt quả tang rồi nhé!

Em mách mẹ anh lại đi chơi bóng với anh Bách.

Én bực bội chống nạnh, khổ cho cái thân cậu làm nhiệm vụ xong cái là chạy đi đón em ngay lập tức, còn quên luôn cả sách vở lẫn bài tập ở trường, vậy mà thằng em láo lếu không thông cảm cho thì chớ, còn bày đặt bịa chuyện rồi hớt lẻo cơ.

Én giải thích:

- Tao có chơi đâu, nay đến lượt tao trực nhật mà.

Nhóc Sáo khoanh tay, hất mặt đầy kiêu ngạo, như thể cậu nhóc nắm bắt được điểm yếu mạnh nhất của đối thủ.

Nhóc ta thầm nghĩ, chẳng bằng nhân dịp này bóc lột tiền mừng tuổi của ông anh mình.

Dù Tết đã qua cả nửa năm rồi, Én vẫn còn giữ lại tiền lì xì để dành, sau này dùng vào việc cá nhân.

Én tích mấy năm liền, số tiền cũng kha khá đấy, chẳng bù cho cậu nhóc Sáo rỗng túi.

Cậu nhóc vênh mặt, oai phong lẫm liệt nói:

- Anh nói điêu, em ứ tin đâu, nhìn anh thế kia chắc chắn là đi chơi bóng rồi.

Én nhăn mày, cậu biết tỏng trong đầu thằng em mình đang mường tượng điều gì.

Én nghiêm mặt lại, cúi người véo cái lỗ tai nhỏ của Sáo, nghiến răng đe dọa:

- Đã bảo là không chơi rồi mà.

Mày ngon thì mách mẹ đi, xem mẹ tin mày hay tin anh.

Nhóc Sáo kêu la oai oái, xin anh trai trả tự do cho chiếc tai đáng thương của mình.

Mặt mày cậu nhóc ỉu xìu, tay xoa xoa vành tai đỏ bừng, phụng phịu:

- Thôi, chắc chắn mẹ tin anh chứ chả chịu tin em đâu...

So với một thằng oắt con suốt ngày tìm cách phá làng phá xóm thì thằng anh xuất sắc của tên nhãi đó đáng tin hơn gấp nhiều lần.

Sáo mà đi mách mẹ thì kiểu gì cũng bị mẹ đánh vì tội "vu khống" anh trai thôi.

Ấy là chưa kể nếu ông anh Bách nhà hàng xóm mà thêm mắm dặm muối nữa thì cái mông của Sáo gieo giống trồng hoa được luôn.

Tin Sáo đi, Sáo bị đánh không dưới mười lần vì cái tội đó rồi, bất kể lời nhóc ta nói là thật hay không.

Nhóc Sáo ức lắm, cơ mà chẳng làm được gì nên nhóc ta đành nhịn xuống.

Không hiểu sao mà ngay sau đó, sự uất ức của nhóc Sáo đều bay biến hết cả.

Khi nhìn lại, Sáo cho rằng ấy là do tình anh em của họ vững chãi như chiếc rễ cây cổ thụ bám chặt vào đất, dù cho bị gió bão thổi mạnh bao nhiêu thì cũng không thể bật lên được.

- Biết mình biết ta đấy.

- Én khoái chí nhìn điệu bộ ủ rũ của thằng em ruột một lúc, sau đó cậu giơ tay ra, thúc giục.

- Còn ngồi đó làm gì nữa, đứng lên đi về thôi, không thấy đói hử?

Sáo nhìn chăm chú vào bàn tay trước mặt, vươn tay nắm lấy.

Cậu nhóc đứng lên, nhìn xem Én bước chân nào thì bản thân cũng bước chân đó, tung tăng vui vẻ theo Én về nhà.

Cuối chân trời đằng Tây, mặt trời rực rỡ, màu mây hồng hồng như gò má cô thiếu nữ, làn gió tinh nghịch lướt qua làn tóc xanh, cành lá ven đường lao xao, cánh đồng trải dài tựa như không có điểm dừng.

Bóng của hai anh em đi cạnh nhau bị ánh nắng cuối ngày kéo dài ra, đôi chân đưa họ đi xa mãi, và rồi họ chợt biến mất ở ngõ khuất cuối đường dài.

Cuối cùng vẫn là anh dẫn em về.

***

Tác giả tám nhảm: Còn một chương!

Còn một chương nữa thôi!
 
Back
Top Bottom