Cập nhật mới

Khác [Cảm hứng lịch sử] Gấm Hoa Giữa Trời

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
402222085-256-k45998.jpg

[Cảm Hứng Lịch Sử] Gấm Hoa Giữa Trời
Tác giả: lailaCamne
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cuồng bạo.

Sách vở cả nước thành một đống tro tàn.

-Ngô Sĩ Liên-

Sau khi nhà Hồ sụp đổ, quân Minh liền giương cao chiêu bài "phù Trần diệt Hồ", toan tính mê hoặc lòng dân để từng bước biến nước ta thành quận Giao Chỉ lệ thuộc Đại Minh.

Thế nhưng, lớp vỏ dối trá ấy chẳng thể che giấu được dã tâm thôn tính.

Giản Định Đế rồi đến Trùng Quang Đế - hai vị hậu duệ nhà Trần - đã lần lượt phất cờ khởi nghĩa, nhưng đều thất bại.

Nhiều cuộc nổi dậy của nông dân cũng từng bùng lên dữ dội, nhưng rồi cũng lần lượt bị dập tắt, máu đổ dưới ngọn giáo của quân xâm lược.

Đất nước chìm trong bóng tối.

Người già, trẻ nhỏ, kẻ có học, người cầm cày... chẳng ai thoát khỏi gông xiềng, bao đời văn hiến suýt bị xóa sổ dưới vó ngựa phương Bắc.

Nhưng lòng người không dễ khuất phục.

Dưới lớp tro tàn ấy, những đốm lửa vẫn lặng lẽ cháy, chờ ngày bùng lên...

"Lúa vàng trổ bông, đất Việt phồn thịnh
Máu đỏ thắm đất, thuyền rồng vút bay"
Trích: "Mặc dù ta mặc đồ của đàn ông, xin tòng quân đánh giặc như đàn ông, ăn ngủ với đám đàn ông, nhưng ta chính là một cô gái.

Tuy vậy, mà võ thuật của ta chỉ có hơn, không kém đàn ông."

Tư liệu tham khảo:
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên)
Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim)
Việt Nam Phong Tục (Phan Kế Bính)
*Lưu ý: Truyện được lấy bối cảnh thời kì Bắc thuộc lần thứ 4-thời thuộc Minh.

Tác phẩm chỉ lấy cảm hứng từ lịch sử, nội dung đều là giả tưởng.

Không có giá trị tham khảo.



võthuật​
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Gấm Hoa Giữa Trời
Loạn Thế


Giữa giờ Ngọ, nắng gắt như đổ lửa, tôi đương thiu thiu trên tảng đá lớn ngay cạnh Hoàng giang.

Ánh mặt trời chiếu thẳng xuống khiến người tôi chẳng thể nào chịu được dù đang nằm dưới gốc cây ổi.

Cực chẳng đã, tôi bật dậy bước vào lều nhỏ, đành ngủ trưa cùng với mấy tên đàn ông kia.

Vào trong lều, trông thấy Nhuế cùng Diêu đang nằm say giấc trên phiến gỗ được đẽo gọt bằng phẳng mà chúng tôi tạm bợ gọi nó là tấm phản, dù nó không có chân, không nhẵn nhụi bằng chiếc phản bằng gỗ xoan đào của Chủ tướng bọn tôi bên trong hang lớn đằng kia.

Âu cũng là hoàn cảnh... trong thời chiến tranh loạn lạc, đâu đâu chẳng là giặc Minh cuồng bạo, nhiều người đói khổ lầm than thì tiền đâu ra để cho những việc ấy.

Có giường nằm còn hơn phải lót lá nằm đất như nhiều binh sĩ khác.

Tôi rón rén nép mình vào góc, cố thu nhỏ người trên tấm phản chật chội.

Tiếng ngáy của Diêu vang lên như tiếng sấm rền, mỗi lần hít vào thở ra đều khiến không khí rung chuyển.

Tôi mới gia nhập nghĩa quân chưa đầy mười ngày, mỗi đêm vẫn trằn trọc vì thứ âm thanh khó chịu ấy.

Chắc chỉ có Nhuế, đứa đã quen với mọi thứ, mới có thể ngủ ngon lành trong tiếng ồn ào đó.

Thằng bé nằm co quắp, khuôn mặt tuấn tú nhăn lại như đang chống chọi với cơn ác mộng nào đó, còn tay chân Diêu thì vô tình đè lên người nó.

Trong lều vắng bóng Đa Cấu.

Có lẽ anh lại cùng chủ tướng bàn việc quân cơ trong hang lớn.

Vị trí của anh vốn cao hơn chúng tôi, võ công cũng thuộc hàng ưu tú, dĩ nhiên là trừ tôi ra.

Nguyễn Thị Bành[1] này dù mặc áo nam, ăn ngủ cùng nam nhi, nhưng võ công đâu có thua kém bất kỳ tráng đinh nào.

Từ thuở nhỏ, tôi đã được cha dạy cho đủ các môn bắn cung, cưỡi ngựa, kiếm thuật.

Mặc dù tôi mặc đồ của đàn ông, xin tòng quân đánh giặc như đàn ông, ăn ngủ với đám đàn ông, nhưng tôi chính là một cô gái.

Tuy vậy, mà võ thuật của tôi chỉ có hơn, không kém đàn ông.

Bởi lẽ từ nhỏ tôi được học võ, học bắn cung cưỡi ngựa.

Tôi là con gái thứ hai của một quan nhỏ dưới thời Hồ, nhưng đất nước bị bọn giặc xâm lược, cha con Hồ Quý Ly bị bắt.

Sau khi nhà Hồ sụp đổ, quân Minh giương cao ngọn cờ "phù Trần diệt Hồ".

Nhằm dụ dỗ dân chúng chỉ với một một đích biến Đại Việt thành quận Giao Chỉ của nước Đại Minh.

Tuy nhiên, bức màn dối trá "phù Trần diệt Hồ" đó không thể qua mắt được thiên hạ.

Giản Định Đế và Trùng Quan Đế đều là những hậu duệ nhà Trần lần lượt dựng cờ khởi nghĩa, nhưng đều thất bại.

Nhiều cuộc nổi dậy của nông dân cũng từng diễn ra, nhưng đều bị chét thảm hại dưới ngọn giáo của bọn chúng.

Cha tôi cũng đã bị giết.

Bị bọn giặc tàn bạo chém thẳng tay trong một lần nổi dậy cùng nhiều người nông dân khác chống quân giặc.

Mẹ tôi được trời thương may mắn thoát được bọn giặc đó.

Nhưng nỗi đau đớn không thể nào nguôi ngoai khi chứng kiến chồng mình bị chém.

Chị gái tên Thị Liễu, do lọt vào mắt xanh của con ông địa chủ sống ở làng bên nên lấy chồng từ năm mười bảy tuổi.

Lấy nhau được ba năm mới có mụn con, thì cả huyện ấy bị chiếm đóng, anh Quý cũng bị bọn chúng bắt đi làm nô bộc, đến nay con chị Liễu được năm tuổi rồi vẫn chưa thấy tin tức gì về chồng.

Nhiều lúc chị bồng thằng cu đứng ngoài ngõ trông ngóng chồng về, thấy mà chạnh lòng, mà thương chị Liễu vô cùng.

Những năm nay, gió vẫn thổi mùi máu tanh còn vương trên mảnh đất Đại Việt.

Hận không thể đem đám giặc đó phanh thây trăm mảnh.

Chúng nó sẽ phải trả giá cho những thứ mà chúng đã gây ra cho con dân Đại Việt.

Tự do, phải do chính tay mình giành lấy.

Ta quyết xin tòng quân đánh giặc.

Nhưng là con gái, tuy học võ, vẻ ngoài của ta người ta thường lầm tưởng là "liễu yếu đào tơ".

E rằng sẽ không có lấy một ai muốn chấp nhận ta để ra trận mất.

Nghe đâu cách đây chừng gần hai mươi dặm, có một căn cứ vừa khởi nghĩa cách đây không lâu, nhớ không lầm chính là căn cứ Hoàng Nghiêu.

Tôi nghe lỏm được từ mấy bô lão bàn tán ngoài hàng nước, chủ tướng đó tên Nguyễn Chích, có tài thao lược đang chiêu mộ nghĩa binh ngay căn cứ.

Cứ đi đến Cầu Quan, thêm nửa canh giờ nữa, hướng về phía Bắc là đến.

Cầu Quan, thực là chốn non nước hữu tình, kẻ chợ tấp nập, thuyền buôn tụ hội đông đúc, ngày đêm chẳng vắng bóng người.

Thuở trước tôi cùng chị Liễu từng ghé chơi mấy ngày, nhờ vậy mà gặp được anh Thành — nay là chồng chị.

Nhưng đó đều là chuyện năm xưa, hồi nhà tôi còn đủ đầy, ấm êm.

Trong lúc đăm chiêu, tôi vô thức trả tiền nước rồi ra khỏi quán lúc nào chẳng hay, bỗng có bàn tay ai đó giật ngược tôi lại làm tôi sảng hồn.

"Cô Bành, sao cô đi ngay giữa đường, bọn quân Minh đang đi tuần tra, cô muốn bị nó gi.ết hả?"

Hóa ra là thằng Lộc, chúng tôi quen nhau từ thời trẻ trâu, hồi mà chúng tôi chỉ mới ba bốn tuổi.

Đã mấy tháng tôi mới gặp lại Lộc, ban đầu có chút vui mừng, nhưng lời hỏi thăm chưa kịp thốt ra thì phía đằng xa lại có tiếng gì đó như đổ ầm ầm xuống đất.

Cả tôi và Lộc đều giật nảy mình, tò mò chạy lại xem xem chuyện gì đã xảy ra.

"Tên ăn mày này, mày dám cản đường ông!?"

Một tên lính của nhà Minh đường ngồi trên lưng ngựa, tay cầm mũi giáo chỉa thẳng người đàn ông trước mặt mà tru tréo, keo theo đó làm một đám lính phục tùng cũng đồng loạt chĩa mũi giáo nhọn hoắt về một phía đó.

Còn người đàn ông nhìn khá quen mắt, hình như là võ quan mà tôi đã từng gặp trong lúc tôi đi đâu đó cùng cha tôi.

Nhưng sao chú đó lại ra nông nổi này, một người từng là quan võ uy nghiêm, mà giờ lại như kẻ ăn mày đầu đường xó chợ.

Khác hẳn với trước kia, ngay cả.. tâm lý cũng vậy, cứ như kẻ điên!

Tôi thấy ông ấy đang dang hai tay chắn đường ngựa đi của bọn quan Minh, mặt mũi lem luốc, nhưng ánh nắng lại long sòng sọc lên trừng với bọn chúng.

"Một lũ mọi rợ! quân khốn kiếp! chúng bay sẽ bị quả báo!"

Chú hét lớn, đến nỗi khiếp cho lũ người đang ngồi chễm chệ trên lưng ngựa kia huống hồ chi là mọi người xung quanh hóng chuyện.

Trong phút chốc, một mũi giáo nhọn phi thẳng xuống, đâm xuyên qua người đàn ông đó.

Những người xung quanh hét toáng lên, hoảng loạn ôm đầu chạy.

Tên cầm đầu đám quân đó lập tức thét lớn, buông những lời lẽ khinh mạt:

"Lũ Giao Chỉ ngu xuẩn! vọng tưởng châu chấu đá voi... quân bây đâu, ta truyền lệnh: đứa nào tạo phản, gi.ết không chừa một ai!"

Tiếng ngựa hí vang dội, tiếng khóc của trẻ con, xen lẫn tiếng thét của người đàn ông đang dần dần cạn kiệt sức sống.

Bầu trời chiều đỏ rực như nhuộm máu.

Ánh hoàng hôn cuối ngày vẫn rực cháy, như ý chí bất khuất của dân Đại Việt, kiên cường và không bao giờ tắt.

Chú thích:

[1] Bà Nguyễn Thị Bành (?

- ?) là vợ của tướng quân Nguyễn Chích trong kháng chiến chống quân Minh.

Vợ chồng bà từng huấn luyện đội quân bồ câu nổi tiếng, lập nhiều chiến công.

[2] Nguyễn Chích hay Lê Chích là công thần khai quốc nhà Lê sơ, người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.

Ông quê ở xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.

Ông là đệ nhất mưu sĩ của Bình Định Vương Lê Lợi trong thời kỳ chống quân Minh.

[3] Cầu Quan là vùng đất giàu bản sắc văn hóa và kinh tế, từng là trung tâm huyện Nông Cống sầm uất, nơi giao thương nhộn nhịp, có truyền thống cách mạng, tín ngưỡng lâu đời và văn nghệ dân gian đặc sắc như hát ghẹo bên dòng Lãng Giang.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Gấm Hoa Giữa Trời
Lúa Vàng Trổ Bông


Ngay hai hôm sau, tôi nói lời tạm biệt mẹ để đến Hoàng Nghiêu xin gia nhập vào đội quân.

Dù không muốn để tôi rời đi, vì mẹ bảo không muốn con gái cực khổ, dù đang sống trong thời loạn lạc, nếu được, mẹ muốn các con đều bình an hạnh phúc.

Tôi phải mất một ngày để thuyết phục mẹ cho tôi đi đánh giặc, bởi quân Minh, con dân lầm than, tôi chẳng thể nào giương mắt nhìn mảnh đất Đại Việt nhuốm máu tanh.

Rốt cuộc, mẹ bị tôi thuyết phục cuối cùng cũng đồng ý.

Lúc chuẩn bị đi bà còn dúi tôi ít bánh đi đường ăn cho đỡ đói.

Cảm động, tôi còn hứa với bà sẽ sớm trở về, nói rồi dứt áo ra đi.

Nhưng tôi nghĩ tôi phải giả trai để xin đi đánh giặc...

Chứ tôi biết thừa với vẻ bề ngoài nhỏ bé của tôi thế nào cũng bị đuổi thẳng cổ, hơn nữa ở trong doanh trại đâu đâu cũng là đàn ông, không có lấy một mống đàn bà.

Có khi sự xuất hiện của một cô gái lại không phù hợp chút nào.

Nói tóm lại, tôi vẫn nên giả trai thì vẫn tốt hơn.

Theo như những lời ngoài hàng nước hôm nọ, thì phải mất gần 1 ngày để đi đến căn cứ của Nguyễn Chích.

Nghe đâu đó là một nơi hiểm trở, đi lại khó khăn, đã vài lần tên tướng giặc Trương Phụ[1] có qua đàn áp nghĩa quân nhưng đều thất bại, một phần cũng vì địa hình trắc trở như Hoàng Nghiêu.

Vì vậy tôi mới lóe lên ý nghĩ xin gia nhập nghĩa quân.

Đó là một ngày hè oi ả đầu tháng Sáu, vừa hừng đông, không khí tĩnh lặng.

Bầu trời vẫn còn đen thẫm, lấm tấm những ánh sao mờ nhạt, như những giọt nước mắt trên nền trời u buồn.

Phía Đông, Mặt Trời chậm rãi ló dạng, ánh sáng yếu ớt bắt đầu chiếu xuyên qua những đám may xám xịt, rơi xuống mặt đất nhưng chưa đủ làm ấm không gian tĩnh mịch.

Nghe tiếng gà gáy, tôi mới lọ mọ khoát tay nải lên đường.

Những hàng cây ven đường vẫn đứng lặng, đón nhận những tia sáng đầu tiên mà vẫn chẳng hề lay động.

Chỉ riêng rặng tre già đầu xóm tôi phát ra tiếng kẽo kẹt rùng mình, tiếng động ấy, dù nhỏ nhoi, lại len lỏi vào tâm trí người ta mà khơi dậy nỗi sợ vô hình.

Từ chỗ tôi, là Vạn Lộc đến căn cứ của Nguyễn Chích chừng chưa đến một ngày.

Tôi chưa đến đó bao giờ, nê trước mắt tôi đến Cầu Quan trước, tiện thể nghỉ trưa ở đó hỏi thăm rồi mới tiếp tục.

Đến cuối giờ Tỵ, tôi mới đặt chân tới ngã ba Cầu Quan.

Nơi đây thoạt nhìn có vẻ vẫn còn như hồi tôi đến cùng chị tôi những năm trước, mặc dù đâu đó phảng phất những ánh mắt u buồn của người dân, những ánh mắt khao khát sự tự do thái bình thịnh thế.

Cảnh vật nơi đây nhuốm một nỗi bi thương không lời.

Trong từng ngọn gió phảng phất mùi máu tanh từ những người đã ngã xuống để bảo vệ yên bình, giành lại tự do

Giữa trưa nắng như đổ lửa, đi qua những cánh đồng vẫn còn vài người đang ở ngoài đồng, lúa đang độ trổ bông, nặng trĩu chúi xuống đất.

Gió phả từng luồng nóng hầm hập qua những gốc rạ, nhưng người làm ruộng vẫn cắm cúi tay cày tay cuốc, áo vá vai, nón mê rách vành, miệng vẫn hát nhè nhẹ một làn điệu ru con.

Dưới gốc tre đầu bờ, có người tranh thủ đun nước bằng bếp đất để pha bát chè xanh đắng dịu, uống giải cơn khát.

Đang nhởn nhơ đi dọc theo ruộng thì phía xa xa đó đám trẻ con hình như là đang mang cơm từ nhà ra cho thầy u chúng nó ngoài ruộng.

Vừa cầm lồng cơm, bọn chúng vừa líu lo hát những câu ca dao mà dường như bọn chúng đã thuộc làu làu:

"Cầu Quan vui lắm ai ơi,

Trên thì chợ họp dưới bơi thuyền rồng..."

Đứa bé gái tóc hai búi đáng yêu như chợt lóe lên điều gì đó, mắt sáng lên đối tiếp câu thơ:

"Nắng vàng óng ả cánh đồng.

Nông dân gặt lúa, tay bồng đứa con..."

Thằng bé đang hí hửng bên cạnh nghe xong thấy là lạ, phản bác:

"Ủa ủa ủa, chị hai lấy câu này đâu ra đấy?"

"Tao tự nghĩ đấy!"

Thằng em trai bĩu môi:

"Sao nghe chả hay tẹo nào, mà thầy u mình làm gì có bế bọn mình vừa cấy mạ đâu, chị điêu!"

Mấy đứa trẻ cãi nhau một hồi, thành ồn ào như cái chợ vỡ, mém nữa lấy đá chọi nhau chứ chẳng đùa.

"Lúa vàng trổ bông, đất Việt phồn thịnh.

máu đỏ thắm đất, thuyền rồng vút bay."

Một người đàn ông chẳng biết từ đâu ra, đối thêm một câu thơ cắt ngang cuộc cãi vã của mấy đứa nhóc.

"Bé Vân nay giỏi quá nhỉ, còn biết đối thơ cơ đấy."

Người này thoạt nhìn ngăm đen, vóc dáng cao ráo, độ chừng ba mươi.

Mấy đứa trẻ đó gặp người đàn ông phấn khởi, đu tót lên cổ chú vui mừng:

"Ôi chú Cấu, lâu rồi chú mới tới chỗ bọn cháu, cháu nhớ chú lắm!"

"Nay đem cơm cho thầy u à?"

Thằng cu nhỏ nhao nhao đáp lại giọng lanh lảnh:

"Vâng ạ, nay đem cơm có cá kho với canh rau tập tàng đó chú!

Có cả cà pháo muối mẹ làm nữa!" – cái vẻ ngô nghê thật khiến người ta phải bật cười.

Cơm được đựng trong lồng tre, nắm tròn độn khoai, gói bằng lá chuối.

Mùi thơm từ cơm trộn mắm tôm thoảng ra, gợi lên mùi vị ruộng đồng dân dã.

Những món ăn giản dị nhưng là phần no ấm của người cày sâu cuốc bẫm ngoài đồng – quen thuộc ở bất kỳ làng quê nào.

Chú Cấu xoa đầu đứa nhỏ, rồi lấy trong tay nải ra gói bánh:

"Chú có mua mấy cái bánh lá dừa đây, bọn cháu tự chia nhau ra mà ăn nhé, chú tìm thầy u các cháu có việc."

Mấy đứa nhỏ thấy bánh lá dừa là hai mắt y rằng sáng rực lên, gật đầu lia lịa như gà mổ thóc rồi nhảy xuống để chú Cấu đó đến chỗ của thầy u bọn chúng.

Mà khung cảnh từ nãy đến giờ, chả hiểu sao tôi lại chăm chú theo dõi như vậy, phải chăng là bởi vì tôi bị lôi cuốn bởi mấy câu thơ của mấy đứa trẻ, hay bị lôi cuốn bởi đám cỏ xanh dịu, êm ái, dưới bóng cây mát rượi.

Với thời tiết nắng oi bức của tháng Sáu thì không muốn nằm ngủ cũng khó.

Hình như là thầy của bọn nhỏ đang ngồi dưới gốc cây cách tôi không xa với một người phụ nữ có vẻ là u của bọn trẻ.

Bọn họ như vừa mới ngoài đồng làm việc nghỉ tay một lát.

Xung quanh đồng ruộng thênh thang, lác đác vài người hình như đang gieo mạ.

Thấy người đàn ông da ngăm đang bước đến, hai vợ chồng nọ liền đứng dậy.

"Anh Cấu, tình hình thế nào rồi?"

Người chồng hỏi người đàn ông da ngăm.

Nghĩ ngợi một lúc, anh ta mới đáp.

"Lúc đó không khả quan lắm, tên Phụ đó bất ngờ đánh úp vào căn cứ, cũng may chủ tướng diệu kế, dương Đông kích Tây, khiến bọn chúng không biết căn cứ thật sự của ta, nên mới không bị bọn chúng phá tan."

[1] Trương Phụ: (1375-1449) Là một tướng lĩnh, đại thần nhà Minh, đã từng xâm lược Đại Việt hai lần
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Gấm Hoa Giữa Trời
Khởi Bước


Tôi nằm cách đó không xa, nên nghe được loáng thoáng như vậy, bỗng người người chồng, tôi tạm gọi như vậy, reo lên.

"Ối hình như đây là con Tuyết Hoa của chủ tướng đúng không?"

Mở mắt ra nhìn chuyện gì đang xảy ra, hóa ra chỉ là một con bồ câu trắng, không biết từ đâu tới, đậu dưới tán cây đề mà mấy người đó đang đứng.

Người đàn ông da ngăm ngước mắt lên hơi nheo mắt nhìn rồi phản bác.

"Không phải, Tuyết Hoa hình như trên chân nó buộc chỉ vàng, con đó chủ tướng thích lắm, mỗi lần gửi thư đều nhờ cả vào nó."

"Công nhận mấy con chim này của Chích dạn người thật đấy, đã bao lần tôi lên căn cứ cho nó ăn mấy lần rồi, lúc nào bọn chúng cũng bâu kín mà không hề quan tâm thứ gì hết" Hai vợ chồng gật gù cảm thán.

Một lúc sau tôi chả nghe thấy động tĩnh gì, bỗng người tên Cấu đó thốt lên.

" Phải rồi, trong thư anh có viết: Phụ hoán mục tiêu sang Quý Khoáng[1], là nghĩa gì?"

Quý Khoáng? hình như tôi biết, ông ấy là con của hậu duệ nhà Trần, Trần Ngỗi, vừa mới lên ngôi bốn năm trước giương cờ chống Minh.

Tôi cũng tò mò thư mà người đàn ông vừa nhắc đến nên he hé mắt trông chờ câu trả lời.

Ánh mắt hai vợ chồng liền tối hẳn đi, tựa như bầu trời của những ngày như chốn địa ngục bị giặc đàn áp, vừa âm u, vừa ai oán.

"Lúc bọn chúng đánh vào căn cứ mình, tôi nghe tin Súy[2] và Cảnh Dị[3] đang ở bến Yên Mô đi ngang qua thì thằng Trương Phụ đó mới bỏ qua cho chủ tướng các cậu đuổi theo Súy để bắt sống."

"Rồi phía đó có bị sao không?"

Người vợ tiếp lời " Tuy anh Cảnh Dị và Nguyễn Súy bị đánh đột ngột, nhưng vẫn liều chết xông lên, còn nước còn tát, thế nhưng... hiện tại mọi người đã chạy thoát an toàn, anh Dị vừa bí mật báo cho chúng tôi đấy."

Họ đang nói chuyện về Trùng Quang Đế, và những người đang cùng vua chống Minh, đã vậy người phụ nữ đó còn xưng là "anh Dị" rồi "bí mật báo".

Tôi chợt nghĩ có lẽ họ cũng là hậu duệ nhà Trần, hay đơn giản là những người đứng lên khởi nghĩa chăng?

Người đàn ông da ngăm, hình như tên Cấu vì hai vợ chồng vừa nãy vừa gọi là "anh Cấu" đó tuy không rõ biểu cảm, nhưng tôi đoán là đang đăm chiêu nhìn xa xăm, bỗng tôi lại nghe anh ta lại thốt lên

"Lúa vàng trổ bông, đất Việt cường mạnh

Máu tươi thắm đất, thuyền rồng vút bay"

Tôi bất giác mở mắt nhìn sang anh ta, dáng người cao lớn vững chãi, khiến câu thơ anh ta vừa thốt lên cảm thấy lại tăng thêm phần kiên định nhường nào, khiến tôi càng chắc chắn thêm nhường nào.

Non sông này, mãi mãi là của con dân Đại Việt.

Đến gần 2 canh giờ sau đó, tôi mới đến được Hoàng Nghiêu nhờ sự chỉ dẫn của dân làng.

Tính ra từ ngã ba Cầu Quan đến Hoàng sơn, Nghiêu sơn cũng khá gần, nếu nhanh thì chỉ đi gần nửa canh giờ là tới.

Tôi phải công nhận rằng cứ địa Hoàng Nghiêu được ông trời ưu ái rất nhiều thứ, như lời đồn, địa hình hiểm trở, vào khó, ra cũng vậy.

Như hiện giờ đây, tôi đang đứng trước tòa thành đá sừng sững, tứ phía đều là núi cao, chỉ có cổng thành phía trước là cổng vào duy nhất mà tôi thấy được.

Nhưng phía trước cổng thành là sông Hoàng Giang làm hào sâu, tôi không làm cách nào có thể vào được bên trong cả, hiện tại là vậy.

Thế nhưng trong cái rủi có cái may, khi tôi đang loay hoay ở cổng thành tìm cách để tìm một cái đường bí mật nào đó xung quanh căn cứ này, thì từ xa, ở trong bụi cây rậm rạp cành lá đều mọc lỉa chỉa xuống dưới sông, tôi trông thấy một chiếc thuyền thúng đang được buộc dây ở gần đó.

Liệu có phải là thứ mà người ở trong đó dùng để di chuyển ra ngoài này?

Không nghĩ nhiều, bèn tháo dây, chèo thuyền qua bên kia sông.

"Đi đâu đây?"

Chẳng biết từ đâu ra một giọng đàn ông la lên làm tôi thót cả tim.

"T...Tôi..."

Quay đầu nhìn lại tôi càng giật mình, đó là người đàn ông da ngăm đen tôi gặp lúc ban trưa, tên là Cấu thì phải.

Theo sau anh ta là thêm một người nữa, trông khá đẹp trai tuấn tú, có vẻ là còn trẻ tuổi.

Thấy tôi im re nên cậu ấy mới bước lên hỏi tôi.

"Đến gia nhập nghĩa quân?"

Tôi gật đầu thay cho câu trả lời.

Lần này đến lượt hai người đó im lặng.

Họ nheo mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại, nhìn tới nỗi tôi cảm thấy có hơi ngại.

Họ nhìn tôi như một thứ đồ gì kỳ diệu lắm.

Tôi thấy họ nhìn mình mãi.

Chắc họ nghĩ tôi yếu đuối, làm sao kham nổi việc quân chăng?

Cuối cùng người tên Cấu cũng phá tan bầu khoảng lặng kì cục này:

"Cậu Nhuế dẫn người vào gặp chủ tướng đi."

Cậu đẹp trai đó chắp tay vâng lệnh rồi kêu tôi theo sau cậu ấy, cả hai cùng bước lên thuyền, còn người tên Cấu đó ban đầu tôi tưởng anh ta di thuyền riêng, nhưng cuối cùng lại đi chung bọn với bọn tôi.

Không biết là do ráng chiều, mà Hoàng Giang hệt như một dải lụa đào, rực thẳm uốn lượn quanh những ngọn núi.

Vừa bước vào cổng thành, tôi đã cảm nhận được vẻ mạnh mẽ mà cô độc của nó, đến khi tôi mới bước vào trong thì càng ngạc nhiên hơn nữa, quả tôi đoán không sai, căn cứ này là tận dụng từ núi Hoàng Nghiêu Sơn, sau có là thêm nhiều ngọn núi nhỏ nhấp nhô khác, rồi từ đó gia công xây thêm một bức tường đá chắn ngang qua, gần như tạo thành bốn bức tường vững chãi.

Bên trong này rộng lớn, có nhiều thung lũng lớn nhỏ khác nhau, nên cũng có làng mạc sinh sống, trồng trọt lương thực để phòng những lúc khó khăn.

Phía xa xa, tôi trông thấy một bãi đất rộng nhô lên như một ngọn đồi, còn có cắm cờ.

Nhìn từ xa thôi cũng thấy có khá nhiều người tụ tập ở đó, ước chừng trăm người.

Đoán là tướng đang chiêu mộ nghĩa quân ở đó nên tôi chạy lại đó xem sao.

Ngay trước cổng trại có vài ba người có lẽ là binh sĩ ở đây đã lâu, hoặc người từ nơi khác đang đến xin vào quân như tôi.

Tôi cũng không rõ lắm nhưng cứ hễ bọn tôi đi qua là họ đều cúi xuống chào, tôi không hiểu nhưng cũng cúi người theo họ, có lẽ nghĩa quân ở đây hiếu khách chăng?

Cho đến khi nghe tiếng thốt lên khe khẽ phía sau tôi, "Ừm, chào anh".

Té ra là họ chào người tên Cấu, làm tôi tưởng bở cả buổi.

Hình như chức vụ Cấu có vẻ cao ở trong cái căn cứ này, nhìn binh sĩ ai ai gặp đều vội cúi đầu, mặt mày nhăn nhở thì phải biết họ nể anh Cấu này đến cỡ nào.

Nhưng có lẽ anh ta không nhớ tôi là ai, hoặc là hồi trưa anh không để ý tôi dõi theo cuộc nói chuyện của bọn họ.

Đi được một đoạn thì anh ta đã biến mất dạng, chả biết đã đi đâu, tôi cũng chẳng quan tâm nữa.

Phía trước là một căn lều và một bãi sân rộng lớn, ở đó có nhiều người từ khắp các nơi đến đang trò chuyện rất rôm rả.

"Chủ tướng đang ngồi phía đằng kia, anh có thể tự đến đó."

Giọng nói của Nhuế đã phá tan đi mạch suy nghĩ của tôi.

Tôi gật đầu, sau đó còn không quên nói lời cảm ơn.

Trước mắt tôi một đồi cỏ úa, nhiều người tụm ba tụm bảy trò chuyện rôm rả, riêng tôi thì nôn nao lạ thường, có lẽ do tôi chột dạ, tôi giả trai, như vậy được coi là không trung thực.

Bần thần một lúc thì ai đó huých vào ta tôi một cái, là một người đàn ông có vẻ đã ngoài ngũ tuần, tóc cạo ngắn đã điểm bạc như chén muối tiêu.

Ông ấy nhìn tôi từ trên xuống dưới như đang phán xét.

Tôi không thể hiểu nổi, vẻ ngoài quan trọng thế sao?

Tại sao từ nãy giờ bước chân đến nơi đây, mười người hết bảy người phán xét vẻ ngoài của tôi thế rồi.

"Chú mày từ đâu đến?"

Người đàn ông hỏi tôi.

"Tôi người Vạn Lộc".

"Nhiêu tuổi rồi?"

Người đó lại hỏi.

"Mười chín" tôi đáp bừa.

Người đàn ông ngạc nhiên.

"Thanh niên trai tráng, mười chín tuổi đầu còn chưa vỡ giọng cơ à?"

"..."

đấy là lí do tôi không khai tuổi thật, bởi nếu vậy với cái giọng của một người con gái như tôi , ai lại tin tôi là đàn ông ngoài hai nhăm cơ chứ.

Thấy tôi không nói gì, ông ấy lại nói tiếp.

"Nãy thấy chú mày ta cứ tưởng là nữ giả nam không ấy chứ"

"..."

Đúng là gừng càng già thì càng cay, biết vậy nói mười sáu cho lành.

Vừa nãy mấy người ngoài kia chỉ kịp phán xét tôi thôi, chứ chưa chắc họ đã nghĩ như ông chú này.

Nghĩ lại càng lo, một lão nông dân như ông lại thấy tôi giống nữ, không biết cái người đang ngồi chiêu mộ ở đằng kia biết được cái gì nữa.

Lại thấy tôi chẳng thèm lên tiếng, ông chú cũng không tức giận mà bảo tôi nhanh chóng lại gặp Nguyễn Chích, tôi mới hoàn hồn tôi lật đật chào lão rồi quay đầu đi.

Mặc kệ bị phát hiện hay không, bởi vì tôi đã đứng ngay trước mặt Nguyễn Chích, không còn cơ hội để suy nghĩ lại hay rút lui nữa.

Đúng là danh bất hư truyền, vẻ bề ngoài của một người có tài thao lược như Nguyễn Chích cũng khiến tôi có cảm giác khác người bình thường hơn nhiều.

Người đàn ông đang ngồi đối phía đối diện thân hình khá vạm vỡ, nước da có hơi rám nắng, gần giống như cậu tên Cấu tôi từng gặp.

Một tay chống lên mặt bàn khuôn mặt đang đăm chiêu suy nghĩ thứ gì đó.

Hình như chủ tướng đang xem lại sổ sách gì đó tôi cũng chẳng rõ, chăm chú nãy giờ, mới ý thức được có người đang nhìn mình, anh ta mới ngẩng đầu lên.

Nguyễn Chích không phải kiểu đàn ông khiến người ta trầm trồ ngay lần đầu nhìn thấy, nhưng một khi đã nhìn thì khó lòng rời mắt.

Mắt ai một thoáng trời nghiêng,

Da ngăm hun gió, dáng nghiêng giục hồn.

Vai rộng, tấm lưng thẳng như cây cung đã lên dây.

Làn da ngăm rám nắng không khiến anh thô ráp, mà ngược lại – như một minh chứng sống cho tháng năm lăn lộn giữa gươm đao và sương gió.

Trán cao, có một vết sẹo mảnh chạy nghiêng từ thái dương xuống gần bầu má – không sâu, nhưng vừa đủ để khiến gương mặt vốn cương nghị càng thêm phần dữ dội.

"Đến gia nhập nghĩa quân?"

Vẫn là câu hỏi y hệt lúc nãy của cậu Nhuế

Đối diện tôi là đôi mắt sâu hun hút khiến tôi có phần thêm căng thẳng.

"Tôi đến...ặc..."

Xém nữa quên mất giọng con gái của mình.

Tôi vội vàng bịt miệng sợ Nguyễn Chích đang thấy sự bất ổn của tôi.

Cố hết sức bình sinh hít một hơi, cố gằng giọng sao cho giống con trai nhất có thể.

"Tôi đến đây để xin đầu quân!".

Người đàn ông nghe xong đáy mắt lộ vẻ nghi ngờ, chỉ là một thoáng thôi.

Sau đó liền hỏi lại tôi:

"Vậy cho ta hỏi cậu có gì chứng minh mình đủ sức ra trận?"

E hèm...

Hóa ra Nguyễn Chích cũng nhìn thấy bộ dạng "trói gà không chặt" của tôi mà phân vân.

Tôi cũng chẳng chịu thua mà tự tin đáp lại.

"Tôi vốn học võ từ nhỏ, nay vì căm thù giặc nên mới xin đầu quân."

Lần này anh ta có vẻ rất ngạc nhiên, một thoáng yên lặng, anh ta ngoái đầu gọi lớn.

"Đa Cấu, vào đây!"

Chú thích:

[1] Trần Quý Khoáng: một số tư liệu sẽ ghi lầ Trần Quý Khoách, Trùng Quang Đế là vị hoàng đế thứ hai và là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Hậu Trần, một triều đại được dựng lên ở miền nam Đại Việt để chống lại sự đô hộ của giặc Minh sau năm 1407.

[2] Nguyễn Súy: là tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử chống giặc Minh.

[3]Nguyễn Cảnh Dị: (1377- 1414) là một trong những danh tướng của nhà Hậu Trần chống giặc Minh.

Quê ông ở làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, Nghệ An.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Gấm Hoa Giữa Trời
Bóng Trăng Mờ


"Đa Cấu, vào đây!"

Tôi sững người khi người bước vào chính là người đàn ông da ngăm gặp ban sáng.

Cấu nhìn tôi, không giấu được vẻ nghi ngờ.

Còn có cả Nhuế nữa, có vẻ bọn họ tới đây để xem trò vui.

"So quyền với cậu ấy một trận."

Tim tôi muốn nhảy khỏi lồng ngực.

Là đánh thật ư?

Tôi chưa kịp phản ứng, thì đã bị đưa ra bãi đất trống trước doanh trại.

Một nhóm nghĩa binh xúm lại xem, nhiều tiếng xì xào vọng đến tai tôi:

"Gầy thế kia mà đòi gia nhập à?"

"Coi bộ ăn ba chiêu là lăn quay."

Tôi nghe, nhưng mặc.

Tôi cúi người, tay thủ thế.

Võ không phải thứ tôi giỏi nhất, nhưng là thứ duy nhất tôi có thể dùng để chứng minh mình đáng được sống giữa trăm người đàn ông nơi đây – không phải trong bếp lều, mà ngoài trận mạc.

Cấu ra đòn.

Nhanh, mạnh rất dứt khoát.

Anh ta không nương tay- và tôi biết ơn điều đó.

Tôi lách người, xoay cổ tay, mượn lực trả đòn.

Chỉ ba chiêu, anh khựng lại.

Bốn chiêu, tôi khóa chân.

Tiếng "rầm" dội xuống sân đất, như một lời tuyên bố: kẻ bị xem thường đã đứng lên.

Không ai vỗ tay.

Chỉ có một sự im lặng kéo dài – như thể cả doanh trại đang nhìn lại người mà họ vừa cười nhạo một khắc trước.

Nguyễn Chích vẫn không biểu lộ gì.

Nhưng anh bước đến, gật đầu nhẹ, và lần đầu tôi thấy – nụ cười không rõ rệt, như ánh mặt trời bị giấu sau núi.

Một lúc lâu, mọi người xung quanh ai ai cũng trầm trồ kéo theo một tiếng "ồ" dài, sau đó là một tràng vỗ tay.

Có người tấm tắc khen "hay quá!" cũng có người vẫn thể tin vào mắt mình bởi họ dường như bị dáng vẻ thư sinh này của tôi đánh lừa.

Vả lại điều này khiến Nguyễn Chích từ kinh ngạc cho đến vui mừng, lập tức đồng ý nhận tôi vào nghĩa quân.

Mọi thứ đã kết thúc thì mặt trời cũng đã xuống núi, Nguyễn Chích dặn tôi dùng bữa tối xong hãy đến gặp anh.

Tôi cũng tò mò không biết chủ tướng có vấn đề gì ở tôi, càng không phải để anh ta chờ lâu nên tôi nuốt vội cái bánh bao vào bụng rồi lật đật chạy tới nơi ở của Nguyễn Chích.

Nói là căn cứ Hoàng Nghiêu Sơn vậy, chứ thực ra tôi thấy đó là một tòa thành đá vững chãi, gần như ngăn cách với thế giới bên ngoài.

Dễ thấy ở việc sử dụng Hoàng Giang làm hào, kẻ nào không biết bơi thì chỉ có nước làm "Ngu Công dời núi" mà thôi.

Nơi đây nhiều thung lũng, được chia thành nhiều khu khác nhau, đến giờ tôi vẫn chưa thể nhớ được hết.

Những thung lũng phân định rõ ràng: nơi chứa thuyền, nơi chất lương, nơi quân lính tập trận, đâu ra đấếng trống canh điểm nhịp đều đặn nghe lẫn trong tiếng giun dế kêu râm ran khắp núi rừng.

Hoàng Nghiêu Sơn chẳng khác nào một tòa thành đá sống động, nơi mỗi hòn đá, mỗi thung đều mang trong mình hơi thở của người kháng giặc.

Nơi ở của chủ tướng là một thung lũng nhỏ dưới núi, bên trong được dựng một căn lều rộng hình như được làm từ da thú.

Bên ngoài, lính gác tay cầm giáo dài mắt dõi ra khe núi tối om như nuốt chửng mọi ánh sáng, khiến tôi cũng phải khựng lại vì giật mình.

Tôi vừa bước vào thì nhận ra người đang đứng cạnh Nguyễn Chích, đó là Cấu.

"Chủ tướng tìm tôi có việc gì?"

Hai người họ đang say sưa bàn luận vấn đề nào đó thì đều ngước mặt lên nhìn tôi.

"Cậu tới rồi, ăn gì chưa?"

Nguyễn Chích hỏi tôi.

"Tôi đã ăn rồi."

Sau đó anh ta quay quay Cấu.

"Ừm, đây là Đa Cấu, từ giờ về sau cậu sẽ sống trong căn cứ cùng anh em, nếu có gì không rõ hãy hỏi cậu ấy, bây giờ đi theo Cấu sắp xếp chỗ ở."

Đa Cấu? lòng tôi tự hỏi, anh ta họ Đa tên Cấu, hay họ là cái gì đó rồi tên là Đa Cấu vậy.

Tôi hay bị ám ảnh bởi những cái tên.

Bởi con người ta khi yếu kém một cái gì đó, họ coi là điểm yếu và khi gặp người khác họ đều nhìn vào thứ đó của người khác đầu tiên, tôi cũng thế, từ thời cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi luôn bị giễu cợt bởi cái tên của chính mình.

Vì cha tôi hay nói rằng, đẻ con đặt tên càng xấu càng dễ nuôi, có người còn kêu tên xấu càng lớn càng thành danh sự nghiệp, nên mới đặt tên là Nguyễn Thị Bành.

Mấy thằng nhóc hồi nhỏ gần nhà bà hay trêu tôi vì cái tên nên hồi đó ngày nào bọn nó cũng bị ăn đấm từ tôi mà vẫn chưa chừa.

Tên tôi là Nguyễn Thị Bành – nghe là biết bị trêu từ nhỏ rồi.

Bọn con trai xóm tôi suốt ngày bêu riếu, nhưng tôi chẳng ngán, đứa nào chọc là ăn đấm.

"Mà cậu tên gì?"

Câu hỏi của Nguyễn Chích đã cắt đứt khỏi dòng suy nghĩ của tôi, đã vậy tôi vừa rồi còn đang suy nghĩ về những cái tên cơ đấy!

Suýt nữa là vạ miệng thốt lên "Nguyễn Thị Bành", đó chính là tên của con gái, tên của một người đàn ông thì thường phải có chữ "Văn", như vậy có lẽ sẽ khiến người ta đỡ nghi ngờ về tôi hơn.

"Nguyễn Văn Sa!"

Tôi đáp, trong đầu chỉ kịp vớ lấy cái tên của một thằng học trò làng bên.

Nguyễn Chích và Đa Cấu có vẻ chả để ý điều bất thường gì lắm, còn tôi thì mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng, tim đập loạn, đến tôi còn nghe thấy được.

"Cảm ơn chủ tướng, tôi sẽ gắng hòa nhập với anh em."

Tôi cố gắng gằng giọng mình sao cho trầm ổn, khung bị rung kẻo lại bị phát hiện, rồi chắp tay cúi lạy chủ tướng.

Cấu thấy vậy cũng chắp tay rời đi trước tôi để dẫn đường.

Qua ngày hôm nay, ngoài tôi ra chủ tướng còn nhận thêm tầm ba bốn chục người nữa vào nghĩa quân.

Đa Cấu bảo đó là số lượng nhiều, mặc dù nó chẳng xá chi với con số nghìn quân trong căn cứ.

Nhưng cứ mỗi tháng thì Nguyễn Chích đều chiêu mộ, kêu gọi trai tráng khắp nơi trên đất nước này cùng nhau chống ngoại bang, thường thì chỉ mười mấy hai chục người, nhưng hôm nay như vậy thì thật đáng mừng.

Hiện tại đất nước như mớ bòn bon, rối rắm hỗn độn.

Quân Minh thì đông, nên so với số nghìn quân của chủ tướng thì cũng giống như trứng chọi đá, nếu đó là cuộc đọ quân số, nhưng đây là một chiến trường, đâu phải chiến trường thì kẻ mạnh phải thắng kẻ yếu, ví như quân Mông Nguyên và triều đình nhà Trần cách đây hàng trăm năm trước, thì bây giờ cũng vậy.

Tài thao lược của Nguyễn Chích tôi nghĩ cũng không phải dạng vừa, đâu phải bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh muốn phá hoại Hoàng Nghiêu ngày một ngày hai, nếu đã chống cự được lâu như vậy thì ắt hẳn không phải do anh ta may mắn nữa.

Tôi đi theo Đa Cấu một lúc cũng tới, nơi ở của binh sĩ nằm ở một thung khác rộng hơn rất nhiều lần so với chỗ của chủ tướng.

Trên đường đi, tôi gặp nhiều binh sĩ đang giải lao chuẩn bị đi ăn tối.

Người thì cởi trần, người vắt khăn lên vai, làn da đen sạm vì sương gió, bởi quanh năm rèn luyện và lao động dưới nắng.

Một số người trên ngực, lưng hay bắp tay có hình xăm – nào là sóng nước, cá chép, rồng bay – nét vẽ tuy thô nhưng mạnh mẽ, dứt khoát.

Đó là phong tục từ lâu của người Đại Việt, nhất là dân miền sông nước, người đi trận, họ xăm mình để vừa trừ tà, vừa dọa địch.

Có người bảo, đàn ông mà chưa từng xăm hình thì chưa từng đi trận lớn.

Vài người mặc áo vải nâu thô hoặc cởi trần, quần nhuộm bùn bốc cao đến đầu gối cho tiện việc thao luyện.

Vải không lành lặn, có khi vá chằng vá đụp, nhưng ai nấy đều mặc chỉnh tề, đầu đội khăn, chân guốc mộc hoặc chân đất.

"Vừa nãy định cho anh ở chung cùng với mấy anh em cũng mới vừa vào căn cứ như anh, nhưng e là mấy chỗ đó đã đông, sợ mọi người sẽ bức bối hơn nên anh cứ ở chỗ của bọn tôi nhé, đằng nào cũng ít người thoải mái và yên tĩnh hơn."

Tôi gật gù tỏ vẻ đã hiểu, nhưng trong ánh bóng tối dày đặc, chỉ có chút ánh sáng yếu ớt từ ngọn đèn dầu trên tay Cấu, không biết anh ta có thấy biểu cảm của tôi không.

Căn lều tôi ở, cũng khá rộng, ngang ngửa với lều của Nguyễn Chích, ở được chắc khoảng năm sáu người là vừa.

Vừa mới bước vào tôi bắt gặp cảnh hai người đàn ông đang nhổ tóc bạc, hoặc là bắt chấy cho nhau, mà một trong hai người đó là cậu Nhuế, người còn lại thì chả rõ mặt.

Nãy giờ tôi đứng bên ngoài cửa đã nghe thoang thoảng giọng của y, nào là "đúng đúng rồi, chộ đó đó", "nỏ phải, mi nhổ nhầm cọng tóc đen tau rồi" hay là "đúng đúng, nhổ đi nhổ đi".

Khẩu âm hơi là lạ, hơi khó nghe, tôi đoán là người phủ Nghệ An.

Nghe được tiếng động ngoài cửa, cả hai đều quay lại, Nhuế trông thấy tôi giật nảy, reo lên.

"Aaaa anh..."

Thấy cậu ta khựng lại, chắc định gọi tên tôi mà chợt nhớ ra chả biết tên tôi đây mà.

"Anh đến ở chung cùng bọn em hả?".

Chà, tôi chợt cảm thấy cậu này háo hức khi ở chung với tôi quá nhỉ, nhưng tôi chẳng biết tại sao lại như thế, mà cũng chẳng quan tâm mấy, chỉ vu vơ đáp.

"Ừ."

"Em tên Lưu Nhuế, còn anh tên gì?"

"Cứ gọi tôi là Sa đi".

Tôi trả lời gọn lỏn.

"Vâng ạ, anh Sa" Cứ tưởng sẽ kết thúc ở đó, nhưng nào ngờ Nhuế lại tiếp câu.

"Anh ấy tên Diêu" Nhuế chỉ vào người đàn ông ban nãy, rồi thì thầm vào tai tôi "Ảnh quê Diễn Châu, nên giọng nói hơi khó nghe xíu, từ từ nghe sẽ quen thôi."

"Nè nè, tụi bây nói gì tau nghe thấy hết á nha, liệu cái thần hồn đi."

Tôi thấy tên này đanh đá thật đấy, như thoạt nhìn có lẽ là người thẳng thắn, tuy hơi cộc cằn nhưng coi bộ đó là người tốt.

"Dạ vầng, thực ra trước kia tôi có quen với vài người ở Nghệ An, nên vẫn nghe rõ tiếng của anh, không khó nghe đâu" Tôi vội hòa hoãn cuộc nói chuyện.

"Ừ, thế thì tốt, có khó hiểu thì hỏi đây nói lại cho".

...

Những ngày đầu tiên tôi gia nhập quân trại, trời vừa tờ mờ sáng, mặt trời lấp ló sau dãy núi, ánh sáng ấm áp bắt đầu lan tỏa khắp cánh đồng.

Mặt đất như được điểm bởi những vệt sáng dịu dàng, long lanh như giọt sương còn đọng lại từ đêm qua.

Cảm giác như mọi buồn phiền đều tan biến, chỉ còn lại sự sảng khoái trong tâm hồn.

Tôi đã dần quen với cuộc sống nơi đây, giữa những người đàn ông, chẳng mấy khi khiến tôi ngượng ngùng, bởi tôi không cảm thấy lạc lõng giữa thời chiến loạn lạc, những người anh em đã gặp được nhau.

Tôi tin một ngày nào đó chúng tôi sẽ góp chút sức mọn vào cùng nhau ngắm nhìn thái bình thịnh thế.

Cũng đã hơn năm ngày gia nhập nghĩa quân, thế nhưng vấn đề luôn âm ỉ trong tôi mấy hôm nay, mỗi lần mặt trời lặn, lòng tôi lại thêm trĩu nặng khi tất cả các anh em của tôi ai ai cũng được ra bờ Hoàng Giang để tắm rửa.

Mỗi lần như vậy Nhuế đều rủ tôi đi chung cho vui, tôi đương nhiên không đồng ý, thử nghĩ một đứa con gái mới độ hai lăm như tôi chẳng mặc quần áo mà còn tắm chung một dòng nước với hàng trăm tên đàn ông, có lẽ tới mười kiếp nữa tôi mới có thể lấy chồng được.

Nhưng tôi lại chẳng thể ở bẩn tới mười ngày nửa tháng không tắm được, nên chờ mọi người rời đi cả thì cô mới lén lút tìm một đoạn sông có cây cối rậm rạp, chắc chắn không để một ai phát hiện được.

Đang thập thò thập thụt chạy xuống Hoàng Giang cố gắng không được để ai thấy nhưng bỗng có giọng cất lên khiến tôi giật cả mình.

"Đi đâu đấy!"
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Gấm Hoa Giữa Trời
Hồn Ai Thổn Thức


Câu này hình như mấy ngày trước có ai nói với tôi rồi này, lần này là một giọng khác, nhưng giọng điệu vẫn y chang.

Tuy ban đêm trời tối nhưng nhờ ánh trăng mờ ảo, tôi nhận ra chủ tướng.

Giọng anh ta cứng rắn, không cao nhưng có lực, khiến tôi lạnh cả gáy.

Tôi đảo mắt, cố tránh ánh nhìn của Nguyễn Chích, tay vẫn bấu lấy vạt áo.

Tôi lắp bắp:

"Dạ...Sa chỉ ra ngoài hóng gió một chút thôi ạ."

"Giữa đêm?"

"Tôi... tôi chỉ quen thói ở quê, quen thói ra bờ sông cho dễ ngủ..."

Chết tiệt, nói xong tôi mới thấy mình lỡ lời, người ta đi hóng gió sao lại ướt sũng hai bắp chân?

Ánh mắt Nguyễn Chích sắc như lưỡi dao, tôi thấy mình sắp tiêu.

"Thật ra...tôi đi tắm ạ..."

Một thoáng im lặng kéo dài, tôi không dám ngước lên.

Chẳng rõ được nét mặt của chủ tướng lúc này, chỉ nghe được giọng đáp lại.

"Tắm? giờ đã là ban đêm, cậu không sợ bị cảm à?"

"Tại nãy Sa có chút việc bận nên chẳng có thời giờ ạ"

Tôi vừa trả lời những câu hỏi của y trong lòng liền dấy lên nỗi lo, sợ sẽ nhìn thấu tất cả.

"Tôi nghĩ cậu hãy đợi đến ngày mai, bây giờ mà tắm lại đổ bệnh mang tiếng tôi nữa".

Tôi cứng họng, không ngờ anh ta lại biết lo lắng cho binh sĩ của mình như vậy, chẳng biết tôi nên nói anh ta tốt bụng hay lo xa nữa.

"Tôi là công tử bột từ nhỏ quen sống trong gấm vóc lụa là, không tắm một ngày thôi đã ngứa ngáy khó chịu."

Thấy tôi cứng miệng, có lẽ Nguyễn Chích cũng mặc kệ tôi, phất tay để tôi đi.

Cuối giờ Tuất, bầu trời bao trùm bởi sự tĩnh mịch, vài ánh sao le lói giữa bóng tối mênh mông cũng khiến người ta cảm thấy có chút lạc lõng.

Tuy là đang giữa hạ nhưng gió đêm thổi nhè nhẹ, mang theo hơi lạnh mơ hồ, như muốn cuốn lấy mọi thứ, khiến những cành lá khẽ rung rinh, phát ra âm thanh xào xạc.

Tiếng dế kêu rả rích vang vọng khắp cánh đồng, hòa cùng tiếng lá cây xào xạc như đang thì thầm với nhau.

Xa xa, ánh lửa từ những ngọn đèn dầu leo lét trong các ngôi nhà từ làng Ó ở dưới chân núi, tia sáng nhỏ bé giữa cảnh đất nước chìm trong cảnh binh đao.

Tuy nhỏ bé, nhưng nó vẫn phải kháng cự trước ngọn gió hè còn chút hơi nóng từ ban ngày.

Ngâm mình dưới dòng nước mát được một lúc, tôi mới chịu lên bờ, vội vàng lau khô người, cảm nhận được làn gió lạnh thấm vào từng tất da, tôi khẽ rùng mình.

Trăng treo lơ lửng trên trời,

Ánh trăng mờ nhạt, rối bời lòng ai.

Trăng rơi in bóng bờ ao,

Hồn ai thổn thức, mà sao trăng buồn.

Để lòng mình lắng lại sau một ngày dài mệt nhọc.

Nhưng rồi, tôi nhanh chóng nhớ ra rằng không thể nán lại lâu hơn, lỡ bị bắt gặp thì sẽ toi mất.

"Ai đấy?"

Một giọng nói vang lên lại khiến tôi giật mình thêm lần nữa, vẫn là cùng một người lúc nãy.

"Tôi, tôi thưa chủ tướng!".

Tôi la lên.

Nhưng lời nói muộn màng, tôi quên mất mình chưa nịt ngực, để Nguyễn Chích nhận ra, tôi nghĩ hôm nay tôi chẳng còn cái đầu nữa mất.

Nghe tiếng bước chân lại gần, tôi mới co cẳng chạy đi.

Tưởng chủ tướng sẽ tha cho tôi, nào ngờ lại đuổi theo tôi.

Chẳng lẽ anh ta nghi ngờ tôi điều gì đó sao.

Cũng phải mà, lén la lén lút, bỏ chạy như tôi thì không đáng nghi mới lạ.

Tôi càng chạy nhanh, Nguyễn Chích càng đuổi theo, vừa chạy anh ta vừa bảo tôi "đứng lại".

Chạy mãi cho đến khi tôi đâm trúng người nào đó tôi chẳng thấy mặt, trời đã tối, mà người đó còn mặc đồ đen, như muốn hòa tan vào đêm đen tĩnh mịch.

Thứ duy nhất tôi biết được là mùi hương thơm lạ, như một loài hoa nào đó mà tôi tạm thời chưa nhận ra được.

Người đó vừa bị tôi đâm trúng đã chạy khỏi, còn tôi thì nằm sõng soài dưới đất, chủ tướng ở phía sau mới kịp chạy đến đỡ tôi lên.

"Có sao không, nãy tự dưng cậu lại chạy vậy, tôi đâu có đuổi theo cậu đâu?"

Vậy là sao?

"Tôi tưởng anh đuổi theo tôi, tôi bị liệu mà! nếu không phải sao không kêu tôi dừng lại? hại tôi phải...".

Vừa nói vừa thở hổn hển vì chạy nãy giờ quá mệt, định nói tiếp câu thì bị cắt ngang.

"Tôi có nói cậu đứng lại mà, cậu vẫn không nghe đó thôi."

...

Cái này thì là lỗi của tôi thật, nhưng cũng lại anh ta nói chẳng rõ ràng, làm tôi phải mất công đi tắm lại lần nữa đây, mồ hôi nhễ nhại, mình mẩy cáu bẩn khác nào lúc chưa tắm đâu!

"Mà ban nãy chủ tướng nói là đuổi theo ai ạ?"

Nguyễn Chích chẳng đáp câu trả lời của tôi mà còn hỏi ngược lại.

" Nãy tới giờ cậu có thấy ai quanh quẩn chỗ này không?"

Tôi thật thà đáp.

"Có ạ, nhưng mặc đồ đen, trời tối nên tôi chẳng rõ mặt ạ"

Nghe thấy tiếng thở dài, tôi cảm nhận được anh ta đang thất vọng, lại nói.

"Thôi cậu nghỉ ngơi đi, tôi không phiền cậu nữa."

"Vâng ạ, tôi tắm lần nữa rồi ngủ ạ."

"Bớt thói công tử đó đi, bị cảm lại khổ tôi".

Nói rồi chủ tướng bỏ đi.

Chẳng phải là do anh sao?

Giờ mà ngâm nước thêm lần nữa thì chắc sẽ đổ bệnh, mà không tắm nữa thì mất ngủ.

Nghĩ ngợi một hồi, tôi thà bị cảm còn hơn ngủ trong sự khó chịu.

Sáng mai có bệnh cũng mặc kệ.

Sáng hôm sau tôi bị cảm thật, vừa mới canh năm anh em trong trại đều bị tiếng đánh thức chấn động của Diêu, khó mà tiếp tục ngủ được.

"Dậy hết đii!

Chủ tướng lệnh bây xuống núi chạy bộ tề!"

Giọng nói oan oan làm tôi giật nảy, nhưng đầu tự nhiên hơi choáng nên ngã gục xuống ngủ tiếp.

Thấy anh em lục đục đứng dậy, còn mỗi tôi nằm sõng soài trên phản.

Bỗng có người đật đật vai tôi lay tôi dậy.

"Đồng! dậy tề, mi nỏ dậy thì coi như đời mi truốt luôn đó!"

Cơn buồn ngủ bay biến đi một nửa, mở mắt ra là khuôn mặt Diêu đập vào mắt tôi.

Tên này dí sát mặt vào làm gì chả biết, làm cơn buồn ngủ còn sót lại ít ỏi biến mất.

Tôi mơ hồ hỏi lại anh ta.

"Dạ?

Anh nói "truốt" gì ạ?"

Thấy tôi tỉnh ngủ, Diêu mới đi ra chỗ khác, nhưng chẳng trả lời câu hỏi của tôi, chỉ lặp lại.

"Chủ tướng lệnh xuống núi chạy bộ tề."

Sao qua nay tôi vào doanh trại chưa thấy nghe tới chuyện này nhỉ, như mà kệ.

Tôi vốn khỏe mạnh, thể lực tốt, chạy mười vòng quanh chân núi cũng chẳng hề hấn gì!

Nhưng hình như hôm nay tôi hơi mệt, chưa chạy hết vòng thứ năm đã cảm thấy đuôi đuối, như con cá chuối.

Chốc chốc lại hắc xì mấy cái.

Hình như tôi bị cảm thật rồi, hôm qua sớm biết bị chủ tướng dựng dậy đi chạy bộ mới canh ba thì có lẽ tôi sẽ nghe lời Nguyễn Chích hơn một chút.

Giờ tôi không chắc tôi có thể trụ nổi mười vòng được không.

Chạy tầm bảy tám vòng gì đấy, tôi cảm thấy không ổn nên cố tình chạy chậm lại để dưỡng sức, nào ngờ gặp ngay chủ tướng đang chạy ở phía cuối hàng.

Hôm nay anh ta không mặc áo giáp, chỉ khoác chiếc áo vải đơn giản.

Nhưng vẫn khiến tôi cảm thấy áp lực.

"Chào chủ...ắc xì... chào chủ tướng!"

Chích ừm nhẹ, chốc chốc chẳng biết đang nghĩ gì mà cất lời.

"Cảm rồi à?"

Tôi hơi xấu hổ, rãi rãi đầu đáp vâng.

Nói rồi gắng chạy nhanh một chút để tránh mặt, chẳng để ý sắc mặt hắn như nào nữa.

Chạy được thêm vài vòng, người tôi mệt lả, cơn choáng ập tới, mỗi bước nặng nề như đeo đá.

Càng ngày tôi càng bị bỏ xa ở phía sau.

Chạy tới đoạn cuối cùng, anh em trong doanh trại hình như vừa tản ra lấy nước nghỉ ngơi được một lúc, tôi chẳng còn hơi sức đâu mà quan tâm họ, chỉ lấy vội gáo nước trên tay Nhuế múc nước lên uống ừng ực.

Chân tay rã rời, ngồi phịch xuống bên bờ Hoàng Giang, tôi thầm nghĩ đêm qua thật xúi quẩy, hại tôi hôm nay mệt lã.

Diêu chẳng rõ hắn đã thấy gì đột nhiên la lên:

"Chu choa mạ ơi, cậu Sa!

Răng mần mặt mũi cậu đỏ lựng rứa? bệnh à?"

Nghe thấy vậy, Nhuế, Cấu đều quay sang nhìn.

Tôi thật thà đáp "vâng"

Anh ta đột nhiên sát lại gần tôi sờ lên trán một lúc rồi phán:

"Rứa thì mau dô lều nghỉ đi, không mần răng mi đổ ra đó thì phiền lắm nghe!"

Tôi đứng dậy, định nói gì đó chào mọi người, nhưng hình như càng ngày càng mệt, chẳng buồn gì gì nữa đành vẫy tay rồi lảo đảo bước vào lều.

Vừa đặt lưng xuống phản, cứ ngỡ là Diêu hay Nhuế gì ấy, tôi chẳng buồn nhìn, chỉ phất tay:

"Tôi chẳng sao cả, anh ra ngoài đi, tôi ngủ chút"

Tôi nhắm mắt tịnh dưỡng, mà chẳng nghe thấy tiếng bước chân, càng không nghe tiếng đáp lại.

Tôi tò mò quay đầu lại, thấy Nguyễn Chích đứng đó.

Tôi ú a ú ớ nói chẳng ra câu:

"Chủ... chủ... chủ tướng ạ?"

Nguyễn Chích vẫn không đáp lại tôi, chỉ đi ngắm nghía, cầm lên một cuốn sách trên bàn của Đa Cấu.

Thấy chủ tướng vẫn đứng đó, tôi vẫn chưa dám nhắm mắt ngủ.

"Bị cảm mà còn cố chạy."

Tôi phải mất một lúc mới nghe thông được câu nói của anh ta, bởi hiện tại đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng, chỉ muốn đi ngủ.

"Lệnh chủ tướng, tôi nào dám cãi."

Nguyễn Chích bỏ cuốn sách trên tay xuống, hai tay để sau lưng, đi lại gần chỗ tôi.

"Sao tôi nghe như anh đang uất hận tôi vậy?"

Nghe chẳng nghiêm nghị như thường ngày mà có phần thoải mái.

"Nào có! chẳng qua hôm nay Sa hơi mệt, ăn nói có phần gắt gỏng, mong anh đừng để ý nhiều"

Nguyễn Chích nhìn tôi một chặp rồi đột nhiên bật cười, đôi mắt một mí theo đó mà híp lại như đường chỉ.

"Tôi nói cậu này, cậu có phải con gái đâu mà gắt với chả gỏng..."

Đầu óc tôi càng mụ mị, hoàn cảnh gì thế này?

Chủ tướng uy nghiêm của tôi cười với tôi đấy, tuy chẳng phải lần đầu tôi thấy anh ta cười, nhưng anh rất hiếm khi cười.

Bởi thao trường khắc nghiệt, có lẽ đã khiến một người đàn ông hiếm khi thể hiện cảm xúc hỷ nộ ái ố như thế.

Thấy tôi chẳng đáp lời, anh ta mới xoay người rời khỏi, còn không quên đáp lại một câu:

"Ngủ đi, hôm nay nhà bếp hình như có cháo đấy, tỉnh dậy hẵn ăn"

"Nhưng còn buổi luyện tập sáng nay thì sao ạ?"

Chẳng trả lời câu hỏi của tôi, Nguyễn Chích chỉ đáp:

"Ngủ đi!"

Ồ, thế đồng nghĩa là hôm nay tôi được nghỉ một buổi chăng? thôi không nghĩ nhiều nữa, tôi dần rơi vào giấc ngủ.

Khi tôi tỉnh dậy, ánh sáng ngoài trời đã vơi dần.

Tôi chẳng rõ mình đã ngủ được bao lâu.

Đầu óc tôi mơ hồ, cơ thể mệt mỏi như vừa chạy được một chặn dài nhưng cơn đau đầu đã dịu đi.

Đột nhiên có một tiếng gọi khẽ ngoài lều:

"Anh Sa, anh Sa!"

Tôi gắng mở mắt, là Nhuế, cậu ấy tay cầm gáo nước, chẳng biết để làm gì, vẻ mặt không giấu được nỗi lo lắng.

"Để tôi ra ngay."

Tôi đáp, giọng vẫn còn khàn.

Ngày hôm nay, tôi chẳng còn đủ sức đùa giỡn gì nữa.

Chỉ muốn cho cơ thể mình hồi phục một chút.

Tôi đứng dậy, đôi chân hơi loạng choạng bước ra ngoài, nơi không khí mát lạnh của buổi chiều vây quanh.

Đến nhà bếp, tôi thấy mùi thức ăn tỏa ra thơm lừng, đủ khiến tôi cảm thấy dễ chịu, dù bụng dạ vẫn còn uể oải.

"Tới giờ xế rồi sao?"

Tôi hốt hoảng quay ra hỏi Nhuế, đáp lại tôi là cái gật đầu của cậu.

"Đã qua giờ Mùi rồi ạ".

Không ngờ chỉ vì cơn đau mà tôi ngủ một lèo tới chiều, cũng chẳng có ai đánh thức tôi dậy, nghĩ thấy thật tội lỗi vô cùng.

Nhuế múc một bát cháo đưa cho tôi.

Tôi gật đầu, nhận lấy bát cháo, từ từ húp một ngụm.

Cảm giác ấm nóng len lỏi trong người khiến tôi bớt mệt mỏi hơn, đầu óc cũng tỉnh táo dần.

Bỗng một giọng nói the thé vang lên, không cần ngoái lại tôi cũng đoán ra được là ai.

"Giừ mi mới chịu tỉnh ngủ hả?"

Tôi cười hì hì đáp lại Diêu, bất ngờ thấy phía sau anh ta còn dẫn theo một người nữa, Diêu bảo đó tên Công, em trai ruột của anh ta.

Không ngờ Diêu còn có em ruột cũng gia nhập nghĩa quân, hẳn là gia đình anh ta cũng cống hiến cho đất nước này, lòng tôi ngưỡng mộ vô cùng.

Nhưng có gì đó lạ lùng khiến tôi khựng lại.

Mùi hương mà tôi đã cảm nhận tối hôm qua, cái mùi lạnh lẽo đó, lại thoảng trong không khí.

Chắc chắn là từ người Công.

Công không hề để ý, chỉ cúi đầu chào tôi một câu rồi bắt đầu lấy cháo cho mình.

Tôi lặng lẽ quan sát, vẫn chưa thể gạt bỏ nghi ngờ trong lòng.

Lúc đó, tôi cảm nhận rõ sự bất thường, nhưng không thể lý giải được.

Chắc chắn là một sự trùng hợp...

đúng không?
 
Back
Top Bottom