Cập nhật mới

Khác Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
178242081-256-k167149.jpg

Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Tác giả: diecnguyenvichi
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Hơn 700 năm qua đi những năm tháng ấy còn lại gì, tôi vẫn hy vọng rằng những tác phẩm của người vẫn được cất giữ cẩn thận trên giá sách của một người tâm huyết với lịch sử nào đó.

Và biết đâu đó, một ngày họ sẽ công khai bút tích của người.

Reup: Wattpad © diecnguyenvichi

Binh gia diệu lý yếu lược hay còn gọi là Binh thư yếu lược là một tác phẩm của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn về nghệ thuật quân sự, đến nay đã thất truyền.

Những cuốn sách hiện nay được xuất bản dưới tên gọi này chưa có gì kiểm chứng để chứng minh là có nguồn gốc từ tác phẩm của ông.

Ví dụ cuốn sách được in bởi nhà xuất bản Xuân Thu, Sài Gòn năm 1969, nhưng người ta cho sách này là giả mạo, vì người ta cho rằng cuốn sách của Hưng Đạo Vương đã bị quân Minh thu về Trung Quốc, như được nhắc đến trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim.

Binh thư yếu lược gồm có 4 quyển, với các chương như sau:

Quyển 1: gồm 9 chương: Thiên tượng, Kén mộ, Chọn tướng, Đạo làm tướng, Kén luyện, Quân lễ, Tuyển người làm việc dưới trướng, Đồ dùng của binh lính, Hiệu lệnh.

Quyển 2: gồm 10 chương: Hành quân, Hướng đạo, Đồn trú, Tuần canh, Quân tư, Hình thế, Phòng bị, Điểm về việc binh, Phép dùng gián điệp, Dùng cách lừa dối.

Quyển 3: gồm 7 chương: Liệu thế giặc, Quyết chiến, Đặt cờ, Dã chiến, Sơn chiến, Thủy chiến, Lâm chiến.

Quyển 4: gồm 7 chương: Đánh thành, Giữ thành, Công thành, Xông vây - ứng cứu, Lui đánh, Thắng và đặt phục, Phép nhận hạng



tranhungdao​
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Giới Thiệu


Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Quốc Tuấn có soạn một bộ sách quân sự là Binh gia diệu lý yếu lược1 để giáo dục các tướng sĩ phép dùng binh.

Lịch triều hiến chương loại chí (phần Văn tịch chí) cho biết Trần Quốc Tuấn đã soạn sách Binh gia yếu lược và sách Vạn kiếp binh thư2.

Nhiều người cho rằng Binh gia diệu lý yếu lượchay Binh gia yếu lược chỉ là một, cũng như Vạn kiếp tôn bí truyền thư hay Vạn kiếp binh thư chỉ là một.

Nhiều người lại cho rằng Binh gia yếu lượcvà Binh thư yếu lược cũng chỉ là một.

Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cho biết Binh gia yếu lược và Vạn kiếp binh thư đã thất lạc từ lâu.

Ở Thư viện khoa học xã hội hiện nay có một bộ sách chữ Hán chép tay mang ký hiệu 476 đề là Binh thư yếu lược.

Trang đầu bộ sách này ghi rõ rằng: “Binh thư yếu lược bốn quyển do Trần Hưng Đạo vương soạn, vương húy là Quốc Tuấn”.

Binh thư yếu lược mang ký hiệu 476 gồm bốn quyển.

Quyển I gồm có chín chương là: 1.

Thiên tướng, 2.

Tuyển mộ, 3.

Tuyển tướng, 4.

Tướng đạo, 5.

Giản luyện, 6.

Quân lễ, 7.

Mạc hạ, 8.

Binh cụ, 9.

Hiệu lệnh.

Quyển II có mười một chương là: 1.

Hành quân, 2.

Hướng đạo, 3.

Đồn trú, 4.

Tuần canh, 5.

Quân tư, 6.

Hình thế, 7.

Phòng bị, 8.

Xem mưa gió, 9.

Bình trưng, 10.

Dụng gián, 11.

Dụng trá.

Quyển III có bảy chương là: 1.

Liệu địch, 2.

Dã chiến, 3.

Quyết chiến, 4.

Thiết kỳ, 5.

Lâm chiến, 6.

Sơn chiến, 7.

Thủy chiến.

Quyển IV cũng có bảy chương là: 1.

Công thành, 2.

Thủ thành, 3.

Đột vây, 4.

Cứu ứng.

5.

Lui tránh, 6.

Được thua, 7.

Đầu hàng.

Trong Binh thư yếu lược, thì quyển II, quyển III và quyển IV có nhiều đoạn rút ra từ Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ3, một nho sĩ có tài kinh bang tế thế đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Phật) xây dựng cơ đồ hồi nửa đầu thế kỷ XVII ở Đường trong.

Những đoạn này, có đoạn ghi rõ là đã rút ra từ Hổ trướng khu cơ, có nhiều đoạn tuy lấy từ Hổ trướng khu cơ, song lại không có chú thích gì cả.

Ở quyển IV (Binh thư yếu lược) có mục “Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc độc”; ở Hổ trướng khu cơ cũng có mục “Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc độc”.

Nguyên văn chữ Hán ở Binh thư yếu lược cũng như Hổ trướng khu cơ đều là “Hỏa tiễn trữ độc pháp”.

Liều lượng các vị thuốc dùng để chế hỏa tiễn ở Binh thư yếu lược và ở Hổ trướng khu cơ giống hệt nhau.

Mở đầu mục “Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc độc” trong Binh thư yếu lược, có đoạn văn như sau: “Phàm ít không địch được nhiều, yếu không địch được mạnh, đó là lẽ thường.

Nhưng Binh pháp có nói: Người giỏi đánh làm thế địch không thể thắng để đợi thế địch mà mình có thể thắng.

Cho nên cầm quân ba nghìn chống giặc năm đường, phỏng ở đồng ruộng đường dài, giặc đem cả nước sang đánh, thì lấy cái gì mà chống được?

Nên dùng phép “hỏa tiễn chứa thuốc độc”.

Đoạn văn này ở Hổ trướng khu cơ lại nhắc lại nguyên văn như thế, không sai và không thiếu một chữ nào.

_______________________________

1.

Đại Việt sử ký toàn thư, t.

II, tr.

82, bản dịch của Viện Sử học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

2.

Lịch triều hiến chương loại chí, t.

IV (Văn tịch chí), tr.

120, Nhà xuất bản Sử học.

3.

Có thuyết cho Hổ trướng khu cơ do Cao Khuê, môn đệ của Đào Duy Từ, căn cứ vào những điều được Đào Duy Từ truyền thụ cho mà soạn ra.

Trong Binh thư yếu lược có mục “Phép làm súng gỗ”, trong Hổ trướng khu cơ cũng có mục “Phép làm súng gỗ”.

Trong Binh thư yếu lược có mục “Phép đốt đuốc trước gió”, trong Hổ trướng khu cơ cũng có mục “Phép đốt đuốc trước gió”, lời văn hai bên giống hệt như nhau.

Về “Bí pháp làm quả nổ”, “Bí pháp làm quả mù”, “Phép chế hỏa đồng”, “Phép chế hỏa tiễn” (tên lửa), Binh thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ cũng rất giống nhau.

Nếu kể hết những đoạn, những mục giống nhau ở Binh thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ thì nhiều lắm.

Chúng tôi chỉ đưa ra một số điểm giống nhau giữa hai bộ sách để các bạn thấy rằng giữa hai bộ sách có nhiều vấn đề cần giải quyết.

Binh thư yếu lược là sách được soạn ra từ thế kỷ XIII, còn Hổ trướng khu cơ được viết ra hồi nửa đầu thế kỷ XVII.

Thời gian ra đời của hai bộ sách có một khoảng cách đến bốn trăm năm.

Tại sao hai bộ sách có những đoạn, những mục giống nhau như lột?

Hổ trướng khu cơ đã lấy nhiều đoạn, nhiều mục trong Binh thư yếu lược, hay ngược lại?

Nếu chỉ căn cứ vào yếu tố thời gian thì chúng ta có thể suy luận rằng khi viết Hổ trướng khu cơ, Đào Duy Từ đã rút ra nhiều tài liệu từ Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn.

Nhưng nếu căn cứ vào nội dung các đoạn, các mục vừa có ở Binh thư yếu lược vừa có ở Hổ trướng khu cơ, thì chúng ta phải kết luận rằng chính Binh thư yếu lược đã lấy nhiều đoạn, nhiều mục của Hổ trướng khu cơ.

Tại sao lại như vậy?

Mục “Phép chế quả nổ” trong Binh thư yếu lược cũng như trong Hổ trướng khu cơ đều nói phép làm quả nổ là của người phương Tây.

Hồi thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, theo chân các thương nhân phương Tây, phép làm quả nổ được đem vào Việt-nam, cụ thể là đem vào Đường. trong trước.

Hồi thế kỷ XIII, trong hai lần chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Mông-cổ chưa bao giờ Trần Quốc Tuấn dùng quả nổ đánh quân xâm lược.

Hồi thế kỷ XIII chúng ta cũng chưa từng thấy quân đội nhà Trần sử dụng tên lửa (hỏa tiễn) hay tên lửa chứa thuốc độc; trong các trận đánh, chúng ta chỉ thấy quân đội nhà Trần dùng tên tẩm thuốc độc bắn quân Mông-cổ mà thôi.

Như vậy rõ ràng là mục “Phép chế quả nổ”, mục “Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc độc” cũng như ở nhiều mục, nhiều đoạn khác, đã được một nhân vật nào đó sống sau Đào Duy Từ rút ra từ Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ rồi đưa vào Binh thư yếu lược.

Đọc Binh thư yếu lược, chúng ta thấy nhiều đoạn không phải là của Trần Quốc Tuấn viết ra từ thế kỷ XIII.

Quyển 1 chương “Tuyển mộ”, mục “Trao quyền cho tướng” viết: “Các triều Đường,Tống, Minh bị thua cũng vì cớ đó, mà nhà Tống quá tệ, nhà Minh lại tệ hơn.

Người bàn về việc nhà Tống thì cho rằng bàn bạc nhiều mà thành công ít; người bàn về việc nhà Minh thì cho rằng nhà Minh mất nước, không mất ở giặc cướp mà mất ở ngay từ trong cổng ngõ, không mất ở bờ cõi, mà mất ngay từ lời can của đài quan”.

Nếu chỉ đọc đoạn trên, chúng ta có thể nghĩ rằng bộ Binh thư yếu lược còn lại cho chúng ta ngày nay đã được một người Việt-nam nào đó hồi thế kỷ XVII hay thế kỷ XVIII sửa chữa, bổ sung hay viết lại.

Chúng ta cũng nghĩ như thế khi chúng ta đọc đoạn này của Binh thư yếu lược: “Xưa kia đời vua Thành tổ nhà Minh đánh Mán Miến-điện đem ba mươi vạn quân, hơn một trăm voi đến cướp Định-viễn.

Vua Minh sai Mộc Thạnh và Anh Mã-thành đi đánh, bắt được voi đem về”.

Nhưng đen những câu sau đây, thì chúng ta lại nghĩ rằng Binh thư yếu lược đã được bổ sung hay viết lại hồi đầu thế kỷ XIX tức thời Nguyễn sơ: “Năm Kỷ dậu người Thanh sai Tổng đốc Lưỡng Quảng sang nước ta đánh giặc để khôi phục thành nhà Lê.

Quân Ngụy Tây bày voi xông trước.

Người Thanh làm cản gỗ chống ngựa1 để cản lại, đào hố để sập voi.

Chước đó rất mầu, song lại thất thủ, vì trong cái mầu có cái chưa mầu”.

Những câu sau đây cũng làm cho chúng ta nghĩ như thế: “Như xưa, Tây-sơn Nguyễn Huệ chống nhau với Thạc quận công ở bến Thúy-ái, ra quân theođường tắt mà vào kinh thành nhà Lê.

Chúa Trịnh vừa về miền Tây, thì trong phủ đã dựng cờ Tây-sơn rồi.

Năm Kỷ dậu ngày mồng 5 tháng giêng, Nguyễn Huệ chia quân làm ba đạo cùng với quân Bắc tiếp chiến, mà thủy binh tiến đậu ở sông Nhị hà, đó là mưu chẹt đường về của quân Bắc”.

__________________________________

1.

Một thứ chướng ngại vật chữ Hán là mộc mã, dùng để cản đường tiến của voi, ngựa.

Những tài liệu kể trên cho phép chúng ta bước đầu kết luận rằng: Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn đến đầu thế kỷ XIX đã được một nho sĩ am hiểu quân sự, yêu khoa học quân sự, sửa chữa và bổ sung nhiều.

Nho sĩ ấy đã đọc nhiều binh thư của Trung-quốc, đã đọc Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, rồi trên cơ sở các tri thức về quân sự của mình, nho sĩ ấy đã sửa chữa và bổ sung Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn.

Vì vậy Binh thư yếu lược là sách do Trần Quốc Tuấn làm ra từ thế kỷ XIII, mà lại có những đoạn nói về cuộc xâm lược của quân Minh đối với Miến-điện, có đoạn nói về cuộc đấu tranh võ trang chống quân Thanh xâm lược do vua Quang Trung lãnh đạo, lại có đoạn nói về những việc xảy ra ở đời Tự-đức.

Kết luận như vậy, tất có người nói: Thế thì tại sao khi soạn Lịch triều hiến chương loại chí hồi thế kỷ XIX, Phan Huy Chú lại nói rằng Binh thư yếu lượccủa Trần Quốc Tuấn không còn nữa?

Chúng ta đều biết rằng thời Phan Huy Chú biên soạn Lịch triều hiến chương loại chí là thời nước Việt-nam mới tạm thời ổn định một phần nào1, sau một thời loạn lạc kéo dài.

Rất có thể dưới tay Phan Huy Chú, Binh thư yếu lược không còn nữa, nhưng ở một nơi nào đó, cụ thể là ở một tủ sách cửa gia đình một nho sĩ nào đó, Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn có thể vẫn còn hoặc là toàn bộ hoặc là một phần.

Tình hình này có thể có được ở một số nước mà đường giao thông liên lạc khó khăn như nước Việt-nam hồi đầu thế kỷ XIX.

Nho sĩ yêu Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn, đã đem bộ sách này sửa chữa và bổ sung trên cơ sở những tri thức về khoa bọc quân sự của ông.

Do đó, Binh thư yếu lược tuy mang tên Trần Quốc Tuấn, vị danh tướng sống vào hồi thế kỷ XIII, mà lại có cả các đoạn trong Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, và các cuộc chiến tranh xảy ra hồi thế kỷ XV, thế kỷ XVI, thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII.

Đến đây, một vấn đề cần được đặt ra và giải quyết: Trong bộ Binh thư yếu lược mà hiện nay chúng ta có, chỗ nào là của Trần Quốc Tuấn, chỗ nào không phải là của Trần Quốc Tuấn?

Đọc Binh thư yếu lược, chúng tôi thấy có chỗ đã gọi rõ rằng đã lấy từ Hổ trướng khu cơ, có chỗ tuy không ghi là lấy từ Hổ trướng khu cơ, nhưng đọc Hổ trướng khu cơ, chúng ta thấy chỗ ấy có trong tác phẩm của Đào Duy Từ.

Những chỗ như thế dứt khoát không phải là của Trần Quốc Tuấn.

Cũng không phải là của Trần Quốc Tuấn những đoạn chép về các sự kiện xảy ra về các đời Minh, đời Thanh, hay đời Tây-sơn.

Như vậy không có nghĩa là những đoạn khác trong Binh thư yếu lược là của Trần Quốc Tuấn cả.

Chúng tôi cho rằng có thể là của Trần Quốc Tuấn trước hết những đoạn rút ra từ phép dùng binh của Tôn Vũ và Ngô Khởi.

Cũng là của Trần Quốc Tuấn những đoạn mà tư tưởng phù hợp với tư tưởng của ông đã trình bày trong Hịch tướng sĩhay với lời của ông nói với vua Trần Anh-tôn khi nhà vua đến thăm ông ở nhà riêng tại Vạn-kiếp hồi tháng Tám năm Kỷ hợi (1300).

Chúng ta đều biết rằng tháng Tám năm Kỷ hợi, Trần Quốc Tuấn bị bệnh nặng, vua Trần Anh-tôn thân đến nhà riêng của ông để thăm ông và hỏi ông về kế sách giữ nước.

Trần Quốc Tuấn có nói với vua Anh-tôn như sau: “Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại trường trận là việc thường trong binh pháp.

Nhưng cần phải xét: Nếu thấy quân giặc tràn sang như gió như lửa, thì thế giặc có thể dễ dàng chống cự được; nếu giặc dùng cách chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay, thì mình phải dùng tướng giỏi, phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ tùy thời cơ mà ứng biến cho đúng, làm thế nào thu hút được quân lính, như cha con một nhà mới có thể dùng để chiến thắng được.

Và phải khoan dùng sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn”.

Phải “thu hút được quân lính như cha con một nhà”, “phải khoan dùng sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc”, những tư tưởng đó hoàn toàn phù hợp với những tư tưởng sau đây của Binh thư yếu lược: “Dùng trí để phục thiên hạ, mà thiên hạ phải phục trí, nhưng trí vẫn không thắng; dùng pháp (luật) để chế thiên hạ, mà thiên hạ phải theo pháp (luật), nhưng pháp (luật) cũng không thần.

Vậy trí với pháp (luật) không phải là cái hay ở trong cái hay vậy.

Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận.

Nhẹ nhàng như mưa rơi ở trên không, dựng nên cuộc đời vô sự”.

“Hòa mục có công hiệu rất lớn cho cuộc trị an.

Hòa ở trong nước thì ít dụng binh; hòa ở ngoài biên thì không sợ có báo động; bất đắc dĩ mới phải phạt kẻ làm xằng.

Vua tôi hòa mục thì dùng được người tài; các tướng văn tướng võ hòa mục thì làm nên công nghiệp.

Tướng sĩ hòa mục khi được ban thưởng sẽ nhường nhịn nhau, nguy nan sẽ cứu nhau.

Đó, hòa mục là một đạo rất hay cho việc trị nước, hành binh, không bao giờ đổi được”.

Những ý kiến trên đây của Trần Quốc Tuấn biểu thị rằng ông không những là một nhà quân sự lớn, mà còn là một nhà chính trị lớn.

Đó là nhà kinh bang tế thế vậy.

Khi vạch ra những nguyên tắc hành động của viên tướng tổng chỉ huy, Trần Quốc Tuấn xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa.Nhân nghĩa là mục đích của đời người cũng tức là mục đích của viên tướng, viên tướng phải đấu tranh cho chính nghĩa, đấu tranh vì lợi ích của nhân dân: “Khí lượng của tướng lớn nhỏ khác nhau.

Tướng mà che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến sự quân chúng oán ghét, tướng ấy chỉ huy mười người.

Tướng mà sớm dậy khuya nằm, lời lẽ kín đáo, tướng ấy chỉ huy được trăm người.

Tướng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh đó là tướng chỉ huy được nghìn người.Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét, đó là tướng chỉ huy được vạn người.

Tướng mà gần người, tiến người tài, ngày thường cẩn thận, thành thực rộng rãi, giỏi việc dẹp loạn, đó là tướng chỉ huy được mười vạn người.

Tướng mà dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa để phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết việc người, coi bốn biển như một nhà, đó là tướng chỉ huy được cả thiên hạ không ai địch nổi”.

Ở đây, tác giả Binh thư yếu lược đã vượt hẳn khuôn khổ một viên tướng tổng chỉ huy, mà trở thành một nhân vật có tài kinh bang tế thế, ở triều đình thì là tướng văn, ở ngoài mặt trận là tướng võ kiểu như Gia Cát Lượng vậy.

___________________________________

1.

Chúng tôi nói “tạm thời ổn định một phần nào” vì suốt thời gian từ Gia Long, qua Minh Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra.

Giai cấp đại quý tộc đời Trần thường biết đoàn kết với nhau.

Ở những phương diện nhất định, lợi ích của giai cấp đại quí tộc nhất trí với lợi ích của nhân dân.

Vua và các vương hầu đều chú ý đến nông nghiệp, công nghiệp.

Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp nhờ vậy mà phát triển.

Tình hình trên cũng thấy phản ánh trong Binh thư yếu lược: “Thương người, dốc chí làm việc thì được sự yêu mến.

Nghe lời nói phải, xa kẻ gièm pha, thì người xa đến với mình.

Đo tính trước sau rồi mới làm, đó là đề phòng khi có biến cố.

Có tội phải răn, có công phải thưởng mới có thể uốn nắn được người.

Thông việc trước, suốt việc sau mới có thể giáo dục được quân chúng.

Rẻ sắc đẹp, trọng con người mới được lòng dân.

Bỏ lợi tư theo lợi chung mới giữ được nước”.

“Thanh liêm của cải, tiết kiệm tiêu dùng, ít say về rượu, giữ mình theo lễ, thờ bề trên cho trung, có việc lo chung với quân chúng, lấy của địch mà không tích trữ (cho mình), bắt phụ nữ địch mà không lưu dùng (cho mình)”.

Trần Quốc Tuấn thương yêu tướng sĩ, luôn luôn săn sóc đến đời sống của tướng sĩ.

Trong Hịch tướng sĩ ông tuyên bố: “Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương ít thì ta tăng, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười”.

Tinh thần đồng cam cộng khổ này của Trần Quốc Tuấn cũng thấy biểu hiện trong Binh thư yếu lược: “Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc đến chữa, trong quân có người chết, tướng phải thương xót, đau buồn, quân đi thú xa, thì (tướng) phải sai vợ con đến thăm hỏi.

Phàm có khao thưởng thì phải chia đều có quan và quân.

Khi có cất đặt chức vị gì, thì phải họp cả tướng tá lại để bàn.

Mưu đã định rồi mới đánh giặc; cho nên tướng với quân có cái ơn hòa rượu và hút máu1.

Trần Quốc Tuấn hiểu rõ rằng không tranh thủ được sự đồng tình của các tướng sĩ, thì không thể động viên các tướng sĩ đánh giặc được.

Như chúng ta đều biết, Yết Kiêu, Dã Tượng là gia nô của Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão là gia khách của ông.

Yết Kiêu, Dã Tượng, cũng như Phạm Ngũ Lão đều hăng hái chiến đấu chống quân Mông-cổ, và đều lập được nhiều chiến công quan trọng.

Họ đã vì Trần Quốc Tuấn mà quên mình chiến đấu.

Yết Kiêu, Dã Tượng và Phạm Ngũ Lão sở dĩ gắng sức ở nơi trận mạc, một phần là vì họ yêu nước, nhưng một phần khác cũng vì họ được Quốc Tuấn đãi ngộ như cha với con.

Việc quan tâm đến đời sống của các tướng sĩ cũng thấy biểu hiện trong Binh thư yếu lược: “Cho nên quân sĩ có cái vui mổ trâu, nấu rượu, cái khí thế ném đá vượt rào, họ yêu mến tướng như con em yêu mến cha anh, như chân tay giữ gìn đầu mắt, không ai có thể ngăn nổi họ.

Nếu đối xử khắt khe làm cho họ đau khổ, bắt họ làm những công việc quá nặng nhọc thì tiếng oán thù không sao cho hết.

Tướng mà coi quân sĩ như cỏ rác, thì quân sĩ coi tướng như cừu thù.Mong cho họ sung vào hàng ngũ cũng còn khó, còn mong gì họ gắng sức đánh giặc nữa.

Đó là cái chước lớn của tướng soái để vỗ về quân sĩ vậy”.

Căn cứ vào Tôn Vũ và Ngô khởi, Binh thư yếu lược vạch ra cái đạo của người làm tướng, đạo này có tám điều phải tránh là: 1.

Lòng tham không đáy, 2.

Giết người hiền ghen người tài, 3.

Tin lời gièm ưa lời nịnh, 4.

Biết người mà không biết mình, 5.

Do dự không quả quyết, 6.

Hoang dâm tửu sắc, 7.

Dối trá và lòng thì nhát sợ, 8.

Nói bậy mà không giữ lễ độ.

Những ý kiến trên cũng có thể là của Trần Quốc Tuấn.

Tại sao chúng ta có thể biết như vậy được?

Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn viết rằng: “Nay ta đọc hết các sách binh pháp của các danh gia và soạn thành một quyển gọi là Binh thư yếu lược.

Nếu các ngươi chuyên tập sách này theo lời dạy bảo thì mới phải đạo thần tử.

Nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, thì tức là kẻ thù nghịch”.

Các sách binh pháp của các danh gia là những sách nào?

Các danh gia ấy là những ai?

Đọc Binh thư yếu lược, chúng ta thấy những sách ấy chủ yếu là Vũ kinhhay Vũ thư của Trung quốc trong đó có sách Tôn Tử hay Tôn Tử binh pháp hay Binh pháp của Tôn Vũ đời Xuân Thu.

Còn các danh gia nói đây chủ yếu là Tôn Vũ và Ngô Khởi, hai nhà quân sự đại tài thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Chúng ta có thể nói tư tưởng quân sự trong Binh thư yếu lượcchủ yếu là tư tưởng của Tôn Vũ và Ngô Khởi mà Trần Quốc Tuấn muốn đem vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh Việt-nam hồi thế kỷ XIII.

Xét như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng những đoạn trích dẫn và bình luận ý kiến của Tôn Vũ và Ngô Khởi trong Binh thư yếu lược là của Trần Quốc Tuấn, một nhà chính trị kiêm quân sự thiên tài đã sở đắc rất nhiều ở binh pháp Tôn Ngô, và đã đem những điều sở đắc của mình giáo dục cho các tướng sĩ ở dưới quyền tiết chế của ông.

Giả thuyết trên sẽ có giá trị, nếu có ngày chúng ta chứng minh được rằng ý kiến của Phan Huy Chú, tác gia Lịch triều hiến chương loại chí là không đúng sự thật.

__________________________________

1.

Sách Hoàng Thạch Công chép rằng: Có một vị tướng tài có một vò rượu ngon do một người đến biếu, ông đem vò rượu ấy đổ xuống sông hòa với nước, rồi cho tướng sĩ đến dòng nước mà uống.

Ba quân đều được uống rượu, vì vậy ai nấy đều gắng sức chiến đấu.

Ngô Khởi nổi tiếng là người giỏi dùng binh.

Có người lính có cái nhọt đang nung mủ, Ngô Khởi ghé mồm vào nhọt mà hút máu mủ.

Người lính cảm động, càng ra sức chiến đấu (Binh thư yếu lược).

Trong trường hợp Binh thư yếu lược cũng tức Binh gia diệu lý yếu lược của Trần Quốc Tuấn quả thật không còn nữa như Phan Huy Chú đã nói trong Lịch triều hiến chương loại chí, thì quyển Binh thư yếu lược mang ký hiệu 476 của Thư viện khoa học xã hội sẽ là sách thế nào?

Quyển Binh thư yếu lược này, chúng tôi nghĩ rằng có lẽ do một nho sĩ am hiểu khoa học quân sự, nắm được nhiều tri thức quần sự của Việt-nam và của Trung-quốc soạn ra.

Theo cái phong thái thác cổ vẫn lưu hành ở Việt-nam và Trung-quốc xưa, nho sĩ ấy đã mượn tên sách của Trần Quốc Tuấn đặt cho tên sách của mình nhằm tăng thêm uy tín của tác phẩm của mình đối với người đọc.

Cũng có thể đầu tiên sách chỉ mang tên Binh thư yếu lược thôi, nhưng sau đó một người nào đó lại thêm máy chữ “Binh thư yếu lược bốn quyển do Trần Hưng Đạo vương soạn, vương húy là Quốc Tuấn”.

Chúng tôi sở dĩ viết như thế là vì trong Lịch triều hiến chương loại chíkhông có sách nào của Trần Quốc Tuấn gọi là Binh thư yếu lược, mà chỉ có sách Binh gia diệu lý yếu lược hay Binh gia yếu lược1 mà thôi.

Có thể một nho sĩ nào đó đã viết một quyển sách quân sự rồi đặt cho tên sách của mình cái tên gần giống tên sách của Trần Quốc Tuấn, rồi người sau đó, sau khi đã sửa chữa và bổ sung Binh thư yếu lược, mới thêm mấy chữ “Binh thư yếu lượcbốn quyển do Trần Hưng Đạo vương soạn, vương húy là Quốc Tuấn” như chúng tôi đã nói ở trên...

Tất cả đều là giả thuyết, ức thuyết.

Chưa thể có kết luận khẳng định dứt khoát ai là tác giả thật sự bộ Binh thư yếu lược mang ký hiệu 476 của Thư viện khoa học xã hội.

Nhưng dù thế nào đi nữa, bộ Binh thư yếu lược vẫn là bộ sách quân sự quý của chúng ta.

Tác phẩm quân sự chúng ta có rất ít.

Cho đến nay, có lẽ chúng ta mới có hai tác phẩm là Binh thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ.

Hổ trướng khu cơ là tác phẩm nặng về mặt thực hành hơn là mặt lý luận quân sự.

Duy có Binh thư yếu lược vừa chú ý đến mặt lý luận vừa chú ý đến mặt thực hành, do đó, nó có thể là bộ sách quân sự đầu tiên của dân tộc Việt-nam đã tổng kết được các kinh nghiệm quân sự của Việt-nam từ xưa cho đến thời Nguyễn sơ.

Hiện nay ở miền Bắc chúng ta đang có phong trào học tập truyền thống dân tộc.

Chúng ta có nhiều truyền thống ưu tú của dân tộc, trong các truyền thống ưu tú ấy, thì truyền thống đấu tranh quân sự của dân tộc chúng ta đáng được đặc biệt chú ý.

Truyền thống đấu tranh quân sự của dân tộc Việt-nam dưới thời phong kiến cụ thể như thế nào?

Chúng tôi có thể nói truyền thống đó một phần quan trọng đã được đúc kết trong Binh thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ.

Viện Sử học cho dịch Binh thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ và cho xuất bản, chính là mang muốn đáp ứng trong muôn một yêu cầu học tập truyền thống đấu tranh quân sự của cán bộ và nhân dân.

Hà-nội, tháng 11 năm 1968

VĂN TÂN

Viện Sử học
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Tiểu Sử Trần Quốc Tuấn


Trần Quốc Tuấn là con An-sinh vương Trần Liễu và là cháu gọi vua Trần Thái tôn bằng chú ruột.

Ông sinh vào khoảng năm 1226, 1227, 1228 hoặc 1229 gì đó, nguyên quán ông ở làng Tức-mặc, huyện Mỹ-lộc, tỉnh Nam-định, nay thuộc tỉnh Nam-hà.

Khi quân Mông-cổ sang xâm lược nước ta lần thứ nhất (1257), ông tham gia cuộc kháng chiến.

Năm 1283 khi quân Mông-cổ sắp sửa mở cuộc xâm lược lần thứ hai vào nước Đại Việt, Trần Quốc Tuấn được cử làm Quốc công Tiết chế toàn bộ quân đội của nhà Trần.

Đầu năm 1285, năm mươi vạn quân Mông-cổ do Thoát Hoan chỉ huy từ biên giới tỉnh Quảng-tây đánh vào nước Đại Việt, trong khi ấy mười vạn quân Mông-cổ khác do Toa-đô chỉ huy từ Chiêm-thành tiến ra Bắc.

Thế giặc quá mạnh, triều đình phải bỏ Thăng-long, rút vào Thanh-hóa.

Ở những nơi quân giặc chiếm đóng, nhân dân làm vườn không nhà trống.

Tức giận, quân giặc đi đến đâu cướp phá và giết chóc nhân dân đến đấy.

Vua Trần Nhân tôn lo sợ, hỏi Trần Quốc Tuấn: “Hay ta tạm hàng để cứu muôn dân?”

Quốc Tuấn khảng khái trả lời: “Nếu bệ hạ muốn hàng, trước hết hãy chém đầu thần đi đã”.

Để giáo dục cho các tướng sĩ phép dùng binh đánh giặc giữ nước, Trần Quốc Tuấn đã căn cứ vào các sách binh pháp của Tôn Vũ và Ngô Khởi mà soạn ra sách Binh gia diệu lý yếu lược hay Binh thư yếu lược.

Ông lại viết Hịch tướng sĩ để khích lệ lòng yêu nước và chí căm thù của các tướng sĩ đối với quân xâm lược.

Do chiến lược, chiến thuật đúng đắn của Trần Quốc Tuấn, do tinh thần quyết chiến của quân đội, đầu Tháng Năm năm Ất dậu (1285), quân đội nhà Trần đánh bại quân của Toa-đô ở cửa Hàm-tử làm cho Toa-đô phải đem tàn quân chạy về cửa biển Thiên-trường.

Ngay sau đó, Trần Quốc Tuấn lại nhanh chóng tập trung quân đội, bất ngờ đánh vào căn cứ giặc ở Chương-dương, và đã tiêu diệt hầu hết quân Mông-cổ đóng ở đấy.

Thoát Hoan thấy Chương-dương bị đánh, vội cho quân từ Thăng-long đến cứu viện Chương-dương.

Quân Mông-cổ vừa rời khỏi Thăng-long được một quãng, thì bị quân phục kích của Trần Quốc Tuấn đổ ra chặn đánh và tiêu diệt.

Được tin Chương-dương bị hạ, viện binh bị diệt, Thoát Hoan hoảng sợ, vội cùng với bọn A-thích mang quân Mông-cổ vượt sông Hồng chạy sang các căn cứ quân Mông-cổ ở miến đất là tỉnh Hà-bắc ngày nay.

Sau khi đại thắng ở Chương-dương, và đuổi Thoát Hoan ra khỏi Thăng-long, Trần Quốc Tuấn mang quân quay lại tiêu diệt lộ quân của Toa-đô ở Tây-kết, và đến cuối tháng Năm năm Ất dậu (1285), quân Trần lại đại thắng ở Tây-kết, nguyên soái Toa-đô bị chém đầu ngay tại trận, Ô-mã-nhi sợ hãi phải chạy vào Thanh-hóa.

Quân Trần thừa thắng truy kích, bắt sống được mấy vạn quân Mông-cổ.

Các trận thắng trên buộc Thoát Hoan và toàn bộ quân Mông-cổ phải rút lui.

Nhưng trên đường rút về Trung-quốc quân Mông-cổ bị quân đội của Trần Quốc Tuấn phục kích, và bị chết rất nhiều.Thoát Hoan phải chui vào một cái thùng đồng mới trốn được về Trung-quốc..

Năm Đinh hợi (1287) quân Mông-cổ do Thoát Hoan chỉ huy lại xâm lược nước Đại Việt lần thứ ba.

Vua Trần Nhân tôn hỏi ý kiến Trần Quốc Tuấn, Quốc Tuấn tuyên bố: “Bây giờ quân ta đã quen chiến đấu, quân giặc từ xa đến mỏi mệt, và chúng còn đang khiếp sợ về những trận thua trước, mất cả nhuệ khí...

Năm nay đánh giặc có phần dễ hơn trước”.

Đầu năm Đinh hợi (1287), quân Mông-cổ dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan, do hai đường thủy và bộ kéo vào xâm lược nước Đại Việt.

Trần Quốc Tuấn lại ra lệnh cho quân đội rút lui chiến lược.

Quân Mông-cổ lại chiếm được Chi-lăng, Khả-ly, Chí-linh, Vạn-kiếp, Tam-đái-giang (Việt-trì), Thăng-long... quân đội nhà Trần lại đóng rải rác ở nhiều nơi, nhân dân lại làm vườn không nhà trống.

Trần Quốc Tuấn lại cho quân du kích ngày đêm quấy rối các vị trí của quân Mông-cổ.Quân Mông-cổ bị hãm vào cảnh thiếu lương thực.

Ngày đêm chúng chỉ còn việc cố thủ các vị trí để chờ các đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ có trách nhiệm mang đến cho chúng.

Nhưng đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã bị Trần Khánh Dư phá sạch ở Vân-đồn...

Được tin đoàn thuyền lương bị phá, Thoát Hoan lại quyết định cho toàn bộ quân Mông-cổ theo hai đường thủy bộ rút lui về Trung-quốc.

Trần Quốc Tuấn đã dự đoán nước cờ đó của Thoát Hoan, và ông đã cho quân đi bố trí phục kích tại các đường thủy, đường bộ mà quân Mông-cổ tất phải đi qua trên đường về nước.

Tháng Ba năm Mậu tý (1288) trận phục kích quy mô nổi tiếng trong lịch sử đã diễn ra ở sông Bạch-đằng, kết quả 500 chiến thuyền Mông-cổ bị đánh đắm hoặc bị bắt, hơn ba vạn quân giặc bị giết, bị bắt, bị chết đuối, Ô-mã-nhi và Tích-lệ-cơ ngọc bị bắt sống...

Được tin toàn bộ quân Mông-cổ bị phá ở sông Bạch-đằng, Thoát Hoan sợ cuống quít, y vội ra lệnh cho toàn quân rút lui về nước.

Trên đường chạy trốn, quân Mông-cổ lại bị quân đội của Trần Quốc Tuấn phục kích, và bị chết rất nhiều.Thoát Hoan phải do đường huyện Đan-kỷ (Lạng-sơn) chạy sang Lộc-châu rồi theo thung lũng sông Lục-ngạn, qua các địa điểm Biển-động, An-châu, Đình-lạp đê vượt biên giới chạy về Tư-minh (Trung-quốc).

Do có nhiều công lao đánh giặc cứu nước, Trần Quốc Tuấn được phong tước Hưng-đạo đại vương, vì vậy người ta thường gọi ông là Trần Hưng Đạo.

Tháng Tám năm Kỷ hợi (1300), Trần Quốc Tuấn bị bệnh nặng ở Vạn-kiếp, và đến ngày 15 tháng Tám thì ông từ trần tại nhà riêng.

Trước khi Quốc Tuấn sắp từ trần, vua Trần Anh-tôn có đến nhà riêng của ông ở Vạn-kiếp để hỏi ông về kế sách giữ nước.

Nhân dịp này, Quốc Tuấn có trình bày với vua Anh-tôn về chiến lược đánh giặc giữ nước khi đất nước bị xâm lăngnhư chúng tôi đã nói ở phần “Giới thiệu”.

Chiến lược, chiến thuật của Trần Quốc Tuấn có thể tóm tắt như sau:

Nước Đại Việt nhỏ và yếu hơn nước Đại Nguyên của Mông-cổ, vì vậy phải “lấy đoản binh mà chống trường trận” tức phải lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, khi quân giặc mới đến, thế chúng còn mạnh, thì ta rút lui để bảo toàn lực lượng, nhủ cho giặc vào sâu và dàn mỏng lực lượng ra nhiều nơi chờ khi nào có điều kiện thuận lợi mới phản công; khi ta rút lui, ta cũng phải chủ động khiến cho giặc “muốn đánh mà không đánh được”.

Với chiến thuật vườn không nhà trống, với chiến tranh nhân dân, giặc không thể cướp được lương thực của nhân dân, và luôn luôn bị dân quân du kích đánh phá, quấy rối, cắt đường tiếp tế.

Tinh thần quân giặc do đó tất phải giảm sút.

Lúc ấy quân ta mới phản công, cắt hẳn đường liên lạc, tiếp tế của giặc, phục kích, tập kích giặc, dùng vận động chiến thần tốc đánh vào các căn cứ quan trọng của giặc, buộc giặc phải rút lui về nước, và trên đường giặc rút lui, ta phục kích tiêu điệt chúng.

Với chiến lược và chiến thuật trên, Trần Quốc Tuấn đã hai lần đánh bại quân Mông-cổ đã từng tung hoành, bách chiến bách thắng ở châu Á, châu Âu.

Khi vạch cho vua Trần Anh-tôn kế sách giữ nước, Trần Quốc Tuấn lại nhấn mạnh rằng “phải khoan dùng sức dân để làm cái sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước, không còn gì hơn”.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Tiểu Sử Đào Duy Từ - Thuyết Minh Về Bản Dịch


Đào Duy Từ sinh vào khoảng năm 1572 ở xã Hoa-trai, huyện Ngọc-sơn (nay là huyện Tĩnh-gia) tỉnh Thanh-hóa, cha là Đào Tá Hán, mẹ là người họ Nguyễn.

Ông thông minh, và học rộng biết nhiều.

Ông đi thi hương ở Thanh-hóa.

Hiến ty cho Đào Duy Từ là con nhà phường chèo, gạch bỏ tên không cho vào thi.

Ông buồn bực quay về, căm giận chế độ vô lý của họ Trịnh lúc bấy giờ.Một hôm ông nói với bạn rằng: “Tôi nghe chúa Nguyễn hùng cứ đất Thuận-quảng, làm nhiều việc ân đức, lại có lòng yêu kẻ sĩ, trọng người hiền...

Nếu ta theo vào giúp thì chẳng khác gì Trương Lương về Hán, Ngũ Viên sang Ngô, có thể làm tỏ rạng thanh danh, ta không đến nỗi phải nát cùng cây cỏ, uổng phí một đời...”.

Rồi mùa đông năm Ất sủu (1627), Duy Từ trốn được vào xứ Đường trong.

Đầu tiên ông ở huyện Vũ-xương hơn một tháng để nghe ngóng tình hình.Sau biết khám lý Hoài-nhân là Trần Đức Hòa là người có mưu trí được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng, Duy Từ vào Hoài-nhân.

Ông đi ở chăn trâu cho một phú ông ở xã Tùng-châu.Phú ông thấy Duy Từ học rộng tài cao, biết ông không phải là người thường, liền đem nói với Trần Đức Hòa.

Đức Hòa cho gọi Duy Từ đến hỏi chuyện.

Thấy Duy Từ không gì là không thông hiểu, Đức Hòa giữ ông lại rồi gả con gái cho.

Duy Từ đem bài “Ngọa long cương” của ông đưa cho Đức Hòa xem,.

Đức Hòa xem bài “Ngọa long cương” và nói: “Đào Duy Từ là Ngọa-long1 đời này chăng?”.

Một hôm, Trần Đức Hòa đem bài “Ngọa long cương” cho Nguyễn Phúc Nguyên xem, và nói: “Bài này là do thầy đồ của nhà tôi là Đào Duy Từ làm”.

Đọc bài “Ngọa long cương” Nguyễn Phúc Nguyên biết Đào Duy Từ là người có chí lớn, liền cho gọi Duy Từ đến.

Mấy hôm sau, Đào Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Nguyễn Phúc Nguyên.

Lúc ấy Phúc Nguyên đang mặc áo trắng, đứng ở của nách.

Thấy thế, Duy Từ dừng lại, không vào.

Phúc Nguyên hiểu ý, trở vào, mặc áo đội mũ chỉnh tề rồi ra đón Duy Từ vào nói chuyện.

Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời.

Phúc Nguyên mừng lắm, hỏi: “Sao khanh đến muộn thế?”.

Liền ngay đó Phúc Nguyên trao cho Duy Từ chức Nha úy nội tán, tước Lộc khê hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngoài, tham lý quốc chính.

Từ đấy Duy Từ nói gì chúa Nguyễn cũng nghe.Ông bày mưu vạch kế giúp chúa Nguyễn làm nên nhiều việc lớn.

Chúa Nguyễn thường nói với mọi người: “Đào Duy Từ thật là Tử Phòng (Trương Lương) và Khổng Minh (Gia Cát Lượng) ngày nay”.

Tháng ba năm Canh ngọ (1630), Duy Từ khuyên chúa Nguyễn đắp lũy Trường-dục từ núi Trường-dục đến phá Hạc-hải nhằm ngăn chặn quân Trịnh ngược dòng sông Nhật-lệ vào đánh xứ Đường trong.

Năm Tân mùi (1631), theo lời Đào Duy Từ, chúa Nguyễn lại cho đắp một cái lũy nữa kiên cố hơn, dài 18 ki-lô-mét bắt đầu từ núi Đâu-mâu qua cửa biển Nhật-lệ, rồi men theo sông Lệ-kỳ và sông Nhật-lệ tiến lên phía đông bắc đến làng Đông-hải.

Nhờ có hai cái lũy trên, chúa Nguyễn đã ngăn chặn được các cuộc tiến công của quân Trịnh trong một thời kỳ dài.

Tháng chín năm Canh ngọ (1630), theo đề nghị của Đào Duy Từ, Nguyễn Phúc Nguyên cho mở cuộc tấn công vào châu Nam Bố-chánh, và chiếm được châu này.

Tháng mười năm Giáp Tuất(1634), Duy Từ bị bệnh nặng rồi mất, thọ 63 tuổi.

Đào Duy Từ chỉ làm quan với chúa Nguyễn có tám năm.

Nhưng trong tám năm đó, ông đã xây dựng cho họ Nguyễn một cơ sở xã hội vững chắc, và một quân đội hùng mạnh.

Nguyễn Hữu Tiến, một viên tướng có tài của chúa Nguyễn, là con rể Đào Duy Từ do Đào Duy Từ tiến cử lên chúa Nguyễn.

Hổ trướng khu cơ là tác phẩm do Đào Duy Từ soạn ra để dạy các tướng sĩ của xứ Đường trong.

Đó là tác phẩm quân sự đuy nhất của Việt-nam còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Xứ Đường trong sở dĩ có quân hùng tướng mạnh, một phần là do công lao của Đào Duy Từ.

Đào Duy Từ, vì vậy, được coi là Đệ nhất khai quốc công thần của họ Nguyễn và được thờ ở nhà Thái miếu.

_____________________________________

1.

Ngọa Long là biệt hiệu của Khổng Minh Gia Cát Lượng.

THUYẾT MINH VỀ BẢN DỊCH

Những binh thư của Trung-quốc mà sách này trích lục trước hết là bộ Võ kinh gồm bảy phần như sau:

Sách Tôn tử hay Tôn tử binh pháp, có khi gọi tắt là Binh pháp, do Tôn Vũ thời Xuân thu, tướng của Ngô Hạp Lư soạn.

Theo Sử ký thì sách này có 13 thiên.

Đỗ Mục đời Đường nói rằng sách của Tôn Vũ nguyên có đến vài mươi vạn chữ, sau Tào Tháo bỏ bớt đi mà thành bản ngày nay.

Sách Ngô tử do Ngô Khởi tướng của nước Sở thời Chiến quốc soạn.

Lục Mỹ Thanh đời Đường chia sách ấy làm 6 thiên, tức là bản thông hành ngày nay.

Sách Lục thao, đầu thời chiến quốc đã có tên sách, bản cũ đề là của Lã Vọng nhà Chu, nhưng là sách đời sau giả thác, tác giả ở vào khoảng trước đời Đường.

Sách Tư mã pháp, một sách binh pháp đời xưa, đề là của Tư-mã Nhương Thư nước Tề soạn, nhưng không chắc đúng.

Sách Tam lược, người đời sau soạn mà giả thác là của Hoàng Thạch công trao cho Trương Lương là công thần khai quốc của nhà Hán.

Sách Uất liệu tử, do Uất Liệu đời Chu soạn.

Sách Lý vệ công vấn đối, do học trò của Lý Tĩnh ghi chép những lời vấn đáp của Đường Thái tông với tướng là Lý Tĩnh mà thành.

Ngoài ra Binh thư yếu lược còn trích lục các sách:

Vũ kinh tổng yếu, do bọn Tăng Công Lượng và Đinh Độ đời Tống soạn, chép những binh pháp của đời xưa và những mưu kế phương lược của nhà Tống, gồm 40 quyển.

Hổ kiểm kinh, do Hứa Động đời Tống soạn, gồm 20 quyển.

Thúy vi bắc chinh lục, do Hoa Nhạc đời Tống soạn, gốm 20 quyển.

Vũ bị chí, do Mao Nguyên Nghi đời Minh soạn, gồm 19 quyển.

Vũ bị chế thắng chí, do học trò của Mao Nguyên Nghi soạn, gồm 31 quyển.

Kinh thế, tức là Kinh thế bát loại toàn biên, do Trần Nhân Tích đời Minh soạn, trong ấy có phần “Binh tào” từ quyển 63 đến quyển 83.

Hồng vũ đại định, không rõ tên tác giả, hiện Thư viện khoa học trung ương chỉ có một tập sách chép tay nhỏ gồm 6 thiên đề là Hồng vũ đại định binh thư lược biên.

Theo tên sách thì sách này thuộc đời Minh.

Hồng vũ là niên hiệu của Minh Thái tổ.

Sách Bảo giám thì chúng tôi không tìm thấy, trong thư mục của Tứ khố toàn thư đề yếu của Trung quốc chỉ thấy có sách Tướng giám (gương làm tướng) ghi chép sự trạng của những người hành quân giỏi của Trung quốc từ xưa, bắt đầu từ Tôn Vũ, cuối cùng là Quách Sùng Thao đời Hậu Đường.

Còn bốn tác phẩm khác mà chúng tôi không tìm thấy ở Hà-nội là: Binh chế, Vạn cơ chí, Yên thủy thần kinh, Hành quân tu tri, không hiểu tác giả là ai và nội dung là thế nào.

Về tác phẩm Việt nam, thì Binh thư yếu lượctrích dẫn sách Binh lược và trích lục gần hết sách Hổ trướng khu cơ.

Sách Binh lược thì chúng tôi không tìm thấy, nhưng đoán là sách Việt nam về đời Nguyễn, là vì thấy nó dẫn những việc thuộc lịch sử Việt nam từ cuộc xâm lược của quân Minh đến cuộc khởi nghĩa Tây sơn.

Ngoài ra còn có tài liệu của Bộ Binh triều Nguyễn.

Sách Hổ trướng khu cơ theo Đại nam thực lục chính biên là do Đào Duy Từ soạn ra hồi nửa đầu thế kỷ XVII.

Hiện nay ở Hà-nội chỉ có một bản Binh thư yếu lược chép tay của Thư viện khoa học xã hội, gồm 4 quyển, đề là Trần Hưng Đạo vương soạn(!), không có tựa, chữ viết xấu, lại do nhiều người chép (xem nét chữ khác nhau), nhiều chữ sai, cũng có không ít chỗ sót.

Trước khi phiên dịch, chúng tôi phải làm công việc hiệu đính bản chữ Hán.

Về những đoạn văn trích lục ở các binh thư Trung-quốc thì chúng tôi đối chiếu với nguyên văn theo các sách tìm thấy ở Thư viện khoa học xã hội.

Nếu là những sách không tìm thấy ở Thư viện ấy thì chúng tôi đành phải theovăn pháp và văn nghĩa mà hiệu đính, cũng như đối với những đoạn do chính tác giả biên soạn; về phần này, tương đói ít, thì có khi tác giả cũng chỉ là tóm tắt ý kiến của các sách xưa thôi.

Theo nội dung Binh thư yếu lược như trên thì không thể xem nó là di tác của Hưng Đạo vương được.

Đấy là một bộ sách được biên soạn theo một phương pháp đặc biệt, do nhiều nhà thông hiểu binh pháp thời Trần (có thể đặc biệt là Hưng Đạo Vương), thời Lê, thời Nguyễn tiếp tục nhau mà biên soạn bằng cách trích lược những binh thư các đời của Trung-quốc và của nước ta, thỉnh thoảng những người biên soạn có thêm những đoạn có quan hệ với những sự kiện quân sự vào kinh nghiệm của nước nhà, hoặc tóm tắt ý kiến của các sách xưa một cách gọn gàng.

Sách này được hoàn thành ở thời nhà Nguyễn.

Trong khi phiên dịch chúng tôi đã bỏ những đoạn có tính chất mê tín, đặc biệt là ở chương “Thiên tượng” thuộc quyển I, ở các chương “Chiêm phong vũ” và “Binh trưng” thuộc quyển II.

Phương pháp biên soạn sách này có hơi lỏng lẻo, cho nên có những đoạn ở trên đã chép mà lại chép thêm ở dưới, hoặc có một đôi đoạn hình như chép lộn, những đoạn chép trùng hay chép lộn ấy chúng tôi đều bỏ cả.

Cuối cùng, tất cả những đoạn lấy ở Hổ trướng khu cơ chúng tôi đều bỏ đi để đem cả tập Hổ trướng khu cơ dịch làm phần phụ lục mà nêu riêng một tác phẩm về binh pháp của nước ta có ít nhiều màu sắc dân tộc.

Sách Hổ trướng khu cơ hiện ở Thư viện khoa học xã hội có năm bản chép tay A157, A565, A1783, A2117, A3003, Chúng tôi lấy bản số A157 là bản đầy đủ nhất để dịch, nhưng trong khi dịch chúng tôi đã đối chiếu với các bản kia và với những chương những mục được trích lục trong sách Binh thư yếu lược để đính chính những chỗ sai sót.

Những hình vẽ về trận đồ và về binh khí chiến cụ dùng trong bản dịch này là vẽ lại theo hình vẽ của sách Võ kinh tổng yếu trong bộ Tứ khố toàn thư trận bản sơ tập (Thư viện khoa học xã hội số P1121), của sách Vũ bị chế thắng chí (Thư viện khoa học xã hội số AC597) và của sách Hổ trướng khu cơ (Thư viện khoa học xã hội so A157).

Binh thư yếu lược do Nguyễn Ngọc Tỉnh phiên dịch.

Hổ trướng khu cơ do Đỗ Mộng Khương phiên dịch.

Người hiệu đính

ĐÀO DUY ANH
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển I: I.Thiên Tượng - II.Kén Mộ - III.Chọn Tướng


I: Thiên tượng (Hình tượng của trời)

(1)Sách Võ bị chí (2):

Gặp khi đất trời mịt mờ tối tăm, gió thổi cát mù, cờ xí không cắm được, chiên trống không nghe được thì không nên ra quân.

Nếu có quân giặc nhân khi tối tăm mà đem kỵ binh mạnh đến đánh, ta phải ra lệnh, nhắc đi nhắc lại, ước thúc ba quân, Bền giữ đinh trận, không được rối động, chỉ lấy lá chắn để đỡ tên đạn, dùng cung khỏe, nỏ cứng, cứ ngồi mà bắn, chờ khi quân định trễ tràng thì đem quân nhanh mạnh, nhân lúc rối loạn không ngờ, ngầm cho hậu quân đón chặn con đường yếu hại địch dùng mà tới để đánh thì có thể bắt được ngay.

Gặp khi trời đất gió mưa đen tối mịt mờ bốn bể, thì không nên tiến quân, không nên hành dinh, cứ bền giữ dinh trại, phòng quân sỹ sinh biến và phòng giặc ngoài đến đánh.

(1): Chương này phần nhiều nói đến những điều hoang đường mê tín về thiên văn xưa, chúng tôi bỏ không dịch, chỉ dịch một mục trích ở sách Võ Bị Chí chép về thời tiết mà thôi.

(2): Võ bị chí: Tác phẩm của Mao Nguyên Nghi đời Minh, 19 quyển.

Xem Võ bị chế thắng chí, quyển 6, chương “Thẩm thời”

Gặp khi gió to mưa lớn, rét lớn, nắng lớn, không nên cho quân đi đánh, phải nên vỗ về quân sỹ mà bền giữ dinh trại.

Tất nhiên giặc cũng chẳng ra quân.

Nếu quân ta đi đường thình lình thấy giặc, thì nên gấp đóng dinh trại, đợi cho nó ngày chiều thế kém mà dùng kế sách khác.

Sách Tam lược nói: Xét tính thiên thời, rình chỗ sơ hở.

Gặp khi tuyết lớn bay mù, trong khoảng trăm bước mà chẳng trông thấy người ngựa, địch hay đặt quân kỳ (1) quân phục ở nơi đường hiểm để đánh vào chỗ ta không ngờ.

Nếu ta cho tướng nhỏ ra ứng đối thì nó giả thua chạy, mong ta đuổi đánh, để dẫn ta vào chỗ phục binh.

Nếu ta thấy cơ trời như thế, thì nên sớm sai 5,7 viên tướng nhỏ, vài mươi đội kỵ giỏi, chờ giặc từ tả hữu trước sau đem quân đến nhử ta, nếu giặc dùng quân kỵ giỏi để xung đột quân ta, thì ta cho ngay hai viên tướng ra sau quân, bàn định thăm dò, cho quân và ngựa đi quanh quất tìm xét, liệu tính đường về của giặc, rồi nhắm các nơi hiểm ải, dò thăm xem có phục binh hay không, nếu có thì nên chia binh ra làm hai ba nơi thay đổi nhau mà đánh, như thế thì chúng phải thua chạy, mà kẻ đến đánh ta trước kia đầu đuôi không thấy được nhau.

Quân ta đã đuổi quân phục của địch, dùng binh giỏi lộn lại làm quân đón triệt, thì bọn giặc đến để đánh ta đó không biết quân phục ở chỗ kia hiện đã tan chạy.

Vả quân ta đã sai kỵ binh giỏi đến, một đạo tiến, một đạo lùi, thay đổi nhau đuổi đánh, chờ khi nó vào nơi có quân phục của ta thì đầu đuôi cùng ứng, có thể bắt gọn cả quân.

Đấy là nói đại khái, chứ hoàn toàn là phải biến…(1): Quân lẻ để đánh thình lình

....thông ở lúc lâm thời, để đối phó trong lúc hoãn cấp.

Còn như người Khiết đơn thì không thế.

Thấy có tuyết lớn thổi mù thì cung cứng, ngựa mạnh, người khỏe họ coi là thường không việc gì mà cứ đi săn bắn, huống chi trong lúc hai quân đánh nhau thì ta nhân đó mà thắng sao được?

Họ ở phía Tam Quan (1), phía bắc Đại Hà (2), trong khoảng Tức ký (3), đất phẳng như đá mài, quân lính tiện được đường rộng, sau khi tuyết lớn, họ biết rằng quân bộ của ta khó tiến, họ bèn dùng mưu lạ, đặt nhiều kỵ giỏi ở trước sau tả hữu dinh lũy của ta, khêu nhử quân ta, hoặc dùng kỵ giỏi đi đi lại lại xông đánh quân ta, hòng quân ta ra thì chia quân tản ra bốn phía để đầu đuôi đánh lại, một mặt đánh dinh trại ta, một mặt chặn lương thảo ta, khiến cho quân ta đầu đuôi không cứu được nhau.

Như thế thì quân ta bền giữ chẳng đi, đợi cho quân họ xông lại thì ta mới dùng cung khỏe, nỏ cứng và nỏ bàn (4), một cái trên, một cái dưới mà bắn ra.

Giặc đã mất thế thì không còn ý chí chiến đấu nữa.

Có thể bắt gọn cả quân.

Gặp cơn gió to, thổi bay bụi cát, không nên tiến binh đi đánh.

Như đương ở giữa đường thì nên dừng chân mà tìm nơi thuận tiện yên nghỉ.

Như đường trước gặp quân phục đón chặn, hay có trận lớn, thì đó là cái điểm trời chưa thuận vậy.

Như gặp lúc đương ở dinh dã thì nên ra lệnh dặn đi dặn lại ba quân bền giữ dinh

(1): Ba cửa quan ở phía Bắc Trung Quốc: Cửa Nhạn môn, Cửa Vũ Ninh, Cửa Thiên đầu

(2): Tức sông Hoàng Hà

(3): Tức là khoảng tỉnh Hà Nam, Ký là khoảng tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc.

(4): Nỏ bản: Nỏ lớn đặt lên bệ mà bắn một phát nhiều tên

...trại, phòng quân giặc nhân gió thuận mà đến để dò hoặc cướp, xông đánh trại ta.

Như lúc trận quân vừa mới bố trí mà thấy có gió thì cũng không nên đánh, phải bền giữ.

Khi hành quân ở đường hay đương ở dinh mà gặp có gió to mưa to, tuyết lớn mù lớn, mờ tối không thể tiến quân để đánh, thì nên vỗ về quân sĩ, cố giữ là hơn.

II: KÉN MỘ

Đặt ba khoá để kén mộ tráng sĩ: Từ thuộc lại trở xuống, mỗi người đều cử người mình biết, tốt nhất là loại ăn cướp, sau đến loại hay đánh người và trộm cắp, rồi đến loại không nghề nghiệp.

Sai thu 300 cỗ ngựa của các tướng, để cho quân cảm tử tình nguyện dùng, dù không phá được địch, cũng có thể làm nhụt nhuệ khí của địch.

Cái đạo mạnh binh để chiến thắng cốt yếu có 5 điều:

1.

Sửa sang binh khí.

2.

Có đủ quân lính và xe cộ.

3.

Súc tích nhiều.

4.

Rèn luyện quân sĩ tốt.

5.

Kén được tướng giỏi.

Năm điều ấy được đầy đủ thì mới có thể mạnh quân.

Kén lính: Quân cần giỏi không cần nhiều.

Nên chọn người khoẻ mạnh mà dùng, không lấy nhiều người nhỏ yếu để thêm số lượng.

Nên kén, người nhiều anh em, người không bố mẹ, người độc thân mà đã có con kế tự, người nghèo đói mà sức vóc khoẻ mạnh.

Có những người không nên kén là... (1)

III: CHỌN TƯỚNG

Sách Võ kinh:

Phương pháp xem người có tám điểm:

1.

Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không.

2.

Gặn gùng bằng lời lẽ xem có biến hoá không.

3.

Cho gián điệp thử để xem có trung thành không.

4.

Hỏi rõ ràng tường tận để xem đức hạnh thế nào.

5.

Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không.

6.

Lấy sắc đệp mà thử để xem có đứng đắn không.

7.

Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.

8.

Cho uống rượu say để xem có giữ được thái độ không.

Có tướng dũng và tướng trí, nên dùng thế nào cho phải?

Rằng tướng dũng có thể giúp được việc đánh thành hãm trận; nhưng liệu tính việc địch, chia đặt quân kỳ, lam cơ ứng biến, nếu không có tướng trí thì không được.

Mà kẻ dũng thì thường kém kẻ mưu.

Cho nên đời xưa đăng đàn, đắp đài, đẩy xe (2), phải tìm tướng mưu trí để giúp cho kẻ có sức mạnh.

Người làm tướng không nên lấy giỏi cung đao cưỡi bắn làm tài, mà phải lấy thông suốt cổ kim làm giỏi.(1) Nguyên văn thiếu một đoạn.

(2) Chỉ việc phong tướng.

Xem giỏi ở chỗ nào?

Muốn biết tướng giỏi hay tồi cần phải kích thích để xem động hay không động.

Kích thích mà động đó là tướng ngu.

Tướng ngu thấy lợi thì động, khinh địch thì động.

Nên dùng hai phép dụ thì bắt được ngay: kẻ thấy lợi mà dụ bằng mồi là bắt được; kẻ khinh địch thì uy hiếp là bắt được.

Kích thích mà không động là tướng hiền.

Tướng hiền thì trí chu đáo nên không động, phép chu đáo nên không động.

Nên dùng hai phép để nắm.

Đấu trí với nhau, không ai thắng ai, phải dùng phép để nắm chỗ sơ hở của trí, nhằm một chút hở của trí mà đánh vào.

Đấu phép với nhau, không ai chịu ai, phải dùng tí để nắm chỗ biến hoá của phép, nhân chỗ ngẫu nhiên sơ hở của phép mà đánh vào.

Sách Binh chí (1) nói "đánh mưu" là thế đó.

Hai bên giao chiến với nhau mà muốn biết tình hình thực hư ở trong quân, trước hết là mình phải biết người ta mà đừng để người t biết mình.

Biết được tình hình hư thực của người rồi thì đánh chỗ mềm mà không đánh chỗ cứng.

Sách Binh chí nói đánh chỗ cứng thì mềm phải cứng, đánh chỗ mềm thì chỗ cứng phải mềm, chính là thế.

Đi sâu vào đến chỗ vô hình, giấu kỳ ở chính, giấu chính ở kỳ, lấy kỳ làm chính, lấy chính làm kỳ.

Sách Binh chí nói: Phàm đánh trận dùng chính mà hợp, dùng kỳ mà thắng, muốn chiến thắng không ngoài kỳ với chính, kỳ chính biến hoá không biết thế nào là cùng, kỳ chính cùng sinh ra nhau, nh ư cái vòng tròn không có đầu mối.

Xét được hư thực, rõ được mềm cứng, hiểu được kỳ chính, đó là ba điều báu của phép dùng binh vậy.

Lại nói: biết mình biết người, trăm trận tăm thắng (2).

Nuôi khí dân, định chí quân, thế gọi là biết mình; xét rõ tình hình địch, thế gọi là biết người.

đó là ba điều thiết yếu.

Ba điều thiết yếu cũng như ba điều căn bản, tại sao?

Vì đạo làm tướng coi quân, khoan và nghiêm dùng không nhất định, mà phải lấy nghiêm làm gốc, cho nên binh gia với hình gia và danh gia phối hợp với nhau; động và tĩnh không có hình thế thường, mà phải lấy tĩnh làm chủ, cho nên binh gia và âm dương gia (3) giúp đỡ nhau.

Hình gia và danh gia không cần kiêm làm binh gia, mà binh gia thì phải kiêm hình gia và danh gia; âm dương gia thì không cần kiêm làm binh gia, mà binh gia thì phải kiêm âm dương gia. bởi thế mới nói ba điều thiết yếu cũng là ba điều căn bản.

Nhân được những điều hay của bốn nhà mà lợi dụng lấy thì phương lược làm tướng có thể đủ được.

Đạo dùng tướng là thế nào?

Trước hết phải cho có quyền: Tướng nói dân có thể dùng thì dùng.

Tướng nói dân không thể dùng thì đừng dùng.

Tướng nói quân có thể động thì động. tướng nói quân không thể động thì đừng động.

Tướng nói địch có thể đánh được rồi thì đánh.

Tướng nói địch không thể đánh được thì đừng đánh.

Như thế thì phép không rối, cơ không ngừng.

Nhưng người giỏi dùng tướng trước hết phải giỏi chọn tướng.

Người giỏi chọn tướng thì trước hết phải giỏi biết tướng.

Ba điều giỏi ấy, cái tinh vi của người dùng tướng dùng quân đều ở cả đó.

Tuy thế, Tôn Võ và Ngô Khởi thì đã giỏi trong lĩnh vực ấy rồi, nhưng theo lời của Mạnh Tử, Tuân Tử thì cho là chưa được.

Vì sao mà nói thế?

Vì bảo rằng kế căn bản chưa có.

Vậy thì Tôn Võ, Ngô Khởi chỉ là cái rìu búa đẽo nước mà thôi, bệnh ở ngoài mà hại ở trong, mất nước có thể kiễng chân mà chờ đến.(1) Hiện nay chưa tìm ra sách này.

(2) Tông Tử, thiên II nói: Biết mình biết người, trăm trận không nguy.

(3) Binh gia, hình gia, danh gia, âm dương gia là những học phải của Trung Quốc ở thời Chiến quốc.

Ngô Khởi1 nói: Phàm điều cốt yếu ở trong việc chiến trận, trước nhất phải xem người tướng và xét tài của tướng, rồi nhân hình thế mà dùng quyền biến thì không khó nhọc mà thành công.

Tướng ngu hay tin người thì dùng cách dối mà lừa; tướng tham khinh danh vọng thì dùng của mà đút; tướng coi thường sự biến mà không mưu thì làm cho vất vả mà phải khốn; người trên giàu mà kiêu, người dưới nghèo mà oán, thì dùng cách chia cho lìa nhau; tiến thoái đa nghi, quân sĩ không nương tựa được, thì làm cho hoảng sợ mà chạy; quân khinh thường tướng mà có ý muốn về nhà, thì chẹn đường dễ mở đường khó, có thể đón mà bắt được; đường tiến dễ, đường lui khó, thì nên săn ở phía trước; đường tiến khó đường lui dễ, thì nên đến sát mà đánh; đóng quân ở nơi thấp, nước không có chỗ thông, mà hay mưa dầm, thì nên tháo nước vào cho ngập; đóng quân ở nơi chằm hoang, cây cỏ um tùm, gió thổi lồng lộng, thì nên đốt mà tiêu diệt; quân đóng mãi một nơi, tướng sĩ trễ nải, quân không đề phòng, thì nên lẻn mà đánh úp.

*

* *

Sách Kinh thế2:

Có nho tướng, có dõng tướng, có cảm tướng, có xảo tướng, có nghệ tướng.

Nho tướng hay mưu; dõng tướng hay đánh; cảm tướng nhiều can đảm; xảo tướng giỏi chế tác; nghệ tướng thì tài năng; gồm cả thì không gì không thần, đủ cả thì không gì không lợi.

Hòa mục có công hiệu rất lớn cho cuộc trị an.

Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh; hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động.

Bất đắc dĩ mới phải phạt kẻ làm xằng, càng quý hòa mục.

Vua tôi hòa mục thì dùng được người tài; tướng văn tướng võ hòa mục thì làm nên công nghiệp; tướng sĩ hòa mục, trong lúc thưởng sẽ nhường nhịn nhau, gặp nguy nan sẽ cứu giúp nhau.

Đó, hòa mục là đạo rất hay cho việc trị nước hành binh, không thay đổi được.

*

* *

Sách Bảo giám3:

Khí lượng của tướng, lớn nhỏ khác nhau.

Tướng mà che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến điều quân chúng oán ghét, đó là tướng chỉ huy mười người.

Tướng mà sớm dậy khuya nằm, lời lẽ kín đáo, đó là tướng chỉ huy được trăm người.

Tướng thắng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh, đó là tướng chỉ huy nghìn người.

Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét, đó là tướng chỉ huy được vạn người.

Tướng mà gần người hiền, tiến người tài, ngày thường cẩn thận, thành thực rộng rãi, giỏi việc dẹp loạn, đó là tướng chỉ huy được mười vạn người.

Tướng mà dùng nhân ái dvoi kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lí, giữa biết việc người, coi bốn biển như một nhà, đó là tướng chỉ huy được cả thiên hạ, không ai địch được…

Ra trận mà đổi tướng, điều đó nhà binh rất kiêng.

Nên chờ ngày tháng để buộc cho thành công.

______________________________1.

Tôn tử, thiên IV

2.

Sách Kinh thế bát loại toản biên, “Binh tào”, quyển 63-68

3.

Chúng tôi không tìm ra sách Bảo giám.

*

* *

Phép lập đàn phong tướng1

Phụ: Trao quyền cho tướng.

Thái công2 nói: Nhà nước yên hay nguy, quan hệ ở một người tướng.

Bèn sai quan thái sử ăn chay ba ngày, đem rùa bói ngày lành, ra Thái miếu để trao cho phủ việt3– Vua vào cửa miếu, đứng trông mặt về phía tây; tướng đứng trông mặt về phía bắc.

Vua thân cầm cái việt, giữ lấy lưỡi mà trao chuôi cho tướng, nói: “Từ đây lên tới trời là quyền của tướng quân”.

Vua lại cầm cái phủ, giữ lấy chuôi mà trao lưỡi cho tướng, nói: “Từ đây xuống tới vực là quyền của tướng quân”.

Tướng nhận lấy, lạy mà đáp lại vua rằng: “Thần nghe: Nước không thể tự bên ngoài mà trị; quân không thể tự bên trong mà chế; kẻ hai lòng không thể thờ được vua; kẻ phân chí không thể đánh được giặc.

Thần đã vâng mệnh, chuyên cầm uy phủ việt, thần không dám mong được sống mà về.

Xin vua rủ bảo cho thần một lời.

Vua không hứa với thần thì thần không dám làm tướng”.

Đó là trên không nệ thời trời, dưới không nệ thế đất, trước không biết có địch, sau không nệ mệnh vua4.

__________________________1.

Chương này trích ở sách Hổ trướng khu cơ, ở đây xin bỏ, xin xem Hổ trướng khu cơ ở sau

2.

Xem Võ kinh trực giải, phần “Lục thao”, chương 20.

3.

Hai thứ búa lớn và búa nhỏ dùng để đánh chém, tiêu biểu cho uy quyền.

4.

Võ kinh trực giải diễn nghĩa ca, chương 20 dịch là: ở sau thì đã chịu mệnh vua rồi

*

* *

Sách Kinh thế:

Đời sau dùng người không như thế.

Nói bàn thì một người, làm việc thì một người, do đó người nói không biết việc của người làm là khó, mà thường đề cao thuyết của mình.

Người làm thì muốn vâng thì ý của người bàn mà không hợp với cơ nghi; thậm chí làm việc chỉ có một người, mà bàn nói thì có đến mấy mươi người, trong đó hiền gian lẫn lộn, yêu ghét mỗi người một lòng.

Người được yêu thì mưu kế dù kém cũng phụ hội, mà người bị ghét thì mưu kế dù hay, cũng cố tìm cách để ngăn trở.

Không lường tình thế giặc mạnh yếu thế nào, mà cứ cho là đánh nhỏ thì được nhỏ, đánh lớn thì được lớn; không hỏi thời thế khó hay dễ, hễ đóng quân là bắt tội dùng dằng, bền giữ là kết tội nhút nhát.

Người làm việc thì trông tả nhìn hữu, muốn đánh muốn giữ, hoặc tiến hoặc lui, đều không thể tự chủ được, đến nỗi mười cỗ xe của nguyên nhung chưa đi, mà chức quan nói đã dâng giấy đàn hặc dồn dập1; chỉ huy ở trong màn trướng2 mới định mà quan tú y3 đã có lệnh thúc giục rồi; dâng quân cho địch, dâng tướng cho địch, đều là do kẻ bàn nói mà đến nỗi.

Các triều Đường, Tống, Minh bị thua, đều vì cớ đó, mà nhà Tống quá tệ, nhà Minh lại càng tệ hơn.

Người luận về việc nhà Tống thì cho rằng bàn bạc nhiều mà thành công ít; người luận về việc nhà Minh thì cho rằng nhà Minh mất nước, không mất ở giặc cướp mà mất ngay từ trong cổng ngõ, không mất ở bờ cõi mà mất ngay từ lời can của đài quan4, cái tệ là ở chỗ không bàn lấy người làm được việc, mà chỉ bàn lấy người không biết làm việc, bàn bạc rối bời như tơ khó gỡ.

Xem xét xưa nay thì chỉ có vua Tuyên đế nhà Hán dùng Triệu Sung-quốc5 là đúng phép dùng tướng thôi.

___________________________1.

Nghĩa là tướng được sai đi đánh chưa xuất quân mà chức quan ngự sử có trách nhiệm ăn nói đã dâng sớ lên nhà vua dồn dập để vạch lỗi của tướng, chỉ cái tệ người làm thì ít, người nói thì nhiều.

2.

Màn trướng, chữ Hán “duy ốc” là chỗ làm việc của vua.

3.

Tú ý trực là chức quan thị ngự sử đời Hán.

4.

Đài quan: Tức quan ngự sử, có trách nhiệm nói bàn.

5.

Triệu Sung-quốc: Tướng nhà Hán, đời Vũ đế đánh Hung-nô, đời Tuyên đế đánh Tây-khương, tức Tiên-ty, lập được nhiều chiến công, Hán Tuyên đế chuyên nghe kế hoạch của Sung-quốc nên thành công.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển I: IV.Đạo Làm Tướng


IV – ĐẠO LÀM TƯỚNG

Sách Võ kinh:

Phàm cái nguồn để biến đổi quân kì quân chính là ở chỗ đến việc thì không nói, dùng binh thì bí mật, cho nên việc thì nắm trước, động thì lặng im, dùng thì người ta không ngờ, mưu thì người ta không biết.

Phàm muốn thắng thì trước tỏ cho địch biết là ta yếu rồi mới đánh, cho nên quân ít mà công nhiều.

Chưa thấy thắng mà đã đánh, quân tuy nhiều cũng thua.

Người đánh giỏi thì bình tĩnh mà không rối, thấy thắng thì đánh, thấy không thắng thì dừng.

*

* *

Sách Kinh thế:

Đời xưa, người giỏi dùng binh, ý muốn như thế mà làm không như thế, khiến họ lại ngờ rằng ý muốn không như thế, là để làm đúng ý mình muốn như thế.

Đó là phép tinh vi để phá quân bắt tướng, hàng thành phục ấp vậy.

Nay thì ý muốn không như thế, cho nên làm như thế, khiến họ lại ngờ là ý muốn không như thế, để làm ý muốn như thế.

Đó là phép tinh vi để phá quân bắt tướng, hàng thành phục ấp.

Cái làm chỉ là cái bóng; làm mà không nghĩ thế chỉ là cái bóng ở trong bóng thôi, như hai cái gương treo đối nhau, thực là huyền ảo mà càng huyền ảo.

Cái mưu làm cho địch khốn1 là tính cái lợi ở chỗ ta có thể làm hóa ra không được, thế thì trí của mất chỗ dùng.

Mộ lính khống cho nó ập đánh khống, làm đất khống cho nó tiến đánh khống, xuất phát khống, phô sức khống, dùng vật khống để dụ nhử khống; hoặc lấy hư để khốn nó2, hoặc lấy thực để khốn nó.

Chỉ có hư mà không có thể thực, thì lừa dối không thể thành công; chỉ có thực mà không có thể hư thì đến việc không biết biến hóa.

Vận hành ở khoảng giữa không và có.

Xoay chèo ở lúc đầu chưa làm; mịt mịt mờ mờ, địch vốn có trí mà không thể nghĩ vào đâu, địch vốn có mưu mà không thể tính vào đâu; thực là biến hóa thần kì ở trong chỗ hư không vậy…

Người tướng quên mình để báo ơn vua mà không làm cho lòng sĩ tốt cũng như mình thì tướng ấy chưa phải là tướng lập công giỏi.

Cùng sĩ tốt cùng ăn uống, thì sau sĩ tốt quên được nỗi đói khát ở trên cật ngựa; cùng sĩ tốt cùng lên đài đi giày3, thì sau sĩ tốt quên được nạn chông gai ở ngoài quan ải; cùng sĩ tốt cùng dậy cùng nghỉ, thì sau sĩ tốt quên được nỗi lao khổ của chiến chinh; lo cái lo của quân lính, đau cái đau của quân lính, thì sau quân lính quên được vết thương vì gươm tên.

Việc đã quen mà tình lại chu đáo, nên lấy đánh giặc làm thiết yếu, lấy đau chết làm phận sự, lấy xông pha tên đạn làm việc gốc, mà không biết mình ở vào chỗ gian nguy.

Quên mình thì ở chỗ hiểm như ở đất bằng, ăn mùi đắng như nhai đồ ngọt.

Cái oai vận dụng ở nơi thiên hạ chưa kịp biết; khống chế ở nơi thiên hạ không dám động; đánh vào nơi thiên hạ không thể giữ; chẹt vào nơi thiên hạ không thể xông; chạy đến những nơi thiên hạ không thể đỡ; lìa bỏ những nơi thiên hạ không thể tụ.

Cái oai vận dụng, chưa dùng binh đao mà địch đã sợ trước rồi; đã dùng binh đao thì không ai địch nổi; một thời thì sợ người, nghìn năm thì sợ tinh thần.

Tiến lên hay lui giữ do ở ta thì hẳn thắng; do ở ta thì ta khống chế địch, do ở địch thì ta bị địch khống chế.

Bị khống chế không những riêng ta không muốn, mà địch cũng không đành chịu bị động, tức địch cũng không muốn bị khống chế.

Nhưng ta có thể khống chế nó thì không thể không làm thế.

Theo tính tự nhiên, không cái gì là không thế.

Bắt đầu quen ở một việc mà ra, lâu rồi nhân đó mà thành tự nhiên, cho nên người khéo dùng binh, thấy gì cũng là việc binh, bàn gì cũng là chiến lược, làm gì cũng dùng cách gián hành biến hóa, cho nên khi có việc xảy đến, không đợi phải xếp đặt bàn tính mà không việc gì là không thích hợp với kinh điển.

Trời tự nhiên cho nên xoay vần, đất tự nhiên cho nên đông lại; việc binh tự nhiên cho nên không trận nào là không thắng.

Dùng trí để phục thiên hạ, mà thiên hạ phải phục trí, nhưng trí vẫn không thắng; dùng phép để chế thiên hạ, mà thiên hạ phải theo phép, nhưng phép cũng không thần.

Vậy trí với phép không phải là cái hay ở trong cái hay đâu.

Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi trên không, dựng lên cuộc đời vô sự.

____________________________1.

Chữ Hán là: “Không địch chi mưu” chữ không ở đây nghĩa là làm cho khốn.

Những chữ không ở dưới thì nghĩa là làm cho háo ra không, hay làm ra không, không có thực hiện hay không có thực sự.

2.

Chữ không ở đây lại nghĩa là làm cho khốn như ở trên.

3.

Lên đài đi giày, tức là hưởng vinh dự phú quý.

* *

Sách Võ kinh1:

Vua Thái tôn (nhà Đường) hỏi: Các tướng súy hiện nay duy có Lý Tích, Đạo-tông, Triết Vạn-triệt2.

Trừ Đạo-tông là thân thuộc, ngoài ra còn ai là người có thể dùng được? – Tĩnh thưa3: Bệ hạ thường nói Đạo-tông dùng binh không đại thắng cũng không đại bại, Vạn-triệt nếu không đại thắng tức phải đại bại.

Thần vụng nghĩ lời thánh nói: Chẳng cầu đại thắng mà cũng chẳng để đại bại, đó là quân có tiết chế; muốn thắng to có thể thua to, may mà thành công.

Cho nên Tôn Võ nói rằng: Người đánh giỏi trước làm thế địch không thể thắng để đợi thế địch mà mình có thể thắng4.

Tiết chế ở mình mà thôi.

Thái tôn hỏi: Theo Binh pháp5, cái gì là sâu nhất?

Tĩnh thưa: Thần đã từng chia làm ba bậc, để cho học giả đi dần mà tới vậy.

Một là đạo, hai là trời đất, ba là tướng pháp.

Kể về đạo thì rất tinh vi.

Kinh Dịch bảo rằng: Thông minh duệ trí, thần võ mà không giết người, chính là thế.

Nói về trời thì có âm dương, nói về đất thì có thế hiểm thế dễ, người khéo dùng binh thì có thể lấy âm mà đoạt dương, lấy hiểm mà đánh dễ.

Mạnh Tử bảo thiên thời địa lợi chính là thế.

Nói về tướng pháp thì cốt dùng người và dùng khí.

Sách Tam lược6 bảo rằng: Được quân sĩ thì tốt.

Quản Trọng bảo rằng: Đồ binh khí tất phải bền sắc, chính là thế.

______________________________1.

Xem Võ kinh trực giải, phần “Tam lược”.

2.

Lý Tích: Tích nguyên là họ Tư, làm quan nhà Đường, Thái Tôn cho họ là Lý.

Tích người Tào-châu, trước tiên là Thế-tích, sau kiêng húy của Thái Tôn bỏ chữ Thế đi.

Đạo-tông: tức là Lý Đạo-tông, là bà con của Đường Thái tôn.

Tiết Vạn-triệt: người ở Phần-âm, đời Tùy, cùng với em là Vạn-quân về với Đường Cao tổ.

3.

Tĩnh: Tức Lý Tĩnh, người Tam-nguyên, giỏi binh pháp.

Trước làm quan với Tùy, sau về Đường, thời Đường Thái tôn bình nước Ngô, phá Đột-quyết, có công to, phong làm Vệ-quốc công, người sau biên chép những lời bàn về binh pháp của Tĩnh làm sách Lý Vệ công vấn đối, được xem là một trong bảy sách của Võ kinh.

4.

Xem Tôn tử, thiên IV.

5.

Binh pháp: Tên sách của Tôn Võ.

6.

Sách Tam lược: Truyền là của Hoàng-thạch công thời Chiến quốc, nhưng do người đời sau giả thác, được xem là một trong bảy sách Võ kinh.

Thái tôn nói: Phải.

Ta cho rằng không đánh mà khuất phục được quân người, đó là cao nhất; trăm đánh trăm thắng, đó là bậc giữa; hào sâu lũy cao để tự giữ, đó là thấp nhất.

Lấy đó mà so lường thì Tôn Võ1 làm sách đều đủ có ba bậc. – Tĩnh nói: Xem lời văn xét việc làm, cũng có thể phân biệt được.

Như Trương Lương2, Phạm Lãi3, Tôn Võ, vượt hẳn lên cao không biết đâu mà lường, nếu không biết đạo thì sao làm được thế?

Nhạc Nghị4, Quản Trọng5, Gia-Cát Lượng6, chiến thì thắng, giữ thì bền, nếu không biết xét thiên thời địa lợi thì làm sao được thế?

Thứ đến Vương Mãnh7 giữ Tần, Tạ An8 giữ Tấn, nếu không biết dùng tướng chọn tái, cố giữ cho bền, thì làm sao được thế?

Cho nên những nhà rèn tập quân lính, trước hết phải do bậc thấp rồi mới đi đến bậc giữa, do bậc giữa rồi mới đi đến bậc cao, thế thì dần dần mới sâu được, không thế thì, chỉ để lời nói suông mà ghi đọc, không đủ dùng vậy.

Thái tôn nói: Đạo gia kiêng ba đời làm tướng.

Không nên truyền xằng mà cũng không thể không truyền được.

Khanh nên cẩn thận nhé.

Tĩnh lạy hai lạy mà ra, đem hết sách truyền cho Lý Tích.

_______________________________1.

Tôn Võ: Người nước Tề (thời Xuân Thu), giỏi về binh pháp, có sách Tôn tử 13 thiên, Ngô vương Hạp-lư dùng làm tướng, phá nước Sở, uy chế nước Tề, làm bá chủ chư hầu.

2.

Trương Lương: Người nước Hàn, làm quan đại phu nước Hàn, Tần diệt Hàn, Lương báo thù cắp dùi đánh Tần Thủy hoàng ở Bác-lãng; sau về với Hán Cao tổ, bàn mưu kế giúp Hán Cao tổ nên nghiệp đế, rồi thì tịch cốc nói thác là đi theo Xích-tùng tử.

Lương tên tự là Tử Phòng, phong Lưu hầu.

3.

Phạm Lãi: Người nước Sở (thời Xuân Thu) làm quan giúp Việt Câu-tiễn, diệt được nước Ngô, rồi không làm quan nữa, đi chơi ngũ hồ, thay đổi họ tên, sau đến đất Đào, tự đặt hiệu là Đào Chu công.

4.

Nhạc Nghị: Người nước Yên (thời Xuân Thu), làm khanh nước Yên, đem Yên, Triệu, Sở, Hàn, Ngụy năm nước đánh Tề, hạ được hơn 30 thành.

5.

Quản Trọng: Người nước Tề (thời Xuân Thu), tên là Di-ngô, tự là Trọng, cũng gọi là Kinh Trọng, làm tướng giúp Tề Hoàn công, nước giàu quân mạnh, làm bá chủ chư hầu.

6.

Gia-Cát Lượng: Người Lang-da (Thục Hán), tự là Khổng Minh, giúp Lưu Bị lấy Kinh-châu, Ích-châu và Hán-trung, dựng nên nước gọi là Thục, giỏi binh pháp, có lập ra Bát trận đồ.

7.

Vương Mãnh: Người Bắc-hải (thời Tấn), làm quan với Tần Bồ Kiên, giúp Tần được cường thịnh.

8.

Tạ An: Người Hà-dương (thời Tấn), làm tư mã cho Tấn Hoàn Ôn, khi Tần Bồ Kiên sang đánh Tấn, An cử cháu là Tạ Huyền đi đánh, phá được 10 vạn quân của Bồ Kiên.

*

* *

Sách Võ kinh:

Phàm nơi chiến trường là chỗ để chứa xác; ai quyết chết thì sống, cầu sống thì chết.

Người tướng giỏi như ngồi trong thuyền thủng, nấp dưới nhà cháy, khiến trí không kịp mưu, mạnh không kịp giận, cứ việc mà để cho đánh.

Cho nên nói cái hại trong việc dùng binh thì do dự là lớn nhất, tai vạ của ba quân sinh ra bởi sự hồ nghi1.

Cho nên làm tướng cần có năm điều: một là lí, hai là bị, ba là quả, bốn là giới, năm là ước.

Lí (trị lí) tức là trị nhiều quân cũng như trị ít quân; bị (phòng bị) thì ra khỏi cửa như đã thấy địch; quả (dũng cảm) là lâm địch thì không nghĩ đến sống; giới là tuy đã thắng vẫn cẩn thận như khi mới đánh; ước là pháp lệnh đơn giản mà không nhiễu2.

Vâng mệnh rồi thì chẳng từ giã người nhà, đánh địch thua rồi mới trở về, đó là lễ của người làm tướng.

Cho nên trong ngày ra quân thì chỉ có chết vinh mà không có sống nhục.

Phàm việc binh có bốn cơ: một là khí cơ, hai là địa cơ, ba là sự cơ, bốn là lực cơ.

Ba quân đông đúc hàng trăm vạn người, mà quyền xếp đặt nhẹ nặng là ở một người, thế gọi là khí cơ; đường sá hẹp hòi, núi cao ải lớn, mười người chống giữ, nghìn người khó qua, thế gọi là địa cơ; khéo dùng gián điệp, cho khinh binh qua lại, chia tán thế quân của địch, khiến cho vua tôi nó oán nhau, trên dưới nó đổ lỗi cho nhau, thế gọi là sự cơ; xe bền trục bánh, thuyền tốt lái chèo, lính thạo chiến trường, ngựa quen rong ruổi, thế gọi là lực cơ.

Biết đủ bốn điều ấy thì có thể làm tướng.

Phàm trống chiêng là để làm uy cho tai, cờ xí là để làm uy cho mắt, cấm lệnh hình phạt là để làm uy cho lòng.

Tai sợ uy tiếng, tiếng không thể không trong; mắt sợ uy sắc, sắc không thể không sáng; lòng sợ uy hình, hình không thể không nghiêm.

Ba điều ấy không dựng lên được thì tuy có nước cũng phải thua địch.

Cho nên nói rằng: Tướng phất cờ thì không ai là không theo, tướng chỉ cờ thì không ai là không liều chết3.

Người làm tướng trên không bị chế bởi trời, dưới không bị chế bởi đất, giữa không bị chế bởi người; lòng khoan thai không thể khích bằng giận, lòng trong sạch không thể khiến bằng của.

Phàm lòng điên, tai điếc, mắt lòa, lấy ba điều lầm lẫn ấy mà chỉ huy người ta thì thực khó lắm.

Đại phàm quân đội cần lao, tướng phải đem mình làm trước.

Khi nắng thì không giương dù, khi rét thì không mặc áo kép, gặp chỗ hiểm trở thì đi bộ; giếng quân đáo xong rồi mới uống sau; cơm quân nấu chín rồi mới ăn sau; lũy quân đắp xong rồi sau mới làm nhà ở.

Nhọc hay nghỉ, mình phải cùng với quân lính.

Như thế thì quân dù ở lâu cũng không đến nỗi già mỏi.

Kể ra dân không bao giờ có hai lòng, sợ ta thì khinh địch, sợ địch thì khinh ta.

Bị dân khinh thì thua; dân sợ uy thì thắng.

Phàm tướng giỏi thì quan phải sợ tướng, mà quan sợ tướng thì dân phải sợ quan, dân sợ quan thì địch phải sợ dân.

Thế nên muốn biết được hay thua, trước hết phải biết cân nhắc xem dân khinh hay là dân sợ.

Kể ra kẻ không đẹp lòng ta thì ta không dùng, kẻ không sợ bụng ta thì ta không cất nhắc; yêu do ở người dưới thuận theo, uy do ở người trên mà có; yêu thì không có hai lòng, uy thì không dám xúc phạm.

Cho nên người tướng giỏi chỉ cần ở yêu và uy mà thôi.

Uy ở chỗ không thay đổi; ơn ở chỗ biết nhân thời ứng việc thì có cơ; trị khí để mà chiến; tỏ ý để mà công; bố trí bề ngoài để mà thủ; không quá ở chỗ theo độ số; không khốn ở chỗ có dự bị; thận trọng từ cái nhỏ; mưu trí ở việc lớn; trừ hại thì quả quyết được lòng dân vì nhún nhường; bị khinh rẻ vì hay ngờ vực; ác nghiệt vì hay chém giết; thiên lệch vì nhiều lòng riêng; không tường tất vì ghét nghe lỗi mình; không tiết độ vì hao phí của dân; không sáng suốt vì nghe lời dèm pha; không chắc chắn vì nhẹ dạ; quê mùa vì bỏ người hiền; mắc vạ vì ham lợi lộc; bị hại vì gần tiểu nhân; mất nước vì không gìn giữ; nguy khốn vì không tỏ hiệu lệnh.

_____________________________1, 2.

Ngô tử, thiên III.

3.

Ngô tử, thiên IV.

Phàm binh không đánh thành không lỗi, không giết người không tội.

Kể ra giết cha anh người ta, cướp của cải người ta, bắt con cái người ta, đó đều là trộm cướp.

Cho nên binh là để giết bọn bạo loạn và cấm điều bất nghĩa.

Bình đến đâu thì người cày không bỏ ruộng, người buôn không bỏ hàng, sĩ đại phu không bỏ chức.

Vì quyền bàn bạc về võ chỉ ở một người, cho nên mũi gươm không giây máu mà người trong thiên hạ đều thân yêu cả.

Phàm giết người là để cho sáng tỏ oai võ vậy.

Giết một người mà ba quân sợ, giết một người mà vạn người mừng, thì cứ giết.

Giết cốt ở giết người có tội lớn; thưởng cốt ở thưởng người có công nhỏ.

Đáng giết, thì dẫu người quý trọng cũng giết, đó là hình thì xét ngược cả lên trên; thưởng thì thưởng cho cả những trẻ chăn trâu, người giữ ngựa, đó là thưởng thì trôi xuống cả dưới vậy.

Kể ra có thể hình xét ngược lên trên, thưởng trôi xuống dưới, thì đó là oai võ của người tướng.

Cho nên nhà vua phải trọng tướng.

Kể ra tướng trên không bị hạn chế bởi trời, dưới không bị hạn chế bởi đất, giữa không bị hạn chế bởi người.

Cho nên binh là đồ hung khí, tranh nhau là việc trái đức, mà tướng là thần chết, bất đắc dĩ mới phải dùng.

Ở trên không nệ trời, ở dưới không nệ đất, ở sau không nệ mệnh vua, ở trước không biết có địch.

Binh của một người như hùm như sói, như mưa như gió, như sấm như sét, rầm rầm rộ rộ, thiên hạ đều kinh.

Binh thắng giống như nước.

Kể ra nước là vật rất mềm yếu, nhưng có thể làm cho gỗ núi sụt lở, không có gì lạ đâu, vì tính chuyên nhất mà cảm xúc ngay thực.

Nay lấy gươm giáo sắc bén, giáp da tê bền, ba quân đông đúc, có cả kỳ chính, thì thiên hạ không thể nào địch lại được.

Cho nên nói rằng: Cất người hiền dùng người tài, không kể ngày giờ nào mà việc đều lợi; sáng pháp luật tỏ hiệu lệnh, không phải bói toán mà được tốt lành; quý người có công, nuôi người khó nhọc, chẳng cầu đảo mà được phúc.

Lại nói: Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợ không bằng nhân hòa.

Thánh nhân đời xưa, cẩn thận việc người mà thôi.

Người tướng, ngày chịu mệnh quên cả nhà; ra bày quân nằm ở đồng thì quên cả cha mẹ; vén áo bào mà đánh trống thì quên cả mình.

Ngô Khởi khi ra trận, người tả hữu dâng gươm, Khởi nói: “Tướng chỉ chuyên cầm cờ trống mà thôi.

Lâm nạn quyết đánh, vẫy gươm chỉ giáo là việc của tướng, dùng một thanh gươm không phải là việc của tướng.

Cho nên người biết đạo trước hết phải dự tính đến sự thất bại vì không biết chỗ dừng.

Có phải là chỉ tiến mới nên công đâu!

Khinh tiến mà cầu đánh thì địch sẽ mưu dừng lại, nếu ta tiến đi ta sẽ bị địch đánh.

Cho nên Binh pháp nói: Tiến mà theo, thấy thì đánh, nhà vủa không dám đương mà cứ lấn vượt, như thế thì sẽ mất quyền.

Lời nói không cẩn thận thì bị lấn; lấn át không chừng mực thì bị phá.

Nước tràn sét đánh, ba quân rối loạn.

Nếu muốn yên được nguy, trừ được nạn, thì lấy trí mà quyết đoán, xem lời bàn ở lang miếu1 là cao, xem lời nói khi chịu mệnh là trọng.

Lời bàn vượt cõi phải cho sắc bén, như thế thì có thể thắng phục nước địch.

Binh có năm điều rất quan trọng: Làm tướng quên nhà, vượt cõi quên cha mẹ, đánh giặc quên mình, quyết chết thì sống, gấp thắng thì thua.

Đâm chết được trăm người, có thể hãm hàng rối trận.

Đâm chết được nghìn người, có thể bắt địch giết tướng.

Đâm chết được vạn người, có thể hoành hành trong thiên hạ.

Chuyên nhất thì thắng, lìa tan thì thua; mặt trận kín thì vững bền; mũi nhọn thưa thì địch dễ đến.

Quân sợ địch hơn sợ tướng thì thua.

Sở dĩ biết sự được thua, là do cân nhắc tướng với địch.

Địch với tướng như cái cân vậy, yên tĩnh thì trị, gấp vội thì rối.

Người xưa đuổi chạy không quá trăm bước, rút lùi không quá hai xá2, đó là để bày tỏ điều lễ.

Không ép uổng người bất năng, thương xót người đau ốm, đó là để bày tỏ điều nhân.

Thành hàng rồi mới khua trống, đó là để bày tỏ điều tín.

Tranh lấy nghĩa mà không tranh lấy lợi, đó là để bày tỏ điều nghĩa.

Lại hay tha người quy phục, đó là để bày tỏ điều dũng.

Biết sau biết trước, đó là để bày tỏ điều trí.

Sáu đức ấy theo từng thời mà dạy, để làm đạo dựng kỉ cương cho dân, đó là chính trị từ xưa vậy.

Pháp luật của nước không dùng cho quân, kỉ luật của quân không dùng cho nước.

Kỉ luật của quân đem dùng cho nước thì dân đức phải bỏ, pháp luật của nước đem dùng cho quân thì quân đức phải yếu.

Cho nên ở nước thì lời nói mềm mại ôn tồn; ở triều thì cung kính nhún nhường, sửa mình để đối đãi với người, vua không triệu thì không đén, không hỏi thì không nói, khó tiến dễ lui; ở quân thì khi đứng cứng cát, khi đi thì mau mà quả quyết, mặc giáp trụ thì không lạy, ngồi xe quân thì không chào, qua cửa thành thì không rảo bước, gặp việc nguy thì không nhường ai.

Cho nên lễ với pháp là trong với ngoài, văn với võ là tả với hữu.

Lòng tướng lòng quân đều là lòng cả.

Ngựa trâu, xe cộ, quân lính nghỉ ngơi no nê, đều là sức cả.

Dạy thì làm trước, đánh thì theo tiết.

Tướng quân ví như mình, quân đội ví như tay chân, hàng ngũ ví như ngón tay ngón chân.

Phàm chiến tranh phải có thiên, có tài, có mỹ.

Thời giờ không thay đổi, quân đi phải bí mật, đó gọi là thiên; quân chúng cứ nẩy ra ý hay, đó gọi là tài; quân lính tập trận giỏi, mọi vật đều dự bị đầy đủ, đó gọi là mĩ.

________________________________1.

Lang miếu: Triều đình.

2.

Quân đi 30 dặm là một xá.

*

* *

Sách Bảo giám:

Cho nên khi chưa ra quân thì yên lặng như cô gái chưa chồng; khi địch đã đến thì như con thỏ sổng, khiến địch không kịp chống cự.

Mọi người cứng rắn, lời nói nóng hổi.

Xe thì kín là chắc, quân thì ngồi là chắc, áo giáp nặng thì bền, binh khí nhẹ thì hơn.

Thư từ tin tức phải dứt, thế gọi là dứt sự trông ngóng.

Chọn nơi tốt để đóng quân, thế gọi là thêm mạnh cho người.

Bỏ gánh đội nặng mà ăn hà tiện, thế gọi là mở ý cho người.

Đó là chính trị từ xưa vậy.

Nhạc Vũ-mục1 nhà Tống nói: Cái thuật dùng binh, các điều nhân, tín, trí, dũng, nghiêm, thiếu một điều là không được2.

Đại thể hành binh có ba điều: Một là trời, hai là đất, ba là người.

Thế trời là mặt trời mặt trăng trong sáng, năm ngôi sao đúng độ, sao chổi sao bột không hiện, hơi gió điều hòa.

Thế đất là thành cao bờ thẳm, sông to nghìn dặm, cửa đá hang sâu, đường ruột dê quanh co.

Thế người là vua thánh tướng hiền, ba quân giữ lễ, sĩ tốt vâng lệnh, giáp bền lương đủ.

Người tướng giỏi nhân được thời trời, dùng được thế đất, nương được lợi người, thì tới đâu cũng thắng, đánh đâu cũng được vạn toàn.

Tướng có năm tài và mười lỗi.

Năm tài là: Dõng, trí, nhân, tín, trung.

Dõng thì không ai phạm được; trí thì không cái gì làm rối được; nhân thì yên dân; tín thì không lừa dối; trung thì không hai lòng3.

Mười lỗi là: Có dõng mà khinh chết; có gấp mà muốn mau; có tham mà ham lợi; có nhân mà không nỡ giết; có trí mà lòng nhút nhát; có tín mà hay tin người; có liêm mà không yêu người; có trí mà lòng chần chờ; có cương nghị mà tự ohuj; có nhu nhược mà thích dùng người.

Dõng mà khinh chết thì có thể dùng bạo lực mà đối phó; gấp mà muốn mau thì có thể đẻ lâu; tham mà ham lợi thì có thể đút của; nhân mà không nỡ giết thì có thẻ làm cho nhọc; trì mà lòng nhút nhát thì có thể làm cho quẫn; tín mà hay tin người thì có thể nói dối; liêm mà không yêu người thì có thể khinh nhờn; trí mà lòng chần chờ thì có thể đánh úp; cương nghị mà tự phụ thì có thể trị được; nhu nhược mà thích dùng người thì có thể lừa được.

Cách sử dụng người trí, người dõng, người tham, người ngu: Người trí thích dựng được công; người dõng ham đạt được chí; người tham chạy theo lợi; người ngu không nghĩ đến chết.

Lấy chí tình mà dùng, đó là điều màu nhiệm của nhà binh vậy.

Đạo làm tướng có tám điều tệ là:

1.

Lòng tham không chán.

2.

Ghen người hiền, ghét người tài.

3.

Tin lời gièm, ưa lời nịnh.

4.

Xét người không xét mình.

5.

Do dự không quả quyết.

6.

Say đắm rượu và sắc đẹp.

7.

Thích xảo trá mà lòng nhút nhát.

8.

Nói dối mà không theo lễ.

Làm tướng có trách nhiệm nguy, là bởi trách nhiệm nặng thì nguy.

Cho nên tướng giỏi thì không cậy mạnh, không cậy thế, được yêu cũng không mừng, bị nhục cũng không sợ, thấy lợi không tham, rượu ngon không đắm, đem mình hi sinh cho nước, chỉ có một lòng mà thôi.

Có bốn điều muốn là:

1.

Đánh thì muốn dùng kì binh.

2.

Mưu thì muốn làm bí mật.

3.

Quân chúng thì muốn yên tĩnh.

4.

Lòng thì muốn chuyên nhất.

________________________________1.

Tức là Nhạc Phi.

2.

Võ kinh tổng yếu, Tiền tập, quyển 1, gọi là ngũ tài.

3.

Võ kinh tổng yếu, thay Trung bằng Nghiêm.

Người tướng giỏi, cứng không thể bẻ được, mềm không thể uốn được.

Cho nên lấy yếu để chế mạnh; lấy mềm để chế cứng.

Mềm cả yếu cả, thì thế phải kém; cứng cả mạnh cả, thì thế phải mất.

Không cứng không mềm, đó là đạo thường.

Tướng không nên kiêu, kiêu thì thất lễ; thất lễ thì người ta lìa bỏ; người ta lìa bỏ thì quân chúng làm phản.

Tướng không nên biếng, biếng thì không thưởng công; không thưởng công thì quân sĩ không chịu hi sinh; quân sĩ không chịu hi sinh thì quân không có công; quân không có công thì nước trống rỗng; nước trống rỗng thì giặc đến.

Khổng tử nói: Nếu có tài giỏi như Chu công mà có tính kiêu và lận, thì cái khác cũng không đủ kể nữa.

Có tiết cao có thể khuyến khích phong tục; có hiếu đễ có thể nêu danh về sau; có tín nghĩa có thể kết bạn; có rộng yêu có thể thu phục quân chúng; có sức mạnh có thể lập công.

Đó là năm đức tốt của người làm tướng.

Có mưu mà không biết tính điều phải trái, có lễ mà không biết dùng hiền lương, chính trị mà không biết làm đúng hình pháp, giàu có mà không biết giúp người nghèo thiếu, trí khôn mà không biết ngừa từ việc chưa xảy ra, lo nghĩ mà không biết phòng từ việc rất nhiệm nhặt, việc xa không biết suy mà biết, khi thua không thể không có gièm chê.

Đó gọi là tám điều xấu.

Kinh thư nói: Khinh nhờn người quân tử thì không thu được lòng người.

Khinh nhờn kẻ tiểu nhân thì không dùng hết được sức người.

Mấu chốt việc hành binh, cốt nhất phải nắm được lòng người anh hùng, nghiêm sự thưởng phạt, tóm được đạo văn võ, gồm được thuật cứng mềm, trải những thuyết lễ nghĩa, trước trọng đức rồi sau dùng sức lực.

Tĩnh thì như cá lặn; động thì như rái chạy; làm vỡ chỗ liền; bẻ gãy chỗ mạnh; dùng cờ xí làm cho hoa mắt; dùng chiêng trống làm cho núng lòng; rút lui thì như núi dời; tiến lên thì như mưa gió; cất quân thì như lèn đổ; hợp lại thì như cọp đánh nhau.

Cưỡng ép mà rộng dung; lấy lợi mà dụ dỗ; lấy lễ mà giữ gìn; nó kém thì khiến cho kiêu; nó thân thì làm cho lìa; nó mạnh thì làm cho yếu.

Có người nguy thì làm cho yên; có người sợ thì làm cho vui; có người phản thì cưu mang trở lại; có người oan thì cho họ được thân; kẻ mạnh thì nén xuống; kẻ yếu thì đỡ lên; người có mưu thì gần gũi; người gièm pha thì đánh đổ đi; được của cải thì chung nhau; không cậy sức mà khinh địch; không ngạo của mà khinh người; không vì được yêu lâu mà làm sai.

Tính trước rồi sau mới hành động; biết có thể thắng rồi sau mới chiến.

Được ngọc lụa không để riêng mình dùng; được con trai con gái không để riêng mình sai khiến.

Như thế mà phát chính ra lệnh thì người ta nguyện chiến đấu ngay, mũi gươm chưa giây máu mà địch tự thua vậy.

Người làm tướng phải có lòng dạ, phải có tai mắt, phải có nanh vuốt.

Không có lòng dạ thì như người đi đêm không có đuốc; không có tai mắt thì như người ở trong xó tối; không có nanh vuốt thì như người đói ăn phải vật độc; không trường hợp nào là không chết.

Cho nên người tướng giỏi phải có người nghe rộng biết nhiều để làm lòng dạ, người xét sâu kín đáo để làm tai mắt, người dũng cảm giỏi đánh để làm nanh vuốt.

Kể ra dùng người ngu mà thắng người trí là nghịch; dùng người trí mà thắng người ngu là thuận; dùng người trí mà thắng người trí là cơ.

Cơ có ba đường: 1. cơ về việc, 2. cơ về thế, 3. cơ về tình.

Cơ về việc, khi đã xảy mà không có thể ứng phó thì không phải là trí.

Cơ về thế, khi đã động mà không có thể khống chế thì không phải là hiền.

Cơ về tình, ốm mà không gắng làm được thì không phải là dõng.

Người tướng giỏi tất nhân cơ mà giữ phần thắng.

Quân đi ra phải có luật, trái luật là dữ.

Luật có 15 điều:

1.

Lo nghĩ, có gián điệp để sáng tỏ.

2.

Nói chuyện, lời nói phải cận thận.

3.

Dõng, địch với mọi người mà không nao.

4.

Liêm, thấy lợi thì nhớ nghĩa.

5.

Bình, thưởng phạt công bằng.

6.

Nhẫn, khéo nhịn trong sỉ nhục

7.

Khoan, hay dung nạp mọi người.

8.

Tín, hay xem trọng lời hứa.

9.

Kính, có lễ với người hiền tài.

10.

Minh, không nghe lời gièm

11.

Cẩn, không trái lễ.

12.

Nhân, khéo nuôi quân sĩ.

13.

Trung, đem mình hiến cho nước.

14.

Phận, biết thôi và đủ.

15.

Mưu, tự liệu về mình trước rồi sau mới liệu địch.

Vả nước lấy binh làm gốc, binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chủ.

Cho nên muốn binh mạnh để chiến thắng thì cần ở sự dùng tướng được người, rồi sau mới có thể uy phục được thiên hạ và các rợ xung quanh.

Đó là gốc lớn để trị nước.

Phàm tướng hay dùng chính mà không dùng kì là tướng giữ gìn; hay dùng kì mà không dùng chính là tướng chiến đấu; kì chính đều dùng cả, đó là tướng giúp nước vậy.

Dấy binh ra quân, bày binh phá trận, xem dáng cờ xí, hiểu tiếng chiêng trống, đo bóng định giờ để quyết lành dữ; theo sự chuyển vận của ngũ hành, ra vào ứng theo thần vị; lấy biến mà dùng binh, khiến kẻ địch không lường biết tự đâu mà đến; lấy thần mà dùng binh, khiến quân ta không biết ta làm gì; động có mực; tĩnh có phương; được thua ở trong tay; thấy trước mà sẽ được lòng của trời đất quỉ thần để yên lòng quân chúng; đó gọi là thiên tướng vậy.

Ở trong bốn cõi, những việc của trăm họ do tướng văn chịu trách nhiệm; ở ngoài bốn cõi, những việc đối với nước địch do tướng võ chịu trách nhiệm.

Tục ngữ nói: Tướng võ tướng văn sáng suốt thì nhà nước không có việc binh.

Khi mềm thì cứng, khi co thì duỗi, sáng mà có dũng, hùng mà có mưu, tròn mà hay chuyển, vòng mà biết mối, trí trùm khắp muôn vật, mà đạo cứu cả thiên hạ, người có cả tám điều ấy thì đủ gọi là đại tướng.

Cho nên bảo rằng tướng là người giúp nước; giúp được chu đáo thì nước có thể mạnh; giúp mà sơ hở thì nước hẳn yếu.

Dùng tướng phải xem diện mạo, xét thần thái mà biết được lòng.

Vua đối với tướng, chọn người hiền mà trao cho quyền bính, cất lên mà không ngờ vực gì, thì tướng tất trong đáp ứng bằng ngay thẳng, ngoài phục vụ bằng thuận tòng.

Đáp ứng bằng ngay thẳng thì luật quân nghiêm; phục vụ bằng thuận tòng thì tiết bề tôi vững.

Cử tướng như thế mà ngăn giặc thì có lo gì phải chở xe xác về đâu.

Quân được hay thua do ở người tướng.

Có phải bởi tướng làm nên đâu, chỉ do sự dùng của tướng mà thôi.

Trí địch muôn người, không dùng được muôn người thì cũng như người ngu vậy; dũng nhất ba quân, nếu không dùng được ba quân thì cũng như người nhát vậy.

Người tướng giỏi đứng đắn mà hay biến hóa, cứng cát mà hay thương người, nhân từ mà hay quyết đoán, dũng cảm mà hay tường tất, lấy sách lược mà chế ngự quan và quân, chưa thấy ai như thế mà không dựng được công nghiệp để dẹp yên họa loạn bao giờ.

Nhà nước hành quân trao luật, cái quyền sinh sát do đại tướng làm chủ.

Làm lòng dạ của nước, nắm sinh mệnh của ba quân, có thể không thận trọng sự lựa chọn hay sao!

Nếu muốn phong tướng, trước phải lấy tinh thần mà xét nên chăng về bốn điều: 1. diện mạo; 2. lời nói; 3. cử động; 4. việc làm.

Sách Vạn cơ chí1:

Dẫu có một trăm vạn quân và một tướng có khí nuốt địch, phỏng đem hết vũ khí của cả nước trao cho, nếu không dùng được người thì làm gì được?

Tướng lớn và nhỏ đều có bốn bậc, tướng nào mà không dự ở cả trong tám bậc ấy, thì không thể gọi là tướng được.

Bốn bậc tướng lớn là: 1) thiên tướng, 2) địa tướng, 3) nhân tướng, 4) thần tướng.

Bốn bậc tướng nhỏ là: 1) uy tướng, 2) cường tướng, 3) mãnh tướng, 4) lương tướng.

Quân đến nơi nào, cũng phải xét kĩ địa lí.

Núi chằm, xa gần, rộng hẹp, hiểm dễ, rừng rú dày mỏng, khe suối sâu nông, nếu xem như ở trên bàn tay, thì khi chiến thắng, sau trước không ngăn trở, tả hữu không ngưng trệ, quân bộ quân kị đi lại đều tiện, giáo mác sử dụng được hợp, chỉ huy tiến thoái đều thuận tình, người ngựa không bị bức nghẽn, đánh giữ thì được lợi về lương chứa, phát quân thì được đủ về nước cỏ, người ngựa không bị đói khát, hãm vào đất chết mà có thể sống, lâm vào chỗ mất mà có thể còn, đất nghịch mà dùng thuận được, đất thuận mà dùng nghịch được, không chọn khó dễ, đều có thể yên mà sau động, động mà quyết thắng, thế gọi là địa tướng2.

_________________________________1.

Chúng tôi không tìm ra sách Vạn cơ chí.

2.

Thiên tướng đã nói ở trên, nên đây chỉ nói địa tướng thôi.

Thanh liêm về của cải, tiết kiệm về tiêu dùng, lơ là về rượu, giữ mình theo lễ, thờ bề trên lấy trung, vui lo cùng quân lính, lấy của địch mà không tích trữ, bắt phụ nữ địch mà không giữ riêng, nghe mưu mà dùng người, gặp ngờ thì phán đoán, dùng mà không lấn người, nhân mà không bỏ phép, giấu tội nhỏ răn lỗi lớn, phạm lệnh không kể là thân, thưởng công không nghĩ đến thù, người già thì nâng đỡ, người trẻ thì vỗ về, người sợ thì làm cho yên dạ, người lo thì làm cho vui lòng, có kiện thì xử đoán, có lạm thì xét minh, có giặc thì đánh dẹp, kẻ mạnh thì nén xuống, kẻ nhát thì che chở, kẻ dũng thì sai khiến, kẻ ngang ngược thì giết, kẻ phục tùng thì tha, người mất thì cho được lại, người quên thì nhắc bảo cho, người quy thuận thì cho tước, người hung bạo thì trấn trị, gần người mưu trí, xa người gièm pha, lấy thành không phải đánh, lấy đất không phải giữ, địch nông cạn thì chờ sinh biến, địch dối trá thì bắt tuân theo, thế trái phải chờ xem, thế thuận thì quyết đánh, thế gọi là nhân tướng.

Lấy thiên tướng làm ngoài, lấy địa tướng làm trong, lấy nhân tướng ở giữa, gồm cả sở trường của ba tướng thì gọi là thần tướng.

Trong khi hành quân, không nệ thiên thời, không nệ địa lợi; dùng người không kì gan hay nhát, nghe có địch thì đi ngay mà không lo ngờ, kẻ nào phạm lệnh thì không kể tội lớn hay nhỏ, buộc ngay vào hình pháp, nghe tiếng là phải sợ, chống lại là phải đánh, thế gọi là cường tướng1.

Quân không kì nhiều hay ít, địch không kì mạnh hay yếu; ba quân theo lệnh, như cánh tay khiến ngón tay, đi lại muôn cách thay đổi, đánh lúc địch chẳng ngờ, cử động như thần, một ngựa một gươm gạt mũi nhọn mà tiến vào trước, khiến quân địch lúng túng, sợ mà lánh xa, thế gọi là mãnh tướng.

Lấy uy tướng làm ngoài, lấy mãnh tướng làm trong, lấy cường tướng ở giữa, gồm cả sở trường của ba tướng thì gọi là lương tướng.

Nhà nước dùng tướng, được thiên tướng có thể chống được giặc trái trời, được địa tướng có thể chống được giặc trái đất, được nhân tướng có thể chống được giặc trái người, được thần tướng có thể chống được giặc cả thiên hạ, tính toán không sót điều gì.

Uy tướng có thể phụ với thiên tướng, cường tướng có thể phụ với địa tướng, mãnh tướng có thể phụ với nhân tướng, lương tướng có thể giữ bốn phương.

Tuy nói mãnh và cường có sự lợi dụng nhanh chóng, nhưng đều không thể dùng riêng được.

Đó là thể của đạo tướng vậy.

Tướng khi ra trận, không hỏi vợ con, là tỏ ra đã dâng mình cho nước.

Vua khi sai tướng không dám khinh thường việc lễ, là tỏ ra tôn trọng việc dùng người.

Tướng khi ở ngoài có quyền không theo mệnh vua, chỉ nhằm tiện của nhà nước mà phục vụ, giữ mình trong sạch, quý trọng quân sĩ.

Cho nên tướng mà cự lời can ngăn thì người anh hùng trở về nhà; không theo chước hay thì kẻ mưu sĩ cũng bỏ đi; coi thiện ác ngang nhau thì hiền ngu lẫn lộn; thưởng phạt rối loạn thì kỉ cương tan tành; mừng nhiều thì không có uy; giận nhiều thì lòng người lìa; nói năng nhiều thì cơ lộ; ham thích nhiều thì trí lầm; rộng rãi thì quân trễ nải; bạo ngược thì quân oán hờn.

Tướng tự chuyên thì người dưới đổ lỗi cho; tướng tự khen mình thì người dưới không chịu lập công; tướng nghe lời gièm thì người ngay bỏ đi; tướng ăn của đút thì quân lính gian tham; tướng ham việc trong buồng thì quân lính dâm đãng; không tham tài mê sắc thì giữ mình được trong sạch; biết lánh hiềm xa ngờ thì uy tín được tăng thêm; tính kĩ lo xa cho nên không hỏng việc; theo thời thuận biến cho nên lập được công; thương yêu người dốc lòng làm, cho nên được yêu mến; nghe lời phải xa kẻ gièm cho nên người xa lại; tính trước rồi sau mới làm, để phòng biến cố; trước có tín rồi mới nói cho nên thu phục được người dưới; tội thì trị công thì thưởng cho nên uốn nắn được người; xem gương việc xưa sáng suốt việc nay cho nên soi sáng được quân chúng; nhũn nhặn trọng người nên được lòng người; bỏ tư theo công nên giữ được nước.

Tinh thần cho ngay thẳng, hình thể cho đoan trang, động phải như gió, đứng phải như núi, chiến đấu phải như sấm sét, cơ mưu phải như quỷ thần, lo nghĩ phải thấu như ánh sáng, mệnh lệnh phải nghiêm như sương tuyết.

Có được như thế mới có thể đương được mệnh lớn của nhà nước.

______________________________1.

Nguyên văn chép sót đoạn giải thích về uy tướng.

Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị; quân có người chết, tướng phải khóc thương; quân đi thú xa thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi; phàm có khao thưởng thì chia đều cho quan và quân; khi có hành động thì phải họp cả tướng tá để bàn, mưu đã định thì sau mới đánh.

Cho nên tường với binh có cái ơn hòa rượu1 và hút máu2.

Cho nên quân sĩ có những cuộc vui thui trâu bày rượu và cái khí ném đá; yêu mến như con em theo cha anh, như chân tay đỡ đầu mắt, không ai ngăn được.

Nếu hà khắc là cho họ đau đớn, bắt làm lụng nặng nề, thì những tiếng thù oán nghe không xiết!

Tướng súy coi quân sĩ như cỏ rác thì quân sĩ coi tướng súy như cừu thù, cầu họ làm bộ hạ thì cũng là khó, còn mong gì họ gắng sức liều chết để đánh địch nữa.

Đó là đại lược về phép tướng súy vỗ về quân sĩ vậy.

Sách Binh lược3:

Tướng giỏi cầm quân không vì quân ta nhiều mà kiêu, không vì quân ta ít mà nản chí.

Kể ra mạnh không gì bằng hổ dữ, nhưng bắt lợn ở chuồng bị nhân dân đuổi thì cũng phải quặp đuôi mà chạy không dám nhìn lại.

Như thế mới biết lấy nghĩa thì có thể sai khiến người ta.

Tướng kiêu có thể đánh bại.

Làm tướng không nên cậy trí dũng mà kiêu với người.

Tống Nghĩa4có thể khống chế được Hạng Lương, Bạch Khởi5có thể giết được Triệu Quát6 là vì thế.

Khâm Phúc triều Minh đi đánh nước Bản-nhã-thất-lý, vì cậy dũng mà cả quân tan vỡ; Liễu Thăng vào nước Nam ta, vì chí kiêu mà đổ quân mất mạng, là thế đó.

Khích phát sĩ khí, hoặc lấy quả cảm mà khích, như Lưu Ỷ nhà Tống7 giữ Thuận-xương, quân Kim lấn xuống Nam, Ỷ cho đục thuyền để bảo cho giặc biết là ý mình quyết không bỏ đi, rồi chứa củi để đốt; hoặc lấy trung nghĩa mà khích, như Trương Tuần8 đặt tượng vua Đường rồi khóc lạy để trách sáu tướng, do đó sĩ khí thêm hăng; hoặc lấy lòng chí thành mà khích, như Trương Tuần thề chết mà tướng sĩ đau lòng, đánh giặc cả vỡ, như vua Đường Đức-tôn biết nhận lỗi mình mà quần thần ra sức liều chết để giúp vua; hoặc lấy lợi hại mà khích, như Dương Khánh giữ Thành-đô, mộ quân sĩ cấp cho nhiều lương, dân nước Thục cầm dao phay và gậy không đến giúp quan quân, binh Man cả thua, như Lý Mục nhà Tống đóng giữ Dục-châu, có được vật gì thì cho hết quân sĩ, như Hoàng Thạch công nói: được của chia cho quân lính thì quân lính hết sức liều chết, Lý Mục làm đúng như thế.

______________________________1.

Hòa rượu: Sách Hoàng Thạch công nói xưa có một vị tướng giỏi gặp người biếu một vò rượu, ông đem đổ xuống sông, rồi bảo các tướng sĩ đón dòng nước mà uống, ba quân do đó mà liều chết đánh.

2.

Hút máu: Ngô Khởi giỏi dùng binh, một người lính có nhọt, Khởi ghé mồm hút mủ, làm cho người có nhọt ấy cảm khích mà ra sức.3.

Chúng tôi không tìm ra sách Binh lược.

4.

Tống Nghĩa: Lệnh doãn cũ của nước Sở, theo Hạng Lương đi đánh Tần, phá được quân Tần, Lương có vẻ kiêu căng, Nghĩa can rằng đánh được giặc mà tướng kiêu căng, quân lười biếng, tất phải thua.

Lương không nghe, sau bị tướng Tần đánh cho thua.5.

Bạch Khởi: Người Tần (thời Chiến quốc), giỏi dùng binh.

Thời Tần Chiêu vương phong là Vũ an quân, phá nước Triệu, chôn quân đầu hàng của Triệu hơn 40 vạn người.

6.

Triệu Quát: Người nước Triệu (thời Chiến quốc), khi còn ít tuổi học binh pháp, nói việc hành quân tự cho là thiên hạ không ai bằng; sau làm tướng thay cho Liêm Pha, đổi hết ước thúc và đổi đặt quân lại; cuối cùng bị tướng nước Tần là Bạch Khởi bắn chết.7.

Lưu Ỷ: Thời Tống Cao-tôn, Lưu Ỷ đánh phá thái tử Kim là Ngột Truật ở Thuận-xương.

8.

Trương Tuần: Người Nam-dương, thời Đường Huyền-tôn, An Lộc Sơn làm loạn, Tuần và Hứa Viễn giữ thành Thư-dương đánh nhau với An Lộc Sơn.

*

* *

Sách Võ kinh:

Thần nghe nhà vua có đạo tất thắng, cho nên có thể bao gồm rộng lớn mà thống nhất chế độ, như thế thì thiên hạ biết uy.

Tất cả có 12 điều: 1) Liên hình, bắt cả đội ngũ cùng giữ và phải tội cùng nhau; 2) Địa cấm, tức là cấm chỉ đường đi để săn bắt kẻ gián điệp; 3) Toàn quân, các giáp thủ cùng phụ với nhau, ba người năm người đồng nhau kết liền cho chặt chẽ; 4) Khai tái, tức là chia đất có giới hạn, nơi nào thuộc người nào thì đều chết theo trách nhiệm mà bền giữ; 5) Phân hạn, tức là tả hữu giữ nhau, trước sau đợi nhau, lấy xe làm tường để đón để giữ; 6) Hiệu biết, tức là hàng trước phải tiến để cách hàng sau, không được giành trước làm mất trật tự; 7) Ngũ chương, tức là tỏ rõ hàng lối cho trước sau khỏi rối; 8 ) Toàn khúc, tức là khúc đoạn theo nhau đều có phần riêng; 9) Chiêng trống, tức là phấn khởi người có công, giúp đỡ người có đức; 10) Trận xa, tức là tiếp liền hàng đầu, ngựa che bên mắt; 11) Tử sĩ, tức là trong quân lính có người tài trí cưỡi trên chiến xa, trước sau ngang dọc, trổ mưu chống địch; 12) Lực tốt, tức là nắm toàn bộ và khúc đoạn, không vẫy cờ thì không động.

Mười hai phép ấy dạy xong, phạm lệnh không tha thì quân yếu có thể làm cho mạnh, chức thấp có thể làm cho cao, phép tồi có thể làm tốt lại, dân xa có thể làm gần lại, người đông có thể trị được, đất rộng có thể giữ được, xa nhà nước không ra khỏi thành, giải áo giáp không ra khỏi túi, mà uy phục được thiên hạ vậy1.

Phàm sai quân, pháp lệnh ở mình gọi là chuyên, cùng với người dưới sợ phép gọi là pháp.

Việc quân không nghe lời vặt, ra trận không cầu lợi vặt thì nên.

Làm việc tinh vi là đạo.

Kể ra, tướng là chí, ba quân là khí.

Khí dễ động mà khó chế.

Do tướng chế mà trấn tĩnh thì sợ hãi có thể định, phản trắc có thể yên, trăm vạn quân có thể tiêu diệt được.

Chí ngay thẳng mà mưu có một, khí phấn khởi mà dũng gấp đôi thì thắng.

Thấy địch yếu thì mình tiến; thấy địch mạnh thì mình dừng; đừng lấy ba quân đông đúc mà khinh địch; đừng lấy chịu mệnh làm trọng mà liều chết; đừng lấy mình làm quý mà rẻ người; đừng lấy ý kiến riêng mà trái quân chúng; đừng xem lời biện thuyết là tất đúng; quân sĩ chưa ngồi thì đừng ngồi, quân sĩ chưa ăn thì đừng ăn, nắng rét cùng chịu.

Như thế thì quân sĩ hẳn hết lòng liều chết.

Việc của một người, không tiết lộ cho hai người; việc làm ngày mai, không tiết lộ hôm nay; suy xét cho kĩ càng, đừng để hở sợi tóc; bí mật ở công việc sợ tiết lộ ra lời nói; bí mật ở lời nói sợ tiết lộ ra nét mặt; bí mật ở nét mặt sợ tiết lộ ở tinh thần; bí mật ở tinh thần sợ tiết lộ trong mơ mộng.

Có việc làm cần giấu đầu mối, có việc dùng phải cấm không nói.

Nhưng cũng có điều nên nói trước để tỏ lòng tin, giữ, thành thực.

Việc của người làm tướng, lặng lẽ cho kín, ngay ngắn cho yên, có thể làm tối tai mắt của quân sĩ, khiến họ không biết đổi việc làm; thay mưu kế, khiến người ta không biết; đổi chỗ ở, dời đường đi, khiến người ta không lo lắng.

Đến kì dấy quân thì như lên cao mà bỏ thang đi; quân tiến sâu vào đát chư hầu mà phát động binh cơ cũng như đuổi đàn dê cho chạy đi chạy lại, chẳng biết đi đâu, tập họp ba quân đông đúc mà đưa vào chỗ hiểm.

Đó là việc của người làm tướng.

Bàn việc thì đời xưa không bằng đời nay; việc nhiều thì phép cũng nhiều; thời đổi thì lí cũng đổi.

Cho nên người biết đọc binh thư xưa thấy chỗ không nên thì biết là câu nệ, thấy lời nói bậy thì biết là sai, thấy điều chưa đủ thì biết là thiếu.

Xét chỗ huyền để tìm ra thực; thấy viển vông phô trương thì phải gạt đi; thành bị cướp thì phải làm thế nào để thoát2; thấy kiêng mà có khi cứ làm; thấy răn mà vẫn ra quân; xét chỗ hở mà thấy chỗ khít; do chỗ lệch mà đến chỗ toàn; lật chính thay kì, hóa cơ làm biến; người ta câu nệ ở phép mà ta thì làm ra phép; người khéo dùng phép thì lấy thần trí mà xem phép.

Xét tính mệnh để biết lẽ sâu của việc binh; xem cổ sử để tìm dấu vết của việc binh; xét tượng số để biết hết điềm triệu về binh; hiểu thời vụ để thấu suốt chính sách về binh; khảo khí cụ để sửa sang vật dùng của binh.

Khi tĩnh thì đặt các việc vô hình để bày mưu trước.

Khi động thì lấy những điều đã nghĩ để kinh lý thiên hạ.

Tướng mùa đông không mặc áo da, mùa hè không dùng quạt, trời mưa không che lọng, gọi là lễ tướng; không tự mình theo lễ thì không biết quân lính rét nóng thế nào.

Ra cửa ải gặp chỗ bùn lầy, tướng nên xuống đi bộ, thế gọi là lực tướng; không tự mình ra sức thì không biết quân lính vất vả thế nào.

Phàm khi hành quân, quân đã định được nơi đóng thì tướng mới đến nhà ở; cơm nấu chín rồi thì tướng mới đi ăn; quân không đỏ lửa thì tướng cũng không đỏ lửa; thế gọi là ngăn lòng muốn.

Tướng không ngăn lòng muốn thì không thể biết quân lính no đói thế nào.

___________________________1.

Xem Võ kinh trực giải, phần “Tư mã giáp”, chương 22.2.

Chữ Hán là “thành đoạt vụ thoát”, chúng tôi dịch thế này, nhưng thấy nghĩa câu này không được thông mạch lạc với văn trên dưới mấy.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển I: V. Kén Luyện - VI. Quân Lễ - VII: Tuyển Người Làm Dưới Trướng


V – KÉN LUYỆN

Sách Võ kinh:

Võ vương hỏi: Đạo luyện quân là thế nào? – Thái công thưa: Trong quân có những người rất dũng lược, liều chết, không sợ đau đớn bị thương, họp thành một toán gọi là quân mạo nhẫn1.

Có những người vọt xa nhảy cao, nhẹ chân chạy nhanh, họp lại thành một toán gọi là quân quán binh2.

Có những người bầy tôi thất thế muốn lập lại công danh, họp lại một toán gọi là quân tử đấu3.

Có những người là con em của tướng chết trận, muốn vì tướng mình mà trả thù, họp lại một toán gọi là quân căm thù.

Có những người nghèo đói bực dọc muốn cho thỏa chí, họp làm một toán gọi là quân tất tử4.

Thái tôn hỏi: Gia-cát Lượng bảo rằng quân có tiết chế mà không có tướng tài cũng không thể thua được, mà quân không có tiết chế dù có tướng tài cũng không thể thắng.

Trẫm ngờ lời bàn ấy không được thực đúng. – Tĩnh nói: Lời bàn của Võ hầu5 có tính chất khích động.

Thần xét sách Tôn tử nói rằng: Dạy tập không rõ ràng, quan và quân không thường, bày binh ngang dọc, thế gọi là loạn.

Từ xưa loạn quân tự thua không thể chép hết.

Kể ra, dạy tập không rõ ràng, là nói sự huấn luyện không theo phép đời xưa; quan và quân không thường là nói tướng thần trao nhiệm không giữ chức lâu; loạn quân tự thua là nói tự mình tan vỡ chứ không phải bị địch đánh mà tan vỡ.

Thế nên Võ hầu nói quân có tiết chế thì dù tướng tầm thường cũng chưa thua.

Nếu quân tự loạn thì tuy tướng giỏi cũng nguy, còn ngờ gì nữa.

Thái tôn nói: Phép dạy tập thực là không thể bỏ qua. – Tĩnh nói: Dạy tập đúng phép, thì quân sĩ vui dùng; dạy tập không đúng phép thì dù sớm chiều đôn đốc cũng không ích gì.

Thần vì thế mà chăm chắm theo phép xưa, đều đã chép thành đồ, ngõ hầu mới thành quân có tiết chế được.

_____________________________1.

Mạo nhẫn: Xông liều vào chỗ nhọn sắc, tức quân cảm tử.2.

Quán binh: Quân quen thạo.

3.

Tử đấu: Đánh nhau đến chết.4.

Tất tử: Quyết phải chết. – Sách Võ kinh trực giải, phần “Lục thao”, chương 53.

5.

Tức Gia-cát Lượng, phong Vũ hương hầu.

Vua Thái Tôn nói: Trẫm cùng Lý Tích bàn binh pháp nhiều chỗ giống thuyết của khanh, nhưng Tích không xét xuất xứ.

Khanh chế “Lục hoa trận pháp” do đâu mà ra? – Tĩnh nói: Thần căn cứ ở phép Bát Trận của Gia-cát Lượng, trận lớn bọc trận nhỏ, dinh lớn bọc dinh nhỏ, góc cạnh liền nhau, chỗ cong chỗ gãy đối nhau, phép xưa như thế, thần nhân đó mà vẽ đồ; cho nên ở ngoài thì vạch vuông, ở trong thì vòng tròn, mà thành “Lục hoa trận pháp”, tục gọi là thế. – Thái tôn nói: Trong tròn, ngoài vuông, là nghĩa gì? – Tĩnh nói: Vuông sinh ở bước, tròn sinh ở kỳ, vuông để bước được đúng, tròn để quanh được đều.

Thế là số bước theo hình đất, đi quanh theo hình tròn.

Bước đúng, quanh đều. thì biến hóa không rối.

Bát trận là phép cũ của Võ hầu vậy. – Thái tôn nói: Vẽ vuông để xem phép bước, vẽ tròn để xem phép binh khí.

Bước là phép dạy chân, binh [khí] là phép dạy tay, tay chân tiện lợi, thế là được quá nửa công việc. – Tĩnh nói: Ngô Khởi có nói: Dứt mà không lìa, lùi mà không tan, đó là phép bước vậy.

Dạy quân sĩ cũng như bày con cờ trên bàn cờ, nều không vạch đường thì con cờ dùng sao được?

Tôn tử nói: Đất sinh ra đo, đo sinh ra lường, lường sinh ra số, số sinh ra cân, cân sinh ra thắng.

Cho nên quân thắng như lấy dật (nén) mà cân với thù1, quân bại như lấy thù mà cân với dật.

Đều bắt đầu tự đo lường vuông tròn cả. – Thái tôn nói: Lời nói của Tôn tử sâu sắc lắm, không đo đất xem xa gần, xem hình rộng hẹp, thì lấy gì mà chế được tiết. – Tĩnh nói: Người tướng tầm thường ít biết được tiết.

Người đánh giỏi thì thế hiểm mà tiết liền.

Thế ví như dương nỏ, tiết ví như phát nẩy nỏ.

Thần trình bày thuật như sau: Phàm lập đội, đều cách nhau 10 bước, đội trú cách đội sư 20 bước, Cứ cách một đội thì dựng một đội chiến.

Tiến thì 50 bước làm một tiết.

Khi thổi một tiếng tù và thì các đội đều tan ra, đứng ở trong vòng 10 bước.

Đến tiếng tù và thứ tư, thì lồng thương mà ngồi quỳ xuống.

Bấy giờ đánh trống, cứ 3 tiếng trống thì 3 tiếng dạ, đi từ 30 đến 50 bước, để chế thế biến của địch.

Quân ngựa theo sau tiến ra, cũng đi 50 bước, rồi đến lúc thì dừng lại.

Quân chính dừng trước, quân kì dừng sau.

Xem tình hình địch thế nào, lại nổi hiệu trống để đổi dùng quân kì trước dùng quân chính sau để đón địch đến, tìm chỗ sơ hở mà đánh.

Đó là trận pháp “Lục hoa”, đại khái đều thế2.

Thái tôn nói: Năm lá cờ máu ngũ phương làm chính ư?

Vẫy cờ phan vào đánh làm kỳ ư?

Khi phân khi hợp thay đổi nhau thì số đội làm sao cho đúng được?

-Tĩnh nói: Thần tham dùng phép xưa; hễ 3 đội hợp lại thì cờ dựa nhau mà không giao nhau, 5 đột hợp lại thì 2 cờ giao nhau, 10 đội hợp lại thì 5 cờ giao nhau.

Khi thổi tù và và mở 5 lá cờ giao nhau ra thì một đội tản ra làm 10; mở 2 lá cờ giao nhau thì một đội tản ra làm 5; mở cờ dựa nhau không giao nhau thì một đội lại tản làm 3.

Quân tản thì lấy hợp làm kỳ, quân hợp thì lấy tản làm kỳ.

Ra lệnh 3 lần, trình 5 lần, tan 3 lần, hợp 5 lần thì lại trở về chính.

Thế thì phép bốn đầu tám đuôi3 có thể dạy được.

Đó là điều đội pháp lên làm.

Thái tôn khen phải.

Thái tôn nói: Sách Thái công chép rằng: Đất vuông hoặc 600 bước, hoặc 60 bước để nêu rõ 12 vị trí địa chi, phép ấy làm như thế nào?

- Tĩnh nói: Vạch đất vuông 2.200 bước theo hình khai phương, mỗi bộ chiếm 20 bước vuông đất, chiều ngang cứ 5 bước đứng một người, chiều dọc cứ 4 bước đứng một người, gồm là 2.500 người, chia làm 5 phương, để bốn chỗ đất không gọi là chứa trận ở trong trận vậy.

Khi Võ vương đánh Trụ, quân Hổ bí đều cầm 3.000 người, mỗi trận4có 6.000 người, cộng là 30.000 quân.

Đó là phép vạch đất của Thái công vậy.

- Thái tôn nói: Phép “Lục hoa trận” của khanh, thì vạch đất bao nhiêu?

- Tĩnh nói: Xét cả khu đất này vuông 1.300 bước, nghĩa là sáu trận, đều chiếm đất 400 bước, chia làm hai hướng đông và tây để đất không 1.200 bước làm nơi dạy đánh.

Thần từng dạy 30.000 người, mỗi trận 5.000 người, lấy một trận làm nơi đóng đinh, còn 5 trận thì theo hình trận vuông, tròn, cong, thẳng, nhọn, mỗi trận năm lần biến, phàm 25 lần trở lên.

- Thái tôn nói: Trận “Ngũ bành” là thế nào?

- Tĩnh nói: Vốn nhân theo màu sắc của năm phương mà đặt tên ấy.

Còn vuông, tròn, cong, thẳng, nhọn là do địa hình mà làm.

Phàm quân mà không quen tập năm cái ấy thì đánh giặc làm sao được?

Binh là nghề biến trá, cho nên tạm gọi tên là Ngũ hành để mượn cải nghĩa thuật số tương sinh tương khắc mà tô điểm thêm.

Thực ra thì tượng của binh là nước, tùy theo địa thế mà chảy. chính là ý ấy5.

___________________________1.

Thù là 1 phần 24 của lạng.2.Dịch theo Võ kinh trực giải quốc ngữ ca.

3.

Bốn đầu tám đuôi là phép Bát trận đồ.4.

Cả thảy 5 trận.

5.

Trở lên, đoạn Thái tôn hỏi Lý Tĩnh đáp là chép ở sách Võ kinh trực giải, phần “Lý Vệ công vấn đối”.

*

* *

Sách Ngô tử:

Phàm người ta thường chết vì không hay, bị thua vì điều mình không giỏi, cho nên phép dùng binh phải lấy sự dạy răn làm trước.

Một người học chiến1 dạy thành mười người, mười người học chiến dạy thành trăm người, trăm người học chiến dạy thành nghìn người, nghìn người học chiến dạy thành vạn người, vạn người học chiến dạy bành ba quân.

Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi nhọc, lấy no đợi đói; tròn mà chợt vuông, ngồi mà chợt chạy, đi mà chợt dừng, tả mà chợt hữu, trước mà chợt sau, chia mà chợt hợp, thắt mà chợt cởi, mỗi một cách biến đều phải tập rồi mới trao cho cầm binh.

Đó gọi là việc của người làm tướng2.

*

* *

Sách Kinh thế:

Binh lính ngày thường đắm ở nơi yên ổn, không tập khó nhọc, nay nghĩ chữa tính trễ biếng ấy, rèn luyện gân cốt cho cứng rắn, thì không gì bằng dạy cho một phép đi vây.

Xét ra từ trước đến nay các đốc phủ, đề trấn ở trực tỉnh đều có lệ đi vây cả: Mỗi năm ở trong buổi mùa thu mùa đông thì cử hành 2, 3 lần để tập quen khó nhọc, mà cổ động sĩ khí, phép ấy hay lắm.

Thần trước ở dinh Đề đốc Tứ-xuyên cũng đã từng làm, rất là có ích.

Đến nay hơn 30 năm, không những chưa hề cử hành, mà nếu đem phép đi vây hỏi bọn thuộc viên thì cũng mù mịt không biết gì, thực phép chỉnh đốn quân đội không phải như thế.

Thần chịu ơn đặc biệt của Hoàng thượng giao cho việc trọng ở chốn biên cương, phàm việc có ích cho võ bị không điều gì là không hết lòng trù hoạch, mong được thực hiện.

Nay thần định trong ba tháng mùa đông năm nay, việc làm ruộng đã xong, xét theo lệ trước, ở miền sát Thành-đô, chọn một nơi không gần ruộng vườn, dựa kề gò núi, rộng không quá 100 dặm, dẫn quan binh đến để đi vây săn.

Trong mấy ngày đi về sẽ tự làm việc huấn luyện, dạy cho phương chia hợp tiến lui và phép đóng đinh đỗ ngủ, để cho cưỡi ngựa rong ruổi, quen việc kỵ xạ, quân bộ thì đuổi chạy ngoài đồng nội, rèn lấy sức chân.

Trước ngày thì nhắc rõ hiệu lệnh, nghiêm buộc quân lính, không cho rối động, cốt khiến binh dân cùng giữ yên.

Tập rèn như thế mỗi năm ba lần, lấy làm lệ thường, thì binh lính quen việc khó nhọc, rồi hẳn ngày tinh mạnh, kỵ binh bộ binh, kỹ nghệ tự nhiên thuần thục.

Lại khiến tập biết phép phân hợp tiến lui, và phép lập dinh đỗ ngủ.

Binh và ngựa sẽ khỏe mà có tiết độ, hàng trận sẽ được chỉnh tề.

Đối với dinh ngũ các tỉnh biên thùy rất là có ích.

Giáo lệnh của quân: Chia dinh định trận, có ai tiến lui trái lệnh thì ghép vào tội phạm giáo; hàng trước thì hàng trước dạy, hàng sau thì hàng sau dạy, hàng tả thì hàng tả dạy, hàng hữu thì hàng hữu dạy, giáo cử 5 người, ai đứng đầu là có thưởng.

Người nào không dạy thì cũng tội như người phạm giáo, phải đi quanh dưới đất để tự nêu tội với hàng ngũ; trong hàng ngũ người nào tự đứng ra nêu tội thì cho miễn tội.

Phàm một ngũ ra trận, nếu có một người không tiến ra liều chết với địch, thì người dạy cũng bị tội như người phạm pháp.

Phàm thập phải giữ cả thập, nếu mất một người mà 9 người không liều chết với địch, thì người dạy cũng tội như người phạm pháp.

Từ thập trở lên cho đến tì tướng, có kẻ nào không theo pháp lệnh thì người dạy cũng tội như người phạm pháp.

Người ngũ trưởng dạy 4 người, lấy miếng ván làm trống, lấy mảnh sành làm chiêng, lấy gậy làm cờ; đánh trống thì tiến, phất cờ thì bước nhanh, đánh chiêng thì lùi, vẫy sang tả thì sang tả, vẫy sang hữu thì sang hữu, chiêng trống đồng đánh thì người xuồng.

Ngũ trưởng dạy xong, hợp lên tốt trưởng; tốt trưởng dạy xong, hợp lên bá trưởng; bá trưởng dạy xong, hợp lên binh úy; binh úy dạy xong, hợp lên tì tướng; tì tướng dạy xong, hợp lên đại tướng; đại tướng dạy xong, bày trận ở giữa nội.

Đặt nêu lớn cách 300 bước một cái.

Bày trận xong thì bỏ nêu đi, cứ 100 bước đi thong thả, 100 bước rảo mau, 100 bước chạy bay.

Tập đánh cho thành tiết, theo đó mà thưởng phạt.

____________________________1.

Học chiến: Học phép đánh trận.2.

Ngô tử, thiên IV.

*

* *

Sách Võ kinh:

Đờì xưa dạy dân, phải lập đấng bậc sang hèn, khiến không lấn nhau; đức nghĩa không vượt qua nhau, tài nghệ không che lấp nhau, sức mạnh không xâm phạm nhau, cho nên phương hướng cùng theo mà ý hòa hợp.

Đời xưa pháp luật của nước không đem dùng với quân, mà kỷ luật của quân không đem dùng với nước, cho nên sức không bao giờ vượt nhau.

Phàm trống, có trống đi với trống, có trống đi với cờ, trống đi với xe, trống đi với ngựa, trống đi theo, trống đi với binh khí, trống ở đầu, trống ở chân, đó là bảy thứ trống, phải gồm cho đủ.

Phàm quân nhiều cũng như ít, quân thắng cũng như không.

Binh khí không bảo là sắc, áo giáp không bảo là bền, xe không bảo là vững, ngựa không bảo là tốt, quân không tự cho là nhiều, thế cũng chưa nắm được đạo.

Phong.

Ở ngoài tám trận Thiên Địa Phong Vân Long Hổ Điểu Xà ra, lại lập chín quân, chia làm sức xung phong của trận:

1.

Thân quân là những người trai tráng trong làng, tôi tớ trong nhà để hộ vệ đại tướng.

2.

Phẫn quàn là quân phục thù chuộc tội, nguyện đi hàng đầu.

3.

Thủy quân là quân có thể xông pha sóng gió, cướp lái lật thuyền.

4.

Hỏa quân là quân có thể phóng hỏa cầu hỏa lôi từ xa tới trận địa.

5.

Cung nỗ quân là quân có thể nấp ở dương cung, muôn tên đều bắn, chống địch ở ngoài trăm bước.

6.

Xung quân là quân sức lay núi non, khí vung cờ xí, có thể hãm trận bắt giặc.

7.

Kỵ quân là quân khỏe mạnh phi thường, bay chạy ở trong khoảng hai hàng trận, đuổi đánh đến nơi xa xôi.

8.

Xa quân là quân sức vóc nhanh nhẹn, tiến thì không sợ tên đạn, lui thì ngăn được ngựa chạy, khiến địch không thể xông đến được.

9.

Du quân là quân dò thăm tình hình - cơ nghi để giúp đỡ ba quân, cử động đều rất quan hệ, thoăn thoắt như vượn leo, sói tuột, rắn bò, chuột rúc, qua chỗ hiểm vượt chỗ sâu, trèo thành khoét vách.

Trong chín quân ấy, thân quân thì hộ vệ ở trung quân, còn dư thì chia tám góc, góc nào thì ngăn giữ góc ấy, khi hợp thì đều tiến ra, lúc co lúc duỗi, khiến cho trong khoảng một trận như huyết mạch liền nhau, nhờ đó mà thông suốt được.

Kết.

Ba quân đông đúc, duy hiệp theo từng người mà cố kết thôi.

Người trí thì cho được phát triển; người dũng thì cho được dùng sức; ai có lòng muốn thì cho được thỏa; ai bất khuất thì cho vươn lên, cho hả được giận, cho trả được thù.

Thấy người đau ốm cũng như mình đau ốm; giết kẻ có tội thì lòng không nỡ; người có công thì dù nhỏ cũng thưởng; người đắc lực thì ban thưởng cho nhiều; được gì thì chia đều; làm vất vả thì đãi hậu; thành thực yêu quân chúng; bắt địch ít giết hại.

Được như thế, chẳng những ba quân thấy vẫy cờ là theo, mà khắp thiên hạ cũng nghe tiếng là theo về.

Ngự.

Việc binh không phải là việc lành.

Tài lợi cũng dùng, tài hại cũng dùng; người võ thì hay giết, người dũng thì hay ác, người trí thì hay dối trá, người mưu thì hay tàn nhẫn, việc binh không bỏ sót người võ, người dũng, người trí, người mưu, tức là không bỏ sót người hay giết, người độc ác, người dối trá, người tàn nhẫn.

Cho nên khéo chế ngự thì dùng lấy tài năng mà bỏ điều hung ác, thu điều ích mà ngăn điều tổn.

Thế thì thiên hạ không ai là không tài; quân thù cũng có thể vời được; quân giặc cũng có thể vỗ về; trộm cướp cũng có thể dùng; cho đến kẻ dám khinh nhờn pháp luật, bỏ đi theo địch, cũng đều có thể sai khiến được.

Luyện.

Ý phấn khởi mà sức nhút nhát, ấy là người khí suy; sức khỏe thừa mà lòng sợ sệt, ấy là người mật vỡ, khí suy mật vỡ thì trí dũng hết mà không thể dùng được.

Cho nên cần phải lập thế để mà luyện khí, khinh thắng để mà luyện mật, bày lòng để mà luyện tình, thống nhất phép dạy để mà luyện trận.

Lệ.

Cái phép khuyến khích quân sĩ, đừng cậy ở pháp lệnh.

Cho danh thì kẻ cứng mạnh cũng phấn khởi; dụ lợi thì người nhẫn nghị cũng phấn khởi; bị hãm vào chỗ nguy, nếu lấy thuật mà lừa thì người nhu nhược cũng phấn khởi: Tướng hay dùng cả ân uy thì ai nấy đều hiệp, chước gì cũng nên, sĩ tốt trong ba quân, ai cũng như hùm bay rồng uốn, gặp địch là đánh được.

Nếu lại lập thế đề giúp uy, đủ tiết để hộ khí, thì dù thua cũng chẳng nhụt được khí, dù nguy cũng chẳng núng được lòng; thế thì lại không người nào và không lúc nào mà không khiến phấn khởi được.

Lặc.

Kìm ngựa thì phải dùng dàm khóa, kìm binh thì phải dùng pháp lệnh.

Cho nên người lấy được thiên hạ không bỏ phép.

Nhưng ơn nặng cũng có thể thi hành trừng phạt; trừng phạt thi hành rồi sau mới có uy.

Thế nên người giỏi dụng binh, lấy sự được mất mà làm công tội, rõ sự đánh chạy để mà cưu thương.

Giết một người mà mọi người sợ; giết kẻ nhát, chém kẻ thua, mà quân sĩ càng phắn khởi; đứng thì như núi, động thì như lở, khiến quân sĩ không dám khinh pháp lệnh, cho nên chỉ có được mà không có thua.

Tuất.

Trời sinh ra nhân tài rất là khó.

Kẻ sĩ tri mưu, mang trách nhiệm giúp mà không thấy được dùng, muốn đi với địch thì ta chống.

Kẻ làm tướng phải mở rộng lòng mà hỏi han, không để cho người ta không được tri ngộ.

Đó là một điều thương kẻ sĩ.

Những kẻ sĩ mang giáp trụ, phơi sương nằm nội, chịu đói chịu rét, đau đớn thân thể mà không kêu khổ, trải bao khó khăn mà không kêu nhọc.

Cho nên người giỏi dùng binh không để cho họ bị hãm với địch và không giết càn.

Đó là hai điều thương kẻ sĩ.

Nhuệ.

Nuôi uy quý ở ngày thường; xem biến quý ở mưu trí.

Hai quân sát nhau, một tiếng hô mà phấn khí lên, chỉ là có nhuệ khí mà thôi.

Mọi người không dám ra mà mình dám ra là nhuệ.

Quân địch đông xông lại, mình ít mà dám xông ra là nhuệ.

Ra vào giữa quân địch, đi lại xông pha là nhuệ.

Làm mạnh, làm khỏe, dũng cảm mãnh liệt là nhuệ.

Như gió, như mưa, như non lay núi lở là nhuệ.

Tướng vụt mà tiến lên, quân ùa mà xông vào, quân và tướng đều là nhuệ cả.

Chỉ nhuệ không thì vấp ngã, không nhuệ thì suy.

Có mưu trí mà chu tất, phát ra mà thu lại được, thì nhuệ hay vô cùng.

Trận.

Nói về trận, thì có vài mươi nhà, ta gồm hết mà tóm lại.

Hình trận dáng như chữ nhân 人 gọi tên là Nhân trận.

Thuận cũng là chữ nhân, nghịch cũng là chữ nhân, tiến cũng là chữ nhân, thoái cũng là chữ nhân, hợp lại cộng làm một người, tan ra cũng làm một người.

Một người làm một trận, nghìn muôn người sống làm một trận, nghìn muôn người hợp làm một trận, nghìn muôn người động làm một người.

Nhuệ binh ở trước, trọng binh ở sau, phong quân để xông mà du quân để đi quanh.

Ở trong chia làm âm, dương, hư, thực, đương, thụ, xả, xung1, khi bay, khi nấp, khi thổ, khi nạp2, khi động, khi tĩnh, khi nhóm, khi trương.

Đấu mà không thể loạn, lùi thì dựa nhau, không dựa thì nguy.

Người không tự loạn, loạn thì chỉnh ngay; người có thể tự dựa và phải dựa người, loạn làm sao được?

Cao cao thấp thấp tùy theo thế, dài ngắn rộng hẹp biến theo hình.

Trận chữ nhân thật thần vậy.

_____________________________1.

Đương, thụ, xả, xung: lúc chống giặc, lúc chịu giặc, lúc bỏ, lúc xông.2.

Khi thổ, khi nạp: Khi nhả ra, khi nuốt vào.

VI - QUÂN LỄ

Phụ: Thưởng phạt.

Trị quân phải theo lễ, mà quyền bính ở mình.

Trị quân mà đối với người trẻ người lớn đều có lễ, thì biết là người đủ làm được việc.

Trị quân mà không theo lễ, thì tướng nhỏ có thể lấn được tướng súy, tướng súy có thể lấn được thiên tử, họa loạn do đó mà sinh ra.

Quyền lớn không thể không ở mình được, nếu quyền dời xuống người dưới, trên dưới thế ngang nhau, trên không sai khiến được dưới, dưới không bẩm báo lên trên, đó là quyền lớn không ở mình vậy.

Thời Hậu Đường quân sĩ giết tiết độ sứ, rồi nhân lấy chức của người bị giết ấy mà trao cho.

Gần đây như họ Trịnh mất quyền thống ngự, quân sĩ sinh kiêu1, đến nỗi loạn vong, thì cũng giống thế.

Tuốt gươm đứng dậy, giết trâu khao quân để yên ủi khuyến miễn, thì sĩ khí phấn khởi lên nhiều.

Nên trọng thưởng ở nơi biên cảnh.

Khi quân Di Địch lấn cõi, bọn đại gian thì mưu can phạm đạo thường, bề tôi giỏi thì vâng mệnh đi đánh để giữ vương quốc, siêng việc vua mà lập công lớn.

Binh pháp nói: công lao không việc nhỏ nào mà không chép để thưởng.

Ở quân thì đi đứng cứng cáp; khi đi mau thì quả quyết; mặc binh phục thì không lạy; ngồi xe binh thì không chào; qua cửa thành không rảo bước; gặp việc nguy không nhường ai.

Cho nên lễ với pháp là ngoài với trong, văn với võ là tả với hữu2.

Khi xe vua đến, tôi con nên giết trâu lọc rượu để đãi trăm quan, há dám đem quân giặc mà biếu cho vua cha đâu?

Quân (đi thú) đi sau tướng lại3 mà đến sau chỗ đại tướng một ngày thì cha mẹ vợ con cùng bị tội hết4; quân trốn về nhà một ngày mà cha mẹ vợ con không bắt hay nói ra thì cũng đồng tội.

Đánh trận mà quân sĩ bỏ trốn và tướng lại bỏ sĩ tốt mà chạy một mình thì đều chém.

Lại trước bỏ quân mà thua chạy, sau lại hay chém được mà cướp nắm lấy quân thì thưởng.

Ba quân đại chiến, nếu đại tướng chết mà quan lại đi theo 500 người trở lên không hay liều chết với địch được thì chém, những lính theo gần ở tả hữu đại tướng khi ra trận cũng đều chém hết; còn dư sĩ tốt nào có quân công thì đoạt một cấp, không có quân công thì đi thú ba năm.

Đánh trận mà mất người trong ngũ và người trong ngũ chết mà không lấy được xác, thì các người đồng ngũ đều bị đoạt hết công, lấy được xác thì đều tha tội...

Dùng phép mà ngăn cái tệ trốn về và cấm binh bỏ trốn, đó là điều thắng thứ nhất của quân.

Thập và ngũ cùng liến nhau và khi chiến đấu quan binh cùng cứu nhau, đó là điều thắng thứ hai của quân.

Tướng hay lập uy, quân giữ kỷ luật, hiệu lệnh thì tin, đánh giữ đều được, đó là điều thắng thứ ba của quân.

Phép ra lệnh cấm quân sĩ5.

Phụ: Thưởng phạt.

Thái công nói: Tướng lấy việc giết được người lớn làm uy; thưởng cho người nhỏ thì sáng.

Vì giết người quý trọng đương có quyền là hình gia lên trên hết, thưởng đến những kẻ chăn trâu, nuôi ngựa, nấu bếp là thưởng đến dưới cùng.

Do đó mà uy tín của tướng có thể lập được.

Quân chưa gần gũi mà đã trừng phạt thì họ không phục, không phục thì khó dùng; quân đã gần gũi mà không thi hành trừng phạt thì không thể dùng được.

Cho nên khi ra lệnh thì dùng văn, mà thi hành thì dùng võ thế mới gọi là tất lấy được.

Lệnh đó quen thi hành, đem ra dạy dân thì dân hẳn phục, đem dùng với quân thì cũng theo.

________________________________1.

Tức là loạn Kiêu binh đời Lê Cảnh Hưng ở nước ta.2.

Đoạn này đã có chép ở trên chương “Tướng đạo”, dẫn lời Võ kinh.

3.

Tướng lại: Tướng là người cầm quân, chỉ huy, lại là người giữ việc giấy má sổ sách trong quân.4.

Đoạn này chép ở Võ kinh, chương 24 “Binh lệnh hạ”.

Võ kinh trực giải quốc ngữ ca dịch câu này là: “Đi thú giữ sau tướng viên, một ngày thì cũng tội liền vợ con”.

5.

Chương này chép ở Hổ trướng khu cơ, ở đây bỏ, xin xem Hổ trướng khu cơ ở sau.

VII – TUYỂN NGƯỜI LÀM VIỆC DƯỚI TRƯỚNG.

Sách Võ kinh:

Thiên văn 2 người, giữ việc xem sao và xem lịch, xem gió, chọn ngày giờ, xét tai dị; địa lợi 2 người, tra xét hình thế lợi hại, xa gần, khó dễ; binh pháp 2 người, giảng bàn binh pháp, luyện tập quân sự; thư toán 4 người, biên ghi lương thực, quân số khí giới; y sĩ 2 người, điều trị cho quan và quân; du sĩ 5 người, phòng làm gián điệp tuần thám; từ trát 4 người, để thảo giấy tờ và việt chương tấu.

*

* *

Sách Kinh thế:

Sẵn quân mười vạn, nếu không có vài nghìn tử sĩ xông pha vào nơi hung hiểm thì không thề dùng kỳ1 được.

Hành quân đi nghìn dặm, nếu không có vài lũ gián điệp xuất qủy nhập thần thì cũng không thể dùng kỳ được.

Ta xem những nhà chuyên dùng kỳ, có người mưu sẵn đã thành mà lâm trận thì thua.

Há chẳng phải là tử sĩ thì chỉ giúp tướng cao sang2, gián điệp chỉ là do trưởng công bằng sao!

Động bằng ơn, kết bằng nghĩa, còn sợ không được, huống chi tướng không có chuyên quyền, mà lương không có để dùng lúc bất thần; trong hội đầu cơ, chớp mắt không kịp, tuy muốn dùng kỳ, nhưng không biết tự đâu mà dùng được.

Nhà vua có chân tay tai mắt; đại tướng có lông cánh tán tương, cho nên quân đội dùng nhân tài, cũng ngang với triều đình.

Có trí sĩ như tham mưu, hay tán hoạch, hay mưu lược, chủ dùng ở nơi màn trướng mà quyết định việc quân cơ, động có việc gì là hỏi; có dũng sĩ như kiêu tướng, hay kiện tướng, hay mãnh tướng, chủ việc quyết chiến để xung đột, dẫn quân tiến lên; có thân sĩ, như tướng riêng, như tướng cầm tay, như tướng nanh vuốt, chủ việc hộ vệ tả hữu, để mà tuyên lệnh và cầm nắm binh cơ; có thức sĩ, hiểu thế trận, biết biến hóa, xem khí tượng, nghiệm gió mưa, hiểu hết thế đất, rõ tình hình địch, xem xét những điều nhỏ nhặt, giữ việc tiến chỉ của cả quân; có văn sĩ biết suốt xưa nay, hiểu thấu nguồn gốc, giữ nghi tiết, rộng bàn bạc, thảo hịch viết sớ, sửa soạn từ chương; có thuật sĩ tính về thời nhật, xét lẽ âm dương, xem bói toán, giữ đi về, luyện mồi thuốc độc, khiến việc quyền nghi nên chăng, lợi mình hại giặc; có số sĩ, biết vận nước, đón cơ hội, nhằm đánh úp đặt phục, tính lương cỏ, chép vật dùng, ghi công trạng, giữ sổ quân, biên hết tài năng, tính sổ nhiều ít; có kỹ sĩ như kiếm khách, đâm tử sĩ, khinh trộm cắp, úp thuyết khách, xét gián điệp, khiến ra vào đồn địch, xem cơ mà đặt mưu; có nghệ sĩ, sáng chế đồ dùng, quy hoạch ngòi hồ, sửa đồ xấu hỏng, chế vật mới lạ, đảo lớn nhỏ, rút xa gần, đổi trên dưới, lật nặng nhẹ, theo phép cổ, soạn sách mới, trang bị binh vật, để chu toán việc đánh giữ.

Ngoài ra còn có các tài khác, như kịch, như múa, như cười, như mắng, như hát, như nhảy, như vượt, như bay, như vẽ, như nấu nước uống, như nhuộm màu nhuộm bùn, như mượn đồ vật, như nhanh chân đi giỏi, tóm lại không sao kể hết tên được, nhưng đều là kỹ năng đủ dùng để làm việc và gỡ rối.

Tất phải kén chọn tinh tế khiến mọi người đều giỏi việc mình phụ trách, để cho việc gì cũng có người chuyên, mà trong quân không có việc gì không làm được.

Đến như hiến mưu định sách thì chẳng chọn người, thình lình mà gặp, tuy một người lính thường cũng cần nhấc lên, lời nói chỉ có tiến mà không cự tuyệt, dù chẳng hay cũng chẳng phạt, như thế thì người anh hùng đều về.

Đó là hình tượng các ngôi sao trong vũ lâm vậy.

Trời sinh ra người, khí trụ ở trong lòng thì trí tuệ, khí tan ra chân tay thì chất phác.

Chất phác thì sức nhiều; trí tuệ thì yếu nhiều.

Trí dũng đều gồm được thì đời ít có.

Cho nên tài người nào có thể vượt một trăm người thì làm trưởng trăm người, vượt được một nghìn người thì làm trưởng nghìn người, vượt qua nghìn người thành một quân thì có thể đối phó cơ sự ở một mặt, có thể đảm đương sức chống ở một mặt, đủ làm trưởng cả quân.

Quân có lúc có, thì tướng cần có thể dùng một mình, cho nên người khéo dùng tài thì những chức thiên tì3cũng đều là đại tướng cả.

_______________________________1.

Dùng binh lẻ.2.

Tướng cao sang, có quyền lớn của nhiều để thưởng to nên người ta cam liều chết để lấy thưởng.

3.

Thiên tì: Tức thiên tướng và tì tướng.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển I: VIII.Đồ Dùng Của Binh - IX.Hiệu Lệnh


VIII - ĐỒ DÙNG CỦA BINH

Cuốc xẻng để làm đất; rìu búa dao cưa để làm gỗ; thợ vàng thợ sắt để làm đồ ngũ kim; trâu ngựa để chuyên chở; gà chó để xem ngày giờ; thợ may để chế quần áo; thuốc men để chữa bệnh; chông sắt để phòng đón đường; giày da để phòng chạy xông; lương khô đề phòng lúc hết ăn.

*

* *

Phàm voi thấy đồ hỏa khí và tiếng súng thì chạy, khi chạy thì người không thể giữ nổi, khó bề rèn tập cho quen; phải đào một cái hố to có thể cho voi đủ đứng được, bề sâu chừng 5 thước, đuổi voi xuống đó, rồi sau đem đồ hỏa khí để tập, lúc đó voi dầu có sợ hãi cũng không thể chạy được.

*

* *

Phép nhử lấy ngựa của giặc.

Xưa Sử Tư-minh nhà Đường làm phản, có ngựa tốt nghìn con, hằng ngày cho ra bến sông để tắm, rồi cho đi quanh về để tỏ là có nhiều ngựa.

Lý Quang-bật1 sai tìm ngựa cái ở trong quân được 500 con, cho đem buộc ở trong thành, chờ khi ngựa giặc ra hết bến sông, ngựa cái cứ hí mãi lên, ngựa giặc lội qua sông chạy sang, bấy giờ đuổi vào trong thành hết thảy.

Phép nuôi ngựa.

Mỗi tháng cứ đến ngày dần đầu tiên, đem muối cho ngựa ăn thì ngựa không bệnh.

Hỏa tiễn (tên lửa).

Sách Binh lược:

Tên lửa thế mạnh, quân địch sợ hơn cung nỏ.

Người khéo chế có thể bắn xa được 6, 7 trăm bước.

Mỗi một cái tên lửa phải giọt ước 3 vạn dùi mới thành.

Trên đầu dùng thuốc súng Hồi-hồi2 ước 2 phần 10.

Vì tên lửa sức lớn mà chiếu buồm mỏng bắn qua không cháy lên được, như sợ nó thấu qua thì ở dưới chỗ miệng lửa cách một hai tấc, dùng mảnh tre gài chéo chữ thập để ngăn lại.

ở chỗ tre và sắt tiếp nhau thì dùng dây gân buộc lại và sơn đi.

Cái vè ở mũi tên cũng phải sơn cho nó chịu gió mưa và khí ẩm.

Tên lửa ở phương Nam chế hay để tụ hàng mấy chục hay trăm cái vào một cái lòng, gọi là ổ tên, hay là lồng lửa.

Chín cái gọi là lồng cửu long.

Hạng nhỏ thì gọi là tên vọt, ngồi trên ngựa cũng có thể bắn được.

Hình 1.

Hỏa tiễn

Chông sắt đánh bẫy ngựa.

Đào một cái hố sâu rộng vuông vừa 4 thước, đem chông sắt đặt vào trong, trên gác cây nhỏ, rồi lấy cỏ và đất phủ bằng đi, tự nhiên như chỗ đất hoang, nếu giặc xông vào dinh ta thì người ngựa tất sập xuống hố mà bị thương.

Quân phục vùng dậy mà bắt sống.

Hình 2.

Hố sập ngựa

_____________________________________1.

Lý Quang bật: Người đời Đường, làm tiết độ sứ đời Đường Túc tôn, bình loạn An Sử.2.Thuốc súng Hồi-hồi: Tức là thuốc hỏa được dùng để bắn súng, vì đầu tiên do người Hồi-hồi, tức người A-rập đem vào Trung Quốc nên gọi là thuốc súng Hồi-hồi.

Súng.

Binh bộ chúng tôi kính cẩn tâu về việc bàn giảm nguyên lệ được dùng thuốc súng cho các hạng súng, kính đóng thành tập dâng tâu, ngửa mong nhà vua soi xét.

Nay đã vâng sắc: Lần này thí nghiệm súng Chấn uy đại tướng quân, lệ cũ dùng 10 cân, nay chỉ dùng 8 cân mà tiếng bắn ra vang dội, như vậy thuốc súng mới giã này mạnh hơn trước nhiều lắm.

Vậy giao cho Binh thương đồng với bọn hộ vệ cảnh tất, bàn tính bớt cân lạng cho được thỏa đáng, và thông sức cho các địa phương, hết thảy tuân theo.

Nay bộ thần đã vâng mệnh hội đồng với bọn loan giá, chiếu theo lệ cũ dùng thuốc cho các hạng súng, bàn bạc chước định.

Trừ các hạng súng xung tiêu diễn bắn các đạn chấn địa lôi, liên châu, lan can, thì lâm thời chiếu theo xa, gần mà lượng dùng thuốc, không thể ấn định được, ngoài ra các thứ súng đồng, gang, sắt và các súng thần công, thần cơ, đều là bắn đạn chì, đạn gang, nay xin chiếu theo sức thuốc thêm bớt thế nào, hễ là thuốc cũ thử bắn chỉ 2 độ hay 3 độ thì xin y theo lệ cũ mà làm, còn súng nào dùng thuốc mới thì xin nên tinh giảm 2 phần 10, cho độ số được thích nghi.

Bọn chúng tôi đem tình tiết tính bàn giảm bớt thuốc súng và mỗi hạng súng dùng thuốc bao nhiêu, theo khoản liệt kê ra sau.

Như được ơn chuẩn cho, xin cung chép cho địa phương tuân theo mà làm.

Kính tâu:

Kê khai:

Các hạng súng đồng, gang, sắt. (Như bắn ở trường bắn, lấy 1 tấc đường kính nòng súng và đạn bắn đến 100 trượng làm độ, quá thì sợ sai).

Súng 5 tấc 2 phân – (Đích bắn 520 trượng).

Lệ cũ thuốc đạn, mỗi phát 20 cân, nay lệ mới mỗi phát 16 cân.

Độ bắn hơn 600 trượng, nhảy thêm ngoài 100 trượng.

Súng 5 tấc 1 phân – (Đích bắn 510 trượng).

Lệ cũ thuốc đạn 19 cân 8 lạng, nay lệ mới 15 cân 9 lạng 6 tiền.

Độ bắn hơn 580 trượng, nhảy thêm 100 trượng.

Súng 5 tấc – (Đích bắn 500 trượng).

Lệ cũ 19 cân.

Lệ mới 15 cân 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn 560 trượng, nhảy thêm 90 trượng.

Súng 4 tấc 9 phân – (Đích bắn 490 trượng).

Lệ cũ 18 cân 8 lạng, lệ mới 14 cân 12 lạng 8 phân.

Độ bắn 540 trượng, nhảy 80 trượng.

Súng 4 tấc 8 phân – (Đích bắn 480 trượng).

Lệ cũ 18 cân, lệ mới 14 cân 6 lạng 4 tiền.

Độ bắn 520 trượng, nhảy 70 trượng.

Súng 4 tấc 7 phân – (Đích bắn 470 trượng).

Lệ cũ 17 cân 8 lạng, lệ mới 14 cân.

Độ bắn hơn 500 trượng, nhảy 60 trượng.

Súng 4 tấc 6 phân – (Đích bắn 460 trượng).

Cũ 17 cân, mới 13 cân 9 lạng 6 tiền.

Độ bắn hơn 490 trượng, nhảy thêm 50 trượng.

Súng 4 tấc 5 phân – (Đích bắn 450 trượng).

Cũ 16 cân 8 lạng, mới 13 cân 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn hơn 480 trượng, nhảy 40 trượng.

Súng 4 tấc 4 phân – (Đích bắn 440 trượng).

Cũ 16 cân, mới 12 cân 12 lạng 8 tiền.

Độ bắn hơn 470 trượng, nhảy 35 trượng.

Súng 4 tấc 3 phân – (Đích bắn 430 trượng).

Cũ 15 cân 8 lạng, mới 12 cân 6 lạng 4 tiền.

Độ bắn 460 trượng, nhảy 30 trượng.

Súng 4 tấc 2 phân – (Đích bắn 420 trượng).

Cũ 15 cân, mới 12 cân.

Độ bắn 450 trượng, nhảy 25 trượng.

Súng 4 tấc 1 phân – (Đích bắn 410 trượng).

Cũ 14 cân, mới 11 cân 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn hơn 440 trượng, nhảy 20 trượng.

Súng 4 tấc – (Đích bắn 400 trượng).

Cũ 13 cân, mới 10 cân 6 lạng 4 tiền.

Độ bắn hơn 435 trượng, nhảy 15 trượng.

Súng 3 tấc 9 phân – (Đích bắn 390 trượng).

Cũ 12 cân, mới 9 cân 9 lạng 6 tiền.

Độ bắn hơn 430 trượng, nhảy 10 trượng.

Súng 3 tấc 8 phân – (Đích bắn 380 trượng).

Cũ 11 cân, mới 8 cân 12 lạng 8 tiền.

Độ bắn hơn 425 trượng, nhảy trên dưới 10 trượng.

Súng 3 tấc 7 phân – (Đích bắn 370 trượng).

Cũ 10 cân, mới 8 cân.

Độ bắn hơn 420 trượng, nhảy trên dưới 9 trượng.

Súng 3 tấc 6 phân – (Đích bắn 360 trượng).

Cũ 9 cân, mới 7 cân 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn hơn 415 trượng, nhảy trên dưới 7,8 trượng.

Súng 3 tấc 5 phân – (Đích bắn 350 trượng).

Cũ 8 cân, mới 6 cân 6 lạng 4 tiền.

Độ bắn hơn 410 trượng, nhảy trên dưới 6,7 trượng.

Súng 3 tấc 4 phân – (Đích bắn 340 trượng).

Cũ 7 cân 8 lạng, mới 6 cân.

Độ bắn hơn 408,9 trượng, nhảy trên dưới 5,6 trượng.

Súng 3 tấc 3 phân – (Đích bắn 330 trượng).

Cũ 7 cân, mới 5 cân 9 lạng 6.

Độ bắn hơn 407,8 trượng, nhảy trên dưới 5,6 trượng.

Súng 3 tấc 2 phân – (Đích bắn 320 trượng).

Cũ 6 cân 8 lạng, mới 5 cân 3 lạng 5 tiền.

Độ bắn hơn 406,7 trượng, nhảy trên dưới 5,6 trượng.

Súng 3 tấc 1 phân – (Đích bắn 310 trượng).

Cũ 6 cân, mới 4 cân 12 lạng 8 tiền.

Độ bắn 405,6 trượng, nhảy trên dưới 5,6 trượng.

Súng 3 tấc – (Đích bắn 300 trượng).

Cũ 5 cân 8 lạng, mới 4 cân 6 lạng 4 tiền.

Độ bắn 404,5 trượng, nhảy trên dưới 4,5 trượng.

Súng 2 tấc 9 phân – (Đích bắn 290 trượng).

Cũ 5 cân, mới 4 cân.

Độ bắn hơn 403,4 trượng, nhảy trên dưới 4,5 trượng.

Súng 2 tấc 8 phân – (Đích bắn 280 trượng).

Cũ 4 cân 8 lạng, mới 3 cân 9 lạng 6 tiền.

Độ bắn hơn 402,3 trượng, nhảy trên dưới 4,5 trượng.

Súng 2 tấc 7 phân – (Đích bắn 270 trượng).

Cũ 4 cân, mới 2 cân 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn 400 trượng, nhảy trên dưới 3,4 trượng.

Súng 2 tấc 6 phân – (Đích bắn 260 trượng).

Cũ 3 cân 8 lạng, mới 2 cân 12 lạng 8 tiền.

Độ bắn trên dưới 390 trượng, nhảy trên dưới 3,4 trượng.

Súng 2 tấc 5 phân – (Đích bắn 250 trượng).

Cũ 3 cân, mới 2 cân 6 lạng 4 tiền.

Độ bắn trên dưới 380 trượng, nhảy 3,4 trượng.

Súng 2 tấc 4 phân – (Đích bắn 240 trượng).

Cũ 2 cân 12 lạng, mới 2 cân 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn trên dưới 370 trượng, nhảy 3,4 trượng trở xuống.

Súng 2 tấc 3 phân – (Đích bắn 230 trượng).

Cũ 2 cân 8 lạng, mới 2 cân.

Độ bắn trên dưới 360 trượng.

Súng 2 tấc 2 phân – (Đích bắn 220 trượng).

Cũ 2 cân 4 lạng, mới 1 cân 12 lạng 8 tiền.

Độ bắn trên dưới 350 trượng.

Súng 2 tấc 1 phân – (Đích bắn 210 trượng).

Cũ 2 cân, mới 1 cân 9 lạng 6 tiền.

Độ bắn trên dưới 340 trượng.

Súng 2 tấc – (Đích bắn 200 trượng).

Cũ 1 cân 12 lạng, mới 1 cân 6 lạng 4 tiền.

Độ bắn trên dưới 330 trượng.

Súng 1 tấc 9 phân – (Đích bắn 190 trượng).

Cũ 1 cân 8 lạng, mới 1 cân 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn trên dưới 320 trượng.

Súng 1 tấc 8 phân – (Đích bắn 180 trượng).

Cũ 1 cân 4 lạng, mới 1 cân.

Độ bắn trên dưới 310 trượng.

Súng 1 tấc 7 phân – (Đích bắn 170 trượng).

Cũ 1 cân, mới 12 lạng 8 tiền.

Độ bắn hơn 300 trượng.

Súng 1 tấc 6 phân – (Đích bắn 160 trượng).

Cũ 14 lạng, mới 11 lạng 2 tiền.

Độ bắn trên dưới 280 trượng.

Súng 1 tấc 5 phân – (Đích bắn 150 trượng).

Cũ 10 lạng, mới 9 lạng 6 tiền.

Độ bắn trên dưới 260 trượng.

Súng 1 tấc 4 phân – (Đích bắn 140 trượng).

Cũ 10 lạng, mới 8 lạng.

Độ bắn trên dưới 240 trượng.

Súng 1 tấc 3 phân – (Đích bắn 130 trượng).

Cũ 8 lạng, mới 6 lạng 8 tiền.

Độ bắn trên dưới 220 trượng.

Súng 1 tấc 2 phân – (Đích bắn 120 trượng).

Cũ 6 lạng, mới 4 lạng 8 tiền.

Độ bắn trên dưới 200 trượng.

Súng 1 tấc 1 phân – (Đích bắn 110 trượng).

Cũ 4 lạng, mới 3 lạng 2 tiền.

Độ bắn trên dưới 180 trượng.

Súng 1 tấc – (Đích bắn 100 trượng).

Cũ 3 lạng, mới 2 lạng 4 tiền.

Độ bắn trên dưới 160 trượng.

Súng 9 phân – (Đích bắn 90 trượng).

Cũ 2 lạng 5 tiền, mới 2 lạng.

Độ bắn trên dưới 140 trượng.

Súng 8 phân – (Đích bắn 80 trượng).

Cũ 2 lạng, mới 1 lạng 4 tiền.

Độ bắn trên dưới 120 trượng.

Súng 7 phân – (Đích bắn 70 trượng).

Cũ 1 lạng 5 tiền, mới 1 lạng 2 tiền.

Độ bắn trên dưới 100 trượng.

Súng 6 phân – (Đích bắn 60 trượng).

Cũ 1 lạng, mới 8 tiền.

Độ bắn trên dưới 80 trượng.

Súng 5 phân – (Đích bắn 50 trượng).

Cũ 8 tiền, mới 6 tiền 4 phân.

Độ bắn trên dưới 70 trượng.

Súng 4 phân – (Đích bắn 40 trượng).

Cũ 5 tiền, mới 4 tiền.

Độ bắn trên dưới 60 trượng.

Súng 3 phân – (Đích bắn 30 trượng).

Cũ 1 tiền 8 phân, mới 1 tiền 6 phân.

Độ bắn trên dưới 50 trượng.

Súng Thần công – Cũ 1 lạng, mới 8 tiền.

Độ bắn hơn 80 trượng hay hơn 60 trượng.

Súng Thần cơ – Cũ 6 tiền, mới 4 tiền 8 phân.

Độ bắn hơn 50 trượng hay hơn 45 trượng.

Bài ca tập hỏa pháo1

Quân tựu trường tập,

Nghe ba hồi kiểng.

Chính phụ bày hàng,

Treo cửa châu mai.

Cắm cờ, mang bầu thuốc lại.

Tháo máy móc hậu, kéo súng vô.

Chắn hậu, đặt đòn ngáng lấy nút.

Chờ giở vung ngòi, nút gió.

Giơ tay chắn lỗ ngòi, gõ ba cái,

Giở nắp bầu thuốc, vào thuốc,

Ấn thuốc, nạp thuốc một lần.

Lấy đạn, nạp đạn ba lần.

Đậy vung ngòi về nạp.

Cất đòn ngáng, tháo máy móc hậu, kéo súng ra.

Hai dây quàng đốc.

Hai đòn cầm xe.

Giở vung ngòi, lay ngòi thăm thuốc.

Lấy bầu, giở nắp bầu, dỗ thuốc ngòi.

Đậy nắp bầu, cà thuốc.

Rút bầu, bỏ sau lưng.

Đậy vung ngòi, nhắm làn,

Hoặc thiên tả, hoặc thiên hữu,

Hoặc lấy cao lấy thấp, hoặc lấy làn ngay.

Lấy có, thổi hỏa mai.

Cất đòn xe, tháo dây.

Giữ quàng đốc.

Giở vung ngòi, châm.

Diễn hải pháo, hai người.

Kiểng hồi, quân tựu trường tập.

Chính phụ bày hàng,

Treo cửa châu mai.

Tháo máy móc hậu, kéo súng vô.

Chánh phụ đều chực mà chắn hậu.

Chánh đặt đòn ngáng lại, chắn lỗ ngòi,

Phụ lấy nút lên, mà chực nút gió.

Chánh phụ đều về.

Chánh lấy thuốc lên, xé bao vào thuốc.

Phụ cầm nắp mà ướm một chày.

Chánh ra lấy đạn, vào đạn rồi,

Lại chắn lỗ ngòi.

Phụ nặp đạn ba chày.

Chánh đậy vung ngòi, ra đòn ngáng.

Phụ về nạp, tháo hậu móc máy.

Chánh phụ đều kéo súng ra,

Hai dây máy bỏ đường xà.

Chánh phụ đều về.

Chánh lấy bầu ngòi mà vào.

Phụ lấy lồng đèn mà vô.

Chánh giở vung, lay ngòi, thăm thuốc.

Lấy bầu, giở nắp bầu, dỗ thuốc ngòi.

Đậy vung lên.

Chánh phụ đều về.

Chánh treo bầu ngòi.

Phụ treo lồng đèn.

Chánh lấy cò vào mà chực.

Nhắm làn cao thấp.

Phụ thì giở vung ngòi ra.

Chánh kêu: “Tổng, bắt, cậy”, truyền chắn bắn.

_____________________________1.

Bài ca này và hai bài sau đều chép bằng chữ Nôm.

Thao diễn bắn súng quá sơn.

Phép truyền tập bắn quá sơn.

Hỏa liên cũng một phép nay rõ ràng.

Tua noi1 hiệu lệnh cho hòa.

Lập tức nghe ba hồi trống đã vang.

Súng đặt có hàng, binh đóng chỉnh nghiêm.

Thứ nhất tiếng kiểng dóng lên,

Thảy trong hàng ngũ đều yên xứ ngồi.

Thứ hai lại một tiếng bồi,

Lấy nút nút gió, chắn ngòi lại thăm.

Trước vào thuốc nạp một lần,

Sau vào đạn nạp là xong ba chày.

Tiếng thứ ba lay ngòi dỗ thuốc,

Rồi lấy vung đậy lên.

Tiếng thứ tư cầm cò thổi lửa,

Vung liền giở ra.

Thứ năm hai tiếng liền hòa bắn đi.

Thể lệ định phân số hộc phương thuốc súng.

Trong 100 cân cần dùng diêm tiêu 75 cân 10 lạng, lưu hoàng 11 cân 4 lạng, than 13 cân 2 lạng. giã chày nước 5 ngày đêm, thành thuốc 94 cân 11 lạng, trừ ngoài phi hao mất 5 cân 5 lạng.

Giã bộ 6 ngày, thành thuốc 94 cân 8 lạng, trừ phi hao 5 cân 8 lạng.

Thí nghiệm cho đúng thức hạng lớn 3 độ; hạng vừa 4 độ; hạng nhỏ 5 độ.

Năm Tự Đức thứ 12 Binh bộ tâu xin 3 độ phải được 5 độ, 4 độ phải được 6 độ, 5 độ phải được 7 độ.

Giã bộ 6 ngày, đổi làm 7 ngày.

Kính vâng đã được chuẩn cho tại án.

Lại tra xét đến cách chế tạo ống phun lửa.

Một ống cần dùng diêm tiêu 9 lạng 3 tiền 3 phân 4 ly, lưu hoàng 2 lạng 6 tiền 6 phân 6 ly.

Than 1 lạng.

Đến như thuốc đạn và phi hao thì không có định lệ.

Mỗi một ống cần dùng 3 tờ giấy định, 5 sợi mây, 1 tờ giấy đại chia làm sáu ống, để trang thuốc ngòi, 1 tờ giấy trung làm ngòi, chia làm hai ống để bọc thuốc ngòi, giấy bản nhỏ 4 tờ để bọc ngoài ống, gạo trắng một bát để nấu hồ, phất giấy bọc 130 ống.

Mỗi một ống đạn 5 lạng 9 phân, thuốc bắn 1 lạng 3 tiền 7 phân, thuốc phun 6 lạng 5 tiền 4 phân.

Thuốc ngòi: Diêm tiêu 1 lạng 2 tiền 5 phân, lưu hoàng 3 tiền 5 phân, than 3 phân.

_____________________________1.

Tua noi: Tiếng xưa nghĩa là nên theo.

IX – HIỆU LỆNH

Nghiêm.

Hiệu lệnh mỗi khi phát ra, ba quân run sợ.

Nghe trống thì tiến lên; nghe chiêng thì dừng lại; nghe súng thì đứng dậy; nghe kiểng thì đi ăn; nghe thanh la thì hăng lên; vẫy cờ thì chạy; mưa không tránh vào nhà; nóng không cởi áo giáp; nhọc không được bỏ khí giới; thấy khó không lùi; gặp lợi không lấy; hãm thành không giết càn; có công không được khoe khoang; đi nhanh không nghe tiếng; địch xung mà không động; địch chấn mà không kinh; bị úp mà không chạy; bị cắt mà không chia.

Thế mới là nghiêm.

Tài miệng lưỡi.

Thánh hiền lấy không có tài miệng lưỡi mà miễn lỗi.

Binh pháp lại lấy tài miệng lưỡi làm có công.

Cho nên người giỏi dùng binh lừa dối cũng làm, phải trái dùng tài, có khi phạm đến việc trời, có khi phạm đến tục cấm, có khi giả làm quỷ thần, có khi thác làm mộng mị, có khi đưa vật kì quái, có khi đặt lời sấm dao1, cử động mỗi khi mỗi khác, tiếng nói tùy lúc trái nhau, cổ lệ lòng quân, đập tan khí giặc, khiến người không thể lường được; khi thì cấm làm càn, rồi lại dùng làm càn, bởi vì lời nói càn dối, về việc chính đáng thì không đủ cậy, mà về sự giả thác thì lại có thừa.

Con gái.

Đại tướng đời xưa, đôi khi có nhờ con gái.

Gái dùng về văn để cho giặc vui thích chơi đùa; gái dùng về võ để tiến đánh, ruổi xe, giải nguy, gỡ nạn, dùng cơ ứng biến, đều có lợi cả.

Văn.

Võ cố nhiên chỉ bàn về dũng.

Nhưng tờ văn tờ hịch, có khi nhân một lời mà nước phục quân hàng.

Sĩ tốt có hơi biết chữ thì cưỡi ngựa ngâm thơ, đi đường hát lái.

Điều lệ cấm lệnh, khi rỗi thì khiến học tập cho quen, hiểu rõ được nghĩa, làm nhà binh quân tử sư nho2 thì cũng không hại gì.

______________________________1.

Lời ca dao đồng dao có điềm tốt xấu về tương lai.2.

Nghĩa là người quân nhân mà biết chữ thông văn thì cũng không hại gì.

*

* *

Người ta do lòng mà định lời nói, định lời nói để phát ra lệnh.

Cho nên cần phải cổ vũ lòng hùng dũng, nói ra lời cứng rắn, mài sắc lòng sắt đá, nghiêm giữ khí phong sương, phát ra hiệu lệnh, nêu rõ phép quân.

Trước 3 ngày treo lệnh ở cửa quân(Treo mệnh lệnh trước 3 ngày rồi mới thi hành, để cho mọi người đều biết), sai quân chính đánh mảnh gỗ đi tuyên bố ở trong sáu quân.

Ai phạm lệnh thì sai quân chính theo lệnh tập họp quân nhân, rồi sau mới hành hình, khiến cho sáu quân đều biết cả.

Đại tướng đã chịu mệnh, nắm giữ quyền đánh dẹp, khao quân ở đồng nội, rồi mới xuống lệnh.

Ai không theo lệnh thì giết.

Phàm nghe trống mà không tiến, nghe chiêng mà không dừng, cờ cất mà không đứng dậy, cờ hạ mà không phục xuống, thế gọi là quân trái; như thế thì chém.

Gọi tên không thưa, vời mà không đến, đi về trái hẹn, hành động trái luật, thế gọi là quân lờn; như thế thì chém.

Đêm giữ đánh kiểng, lười mà không đánh, giờ canh không đúng, khẩu hiệu không rõ, thế gọi là quân lười, như thế thì chém.

Nói nhiều lời oán, giận không được thưởng, chủ tướng sai khiến thì ương bướng khó trị, thế gọi là quân ngang, như thế thì chém.

Oang oang cười nói như không có người, trên ngăn cấm không thôi, thế gọi là quân kiêu, phải chém.

Giữ đồ khí giới, dây cung thì đứt, tên không có vè có mũi, gươm giáo han rỉ, cờ xí rách nát, thế gọi là quân dối, phải chém.

Nói vu nói dối, bày chuyện quỷ thần, giả thác mộng mị, lừa dối quan quân, thế gọi là quân yêu, phải chém.

Hễ đến nơi nào là lấn áp cư dân, thông dâm phụ nữ, thế gọi là quân gian, phải chém.

Nhanh mồm lém lưỡi, tranh cãi phải trái, gây oán với quan quân, lệnh xuống không chịu theo, thế gọi là quân báng, phải chém.

Lấy trộm của người để làm của mình, cướp thủ cấp của người để làm công mình, thế gọi là quân trộm, phải chém.

Hoặc nghe bàn mưu kế và hiệu lệnh, đem nói ra ngoài, để địch nghe biết, thế gọi là quân bội, phải chém.

Khi sai làm việc, ngậm miệng không thưa, gục đầu cúi mình, nét mặt khó khăn, thế gọi là quân nhát, phải chém.

Ra vượt hàng ngũ, tranh trước rối sau, bàn nói om sòm, không theo lệnh cấm, thế gọi là quân rối, phải chém.

Thác đau ốm để trốn khó nhọc, thế gọi là quân trá, phải chém.

Cầm giữ tiền thưởng, trong khi ban thưởng thì thiên vị người thân, khiến cho quan quân kết oán, thế gọi là quân sai, phải chém.

Xem giặc không rõ, thám giặc không tường, đông mà nói không đông, không đông mà nói đông, nhiều mà nói ít, ít mà nói nhiều, thế gọi là quân lừa, phải chém.

Trong khoảng dinh trại, không có việc khao thưởng mà vô cớ uống rượu, thế gọi là quân cuồng, phải chém.

Lệnh này đã lập, quan quân có ai phạm, theo quân pháp mà chém ngay.

*

* *

Không dè dặt lời nói thì mưu phải tiết lộ; không có lệnh nghiêm thì việc hẳn rối; không ban thưởng thì quân sĩ hẳn lười; hàng ngũ rối loạn do ở ám muội, phải xem xét rõ ràng để chữa đi; đêm hôm sợ hãi, cần phải nghiêm túc mà ngăn ngừa.

*

* *

Quân địch vào sâu đất ta, thành quách không bền, lương cỏ thiếu thốn, giữ thì không lợi, ở ta cần hẹn cho giặc là phải đánh.

Kẻ nào nhát lùi thì bảo cho là tất chết, kẻ nào đánh bắt được giặc thì bảo cho là tất thưởng.

Trong lúc đem quân ra trận, kẻ nào quay lại sau thì chém.

Đánh địch mà mình không định, mắt thường lấm lét, thì phải chém.

Có sắc lo buồn mà xoăn xoe, nhìn nhau mà chập chừng mắt, bỏ chiêng trống mà không đánh, đều phải chém cả.

Được một thủ cấp thì cũng hậu thưởng.

Như thế thì có thể dùng thế tán địa1 mà đánh.

*

* *

Đại tướng dùng lễ để thi hành thưởng phạt thì quân sĩ không oán và người ta đều có lòng sợ.

Các điều quân lệnh, phải nghiêm ở trước khi xuất quân, khiến cho tai mắt thấm nhuần, tránh không dám phạm.

- Giả làm vẻ đau ốm mà trốn đi đánh và đi nửa đường mà trốn đánh thì chém.

- Cướp bóc tài vật của dân và hiếp dâm phụ nữ thì chém.

- Đào trộm mồ mả để lấy của cải thì chém.

- Nói chuyện riêng với địch để tiết lộ quân cơ thì chém.

- Tự tiện vào nhà dân ngủ trọ, lìa bỏ hàng ngũ, để mất trật tự thì chém.

- Đêm hôm vô cớ mà tiếng to ầm ĩ, làm kinh động quân, thì chém.

- Đêm hôm phát cháy, vì không cẩn thận mà cháy thì chém.

- Canh giữ và đi tuần sơ hở, kẻ địch thừa dịp hoạt động, thì chém.

- Tự tiện giết tướng tốt đầu hàng thì chém.

- Tướng tốt đầu hàng thì cha con, vợ chồng không được khiến họ chia lìa, làm trái thì chém.

- Đánh nhau vì tư thù mà đến chết thì chém, người cai quản cũng bị phạt.

- Làm hại tài vật của dân gian và trêu cợt vợ con của dân thì phạt trượng nặng.

- Chửi nhau riêng làm mất quân lễ thì phạt trượng.

- Trên dưới tranh giành nhau làm mất trật tự thì phạt trượng.

- Nhận riêng cơm rượu của người khác, để đến nỗi ăn lầm phải thuốc độc của địch, người cai quản bị tội nặng.

- Riêng cùng bọn phù thủy cùng người xem số, xem bói làm phiến động bằng việc họa phúc để cho quân tình ngờ vực, thì phạt trượng.

- Say rượu nói xằng làm mất trật tự, sau khi tỉnh thì phạt trượng.

- Phá rỡ nhà cửa của dân và chặt cắt hoa quả, thì phạt trượng.

_____________________________1.

Thế tán địa là địa thế của quân đánh giặc ở trên đất của mình.

Phát khẩu hiệu.

Buổi chiều, các viên cai án ở trong quân đều hầu quan tham tán, biên lãnh khẩu hiệu, mỗi canh đổi một khẩu hiệu, mỗi khẩu hiệu hai chữ, hỏi một chữ, đáp một chữ, thí dụ hỏi chữ “vũ” thì đáp chữ “cường”, hỏi chữ “dũng” thì đáp chữ “yên”.

*

* *

Sách Kinh thế:

Quân đi không có phép chung, thì phần chia không thể hợp được, phần xa không thể ứng được, chỗ này chỗ kia làm sao hiểu được nhau, đó là đường thất bại vậy.

Nhưng chung mà không kín, lại bị mưu địch thì hỏng.

Cho nên không những phải dùng cờ vàng, ngựa chạy, lệnh tiễn, lửa đốt, khói bốc để báo tin cần kíp, mà hai quân gặp nhau nên kết ám hiệu, đi xa nghìn dặm nên dùng thư trắng viết không thành chữ, làm văn vô hình, làm thẻ không giấy để cho người đem đi không biết, người bắt được cũng không thấy gì, thực là thần vậy.

Nhưng nếu cách địch khó đi, xa mà không tới được, thì lại xem cơ mà làm.

*

* *

Sách Võ kinh:

Võ vương hỏi: Ví như đem quân ta chia ra làm mấy nơi, muốn cho đúng hẹn về họp thì làm thế nào?

Thái công nói: Phàm phép dùng binh, ba quân đông đúc tất phải biến, khi phân khi hợp, đại tướng nên định trước nơi chiến và ngày chiến, rồi sau truyền gửi hịch thư cho các tướng lại, hẹn kỳ đánh thành vây ấp, đều họp ở một nơi để bảo rõ ngày đánh và từng giờ từng khắc.

Đại tướng đặt dinh bày trận, dựng cây đo bóng ở trước trại quân, dẹp đường mà đợi.

Các tướng lại tới đó, so xem ai trước ai sau, người đến trước hẹn thì thưởng, người đến sau hẹn thì chém.

Như thế thì xa gần chạy họp, ba quân đều đến góp sức góp sức hợp đánh.

Vương hỏi: Ông giở sách Cấm thư1 xem ngũ âm thắng bại thế nào? – Thưa rằng: Phàm phép dùng binh, hiệu lệnh là tai mắt, dùng binh mà không rõ hiệu lệnh, như người mù đi đêm.

Tôi xét trong kinh nói việc dùng binh, chuyên lấy hiệu lệnh làm gốc2.

_____________________________1.

Cấm thư: tức là binh thư, xưa là sách cấm.2.

Xem Võ kinh trực giải, phần “Lục thao”.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển II: I.Hành Quân


I - HÀNH QUÂN

Trộm nghe luật quân rất nghiêm, nhà binh cần phải giữ vững.

Cho nên nói “Tội lớn thì giết, tội nhỏ thì răn”, vì muốn khiến lòng quân sợ tướng hơn là sợ địch.

Một khi quân lệnh đã ra thì nghiêm như sương mùa thu, chẳng ai dám phạm.

Do đó nên ngày xuất quân phải vời hết những người quản suất đến để bảo cho những hiệu lệnh ước thúc, cho sao chép lại để khiến mọi người đều biết.

Có bao nhiêu điều kể rõ ở sau:

- Phàm quân đi phải dùng người hướng đạo, vẽ đồ, vẽ các sông núi, nơi hiểm nơi dễ, thế thì như trông thấy giặc ở trước mắt.

Trước hết kén những người am tường đường sá làm đội du binh (hoặc 2, 3, 4, 50 người , có ngựa thì càng hay).

Trong đội phái ra mỗi đạo 9 người, chia làm ba thứ, mỗi thứ 3 người (các ngã đường cũng vậy, đây là theo phép bát quái thám kị), mỗi thứ cách nhau ước một tầm trông, sai người nhìn xem, hoặc lên cao mà trông, hoặc leo cây mà trông, thấy rõ quân địch nhiều hay ít, hoặc dừng, hoặc đi, kíp xuống, chuyển về trình báo.

Nếu thám báo không thực thì cứ luật nghiêm trị; thám báo được đúng thì ghi tên khen thưởng.

- Mỗi một chi binh chia làm 3 toán, trung, tiền, tả, hữu, hậu đều thế (hoặc 1 đội làm một toán, 2 đội làm một toán), có chánh toán, có phó toán, khiến nương tựa lẫn nhau.

- Định đến ngày nào ra quân thì truyền trước cho quản suất đều biết, để chuẩn bị lương thực, súng đạn, chông sắt cùng các hạng đồ sắt, mọi thứ đầy đủ (chông sắt để đặt ở đồn mà tự vệ, các hạng đồ sắt dùng để đẵn cây lấy gỗ làm đồn).

- Đến ngày, trước hết đánh ba hồi trống lớn, các quân họp cả.

Phái người (hoặc thân hành thì hơn) kiểm điểm số quân, khí giới và chông sắt đồ sắt các thứ cho đủ.

Đến giờ lành, trước lấy tù và thổi ba hồi thì quân cầm khí giới; 1 tiếng chiêng thì quân đều bày hàng ngồi.

Trống lớn tiên nghiêm đánh 3 tiếng (tiếng thứ nhất thì lắng nghe, tiếng thứ hai thì động tay, tiếng thứ ba thì đứng dậy), 3 tiếng la đồng thì mở cờ (đến tiếng thứ ba quân đều dựng cờ).

Trống lớn 2 tiếng đánh cặp nhíp, quân đều cầm khí giới.

Trống lớn 3 tiếng thì đi.

Như đi thong thả thì trống lớn đánh 3 tiếng mmotj mà thưa, đi kíp thì đánh mau.

Như sắp đến nơi dừng nghỉ thì trống đánh 3 tiếng rất gấp.

Đã đến nơi đỗ thì trống điểm 2 tiếng gấp, quân đi trước dừng lại.

Trống đánh mau 6 tiếng thì quân đi sau đến hết.

Lại đánh 3 tiếng trống gấp thì quân đều hạ khí giới, 3 tiếng là đồng thì gác khí giới, quân đều nghỉ ngơi.(Quân tuy nghỉ ngơi mà khí giới tùy thân, ngồi đâu thì ngồi đấy, không được om sòm to tiếng và bỏ hàng vượt thứ.

Trước hết du binh thay đổi nhau dò xét cẩn thận và lên cao trông xa bốn phía).

- Phàm quân đi, trừ quân tiền du dò đường, còn phải y theo thứ tự tiền, tả, trung, hữu, hậu mà mỗi toán cách nhau ước khoảng một tầm tên, không được quá xa, cũng không được quá gần.

Lính nấu bếp đều phải theo sau toán quân của mình, để chiếu cố nhau.

Quân đi hàng đôi mà tiến, gươm súng xen nhau, dài ngắn cùng tiếp.

Không được nói cười huyên náo và bỏ hàng mất thứ tự, ai trái thì theo quân luật trị tội.

- Phàm quân đi, đã có du binh để thăm dò, thấy giặc thì về báo, hoặc gấp quá không kịp về thì bắn súng hay đánh một hồi thanh la để chuyển báo.

Ở trung quân đại tướng tức thì cho đánh một hồi thanh la, truyền hiệu cho các toán biết có gặp giặc, mọi người đều chỉnh bị súng ống nạp thuốc đạn để chờ đợi.

Tùy theo số giặc nhiều hay ít, giặc nhiều thì sai ba toán trước tiến lên bày trận đối địch, ít thì sai một toán trước đối địch, hai toán làm tiếp ứng. (Phép dùng cờ ngũphương sai đi, tiền quân thì cờ đỏ, tả quân cờ xanh, hữu quân cờ trắng, trung quân cờ vàng, hậu quân cờ đen.

Lệnh tiễn sai các tiểu chi cũng chiếu theo năm sắc năm phương làm chuẩn, không được trái lệ).

Lại sai hai toán binh tả hữu, một toán tả một toán hữu tìm đường tất phải tiến đánh, như thế hai sừng trâu, gọi tên là trận Huyền vũ; sai một toán tả một toán hữu tìm thế ẩn để phục binh.

Chánh toán tả, chánh toán hữu đều theo địa phận làm tả hữu ứng cứu.

Lại sai hai chánh toán hậu với hai phó toán hậu làm hậu phục.

Chánh toán hậu thì chỉnh binh để phòng sau, phòng quân địch đánh tập hậu.

Như tiền binh đắc thắng thì không nên đuổi xa, hậu binh và tả hữu binh cũng vậy, vì vậy binh quý ở vạn toàn.

Đắc thắng thì cấm các hạng quân nhân không được tham lấy tài vật của địch, sợ bị địch nhử mồi.

Quân địch đã trốn xa, thì đánh 2 tiếng trống lớn hẹn binh, 3 hồi chỉnh binh thành hàng.Đánh 1 tiếng la đồng thì quân đều chỉ súng và khí giới về trước, quay mặt về đằng sau.

Đánh 3 tiếng trống thong thả thì thu quân về nơi cũ.Quân đã thắng trận càng nên cẩn thận hơn khi chưa thắng trận, vì sợ quân thắng thì sinh kiêu, điều đó nhà binh rất kỵ.

- Phàm quân đi, đến nơi nào có sông ngòi nhỏ thì phái du binh, hoặc chặt tre làm cầu, làm bè, hoặc quăng dây thừng sang trước, đi một dặm để thăm dò, về báo không có giặc, rồi sau phái binh, một phần nghiêm binh phòng giữ, một phần đẵn tre chém cây làm cầu làm bè, giăng dây để sang, đừng nên nóng vội.

Như gặp sông lớn thì sức trước cho thuyền ghe chờ đợi, phái du binh sang trước, đi xa 1, 2 dặm, thăm dò xem có giặc hay không.

Như có giặc thì đừng sangsông, sợ giặc nhân ta sang nửa chừng mà đánh.

Như thấy nước nông và trên thượng lưu có ngăn nước thì cũng đừng sang, sợ địch phá nước ngăn, như kế Hàn Tín đánh úp Long Thư1.

Nếu báo quả không có giặc, thì phải cho ba toán tiền chi sang trước, cách chừng một tầm trông, bày binh sắp hàng để phòng ngự không ngờ, rồi sau mới theo thứ tự tả, tiền, trung, hữu, hậu mà sang.

Đường sau cũng phái du binh thám xét, sợ quân giặc nhân ta sang nửa chừng mà đánh úp hậu binh ta, không thể không cẩn thận được.

Khi đã sang xong thì mới vời du binh mặt sau sang theosau.

Binh xuống thuyền sang sông, thì y theođơn vị, giữ súng và khí giới, hoặc gặp sóng gió cũng không kinh động, thế thì không có sự lo bất ngờ.

- Phàm quân đi, gần đến giới phận rừng núi thì trước phái du binh và người địa phương lén vào rừng rậm, hoặc lên cao, hoặc trèo cây, hoặc tìm hang sâu bụi rậm, xem có quân giặc hay không, rồi về báo.

Nếu có giặc thì ta giành trước lấy nơi cao hay nấp chỗ rậm, rồi sau theo phép trận “song đầu”, bày hai hàng gươm súng xen nhau, vừa bắn vừa tiến, như lăn vòng tròn, gọi là trận “Ngô công cuốn đất”.

Nếu không có giặc, thì cũng y theo hai hàng mà chuyển qua, giữ cho không ngại vì việc binh phải giữ gìn, không thể không cẩn thận được.

_______________________________

1.

Kế Hàn Tín đánh Long Thư: Thời Hán Cao tổ, Hàn Tín đem quân đánh Tề, Tề cầu cứu với Sở, Sở sai Long Thư đem 20 vạn quân đến cứu Tề.

Đánh nhau ở Duy-thủy, Tín sai quân lính đêm làm hơn 1 vạn cái túi chứa đầy cát đem ngăn chặn dòng nước bên trên, không cho chảy xuống, rồi đem quân sang nửa sông đánh nhau với Long Thư.

Tín giả cách thua, chạy về, Long Thư đem quân lội qua sông để đuổi.

Tín sai người dỡ túi cát, nước chảy xuống mạnh, quân Long Thư quá nửa không qua được sông, Tín đánh gấp, giết được Long Thư.

*

* *

Sách Ngô tử:

Phàm binh nổi lên là vì năm cớ:

1) Tranh danh; 2) Tranh lợi; 3) Tính ác; 4) Loạn trong; 5) Nhân đói.

Lại có năm tên là: 1) Nghĩa binh; 2) Cường binh; 3) Cương binh; 4) Bạo binh; 5) Nghịch binh.

Trừ bạo cứu loạn là nghĩa binh, cậy đông mà đánh là cường binh, nhân giận mà dấy binh là cương binh, bỏ lễ tham lợi là bạo binh, nước loạn người khổ mà nổi lên là nghịch binh.

Muốn phục năm hạng binh ấy đếu phải có phép.

Làm cho nghĩa binh phục thì dùng lễ.

Làm cho cường binh phục thì dùng khiêm tốn.

Làm cho cương binh phục thì dùng lời lẽ.

Làm cho bạo binh phục thì dùng biến trá.

Làm cho nghịch binh phục thì dùng quyền biến1.

*

* *

Đời xưa quân có thập và ngũ; xe có hàng lối; trống khua cờ vẫy, người lên thành trước phần nhiều là những quốc sĩ giỏi cả, người chết trước cũng thường là người quốc sĩ giỏi.

Tổn địch một người mà tổn ta đến hàng trăm người, đó là giúp địch và hại ta, thế tướng2 không hay cấm được.

Đánh giặc chia quân mà trốn về hay lâm chiến mà vỡ chạy thì hại lắm, thế tướng không hay cấm được.

Giết người ngoài trăm bước là cung tên; giết người trong 50 bước là giáo mác.Tướng đã đánh trống mà sĩ tốt cứ ồn ào, bẻ tên, bẻ mác, ôm kích, sau khi thấy có lợi mới đánh, có mấy hạng người ấy thì tự thua ở trong rồi, thế tướng không hay cấm được.

Quân sĩ lỗi thập ngũ, mất xe, hao binh tổn tướng mà chạy, đại chúng cũng chạy, thế tướng không hay cấm được.

Phàm tướng có thể cấm được bốn điều ấy thì núi cao cũng sập, nước sâu cũng lấp, trận bền cũng phá.

Nếu không cấm được bốn điều ấy thì cũng như mất thuyền lái mà cách sông ngòi, không thể được vậy.

Khi lấn vào đất giặc, gặp chốn đồng bằng nội rộng, thì nên kết trận.

Nếu gặp núi sông hiểm trở thì kíp sai kiêu kỵ du binh dò thăm trước sau.

Hễ thấy núi cao rậm rạp, hang hốc ghồ ghề, thì tiền quân từ từ mà tiến để đợi hậu quân, rất không nên cách xa gián đoạn, đó là yếu lược để giữ hiểm phòng nguy vậy.

Khi lấn vào bờ cõi địch mạnh, dẫu rằng có đường, nhưng phải tiến trộm, cũng sai du binh lên gò cao, xem xét kĩ càng cả trước sau tả hữu, nếu thấy nơi nào có đàn chim sợ bay, chồn vượn chạy rối, hay cỏ cây không có gió mà động và đất bụi lầm trời, thì dưới hẳn có quân phục, phải trở về báo với chủ tướng, dừng quân kết trận mà đóng lại để chờ xem cơ giặc thế nào.

Đó là yếu lược để xét quân ẩn phục vậy.

Vào sâu đất địch, gần tới khoảng đường trọng yếu, chợt thấy sắc cỏ mới khô héo thì ở dưới hẳn có sự trá ngụy, xem xét kĩ càng rồi hãy đi; nếu gặp cầu, trước hãy đem vật nặng đè lên, rồi sau sẽ đi, không làm thế thì sợ có vạ sa sụp.

Đó là yếu lược cẩn thận về đất và cầu vậy.

_________________________________

1.

Ngô tử, thiên I.2.

Thế tướng: Ông tướng tầm thường ở đời.

*

* *

Sách Yên thủy thần kinh:

Phép sang sông.

Phàm sang sông, trước hết phải chuẩn bị cầu phao bè gỗ, dự sai du binh sang trước, dò thăm những nơi trọng yếu, quả không có quân phục, thì tới nơi rộng rãi, bày mở thế trận để đợi, rồi sau mới cho đại quân sang.

Phép gặp ngòi.

Phàm quân đi gặp ngòi rộng 5, 3 trượng, trước kia đã có cầu nhỏ, thì bỏ ngựa lại, sai ba quân mỗi người bó một bó củi để bỏ xuống đó, ngựa và người có thể sang qua.

Phép lạc đường.

Phàm quân đi gặp rừng núi, trời chiều lạc đường, thì thả một con ngựa già đi trước rồi theo sau thì có thể gặp đường, vì ngựa già có thể biết đường.

*

* *

Sách Tôn tử:

Phàm phép dùng binh, xe ruổi1 nghìn cỗ, xe da nghìn cỗ, quân mặc giáp 10 vạn Người giỏi dùng binh thì việc phu phen binh lính không đòi gọi hai lần, chở lương không bắt đến ba lần.

Lấy dùng ở trong nước và nhân lương của địch, cho nên quân có đủ ăn.

Nước nghèo thì lương quân phải vận tải xa, vận tải xa thì trăm quân khổ.

Gần chỗ quân đóng thì bán đắt, bán đắt thì trăm họ hết của, của hết thì sưu dịch ở làng xóm cũng lúng túng.

Sức cạn của hết, trong nước nhà cửa đều rỗng không; trăm họ hao phí, 10 phần mất 7; nhà nước hao phí, nát xe mệt ngựa, giáp trụ, cung tên, mâu thuẫn, sào chèo, trâu to xe lớn, 10 phần mất 6.

Cho nên người trí tướng cốt tìm ăn ở địch; ăn ở địch, một chung đỡ cho ta 20 chung, một thạch đỡ cho ta 20 thạch.

Cho nên giết địch là vì tức giận, lấy của địch là vì lợi ở của cải.

Cho nên khi đánh nhau bằng xe, được 10 cỗ trở lên thì thưởng cho người được trước, rồi thay đổi cờ xí, xáo trộng xe mà ngồi, binh lính thì khôn khéo mà nuôi.

Thế gọi là thắng địch để làm mạnh thêm cho ta.

Cho nên việc binh quý thắng mà không quý lâu.

Cho nên tướng giỏi là người giữ tính mệnh của dân, là người chủ an nguy của nhà nước vậy2.

________________________________

1.

Xe nhẹ thắng bốn ngựa.2.

Tôn tử, thiên II.

*

* *

Nghìn dặm chở lương, phí tổn trong ngoài, tiêu dùng tân khách, vật liệu như keo sơn, đồ đạc như xe giáp, mỗi ngày phí nghìn vàng, rồi sau mỡi cử vạn quân được.

*

* *

Sách Kinh thế:

Đi.

Khi đi vào chỗ hiểm nên ngại có quân, sang sông cũng rất ngại bị xẻ nước.

Đi ban ngày sợ có quân xông đến.

Nghỉ ban đêm lo có địch quấy rối.

Đã chặt đứt thì nối liền; khó nhanh chóng thì đi cuốn1.

Một chỗ không phòng thì lỗi sơ suất.Trước vẽ địa hình để xem đại thế; lại tìm người thổ trước để dẫn đường.

Dù cho một bụi rậm, một suối nước cũng phải biết hết, rồi sau mới có thể hành quân.

Đi nhanh.

Quân đi quý, đi thong thả, để nuôi sức.Chỉ khi nhân lúc người ta không phòng bị và lợi ở đánh gấp thì nên gấp đường đi nhanh.

Ban ngày đi nhanh thì cuốn cờ nghỉ trống, ban đêm đi nhanh thì cuốn giáp ngậm tăm.

Đi nhanh một ngày thì sức mệt.

Đi nhanh cả ngày và đêm thì tinh thần uể oải.

Một ngày đi nhanh được một trăm mấy chục dặm đường; ngày đêm đi nhanh được hai ba trăm dặm đường.

Đi đường gần thì đứt không thành hàng, quân khó đến hết, đi gồm đường xa thì bỏ đại quân mà tiến, cho nên đại quân ở xa lại sau, người không kịp ăn, ngựa không kịp nghỉ, nhọc mà ít người theo kịp.

Nếu không phải cậy vào sức đánh bền giỏi, sức địch đã nhụt gẫy và hình thế núi sông đã hiểu suốt, thì sao dám làm như thế?

Cho nên không phải toàn lợi mà không hại.

Cẩn thận chớ cho quân đi nhanh là giỏi vậy!

Sách Võ kinh:

Thái công nói2: Phàm phép cầm quân nên trước cho quân đi thăm dò xa, cách địch 200 dặm, biết rõ chỗ quân địch đóng; nếu địa thế không tiện thì lấy xe vũ xung của ta làm lũy mà đi tới trước và đặt hai lớp án binh ở sau, lớp xa thì cách 100 dặm, lớp gần thì cách 50 dặm.

Phải có quân cảnh cấp để trước báo cho nhau biết.

Quân ta thường được vững bền, hẳn không thương tổn.

Núi quanh ở đường, không nên đi càn vì sợ có quân phục ở trước vậy.

Núi phục ở sau thì nên đi cho chóng qua, kíp lấy binh giữ đàng sau, sợ có giặc đánh cắt đường sau vậy.

Nước cạn mà có khi đầy thì đừng lội, vì sợ có mưu túi cát lấp ngăn.

Nước đứng mà bờ có bùn lầy thì đừng lội, vì có nạn sa lầy.

Nước ở nơi hiểm yếu của địch mà không thấy có quân đội canh phòng, chưa nên lội ngay, trước hết phải sai tinh binh dò xét những chỗ hang núi gồ ghề, vì sợ có quân phục vậy.

_________________________________

1.

Đi cuốn: Tức đi theo phép Ngô công cuốn đất nói ở trên.2.

Bổ sungtheo chương 39 “Tuyệt đạo” của sách Võ kinh trực giả quốc ngữ ca.

*

* *

Sách Kinh thế:

Binh nặng thì trệ mà không nhanh, binh nhẹ thì tiện mà nhiều lợi.

Nặng mà có thể chia ra thì lợi gấp bội.

Đóng dinh mà chia ra, để phòng đánh úp; bày trận mà chia ra, để ngừa giặc xông vào; đi mà chia ra, sợ bị chặn cắt; đánh mà chia ra, sợ bị cướp đánh; quân lẻ mà chia ra để đón lúc sơ; quân nhiều thì có thể chia để dùng làm binh kỳ; quân ít cũng có thể chia để biến hóa.

Binh không nên giao việc nặng; cũng không cho đi làm việc xa.

Khí giới hiếm thì chậm phát.

Hợp quân cho mạnh uy, chia quân ra để nắm thắng.Tay cầm mấy mươi vạn quân mà không bị ứ đọng là vì biết phép chia quân vậy.

Quân đi phải trương thế ra, xếp đặt cờ trống, rộng khua trông chiêng, lấy nghìn làm vạn, lấy ít làm nhiều, lấy yếu làm mạnh, lấy thắng giả mà làm ra thắng; cương tất thắng nhu, thực tất thắng hư, lớn tất nuốt nhỏ.

Đó là lẽ tất nhiên vậy.

Đại quân chưa tiến, uy dũng phải trương ra trước.

Ở phép dùng du binh ư?

Tất hai bên tả hữu phải lập đội đầu và đội thứ nhì, do tướng giỏi thống ngự, làm như trương hai cánh mà tiến lên.

Một là có thể thăm dò quân địch đi đứng thế nào; một là có thể xem xét quânđịch có mai phục hay không; một là có thể chợt gặp địch thì giúp đại quân ta mà đánh.

Đội đầu thì đi trước mà xem xét, đội nhì thì dựa hai bên cánh tả hữu quân ta mà đi.

Khi đội đầu đã đi tuần đến, thì ví như ở nghìn dặm mà lập dinh.

Kịp khi quân đến dinh, thì đội nhì lại đi trước mà xem xét, đội đầu lại dựa hai bên cánh tả hữu mà đi.

Đội nhì lại đi tuần đến ví như ở nghìn dặm mà lập dinh; đội đầu lại theo như phép cũ mà đi.

Cứ lần lượt vòng quanh, nối nhau không dứt, thì du binh tả hữu tuy chỉ có hai đội, mà quân đi nghìn dặm đều có cánh vậy.

Vả một lần đi một lần xét, thay đổi mà tiến, càng không lo mỏi mệt.

Phép hành quân, mới ra đi cần phải nghiêm túc, chỉnh tế hàng ngũ, khiến ba quân như một người, để tới thành công vậy.

Đặt đàn hai tầng, trên lễ ngũ đế ngũ tướng(Ngũ đế là năm vị thần chủ năm phương: Trung ương Hoàng đế, Đông phương Thanh đế, Tây phương Bạch đế, Nam phương Xích đế, Bắc phương Hắc đế. – Ngũ tướng là năm vị thần sao là Thiên-mục, Văn-xương, v.v…), dưới lễ các danh tướng cổ kim và các sao tướng tinh.

Khiến tướng quân mặc đồ nhung phục, cầm cờ kiếm, các viên biệt tướng, tham tri, đốc thị, tề chỉnh làm lễ.

Trước kén một viên mẫn cán ở trung quân cho đeo ấn tiên phong, đem một chi quân bản lãnh tiến đi trước, gặp nước thì bắc cầu, gặp núi thì phá đá, cắt trừ gai góc, cho tiện quân đi.

Phàm gặp sông to, núi lớn, miếu thiêng thì làm lễ.

Quân đi một ngày 30 dặm thì nghỉ, để ngừa sự chẳng ngờ.

Chỉ trông quân là biết ngay được thua.

Khi dừng thì vững như núi không thể chuyển, khi tiến thì nhanh như gió không thể theo.

Trông như mây liền nước chảy.

Như có một trăm quân đi trước, chợt đến nơi hiểm địa, bị giặc vây trước sau, tức thì ở mặt trước sai quân tinh nhuệ đặt đồn lũy để cố giữ, thay đổi nhau mà bắn để làm thế hoãn chiến, đợi đại quân đến, thấy quân giặc rối loạn thì đánh ngay.

*

* *

Sách Võ bị chế thắng chí:

Quân sĩ chưa xuất phát, trước 3 ngày hạ lệnh cho các quân thu xếp hành trang, lương khô, giày dép và các vật tùy thân cho đủ, nghe lệnh thì đi.

Như lúc hành quân, đem 100 quân đi tiên phong, trung quân còn ở xa, bất thình lình gặp giặc thì chia làm 5 toán, 2 toán làm chính, 3 toán làm kỳ.

Như gặp địch đem binh chính tiến vào, thì đặt quân phục, giả cách chạy; ba toán làm binh kỳ giữ vẹn hai bên tả hữu; quân khinh vệ đánh đàng trước; như thấy quân địch rối loạn thì báo ngay cho trung quân tiếp chiến.

Không biết sông núi hiểm trở thì không thể hành quân.

Có người hướng đạo, trước phải biết chỗ đi chỗ nghỉ, đường thẳng đường cong, thì mới có thể tiến binh; và nên đề phòng những loại hướng dẫn không thực.

Đường nhỏ hẹp hiểm trở, núi cao trại lớn, mười người giữ nghìn người không qua được, nên trước sai người giả làm dân làng đi kiếm củi mà nhòm ngó, không có việc gì thì hãy đi qua cho mau.

Đi qua những nơi quan sơn hiểm ải thì sai du binh đi tiên phong trước, lên nơi cao nhất, trông khắp bốn mặt, sợ có quân giặc phục chặn.

Như gần đó có rừng núi, cây cỏ um tùm, che kín người ngựa, phải xem xét, không có gì thì về báo chủ tướng ngay, sẽ theo thứ tự mà cho người ngựa qua.

Trước hết cho quân bản bộ qua, sau cho đội quân thứ nhất qua, ở nơi rộng rãi đất bằng, sắp hàng đứng ở hai bên, rồi hậu đội theothứ tự mà qua.

Đội thứ nhất đến trước bày hàng đứng, chờ chủ tướng qua, người ngựa sang hết, bấy giờ mới cho đội thứ nhất đi lên, theo thứ tự, cứ y hàng ngũ mà đi.

Tiền đội đã được nghỉ nhiều, theo thứ tự mà đi trước, hậu đội không đến nỗi khổ sở vội vàng, nếu có giặc đến đánh thì cũng dễ đối phó.

Qua chỗ hiểm ải, không được kêu gọi ồn ào, sợ giặc nghe biết.

Tuy là đi chóng, nhưng đội ngũvẫn đầu đuôi tiếp nhau, không đến nỗi đứt quãng.

Hành quân qua nơi hiểm mà tiền đội gặp ngựa giặc, tức thì sai người ngựa tiền đội đi chân mà chiếm lấy nơi cao phẳng, đứng yên đó, rồi truyền báo tin cho chủ tướng biết, lấy cờ trắng để tương ứng với hậu đội mà không sai người chạy về báo lại nữa.

Nếu đàng trước có việc thì cũng truyền báo ngay như thế.

Trong khi vội không nên rối động.

Nếu người và ngựa không rối loạn thì ứng phó với địch cũng dễ.

Quân cưỡi ngựa trắng đi đường, cho cầm cờ năm sắc mỗi sắc một lá, cờ thêu một lá, phải định theo sắc của mỗi phương.

Việc cần truyền báo thì cứ theo từng đội mà truyền như trên kia, lần lượt mở một lá cờ để ứng, truyền đến hậu đội.

Như đàng trước gặp rừng lớn thì mở cờ xanh, gặp nước thì mở cờ đen, gặp binh mã thì mở cờ trắng, gặp núi hiểm thì mở cờ vàng, gặp khói lửa thì mở cò đỏ, gặp thành ấp thì mở cờ hoa, theo từng đội, lâm thời mà một sắc cờ để ứng, truyền đến người sau cho đều biết để phòng bị.

Các nơi đặt cờ không cho phạm với hiệu cờ của chủ tướng…

Quân đi qua sông, trước sai thủy thủ đi trước, thăm dò nông sâu thế nào.

Như nước sâu mà không có bè, thì dùng mấy sợi dây thừng to buộc vào cây rừng ở hai bờ, hoặc là đóng cọc mà buộc chắc, khiến người vin dây mà lội sang sông.

Gươm giáo thì cứ mười cái buộc làm một bó, ở chỗ cận tiện chặt tre gỗ làm mảng, dưới xếp gươm giáo, trên trải áo giáp, rồi dùng một cái dây thừng, xỏ vòng lớn vào dây, cho người sang sông trước đứng ở trên bờ mà kéo qua sông; hoặc có thể dùng chum to, buộc lại làm cái bè chum; hoặc là dùng da dê lột cả con làm cái túi da, thổi hơi vào trong rồi thắt các miệng túi lại, mỗi túi có thể trở 2 người; hay là dùng mấy túi buộc lại thành bè, cũng có thể trở người sang được.

Đội ngũ qua sông y theo phép vượt núi vậy.

Quân đi chỗ bùn lầy rất sâu, người ngựa khó tiến, dùng cây cỏ rải trên mặt đường, sau dùng đất kho rải lên, rộng hẹp tùy thời, người ngựa đều có thể qua được.

Quân đi có xe vận tải, hay phải khuân vác các vật lương thảo nhẹ nặng, thì đều đi ở giữa đường, bị mưa thì dùng giáp đội yểm hộ, sợ bị hại lương thảo của ta.

Quân đi gặp nước mà lấy múc nấu cơm, nên sai người bị tội chết hay con vật sắp bỏ uống thử nước ấy trước xem, sợ có người thả thuốc độc vào, người ngựa uống có khi bị chết.

Qua sông cũng thử như thế.

Đi đường bùn lầy, trước sai người thăm qua, sợ có thả chông gai và đào hố sâu ở trong bùn, hay có ngăn tháo nước ở thượng lưu.

Ngày xưa người Man Di là Trí Cao1 thả chông ở trong bùn và Hàn Tín đã xẻ tháo nước ngăn mà chém Long Thư.

Thuyền sang sông lớn, trước hết sai người dò xét, sợ quân giặc trước dùi ngầm lỗ để làm chìm đắm quân ta.

Quân đi vào nơi rừng núi rậm rạp, phải đề phòng có phục binh.

Trước nên chọn quân khỏe mạnh 2, 3 trăm người lẻn đi vào nơi hiểm trở không có phòng bị để chẹt giữ đường ra; lại chọn người mạnh dạn đi tìm tòi ở đường, hoặc từ ngọn cây hay núi cao sai người trông xa, biết rõ không có quân ẩn phục, thì chia binh trước sau để làm chiêu2, rồi sau mới cho xe cộ và những người già nhỏ đi trước, quân bộ kế tiến.

Qua sông cũng như thế.

Quân đi, gặp rãnh hố rộng dăm ba trượng, người ngựa không thể qua được, thì sai trong quân mỗi người cầm một cái cọc gỗ và một bó cỏ hay củi, chuyền nhau lấp đi, thế thì có thể qua được ngay.

Răn sự tiết lộ.

Phàm ra quân đi đánh dẹp, chỉ saithu nhặt hành trang, không cho biết sai đi nơi nào, sợ có kẻ gian dò thám cho giặc biết trước mà phòng bị, lại đánh chặn quân ta.

Như muốn đi sang phía đông-nam để đánh úp giặc, thì giả nói là đi tây-bắc, khiến quân địch không thể phòng bị, để đánh bất ngờ.

Cẩn thận việc đi.

Nếu giặc ở ngoài 30 dặm, phàm qua nơi hiểm trở, báo truyền lại xin cho quân qua hiểm, báo xong, trước cho gia đinh và tinh binh ở trung quân chạy đến chỗ hiểm để mai phục, xong thì cử hiệu pháo một tiếng, đánh trống, cho binh sĩ qua hiểm.

Phàm hành binh thì trung quân ủy riêng một viên quan biết rõ đích xác, cùng đi với quân tiền tiên, cấp cho một số cờ ngũ phương.

Có việc thì mở cờ ra, gặp rừng cây mở cờ xanh, gặp sông chằm mở cờ đen, gặp binh ngựa mở cờ trắng, gặp núi hiểm mở cờ vàng, gặp khói lửa mở cờ đỏ, qua các vật thấy đó rồi thì cuốn cờ lại.

Phàm chiêu dao3, như đường có thể đi một hàng một thì dựng một lá, hàng đôi thì dựng hai lá hay đi hàng ba thì dựng ba lá, đi hàng bốn thì bốn lá, ở chỗ dinh đi được thì mở năm lá.

Hậu đội miệng truyền dần ở trước là sắc cờ gì, chiêu gì.

Trung quân nổ ngay pháo hiệu đổi dinh và chuẩn bị hiệu lệnh.

Dẹp đường trước.

Quân đi qua đâu thì báo trước cho nhân dân sở tại, bốn mặt đều cách 3 dặm, cấm tuyệt người và súc vật; xe thuyền trên cạn dưới nước đều phải sửa soạn.

Ngu hậu4 và du binh hẹn cho địa giới quân đi qua trước 20 dặm phải dẹp đường.

Dẹp hàng ngũ.

Đội ngũ hành dinh lúc đi đường cần phải minh bạch nghiêm túc.

Nhưng có khi bày hàng không đều, thò sau, thụt trước, thưa dày khác nhau đứt quãng không liền, đi rảo rối loạn, tự bỏ đội ngũ, đánh trống không đi, nghe chiêng không dừng, hạ cờ không nấp xuống, cất cờ không đứng dậy, mở cờ không tiếp, được lệnh không truyền, truyền lệnh không rõ, đường sá nghẽn tắc, nói cười ồn ào, đều phải trị bằng quân pháp, lâm địch thì chém ngay.

________________________________

1.

Tức là Nùng Trí Cao.2.

Làm chiêu, tức là chia binh và cờ ở dọc đường để dùng hiệu cờ mà báo tin cho nhau.

3.

Chiêu dao, nghĩa đen là gọi và vẫy, ở đây là dùng hiệu cờ để báo tin cho người đi sau4.

Lính đi tuần.

Thu nuôi lính ốm.

Phàm quân đi, gặp có người hay ngựa bị ốm,không thể đi được, khi lên đường thì bẩm chủ tướng ngay, cấp cho tín phiếu, cho sai người áp đưa đến thành quách phủ châu huyện dinh trại đồn sở ở địa phương gần đấy nhận về điều trị, đồng thời có những người quen biết của người ốm ở trong hàng ngũ thì lưu lại 2, 3 tên để chờ người ốm.

Những người lưu lại đó trông coi thuốc thang, bệnh khỏi thì đưa ngay về bản dinh.

Địa phương ấy phải làm tờ cam kết tra xét bệnh tình đã khỏi.

Như bệnh khỏi mà không đưa về bản dinh thì sở tại bị lấy luật hậu kì (trễ kì hạn) mà xử.

Nếu có người chết ở chỗ hành quân, thì bản đội ngũ đào mộ mà chôn, rồi lập tiêu chí, tướng lãnh đem các đầu mục đưa thức ăn uống đem theo đến cúng.

Làm trái thì xử theo luật cố khí1.

Xong việc sẽ trở lại lấy đem về.

Cẩn thận đồ rơi.

Phàm quân đi ở đường, có đồ khí giới, đồ vật sót mất, ai trông thấy thì thu nhặt ngay, đem về nơi đóng ngủ đưa cho quân, gọi người đến nhận lãnh, người mất của và người được của sẽ chiếu cách thưởng phạt; ai ẩn giấu không báo thì trị tội; cũng không được đưa riêng cho nhau.

Gặp vật quái dị.

Quân đi gặp thấy chim muông kì dị, thần quỷ quái vật vào trong dinh lũy, hay là bắt được, thì phải đợi báo cho chủ tướng.

Nếu không báo mà tự quyền bày ra, họp chúng làm rầm rĩ lên, đều chiếu phép quân trong lúc lâm trận mà xử.

Hiểu rõ quân cơ.

Phàm có người báo tin, hay quan và binh nghe được tin tức của giặc, đều không cho đón chặn ở giữa đường mà hỏi đáp nhau, phải ngậm miệng đi chóng đến chỗ chủ tướng mà bày tỏ, khi cho được tuyên bố với quân chúng thì mới có thể nói với các quan bả tổng2.

Nếu trước khi gặp chủ tướng mà dám ở giữa đường nhân có người hỏi mà nói ra, dù chỉ một người biết trước chủ tướng cũng coi là tiết lậu quân cơ, người hỏi người đáp đều xử theoquân pháp.

Cho đến cả đối với các tổng tiêu3 và bè bạn trong bản dinh cũng không cho tiết lộ trước.

Lại hoặc có người biết sau chủ tướng, đã được dặn dò không cho truyền nói nữa, không cho tiết lậu nữa, mà còn dám cố hỏi, thì cho người bị hỏi bẩm lại, đều phải trị tội nặng cả.

Tập rèn mang nặng.

Phàm quân đi đều phải mặc áo giáp đội mũ, cầm khí giới, ngõ hầu tới khi đánh địch thì mình nhẹ.

Như đường xa trời nóng, được lệnh mới được thay đổi.

Chuẩn bị lương khô.

Khi bình thường mỗi người lính đem 2 cân gạo, sao vàng 1 cân, giã nhỏ làm bột 1 cân, bọc riêng 5 cáp, lấy 5 cáp dùng dầu thơm làm bánh hấp chín, 5 cáp dùng rượu ngon tẩm phơi khô, khi nào tẩm không thấm nữa mới thôi, nghiền nhỏ bọc riêng, 5 cáp dùng muối hòa dấm tẩm phơi, cũng không thấy thấm nữa mới thôi, nghiền nhỏ, bọc riêng.

Trong khi hành quân, không bị giặc vây rất khẩn thì không cho dùng, ra quân phải mang theo, quên đeo thì cũng bị tội như mất binh khí.

Định dặm đường.

Quân đi 30 dặm vào cõi khác, càng gần với giặc, nếu chợt gặp giặc, thì quân có thể đánh không hại gì, vì gân sức chưa suy.

Nếu như vượt đường xa, người ngựa mệt mỏi mà thình lình gặp giặc, mười người không địch nổi một người, thì nên bố trí nghỉ ngơi như không có việc, thì mới có thể giao phong được.

Phàm từ giờ dần đến giờ tuất, mỗi ngày đi được 60 dặm, cứ 10 dặm thì lại tề chỉnh nghỉ ngơi, 30 dặm thì họp lại ăn lương khô.

Đi đường núi hiểm.

Núi sâu đường hiểm, ngựa không được đi cùng hàng, người không được đi liền vai, sợ có quân phục của địch ở nơi đường hiểm, hoặc xô vào trước ta hay xông vào giữa ta, hay chặn đứt sau ta.

Dù có quân đi tuần ngựa thám thính, sợ có khi tìm xét không đến, quân địch đánh lúc ta không ngờ, hay là quân tuần ngựa thám nhầm sấn vào giữa nơi quân phục của địch, bị hãm ở đó, không kịp báo, nếu ta mạo hiểm mà tiến, muôn một gặp địch ở đường độc đạo, nó có phòng bị đợi ta không phòng bị, núi hiểm cách trở, đầu đuôi khó ứng viện nhau, trong khoảng trăm bước trước sau chẳng cứu được nhau, nếu không phòng bị trước thì làm thế nào được!

Nay dùng phép “liên châu đảo quyển”4 hay thế “phi thiên ngô công”5.

Đại ước: Nay quân ở dinh có 1.000 người, chia làm 10 đại tiêu, mỗi 100 người làm một tiêu, cứ trong mỗi tiêu thì dùng 2 lá cờ tiêu trưởng, 2 lá cờ trưởng hiệu, từ một tiêu bắt đầu đến 10 tiêu thì thôi.

Tiêu thứ nhất đi trước đến quãng đường thứ nhất, ngựa thám báo quãng đường thứ nhất không có sự gì, tiêu thứ nhất xem tiêu binh đến trước cầm lá cờ sắc gì, tức thì ngả xuống theochữ định hàng ngũ là hình núi, thì chiếu hình ấy mà lập dinh, rồi lại cho ngựa tiến lên trước.

Tiêu thứ hai lại lộn cuốn lên đoạn đường thứ hai ở trước, báo cũng như thế.

Tiêu thứ hai lại xem tiêu binh cầm cờ sắc gì, chiếu hình mà lập dinh.Đến tiêu thứ ba, tiêu thứ tư, cho đến tiêu thứ mười cũng đều như thế.

Nếu có tin báo có giặc, tức thì phải đem tiêu mình hơi lui về chỗ cửa đường ở giữa khoảng hai bên lập dinh của ta, nhằm thế bọc núi liền đồng mà lập trú dinh, thunhững lính tiêu và ngựa thám về yên bài để giết giặc.

Như giặc ở giữa đánh ra thì hai bên núi đã có quân ta lập dinh trước, nó mở quân không được, sao dám đánh ở giữa!

Như nó dám đến đánh giữa ta, thì hai bên núi ta ra quân giáp đánh.

Nó đánh ở dinh tả thì dinh hữu ra quân cứu viện; nó đánh ở dinh hữu thì dinh tả ra quân cứu viện.

Nó lui thì ta theo ngay sau.

Dinh hậu lại như phun châu mà ra; lại tiếp nhau hạ dinh; đổi phiên nhau lui và đánh.

Giặc mệt ta nghỉ.

Thế thì giặc không có thể đến đàng trước để đánh ta được.

Nếu giặc phục binh từ trung gian vụt dậy mà ra, thì quân ta hai đầu đóng ngay ở núi hiểm, các dinh trung gian của ta đều có thế liên châu, đánh tả thì hữu đến, đánh hữu thì tả đến.

Quân ta ở trước chỗ đất cao để chờ địch, nó cũng không thể thi hành kế gì khéo hơn được.

Quân ta trước đã lập dinh, hết thảy những địa lôi, bàn đinh, chông sắt, chông chà đều có thể bố trí được, mà hết thảy các súng ống đều quay ra ngoài để đợi địch đến.

Lòng quân thống nhất, không dám chạy tán, tự thấy hành dinh như sao, đây đó làm viện cho nhau, tới đâu cũng là có nhà, người trông thấy đều tự hăng hái, còn sợ gì địch nữa.

Quân địch muốn xông vào giữa ta cũng không thể làm gì được.

Nếu địch chặn đứt sau ta, thì lấy lui làm tiến, quân tiêu sau quay làm quân tiêu trước, cuốn ngược mà quay về, địch cũng khó mà chạy được.

Như gặp chốn sông lớn, đường hẹp thì ta nên trước cho quân canh giữ, há lại khinh tiến để cho không có đường về hay sao?

Xét xưa nghiệm nay, trong cuộc hành quân để đánh trận hiểm, muôn điều không hơn thế được.

_________________________________

1.

Bỏ người bạn cũ.2.

Bả tổng là chức quan võ cao cấp ở bậc cuối cùng chỉ huy một dinh hay một ti (đời Minh).

3.

Tổng tiêu là chức quan võ chỉ huy một tiêu.4.

Như xâu ngọc lộn cuốn.

5.

Như con rết bay lên trời.

*

* *

Vượt ngòi rãnh thì có cầu bay; sang sông lớn thì có đường Thiên hoàng.

Nước thượng lưu xẻ xuống thì có biển Bột hải.

Phàm thế lực của ta ngang với thế lực của địch, thì chia quân làm ba nơi: tiền quân thì ở chỗ hào sâu lũy cao, dựng cờ đánh trống, phòng thủ cho bền chắc; hậu quân thì chứa lương cỏ, không cho địch biết là mình định đánh, cho quân nhuệ sĩ của ta ngầm úp ở trong, đánh vào lúc không ngờ, tức có thể thu công vạn toàn vậy.

Hoặc sai tiền quân ta ngày ra khiêu chiến, quấy cho địch phải mệt nhọc, lại sai những người già yếu đánh trống qua lại, khi ở phía tả, khi ở phía hữu, làm cho nó phải nhọc, quân nó phải sợ.

Sai quân cảm tử của ta, hoặc đánh ở trong, hoặc đánh ở ngoài, quân địch tất phải thua.

Phàm phép ra quân, trước hết cho đi dò xét ở xa, cách 200 dặm để biết địa thế và địch tình; lại đặt quân tiếp ứng ở sau ước 50 dặm.

Như có sự khẩn cấp thì trước sau báo cho nhau.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển II: II.Hướng Đạo - III.Đồn Trú


II – HƯỚNG ĐẠO

Không dùng người hướng đạo thì không biết được địa lợi.

Cho nên việc binh lấy trá mà làm, lấy lợi mà động, lấy phân hợp mà làm biến hóa.Cho nên khi nhanh chóng thì như gió, khi thong thả thì như rừng, khi lấn cướp thì như lửa, khi không động thì như núi; khó biết được ngầm, động như sấm dậy; cướp làng chia quân, mở đất phân lợi, theo quyền biến mà hoạt động.

Biết được núi sông, suối ngọt, cỏ nước, nhà ở, đường sá cong hay thẳng, thì thưởng hậu, được người như thế thì hậu đãi, gọi là binh hướng đạo.

Ngựa già khéo biết đường.

*

* *

Phàm dùng quân sĩ, hoặc bắt tù làm hướng đạo, nên phòng mưu giặc ngầm thi kế gian, bị nó dụ dỗ lừa phỉnh.

Tất phải xem sắc mặt, xét ý tình, so sánh lời của mấy người, uốn nắn ráp nhau, rồi mới có thể tin dùng.

Nên ban thưởng cho hậu, trao cho tước trật.

Nên kén những người tâm phúc khôn ngoan, chgo theo cùng đi.

Nên đề phòng cẩn mật họ hai lòng.

Nhưng không bằng lấy những người dùng được đã nuôi sẵn mà thường quen hiểu đường đi; cũng bất tất cứ phải người bản thổ.

Như ở giữa đồng không, bốn phía không phân biệt được, lại gặp đêm tối, thì nên trông sao Bắc thần1 và ngắm sao Trung tinh2làm chính.

________________________________

1.

Ngôi sao sáng ở đuôi sao Bắc đẩu, tức Estoile polaire.

2.

Chòm sao trong nhị thập bát tú ở giữa trời.

III – ĐỒN TRÚ1

Dời đi.

Quân không nhất định đóng ở đâu, cũng không nhất định đi đâu.

Nhưng phải xem cơ nghi; mùa xuân mà cỏ cây khô cằn thì dời; mùa hạ mà suối chằm mưa ngập thì dời; phục ở rừng rậm, gió quá thì dời; có tiện thì đến, có lo thì dời; có lợi thì ở, không lợi thì dời; địch yếu thì ở, địch bền thì dời; đây mạnh kia yếu, đây hoãn kia gấp thì dời; đây khó kia dễ thì dời.

Đóng.

Phàm đóng quân thì phải dùng nơi sau cao trước thấp, trông ra hướng sáng, quay lưng hướng tối; nuôi sống ở đủ, nước lửa không lo, vận tải tiếp tế không trở ngại; tiến có thể đánh, lui có thể giữ, chằm cỏ suối nước, lấy củi, chăn súc đều đạt được cả.

Đó là nơi có thể đóng được.

Nhưng số sản vật không đầy đủ cả, mỗi phương một khác, cho nên khi tạm đỗ thì phải chọn nơi thích hợp với việc quân; ở lâu thì phải dùng địa thế.

Dẹp giữ thóc lúa.

Người Tần cắt lúa mạch mà Hoàn Ôn2 vỡ; Triệu Thù3 dời lương mà Hoàng Sào thua; Khấu Chuẩn4 chôn thóc mà quân địch sợ; Duy Phụ5 đốt thóc mà quân Kim thiếu ăn; Vu Khiêm6 bỏ kho không mà giặc mạnh phải tiều tụy.

Nhưng có khi dụ mà không nghe, lệnh mà không theo, một vì trong cõi không nơi tích trữ, một vì nhà nước vay mượn khó khăn.

Vậy phải lấy ngay những nơi đất công ở trong thành hoặc chùa quán để làm kho chứa, sai dân tự coi giữ, mà tự trao đổi bán chác, quan đi qua cũng không hỏi đến.

Thuyền vận tải không hết thì sau nhà nước mới đong vào.

Thóc chỉ có vào thành mà không có ra thành.

Dùng gạo đổi tiền thì dân ở thành tiện.

Ta no thì địch đói, làm một việc mà tiện lợi được ba.

Nếu cấp bách quá không kịp thì cho chôn hay đốt đi.

_________________________________

1.

Tham khảo Võ bị chế thắng chí, quyển 3.2.

Hoàn Ôn: Người thời Tấn, làm chinh tây đại tướng quân.

Tấn Minh đế sai đi đánh Tần Bồ Kiện (con Bồ Hồng, bác Bồ Kiện).

Ôn cậy có thóc của Tần sắp chín, Kiện sai người cắt hết lúa, quân của Ôn không có lương ăn phải lui về.

3.

Triệu Thù: Người thời Đường, giỏi cưỡi ngựa bắn cung.

Khi Hoàng Sào khởi ngĩa, Thù làm thứ sử Trần-châu, chứa lương cỏ, làm kế giữ lâu.

Sau phá được quân của Hoàng Sào - dời lương ở đây, tức là dời lương nơi khác vào thành.4.

Khấu Chuẩn: Người Tống, đời Tống Cao tôn đánh phá được quân Khiết-đơn ở Chiên-uyên.

5.

Duy Phụ: Tức là Lưu Duy Phụ thời Tống.

Khi người Kim đánh Hy-hà, Duy Phụ làm mã bộ quan phó tổng quản ở đây, sắp bỏ chạy, thấy trong thành còn chứa nhiều thóc, sợ người Kim lợi dụng được, sai đốt hết đi.6.Vu Khiêm.

Người thời Minh, khi Dã Tiên (thái sư của Ngõa Hạt) tiến quân sát đến Kinh sư, Cảnh đế cho Khiêm làm đề đốc quân mã; đánh lui được quân của Dã Tiên.

Thu dẹp súc vật.

Phàm tiện nhất cho sự cướp bóc không gì bằng súc vật, không phiền vận tải, hễ đuổi thì đi.

Chưa hề đánh nhau mà địch đã thỏa mãn dục vọng rồi.

Thế nên Lý Mục nghiêm lệnh giữ gìn mà rợ Hồ chẳng dám nhòm biên, Trần Tuấn1 đem quân thu cướp mà giặc tự phải tan chạy.

Ở gần thành thì cho tụ vào thành mà giữ, ở xa thành thì làm lũy vách mà thu vào.

Thi hành ở nơi biên tái thì kế càng cần thiết.

Thu dẹp rơm cỏ.

Địch nhờ ngựa mà mạnh, ngựa nhờ cỏ để ăn.

Tướng sĩ giữ biên, mỗi khi về tháng thu cỏ khô thì ra cửa ải xa mấy trăm dặm, phóng lửa đốt cháy.

Lưu Nhân Cung2 lấy đó mà chống được Khiết-đơn; Tư Ma lấy đó mà đối phó với Tiết Diên Đà.

Như Nguyên Hiệu3 nước Tây-hạ đối với người Liêu, thì lui quân ba xá4, mỗi lần lui đều đốt đất cho trụi, do đó dụ được giặc mà thắng được; như người Kim giữ cỏ ở gò Mâu-đà mà Biện-kinh bị vây; như Vu Khiêm bỏ không trại chăn nuôi ở cận giao mà quân kỵ của địch phải rút.

Vậy thì rơm cỏ chứa đầy chỉ để làm quà cho địch, việc trước nên soi.

Thu dẹp suối nước.

Địch nhờ vào, không cỏ thì nước.

Người Tần đánh thuốc độc ở thượng lưu sông Kinh để làm đói quân Tấn.

Tướng Tùy đánh thuốc độc vào suối ở trong cõi làm cho giặc bị bệnh.

Lưu Ỷ đánh thuốc độc vào sông Dĩnh5 để khốn quân địch, đánh thuốc độc vào cỏ để khốn ngựa địch.

Thu dẹp nhà ở và đồng nội ngoài thành.

Phàm gần thành, trong 3 trượng mà có nhà thì giặc có thể hoặc phục ở trong để bắn, hoặc lấy xà cột để làm thang, hoặc thuận gió đốt cháy lan, hoặc lợi dụng nền mà tung khói.

Đó đều là khiến thành không thể giữ được.

Vậy nghiêm xuống lệnh dỡ đi, gấp thì đốt đi.

Phàm phía ngoài hào hơn một dặm nên bỏ đồng trống, vì có thôn xóm thì địch giữ mà đóng; có đài thấp thì địch giữ mà nhòm xa; có gò đống thì địch nhờ để lấp hào đặt súng; cỏ đầm cỏ ngòi lạch thì giặc có thể ẩn nấp; có cây to và tre gỗ kho đạn thì đều là khí cụ để đánh thành, phải hoặc triệt đi, hoặc cấm, hoặc vận vào thành; có bè ở dưới nước ngoài trăm dặm thì tạm dời sang kênh nhỏ mà giấu đi.

Ai làm trái thì dùng quân pháp mà trị.

Năm điều ấy làm được thì ngoài nội trống hết, ta có thể hại địch mà địch không có thể hại ta.

Như vậy thì việc phải làm trước không thể kể xiết.

Tuy thế, sự giữ thành thì có hạn mà sự không thể giữ đồng nội thôn xóm thì vô hạn.

Vậy nên phải nương. tựa lẫn nhau, đều cùng nhau gìn giữ, không có đồn trại nào giữ tốt hơn thế được6.

Nghiêm cấm cướp đêm.

Sánh Kinh thế nói: mỗi khi hạ dinh ban đêm, phàm có đường hẻm có thể qua có thể vượt được, đều nên đặt đồn canh.

Binh lính canh đồn nên cẩn thận chăng một chiếc dây lớn, dòm xét kỹ càng.

Như có giặc thì nổ súng làm hiệu.

Quan binh ở dinh thì không cho cởi áo ngủ say, áo giáp mở ra cùng với đồ binh khí để một bên, mỗi phòng lều giao một người thay nhau canh gác.

Một khi có tin động, không được nói to, đánh thức ngay đồng đội, mặc giáp, cầm khí giới, ngồi im chờ giặc.

Khi giặc đến gần thì nổ súng bắn cung.

Cần nhất là không được chạy động.

Nếu chạy động tức là giặc, bắn giết ngay.

Tóm lại, gặp khi đêm có báo động, nếu mọi người bình tĩnh không động, không tiếng ho hắng, thì địch dù là quân mạnh giỏi đến đâu cũng chỉ ở nơi xa mà reo không, quyết không dám tới gần dinh lũy của ta.

Và khi đêm tối giặc đến cướp dinh, hoặc xâm phạm dinh lũy, phương đông, phương tây, phương nam, phương bắc, thì dinh đương bị cùng với dinh khác chưa bị đều cùng yên tĩnh giới nghiêm, không được động càn, đều giữ dinh lũy, đến chết chẳng dời, thế mới vạn toàn.

Nếu dinh đông không giữ mà bỏ chạy sang dinh tây, chẳng những dinh tây không động, mà dinh đông lại gặp súng tên của dinh tây bắn chết.

Dựng nêu.

Mỗi dinh đã đặt xong rồi, tức thì xem hình thế đất bốn phương đông tây nam bắc đều dựng nêu cờ, mỗi nêu đặt phu bắt, nhiều thì hai chục tên, ít thì hơn mười tên, có đủ cung tên đao súng để canh giữ.

Những binh lính hái củi, lấy nước, chăn súc đều không được thiện tiện vượt ra ngoài chỗ nêu cờ.

Ai phạm thì phải xiên tai để cảnh cáo mọi người.

Lại hiểu dụ cho những binh lính tuần phòng cần thận giữ trông, hễ có người nào vượt qua nêu thì bắt ngay.

Nếu tư tình buông thả thì phép quân xử nặng không tha.

Cẩn thận phòng bị.

Mùa đông khi rét, mỗi khi sương tuyết đầm đìa, ban ngày tối như ban đêm, giặc thường nhân lúc đó đánh ta.

Quân ta gặp lúc như thế, cần phải nghiêm cấm canh phòng, ban đêm lại càng cần thiết.

Binh lính lên cao canh giữ, nửa bước cũng không lìa chỗ mình đứng, chính là sợ một khi trông coi không rõ ràng, ngộ bị quân địch thừa cơ đến đánh thì nguy.

Thiết tha nhớ lấy.

Chòi canh.

Binh lính ngồi chòi canh, mỗi ngày từ sáng sớm lên chòi, phải ngồi chờ cho đến tối có binh lính canh đêm đến, bấy giờ mới cho về dinh.

Binh lính canh đêm đến sáng, phải chờ người canh ngày đến, mới được về dinh.

Ai dám chậm trái, không đợi lính này lính kia thay đổi cho nhau mà tự tiện bỏ chòi về dinh, phải đem tới đinh để tướng biền trị tội.

Như ban đêm mưa gió, tướng biền thì yên ngủ ở trong phòng lều, không nghĩ đến nỗi khổ của người ngồi đêm ở chòi, mà đến khi trời sáng lại không sớm sai lính lên chòi để thay đổi, thì nên lấy phép quân trị nặng.

Nếu binh lính lên cao nhìn xa thấy có giặc đến, tức thì nổ súng làm hiệu, chỉ cờ về phương ấy, cho tiện việc trong quân tiếp ứng.

Nhắc rõ lệ kiếm củi và chăn ngựa.

Mỗi ngày giờ tý thổi 3 tiếng ốc, bắt một tên lãnh cờ, lãnh đem binh lính năm dinh 25 tên ra gác cầu để dòm trông các dinh, còn lính dư và người thuê thì đều đi kiếm củi chăn ngựa, vụ đủ dùng trong một ngày.

Giờ ngọ lại thổi 3 tiếng ốc, đều trở về dinh, kẻ nào trái lệnh thì bắt xét trị nặng.

Mỗi ngày bọn lính và người làm thuê đi chăn ngựa kiếm củi lấy nước ở ngoài, hễ nghe có tiếng súng ở trong dinh và tiếng báo của chiêng hiệu thì không kể xa gần; tức tốc về dinh, người nào trái lệnh thì xiên tai.

Phải đặt dinh làm cho giặc sợ.

Mới đầu đặt bàn dinh, ở trong làm mấy tầng cũng không sao cả.Nếu một ngày không thấy giặc động tĩnh, đến chiều rút một tầng ở ngoài kẽ nách, rồi đặt một dinh; ngày thứ hai không thấy động tĩnh gì, lại rút một tầng ở ngoài, rồi lại đặt một dinh.

Giặc hẳn cho rằng sức quân ta ngày càng thêm thì lòng nó càng mau nản.

Đó là phép biến thực làm hư, biến hư làm thực vậy.

_________________________________

1.

Trần Tuấn: Người thời đông Hán, làm quận lại, theo Quang-vũ đi đánh Đồng-mã, chém được tướng của địch.

2.

Lưu Nhân Cung: Người thời Hậu Đường (Ngũ đại), làm tiết độ sứ ở Lư-long.3.

Nguyên Hiệu: Tức là Triệu Nguyên Hiệu, vua nước Tây-hạ, người Tống, phản nhà Tống.

4.

Mỗi xá 30 dặm.5.

Lưu Ỷ bỏ thuốc độc vào sông Dĩnh.

Đời Tống Cao tôn, Kim thái tử Ngột Truật đem quân sang đánh thành Thuận-xương.

Ỷ sai người bỏ thuốc độc xuống dòng trên sông Dĩnh.

Quân và ngựa của Kim uống phải nước sông ấy mỏi mệt, bị Lưu Ỷ đánh cho thua.

6.

Nghĩa là có đồn trại ở ngoài thành mà giữ cũng không bằng dùng kế “đất không nhà trống” như trên.

*

* *

Sách Tôn tử:

Phàm phép dùng binh, tướng phải chịu mệnh với vua, họp quân tụ chúng...

Địch ở nơi cao chớ nghển lên mà đánh; địch dựa vào gò chớ đón mà đánh1...

Đất tuyệt không nên ở; đất vây thì lập mưu; đất chết thì đánh...

Đường có khi không đi; quân có khi không đánh; thành có khi không phá; đất có khi không tranh; mệnh vua có khi không chịu.

Cho nên làm tướng có suốt được điều lợi của chín biến2 mới là biết dùng binh.Nếu tướng không biết điều lợi của chín biến thì dù có biết địa hình cũng không nắm được địa lợi.

Cầm binh mà không biết cái thuật chín biến thì dù có biết được năm điều lợi cũng không thể được người mà dùng.

Thế nên người khôn lo nghĩ, tất có lẫn với lợi hại, lẫn với lợi thì sự chuộng của mình đạt được, lẫn với hại thì mối lo của mình giải được.

Thế cho nên lấy hại mà đè chư hầu, lấy nghiệp mà sai chư hầu, lấy lộc mà khiến chư hầu xô đến.

Cho nên trong phép dùng binh đừng cậy là giặc không đến mà cậy ở ta sẵn có cái để đón chờ; đừng cậy là giặc không đánh mà cậy ở ta sẵn có cái cho nó không đánh được.

Cho nên làm tướng có năm điều nguy: liều chết thì có thể bị giết; ham sống thì có thể bị bắt được; nóng giận thì có thể bị khinh nhờn; trong sạch thì có thể bị làm nhục; yêu dân thì có thể bị quấy rầy.

Năm điều ấy chính là lỗi của người làm tướng, và tai vạ của việc dùng binh.

Bại quân chết tướng chỉ vì năm điều đó, không thể không xét kỹ vậy3.

Phàm đóng quân và xét giặc, vượt núi và dựa thung lũng, thì trông nắng mà ở chỗ cao; địch ở trận cao thì đừng lên.

Đó là đóng quân ở trên núi.

Vượt nước tất phải xa nước; địch vượt nước mà đến thì chớ đón ở trong nước, để nó sang nửa chừng mà đánh thì lợi.

Người muốn đánh đừng dựa nước mà đón địch.

Trông nắng mà ở chỗ cao, đừng đóng quân ở trên nước.

Vượt đất trũng thì đi gấp, đừng ở lại.

Nếu đánh nhau ở nơi đất trũng thì phải nương nhờ nước cỏ mà dựa lưng vào cây cối.

Đó là đóng quân ở nơi đất trũng.

Nơi cạn bằng thì đóng ở chỗ dễ, bên hữu thì dựa cao, trước thấp sau cao.

Đó là đóng quân ở nơi cạn bằng.

Theo bốn phép đóng quân ấy, Hoàng đế có thể thắng được bốn phương.

Phàm đóng quân, ưa cao mà ghét thấp, quý dương mà ghét âm, nuôi sống mà ở chắc.

Quân không ốm đau, thế là tất thắng.

Gò núi đê điều thì phải ở về phía mặt trời mà dựa về phía hữu.Ấy là cái lợi của binh nhờ sự giúp của đất vậy.Phàm đất có tuyệt giản, thiên tỉnh, thiên la, thiên hãm4 thì cần phải bỏ đi, chớ nên gần đấy.

Ta xa đi thì địch gần lại, ta đón lấy thì địch bỏ đi5.

*

* *

Dò la nơi xa.

Đời xưa gọi là du trinh, gián điệp, tế tác, la khiếu, tên không giống nhau mà đều là quân đi dò xét ở bên địch.

_________________________________

1.

Tôn tử, thiên VII.2.

Chín biến là chín việc quyền biến nói ở trên.

3.

Tôn tử, thiên VIII.4.

Xem giải về thế đất ở sau.

5.

Tôn tử, thiên IX.

*

* *

Cẩn thận đồn canh và hiệu lửa.

Mỗi một đồn canh để 5 người, mỗi trống canh 2 người, một người đi một người ở.

Khi thấy quân phi lâu1đánh mõ ứng tiếng, thì quân la khiêu cầm một mồi lửa giơ lên làm hiệu; mỗi canh đổi một hiệu lửa, ví như canh một thì hiệu lửa chỉ trời, canh hai thì chỉ bên tả v.v...

*

* *

Đặt đài chứa lương thực và rơm cỏ.

Binh lấy ănlàm gốc, ăn đủ thì binh mới mạnh.

Đặt quan tào vận để giữ lương thực, gạo và thóc đều phải chứa.

Gạo cần thiết mà dễ mục, thóc vỏ cứng có thể để lâu, lúc hoãn lúc cấp đều chứa cả.

Đời sau chỉ để gạo, cho nên lâu thì không ăn được.

*

* *

Phép thần cơ làm lũy tạm2

*

* *

Nơi đóng quân3.

Nước sâu trong mà chảy xiết, ăn tốt nhất.

Nước chảy có lẫn cát vàng, ăn tốt thứ nhì.

Nước chảy mà đen, ăn được nhưng không tốt lắm.

Ví có nước đứng mà không chảy, đừng ăn.

Nước chảy mà trên nguồn có giặt ở, đừng ăn.

Nước chảy mà trong đó có xác lợn đen chết không trôi đi thì đừng ăn, ăn thì chết.

Nước lẫn nhiều cứt đừng ăn, ăn thì ốm.

Nước có xác chó chết đừng ăn.

Như không có nước ăn được, thì đào giếng ở bên mà lấy nước.

Quân sĩ đóng dinh cần có nước, nghỉ tạm cần có nước.

Người giỏi dùng binh phải phòng loạn từ khi chưa loạn, phòng gấp từ khi chưa gấp.

Khi làm dinh xong, nên cho những người mạnh dạn vây ở ngoài, những người yếu nhất thì phụ theo.

Đó là phép lo lắng về đêm tối.

Sai đi coi và ngắm đo thế đất cho bằng phẳng, có sẵn cỏ nước, rồi kết dựng vách thành, đốn cây làm sào, chở đất làm lũy, đào đất làm hào, chế mộc mã4, tạo phi lâu, làm xích hậu, chia đặt dinh trại cho bền vững, đặt đàn lễ cáo thần minh sở tại, thu canh tan canh, phát khẩu hiệu, đặt quân do thám, đó đều là việt cần kíp về đóng quân.

Thế núi ngặt mà chặn ở gần thì đừng đóng dinh, sợ có quân phục ở bên.

Núi âm u quanh quất thì đừng đóng dinh, sợ bốn bề có quân phục.

Tả hữu trước sau đều có núi mà hơi xa, thì ta đóng quân ở giữa, phải xem kỹ đường lối đi lại và các đường tắt, phái quân phòng giữ.

*

* *

Tôn tử nói: Bên chỗ quân đóng mà có ao hồ, rừng cây ngăn trở, lau sậy um tùm, thì phải cẩn thận lùng xét kỹ càng, đó là chỗ quân phục quân gian nấp náu5.

Phàm quân đi qua đâu, không đốt kho tàng của người, không phá nhà cửa của người; cây ở đền, cây ở xã không được đẵn; kẻ đã hàng không được giết; người đã bắt được không được đánh; là để tỏ rõ nhân nghĩa, thi hành ơn đức, cho thiên hạ hòa phục.

_________________________________

1.

Phi lâu: Chòi bắc trên cao.2.

Mục này trích ở sách Hổ trướng khu cơ, ở đây xin bỏ, xem Hổ trướng khu cơ ở sau.

3.

Tham khảo Võ bị chế thắng chí, quyển 3 chương XX “Dinh địa”.4.

Mộc mã: Tức ngựa gỗ, cũng gọi là cự mã mộc, tức là cái cản gỗ chống ngựa, người ta dùng để chống ngựa và voi.

5.

Tôn tử, thiên IX.

*

* *

Võ vương hỏi: Quân ta đóng đồn ở trong khoảng rừng sâu cỏ rậm, địch nhân ở trên gió đốt cả trước sau thì ta làm thế nào?

Thái công thưa: Phàm quân đóng đồn ở rừng, phải dùng thang và chòi mà trông cả tả hữu trước sau, nếu thấy lửa thì ta đốt cả chung quanh cho cháy còn trơ đất đen mà cứ ở yên, thế thì địch không thể làm hại được1.

Phàm đóng đồn ở rừng, thì bốn chung quanh đồn phải chặt hết cây cỏ rộng 3 hay 5 trượng.

Nếu địch đến đốt, thì ta cũng đốt trước ở ngoài bốn phía của ta.

Lửa nó đốt cháy vào lửa ta chảy ra, hai lửa gặp nhau, ắt là phải tắt2.

*

* *

Thủ-chân họ Lê nói:...

3

*

* *

Khi chọn đất đặt dinh, không thể không cẩn thận.

Cho nên người trí tướng đóng dinh, phải chọn địa lợi.

Ví như trước có đường nước, vận tải lưu thông, bên tả có núi cao, bên hữu có đồng ruộng, thì có thể đóng quân.

Nếu sông hồ khe suối bốn mặt quanh co thì không nên kết trại, sợ có quân giặc chặn đứt mất đường yếu lộ mà tiến lui không thông.

Cho nên người trí tướng hành binh không bao giờ trông vào gò cao, trở lưng ra nước.

Trước có nước thì không tiến, sau có khe thì không lại; hoặc mé nước bên hữu kề liền với gò bên tả, hay một bên là gò núi sông hồ thì đều kiêng, sợ đất ấy ba mặt chịu địch, người trí tướng không thể không cẩn thận.

Đó là điều cốt yếu để chọn đất đặt dinh vậy.

Nếu lập trại vào mùa xuân mùa hạ, thì không nên gần nơi cỏ cây xanh tốt, sợ giặc tiện dùng hỏa công.

Như về tiết thu không nên sát núi cao và khe suối, sợ quân giặc thừa thế tự xa lại mà bắt quân ta.

Cho nên hành binh không thể không cẩn thận.

Đó là điều cốt yếu trong sự cẩn thận về thiên thời vậy.

*

* *

Phép hạ trại.

Phàm khi hạ trại, phải chọn nơi đất lành, sẵn có nước, tiện việc kiếm củi chăn ngựa.Trại phải có điếm canh để phòng kẻ gian tế.

*

* *

Phép cướp trại.

Phàm quân địch đêm đến cướp trại, thì cho quân ra ngoài mai phục bốn mặt, trong trại hư trương lửa và trống.

Quân địch xông vào thì vùng dậy mà đánh.

Sẽ thắng to.

_________________________________

1.

Xem Võ kinh trực giải, phần “Lục thao”.2.

Hổ trướng khu cơ cũng chỉ nói nếu giặc đốt thì ta cũng đốt ở xung quanh ta, lửa của giặc đến thì lửa của ta đã tắt, ta nhắm chỗ đất đen là chỗ đã đốt cháy mà đóng thì lửa của giặc không làm gì được, chứ không nói hai lửa gặp nhau.

3.

Từ đây trở xuống trích ba chương của sách Hổ trướng khu cơ, đây xin bỏ, xem Hổ trướng khu cơ ở sau

*

* *

Sách Võ bị chế thắng chí:

Phép dinh vuông của Lý Tĩnh.

Như gặp đồng bằng chằm rộng, không có thế hiểm trở, thì phải làm dinh hình vuông.

Như xem có 2 vạn người thì chia ra làm 7 quân, trung quân 4.000 người, tả hữu tiền hậu bốn quân, mỗi quân đều 2.600 người, ngu hậu 2 quân, mỗi quân 2.800 người.

Quân tả hữu và quân ngu hậu tả hữu chia làm 3 dinh, 6 quân làm 18 dinh.

Trung quân làm một đại dinh1.

Hình 3 - Dinh vuông

Phép dinh Yển nguyệt của Lý Tĩnh.

Phàm gặp dải đất không hiểm trở lắm, nên làm dinh bán nguyệt.

Dinh thì mặt trông ra nơi bằng, lưng quay ra chỗ hiểm mà hai cánh cũng quay về chỗ hiểm, như hình mặt trăng lưỡi liềm.

Mỗi dinh cách nhau thưa dày và xếp đặt đội ngũ thì theo như phép trước.

Còn cửa thì lâm thời sẽ tình.Đến như binh và ngựa nhiều ít cùng đặt lều rạp thì tùy nghi mà làm, đó là nói đại yếu thôi.

Khi có báo động thì súc vật đều cất giấu sau dinh.

Hình 4 - Dinh bán nguyệt

Phép lập dinh bằng giáo.

Phàm quân đóng không lâu, có thể tạm thời dựng giáo làm dinh, giáo xen với củi cho đều.

Chập tối thúc trống cho mọi người đem giáo đến, dứt hồi trống thì cắm giáo xong, quân sĩ canh giữ không được ra ngoài dây chăng, rồi dập tắt khói lửa.

Ở ngoài dinh đặt phô canh2; ở ngoài lại cho một người nấp nghe.

Như ngoài dinh có động, người ở phô không được nói to; chỉ khua giáo truyền qua bốn mặt, tức thì biết là có động mà đề phòng.

Phép lập dinh bằng củi.

Phàm làm dinh bằng củi, thì củi nên xếp dày khít, không để người đi qua được.

Ở khe hở thì đóng đinh, lại lấy đất đắp lên.

Xe để hàng ngang cho đều, khi cần kíp thì xoay xe, có thể làm thành được.

Nếu ở lâu trong dinh thì đặt một cái cột để trông xa.

Phép đào hào lập dinh.

Phàm đào hào dựng giáo thì phải chăng dây làm mức.

Đáy hào rộng 1 trượng 2 thước, sâu 1 trượng, miệng rộng 1 trượng 5 thước.

Đất thì đổ vào trong, đắp bờ đất cao 4 thước 5 tấc, phải chắc cho khỏi lở, mặt trong xén thẳng như thành, trên mặt người có thể đi được.

Hào đào xong thì tạm bắc cầu phao, khi gấp thì chặt đi ngay.

Cứ cách 2.000 bước thì đặt một chiến lâu.

Lấy cánh cửa và ván lát tạm mà chế mui hào.

Ở ngoài lại đào một lớp hố sập ngựa rộng 2 bước.

Phép xây thành lập dinh.

Phàm đắp thành làm dinh, thân thành cao 5 thước, rộng 8 thước, nữ tường cao 4 thước, rộng 2 thước; mỗi trăm bước đặt một chiến lâu; 50 bước đặt một cỗ súng toàn phong; cách 3 thước ở trong thì đặt một cái cùm, phản và giá khí giới của phô canh.

Cách thành 50 bước thì dựng lều rạp.

Trong thành đặt một cây cột cao 70 thước.

Ngoài thành đặt một lớp tường dê ngựa; ngoài đào một lớp hào, ngoài nữa cách chừng 3 bước dựng một lớp rào gỗ; ngoài rào gỗ lại bày một lớp thành gai; ngoài lớp gai lại có một lớp hố sập ngựa.

Phép làm rào gỗ.

Phàm làm rào gỗ là vì địch ở sát gần, không kịp đắp thành lũy, hay vì núi sông thế hiểm, nhiều đá, ít đất, không tiện xây đập, phải dựng cây làm rào.

Vuông tròn cao thấp tùy tiện.

Chôn sâu gốc gỗ, lớp này lớp khác, chắp vá chỗ thiếu.

Trong thì trồng cọc ngắn làm đường gác, ngoài trồng một lớp cột, nhô lên 4 thước để làm nữ tường.

Đều phải trát bùn cả.

Ngoài rào đào một lớp hào, rộng 2 trượng sâu 1 trượng.Trong rào mỗi một trăm bước thì làm một chiến lâu, ở trong đó đặt vọng lâu để trông xa.

_________________________________

1.

Trở xuống 9 mục đều xem thêm Võ kinh tổng yếu, Tiền tập, quyển 6, chương “Chế độ III”.

2.

Phô canh là khoảng bày quân canh phòng ở quanh dinh.

*

* *

Chọn đất đóng dinh.

- Không đóng quân ở nơi cửa thung lũng bốn mặt bị địch, người ngựa dễ bị xung đột, đó gọi là đất hang trời (thiên kháo).

- Không đóng quân ở núi cao, phòng có người ngựa đi quanh núi mà lại phá dinh trại của ta.

Trước mặt là thế hiểm, bị giặc bền giữ, thì ta không có lối ra vào, đó gọi là đất đầu rồng.

- Không đóng đất chết, nghĩa là lập dinh không ở vào nơi nhiều mồ mả, người ngựa ban đem hay sợ hãi; ở lâu quân lính hay bị đau ốm.

- Không đóng ở đất như hình trụ, nghĩa là dưới thấp giữa cao, đất ấy trên mặt rộng phẳng, khoảng giữa có gò như hình cái chậu úp, nếu lập dinh ở trên thì tám mặt lộng gió, chung quanh bị địch.

- Không đóng ở đất ngục, tức là ở dưới cao nguyên, đất rộng rãi bằng phẳng trong đó có đất hình như cái chậu ngửa, nếu đặt dinh ở đấy thì bốn mặt bị địch ở trên cao đánh xuống, ta ở giữa tất phải thua;

- Không đóng ở nơi núi rừng cây cối um tùm, mùa xuân mùa hạ cành lá rậm tốt; không trông thấy người ngựa, sợ giặc xuyên qua đường lạ mà lại đánh dinh trại ta; mùa thu mùa đông cỏ cây khô héo, sợ địch ở đầu gió phóng lửa mà nhân đánh cướp trại ta, khó bề tránh mà đối phó.

- Không đóng ở nơi hồ sông khe suối quanh quất, sợ địch giữ vững nơi yếu hại thì ta không có đường tiến thoái, và ngoài không giao tiếp được, khó bề cứu nhau.

- Không đóng ở trong sông to hiểm hóc, bị địch đóng chẹn ở nơi đường nhỏ, nếu quân cứu viện không đến thì ta không có đường tiến lui để đối phó.

- Không đóng ở bờ sông hồ và bên núi lớn, ba mặt bị địch, sau không có đường lui tới.

Nhưng nếu trong đó lại có thuyền ghe bè mảng, bên bờ có đường vận lương, thượng lưu có quân ứng cứu, thì có thể đóng dinh được.

- Nếu ở bờ sông ngòi, đóng dinh ở trên mặt nước, thì nên đề phòng hỏa thuyền ở thượng lưu buông xuống mà đánh hỏa công và giặc lặn ở dưới nước đục thuyền cho đắm.

- Không đóng ở chỗ bốn mặt có sông dài quanh quất, bốn mặt địch lại đánh ta, ngoài không có quân cứu viện, thì bị khốn.

- Nên ở nơi lưng cao mặt thấp, trước có sông chảy, sau có đường vận lương, bốn mặt không có núi cao lũng lớn, dù ở xa cũng không có hại.

- Quân dinh đóng ở núi mà trên núi có nước, thì nạn tháo nước làm ngập, không thể yên dinh được.

- Tên đất xấu cũng không thể đóng dinh, ví như loại đất đầu chó, mồm trâu v.v...

- Không uống nước tù, nước tù là nước không chảy, như đóng dinh ở đấy mà ăn uống nước thì không được.

*

* *

Dinh qui.

- Quân lính khi đóng dinh rồi, trước hết sai hai đội đào chung một hố xí.

- Khi dinh lũy đã định rồi, thì những người hàng thịt, buôn bán, nhất thiết cấm chỉ; trong dinh giao dịch với nhau thì không cấm.

- Cửa dinh có chia cho các tướng hiệu ở gần coi giữ, các chức tạp sắc cũng được chia riêng một cửa ra vào, không được lẫn lộn, phải ghi nhận rõ ràng để phòng kẻ gian tế.

- Những người bị thua đến xin theo về thì nên cho làm các công việc khác, đừng cho theo việc quân, sợ họ mượn dịp, nên phải đề phòng.

- Vào cõi khác mà đặt dinh nấu cơm, đi kiếm củi không nên đi xa; nên dùng ngựa tuần trông xa bốn mặt, thấy giặc thì trở về gấp.

- Như ở bên dinh không có nước, thì xét nơi nào mọc lau sậy hay cỏ nước và có mối đùn thì dưới đó hẳn có suối ngầm, có thể đào giếng được.

Lại tìm đường lối dã thú đi lại, gần đấy tất có nước.

Như quân đi đánh, nên có nước đem theo, có thể đựng ở trong túi da dê, hay bầu lớn, ống tre đều được.

- Hái củi, cứ 3 ngày một lần, chính giữa giờ tị, sau bữa cơm sáng, cho một người chưởng hiệu ở trung quân cầm lá cờ chữ “tiều” cùng ra, một tên đội trưởng lãnh đi, hạn 2 giờ thì về ngoài dinh để chờ.

Bẩm với 2 người chưởng hiệu ở trung quân, các quân lại tới bên thành gỗ, súng ống như cũ, rồi mới mở hai cửa đông tây cho đi, còn cửa khác thì không được.

- Những người đi nhà xí, theo các hố xí, do các cửa dinh, đem thẻ bài của mình treo ở trước cửa thì mới cho mở cửa mà ra hố xí.

Xong việc rồi về ngay, tự nhận lấy thẻ bài mà về dinh.

Như ban đêm không cho ra ngoài dinh thì tùy tiện đi ở bên rạp, sáng dậy quét dọn cho sạch đổ ra hố xí.

Ai làm trái thì chiếu theo phép lấy nước mà xử.

- Ở trung quân mỗi khi buổi chiều thúc ba hồi trống xong, các dinh tức thì dập lửa, cấm làm ồn, không cho người đi lại.

Làm trái thì đội trưởng cũng bị trị như binh lính.

Đội trưởng mà phạm luật đi tuần, nhất luật phạt 30 côn.

- Sai người phục ở bên đường, mỗi một ngày đêm đổi ban một lần, cứ xong bữa cơm sáng thì sai đi, khi người kia đến thay cho người này về thì người về phải tới ngay trung quân mà báo cáo.

- Ban đêm có người đến phục sự, đến cách ngoài cửa chừng 20 bước thì bắt đứng lại.

Người giữ cửa nhận tiếng nói, nếu là người nha khác sai đến, phải hỏi lai lịch của nha ấy, như có thư thiếp giấy tờ thì bảo đem thư thiếp giấy tờ ấy ném xuống đất, cho người truyền giữ ở ngoài dinh nhặt lấy, để do thành gỗ mà đưa vào trung quân.

Trung quân có lệnh tiễn cho vào mới được mở cửa cho vào.

Không có lệnh tiễn thì không cho.

Nếu có kẻ dùng dằng không đi, cùng là không tuân điều cấm mà cứ sấn tới dưới thành gỗ, thì cho bắn, chết cũng không tội.

- Gặp có báo động, phải nghiêm tĩnh giữ các phần đất, đóng cửa thành gỗ, nghe lệnh ra quân; như ai có nói to chạy bậy thì theo phép quân trị nặng.

*

* *

Dinh đêm.

Mao tử1 nói: Ban đêm thì khó đề phòng, cần phải thám phục ở xa, canh phòng rõ ràng để biện kẻ gian dối.

Phép của các nha sẽ bày ở sau:

- Phàm quân dinh đóng xong, thường phải phòng ngự ở trước dinh...

Ngày đêm nghiêm phòng, dù có mưa gió cũng không rút quân ở đội; quan cũng không được lìa đội.

Mỗi dinh để ngựa 5 con đóng sẵn yên cương thả cho ăn để phòng có báo động gấp thì chạy đi báo ngay.

- Ngoài việc cảnh bị của quân dinh, mỗi quân phải đặt riêng xích hậu.

Một quân định rút chiến sĩ 30 hay 50 người.

Ở những đường yếu hại cách 3, 5 dặm ở ngoài bốn mặt, ban đêm đặt phô ra ngoài, mỗi phô cấp ba cái trống đem theo.

Như trong đêm có giặc phạm đại dinh, phô ngoài thấy giặc giao chiến với đại dinh thì ở sau phải nổi trống và hò hét để đánh ở sau giặc, nhân được cơ tiện lợi thì hẳn có thể thắng được.

- Phàm quân dinh đóng xong, ban đêm thì đặt riêng quân thám ở ngoài, mỗi dinh dùng quân xung đột và quân dũng cảm lần lượt thay phiên, mỗi mặt 4 người, mỗi người lãnh 5 lính cưỡi ngựa đi tuần ở bốn mặt dinh, cách dinh ngoài 10 dặm, để phòng sự bất thường.

Như có báo động thì chạy về báo trung quân.

Hay sai quân cưỡi ngựa cứ đến trống canh thì giơ lửa để hưởng ứng.

Giặc trông thấy hiệu lửa không dám cướp dinh nữa.

- Phàm quân dinh, ban đêm lại nhằm con đường trọng yếu giặc có thể đến mà lấy quân thám kỵ để đặt phô ngầm2, mọi người đều cầm bó đuốc mà giấu sẵn lửa3 lần lượt ứng tiếp với nhau.

Lại phục người ở trong cỏ hai bên đường, hay cho lên cây cao mà trông xa, biết là có giặc thì chạy báo cho ngựa phô giơ lửa, phô trước ứng theorồi thì chạy tới đại quân.

Đại quân cũng đặt người trông hiệu lửa.

- Phàm mỗi đêm lúc đặt phô, mỗi phô sai chứa 5 cây đuốc và một bó cỏ khô, lại sai giữ lửa.

Nếu có báo động thì mỗi phô đều cứu nhau, không được đi cách.

Lại phải giơ đuốc lên để soi.Trung quân tức thì đánh trống, khiến các dinh đều biết.

Tướng sĩ đều mặc áo giáp, cầm cung tên, thấy ai chạy thì bắn, tự nhiên phải đứng lại.Quân giặc nếu hơi nhiều thì trung quân kíp ra cứu viện.

Nghe dinh bị cướp có tiếng quân kêu nhiều thì nên xét để phân biệt.

_________________________________

1.

Tức là Mao Nguyên Nghi, tác giả sách Võ bị chí.

2.

Phô ngầm, tức là phô canh bí mật.3.

Đuốc chưa đốt, nhưng giấu sẵn lửa để địch khỏi thấy và khi cần thì đốt đuốc ngay được.

*

* *

Phàm ban ngày có giặc phạm dinh thì dinh bị phạm phải đánh trống gấp.

Các dinh thúc trống để hưởng ứng rồi dinh không có giặc thôi trống, duy dinh bị giặc đến phạm, nếu giặc không tan, thì cứ thúc trống mãi.

Các quân đều mặc áo giáp, cầm binh khí, nhìn cờ hiệu ngũ phương của đại tướng chỉ về đâu, tức là đường ấy giặc đến, chỉnh đồn binh giáp, ra trước bày hàng, chưa nên hoạt động, đều chờ quân đến cứu, theo lệnh đại tổng quản mà tiến hay dừng.

Phàm quân dinh lo bị giặc phạm thì ở ngoài dinh phải thường đặt một đội riêng để phòng hộ, rút ở chiến đội thường của dinh mà sung vào; cách lều tướng 30 bước1 bày đội phục sẵn.

Nếu giặc đến, đội phòng hộ mà không địch được thì trong dinh mới ra quân giúp, không được để giặc phạm vào đại dinh.

Phàm quân dinh bị giặc đến phạm thì đại tổng quản phải tự đem quân ra cứu, thường trước đã cùng với các tướng ngầm hẹn rằng binh sĩ đeo lục lạc ở mình làm hiệu, dinh bị giặc xâm phạm nghe thấy tiếng lục lạc tức biết là quân đại tổng quản đến, hoặc lục lạc hoặc đạc đều không thể định trước, vì sợ quân giặc ăn cắp mật hiệu.

Phàm quân dinh đóng lâu thì ở chốn thung lũng trên đường giặc đi nên đào hào cắt đứt rộng 3 trượng sâu 2 thước, rồi lấy cát nhỏ và đất rời lấp bằng đi, mỗi ngày kiểm xét và quét cho sạch sẽ, hễ quân gian ra vào và quân ngựa qua lại đều có thể thấy hết.

Phàm chỗ quân đóng, ở trong binh kỳ2 nên kén những người cứng rắn quả quyết, am hiểu đường sá sông núi, và ở lâu trong quân, cùng với lính phô đã làm việc với nhau lâu ngày, cho nấp chờ ở ngoài nơi kín đáo, dùng phép bắt sống mà bắt những người lấy củi chăn ngựa dò thám cho giặc, điệu về đề tra hỏi công việc trong giặc; khi làm thì đừng cho binh du địch3 biết.

Phàm trong quân ban đêm cứ khoảng một trăm bước thì để hai người nghe, mỗi canh đổi nhau một lần, để làm việc nghe rình vặt.

Như ban đêm ở dinh địch có tiếng ngựa hí thì biết mưu nó chuẩn bị đi đánh cướp đêm, lấy đó mà suy, để đề phòng sự không ngờ.

Còn lo dò thăm không được xa, cho nên sai người thính tai ít ngủ, nằm gối vào cái hồ lộc không để nghe, hồ lộc thì dùng da lợn rừng mà chế, phàm người ngựa đi ngoài 30 dặm, đông tây nam bắc đều có thể nghe được tiếng vang.

Mỗi dinh thì đặt 1, 2 sở, nơi quan trọng thì đặt 3, 4 sở.

Các phô lẻ và nơi rào phên trấn giữ cũng đều đặt một sở để nghe, nghe rồi đổi đi nơi khác, không nhất định để một chỗ.

Phàm đánh ban đêm, phần nhiều do quân địch đến đánh úp lũy quân ta, bất đắc dĩ mà phải đánh.

Phép đánh là ở chỗ lập dinh.

Phép lập dinh cũng như phép lập trận, cho nên Binh chínói: Quân đỗ thì làm dinh, quân đi thì làm trận.

Vì là trận lớn bọc trận nhỏ, dinh lớn bọc dinh nhỏ, các quân trước sau tả hữu đều tự có dinh.

Dinh đại tướng ở giữa, các dinh bao chung quanh, gốc cạnh liền nhau, chỗ gãy đối nhau, xa không quá 100 bước, gần không quá 50 bước, đường sá thông suốt, để ra vào, đôi bên vách lũy cùng trông nhau, đủ để dùng cung nỏ mà cứu nhau được.

Phàm cửa đường qua lại, phải lập bảo nhỏ, trên chất củi đào lỗ làm đường ngầm; dùng thang Hồ4 bắc lên khiến người đứng trông.

Hễ đêm nghe tiếng trống thì dậy ngay, tức thì đốt đuốc lên, quân giặc đêm vào cửa dinh, nhìn quanh bốn phía thấy đều có dinh nhỏ giữ vững cả, không biết đánh vào chỗ nào.

Lúc đó trong dinh đại tướng hoặc các dinh nhỏ biết trước là quân giặc đến, cứ nên đóng quân không động, để cho quân giặc vào hết rồi sau mới đánh trống, các dinh đồng thời ứng phó, các bảo đều đốt lửa soi vào, quân sĩ các dinh đều đóng cửa lên thành mà la hét xuống quân địch, nỏ cứng cung khỏe bốn mặt đều bắn.

Nếu địch đi lén vào một dinh thì dinh bị đánh đốt lửa, cho quân ra đứng vây quanh và ra hiệu lệnh trong dinh không được rối động.

Trong khoảng chốc lát, thiện ác tự sẽ chia ngay.

Nếu kẻ nào chạy ra thì đều vương lưới cả.Ngày nay lập dinh rộng rãi thông suốt, nếu ban đêm có giặc đến đánh, thì trong quân của dinh bị đánh không ai là không rối sợ.

Dù có đặt nhiều thám thính, nghiêm việc phòng bị, trong khi đêm tối cũng chẳng phân biệt được ai, dù có tốn nhiều công cũng chẳng được gì.

______________________________

1.

Võ bị tổng yếu, Tiền tập, quyển 5, mục “Cảnh bị” chép là 20 bước.

2.

Binh lẻ, đối với binh chính.3.

Tức binh đi tuần.

4.

Thang của người Hồ không rõ hình chế thế nào.

Phàm đánh vỡ giặc rồi, thì phát thẻ cho binh đi tuần đêm để biết rõ sự canh phòng.

Mỗi đội phát treo một chiếc đèn trên cờ hiệu, mỗi tiêu phải treo hai đèn ở trên cờ hiệu, mỗi ti phải treo ba đèn ở trên cờ hiệu, nhưng cờ chính thì dùng một đèn; cần phải treo cao thấp cho đúng cách thức.

Ban đêm các dinh đều chiếu theo số đèn đã định, các dinh thì trông đèn ở trung dinh, các bả tổng1 thì trông đèn của dinh mình, các tiêu thì trông đèn của đại ti, các cơ thì trông đèn của tiêu mình, các đội thì trông đèn của cơ mình, các binh thì trông đèn của đội mình; đêm trông đèn cũng như trông cờ ban ngày.

Đèn thì chuẩn bị trước, trông theo hiệu lệnh ở trung quân; treo lên đèn lồng, đều có ám hiệu ở trên, không cho trùng.

Lại cứ cách bản dinh ngoài 30 bước thì phải đốt một đống củi, để ta có thể trông thấy giặc, giặc không thể trông thấy ta được.

Người đốt lửa và mỗi người đứng canh gác ở cột cờ đều phải xin ám hiệu mà đi.

Phàm mỗi ngày, đến giờ dậu ngu hậu phải tới mạc phủ đại tướng quân xin hiệu.

Sổ viết hiệu đóng giấy 24 tờ, mỗi tờ chia làm 15 dòng, ở trục đầu dòng thì viết 6 hiệu quân và năm tháng ngày nào; sau giờ tị là giờ ra hiệu ở sổ, đại tướng quân tùy ý mình, theo một dòng mà viết chữ, chữ trên là chữ hét hỏi, chữ dưới là chữ đáp lại, mỗi đêm viết một dòng.

Quyển sổ có 24 tờ cộng là 360 dòng, hết một năm thì hết sổ, phải đổi sổ khác; như gặp năm nhuận thì đóng thêm 2 tờ.

Chữ hiệu không được phạm chữ húy của nhà nước và chữ húy của đại tướng quân, nguyên súy, đô thống…

Những ngu hậu đi tuần và các ngu hậu của chư tướng, khi đại tướng quân ra hiệu phải phân minh biên rõ lấy.

Phàm những chữ hét hỏi và đáp lại đều là các hiệu đại cương thôi, đến khi có báo động, hoặc sợ địch ăn cắp, hoặc sợ có nội ứng thì không chuyên theo một hiệu đã định, nên gặp việc thì thay đổi, hoặc qua mặt giờ thì đổi, hoặc đến sáng thì đổi.

Ban ngày lấy tấm giấy ngũ sắc làm hiệu, giấy cũng nên thay đổi hàng ngày.

Như khi chia đi đánh úp hay đặt quân phục, ban ngày hoặc lấy cờ dựng ở cửa làm nêu, lấy màu làm hiệu, chiều tối và ban đêm thì thổi còi hay đánh trống nhỏ, đánh chậu đồng, gõ tấm gỗ v.v..., những tiếng ấy có thể đi xa hơn một dặm, hay sai người kêu to làm ứng nghiệm, việc đó tùy theo đại tướng quân lâm thời xếp đặt.

Phàm đặt phô, mỗi ngày giờ tuất (8, 9 giờ tối), giờ thìn (8, 9 giờ sáng), phải đánh trống nghiêm, ngu hậu lãnh các đội giáp sĩ, dựng cờ xí lập khẩu hiệu, đi tuần ở trong quân và trên thành, ngoài dinh thì đi tuần ở đồng, đặt phô bí mật: Kẻ ngồi canh hét hỏi: “Ai?”, người đi trả lời.

“Ngu hậu tổng quản Mỗ”.

Người ngồi hét: “Làm gì?”, người đi trả lời: “Đặt phô”, như thế ba lần hét ba lần trả lời, rồi người ngồi nói: “Ngu hậu tổng quản đi”.

Phàm dinh canh đêm, mỗi phô 10 người, mỗi canh 1 người, theo khắc lậu mà đánh hiệu.

Một người chuyên nghe vặt, dù việc người nằm mê khiến người ta kinh hoảng cũng nên cảnh giác.Lâm thời hoặc thêm trống hiệu, hay dùng cung tên để ứng.

Như thế thì quân gian không thể làm gì được.

Sách Miếu chú(?) chép rằng chỗ đặt phô canh, nên đặt cả phô chó nữa, vì khi đóng quân ở trong cõi giặc, tướng sĩ đi xa mỏi mệt, nhờ chó để báo động cho.

Phàm các dinh ban đêm phải chiếu theo lệ định đèn đuốc làm hiệu.

Đều trông xem đèn lồng màtheo, các tiêu thì trông đèn trung quân, các đội thì trông đèn của tiêu mình, các binh sĩ thì trông đèn của đội mình, nếu lầm thì xử theo quân pháp, so với ban ngày nặng hơn một bậc.

Nếu gặp mưa to gió lớn thì trông bó đuốc.

Phàm ở cạnh nơi đặt dinh, hoặc chọn địa lôi, hoặc dùng mộc pháo, treo máy ở đường, khi địch đến, máy động lửa rơi, pháo tức thì nổ, chẳng những làm cho quân địch sợ mà cũng có thể báo động cho quân ta phòng bị.

Phàm ở ngoài tám mặt nơi đặt dinh, cách dinh 1, 2 dặm thì đốt lửa sáng, có quân giật máy chực đấy, để địch ở chỗ sáng mà mình thì ở chỗ tối.

Một khi trông thấy bóng giặc thì ngầm phát cung tên và đại pháo mà giết.

Nếu đối lũy với địch thì mỗi đội đốt một đống lửa.

Phàm ban đêm có giặc phạm vào đại dinh, thì quân kỳ và quân phục đặt ở xa thấy giặc giao chiến với đại dinh phải trích dùng vài chục hảo hán cho hò hét đằng sau để làm cho giặc ngờ, thừa cơ cũng có thể đánh thắng được, mà nơi đóng thì đã ở trong khoảng rừng cây núi đá, nên buộc thuốc súng và củi cỏ, hoặc chủ tướng sai người đặt máy móc để lâm thời đốt lên, như thế có thể khiến đại dinh biết là có địch, và làm cho quân địch hoảng sợ, ngỡ là quân phục của ta nhiều lắm.

_________________________________

1.

Chức quan võ chỉ huy một dinh.

Xem chú giải ở trên.

*

* *

Dinh ngầm.

Mao tử nói: việc quân có hư thực, không khó ở thực, mà khó ở hư.

Việc trong thiên hạ đều thế cả.

Nếu không có phép để làm thì muốn khiến cho nghìn muôn người không tiếng không hình, có thể được không?

Cho nên phải đón nghe lời của Thích tướng quân1 như sau:

Phàm chỗ đóng quân kín, đến lúc thì mới truyền cho biết, phải nổi ám hiệu đề truyền lệnh ước thúc, không được dùng lệnh phiếu mà dùng đi tuần để xem.

Khi mới bốc đi hay khi mới đóng thì trong quân không động xe, động cờ, không khua trống, không phóng pháo, không thổi đánh gì, tức phải dùng ám hiệu.

Muốn hạ dinh ngầm thì các dinh đem đèn lồng châm lên; dùng chén đèn có chụp để hết ở đất, không thể không chuẩn bị, khi cần đến thì đốt lên, nếu để một lúc mà làm thì không thể kịp.

Trung quân trước hết dùng hai cái lệnh tiễn truyền cho tướng các dinh được biết, rồi thông truyền cho các đội trưởng một lượt, rồi lại chuyển cho tiền tiêu.

Người đội trưởng thứ nhất cởi lấy một cái, giao cho bả tổng ti thứ nhất2 thuxét, và truyền trả một cái trở về.

Lệnh truyền hạ ám dinh thế là mọi người đều biết.

Chờ truyền một cái tên nhỏ ngắn để giao cho tiêu3 làm bí mật.

Trước đã có sai quan ở đó, hỏi ám hiệu đúng thì cho họ điều độ mà bí mật hạ dinh.

Nếu đặt dinh có cái gì sai thì cho một người bí mật đi, sẽ nói để sửa đổi, không cho nhiều người kêu to.

Làm trái thì xử theo quân pháp.

*

* *

Quân ta mỗi ngày đi đường bao nhiêu, địch có thể dự tính được cả, nhưng chỗ quân ta đặt dinh thời giặc không thể dự biết được.

Chỗ đặt dinh có núi hiểm để phục binh và chỗ kiếm củi lấy nước phải đến, giặc đều có thể biết được.

Vả quân ta tất phải theo đường quanh núi, nếu thuận tiện theo cây xanh rậm rạp, thì núi không có đường cũng có thể theo tắt vượt hiểm mà đi.

Ở những nơi dinh ta gần kề núi hiểm, thì địch có thể tốp 3 tốp 5, ngày nấp đêm dậy, nổ súng reo hò, dụ quân ta ra khỏi dinh, để chúng bắt kéo vào nơi cỏ rậm, trộm bắt người và súc vật như thế để làm kế quấy phá, khiến ta ngờ sợ không dám ở lâu.

Ta thì trong lúc chưa dời quân, hãy trước đem người hướng đạo tìm lấy nơi đặt dinh rồi sau mới dời.

Khi đến nơi ấy thì xem thế hiểm để củi nước, tìm chỗ có thể đặt phục được thì giữ lấy trước mà đặt phục để chờ giặc đến, như thế thì tay trên đã thuộc về ta.

Còn phép dời dinh và đặt quân phục ở đường thì nhẩn nha mà làm, không nên làm cho quân chán phiền mệt nhọc.

_________________________________

1.

Tức là Thích Kế Quang, người đời Minh, giỏi binh pháp, có sách Kỷ hiệu tân thư, Võ bị tân thư.

2.

Ti ở dưới dinh.3.

Tiêu ở dưới đinh và ti, ở trên cơ và đội.

*

* *

Phân biệt gian tế.

Phàm binh lính các xứ lui về đều có phiếu văn của nha môn văn võ chắp chiếu, khi họ tản về dân gian không thu lại được.

Lúc bình thời hành quân ở nơi dinh dã, nếu có bọn gian cầm được phiếu văn ấy nói là xin đầu quân để mưu điều biến trá, thì không hỏi là thực hay giả, đều xem là gian tế, bắt chuyển ngay giao về cho người có trách nhiệm trong quân để tra xét định đoạt.

Phàm quân đi đến thôn xã nào nên dừng lại, thì phải đóng quân ở ngoài, đừng vào vội, trước gọi phụ lão trong thôn và lý dịch văn thân mấy người đến, vui vẻ hỏi han vỗ về như thường, xét thấy tình dân hướng thuận, bấy giờ mới có thể đóng quân.

Sức cho lý dịch trong làng đem đinh tráng canh phòng các ngả đường, lưu các phụ lão văn thân ở lại nói chuyện, rồi sau chia binh ra bốn mặt phòng giữ; đều bày rào tre và chông tre để tự vệ.

Ngoài thì đặt quân tuần và quân canh.Đêm thì chứa củi đốt lửa để soi quân gian.Những binh phòng thủ và binh sách ứng, cũng theo như phép đóng đồn.

Binh pháp nói “Nhiều thì chia ít thì nhóm”, thế cho nên quân chia làm nhiều toán để đóng đồn, cùng nương tựa nhau, cùng cứu ứng nhau, có phòng bị thì không phải lo vậy.

Phàm đông quân ở nơi rừng núi đầm bãi, nên chia chiếm đóng các gò đống cao, cùng các chỗ khe suối đầm bãi; lại chia ra các ngả đường đi lại, nên lấy gỗ đá chặn lấp làm cửa lũy.

Cũng phái nhiều quân tuần quân canh đề phòng ở ngoài.

Quân canh thì đốt lửa cháy to, ngồi ở trong tối nhìn ra.

Binh pháp nói “Giữ được nơi cao trước thì thắng”, vì rằng núi cao lên được trước thì có thể phòng được nước độc.

Cho nên khe suối nên giữ.

Đến như gặp địch, thì hiệu lệnh cũng y như phép đóng đồn, không phiền nói nữa.

Phàm đóng đồn ở nơi đồng rộng, thì y theo các thức đồn như bát quái, lục hoa, ngũ phương, thất tinh, tùy nơi mà phân bố, liệu thế gần xa rộng hẹp mà nương tựa nhau, hoặc như thế trường xà, đầu đuôi nhìn nhau, tả hữu giúp nhau.

Duy đại tướng ở trung quân thì thiết lập đài cao hay lầu thang, ngày đêm phái người trông xa.

Đồn lũy ở ngoài nên làm khuất khúc, trong ngoài đào hào, cổng ngõ che lấp.

Quân tuần quân canh cũng y như trước, duy mật phái nhiều người cẩn tín ngầm đi dò xét, sợ bọn gian nhân sơ hở lẻn vào.

Gần đấy có rừng rậm thì phải đặt quân ngày đêm thay đổi canh phòng cẩn thận, không nên trễ tràng, như thế thì địch không dám phạm.

Phàm quân đi tới nơi nào nên dừng lại ngủ đêm, phải đến giờ thân1 thì dừng, không nên đi đến tối.

Trước hết phái lính cưỡi ngựa mật truyền cho quân các toán biết, để sức cho du binh đi trước tìm tòi, và phái người hiểu biết công việc cưỡi ngựa đi trước mà xem xét địa thế hiểm dễ và các đường đi lại khuất khúc thế nào, vẽ tạm một bản đồ dâng trình.

Toán nào nên ở chỗ nào, đều truyền báo trước.

Trung quân thì đại tướng ở giữa; y theo tiền hậu tả hữu các toán phân bố bốn bên.

Giao cho binh các toán đóng ở ngoài để hộ vệ trung quân; tùy địa thế mà ở, đều theođội ngũ, không được lấn vượt nhau.

Ở ngoài thì phái du binh đi tuần các phía để dò xét.

Các ngả lại đặt binh xích hậu để giữ các đường yếu lộ.Chất củi khô ở xa trước xích hậu cách 4, 5 trượng đốt sáng để soi phía trước, khiến quân gian không thể náu hình.

Lính canh thì ở trong chỗ tối mà rình, ở tối nhìn ra sáng rất dễ.

Lính trú thì cần phải im hơi tiếng, để nghiệm việc tuần xét.

Nhân khẩu của dân thì cử lý dịch sở tại khai nhận số người, bất thình lình xét hỏi để phòng bọn gian lẻn vào dòm nghe.

Năm canh đều phái người đi tuần phòng và cho khẩu hiệu.

Cấm binh và dân không được giao tiếp chuyện trò, sợ tiết lộ binh cơ.

__________________________________

1.

Giờ thân: Bốn năm giờ chiều.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển II: IV.Tuần Canh - V.Quân Tư - VI.Hình Thế


IV - TUẦN CANH

Phàm quân đi, ngủ đêm và đóng đồn ngủ đêm, cần phải năm canh tuần phòng canh giữ cho đến sáng rõ (địch thường nhân lúc buổi tối và khoảng trống canh tư trống canh năm mà đánh úp, nên phải giữ cẩn thận).

Phép canh thì mỗi đội nguyên có 4 thập, 1 viên suất đội, 4 đội viên trưởng, mỗi canh mỗi thập 2 tên, cộng là 8 tên.Canh một thì suất đội đốc coi, canh 2, 3, 4, 5, mỗi canh một người đội trưởng đốc coi.

Mỗi thập 2 người canh thì một người cầm giáo, một người cầm súng, một người đứng, một người ngồi, luân phiên thay đổi, một người trông ngoài để phòng kẻ gian, một người xem trong để xét ở trong.

Hoặc có người lính nằm mơ sợ hãi, thì người lính canh một mặt bưng giữ lấy miệng một mặt đánh thức người nằm mơ ấy tỉnh dậy, đừng để kêu to.

Nếu lính canh không giữ miệng và thức tỉnh người mơ để đến nói bậy làm kinh động thì người lính canh phải xử chém, người lính nằm mơ thì giảm một bực mà trị.

Trong năm canh phái nhiều quân đi tuần (theo binh pháp có 1000 người thì lấy 500 người làm sách ứng, 500 người chia đóng giữ, đóng đồn, canh giữ, đi tuần, để phòng có bạo động ban đêm và phái quân tiếp ứng).

Đại tướng ban đêm lấy còi gọi quân đi tuần (ở mặt trận, mỗi canh một lần đi tuần, lúc bình thường thì vào khoảng canh ba, canh tư, thổi còi đi tuần cho nghiêm việc phòng bị).

Khi nghe trung quân thổi còi thì người lính canh gọi người lính nằm tỉnh dậy, đều cầm gươm súng, y theochỗ của mình mà chờ đợi, sẵn sàng chiến đấu.

Nghe một hồi còi rồi thì lặng ngồi mà nghe.

Như có việc chiến đấu thì đợi được lệnh truyền, như không có việc lại nghe có 3 tiếng còi nữa là thôi, người canh đổi canh, người nằm vẫn nằm.

Phép khẩu hiệu, như ở mặt trận thì mỗi canh một lần đổi, như bình thường thì năm canh đổi một khẩu hiệu, sợ khẩu hiệu tiết lộ ra ngoài.

Như hỏi: chiến, trả lời: thắng, hỏi: yên, trả lời: không, ba lần như thế.

Ám hiệu bằng hỏa mai thì một cây chỉ về trước, hoặc về bên tả, hay 2, 3 cây không nhất định.

Việc binh thuộc về âm, nên chủ im lặng.Ban đêm, kẻ nào nói to làm kinh động, thì chém không tha.

Phàm đồn quân ra vào, nên đi quanh mà không nên đi thẳng.

Ngoài đặt bình phong che cửa (hoặc bằng đất hoặc bằng gỗ, tùy dụng) để phòng súng đạn và xung phong.

Hai bên tả hữu thì chứa nhiều gạch đá để phòng ném xuống.Hoặc có vôi bột hay tro nóng thì rất tốt, để phả vào mắt người.

Hai bên cửa lại trồng cột cao để treo bó đuốc, khi có việc đốt lên cho sáng.

Thân lũy dài thì cách 2, 3 trượng treo một cây đuốc để phòng soi đêm.

Hai bên cửa đều đặt súng lớn, bắn xa nạp đạn chiến, bắn gần nạp đạn ria, đạn hột đậu.

Lính canh giữ cửa thì phái một đội quân, 1 suất đội; 4 đội trưởng, 40 tinh binh (trừ hỏa binh ra), súng chim 20 khẩu; bên tả cửa thì đội trưởng 1 người, lính 10 người (súng chim 5 cây giáo nhọn 5 cây), bên hữu cửa cũng thế, để hộ vệ súng lớn và hai bên cửa; suất đội 1 người, đội trưởng 2 người, lính 20 người (súng chim 10 cây, giáo nhọn 10 cây) canh giữ cửa chính.

Ngoài lũy thì trồng tre nhọn 3 trượng để phòng sự xung phong của địch.

Khi có việc thì không kỳ ngày đêm, đều theo bổn phận của mình mà phòng giữ, tùy theo trường hợp nhẹ nặng, phái quân sách ứng, tiếp đến phụ chiến.

Ở trong đồn lũy thì lập đài thang để trông xa.

Quân canh giữ không được lìa chỗ, người ngoài không được lẻn vào, trái thì chém.

Thu và tan canh.

Phàm cuối giờ dậu thì thu canh, đầu giờ dần thì tan canh.

Đến giờ thu canh, tướng hiệu ở trong đồn bày đặt chiêng, thanh la, trống, ba khẩu súng.

Thổi còi một lượt để cho ba quân nghiêm sự nhìn nghe.

Quân sĩ đều nghiêm túc ở trại mình.

Trống, chiêng, la đều đánh một tiếng, mõ ứng theo 3 tiếng, đều ba lượt như thế với 3 tiếng lẻ, rồi bắn 3 tiếng súng lệnh.

Khi tan canh cũng y như thế, mà miễn đánh mõ.

Lúc thu thì tiếng hơi thưa, lúc tan thì tiếng hơi dày.

V - QUÂN TƯ (Đồ ăn uống)

Lương.

Phép trù lương, đại ước tính hằng năm thì nên lập đồn, tính hằng tháng thì nên vận chở, tính hằng ngày thì nên lưu cấp.

Đường đi nghìn dặm thì việc vận chở và lưu cấp phải cùng làm, mà khi dời đổi không thường thì việc chuyển dời và lưu cấp cũng phải cùng làm.

Nhưng khi cấp bách quá, không kịp dùng chảo nồi thì dùng lương khô.

Bằng lấy được lương của địch, cùng là không mà làm ra vẻ có, rỗng mà làm ra vẻ đầy, đường vận tải đứt mà bị vây lâu, phải tìm trăm thức để nuôi sống, thì đó chỉ là cách cứu nhất thời, chứ không thể làm thường xuyên được.

Việc ăn là việc gốc của dân, là việc tính mệnh của binh, tất phải mưu sao cho không hết, chở sao cho có luôn, hộ vệ sao cho chu đáo, tiêu dùng sao cho có chừng.

*

* *

Sách Yên thủy thần kinh:

Phép dùng khi không có nước.

Phàm gặp chỗ đóng dinh không có nước, thì tìm nơi nào có nhiều lau sậy mọc và có lỗ mối đùn, ở dưới tất có suối ngầm; hay tìm đường có dấu chân thú đi, theo đó không xa hẳn là có nước.

Phép cướp lương.

Phàm quân địch xông lại cướp lương thì mũi nhọn tất hăng, quân lương của ta ít, nên lánh mũi nhọn ấy đã, đợi khi chúng trở về, vai mang hẳn nặng, trong bụng tất sợ ta, ta sai quân phục ở đường trọng yếu, vùng dậy đánh là lấy được lương.

*

* *

Phép nấu cơm trên cật ngựa1.

_________________________________

1.

Ở đây trích 2 chương của Hổ trướng khu cơ, đây xin bỏ, xem Hổ trướng khu cơ ở sau.

*

* *

Sách Võ bị chế thắng chí1:

Đem lương.

Phàm nghìn dặm đem lương, quân có sắc đói, kiếm củi hái rau rồi sau mới nấu cơm, thì quân không được ngủ no.

Huống chi đi sâu vào đất địch, xe chở lương không thông được, phải đánh úp địch để lấy lương.

Tuy nói lấy lương ở địch, nhưng cũng lo nó làm cách vườn không nhà trống để chờ mình.

Vậy nên mỗi người phải đem vài đấu lương khô có thể dùng được vài tuần.

Nếu rút quân ở đường, cách cõi còn xa, lương chứa thiếu thốn, tức phải chọn những trâu ngựa gầy còm để cho quân ăn, ngõ hầu giữ được sức người, không bị giặc làm khốn.

Dùng gạo một thạch, đem chưng chín lên, rồi bỏ vào nước tương mà ngâm, dùng lửa sấy khô, lại chưng lại sấy, làm thế mươi lần, có thể được độ 2 đấu.

Mỗi lần lấy ăn chỉ một lẻ to, trước lấy nước nóng mà ngâm, đợi cho trương lên, rồi sau đem nấu ăn, mỗi người có thể ăn được 50 ngày.

Muối 3 đấu, đem trộn với gạo, bỏ vào trong nồi, dùng than lửa rang, làm cho săn lại không tan, mỗi người có thể ăn được 50 ngày, đem đi tháng hè thì hợp.

Vải to một thước, lấy một thăng giấm chua tẩm đem phơi khô, hễ giấm hết thì thôi, mỗi khi ăn, cắt lấy một tấc mà nấu, có thể ăn được 50 ngày.

Lấy bột tiễu mạch gói một tấm bánh chưng, tẩm vào một đấu giấm, đem phơi khô, bao giờ hết giấm thì thôi, mỗi lần ăn, lấy bằng 2 quả vông mà nấu, một người có thể ăn được 50 ngày.

Lấy 3 đấu đậu, giã ra như cao, thêm vào 5 đấu muối, nắm làm bánh, phơi khô để ăn, to bằng hột táo, để thay tương, mỗi người có thể ăn được 50 ngày.

Như lúc gay go lắm thì các đồ quân trang bằng da cũng có thể nấu ăn để cứu đói được.

Trên đường hành quân thì tước lấy vỏ cây thông, mỗi 10 đấu vỏ thông thì cho vào 5 lẻ gạo để nấu, sai nấu chín nhừ ra, nửa đấu một người có thể ăn được một ngày.

Mỗi người đem đi nửa cân vừng, gặp lúc khát thì nhấm 30 hột là khỏi khát ngay; cũng có thể đem ô mai hay tương quả; mỗi người mang theo một quả bầu hay ống tre, túi da, có thể chứa độ 2 cân, liệu nước ở đường trước mà đựng nước đem theo.

Quân ngựa thì mỗi người đem tương khô cho ngựa, sợ ngựa khát.

Đời gần đây lính biên phòng đi xa thì có các thứ bánh bột, cơm nắm, túi miến.

Bánh bột dùng bội gạo làm miến, hòa vào nước sôi làm thành bánh, dày một phân, đợi nguội cắt vòng như con cờ, phơi khô cất đi, như ở dinh trại thì dùng nước nóng ngâm mà ăn, như đi đường và trong chiến trường thì ăn khô, vị ngon mà khỏi khát, hơn các thứ bánh tạp.

Còn cơm nắm túi miến thì đều làm theo phép thường, duy phải phơi cho rất khô, để có thể đem đi và để lâu.

Tìm nước.

Trong khi hành quân, nên trước chọn suối nước.

Theo phép cũ thì quân đi trước và quân đi sau phải trông coi việc cỏ nước, giữa đường gặp nước thì nên kéo cờ đen để báo cho mọi người.

Phàm quân đến đâu thiếu nước, thì xem chungquanh đấy thấy có dấu đường ngựa bò đi, thì tìm xem dấu đến đâu, hẳn là có nước.

Phàm ngoài đồng thấy nơi nào chim muông tụ họp hay nơi có loài chim nước họp thì đấy phải có nước.

Phàm chỗ đất mọc lau sậy cỏi lác và có đống mối đùn thì ở dưới hẳn có suối ngầm.

Có thuyết nói lạc đà hay biết chỗ có nước, khi đi đường bị khát, thì nó quỳ xuống trên cát, đào dưới đấy thì có mạch nước.

Đại phàm quân đi về tháng mùa đông, mỗi người đều mang một cục nước đá, trời lạnh không tan được, cũng có thể phòng khát.

Phàm suối nước ở cách dốc núi thì lấy ống trúc lớn, chọc thủng mắt đi, để ngọn ống này đút vào gốc ống kia, rồi lấy dâu và vôi hay sáp ong gắn liền cho khỏi chảy nước, đẩy đầu ống trúc cắm vào trong nước tới 5 thước, rồi ở cuối ống đốt củi thông hay cỏ khô, khiến cho hơi ở trong ống trúc ngầm thông vào nước, thì nước từ trong chảy ngược lên.

_________________________________

1.

Võ bị chế thắng chí, quyển 5, chương "Quân ta".

VI - HÌNH THẾ

Sách Kinh thế:

Xem nơi đóng quân.

Phàm tiến quân đánh địch, trước hết phải xem hình thế đất địch: mười dặm thì có hình thế mười dặm, trăm dặm thì có hình thế trăm dặm, nghìn dặm hay mấy nghìn dặm đều có hình thế cả; tức trong khoảng mấy nghìn dặm, một dinh một trận cũng đều có hình thế.

Một hình thế tốt có họng, có lưng, có hông hữu, hông tả, có chỗ căn cơ yếu hại, mà có thể cậy được là cậy ở núi, cậy ở sông, cậy ở thành vách, cậy ở quan ải hiểm trở, cỏ cây rậm rạp, đường sá lẫn lộn.

Đánh địch thì phải biết đường nào nên tiến, chỗ nào nên đánh, đất nào nên tới, chỗ hở nào nên lợi dựng, núi nào nên đặt phục, đường lối nào nên qua, chỗ hiểm nào nên giữ, để tiện cho quân kỵ, quân bộ, tiện cho đoản binh trường binh, tiện cho trận ngang trận dọc; đã tính toán rồi thì sau mới có thể chẹt họng hay vỗ lưng, hoặc xuyên hông, hoặc nắm nơi căn cơ yếu hại.

Cậy núi thì tìm phép để vượt qua núi; cậy sông thì tìm phép để sang qua sông; cậy thành vách, quan ải, đường sá, cỏ cây, thì tìm cách bạt thành, phá vách, vượt quan qua ải; đốt cây trừ cỏ, khảo xét những đường to ngõ tắt.

Thế ở ngoài thì đừng khinh suất mà vào sẽ như cá trong nồi, khó mà thoát khỏi.

Thế ở trong thì đừng đi quanh lượn, sẽ như hổ tìm dê trong chuồng, không thể ăn được.

Cho nên thành mà không có quân phục thì khó đánh; quân mà không có hướng đạo thì khó tiến; núi sông nhờ người ngựa mà giữ bền, nếu người có thể chống cự được thì núi sông có hiểm gì đâu?

Đất có hình thế ở nước Thục không đâu bằng núi Điếu-ngư.

Xin kết với chư hầu, nếu dúng được người và chứa thóc mà giữ thì có thể giỏi hơn 10 vạn quân nhiều lắm.

Ba Thục không đủ giữ được.

*

* *

Trước có người bạn hỏi ta rằng: Địa lý thế nào?1

*

* *

Sách Tôn tử:

Hình đất có nhiều thứ, có thông, có quải, có chi, có ải, có hiểm, có viễn.

Ta có thể đi, địch có thể lại, thì gọi là thông.

Hình đất thông ta chiếm trước, lấy được chỗ cao sáng, lợi đường vận lương, đánh thì có lợi.

Có thể đến dễ mà trở về khó, thì gọi là quải (vướng).

Hình đất quải hễ địch không phòng thì ra đánh thắng được, bằng địch có phòng thì ra đánh không thắng được, khó trở về, không lợi.

Ta ra mà không lợi, nó ra cũng không lợi, thì gọi là chi (cầm).

Hình đất chi, địch tuy lấy lợi nhử ta, ta không ra, đem quân bỏ đi, để địch ra nửa chừng mà đánh thì lợi.

Hình đất ải (hẹp) mà ta đến ở trước rồi thì phải đóng chặn cửa ải mà chờ địch.

Như địch đến ở trước, nếu nó đóng chặn cửa ải thì ta không theo vào, không đóng chặn thì ta theo vào.

Hình đất hiểmmà ta ở trước thì phải đóng trên cao để chờ địch.

Như địch ở trước thì ta bỏ đi không theovào.

Hình đất viễn (xa) thì thế đều nhau, khó mà khiêu chiến, chiến thì không lợi.

Phàm sáu hình đất ấy là đạo lý về đất, người làm tướng gánh vác không thể không xét kỹ2.

________________________________

1.

Đoạn này trích ở Hổ trướng khu cơ, đây xin bỏ, xem Hổ trướng khu cơở sau.

2.

Tôn tử, thiên X.

*

* *

Trong phép dùng binh, có đất tán, có đất khinh, có đất tranh, có đất giao, có đất cù, có đất trọng, có đất dĩ, có đất vi, có đất tử.

Nước chư hầu tự đánh ở đất mình, gọi là đất tán (tan).

Lấn vào đất người mà không được sâu, gọi là đất khinh(nhẹ).

Ta được thì lợi, họ được cũng lợi, gọi là đất tranh (giành).

Ta có thể đi, họ có thể đến, đó gọi là đất giao (xen nhau).

Đất chư hầu kề liền ba nước, đến trước mà được quân của thiên hạ giúp thì gọi là đất cù (đường thông).

Vào sâu đất người, quay lưng lại nhiều thành ấp, thì gọi là đất trọng (nặng).

Rừng núi hiểm trở lầy lội, đường sá khó đi, thì gọi là đất dĩ (lún).

Lối đi đến thì hẹp, lối về thì cong, họ ít có thể đánh ta nhiều, thế gọi là đất vi (vây).

Đánh gấp thì còn, không đánh gấp thì mất, thế gọi là đất tử (chết).

Cho nên đất tán thì không nên chiến đấu; đất khinh thì không nên dừng quân; đất tranh thì không nên đánh; đất giao thì không nên bỏ dứt; đất cù thì giao kết; đất trọng thì cướp lấy; đất dĩ thì đi tới; đất vi thì lập mưu; đất tử thì đánh.

Gọi là người giỏi dùng binh đời xưa biết làm cho địch. trước sau không tiếp kịp nhau, nhiều ít không cậy nhau, sang hèn không cứu nhau, trên dưới không giúp nhau; binh tan mà không hợp, binh hợp mà không đều; hợp với lợi thì động, không hợp với lợi thì dừng1.

*

* *

Cải biến của chín đất, cái lợi của sự co duỗi, cái lẽ của tình người, không thể không xét.

Phàm đem quân vào đất người, ở chỗ sâu thì phải chuyên, ở chỗ cạn thì phải tán.

Bỏ nước vượt bờ cõi mà mang quân đi, đó là ở đất tuyệt; bốn mặt đều có đường thông, đó là đất cù; đi vào sâu là đất trọng; đi vào cạn là đất khinh; trở lưng ra nơi vững, trước mặt thì chật hẹp, đó là đất vi; ở vào nơi không thể tiến được, đó là đất tử.

Thế cho nên ở vào nơi đất tán thì ta phải một lòng; ở vào nơi đất khinh thì quân phải liên tiếp; ở vào đất tranh thì ta ruổi đi sau; ở vào đất giao thì ta giữ cẩn thận; ở vào đất cù thì ta kết cho chặt; đất trọng thì ta phải tiếp lương thực; đất dĩ thì ta phải tiến lên (cho mau); đất vi thì ta đóng chặn chỗ hở; đất tử thì ta tỏ là không cần sống.

Cho nên tình của binh, địch vây thì chống, không được thì đánh, nó qua thì theo2.

*

* *

Quân đi, thích chỗ cao mà ghét chỗ thấp, quý chỗ sáng mà rẻ chỗ tối3.

Phàm hình đất các nơi đều có khác nhau, gọi là tuyệt giản, thiên tỉnh, thiên lao, thiên la, thiên hãm, thiên khích4.

Quân đi gặp những hình đất ấy thì kíp xa ngay mà đừng có tới gần.

Ta lánh xa cho địch tới gần, ta hướng vào đấy cho địch dựa vào đấy5.

Thế cho nên hành quân nên xa sau chỗ hại đó.

_________________________________

1, 2.

Tôn tử, thiên XI.

3.

Tôn tử, thiên IX.4.

Mai Nghiêu Thần, một nhà chú giải sách Tôn tử(Tôn tử thập gia chú) chú rằng: Trước sau hiểm dốc, nước chảy ngang ở giữa là tuyệt giản (suối ngăn); bốn mặt đều có suối khe chảy về là thiên tỉnh (giếng trời); ba mặt cách tuyệt, dễ vào khó ra là thiên lao (cũi trời); cỏ cây chằng chịt, gươm mác khó trở là thiên la (lưới trời); thấp lội trơn bẩn, xe ngựa chẳng thông là thiên hãm (bẫy trời); hai núi chạm nhau, đường hang chật hẹp là thiên khích (khe trời)

5.

Xem Tôn tử, chương IX.

*

* *

Người đánh giỏi vì có đất mà mạnh, vì có thế mà thắng; như chuyển nghìn hòn đá ở trên núi nghìn nhẫn1, chỉ nhờ có địa thế.

Binh vì có đất mà mạnh; đất vì có binh mà hay.

Người giỏi dùng binh thì (địch ở) núi cao chớ nghển (lên mà đánh, địch) dựa vào gò chớ đón (mà đánh)2, quý chỗ sáng mà rẻ chỗ tối, nuôi lấy sống mà ở chỗ chắc3, thế thì không có hại gì hết.

*

* *

Xưa Cao tổ giữ đất Quan-trung, Quang-vũ giữ đất Hà-nội, đều là nơi rễ sâu gốc bền để chế thiên hạ, tiến có thể thắng được địch, lui có thể đủ giữ bền, cho nên dù có khi khốn bại mà sau cùng thành được nghiệp lớn.

Tướng quân vốn lấy Duyện-châu làm đầu..., và Hà Tế4 là đất trọng yếu của thiên hạ..., đó cũng là Quan-trung, Hà-nội của tướng quân, không thể không dẹp trước...

5.

Nay địa thế không có lợi, chưa thấy có nơi nào dùng được.

Nên chọn gò cao để giữ, khiến địch không thắng được.

Địch giữ chỗ hiểm lấy làm bền, trước mặt là núi cao, sau lưng là thành dài, quân ta ở trên núi đánh xuống hẳn phải vỡ.

*

* *

Sách Hồng vũ đại định:

Phép địa lợi ở trên núi cao đánh xuống thấp: Địa thế ở trên núi cao lợi, xông đánh xuống thấp thì thắng; lợi dùng cán thương, không lợi dùng lá chắn.

Ta tới trận địa, trước phải nhằm nơi gò cao mà giữ, khiến địch ở dưới thấp; hay ở nơi gò cao chằm lấy, thì ta nên đến trước gò cao khiến địch ở dưới thấp.

Lời quân sấm nói:

Đất nổi gò cao, đến chiếm ào ào.

Núi không cỏ cây, nước không sông dài,

Lợi cao đánh thấp, không lợi ẩn nấp.

Từ cao đánh hăng, giặc không dám đương.

Đó là nói lợi cao đánh thấp.

Nếu giặc đã chiếm giữ làm kế lâu dài thì ta không đánh.

_________________________________

1.

Nhẫn: đơn vị để đo chiều cao đời xưa.

2.

Xem Tôn tử, chương VII.

3.

Xem Tôn tử, chương IX.

4.

Duyện châu là miền tây-nam tỉnh Hà-bắc và miền đông-bắc tỉnh Sơn-đông.

Hà Tế là sông Hoàng-hà về tỉnh Hà-bắc và sông Tế-giang về tỉnh Sơn-đông.5.

Trích Tam quốc chí, Ngụy thư, "Tuân Húc truyện".

Đây là Tuân Húc nói với Tào Tháo.

*

* *

Sách Võ kinh:

Thái tôn nói: Thái công nói lấy bộ binh và quân xa kỵ để đánh tất phải dựa vào gò mả hiểm trở, mà Tôn tử lại nói rằng chỗ đất thiên khích và nơi gò mả thành cũ, quân không nên ở là thế nào?

Tĩnh nói: Việc dùng binh là ở một lòng; một lòng là cấm giới rõ ràng, bỏ sự ngờ vực.

Nếu chủ tướng có chỗ nghi kỵ thì quân tình lay động; quân tình lay động, thì địch thừa hấn mà đến.Đóng dinh giữ đất chỉ tiện cho quân sự mà thôi.Đến như những nơi giản, tỉnh, hãm, khích1 và các chỗ lao, la2 thì nhân sự không tiện, cho nên nhà binh phải bỏ mà lánh đi, để phòng địch thừa thế đánh ta.

Gò mả thành cũ không phải là nơi hiểm tuyệt, ta được nơi đó mà lợi thì sao lại bỏ mà đi?

Lời Thái công nói là điều chí quan yếu cho nhà binh vậy3.

*

* *

Sánh Kinh thế:

Người giỏi dùng binh cần phải lượng thế.

Ở vào một góc, mà thiên hạ lung lay, không ai ở yên được, là vì nắm được chỗ tay trên vậy.

Lấy ít chọi nhiều mà bền sắc phải tránh phải vỡ, không ai dám tranh, là vì chẹt được nơi trọng yếu vậy.

Phá một dinh mà mọi dinh đều tan, được một xứ mà các xứ đều theo, là vì triệt được chỗ họ nhờ vậy.

Trận chẳng đợi phải giao hợp, ngựa chưa phải dùng roi cương, địch trông bóng cờ mà đã vội vàng thua chạy, là vì làm nhụt khí nó vậy.

Biết xem thế đặt, biết lập thế quân, khéo dùng kỹ thuật, đánh không đâu là không lợi.

Chế người ta ở lúc nguy nan, chẹt người ta ở chỗ sâu hẳm, nhử người ta vào chỗ phục binh, trương máy đặt cạm, tất tính là địch không thể thoát thì mới phát, vì phát sớm thì địch trốn, mà phát chậm thì lỗi thời.

Cho nên người giỏi dùng binh đưa người ta vào chỗ không biết.

Cái đạo hành binh, quý nhất là biết địa lợi, địa lợi không rõ thì rất khó ra quân kỳ đặt quân phục.

Đến chỗ nào thì tướng và quân coi dinh trước hết phải đem hình thế hiểm dễ của sông núi vẽ thành đồ bản, non non, nước nước, không thể lẫn lộn, mà không cần tô điểm trang hoàng cho đẹp mắt, nhưng phải chủ thích rõ ràng quân ta nên do đường nào mà tiến, nơi nào nên giữ, nơi nào nên đặt phục, nơi có hay không dấu chia đường, nơi nào có thể hợp quân, nơi nào có thể quyết chiến, quân giặc tất do nơi nào mà đến, nơi nào nó có thể mai phục, nơi nào nó có thể chặn sau lưng ta, bằng đối địch thì quân ta nên đóng nơi nào để có địa lợi, nơi nào núi hiểm hang sâu, có rừng rú hay không, trong ấy rộng hay hẹp, nơi nào có thể phục binh được bao nhiêu tên, nhất thiết ghi rõ, dâng lên cho đại tướng, lại thêm ý kiến của mình châm chước kỹ càng.

______________________________

1, 2.

Thiên giản, thiên tỉnh, thiên hãm, thiên khích, thiên lao, thiên la: Xem chú giải ở trên.

3.

Võ kinh trực giải, phần "Lý Vệ công vấn đối".
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển II: VII.Phòng Bị - VIII. - IX. - X.


VII – PHÒNG BỊ1

Phàm việc chưa nghĩ đến được thì lòng hẳn sợ, lòng sợ thì thảng thốt không tính toán được, đó là điềm thua.

Cho nên phải tính địch đánh úp thì lấy gì mà ứng, địch xông lại thì lấy gì mà chống, địch cắt đôi thì phân làm sao, bốn mặt địch lại thì đánh làm sao.

Phàm những việc khó khăn gian hiểm thì dự trù mà phân bố, cần có phép nhất định và tính cả phép không nhất định, rồi sau lòng mới yên khí mới định, xảy gặp thì không sợ, trong bước lụy mà không nguy.

Người xưa làm việc quân, qua sự hiểm vượt sự khó, làm yên không lo, nếu không có mưu trí kỳ dị, lo nghĩ trong chỗ không ngờ, đặt phép trong chỗ không phòng, địch lớn không sợ, địch nhỏ không khinh, kế hoạch chu đáo không dám cậy mà phải làm chu đáo hơn thì làm thế nào được!

Cần.

Người dùng binh không lúc nào là không nguy, cho nên không lúc nào là không cẩn thận.Vào trong quân thì như người có trinh sát; ra ngoài cõi thì nghiêm sợ như lúc giao trận; khi được lấy thì nghiệm cái gì không hại; gặp sự hiểm thì phải tìm kẻ gian; địch đến thì lo có mưu; ta ra quân thì có kế trước; cẩn thận mà làm việc quân, đó là đạo hay nhất.

Biết.

Một là thông; hai là điệp; ba là trinh; bốn là hướng.

Thông là thông biết mưu kế của địch.Điệp là biết sự thực hư của địch.

Trinh là biết sự động tĩnh ẩn hiện của địch.

Hướng là biết được núi sông rậm rạp, đường sá quanh co, thế đất hiểm dễ.

Biết được mưu kế thì biết được cách phá; biết được hư thực thì biết được cách đánh; biết được động tĩnh ẩn hiện thì biết thừa cơ; biết được sông núi đường sá thì biết được lối đi lại.

Trời.

Gió giật ào ào, cần phòng ngọn gió; các sao đều động, hẳn có mưa sa; mây mù bốn phía, sợ có quân nấp đánh úp; gió dữ mưa to, sấm sét dồn dập, thì gấp chuẩn bị nỏ khỏe.

Người khéo nhân thì không việc gì là không thừa cơ; người giỏi phòng thì không dịp nào là không ứng dụng.Trời chưa từng không do ở người, duy người là có thể nhân mà lấy dùng vậy.

Cần gì phải cầu nghiệm ở đâu?

Nhân.

Phàm giặc đánh ta là có bảy điều nhân: ngày đêm mỏi mệt thì nhân ta nhọc; cầm cự lâu ngày thì nhân ta lười; gió mây mù tối thì nhân ta lơ; tên hết súng thưa thì nhân ta thiếu; ụ đơn bờ yên thì nhân ta sơ hở; lửa cháy rối ren thì nhân ta nguy cấp; thanh đông kích tây để nhân ta không ngờ.

Đó là bảy điều nhân.

Thành còn hay mất, không thể không phòng bị vậy.

*

* *

Lương Huệ vương2 hỏi Uất Liệu tử3 rằng: Hoàng đế dùng cả hình và đức cho nên trăm đánh trăm thắng, có thế không?

Uất Liệu tử thưa: Hình để đánh kẻ có tội, đức để giữ nước, không phải là chỉ thời giờ âm dương thuận trái của trời đâu.

Hoàng đế làm đó chỉ là nhân sự mà thôi.

Sao thế?

Ví nay có một cái thành, đông tây đánh cũng không lấy lại được.

Vậy cả bốn phía cũng không có thời nào thuận để nhân đó mà đánh được ư?

Nhưng không đánh lấy được là vì thành cao hào sâu, binh khí đầy đủ, tiền thóc chứa nhiều, tướng sĩ cùng một lòng vậy.

Nếu dưới thành hào nông giữ yếu thì đánh lấy được ngay.Do đó mà xem thì thời giờ của Thiên quan không bằng việc người vậy.

Xét thiên “Thiên quan” nói: Trở lưng ra nước mà bày trận là tuyệt địa; quay mặt vào chằm là bệnh quân.

Võ vương đánh Trụ, trở lưng ra sông Tế-thủy, quay mặt vào chằm núi mà bày trận, lấy 22.500 người đánh hàng ức vạn quân của Trụ mà diệt được nhà Thương, phải đâu Trụ đánh trận không được thời giờ của Thiên quan?

Tướng nước Sở là Công tử Tâm đánh nhau với người Tề.

Bấy giờ có sao chổi mọc chuôi ở về địa phận nước Tề.

Chuôi ở nơi nào thì nơi ấy thắng, điều ấy tỏ là không nên đánh.

Công tử Tâm nói: Sao chổi biết gì, cứ đánh nhau với sao chổi mà đảo ngược nó lại thì thắng4.

Rồi đánh nước Tề, cả thắng.

Hoàng đế nói: Trước phải thờ thần thờ quỷ, trước phải tìm xét và dùng trí khôn, gọi là thiên quân chỉ là nhân sự mà thôi.

Việc binh có khi thắng ở triều đình, có khi thắng ở đồng nội, có khi thắng ở nơi chợ búa: Đấu thì được, nằm thì may mà không thua, đó là không ngờ địch sợ hãi mà chết vậy.

Chết mà thắng, không phải là toàn thắng; không toàn thắng thì không có quyền đánh.

Cho nên minh chúa trong khi đánh giặc, họp trống họp còi, dè dùng đồ binh khi, không cầu mà thắng vậy.

Việc binh có khi bỏ phòng bị, triệt uy lực mà thắng được, vì cớ có phương pháp, có đồ dùng đã định sớm rồi.

Đối phó với địch đã chu tất, thống suất cũng chắc chắn, năm người làm ngũ, mười người làm thập, trăm người làm tốt, nghìn người làm suất, vạn người làm tướng, đã chu tất, đến nơi đến chốn, hễ người nào sớm chết thì sớm thay, chiều chết thì chiều thay, cân nhắc được địch, hiểu biết được tướng, mà sau mới cử binh.

*

* *

Cho nên phàm khi họp quân, đường xa nghìn dặm thì định một tuần, trăm dặm thì định một ngày phải họp ở đất địch.

Quân đến họp trước vào sâu đất địch, nếu nhầm đứt mất đường thì nên đóng ở thành to ấp lớn, khiến quân lên thành mà bức nguy mấy lớp, thế gọi là bức địa hình để đánh yếu tái5.

Giữ một thành ấp mà mấy đường bị chặn, rồi theo đó mà đánh ngay.

Tướng suý địch không tin nhau, quân quan địch không hòa nhau, hình phạt có thể không theo, ta đánh là thua ngay.

Quân cứu của địch chưa đến mà một thành đã đầu hàng.

Bến cầu chưa mở, yếu tái chưa sửa, chỗ hiểm chưa đặt, cừ đập chưa bày, như thế thì tuy có thành cũng không giữ được.

Đồn xa chưa vào, quân thú chưa về, như thế thì tuy có người cũng như không người vậy.Lục súc chưa họp, ngũ cốc chưa thu, của cải không góp, như thế thì tuy có lương cũng như không lương vậy.

Phàm thành ấp rỗng không mà của hết, thì ta thừa lúc mà đánh.

Binh pháp nói rằng “một mình ra một mình vào, quân địch không thể tiếp mũi nhọn mà phải hàng”, ấy chính là thế.

*

* *

Trong khi vội vã thì đại tướng dùng thuật gì mới có thể liền được hàng trận và nghiêm được hiệu lệnh, khiến quân không tự rối loạn?

Thưa rằng: Người giỏi dùng binh hễ có động thì phòng bị, chọn 24 người quân kỵ nhanh nhẹn mạnh khỏe chia ra tám phương, mỗi phương 3 người, cách nhau 1 dặm, ngày dùng cờ, đêm dùng trống làm hiệu; kỵ thứ nhất thấy giặc, ban ngày thì dựng cờ, kỵ thứ hai cũng thế, kỵ thứ ba thì ruổi chạy để báo cáo; ban đêm thì dùng trống.

Như ban ngày sương mù che phủ, gió sấm dữ dội, cờ phất không thấy, trống đánh không nghe, thì phải chạy gấp để báo.

Đấy gọi là phép bát quái thám kỵ, ở lúc vội vã có thể phòng bị được.

Ví trời đất có biến thì đem khinh binh mà xông đánh.

Đại trận không thể động càn được, xem địch động tĩnh thế nào rồi sau mới đánh.

Cho nên phải thường chỉnh túc.

Đó đều là tùy theo sự biến chuyển của trời.

Ta có thể lấy đó mà chế người thì nghĩ ngay rằng người có thể lấy đó mà chế ta để đặt ngay một kế mà phòng bị.

Ta có thể lấy đó mà phòng trí khôn của người thì người cũng có thể lấy đó mà phòng bị sự khống chế của ta, ta lại nghĩ ngay một kế để phá sự phòng bị của người.

Ta phá sự phòng bị của người thì người phá sự phòng bị của ta, mà ta lại đặt ra một kế để phá cái phá của người.

Người đã bị phá, lại có thể đặt một cái phá để phá cái phá; cái phá của cái phá đã đặt, thì lại có thể làm cho bền thêm cái phá của ta, để lấp cái phá của người mà thi hành cái phá của ta, cuối cùng rồi không bị người phá.

Hết phép này ra phép khác, sự việc nối nhau mà tiến, thực là sâu lắm, sâu lắm.

_________________________________

1.

Chương này, tham khảo Võ kinh trực giải phần “Uất Liệu tử”

2.

Lương Huệ vương: Người thời Chiến quốc, họ Tất tên là Oánh, con Ngụy Vũ hầu, tự xưng là Lương Huệ vương, đóng đô ở Đại-lương.

3.

Uất Liệu tử: Họ Uất tên Liệu, người thời Lương Huệ vương, làm sáchUất Liệu tử 25 thiên.

Sách này được xem là một sách trong bảy bộ củaVõ kinh, hiện nay thất truyền.

4.

Ý nói đảo ngược sao chổi lại cho chuôi chỉ về Sở, tức là cứ quyết đánh là thắng.5.

Thành lũy trọng yếu.

VIII – ĐIỀM VỀ VIỆC BINH1

Thái công nói: Điềm được thua tinh vi mà có thể thấy trước được.

Như ba quân vui vẻ, sĩ tốt sợ phép, biết kính mệnh lệnh của tướng, đều mừng được đánh giặc, bảo nhau cùng mạnh bạo lên, khen nhau về oai võ, đó là cái điềm mạnh.

Bằng ba quân sợ sệt, hàng ngũ không đều, cùng sợ là giặc mạnh, bảo nhau là đánh không lợi, lấy tai mắt ra hiệu cho nhau, nói sự quái gở không thôi, mọi miệng lừa nhau, không sợ pháp lệnh, không trọng tướng mệnh, đó là cái điềm yếu.

Ba quân tề chỉnh, trận thế vững bền, ngòi sâu thành cao, lại có lợi về mưa to gió lớn, ngọn cờ chỉ trước, ba quân không có việc gì, tiếng chiêng trống trong mà cao, uyển chuyển vang lên, đó là điềm thắng to.

Nếu như hàng trận không vững, cờ bay rối ren, mưa gió trái tiết, sĩ tốt sợ hãi, quân một ít hơi, ngựa trận sợ chạy, xe binh gãy trục, tiếng chiêng trống thấp mà đục, đó là điềm thua to vậy.

IX – PHÉP DÙNG GIÁN ĐIỆP

Ta nói đạo dùng gián có ba điều, ba điều ấy là gì?

Ta thuộc quen người ấy, ta biết được tâm tình, lại biết được tài đủ làm việc được, rồi ta mới dùng.

Đó là điều thứ nhất.

Ta có ơn lớn với người, người mong vì ta mà chết thì ta dùng, đó là điều thứ hai.

Ta biết được tài của người mà ta không biết được lòng của người, nhưng ta có thể nắm được tính mệnh của cha mẹ vợ con người, thế thì người ấy có thể dùng được, đó là điều thứ ba.

Cho nên nói đạo dùng người có ba điều, không phải là ba điều ấy thì không thể dùng được.

Nhưng thực ba điều ấy rút lại chỉ có một điều mà thôi.

Một điều ấy là gì?

Là phải thử.

Thử có hai cách.

Ta biết được tài của người, nhưng không biết rõ lòng của người, ta phải thử.

Để họ vào nơi tiền của và sắc đẹp xem có động lòng không; để vào nơi dao cưa, xem có đổi nét mặt không.

Ta biết được lòng người, nhưng không biết rõ tài của người, ta phải thử.

Nhân việc không chuẩn bị để xem họ ứng biến thế nào; khiến họ ngặt không thể ra tay vào đâu để xem họ xử trí thế nào.

Cho nên nói có hai cách thử, không dùng hai cách ấy thì không thử được.

Tuy nhiên, phép thử cũng chỉ có một mà thôi.

Một là thế nào?

Giấu kín mà thôi vậy.

Ta giấu kín mà thử, khiến cho người kia không biết là ta sắp muốn dùng.

Như thế rồi sau mới dùng làm gián điệp được.

Tôn tử nói: Gián điệp có năm loại: Hương gián, nội gián, phản gián, tử gián, sinh gián.

Năm loại gián đều dùng, không ai biết được đường lối, thế gọi là kỷ cương của thần, là vật báu của vua vậy.

Hương gián là nhân người quê của địch mà dùng.

Nội gián là nhân người làm quan của địch mà dùng.

Phản gián là nhân gián điệp của địch mà dùng.

Tử gián là do sự nói dối ở ngoài khiến cho gián điệp của ta biết mà truyền cho gián điệp của địch.

Sinh gián là do gián điệp trở về báo cho biết.

Cho nên trong việc ba quân, thân không ai thân bằng gián điệp, thưởng không gì thưởng hậu bằng gián điệp, việc không gì kín bằng việc gián điệp.

Không phải thánh trí thì không thể dùng được gián điệp; không phải nhân nghĩa thì không sai được gián điệp; không phải tinh vi thì không thể nắm được thực của gián điệp.

Tinh vi thay!

Tinh vi thay!

Không nơi nào là không dùng gián được.

Việc của gián chưa phát mà đã nghe trước thì người nghe với người bảo đều phải chết.

Phàm muốn cất quân, muốn đánh thành, muốn giết được thì phải biết trước tên họ của những người yết giả, môn giả, xá nhân ở tả hữu của người chủ tướng, gián của ta phát tìm mà biết.

Phải tìm gián của địch lại thám ta để nhân mà cho họ lợi, dẫn họ về nhà.Cho nên có thể sai khiến phản gián được, nhân đó mà biết được.

Cho nên hương gián, nội gián có thể sai khiến được, nhân đó mà biết được.Cho nên dùng tử gián mà việc dối trá có thể khiến bảo cho địch, nhân đó mà biết được.

Cho nên sinh gián có thể khiến đúng kỳ được.

Công việc của năm loại gián, chủ tướng tất phải biết.Biết được phải do phản gián, cho nên người phản gián không thể không hậu đãi.

Ngày xưa nhà Ân dấy lên thì Y Chí2 ở nhà Hạ; nhà Chu dấy lên thì Lã Nha3 ở nhà Thương.

Duy bậc minh quân hiền tướng mới biết dùng bậc thượng trí làm gián, cho nên tất thành công lớn.

Đó là điều quan yếu của nhà binh, ba quân nhờ đó mà hoạt động vậy4.

Điệp là tai của quân, có khi vì điệp mà thắng, có khi vì điệp mà thua.

Địch có tướng ngu, có thể chuyên dùng điệp; địch có tướng trí, không nên chuyên dùng điệp.

Ta có điệp khéo thì địch bèn cố nêu ra hình tích, có bày tỏ mệnh lệnh, cố liệt lậu bí ẩn để nhử ta.

Ta nghe rằng nếu khéo dùng điệp thì dùng điệp của địch, điều ấy không thể không xét vậy.

Gián là làm khiếp sợ lòng dạ địch, giết người yêu của địch mà làm rối mưu kế của địch.

Việc của gián thì có sinh có tử, có thư có văn, có nói có vè, dùng hát, dùng của, dùng vật, dùng tước, dùng người địch, dùng người làng, dùng bạn, dùng gái, dùng ơn, dùng uy.

Nhân người của địch tìm xem sơ hở của ta, ta đem của đút cho, khiến nó đảo ngược hết công việc.

Sách Chu lễ nói: Đi tuần trong nước đề truyền tin, đó cũng là chước phản gián vậy.

Cách dùng gián, thánh nhân vẫn cũng có làm.

Phàm dùng binh muốn quyết thắng, không thể không dùng gián.

Dùng gián không thể không giữ bí mật.Nếu không phải là bậc đại trí, ai có thể như thế được.

Cho nên công việc của gián làm, xem việc mà cử ra thì thấy có tám thuật.

1.

Hai nước đương chống nhau, giả làm mỏi mệt, sợ tiết lậu ra lời nói, đem của đút cho kẻ được yêu chuộng, nhân sở cầu mà trúng vào, sau sai sứ giả đến đem ngọc lụa và xe ngựa để cầu hòa, lặng xem nó kiêu mạn, rồi ngầm kén tinh binh, chia đường sớm hôm tiến gấp để nhân nó không phòng bị mà đánh.

Đó là lấy sứ giả làm gián.

2.

Bắt được người địch, đem điều nó muốn thám, tiết lộ ra, khiến cho nó được nghe, ngầm sai thả ra cho nó trốn đi, khiến địch cho đó là điều thám được mà tin, nhưng ta thì không thế.

Đó là lấy người địch làm gián.

3.

Địch đến làm gián, ta giả làm không biết, đảo ngược công việc mà cho thấy.

Địch biết được việc giả mà ta thì xuất kỳ bất ý mà cử sự.

Đó là cách nói ngược lại mà làm gián.

4.

Địch đưa phản gián đến, ta đem nhiều của đút cho khiến nó đảo ngược lời nói để phản lại địch.

Đó là dùng ngược người của địch làm gián.

5.

Đánh nhau với địch, giả làm thua nhỏ, tức dẫn nó vào vách sâu, tỏ ra vẻ sợ, bèn khiến nói những lời quê mùa ngớ ngẩn, mà trương hoàng thế mạnh của quân ta, khiến cho địch biết đó là ta dùng gián, nó hẳn đem lòng sợ mà lấy lời nói cưỡng để gián lại.

Khi nó đã đi, tức thì dùng kỳ binh theo đánh úp ngay.

Đó là dùng gián rõ làm gián.

6.

Địch có người yêu ở trong, sai kẻ tâm phúc đem đồ rất quý đến nhà biếu, khiến ngầm mua được địch tình.

Đó là dùng của báu làm gián.

7.

Địch có kẻ mưu thần thì ngầm đem vàng bạc đút cho, khiến cho kẻ thân tín của địch gây chuyện gièm pha ở trong, ngoài thì đem việc để ứng với sự gièm pha ấy, khiến cho vua tôi ngờ nhau mà cùng hại nhau.

Đó là lấy người nói gièm làm gián.

8.

Tìm những người tin cậy của địch, khiến cho thỏa lòng sở dục, ngầm kiếm tìm động tĩnh và ngôn ngữ của họ.

Đó là dùng người làng để làm gián điệp.

Thế cho nên biết dùng gián là điều mầu nhiệm của nhà binh.

Nhưng không phải là bậc hiền trí thì không thể dùng được.

Cho nên phép dùng gián là cốt ở sự nhỏ kín ngấm ngầm.

Người chúa giỏi cần phải chú ý.

*

* *

Phàm dùng binh trước hết phải dùng gián để thăm dò mà tùy cơ ứng biến; hoặc thăm dò biết bên địch có việc tranh trưởng, có sự không hòa, có kẻ bất đắc dĩ mà theo, có khi cầm vàng mà sai làm, có khi bị bắt sống mà thả ra, có khi đến thám mà giả làm không biết, có khi nói phao mà truyền thuyết, có khi tha tội mà bảo lập công, có khi bỏ sót giấy tờ giả làm thất lạc, có khi sai người đem giấy tờ để cho địch bắt được.

Sự vận dụng tài tình cốt ở một lòng, có thể lấy ý mà liệu, khó mà nói trước, vận dụng cho linh hoạt, cơ mưu không thể lường.

_______________________________

1.

Thiên này phần nhiều là những điều mê tín, chúng tôi không dịch, chỉ dịch đoạn đầu có ý nghĩa hợp lý ít nhiều.

2.

Y Chí: Tức Y Doãn, có tên là Chí, đi cày ở đất Sần, vua Thang nhà Thương đón về giúp vua Thang đánh Hạ Kiệt.

3.

Lã Nha: Tức là Lã Thương, tên là Tử Nha, cũng gọi là Lã Vọng, nguyên là họ Khương, cũng gọi là Khương Tử Nha hay Khương Nha.

4.

Tôn tử, thiên XIII.

X – DÙNG CÁCH LỪA DỐI

Lừa.

Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa.

Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết.

Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa.

Vụng.

Khi gặp giặc mạnh, ta đóng chặt cửa thành hay lui quân để giữ, thì nên chịu là kèm vụng vậy.

Địch có thắng, nếu không tổn hại cho chiến cuộc, thì dù có nói khinh nhờn ta cũng phải nhịn, có đánh ta cũng phải lánh, có kế gì đến ta cũng phải nhận.

Phàm những điều ấy là vì khi nên kém vụng thì làm kém vụng vây.

Thậm chí, địch không có mưu gì lạ mà ta lo thực thà, địch vốn nằm yên mà ta chờ nó hoạt động, phàm những điều ấy không hẳn là vụng, mà vụng cũng không mất gì.

Thà khiến ta có phòng khống mà đừng khiến nó có thực.

Từng xem lại chuyện xưa, có khi lấy một cái vụng mà làm thua được danh tướng, nên công hoàn toàn, là vì khéo dùng được phép vụng vậy.

Thuận.

Đại phàm chống lại thì càng làm cho thêm bền ra, chi bằng cứ thuận chiều để đưa đến chỗ hỏng.

Khi địch muốn tiến, thì ta mềm mại tỏ là yếu để cho nó tiến.

Khi địch muốn lui thì ta tản ra mở đường sống cho nó lui.

Khi địch cậy mạnh thì ta đóng quân xa để bền giữ mà xem vẻ kiêu của nó.

Khi địch nấp uy thì ta giả vờ cung kính để chờ xem thực tình, nhân mà đánh úp, kế mà bắt lấy, nó kiêu thì ta thừa, theo đó mà thu lấy thắng lợi.

Kế.

Kế có khi có thể chế được người ngu mà không chế được người trí, có khi chế được người trí mà không chế được người ngu.

Một là dùng kế để làm kế, một là dùng không phải kế mà làm kế.

Chỉ một cách dùng kế mà trí ngu đều chế được cả.

Giả như người trí kia làm ngu thì dùng kế ngu mà đối phó, người ngu kia làm trí thì dùng kế trí mà gieo vào.

Nên vượt qua cái tầm sở kiến của địch và chống lại cái nghi của địch thì không kế nào là không thành công.

Cho nên kế phải nhân người mà đặt.

Trắc.

Hai tướng mới gặp nhau, hẳn có thử nhau.Hai tướng cùng giữ nhau, hẳn có sự tính lường.Lường về địch để lánh thực mà đánh vào sơ hở; lường về chỗ địch lường ta mà bày tỏ sự kém để đi đến chỗ hơn; lường tính ở chỗ hư để mà dối địch.

Thế là một sự lường tính mà lợi được cả hai mặt.

Lo ở chỗ không lo, đó là thuật hay, là đạo thắng vậy.

Xảo.

Việc đời nếu không lấy đạo thường mà làm nên thì phải lấy xảo, huống chi việc quân.

Nắm được một cái sở đoản của địch thì phá được trăm cái sở trường của nó.

Nhân một cái sở trường của ta thì cứu được trăm cái sở đoản của ta.

Thế gọi là khéo nhân và khéo chế.

Ta giả yếu khiến cho giặc lơ là; ta giao nộp khiến cho giặc ngạo; ta quen ở yên khiến cho giặc yên; ta hay thử cho giặc coi thường; ta quấy luôn cho giặc hao tổn; ta khua động cho giặc đề phòng; ta trêu mắng cho giặc tức giận.

Đó gọi là cái xảo khinh kẻ ngu.

Bỏ chỗ thắng đến chỗ bại; bỏ chỗ mềm đến chỗ rắn, lấy cùn làm sắc; lấy lui làm tiến.

Đó gọi là cái xảo lấy cong mà vào.

Mạnh mà tỏ là yếu, sống mà cho là chết, được mà không cho là được, thua mà không cho là thua.

Đó gọi là cái xảo làm trái.

Dùng dương mà người ta không lường được là dương, thì dương mà hóa âm vậy.

Dùng âm mà người ta không lường được là âm, thì âm mà hóa dương vây.

Cho nên hoặc giả dương để làm âm, hoặc vận âm để chế dương.

Tóm lại không ngoài cách dùng kỳ nắm cơ, đánh úp và đặt phục mà thôi.

Người giỏi dùng binh, không đủ thì tỏ là có thừa, có thừa thì tỏ là không đủ.

Có thừa mà tỏ là không đủ, địch không biết thế nào mà lường cho đúng được.

Như Tôn tử1 nước Tề cứu Hàn đánh Ngụy.

Bàng Quyên2 vốn khinh nước Tề là nhát.Tôn tử nhân thế mà làm theo, bèn khiến người tại đất Nguỵ làm 10 vạn cái bếp, sáng ngày mai giảm làm 5 vạn bếp, rồi lại giảm làm 2 vạn bếp.

Bàng Quyên ngờ là quân sĩ Tề trốn mất, bên bỏ quân bộ đi, cùng với quân khinh nhuệ gấp đường đuổi theo, đến Mã-lăng. gặp phục binh vùng dậy, muôn nỏ bắn ra, quân Ngụy rối loạn.

Xin hỏi khi bắn hết tên thì làm thế nào?

Bó rơm khô làm người, đêm dựng trong thành, quân địch tranh nhau mà bắn, thì tên bay vào đầy hố.

Hay ở trong thành, giương lọng đi lại, địch ngờ là chủ tướng bèn bắn tên như lông dím bay vào, ta nhờ được tên của địch.

Cách xảo ấy còn gì bằng.

Bỏ vật để cho loạn, bỏ người để cho động, bỏ lũy trại đất đai để cho kiêu, có cái nên bỏ thì bỏ, nếu tiếc thì khó thành.

Không sợ không thành công.

________________________________

1.

Tôn tử đây là Tôn Tẫn, cháu xa đời của Tôn tử trước là Tôn Võ.

2.

Bàng Quyên: Tướng nước Ngụy (thời Chiến quốc), bị Tôn Tẫn đánh cho bị thua, tự tử ở đất Mã-lăng.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển IV: I.Đánh Thành


I - ĐÁNH THÀNH

Đuổi giặc vào thành lũy, bức tới gần mà vây, qua mấy tuần mà không thay đổi, đó không phải là thuật thắng giặc.

Như ở trong vây mà giặc có quân ngựa mạnh giỏi, binh khí bền sắc, lương cỏ đầy đủ, ngoài có quân viện có thể chờ, thì nên đắp cồn đất, xẻ ngòi, cách vây trăm dặm(?) mở đường gián đạo, số người đắp đào ấy không nên nhiều, tùy đất rộng hẹp mà dùng, chứa quân du binh, chia từng bộ phận mà đi lại, cất nhắc, gặp cần kíp thì cứu ứng.

Trong vây mà quân giặc cùng thiếu lo liều chết để giữ nên lại sinh kế khác thì ta phục tinh binh ở đường của giặc để chờ, ba mặt vòng vây thì quân sĩ nghiêm cẩn chuẩn bị chống đánh, mở vây một mặt để chừa cho giặc một đường sống.

Giặc không chạy thì không đánh; giặc chạy thì cho quân phục nổi đánh khiến lòng nó hoang mang.

Như thế có thể thắng được.

Thế cho nên cái phép vây giặc, không nên lấy sự giữ chắc làm hay.

Binh pháp nói: Vây thành nên bỏ hở (một chỗ)1, là để cho giặc đem nhau trốn ra mà đánh.

Trong thuật dùng binh, đánh thành là kém nhất, bất đắc dĩ mới phải làm2.

Nay đem binh và công cụ đều tiến, địch phải sợ mà bền giữ.

Đánh quân viện đến bất thần, khiến địch lương hết quân mỏi, ngoài không cướp bóc vào đâu, tiến thoái không đường, cũng không bằng lấy quân khinh kỵ thẳng đến dưới thành, nó thấy binh bản bộ chưa đến, ý hẳn thư lòng, ta bày quân gầy yếu để dụ nó ra mà đánh, gặp quân phục thì là bị bắt.

*

* *

Thành ở kề sông lớn, lâu dài bền chắc, chớ có khinh thường.

Vả địch dựa vào mặt thành mà đấu, ta ngửa lên mà đánh thì có khác gì đem quân sĩ mà gieo vào đống lửa?

Không bằng hãy bao vây mà giữ.

Ta cứ nghỉ quân chăn ngựa, ngồi ăn và vận chuyển, đợi cho trong thành hết lương, rồi sau dựng thang mây mà bức, ném hịch vào để kêu gọi.

Tướng sĩ nó sẽ thoát thân mà trốn chết, cha con còn chẳng giữ được nhau, huống chi là quân ô hợp.

_______________________________________

1.

Tôn tử, thiên VII.

2.

Tôn tử, thiên III.

*

* *

Khí giới đánh thành, phá hại là quan trọng nhất, mà thế đáng sợ nhất thì không gì bằng súng.

Nhưng cũng toàn tự người dùng cả.

Nếu người đánh thành dùng được mà người giữ thành không thể chống được thì người đánh thành có thể thành công.

Nếu người giữ thành dùng được thì người giỏi đánh thành cũng khó thành công.

*

* *

Nếu giặc vì vây ngoài bền giữ, mà trong dinh cấp bách, xin hàng không cho, muốn ra không được nên phải liều đánh, muôn người một lòng còn chẳng đương nổi huống là mười vạn người.Không bằng triệt vây rút quân, trong thành thấy đã giải vây, thế tất tự ra, ra thì hoang mang, ắt là dễ phá.

Thành bền quân nhiều, đánh thì sức ta không nổi, nếu có giặc ở ngoài nữa thì trong ngoài bị địch, đó là đường nguy vậy.

Nay bọn phản bội cùng họp ở trong cô thành, trời hoặc khiến chúng ở đấy để cùng chịu giết, ta nên dùng toàn sách để ràng buộc chúng.

Chỉ bền giữ ba mặt, nếu giặc Ngô do lục địa mà đến, quân lương hẳn ít, ta đem quân khinh kỵ chẹt đường vận tải, thì không đánh mà vỡ.

Giặc Ngô vỡ thì bọn Khâm ắt phải bị bắt.

*

* *

Phép làm thang mây nối nhau.

Phàm điều trọng yếu trong phép dùng binh, trèo núi lội nước, vượt chỗ hiểm tới chỗ nguy, không điều gì là không đầy đủ rõ ràng.

Nếu gặp giặc ở trong thành cao vài mươi trượng, thì nên dùng phép gì để trèo lên?

Nên dùng hai tầng thang mây.

Thang thứ nhất dài 30 trượng 4 thước, thang thứ hai cũng dài 30 trượng 3 thước rưỡi.

Trước đặt tầng thứ hai ở trong tầng thứ nhất, đầu thang lại dùng gỗ bền làm chốt ngang, đục lỗ xuyên qua hai thang để kết liền với nhau làm một.

Ở đầu dưới thang thứ hai lại đóng móc sắt.

Như muốn lên thành, trước phải đặt hai tầng thang kết làm một dựa vào bên thành; trước lên thang tầng thứ nhất, đến đầu thang thì lật dựng tầng thứ hai phóng vụt lên trên thành, đem móc sắt ở đầu thang móc vào đầu thành, rồi như kiến bám mà leo lên, không đâu là không tới.

Đó là cách làm thang mây nối nhau vậy.

Hình 24.

Thang mây

*

* *

Sách Binh lược:

Thành bỏ không, không nên vào, vì thành không chẳng biết hư thực thế nào mà lường.

Thành liền không nên đánh, đánh thành là điều nhà binh rất kiêng.

Vì ở thành là nơi chứa lương cỏ khí giới, quân tướng đóng giữ ở đó.

Người xưa đánh thành, có khi làm thang mây để leo lên; có khi làm cầu bay để vượt qua hào lũy; có khi tranh nhau mà leo lên; có khi chia quân vạch đất mà giữ; có khi chở đất đắp luỹ để vây; có khi làm da trâu để chắn mà đến dưới thành rồi đào hầm vào chân thành để cho thành sụp.

Ta trộm nghĩ như thế nguy lắm.

Vì nếu trong thành hết cả binh tướng đều lên trên thành, tên nỏ bắn xuống như mưa, hoặc bó cỏ tẩm dầu đốt mà ném xuống, thì chẳng nguy cho những binh bám leo sao?

Họ lại làm sào gạc nai để chống thang mây; lại lấy dây sắt treo hỏa pháo từ trên thành thả xuống chỗ hầm đào mà nổ thì da trâu và người đều tan nát cả; lại làm thương phi hỏa cho thuốc vào lấy lửa đốt mà phóng; hoặc lấy người dũng cảm, mở cửa xông ra huyết chiến, trong ngoài tử thương cũng bằng nhau.

Người ta lại có thể ở ngoài thành đắp núi giả để đặt pháo đắp luỹ cao giữ cho bền chắc khiến giặc phải khốn đốn mà đợi cho nó tự chết, như thế thì chỉ tranh nhau cái thành không mà thôi.

Cho nên nhà binh gặp thế bắt đắc dĩ mới phải đánh thành.

*

* *

Đánh thành.

Ngu Hử đời Hậu Hàn làm thái thú Vũ-đô1 quân không đầy 3000 người, mà quân Khương có hàng vạn đánh vây Xích-đình2 mấy chục ngày.

Hử bèn ra lệnh cho quân sĩ không bắn nỏ cứng mà ngầm bắn nỏ con.

Người Khương cho rằng tên đạn yếu không thể bắn đến, dồn quân đánh gấp.

Hử bấy giờ đem 2000 nỏ cứng cùng bắn, không phát nào là không trúng, người Khương sợ hãi mà rút lui.

___________________________________

Nay là đất tỉnh Cam-túc.

Ở phía tây-nam Thành huyện tỉnh Cam-túc.

Dụ vào thành.

Cuối đời Hán, Tào Tháo và Lữ Bố cầm cự nhau ở Bộc-dương1.

Trần Cung bảo Lữ Bố rằng: có thể sai nhà giàu họ Điền giả hiến mật thư xin làm nội ứng, dụ Tháo vào thành.

Tháo tin lời.

Lưu Việp bảo Tháo rằng: Trần Cung nhiều mưu, hoặc nhiều cách phản gián, không thể không đề phòng.

Nên chia quân làm ba đội: một đội vào thành, hai đội phục ngoài thành để tiếp ứng.

Họ Điền lại sai người dâng thư hẹn lúc canh một thì trên thành thổi ốc làm hiệu.

Đến kỳ, Tháo đem quân đến vào thành.

Súng nổ bốn bề, lửa bốc, quân phục đều ra.

Tháo cả thua.

Ích-châu2 mục nhà Tấn là La Thượng sai Ngỗi Bá đánh thành Thục, cùng Lý Hùng giao chiến, có thua có được Hùng bèn mộ người Vũ-đô là Phác Tần, đánh cho thấy máu, sai đi lừa La Thượng là muốn làm nội ứng, lấy lửa làm hiệu.

Thượng tin lời, ra hết tinh binh sai Ngỗi Bá đem theo Tần mà đánh Hùng.

Hùng ra đánh.

Tướng là Lý Nhương đặt quân phục ở đường.

Tần lấy thang dài dựa vào thành đốt lửa.

Quân Bá thấy lửa dấy lên, tranh nhau trèo thang.

Tần lấy dây trói hết 500 người đem chém cả.

Hùng nhân buông quân, trong ngoài giáp đánh, cả phá được quân La Thượng.

Nhàn làm cho nhọc.

Doãn Tử-kỳ đánh Thư-dương3.

Trương Tuần ở trong thành ban đêm khua trống nghiêm quân, làm như sắp ra trận.

Giặc nghe, suốt đến sáng phòng bị.

Khi đã sáng, Tuần nghỉ quân im trống.

Giặc dùng phi lâu dòm vào trong thành, không thấy có gì, bèn cởi giáp nghỉ quân.

Tuần cùng với Nam Tễ-vân, Lợi Vạn-xuân hơn 10 người tướng, mỗi tướng đem 50 quân kỵ, mở cửa ra thẳng xông vào dinh giặc, đến thẳng dưới cờ Tử-kỳ, chém giết rất nhiều.

Bọn chín tiết độ sứ Quách Tử-nghi4 vây Nghiệp-thành5, đào ba lần hào, đưa nước sông Chương rót vào, nguy ở sớm chiều.

Tư-minh chạy đến cứu Nghiệp-thành, khiến các quân đặt dinh cách thành 50 dặm, mỗi dinh đánh 300 cái trống để uy hiếp ở xa; mỗi dinh kén 500 tinh binh, ngày ngày cướp bóc ở dưới thành; hễ quan quân ra thì lại tan về các quân.

Người ngựa trâu xe trong thành ngày có bị mất, kiếm củi rất khó, ngày thì phòng đêm đến, đêm thì phòng ngày đến.

Tư-minh bèn dẫn đại quân thẳng đến dưới thành, định ngày quyết chiến, quan quân cả thua.

Phàm giặc vây thành, đóng mãi không đi, muốn đánh cho được, không gì bằng đêm quấy rối.Đặc biệt kén binh sĩ 500 người, theo đúng trang phục của giặc, hiệu lệnh của giặc, có ám hiệu riêng, mỗi khi gặp đêm tối mưa tuyết, chợt thấy giặc có hơi trễ nải, thì mở cửa hoặc do cửa kín chạy ra, dùng súng, dùng gậy, dùng quả đấm, phá rối dinh giặc, tụ tan chớp nhoáng, ai nấy tự đánh.

Gặp gió thuận thì dùng hỏa khí hỏa pháo để đốt kho tàng; giặc sợ thì giả cách cùng sợ, giặc ngủ lại giả cách cùng ngủ; nhưng lấy im lặng làm mầu, đánh ngầm làm diệu.

Đại khái cứ trống canh hai thì ra thành, trống canh năm thì vào thành, đánh dinh tây thì vào cửa đông, đánh dinh nam thì vào cửa bắc, nhưng phải lấy ám hiệu nhận làm quân ta mới cho đi.

Đó gọi là quân ma, phải kín như cò rò, nhanh như cắt vụt, không phải người cảm tử và người tập rèn thì không thể làm được; hay chỉ dùng súng lớn mà đều bắn vào dinh giặc.

______________________________________

1.

Ở phía nam huyện Bộc-dương tỉnh Hà-bắc.

2.

Nay là đất tỉnh Tứ-xuyên.

3.

Ở phía nam huyện Thương-khâu tỉnh Hà-nam.

4.

Quách Tử-nghi là công thần của nhà Đường, trong cuộc dẹp loạn An Sử, Quách Tử-nghi cùng tám tiết độ sứ khác là bọn Lý Quang-bật vây Nghiệp-thành, nhưng bị Sử Tư-minh đánh bại.

5.

Tại tỉnh Hà-nam, huyện Lâm-chương.

No làm cho đói.

Bọn chín tiết độ sứ Quách Tử-nghi vây Nghiệp-thành sắp được.

Bấy giờ thiên hạ đói kém, việc chuyển lương phía Nam từ miền Giang Hoài, phía Tây từ miền Quan Phần, thuyền xe nối nhau.

Sử Tư-minh1 sai nhiều tráng sĩ, dùng trộm trang hiệu của quan quân để lộn sòng vào mà đốc thúc việc vận chuyển, không cho chậm trễ, giết càn nhiều người.

Người vận lương sợ hãi, hễ thuyền xe chở lương đến là ngầm phóng lửa đốt ngay.

Đi lại tụ tán, quân địch cùng nhau quấy rối, quan quân không thể xét được, do đó các quân thiếu ăn, cả vỡ.

Lại Trương Tuần nhà Đường giữ Thư-dương, gặp lương thiếu, Lệnh-hồ Triều chở gạo muối cho giặc vừa đến.

Tuần đêm đóng quân ở phía nam thành.

Triều đem hết quân lại chống.

Tuần sai dũng sĩ ngậm tăm đến bến sông, lấy được nghìn hộc gạo muối, còn dư thì đốt hết rồi về.

Chúa Kim có 7 vạn quân đóng ở dưới thành Sở-châu2, có 3.000 quân giữ lương ở Hoài-âm, lại có 3.000 chiếc thuyền chở lương đậu ở sông Thái-thành.

Tổng Tất gặp được gián điệp mà biết, nói rằng: Quân địch gấp mười quân ta, khó dùng sức mà thắng, có thể dùng kế phá được.

Bèn sai thống lĩnh là Hứa Phục lẻn đường đi tới Hoài-âm, trống canh hai ngậm tăm đến dinh địch, đều đem theo lửa ngầm phục ở dưới xe lương hơn 50 chỗ, nghe hiệu thì đốt.

Địch rối sợ chạy trốn, lương cỏ đều hết.

Sở-châu được giải vây.

Binh pháp nói: lấy tĩnh để thắng.

Lại nói: Lánh kẻ mạnh mà tĩnh.

Lại nói: Thấy địch tĩnh thì làm ồn.Tĩnh là khí giới lớn để giữ thành.

Tổ Đĩnh3 nước Tề làm thứ sử Bắc Từ-châu, gặp khi có quân Trần đến cướp, trăm họ nhiều người làm phản.

Đĩnh không mở cửa thành, các tỳ tướng đều sai xuống thành ngồi yên; đường phố cấm không cho người đi lại; gà chó không được gáy sủa; giặc không nghe thấy gì, không hiểu tại sao, hoặc ngờ người chạy bỏ thành không, không đặt cảnh bị gì hết.

Đĩnh vụt khiến kêu la vang trời.Giặc cả sợ, tức thì tan chạy.

__________________________________

1.

Sử Tư-minh là lãnh tụ nghịch quân chống nhà Đường.

2.

Tức là quận Hoài-âm, trị sở cũ ở huyện Hoài-âm tỉnh Giang-tô.

3.

Tổ Đĩnh: Tổ Đĩnh người Bắc Tề, làm thứ sử Từ-châu, khi ấy người nước Trần đến đánh, nhân dân nhiều người làm phản.

Đĩnh sai không đóng cửa thành, người coi thành đều xuống cả dưới thành ngồi im lặng, đường thì cấm người đi lại.

Địch không hiểu thế nào, tưởng là người chạy đi hết bỏ thành không, không phòng bị.

Thốt nhiên Đĩnh đem quân xông ra hò hét, quân địch kinh hãi chạy tan.

Lại chiến dịch Thuận-xương1.

Lưu Ỷ nhà Tống không đầy 3 vạn quân.

Mỗi buổi hôm tiếng trống của giặc đánh vang cả núi hang, dinh giặc huyên náo, thâu đêm có tiếng.

Ỷ ở trong thành cứ yên lặng, chẳng nghe tiếng chó tiếng gà, chỉ lấy tĩnh mà đối phó với huyên náo.

Và đại thắng.

Vương Hưu-phạm2 người Quế-dương nhà Tống làm phản, triều đình sợ hãi.

Tiêu Đạo-thành đến Tân-đình, sửa đắp thành lũy chưa xong, tiền quân của Hưu-phạm đã đến Tân-lâm.

Đạo-thành cởi áo nằm chơi cho yên lòng dân chúng.

Ngột-truật nước Kim đánh Thuận-xương.

Bấy giờ trời nóng.

Địch từ xa lại, ngày đêm chẳng cởi áo giáp.

Lưu Ỷ thì sĩ khí nhàn rỗi.

Quân Kim đều là người ở Bắc phương.

Không khí buổi sáng mát lạnh, Ỷ giữ quân không động.

Kịp đến giờ mùi, sức địch đã mệt và có ý rối ren, Ỷ bỗng sai mấy trăm người ra cửa Tây tiếp chiến; chốc lại đem mấy nghìn người ra cửa Nam, ra lệnh răn không được hò hét, chỉ dùng đao búa mà vào trận chém loạn.

Từ giờ mùi đến giờ thân.

Giặc thua lui.

Tức thì dùng mộc mã mà chắn, nghỉ ngơi một chút; nhưng tiếng trống trên thành không dứt.

Bèn đem cơm canh cho các chiến sĩ ngồi ăn, như lúc bình thời.

Địch tan chạy, không ai dám đến gần.

Khi ăn xong rồi, triệt bỏ mộc mã, lại phá giặc, liền phá được.

Trong chiến dịch này, Ỷ ra đánh quân chỉ có gần 5.000 người, mà quân Kim kể có vài mươi vạn, duy dùng cách “dĩ dật đãi lao” mà thắng vậy.

Lại Lưu Ỷ giữ Thuận-xương, bấy giờ trời rất nóng, quân Kim mặc áo giáp tiền đến.

Ỷ sai một người lính đứng ở trong nắng, hỏi biết là áo giáp nóng, không thể đụng tay, bèn đem hết cả 5.000 người trong thành chia làm 5 đội, hạ lệnh cho trong quân y theo thứ tự ăn cơm, sĩ tốt đổi phiên nhau mà nghỉ.

Và cả bại quân Kim3.

Sửa trị.

Trong khi giữ thành và tới trận, nên sửa trị những công cụ dùng để giữ hay để đánh, như làm lầu canh, treo màn chiên, đặt giá súng, đặt giường nỏ, chở gạch đá, làm đuốc bếp, sắm lửa dầu v.v...

_______________________________________

1.

Thuận-xương: Tên đất, thuộc tỉnh An-huy, Trung-quốc, Lưu Ỷ đời Tống Cao-tôn đánh phá Kim thái tử là Ngột-truật ở đấy.

Khi hai quân cầm cự nhau ở thành Thuận-xương, Ngột-truật đêm sai người đến gần thành nghe ngóng, thấy trong thành im lặng không có tiếng gà chó.

2.

Thời Nam Tống, Lưu Dụ, Vương Hưu-phạm phản, Tiêu Đạo-thành (sau là Nam Tề Cao đế) đem quân đi đánh.

Khi đến Tân-đình (nay thuộc tỉnh Giang-tô, Trung-quốc), thành lũy chưa đắp xong mà quân của Hưu-phạm đã đến Tân-lâm.

Đạo-thành cởi áo nằm khềnh ở Tân-đình để yên lòng quân.

3.

Nguyên văn chép vắn tắt.

Tỷ dụ này ý nói quân Kim mặc áo giáp mà phơi nắng, rất là nhọc mệt, mà quân của Lưu Ỷ thì chia làm 5 đội thay phiên nhau mà vừa đánh vừa nghỉ, dùng cách “dĩ dật đãi lao” nên đánh bại quân Kim.

*

* *

PHÉP HỎA CÔNG.

Phép hỏa công đánh làm sao?1

Thưa rằng: Đợi ngày nắng ráo mới nên, hoặc sai 5, 3 người đột nhập mà đốt.

Thấy nó có loạn động, quân ứng ở ngoài xông vào thì được.Nhược bằng có kiên tranh thì chớ đánh.

Nếu nó đóng ở nơi thảo mộc, có thể đốt ngoài mà đánh, chẳng có nó lại đốt ở trong.

Phép hỏa công là thế.

Quả dẫn lửa2.

Dùng giấy làm quả cầu trong chứa gạch đá vụn, có thể nặng 3 cân hay 5 cân, nấu sáp ong, nhựa thông và bột than làm bùn bôi khắp vào vật ấy, rồi lấy dây gai xỏ qua.

Phàm khi sắp ném hỏa cầu thì phóng quả cầu này trước để lấy mức xa gần3.

Hình 25.

Quả dẫn lửa.

Quả mù thuốc độc.

Quả này nặng 5 cân, dùng lưu hoàng 15 lạng, ô dầu thảo 5 lạng, diêm tiêu 1 cân 14 lạng, ba đậu 5 lạng, lang độc 5 lạng, đồng du (dầu trảu) 2 lạng rưỡi, bột than gỗ 5 lạng, nhựa thông 2 lạng rưỡi, thạch tín 2 lạng, sáp ong 1 lạng, trực nhự 1 lạng 1 phân, ma nhự 1 lạng 1 phân.

Các thứ ấy giã với nhau rồi nặn làm quả tròn, xỏ qua một sợi dây gai dài 1 trượng 2 thước và nặng nửa cân, rồi lấy thuốc bao ngoài mà bao.

Hình 26.

Quả mù thuốc độc

_______________________________________1.

Mục này đặc biệt viết bằng chữ nôm.

2.

Những đồ hỏa công sau này là chép theo sách Võ kinh tổng yếu, quyển II và sách Võ bị chế thắng chí.

3.

Quả này làm nặng bằng quả cầu thực, ném nó để lấy mức xa gần rồitheo mức ấy mà tiến lên hay lùi xuống để ném hỏa cầu cho trúng đích.

Trâu lửa pháo xông trận.

Dùng con trâu già bỏ đi, buộc dao sắc vào sừng, hai bên mình cặp tre sát vào chân cho không thể quay được, trên lưng đội một ống pháo sắt lớn chứa một đấu thuốc, thuốc để quanh co ở trong pháo; pháo chứa những thuốc liệt hỏa, thần sa, thần hỏa.

Phàm khi quân giặc rất nhiều quân ta rất ít, dùng trâu ấy xông vào người ngựa gặp phải tức thì tan nát.

Khi xông vào trận giặc thì lửa phát pháo nổ, thế như sấm động, ầm một tiếng không kịp bịt tai.

Dù khó nhọc mấy ở trong mấy trùng vây của giặc cũng phá tan được.

Hình 27.

Trâu lửa

Thuyền lửa.

Dùng thuyền nát hay bè gỗ, chở đầy rơm củi, từ trên đầu gió thuận dòng mà đốt lửa để đốt chiến hạm lâu thuyền của địch.

Hình 28.

Thuyền lửa

Cung bắn tên quả lựu.

Lấy thuốc súng dùng hai ba tờ bông và giấy gói lại, ở giữa cắm tên, dùng dược bàng căn3 bọc thành hình quả lựu, ngoài thêm vải gai buộc kỹ, lấy nhựa thông chảy sơn kín lại, dùng giấy tẩm dầu quấn lấy ngòi thuốc; thẳng trước mắt đặt mũi tên sắt.

Nên phong mũi nhọn lại đảo ngược móc câu, khi đốt ngòi thuốc để phát hỏa thì mới mở cung bắn đi.

Hễ đụng vào người ngựa hay mui buồm của thuyền thì cháy không tắt được.

Đó cũng là đồ tiện lợi.

Hình 29.

Cung bắn tên quả lựu

Tên hai hổ đuổi dê.

Cán dài 5 thước, một cán ba mũi; hai ống chứa thuốc súng tốt quay về vè tên, một ống thuốc súng kém quay về mũi tên, cộng ba ống, đường kính 7 phân, dài 4 tấc 5 phân, buộc vào một cái cần.

Bắn xa 500 bước.

Hai ống thuốc súng tốt ra lửa hết thì đến ống thuốc xấu ra lửa, có thể đốt cháy cả sàn trại, cháy cả thuyền địch và phá hủy nhà ở của địch.

Một người dùng thì trăm người sợ hãi, rất là huyền diệu.

Cũng phải bôi thuốc “kiến hỏa phong hầu” và thuốc “phản phúc hỏa thương đao” để phòng.

Hình 30.

Tên hai hổ đuổi dê.

_______________________________________1.Chữ Hán là? 傍 根 không rõ có đúng chữ không, chúng tôi cứ phiên âm, không rõ là chất gì.

*

* *

Sách Tôn tử:

Phàm hỏa công có 5 phép: một là đốt người; hai là đối lương chứa; ba là đốt xe cộ; bốn là đốt kho tàng; năm là đốt đội ngũ.

Dùng lửa phải có cái để nhàn; đốt lửa phải có sẵn chỗ; phát lửa có thời; nổi lửa có ngày.

Thời là ở trời khô ráo; ngày là lúc mặt trăng ở phần sao Cơ sao Bích sao Dục sao Chẩn.

Phàm gặp bốn sao ấy là ngày nổi gió.

Phàm hỏa công thì phải nhân năm cách đốt ấy mà biến đổi để ứng tiếp.

Lửa phát ở trong thì sớm ứng ngoài; khi lửa cháy mà thấy quân cứ yên tĩnh thì đợi mà không đánh.

Hết sức của lửa, có nên theo thì theo, không nên theo thì thôi.

Lửa có khi phát ở ngoài, không chờ ở trong, theo thời mà đốt.

Lửa đốt ở trên gió không đốt ở dưới gió.

Ban ngày thì gió lâu, ban đêm thì gió đứng.

Phàm quân phải biết cái biến của năm cách đốt, lấy số1 mà giữ.

Cho nên lấy lửa giúp việc đánh thì rõ ràng thắng, lấy nước giúp việc đánh thì mạnh.

Nước có thể tuyệt, nhưng không thể đoạt được.Phàm chiến thắng công thủ mà không xét định công lao là sự chẳng lành, gọi là “công cốc”.

Cho liên minh chúa phải nghĩ, lương tướng phải làm.

Không lợi thì không động, không được thì không dùng, không nguy thì không chiến.

Chúa không nên vì giận mà dấy quân, tướng không nên vì tức mà đánh trận.

Hợp với lợi thì động, không hợp với lợi thì thôi.

Giận có thể lại mừng; tức có thể lại vui; nước mất thì không thể lại còn; người chết thì không thể lại sống.

Cho nên nói minh chúa phải cẩn thận, lương tướng phải răn dè.

Đó là đạo yên nước vẹn quân vậy2.

*

* *

Sách Bảo giám:

Không vào hang cọp thì không bắt được cọp con.

Nhưng bây giờ chỉ có cách là nhân đêm tối mà dùng lửa để đánh giặc; khiến giặc không biết quân ta nhiều ít thế nào, ắt phải cả sợ, quân có thể bị giết hết vậy.

Diệt được giặc ấy thì nước Thiện-thiện vỡ mật, uy nhà Hán có thể tự dựng3.

Binh sĩ ở ngoài cửa ải, vốn không phải là con hiền cháu thảo, đều vì có tội lỗi mà điều bổ ra chốn biên đồn, mà người Nam Di thì mang lòng chim muông, khó nuôi dễ bại.

Nay ngươi chỉ nên khiêm cấm, nhưng nước trong thì không có cá lớn, chính nghiêm thì không có bình hòa, nên rộng rãi mà tha lỗi nhỏ, nắm lắy đại cương mà thôi.

_______________________________________

1.

Số đây là độ số của bốn sao, quan hệ với gió.

2.

Tôn tử, thiên XII.

3.

Lời của Ban Siêu, xem Hậu Hán thư, Ban Siêu truyện

*

* *

Sách Võ kinh:

Võ vương hỏi:1 Đem quân vào đất chư hầu, gặp chỗ cỏ sâu rậm rạp khắp quanh trước sau tả hữu quân ta, ba quân đi đã mấy trăm dặm, người ngựa đều mỏi, đã dừng nghỉ rồi, quân địch nhân trời ráo gió mạnh, đốt trên đầu gió của ta, và cho xạ kỵ cùng binh tinh nhuệ phục vững ở sau ta, ba quân sợ hãi chạy tán loạn, như thế thì làm sao được?

- Thái công thưa: Như thế thì lấy thang bay và thang mây mà trông xa tả hữu, xét rõ trước sau.

Nếu thấy lửa cháy thì ta cũng đốt theo ở phía trước ta, rồi lại đốt ở phía sau ta.

Ví như giặc đã đến thì đem quân lui đến chỗ đất đen (đã bị đốt rồi) mà đóng bền ở đó.

Giặc đến, còn ở sau ta, thấy lửa đã cháy thì liền chạy xa.Ta giữ chỗ đất đen mà đóng, cho nỏ mạnh quân giỏi hộ vệ hai bên, rồi lại đốt trước và sau ta.

Làm như thế thì giặc không thể hại ta được.

Võ vương lại hỏi: Giặc đốt tả hữu ta, lại đốt trước sau ta, khói che phủ quân ta, mà đại quân thì nhắm chỗ đất đen mà vượt ra, như thế thì làm thế nào?

- Trả lời: Như thế thì ta phải chia quân làm bốn, dùng thế trận võ xung, cho nỏ mạnh hộ vệ hai bên quân ta.

Phép ấy không thắng mà cũng không bại.

*

* *

Phép diều lửa đốt giặc2

_______________________________________

1.

Mục này Binh thư yếu lược trích Võ kinh nhưng chép sai và lộn xộn, chúng tôi sửa lại theo Võ kinh trực giải (phần “Lục thao” chương 14) mà dịch.

2.

Chép cả thiên “Hỏa công” của Hổ trướng khu cơ gồm 9 chương, đây bỏ cả, xem ở sau

*

* *

Sách Hành quân tu trí:1.

Binh thư nói: Đánh thành tiếng mau thế dữ, như sấm như sét, khiến tráng sĩ không kịp bịt tai.

Lý Tĩnh nói: Việc binh quý nhanh chóng, để lâu sinh biến.

Sách Tam lược nói: Nhổ đừng để lâu.

Phàm thành hư có nên lấy không?

Hư tức là không có người ngựa lương cỏ, không đủ đánh, lấy được thì không trọn vẹn.

Lại nếu không có quân cứu ở ngoài thì chỉ nên dùng hào sâu lũy cao mà chờ, kế giặc không thi hành vào đâu được, tự nhiên phải tìm ra, dễ bắt.

Hoặc ở trong thành hết lương, lâu phải đòi ra.

Ta dùng mưu giả làm khuất quân, điểm họp người ngựa, chừa ra một góc trống không, đêm thì giả cách đốt lửa cho giặc trông thấy.

Nó tất do chỗ không mà đâm ra.

Ở nơi yếu hại ta nên đặt nhiều quân kỳ quân phục, cung cứng nỏ mạnh đón chặn ở đầu đuôi, không cho cứu nhau, rồi sai những tướng nhỏ lãnh quân bộ vào thành yên vỗ cư dân, giữ gìn kho tàng.

Thành thực2 là trong thành đủ ăn đủ binh, cầu đánh không ra, chắc có quân cứu viện ở ngoài.Như thế thì không nên giữ lâu, hẳn sẽ sinh biến, có thể có quân ở ngoài đến cứu.

Nên dùng nhiều mưu lạ mà đánh cho nhanh.

_____________________________________

1.

Xem Võ bị chế thắng chí, quyển 7, chương “Thố trị điều kiện”.

2.

Thực là trái với hư.

*

* *

Phép phá thành, đồ đánh thành, đều có luật lệnh, cộng có 12 điều, nên nhận rõ mà theo:

1.

Phép “Nga xa động tử”, cho chở đất mà lấp hào, làm núi đất ở phía trong động hào1.

Khiến người chia làm hai hàng tả hữu, một hàng chuyển đất vào hào để lấp, một hàng chuyển đồ đựng không ở động (hào) ra.

Chỉ sai riêng những tráng sĩ đem đất vào thôi, không nên sai người đi lại khiêng gánh không tiện.

Đắp được gò đất có thể đứng trông được; lại đóng cọc gỗ, rồi dùng túi vải đựng đất chồng chất để lên thành; chứa nhiều củi đóm thành đống cao rộng ở bên thành là hay.

Còn khoảng đất ở động (hào) thì đặt nhiều thùng nước bùn và chổi gai để phòng dầu rái, hỏa tiễn và hỏa pháo của địch ném xuống.

2.

Dùng xe đầu hổ và lừa gỗ nhọn đầu đặt ở dưới chân thành, dùng cuốc mỏ quạ đào hố cho thành tự sụp đổ

3.

Dùng thang mây ba chân để lên thành, thì mộc lôi2 trên thành ném xuống không thể làm hại được.

4.

Dùng pháo lửa đánh vào lầu của thành và dùng xe húc để xông cửa, phá rào.

5.

Dùng pháo lửa, tên lửa, chim lửa đốt kho tàng trong thành.

6.

Đào lỗ ở thành, đêm sai chiến sĩ vào thành, phá mở cửa để lọt vào, đốt kho tàng lương thực.

7.

Đem quân lính của mình chia làm phen thứ, khiến ngày đêm nổi chiêng nổi trống và la hét mà đánh luôn làm cho địch không thể ngồi yên, như thế ba ngày đêm không được ngủ, người thì mỏi mệt suy yếu, ta cũng làm ra cách mệt thật mà phải tạm nghỉ ngơi, giữa lúc nửa đêm trăng tối, chợt sai những binh mạnh dạn nhanh nhẹn lên thành cướp cửa, phá cổng, dẫn quân vào thành.

8.

Thường ở nơi yếu hại đặt quân kỳ quân phục để chặn quân ngoài đến cứu; như không có thì thôi, nếu quả có thì chia quân ra mà chống chọi.

9.

Có thể trong đêm dùng cung cứng nỏ mạnh bắn tên vào thành, buộc giấy vào tên lấy ý khuyên làm gián điệp quay lại làm hại, hứa cho trọng thưởng.

Nếu sĩ tốt thu được thì đem dụ dỗ lẫn nhau, khiến cho trong ngoài cùng ứng.

10.

Biết rõ được tướng địch, dùng nhưng kẻ mưu chủ tâm phúc, những kẻ phụ tá tả hữu nào, có người tài năng thì có thể viết chữ trên cái tên tỏ ý ước hội với nhau, bắn vào trong thành, cũng có thể làm phản gián được, khiến cho trên dưới tự đánh giết lẫn nhau.

_______________________________________

1.

Tức là chỗ rãnh hào trống rỗng.

2.

Đùi gỗ.

*

* *

Sách Võ kinh tổng yếu1:

Phép dùng binh, giữ toàn nước là hơn cả, phá nước là bực thứ; giữ toàn quân là hơn cả, phá quân là bực thứ.

Đều là nói dùng mưu để dụ hàng địch.

Phải là bắt đắc dĩ mới phải sửa xe cộ, sắm khí giới, ba tháng thì mới xong, đào đất và đắp núi đất lại ba tháng rồi mới xong, sợ hại người lắm.

Cho nên nói đánh thành là hạ sách.Nhưng đánh cũng có phép.

Phải biết sức mạnh yếu của địch, lường số nhiều ít của ta, hoặc đánh mà không vây, hoặc vây mà không đánh biết được phép ấy thì có thể thắng được.

Đại khái đánh là đánh vào nơi nó phải giữ và nơi nó phải cứu.

Cho nên thành có khi nên gấp mà lấy, có khi nên hoãn mà thắng.

Nếu địch với ta thế ngang nhau mà ngoài có quân viện mạnh, lo trước bụng sau lưng đều bị địch thì nên đánh gấp để gấp thu lợi.

Nếu ta mạnh nó yếu, ngoài không có quân viện, sức đủ để chế được, thì nên ràng buộc mà giữ để đợi nó sinh tệ.

Thế bảo là không đánh bằng quân mà làm khốn bằng kế, khiến nó tự nhổ thành, tự hủy thành.

Nếu thành liền quân nhiều, địch muốn cầm quân ta mà quân viện lại đến thì trong ngoài ta sẽ bị địch, nếu nhổ đi thì chưa đủ làm nổi mà không nhổ thì đủ để bẻ gẫy uy địch, nếu như thế mà người tướng không dằn được bực tức lại cho quân sĩ leo lên thành, quân sĩ bị thương mà thành không nhổ được, thì đó là tai vạ của sự đánh vậy.

Thế gọi là không biết sức mạnh yếu của địch vậy.

Binh pháp nói: “Quân gấp mười thì vây, gấp năm thì đánh”2, quân ít thì không vây lâu, chia ra mà đánh, lìa mà họp lại.

Thế gọi là lường số nhiều ít của ta.

Lại thành có khi không nên đánh, có khi tất phải đánh.

Cho nên đem quân đến thành, trước phải sai gián điệp thăm dò, tìm biết số lương trong thành, tính người chi phí, lương nhiều mà người ít thì đánh mà đừng vây, lương ít mà người nhiều thì vây mà đừng đánh.

Thế gọi là hoặc đánh hoặc vây.

Phàm muốn đánh thành thì phải chuẩn bị đồ đánh, rồi sau mới làm, được chỗ đất sống rồi sau mới đến.

Chạy tới chỗ nó phải cứu, tức là đánh vào nơi chủ yếu của quân.

Dứt chỗ nó cậy nhờ, tức là cắt đường chở lương mà giữ lối về, khiến ngoại giao của nó không đến cứu được vậy.

Quân vây phải ở cách thành ngoài 300 bước, thì cung tên không tới, gian nguy không thông.

Địch ra chọc thủng vây vì thế đã chùn, muốn đánh một mặt thì bốn mặt làm rối lên, khiến địch không biết đâu mà phòng bị.

Đó là binh mưu vậy.

Không đào mồ mả, không giết già trẻ, đàn bà con gái, không đốt nhà cửa, không làm nhơ giếng bếp, không hủy thần từ phật tự, là sợ làm cho địch giận vậy.

Phá thành, tiếng trống chưa dứt thì không cho tù tản đi, khi cho tù tản đi, nên hẹn cho thời giờ, đến hẹn thì đánh ba hồi trống, quân lính đều phải về dinh.

Nếu bắt được phụ nữ thì ngoài ba ngày không được lưu ở trong dinh.

Đó là binh lễ vậy.

Lấy được thành bảo của địch, không phải là nơi yếu hại có thể cậy được thì không chia quân trấn giữ.

Được cõi gần với địch thì cố giữ để làm nơi cất chứa lương củi rơm cỏ.

Đó là để khỏi sự vận chuyển khó nhọc vậy.

_______________________________________

1.

Xem Võ bị tổng yếu, Tiền tập, quyển 10, chương “Công thành pháp”.

2.

Tôn tử, thiên III

*

* *

ĐỒ ĐÁNH THÀNH.

Cầu hào.

Dài ngắn lấy hào làm chuẩn, dưới đặt hai bánh xe lớn, đầu xâu hai bánh xe nhỏ, đẩy vào hào, bánh xe lọt xuống thì cầu bằng, có thể sang được.

Nếu hào rộng thì dùng cầu gấp; phép làm cầu gấp thì dùng hai cái cầu hào tiếp nhau, ở giữa đặt một cái trục chuyển, phép dùng cũng như thế..

Hình 31.

Cầu hào

Hình 32.

Cầu hào gấp

Thang mây xe.

Dùng gỗ lớn làm giường, dưới đặt sáu bánh xe, trên dựng hai cái thang, đều dài hơn 2 trượng. giữa đặt trục chuyển.

Bốn mặt xedùng da trâu sống để che, ở trong dùng người đẩy lên.

Tới thánh thì lật thang bay lên trên thang mây để dòm trong thành.

Thang bay.

Dài 2, 3 trượng, đầu xỏ hai bánh xe.

Muốn dựng vào thành thì để hai bánh xe bám vào thành mà đẩy lên.

Hình 33.

Thang bay

Thang bay tre.

Làm bằng một cây tre to, hai bên lắp bực chân mà trèo.

Hình 34.

Thang bay tre

Thang bay bóp đầu.

Phép làm thang bay bóp đầu, làm hai tầng, tầng dưới như thang bay, tầng trên dùng một cây tre, giữa thang có cái trục chuyển để lật đầu thang lên, đầu cây tre xỏ hai bánh xe, dùng để bám vào thành cho dễ đẩy lên.

Hình 35.

Thang bay bóp đầu

Xe lửa.

Lấy cái xe hai bánh, ở giữa làm cái lò, trên đặt vạc đựng đầy dầu, dùng than và củi đun sôi lên; bốn mặt lại chứa củi.

Đến dưới lầu của thành thì phóng lửa cho cháy lên rồi đi, chắc địch phải dội nước vào, dầu được nước thì dầu cháy càng cao, lầu cũng có thể đốt được.

[/i]Hình 36[/i].

Xe lửa

Lừa gỗ đầu nhọn.

Hình lừa gỗ đầu nhọn như xe phần ôn, chỉ thêm hai bánh, trên đặt gỗ ngang lớn làm xương sống, dài 1 trượng 5 thước, trên nhọn dưới vuông, cao 8 thước, lấy da trâu bọc, trong xe 10 người đun đến sát dưới thành.

Dùng làm địa đạo1.

Hình 37.

Lừa gỗ

Xe trâu gỗ.

Dùng gỗ bền ván chắc làm nhà nửa mái, bọc da trâu sống, dưới đặt bốn bánh xe, tự trong đun đi, để che cho người đánh thành, cũng một loại với lừa gỗ.

Hình 38.

Xe trâu gỗ

Màn gỗ.

Dùng ván mà làm như cái bình phong, dùng da trâu mà che, trên đặt cái cần trục chở bằng bốn bánh xe, muốn cao thấp thì lấy dây mà kéo.

Phàm đánh thành muốn leo lên thì lấy màn gỗ che trước mặt cho khỏi tên đạn.

Hình 39.

Màn gỗ

Xe vọng lâu.

Phàm xe vọng lâu cũng như vọng lâu ở trong thành, để dòm xuống xem công việc trong thành, khi đánh thành muốn dời chuyển cho tiện nên làm xe để chở.

Phép làm, dựng gỗ làm tòa xe và càng xe, dài 1 trượng 5 thước, dưới đặt bốn bánh, bánh cao 3 thước 5 tấc, trên dựng cột trông dài 45 thước, đường kính trên 8 tấc, đường kính dưới 1 thước 2 tấc, trên đặt vọng lâu, dưới đặt trục chuyển, hai bên đặt gỗ chạng, buộc ba lớp dây gai, lớp trên hai sợi đều dài 70 thước, lớp giữa hai sợi đều dài 50 thước, lớp dưới hai sợi đều dài 40 thước, đeo 10 cái cọc sắt có vòng.

Phàm dựng cột thì cũng như cách dựng cột buồm ở trên thuyền, đóng cọc và chằng sáu mặt cho kỹ.

Còn thì đại khái đều như phép vọng lâu trong thành.

Hình 40.

Xe vọng lâu

__________________________________1.

Có tác dụng như địa đạo, tức đường ngầm dưới đất.

Hỏa câu (móc lửa).

Lấy cái đao hai móc làm lưỡi.

Hình 41.

Móc lửa

Sào xa (xe tổ).

Dùng tám bánh xe, ở giữa dựng một cái cột cao, đầu đặt ròng rọc, lấy dây kéo cái chuồng lên đầu cột; cái chuồng thì vuông bốn thước, cao 5 thước, bọc da trâu sống để đỡ tên đạn, cao thấp lấy thành làm mức, khiến người nấp trong chuồng ấy dòm công việc trong thành.

Xa trông như tổ chim, nên gọi là sào xa.

Hình 42.

Sào xa

Pháo (súng) bắn xa.

Cách chế pháo bắn xa, nên dùng sắt Phúc-kiến, rồi đến sắt rèn.

Lửa than gỗ tốt nhất, thứ đến lửa than mỏ.

Khi sắt ở trong lò thì dùng rơm băm nhỏ, pha lẫn với đất vàng, bỏ dần vào lửa, khiến cho cứt sắt chảy ra, rèn đến 5, 6 lửa.

Dùng đất vàng hòa làm nước, cho rơm vào ngâm một hai đêm, rồi đem sắt thả vào trong nước ấy chừng nửa ngày thì lấy ra, lại rèn nữa, đến ngoài mười lửa.

Sắt sống 5, 7 cân, rèn còn 1 cân thì mới chín.

Khi vào lò thì dùng đất vàng bọc kín lại, một là để phòng tro bụi, hai là để lấy nghĩa thổ sinh kim, không đến nỗi khô tinh khí của sắt đi.

Như làm pháo bắn xa, thì đem sắt chia làm tám khối giống như hòn ngói, dài 1 thước 4 tấc, rộng 1 thước 1 tấc, giữa dày mép mỏng, đem 4 hòn mà đánh thành một cây giống hình cây tre, tám hòn đánh thành hai cây, xong rồi, dùng máy cái đanh sắt nối hai cây sắt ấy lại làm một.

Lại dùng sắt như trước 30 cân chia làm hai khối, cũng đánh hình như ngói, ráp thêm vào chỗ đễ làm cơ trong lòng cho đầy thêm.

Hơi có tro bụi thì ngày sau có thể tổn hại.

Phải cho sạch bụi và đừng có lỗ nhỏ có thể lọt được những hạt cát dùng để dũa mài.

Pháo làm xong, cho lên giá, dùng dây mực để lấy chuẩn, không sai phân nào.

Dùng dũa thép dũa cho sáng.

Các súng đại ước đều theo thế mà làm.

Lại bảo rằng miệng súng loe thì lửa tan mà sức chậm, miệng súng bóp thì lửa thu mà sức nhanh, cũng ví như người ta mở miệng hà hơi thì không có sức, chúm miệng phun hơi thì có sức.

Thuốc đạn ra ống khó thì đi xa, ra ống dễ thì đi gần, cũng như bắn tên, tay sau buông tên, kéo căng thì có lực, kéo nới thì ít lực.

Tiếng súng nhỏ thì vang mà lảnh tai, tiếng rộng thì tan mà không lảnh tai, cũng như nghe nhạc, tiếng quản vào tai thì sâu, tiếng trống vào tai thì nông.

*

* *

CÁC THỨ HỎA DƯỢC1

Hỏa dược thần.

Khi cướp dinh phá trại, xung phong đánh địch thì dùng:

Thạch Hoàng, Thư hoàng, Lô hoa, Tùng hương, Hùng hoàng, Hắc phê (thạch tín), Ngải noạt, Đậu mạt

Ngân hạnh diệp, Ba sương, Lưu hoàng, Nhược khôi (tro nứa), Liễu khôi (tro liễu), Can phẩn (cứt khô), Tiêu hỏa.

Hỏa dược độc.

Khi phá trận mà dùng, giặc ngửi thấy hơi, tối tăm choáng váng, cháy cả da thịt.

Xuyên ô, Nam tinh, Bán hạ, Xà mai, Kim đính phê, Ba sương, Ngân tú, Can phẩn (cứt khô), Ngải noạt, Kim trấp, Sam khôi, Ban miêu, Khương trấp, Hà mô du

Cách ô, Lang độc, Lạn cốt thảo, Nha tạo, Thiết cước phê, Can tất (sơn khô), Tùng hương, Hùng hoàng, Lưu hỏa, Liễu khôi, Đoạn trường thảo, Yên cao, Hoa khôi, Ngân hạnh.

Hỏa dược bay.

Xung trận phá trại, đốt lương, thiêu hủy quân mã bộ của giặc, đều dùng được cả.

Lô hoa (trộn dầu trảu rồi phơi khô), Tùng hương, Ngân hạnh diệp, Tạo dác mạt, Nhược khôi, Lưu hỏa, Ban miêu

Huyền hoàng, Can phẩn, Tiêu hỏa, Hoa khôi, Liễu khôi, Thạch hoàng.

Hỏa dược pháp.

Rất là lợi hại, khiến giặc một vật không nhìn thấy được, một bước không thể đi được, bắt sống quân giặc thì dùng thuốc này.

Lương khương, Quân khương, Xuyên tân, Hắc liễu, Du tạo, Thạch tín, Nhân tinh, Thạch hoàng, Tiêu hỏa, Nhược khôi, Liễu khôi

Can khương, Hổ khương, Hồ tân, Xích liễu, Đại tạo, Khoáng khôi, Tùng hương, Hùng hoàng, Lục hỏa, Hoa khôi.

Hỏa dược khói.

Thuốc này đụng phải giặc, da thịt cháy ngay, thấy máu trào lên nghẹn họng.

Thiết tử, Nao sa, Nhân trung trấp, Hổ dược, Lưu hỏa, Liễu khôi

Từ phong, Ngân tú, Đồng du, Tiêu hỏa, Nhược khôi, Ban miêu.

Hổ dược ngược gió.

Gió ngược càng mạng, khói lửa che trời.

Lang phẩn, Giang đồn cốt, Tiêu hỏa, Nhược khôi, Sam khôi

Ngải noạt, Giang đồn du, Lưu hỏa, Hoa khôi, Ban miêu.

____________________________________

1.

Xem Võ bị chế thắng chí, quyển 16.

Mỗi bài thuốc có kèm theo một bài ca, chúng tôi không dịch bài

*

* *

Sách Võ bị chế thắng chí:

Thời gió.

Phép hỏa công, lấy gió làm thế.

Gió mạnh thì lửa hừng, lửa mạnh thì gió sinh, gió lửa cùng xoay nhau thì mới thắng được.

Cho nên người làm tướng phải biết thời của gió, dùng độ số của mặt trăng đi để làm chuẩn.

Mạt trăng đi ở phần sao Cơ (13 độ trời), sao Chẩn (15 độ), sao Trương (17 độ), sao Dực (19 độ), thì không quá 3 ngày hẳn sẽ có gió lớn mấy ngày liền.Ngửa xem các vì sao thấy sáng nhấp nháy không định thì không quá 3 ngày hẳn sẽ có gió lớn trọn ngày.

Mây đen đêm che ở miệng sao Đẩu thì gió mưa cùng nổi.

Mây từ phương bắc nổi lên thì gió to.

Mây đen qua Ngân hà thì gió to mấy ngày.

Trăng quầng sắc xanh mấy vòng thì có gió không mưa.

Mặt trời lặn mây đen trải ra thì có gió ở xa tới.

Gió từ mươi dặm đến bay bụi động lá; gió từ trăm dặm đến thổi cát bay ngói; gió từ nghìn dặm đến sức có thể lăn đá; gió từ muôn dặm đến sức có thể nhổ cây.

Biết được thời của gió mà khéo dùng thì muôn lần đánh muôn lần thắng.

Địa lợi.

Phép hỏa công, trên thì thuận thiên thời, dưới thì ứng địa lợi.

Đồng bằng sông rộng, đánh xa thì thắng (dùng viễn khí1 mà đánh).

Rừng rậm đường hẹp, đánh sát thì thắng (dùng pháp khí2thuận gió mà đánh).

Dựa cao đánh thấp thì thế thuận, dùng đồ nặng với lửa mạnh mà úp xuống.Dưới đánh trên thì thế nghịch, dùng đố sắc với lửa hừng mà phun lên.

Hai bên đều là hỏa khí cả, thình lình mà gặp, không kịp thành trận, thì thế dễ loạn, dùng viễn khí mà đánh trước thì thắng.

Hai bên đều đóng dinh trại, muốn cướp xe lương, trước phải xem đường phục binh, thấy thế dễ làm, dùng hiệu khiến nổi đánh bốn mặt thì thắng.

Ở trong thành đánh ra ngoài thì nên đánh chỗ bền chắc; ở ngoài thành đánh vào trong thì nên đánh chỗ mềm yếu.

Đánh thủy thì phải ở trước đầu gió, đồ dùng thì như loại khói mù.

Mui và buồm thì phải tẩm thuốc thế nào cho lửa không bén.

Đó là chước ứng chiến vậy.

Nếu không phân biệt địa lợi mà dùng cho thuận, thì hẳn là bỏ khí cụ mà chạy, chỉ giúp thêm cho giặc mà thôi.

Điều răn của binh.

Phàm gặp những lăng tẩm vua chúa đời trước, đền miếu thánh hiền, đô ấp đòông dân, làng ngõ xúm xít, nếu dùng hỏa công thì đều là thiến ý sùng đạo và không có lòng thương dân.

Đó là điều răn thứ nhất.

Trước vướng rừng rậm, tiến không chỗ giữ, lưng dựa đầm nước, lui không lối chạy, lại sát dinh trại, trận quân chưa bày, phàm gặp nơi đó mà dùng lửa để đánh thì sợ cháy lan cả đến mình.

Đó là điều răn thứ hai.

Thời gió chưa định, địa lợi chưa có, gió mạnh tắt lửa, vạ không gì to bằng thế.

Phép đánh hỏa công trước hết phải giữ nơi đất hiểm, sau chờ tin gió.

Đó là điều răn thứ ba.

Quân địch muốn quy hàng mà chưa nhân được lúc hở, nếu ta nhân gió phóng lửa thì ngọc đá đều cháy.

Đó là điều răn thứ tư.

Trong quân địch có những tay tướng giỏi, ta muốn dùng lấy tất phải đặt kế mà bắt sống.

Đó là điều răn thứ năm.

Quân địch đã hàng lại còn ngờ là phản mà vội chôn đi để cho thất chí, như Bạch Khởi chôn quân nước Triệu, bất nhân quá đỗi.

Đó là điều răn thứ sáu.

Quân địch bị thua, cướp bóc dân ta để trương thanh thế nên nghĩ chước lạ mà cứu vớt mệnh dân; không cứu vớt dân mà lại dùng hỏa công thì gọi là bất trí.

Đó là điều răn thứ bảy.

Măng mồng vừa lớn, cá sâu mới dậy, đốt sạch sành sanh, giết hại sinh vật rất nhiều, làm tổn nhân đức, đó là điều răn thứ tám.

Tuân theo tám điều răn đó, làm sao cho mây bay quạ họp, quỷ thần khó lường được cơ, chớp giật sấm vang, tạo hóa không thấy được diệu.

______________________________________

1.

Khí giới đánh xa.

2.

Khí giới dùng kỹ thuật riêng.

*

* *

CÁC LOẠI HỎA KHÍ

Pháo thần vạn hỏa phi sa.

Dùng rượu đốt sao chế các vị thuốc, chứa trong cóng sành, ngầm để thuốc nổ vào, rồi quăng ở dưới thành, lửa bốc cháy cóng nổ, khói bay mù mịt làm mờ cả mắt giặc, kế đem súng đạn nỏ tên đánh theo.

Nên dùng các vị thuốc sau đây, pháo giấy thì lấy nhựa thông rưới vào, chế tạo rất dễ.

Hình 43.

Pháo thần phi sa
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển IV: II.Giữ Thành


II – GIỮ THÀNH

Thành là để bảo vệ dân.

Phép giữ thành chính từ mưu đánh thành mà sinh ra.

Khi địch ngửa đánh thì đắp lũy cao mà giữ; khi địch đánh thẳng thì đắp lũy dầy mà giữ; lo địch đến sát tường mà phá thì đào hào mà giữ; lo địch ở xa thành mà bắn thì làm nữ tường mà giữ.

Cho nên muốn giữ giỏi thì phải biết rõ sự đánh giỏi.

Duy người biết lo mới hay chống được sự lo.

Đời xưa Công Thâu và Mặc Địch hằng cùng chống nhau mà cùng làm thầy cho nhau.

Cách giữ thành giỏi.

Một là hiểm yếu.

Bắc phương nhận hàng, Lương-châu1 hòa với rợ Nhung mà mở đất nghìn dặm, chẳng mượn chiến công.

Chủng đóng Khoan-châu, chữa lại thành bỏ, Giới dời đến Hợp-thành, lại dời sang Điếu-sơn, thế gọi là giữ hiểm.

Ngụy được Hải-châu, thành gối núi cô, Đình-chi giữ đất Dương, dòm núi Bình-sơn, đều là nhờ trọng thành bao bọc ở trong, hoặc đào ngòi rãnh để ngăn ngựa, hoặc chứa ao hồ để hãm địch, hoặc cách ba biển mà bảo vệ thành Sính, hoặc trồng cây du để chặn quân kỵ, thế gọi là đặt hiểm.

Hoặc được đất chắc, đều có thể làm gốc bền vững được; bùn nổi cát xốp thì phải đào vét cho hết, y như cách đào giếng, một tầng cát một tầng bùn, cuối cùng hẳn có đất vàng.

Đến như nền móng rộng dày, thì tính ở trên mà chở đất bồi vào cho bền chắc mà không lở.

Hình 48.

Kiểu thành

Hai là bền dày.

Kim Thế tôn lấy đất ở Hổ-lao để đắp Biện-thành2, đến khi Mông-cổ đánh Biện-thành, súng bắn vào chỉ lõm mà thôi, thế mới gọi là bền.

Chu Tự trấn đất Tương-dương3, mẹ Tự là Hàn thị bảo rằng góc tây-bắc hẳn bị địch đánh trước, bèn ở góc ấy đắp xiên hơn 20 trượng, khi giặc đánh góc tây-bắc vỡ, bèn bền giữ thành mới; thế mới gọi là dày.

________________________________

1.

Tức là đất Hán-trung thuộc đất tỉnh Thiểm-tây ngày nay.

2.

Biện thành: tức là Biện-kinh của nhà Tống, đất huyện Khai-phong tỉnh Hà-nam.

3.

Quận, đất của tỉnh Hồ-bắc ngày nay.

Ba là hình chế.

Tống Nghệ tổ đắp Kinh thành, bày tôi vẽ đồ để tiến, dùng bút ngự bôi ra hình như khúc giun, sai theo đúng thức ấy mà xây đắp; đến sau Thái Kinh đổi dinh, mở làm thành vuông, người Kim đến đánh, đặt súng bốn góc, một súng nổ ra thì theo tiếng mà vỡ đổ cả, bấy giờ mới biết Nghệ tổ có kiến thức xa vậy.

Thời Đường Túc tôn, Võ-uy cửu tính Thương Hồ1 làm phản.

Bấy giờ trong thành lớn Võ-uy có bảy thành nhỏ thì Hồ giữ mất năm.

Phán quan là Thôi Xưng đem quân ở hai thành để kháng cự, trong tuần nhật thì yên.

Đó lại là cái lợi của trùng thành vậy.

Hào là để giữ thành.

Hào tốt hay xấu, thành giữ được hay không là quan hệ ở đó.

Cho nên đắp thành tất phải đào hào.

Hào có ba điều cần:

Một là cần sâu.

Sâu thì không dễ lấp, ước lấy 3 trượng làm mức.

Như có nông thì cả dân cư trong ngoài, phàm có đắp nhà đốt gạch, cho lấy đất ở hào mà làm; nhà nước có làm cũng như thế.

Dân có tội nhẹ thì phạt chuyển và xe đất để bồi vào chân thành phía trong hào.

Phương ngôn nói: Hào sâu một trượng thành cao 10 trượng; hào sâu đến suối, thành cao đụng trời.Đó là càng sâu thì càng giúp cho cao vậy.

Hai là cần rộng: Rộng thì không thể dễ vượt, ước lấy 10 trượng làm mức, đáy rộng một nửa.

Lấy súng đạn trên thành bắn được tới phía ngoài là vừa; xa quá thì súng bắn không thể tới địch được.

Quanh bờ nên trồng nhiều cây rễ xoắn và cỏ rậm để giữ, đó là cách khéo giữ lở vậy.

Ba là nên có hố ngầm.

Có hố ngầm thì không dễ sang trộm.

Phép làm là ở dưới đáy hào cứ chừng 10 bước là đào giếng, sâu rộng mỗi bề đều 1 trượng và lấy đến suối làm mức, lại ngoài thì đem nước sông vào, trong thì tiết nước lụt ra, để cho sâu thêm.

Lại ngầm đánh dấu nơi cạn để tiện sai quân sang đánh.

Thế gọi là trùng uyên2.

Có ba cái ấy là đủ việc hào.

___________________________________

1.

Võ-uy là tên huyện ở đất tỉnh Cam-túc ngày nay, đời Đường bị người Hồi-ngột chiếm - Cửu tính là chín bộ lạc Hồi-ngột ở Võ-uy.

2.

Hai lớp vực sâu.

Nếu là thành ở núi thì địa thế không thể đào hào được.

Cách thành 2 trượng, đào lỗ cao thấp, hoặc xen kẽ với khối đá, để chống thang bắc trèo lên.

Lại hoặc tháng đông thì dùng túi cát bày như hàng liễu, đem nước tưới vào, mộl đêm thì rét đóng lại thành băng, trơn không lên được, công ít mà dễ giữ.

Thế gọi là trùng hiểm1.

Nếu có khe sông quanh thành, thuyền bè có thể đi thông được, thì trồng cọc ở giữa nước không bằng cắm ngầm chông sắt ở bên bờ, lợi khí không nên để cho người biết, vì là vật hữu hình thì giặc dễ phòng, vật vô hình thì giặc dễ mắc.

Hình 49.

Đài địch

Ở trên và ngoài thành thì đài địch nên có, đóa (ụ canh) nên có, tường dê ngựa nên có, cửa ngầm nên có.

Đài địch là nơi chủ để giết địch, không thể giết địch thì thà không có đài.

Quy chế làm đài quý ở dài lên, mà không quý ở rộng ngang, dùng đá lớn xây dày mặt trước để che chống địch; bỏ trống hai bên tả hữu mà để rỗng bên trong, dùng thang để lên xuống các tầng, đều có lỗ để bắn hỏa khí, để tiện trông dòm; lỗ thì trong hẹp ngoài rộng, để tiện nhằm sang tả sang hữu.

Các đài cách nhau không nên quá gần, gần sợ khi đối phóng thần khí thì lại tự đánh vào thành; nhưng cũng không nên quá xa, xa thì tên đạn vô hiệu lực, không thể tới địch (nếu địch leo thành ở giữa hai đài thì hai đài quá xa nhau bắn chéo lại không đến nơi).

Phàm địch đánh thành, chỉ lo đánh lên trên, không lo đánh ra bên; những loại xe phần ôn lừa gỗ thì đều phòng ở trên mà không lo phòng ở dưới, thế thì lấy gì mà ứng phó?

Làm đài rỗng thì khi tả hữu giáp đánh, giữa khoảng hai đài có thể bắn súng bắn nỏ đến được.

Đóa (ụ canh) là để che mình; nếu không che được mình thì không có đóa.

Đóa không nên quá cao, cao thì không ném được đá; miệng đóa không nên quá hẹp, hẹp thì trở ngại cho việc ném bắn giặc.

Ngày nay làm đoá cao ngang tới lông mày, miệng vừa lọt cánh tay, đều không thể dùng được.

Nếu muốn dùng được, thì ở trong đóa nên xây một cái nền cao và rộng độ chừng 3 thước, vừa có thể giữ vững đóa, vừa có thể đánh địch, vừa có thể cho quân nghỉ, lại đều nên chừa lỗ treo, giặc ở xa thì do miệng đóa mà trông, dùng súng hay nỏ mà bắn, giặc ở gần thì do lỗ treo mà trông, tùy cơ mà chống, ta có thể chống giặc, giặc không thể hại được ta, như thế thì dễ chống.

Phàm gạch xây lỗ treo thì trước phải làm khuôn cong mà nung, xong rồi thì xếp vào mà xây.

____________________________________

1.

Hai lớp hiểm.

Còn như tường dê ngựa thì làm ở ngoài thành và ở bên bờ hào, không kỳ rộng hẹp, hẹp thì chừng một trượng, rộng thì không vượt ra bờ hào.

Làm tường ấy thì gạch hay đất tùy tiện, mỗi trĩ1 làm một lỗ bắn súng lớn, quá năm bước thì làm một lỗ bắn súng vừa cách đất 3 thước, trên mỗi lỗ châu mai ấy đều làm một cái kẽ (cao 3 tấc rộng 3 tấc) để tiện trông dòm.

Lại trên 3 thước thì làm một lỗ châu mai nhỏ (rộng 1 tấc).

Sống tường thì dùng đá nhọn gạch sắc để chống giữ.

Giặc ở bên kia hào thì dùng súng lớn mà đánh, giặc lên tường thì lấy búa lớn côn lửa mà ném xuống.

Hoặc nhất thời thu vén không kịp, hay đêm tối khó làm, không dám mở cửa, thì những người lánh nạn và các loại trâu bò, đều cho tạm lánh vào trong tường.

Thành với tường nương tựa nhau, tường lấy thành làm bản mệnh, hoãn cấp giúp nhau, tiến lui có thuật.

Đối với cái thành không hào thì càng thấy công dụng của tường ấy.

Lưu Ỷ sở dĩ thắng được ở Thuận-xương là vì thế.

Chống giữ đã chắc mới có thể xuất kỳ dụng trá2.

Hình 50.

Tường dê ngựa

Lấy đánh thay giữ, lấy chống giải vây thì không gì cần bằng cửa ngầm.

Lẻn trông nơi nào ra vào thuận tiện đục làm cửa, ngoài chừa hơn 1 thước, đến lúc cần mới mở, trong thì bày cột phay gỗ lim để chống.

Hoặc giặc mới đến, dinh trận chưa chỉnh, hoặc đêm tối nhân giặc không biết, hoặc giặc đánh thành mới nghỉ, hoặc giặc vây lâu đã trễ nải, ta ngầm cho quân tinh kỵ ngậm tăm đánh úp, thắng chẳng đuổi xa, giặc mệt thì tự nghỉ.

Nhưng ở trên thành chứa nhiều gạch đá, phòng khi giặc phạm tới thì kíp đánh không bỏ mất cơ.

Đó là cửa ngầm, cũng gọi là cửa đột.Kín ở dưới chín tầng đất là ngầm, động ở trên chín tầng trời là đột.

Cửa là phòng bọn gian tế lẻn ra; cửa đột là phòng kẻ địch đánh úp vào, phải cẩn thận vậy.

Trong thành thì đường thành phải có, hào trong phải có, hạng chiến3 phải có, bảo giáp phải có, chứa trữ phải có.

Phàm trong thành, nên để nhiều đường bậc đá, nửa dặm làm một chỗ, để phòng khi hoãn cấp, mỗi một chỗ có một cái rào, nghiêm giữ đóng mở, một là để phòng giặc lên, hai là để phòng quân lười.

Phàm ở trong thành, đều nên đào hào trong sâu rộng, mẫu mực cung tương đương với hào ngoài, bờ ngoài của hào cũng xây tường.

Khi giặc đã vào thành rồi cũng còn có cái ngăn giữ ở trong, nếu thay đổi nhau mà giáp đánh thì giặc hẳn bại.

Xưa thành Thư-dương bị vây, giặc ở ngoài thành đắp trùng hào mộc sách4 để giữ.

Trương Tuần ở trong cũng làm hào để chống là như thế đó.Trong thành có hào thì mới có thể nói đến hạng chiến (đánh ngõ) được.

_________________________________

1.

Thành dài 3 trượng, cao 1 trượng là một trĩ.

2.

Ra quân kỳ, dùng thuật dối.

3.

Hạng chiến là đánh nhau trong đường ngõ.

4.

Hai lần hào với rào gỗ.

Phép đánh ngõ, Hứa Quì1 đã làm ở Lạc-lăng, khiến dân đắp tường cao hơn nóc nhà, làm cửa tò vò ở dưới, một người ở trong cửa tò vò, còn dư mọi người đều phục ở trong ngõ.

Mở toang cửa thành, giặc quả ùa đến, súng không bắn vào đâu, mác không đâm vào đâu.

Cờ phất lên thì quân phục dậy, bắt chém vô số.

Vì là chống được ngoài thành là kế hay nhất, nhưng một số giặc đã vào thành mà đóng cửa lại thì như ở trong vạc sôi, cũng không thể không phòng vậy.Túng sử không thể phòng bị hết trong ngõ thì những đường trọng yếu gần thành, tất không thể không nghiêm giữ để hãm địch.

Còn như phép giữ đất có thể thông hành trong ngày thường cùng lúc lâm sự thì chỉ có phép bảo giáp và phép chứa trữ.

Về phép bảo giáp thì lấy phép mà biên dân làm hộ ngũ, phàm việc xét định, tra chẩn2, hỏi trộm, đều nhờ đó mà làm, mà trong việc giữ thành thì càng khẩn cấp, để cho nghiêm hiệu lệnh, cho đều công việc, để xét gian tế, để cẩn thận việc củi lửa và việc trộm cướp.

Phép bảo giáp mà làm được thì chứa trữ cũng dễ.

Chứa lương không gì tiện bằng sai dân tự chứa, vì là nộp vào kho thì dù ít dân cũng có vẻ khó chịu, mà chứa ở nhà thì đầy cót ai cũng vui theo.

Nếu khiến mỗi nhà đều có chứa trữ thì lo gì giặc đến mà không có lương ăn.

Nhưng chứa trữ không phải thóc mà thôi.

Đài thành bị vây, công khanh lấy ăn làm lo, trai gái sang hèn đều ra đội gạo, nếu mà không phòng rơm củi, thì đến sau phải dỡ sảnh Thượng thư để làm củi, dỡ nhà tranh để cho ngựa ăn.

Lại nếu không trữ cá mắm thì lâu ngày người ta sinh ra mình phù khó thở, chết đến 8, 9 phần 10.

Thế thì củi cũng phải phòng, rơm cỏ cũng phải phòng, muối mắm cũng phải phòng.

Hung-nô vây Sở-lặc, làm tuyệt mất đường lấy nước ở ngoài thành, Bắc Ngụy vây Hổ-lao, đào hầm dưới đất để rút mất mạch giếng trong thành, thế thì nước cũng phải phòng bị.

Ngoài ra, lại có thầy thuốc, thợ kỹ nghệ mọi người cần dùng đều phải phòng bị và những vật binh khí, hỏa khí, đá gỗ, than dầu, những vật cần dùng cũng phải phòng bị.

Điều cốt yếu về hiệu lệnh, trước hết là thống nhất quyền bính.

Quan giữ đất là chủ, ở giữa mà điều độ, dư chia bốn mặt bốn góc, đều đặt chánh phó, lấy những tá nhị và thân sĩ sung làm, việc nhỏ cho được xử đoán.

Như cờ xí hiệu lệnh mà có gì không tiện thì phải bẩm chủ thủ, không được tự tiện thay đổi.

Chính trị ra tự nhiều mối thì bại; pháp lệnh không thi hành được thì bại.Thứ đến việc giữ yên hương dân, thay đổi thổ mộc.

Vu Khiêm3 tâu: Ngoài quách không được tỏ là hèn yếu, dân ở ngoài quách đều dời vào trong, không để cho thất sở.

Phàm dân lánh loạn vào thành, có thân thuộc thì ở với thân thuộc, không có thân thuộc thì quan phải xếp đặt, trai gái không ở lẫn nhau, đều theo hàng ngũ.

Dân làng nhiều người, nên phòng bọn gian tế.

Phép đề phòng gian tế là dựng rào để ngoài hào để hỏi xét, chia cửa ra vào để phân biệt, lấy người bà con quen biết bảo lãnh để xét, rồi sau chia vào các khu vực đóng quân; họp lại thì khó chu đáo, chia ra thì dễ giữ, mà đoạn lạc không thể không rõ.

___________________________________

1.

Hứa Qùy: Người thời Minh Thành-hóa.

Có mưu lược, làm tri huyện Lạc-lăng, bình giặc cỏ có công (Lạc-lăng tại tỉnh Sơn-đông ngày nay).

2.

Tra chẩn: Tra xét nhân số và chẩn cứu người nghèo.

3.

Vu Khiêm: Binh bộ thượng thư đời Cảnh đế nhà Minh, Lã Viễn người Mông-cổ xâm lược Trung-quốc, bức đến kinh đô.

Vu Khiêm chống cự đuổi được.

Có mấy điều cấm ước cần phải bày tỏ: Cấm nói ngoa, cấm phương sĩ1, sợ vì phiến hoặc quân chúng mà tiết lộ sự tình.

Cấm hàng trà, cấm quân trọ, cấm đi đêm, sợ là chỗ chứa kẻ gian mà rủ trộm cướp.

Cấm thổi kèn thổi còi, dựng cần dựng nêu, sợ là hưởng ứng theo giặc mà làm loạn tai mắt.

Cấm động càn, cấm kêu la, sợ là giặc làm cho ta sợ, mà thừa dịp.

Cấm lìa bỏ khu vực đóng quân, phàm cửa, rào, đài, nữ tường, kho, ngục, trung dinh, du dinh, cơ dinh, chiến dinh, những chỗ phải dừng, đi quá một bước thì chém, để cho thống nhất dân chúng.

Cấm tự tiện vào khu vực đóng quân, sợ gián điệp của giặc thác nghề buôn bán để dò xem tình hình.

Cấm mở riêng cửa ngõ.

Cấm trả lời riêng cho giặc.

Cấm gửi riêng thư cho giặc.

Ai phạm cấm thì chém, quân pháp càng nên nghiêm ngặt.

Giữ đã bền chắc rồi, mới có thể chống giặc.

Phương lược chống giặc là: khao thưởng để cổ võ quân sĩ; chúng cam khổ để củng cố quần chúng; cẩn thận xét canh để phòng có động; hậu đãi trinh gián để biết tình hình địch; kén tử sĩ làm thân binh để đàn áp; đặt du binh thay phiên nhau để sách ứng; đóng binh ngoại ở nơi quan yếu để dựa nhau.

Phàm thấy giặc đến, thì mọi người đều phải giữ nữ tường, có báo động thì luân phiên nhau mà giữ, không báo động thì luân phiên phau mà tuần; chuyền cơm cho nhau và thay đổi nhau để ngủ, đều phải ở luôn chỗ mình.

Phàm ỉa đái thì chứa lấy, đem đun nóng mà tưới vào địch.

Đá thì theo từng loại mà chứa, hòn lớn để xô hòn nhỏ để ném.

Tro thì vãi cho giặc mù mắt.

Chòi lầu lấy bùn mà trát để phòng sự đốt cháy.

Để sẵn giấy mực mà phòng khi hoãn cấp dùng đến.

Luôn luôn đi tuần để xét sự sơ hở.Phạt cho tin, thưởng cho đúng, cốt để gây hùng khí cho quân.

Phàm dùng thuật giữ thành, tâm phải một, khí phải mạnh, sức phải nhàn, chân phải định, tiếng phải tĩnh.

Trí cùng biết mà cùng chết, thì tâm là một.

Biết đánh khó mà giữ dễ, thì khí mạnh.

Giữ một dặm không bằng giữ một trượng, giữ một trượng không bằng giữ một thước; càng xa thì chỉ tổ nhọc, càng gần thì đắc lực; ở ngoài mười bước không uổng tên đạn, thế thì sức nhàn.

Giặc đánh đông nam thì ta phòng tây bắc, du binh ứng bốn mặt, thủ binh đừng thay đổi, đều chết ở chỗ mình, không lìa 5 thước.

Thà ta khiến người đến, đừng để người khiến ta đến, thế thì chân định.

Tiếng loạn thì không nghe được hiệu lệnh, tiếng ồn thì không nghiêm được tâm chí, tiếng rối thì quân giặc đắc kế.

Tay chỉ miệng nói, không làm huyên náo, đêm thì mõ canh, ngày thì cờ xí, như thế thì tiếng mới tĩnh vậy.

Hình 51.

Cửa thành

_____________________________________1.

Phương sĩ: Những người làm các nghề thuật số, thầy bói, thầy tướng v.v...

Phàm giặc đóng ở thành, là lấy nhàn mà đợi sự nhọc của ta, lấy no mà đợi sự đói của ta, lấy bền chắc mà đợi mũi nhọn của ta, lấy nhởn nhơ mà đợi sự phòng của ta; nói phao giải vây để yên ý ta; nói phao tăng binh để đoạt khí ta; khi động khi tĩnh để làm mệt chí ta; hoãn tiến tán xung1để làm hao sức ta; đắp luỹ thêm rào để làm nản trí2 ta.

Ta chỉ nhất định tỏ là không sợ, rút vây ta không mừng, đánh gấp ta không run; tỏ nhát ta không tiến; rút quân ta không theo; ước hòa ta không tin; giả gây hấn ta không lấy làm lợi; chợt lui quân ta cũng không trễ nải; giữ lâu ta cũng không ngã lòng; có đợi thì ta không ra.

Hễ chạy thì chết; có viện thì sống.

Phòng địch không gì trọng bằng cửa, đóng cọc ở ngoài để phòng địch đốt; đào hố ở trong để hãm quân giặc thừa cơ xông vào; treo ván ở trên để dụ địch vào cho ta bắt.

Phàm cách làm cửa nên phòng hỏa công; làm lỗ để chĩa súng và giáo ra thì kẻ tới đánh không dám xông vào trước; làm ao ở trên để chứa nước thì lửa không thể đốt được; bằng lửa đã cháy rồi thì đem chum nước mà ném xuống, hoặc dùng túi đựng trấu cát thấm ướt mà đè, hoặc làm thêm thành bán nguyệt đào ao to để cách ra.

Đó đều là cách phòng nguy cấp, chứ không phải là chỉ dùng đá xây đất đắp để tự lấp mình mà chống giặc đâu.

Phòng địch lại không gì hay bằng nữ tường.

Phép dùng nữ tường, dùng chăn chiên chăn bông xấp nước mà treo lên, để chắn tên và chống lửa, hoặc trên treo gỗ nhọn hay dùng rèm che ngoài, phòng khi giặc lẻn đánh úp và trèo thang.

Phên treo và da trâu để chống giặc bên ngoài vào, và tạc thủng giữa để thò mũi tên ở trong bắn ra, tùy theo hướng đánh mà căng màn vải thì tên đạn và xe xông cũng không thể phá hỏng được.

Nếu phá hỏng nữ tường, thì lấy gỗ vần đến để thay nữ tường; nếu lại phá hỏng đến thành, thì kíp làm rào phên mà chống đỡ, lấy giáo và nỏ cứng mà giữ, không thì thêm lửa đốt và kíp đắp thành bán nguyệt để che, ở trong thì đào hào sâu để giữ, thế thì giặc không thể hại ta được.

Hình 52.

Nữ tường gỗ

Cửa và nữ tường đã bền chắc rồi, thì phải chuyên phòng gian, phàm kẻ gian sinh ra có khi là người bị vây ở trong hay ở ngoài.

Ta nên trước yên ở trong rồi sau mới đến ngoài.

Khi giặc đã đắc chí thì bọn gian hẳn theo giặc vào, thừa cờ mà cướp bóc, làm lo sợ cho cùng dân.

Vậy ta nên mở kho cấp lương cho dân, trao giáo cho dân, thì những dân cùng cũng giúp được việc vậy.

Quân giũ Bắc-môn, vì thích làm quan mà bị nguy, cửa lũy Quy-châu, vì đám cưới mà mở, thành Nhữ-châu thì vì người ứng mộ đắp đất mà bị vỡ.

Đó là kẻ gian nội ứng vậy.

Chọn người thân tín để dùng; thêm then khóa ở ngoài để giữ cho vững, thế thì nội ứng bị chẹt.

Vây giữ đã lâu thì lòng người không nghĩ được bền, một kẻ trèo dây xuống, mọi người sinh ngờ sợ, hoặc hiềm khích với ta, hoặc thông với địch để bày mưu kế.Đó là kẻ gian lìa phản vậy.

Đặt lệnh nghiêm về việc thất hỏa, chuẩn bị sẵn sàng những đồ cứu hỏa, giữ kho thuốc súng, giữ nhà chứa cỏ, đó là cách ngăn ngừa sự biến vậy.

Hình 61.

Phên treo

_________________________________1.

Hoãn sự tiến cho chậm lại; tản sự xung đột cho nhẹ đi.

2.

Để khiến trí trễ biếng đi mà mất cảnh giác.

Ngục là chỗ sinh biến cố; kho là nơi nhử cướp đến; cửa hông đường tắt là mối đưa giặc vào.Cần phải trừ bọn ác nghiệt đi.

Quân gian tự ngoài đến không những do gián điệp đâu.

Có kẻ ngụy mạo, có kẻ úp ngầm, có kẻ trá dụ.

Như Loan ngồi xe đàn bà mà vào Khúc-ốc; người Man mặc áo quân vua mà hãm thành Kiện-vi; Huy bắt chước cờ Thục mà đánh được Cảnh Sùng; giặc xưng là trung sứ mà vào U-châu.

Thế gọi là ngụy mạo.

Nhân đêm tuyết mà vào nước Thái, nhân sương mù mà phá Giáp trại, đó là nhân tối tăm mà đánh úp.

Đầu năm phá Tú-dung, chiều mồng một tết cướp Côn-lôn, đó là nhân ngày tết mà đánh úp.

Thang dựa ngoài thành mà Hoa-châu bị nguy, mười sáu quân kỵ vào mà Long-đức bị phá, đó là nhân lúc không phòng mà đánh úp.

Thế gọi là đánh úp ngầm.Giả cách lui mà tiến thực; đã đi mà trở lại; tiếng trước mà chụp sau; cầu hòa để chuẩn bị; giả hàng để đặt gián điệp.

Thế gọi là trá dụ.

Lệnh nghiêm thì ngăn được ngụy mạo; phòng mật thì giữ được đánh úp; vì trọng thì chống được trá dụ.

Tuy nhiên, giặc đánh ngoài không những chỉ có âm mưu mà thôi.

Lại còn hiểm thuật nữa.

Đánh theo hiểm thuật có 12 điều:

1.

Thổ sơn, 2.

Đăng đạo, 3.

Điền hào, 4.

Vân thê, 5.

Mộc lư, 6.

Địa đạo, 7.

Chàng mộc, 8.

Câu cạn, 9.

Nghĩ phụ, 10.

Pháo thạch, 11.

Hỏa công, 12.Thủy công1.

Phép chống cự thì như sau đây: Núi ngoài địch đã đắp rồi, thì ở trong cũng đắp núi mà ứng lại, đắp lên càng cao, để chế ngọn núi ở ngoài tức là chế rõ; hoặc là làm đường dưới đất cho đi ngầm tới, khiến núi đất kia sụt mà không đứng được, tức là chế ngầm ở dưới.

Đó là phép chống thổ sơn.

Địch chồng túi đất và chứa củi để làm bực mà lên, thì ta lẻn đem cỏ khô pha lẫn nhựa thông, nhân gió đốt vào thì đống chất của họ hẳn đổ.

Đó là phép chống đăng đạo.

Địch đánh lấp hào, thì ta dùng đất bọc cỏ ném xuống như mưa, hay đun cầu xe, trong chứa củi đất, vừa tiến vừa đổ, vượt sang không ai cản được, nếu có sẵn thì lấy thuốc súng làm chủ, ném ra như sao, tung ra như bão, địch thua mà rút lui.

Đó là phép chống điền hào.

__________________________________

1.

Thổ sơn: Núi đất đắp ở ngoài thành để leo lên mà nhìn vào trong thành và nhân đó mà trèo lên thành - Đăng đạo: Bực đắp để trèo lên thành – Điền hào: Lấp hào để đi qua cho dễ - Vân thê: Dùng thang mây mà trèo thành - Mộc lư: Dùng lừa gỗ mà lấp hào và đào thành - Chàng mộc: Gỗ để húc - Câu can: Cần móc - Nghĩ phụ: Leo thành như kiến leo - Pháo thạch: Súng đạn - Hỏa công: Đánh bằng lửa – Thủy công: Đánh bằng nước.

Thang mây tung trời, thì ta căng chăn ướt ở trên.

Địch chở nhiều lính giỏi trong xe phần ôn, chở theo đất củi để lấp hào thì làm thế nào?

Rằng liệu xem thế có thể đốt thì dùng tên lửa là hơn.Hoặc địch dùng lối đục tường thì ta dùng ba thứ khí cụ, một là câu (móc), hai là chùy (dùi), ba là liệu (đuốc).

Nếu không chống được thì phải đào ao thông với đường ngầm và chứa cỏ khô, ngầm hãm mà đừng đốt, hễ nặng thì sẽ sụt xuống, đánh trống bắn theo, lửa cháy rực trời, xác giặc thành đống.

Đó là phép chống vân thê.

Thang cao đã hỏng, địch hẳn dùng mộc lư(lừa gỗ) che bằng da trâu sống, 10 người lính một xe, đến thẳng chân thành, vừa cuốc vừa bừa, thành đổ xuống hào, tên đạn không làm gì được, thì làm thế nào?

Rằng phải bó lau tẩm dầu, xòe như đuôi én, ném ra mà đốt có thể cháy hết ngay; nếu da ướt không cháy thì dùng sắt vụn đốt ở lò mà tung ra, như muôn hột châu dùi thủng vật dày bền, phút chốc tan nát, pha lẫn dầu mỡ thì lửa bốc càng cháy to.

Đó là phép chống mộc lư.

Đánh ở trên đã cùng, địch lại đánh ở dưới, bèn mưu dùng đường ngầm, đào đất để làm hại, mổ xoi trong đất làm cho tường đổ vách nghiêng, thì làm thế nào?

Rằng dùng núi để chống núi, thì dùng hầm để chống hầm; quanh thành đào nhiều lỗ, đặt cong mà nghe, nếu nghe tiếng oang oang thì đào hầm để đón, tung tro tung khói khiến nó như chuột bị hun, nó biết có phòng thì bỏ không làm nữa.

Đó là phép chống địa đạo.

Đánh thành đã không xong, địch toan mưu đánh nữ tường, vừa húc vừa móc, vừa leo lên vừa bắn súng, bốn việc ấy đều thi hành cả, chủ nhân thảng thốt thì làm thế nào?

Rằng nếu địch đem gỗ húc mà đến, thì nên dùng cần móc mà cắt cho dây đứt gỗ rơi thì kế ấy không thì hành được.

Nếu địch dùng cần móc mà đến, thì lấy dao xô mà chống, lưỡi dao cong quay ra ngoài, chuôi dài thòng xuống chìa lưỡi ra mà chống, lưỡi dao phải nên sắc.

Còn như chống địch leolên thì có nhiều cách: dùng dây móc kéo ở trên cho ván đinh xán xuống, lăn đá ném cây như mưa xuống; gấp thì dùng búa nặng bổ vào kẻ leo gần, xa thì dùng chông gai mà cản.

Còn chống súng đạn, thì lấy mềm mà chống cứng, căng màn chăng lưới, gầu vải túi lương, che bằng da trâu, vá chỗ tường vỡ.

Đó là phép chống bốn lối đánh trên.

Hình 53.

Gỗ húc ở trên xe húc

Dám hỏi cách chống hỏa công thì làm thế nào?Rằng khi giặc đem lửa mà đến, hoặc dùng xe cao để vạc trên lò đốt cho dầu sôi, chứa củi thổi thêm, nếu dội nước thì càng cháy to, có thể sợ đốt lầu, thì ta nên ném cát ướt và nước bùn; hoặc địch dùng bó cành thông tẩm dầu mà đốt lầu, thì ta dùng câu liêm sắt để cắt bỏ đuốc; nếu lửa đã cháy tới nơi thì dùng nước mà tưới, hoặc thùng hoặc túi, dội cho đến tắt, nếu chậm thì nguy, ăn năn không kịp.

Đó là phép chống hỏa công.

Dám hỏi: Giặc đánh thủy công thì làm thế nào?

Rằng đánh thủy công, vì thành ta thấp, ta phải lấy ván chắn lấp, không chịu phải làm tôm cá; kíp mộ những người lội giỏi, đem thuổng, đi thuyền ban đêm, ngậm tăm mà phá đập túi cát, trại giặc vỡ loạn, đánh luôn mà đừng la ồn.

Đó là phép chống thủy công.

Người hỏi nhận là phải.

*

* *

Người giữ giỏi thì giữ đồng quanh thành; người giữ không giỏi thì giữ thành quách.

Quân kỳ quân chính bổ sung cho nhau, như vòng tròn không mối.

Chỗ nào có thể đánh bất ngờ thì sai quân trông nom; chỗ nào có thể cho du binh tới, cất chặn đường lương, chỗ nào có thể phục quân, có thể đánh giặc sang nửa chừng, ngoài quân bộ kỵ đóng đồn thì chia giữ những nơi yếu hại để cùng ứng với thành; địch bị hiếp cả trước và sau thì phải cướp lương cướp củi, khốn lâu phải thua.

Đất là để nuôi dân, thành là để giữ đất.

Chăm làm ruộng thì dân không đói, chăm giữ thành thì đất không nguy, chăm đánh thì thành không bị vây.

Trung quân và tả hữu tiền hậu các quân đều có phần đất, bốn bên làm tường, không cho đi thông qua lại.

Tướng có phần đất, súy có phần đất, bá có phần đất, đều phải đào hào đắp thành mà phải nêu rõ hiệu lệnh của trại, khiến không có đủ trăm người thì không được đi qua; không có đủ một trăm người mà vào, thì bá phải giết đi, bá không giết thì bị đồng tội.

Trong quân đường ngang đường dọc, cứ một trăm hai mươi bước thì lập một cái trụ, tính số người và đất mà đặt trụ trông nhau, cấm giao thông riêng, không có tiết phù của tướng lại thì không được đi thông.Những người kiếm củi lấy cỏ chăn trâu đều phải đi thành hàng ngũ, không thành hàng ngũ thì không được đi qua.

Lại thuộc không có tiết quân sĩ không có ngũ mà đi ngang cửa là giết, đi quá phần đất là giết.

Cho nên trong không có người can phạm lệnh cấm và ngoài không bắt được kẻ gian.

Phép giữ đất, lấy tráng nam ở trong thành làm một quân, tráng nữ làm một quân, người già yếu làm một quân.

Ba quân không cho được gặp nhau.

Vì tráng nam mà gặp tráng nữ thì phí sức mà sinh ra lòng gian, chí phân tán mà sức không chuyên, cường tráng mà gặp già yếu thì người già làm cho người trẻ buồn, người yếu làm cho người mạnh thương, buồn thương ở lòng thì khiến người dõng sinh lo, người tráng không đánh.

Cho nên người khéo giữ thì địch không biết đánh vào đâu.

Người thủ bị không thể không cẩn thận.

Người khéo giữ thì như cái vòng, khiến địch không có chỗ nào hở mà lẻn vào được.

Phàm người ta giữ thân thể mà huyết mạch qua lại lưu thông cả tứ chi thì được yên khỏe.

Nếu có một mạch không chạy, một khí không thông, thì chưa có ai là không bị bệnh.Thế nên người dùng binh giỏi, tuy quân đóng bốn mặt, nhưng khi cấp nạn thì đầu đuôi vẫn ứng được với nhau không cùng.

Thế mới là diệu.

Đất ở một phương, ở trong một cõi, ở khoảng một thành, chia quân mà giữ.

Đất trọng yếu thì phải đóng nhiều quân; không thì phải lường tính số người nhiều ít, quân lính mạnh yếu; quân bộ quân kỵ, trừ nơi trung dinh của đại tướng ra, ngoài đều chia đất đóng riêng.

Thế thì những nơi phòng ngừa không bỏ trống.

Địch đến đánh úp, bốn mặt đều biết cả, lúc gấp thì phải đem quân trung dinh tới đánh, chứ các dinh khác thì không thể giảm bớt, vì sợ địch đánh ở một nơi mà đem quân đánh úp nơi có giảm bớt.

Chỗ đất dừng đóng thì phải đi quanh xem xét bốn mặt; nên kén những người tâm phúc mạnh dạn cho đem quân bộ kỵ để chống bốn mặt xung yếu, số người tùy theo nhiều ít, khiến tuy không có giao ứng mà có công dụng của chỗ xung yếu vậy.

Thành càng lớn thì giữ càng dễ1.

Chia ra từng đoạn, làm nhiều ngăn cách thì dễ giữ.

Nếu đã giữ, thì trước phải tính đặt những nơi hiểm mà phục binh, khiến giặc muốn lên thành dù lên được thì hễ lên là chết, giặc muốn vào thành dù vào được thì hễ vào là chết.

Quân giặc dùng pháo đánh thành, người chống giữ cũng phải dùng pháo.

Ở trong cửa thành thì hẳn khó yên, pháo lớn cũng khó dùng được số nhiều; tuy có pháo đài, mà chỗ ở đài cũng không rộng lắm; lại pháo vừa muốn bắn thì quân địch ở ngoài thấy trước hẳn dùng nhiều pháo mà đánh; lại trên thành pháo phải ở chỗ cao, tự nhiên vời giặc, ở ngoài giặc cứ chiếu thẳng vào đấy mà bắn.

Lấy thế mà xem, thì người chống giữ không thể dùng pháo là rõ vậy.

Ví như dựng pháo ở dưới chân trong thành, mà trước mỗi một cỗ pháo thì chôn gỗ để che cho giặc ở ngoài không trông thấy chỗ đặt pháo, dẫu có tay bắn giỏi cũng không bắn vào được.

Có người nói rằng pháo ở trong thành thì pháo thủ không thể thấy được ở ngoài thành, lấy gì làm chuẩn đích?

Mỗi cỗ pháo nên dùng riêng một người đứng ở lỗ thành, chuyên xem pháo ở trong, nếu thấy pháo nhắm vừa đúng với vật ngoài thì bảo bắn, nếu hơi xiên thì bảo phải thử quay pháo đi; nếu xiên nhiều thì bảo kéo pháo chuyển đi, rồi nhắm lại mà bắn cho trúng, cho ít trật.

Lại trong thành có thể đặt nhiều pháo.

Chống giữ bằng pháo thì chỉ có như thế thôi.

Có kẻ hỏi: Lấy gì mà chống ở ngoài thành?

Dưới chân thành tự có tường mặt ngựa2, hai bên đều trông thấy chân ngoài của thành.

Ở đầu tường ném xuống những thứ giết giặc.

Quân giặc mới đến dưới thành, xem khí thế của giặc khó chống được, thì nên khiến ở dưới chân trong thành, đào một lần hào cho sâu, cách ngoài hào vài trượng đắp một lần thành nữa, đối với cửa thành cũ lại không làm cửa, mà lại ở dưới thành mới đắp đi theo hào trong chừng 2, 3 dặm rồi mới mở cửa để cho người vào thành lớn thì không đi thẳng được, phải theo bờ hào trong đi quanh dưới chân thành mới 2, 3 dặm mới vào cửa được, như thế thì giặc dù giỏi lấp hào chẳng qua chỉ lấp được hào ngoài, hẳn không lấp được hào trong.

Nếu giặc do cửa mà vào thành thì phải đi quanh bờ hào trong dưới chân thành mới, quân ta ở trên thành mới trông xuống giặc, vật gì mà chẳng dùng được, chính đó là đất chết của giặc, hẳn giặc không dám vào.

Đã do cửa chính vào thành mà lại còn không dám vào, thì còn vâng mệnh đánh thành sao được.

Chỉ phòng bị như thế thì nếu quân giặc rất nhiều, đánh hàng trăm cách, ta ở trong thành cũng có thể cười nói mà đuổi nó đi.

Cách giữ thành chẳng những mở các cửa to, mà ở khoảng giữa hai cửa lại mở 2, 3 cửa nữa, cả quanh thành có vài mươi cửa, mỗi cửa đều cho chở thổ mộc tự trong thành ra ngoài, lấp hào làm đường cho quân ta ra vào không trở ngại.

Ta ở trên thành, trông thấy quân giặc đi tuần, thừa chỗ tiện lợi cho quân ra đánh giết, hoặc đêm cho quân ra, khiến giặc ở ngoài phải phòng bị, ngày đêm không lúc nào được nghỉ, thế thì giặc không thể nào đánh lâu được.

Vả lại ta ở trong thành mở cổng thành ra lấp hào không phải là coi thường giặc, mà vì tự ta phải đặt hiểm cho đủ để nếu giặc vào thành thì phải chết.

___________________________________

1.

Có lẽ là càng khó thì phải.

Sách Võ bị chế thắng chí, chương “Thành chí” nói: Thành không nên lớn, lớn thì khó giữ.

2.

Có lẽ là tường dê ngựa.

Đài địch không thể làm theo lối cũ.

Nên ở trên tường mặt ngựa1 đắp tường cao dày, dưới để lỗ hình chữ phẩm(品) rộng 1 thước để trông dòm và đâm thương.

Gần dưới chân tường lấy gỗ nhỏ làm cái giá lợp ngói cho người chống giữ tránh nắng lạnh mưa gió.

Nóc nhà ở trong tường phải thấp, thì ở ngoài dù bắn nhiều cũng không đụng.

Lại trên hào làm cầu, trong cầu lại có cầu treo, tạm thời ngăn địch cũng được.

Lúc xuất quân thì không thể không trở ngại, nên làm cầu máy thì quân ta ra vào đều tiện.

Cửa thành nên làm quanh co khúc chiết, phía sau vào thành phải cách hơn 100 bước, không những súng đạn giặc không bắn tới, mà nếu giặc do chỗ cửa thành cũ mà vào, hễ đi một bước vào trong thì giặc phải sa bẫy, vì là trong trăm bước, trên dưới hai vách thành đều có thể đặt những đồ mà người đánh giặc cần để giết giặc.

Trước cửa cũ thì đắp ngang một cái tường hộ môn cao hơn 1 trượng, hai đầu che quá cửa 2, 3 thước, để khi mở cửa đóng cửa cho người ngựa ra vào thì người ngoài hào đều không trông thấy, thế thì ai còn dám rình ngó!

Dưới chân thành ngoài, cách thành 2 trượng thì đến hào, trên bờ hào đắp tường dê ngựa cao dày, cao 1 trượng dày 6 thước, dưới chân trong tường cũng đắp cái tước đài cao 2, 3 trượng, rộng 4 thước, tước đài và tường dê ngựa cũng đều chừa lỗ hình chữ phẩm(品) để dòm ngó và đâm thương, cũng như đầu nữ tường ở trên thành lớn.

Trên tước đài, thì chôn gỗ, để phòng giặc lấp hào và phá thành dê ngựa.

Nếu giặc đến dưới chân thành, thì giặc hai mặt bị đánh, trên tước đài và dưới thành lớn cùng bắn ra.

Thế là giặc chỉ đánh một mặt mà quân ta ba mặt chống lại.

Trong tường dê ngựa thì quân ta nhờ tường ấy ngăn đỡ súng đạn ngoài hào, thế là tường dê ngựa cùng với thành lớn, hai thành đều dùng, khiến giặc có phá được tường dê ngựa cũng không dám vào.

Cho nên tường dê ngựa so với thành lớn, dù rất thấp mỏng, nhưng cái công chống giữ bền chắc thì cũng chẳng kém gì thành lớn.

Lại lính đóng trong tường dê ngựa đó chính là mở thành đặt trại để lưu quân phục, chẳng biết quân giặc có thể dùng cách gì mà giải!

Như thế đã có tường dê ngựa thì có thể không phải dùng chàng nạng gạc nai nữa.

Lại nên đặt nhiều cửa ngầm ở mình thành lớn để cho quân mình ra vào ở tường dê ngựa.

Tường dê ngựa chỉ cách chân thành lớn 2 trượng, không nên xa quá sợ ở trên thành lớn ném gạch đá xuống khó qua, rơi vào trong tường mà hại người mình, và cũng không nên gần quá, sợ chật hẹp khó quay thương.

Lại ở trong chân thành lớn đào hào trong sâu rộng, trên mặt hào đo để đất độ 5, 7 thước làm đường đi lại, ở ngoài thì đắp thành bài, để sẵn nhiều gỗ mà dùng khi giặc cướp thành.

Thiết bị như thế thì dẫu giặc đánh giỏi cũng không đủ sợ.

Hình 59.

Chàng nạng

______________________________________1.

Chỗ khác gọi là tường dê ngựa.

*

* *

Sách Võ kinh tổng yếu1 nói về phép giữ thành; Nếu giặc cướp sắp đến cách ngoài thành 500 bước, đều phải đẵn hết cây phá hết cầu, dỡ nhà, lấp giếng, có suối thì đều bỏ thuốc độc xuống, đá gỗ gạch ngói, rơm cỏ lương thực, súc vật và đồ đạc của cư dân, đều dời hết vào trong thành, nếu dời không kịp thì đốt đi...

Phàm kho tàng chứa để, lầu sàn, cánh cửa, khung cửa, và những nơi lửa có thể cháy tới, hết thảy dùng chăn trùm lên và lấy bùn mà trát; dưới sàn lầu thì tùy nơi chứa những gỗ đá, mác búa và các đồ đoản binh khác, ngoài thì dựng xe nỏ, giá súng, ở trên lầu sàn và nữ tường thì che rèm dầy và phên tre.

Trong thành thì dựng vọng lâu.Biên số dân tráng nam làm một quân để sung làm binh, tráng nữ làm một quân, để làm việc tạp, già yếu làm một quân để giúp vào việc ăn uống, chăn nuôi, kiếm củi; ba quân không được qua lại thăm hỏi nhau.

Những người trí khôn sức mạnh, mưu cơ tài giỏi, nghề khéo nói hay, như loại làm giả gà kêu chó cắn, không người nào là không kính nể để phòng sau dùng.

Mỗi tướng trên thành đều lập một người điển chưởng để tìm gọi trăm thức vật dùng.

Trước hết phải làm vài mươi cái cờ nhỏ, có tìm gọi vật gì thì viết to tên vật ấy dán lên cờ giơ lên bảo cho người dưới thành biết.

Lại kiểm xét trước những vật cần dùng, đều chia làm từng bộ phận, sai lại viên phụ trách cẩn thận rình xem, thấy cất cờ lên thì phải ứng ngay mà đưa lên thành.

Dưới thành cứ trăm bước là cấp ba hay năm mươi người tạp dịch giữ việc khiêng vác các vật tìm gọi ấy, đều giao cho một viên quan đốc lãnh.

Đường sá đêm đi thì phải đốt đèn đuốc để ngừa kẻ gian ra vào và quân sĩ qua lại riêng với nhau.

Lường tính ở trên thành 1 bước thì đặt một giáp sĩ, 10 bước thì thêm 5 người phòng lúc bất thần rút đổi; 5 bước có một ngũ trưởng, 10 bước có một thập trưởng, 100 bước có một người tướng.

Sai riêng ngu hậu lãnh chiến, làm thẻ thư hùng cho cầm để đi tuần trong thành, đến đâu phải đưa cho người thủ đội khám hỏi rồi mới được đi qua.

Nếu thế giặc ở ngoài mạnh, mà lòng quân ở trong chia hai, thì hoặc chuyển tả đội để làm hữu đội, đổi tiền quân đặt làm hậu quân, hoặc một ngày mấy lần đổi, hoặc mấy ngày không thay đổi; lại cất lẻn cho người cầm thẻ ngụy đi tuần để thử xem tướng sĩ có biết hay không....

Phàm ở trong thành, những vật cung cấp hàng ngày, cho đến nước nôi, đều phải có hạn lượng.

Khiến dân mỗi nhà làm một cái giếng chứa nước mưa ở trên cao để phòng cháy và trước xuống lệnh rằng ai để thất hỏa thì chém, chính đó là cách phòng ngừa kẻ gian.

Hoặc khi trong thành có cháy, thì chỉ sai quân lại phòng hỏa lãnh dân đinh đến cứu; lại cấp báo cho chủ tướng, chủ tướng sai người thân tín tả hữu kíp đến.

Phàm ở trong thành có thất hỏa và có việc báo động phi thường thì chủ tướng sai đánh năm hồi trống, quan và quân trên dưới nghe trống không được lìa bỏ chức chưởng, dân không được chạy ra đường ngõ.

Phàm giặc đến ngoài thành thì cấm trong thành không ai được dựng vật gì cao như loại cây sào cây nêu và không được thổi đồ nhạc khí, sợ làm nội ứng cho giặc.

Phàm ở trong thành có sứ giả đến thì đưa đến chủ tướng, các tướng nhỏ và quan dân không được tiếp kiến; như được thư bay ở trong thành thì không được đọc phải cầm đưa cho người có trách nhiệm ở bản dinh, để nguyên phong đưa trình chủ tướng.

Phàm có người hiểu biết thuật số tinh khí thì hết thảy thu về quan nha, không cho nói trộm cùng người khác và cấm bàn nói những chuyện quái dị, làm mê hoặc quân chúng.

Phàm hiệu lệnh đã ra, chủ tướng và phó tướng trở xuống không ai được tự ý chỉ huy khác đi, hết thảy phải y theo điều kiện ước thúc.

Thanh dã.

Phàm trăm họ ở bốn cửa vào thành lánh nạn, hết thảy những của riêng ở ngoài cửa, trừ những số đã dỡ đem vào trong thành rồi, còn cây dài, ván lớn, chiếu mỏng, gỗ sắt, rơm củi ở bếp, đừng để lại một cái gì, một là chỉ để cho giặc đốt phá uổng, hai là giặc có thể mượn lấy để làm đồ đánh thành, ta phải muôn phần cẩn thận.

Ngoài thành có cây to thì đẵn đi, gần thành càng nên đề phòng.

Ngoài thành trong 3 trượng có nhà cửa, thấy giặc đến thì dỡ đi, không kịp thì đốt đi.Hễ vách bằng gỗ thì một lần đốt là cháy hết, tức thì có thể đốt được; hễ là tường gạch đá, giặc ở xa thì không phục vụ giặc, những giặc ở gần thì dỡ phá không kịp; nếu như giặc lấy số độ trăm người cho phục ở ngoài nóc nhà mà bắn đánh người giữ thành, hay là giặc cho quân vào trong mà phá thông tường vách, bắc thang bắc gỗ ở dưới thành, có thể leo lên thành được, hay là giặc vào trong nhà mà vận đất đắp, làm bực mà lên thành, những cái đó ta đều không thể làm sao được.

Nếu có nhà ở gần thành trong 1 trượng, thân thành lại thấp hơn nóc nhà, thế là thành không giữ được.

Hàng hóa tre gỗ ở ngoài quách, nếu không dời đi, thì đều làm đồ đánh thành cho giặc cả, nên báo cho các lái buôn, hàng đã đem lên bờ rồi thì y số chở ngay vào thành để bán, còn hàng ở dưới nước thì đều phải dời đi ra ngoài 50, 60 dặm, tạm ẩn vào các kênh nhỏ, chờ khi giặc lui rồi sẽ buôn bán.

Nếu trái lệnh thì sung vào nhà nước để dùng.

Còn nhà giầu ở các hương trấn ngoài thành chứa gạo ở nhà, và những nhà đong chứa để chờ giá, thì hễ lý bảo sở tại nghe được tin báo động, phải nghiêm bắt vận tải vào thành, cho nhân dân đong chứa, chỉ cho đem vào thành bán, không được mang một hột ra ngoài.

Những kho công vận chở đã hết, thì quan phụ trách bắt lương trưởng đong gạo vào kho.

Như có kẻ nào không chịu chở, để gạo ở làng cho giặc lấy, thì gạo ấy tịch thu ngay để làm lương nuôi lính giữ thành.

Lại tra xét các nhà giầu có ai đem trâu rượu tiền của mở cửa đón giặc, thì đó đều là thông đồng với giặc, chiếu theo pháp luật chém bêu đầu.

_______________________________________

1.

Xem thêm sách Võ bị chế thắng chí, chương “Ước thúc”.

*

* *

Sách Võ bị chế thống chí:

Phái dân phu.

Những người buôn rau, bán nước, làm thuê và côn đồ nghèo, sớm lại chiều đi thì miễn biên.

Từ 60 tuổi trở lên, không có con, vợ chồng già, lại không nhà ở, không người sai khiến thì miễn biên.

Vợ goá từ 15 tuổi trở xuống, con dại, lại không có nhà ở và người sai khiến thì miễn biên.

Những người mắt lòa, tàn tật, yếu đuối, lại không có nhà ở và người sai khiến thì miễn biên.

Người nào ngẫu nhiên ốm thì không cho miễn.

Mỗi ụ phải dùng 2 người hay 3 người, luân phiên nhau mà ăn cơm và khuân chuyển các vật liệu; nếu chỉ có một người thì làm sao đứng một ngày một đêm mà không mỏi mệt, giặc nhân lúc mỏi mệt mà đánh thì lấy sức đâu mà chống?

Tổng kê các ụ ở thành có bao nhiêu quân, trong thành hoặc quân hoặc dân và nhân đinh bao nhiêu, mỗi ụ hoặc 2 tên hoặc 3 tên, viết tên họ vào tường ụ, một ngày một đêm luân ban thay đổi, tại mỗi 100 ụ hoặc 50 ụ, xét người giàu có hữu dụng chọn lấy một người làm giáp trưởng, một người làm phó, áo xanh thắt buộc gọn gàng, đeo một cái đao, tay cầm một lá cờ hiệu, còn các dân phu thì đều mặc sẵn một áo hiệu hoặc đỏ hoặc vàng, cầm một ngọn đao thương, lại một cái búa sắt hay một chuỳ sắt cũng được, như thiếu một cái cũng không trách.

Như số binh đinh thặng nhiều thì phái thêm vào nơi xung yếu

Định thời giờ.

Phàm những khi chưa có báo động, mỗi buổi sáng sớm thổi kèn và đánh trống một hồi, người giữ thành xuống thành, mỗi buổi chiều thổi kèn đánh trống một hồi, người giữ thành lên thành.

Khi có tin tức thì trên lầu đánh ba tiếng trống, các nhà nhất tè ra cửa, lại nổ ba tiếng pháo, các nhà nhất tề lên thành, lại nổ ba tiếng pháo, các nhà đều tới ụ và phần đất đứng cho đầy đủ.

Lần thứ hai nổ pháo phải đợi cháy hết một cái hương; lần thứ ba nổ pháo xong, lại để cháy một cái hương, rồi đánh chuông 360 tiếng.

Quan thống suất đều chiếu phần đất của mình mà tra xét có người nào không đến thì lấy quân pháp xử trí.

Chia đóa ngũ.

Năm ụ làm một ngũ, đặt một bài gỗ, ở trên viết cả tên họ các người.

Mỗi đêm mỗi người giữ một trống canh, trông nhìn ra ngoài, thay nhau lần lượt.

Thường có 4 người nằm nghỉ, tinh lực không mệt, hoãn cấp có sẵn.

Mỗi canh đặt một lá cờ nhỏ, trên cờ dán những tên họ của người tuần đêm, ví như Triệu Giáp canh một, Tiền Ất canh hai.

Người canh tuần cầm cờ ở tay, chỉ nhắm trông năm cửa ụ xem dưới thành có người gian tế hay không.

Một khi có giặc đến thì gọi những người đồng ngũ thức dậy, cầm bình tro, cục đá, khí giới để đánh.

Cứ năm ụ thì làm một rạp, chọn một người tuổi trẻ can đảm làm trưởng ụ.

Chia phần đất.

Xung quanh thành đại thế bốn cửa thì có bốn quan, bốn góc lại chia bốn quan để thống lãnh các đài; mỗi đài lại chia cho một người đầu mục, quản lãnh một số quân mạnh yếu bao nhiêu.Xếp đặt thế nào, đều chia phần đất để cho mọi việc đều có chuyên trách.

Đài địch.

Cửa ụ trên đài địch, mỗi ụ dùng 3 người lính, kén chọn những người sức mạnh, nghiêng mình trông ra ngoài, lưng hướng vào trong, xa gần đây đó đều nghiêng nhìn hết.

Các đài đều biên chữ hiệu vào để chia phần đất, phân biệt hiệu cờ và hiệu chiêng trống cùng đồ kêu, ban ngày xem tên cờ, ban đêm nghe tiếng hiệu, rồi đem chữ tên cờ và tên đồ kêu viết to lên tường ụ, khiến mọi người quen nhận.

Đều lấy đài địch làm chuẩn…

Nếu ban ngày quân địch phạm vào dưới thành ụ thứ nhất hiệu chữ Thiên, thì người cai quản đài địch ấy phải phất cờ hồng.

Ban đêm mà giặc phạm vào dưới thành ụ hiệu chữ Thiên, thì người cai quản đài địch ấy đánh trống.

Các binh giữ thành nhất tề giới nghiêm chờ đánh.

Các lầu thành tả hữu đều phải cho binh tới đó để ứng viện.

Đài địch ở hai bên cùng hướng về đấy để cùng đánh.

Còn quan và quân các đài ụ khác, không phải phần đất thì không được loạn động.Các cửa tuy không có báo động, quân giữ cũng phải giới nghiêm, không cho tự tiện lìa bỏ phần đất mà ứng viện, sợ giặc giương đông kích tây, nhân chỗ sơ hở mà lên.

Như thế phòng giữ mới nghiêm, mà ứng phó không rối.

Nếu có một người binh nào sai lầm thì lấy quân pháp trị nặng.

Đặt tuần tra.

Quân ở các ụ kẻ siêng người lười không như nhau, phải thường xem xét.

Nhưng nếu khiến mọi người điểm tên, năm canh ồn ào, thì người giữ ụ không có thể nằm ngủ được, tinh thần mỏi mệt, không phải là kế hay.

Nên lấy cửa thành làm hạn, như từ cửa đông đến cửa nam chẳng hạn, mỗi cửa đặt 10 người lính tuần la, đặt một lá cờ đỏ nhỏ, giữa viết chữ tuần la, mỗi canh 2 người lính luân ban thay đổi nhau đi tuần mà coi, đều chỉ cần cầm cờ qua lại, giữ miệng không cho hò hét, không đánh mõ lắc chuông.

Nếu có lính canh ụ nào ngủ say không trông nhìn, và đèn lửa ở ụ nào bị tắt, thì thu lấy cờ canh, sáng hôm sau đến chỗ quan tổng tuần bẩm xét, nhưng lúc đó vẫn đánh thức người lính canh dậy thắp đèn, không được thét đánh.

Trái phép thì bẩm xét.

Đặt quan đi tuần.

Đặt việc tuần la còn sợ sơ hở.

Mỗi cửa lại chọn 2 viên quan võ, cho mỗi người một con ngựa và làm bài canh tên canh.

Như đi tuần từ cửa đông đến cửa nam là lúc canh hai, quan cửa đông phải đem một cái tên canh giao cho quan ở trên lầu thành cửa nam kiểm thu, quan cửa nam lại giao cái bài canh hai cho quan cửa đông làm chứng.

Cứ luân phiên lần lượt như thế cho hết vòng.

Sáng hôm sau đưa cả cho quan tổng tuần tra xét.

Nếu các quan đem bài và tên trao riêng cho nhau mà không thân đi canh, xét được thì lấy quân pháp trị nặng.

Quan tuần trước xét số 10 người lính tuần tra, nếu ở các ụ canh có ai ngủ say không trông nhìn để tắt đèn, bị mất cờ canh cờ tuần, thì sáng sớm hôm sau đưa đến chỗ quan tổng tuần xét trị.

Cũng chỉ cho đi tuần xem xét, không được hò hét đánh mõ, làm rối cho những người canh ụ.

Đặt du binh.

Các cửa lại đặt riêng du binh 50 người, chia làm 2 đội, đợi có báo động thì hiệp sức sách ứng, cùng nhau chống giặc.

Những trước phải có ước hẹn.

Phàm gặp quân giặc ban đêm đến đánh cửa, thì cho phóng 3 mũi tên lửa và bắn gấp 3 phát súng, khẩn cấp mười phần thì đánh 3 hồi thanh la, các du binh được phái ở cửa ấy phải đều ra chống giặc.

Tổng quản phái riêng quân chi binh ứng viện.

Một cửa có động thì các cửa đóng chặt giữ vững, không được khinh động, để phòng giặc giương đông kích tây; càng cấm lính canh ụ, sợ rối bỏ chỗ của mình.

Đến như lúc mưa to gió dữ, nửa đêm sáng sớm, người dễ trễ nải, giặc hay nhân sơ hở, càng nên đốc thúc.

Phân biệt trai gái.

Khi dùng đàn bà, không nên cho cùng với trai trẻ lẫn lộn, sợ sinh ra sự gian tà.

Cấm yêu ngụy.

Dám nói sự quái dị và truyền lời xằng bậy, đều hay làm hỏng việc, quân pháp phải nên trừng trị.

Xét gian tế.

Trong thành rất đáng lo là có kẻ gian tế lẻn phục.

Nên ở các đầu ngõ nghiêm đặt rào gỗ, luân phiền các bảo giáp để phòng thủ, khi tối khi sáng, tùy lúc mở đóng, không kỳ sĩ phu cử giám, sinh viên, lại dịch, cứ theo nhà lần lượt canh giữ, không cho bỏ qua.

Mười nhà làm chung một tờ bảo kết, cùng bảo đảm kiểm xét lẫn nhau.

Nếu có kẻ gian tế mà không chịu phát giác, việc lộ ra thì bị tội chung.

Mỗi rào gỗ phải đặt binh phu, hoặc 10 người, hoặc 20 người, đều tham gia việc canh giữ, lập một người làm trưởng ngõ để thống lãnh việc tuần tra mà phòng gian tế.

Khi giặc sắp đến đánh thành thì trước họp bọn bảo trưởng, cấp cho cái thẻ liên tọa, khiến các bảo tự đi hiểu dụ, các giáp tự đi củ sát, như có nhà nào dung chứa bọn gian tế thì cả giáp bị tội chung, theo quân pháp mà trị nặng.

Nghiêm trộm cắp.

Tráng đinh lên thành, trong nhà không còn người coi giữ, kẻ tiểu nhân hay thừa cơ trộm cắp.

Nếu bắt được thực tang thì không phân biệt trộm hay cướp, ngay khi ấy đánh cho chết để cảnh cáo mọi người.

Những kẻ ăn uống không đủ, thì phải bẩm rõ để quan chẩn cắp theo đó mà giúp đỡ.

Phòng lửa cháy.

Đánh thành, địch thường phục nhiều gian tế ở trong thành khiến phóng lửa để cho người giữ thành chạy cứu rồi thừa lúc sơ hở mà lên thành.Vậy phải đặt một chi binh, hoặc 50 tên, hoặc 100 tên, chọn đóng ở nơi chính giữa, để thường xem các nhà mà chuyên coi việc cứu lửa.

Các phường trưởng, bảo trưởng, tiểu giáp đều chia phần đất, sắm đủ ống nước, gầu vẩy, câu liêm, chổi gai, thang tre, búa, cưa.

Mỗi khi một phường bị cháy thì bảo giáp ở bản phường cùng lính chữa cháy phải cứu, không được rộn kêu.Binh phu giữ thành đều phải giữ ụ, dù đến nhà mình bị cháy cũng không được bỏ chỗ.

Nếu bảo giáp bản phường cứu chữa không xong để đến cháy lan, và người không phải là cư dân bản phường thừa cơ cướp nhà bị cháy, tra ra thì lấy quân pháp trị nặng.

Những dân trong thành ở gần thành không nên chất đống rơm rạ củi cỏ, sợ ngoài thành bắn tên lửa vào, nên phải dụ cấm, ít thì thu cất, nhiều thì dời để nơi trống cho tiện.

Phái người canh.

Gặp đêm, người ở năm ụ canh đều đứng ở ụ trông ra ngoài, nghe trông Trung quân nổ súng hay hạ đèn.

Trong năm ụ luân phiên cắt một người canh giữ, chuyên đứng trông ra ngoài, còn dư đều yên ngủ.

Hết canh một, thổi 3 tiếng kèn dài để chuyển canh, lại một người khác dậy canh, người đã canh rồi đi ngủ, không cho cởi áo.

Sang canh khác cũng như thế.

Nếu ban đêm chợt nghe tiếng súng ở Trung quân và thấy bật 2 đèn, thì đó là có quân giặc đến đánh thành, không kể có được chia canh hay không, hết thảy đều phải ra cửa ụ đứng nhìn ra ngoài.

Một chỗ có giặc thì thúc trống khua thanh la, các phô toàn thành cũng đều thúc trống khua thanh la.Nếu một phô thanh la và trống im thì các phô khác cũng thôi.

Như giặc đã lùi thì Trung quân hạ đèn bắn súng, các người canh đi ngủ.

Ụ nào đến phiên canh thì chiếu theo cũ mà cầm canh.

Bọn gian tế trong thành làm nội ứng hẳn chờ lúc đêm khuya mà hành động, lấy trống canh định thời giờ.

Nếu khi giặc đến thành thì trống canh ở lầu canh chỉ đánh canh một canh hai rồi thôi, chờ đến sáng rõ thì đánh trống canh năm để tan canh, làm như thế là để cho bọn gian tế lầm thời giờ, đó cũng là một phép hay vậy.

Rõ hiệu lệnh.

Phàm ở trong một rạp1, một người không đến, hay đêm về nhà riêng, thì tội lây người trưởng ụ, đều đánh 20 gậy, người chính phạm thì cắt tai, đồng ụ đồng rạp cũng tội lây.

Gặp khi giặc đánh vào thành mà không đến thì người chính phạm bị giết rao cho mọi người biết, trưởng ụ thì cắt tai, đồng ụ đồng rạp thì trói đánh.

Như cờ, rạp, khí giới, tên đạn, súng lửa, thanh la và trống các loại mà có một vật không được chu đáo thì kẻ chính phạm bị trói đánh, đồng ụ đồng rạp phải tội lây.

Từ 5 ụ trở lên, thì bản quản kỳ phải trói đánh.

Ở vệ2 thành từ một phô trở lên, ở sở3thành từ 2 phô trở lên, thì quan chưởng ấn và quan phân quản bị trói đánh.

Khi giặc đánh thành, để thiếu thốn và phóng hỏa khí không đúng phép thì người chính phạm bị giết rao cho mọi người biết, những người bị tội lây như trên kia đều cắt tai.

Kẻ nào quay đầu lại thì cắt tai.

Kẻ nào thiện tiện hành động thì cắt tai.

Thấy giặc mà nói to làm ồn, hay bị thương mà kêu to sợ chạy, thì chiếu theo luật lâm trận co rút mà giết rao cho mọi người biết.

Đêm hoảng sợ thì xét bởi vì đâu, cả rạp cả ụ và bản quản kỳ bị tội lây.

Trung quân ở nơi cao mà tiếp ứng ở ngoài và hiệu lệnh các ụ canh bị nhầm chậm thì quan chưởng ấn bị trị nặng, người trông điếm canh giữ hiệu lệnh thì giết rao cho mọi người biết.Trong các phô, gặp khi giữ thành mà để đến tắt lửa cùng thanh la và trống đánh không rõ ràng, đều bắt tội quan cai quản.

Phàm người phục ở đường đã đốt hiệu lửa mà Trung quân tiếp ứng chậm trễ, hay súng nổ không kêu đến nỗi người ở rạp nghe không rõ, cùng là lồng đèn không sáng, đến nỗi giặc xông đến dưới thành, đánh thành lên trĩ, thì người giữ hiệu trống và người đứng trông đều giết rao cho mọi người biết, quyết không tha sống.

Quan chưởng ấn thì trói đánh 100 roi và cắt tai.

Việc nhu bị.

Mao tử nói: Nhu bị trước phải sắm sẵn những vật cần dùng, chỉnh đốn những đồ cần dùng...

Sách Võ bị tổng yếu nói: Phàm phép giữ thành có 5 điều bị thua:

Một là quân lớn mạnh thì ít, quân nhỏ yếu thì nhiều;

Hai là thành lớn mà người ít;

Ba là lương ít mà người nhiều;

Bốn là súc vật và của cải chứa ở ngoài;

Năm là bọn cường hào không tuân lệnh.

Thêm nữa là ở ngoài thì cao mà trong thành thì thấp; mạch đất cao mà hào rãnh nông; khí cụ giữ thành chưa đủ, nước củi không có; dẫu có thành cao cũng nên bỏ mà đừng giữ.

Cũng có 5 điều trọn vẹn:

Một là thành trì sửa sang tốt;

Hai là khí giới đủ;

Ba là người ít mà thóc nhiều;

Bốn là trên dưới thân yêu nhau;

Năm là việc thưởng phạt nghiêm trọng.

Thêm nữa lại được ở dưới núi lớn, ở kề sông rộng, cao không gần như hạn mà nước dùng đủ, thấp không gần với nước mà ngòi rãnh ít, nhân được của trời, dùng được lợi đất, đất chắc nước chảy, hiểm trở khá cậy.

Gồm được các hình thế ấy thì việc giữ có dư sức.

Cho nên Binh pháp4nói “Thành có khi không đánh” và nói “người giữ giỏi giấu ở dưới chín lần đất” đều là thế đấy.

__________________________________

1.

Cứ năm ụ thì làm một rạp.

2, 3.

Vệ và sở là chỗ đóng quân để giữ các địa phương trọng yếu, vệ lớn hơn sở.

4.

Tôn tử.

Sách Hổ kiểm kinh nói: Trong khi giữ thành thì thức ăn, ngũ cốc, lương khô, cá muối, vải lụa, thuốc men, thợ thuyền trăm nghề rèn đúc, rơm rạ, lau sậy, than tro, cứt đái, cát sắt, củi lửa, nhựa thông, cỏ khô, dầu mỡ, vỏ gai, chăn chiên, gai góc, phên rèm, chõ vạc, cong chum, dùi đục, dao cưa, đùi dài, thang dài, thang ngắn, câu liêm, móc sắt, những vật người ta thường dùng, hết thảy phải đủ, phải sai sửa sang chỗ hư hỏng, để sẵn trên thành.

Ở khoảng vào đội phải đặt ở chỗ lề xoay 2 súng nhỏ, ở chỗ lề đá một súng lớn, và thang mây, gỗ húc v.v...

Ở khoảng ấy trước phải theo mình thành dùng gỗ nhô lên làm nữ tường chồng, cao hơn nữ tường đất 5 tấc trở lên, lấy ván mà dùng, tùy việc hoãn cấp mà mở đóng.

Nếu địch dùng tên đạn, thì mép đá dưới lầu tường cho nó nhô ra ngoài mà treo lủng lẳng tấm da trâu sống, hoặc chăn chiên hay túi lông để che.

Những nhà trong thành đều sai đặt nước phòng hỏa, hẹn trước rằng để cháy thì chém.Những nơi phát hỏa phần nhiều là sợ có quân gian đốt, phải khiến chủ tướng gần đó bắt bộ quan lĩnh già trẻ đàn bà con gái đến cứu.

Lửa cháy thì sở bộ kíp trình với đại tướng thân lĩnh người thân tín tả hữu đến cứu.

Trong thành bấy giờ có sự sợ hãi và có nhiều người lộn xộn, những người ở trên thành không được tự lìa chức việc mà chạy rối ở đường phố.

Ai trái thì xử chém.

Nếu giặc đẩy xe lại đánh, thì trước đem súng tay bắn, súng tay đã trúng thì bị thương hẳn nhiều; kẻ đến bị thương thì sức không đều nữa.

*

* *

Cửa treo.

Treo ván gỗ làm cửa, dùng sắt mà đóng như ván sàn.

Ván treo.

Quanh thành ở trên đài địch đều treo ván cả; khi bị địch đánh, thì lật ván lên để bắn tên đạn.

Cửa đột.

Đục ở mình thành, đối thẳng với dinh địch, ở trong đào ít nhiều đường ngầm tới cách mặt ngoài thành 5, 6 tấc thì đừng đào nữa, nửa đêm giặc mới đến, dinh trại chưa định, cho quân tinh kỵ do cửa đột ấy nhảy ra đánh lúc không ngờ.

Trát cánh cửa.

Lấy bùn đất trát cánh cửa, dày độ ba thước, để chống chất lửa.

Đục cửa.

Phòng định bức tới cửa, trước đục cánh cửa vài mươi lỗ để chỉa nỏ bắn ra và chỉa giáo dài mà đâm, dù địch có bức tới cũng không gần được cửa.

Trát sàn cửa.

Lấy bùn trát sàn gỗ trên cửa, ước dầy 5 tấc để chống lửa.

Phên dày.

Ở trên nữ tường, nhô đầu rui ra cách tường 3 thước, lấy cành liễu cành gai mà đan phên dài độ 2 trượng, rộng 5 thước, treo ra đầu rui để đỡ tên đạn.

Màn vải.

Dùng vải dày làm màn, dùng sào treo ra ở ngoài nữ tường thì đỡ cho tên đạn không bắn vào tường được.

Đùi liền.

Như kẹp đập lúa, để quay mà đánh người leo lên thành ngoài nữ tường.

Cần trượng.

Như cây thương, đầu làm hai chỉa, dùng để chống thang bay và người leo lên thành.

Cần móc.

Như cây thương, lưỡi có móc câu, có thể móc người.

Trên thành có sàn gỗ, có thể chứa được một đội quân, làm móc sắt cán dài đặt đấy để dùng.

Nếu giặc trèo nữ tường nhảy lên, đợi thò mình lên thì các móc đều đưa ra ngoặc kéo vào trong thành, rồi lấy dao, dùi, búa xúm lại mà đánh.

Tật lê sắt.

Nếu giặc dùng mộc lư (lừa gỗ) đánh thành, thì ta dùng tật lê sắt để ném.

Phép làm tật lê sắt, lấy sắt chín đường kính rộng 1 thước 2 tấc, bốn thanh ngang dọc như hình chông gai, rồi đem nước sắt dội vào giữa, nặng 50 cân, trên đặt mũi sắt và dây xích sắt để ném thẳng xuống rồi dùng ròng rọc kéo lên.

Trên mộc lư có da trâu trát bùn, ném tật lê sắt rồi phóng đuốc tưới dầu mà đốt.

Củ ấu sắt.

Hình như tật lê sắt nhỏ, có cái vòng luồn.

Nếu giặc dùng xe húc đánh thành, thì ta dùng vòng sắt to và ốc thừa tử1 mà làm, dùng dây mà vặn, khi gặp đầu húc, ta dùng cái vòng luồn vào đầu húc, giữa chỗ khuyết, sai tướng sĩ kéo thì cái xe húc bị lật đổ, cung nỏ cùng bắn, giặc tự nhiên phải thua chạy.

Đánh thuốc mù.

Dùng vôi và cám, theo chiều gió ở trên thành mà tung xuống, làm cho mù mắt, rồi đem nước sôi dội xuống.

Lề xoay.

Ở đầu cầu đặt lề xoay, đặt ván có lề xoay thì người ngựa không sang được, đều lănnhào xuống nước.

Nữ tường lề xoay.

Phàm quân đánh thành, để chống đỡ tên đạn phải đội mũ hến thì trông xiên không tiện, mặc áo giáp dày nặng thì tiến lùi lại khó, tiến đã không lên được thành, lui thì bị vướng ở sau, quân giặc lấy làm xôn xao, ta làm nữ tường lề xoay nhô ra ngoài thành, cho ròng rọc thả dây sắt xuống, đầu dây sắt buộc chân chi2 ném xuống giữa chỗ quân giặc đương xôn xao.

Bắn nỏ tên lớn.

Dùng gỗ dâu vàng làm cung dài 1 trượng 2 thước, đường kính 7 tấc, hai đầu cánh cung 3 tấc, chống vào xe vặn mà giương cung, tên lớn bắn một phát, tiếng như sấm vang.

Chứa gỗ.

Chứa một đống gỗ, đường kính 1 thước, đầu nhỏ 6, 7 tấc, dài 5 thước, chờ giặc lên thành thì ném đống gỗ ấy xuống.

Chứa đá.

Chứa sẵn các thứ đá lớn nhỏ theomình để ném quân giặc.

_______________________________________

1.

Ốc thừa tử, không rõ là cái gì.

2.

Tức là phi câu, móc sắt để ném.

Cong nghe.

Đất sâu hơn thành, bốn góc đào giếng, giếng đào sâu 2 trượng, sai người úp cái cong mới ở trên giếng, ngồi ở bên ngoài, giặc đến thì nghe, trong có lỗ, các địa đạo ở trong thành đều nghe trong cong mà phân biệt xa gần.

Thiên tỉnh.

Ở tám phương trong thành đào giếng sâu 2 trượng, lấy cong mới dùng da mỏng bưng miệng như trống, khiến người thính tai gối lên miệng cong mà nghe thì giặc ở cách thành 500 thước cũng đều biết hết.

Liệu tính lương thực.

Việc giữ thành toàn nhờ vào cư dân, mà cư dân thì toàn nhờ vào binh mà ăn.

Vậy nên trước phải liệu dân liệu quân mà liệu thức ăn.

Dân ở trong thành và dân ở ngoài lánh nạn mỗi người mỗi ngày tính gạo ăn hết nửa cân, than hoặc củi 5 cân, tính từng miệng ăn, phải chứa sẵn 3 tháng.

Nếu không tự trù bị thì ai đoái đến mình.

Ninh-hạ bị vây mà chết đói hết nhiều, nên hỏi xem.

Những người hàng ngày chỉ kiếm lấy từng thưng từng lẻ, bị thành đóng cửa thì hết lương.

Ta đã nhờ họ mà giữ thành thì ta phải thay họ mà liệu miếng ăn, không thế thì họ phải đói, sao giữ được giặc!

Cho nên một phủ không có 1 vạn cân cỏ, 2 vạn cân lương, 20 vạn cân than, 150 cái giếng, châu huyện lớn không có 5 nghìn cỏ, 1 vạn rưởi lương, 10 vạn than, 70 cái giếng, châu huyện nhỏ không có 2 nghìn cỏ, 1 vạn lương, 5 vạn than; 50 cái giếng, thì đều là cẩu thả, chờ mệnh ở trời, may mới khỏi địch.

Phàm những người giữ thành có gạo thì tự cấp, không gạo thì quan cấp, mỗi lần cấp một thạch làm một suất, 10 người có một người đầu bếp, cùng ăn một chỗ.

Nếu để các nhà đưa cơm thì rồi không thể nói được, và truyền đạt khó tới, no đói bất thường, đó là lối thua vậy.

Dân ngoài lánh nạn thì có họ mạc nhờ họ mạc, không có họ mạc thì nhàn ước phải xếp đặt, như ở trong chùa miếu thì tăng đạo phải báo tên, kén chọn mà khiến giữ thành, cho phòng nằm một nơi.

Còn dư các nơi chùa chiền công quán đều phải cho dân làng ở đậu, chật hẹp khó dung, nhưng đã có thức ăn và thóc, ngoài ra không hại.

Đại khái con trai mạnh mẽ đã cho giữ thành, người già yếu cùng ở mấy nơi, đàn bà cùng ở mấy nơi, ở ngoài cửa dán tên để tiện sự ghi nhận.

Ở trên thành thì 10 người làm một phô, phô thì trên che chăn chiếu để chống gió mưa, 10 người một bếp, 5 người 1 lần cắt phiên nhau ăn, đàn ông già và đàn bà thì làm thức ăn, đàn bà khỏe thì gánh nước, trẻ con thì sai khiến đi lại.

Đốt lửa thì dùng củi, không dùng rơm cỏ, để phòng cháy.

Dùng dao đá lửa để phòng khi lửa tắt.

Phòng việc sửa đắp.

Trên thành mỗi mặt phải phòng bị một vạn gạch, đất vàng 10 xe, vôi 10 cân, nước 100 lọ.

Mỗi 10 ụ thì dùng 2 tấm sắt, 2 con dao nhọn, 6 cái cánh cửa, gậy dài 15 thước 4 chiếc, để phòng khi giặc đánh phá vào tường thành mà kịp thời sửa chữa.

Đặt hiểm trong hào.

Có sông ở gần hào thì nên đóng hơn trăm cái cọc gỗ, theo hình chữ nhân (人) ở trong sông, cao hơn mặt nước độ 1 thước, phòng có lâu thuyền đến phá thành.

Đặt sàn hờ.

Nên gác ở ngoài ụ canh một cái sàn hờ, mỗi cái ước rộng 3, 4 thước, dài 6, 7, 8 thước, quanh thành đặt tiếp liền nhau.

Phép gác thì hoặc dùng gỗ nhỏ hay dùng tre, mỗi cây dài bằng chiều rộng của sàn, chừng 3, 4 thước, một nửa chìa ra ngoài ụ, một nửa phóng vào trong ụ; ngoài thì làm sàn hờ, trên sàn thì lấy đá gạch mà đè, trời lạnh thì để thêm vài bao vôi ở trên; trong thì dùng dây mà treo đá lủng lẳng.

Nếu giặc bắc thang lên sàn, thì sàn mỏng mảnh không để thang được, gạch đá liền rơi xuống thành, những đá treo ở ngoài thì rơi xuống thành, những đá treo ở trong thì rơi xuống trong tường, người giữ ụ canh do đó mà tự biết.

Nếu giặc đặt thang ở dưới sàn mà treo lên sàn, thì khi leo lên đương đầu vào sàn làm cho đá rơi loạn xuống.
 
Binh Thư Yếu Lược | Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Quyển IV: III.Xông Vây - IV. - V. - VI. - VII.


III – XÔNG VÂY

Quân địch vây thành chặn đứt đường sau ta, trong cuộc đánh dữ dội, thư thả thì quân tất bại loạn, đánh nhanh thì có thể hoành hành xông ra.

Nếu đã ra ngoài vòng vây thì quân tả chạy mau bên tả, quân hữu chạy mau bên hữu, không giành đường với địch.

Lại biết được những nơi trống hở mà gắng sức để ra.

Lại ngậm tăm đi đêm mà ra, dũng sĩ ở trước, nhược sĩ ở giữa, quân phục ở sau.

Ra rồi đi thong thả, cẩn thận, không sợ hãi.

Quân địch nếu tiến thì quân phục đánh như từ trong đất ra, như từ trên trời xuống, còn ai chống lại được!

Phàm ra, trước phải đốt xe cộ, đốt lương thực của ta, bảo rõ cho lại sĩ của ta rằng đấu mạnh thì sống, không đấu mạnh thì chết.

Chỗ gò đống hiểm trở thì địch không dám theo, kẻ ra trước lấy lửa làm dấu, kẻ ra sau đến chỗ lửa thì dừng.

Nhân thiên thời mà phá được dịch.

Lưu Ỷ nhà Tống đóng quân ở phủ Thuận-xương1, quân Kim đã vây 4 ngày.

Quân Kim càng ngày càng đông, bèn dời dinh sang Lý-thôn.

Ỷ sai Diêm Sung mộ 500 người tráng sĩ đánh đêm vào dinh.

Chiều hôm ấy trời muốn mưa, chớp sáng bốn mặt, hễ thấy ai tóc dóc2 thì giết.

Quân Kim đuổi 15 dặm.Ỷ lại mộ 100 người cho đi, có người xin ngậm tăm, Ỷ nói: “Không nên dùng tăm”.

Sai bẻ tre làm còi, như còi trẻ con ở ngoài chợ làm trò chơi, mỗi người cầm một cái để làm hiệu, thẳng tới dinh quân Kim.

Hễ thấy chớp lòe sáng thì đều đánh hăng, chớp thôi thì náu im không động.

Quân giặc cả loạn.

Trăm người hễ nghe tiếng còi thì họp lại, quân Kim lại càng không thể lường được.

Đánh như thế suốt đêm, quân Kim chết rất nhiều.

Hoặc có kế giả làm thần mà giải vây, như Cảnh Cung nhà Hán giữ thành Kim-bồ3, dùng thuốc độc bắn tên, gọi là tên thần của quân Hán.Hung-nô sợ mà giải vây.

Hoặc dùng hỏa công mà giải vây, như Hoàng-phủ Tung đánh giặc Hoàng-cân4.

___________________________________

1.

Thuận-xương: Tên đất, thuộc tỉnh An-huy, Trung-quốc.

2.

Người Kim dóc tóc.

3.

Thuộc đất Tân-cương ngày nay.

4.

Nông dân khởi nghĩa ở cuối đời Hậu Hán.

Hoặc dùng cách kêu khống mà giải vây.

Như Lưu Côn nhà Tấn bị giặc vây, bèn nhân đêm trăng lên lầu kêu khống, thổi khúc kèn Hồ, tiếng ai oán véo von.

Giặc nghe lấy làm buồn, bỏ vây chạy.

Hoặc có người trá hàng mà giải vây.

Như Lý Quang-bật nhà Đường bị giặc vây, khiến người nói dối hẹn với giặc ra hàng, bèn ngầm đào đường hầm mà dinh địch bị hãm.

Hoặc có người giả chạy mà giải vây.

Như Trương Tuần nhà Đường bị Lệnh-hồ Triều vây, Tuần nói dối Triều là muốn đem quân chạy, xin lui một xá.Triều cho.

Bèn bỏ thành không ra bốn phía cách 30 dặm, dỡ nhà đẵn cây rồi trở về phòng bị.

Lại dụ Triều trả cho 30 con ngựa để cấp cho quân kiêu kỵ, xông ra bắt được 40 tên tướng giặc.

Hoặc liều giữ mà giải vây.

Như Lưu Ỷ nhà Tống dùng thắng quân đánh vỡ Ngột-truật nước Kim.

Hoặc dùng phản gián mà giải vây.

Như Trần Bình nhà Hán khiến người vẽ tượng mỹ nhân gửi biếu Yêm Chi để giải vây thành Bạch-đăng1.

Phàm quân ta vây đã đắc thế rồi, giặc chưa tính kịp, ta tức thì tìm con đường mà quân viện của giặc tất phải đi để giữ chặn; lại khiến quân phục đợi đó; lại trương cao cờ trống làm cho người ở trong vòng vây phải sợ.

Thấy quân nó rối loạn thì phải thừa lúc sơ hở mà đánh.

Phép đánh giặc, trước phải đánh quân viện, khiến không có quân ngoài đến cứu.

Liệu số thóc ở trong thành, tính số người tiêu phí, lương nhiều người ít thì đánh mà đừng vây, lương ít người nhiều thì vây mà đừng đánh; sức chưa khuất, thóc chưa hết, thành còn bền, mà quân viện đến thì phải đánh ngay.

___________________________________

1.

Thành ở núi Bạch-đăng, tại phía đông huyện Đại-đồng tỉnh Sơn-tây, Hán Cao tổ bị Hung-nô vây, ở đấy 7 tháng - Yêm Chi là tù trưởng Hung-nô.

IV - ỨNG CỨU

Đánh nên có thứ tự, cứu không nên có thứ tự.Có tội nên đánh thì dấy quân mà đánh.

Có ước hôn nhân, có nghĩa lân bang, thì nên thương hoạn nạn mà dấy quân để cứu.

Cùng một quân, nhưng đánh thì lấy có thứ tự làm hơn, - thứ tự là có ý chỉnh đốn quân ngũ và cẩn thận việc đánh, không làm nóng nảy - mà cứu thì lấy gấp làm hơn.

Thứ tự là có lòng hoãn quân sợ giặc, giả tiếng đi cứu thôi.

Như năm Kỷ dậu quân phương Bắc được cái nghĩa đến cứu1, mà bị thất thủ là do thất cơ chứ không phải vì tội chậm.

Kết viện.

Binh pháp nói: “Có quân tất thắng thì hẳn có thành tất thủ; không có quân tất cứu thì không có thành tất thủ”.

Thế không thể phòng bị được thì nên rộng kết thanh viện, ngồi chịu khốn ở cô thành thì thật là không nên.

Việc giữ trước hết phải kết viện để tiếp ứng.Phàm quân viện tới thành, đừng nên khinh tín, sợ có khi giặc giả hiệu áo của ta để đánh lừa ta.Nên chọn người tâm phúc tinh tế leo mà xuống, nhận xét cho đúng thực thì mới mời.

Đừng khiến họ giữ hiểm dựng trại ở ngoài thành.

Hẹn ước nhau cử sự, tất phải đây đó hợp kỳ, trong ngoài giáp đánh, mới có thể giải vây được.

Nếu như hai bên bảo nhau chỉ lấy tiếng tăm mà ứng họa, thì việc phải hỏng.

Nên răn, nên răn!

Cứu sự nguy cấp của người, phải hết lòng thành.

Phàm quân đi ứng cứu, không cứu ở nơi tất phải cứu, mà phải cứu ở nơi không tất phải cứu, thì vây sẽ giải được.

____________________________________

1.

Chỉ việc quân Thanh sang cứu nhà Lê, nhân chiếm cứ nước ta, sau bị Nguyễn Huệ đánh đuổi.

V - LUI ĐÁNH

Đại tướng hành quân, mọi điều thận trọng, vốn đã chu đáo cẩn mật, nhưng đối luỹ đánh địch, cầm quân chống tướng, việc có nhiều điều bất trắc.

Người nào có quan hệ đến sự tiến chỉ của một quân thì nên nêu lên để làm đầu cho quân sĩ, người nào có quan hệ đến sự tồn vong của cả trận, thì nên xem là cần thiết cho ba quân.

Đi mà không biết dậy ở chỗ nào, dừng mà không biết nấp ở nơi nào, cứ theo bóng người khác mà làm mà điều quân thì không biết, vào giữ chốn đao gươm la liệt mà chỉ lo đặt mình vào nơi vững chắc, người như thế thì đại tướng phải lánh vậy.Được thua là sự thường của nhà binh, người giỏi dùng binh có thể nhân bại mà làm thành.

Nay ta đổi giếng lũy trước, xuất kỳ bất ý, đó là chước kỳ vậy.

Quân ta mới thua, sĩ khí tan rã, tướng giặc thắng mà sinh kiêu, có lòng khinh ta, nên đóng lũy mà chờ.

Quân giặc kiêu, ta có thể đánh một trận mà thắng được.

Điện là một việc khó của nhà binh.

Điện nghĩa là đi sau.

Phép binh lấy điện làm công, vì là quân thua mà chạy, giặc nhân chạy mà đuổi theo, có thể lui lại sau mà chống bọn đuổi theo, không phải người dõng thì không làm được, cho nên nhà binh lấy điện là khó có người vậy.

Nên lui thì lui, đừng lui vì nhút nhát.

Đem quân tới trận, khi tiến khi lui, lường theo thế mà thôi.

Kinh Dịch quẻ Sự hào lục tứ nói rằng “Quân dừng ở phía tả, không lỗi”, tức là nói quân lui.

Vì là biết khó mà lui, lường thế không thể thắng được, bèn thu vén quân mà rút lui, hơn là tiến mà đổ mất vậy.

Có thể tiến mà lại lui, đó mới là lỗi.

Người cầm quân giỏi có khi không tiến, lui mà tiến vậy.

Không nên tiến mà tiến, đó là con đường thua vậy.

Binh pháp nói: “Quân đổ thì tướng bị giết”.

Lại nói: “Đổ thì tướng bị giết, đó là đạo thường trong việc hành quân”.

Vì là tướng lui mà quân được sống, thì sao lại xông vào mũi nhọn của địch mà chết?

Thế cho nên cứ tiến liều thì không tới đâu mà không đổ mất.

Đừng đổ tội cho thua thì rồi mới đi tới thành công được, tôi xin thưa như thế.

VI - THẮNG VÀ ĐẶT PHỤC

Phàm theo chạy mà nghỉ, gặp quân địch đỗ ở đường thì bắt ngay.

Giặc đánh đã mệt, có thể đuổi được có năm trường hợp, không thể đuổi được có sáu trường hợp.

Thấy khí của giặc đã kém, có thể đuổi, đó là một.

Quân bộ kỵ tán loạn, nhiều người chạy xiêu ngã không thành bộ ngũ, đó là hai.

Chạy tới làng xóm, chạy vào thành quách, đó là ba.

Xe chở lương và đồ binh giáp tan tác mà không thuđược, đó là bốn.

Chủ tướng đã chết, đó là năm.Khe ngòi cũ mà nước bỗng cạn hết, đó là một trường hợp không nên đuổi.

Đã quá tầm nhìn thấu, đó là hai.

Thua trận trốn chạy mà hàng ngũkhông rối loạn lắm, cờ xí không lộn xộn lắm, đó là ba.

Quan và quân chạy rảo không xiêu ngã lắm, quân bộ quân kỵ không lẫn lộn, đó là bốn.Giặc chạy mất đường, tả hữu là núi hang, ở trước cung như thế, đó là năm.

Đường cùng lương hết mà quan và quân chưa tan hẳn, đó là sáu.

Thế cho nên gặp trường hợp nên đuổi thì đuổi gấp, không nên đuổi thì đóng chặt cửa thành mà xem, hẳn có biến đổi lợi hại.

Chờ họ cất quân, hễ lợi thì ta tiến mà hại thì ta lui.

Binh pháp nói “Chim bay lên là có quân phục, cây cối động là có quân đến”, như thế cũng chưa chắc là có quân phục quân đến, sợ là họ làm nghi binh vậy.

Có thể là quân giặc đã chạy trốn mà sai những người già yếu rung động cây cối và làm sợ chim muông.

Lại nói “Không ước mà xin hòa là có mưu, nửa tiến nửa lùi là dụ”, đó cũng có thể là đại binh đã lẩn trốn, sợ người sau theođến mà làm cho ta ngờ vậy.

Một khi đã thắng phải giới nghiêm quân ta.

Đã được toàn thắng, đuổi giặc chẳng qua là dư uy thôi.

Nếu trong khi đuổi riết, giặc phút dừng lại không động, ví như không phải có quân tiếp ứng thì tức là đằng trước có hiểm trở, không thể trốn gấp được.

Quân ta nếu nhân lúc đó mà đánh, thì quân ta là quân mỏi mệt, mà quân giặc là quân có sinh lực, ta lấy lòng thắng trận mà kiêu, giặc lấy lòng cứu chết rửa hờn, nếu ta thắng nữa thì chẳng qua là cuộc đuổi giặc chạy thêm, bằng thua thì công lao trước bỏ hết cả.

Như thế há chẳng phạm vào điều kỵ đuổi giặc cùng đường, trước chết sau sống ư?

Chỉ nên cứ đuổi theosau, khiến cho giặc giày đạp lẫn nhau, thu lấy xe lương và quân hàng.

Như giặc dừng lại không động, thì ta thu quân ngay, hoặc là tức thì hạ dinh, ngày thì dựng nhiều cờ xí, đêm thì đánh trống đốt lửa, bắn súng cho nhiều, hiệu lệnh nghiêm minh, người ngựa rầm rộ, chiêng trống đêm canh, hai bên giăng dày quân phục, bốn mặt ngầm đặt các tay bắn giỏi.

Giới nghiêm hiệu lệnh so với khi chưa thắng địch lại càng nghiêm khẩn hơn, một là để phòng trộm cướp, hai là để răn lòng khinh nhờn.

Lại viết hịch chiêu phủ bắn vào dinh giặc, hoặc sai những kẻ sĩ có tài biện luận lấy lợi hại mà hiểu dụ, tỏ lòng thành tín.Giặc lấy sự sống thừa rũ đầu mất khí, thấy uy thế đường đường chính chính của ta thì sợ lòng hoa mắt, thịnh suy thấy rõ, một đêm nghĩ ngợi, chí đã nản rồi, kịp nghe hịch chiêu phủ, không dám không hàng.

Thế gọi là được vạn toàn mà tất thành công vậy.

VII - PHÉP NHẬN HÀNG

Nhận hàng cũng như chịu địch, phải biết sắp đặt cho nghiêm.

Từ khi dùng binh nửa năm nay, chưa có kẻ nào ra hàng, nay không hỏi thực hay dối, cứ nên hậu thưởng để khuyến khích tương lai.

Nhưng không nên đặt họ ở chỗ yếu địa.

Những người quy phụ thì nên nhân làng quê của họ mà cho cày ruộng, nhân đó mà lập người trưởng, nhỏ lớn đều biên làm quân, khiến được tự canh tự thủ.

Kẻ có tài năng thì chia cho đất đai, cho làm chức việc, để khiến họ đừng trốn chạy, để cho bớt thế đi.

*

* *

Nhận hàng cần phải phòng bị cẩn thận: Sách Bảo giám nói: “Nhận hàng nghiêm hơn chịu địch, phải biết phòng bị cho nghiêm, vì rằng chịu địch cũng đã nghiêm rồi, mà nhận hàng càng phải nghiêm nữa”.

Chịu địch thì ai ai cũng có lòng muốn giết, đều phải nghiêm răn, còn nhận hàng mà không nghiêm, họ có lòng ngờ sợ mà ta lại kiêu nhờn, nếu có sự bất trắc biến cố xảy ra trong lúc thảng thốt, thì không sao chống được.

Cần phải trước hết xét thế mạnh hay yếu, tình thật hay dối, thực có thể tin thì mới cho đầu hàng, định cho kỳ hạn, nghiêm chỉnh dinh ngũ, ngoài trương hai đại đội bày ở trước hai bên tả hữu đại dinh để chờ.

Lại nên có thị vệ đứng kín, khiến không có thể thấy được ở sau lều tướng.Trăm quan thì ai giữ việc nấy, như không trông không thấy việc gì.

Không cho họ xem và nói với nhau mà mất vị thứ.

Đợi khi người chưởng hiệu ở hai cánh đánh 3 hồi chiêng trống, đặt súng đại bác lên bệ, uy nghi chỉnh túc, mới truyền hiệu lệnh.

Hàng binh đứng một chỗ, chỉ truyền cho bọn đầu mục cởi bỏ các vật, trước vào yết kiến.Vỗ về xong, trình dâng sổ sách số mục quan và quân hàng, ngựa, khí giới, lương thảo.

Cấp cho một cái bài miễn tử, sai đầu mục cầm đi tuyên báo cho các hàng binh, rồi thì bỏ hết các vật, giao cho nhân viên chấp sự ta thu giữ, rồi mới sai điệu cả đến ngoài cửa viên, cho khúm núm nghe lời phủ dụ.

Bọn đầu mục thì hoặc được thưởng cấp áo mũ, hoặc cấp bài thẻ; các hàng binh thì đều thưởng gạo thịt để tỏ ân tín.

Sai nhân viên có tài năng hỏi các hàng binh.

Ai xin về thì đứng riêng ra một bên, cho chờ điền cấp văn bài, giao cho quan địa phương phát về quê để an tháp.

Những văn bài đều nên dự bị, chỉ điền tên họ quê quán cho chóng việc là hơn.

Ai xin làm binh thì đứng riêng một bên, chia phái vào trong các đội quân ta, cho tướng hiệu của ta quản lãnh lẫn lộn.

Càng nên cho dinh đội cách nhau, để không thể tụ họp một nơi; cẩn mật đề phòng, không cho thời thường tụ nhau chuyện trò.

Bọn đầu mục thì chiếu theo phẩm cấp được cho, mỗi ngày theo ban tướng hiệu ta mà đãi trà, không có dị đồng.

Hoặc chọn trong đó có người tài kỹ trung thành thì lấy 1, 2 người dùng trước để giữ lòng mọi người.

Binh đinh gặp khuyết thì cũng bổ trước 1, 2 người để tỏ là có dùng.Nghiêm dụ quân ta không nên khinh khi lăngnhục, không nên đối với hàng binh khoe khoang được thua, không nên gọi càn bằng tên hàng tốt, sợ người ta buồn rầu mà sinh thù oán.

Đến như quân địch lớn chưa diệt xong mà trước có kẻ về hàng, nếu không phải là người biết thời vụ thì tức có người hiềm nghi.

Vậy phải nên rộng cách đối đãi, khuyên cho đổi mới, hậu thưởng trọng dụng, không triệt quân của họ, không bỏ quyền của họ, để rộng sự chiêu tập.

Tóm lại là phải tuỳ theokinh quyền làm sao cho được thích nghi.

Ví như có một người địch làm hàng tốt, hoặc làm ra dáng người nông phu, đến trước cửa quân nói kín ý mình xin làm hướng đạo, nếu không liệu xem tình hư thực thế nào, thì có khi bị dụ vào vòng vây, trúng phải kế địch.

Nên giữ lại ở trong quân, lấy sự thực dối mà bảo cho biết rằng nếu thực thì có trọng thưởng, nếu dối thì xử trọng tội, rồi sau mới đem quân tiến đi, như thế thì tình ý của nó phải lộ ra vậy.

*

* *

Tóm lại 13 điều cầu hòa nhận hàng như sau:

1.

Tiếp ứng quân địch đầu hàng, quân ta phải lên ở chỗ cao bày trận, luôn luôn ước thúc, không nên có chút trễ nải.

Phải dự phòng sự lừa dối.

Như quân họ bày trận, dùng dằng chưa định, nếu có người tù trưởng cầu hòa mà tham tá không theo, dẫu đó chưa được tình thực, nhưng cũng nhận cho rồi sẽ gấp làm mưu chước để tính liệu cũng được.

2.

Có một người định cầu hòa, cũng họp đặt bàn sở màn trướng, và trước sai dũng tướng đi tìm xét qua, sợ sau có quân phục mưu đánh ta chăng.

3.

Khi nhận hàng mà nhận hội thề ước định với địch, chỗ gặp nhau không nên gần cõi của địch, và không nên ở chốn núi rừng nguy hiểm, sợ nó đặt mưu mà đánh úp ta.

4.

Hội thề nên ở chốn đồng bằng nội rộng, hay gần dinh trại ta cũng không hại, nhưng không cho đem nhiều người ngựa đến gần dinh ta.

Nếu họ không có khí dụng gì thì không hại.

5.

Trong ngày hội thề, trước sai du binh đem quân sinh lực lùng khắp những nơi hiểm trở bốn phía, như nơi nào có phục binh thì kíp báo cho chủ tướng, tức thì chuẩn bị ứng địch.

6.

Hai quân gặp nhau, chưa từng đánh trận mà địch khiến người cầu hòa, ấy có thể là địch có ý ngờ binh thế của ta, ngầm sai quân tinh nhuệ xông đánh ta trong lúc không ngờ, vậy nên kỹ càng xem xét thực dối.

Nếu họ cần cầu hòa, ta phải phòng bị gấp, như có đại quân của địch xông đánh thì ta cũng không thất cơ.

7.

Khi đã từng chiến đấu, đôi bên chưa chia thắng phụ mà địch khiến người đến cầu hòa, tất nhiên là có mưu riêng, kíp nên đề phòng.

Tôn tửnói: “Không ước mà xin hòa là có mưu vậy”.

8.

Khi họ hẹn xin quân ta dời đóng nơi xa, thì người nghị hòa ấy là muốn được quân ta lui để họ đem người ngựa đặt phục mà đánh, cần phải đề phòng.

Tôn tử nói.

“Nửa tiến nửa lui là dụ ta vậy”.

9.

Khi thám thấy nước họ thực có việc nên xin nghị hòa để về nước, sợ ta đánh úp nên xin hòa để lui quân, thì lời có khác, nên bắt buộc ngả giáo bỏ giáp, đặt lời minh thệ mà chờ mệnh vua ta, rồi ngấm ngầm đến chỗ yếu hại trên đường về của giặc đặt nhiều quân kỳ quân phục, sợ họ nhân đêm trốn về.

10.

Khi quân họ đánh thua, thế muốn cầu hòa, thì đợi lập định lời ước thệ, thề vĩnh viễn không xâm lấn nhau, rồi khiến họ nộp khí giới và các ngựa tốt, và coi chừng người tù trưởng để chờ mệnh vua.

11.

Khi giặc cướp hoặc vì bất đắc dĩ bắt buộc, hoặc vì nhất thời ô hợp, nay biết ăn năn, nếu có thể khiến hàng thì nên mở lòng thành thực, hết sức vỗ về, ngõ hầu giữ toàn được là hơn.

12.

Khi quân giặc lại hàng, quả là không có ý khác, nên khiến ước hẹn đổi lỗi làm lành, và nên xử trí thích nghi, đừng nên đem lòng ngờ vực, khiến bị chìm đắm.

13: Thu được quân giặc đầu hàng, sai người coi giữ, giải giao cho các nơi thu quân, riêng chờ lệnh vua, đừng cho họp ở một nơi mà sinh ra biến.

Những việc cầu hòa thụ hàng ở trên chỉ phòng sự dối trá không thực mà bị hãm hại; nếu là thực tình thì sự xử trí ở ta, họa phúc biết trước.

Kẻ làm tướng phải nên xét kỹ.
 
Back
Top Bottom