Cập nhật mới

Khác Bát Tiên Truyền Kỳ

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
291286595-256-k666416.jpg

Bát Tiên Truyền Kỳ
Tác giả: hoigia369
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Nguồn: NTDVN
Tác giả: Đường Tân
Truyền thuyết kể rằng: Trong Đạo gia khi xưa có tám vị Tiên bất tử.

Họ đều đã trải qua quá trình tu luyện gian khổ, buông bỏ mọi dục vọng chấp trước của thế gian mà đắc Đạo thành Tiên, thọ cùng Trời đất.

Bởi vậy, Bát Tiên được coi là biểu tượng của sự trường sinh và điềm lành; sự hiện diện của Bát Tiên đem đến bình yên và hạnh phúc cho dương gian...

Truyền kỳ về Bát Tiên có lẽ bắt đầu từ triều đại nhà Đường, và câu chuyện cũng thay đổi khác nhau qua từng triều đại.

Tám vị Tiên, theo ấn bản sau đời nhà Minh, là gồm có: Lý Thiết Quải, Hán Chung Ly, Lã Động Tân, Hàn Tương Tử, Trương Quả Lão, Lam Thái Hoà, Hà Tiên Cô và Tào Quốc Cữu.

Các vị rất khác nhau về bề ngoài và cá tính, họ đều là Đại Tiên trong thể hệ Đạo gia và thường tụ hội, du ngoạn cùng với nhau.

Lý Thiết Quải có tật ở chân nên thường hiện thân với một cây gậy sắt, cuộc đời ông kinh qua rất nhiều gian khổ nhưng lại lập chí tu Đạo từ sớm.

Hán Chung Ly luôn luôn xuất hiện với một tay phe phẩy cái quạt lá, trước khi thành Tiên, ông từng là Đại tướng quân của nhà Hán.

Lã Động Tân từng làm Nho sinh, sau nhận Hán Chung Ly làm sư phụ và tu Đạo thành Tiên.

Hàn Tương Tử trước khi thành Tiên là cháu trai của Hàn Dũ - một văn nhân nổi tiếng ở triều đại nhà Đường - vị Tiên nhân này có tài thi phú, lại thường thổi sáo tiên.

Trương Quả Lão trông rất khỏe mạnh ở tuổi lão thái của mình.

Ông thường cưỡi lừa ngược và có rất nhiều pháp thuật.

Lam Thái Hòa tính tình thuần hậu, thường ưa ca hát, thích làm việc t



đạo-gia​
 
Bát Tiên Truyền Kỳ
Lời giới thiệu


Truyền thuyết kể rằng: Trong Đạo gia khi xưa có tám vị Tiên bất tử.

Họ đều đã trải qua quá trình tu luyện gian khổ, buông bỏ mọi dục vọng chấp trước của thế gian mà đắc Đạo thành Tiên, thọ cùng Trời đất.

Bởi vậy, Bát Tiên được coi là biểu tượng của sự trường sinh và điềm lành; sự hiện diện của Bát Tiên đem đến bình yên và hạnh phúc cho dương gian...

Truyền kỳ về Bát Tiên có lẽ bắt đầu từ triều đại nhà Đường, và câu chuyện cũng thay đổi khác nhau qua từng triều đại.

Tám vị Tiên, theo ấn bản sau đời nhà Minh, là gồm có: Lý Thiết Quải, Hán Chung Ly, Lã Động Tân, Hàn Tương Tử, Trương Quả Lão, Lam Thái Hoà, Hà Tiên Cô và Tào Quốc Cữu.

Các vị rất khác nhau về bề ngoài và cá tính, họ đều là Đại Tiên trong thể hệ Đạo gia và thường tụ hội, du ngoạn cùng với nhau.

Lý Thiết Quải có tật ở chân nên thường hiện thân với một cây gậy sắt, cuộc đời ông kinh qua rất nhiều gian khổ nhưng lại lập chí tu Đạo từ sớm.

Hán Chung Ly luôn luôn xuất hiện với một tay phe phẩy cái quạt lá, trước khi thành Tiên, ông từng là Đại tướng quân của nhà Hán.

Lã Động Tân từng làm Nho sinh, sau nhận Hán Chung Ly làm sư phụ và tu Đạo thành Tiên.

Hàn Tương Tử trước khi thành Tiên là cháu trai của Hàn Dũ - một văn nhân nổi tiếng ở triều đại nhà Đường - vị Tiên nhân này có tài thi phú, lại thường thổi sáo tiên.

Trương Quả Lão trông rất khỏe mạnh ở tuổi lão thái của mình.

Ông thường cưỡi lừa ngược và có rất nhiều pháp thuật.

Lam Thái Hòa tính tình thuần hậu, thường ưa ca hát, thích làm việc thiện, sau đắc Đạo thành Tiên.

Hà Tiên Cô trước khi đắc Đạo là một thiếu nữ vô cùng trẻ đẹp và hiếu thuận.

Còn Tiên nhân Tào Quốc Cữu vốn dòng dõi hoàng tộc, tính tình rộng lượng, hào phóng vô ngần...

Dân gian tương truyền Bát Tiên thường ngự ở tám động đá của núi Bồng Lai trên đảo Bồng Lai nơi cõi Thiêng liêng.

Sau đây là truyền thuyết về tám vị Tiên...

***
 
Bát Tiên Truyền Kỳ
(P.1): Tiên Lý Thiết Quải


Kỳ 1: Lý Thiết Quải đứng đầu Tiên chúng; Dương Tử kia phóng hỏa thiêu thầy

1.

Lý Thiết Quải

Nói về Lý Thiết Quải, Ngài họ Lý tên Huyền, hiệu Ngưng Dương, diện mạo nghiêm trang, tính hạnh trong sạch, thông minh cơ trí.

Năm hai mươi tuổi, Lý Ngưng Dương vẫn không màng công danh phú quý.

Tự xét cuộc đời vốn không bền chắc: vật đổi sao dời, nương dâu bãi bể, tháng ngày thấm thoắt như thoi đưa, giờ khắc trải qua như tên bắn, trẻ sớm già, già sớm chết... vinh hoa phú quý vốn tựa phù vân, chi bằng tu hành làm Thần tiên là quý.

Nghĩ như vậy chàng trai trẻ họ Lý liền giã từ bạn bè thân quyến, một sớm lên non quyết chí tìm đường tu Đạo.

Lại nghe đồn có ngài Lý Lão Tử vân du truyền Đạo đã đến núi Họa Sơn.

Lý Ngưng Dương bèn nghĩ: "Ngài cùng một họ với ta, lại đứng đầu mối Đạo, vậy nay ta cũng nên đến xin học Đạo với ngài".

Nghĩ tới đó rồi liền lập tức khởi hành đến Họa Sơn.

Đi dọc đường, Ngưng Dương ngâm thơ rằng:

"Tâm tính con người có thấp cao

Khen lò tạo hóa đúc anh hào

Làm trai hiểu thấu vòng vinh nhục

Được chữ thanh nhàn, khỏi chữ lao"...

Tới núi Họa Sơn thì mặt trời đã lặn.

Lý Ngưng Dương nghĩ rằng: "Mình thân xin làm đệ tử, lẽ nào dám đến ban đêm mà gõ cửa nhà thầy, chi bằng ngủ tạm trên bàn thạch này, đợi tới sáng sẽ hay".

Lại nói khi ấy trong chốn am mây có Huyền Khưu chân nhân cũng mới ghé thăm, đang đàm đạo cùng Lão Tử.

Xảy thấy có một ngọn thanh phong ào đến, Lão Tử hỏi Huyền Khưu rằng:

"Ông biết gió ấy là điềm chi chăng?".

Huyền Khưu đáp rằng: "Chắc có người sắp thành tiên đến đây!".

Lão Tử nói: "Ta biết Lý Ngưng Dương sắp thành tiên và là người đứng đầu trong sổ tiên".

Nói rồi truyền cho hai tiên đồng ra ngoài núi mà đón.

Vừa thấy một tráng niên đang ngả lưng trên thạch bàn, hai tiên đồng bước tới hỏi rằng: "Phải ông là Lý tiên sinh đó chăng?".

Lý Ngưng Dương hỏi lại: "Sao hai người lại biết tôi?".

Hai tiên đồng nói: "Chúng tôi vâng lệnh Lão Quân đi đón ngài".

Lý Ngưng Dương mừng thầm, liền tạ ơn hai tiên đồng rồi theo vào ra mắt Lão Tử.

Chỉ thấy đấng Chân sư hào quang sáng chói, dung nhan tươi nhuận, phong thái uy nghiêm, duy tóc râu thì bạc trắng; Huyền Khưu chân nhân cũng vậy - hai vị cao nhân này quả thực là Tiên phong Đạo cốt...

Lý Ngưng Dương liền quỳ lạy.

Hai vị Tiên ông bèn gật đầu đáp lễ, đoạn truyền lệnh cho ngồi, nhưng Lý Ngưng Dương không dám, thưa rằng: "Đệ tử tới tầm sư học Đạo, lẽ nào dám ngồi, xin chờ ân sư dạy bảo!".

Lão Tử nói: "Ngươi hãy cứ ngồi, ta sẽ nói cho mà nghe".

Nói đoạn ngài ngâm nga rằng:

"Học Đạo cho minh

Lẳng lặng làm thinh

Chẳng nên nhọc sức

Chớ khá tổn tinh

Giữ được tính tình

Cho thanh cho tịnh

Đừng lo đừng ráng

Là thuốc trường sinh"...

Lý Ngưng Dương mừng rỡ cúi đầu tạ ơn Lão Tử, chàng cũng không quên xoay qua chắp tay cảm tạ Huyền Khưu.

Huyền Khưu chân nhân mỉm cười, vuốt râu nói: "Ngươi có tên trong sổ Tiên, đứng đầu danh sách.

Cứ về lo tu luyện, như vậy ắt sẽ thành Tiên".

Nói đoạn, hai Tiên ông bèn truyền cho tiên đồng đưa Lý Ngưng Dương xuống núi.

Từ khi về động, Lý Ngưng Dương y theo lời Lão Tử truyền dạy mà đề cao tâm tính, miệt mài tu luyện.

Không bao lâu sau thì chàng thấy thân mình càng ngày càng thêm nhẹ nhàng thanh thoát.

Lại nói, ở kế bên động đá mà Ngưng Dương cư ngụ, có một người trẻ tuổi tên Dương Tử thấy vậy mới sinh lòng mộ Đạo, bèn xin bái chàng làm sư phụ, nguyện theo thầy tu Đạo, Lý Ngưng Dương cũng vui lòng chỉ dạy...

Thời gian thấm thoắt trôi đi, một sớm nọ hai thầy trò chợt thấy hào quang chiếu rọi rực rỡ qua cửa sổ, Lý Ngưng Dương bảo: "Chắc có Thần tiên giáng hạ".

Nói đoạn bèn phi thân lên đỉnh núi, thấy còn có một con chim ưng đang đậu trên cao, Lý Ngưng Dương than rằng:

"Con gà nuôi trong chuồng tuy sẵn lúa ăn, nước uống, song gần chốn hiểm nghèo sao bằng chim ưng, vốn chẳng có ai nuôi mà thong thả"...

Nói lời vừa dứt, Ngưng Dương nghe có tiếng hạc kêu, trông lên thấy Lão Tử và Huyền Khưu chân nhân, hai Tiên ông cưỡi hạc bay xuống.

Lý Ngưng Dương lạy mừng, Lão Tử cười mà rằng: "Hôm nay nhìn con tinh thần hơn trước!".

Lý Ngưng Dương bèn rước hai vị vào động, Lão Tử nói: "Ta xem con nguyên thần ly thể đã được.

Vậy thì mười hôm nữa con hãy xuất hồn, dạo chơi tiên cảnh với ta".

Nói xong rồi hai Tiên ông bèn mỉm cười cưỡi hạc bay đi.

Lý Ngưng Dương nhìn theo hai đấng minh sư, miệng không dứt lời cảm thán.

Cách chín ngày sau, Lý Ngưng Dương gọi học trò là Dương Tử tới mà căn dặn rằng: "Thầy có việc, sẽ [ngủ] thiếp đi bảy ngày.

Nếu hết ngày thứ bảy mà không thấy thầy về thì hãy đốt xác thầy, nếu chưa được bảy ngày thì phải giữ xác thầy cho cẩn trọng.

Tuyệt đối không được khinh suất, càng không được phép làm trái".

Dặn xong rồi liền thiếp đi...

Vâng lời sư phụ, Dương Tử một mình ở trong động giữ xác thầy ngày đêm không rời, ngủ không ngon giấc, tính ra đã trọn gần sáu ngày.

Bước sang chiều ngày thứ sáu có thân nhân đến báo tin rằng: "Mẫu thân của huynh hiện đang bệnh ngặt nghèo, đã gần tắt hơi, trông huynh về để thấy mặt mà chăng chối".

Nghe vậy, Dương Tử khóc lớn than rằng: "Thầy thiếp hồn chưa về, nếu ta đi ai giữ xác thầy?

Cầm bằng ở đây thì không thấy mặt mẹ thảm biết chừng nào!"...

Người ấy hỏi rõ việc xuất hồn của thầy, rồi nói rằng: "Xác người nằm đã sáu ngày, ngũ tạng cũng hư hết, lẽ nào sống lại được!

Vả lại thầy anh có dặn bảy ngày thì thiêu xác, chắc sẽ thành Tiên.

Nay chỉ sớm hơn có một ngày mà thiêu chắc cũng không lỗi.

Chi bằng thiêu xác thầy mà được thấy mặt mẹ, mới khỏi lỗi cả hai".

Dương Tử mới đầu phân vân chưa quyết; sau túng thế quá đành phải nghe lời.

Cậu trò dùng hoa quả và hương đăng tế sư phụ; vừa châm lửa thiêu xác, vừa khóc thảm thiết mà đọc một bài thơ vắn như sau:

"Mẹ bệnh, tử hầu kề

Thầy đi thiếp chưa về

Mẫu thân - tình một thuở

Sư phụ - nghĩa nhiều bề

Vẹn thảo nên quyền biến

Lỗi nghì luống ủ ê

Hồn linh xin chứng chiếu

Phiêu bồng chốn non huê"...

Kỳ 2: Lý Thiết Quải nguyên thần nhập xác; Dương Tử may đắc Đạo thành Tiên

1.

Lý Thiết Quải [tiếp...]

Lại kể tiếp, Dương Tử thiêu xác sư phụ xong rồi, liền nhanh chóng về nhà, mới đặt chân tới cổng thì mẹ đã tắt hơi.

Sự tình quả đúng là:

"Rủi vô cùng là rủi

Lỗi hết cả hai đàng:

Đã bất nghĩa với thầy

Lại không tròn hiếu mẹ!"...

Giờ ta lại nói về Lý Ngưng Dương: Nguyên thần ly thể theo Lão Tử, dạo khắp nước biếc non xanh, rồi qua núi Bồng Lai, lại đến các động Thần tiên ra mắt...

Đến bảy ngày thì họ Lý xin về.

Lão Tử cười mà rằng: "Con hãy nghe cho kĩ bài kệ này thì rõ".

Nói đoạn ngâm rằng:

"Tịch cốc ăn lúa mì

Đường quen xe phơi phới

Muốn tìm cốt cách xưa

Lại gặp mặt mày mới!"...

Lý Ngưng Dương nghe xong ngẩn người, mặc dù vẫn còn chưa hiểu ý tứ của lời điểm hóa trong bài kệ mà Lão Tử vừa mới đọc ra sao, nhưng cũng đành từ tạ ra về.

Khi hồn về tới động, Ngưng Dương không thấy học trò Dương Tử đâu, coi lại xác mình thì thấy đã hóa thành tro bụi.

Giận học trò bất nghĩa, không nghe theo lời thầy dặn, chưa đến bảy ngày đã thiêu xác mình, báo hại thần hồn không có chỗ mà nhập...

Vậy là nguyên thần đành phải bay phiêu phất đến chân núi... chợt thấy xác chết một lão ăn mày nằm vất vưởng bên đường, chân bị cùi mà hai tay thì vẫn giữ khư khư một cây gậy trúc, trên đầu gậy còn có treo thêm một hồ lô rượu.

Lý Ngưng Dương lúc này bất giác mới chợt nhớ lại bài kệ mà trước lúc chia tay sư phụ của mình đã đọc.

Đoán biết là số kiếp phải vậy chứ không nên trách học trò, đồng thời Ngưng Dương cũng ngộ ra vì cớ gì mà Lão Tử không bảo mình về trong lúc năm ngày hoặc sáu ngày, phải chăng là sư phụ có ý để cho mình thoát ly thân xác thịt, đoạn tuyệt thế sự hồng trần?

Lại tự nghĩ: "mình nhập vào thân lão ăn mày này cũng chỉ là mượn xác che mắt thế gian, chứ bản thân có phép thuật rồi thì muốn biến thế nào mà chẳng được!"

Vậy là không chút đắn đo, nguyên thần Lý Ngưng Dương bèn nhập vào xác lão ăn mày nọ, lại nhấc hồ lô, tu một ngụm rượu và phun vào cây gậy trúc, bỗng chốc gậy trúc hóa thành một cây thiết quải [gậy sắt]; còn cái bầu đựng rượu thì được biến thành bầu linh dược.

Cũng bởi duyên cớ như trên, nên dân gian sau này không mấy ai biết được tên thật của Lý Ngưng Dương, họ cứ thấy ông cầm cây gậy sắt thì bèn gọi ông là lão Thiết Quải - cái tên Lý Thiết Quải cũng từ đây mà có.

Khi này, Lý Thiết Quả bấm tay bắt quyết, biết rõ sự tình của cậu trò Dương Tử liền than rằng: "Bởi mẫu thân của Dương Tử hấp hối, túng thế quá cậu ta mới phải thiêu xác của ta.

Lại vì lấn bấn với cái việc thiêu xác ta nên mới không kịp gặp mặt mẫu thân.

Vậy thì ta đem hồ lô linh dược này đến cứu tử, kẻo trò ta ân hận cả đời".

Nghĩ rồi ông bèn vác cây gậy sắt đằng vân, mang theo bầu linh dược mà tới nhà Dương Tử.

Vừa hay Thấy Dương Tử đang ôm quan tài khóc ngất một hồi, rồi toan rút gươm tự vẫn.

Thiết Quải nhảy lại nắm gươm nói lớn rằng:

"Sống thác là lẽ thường, sinh tử vốn hữu mệnh.

Phàm là đạo làm con, phụ mẫu sống thì nuôi cho phỉ tình, phụ mẫu thác thì táng cho đủ lễ.

Ngươi giờ lại muốn chết theo, vậy bỏ tang sự cho ai?

Thật là vô ích lắm!".

Dương Tử mới thuật lại sự tình éo le mà mình gặp phải trước đó, rồi than khóc rằng: "Bởi cớ ấy nên tôi đã đắc tội với sư phụ lại bất hiếu với mẫu thân, còn sống mà làm chi?".

Nói rồi quyết tự vẫn lần nữa.

Thiết Quải mới can rằng: "Ngươi tự biết nghĩ như vậy cũng là trọn đạo với sư phụ, lại vẹn thảo với mẫu thân.

Nay trời khiến ta đến đây ban cho thuốc tiên mà cứu mẫu thân ngươi".

Nói rồi lấy một hoàn thuốc trong bầu đưa ra, bảo Dương Tử hòa với nước mà đổ vào miệng mẹ.

Dương Tử y lời, đem thuốc đi cứu mẹ, giây phút sau bà mẹ hắt hơi rồi thở được, ngồi dậy xem lại thấy mạnh khỏe hơn xưa.

Cả nhà mừng rỡ vô cùng.

Dương Tử cúi lạy Lý Thiết Quải không ngớt, thưa rằng: "Xin Tiên ông cho con biết tên hiệu, ân này kẻ hèn con nhất định báo đền!".

Thiết Quải nói: "Ta là Lý Ngưng Dương, sư phụ của ngươi đó.

Vì bị ngươi đốt xác nên ta phải nhập vào thân của lão ăn mày.

Lại vì lo lắng cho ngươi nên ta mới đến cứu tử.

Cứ như lời ngươi nói thì cũng có nguyên do nên ta không chấp nhất.

Vậy ngươi hãy ở lại hiếu thảo với mẹ cho phỉ tình.

Sư đồ hội ngộ cũng bởi hữu duyên, nay ta cho ngươi một hoàn thuốc này, uống vào ắt là trường thọ.

Nếu duyên chưa đoạn, thầy trò sẽ còn gặp mặt sau này.

Dương Tử cúi đầu bái lạy, còn chưa kịp ngẩng lên, Lý Thiết Quải đã biến mất rồi!...

Nghe nói sau này mẫu thân Dương Tử sống rất thọ.

Khi thân mẫu mãn phần, Dương Tử cử hành tang lễ rất chu đáo.

Mãn tang mẹ rồi, Dương Tử tìm đến chỗ động đá nơi sư phụ của mình từng ở khi trước mà tu.

Đến khi Thiết Quải trở về, được thầy xuất tâm bảo hộ, Dương Tử cũng đắc Đạo thành tiên.

Tính từ lúc cứu mẹ cho đến khi đắc Đạo là hai trăm năm có lẻ.

Đôi chút luận bàn:

Lý Ngưng Dương - Lý Thiết Quải sớm hiểu thấu danh lợi, vinh nhục ở cõi người chỉ như đóa phù dung sớm nở tối tàn, nên quyết chí tìm Thầy học Đạo.

Được Đức Lão Tử truyền dạy rằng thuốc trường sinh bất lão chính là học Đạo và tu tâm, Lý Ngưng Dương đã chuyên tâm tu luyện.

Cuối cùng, Ông đã vượt qua thử thách về buông bỏ sinh tử (không luyến tiếc xác phàm), buông bỏ oán hận và tu xuất từ bi (tha thứ cho học trò Dương Tử - người từng thiêu xác mình và còn cứu mạng mẹ Dương Tử).

Với uy đức rất lớn, Lý Ngưng Dương trở thành vị Tiên đứng đầu trong Bát Tiên.

Xưa nay người phàm vẫn muốn được sung sướng như Thần Tiên, được bất lão trường sinh, tiêu diêu tự tại nơi Thiên giới.

Thực ra, cứ như câu chuyện về Bát Tiên này mà nói, Thần Tiên có lắm vị trước đó cũng từng là người phàm trần, chỉ là họ coi nhẹ danh - lợi - tình nơi nhân thế, lập chí tu Đạo, lại hữu duyên gặp được đấng minh sư chỉ dạy... trải qua quá trình tu luyện gian khổ, họ buông bỏ được hỉ nộ ái ố, lợi danh và dục vọng nơi chốn hồng trần; buông bỏ hết thảy cái tình của nhân thế mà đắc Đạo thành Tiên.

Phải chăng đây cũng là "khổ tận cam lai", chuyên cần chịu khổ, tu tâm thì mới có ngày tìm được hạnh phúc vĩnh hằng trong cõi Bồng Lai, Thiên giới...
 
Bát Tiên Truyền Kỳ
P.2: Tiên Hán Chung Ly


Hán Chung Ly tung hoành trận mạc; Lý Tiên nhân hỏa kích phá mê

'Chung Ly nguyên soái nổi giận đâm Bất Dựt một thương, Bất Dựt đưa siêu đao ra đỡ, đánh nhau tám mươi hiệp cầm hòa.

Bất Dựt biết mình thắng không nổi liền giả thua bỏ chạy.

Chung Ly nguyên soái thừa thắng đuổi theo.

Bất Dựt bắn lén, Chung Ly nguyên soái tránh khỏi, tên bay sát bên tai...'

Hán Chung Ly

Hán Chung Ly, họ là Chung Ly, quê ở đất Yên Đài, ông hiện thân từ đời nhà Hán, tên thường gọi là Quyền, hiệu là Vân Phòng, làm Ðại Tướng trong triều đình nhà Hán.

Khi mới sinh ra, nhà của Chung Ly Quyền đã có điềm khác lạ, trên nóc nhà hào quang sáng đỏ, ai nấy trông thấy đều khen tụng.

Lớn lên Hán Chung Ly trở thành một vị tướng quân, võ nghệ như thần, oai danh quá cọp.

Lại nói khi ấy triều đình nhận được sớ ngoài biên ải gửi về xin cấp viện binh vì có giặc Bắc Phiên đánh phá.

Quân Bắc Phiên binh mã trăm vạn, Tướng quân Bắc Phiên là Bất Dựt uy vũ đại tài, thống lĩnh quân đội bách chiến bách thắng...

Hán hoàng đế xem sớ thất kinh, liền cử đại tướng Chung Ly Quyền làm nguyên soái, Phùng Dị làm phó tướng, lãnh năm mươi vạn binh đi tiếp ứng.

Vua thưởng ngự tửu xong rồi.

Hai vị Tướng quân tạ ơn, điểm quân ra ải.

Khi tới biên cương, Chung Ly Quyền khích lệ binh tướng rằng: "Từ xưa đến nay đại quốc phạt tiểu quốc, bây giờ Bắc Phiên hách dịch, dám phạm đến Trung Nguyên, khác nào chúng đang chê cười đại Hán ta không có người trí dũng.

Lúc này binh tướng phải hết lòng giúp nước, lập công báo đáp ơn vua.

Hãy nghe hiệu lệnh căn dặn: Thứ nhất đừng động đến lê dân bách tính, phải giữ chữ thanh liêm; thứ nhì, ra trận hễ nghe tiếng trống thì lập tức xông tới trước, nếu lui thì xử trảm.

Gắng sức cho thành công ban sư sẽ thăng thưởng".

Dặn rồi dẫn binh tới ải Kỵ Thủy đóng trại.

Rạng sáng ngày hôm sau hai bên ra trận, xưng tên xong rồi, Chung Ly Quyền thấy Bất Dựt tướng mạo phi phàm, tay cầm siêu đao quả thực là bậc mãnh tướng.

Còn Bất Dựt thấy Chung Ly Quyền mặt đỏ tựa lửa, chân mày lưỡi mác, chống cây giáo dài mà nạt lớn rằng:

"Hán đế đãi dị địch như con đỏ, chẳng dâng lễ cũng không chấp, bằng cống sứ thì hậu đãi mười phần.

Sao ngươi quên ơn, dám xâm lăng ải Hán.

Hay ngươi nghĩ rằng Trung Nguyên không có binh vấn tội đó chăng?

Nay lệnh cho ngươi phải lui binh về nước.

Nếu nghịch mạng thì chẳng toàn thây".

Bất Dựt cười lớn đáp rằng: "Thiên hạ là của chung ai có tài thì lấy được.

Hán đoạt của Tần đã lâu, nay Phiên lấy của Hán chẳng được sao?

Ấy là lẽ thường không có gì khác lạ.

Vả lại thiên hạ đồng đẳng, nước nào như nước ấy, ai lại chịu cống lễ cho ai?

Nay ta đã đem binh đến đây lẽ nào trở lại.

Quyết một phen thắng bại mới thôi".

Chung Ly nguyên soái nổi giận đâm Bất Dựt một thương, Bất Dựt đưa siêu đao ra đỡ, đánh nhau tám mươi hiệp cầm hòa.

Bất Dựt biết mình thắng không nổi liền giả thua bỏ chạy.

Chung Ly nguyên soái thừa thắng đuổi theo.

Bất Dựt bắn lén, Chung Ly nguyên soái tránh khỏi, tên bay sát bên tai, Chung Ly nguyên soái liền quay ngựa bỏ về, ai dè Bất Dựt thừa thế đuổi theo, Chung Ly nguyên soái phóng lại một cây thương.

Bất Dựt tránh không kịp nên nên bị thương, y thất kinh chạy về.

Chung Ly nguyên soái không đuổi theo nữa truyền lệnh thu binh.

Về tới trại, Hán Chung Ly nghĩ thầm: "Bật Dựt thật anh hùng, nay ta dùng sức mạnh e là khó thắng, ngày mai phải dùng kế mới xong".

Vậy là ngay trong đêm ấy bèn truyền cho hai vạn binh âm thầm mai phục bốn phía, khi nào nghe tiếng pháo nổ thì đó là hiệu lệnh, nhất loạt xông ra bắt tướng Phiên.

Lại truyền quân nấu cơm hồi canh tư để rạng đông giáp trận.

Lại cắt đặt thêm một đạo binh đề phòng Bất Dựt bại tẩu, thì đoạt ngựa xe khí giới và lấy dinh.

Còn Bất Dựt chạy về, điểm binh thấy thiệt hại vô số, Bất Dựt than rằng: "Chung Ly Quyền trí dũng kiêm toàn, chắc đấu lực không lại, mai ta phải lập trận bắt hắn mới được".

Nghĩ rồi truyền quân sắp đặt, nội canh năm lập trận hoàn thành.

Rạng đông Chung Ly nguyên soái kéo binh ra, thấy binh Phiên lập trận chỉnh tề lắm, Chung Ly mới khen thầm rằng: "Ta ngỡ là Bất Dựt chỉ có sức mạnh mà thôi, không dè y lại tinh thông cả trận đồ nữa".

Nói rồi nhìn xem cho kỹ là trận Bát Môn.

Liền xoay qua bảo phó tướng Phùng Dị rằng: "Ngươi biết trận gì đó chăng?".

Phùng Dị đáp: "Mạt tướng không biết".

Chung Ly nguyên soái nói: "Ấy là trận Bát Môn Kim Tỏa; phép phá trận ấy là: Trước vào sinh môn là hướng Cấn phía đông bắc, rồi trở ra khai môn mới được.

Ngươi y lời đem binh phá theo binh pháp, thì thế trận đối phương ắt sẽ bị loạn, ta sẽ kéo binh tiếp ứng".

Phùng Dị vâng lệnh, lập tức đốc thúc binh mã lao vào phá trận theo binh pháp.

Quả như dự liệu, quân Phiên bị vỡ trận, Phùng Dị hô lớn rằng: "Lúc này đã gần thành công, binh tướng phải hết lòng ráng sức".

Ngay khi đó Chung Ly nguyên soái cũng điều binh xốc tới, nội công ngoại kích phá trận tan tành; chỉ thấy bên phía quân Phiên máu chảy thành sông, thây phơi chật đất.

Bất Dựt bại tẩu, bị đoạt khí giới, cướp lương, thiếu chút nữa là mất trại.

Lại nói về Lý Thiết Quải lúc này đang vân du thì thấy điềm lạ, bèn bấm tay bắt quyết: biết được Nguyên Chung Ly nguyên soái vốn tiền thân là Tiên coi sổ, vì phạm tội phải đọa xuống trần; lại dùng phép "Túc mệnh thông" mà ngó thấy Chung Ly Quyền vừa giao chiến sinh tử với Bất Dựt...

Thiết Quải ở trên mây, giật mình mà nghĩ rằng: "Hán Chung Ly đã đã đến lúc cần phải tu luyện mà quay trở về Thiên giới, cớ sao còn mải mê chinh chiến nơi này!

Nếu để Chung Ly thắng trận, về triều lại được phong thêm quan tước, đường trần danh lợi, mê lộ khó qua, chi nên khiến cho ông ta bại trận, từ đó ngã lòng thì mới dễ độ".

Nghĩ tới đây rồi, Lý Thiết Quải liền hóa thân thành một lão nhân, mỉm cười đi về hướng soái phủ của Tướng quân Bất Dựt.

Bất Dựt từ khi bị phá trận mười phần quân binh mất tám còn hai, y đang thì đi ra đi vào vỗ trán cau mày, than dài than vắn.

Xảy thấy có quân lính vào bẩm báo rằng: "Có một lão nhân tướng mạo thần tiên xin vào ra mắt".

Bất Dựt lấy làm lạ, bèn cho người mời vào.

Lão nhân diện kiến, Bất Dựt hỏi rằng: "Chẳng hay ngài tìm tới soái phủ của tôi có việc gì?"

Lão nhân nói: "Tôi đến mừng cho tướng quân".

Bất Dựt cả giận quát: "Ta đây vừa bại trận, hận khí còn chưa hết, có chuyện gì hay ho mà tới lượt ông mừng?"

Lão nhân vẫn điềm nhiên nở một nụ cười, nói: "Tướng quân nói sai rồi, việc binh thắng bại là lẽ thường tình.

Trận này hỏng còn trận khác, lẽ nào vừa bại một trận đã vội ngã lòng.

Tôi vừa xem sao trời, nhìn dị tượng biết được thời Hán đã suy.

Hiện thời binh Hán vừa đại thắng nên ắt sẽ sinh kiêu ngạo mà bất cẩn buông lơi phòng bị, vả lại tôi biết đêm nay bên dinh Hán sẽ bị một cơn đại hỏa hoạn, nếu binh Phiên thừa dịp ấy mà cướp trại thì sẽ chắc thắng mười phần".

Nói rồi giã từ đi mất.

Bất Dựt bán tín bán nghi, nhưng vẫn truyền quân chuẩn bị cơm nước từ hồi canh một, để canh hai đi tập kích doanh trại đối phương.

Phó tướng Tất Vật can rằng: "Tiểu tướng nghi ngại bên Hán sai gian tế giả dạng gạt mình, vậy ta chẳng nên tin lời ông lão ấy".

Bất Dựt đáp rằng: "Ngươi hoài nghi cũng phải, song ý ta đã quyết.

Vả lại lão nhân kia nói xem thiên văn, biết đêm nay dinh Hán gặp hỏa hoạn lớn, vậy ta cứ âm thầm kéo quân đi tập kích, nếu thấy lửa, ta sẽ lệnh cho binh mã đồng loạt tấn công; cầm bằng phía doanh trại Hán không có biểu hiện gì, khi đó quân ta chủ động lui binh cũng chưa muộn".

Nói rồi chia binh làm bốn đạo, âm thầm mai phục.

Về phía Hán doanh, Chung Ly nguyên soái thắng trận khải hoàn, thưởng tướng khao binh thật là rầm rộ.

Đến canh ba, phó tướng Phùng Dị thưa rằng: "Tuy Bất Dựt lần này bại trận, nhưng mãnh tướng tinh binh bên đó vẫn còn đông lắm, tiểu tướng nghĩ bên ta phải cẩn trọng đề phòng quân Phiên phản kích cướp doanh".

Chung Ly nguyên soái khen phải, lập tức truyền cho Phùng Dị đem quân tuần phòng nghiêm ngặt, còn mình thủ trại chỉnh tề.

Chẳng ngờ vừa tới giữa canh ba, Lý Thiết Quả hóa phép dùng đại hỏa đốt doanh, lại cho nổi gió thần trợ lực, lửa cháy đỏ trời, khói phun ngập đất, binh tướng hốt hoảng cứu hỏa không xong, binh thảo người ngựa thảy đều hỗn loạn.

Lại vừa hay đúng lúc ấy hàng vạn hùng mã tinh binh của Bất Dựt ồ ạt tấn công.

Sự tình bên doanh Hán quả đúng là:

"Nhà dột lại gặp mưa dai

Thuyền nan lâm bão họa tai tứ bề!"...

Hán nguyên soái xuất phàm tu Đạo; Thầy Đông Huê hóa phép độ trò

Chung Ly nguyên soái cầm giáo xông ra đánh với Bất Dựt mười hiệp, ngoảnh đầu lại thì thấy quân binh của mình chạy hết nên trong tâm đã có phần kinh hãi, lại không biết quân giặc đông hay ít.

Tính thế đương đầu không nổi nên đành bại tẩu.

Bất Dựt kéo binh đuổi theo rất gấp!...

Hán Chung Ly [tiếp...]

Đang trong lúc thập tử nhất sinh đó thì may lại gặp được phó tướng Phùng Dị giúp đỡ.

Hai người thúc ngựa chạy gấp, ngó lại thấy doanh trại quân Hán đã cháy rụi, lửa đỏ than hồng rực sáng như ban ngày.

Chung Ly nguyên soái ức quá nằm phủ phục xuống lưng ngựa như muốn ngất đi.

Phùng Dị áp ngựa chạy sát lại, nắm lấy chiến bào của chủ tướng mà động viên, khuyên nhủ.

Chung Ly nguyên soái nói:

"Thân ta là đại tướng vâng chỉ Thánh thượng, lãnh binh đánh Phiên, ngỡ là cứu nước giúp dân cho rạng rỡ danh tiết.

Nào hay chỉ vì một cơn hỏa hoạn mà khiến cho ta thất trận chẳng những mắc tội với Thánh thượng, lại hổ mặt với đồng liêu!

Thật là trời muốn hại ta rồi, nay còn sống làm chi nữa!"...

Phùng Dị an ủi rằng: "Thắng bại là lẽ thường, xin nguyên soái đừng phiền muộn.

Hiện quân Phiên đang truy sát phía sau, ngài hãy thúc ngựa chạy gấp, để tôi đánh chặn hậu cho.

Mong chủ tướng hãy sớm về triều xin binh chi viện".

Chung Ly nguyên soái nghe lời.

Còn Phùng Dị ở lại tử chiến với Bất Dựt tới vài trăm hiệp sau đó cấp tốc phá vòng vây mà bỏ chạy...

Bất Dựt đại thắng nên cũng hồi binh, không truy sát nữa.

Lại nói, Chung Ly nguyên soái một người một ngựa chạy từ đêm hôm trước tới chiều ngày hôm sau, cổ khan bụng đói, mỏi mệt rã rời... chỉ thấy bốn bề bát ngát rừng xanh, thăm thẳm núi đá, tịnh không một bóng người.

Hán Chung Ly tưởng chừng như sắp kiệt sức... chợt thấy một lão tăng chống gậy đi tới, Chung Ly bèn xuống ngựa chắp tay thưa rằng:

"Tôi là đại tướng nhà Hán đánh giặc Bắc Phiên bị bại trận nên lạc đường, hiện đang muốn tìm nơi tá túc xin cao tăng chỉ giúp".

Lão tăng gật đầu, bảo Chung Ly dắt ngựa đi theo một hồi, bỗng thấy phía xa kia thấp thoáng bóng trang viên.

Vị cao tăng nói: "Đây là chỗ Đông Huê Thần tiên ngụ, tướng quân vào đó mà nghỉ ngơi".

Nói rồi lướt đi như bay, chớp mắt đã không nhìn thấy bóng dáng đâu nữa.

Chung Ly nguyên soái dắt ngựa đi về phía trang viên, ngó thấy cảnh đẹp hoa thơm, bốn bề tao nhã khác thường, trong lòng chợt nghĩ: đây chẳng phải chốn Thần tiên ẩn dật là gì?

Lại đi đến trước một cửa động, nghe thấy có tiếng ai đó ngâm thơ rằng:

"Việc thế chẳng đua tranh,

Thanh nhàn lánh lợi danh

Thân nương theo động đá

Tình gửi chốn mây xanh

Chơi Đạo say mùi Đạo

Thong dong dưỡng tính lành

Hỏi ai là bạn hữu

Gió mát với trăng thanh"...

Hán Chung Ly đâu có hay rằng, lão tăng chỉ đường khi nãy chính là Lý Thiết Quải hóa thân, trước đó vị Tiên nhân này lại sắp xếp cậy nhờ Đông Huê chân nhân tiếp duyên truyền Đạo cho Chung Ly nguyên soái.

Hán Chung Ly mải nghe tiếng thơ ngâm mà chân đã bước vào cửa động tự lúc nào.

Bất giác chợt thấy một lão đạo phong thái phi phàm, khoác đạo bào trắng bước ra hỏi rằng:

"Có phải là Chung Ly nguyên soái - đại tướng quân nhà Hán đó chăng?".

Chung Ly nguyên soái thất kinh, thưa phải.

Lão đạo lại hỏi: "Sao không ghé vào am mà nghỉ?"

Chung Ly nguyên soái thưa rằng: "Kẻ võ biền này vâng lệnh chinh phạt nhưng thất trận; nay lại lạc bước tới đây, tìm không ra chỗ trọ.

Nhờ gặp một tăng nhân chỉ đường nên mới đến được nơi này, xin lão đạo mở lòng khoan dung cho kẻ thô lỗ này tá túc một đêm".

Lão đạo ân cần mời vào.

Bữa tối có cơm chay bánh nướng chấm mật ong, lại thêm trà thơm, hoa quả tráng miệng... hai người ngồi đàm đạo, tới canh khuya lão đạo mở lời mà rằng:

"Công danh như bọt nước giữa dòng, phú quý tựa ngọn đèn trước gió, từ xưa đến nay giang sơn nhiều chủ, phúc thọ ít người.

Bởi bần đạo lớn tuổi hơn tướng quân nên từng trải một thời...

đã lâu nay bần đạo quyết lánh vòng vinh hoa phú quý, hằng vui thú thanh nhàn, tuy chưa một sớm thành Tiên thời cũng tối ngày thoát tục.

Sao tướng quân không thừa dịp này rũ bỏ hồng trần mà tu tâm dưỡng tính, còn mải mê công danh phú quý làm chi?"

Chung Ly nguyên soái chăm chú lắng nghe lão đạo giảng nói đến tận lúc này, cũng có phần hồi tâm chuyển ý, bèn ướm hỏi:

"Chẳng hay nếu như một người muốn trường sinh thì cần tu luyện phép gì?"

Lão đạo đáp: "Phép trường sinh bất lão thì đâu có gì lạ; chính là: lòng phải rỗng mà bụng phải đặc".

Chung Ly nguyên soái nói: "Xin chân nhân cắt nghĩa cho rành!"

Lão đạo vuốt râu mỉm cười đáp: "Trong lòng không lo nghĩ vướng bận việc gì cả, thản nhiên thư thái như không, ấy là 'rỗng lòng'.

Lại đừng theo việc ham muốn, lánh xa sắc dục, đề cao tinh thần, đắp bồi nguyên khí...

ấy gọi là 'đặc bụng'.

Nếu chuyên tâm làm được như vậy thì một sớm thành Tiên, trường sinh bất tử, lo gì không thọ?"...

Hán Chung Ly như choàng tỉnh mộng, hành lễ thưa rằng: "Xin chân nhân cho biết danh tính, kẻ phàm con xin bái người làm sư phụ, những mong được chân nhân chỉ dạy".

Lão đạo nói: "Ta là đạo sĩ tu luyện từ thời thượng cổ, tên hiệu là Đông Huê".

Nói rồi đỡ Chung Ly đứng dậy, đồng ý thu nhận làm đệ tử, lại truyền cho Hán Chung Ly phép tu luyện trường sinh; dạy thêm phép "chỉ đá hóa vàng", còn tặng thêm cho tân đệ tử bảo kiếm Thanh Long chém quỷ.

Xế trưa hôm sau Hán Chung Ly bái lạy từ giã sư phụ, vừa bước chân ra khỏi cửa động, ngoái lại đã không nhìn thấy thầy mình đâu, động đá cũng biến mất... chàng biết đã gặp được cao nhân hóa thân tới để độ mình; bèn cải hiệu là Vân Phòng, nhẩm tính về thăm gia quyến trước khi xuất phàm tu Đạo.

Lại nói ở nơi quê nhà, nghe tin Chung Ly nguyên soái thất trận biệt tin, ngỡ là ngài đã tử tiết, nên gia quyến đau buồn để tang.

Bỗng nhiên thấy Chung Ly trở về, Hán gia mừng vui khôn xiết!

Người người kéo tới thăm hỏi sự tình, Chung Ly Vân Phòng thuật lại câu chuyện.

Gia phụ nghe xong mừng lắm, thốt rằng: "Khi mới sinh con đã có điềm lành, không lẽ thác về nghiệp dữ?"...

Chung Ly Vân Phòng không dám nán lại quê nhà lâu, sợ Hoàng đế hay tin, xuống chiếu trách tội.

Bèn từ giã gia quyến, xuất phàm tu Đạo.

Dọc đường đi có ghé thăm dinh phủ người huynh trưởng là Chung Ly Giảng - vốn đang làm quan, giữ chức Lang trung.

Chung Ly Giảng tuy xuất thân quan trường nhưng bản tính hết sức thuần tịnh, lại nghe hiền đệ nói chuyện đạo đức, chuyện sửa mình tu Đạo, càng thêm ngưỡng mộ mười phần, liền quyết tâm trốn theo cùng em tu luyện.

Hai người nhắm núi Họa Sơn mà đi tới.

Dọc đường, thấy có con cò trắng đang ngóng cổ bay, Vân Phòng nói:

"Con cò cổ dài, le le cổ ngắn, không thể nào cắt bớt mà đắp đổi cho bằng.

Việc đời cũng vậy, kẻ ưa danh lợi, người mến thanh nhàn"...

Trên đường lên núi tu luyện, nhờ có bảo kiếm Thanh Long mà sư phụ Đông Huê chân nhân trao tặng, Vân Phòng giết được cọp tinh đang phá hại dân làng ở chân núi, lại thấy dân tình quá đói khổ, ông bèn bí mật dùng phép "chỉ đá hóa vàng" cứu trợ cho dân.

Thời gian cứ vậy mà hơn chục năm đã thấm thoắt trôi qua...

Đến một ngày nọ, Ðông Huê chân nhân bỗng dưng tìm đến trực tiếp chỉ dạy thêm cho hai người.

Ít lâu sau, một hôm Chung Ly Vân Phòng xuất quan vân du, vừa phi thân ngang qua vách núi Tứ Hạo, thình lình có một tiếng sấm nổ vang, từ thân núi nứt ra một cái khe.

Vân Phòng thấy lạ, liền tiến vào khe, chợt thấy phía trong có ánh kim quang thập sắc.

Bước lại gần, Vân Phòng bắt gặp một cái hộp đá, bên trong có đặt một cuốn kinh sách, liền cầm lấy và phi thân ra ngoài.

Vừa phóng thân mình ra khỏi thì đột nhiên khe núi biến mất, vách tạc liền như cũ.

Vân Phòng nhủ thầm: "Hẳn là đấng minh sư đã ban kinh sách cho mình đây".

Ông bèn lập tức quay trở về Họa Sơn, kể từ đó càng cố công chuyên cần tu luyện, chẳng bao lâu sau thì khai công, cảm thấy mình đã thăng hoa đến tầng thứ hết sức cao siêu.

Một sớm tinh sương nọ, Chung Ly Vân Phòng bỗng nghe tiếng thiên nhạc vang khắp không gian, nhìn lên thấy mây lành ngũ sắc, hào quang sáng rực.

Lại có một con hạc tiên đáp xuống trước mặt.

Vân Phòng liền trao sách báu lại cho huynh trưởng rồi cưỡi hạc trắng mà bay về Trời.

Lại nghe nói Chung Ly Giảng ở lại tu theo kinh sách đó, một thời gian sau cũng đắc Đạo thành Tiên, được Vân Phòng cưỡi hạc xuống đón.

Đôi chút luận bàn:

Lý Thiết Quải bấm tay xem việc mới hay Chung Ly nguyên soái trước đây vốn là Tiên coi sổ sách nơi Thiên giới.

Điều này phải chăng nói lên rằng sự luân hồi chuyển thế là có thật?

Nói về Hán Chung Ly, vì mải mê lập công nơi trận mạc mà quên cả lối về Thiên giới.

Mới hay cái bả hư vinh, công danh lợi lộc mê hoặc con người ta đáng sợ làm sao!

Cũng may còn gặp được Tiên nhân Lý Thiết Quải trợ duyên điểm hóa mới thoát khỏi cái vòng danh lợi.

Có câu:

"Bắp cày đổi lấy chìa vôi

Lợi danh đổi lấy một đời hư không", ngẫm ra cũng không phải là không có lý.

Lại nghe Đông Huê chân nhân dạy học trò của mình rằng: muốn trường sinh đắc Đạo thì lòng phải "rỗng", bụng phải "đặc", ấy phải chăng cũng chính là cần buông bỏ chấp trước vào danh - lợi - tình, trau dồi phẩm đức, đề cao tâm tính, xả bỏ dục vọng, tu rèn bản thể mới mong có ngày thăng hoa siêu xuất vậy?

Tích cũ kể rằng, Chung Ly Vân Phòng sau khi đắc Đạo thành Tiên, có quay lại vân du nhân thế, tìm độ đệ tử của mình là Lã Động Tân, lại truyền cho học trò phép "chỉ đá hóa vàng" và bày ra mười quan ải thử thách cũng không kém phần ly kỳ hấp dẫn.

Muốn biết câu chuyện ra sao, mời quý vị đón xem phần sau sẽ rõ.
 
Bát Tiên Truyền Kỳ
P.3: Tiên Lã Động Tân


Tiên nhân xuất thế tìm đồ đệ; Thuần Dương mơ 'giấc mộng huỳnh lương'...

Một ngày kia, Lã Ðộng Tân đến chợ Trường An, huyện Hàm Ðan, vào quán rượu thì gặp một đạo sĩ khoác đạo bào màu trắng đang đề thơ trên vách...

3.

Lã Động Tân

Tương truyền Lã Ðộng Tân là con trai của Thứ Sử Hải Châu, ông sinh vào năm Trinh Nguyên thứ 14 – Triều đại nhà Đường.

Khi thân mẫu mới sinh ra Động Tân thì trong phòng mùi hương thơm phức, có hạc trắng bay vào phòng rồi biến mất.

Ấy là Huê Dương chân chân đầu thai xuống trần, ứng vào Lã Ðộng Tân.

Lã Ðộng Tân lớn lên, tướng mạo phi phàm, tay dài, cổ cao, mũi thẳng, xương gò má cao, chân mày bên tả có nốt ruồi, dưới bàn chân có chỉ như lưng qui (mai rùa) mình cao 8 thước 2, thích mặc áo đạo sĩ, bịt khăn huê dương (bao đảnh xanh).

Khi ấy có thầy coi tướng là Mãn Tổ đến toán quẻ cho Lã Ðộng Tân và đoán rằng: "Người trẻ này tướng khác phàm tục, sau gặp chữ Lư thì đắc thời, gặp chữ Chung thì thành đạo".

Mọi người trong nhà họ Lã đều nghe nhưng ai nấy đều không hiểu gì.

Năm 20 tuổi, Lã Ðộng Tân xưng hiệu là Thuần Dương, đi thi đỗ Tú Tài, kỳ thi tiếp theo đỗ luôn Cử Nhân, nhưng khi đi thi Tiến Sĩ thì rớt.

Bất đắc chí, trên đường trở về, Động Tân du ngoạn đến núi Lư sơn, gặp Huỳnh Long chân nhân dạy cho phép tu luyện và tặng cho một thanh gươm báu trừ yêu.

Một ngày kia, Lã Ðộng Tân đến chợ Trường An, huyện Hàm Ðan, vào quán rượu thì gặp một đạo sĩ khoác đạo bào màu trắng đang đề thơ trên vách, có ba bài thơ như sau:

1."

Ngồi đứng hằng mang rượu một bầu,

Chẳng cho cặp mắt thấy Hoàng Châu,

Dạo chơi ít kẻ tường tên họ,

Trên thế thanh nhàn muốn được đâu?"

***

2."

Thần Tiên tìm bạn khó không nài,

Có phước theo ta dễ mấy ai?

Ðông Hải rõ ràng nhiều động đá,

Ít người được thấy núi Bồng Lai".

***

3."

Dạo chơi theo thuở, ở theo thời,

Danh lợi làm chi mắc nợ đời.

Nằm nghĩ co tay hằng đếm mãi,

Mấy ai ao ước được như lời"...

Lã Ðộng Tân thấy đạo sĩ cốt cách Thần Tiên, đề thơ thanh thoát thì cảm phục lắm, liền đến làm quen, chắp tay chào hỏi và xin Ðạo sĩ cho biết họ tên.

Ðạo sĩ mời Động Tân ngồi, rồi nói rằng:

- Cậu hãy làm một bài thơ cho ta biết ý trước đã.

Lã Ðộng Tân liền đọc ứng khẩu liền:

"Cân đai ràng buộc ý không màng

Áo vải coi ra rất nhẹ nhàng

Danh lợi cuộc đời chưa phỉ nguyện

Làm tôi Thượng Ðế mới nên trang"...

Ðạo sĩ nói:

- Ta là Chung Ly Vân Phòng, tu ở núi Triều Hạc, cậu có muốn đi chơi với ta không?

Ðồng Tân tỏ ý lưỡng lự...

Vân Phòng biết họ Lã còn muốn đi thi Tiến Sĩ để trổ danh với đời nên mới có ý dùng dằng như vậy.

Vân Phòng muốn độ Lã Ðộng Tân nên ngồi nấu một nồi huỳnh lương, (tức là nồi bắp-ngô vàng).

Trong lúc chờ cho nồi bắp chín, Vân Phòng đưa cho Lã Ðộng Tân một cái gối, bảo:

Cậu hãy ngả lưng nghỉ ngơi chút xíu, đợi bần đạo luộc xong nồi bắp này rồi ta tiếp tục đàm đạo.

Động Tân nằm xuống, kê đầu lên gối, giây lát chiêm bao thấy mình vác lều chõng đi thi, ngang qua nhà giàu nọ, gặp người con gái sắc nước hương trời thì bèn ướm lời.

Nàng nói rằng: Nếu chàng thi đỗ Trạng Nguyên thì thiếp nguyện nâng khăn sửa túi cho.

Lã Động Tân vào khoa thi, quả nhiên đỗ Trạng Nguyên, trở về cưới được nàng ấy, sau lại cưới thêm hầu thiếp, được vua bổ làm quan Gián Nghị, lần lần thăng quan tiến chức, tiền đồ lên như diều gặp gió.

Sau gần 40 năm quan trường thì được vua phong tới chức Thừa Tướng, con đàn cháu đống; thông gia cũng đều là bậc quan nhất phẩm đương triều, môn đăng hộ đối, thế lực khuynh thành.

Thật là vinh sang phú quý tột bậc...

Chẳng may, sau đó Lã Động Tân bị gian thần hãm hại, vu oan giá họa, vua lại tin lời gian thần, bắt tội Động Tân, truyền tịch thu gia sản, đày qua núi Lãnh Biển, cực khổ vô cùng...

Kế đó Động Tân hoảng sợ, giật mình thức dậy.

Vân Phòng ngồi kế bên cười lớn, đoạn ngâm nga hai câu thơ rằng:

"Nồi bắp hãy còn ngòi,

Chiêm bao đà thấy cháu"...

Lã Ðộng Tân lấy làm lạ hỏi rằng:

- Ngài biết được cả giấc chiêm bao của tôi sao?

Hán Chung Ly tay phe phẩy quạt, cười lớn mà rằng:

- Chiêm bao 40 năm, công việc cả muôn, thiệt không đầy một lát.

Được chẳng khá mừng, mất không nên thảm, hết vinh tới nhục là lẽ thường. ‎

[Cũng do sự tích này mà từ đó trong dân gian có truyền tụng nên câu thành ngữ: "Giấc mộng huỳnh lương"; "Giấc mộng kê vàng" hay "Giấc mộng Hàm Ðan"... là để chỉ giấc mộng của Lã Ðộng Tân, hàm nghĩa‎‎ muốn khuyên con người ta: đời người thế gian chỉ như quán trọ, vinh hoa phú quý là phù du mộng ảo vụt có, vụt mất như bọt biển, mây trôi...].

Ðộng Tân nghe Vân Phòng nói vậy, liền tỉnh ngộ, ngẫm nghĩ mà thấy chán ngán cuộc đời, bèn cầu xin Vân Phòng cho theo học Đạo.

Vân Phòng nói:

- Ta thấy ngươi việc nhà hãy chưa an, đời sau tu cũng không muộn.

Nói rồi liền bỏ đi...

Thực ra là Chung Ly Vân Phòng muốn thử nhìn xem tâm tính của Lã Động Tân ra sao trước khi nhận làm đồ đệ, bởi với các vị sư phụ thuộc trường phái Đạo gia khi xưa, việc lựa chọn đồ đệ chân truyền là vô cùng nghiêm ngặt.

Sau "giấc mộng huỳnh lương" tại quán trọ hôm đó, vị Tiên nhân Hán Chung Ly đã bày ra mười quan ải khảo nghiệm để thử thách Lã Động Tân như sau:

Khảo nghiệm 1, quan sinh tử

Có một ngày Thuần Dương - tên hiệu của Lã Động Tân - đi xa trở về, đột nhiên thấy tất cả người thân đều bị bệnh chết hết.

Thuần Dương bi thương nhưng trong lòng cũng không nuối tiếc bởi đã hiểu lẽ sinh tử ở đời đâu hề có chuyện ngẫu nhiên, ông lặng lẽ mua áo quan, làm tang lễ...

Khi bắt đầu tang sự thì chỉ trong chốc lát tất cả người thân của Lã Động Tân đều sống lại.

Chứng kiến cảnh ấy, trong lòng ông vẫn bình thản, không quá đỗi vui mừng.

Liệu có phải Thuần Dương vô tình? không hẳn thế, mà là bởi vì ông đã biết rằng sinh tử là có mệnh, đều là chỗ tinh tế, tỉ mỉ của nhân duyên.

Khi đã hiểu thấu đáo thì không còn phải lo sợ nữa.

Khảo nghiệm 2, quan vật chất

Thuần Dương đi lên thị trấn bán hàng.

Sau khi đã thỏa thuận xong về giá cả, bên mua đột nhiên trở mặt và chỉ trả cho ông nửa giá tiền.

Thuần Dương không hề tranh cãi với người mua hàng, chỉ nhận tiền rồi để người kia nghênh ngang lấy hàng rời đi.

Thuần Dương hiểu rằng: Trong giao dịch thương trường, mỗi khi phát sinh tranh cãi, gặp phải người không giữ lời, chịu thiệt một chút có lẽ là hoàn trả món nợ đời trước!

Cùng người so đo, tức giận chỉ làm tổn hại thân thể.

Khảo nghiệm 3, quan nhẫn nhịn

Đúng ngày mùng một Tết, Thuần Dương đang chuẩn bị ra khỏi nhà thì có một kẻ ăn mày tới gõ cửa nhà ông xin ăn.

Thuần Dương lập tức đưa cho người kia một chút tiền.

Tuy nhiên, người ăn mày vẫn tiếp tục đòi thêm tiền và còn mắng chửi ông bằng những lời lẽ hết sức thô tục.

Thuần Dương chỉ mỉm cười và cảm ơn người ăn mày này.

Thiện tâm bố thí, lại còn bị mắng lại, một người bình thường khó nhẫn chịu được việc ấy, có khi nổi trận lôi đình mà đánh mắng người kia.

Nhưng Thuần Dương không như vậy, có thể thấy được sự khác biệt rất lớn giữa ông và những người bình thường khác.

Khảo nghiệm 4, quan từ bi

Khi Thuần Dương đang chăn cừu trên một sườn núi thì đột nhiên một con hổ đói chạy tới truy đuổi đàn cừu.

Thuần Dương vội vàng lùa đàn cừu trở lại xuống núi, lấy thân mình tiến lên ngăn con hổ lại để cứu đàn cừu.

Con hổ đói bỏ đi.

Người đời có thể làm được việc không sát sinh, chay tình tu hành quả thực cũng không nhiều lắm.

Vậy mà Thuần Dương vì cứu đàn cừu mà dám xả thân, khiến cho ngay cả hổ đói cũng cảm động mà rời đi.

Khảo nghiệm 5, quan sắc dục

Khi Thuần Dương đang đọc sách trong lều cỏ ở trên núi thì bỗng nhiên xuất hiện một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần đi đến trước mặt ông.

Thiếu nữ nói rằng cô đã bị lạc trên đường trở về nhà, trời lại sắp tối, nên muốn xin tá túc lại một đêm.

Thuần Dương bằng lòng cho cô gái ở lại.

Đêm hôm ấy cô gái tìm mọi cách quyến rũ, dụ dỗ Thuần Dương ngủ cùng mình.

Nhưng Thuần Dương trước sau đều giữ thần thái tự nhiên, không hề động tâm.

Bởi không bị động tâm sắc dục, do vậy Thuần Dương đã vượt qua được quan ải thử thách này.

Cảnh giới của bậc tu Đạo, ai cũng phải vượt qua cám dỗ của quan sắc dục, nếu như động tâm coi như uổng phí một đời tu luyện.

Khảo nghiệm 6, quan không tham:

Một hôm, khi Thuần Dương rời nhà ra ngoài thành, đến khi trở về thì đã thấy nhà của mình bị trộm đột nhập.

Kẻ trộm lấy đi mọi thứ, không để lại chút gì.

Thuần Dương không hề động tâm, không ủ rũ và cũng không báo quan, vẫn tiếp tục tự mình cày cấy nuôi thân.

Tới một ngày nọ, khi đang làm vườn, Thuần Dương bỗng cuốc vào một cái chum bên trong có hơn mười thỏi vàng.

Ngay lập tức, ông chôn lại chúng xuống đất, một thỏi cũng không lấy.

Tài vật bị lấy trộm, sau lại cuốc được vàng, phải chăng là ông trời ban cho?

Thuần Dương không hề nghĩ như vậy, không phải là của cải do mình làm ra thì ông ta không lấy.

Khảo nghiệm 7, quan thành thật

Một lần ở trên phố, Thuần Dương gặp một người bán đồ thủ công mỹ nghệ bằng đồng, bèn mua ủng hộ người này một vài món.

Tuy nhiên đến khi trở về nhà, ông mới phát hiện ra rằng chúng đều là vàng cả.

Thuần Dương lập tức tìm lại người bán đồng ấy và trả lại toàn bộ số vàng.

Người quân tử không lấy tiền tài bất nghĩa, Thuần Dương không vì lợi mà tổn hại đức.

Khảo nghiệm 8, quan độ lượng

Một lần có một đạo sĩ điên rao bán thuốc ngoài chợ, nói rằng ai uống thuốc của mình vào thì sẽ lập tức chết ngay và chuyển sinh sang kiếp sau sẽ có thể đắc Đạo thành Tiên.

Mười ngày trôi qua mà không có ai mua thuốc ấy.

Thuần Dương mặc dù không tin, nhưng vẫn đến mua thuốc, đạo sĩ nói: "Ông hãy chuẩn bị hậu sự đi".

Tuy nhiên sau khi uống thuốc, Thuần Dương vẫn bình an vô sự.

Thuần Dương có đủ tự tin và tấm lòng độ lượng, trong lòng biết rõ đạo sĩ cuồng ngôn nên đã can đảm thử một lần.

Khảo nghiệm 9, Quan không sợ

Vào một ngày mùa Xuân, nước sông dâng cao, ngập lụt khắp hai bên bờ sông, khi ấy Thuần Dương đang cùng một nhóm người ngồi thuyền vượt sông.

Khi họ đi tới giữa dòng sông, đột nhiên sóng lớn lại nổi lên, tất cả mọi người trên thuyền thập phần sợ hãi.

Tuy nhiên Thuần Dương vẫn một mực ngồi ngay ngắn bất động.

Thuần Dương nghĩ: con người nếu đến thọ thì không đi không được còn nếu mệnh chưa hết thì Diêm Vương cũng không gọi, sao mà phải sợ?

Mỗi người có số mệnh cả rồi, lo âu mà huyễn hoặc chẳng được gì, ung dung bất động trước quan nạn là cảnh giới của tĩnh.

Khảo nghiệm 10, quan nhân quả

Một lần, Thuần Dương đang ngồi trong phòng thì đột nhiên trước mặt ông xuất hiện vô số ma quỷ hình thù kỳ quái.

Một số muốn đánh, một số muốn giết ông, nhưng Thuần Dương vẫn không sợ hãi.

Một lát sau, một đám quỷ dạ xoa lại tới, áp giải một tử tù, máu chảy đầm đìa muốn đến lấy mạng ông, tử tù nói:

- Kiếp trước ông đã giết tôi, hôm nay ông phải trả lại mạng sống cho tôi.

Thuần Dương trả lời:

- Thiếu nợ thì trả tiền, giết người phải đền mạng.

Nói rồi, Thuần Dương vẫn thản nhiên ngồi đó, không chút động tâm.

Chợt thấy trên không trung có tiếng hét to, đám quỷ đều biến mất.

Một người vỗ tay cười lớn hạ từ trên trời bay xuống, đó chính là Tiên nhân Hán Chung Ly...

Cám cảnh danh-lợi-tình nhân thế, Lã Động Tân du ngoạn đề thơ

Kể từ lần cam kết với sư phụ Hán Chung Ly rằng ông sẽ cứu độ rất nhiều chúng sinh tại dải đất Trung Nguyên, trải qua một thời gian lâu sau Động Tân vẫn chưa cứu được một người nào cả, do đó ông đã làm một chuyến du hành đến vùng Nhạc Dương...

3.

Lã Động Tân [tiếp...]

Chung Ly Quyền rất hài lòng về người đệ tử này, ông nói:

- Ta đã thử 10 điều, khen ngươi bền chí, đáng được truyền Đạo, tu Tiên.

Song ngươi chưa có công quả bao nhiêu, nên ta muốn độ ngươi gấp thì e rằng cũng chưa được.

Nay ta dạy ngươi phép chỉ đá hóa vàng, hãy ráng sức cứu đời cho có công quả, rồi ta sẽ rước ngươi về Thượng giới.

Lã Ðộng Tân thưa rằng:

- Vàng ấy chừng bao lâu mới phai?

Hán Chung Ly đáp:

- Cách 3000 năm mới trổ.

Lã Ðộng Tân chau mày thưa rằng:

- Như vậy thì cứu người nghèo bây giờ mà lại làm hại những kẻ 3000 năm sau đó nhiều lắm, thật là con chẳng nỡ.

Hán Chung Ly khen:

- Tâm tính ngươi quả là đức độ 10 phần, truyền đạo bây giờ cũng đặng.

Nói rồi đưa Lã Động Tân tới Hạc Lĩnh núi Chung Nam (Triều Hạc) và sau đó truyền hết các phép tu luyện cho họ Lã.

Một ngày nọ, Chung Ly gọi Lã Động Tân tới nói:

- Ta sắp lên Thiên Thượng, sẽ tâu xin đem tên ngươi vào sổ Tiên.

Cách 10 năm nữa, đến gặp ta tại Ðộng Ðình Hồ.

Nói lời vừa dứt, liền có một vị Tiên cưỡi hạc bay đến nói:

- Có chiếu chỉ từ Thượng Thiên phong Hán Chung Ly - hiệu Vân Phòng làm chức Kim Khuyết Thượng Tiên.

Hãy mau lên lãnh sắc.

Vân Phòng liền từ giã Lã Ðộng Tân rồi cưỡi hạc bay lên mây.

Còn Lã Ðộng Tân vẫn ở lại núi Triều Hạc miệt mài tu luyện, chẳng bao lâu sau thì cũng đắc đạo thành Tiên.

Một ngày nọ, khi Hán Chung Ly trở về, trong lúc hai thầy trò vui mừng đàm đạo, Lã Động Tân bèn hỏi sư phụ của mình:

- Sư phụ! tính ra ngài cũng được hàng ngàn năm tuổi rồi, vậy cho đến nay sư phụ đã độ được bao nhiêu người?

Hán Chung Ly nói:

- Ta chỉ độ được mỗi một mình con thôi!

- Chỉ độ được một người?

Lã Động Tân nghĩ thầm trong bụng: "Sư phụ!

Ngài quá khiêm tốn rồi!". nghĩ xong bèn chắp tay nói với sư phụ Hán Chung Ly rằng:

- Con chỉ e Đạo môn chúng ta không chịu từ bi độ chúng sinh thôi chứ.

Xin sư phụ cho đệ tử kỳ hạn ba năm, chỉ riêng ở đất Trung Nguyên này, con sẽ độ được hơn ba ngàn người, làm hưng thịnh Đạo môn chúng ta cho sư phụ xem!...

Kết quả, ba năm sau, Lã Động Tân trở về, hổ thẹn nói với sư phụ: "Một người cũng không độ được!"

Độ nhân phải trải qua bao nhiêu khó khăn?

Trong biển danh-lợi-tình nhân thế, tâm chấp trước của con người ta nhiều như mạng nhện vậy!

Ở phương diện nào, những tâm chấp trước (chấp nhất) cũng buộc chặt con người lại khiến cho người ta muốn đề cao lên, thật cũng không dễ dàng chút nào...

Có một câu chuyện kể về sự nỗ lực cứu độ con người mà không thành công của Lã Động Tân như sau:

Kể từ lần cam kết với sư phụ Hán Chung Ly rằng ông sẽ cứu độ rất nhiều chúng sinh tại dải đất Trung Nguyên, trải qua một thời gian lâu sau Động Tân vẫn chưa cứu được một người nào cả, do đó ông đã làm một chuyến du hành đến vùng Nhạc Dương.

Trước kia ông đã tới đó hai lần để cố gắng giúp đỡ người phàm. (Nhạc Dương bây giờ là một địa giới hành chính thuộc tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc).

Ở bên bờ hồ Động Đình.

Lã Động Tân đã tự cải trang thành một ông già, hàng ngày cặm cụi đi bán dầu ăn.

Lã Động Tân xem việc bán dầu như là một dịp để gặp gỡ và lựa chọn những người có triển vọng được cứu độ.

Nếu gặp khách hàng nào tâm tính tốt, có vẻ không tham lam, không đòi dầu ăn nhiều hơn những gì họ đã trả, thì ông có thể cứu độ người đó được.

Cứ như vậy, Lã Động Tân đi bán dầu ăn suốt gần ba năm trường.

Khoảng thời gian đó, những khách hàng từng mua dầu ăn của họ Lã đều tỏ ra tham lam, toan tính; ngoại trừ một bà lão bán rượu là có vẻ thật thà, hào phóng.

Mỗi khi tới chỗ Lã Động Tân mua dầu, bà lão này chỉ đong đủ số tiền đã trả, và không lấy thêm dù chỉ một giọt.

Rất ngạc nhiên, Lã Động Tân nghĩ rằng cuối cùng ông đã tìm thấy một người có thể cứu độ được.

Ông bèn hỏi bà ta:

- Những người đến mua dầu đều muốn xin thêm, ngoại trừ bà ra.

Tại sao bà không làm vậy?

Bà lão trả lời:

- Tôi hài lòng với chỉ một hũ dầu – hơn nữa tôi hiểu, với nghề bán dạo dầu ăn, cuộc sống của ông chắc là cũng không dễ dàng gì.

Làm sao tôi có thể lấy nhiều hơn được?

Sau đó, bà ta còn biếu Lã Động Tân chút rượu để bày tỏ lòng cảm kích của mình.

Lã Động Tân cảm thấy đây là một người có tâm tính tốt và dự định sẽ cứu độ bà ta.

Một lần, Lã Động Tân ghé thăm gia đình bà lão bán rượu, khi đi qua giếng nước cạnh nhà bếp, Lã Động Tân đã làm phép và thả vài hạt gạo xuống giếng.

Ông nói:

- Bà có thể kiếm nhiều tiền bạc bằng cách bán nước trong chiếc giếng này.

Sau đó, ông lặng lẽ rời đi.

Bà già quay trở lại, múc thử nước giếng lên thì thấy rằng: Toàn bộ nước trong giếng đã được biến thành rượu.

Theo lời khuyên của Lã Động Tân, gia đình bà lão thay nhau đem rượu trong giếng đi bán và chỉ trong vòng chưa đầy một năm, họ đã mở được một cửa hiệu lớn, trở nên giàu có.

Một hôm, Lã Động Tân lại ghé thăm gia đình bán rượu.

Bà lão không có ở nhà, chỉ có người con trai đang ngồi trông cửa hiệu, Lã Động Tân hỏi anh ta:

- Công việc bán rượu thế nào rồi?

Anh này vừa lúi húi bày hàng, vừa đáp:

- Công việc bán rượu vẫn tốt, nhưng thật tiếc, chúng tôi lại không có bỗng rượu và cám gạo để nuôi heo, người con trai trả lời.

Nghe xong những lời này, Lã Động Tân thở dài, thầm nghĩ: "Lòng tham vô đáy của con người đã tới mức độ đáng thương tâm như thế này sao!

Hỡi ôi ta thà độ động vật còn hơn là độ nhân vậy!".

Lã Động Tân bèn dùng phép lấy lại những hạt gạo trong giếng, rồi lặng lẽ bỏ đi.

Chẳng bao lâu sau, bà lão trở về.

Người con trai bèn kể lại cho mẹ nghe những gì đã xảy ra.

Bà lão lập tức đi kiểm tra lại giếng rượu thì thấy toàn bộ rượu trong giếng đã biến thành nước.

Hiểu ra sự tình và quá hối hận, bà lão vội vàng chạy ra cửa, nhưng Lã Động Tân đã biến mất từ lâu rồi.

Quá buồn thương cho danh-lợi-tình nhân thế, Lã Động Tân lặng lẽ rời Nhạc Dương đi đến hồ Động Đình, và để lại một bài thơ than tiếc cho nhân loại với lời tựa như sau: "Ba lần đến Nhạc Dương không người nhận ra, Qua hồ Động Đình ta ngâm một bài thơ rằng..."

[Tương truyền đây là bài thơ mà Lã Động Tân từng để lại]:

"Ta có một vật báu

Giá chẳng đáng đồng tiền

Nếu ai mà hỏi giá

Muôn vạn lạng hoàng kim

Đạo tặc chẳng cướp được

Hỏa thiêu cũng y nhiên

Ở đời không kẻ biết

Chí thân cũng không truyền

Ta từ Vân Động đến

Tới nay quá thiên niên

Hận là không kẻ biết

Trong mình vẫn giữ nguyên

Nó chẳng đứt, chẳng liền

Tung ra trùm trời đất

Thu nhỏ lọt đầu kim

Nếu ai mà biết được

Tu đạo, sẽ thành tiên

Người hãy suy ngẫm lại

Có chăng tại thân biên!"...

Đôi chút luận bàn:

Lại nói, ở kỳ trước, Lã Động Tân chìm đắm trong: "Giấc mộng huỳnh lương", may còn được Tiên nhân Hán Chung Ly điểm ngộ, phải chăng cõi thế nhân này cũng là một cuộc mộng lớn và mỗi sinh mệnh đều đang chìm đắm trong những "giấc mộng con" của mình?

Giấc mộng huỳnh lương; Giấc mộng Hàm Đan(*); Giấc mộng kê vàng!...

Đã gọi là "mộng" thì có say, có tỉnh.

Hỡi ôi!

Hỏi ai say?

Hỏi ai tỉnh?

Có lẽ nào ở nơi cuồn cuộn sóng hồng trần nhân thế, con người ta vốn say nhiều tỉnh ít nên mới khiến cho vị tiên nhân Lã Động Tân vốn mang một bầu nhiệt huyết tế thế độ nhân, cũng từng hứa với sư phụ - Hán Chung Ly - của mình rằng sau ba năm rong ruổi đất Trung Nguyên sẽ độ được hơn 3000 môn đồ làm rạng rỡ sư môn, vang danh Đạo pháp.

Ai dè đâu, ông bươn chải giữa thế nhân suốt ba năm trường mà không thể tìm độ được nổi một người - chứ đừng nói đến con số hơn 3000 người - đến độ một vị Tiên nhân tiên phong đạo cốt, phép thuật đầy mình, lòng cảm khái và từ bi trải khắp nhân gian như Lã Động Tân cũng đành phải ngao ngán thở dài mà thốt lên một câu rằng: "Hỡi ôi, ta thà độ động vật còn hơn là độ nhân vậy!".

Quả đúng là:

"Đường đời chật hẹp người chen lấn

Lối Đạo thênh thang hiếm kẻ tìm

Nhân sinh một giấc hão huyền

Trăm năm thoắt đã qua miền phù vân"...

Nói như lời Tiên nhân Hán Chung Ly, ông từng tu luyện xuất-nhập thế gian hàng ngàn năm trường mà cũng chỉ tìm độ được duy nhất một môn đồ, chính là Lã Động Tân mà thôi.

Phải chăng lối Đạo vốn "rộng thênh thang" nhưng lòng người thì hẹp?

Lại phải chăng con đường tu Đại Pháp, Đại Đạo rộng hay hẹp là tùy thuộc ở cái tâm của mỗi người vậy?

Thiết nghĩ, huyền sử tu luyện của các vị Tiên nhân vốn luôn khiến thế nhân giật mình phản tỉnh, từ đó đánh thức thêm một phần thiện ý, thiện tâm, đồng thời nảy sinh tấm lòng kính ngưỡng, được như thế âu cũng là quả phúc... bước đường tu luyện của vị Tiên nhân Hàn Tương Tử được nhắc tới ở phần sau cũng không kém những sự tích li kỳ, huyền bí.

Kính mời quý độc giả đón xem.

(*) Hàm Đan: Địa danh - nơi mà lần đầu tiên Lã Động Tân gặp gỡ Hán Chung Ly và được vị Tiên nhân này điểm ngộ.

- Tài liệu tham khảo: "Đông Du Bát Tiên".
 
Bát Tiên Truyền Kỳ
P4: Tiên Hàn Tương Tử


Kỳ 1: Hàn Tương Tử lánh trần tu Đạo; Thúc phụ gia kiểm chứng phép Thần

Hàn Tương Tử rút ống sáo tấu nhanh một khúc nhạc tiên thanh âm thánh thoát, mỹ diệu phi thường, vừa dứt khúc nhạc bèn trỏ ống sáo về phía trước sân nhà, tức thì dưới sân mọc lên một cây mẫu đơn nở hoa rất lớn, tươi đẹp vô ngần, hào quang tỏa sáng rực rỡ.

Từ trong đóa hoa mẫu đơn lại hiện lên hai hàng chữ lấp lánh ánh kim...

4.

Hàn Tương Tử

Tương truyền Hàn Tương Tử giáng sinh vào khoảng triều đại nhà Đường, thời vua Đường Hiến Tông trị quốc [805 - 820].

Tương Tử từ bé đã được gia đình thúc phụ [chú ruột] là Hàn Dũ - vốn là một đại quan văn đương triều cưu mang nuôi nấng.

Hàn Tương Tử vốn khao khát chuyện tầm Đạo tu Tiên từ rất sớm.

Tuy vậy thúc phụ Hàn Dũ khi đó lại đang kiêm chức đại quan trong triều, văn phong nức tiếng, quyền bính nghiêng thành nên ông ta có ý‎ an bài cho cháu của mình theo con đường công danh khoa cử.

Hàn Tương Tử nói:

- Thúc phụ thì mộ công danh phú quý, còn tiểu điệt lại muốn theo học đạo Thần tiên.

Hàn Dũ nghe cháu nói vậy cả giận nạt lớn, nhưng sau cũng đành vò đầu bứt tóc mà không biết phải cưỡng cầu ra sao, bởi mỗi người một chí hướng, ông chỉ quay ra tự than vãn rằng: "Dao sắc không tự gọt được chuôi".

Sau ngày bày tỏ chí nguyện của mình với thúc phụ, Hàn Tương Tử cáo biệt Hàn gia rồi bôn tẩu non xanh nước biếc tìm gặp Hán Chung Ly [Vân Phòng] và Lã Động Tân xin theo học Đạo.

Một hôm Thầy trò Hán Chung Ly và Lã Động Tân rủ Tương Tử đi du ngoạn non xanh.

Tới vách đá thấy có cây đào tiên sai trĩu quả, hai người đều tỏ ý ‎muốn bảo Tương Tử trèo lên vách đá hái đào.

Hàn Tương Tử vâng lời hăm hở vượt núi, leo vách đá cao vài trăm thước trèo đào hái quả tính dâng lên sư phụ.

Ai ngờ cành đào cổ thụ bị mục gãy, Tương Tử ngã xuống, thác bỏ xác phàm, hồi sinh thành Tiên.

Thực ra đây chính là "tử quan" mà sư phụ Hán Chung Ly và Lã Động Tân đặt ra để thử lòng và lập kế hóa độ Hàn Tương Tử.

Sau khi đắc Đạo thành tiên, Tương Tử trở về Kinh Thành tìm gặp Hàn Dũ và phát nguyện trợ duyên hóa độ cho thúc phụ của mình.

Năm đó cũng đúng là năm đại hạn, Hoàng đế Đường Hiến Tông có lệnh cho quan Đại phu Hàn Dũ đến Nam Đàn viết sớ, lập đàn cầu mưa.

Dân tình khắc khoải ngày mong đêm ngóng... trong khi Hàn Dũ cầu mưa rất nhiều lần, nhưng đều không được, ông còn đứng trước nguy cơ bị triều đình bãi bỏ mất chức quan.

Đang thời lo lắng, chợt Hàn Dũ nghe có một đạo sĩ bên đường lớn tiếng rao rằng:

- Ai muốn mua mưa... mua tuyết, ta bán cho?

Hàn Dũ khấp khởi mừng thầm, bèn truyền lệnh cho quân lính mời vị đạo sĩ nọ tới đàn cầu mưa.

Đạo sĩ vừa lên đàn dâng sớ chỉ thoáng chốc lát mưa xuống tràn đồng, tuyết sa đầy núi.

Hàn Dũ thấy vậy ngập ngừng nói:

- Cũng không chắc tại ai cầu đảo mà được mưa tuyết này.

Ta cầu hơn nửa ngày rồi, có khi kết quả chỉ là chậm một chút đó thôi.

Đạo sĩ vuốt râu, mỉm cười nói:

- Thật là mưa tuyết do tôi cầu.

Hàn Dũ hỏi:

- Lấy cớ nào làm chắc?

Đạo sĩ nói:

- Tôi chỉ cầu tuyết xuống dày đúng ba thước lẻ ba tấc mà thôi.

- Hàn Dũ cho quân cắm thước đo thử thì quả đúng là tuyết dày ba thước lẻ ba tấc, từ đó ông ta mới ngờ ngợ tin rằng trên cao có phép Thần tiên nhiệm mầu [mà cũng đâu có biết rằng vị Đạo sĩ trẻ ấy là Hàn Tương Tử hóa thân để giúp chú mình].

Thời gian thấm thoắt trôi qua, lại đợi cho đến ngày Hàn Dũ ăn mừng lễ sinh nhật, Hàn Tương Tử mới vận Đạo bào, dùng phép tiên cưỡi hạc tới đầu Kinh thành rồi tản bộ về Hàn phủ chúc thọ Hàn thúc phụ.

Gặp được tiểu điệt vốn đã xa cách bao năm, Hàn Dũ nửa mừng nửa giận, hỏi rằng:

- Bấy lâu ngươi bỏ nhà ra đi học đạo Thần tiên như thế nào, làm thơ kể lại cho ta nghe thử!

- Hàn Tương Tử ngâm rằng:

"Đã quyết chí tu trì

Thần tiên chẳng khó chi

Mây xanh thường cưỡi hạc

Động đá vẫn ngâm thơ

...

Đặt rượu trong giây phút

Trồng hoa nở tức thì

Lâu dài nghìn tuổi thọ

Tìm độ kẻ tương tri"...

Hàn Dũ không tin, đập bàn nói lớn:

- Ngươi cướp quyền tạo hóa được sao, hãy đặt rượu, trồng hoa ta xem thử?...

Hàn Tương Tử chỉ mỉm cười, bảo gia nhân khiêng một cái vò không tới đặt chính giữa bàn, đoạn lấy mâm đậy lại, trong giây phút rượu ngon đã đầy tràn cả vò lớn, men rượu tiên tỏa hương thơm phức khiến kẻ lớn người nhỏ ai nấy đều không ngớt lời trầm trồ thích thú.

Hàn Tương Tử lại rút ống sáo tấu nhanh một khúc nhạc tiên thanh âm thánh thoát, mỹ diệu phi thường, vừa dứt khúc nhạc bèn trỏ ống sáo về phía trước sân nhà, tức thì dưới sân mọc lên một cây mẫu đơn nở hoa rất lớn, tươi đẹp vô ngần, hào quang tỏa sáng rực rỡ.

Từ trong đóa hoa mẫu đơn lại hiện lên hai hàng chữ lấp lánh ánh kim:

"Vân hoành Tần Lãnh gia hà tại?

Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền"...

- Tạm dịch:

Mây giăng Tần Lãnh nhà đâu tá?

Tuyết bủa Lam Quan ngựa bước chùn...

Hàn Dũ đọc thơ rồi, ngẫm nghĩ mãi mà không hiểu ý gì, gặng hỏi tiểu điệt mãi không thôi...

Hàn Tương Tử thưa rằng:

- Ngày sau chú sẽ biết, bây giờ chưa thể tiết lộ Thiên cơ.

Nghe xong Hàn gia kẻ trên người dưới, ai nấy đều lấy làm lạ lùng, nghi vấn.

Tiệc tàn rồi Hàn Tương Tử giã từ thúc phụ, cưỡi hạc về núi.

Kỳ 2: Tương Tử cứu chú trên Tần Lĩnh; Hàn Dũ đi đày lại gặp Tiên

Hàn Dũ bị đi đày đến nơi hoang vắng, rong ruổi dặm trường mấy tháng trời, ngày đêm chẳng quản, thật đúng là cơ cực không kể đâu cho hết... cứ đi mãi cho tới một ngày thui thủi nhìn quanh không một bóng nhà, mây giăng đỉnh núi mịt mù, tuyết phủ cả vùng trắng xóa, ngựa đi không được, người tiến chẳng xong, đang lúc thở dài ngao ngán thì chợt thấy phía trước có một đạo sĩ cặm cụi quét tuyết dọn đường...

Hàn Tương Tử [tiếp...]

Lại nói về vua Đường Hiến Tông, đương thời vị hoàng đế này rất sùng kính đạo Phật.

Vào khoảng năm Nguyên Hòa thứ 14 [tức năm 819] có một vị cao tăng bên Tây Vực sang xin triều kiến và dâng lên vua một bức tượng ngọc Phật, vua muốn rước tượng Phật vào cung mà thờ.

Bá quan ai ai cũng đồng tình, không dám can gián.

Riêng Hàn Dũ vốn tính tình cương trực lại nhất thời bất minh đem tâm phàm mà nghĩ chuyện Thần Phật, bèn dâng sớ tâu rằng:

- "Đạo Phật vốn nơi ngoại quốc truyền vào.

Từ Tam Hoàng, Ngũ Đế đến vua Võ, vua Thang, vua Văn Vương, Võ Vương chưa có đạo Phật thì thiên hạ thái bình.

Đến đời Hán, vua Minh Đế tiếp nhận đạo Phật vào Trung Nguyên thì nước nhà chẳng lâu dài.

Sau đến đời vua Lương Võ Đế thờ Phật hết lòng, nhưng vua lại bị Hầu Cảnh vây khốn, phải chết đói tại Đài Thành, hà cớ sao Phật không cứu?

Vậy cúi xin Bệ hạ biệt đãi nhà sư Tây Vực, ban cho Ngự thưởng rồi từ chối tiếp nhận tượng ngọc.

Cúi xin Bệ hạ y tấu, nếu Phật có linh hiển thì xin giáng họa cho thần"...

Vua Hiến Tông vừa xem sớ xong tức thì đùng đùng nổi giận, truyền giáng chức Hàn Dũ, đày ra Triều Châu bắt tuân ý chỉ nội trong một ngày.

Hàn Dũ bị đi đày đến nơi hoang vắng, rong ruổi dặm trường mấy tháng trời, ngày đêm chẳng quản, thật đúng là cơ cực không kể đâu cho hết... cứ đi mãi cho tới một ngày thui thủi nhìn quanh không một bóng nhà, mây giăng đỉnh núi mịt mù, tuyết phủ cả vùng trắng xóa, ngựa đi không được, người tiến chẳng xong, đang lúc thở dài ngao ngán thì chợt thấy phía trước có một đạo sĩ cặm cụi quét tuyết dọn đường, Hàn Dũ bèn bước tới hỏi thăm, nhìn kỹ lại đạo sĩ kia hóa ra lại chính là Hàn Tương Tử.

Hàn Dũ mừng vui khôn xiết đến độ không thốt lên lời.

Hàn Tương Tử chắp tay thi lễ, ân cần mà hỏi thúc phụ rằng:

Chẳng hay thúc phụ còn nhớ hai câu thơ trong hoa mẫu đơn ngày trước chăng?

Hàn Dũ hỏi:

- Chốn này là xứ nào?

Hàn Tương Tử thưa rằng:

- Đây là ải Lam Quan, núi này tên Tần Lĩnh.

Hàn Dũ khi này mới chợt nhớ lại hai câu thơ hiện lên từ trong đóa hoa mẫu đơn trước kia, ông ta ngẩng mặt nhìn lên chốn cao xanh, vỗ ngực than rằng:

- Như vậy thì số trời đã định rồi, chạy đâu cũng không khỏi.

Để ta nối thêm vài câu thơ nữa cho đủ bài.

Nói rồi ngâm rằng:

"Nhất phong triều tấu cửu trùng thiên

Tịch biến Triều Dương lộ bác thiên

Bổn vị thánh minh trừ tệ chính

Cảm thương suy hữu tích tàn niên

Vân hoành Tần Lãnh gia hà tại?

Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền

Tri như viễn lại ưng hữu ý

Hảo thu ngô cốt táng giang sơn"...

- Tạm dịch:

"Sáng vừa dâng sớ lên Hoàng Thượng

Chiều đà đày mãi tận Triều Dương

Chỉ mong chiều chính không tệ nạn

Nào quản thân già lúc quá niên

Mây giăng Tần Lĩnh nhà đâu tá?

Tuyết bủa Lam Quan ngựa bước chồn

Biết rằng tiểu điệt tâm hữu ý

Nhặt nắm xương ta gửi cội nguồn"...

‎Hàn Dũ ngâm thơ xong rồi, lại đi với Hàn Tương Tử đến Lam Quan mà nghỉ.

Cũng kể từ khi đó ông mới càng thêm tín Thần trọng Đạo.

Đêm ấy hai người đốt lửa, uống trà, cùng nhau tham thiền đàm Đạo đến mãi tận canh khuya.

Rạng ngày hôm sau, Hàn Tương Tử đưa cho Hàn Dũ một viên linh đan, đoạn nói rằng:

- Thúc phụ hãy uống hoàn thuốc tiên này sẽ không lo sinh các bệnh, rồi ráng lấy khổ làm vui, không bao lâu sẽ được về triều.

Nói rồi từ giã.

Hàn Dũ ngậm ngùi hỏi rằng:

- Ngày sau ta còn được gặp lại hiền điệt không?

Hàn Tương Tử thưa rằng:

- Không bao lâu sau, ở Triều Châu sẽ có con cá sấu thành tinh tới phá hại dân lành, khi ấy thúc phụ hãy soạn văn tế mà đuổi nó đi, nó ắt phải đi.

Kế đó thúc phụ sẽ được triều đình tin dùng mà phục chức.

Sau này Tương Tử sẽ về độ thúc phụ, truyền cho phép tu luyện.

Nói rồi Hàn Tương Tử từ biệt Hàn Dũ, cưỡi hạc trở về chốn non Tiên.

Quả thật về sau y như lời Hàn Tương Tử từng tiên đoán, Hàn Dũ nhờ có công dẹp cá sấu tại vùng Triều Châu mà được vua Đường Hiến Tông ban chiếu cho phục chức quan.

Sau này lại nhờ Hàn Tương Tử tới hóa độ, trợ giúp ông lập chí tu Đạo thành Tiên.

Đôi chút luận bàn

Hàn Dũ vốn xuất thân chốn quan trường, trước nay chỉ ưa công danh phú quý, không mấy tin vào những câu chuyện Thần Tiên, tu luyện...

Bởi thế, dù được Hàn Tương Tử điểm hóa, thậm chí là triển hiện phép thuật cứu giúp nhiều lần nhưng vẫn chưa chịu ngộ ra, chỉ đến khi họa giáng nhãn tiền: công danh lợi lộc gần như tiêu tán cả, phải chịu lao khổ đi đày, ngựa không có lối đi, người không còn bước tiến, lâm vào cảnh đường cùng tuyệt vọng... may lại được Hàn Tương Tử một lần nữa phá mê tương trợ mới choàng tỉnh "giấc mộng huỳnh lương", buông bỏ danh-lợi-tình nhân thế mà bước theo con đường tu Đạo, cũng may vẫn còn chưa quá muộn.

Thế mới hay chấp vào công danh, lợi lộc, tình cảm, vật chất v.v. cũng giống như dùng dây mà tự trói buộc mình, lấy tay mà tự bịt mắt vô minh, khiến cho con người ta chấp mê bất ngộ, đã không tin vào chuyện nhân quả hữu báo, lại bất tín bất kính với Thần Phật... cuối cùng tự thân lại chuốc họa vào thân vậy.

Nếu không có Hàn Tương Tử nhiều lần từ bi cứu độ, thử hỏi số phận của Hàn Dũ sẽ đi về đâu?

Hàn Tương Tử đắc Đạo thành Tiên xem ra cũng không phải dễ, trước đó vị Tiên nhân này đã phải vượt qua những thử thách về danh - lợi - tình: buông bỏ công danh phú quý; mặc cho thúc phụ khuyên can, kỳ vọng, thậm chí là nổi giận oán trách, Hàn Tương Tử vẫn quyết tâm từ giã Hàn gia, tìm đường tu Đạo.

Về sau gặp được sư phụ Hán Chung Ly và vị sư huynh đồng môn - Lã Động Tân, Hàn Tương Tử phải vượt qua khảo nghiệm cuối cùng về quan sinh tử: Trèo ngược vách đá cao trăm thước hái đào tiên dâng sư phụ, cuối cùng ngã chết, thoát bỏ xác phàm, đắc Đạo thành Tiên.

Việc Hàn Tương Tử nhiều lần tiên đoán đúng về tương lai và số phận của Hàn Dũ đồng thời luôn xuất hiện tương trợ kịp thời phải chăng đã phần nào minh chứng cho quy luật: "Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên" của đấng tạo hóa mà ở đó số mệnh, họa phúc của mỗi cá nhân dường như đã được Trời cao an bài từ trước cả rồi?

Nếu như không có sự an bài này, thử hỏi làm sao người ta có thể biết trước số phận, họa phúc của một người?

Truyền kỳ về các vị Tiên nhân trong Bát Tiên sẽ tiếp tục giải khai cho chúng ta những sự tích và thông điệp gì? kính mời quý vị đón xem phần tiếp theo...
 
Bát Tiên Truyền Kỳ
P5: Tiên Trương Quả Lão


Kỳ 1: Trương Quả Lão triển phép thần thông; Đường Huyền Tông hết lòng tán thán

Đường Huyền Tông nghe vậy lấy làm hiếu kỳ, bèn muốn thử phép thuật của Trương Quả Lão một lần xem sao, vậy là hoàng đế bèn đem cỏ độc ngâm vào bình rượu, sau đó cho mời Trương Quả Lão vào cung để trọng đãi yến tiệc...

5.

Trương Quả Lão

Tương truyền Trương Quả là một đạo sĩ theo trường phái nội đan, tu hành ẩn dật trên núi Điều tại Hằng Châu triều đại nhà Đường.

Ngay từ thời Võ Tắc Thiên ông đã từng xuất hiện và nói rằng mình đã hàng trăm tuổi.

Ông cũng nói rằng mình sinh năm Bính Tý thời vua Nghiêu và từng làm quan Thị trung dưới triều vua Nghiêu Đế - một trong số Ngũ Đế từ thời Trung Hoa cổ đại.

Trương Quả Lão được dân gian biết đến như một vị Tiên nhân thường xuất hiện và vãng lai tới khu vực sông Phần và vùng đất Tấn và mỗi ngày ông có thể đi hàng nghìn dặm trên lưng con lừa trắng.

Khi cuộc du hành kết thúc, ông gập con lừa lại và bỏ vào trong túi vải, khi cần dùng tới, ông lại thổi hơi hay phun nước vào và con lừa lại trở nên to lớn như bình thường.

Trương Quả Lão cũng là người ưa thích nấu rượu và uống rượu.

Ông coi việc luyện rượu tiên từ thảo mộc như một thú vui.

Tương truyền các vị tiên khác trong Bát Tiên cũng thường hay uống rượu của ông.

Các hoàng đế nhà Đường như Đường Thái Tông và Đường Cao Tông thường mời Trương Quả Lão vào triều, nhưng ông đều khước từ.

Một lần, khi Võ Tắc Thiên cho mời, do bất đắc dĩ ông đành phải nhận lời, nhưng sau đó lại dùng phép thi giải - giả chết, để không phải vào triều.

Đến thời Huyền Tông, người ta lại bắt gặp ông ngao du trong vùng núi Hàng Châu.

Năm Khai Nguyên thứ 21 [733] thời hoàng đế Đường Huyền Tông, Trương Quả Lão được mời tới Lạc Dương, nhưng ông từ chối không tới, cho dù Huyền Tông đã lệnh cho viên quan giữ chức Thông sự xá nhân là Bùi Ngộ tới mời.

Sau này triều đình phải lệnh cho đại quan Trung thư xá nhân Từ Kiệu đem thư mời có đóng ấn của hoàng đế thì Trương Quả Lão mới tới.

Huyền Tông nghi ngờ không biết Trương Quả Lão là thần tiên hay ma quỷ nên cho gọi sư Dạ Quang Giả, một người có thể nhìn thấu ma quỷ, bí mật quan sát xem ông là ai nhưng đại sư cũng đành chịu, không thể đoán biết được.

Một ngày nọ, hoàng đế Đường Huyền Tông dẫn theo đám tùy tùng thân tín đi săn bắn và bắt được một hươu lớn.

Khi nhà bếp chuẩn bị giết nó, Trương Qủa Lão thấy vậy thì ngay lập tức liền ngăn lại.

Ông nói:

- Đây là con hươu thần đã sống trên ngàn năm rồi.

Từ thời Hán Vũ Đế đi săn đã bắt được nó, khi ấy lão đạo cũng có đi cùng Hán Đế và thấy ông ta thả con hươu ngay sau đó!

Đường Huyền Tông hỏi:

- Làm thế nào khanh có thể biết được đây là con hươu mà khanh thấy trước kia trong khi trên đời này có rất nhiều hươu, vả lại sự việc đã trải qua biết bao nhiêu năm như thế?

Trương Quả Lão đáp:

- Vào lúc Hán Vũ Đế thả con hươu, ông đã cho người gắn lên sừng bên trái của nó một thẻ bài bằng đồng.

Hoàng đế Đường Huyền Tông lập tức sai người đi kiểm tra lại, quả nhiên thấy có một miếng thẻ bài bằng đồng gắn trên sừng nai, nhưng do quá lâu năm nên các chữ được khắc trên thẻ hầu như đã bị phai mờ hết cả.

Hoàng đế lại hỏi:

- Vậy từ năm mà ông cùng Hán Vũ Đế đi săn tới nay đã trải qua bao nhiêu năm rồi?

Trương Quả Lão đáp: Từ đó tới nay đã 852 năm trôi qua!

Vua Đường Huyền Tông lấy làm lạ lắm, bèn sai người đi kiểm tra lại sử sách.

Vị quan chép sử tấu lên rằng: "thông tin đó là hoàn hoàn chính xác'.

Kể từ đó, vị hoàng đế Đường Huyền Tông đối với chuyện tu luyện Thần tiên lại càng cảm thấy phi thường hứng thú, cũng từng mong muốn được Trương Quả Lão chỉ bày Tiên thuật.

Trong tiểu thuyết "Tùy Đường diễn nghĩa" đời nhà Thanh có vài mẩu chuyện kể về những sự tích thú vị từng xảy ra giữa Đường Huyền Tông, Trương Quả Lão và Diệp Pháp Thiện, qua đó một lần nữa cho thấy các bậc đế vương khi xưa đối với chuyện tu luyện là vô cùng xem trọng và tôn kính:

Câu chuyện thứ nhất: Hồ lô đồng tử uống rượu nhất đấu

Ngày nọ, có một vị sứ giả mang tới Đường triều một loại cỏ độc từ biển, và nói rằng, cho dù là Thần tiên cũng không dám ăn loại cỏ độc này.

Đường Huyền Tông không biết lời này thực hư ra sao, bèn triệu một vị đạo sĩ phép thuật nổi tiếng trong triều là Diệp Pháp Thiện tới hỏi:

- Ngươi có nhận biết được loại cỏ này hay không?

Diệp Pháp Thiện thưa:

Bẩm thánh thượng, loại cỏ này tên là Ô cẩn thảo, vốn thuộc hàng kỳ độc dị thảo, nếu như thần ăn phải nó thì sẽ bị một trận bệnh nhẹ, các Thần tiên khác ăn thì khó tránh khỏi tử kiếp.

Chỉ có Trương Quả Lão là có thể không e ngại loại thảo độc này!

Đường Huyền Tông nghe vậy, bèn muốn thử phép thuật của Trương Quả Lão một lần xem sao, vậy là hoàng đế bèn đem cỏ độc ngâm vào bình rượu, sau đó cho mời Trương Quả Lão vào cung để trọng đãi yến tiệc.

Trong yến tiệc, Đường Huyền Tông tỏ ý cao hứng muốn ban thưởng rượu cho mọi người, nhà vua hỏi Trương Quả Lão:

- Tiên sinh, ngài có thể uống bao nhiêu?

Trương Quả Lão nói:

- Thần tửu lượng không tốt, chỉ có thể uống vài chén mà thôi, nhưng mà thần có một đạo đồng, có thể uống hết cả một đấu rượu, hơn nữa uống xong rồi cũng không hề say.

Đường Huyền Tông hiếu kỳ lắm, hỏi:

- Có thể cho gọi tiểu đồng đến đây không?

Trương Quả Lão mỉm cười nói:

- Không thành vấn đề, để thần gọi tiểu đồng.

Nói xong liền hướng lên không trung hô lớn: "Đồng tử, lập tức tới bái kiến Thánh thượng!".

Lời còn chưa dứt, đã thấy một đồng tử từ trên không trung bay xuống, ước chừng 14 - 15 tuổi, vẻ mặt khôi ngô anh tuấn, dáng vẻ bệ vệ, đầu nhọn, bụng to.

Tiểu đồng sửa sang lại quần áo một chút cho chỉnh tề, rồi lập tức bái kiến hoàng đế.

Đường Huyền Tông vô cùng kinh ngạc, liền ra lệnh cho tả hữu hai bên khiêng tới một cái đấu lớn đổ đầy rượu, ban cho đồng tử uống.

Đồng tử tạ ơn, tiếp nhận rượu, một hơi liền uống cạn.

Huyền Tông thấy tiểu đồng uống rất sảng khoái, liền ra lệnh tiếp tục ban rượu, đồng tử kia cũng không từ chối, tiếp nhận rượu liền uống, không ngờ lần này chưa uống được hai ba hớp, rượu liền xối xả từ đỉnh đầu mà tuôn ra.

Trương Quả Lão cười lớn nói:

- Ai da!

Tửu lượng của ngươi có hạn, sao có thể cậy mạnh mà uống nhiều đây?"

Nói xong, liền từ trên bàn cầm một hạt đào, ném vào người đồng tử, chỉ thấy đồng tử kia trong nháy mắt đã ngã lăn xuống đất, rượu lại chảy tràn ướt cả thảm lót nền.

Đường Huyền Tông lấy làm kinh ngạc, không hiểu đang xảy ra chuyện gì.

Hoàng đế định thần nhìn lại thì ra người đang nằm dưới đất không phải là đồng tử vừa rồi nữa, mà thay vào đó là một cái hồ lô khổng lồ!

Hơn nữa chiếc hồ lô này vừa vặn chỉ đựng được một đấu rượu, còn nhiều hơn thì không chứa nổi!

Nhà vua thấy thích thú quá, luôn miệng xuýt xoa:

- Đầu nhọn bụng lớn, vậy mà ta đoán không ra!

Tiểu đồng nọ đầu nhọn bụng lớn thì đúng là một chiếc hồ lô rồi!

Kỳ 2: Trương Quả Lão uống liều rượu độc; Đường Huyền Tông hiếu sự sinh phiền

Nói vừa dứt lời thì Pháp Thiện ngã gục xuống và tắt thở ngay dưới chân hoàng đế.

Huyền Tông bèn vội vã làm theo lời hứa, đi chân đất và đầu trần tới chỗ Trương Quả Lão tạ tội và xin Quả Lão niệm tình cứu giúp Diệp Pháp Thiện...

5.

Trương Quả Lão [tiếp...]Câu chuyện thứ hai: Rượu cỏ độc thử Trương Quả LãoLại kể tiếp câu chuyện:

Đường Huyền Tông sảng khoái cười ha ha, nhìn sang phía Trương Quả Lão và nói:

- Tiên nhân, đây quả là một phép thần thông rất hay, quả nhân có thể tiếp tục mời ngài uống một chén rượu hay không?

Nói rồi sai người rót một ly rượu mang tới, mời Trương Quả Lão uống.

Trương Quả Lão cũng không nói thêm gì, một hơi liền uống cạn. chỉ sau giây lát đã thấy mắt ông nhắm nghiền, đầu cúi thấp như là đang ngủ vậy.

Hoàng đế bèn ra hiệu cho mọi người không ai được đánh thức ông...

Không quá nửa canh giờ sau, Trương Quả Lão bỗng nhiên duỗi lưng một cái, đứng dậy cười nói:

- Rượu này không phải là rượu tốt, nếu người khác uống thì đã không thể tỉnh lại được rồi!

Lúc này, chỉ thấy ông sờ tay vào trong áo, lấy ra một cái gương nhỏ, soi mặt của mình vào gương và nói tiếp:

- Chén rượu độc này đã làm hỏng hàm răng của ta rồi!

Đường Huyền Tông giật mình nhìn lên, quả nhiên thấy cả hai hàm răng của Trương Quả Lão đều đã chuyển sang màu đen.

Trương Quả Lão mỉm không chút lo lắng, hay tay vỗ nhẹ vào má, tiếp tục há mồm ra, nhổ hết hàm răng đen xuống đất, lại đưa tay lên che miệng, giống như làm ảo thuật vậy, lập tức hai hàm răng mới trắng tinh được thay thế.

Đường Huyền Tông trông thấy, vừa kinh ngạc vừa vui mừng vỗ tay tán thưởng, miệng không ngớt lời khen ngợi: "Việc này quá thần kỳ, quá thần kỳ!".

Kể từ đó về sau, Đường Huyền Tông càng thêm tin tưởng Thần tiên thuật.

Lại nói, thời gian đó đạo sĩ nổi tiếng triều Đường là Diệp Pháp Thiện rất được hoàng đế tin dùng.

Một hôm, hoàng đế Huyền Tông hỏi Diệp Pháp Thiện về thân thế của Trương Quả Lão, vị đạo sĩ này tâu:

- Khởi bẩm, Thần có thể đoán biết được thân thế của Trương Quả Lão, nhưng nếu thần nói với Bệ hạ thì thần phải chết ngay dưới chân Bệ hạ, vì thế thần sẽ không nói, trừ khi Bệ hạ hứa rằng: Nếu như có chuyện này xảy ra, ngài sẽ đi chân đất và đầu trần tới tạ lỗi với Trương Quả Lão, khi đó may ra thì cái mạng nhỏ này của thần mới mong được cứu sống trở lại.

Đường Huyền Tông vì quá hiếu kỳ nên đã nhận lời.

Pháp Thiện bèn tâu rằng:

- Trương Quả Lão vốn là một con dơi trắng sinh ra từ thuở hỗn nguyên.

Nói vừa dứt lời thì Pháp Thiện ngã gục xuống và tắt thở ngay dưới chân hoàng đế.

Huyền Tông bèn vội vã làm theo lời hứa, đi chân đất và đầu trần tới chỗ Trương Quả Lão tạ tội và xin Quả Lão niệm tình cứu giúp Diệp Pháp Thiện.

Trương Quả Lão bèn dùng phép thuật rồi tưới nước vào mặt Pháp Thiện, chẳng bao lâu sau thì vị đạo sĩ hồi sinh.

Sau sự việc cứu sống Diệp Pháp Thiện, Trương Quả Lão tỏ ý muốn quay về núi.

Đường Huyền Tông mặc dù tiếc nuối nhưng cũng không còn cách nào để níu kéo vị Tiên nhân này ở lại kinh thành.

Vậy là hoàng đế bèn ban cho Trương Quả Lão tước vị Ngân Thanh quang lộc đại phu, hiệu Thông Huyền tiên sinh, lại thưởng thêm cho 300 thếp lụa và hai người hầu đi theo làm đệ tử, tháp tùng và phục dịch Trương Quả Lão trên suốt lộ trình.

Khi về đến Hàng Châu, Trương Quả Lão cho một đệ tử quay trở về triều đình báo tin; còn ông dẫn theo một đệ tử đi vào núi Thiên Bảo.

Một thời gian sau, Đường Huyền Tông lại cho người tới mời Trương Quả Lão xuất sơn về triều thêm một lần nữa.

Tuy nhiên lần này Quả Lão đã vận phép Thi giải - giả chết để lánh mặt.

Đệ tử của ông không hề hay biết việc này nên làm lễ mai táng thầy rất tận tình chu đáo...

Chẳng bao lâu sau người ta lại nhìn thấy Trương Quả Lão cưỡi lừa ngược vân du khắp Trung Nguyên.

Đệ tử lấy làm lạ lắm bèn tới thăm mộ thầy thì thấy trong mộ trống không.

Hoàng đế Đường Huyền Tông hay được tin này bèn cho người lập điện thờ Trương Quả Lão, lại có treo bức hình chân dung của ông.

Sau này đệ tử - người từng theo Trương Quả Lão vào núi - đã đề thơ trước điện rằng:

Lòng ngưỡng mộ thầy Trương

Thần thông và quảng đại

Cưỡi lừa ngược mới tài

Muôn việc đều xem lại

Đôi chút luận bàn...

Tương truyền Trương Quả Lão thường xuyên xuất hiện tại nhân gian với hình ảnh một Lão Tiên cưỡi lừa ngược tiêu diêu tự tại, vân du khắp chốn - tại sao ông lại cưỡi lừa ngược? hậu thế cũng nhiều người cảm thấy khó lí giải về sự việc này...

Còn nhớ Đạo gia có giảng về con đường "phản bổn quy chân", trong đó có hàm ý khuyên bảo con người ta cần phải quay trở về với bản nguyên [cội nguồn] của sinh mệnh mới mong thoát khỏi những khổ đau, mê lạc nơi cõi hồng trần...

Tuy nhiên, thế nhân lại mê mải chạy theo những dục vọng và danh-lợi-tình nơi miền nhân thế mà mê lạc cả lối về.

Phải chăng Trương Quả Lão đã sớm nhìn ra điều này, ông phát hiện rằng con người càng phát triển, chiếm hữu, mưu cầu, tranh đoạt và tư lợi... thì lại càng lún sâu vào bể khổ bến mê, càng khó hồi thăng trở về với cội nguồn sinh mệnh và cõi Bồng Lai tiên cảnh nơi miền Thiên giới?

Và phải chăng cũng bởi lẽ đó mà ông đã "cưỡi lừa ngược" để cảnh tỉnh thế nhân: hãy "phản bổn quy chân", đề cao tâm tính và các giá trị đạo đức tốt đẹp...

để sớm quay trở về với hạnh phúc vĩnh hằng và giá trị đích thực của cội nguồn sinh mệnh?

Câu chuyện Trương Quả Lão uống rượu độc mà bình an vô sự và Hoàng đế Đường Huyền Tông muốn tìm hiểu phép Tiên đã nói nên sự khác nhau giữa hai cảnh giới: Thần Tiên và người phàm.

Trương Quả Lão tiêu diêu tự tại, muốn gì được nấy, trường sinh bất lão, vượt ra ngoài quy luật sinh - tử, họa - phúc của thế gian; Đường Huyền Tông thân là bậc Đế vương Thiên tử, có trong tay cả thiên hạ, vinh hoa phú quý tột đỉnh nhưng vẫn khắc khoải một niềm mong muốn tu Đạo, mong muốn hồi thăng lên cảnh giới cao hơn, mong muốn trở về với cội nguồn sinh mệnh và giá trị hạnh phúc vĩnh hằng...

đây phải chăng cũng là "bức thông điệp" mà các nhân vật trong câu chuyện muốn nhắn nhủ tới muôn đời hậu thế?

Bàn luận mãi về những câu chuyện Thần Tiên, tu Đạo chẳng khác chi đang đốt đuốc dưới ánh mặt trời, thiết nghĩ nên tạm dừng lời, hẹn gặp lại quý độc giả ở phần tiếp theo với những giai thoại huyền dị về vị Tiên thứ sáu trong Bát Tiên - Tiên nhân Lam Thái Hòa.
 
Back
Top Bottom