Tiên nhân xuất thế tìm đồ đệ; Thuần Dương mơ 'giấc mộng huỳnh lương'...
Một ngày kia, Lã Ðộng Tân đến chợ Trường An, huyện Hàm Ðan, vào quán rượu thì gặp một đạo sĩ khoác đạo bào màu trắng đang đề thơ trên vách...
3.
Lã Động Tân
Tương truyền Lã Ðộng Tân là con trai của Thứ Sử Hải Châu, ông sinh vào năm Trinh Nguyên thứ 14 – Triều đại nhà Đường.
Khi thân mẫu mới sinh ra Động Tân thì trong phòng mùi hương thơm phức, có hạc trắng bay vào phòng rồi biến mất.
Ấy là Huê Dương chân chân đầu thai xuống trần, ứng vào Lã Ðộng Tân.
Lã Ðộng Tân lớn lên, tướng mạo phi phàm, tay dài, cổ cao, mũi thẳng, xương gò má cao, chân mày bên tả có nốt ruồi, dưới bàn chân có chỉ như lưng qui (mai rùa) mình cao 8 thước 2, thích mặc áo đạo sĩ, bịt khăn huê dương (bao đảnh xanh).
Khi ấy có thầy coi tướng là Mãn Tổ đến toán quẻ cho Lã Ðộng Tân và đoán rằng: "Người trẻ này tướng khác phàm tục, sau gặp chữ Lư thì đắc thời, gặp chữ Chung thì thành đạo".
Mọi người trong nhà họ Lã đều nghe nhưng ai nấy đều không hiểu gì.
Năm 20 tuổi, Lã Ðộng Tân xưng hiệu là Thuần Dương, đi thi đỗ Tú Tài, kỳ thi tiếp theo đỗ luôn Cử Nhân, nhưng khi đi thi Tiến Sĩ thì rớt.
Bất đắc chí, trên đường trở về, Động Tân du ngoạn đến núi Lư sơn, gặp Huỳnh Long chân nhân dạy cho phép tu luyện và tặng cho một thanh gươm báu trừ yêu.
Một ngày kia, Lã Ðộng Tân đến chợ Trường An, huyện Hàm Ðan, vào quán rượu thì gặp một đạo sĩ khoác đạo bào màu trắng đang đề thơ trên vách, có ba bài thơ như sau:
1."
Ngồi đứng hằng mang rượu một bầu,
Chẳng cho cặp mắt thấy Hoàng Châu,
Dạo chơi ít kẻ tường tên họ,
Trên thế thanh nhàn muốn được đâu?"
***
2."
Thần Tiên tìm bạn khó không nài,
Có phước theo ta dễ mấy ai?
Ðông Hải rõ ràng nhiều động đá,
Ít người được thấy núi Bồng Lai".
***
3."
Dạo chơi theo thuở, ở theo thời,
Danh lợi làm chi mắc nợ đời.
Nằm nghĩ co tay hằng đếm mãi,
Mấy ai ao ước được như lời"...
Lã Ðộng Tân thấy đạo sĩ cốt cách Thần Tiên, đề thơ thanh thoát thì cảm phục lắm, liền đến làm quen, chắp tay chào hỏi và xin Ðạo sĩ cho biết họ tên.
Ðạo sĩ mời Động Tân ngồi, rồi nói rằng:
- Cậu hãy làm một bài thơ cho ta biết ý trước đã.
Lã Ðộng Tân liền đọc ứng khẩu liền:
"Cân đai ràng buộc ý không màng
Áo vải coi ra rất nhẹ nhàng
Danh lợi cuộc đời chưa phỉ nguyện
Làm tôi Thượng Ðế mới nên trang"...
Ðạo sĩ nói:
- Ta là Chung Ly Vân Phòng, tu ở núi Triều Hạc, cậu có muốn đi chơi với ta không?
Ðồng Tân tỏ ý lưỡng lự...
Vân Phòng biết họ Lã còn muốn đi thi Tiến Sĩ để trổ danh với đời nên mới có ý dùng dằng như vậy.
Vân Phòng muốn độ Lã Ðộng Tân nên ngồi nấu một nồi huỳnh lương, (tức là nồi bắp-ngô vàng).
Trong lúc chờ cho nồi bắp chín, Vân Phòng đưa cho Lã Ðộng Tân một cái gối, bảo:
Cậu hãy ngả lưng nghỉ ngơi chút xíu, đợi bần đạo luộc xong nồi bắp này rồi ta tiếp tục đàm đạo.
Động Tân nằm xuống, kê đầu lên gối, giây lát chiêm bao thấy mình vác lều chõng đi thi, ngang qua nhà giàu nọ, gặp người con gái sắc nước hương trời thì bèn ướm lời.
Nàng nói rằng: Nếu chàng thi đỗ Trạng Nguyên thì thiếp nguyện nâng khăn sửa túi cho.
Lã Động Tân vào khoa thi, quả nhiên đỗ Trạng Nguyên, trở về cưới được nàng ấy, sau lại cưới thêm hầu thiếp, được vua bổ làm quan Gián Nghị, lần lần thăng quan tiến chức, tiền đồ lên như diều gặp gió.
Sau gần 40 năm quan trường thì được vua phong tới chức Thừa Tướng, con đàn cháu đống; thông gia cũng đều là bậc quan nhất phẩm đương triều, môn đăng hộ đối, thế lực khuynh thành.
Thật là vinh sang phú quý tột bậc...
Chẳng may, sau đó Lã Động Tân bị gian thần hãm hại, vu oan giá họa, vua lại tin lời gian thần, bắt tội Động Tân, truyền tịch thu gia sản, đày qua núi Lãnh Biển, cực khổ vô cùng...
Kế đó Động Tân hoảng sợ, giật mình thức dậy.
Vân Phòng ngồi kế bên cười lớn, đoạn ngâm nga hai câu thơ rằng:
"Nồi bắp hãy còn ngòi,
Chiêm bao đà thấy cháu"...
Lã Ðộng Tân lấy làm lạ hỏi rằng:
- Ngài biết được cả giấc chiêm bao của tôi sao?
Hán Chung Ly tay phe phẩy quạt, cười lớn mà rằng:
- Chiêm bao 40 năm, công việc cả muôn, thiệt không đầy một lát.
Được chẳng khá mừng, mất không nên thảm, hết vinh tới nhục là lẽ thường.
[Cũng do sự tích này mà từ đó trong dân gian có truyền tụng nên câu thành ngữ: "Giấc mộng huỳnh lương"; "Giấc mộng kê vàng" hay "Giấc mộng Hàm Ðan"... là để chỉ giấc mộng của Lã Ðộng Tân, hàm nghĩa muốn khuyên con người ta: đời người thế gian chỉ như quán trọ, vinh hoa phú quý là phù du mộng ảo vụt có, vụt mất như bọt biển, mây trôi...].
Ðộng Tân nghe Vân Phòng nói vậy, liền tỉnh ngộ, ngẫm nghĩ mà thấy chán ngán cuộc đời, bèn cầu xin Vân Phòng cho theo học Đạo.
Vân Phòng nói:
- Ta thấy ngươi việc nhà hãy chưa an, đời sau tu cũng không muộn.
Nói rồi liền bỏ đi...
Thực ra là Chung Ly Vân Phòng muốn thử nhìn xem tâm tính của Lã Động Tân ra sao trước khi nhận làm đồ đệ, bởi với các vị sư phụ thuộc trường phái Đạo gia khi xưa, việc lựa chọn đồ đệ chân truyền là vô cùng nghiêm ngặt.
Sau "giấc mộng huỳnh lương" tại quán trọ hôm đó, vị Tiên nhân Hán Chung Ly đã bày ra mười quan ải khảo nghiệm để thử thách Lã Động Tân như sau:
Khảo nghiệm 1, quan sinh tử
Có một ngày Thuần Dương - tên hiệu của Lã Động Tân - đi xa trở về, đột nhiên thấy tất cả người thân đều bị bệnh chết hết.
Thuần Dương bi thương nhưng trong lòng cũng không nuối tiếc bởi đã hiểu lẽ sinh tử ở đời đâu hề có chuyện ngẫu nhiên, ông lặng lẽ mua áo quan, làm tang lễ...
Khi bắt đầu tang sự thì chỉ trong chốc lát tất cả người thân của Lã Động Tân đều sống lại.
Chứng kiến cảnh ấy, trong lòng ông vẫn bình thản, không quá đỗi vui mừng.
Liệu có phải Thuần Dương vô tình? không hẳn thế, mà là bởi vì ông đã biết rằng sinh tử là có mệnh, đều là chỗ tinh tế, tỉ mỉ của nhân duyên.
Khi đã hiểu thấu đáo thì không còn phải lo sợ nữa.
Khảo nghiệm 2, quan vật chất
Thuần Dương đi lên thị trấn bán hàng.
Sau khi đã thỏa thuận xong về giá cả, bên mua đột nhiên trở mặt và chỉ trả cho ông nửa giá tiền.
Thuần Dương không hề tranh cãi với người mua hàng, chỉ nhận tiền rồi để người kia nghênh ngang lấy hàng rời đi.
Thuần Dương hiểu rằng: Trong giao dịch thương trường, mỗi khi phát sinh tranh cãi, gặp phải người không giữ lời, chịu thiệt một chút có lẽ là hoàn trả món nợ đời trước!
Cùng người so đo, tức giận chỉ làm tổn hại thân thể.
Khảo nghiệm 3, quan nhẫn nhịn
Đúng ngày mùng một Tết, Thuần Dương đang chuẩn bị ra khỏi nhà thì có một kẻ ăn mày tới gõ cửa nhà ông xin ăn.
Thuần Dương lập tức đưa cho người kia một chút tiền.
Tuy nhiên, người ăn mày vẫn tiếp tục đòi thêm tiền và còn mắng chửi ông bằng những lời lẽ hết sức thô tục.
Thuần Dương chỉ mỉm cười và cảm ơn người ăn mày này.
Thiện tâm bố thí, lại còn bị mắng lại, một người bình thường khó nhẫn chịu được việc ấy, có khi nổi trận lôi đình mà đánh mắng người kia.
Nhưng Thuần Dương không như vậy, có thể thấy được sự khác biệt rất lớn giữa ông và những người bình thường khác.
Khảo nghiệm 4, quan từ bi
Khi Thuần Dương đang chăn cừu trên một sườn núi thì đột nhiên một con hổ đói chạy tới truy đuổi đàn cừu.
Thuần Dương vội vàng lùa đàn cừu trở lại xuống núi, lấy thân mình tiến lên ngăn con hổ lại để cứu đàn cừu.
Con hổ đói bỏ đi.
Người đời có thể làm được việc không sát sinh, chay tình tu hành quả thực cũng không nhiều lắm.
Vậy mà Thuần Dương vì cứu đàn cừu mà dám xả thân, khiến cho ngay cả hổ đói cũng cảm động mà rời đi.
Khảo nghiệm 5, quan sắc dục
Khi Thuần Dương đang đọc sách trong lều cỏ ở trên núi thì bỗng nhiên xuất hiện một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần đi đến trước mặt ông.
Thiếu nữ nói rằng cô đã bị lạc trên đường trở về nhà, trời lại sắp tối, nên muốn xin tá túc lại một đêm.
Thuần Dương bằng lòng cho cô gái ở lại.
Đêm hôm ấy cô gái tìm mọi cách quyến rũ, dụ dỗ Thuần Dương ngủ cùng mình.
Nhưng Thuần Dương trước sau đều giữ thần thái tự nhiên, không hề động tâm.
Bởi không bị động tâm sắc dục, do vậy Thuần Dương đã vượt qua được quan ải thử thách này.
Cảnh giới của bậc tu Đạo, ai cũng phải vượt qua cám dỗ của quan sắc dục, nếu như động tâm coi như uổng phí một đời tu luyện.
Khảo nghiệm 6, quan không tham:
Một hôm, khi Thuần Dương rời nhà ra ngoài thành, đến khi trở về thì đã thấy nhà của mình bị trộm đột nhập.
Kẻ trộm lấy đi mọi thứ, không để lại chút gì.
Thuần Dương không hề động tâm, không ủ rũ và cũng không báo quan, vẫn tiếp tục tự mình cày cấy nuôi thân.
Tới một ngày nọ, khi đang làm vườn, Thuần Dương bỗng cuốc vào một cái chum bên trong có hơn mười thỏi vàng.
Ngay lập tức, ông chôn lại chúng xuống đất, một thỏi cũng không lấy.
Tài vật bị lấy trộm, sau lại cuốc được vàng, phải chăng là ông trời ban cho?
Thuần Dương không hề nghĩ như vậy, không phải là của cải do mình làm ra thì ông ta không lấy.
Khảo nghiệm 7, quan thành thật
Một lần ở trên phố, Thuần Dương gặp một người bán đồ thủ công mỹ nghệ bằng đồng, bèn mua ủng hộ người này một vài món.
Tuy nhiên đến khi trở về nhà, ông mới phát hiện ra rằng chúng đều là vàng cả.
Thuần Dương lập tức tìm lại người bán đồng ấy và trả lại toàn bộ số vàng.
Người quân tử không lấy tiền tài bất nghĩa, Thuần Dương không vì lợi mà tổn hại đức.
Khảo nghiệm 8, quan độ lượng
Một lần có một đạo sĩ điên rao bán thuốc ngoài chợ, nói rằng ai uống thuốc của mình vào thì sẽ lập tức chết ngay và chuyển sinh sang kiếp sau sẽ có thể đắc Đạo thành Tiên.
Mười ngày trôi qua mà không có ai mua thuốc ấy.
Thuần Dương mặc dù không tin, nhưng vẫn đến mua thuốc, đạo sĩ nói: "Ông hãy chuẩn bị hậu sự đi".
Tuy nhiên sau khi uống thuốc, Thuần Dương vẫn bình an vô sự.
Thuần Dương có đủ tự tin và tấm lòng độ lượng, trong lòng biết rõ đạo sĩ cuồng ngôn nên đã can đảm thử một lần.
Khảo nghiệm 9, Quan không sợ
Vào một ngày mùa Xuân, nước sông dâng cao, ngập lụt khắp hai bên bờ sông, khi ấy Thuần Dương đang cùng một nhóm người ngồi thuyền vượt sông.
Khi họ đi tới giữa dòng sông, đột nhiên sóng lớn lại nổi lên, tất cả mọi người trên thuyền thập phần sợ hãi.
Tuy nhiên Thuần Dương vẫn một mực ngồi ngay ngắn bất động.
Thuần Dương nghĩ: con người nếu đến thọ thì không đi không được còn nếu mệnh chưa hết thì Diêm Vương cũng không gọi, sao mà phải sợ?
Mỗi người có số mệnh cả rồi, lo âu mà huyễn hoặc chẳng được gì, ung dung bất động trước quan nạn là cảnh giới của tĩnh.
Khảo nghiệm 10, quan nhân quả
Một lần, Thuần Dương đang ngồi trong phòng thì đột nhiên trước mặt ông xuất hiện vô số ma quỷ hình thù kỳ quái.
Một số muốn đánh, một số muốn giết ông, nhưng Thuần Dương vẫn không sợ hãi.
Một lát sau, một đám quỷ dạ xoa lại tới, áp giải một tử tù, máu chảy đầm đìa muốn đến lấy mạng ông, tử tù nói:
- Kiếp trước ông đã giết tôi, hôm nay ông phải trả lại mạng sống cho tôi.
Thuần Dương trả lời:
- Thiếu nợ thì trả tiền, giết người phải đền mạng.
Nói rồi, Thuần Dương vẫn thản nhiên ngồi đó, không chút động tâm.
Chợt thấy trên không trung có tiếng hét to, đám quỷ đều biến mất.
Một người vỗ tay cười lớn hạ từ trên trời bay xuống, đó chính là Tiên nhân Hán Chung Ly...
Cám cảnh danh-lợi-tình nhân thế, Lã Động Tân du ngoạn đề thơ
Kể từ lần cam kết với sư phụ Hán Chung Ly rằng ông sẽ cứu độ rất nhiều chúng sinh tại dải đất Trung Nguyên, trải qua một thời gian lâu sau Động Tân vẫn chưa cứu được một người nào cả, do đó ông đã làm một chuyến du hành đến vùng Nhạc Dương...
3.
Lã Động Tân [tiếp...]
Chung Ly Quyền rất hài lòng về người đệ tử này, ông nói:
- Ta đã thử 10 điều, khen ngươi bền chí, đáng được truyền Đạo, tu Tiên.
Song ngươi chưa có công quả bao nhiêu, nên ta muốn độ ngươi gấp thì e rằng cũng chưa được.
Nay ta dạy ngươi phép chỉ đá hóa vàng, hãy ráng sức cứu đời cho có công quả, rồi ta sẽ rước ngươi về Thượng giới.
Lã Ðộng Tân thưa rằng:
- Vàng ấy chừng bao lâu mới phai?
Hán Chung Ly đáp:
- Cách 3000 năm mới trổ.
Lã Ðộng Tân chau mày thưa rằng:
- Như vậy thì cứu người nghèo bây giờ mà lại làm hại những kẻ 3000 năm sau đó nhiều lắm, thật là con chẳng nỡ.
Hán Chung Ly khen:
- Tâm tính ngươi quả là đức độ 10 phần, truyền đạo bây giờ cũng đặng.
Nói rồi đưa Lã Động Tân tới Hạc Lĩnh núi Chung Nam (Triều Hạc) và sau đó truyền hết các phép tu luyện cho họ Lã.
Một ngày nọ, Chung Ly gọi Lã Động Tân tới nói:
- Ta sắp lên Thiên Thượng, sẽ tâu xin đem tên ngươi vào sổ Tiên.
Cách 10 năm nữa, đến gặp ta tại Ðộng Ðình Hồ.
Nói lời vừa dứt, liền có một vị Tiên cưỡi hạc bay đến nói:
- Có chiếu chỉ từ Thượng Thiên phong Hán Chung Ly - hiệu Vân Phòng làm chức Kim Khuyết Thượng Tiên.
Hãy mau lên lãnh sắc.
Vân Phòng liền từ giã Lã Ðộng Tân rồi cưỡi hạc bay lên mây.
Còn Lã Ðộng Tân vẫn ở lại núi Triều Hạc miệt mài tu luyện, chẳng bao lâu sau thì cũng đắc đạo thành Tiên.
Một ngày nọ, khi Hán Chung Ly trở về, trong lúc hai thầy trò vui mừng đàm đạo, Lã Động Tân bèn hỏi sư phụ của mình:
- Sư phụ! tính ra ngài cũng được hàng ngàn năm tuổi rồi, vậy cho đến nay sư phụ đã độ được bao nhiêu người?
Hán Chung Ly nói:
- Ta chỉ độ được mỗi một mình con thôi!
- Chỉ độ được một người?
Lã Động Tân nghĩ thầm trong bụng: "Sư phụ!
Ngài quá khiêm tốn rồi!". nghĩ xong bèn chắp tay nói với sư phụ Hán Chung Ly rằng:
- Con chỉ e Đạo môn chúng ta không chịu từ bi độ chúng sinh thôi chứ.
Xin sư phụ cho đệ tử kỳ hạn ba năm, chỉ riêng ở đất Trung Nguyên này, con sẽ độ được hơn ba ngàn người, làm hưng thịnh Đạo môn chúng ta cho sư phụ xem!...
Kết quả, ba năm sau, Lã Động Tân trở về, hổ thẹn nói với sư phụ: "Một người cũng không độ được!"
Độ nhân phải trải qua bao nhiêu khó khăn?
Trong biển danh-lợi-tình nhân thế, tâm chấp trước của con người ta nhiều như mạng nhện vậy!
Ở phương diện nào, những tâm chấp trước (chấp nhất) cũng buộc chặt con người lại khiến cho người ta muốn đề cao lên, thật cũng không dễ dàng chút nào...
Có một câu chuyện kể về sự nỗ lực cứu độ con người mà không thành công của Lã Động Tân như sau:
Kể từ lần cam kết với sư phụ Hán Chung Ly rằng ông sẽ cứu độ rất nhiều chúng sinh tại dải đất Trung Nguyên, trải qua một thời gian lâu sau Động Tân vẫn chưa cứu được một người nào cả, do đó ông đã làm một chuyến du hành đến vùng Nhạc Dương.
Trước kia ông đã tới đó hai lần để cố gắng giúp đỡ người phàm. (Nhạc Dương bây giờ là một địa giới hành chính thuộc tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc).
Ở bên bờ hồ Động Đình.
Lã Động Tân đã tự cải trang thành một ông già, hàng ngày cặm cụi đi bán dầu ăn.
Lã Động Tân xem việc bán dầu như là một dịp để gặp gỡ và lựa chọn những người có triển vọng được cứu độ.
Nếu gặp khách hàng nào tâm tính tốt, có vẻ không tham lam, không đòi dầu ăn nhiều hơn những gì họ đã trả, thì ông có thể cứu độ người đó được.
Cứ như vậy, Lã Động Tân đi bán dầu ăn suốt gần ba năm trường.
Khoảng thời gian đó, những khách hàng từng mua dầu ăn của họ Lã đều tỏ ra tham lam, toan tính; ngoại trừ một bà lão bán rượu là có vẻ thật thà, hào phóng.
Mỗi khi tới chỗ Lã Động Tân mua dầu, bà lão này chỉ đong đủ số tiền đã trả, và không lấy thêm dù chỉ một giọt.
Rất ngạc nhiên, Lã Động Tân nghĩ rằng cuối cùng ông đã tìm thấy một người có thể cứu độ được.
Ông bèn hỏi bà ta:
- Những người đến mua dầu đều muốn xin thêm, ngoại trừ bà ra.
Tại sao bà không làm vậy?
Bà lão trả lời:
- Tôi hài lòng với chỉ một hũ dầu – hơn nữa tôi hiểu, với nghề bán dạo dầu ăn, cuộc sống của ông chắc là cũng không dễ dàng gì.
Làm sao tôi có thể lấy nhiều hơn được?
Sau đó, bà ta còn biếu Lã Động Tân chút rượu để bày tỏ lòng cảm kích của mình.
Lã Động Tân cảm thấy đây là một người có tâm tính tốt và dự định sẽ cứu độ bà ta.
Một lần, Lã Động Tân ghé thăm gia đình bà lão bán rượu, khi đi qua giếng nước cạnh nhà bếp, Lã Động Tân đã làm phép và thả vài hạt gạo xuống giếng.
Ông nói:
- Bà có thể kiếm nhiều tiền bạc bằng cách bán nước trong chiếc giếng này.
Sau đó, ông lặng lẽ rời đi.
Bà già quay trở lại, múc thử nước giếng lên thì thấy rằng: Toàn bộ nước trong giếng đã được biến thành rượu.
Theo lời khuyên của Lã Động Tân, gia đình bà lão thay nhau đem rượu trong giếng đi bán và chỉ trong vòng chưa đầy một năm, họ đã mở được một cửa hiệu lớn, trở nên giàu có.
Một hôm, Lã Động Tân lại ghé thăm gia đình bán rượu.
Bà lão không có ở nhà, chỉ có người con trai đang ngồi trông cửa hiệu, Lã Động Tân hỏi anh ta:
- Công việc bán rượu thế nào rồi?
Anh này vừa lúi húi bày hàng, vừa đáp:
- Công việc bán rượu vẫn tốt, nhưng thật tiếc, chúng tôi lại không có bỗng rượu và cám gạo để nuôi heo, người con trai trả lời.
Nghe xong những lời này, Lã Động Tân thở dài, thầm nghĩ: "Lòng tham vô đáy của con người đã tới mức độ đáng thương tâm như thế này sao!
Hỡi ôi ta thà độ động vật còn hơn là độ nhân vậy!".
Lã Động Tân bèn dùng phép lấy lại những hạt gạo trong giếng, rồi lặng lẽ bỏ đi.
Chẳng bao lâu sau, bà lão trở về.
Người con trai bèn kể lại cho mẹ nghe những gì đã xảy ra.
Bà lão lập tức đi kiểm tra lại giếng rượu thì thấy toàn bộ rượu trong giếng đã biến thành nước.
Hiểu ra sự tình và quá hối hận, bà lão vội vàng chạy ra cửa, nhưng Lã Động Tân đã biến mất từ lâu rồi.
Quá buồn thương cho danh-lợi-tình nhân thế, Lã Động Tân lặng lẽ rời Nhạc Dương đi đến hồ Động Đình, và để lại một bài thơ than tiếc cho nhân loại với lời tựa như sau: "Ba lần đến Nhạc Dương không người nhận ra, Qua hồ Động Đình ta ngâm một bài thơ rằng..."
[Tương truyền đây là bài thơ mà Lã Động Tân từng để lại]:
"Ta có một vật báu
Giá chẳng đáng đồng tiền
Nếu ai mà hỏi giá
Muôn vạn lạng hoàng kim
Đạo tặc chẳng cướp được
Hỏa thiêu cũng y nhiên
Ở đời không kẻ biết
Chí thân cũng không truyền
Ta từ Vân Động đến
Tới nay quá thiên niên
Hận là không kẻ biết
Trong mình vẫn giữ nguyên
Nó chẳng đứt, chẳng liền
Tung ra trùm trời đất
Thu nhỏ lọt đầu kim
Nếu ai mà biết được
Tu đạo, sẽ thành tiên
Người hãy suy ngẫm lại
Có chăng tại thân biên!"...
Đôi chút luận bàn:
Lại nói, ở kỳ trước, Lã Động Tân chìm đắm trong: "Giấc mộng huỳnh lương", may còn được Tiên nhân Hán Chung Ly điểm ngộ, phải chăng cõi thế nhân này cũng là một cuộc mộng lớn và mỗi sinh mệnh đều đang chìm đắm trong những "giấc mộng con" của mình?
Giấc mộng huỳnh lương; Giấc mộng Hàm Đan(*); Giấc mộng kê vàng!...
Đã gọi là "mộng" thì có say, có tỉnh.
Hỡi ôi!
Hỏi ai say?
Hỏi ai tỉnh?
Có lẽ nào ở nơi cuồn cuộn sóng hồng trần nhân thế, con người ta vốn say nhiều tỉnh ít nên mới khiến cho vị tiên nhân Lã Động Tân vốn mang một bầu nhiệt huyết tế thế độ nhân, cũng từng hứa với sư phụ - Hán Chung Ly - của mình rằng sau ba năm rong ruổi đất Trung Nguyên sẽ độ được hơn 3000 môn đồ làm rạng rỡ sư môn, vang danh Đạo pháp.
Ai dè đâu, ông bươn chải giữa thế nhân suốt ba năm trường mà không thể tìm độ được nổi một người - chứ đừng nói đến con số hơn 3000 người - đến độ một vị Tiên nhân tiên phong đạo cốt, phép thuật đầy mình, lòng cảm khái và từ bi trải khắp nhân gian như Lã Động Tân cũng đành phải ngao ngán thở dài mà thốt lên một câu rằng: "Hỡi ôi, ta thà độ động vật còn hơn là độ nhân vậy!".
Quả đúng là:
"Đường đời chật hẹp người chen lấn
Lối Đạo thênh thang hiếm kẻ tìm
Nhân sinh một giấc hão huyền
Trăm năm thoắt đã qua miền phù vân"...
Nói như lời Tiên nhân Hán Chung Ly, ông từng tu luyện xuất-nhập thế gian hàng ngàn năm trường mà cũng chỉ tìm độ được duy nhất một môn đồ, chính là Lã Động Tân mà thôi.
Phải chăng lối Đạo vốn "rộng thênh thang" nhưng lòng người thì hẹp?
Lại phải chăng con đường tu Đại Pháp, Đại Đạo rộng hay hẹp là tùy thuộc ở cái tâm của mỗi người vậy?
Thiết nghĩ, huyền sử tu luyện của các vị Tiên nhân vốn luôn khiến thế nhân giật mình phản tỉnh, từ đó đánh thức thêm một phần thiện ý, thiện tâm, đồng thời nảy sinh tấm lòng kính ngưỡng, được như thế âu cũng là quả phúc... bước đường tu luyện của vị Tiên nhân Hàn Tương Tử được nhắc tới ở phần sau cũng không kém những sự tích li kỳ, huyền bí.
Kính mời quý độc giả đón xem.
(*) Hàm Đan: Địa danh - nơi mà lần đầu tiên Lã Động Tân gặp gỡ Hán Chung Ly và được vị Tiên nhân này điểm ngộ.
- Tài liệu tham khảo: "Đông Du Bát Tiên".